Thi ca bình dân Việt Nam 4
Muốn làm được việc này, chúng tôi
thiết tưởng phải quan niệm họ qua từng mục.
a) Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP, CÁI XẤU
Thế nào là đẹp? Thế nào là xấu?
Tại sao đẹp? Tại sao xấu?
Một vấn đề rất thông thường, và mỗi
chúng ta đều nói đến hàng ngày. Tuy nhiên, từ xưa đến nay chưa một ai tìm ra
chân tướng của nó.
Bạn đi cùng tôi vào một phòng triển
lãm tranh ảnh, tôi chỉ một bức tranh bảo là đẹp ; bạn lắc đầu, chỉ một bức khác
mà tôi không thích.
Một chiều thu, tôi và bạn ngồi
trên bờ hồ. Tôi say sưa nhìn những áng mây vàng trôi trên mặt nước ; nhưng bạn
lại hững hờ, tâm hồn bạn lại thả theo những cánh bướm chập chờn trên các đóa
hoa.
Ở một đầu phố kia, hai cô gái
đang hơ hớ xuân thì, tóc mây buông xõa trên bờ vai, đôi môi đỏ mọng dưới làn
son thắm, chiếc áo với kỹ thuật tân thời làm nổi lên những đường cong khêu gợi
và để lộ ra một phần da ngực nõn nà. Tôi bấm vào tay bạn tỏ ý tán thưởng, nhưng
đôi mắt bạn thờ ơ trước vẻ đẹp của họ. Bạn lại đăm chiêu nhìn vào một cô gánh
nước ở ven đường, với thân hình nẩy nở như tiết ra một sinh lực tiềm ẩn dưới
làn da ngâm ngâm, và những bắp thịt rắn rỏi như đang vươn lên tìm ý sống.
Tại sao lại có sự khác biệt như
thế ?
Dĩ nhiên, tôi và bạn không cùng một
quan điểm về cái đẹp, cái xấu !
Nhưng không phải chỉ có tôi và bạn
không hợp ý nhau, mà hầu như mỗi người trong chúng ta đều không bao giờ có quan
niệm thẩm mỹ đồng nhất. Bởi vậy, cái đẹp, cái xấu chỉ là nguồn mỹ cảm của cá
nhân, chỉ có cảm giác cá nhân, mới nói lên được, mới mô tả được thế nào là đẹp,
thế nào là xấu. Đã không đồng nhất, mà nhiều lúc, mỹ cảm của chúng ta lại tương
phản nhau nữa.
Cái đẹp của Đông-phương không phải
như cái đẹp của Tây-phương. Cái đẹp của người xưa không như cái đẹp của người
nay. Mỹ cảm chẳng những chia cách giữa con người mà còn chia cách giữa thời
gian, không gian nữa.
Vậy chúng ta muốn đi tìm chân tướng
cái đẹp, cái xấu, không thể không đi tìm nguồn gốc của mỹ cảm.
Mà, mỹ cảm là gì ?
Nói một cách giản dị, thì mỹ cảm
là sự ưa thích của cảm giác con người khi hòa vào ngoại vật. Trước đây, chúng
ta đã có dịp đề cập lãnh vực cảm giác của con người, và xác định rằng cảm giác
là cơ quan truyền thụ đưa ngoại hình vào tâm tư. Ở địa hạt tâm tư, chúng ta thấy
sự thèm muốn, ưa thích ; nó chính là cái dục vọng con người. Khi phần dục vọng
này hòa lẫn với cảm giác thì đó là nguồn mỹ cảm.
Cho nên, mỹ cảm chúng ta có thể
nói là nguồn lạc thú của dục vọng khi được giao tiếp với ngoại vật. Nó là một
khả năng đòi hỏi để hưởng thụ, mà dục vọng con người là bản tính thiên nhiên
luôn luôn vươn đến ý sống.
Khi nói đến bản tính thiên nhiên
thì con người không khác nhau, nhưng vì mỹ cảm đã nằm vào lãnh vực tâm tư, ảnh
hưởng ở cuộc đời, nên mỹ cảm dần dần trở thành cá biệt, lệ thuộc vào hoàn cảnh
xã hội hơn là tính chất thiên nhiên.
Tính chất cá biệt trong mỹ cảm đi
dần đến cá tính con người. Trạng thái thương, yêu, hờn, giận cũng chính bắt nguồn
từ mỹ cảm mà ra. Thương, ghét là gì, nếu không phải là sự ưa thích hay đố kỵ do
cảm giác con người giao tiếp với ngoại vật ? Khi ưa thích thì cảm giác dễ chịu,
khi đố kỵ thì cảm giác bực dọc, chống đối.
Ngoại vật luôn luôn giữ tính chất
khách quan, mà tâm tư con người thì hay biến đổi theo trạng thái xã hội, cho
nên mỹ cảm con người cũng theo tâm tư mà biến chuyển không ngừng.
Trước đây một trăm năm, người Việt-nam
mặc chiếc áo cổ kiềng, nhưng sau đó, họ cho cổ kiềng là quê màu, lạc hậu, họ
thay đổi mặc kiểu áo cổ bâu. Thế rồi đúng một trăm năm sau người Việt-nam trở lại
mặc áo cổ kiềng mà họ cho là đẹp, là tân tiến. Vậy ngoại vật không có cái đẹp,
cái xấu gì cả, chỉ có tâm tư con người gắn vào ngoại vật những cảm giác ưa
thích, hoặc ghét bỏ mà thôi.
Người bình dân thuở xưa cũng đã
nhìn thấy khía cạnh chân tướng của tình cảm con người, nên đã nói lên cảm nghĩ
của họ :
Khi thương trái ấu cũng tròn,
Khi ghét bồ hòn cũng méo.
Từ cái méo trở thành cái tròn, và
từ cái tròn biến sang cái méo đều do tâm tư con người tạo ra cả. Vậy thì cái đẹp
và cái xấu chỉ có ở tâm tư con người chứ không nằm ở ngoại vật.
Nói như thế cũng có nghĩa là người
thời xưa đã thừa nhận sự khác biệt trong lãnh vực mỹ cảm con người, và phủ nhận
cái đẹp tất nhiên của ngoại vật.
Quan niệm này người bình dân thời
xưa còn cho chúng ta thấy rõ ràng hơn nữa ở những câu ca dao như :
Lỗ mũi thì tám gánh lông,
Chồng yêu chồng bảo râu rồng trời
cho.
Đêm nằm thì ngáy pho pho,
Chồng yêu chồng bảo ngáy cho vui
nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu chồng bảo về nhà đỡ
cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu chồng bảo hoa thơm cài
đầu.
Cũng như chúng ta ngày nay, người
xưa quan niệm cái đẹp cái xấu không là cố định. Nguồn gốc của mỹ cảm nằm trong
lãnh vực tâm tư, và diễn biến theo trạng thái sinh hoạt của mỗi người. Chính sự
thương, ghét trong tâm tư con người đã đánh giá ngoại vật. Ví dụ như :
Thương nhau thương cả đường đi,
Ghét nhau ghét cả tông chi họ
hàng.
Cũng con đường ấy, cũng những lùm
cây phất phơ dưới nắng chiều, tại sao lúc thương nhau chúng ta lại tìm thấy con
đường ấy chứa đầy tình cảm, mà đến lúc ghét nhau chúng ta lại thấy chán ngắt vì
con đường.
Một nhà thơ bảo chúng ta : « Tôi
ca tụng cái đẹp của loài người, cái đẹp thiên nhiên mà loài người dù thế hệ nào
cũng phải công nhận. »
Nói thế cũng không có nghĩa là
ngoại vật sẵn có cái đẹp để con người hưởng thụ. Cái đẹp mà nhà thơ vừa nói
cũng chỉ là cái đẹp ở trong tâm tư con người mà thôi. Tâm tư con người từ dục vọng
đi lần đến cá biệt do ảnh hưởng xã hội, nếu có cái đẹp nào tồn tại với thời
gian, không gian chẳng qua là do bản năng dục vọng con người giữ được ý thức ấy.
Bản năng dục vọng con người lúc nào cũng vươn đến ý sống, mà thời gian, không
gian không thay đổi được ý sống ấy ; nên tâm tư con người gặp nhau ở lãnh vực
đó, thế mà nhà nghệ sĩ lại tưởng mình tìm thấy ở thiên nhiên một cái đẹp bất diệt
đối với tâm tư con người. Thực ra, không có cái đẹp nào ở ngoài tâm tư cả.
Trước đây nghìn năm, cổ nhân đã
ca tụng :
Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn
hôn.
Và, đến ngày nay, chúng ta vẫn ca
tụng dòng nước trong, vẫn tán tụng làn da trắng mịn trên đôi má, như vậy cũng
không có nghĩa dòng nước trong và đôi má trắng mịn tự nó có cái đẹp độc lập với
tâm tư con người. Sở dĩ dòng nước trong và đôi má trắng mịn được tồn tại trong
mỹ cảm con người chỉ vì nó biểu dương cho sức sống, nên mặc dù thời gian không
gian có đổi khác mà ý sống con người vẫn là qui luật tất yếu của vạn hữu, nên vẫn
giữ được bản chất của nó.
Tuy nhiên sức sống của ngoại vật
cũng chỉ có giá trị đối với mỹ cảm con người khi tâm tư con người biết cảm giác
được sức sống ấy. Cho nên, một kẻ đang hấp hối trên giường bệnh dù có nhìn thấy
đôi má trắng hồng cũng không thể nào cảm giác được cái đẹp ấy, bởi lẽ cá nhân
người bệnh đang lâm vào hoàn cảnh sắp bị tiêu diệt.
Một nhà nghệ sĩ khi đứng trước bầu
trời thu, thưởng thức cái đẹp của thiên nhiên, tự cho rằng dù con người sống
trong hoàn cảnh nào, với tâm trạng nào cũng không thể không cảm khoái.
Quan niệm như vậy, họ đã gắn ở
ngoại vật một cái đẹp ngoài tâm tư, và chối bỏ qui luật ảnh hưởng giữa cuộc sống
với tâm tư. Thực ra, tâm tư cá nhân chỉ gặp nhau ở tính chất bản năng và không
thể gặp nhau ở trạng thái cá biệt.
Con người khi đã lao mình vào cuộc
sống thì trạng thái cá biệt bao trùm cả tâm tư, tính chất bản năng thiên nhiên
chỉ còn lại với vạn hữu một phần nhỏ.
Tính chất cá biệt là trạng thái
phân hóa giữa con người và con người, do cuộc sống xã hội tạo nên. Nếu chúng ta
đã thừa nhận mỹ cảm con người ảnh hưởng ở tâm tư, mà tâm tư con người do cuộc sống
chi phối, thì chúng ta cũng phải đi đến kết luận là mỹ cảm con người do sinh hoạt
xã hội đúc kết. Mỹ cảm lệ thuộc vào thời gian, không gian và trạng thái xã hội.
Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là chúng tôi phủ nhận hoàn toàn sự giống nhau về tâm tư trong tập thể,
cũng không phải chúng tôi cho rằng tâm tư con người khi đã bước vào lãnh vực cá
biệt, chịu ảnh hưởng sinh hoạt xã hội thì mỹ cảm không còn thể nào gặp nhau
trong lãnh vực tập thể nữa.
Không ! Chúng tôi vẫn tìm thấy có
sự giống nhau của tâm tư khi trạng thái sinh hoạt của con người giống nhau.
Một nghệ sĩ bên trời Âu tâm trạng
gần giống với một nghệ sĩ ở chân trời Á. Một ý tưởng của người thời xưa có thể
thông cảm được với người thời nay. Và nói rộng hơn nữa, tâm tư của mỗi lớp người
trong xã hội đều gần gũi với nhau chỉ vì hoàn cảnh sinh hoạt của họ tương tợ.
Mỹ cảm của một chàng nông dân
chân lấm tay bùn, sống trong nghèo đói ở miền này sẽ gần gũi với mỹ cảm của một
chàng nông dân chân lấm tay bùn, sống trong nghèo đói ở vùng khác. Đó là chuyện
tất nhiên, vì mỹ cảm phát xuất ở tâm tư, mà tâm tư là sản phẩm sinh hoạt xã hội.
Điều mà chúng ta không thể nào
phân định được một cách chính xác là hoàn cảnh sinh hoạt xã hội loài người rất
phức tạp. Tuy cùng sống trong một giai cấp xã hội, cùng một cảnh nghèo đói,
nhưng họ không hoàn toàn giống nhau về tính chất, do đó, đứng về mặt cá biệt mà
nói thì trong cái giống nhau lại có chỗ khác nhau, ngược lại trong cái khác
nhau lại có chỗ giống nhau. Chính vì vậy mà nguồn mỹ cảm con người phát sinh lắm
chiều hướng dị đồng.
Ở đây, chúng ta đi vào cảm giới của
người thời xưa, để tìm hiểu quan niệm về cái xấu, cái đẹp của họ, dĩ nhiên
chúng ta không tránh khỏi về tính chất dị đồng. Tuy nhiên, nếu trong lãnh vực
cá biệt, chúng ta không thể nào quan niệm từng cá nhân, thì trong tập thể chúng ta
lại rất dễ nhìn thấy chiều hướng tâm tư của một lớp người, của một thế hệ nổi bật
lên trên ý thức sinh hoạt của họ.
Ý thức sinh hoạt làm tấm gương phản
chiếu cảm quan của một lớp người trong mỗi thế hệ. Nó tạo thành những phong
trào, những khuynh hướng, mà chúng ta gọi là nếp sống. Vậy, nếp sống cũng chính
là bộ mặt của tâm tư trong đó có phần mỹ cảm chung của tập thể.
Một du khách muốn tìm hiểu mỹ cảm
của một nước nào, một dân tộc nào, một tầng lớp nào, chỉ cần nhìn vào nếp sống
của họ cũng có thể nhận định được. Do đó, chúng ta đi tìm nguồn mỹ cảm của người
bình dân thời xưa cũng không khó lắm. Nguồn mỹ cảm của họ tuy đã vùi sâu trong
dĩ vãng, nhưng vết tích vẫn còn lưu lại với chúng ta trong tục ngữ, phong dao,
chúng ta có thể dùng những vết tích ấy tìm hiểu tâm tư mà không sợ sai lạc mấy
trên quan điểm chung của tập thể.
Để việc khảo sát được dễ dàng
chúng ta tuần tự đi vào từng phần của nguồn mỹ cảm thời xưa.
Nói đến mỹ cảm tức là nói chung mọi
lạc thú của cảm giác con người trong sinh hoạt xã hội. Nhưng trong mục khảo luận
này chúng ta không đi vào cõi bao la ấy, mà chỉ hạn chế trong phạm vi sắc đẹp,
nghĩa là chúng ta chỉ khảo sát quan niệm người xưa đối với nhan sắc con người
mà thôi. Quan niệm về nhan sắc đối với nhan sắc, xưa cũng như nay, người ta chú
trọng ở nữ giới hơn là nam giới.
Chính người xưa cũng đã minh định
ý thức ấy bằng câu tục ngữ : « Trai tham sắc, gái tham tài. » Bởi vậy,
người đàn ông muốn được lòng nữ giới phải cố tạo cho mình một tài năng, ngược lại,
người đàn bà muốn chinh phục nam giới phải gò gẫm cho mình có một sắc đẹp.
Quan niệm trai tài gái sắc trở
thành một giá trị tương đương trong lẽ sống mà người xưa đã từng so sánh như :
Trai anh hùng, gái thuyền quyên.
Hoặc : Bên tài bên sắc
lấy nhau cũng vừa.
Vì lẽ đó, khi nói đến nhan sắc,
người ta chỉ nghĩ đến đàn bà, và chỉ người đàn bà mới cần có nhan sắc. Còn người
đàn ông, miễn về thể chất đừng tật nguyền, cái đẹp, cái xấu của họ trước mắt nữ
giới chỉ có ở tính tình và sự khôn dại mà thôi.
Vậy chúng ta khảo sát nhan sắc nữ
giới cũng chính là khảo cứu về mỹ cảm của nam giới. Đồng thời, nguồn mỹ cảm
cũng là nguồn mỹ cảm chung cho nếp sống sinh hoạt đương thời.
Dù ở trong thời gian, không gian
nào, một cô gái đương thì cũng được mọi chàng trai chú ý tới. Sự chú ý của những
chàng trai đối với những cô gái đang xuân là quy luật tất nhiên trong lãnh vực
luyến ái, nhưng nó lại có một trạng thái ràng buộc về mỹ cảm. Khi được nhiều
người chú ý tới, cô gái dù muốn dù không cũng phải đặt mình vào ảnh hưởng của sự
ràng buộc ấy. Một khi thấy mình trở thành mục tiêu giữa tầm mắt phán xét của mọi
người, cô gái không có quyền từ chối ý thức tranh đua trong lãnh vực thẩm mỹ.
Do đó, người xưa đã có những câu hát vừa châm biếm, vừa hóm hỉnh :
Gái chưa chồng trông mong đi chợ,
Trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường.
Nhận xét như vậy người xưa cũng
đã đạt được tâm lý chung trong trạng thái ganh đua về thẩm mỹ. Trông mong đi chợ
là chính các cô muốn đem nhan sắc mình dò xét mỹ cảm chung của mọi người, và những
chàng trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường cũng không ngoài mục đích đem mỹ cảm
mình hòa vào mỹ cảm chung để hun đúc cho thế hệ đương thời một chiều hướng về cảm
quan. Cho nên, không ai bảo ai, mà định luật chung của xã hội đã âm thầm đẩy nếp
sống con người vào một ràng buộc, tạo cho thế hệ, mỗi giai cấp có một chiều hướng
về thẩm mỹ.
Nhưng, quan niệm « trai tham sắc,
gái tham tài » do đâu mà có ? Phải chăng là định luật tất yếu của thiên
nhiên ?
Khi nói đến tiếng « tham » tức là
nói đến dục vọng con người, mà dục vọng con người nằm trong ý thức vươn lên của
lẽ sống. Nhà kinh tế học dựa vào lẽ sống giải thích bản chất « tham tài » của nữ
giới là ý thức thực tiễn của sinh hoạt xã hội. Người đàn bà tay yếu chân mềm, lấy
chồng mong được sự bảo vệ của người đàn ông, nên tham vọng của họ là muốn gởi
thân vào một kẻ có đủ khả năng bảo vệ họ. Nhà tâm lý học cũng đi đến
kết luận không khác mấy, nhưng về tính chất căn bản thì không dựa vào yếu tố
kinh tế, mà cho đó chỉ là uy lực thiên nhiên. Vũ trụ đã sinh người đàn bà với
thể chất mềm yếu, nên sự thiếu thốn của họ là cái mạnh, trong lúc người đàn ông
đã có cái mạnh ở bản thể rồi thì phải đi tìm cái yếu để bù trừ. Từ chỗ đi tìm
cái yếu, người đàn ông đi tìm nhan sắc ; từ chỗ đi tìm cái mạnh, người đàn bà
đi tìm tài năng.
Giải thích hiện tượng trên, các
thuyết gia đều có những quan điểm riêng biệt, nhưng cuối cùng vẫn gặp nhau
trong dục vọng, tức là ý sống : ý sống của bản năng trong ý sống của xã hội.
Khi đã nhận thức mình là phái yếu
và cũng là phái đẹp, người đàn bà mặc nhiên đặt mình vào một trách nhiệm đối với
nhan sắc. Nhan sắc họ trước mắt người đàn ông, chúng ta có thể chia làm hai phần
: dung nhan và phục sức.
I. DUNG NHAN
Dung nhan bao gồm cái đẹp của thể
chất. Trước nhất chúng ta thấy người thời xưa chuộng hàm răng và mái tóc. Họ bảo
:
Cái răng cái tóc là gốc con người.
Vậy thì hàm răng thế nào là đẹp ?
Mái tóc thế nào là đẹp ?
- Hàm răng : Hàm răng đẹp của người thời xưa là hàm
răng nhuộm đen hoặc nhuộm vàng. Họ cho răng trắng là xấu cho nên những người để
răng trắng hay bị châm biếm :
Những người má đỏ hồng hồng,
Răng đen rưng rức mà chồng chẳng
yêu.
Những người mặt lọ như niêu,
Cái răng trắng ởn, chồng yêu cợt
cờ.
Tại sao răng nhuộm lại đẹp ? Răng
trắng lại xấu ?
Thật khó giải thích được, vì nó
là một phong tục, một mỹ cảm chung của một thời đại. Cũng như có một vài sắc tộc
thượng du lấy việc « cà răng căng tai » làm đẹp. Bất kỳ trai gái khi lớn lên đều
phải cà răng sát đến nướu, không còn thấy hàm răng đâu nữa. Giả sử có kẻ nào
không cà răng họ cho là quái trạng. Như vậy mỹ cảm của họ phát xuất từ một phong tục,
và phong tục trở thành mỹ cảm. Người Việt-nam chúng ta thời xưa đối với nhuộm
răng không ngoài ảnh hưởng phong tục. Dĩ nhiên một phong tục nào phát sinh cũng
phải có nguyên do, chẳng hạn vì sự tín ngưỡng nào đó mà ngày nay chúng ta không
thể tìm hiểu nổi.
Trong Phụ nữ tân văn số
15 ra ngày 8-8-1929, ông Phan Khôi nói về cách nhuộm răng của người đàn bà xứ Bắc
thuở xưa.
Ông viết : « Ở Bắc-kỳ thuở
xưa, đàn bà nhuộm răng có hai cách : nhuộm vàng, nhuộm đen. Nhuộm vàng thì nhuộm
bằng cánh kiến, rồi sau nhuộm đen. Có người không nhuộm đen thì để màu vàng nên
gọi là răng vàng… »
Trong phong dao Việt-nam lại cũng
có nhiều câu ca tụng răng vàng là đẹp, như :
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp quần, đẹp áo lại tươi răng
vàng.
Hoặc : Em đã xinh em lại
nhuộm cái bộ răng vàng,
Mảnh gương Tư-Mã thiếp với chàng
so chung.
Và họ cũng ca tụng cái đẹp của
răng đen như :
Tấm áo đào sao em khéo giữ màu,
Răng đen rưng rức, mái tóc đầu em
hãy còn xanh.
Hay : Mình về mình nhớ
ta chăng,
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười.
Năm quan mua lấy miệng cười,
Mười quan chẳng tiếc, tiếc người
răng đen.
Hoặc : Cái răng đen ai
khéo nhuộm cho mình,
Để duyên mình đẹp, để tình anh
yêu.
Ngày nay trong thế hệ chúng ta, nếu
cô gái nào còn nhuộm răng đen chắc sẽ làm trò cười cho thiên hạ. Tuy nhiên,
chúng ta phải quan niệm rằng cái đẹp, cái xấu không phải ở ngoại vật, cũng như
răng đen, răng trắng không có cái nào là đẹp, là xấu cả, chỉ có cảm quan của
con người ý thức là xấu, là đẹp mà thôi. Thời gian, không gian đã làm thay đổi
mỹ cảm con người. Nếu ở thế hệ này, chúng ta cho rằng răng trắng là đẹp, nhưng biết đâu một
nghìn năm sau, cái đẹp của răng trắng hôm nay lại trở thành trò cười của hậu thế
!
Răng đen đối với người xưa là cái
đẹp chung của phong tục, nhưng răng đen muốn được mọi người lưu ý cần phải óng
ánh nữa. Đây, họ đã nói lên cảm nghĩ ấy trong bài ca dao « Mười thương » :
Ba thương má lúng đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền
kém thua.
Như vậy thẩm mỹ của người xưa
không phải đơn giản như chúng ta tưởng. Họ cũng rất tế nhị. Nếu chúng ta ngày
nay so sánh hàm răng chói ngời như những hạt ngọc thì người xưa cũng có mỹ cảm ấy. Họ bảo :
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đậu làm tương anh đồ.
Anh đồ, biểu tượng cho giai cấp
quí phái mà trông thấy cái răng hạt đậu còn phải mềm lòng thì những chàng trai
chân lấm tay bùn phải thế nào trước hàm răng đều đặn như hạt đậu ?
Cảm giác được hàm răng đều đặn là
đẹp, họ chê những hàm răng khấp khểnh :
Mặt rổ như tổ ong bầu,
Hàm răng khấp khểnh như cầu rửa
chân.
Nếu ngày nay chúng ta thấy xa
cách với tiền nhân về hàm răng đen, thì chúng ta cảm thấy gần gũi với tiền nhân
ở một hàm răng đều đặn và óng ánh.
- Mái tóc : Về mái tóc đẹp, người xưa chuộng
mái tóc dài và đen. Da trắng tóc dài là cái đẹp thiên nhiên, mà nay chúng ta vẫn
còn ca tụng. Người
xưa đã thưởng thức vẻ đẹp ấy trong những câu ca dao như :
Tiếc thay con người da trắng tóc
dài,
Bác mẹ gả bán cho người đần ngu.
Hoặc : Tóc em dài, em
cài hoa lý,
Miệng em cười hữu ý, anh thương.
Hình bóng một suối tóc huyền chảy
xuống giữa đôi bờ vai quả là một thần tượng vượt hẳn thời gian, không gian.
Ngày nay thần tượng ấy tuy đối với thế hệ chúng ta vẫn còn trọng vọng, tuy
nhiên sự trọng vọng ấy đã bắt đầu phai nhạt bằng những mái quăn theo kiểu Âu-Mỹ.
Đối với người xưa, tóc quăn là một điều đáng chê. Họ châm biếm :
Tóc quăn chải lược đồi mồi,
Chải đứng chải ngồi, quăn vẫn
hoàn quăn.
Chẳng những tóc quăn đã không đẹp
mà còn tỏ ra là kể xấu tánh nữa :
Tôi đà biết vợ anh rồi,
Quăn quăn tóc trán là người hay
ghen.
Bởi vậy, ngày nay nếu chúng ta
còn giữ được mỹ cảm của người thời xưa trong hình bóng của suối tóc huyền, thì
chúng ta lại khác ở họ những mái tóc quăn.
Vì cho mái tóc huyền là tha thướt,
ngây thơ, duyên dáng nên người xưa cũng chọn những lối bới tóc có liên hệ đến
cái đẹp ấy. Ví dụ họ đã khen kiểu tóc đuôi gà như :
Chị kia bới tóc đuôi gà,
Nắm đuôi chị lại, hỏi nhà chị đâu
?
Nắm tóc giữ lại hỏi nhà để làm gì
nếu không phải vì say mê tính cách duyên dáng của suối tóc ấy ? Thật vậy, một
mái tóc huyền khéo trang điểm cũng có thể tạo thành duyên nợ.
Chị kia bới tóc cánh tiên.
Chồng chị đi cưới một thiên cá
mòi.
Tuy hài hước nhưng trong cái hài
hước ấy không ai không cảm thấy chứa đựng bên trong một tính chất ca ngợi về
cái đẹp của mái tóc.
Nhưng không phải tóc dài trong
trường hợp nào cũng đẹp ! Cái đẹp của tóc dài da trắng chỉ dành riêng cho đàn
bà thôi, còn đối với đàn ông, tuy ngày xưa vẫn để tóc dài, song không phải là
hình bóng của thẩm mỹ. Họ bảo :
Đàn bà tốt tóc thì sang,
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu.
Như vậy, chúng ta không thể chê
người xưa thiếu thẩm mỹ được. Bởi vì tóc dài biểu tượng cho một hình bóng lả lướt,
mảnh mai, nó chỉ thích hợp với thân hình kiều diễm của người đàn bà. Còn đối với
người đàn ông, mang tấm thân hùng tráng, mái tóc dài đối với họ còn có giá trị
thẩm mỹ nào nữa đâu. Con suối chỉ đẹp khi còn ở trên sườn đồi, róc rách bên khe
đá, uốn khúc qua rặng cây, mà nó sẽ trơ trẽn khi chảy xuống đồng bằng, trở
thành mương rạch. Suối tóc huyền cũng thế ! Nó không thể là một con suối trên
thân hình người đàn ông.
Việc nhuộm răng để tóc dài, đối với
người xưa chính là một phong tục. Tuy cả đàn ông lẫn đàn bà đều giống nhau,
nghĩa là cùng nhuộm răng, để tóc dài nhưng về phương diện thẩm mỹ người đàn ông
đã lộ vẻ tách rời ra khỏi quan niệm cái đẹp của thể xác.
Ngoài việc nhuộm răng, để tóc
dài, theo phong tục người Việt-nam thuở xưa tổ tiên chúng ta cho là quan trọng,
thì về phương diện thẩm mỹ, người bình dân cũng còn có rất nhiều cảm khoái khác
nữa đối với dung nhan nữ giới.
- Thân mình : Nếu chúng ta
ngày nay đi tìm cái đẹp trên bóng dáng mảnh mai của người đàn bà, và ví người
đàn bà đẹp như cành mai, cây liễu, thì chính mỹ cảm của người xưa cũng không
khác mấy. Họ cũng quan niệm thân hình người đàn bà đẹp phải mảnh mai, ẻo lả. Họ
ví người đàn bà với cây trúc :
Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng
xinh.
Cây trúc là một loài cây mảnh khảnh
và rất dịu dàng trước gió. Nhưng cây trúc muốn cho mọi người thấy cái đẹp thì
phải là cây trúc mọc ở bờ ao mới có giá trị. Còn người đàn bà mảnh mai không cần
lệ thuộc vào cảnh vật, bất kỳ họ đứng nơi nào cũng vẫn thấy đẹp. Như vậy người
đàn bà mảnh mai có giá trị tuyệt đối mà người bình dân thời xưa đã muốn nói lên
điều đó.
Trong truyện kiều, Nguyễn-Du tả sắc
đẹp của nàng Kiều như :
Mai cốt cách, tuyết tinh thần
Thì cũng không ngoài cái ý tưởng
của người bình dân đã có từ ngàn xưa.
Cho thân hình mảnh mai, ẻo lả là
đẹp, nên họ tán thưởng những cô gái lưng ong :
Những người thắc đáy lưng ong,
Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo
nuôi con.
Thật ngộ nghĩnh. Tại sao những cô
gái có thân hình ẻo lả lại khéo chiều chồng ? Chiều chồng bằng cách nào ? Chúng
ta rất khó truy cứu, vì đó chỉ là một kinh nghiệm của tiền nhân, họ không sống
với lý luận mà sống với thực nghiệm.
Người con gái lưng ong chẳng những
là nguồn mỹ cảm đối với lớp người bình dân, mà cả đến những anh đồ nho cũng đem
lòng luyến ái. Bằng chứng anh đồ nho làm thơ mơ ước cô gái lưng ong :
Con gái nhà ai ấy vậy mà…
Lại đây ta hỏi có hay là…
Môi son má phấn hình như thể…
Mắt phụng lưng ong ấy cũng là…
Ăn mặc ra tuồng người ở chốn…
Nói năng phải lẽ giống con nhà…
Phải chi ta được mà ta để…
Ta để làm chi, để nữa ta…
Phải chăng các anh đồ nho cũng đã
đạt được yếu tố thực nghiệm của người bình dân, cho cô gái lưng ong là hạng người
khéo chiều chồng, nuôi con ?
Ngày nay, với thế hệ chúng ta,
nguồn mỹ cảm ấy vẫn chưa phai mờ. Các chàng trai vẫn còn xem lưng ong là một thần
tượng của thẩm mỹ, và chính các cô gái đương thời dù đã có nhiều thay đổi vẫn
còn giữ được nguồn thẩm mỹ của ngàn xưa !
Tiền nhân của chúng ta vì thích
cái đẹp của thân hình ẻo lả nên đã bất mãn với những người đàn bà có thân xác
không được mảnh mai. Họ bảo :
Những người béo trục, béo tròn,
Ăn vụng như chớp, đánh con cả
ngày !
Thực ra dù ngày nay có một nhà
tâm lý học nào uyên bác đến đâu, cũng khó giãi bày được tại sao người đàn bà
béo tròn lại hay ăn vụng và đánh con ? Tuy nhiên, chúng ta đừng tưởng lời
nói của tiền nhân là vu vơ. Khi một kinh nghiệm đã được di lưu hằng bao nhiêu
thế hệ, dù không tìm được nguyên nhân chúng ta cũng không thể nào phủ nhận giá
trị của nó.
Quan niệm mảnh mai, ẻo lả của người
thời xưa cũng không có nghĩa là ốm yếu. Theo họ thân hình mảnh mai phải là thân
hình cân đối, không ốm, không mập, không cao không thấp. Bởi vậy rất ít người đạt
được tiêu chuẩn về thẩm mỹ của họ, khiến nhiều cô gái đã phải bực mình, bất mãn
:
Cao chê ngỏng, thấp chê lùn,
Lớn chê béo trục béo tròn.
Gầy chê xương sống xương sườn bày
ra !
Thật khắt khe ! Nhưng đây là nguồn
mỹ cảm chung cho một lớp người của một thế hệ, nó không có tính cách cá nhân. Nếu
là quan niệm cá nhân thì không thể đóng khung cái đẹp vào một quy luật nào cả.
Nếu có người chê mập thì lại có kẻ tìm trong cái mập ấy những cái đẹp riêng biệt
của nó. Hoặc có người chê ốm thì lại có kẻ tìm cái đẹp riêng trong cái ốm ấy. Ở
đây, chúng ta không đi tìm mỹ cảm cá nhân mà đứng trước quan niệm của tập thể đại
đa số viết thành qui luật chung cho cái đẹp của dân tộc trong dĩ vãng.
- Khuôn mặt : Khuôn mặt đẹp
thường là khuôn mặt sáng sủa và đầy đặn. Ngày nay chúng ta ca tụng khuôn mặt
trái soan, nhưng người xưa lại không thích. Họ cho khuôn mặt chữ điền (vuông) mới
là đẹp. Họ bảo :
Má miếng bầu coi lâu muốn chửi,
Mặt chữ điền tiền rưỡi cũng mua.
Tại sao mặt chữ điền lại đẹp ? Điều
đó thật khó giải thích. Có lẽ người xưa thích những gì ngay thẳng, hồn nhiên
nên quan niệm vuông vắn là đẹp chăng ?
Vì cho khuôn mặt vuông vắn là đẹp,
nên họ không thích má miếng bầu, vì má miếng bầu tuy mới nhìn có vẻ hấp dẫn,
song nhìn lâu lại thấy không có vẻ thành thực, đứng đắn.
Từ chỗ không thích cái má miếng bầu
đi đến chỗ họ chê những khuôn mặt phục phịch mà họ cho là mặt mo (dày như cái
mo cau) :
Mấy người phúng phính mặt mo,
Chân đi chữ bát dẫu cho không
màng.
Mặt mo quả không đẹp tí nào ! Đã
không đẹp mà còn biểu lộ tánh nết điêu ngoa nữa.
Trong truyện Kiều, Nguyễn-Du cũng
đã gắn cho anh chàng điêu ngoa sở khanh một khuôn mặt mo. Vậy tác giả truyện Kiều
có chịu ảnh hưởng quan niệm về thẩm mỹ của người bình dân chăng ?
Tục ngữ có câu : « Mặt dày mày dạn
» cũng để chỉ cho những khuôn mặt lì lợm, điêu ngoa. Và mặt dày đây cũng có
nghĩa là mặt mo.
Chẳng những họ không thích những
khuôn mặt mập tròn và phúng phính, mà họ còn chê những khuôn mặt không cân đối
nữa. Họ bảo :
Thà rằng chịu lạnh nằm không,
Còn hơn lấy gái lẹm cằm răng hô.
Như vậy, chỉ có mặt chữ điền là
khuôn mặt lý tưởng nhất đối với họ, nên họ có những tình cảm thiết tha :
Chân em đi dép quai ngang,
Mặt vuông chữ điền liền vành cá
chôi.
Ta thương mình lắm mình ơi !
Cá chết vì mồi, khốn nạn vì ta.
Hoặc : Cổ tay em vừa trắng
trừa tròn,
Mặt mũi vuông vức, chồng con thế
nào ?
Tuy nhiên, khuôn mặt chữ điền chỉ
mới là cái đẹp khái quát, mà trên đôi má vuông vức của khuôn mặt ấy cũng còn điểm
thêm hai đồng tiền nữa thì mới hoàn mỹ.
Má núng đồng tiền, đối với họ, sẽ
làm khuôn mặt thêm duyên mỗi khi vừa nói.
Người bình dân thời xưa đã xem
đôi má có núng đồng tiền như là một hấp lực đáng kể của nữ giới, mà người đàn
ông không thể nào không lưu ở đây một ít cảm tình.
Chúng ta tìm thấy tâm trạng của họ
qua các câu ca dao như :
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có
duyên.
Ba thương má núng đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền
kém thua.
Hoặc : Vào vườn trẩy quả
cau non,
Anh thấy em dòn, muốn kết nhân
duyên.
Hai má có hai đồng tiền.
Càng nom càng đẹp, càng nhìn càng
ưa.
Như vậy, má núng đồng tiền không
phải không quan trọng đối với thẩm mỹ của người thời xưa.
- Làn da : Trên đây chúng ta đã thấy da trắng tóc
dài là nguồn mỹ cảm của người bình dân rồi. Họ đã ca tụng.
Nước trong ai chẳng rửa chân,
Cái má trắng ngần ai chẳng muốn
hôn.
Và, họ rất thích những cổ tay
tròn trịa, trắng mịn như :
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.
Tuy nhiên, da trắng đối với họ là
tính chất tự nhiên, không vì điểm tô son phấn. Đó là một khái niệm khác hẳn với
lớp người quí tộc. Trong lúc những cô gái quí tộc mượn phấn son để làm màu cho
sắc đẹp, thì người bình dân lại chống đối. Họ bảo :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.
Họ quan niệm sắc đẹp là do thực
chất của mỗi người, không phải vì điểm tô mà lừa dối ai được. Cho nên từ chỗ
chuộng làn da trắng họ lại châm biếm những kẻ đem son phấn để phỉnh phờ :
Cô kia đen thủi đen thui,
Phấn đánh vô hồi, đen vẫn hoàn
đen.
Đối với họ, phấn son không cải biến
được con người. Chỉ có cái đẹp thiên nhiên mới là cái đẹp có giá trị. Bởi vậy,
người bình dân dù là họ không trắng bằng da phấn, họ vẫn tự phụ với
giá trị thực chất của nó. Họ bảo :
Trắng da vì bởi phấn dồi,
Đen da vì bởi em ngồi chợ trưa.
Nói như thế có nghĩa là họ đánh
giá giữa thực chất và giả tạo. Họ cho những cái giả tạo không xứng đáng để so
sánh với thực chất.
Một cô gái nghèo khổ phải dầm dãi
nắng mưa, da họ có đen đủi thật, nhưng cái đen đủi ấy là cái đen đủi do hoàn cảnh
sinh hoạt tạo nên, vì nếu họ được rảnh rang ngồi trong mát, chưa chắc những kẻ
phấn son đã đẹp hơn họ. Như vậy, cái trắng của phấn son, và cái đen đủi của
sương gió đều là những cái giả tạo cả, không phải là cái đẹp hay cái xấu của thực
chất, phải vượt ra ngoài sự giả tạo ấy, nghĩa là không cần phấn son, vẫn dầm
mưa dãi nắng mà vẫn giữ được màu da trắng, thì đó mới là cái đẹp của thiên
nhiên, của thẩm mỹ.
Người bình dân không ưa phấn son,
nhưng chuộng da trắng tức là thẩm mỹ của họ gắn liền với cái đẹp thiên nhiên ấy.
Xét như thế không phải chúng ta
bênh vực lớp người bình dân, bởi vì người bình dân là những anh nông phu, những
cô thôn nữ đầu tắt mặt tối, có bao giờ được ăn không ngồi rồi đâu. Thế thì cái
đẹp mà họ ca tụng không phải là cái đẹp của ăn không ngồi rồi là cái đẹp xuất sắc
trong lớp người chân lấm tay bùn ấy.
Cho nên, nếu họ không thừa nhận
cái đẹp của phấn son thì họ cũng không thừa nhận cái đẹp của kẻ ăn không ngồi rồi.
Họ bảo :
Trắng da nhờ bởi má cưng ?
Đen da vì bởi lội bưng vớt bèo.
Cái đẹp của người bình dân phải
là cái đẹp trong sức lao động thì mới có giá trị, và mới được họ trọng vọng.
Cũng như hoa sen, tuy mọc trong
bùn mà không vấy bùn, đó mới là điều xuất sắc của loài hoa.
Dù vậy, chúng ta cũng phải thừa
nhận rằng nắng mưa, sương gió đã làm phai nhạt biết bao nhiêu sắc đẹp của lớp
người cần cù chất phác kia, đến nỗi tâm tư họ cảm thấy chứa chan đau khổ
:
Thân em như quả ấu gai,
Ruột trong thì trắng vỏ ngoài thì
đen.
Ai ơi, nếm thử mà xem,
Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi
!
Tuy là lời than thở, song cũng là
tiếng nói uất hận đối với đời sống kham khổ của họ.
- Đôi mắt : Nếu đôi mắt là giác quan tế nhị nhất của
con người dùng để xét đoán ngoại vật, thì đôi mắt cũng là nguồn giao cảm sâu sắc
nhất giữa con người với con người. Con mắt diễn đạt tình cảm con người không bằng
lời nói mà bằng những đường nét riêng của nó khiến tâm tư con người có thể trao
đổi nhau một cách trầm lặng. Chính vì vậy mà xưa nay về phương diện thẩm mỹ,
loài người đã để ý nhiều nhất trên cái đẹp của đôi mắt. Người ta đã tốn không
biết bao nhiêu giấy mực để diễn tả cái đẹp huyền diệu của đôi mắt, nhưng họ vẫn
chưa hài lòng, vì tiếng nói loài người không đủ để diễn tả những kỳ quan chứa đựng
trong đôi mắt, mà chỉ có tâm tư con người mới tìm thấy được trọn vẹn. Một vài
nét buồn đọng trên khóe mắt, một vài tia sáng lóe qua rèm mi… chỉ một chút ít
hiện tượng nhỏ nhặt và thông thường như vậy, ngôn ngữ loài người cũng đã không
sao nói lên hết những bí ẩn của nó, huống hồ đôi mắt là một bầu vũ-trụ của tâm
tư, tuy bé nhỏ, nhưng lại mênh mông trong địa hạt biến ảo, đến nỗi con người phải
ngộp thở khi lạc vào cõi huyền diệu ấy.
Họ đã gào thét, rên rỉ rất nhiều,
để mong cho tiếng gào thét của họ có thể thay thế được ngôn ngữ, nói lên ít nhiều
sự bí ẩn của cái đẹp trong đôi mắt, nhưng cuối cùng cũng thất bại, vì tiếng nói
của loài người có một công dụng hữu hạn, mà sự huyền diệu trong cái đẹp của đôi
mắt là vô biên, cho nên muốn diễn tả cái đẹp của đôi mắt người ta chỉ còn có
cách dùng tâm tư để diễn tả tâm tư, tức là cái đẹp tiềm tàng của vũ-trụ diễn tả
cái đẹp huyền diệu của đôi mắt.
Thưởng thức cái đẹp trên đôi mắt,
và diễn tả cái đẹp không bằng ngôn ngữ mà bằng tâm tư, chính người bình dân thời
xưa cũng đã dùng đến phương pháp ấy.
Chúng ta thấy các câu ca dao như
:
Cổ tay em trắng như ngà,
Con mắt em liếc như là dao cau.
Thì quả người bình dân đã dùng một
hiện tượng để cắt nghĩa một hiện tượng. Ngôn ngữ con người không có tiếng nói
nào để diễn tả được cái tầm mức sắc sảo của cái liếc mắt, chỉ có chiếc dao cau
mới nói lên phần nào sự sắc sảo ấy. Chiếc dao cau sáng láng và sắc bén nhất
trong các loại dao, mà chỉ có người bình dân sống trong thực tế mới phát sinh
những ý tưởng so sánh như vậy.
Một nhà văn không phải trong giới
bình dân, cũng đã dùng phương pháp đem hiện tượng giải thích một hiện tượng để
ca tụng cái đẹp trong đôi mắt :
Người đẹp từ hai khóe mắt
Làm mờ những ánh ngọc trân châu
Làm phai mặt nước hồ thu thắm
Làm nhạt bao nhiêu ánh nhuộm màu.
Khác với người bình dân, nhà văn
bác học không đem chiếc dao cau sánh với đôi mắt, mà đem sự sáng chói của châu
ngọc, đem sức trong trẻo của hồ thu để diễn tả.
Đi xa hơn nữa, những nhà văn học
còn đưa cái đẹp của đôi mắt vào lãnh vực siêu tưởng, tượng trưng, để thần thánh
hóa sự huyền diệu ấy ra ngoài sức sống hiện tại của con người.
Đây, chúng ta thử đọc một đoạn
trong bài thơ « Đôi mắt » của Bích-Khê :
Hỡi đôi mắt ! Nơi người là ngọc
thạch
Nơi giếng người phản chiếu ánh
thiên thần
Nơi suối người giữ kín tiếng châu
ngân
Nơi triển lãm cả một bầu tiên động
Nơi rung rinh cả một trời thơ mộng
Người là ai ? Người hỡi ! Người
là ai ?
Tuy nhiên, các nhà thơ bác học dù
có đi đến lãnh vực tượng trưng, siêu tưởng hay thế nào đi nữa cũng không thoát
ra ngoài phương pháp dùng hiện tượng giải thích một hiện tượng thay cho ngôn ngữ,
mà chính người xưa cũng đã đạt đến bước đầu của phương pháp ấy.
Thưởng thức cái đẹp trên đôi mắt
người bình dân thời xưa không có những cảm giác thần tượng hóa như những nghệ
sĩ trong thế hệ chúng ta ngày nay. Tuy tiếng nói của họ mộc mạc, không đủ để
nói lên mỹ cảm của mình song họ vẫn xem cái đẹp của đôi mắt là cái đẹp của con
người. Họ nhận xét :
Người khôn con mắt đen sì,
Người dại con mắt nửa chì, nửa
thau.
Không cần phân tích nhiều, không
cần đem tâm tư mình đến một thế giới nào xa xôi, chỉ cần một vài so sánh giữa
cái đẹp và cái xấu, người bình dân đã cho chúng ta thấy rõ mỹ cảm của họ không
phải kém tinh vi. Nếu Nguyễn-Du tả đôi mắt đẹp của giai nhân như một « làn thu
thủy » thì cũng chỉ để nói lên sự trong suốt của đôi mắt mà thôi. Người bình
dân nhìn màu đen trong đôi mắt là hiện tượng của sự minh mẫn, sắc sảo, khôn
ngoan. Cái đẹp phát lộ từ màu đen ấy. Sự nhận xét của họ tuy thông thường nhưng
thực tế dễ hiểu hơn chúng ta.
Nhưng, đối với họ, đôi mắt đẹp có
những yếu tố như sắc sảo, lanh lẹ, đen nhánh chưa đủ, mà phải tròn trĩnh nữa. Bởi
vậy họ chê những người mắt hí :
Những người ti hí mắt lươn,
Trai thì ăn cướp, gái buôn chồng
người.
Ti hí mắt lươn có nghĩa là mắt
dài mà không mở rộng ra được. Đối với họ mắt lươn đã không đẹp, mà còn biểu lộ
tính dâm đãng, hoang đàng nữa.
Không thích mắt lươn, nhưng họ
cũng không thích mắt lồi. Loại mắt nầy họ cho là mắt ốc, đã không hợp với mỹ cảm
mà còn xấu xa, hung hang. Họ bảo :
Mấy người con mắt ốc nhồi,
Có tài đánh vợ, đập nồi đập niêu.
Nhưng con mắt lá răm thì họ lại
cho là đẹp :
Mấy người con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan
tiền.
Lá răm có hình một đầu to, đầu nhỏ.
Quan niệm mắt lá răm là đẹp chính họ đã chú trọng đến hai khóe mắt và tìm thấy
đó là nơi diễn biến tình cảm con người một cách độc đáo.
Xưa nay sử sách đã ghi lại biết bao thành nghiêng nước đổ vì đôi mắt của giai
nhân !
Cùng với quan niệm cho đôi mắt lá
răm là đẹp, người bình dân thời xưa cũng còn dành rất nhiều mỹ cảm với đôi mắt
bồ câu.
Mắt bồ câu tuy tròn trĩnh, không
có đôi khóe sắc sảo, song đối với họ, mắt bồ câu lại chứa đựng nhiều cảm tình !
Tâm tư của họ được gắn liền với đôi mắt bồ câu trong các câu ca dao như :
Cầm vàng ném xuống vực sâu,
Mất vàng không tiếc, tiếc đôi mắt
bồ câu hữu tình.
Như vậy nguồn thẩm mỹ của người
bình dân thời xưa đối với đôi mắt cũng không phải là lãnh đạm lắm.
- Làn môi : Nếu đôi mắt là bầu trời vũ trụ của tâm
tư, chứa đựng tính chất biến ảo mà cảm giác con người không thể nào đón hết,
thì làn môi lại là một vườn hoa muôn sắc, tô điểm cho bầu vũ trụ biến ảo của
tâm tư thêm linh động hơn.
Một nụ cười thoáng đọng trên môi,
khi khóe mắt long lanh vài tia sáng thì chính đó là một mùa xuân đầy ấm áp.
Nhưng nếu khi rèm mi đẫm lệ, đôi môi hồng khép kín thì đó chính lại là một mùa
đông lạnh lẽo, u buồn. Và rèm mi không đến nỗi quá ẩm ướt, khóe mắt thoáng đọng
hơi sương, sắc hoa trên môi không được tươi thắm, thì đó lại là một mùa thu chứa
đầy thơ mộng… Chúng tôi không muốn nói đến mùa hạ, cái mùa mà đôi mắt nẩy lửa
tàn phá mọi cánh hoa đẹp trên sắc môi hồng, làm cho cảm giác con người bị nóng
bỏng, khó chịu…
Người bình dân thời xưa nếu đã
đem tâm tư gắn liền với cảnh vật thiên nhiên, lấy thiên nhiên làm nguồn cảm hứng,
dĩ nhiên không thể tách rời nguồn thẩm mỹ của mình đối với mọi diễn biến của
tâm tư, mà làn môi con người là vườn hoa muôn sắc.
Thưởng thức cái đẹp trên làn môi
ví với các cánh hoa như :
Nụ cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Cái đẹp của thiên nhiên được họ gắn
liền với cái đẹp của con người.
Nguồn thẩm mỹ của chúng ta ngày
nay cũng không khác gì nguồn thầm mỹ của người bình dân thời xưa, chúng ta cũng
chỉ có thể diễn tả cái đẹp trên làn môi bằng những cái đẹp của các đóa hoa mà
thôi.
Đây, một nhà thơ hôm nay đã diễn
tả cái đẹp của làn môi qua nụ cười :
Một cười héo cả trăm hoa nở
Say cả con sông, đắm cả trời !
Đuổi cả mối sầu muôn vạn kiếp
Bẽ bàng tất cả những màu tươi !
Tuy nhiên, nếu ngày nay chúng ta
chỉ chú trọng cái đẹp trên hai bờ môi bằng nụ cười, bằng tính chất khát vọng của
yêu đương, thì người xưa lại còn một tầm quan sát tế nhị hơn chúng ta nữa. Theo
họ làn môi muốn cho đẹp, ngoài việc đỏ mọng, còn phải đều đặn, không mỏng,
không dày, không cong, không quặp. Điều đó biểu lộ tinh thần thực tiễn của họ.
Họ đã đem mỹ quan nhìn thẳng vào sự vật để phân tách cái đẹp của thực tế ấy. Vì vậy, họ đã có
những nhận xét như sau :
Mỏng môi ăn vụng nhà trong,
Dày môi nói láo, cong môi ăn
hàng.
Môi mỏng, môi dày, môi cong đối với
họ đều không phải những làn môi gợi cảm mà còn chứa đựng những tánh nết xấu xa.
Tầm mắt họ chẳng những chỉ nhìn
vào cái đẹp, cái xấu trên hai làn môi, mà còn nhìn chung cả cái miệng nữa.
Miệng rộng đối với người đàn bà
không được họ tán thưởng. Họ châm
biếm :
Đàn ông miệng rộng thì sang,
Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa
nhà.
Hoặc :Đàn ông rộng miệng có tài,
Đàn bà miệng rộng điếc tai láng
giềng.
Rộng miệng ở đây tuy họ dùng
nghĩa bóng (rộng họng lớn tiếng) nhưng không phải vì thế mà cái miệng rộng
không bị họ chê bai.
- Chân mày : Chân mày là đường
nét điểm trang cho khuôn mặt, đồng thời cũng biểu lộ những tình cảm con người
qua trạng thái tâm tư.
Cũng như chúng ta ngày nay, người
xưa đã phân biệt những kiểu chân mày như : chân mày vòng nguyệt, chân mày lá liễu,
chân mày rô, chân mày ngài v.v…
Tuy nhiên, dù loại chân mày nào,
cái đẹp vẫn có chỗ sắc sảo. Người ta đã ví đường chân mày vòng nguyệt, một nét
vẽ trên đỉnh núi mùa xuân, hoặc một làn sóng uốn cong trên mặt nước… Tất cả
hình bóng ấy cũng chỉ để diễn tả cái sắc sảo của nó mà thôi.
Theo ca dao thì người xưa thích
nhất là hai loại chân mày : chân mày lá liễu và chân mày vòng nguyệt.
Họ ca tụng chân mày lá liễu như :
Những người con mắt lá răm,
Chân mày lá liễu đáng trăm quan
tiền.
Cũng như lá răm, lá liễu hình
thon, có một cái đuôi rất nhọn. Cái nhọn của lá liễu chứa đựng một hiện tượng sắc
bén phù hợp với đôi khóe mắt lá răm.Chính nhờ hai mũi nhọn ở khóe mắt đuôi mày
mà vẻ mặt con người trở nên sắc sảo. Nhiều giai nhân đã dùng nó sát hại không
biết bao nhiêu anh hùng háo sắc. Cho đến người nông phu, chân lấm tay bùn cũng
mê mệt vì nó, và cũng sợ hãi đến nỗi phải than thở :
Nhà anh chín đụn mười trâu,
Lại thêm ao cá bắc cầu rửa chân.
Cầu này cầu ái cầu ân,
Một trăm con gái rửa chân cầu nầy.
Có rửa thì rửa chân tay,
Chớ rửa lông mày chết cá ao anh.
Thật là hài hước, châm biếm ! Tuy
nhiên, trong cái hài hước, châm biếm ấy lại nói lên được tính chất độc địa của
đôi chân mày sắc sảo ấy. Cái sắc sảo đến nỗi cá dưới ao còn phải lăn đùng ra chết,
huống hồ con người, một sinh vật biết háo sắc !
Trong « Cung oán ngâm khúc »
chính Ôn-như Hầu cũng đã nhân cách hóa sự vật để nói lên cái đẹp của nàng Phi Tần
:
Chìm đáy nước cá lờ đờ lặn,
Lửng da trời nhạn ngẩn ngơ sa.
Cái đẹp « chim sa cá lặn » thiết
tưởng không còn cái đẹp nào hơn. Xem thế, cảm giác của một nông phu và một trí
thức đôi lúc cũng có chỗ gặp nhau.
Nếu họ đã thấy đôi mắt lá răm phù
hợp với đôi mày lá liễu, thì họ cũng thấy đôi mắt bồ câu phải đi đôi với đôi
mày vòng nguyệt.
Đôi mày vòng nguyệt không có đuôi
nhọn như đôi mày lá liễu, song lại chứa đựng nhiều tình cảm, cái tình cảm ủy mị,
quyến rũ hơn là cái đẹp sắc sảo. Họ bảo :
Chân mày vòng nguyệt thì thương,
Chân mày mũi mác là phường dâm ô
!
Chân mày mũi mác cũng có cái nhọn
nhưng cái nhọn trực trần bộc lộ tính nết dâm dật, họ không thích.
- Đôi vú : Theo bài khảo luận về « Văn học bình dân
nữ giới » trong Phụ nữ tân văn số 15 ngày 8-8-1929, ông Phan-Khôi có
viết : « Ở Trung-kỳ và Bắc-kỳ vẫn có phong tục nịt vú cho nhỏ lại. Tục
nầy hình như ở Nam-kỳ không có. Bên Tàu cũng có tục nầy, nhưng gần đây người ta
cho là hại sức khỏe, nên có cuộc cổ động cho đàn bà không nịt vú nữa. Đó là cuộc
đấu tranh giải phóng bộ ngực đàn bà mà họ gọi là « Nữ tử hung bộ chi giải phóng
». Cuộc đấu tranh nầy cũng công phu lắm, chẳng khác cuộc đấu tranh bài trừ
phong tục bó chân của người Mãn-thanh »
Xem thế, chúng ta thấy rằng nguồn
mỹ cảm của chúng ta ngày nay đã đổi khác và đi đến chỗ ngược lại.
Nếu người xưa vì thích vú nhỏ phải
nịt lại cho hợp với thẩm mỹ, thì ngày nay chúng ta lại cho vú lớn là đẹp, nên
phải độn thêm. Nịt lại hay độn thêm đều là những hành động ràng buộc, có hại đến
sức khỏe cả. Nhưng việc đó thuộc phạm vi nghiên cứu của những nhà y học, đây
chúng ta không bàn đến.
Lãnh vực chúng ta cần bàn đến là
nguồn gốc của cái đẹp. Tại sao người xưa cho vú nhỏ là đẹp, trái với thẩm mỹ của
chúng ta ngày nay ?
Thực ra phong tục nịt vú là phong
tục ảnh hưởng do nền văn hóa Trung-quốc. Người Trung-quốc thuở xưa vì chú trọng
đến đạo học, nên quan niệm cái đẹp phải trong kín đáo, không phô bày, lộ liễu
ra ngoài. Nguồn mỹ cảm của họ thoát thai trong một xã hội, do đó cảm tính con
người bị đóng khuôn vào lý trí, do lý trí điều khiển. Mọi hiện tượng sỗ sàng đều
bị coi là bất chính cả. Nền đạo lý Trung-quốc du nhập sang nước ta, quan niệm
thẩm mỹ vẫn ảnh hưởng vào lớp người quí tộc, và chỉ có lớp người quí tộc mới chịu
ảnh hưởng về phong tục nịt vú mà thôi. Người bình dân Việt-nam không hề chịu ảnh
hưởng ấy.
Trong bài khảo luận về « Văn học
bình dân nữ giới », ở báo Phụ nữ tân văn số 15 ngày 8-8-1929, ông
Phan-Khôi đã căn cứ vào câu ca dao :
Trên đầu em đội khăn vuông,
Trông xuống dưới ngực cau buồng
còn non.
Cổ tay em vừa trắng vừa tròn,
Mặt mũi vuông vắn, chồng con thế
nào ?
Và kết luận rằng : « Cau buồng
còn non là cái vú nhỏ. Người bình dân vẫn cho cái vú nhỏ là đẹp. »
Theo chúng tôi, nếu Phan tiên
sinh chỉ căn cứ vào một câu ca dao như vậy mà xác định một quan điểm thẩm mỹ của
người bình dân thời xưa e không chính xác.
Nếu quan niệm vú nhỏ là đẹp thì tất
nhiên thị hiếu quần chúng bắt buộc các cô thôn nữ đều phải nịt vú hết, và quan
niệm người bình dân sẽ đồng hóa với quan niệm duy lý của lớp người quí tộc, và
cả quan niệm duy lý của người Trung hoa nữa. Ở đây, chúng tôi thấy trái lại.
Trước hết, chúng tôi không đồng ý
với Phan tiên sinh về lời giải thích câu ca dao trên. Theo chúng tôi, « cau buồng
còn non » không có nghĩa là tán thưởng cái vú nhỏ, mà có ý ca tụng tuổi dậy thì
của cô gái mới bước vào vườn xuân. Vậy, câu ca dao trên không có nghĩa là người
bình dân thời xưa vú nhỏ. Nếu họ có thích là thích cái tuổi dậy thì của cô gái ấy.
Mặt khác, người bình dân là người
đầu tắt mặt tối, sắc đẹp của họ bao giờ cũng phú thác cho thiên nhiên, đẻ con
ra phải cho bú có lúc nơi xó bếp, có lúc trên mặt đê, có lúc banh ngực ra trước
cửa nhà. Lối sinh hoạt như vậy chứng tỏ họ không bị ràng buộc vào nguồn thẩm mỹ
của duy lý. Trái lại, họ cũng không có ý phô trương để khêu gợi dục tính như những
cô gái thế hệ chúng ta ngày nay. Nguồn mỹ cảm của họ dựa vào qui luật đang lên
của sức sống không chịu ràng buộc, cũng không chịu giả tạo, họ chỉ tán thưởng những
gì tự nhiên của tạo hóa. Vậy chúng ta không thể gắn cho họ một mỹ cảm nào khác
hơn là thích cái đẹp tự nhiên của tuổi xuân thời.
Chính họ đã nói lên cái quan niệm
ấy trong các câu ca dao như :
Nước sông Ba chảy qua sông Cú,
Thấy dạng em chèo hai cái vú nơ
nơ.
Một bộ ngực tròn trịa của cô gái
chèo thuyền trên sông đã làm cho các chàng trai đồng nghiệp tán thưởng như vậy,
chúng ta không thể nào bảo họ thích vú nhỏ được. Và đây, một cô thôn nữ than thở với chồng
:
Một ngày ba bận trèo đèo,
Vì ai vú xếch lưng eo hỡi chàng.
Thì rõ ràng chúng ta thấy họ mến
tiếc cái đẹp tròn trịa của tuổi xuân thì.
- Giọng nói : Giọng nói tuy
bên ngoài sắc diện, song đối với mỹ cảm con người không phải không quan trọng.
Xưa nay người ta cho hai yếu tố thinh và sắc đều có tác dụng đi vào cảm giới
con người.
Thời xưa, người bình dân tuy cần
cù, chất phác, lời nói của họ không văn hoa, bay bướm, song không vì thế mà cảm
giới họ không thu nhận nổi hấp lực trong địa hạt âm thanh.
Một giọng hát vắt vẻo trên lưng đồi,
ngân vang trong ngàn cây nội cỏ. Một giọng hò lả lướt mông lung theo ánh trăng
hòa lẫn với tiếng chày khua, chính đó là hoàn cảnh đưa giá trị của âm thanh vào
nghệ thuật. Người bình dân suốt đời sống trong ruộng lúa nương dâu, vui với câu
hò, tiếng hát, dĩ nhiên không thể không có một nguồn mỹ cảm đối với âm thanh được. Từ cái trong trẻo
của giọng hò tiếng hát đi dần đến giọng nói thanh tao của con người trong lúc
tư tình, dĩ nhiên đó là chuyện tất yếu. Đành rằng họ không cần đến lời nói hoa
mỹ, khuôn phép, họ chỉ cần những câu nói hồn nhiên, chân thật. Song trong cái hồn
nhiên, chân thật ấy họ lại thích có được giọng nói quyến rủ của con người.
Lời nói hoa mỹ là do khả năng của
con người tạo nên, nhưng giọng nói thanh tao là do thiên nhiên đúc kết. Không
phải vì tính chất cần cù, mộc mạc mà người bình dân không có được giọng nói
thanh tao.
Đối với họ giọng nói thanh tao là
do thiên phú. Bởi vậy, trong ca dao bình dân chúng ta thấy rất nhiều chỗ phân
tích cái đẹp trong giọng nói con người. Thí dụ :
Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ
nghe.
Giọng nói lại thường đi đôi với
hình dung. Cho nên người đẹp nói tiếng không thanh tao thì cái đẹp ấy cũng giảm
mất giá trị, ngược lại người đẹp mà nói tiếng thanh tao thì cái đẹp ấy càng
tăng giá trị.
Vì chuộng giọng nói thanh tao,
trong trẻo, họ đã đem tiếng nói con người ví với tiếng chuông ngân :
Người thanh tiếng nói cũng thanh,
Chuông kêu sẽ đánh bên thành cũng
kêu.
2. PHỤC SỨC
Về phục sức đối với người phụ nữ
bình dân thuở xưa có lẽ nhiều điểm khác biệt với thế hệ chúng ta ngày nay.
Thời xưa, nói đến đàn bà là nói đến
khăn và yếm. Có lẽ hai món trang phục ấy là căn bản cho nguồn thẩm mỹ của họ.
Vậy trước nhất, chúng ta thử tìm
hiểu cái đẹp của khăn và yếm :
- Cái khăn : Cái khăn là dùng để đội đầu trùm tóc, giữ
cho mái tóc duyên dáng khỏi bị rối rắm. Đó là công dụng chính yếu mà người phụ
nữ bình dân ưa chuộng. Với công dụng ấy, cái khăn đội đầu lần lần trở thành vật
trang sức mang tính chất thẩm mỹ của nữ giới.
Người bình dân đã để ý đến chiếc
khăn đội đầu của phụ nữ như một vật bất ly thân, thiếu nó, người phụ nữ không
còn vẻ đứng đắn, mỹ miều nữa. Trong ca dao, họ đã có nhiều câu ca tụng cái khăn đội đầu
như :
Nụ cười như thể hoa ngâu,
Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Dĩ nhiên, trang sức để làm tăng vẻ
đẹp của người đàn bà, nhưng mục đích của nó cũng còn phải hợp với tính chất
sinh hoạt hàng ngày nữa. Người đàn bà Việt-nam sống về nghề nông, phần nhiều
làm lụng vất vả, bởi vậy, lối trang sức phải gọn gàng, ít vướng bận.
- Cái yếm : Có lẽ cái yếm là vật được lưu ý nhất
trong lối phục sức của người đàn bà thời xưa, nên trong ca dao đã nói rất nhiều
đến cái yếm !
Thực ra, cái yếm chỉ là một vật
lót mình, một mảnh vải để che ngực, nó bị khuất dưới lớp áo ngoài chỉ còn chừa
hở một phần ở cổ áo. Tuy nhiên, sở dĩ nó làm tăng duyên dáng cho người đàn bà
cũng chỉ vì tánh tò mò về mỹ cảm của người đàn ông.
Sự tò mò về thẩm mỹ ấy, đã đẩy nữ
giới vào quĩ đạo đua tranh, và chính nữ giới lại dùng nó để thu hút cảm quan của
nam giới.
Bởi vậy, chúng ta thấy có những
câu ca dao dí dỏm như :
Yếm thắm mà nhuộm hoa nương,
Cái răng hạt đậu làm tương anh đồ.
Yếm thắm mà vã nước hồ,
Và đi vã lại anh đồ yêu đương.
Chỉ cần nhuộm cái yếm cho tươi,
vã nước hồ cho bóng cũng có thể lung lạc được tình yêu, đủ biết tầm quan trọng
của cái yếm đến bực nào rồi ! Cho nên các cô không dại gì không thi nhau sắm sửa
cái yếm cho đẹp, để các chàng trai lưu ý.
Và đây, chính các chàng cũng đã
mê mệt trước những chiếc yếm đẹp ấy :
Hỡi cô yếm thắm lòa xòa,
Yếm nhiễu yếm vóc hay là trúc bâu
?
Hay là lụa bạch bên Tàu ?
Người cắt cũng khéo, người khâu
cũng tài.
Chẳng những đua nhau sắm những
chiếc yếm đắt tiền mà các cô còn bày vẽ thêu chim, thêu hoa trên mặt yếm nữa để
chiếc yếm thêm phần giá trị :
Một đàng em thêu nên nhạn,
Một đàn em mạng nên hoa,
Yếm em nay để trong nhà,
Khen thay thầy mẹ mở khóa đưa ra
cho nàng.
Thẩm mỹ của người bình dân đã đặt
rất nhiều trên chiếc yếm. Bởi vậy, người con gái nào lúc đi lấy chồng cũng cố
xin cha mẹ một chiếc yếm thật đẹp để khỏi mất mặt với nhà chồng :
Lạy cha ba lạy một quì,
Lạy mẹ bốn lạy con đi lấy chồng,
Mẹ sắm cho con cái yếm nhất phẩm
hồng,
Trước là đắc nghĩa cùng chồng,
Sau là họ mạc cũng không chê cười
!
Yếm đẹp chẳng những làm mê mệt
người thế tục, mà còn làm điêu đứng các nhà tu hành nữa :
Ba cô đội gạo lên chùa,
Một cô yếm thắm bỏ bùa cho sư.
Sư về sư ốm tương tư,
Ốm lăn, ốm lóc cho sư trọc đầu.
Ai làm cho dạ sư sầu,
Cho ruột sư héo, cho bầu đứt dây
!
Như vậy, thử hỏi làm sao các cô
gái thời xưa không xem trọng cái yếm và không xem cái yếm là vật trang sức đứng
vào hàng đầu.
Ngoài cái khăn và cái yếm, người
đàn bà thời xưa còn để ý đến cái nón nữa.
Cái nón tuy là vật che nắng che
mưa, song không phải đứng ngoài tầm thẩm mỹ. Các cô đã dùng cái nón làm vật
trang sức :
Ba cô cùng ở một nhà,
Cùng đội nón thúng, cùng ra thăm
đồng.
Cái nón người bình dân thời xưa
không phải như chiếc nón lá chúng ta hiện dùng, mà là loại nón thúng (có chỗ gọi
nón thượng, có chỗ gọi nón cụ) cột quai thao :
Ai làm cái nón quai thao,
Để cho anh thấy cô nào cũng xinh
!
Cái nón nhỏ nan
Quai vàng chí ngực
Em ham chi cái chỗ sang giàu sau
cực đừng than !
Nón cụ quai tơ
Có tờ giấy đỏ
Anh ở khác tổng khác làng nào rõ
bên em !
Ngoài ba món trang sức căn bản
trên, người phụ nữ bình dân thời xưa cũng có đeo hoa tai, vòng vàng. Hoa tai được
xem như vật quan trọng của hôn lễ, còn vòng vàng thì ít được nói đến. Cái đẹp
trong lối đeo hoa tai, vòng vàng chỉ còn lưu lại một ít trong các câu ca dao
như :
Một mai thiếp có xa chàng
Đôi bông thiếp trả, đôi vàng thiếp
xin.
Tai nghe lệnh cấm hoa tai
Em đeo hoa lý, hoa lài cũng xinh.
Về phương diện ăn mặc của người
đàn bà bình dân thời xưa, chúng ta có thể gồm vào mấy câu sau đây :
Con gái đương thời đã nên con gái
Cái áo em mặc chải chải hoa hồng
Trong yếm đại đồng, chuỗi xe con
toán
Cái quai dâu chạm em đội trên đầu
Cái nhôi dâu gấp quấn vào đỏ chói
Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền
Như cánh hoa sen những ngày mới nở
Khi em đi chợ, có kẻ gánh gồng
Anh đứng anh trông, má hồng đỏ thắm
Anh đứng anh ngắm, đẹp đẽ làm sao
!
3. CÁI ĐẸP TINH THẦN
Trên đây, chúng ta chỉ mới xét
qua nguồn thẩm mỹ của người bình dân thời xưa trên hai phương diện nhan sắc và
phục sức nghĩa là chúng ta chỉ mới nói đến quan niệm về cái đẹp vật chất của họ
mà thôi. Ngoài cái đẹp vật chất, người bình dân còn có cái đẹp tinh thần. Chính
ở lãnh vực nầy mới là căn bản thẩm mỹ của họ.
Người bình dân đã cân nhắc giữa
hai cái đẹp vật chất và tinh thần. Họ bảo :
Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
Cái đẹp vật chất tuy họ cũng trọng,
song nếu đem so sánh với cái đẹp tinh thần thì cái đẹp vật chất lại ở vào hàng
thứ yếu. Bởi vì, theo họ :
Cái nết đánh chết cái đẹp !
Cái nết mới là cái quan trọng đối
với mỹ cảm. Vậy, cái nết đối với họ là gì ? Đó là tính tình, là sự đối xử, là
quan niệm về lẽ sống, là sự ràng buộc giữa con người và con người, v.v… Nói tóm
lại là quan niệm nhân sinh.
Nhưng, nếu chúng ta đã xét thấy
người bình dân đem cái đẹp tinh thần đặt lên trên cái đẹp vật chất như vậy,
quan niệm nhân sinh của người bình dân có nhầm vào quan niệm nhân sinh duy lý của
Nho giáo không ?
Chúng tôi mạnh dạn trả lời là
không. Quan niệm nhận sinh duy lý của Nho giáo đặt căn bản phụ hệ trên tổ chức
gia đình, uốn nắn cái đẹp của tâm hồn người đàn bà phải phục tùng dưới quyền hạn
của người đàn ông, lấy tứ đức tam tùng làm khuôn thước, trong lúc cái nết mà
người bình dân dành cho người đàn bà không phải như thế. Nó phát xuất ở căn bản
bình đẳng hôn nhân, ở tâm hồn chung thủy, ở tình tương thân tương ái, trong
hoàn cảnh sinh sống, mà chúng ta đã đề cập đến trong mục « Quan niệm hôn nhân »
và mục « Tính chất cần cù, nhẫn nại, chất phác » của người bình dân !
Căn bản nhân sinh đã không giống
nhau, thì cái đẹp tinh thần trong quan niệm của người bình dân cũng không nằm
trong cái đẹp duy lý của Nho giáo được. Chính vì thế, mà lúc guồng máy đô hộ của
người Trung-hoa du nhập vào Việt-nam, lấy nền tảng đạo đức duy lý của Khổng Mạnh
áp dụng, liền bị lớp người bình dân Việt-nam chống đối tạo thành sức phản ứng
trong lãnh vực gia đình và hôn nhân mà chúng tôi gọi là những biến thái của
tình yêu.
Vậy trong mục « Biến thái của
tình yêu » chúng tôi sẽ phân tích kỹ về điểm nầy.
Ở đây, trong mục « Quan niệm về
cái đẹp và cái xấu » của người bình dân, sau khi đã phân tích, chúng tôi thấy ý
thức của họ về vật chất cũng như về tinh thần bao gồm trong bài hát « Mười
thương » sau đây :
Một thương tóc bỏ đuôi gà,
Hai thương ăn nói mặn mà có
duyên,
Ba thương má núng đồng tiền,
Bốn thương răng lánh hạt huyền
kém thua.
Năm thương cổ yếm thêu thùa,
Sáu thương nón thượng quai tua dịu
dàng.
Bảy thương nết ở khôn ngoan,
Tám thương ăn mặc lại càng thêm
xinh.
Chín thương cô ở một mình,
Mười thương con mắt hữu tình với
ai !
*
Tóm lại, nguồn thẩm mỹ của người
bình dân thời xưa phát xuất từ nhân sinh quan của họ. Họ chuộng cái đẹp tự
nhiên, cái đẹp của thiên tánh, không bị gò bó không bị giả tạo, cái đẹp phát xuất
từ tình thương, từ nguồn sống trong bản chất giữa con người với con người. Cho
nên, cảm giới của họ gần gũi với chúng ta trong địa hạt thiên nhiên hơn là
trong địa hạt văn minh vật chất.
Nếu cảm giới của xã hội văn minh
vật chất đi sâu vào quan niệm duy mỹ, tạo cho tâm hồn con người một ý thức lãng
mạn, thì chính quan niệm người bình dân lại khác hẳn. Họ đem cái đẹp của tâm tư
hòa vào cái đẹp của bản năng.
Ngược lại, nếu cảm giới của xã hội
văn minh về tinh thần lấy quan niệm duy lý làm nền tảng, dùng cái đẹp của lý
trí trấn áp cái đẹp của bản năng, thì chính quan niệm người bình dân lại cũng
khác hẳn. Họ vượt ra ngoài cái đẹp gò bó của lý trí, chan hòa giữa hai nguồn mỹ
cảm vật chất và tinh thần.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP, CÁI XẤU
1. Ai xui má đỏ hồng hồng,
Để anh nhác thấy đem lòng thương
yêu.
2. Áo anh đứt cúc đứt khuy,
Quần anh đứt đũng lấy chi hoa
hòe.
3. Ba đồng một bát nước chè,
Tuy rằng em đẹp nhưng què một
chân.
4. Cái nết đánh chết cái đẹp,
Con cóc lắc lẻo lại đòi trèo
thang.
5. Cái cổ yếm em có thõng
thòng thòng,
Tay em đeo vòng như bắp chuối non
Em khoe em đẹp em tròn,
Anh trông nhan sắc, em còn kém
xuân.
6. Cau già dao sắc lại non,
Người già trang điểm phấn son vẫn
già.
7. Cau già dao sắc lại non,
Nạ dòng trang điểm lại giòn hơn
xưa.
8. Con mắt lá răm,
Lông mày lá liễu, đáng trăm quan
tiền.
9. Con gái đang thời đã nên
con gái,
Cái áo em mặc chãi chãi hoa hồng.
Trong yếm đại hồng, chuỗi xe con
toán.
Cái quai dâu chạm em đội trên đầu,
Cái nhôi dâu gấp quấn vào đỏ
chói.
Lỗ miệng em nói có hai đồng tiền.
Như cánh hoa sen những ngày mới nở.
Khi em đi chợ, có kẻ gánh gồng,
Anh đứng anh trông má hồng đỏ thắm.
Anh đứng anh ngắm, đẹp đẽ làm sao
!
Con cháu ông nao chân đi đẹp đẽ,
Anh có vợ rồi chẳng lẽ anh xiêu.
10. Con người mặt hoa da phấn,
Con mình mặt cú da lươn.
11. Cô kia má phấn môi son,
Nắng dầu mưa dãi càng giòn càng
ưa.
Cô kia mặt trẽn mày trơ,
Vàng đeo, bạc quấn cũng dơ dáng
người.
12. Chân mày vòng nguyệt có
duyên,
Tóc mây dợn sóng đẹp duyên tơ hồng.
13. Chợ Bến-thành mới,
Kẻ lui người tới,
Xem tứ điện rất xinh,
Thấy em tốt dạng, tốt hình,
Chẳng hay em có chốn duyên tình
hay chưa.
14. Đàn ông đóng khố đuôi
lươn,
Đàn bà mặc yếm hở lườn mới xinh.
15. Đàn ông cao cẳng có tài,
Đàn bà cao cẳng l… dài thước năm.
16. Đôi ba, đôi ba,
Tuổi cô mình còn chừng độ đôi ba,
Em vận cái quần trứng sáo,
Cái áo thêu hoa phất phơ nhuộm màu,
Em đã xinh em lại có nhiễu đội đầu,
Em đội cái nón xứ Nghệ ra màu điểm
trang.
Em đã xinh em lại nhuộm cái bộ
răng vàng,
Mảnh gương Tư-mã thiếp với chàng
cùng soi chung.
17. Đấy vàng đây cũng đồng
đen,
Đấy hoa sói trắng, đây sen Tây-hồ.
Đấy em như tượng mới tô,
Đây anh như người ngọc họa đồ
trong tranh.
18. Hoa tươi trong độ gió
đông,
Gái xinh, xinh đến có chồng thì
thôi.
19. Hoa thơm ai chả muốn
theo,
Người đẹp ai chả muốn theo về
nhà.
20. Hoài tiền mua mía đánh
khăng,
Để tiền mua thuốc nhuộm răng cho
nàng,
21. Mẹ ơi con mẹ hư rồi,
Dẫu mà trang điểm phấn dồi cũng
hư.
22. Mỏng môi ăn vụng nhà
trong,
Dầy môi nói láo, cong môi ăn
hàng.
23. Một mình lo bảy lo ba,
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên.
24. Người xấu duyên lặn vào
trong,
Bao nhiêu người đẹp duyên bông ra
ngoài.
25. Người xinh cái bóng cũng
xinh,
Người giòn cái tỉnh tình tinh
cũng giòn.
26. Những người mặt nạc đen
dày,
Mo nang trời đất biết ngày nào
khôn.
27. Những người chép miệng
thở dài,
Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ.
28. Những người lỗ mũi hểnh
lên,
Của xe chất lại một bên cũng
nghèo.
29. Răng đen mổ đổ hột cườm,
Giả như trái lựu chín lườm trên
cây.
30. Tai nghe lịnh cấm hoa
tai,
Em đeo hoa lý, hoa lài cũng xinh.
31. Tốt đẹp chi mà anh mơ
màng,
Như con cá lẹp thưa sàng lọt đi.
32. Tốt gỗ hơn tốt nước sơn,
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.
33. Tuổi cô mình còn chừng độ
đôi ba,
Em bận cái quần trứng sáo,
Cái áo thêu hoa phất phơ nhuộm
màu.
Em đã xinh em lại có nhiễu đội đầu,
Em đội cái nón xứ Nghệ ra màu điểm
trang.
Em đã xinh lại nhuộm cái bộ răng
vàng.
Mảnh gương Tư-mã thiếp với chàng
soi chung.
34. Tưởng rằng khăn trắng có
duyên,
Ai ngờ khăn trắng không tiền mua
nâu.
35. Thân em như thể trái
chanh,
Lắt lẻo trên cành nhiều kẻ ước
mơ.
36. Thân em như cái bông
quì,
Ngó thì tốt dạng, ngửi thì không
thơm.
37. Thấy em dồi phấn anh phải
lòng,
Bớ em ơi, biết làm sao gá ngơi bá
tòng cùng em.
38. Thấy em nhỏ thó lại có
hường nhan,
Chân mày lân, con mắt lộ,
Nội xứ nầy không ai ngộ bằng em.
39. Thương em anh biết chở mấy
tàu,
Răng đen lổ đổ tợ dăm bào em ơi !
40. Trúc xinh trúc đứng đầu
đình,
Em xinh em đứng một mình cũng
xinh.
41. Vào rừng chẳng biết lối
ra,
Thấy dây nhúc nhắc ngỡ là vàng
tăm,
Anh trông em, anh cũng yêu thầm,
Sợ mẹ bằng bể, sợ cha bằng trời.
Thấy em đẹp nói đẹp cười,
Đẹp quần đẹp áo lại tươi răng
vàng.
Chân em đi dép quai ngang,
Mặt vuông chữ điền, liền vành cá
chôi.
Ta thương mình lắm mình ơi !
Cá chết về mồi, khốn nạn đôi ta.
Ngồi buồn trách mẹ cùng cha,
Trách anh thầy bói rẽ ra đôi đường,
Ở đây đồng đất phố phường,
Để anh mua cốm mua hồng sang sêu.
Sêu em mối lái làm đều,
Để cốm anh mốc, để hồng long tai.
Hồng long tai như quạt long nhài,
Cầu Ô long nhịp, cửa cài không
then.
Anh tiếc cô mình má phấn răng
đen.
Để cốm anh mốc, để hồng nứt ra.
Bao giờ cho đến tháng ba,
Gió thu lại thổi xuân ra cõi
ngoài.
42. Vô duyên chưa nói đã cười,
Chưa đi đã chạy là người vô
duyên,
43. Xưa kia em cũng lượt là,
Bây giờ nó rách, nó ra thân tàn.
b) Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC CỦA
BẢN NĂNG CON NGƯỜI GIỮA TÌNH CẢM VÀ THỰC TẾ
Dù trong xã hội nào, thời đại
nào, ý thức châm biếm và hài hước của con người vẫn đi đôi với cuộc sống.
Nếu chúng ta có thể nói rằng lịch
sử tâm tư của loài người là những tiếng khóc lóc, tiếng rên than chồng chất lên
nhau, đúc kết thành chuỗi khổ đau miên viễn trên dòng thời gian, thì chúng ta
cũng có thể thấy bên cạnh tiếng rên than, khóc lóc ấy, lịch sử tâm tư loài người
cũng là một chuỗi cười dài, dài đến vô tận. Chuỗi cười ấy tiếp nối nhau từ thế
hệ này sang thế hệ khác, và không ai có thể tưởng tượng được đến bao giờ mới dứt.
Như vậy, con người sống để mà
khóc, và cũng để mà cười, cười trên bất luận hình thái nào. Khóc khi thấy cuộc
đời gieo vào tâm tư những thổn thức, buồn đau. Cười khi thấy cuộc đời đã diễn
qua trước mặt họ những trò mỉa mai, chua chát.
Ý thức châm biếm, hài hước của
con người thoát thai từ những chuỗi cười ấy.
Ở đây, chúng ta không nói đến tiếng
cười của một cá nhân, cũng không nói đến tiếng cười của một thế hệ, mà nói đến
mội chuỗi cười miên man bất tận của một dân tộc, của lớp người bình dân đã trải
qua từ vạn kỷ. Tiếng cười ấy biểu tượng một sức sống, một tiềm lực vươn lên chống
lại mọi mâu thuẫn của con người trong ý sống.
Xưa nay đã có nhiều người phân định
cái cười có hai tính chất : tính chất nô đùa để thích thú thì gọi là hài hước ;
tính chất châm biếm để răn đời thì gọi là trào phúng.
Nhà văn Lê-Thanh khi phê bình tập
thơ « Tú Mỡ » do nhà sách Cộng-lực xuất bản năm 1942, đã cố gắng phân định cái
khác biệt giữa hai tính chất khôi hài và trào phúng như sau :
« Từ trước đến nay, ít nhất trong
văn chương, người ta không phân biệt hai thể thơ khôi hài và trào phúng, vì đặc
sắc của thể thơ này thường lẫn vào thể khác.
Đặc sắc của thể thơ khôi hài là
cái vui, một cái vui phần nhiều thẳng thắn, không phạm sâu đến đối tượng của
cái cười.
…Nhà thơ khôi hài tìm tài liệu ở
cái ngu xuẩn, cái vô ý thức, cái ngông của người đời ; còn nhà thơ trào phúng
tìm tài liệu ngoài những nguồn trên, còn ở những thói xấu, những cái rởm của
người.
Nhà thơ khôi hài cười để mà cười.
Nhà thơ trào phúng cười để mà sửa chữa. Vì cái mục đích sau này khó đạt hơn,
nên những phương tiện nhà thơ dùng phải chặt chẽ hơn.
Lời lẽ khi chua cay, khi mỉa mai.
Một chữ dùng không phải là một cỗ xe chở chất cười mà còn là cái bao gói chất độc…
…Tôi nhắc lại sự phân biệt hai thể
thơ khôi hài và trào phúng thường không rõ rệt lắm… »
Tuy phân định một ranh giới,
nhưng ông Lê-Thanh không dám quả quyết có sự tách biệt rõ ràng.
Theo chúng tôi thì tính chất khôi
hài và trào phúng (tức hài hước và châm biếm) đều nằm ở trạng thái bất mãn về
những mâu thuẫn trong ý sống. Cả hai đều là năng lực chống đối, chỉ khác nhau ở
chỗ tích cực và tiêu cực.
Không có cái cười nào không mang
một ý nghĩa – trừ cái cười của những kẻ mất trí.
Khi cái cười đã mang một ý nghĩa
nào đó thì không thể bảo là hồn nhiên, là vô tư được. Chúng ta không thể tự
nhiên mà cười, nếu không bị một kích thích nào bên ngoài.
Sự kích thích ấy chính là nền tảng
của một nhân sinh quan, một ý thức về lẽ sống của cá nhân chúng ta. Ý thức ấy
được hòa vào ý thức của kẻ khác. Nếu là thích hợp, chúng ta cảm thấy thích thú.
Chúng ta nở một nụ cười tương đắc.
Vậy cái cười là trạng thái biểu lộ
sự đồng tình của một nguồn giao cảm, phát xuất từ ý niệm về lẽ sống.
Trên sân khấu, một anh hề đem những
cái ngớ ngẩn chọc chúng ta cười. Chúng ta bảo đấy là cái cười hồn nhiên ư ?
Không ! Chính cái ngớ ngẩn ấy đã đem đến một ý nghĩa châm biếm
nào đó làm thỏa mãn ý thức nhân sinh của chúng ta, và cái cười của chúng ta biểu
lộ sự đồng tình với ý nghĩa châm biếm ấy.
Một người say rượu chân đi loạng
choạng, thỉnh thoảng vấp ngã gây cho chúng ta một nụ cười. Chúng ta bảo là cái
cười của chúng ta hồn nhiên ? Không ! Nụ cười ấy đã nẩy từ trong ý thức so sánh
giữa cái đẹp của người tỉnh và cái xấu của người say mà bộc lộ ra ngoài.
Cho nên không có cái cười nào
thoát ra ngoài ý sống cả. Đã không thoát ra ngoài ý sống tất nhiên nó phải vì lẽ
sống mà có.
Với quan niệm trên, chúng ta có
thể kết luận rằng ý thức hài hước châm biếm (khôi hài và trào phúng) cũng chỉ
là một, với mục đích bảo vệ nhân sinh quan của cá nhân mình, tức là chống lại mọi
hành động, mọi hiện tượng trái với ý muốn của mình, mà mình tự cho là không hợp
với lẽ sống. Ý thức ấy đi từ tiêu cực đến tích cực. Tiêu cực khi nó còn ở trong
phạm vi hòa hợp với ý thích bên ngoài, tích cực khi nó vượt ra ngoài khuôn khổ
thụ động, trở thành chủ động.
Thụ động là tính chất tiêu cực mà
chúng ta thường gọi là khôi hài. Chủ động là tính chất tích cực mà được chúng
ta gọi là trào phúng.
Trên đây, chúng ta đã xác định
tính chất của ý thức hài hước và châm biểm. Nó là hiện tượng của năng lực đấu
tranh trong đời sống con người.
Xã hội loài người chứa đầy phức tạp.
Nếu chúng đã thừa nhận lẽ sống con người là bao gồm mọi thắc mắc mâu thuẫn, mà
lịch sử loài người phải luôn luôn giải quyết bằng đấu tranh thì ý thức hài hước
châm biếm là hình thức đấu tranh thấp nhất và dần dần đi đến hình thức đấu
tranh bằng vũ lực là hình thức cao nhất.
Chiến tranh loài người có thể tạm
chấm dứt trong một giai đoạn nào đó, nhưng trạng thái châm biếm, hài hước vẫn nối
tiếp nhau như một sông dài, chảy mãi từ thế hệ này sang thế hệ khác. Cho nên
chúng ta có thể gọi trạng thái châm biếm, hài hước là trạng thái đấu tranh về ý
thức, nằm trong sức mạnh tiềm tàng của xã hội loài người, đánh dấu sức sống
trong xã hội loài người, và đưa xã hội loài người luôn luôn tiến tới.
Nếu xét về lãnh vực hài hước,
châm biếm thì có lẽ sức đấu tranh này phát khởi mạnh nhất trong giới bình dân.
Đó là một đặc tính không ai có thể phủ nhận được.
Nhưng tại sao người bình dân lại
mang ý thức châm biếm, hài hước ?
Trước nhất, chúng ta thấy mọi cử
chỉ chống đối bao giờ cũng bắt nguồn từ ý thức bất mãn, mà người bình dân là lớp
người có nhiều bất mãn nhất.
Mặt khác, dù thời đại nào, chế độ
nào, luật pháp cũng không thể cấm đoán được cái cười của con người. khi cái cười
của con người tự do biểu lộ thì nguồn gốc của hài hước, châm biếm vẫn được tồn
tại và phát sinh. Người bình dân vốn là kẻ dễ bị uy hiếp, nên họ rất thích cái
phương thức chống đối mà sự tự do tối thiểu con người chưa bị mất.
Với hai yếu tố trên, địa hạt bình
dân chính là mảnh đất tốt nhất để cho ý thức châm biếm, hài hước nẩy nở.
Chẳng những trên đất nước Việt-nam,
người bình dân thời xưa đã phát huy một truyền thống chống đối với ý thức con
người bằng cái cười, mà hầu hết trên mọi quốc gia, dân tộc cũng đều lấy cái cười
làm tiêu biểu cho nguồn sống của mình. Bởi vậy, cái cười được con người diễn tả
như một năng lực biến ảo của tâm tư, tác động vào cuộc sống loài người không
thua gì những vũ khí sắc bén nhất để phá hoại, hoặc chinh phục.
Người ta thường bảo cái khóc và
cái cười là hai trạng thái buồn vui trái ngược. Tuy nhiên, đó chỉ là quan niệm
thông thường, tách rời trạng thái của tâm tư. Nếu xét về nguồn gốc của tâm tư
thì khóc và cười lại là trạng thái hòa hợp. Cả hai đều là biểu tượng của ý thức
về nhân sinh mà mục tiêu duy nhất, là chống lại mọi bất mãn của lẽ sống con người.
Cho nên, cái cười và cái khóc đôi
lúc cùng chung một ý nghĩa, mà người bình dân thời xưa cũng đã xác nhận quan niệm
ấy. Ví dụ :
Ngồi buồn trách lẫn ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tênh lại
cười.
Như vậy, tiếng cười có thể thay
tiếng khóc, và ngược lại tiếng khóc có thể thay tiếng cười trong phạm vi tâm tư
diễn biến một cách chua chát, đắng cay.
Tiếng cười trong lãnh vực hài hước,
châm biếm của con người thoát thai từ nguồn gốc ấy, cho nên có một tác dụng hòa
hợp giữa cái khóc và cái cười, hay nói cách khác, khóc cười vẫn nằm
trong một mục đích chung là chống lại mọi bất mãn của mình trước cuộc sống xã hội.
Chúng ta khóc khi buồn rầu và
chúng ta cười khi thích thú. Như vậy, buồn rầu và thích thú nằm trong ý thức của
cá nhân chúng ta đối với lẽ sống cả.
Trên đây, chúng ta đã thừa nhận đặc
tính của người bình dân trong ý thức hài hước, châm biếm, và ý thức ấy phát
sinh từ một nhân sinh quan, vậy chúng ta bắt đầu khảo sát từng quan niệm một của
người bình dân thời xưa trong địa hạt ấy.
I. QUAN NIỆM SINH LÝ
Sinh lý là lẽ sống, là dục vọng
con người. Trong lãnh vực này, xã hội loài người chứa đựng nhiều phức tạp.
Những phức tạp ấy đều là sản phẩm
của xã hội, do cuộc sống tạo nên, đưa con người đến một tham vọng, rồi cũng
chính con người từ cảm thấy bất mãn khi tham vọng bị chênh lệch trở thành những
bất công trong xã hội.
Vậy bất công là gì ? Nó là sự mất
thăng bằng, là trạng thái cực đoan, mà trong mọi chế độ xã hội con người luôn
luôn chống lại để đòi hỏi sự quân bình.
Cũng như mọi hiện tượng trong vũ
trụ, mỗi cá thể đều vươn lên để tranh đoạt sự sinh tồn, và tạo cho vạn hữu một
sức mâu thuẫn, thì trong cuộc sống loài người cũng thế. Dục vọng con người cũng
luôn luôn vươn lên tranh đoạt cho lẽ sống cá nhân, tạo cho xã hội loài người những
hiện tượng chênh lệch mà loài người thường gọi là những bất công xã hội. Cho
nên, nếu mọi biến động vũ trụ là trạng thái điều hòa những mâu thuẫn của vạn hữu,
khí nóng điều hòa được khí lạnh trở thành sức ấm áp ; như vậy ta thấy rằng mọi
ý thức tranh đấu của con người trong cuộc sống cũng chỉ để san bằng mọi chênh lệch
bất công mà thôi. Mục tiêu của vũ trụ cũng như của con người đều tiến tới chỗ
thăng bằng, và chỉ có thăng bằng mới tồn tại.
Tự nghìn xưa, ý thức con người
cũng đã nhìn thấy yếu tố thăng bằng chính là yếu tố của đạo lý. Và công bằng
chính là mục tiêu của lẽ sống mà con người muốn tồn tại cần phải tranh đấu.
Bởi vậy, người bình dân thời xưa
đã biểu lộ quan niệm nhân sinh của họ qua các câu hát như :
Công bằng là đạo người ta ở đời.
Lấy công bằng làm tầm mức cho lẽ
sống, dĩ nhiên ý thức họ phải chống lại những gì mất công bằng, tức là chống lại
mọi chênh lệch.
Để chứng minh điều này, trong địa
hạt hài hước châm biếm, chúng ta không lấy làm lạ khi họ lôi những ông già, bà
già ra để làm trò cười trong cuộc sống.
Đây, chúng ta thử nhìn những ông
già dưới con mắt khắc nghiệt của họ về phương diện luyến ái.
Già thì bế cháu ẵm con,
Già đâu lại muốn cau non trái
mùa.
Hoặc : Ông già đầu bạc
răng long,
Cưới cô con gái còn măng tuổi đào.
Tại sao lại chê cười khi một ông
già lấy một cô gái ? Có phải đó là do ảnh hưởng của giáo lý Khổng Mạnh chăng ?
Thực ra, nếu quan niệm này có
trùng hợp với giáo lý Khổng Mạnh thì cũng chỉ là phương diện ngẫu nhiên. Bởi vì
các nước Tây Âu thời xưa không bị ảnh hưởng Nho giáo, tại sao họ cũng có những
quan niệm châm biếm về cô gái lấy ông già.
Vả lại Nho giáo không chủ trương
bình đẳng hôn nhân, địa vị của người đàn bà đối với Nho giáo không được coi trọng
trong xã hội thì việc ông già lấy gái tơ, Nho giáo không cho là chuyện trái với
lẽ sống. Bằng chứng Nho giáo đã bênh vực các bậc đế vương chọn cung phi mỹ nữ
vào cung hằng loạt mà không bị giáo lý ngăn cấm.
Cho nên quan niệm ông già lấy gái
tơ chỉ bị châm biếm trong giai cấp bình dân, quan niệm ấy phát nguồn từ ý thức
bình đẳng. Họ đả phá những gì chênh lệch, mất thăng bằng. Mọi bất công trong xã
hội loài người chỉ là những chênh lệch chồng chất. Những sự giàu sang áp chế là
những bất công đã biểu lộ ra thực trạng, họ chống đối đã đành, mà đến những ý
thức dục vọng chênh lệch cũng bị họ chống đối nữa. Tinh thần bình đẳng của họ
là tinh thần tất yếu hòa hợp với thiên nhiên, vạn vật. Lúc nào họ cũng tìm đến
chỗ thăng bằng, đả phá những cực đoan.
Dục vọng con người thường chịu ảnh
hưởng vào cuộc sống. Bởi vậy xã hội phát sanh những chênh lệch như :
Áo dài chẳng nệ quần thưa,
Bảy mươi có của cũng vừa mười
lăm.
Bảy mươi mười bảy bao xa,
Bảy mươi có của mười ba cũng vừa.
Dưới mắt người bình dân, dù bị cuộc
sống xã hội lôi cuốn thế nào đi nữa, họ vẫn cho đó là chuyện khôi hài, nếu
không làm đúng với ý thức thăng bằng của họ. Mà ý thức thăng bằng là nguồn gốc
của bình đẳng. Sự bất công phát xuất từ trạng thái mất thăng bằng ấy. Cho nên,
chúng ta thấy ý thức khắc nghiệt của họ trong lãnh vực luyến ái không phải
không duyên cớ.
Dù cho những ông già có đem lý luận
về sức khỏe để bào chữa như :
Càng già, càng dẻo, càng dai,
Càng gãy chong chóng, càng sai
chân giường.
thì đối với họ cũng là chuyện ngụy
biện. Thời gian không bao giờ dừng lại, không gian không giữ mãi trạng thái bất
di bất dịch, thì làm sao chúng ta lại bắt mùa Xuân phải đứng yên một chỗ ? Mùa
xuân hôm nay không phải là mùa xuân của năm qua. Mặt trăng hôm nay không là mặt
trăng của tháng trước. Dòng nước đang chảy không phải dòng nước chúng ta đã tắm
vừa rồi. Thế thì khi họ là một ông già, dù trạng thái nào đi nữa, họ vẫn là một
ông già và đang đi kề bên cái chết.
Người bình dân đã thấy rõ điều
đó, nên cô thôn nữ đã châm biếm thái độ ngụy biện của họ.
Ông ơi, tôi chẳng lấy đâu,
Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.
Nhổ râu, cạo mặt không làm cho
con người trẻ lại. Đó là hình thức miễn cưỡng chống lại cái già nua, một sự phỉnh
phờ đối với thực chất cằn cỗi. Cũng như hiện tại chúng ta không thể đi ngược thời
gian để sống trong dĩ vãng được vậy.
Nếu ông già lấy gái tơ bị họ châm
biếm thì bà già lấy trai tơ họ cũng không tha. Ý thức châm biếm ấy lại cũng nhắm
vào một mục tiêu. Ví như :
Rung rinh nước chảy qua đèo,
Bà già lật đật mua heo cưới chồng.
Bà già đã tám mươi tư,
Ngồi bên cửa sổ viết thư tìm chồng.
Bà già đi chợ Cầu Đông,
Bói xem một quẻ có chồng được
chăng ?
Ông thày gieo quẻ bói rằng :
Lợi thì có lợi nhưng răng không
còn.
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay,
Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn
ba.
Mồ cha đứa chê thiếp già,
Thiếp còn gánh nổi một vài trăm
kim.
Trăm kim đổi lấy lạng vàng,
Mua gương Tư Mã thiếp với chàng
soi chung.
Chàng về sắm sửa loan phòng,
Thiếp xin điểm phấn tô hồng thiếp
theo !
Họ đưa ra những trạng huống ngược
đời để trút vào đấy những nụ cười hài hước. Tuy nhiên, chúng ta đừng tưởng ý thức
họ không sâu sắc. Nếu trong lớp người quí tộc đã dùng những ngôn từ hoa mỹ, những
giọt nước mắt thâu đêm khóc lóc, oán than cho cuộc đời bất công của họ, thì
chính người bình dân lại dùng tiếng nói mộc mạc, nụ cười mỉa mai để làm vơi đi
những bất mãn đang lắng đọng trong tâm tư. Nhưng dù trạng thái bất mãn nào,
trong tầng lớp nào, chúng ta cũng thấy mục tiêu của ý thức con người là đả phá
cực đoan, tức là sự chênh lệch, và tìm về với trạng thái thăng bằng.
Sự thăng bằng trong quan niệm người
bình dân đối với lẽ sống rất mạnh mẽ. Cho nên, chẳng những họ châm biếm mỉa mai
những trạng thái cực đoan như ông già, bà già lấy gái tơ, trai tơ, mà họ còn đả
phá luôn những trạng thái chênh lệch nhỏ nhen như :
Trai tơ ơi hỡi trai tơ !
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng ?
Nạ dòng lấy được trai tơ,
Đêm nằm hí hửng như Ngô được
vàng.
Trai tơ vớ phải nạ dòng,
Như nước mắm thúi chấm lòng lợn
thiu.
Trai tơ lấy gái có một đời chồng
cũng bị họ châm biếm. Sở dĩ họ có quan niệm khắc nghiệt như vậy cũng chỉ vì ý
thức thăng bằng của họ quá mạnh. Cái gì chênh lệch trước mắt đều bị họ đả kích.
Bởi vậy những trạng thái yêu đương không tương xứng như chồng thấp vợ cao, chồng
nhỏ vợ lớn đều bị họ cho là xấu ! Ví như :
Chồng thấp mà lấy vợ cao,
Qua sông nước lớn, cõng tao bớ
mày !
Em đừng thấy anh nhỏ mà rầu,
Con ong kia bao lớn nó chích cài
bầu cũng teo !
Anh đừng chê em nhỏ mà lầm,
Hòn đá đập nằm dưới, hòn đá cầm nằm
trên !
Chẳng những họ chú trọng về hình
thức, mà còn chú trọng đến cả trạng thái thăng bằng về tâm hồn nữa, cho nên đối
với những cô gái lẳng lơ, nhiều dục tính, làm mất trạng thái thăng bằng trong
con người cũng bị họ chế riễu :
Ở đây có đứa lấy trai,
Cho nên trời hạn nắng hoài không
mưa.
Lấy trai ở đây có nghĩa là lang
chạ, đa dâm. Khi tâm hồn con người đã đi vào trạng thái đa tình thì sẽ bất
chính. Quan niệm bất chính của người bình dân lại không như quan niệm tứ đức
tam tùng của Nho giáo. Bất chính đối với họ có nghĩa là thiếu chung thủy, làm mất
lẽ sống công bằng do tham vọng của con người. Khi đã chủ trương thăng bằng cuộc
sống dĩ nhiên họ chống lại khắt khe, và cũng không đồng ý với thái độ buông xả.
Cả hai thái cực ấy đối với họ đều không hợp với lẽ sống con người. Cho nên, nếu
họ đã mạnh dạn đứng ra phản đối quan niệm chính chuyên để tôn thờ nam giới do
giáo lý Khổng Mạnh chủ trương thì họ cũng không tha thứ đối với những cô gái đầy
dục tính. Ví dụ :
Hỡi cô mặc yếm hoa tâm,
Chồng cô đi lính, cô nằm với ai ?
Cô nằm cô đẻ thằng bé con trai.
Chồng cô về hỏi con ai thế này ?
- Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.
Sông Mơ, sông Mận, sông Đào,
Ba ngọn sông ấy chảy vào tuần ty.
Em trót yêu anh, bụng dạ phát
phì,
Thuốc thang đâu khỏi anh thì bảo
tôi ?
Trót yêu anh dễ đứng khó ngồi !
Rủ nhau đi cấy xứ Đoài,
Công lênh chẳng được, được vài mụn
con.
Đem về bế bế hôn hôn,
Đánh tiếng ứ hự rằng con xứ Đoài.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, thương trai
thì nhiều !
Nếu sự đam mê về giàu sang đã đưa
xã hội loài người vào con đường bất công, tàn bạo, thì sự đam mê dục vọng của
con người cũng không tránh khỏi thảm trạng ấy. Người bình dân đã có ý thức tự
do luyến ái, bình đẳng hôn nhân, nhưng sự tự do và bình đẳng ấy phải ở trong
khuôn khổ không chênh lệch, tức đả phá dục vọng. Bởi vậy, khi chê trách những
cô gái lang chạ thì họ cũng không bênh vực những chàng trai si tình. Ví như :
Bươm bướm mà đậu cành hồng,
Đã yêu con chị lại bồng con em.
Thôi thôi xếp sách ra về,
Học hành chi nữa chúng chê bạn cười
!
- Bạn cười thì mặc bạn cười,
Tháng năm đi cưới,tháng mười có
con.
Văn chương chữ nghĩa bề bề,
Thần l… ám ảnh cũng mê mẩn người.
Thuyền than lại đậu bến than,
Gặp cô yếm thắm ôm quàng ngang
lưng.
- Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng,
Tuổi tôi còn bé chưa từng nguyệt
hoa,
Tôi về tôi gọi chị tôi ra,
Chị tôi đã lớn, nguyệt hoa đã từng.
Ý thức châm biếm của họ không
ngoài xây dựng một cuộc sống thăng bằng.
Trong lãnh vực sinh lý, ngoài
quan niệm luyến ái, dục vọng con người còn ảnh hưởng nhiều mặt khác nữa, như
ham giàu phụ khó, ham địa vị vứt bỏ nghĩa nhân. Tất cả hành động ấy
đều bị người bình dân cho là xấu xa, bỉ ổi.
Tham vàng lấy phải thằng Ngô,
Đêm nằm hú hí như vồ đập bông.
Trăm năm trăm tuổi trăm chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng lên trên.
Lúc khó thì chẳng ai màng,
Lúc lên quan cả chán vàn người
yêu.
Như vậy, ý thức đả kích của họ
cũng chỉ nhắm vào trạng thái cực đoan. Người bình dân không phải là những kẻ
không quí trọng đồng tiền, không thiết tha với vinh dự, nhưng đồng tiền của họ
phải là do sức minh làm ra, không phải do tham vọng ; vinh dự đối với họ là
vinh dự do đích thân minh làm nên, không phải do cậy thế cậy thần mà có.
Nói chung thì ý thức tự lực tự cường
của họ rất manh, nên bao giờ họ cũng đứng trên lập trường ấy mà xác định nhân
sinh quan. Ý thức tự lực tự cường của họ lại đi đôi với quan niệm thăng bằng
trong lẽ sống, để giữ cho lẽ sống được công bình, khi đã công bình tức là có
bình đẳng, và xã hội loài người bớt đi những xáo trộn tai hại.
2. QUAN NIỆM TÂM LÝ
Nếu trong địa hạt sinh lý con người
bị dục vọng cá nhân ràng buộc đưa họ vào tham lam, tạo những hành động chênh lệch
trên cán cân xã hội thì địa hạt tâm lý, con người lại nuôi dưỡng trong ý thức
mình những ý hướng để đạt đến kết quả do khả năng dục vọng thúc đẩy. Vậy tâm lý
là nguồn ý thức, là khả năng bảo vệ mọi hành động của người.
Người bình dân chẳng những chống
lại hành động bất bình đẳng, mà còn chống cả những ý thức bất bình đẳng nữa. Vì
vậy mọi hiện tượng phát xuất trong lãnh vực tâm tư con người cũng được họ chú ý
đến một cách khắc nghiệt.
Người thì chẳng đáng đồng chì,
Ba hồn chín vía đòi đi võng đào.
Hoặc : Chích chòe mà đậu
cành sòi,
Chuột chù trong ống đòi soi gương
Tàu.
Họ châm biếm tất cả mọi ý tưởng
chênh lệch, thiếu thực tế. Sở dĩ con người hiểu được lẽ sống là biết và chịu
nhìn thẳng vào thực tế. Thường thường dục tính làm cho ý thức con người mù
quáng không nhận ra chủ quan và đối vật. Khi đã không thấy rõ chân tướng của
giá trị tất phải lầm lạc, lao minh vào ảo vọng. Cũng như họ bảo :
Mèo lành ai nỡ cắt tai,
Gái hư chồng bỏ, khoe tài nỗi chi
!
Tâm lý con người chẳng mấy khi chịu
nhìn vào sự thực. Dù có hư hèn đến đâu, chẳng bao giờ họ chịu nhìn nhận. Họ
thích những cái tốt, mà không chịu cái xấu. Đó cũng chính là lòng tham lam, là
trạng thái hão huyền. Xã hội loài người sở dĩ đưa đến chỗ bất công là do bắt
nguồn ở ý thức ham chuộng sự hão huyền ấy. Người bình dân là kẻ thực thà, mộc mạc,
họ thấy rõ lòng họ hơn những lớp người khác. Chính vì vậy mà họ chống đối lại mọi
tâm tư phù phiếm, trái với thực tế.
Thật ra, không phải họ an phận,
thiếu tinh thần đấu tranh để cầu tiến bộ. Nhưng ý thức đấu tranh để tiến bộ
không phải dựa trên ảo vọng mà phải bằng thực tế. Bởi vậy, đối với những kẻ hư
hèn vẫn bị họ châm biếm như :
Cô kia má tợ hòn than,
Nằm đâu ngủ đấy lại toan chê chồng.
Hoặc : Chè la chè lẩy,
Con gái bảy nghề.
Ăn vụng là một,
Dựa cột là hai,
Giỡn trai là ba,
Ăn quà là bốn,
Trốn việc là năm,
Hay nằm là sáu,
Láu táu là bảy.
Thì rõ ràng chúng ta thấy quan điểm
nhân sinh của họ không phải tiêu cực, không cầu tiến. Họ chỉ bất mãn đối với
cái gì không thực tiễn, giả dối, lừa bịp, phỉnh phờ, gieo vào cuộc sống xã
hội một ý thức giả tạo. Đáng lẽ phải tự đấu tranh cho bản thân, thì lại không
làm, mà đi đổ lỗi cho kẻ khác.
Múa vụng chê đất lệch,
Chân đi lệch thệch lại chê đất thấp
cao.
Chính ý thức dùng cái nhược điểm
của kẻ khác bào chữa cái nhược điểm của mình mới là ý thức tiêu cực, mà người
bình dân thời xưa đã chê trách.
Người bình dân thích cái gì thực
tế, không khoe khoang. Vì thế những hành động se sua, ý nghỉ bướng bỉnh, lời
nói khoác lác đều bị họ đưa ra làm trò cười trong cuộc sống cả.
Chì khoe chì nặng hơn đồng,
Sao chì chẳng đúc nên cồng nên
chuông ?
Trăng rằng trăng chẳng nguyệt
hoa,
Sao trăng chứa Cuội trong nhà hỡi
trăng ?
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,
Cớ sao trăng phải chịu luồn đám
mây ?
Thúi tai, hôi nách rình rình,
Chẳng ai hỏi đến cậy mình chính
chuyên.
Nhưng, nếu họ đem những ý thức
khoác lác làm trò cười cho cuộc sống thì họ cũng không từ bỏ châm biếm những kẻ
lừ đừ, khờ khạo dễ bị lừa phỉnh hoặc những kẻ tự ép mình an phận dưới mọi áp bức
của xã hội.
Chê tôm ăn cá lù đù,
Chê thằng ỏng bụng, lấy thằng gù
lưng.
Chuột chê xó bếp không ăn,
Chó chê nhà dột ra nằm bụi tre.
Ngẩn ngơ như chú bán gà,
Tiền rưỡi không bán, bán ba mươi
đồng.
Bắc thang lên hỏi ông trời.
Tiền đem cho gái có đòi được
không ?
Tóm lại, trong lãnh vực cực tâm
lý, người bình dân vẫn chống lại mọi ý hướng cực đoan. Quan niệm nhân sinh của
họ đi vào trung đạo, nghĩa là muốn cho cuộc sống con người bao giờ cũng với mức
thăng bằng không thiên lệch. Ý thức đấu tranh của họ hướng vào mục tiêu ấy.
3. QUAN NIỆM ĐẠO LÝ
Nếu ở hai mục sinh lý và tâm lý
chúng ta đã nhận thấy ý thức người bình dân chống đối với năng lực nội tại, tức
là dục vọng phát sinh do bản năng con người làm mất thăng bằng trong lẽ sống
thì ở mục này chúng ta lại thấy họ đem tâm tư chống lại mọi chênh lệch trong guồng
máy xã hội.
Tổ chức xã hội loài người bao giờ
cũng dựa trên một nguyên tắc, và dùng một tư tưởng xã hội làm mẫu mực cho mọi
người noi theo để bảo vệ chế độ xã hội. Mẫu mực ấy chúng ta gọi là đạo lý.
Vậy đạo lý là lẽ sống chung của một
tổ chức xã hội phù hợp với một chế độ.
Nước Việt-nam chúng ta thời xưa
trải mấy ngàn năm dưới chế độ phong kiến, chịu ảnh hưởng cả Nho giáo, Phật giáo
và Lão giáo. Ba nền giáo lý ấy đều dựa trên đạo học, nghĩa là dùng tư tưởng làm
kim chỉ nam cho hành động.
Người bình dân không chống lại
nguyên tắc đạo học, họ rất tin tưởng ở Trời Phật, và kính trọng vua chúa, kẻ
cai trị họ, song lòng tin tưởng và kính trọng của họ không có nghĩa là thiên lệch.
Họ không tôn thờ một cách mù quáng, mà chỉ căn cứ vào lẽ phải. Lẽ phải của họ
là công bằng, chân thật, không cực đoan.
Vì vậy, tuy họ bị các từng lớp
người khác cho họ là những ngu dân, song thực ra trong cái ngu của họ hàm chứa
một ý niệm về lẽ sống mà các lớp người khác không có được. Do đó, đối với họ,
chúng ta thấy cái kính trọng lại phảng phất cái bất kính, trong cái tin tưởng lại
biểu lộ cái mất tin tưởng. Thái độ thiếu dứt khoát ấy là do cuộc sống loài người
đã đưa đến cho họ. Nguyên tắc của tổ chức xã hội loài người buộc họ phải đi vào
cực đoan. Khi kính trọng vua chúa thì bắt họ phải nhắm mắt chịu sự điều khiển
tuyệt đối (quân sử thẩn tử), khi tin tưởng thì bắt họ phải cúi đầu tùng phục
vào một ý hướng nào đó, trong lúc tâm hồn họ mang một quan niệm chất phác, thực
tế và thích cuộc sống thăng bằng, không cực đoan. Đã vậy, cuộc sống loài người
lại đội lốt nghĩa
nhân để gạt gẫm họ, làm sao họ không bất mãn được. Chính cái yếu tố trên đã
hun đúc người bình dân có một thái độ xấc xược, ngạo nghễ, chống lại những gì họ
vừa kính trọng vừa tin tưởng.
Đây, chúng ta thử tìm trong ý thức
hài hước, châm biếm của họ những trạng thái ấy.
Sống thời con chẳng cho ăn,
Chết thời xôi thịt làm văn tế ruồi.
Sống thì chẳng cho ăn nào,
Chết thì cúng, giỗ mâm cao, cỗ đầy.
Đạo đức không phải phô trương bề
ngoài mà có, nó phải phát hiện trong ý thức chân thật của con người ! Người
bình dân thời xưa là kẻ thấy bề trái xã hội nhiều nhất, vì họ cũng là kẻ bị đời
lừa phỉnh nhiều nhất. Sự lừa phỉnh ấy đã đem đến cho họ lòng nghi ngờ đạo lý. Họ
bảo :
Khác nào quạ mượn lông công,
Hình ngoài xinh đẹp, trong lòng xấu
xa.
Đạo lý bao giờ cũng tốt, nhưng những
kẻ khoác màu đạo lý để lừa dối lại rất nhiều. Thái độ châm biếm của người bình
dân là thái độ đả kích hành động vay mượn ấy, mà chúng ta thấy bàng bạc trong
ca dao tục ngữ Việt-nam.
Mặt khác, chúng ta cũng lại thấy
tính chất đặc biệt của người bình dân là mặc dù tôn trọng đạo lý, mặc dù sung
kính Trời, Phật, Thánh, Thần, song trong sự sùng kính ấy đối với họ hàm chứa một
tinh thần « bình dị » không sợ sệt.
Tinh thần ấy biểu lộ qua những
câu ca dao hài hước như :
Ngồi buồn đốt một đống rơm.
Khói lên nghi ngút chẳng thơm tí
nào.
Khói lên thấu đến Thiên-tào.
Ngọc Hoàng phán hỏi : Đứa nào đốt
rơm ?
Địa vị Ngọc-Hoàng đối với họ là
trọng đại, song lại như có cái gì thân mật, cởi mở và rất đơn giản như tâm hồn
họ trước cuộc sống bình dân. Cho nên, có lúc họ châm biếm :
Hiu hiu gió thổi đầu non.
Mấy người uống rượu là con Ngọc
Hoàng,
Ngọc Hoàng ngồi tựa ngai vàng.
Thấy con uống rượu hai hang lệ
rơi,
Tưởng đâu con uống con chơi,
Ai dè con uống con rơi xuống
sình.
Quan niệm đối với Trời thì như vậy,
còn đối với với Phật thì ý thức cũng chẳng khác gì. Họ kính trọng nhưng không sợ
sệt. Cho nên, chúng ta vẫn thường thấy trong ca dao bình dân rất nhiều câu hài
hước như :
Nghiêng tai hỏi nhỏ ông Phật đồng,
Trai tơ lấy gái có chồng được
chăng ?
Hoặc : Lên chùa thấy tiểu
mười ba
Thấy sư mười bốn, sãi già mười
lăm.
Ước gì một tháng đôi rằm.
Trước là lễ Phật, sau thăm vãi
già.
Tại sao tính chất người bình dân
lại bình dị trước những bậc mà họ tôn thờ ? Điều đó chắc chắn không ngoài nhân
sinh quan của họ. Chúng ta đã thấy người bình dân quan niệm lẽ sống phải bình đẳng.
Họ rất khát khao được bình đẳng, ý thức ấy đã khiến họ có cảm giác rằng những
người được họ tôn thờ vẫn có ý thức bình đẳng như họ, không vì địa vị tôn
nghiêm mà khắt khe, đe dọa.
Mặt khác, người bình dân vốn sống
bằng tinh thần tự lực, tự cường, không có thói quen cầu cạnh bề trên, đem lại
quyền lợi cho họ. Tinh thần ấy đã làm cho họ trở nên bình dị, vô tư, ý nghĩ họ
không bị ràng buộc vì lẽ sống.
Tuy nhiên, tinh thần đó chỉ còn
là tính chất căn bản. Đến nay, ý thức đó đã biến dần do cuộc sống tranh đấu của
loài người mỗi lúc một ác liệt, đưa đến những tai bay vạ gởi bất ngờ, khiến họ
không biết dựa vào đâu, lần lần đi vào mê tín.
Trở lại với quan niệm nhân sinh của
người bình dân thời xưa chúng ta thấy tinh thần bình dị của họ đã vượt lên ý sống,
thì tất nhiên đạo lý cũng không thể ràng buộc vào một khuôn khổ
cưỡng ép được.
Ví như xã hội phong kiến thời
xưa, cấu tạo trên nền giáo lý Khổng Mạnh, trong đó những gì giả dối bất công đều
bị họ lôi ra đả phá một cách tàn nhẫn. Thái độ châm biếm của họ chẳng những đầy
dẫy trong ca dao tục ngữ, mà còn nổi bật lên trong những mẩu chuyện tiếu lâm
lưu lại từ ngàn đời, mà đến nay chúng ta đọc lên cũng không thể nhịn cười được.
Sau đây, chúng tôi xin trích thuật
một vài chuyện điển hình :
Chuyện gà gáy
« Xưa, có một anh chàng vợ đẻ,
nhà đơn chiếc, được cô em vợ đến giúp. Nửa đêm anh ta muốn mò cô em vợ, lén bò
gần đến bên giường. Cô em vợ hay được, nhưng sợ người chị biết thì xấu hổ, giả
vờ hát ru cháu để cảnh cáo anh ta :
Nửa đêm gà gái o, o…
Của dì, dì giữ, ai bò mặc ai.
Anh chàng biết cô em vợ không bằng
lòng, xấu hổ vội hát chữa thẹn :
Nửa đêm gà gái o, o…
Tao ngủ không được, tao bò tao
chơi. »
Đem cái xấu xa của người đàn ông
ra châm biếm, chính người bình dân thời xưa đã chống lại giáo lý nam quyền của
chế độ phong kiến. Họ muốn nói lên sự bất công ấy. Trong ca dao, chúng ta lại
cũng nghe họ hát :
Cái cò là cái cò quăm,
Mầy hay đánh vợ mầy nằm với ai ?
Có đánh thì đánh sớm mai,
Chớ đánh chập tối chẳng ai cho nằm.
Đôi lúc họ còn hạ nhục nữa :
Đàn ông rửa bát quét nhà,
Vợ kêu thì dạ, thưa bà có đây.
Chuyện thầy phù thủy sợ ma
« Xưa có một anh chàng làm nghề
phù thủy, người ta thường rước đi cúng trừ ma, ếm tà. Cứ mỗi lần cúng xong, thầy
được chủ nhà tạ lễ xôi bánh. Nhưng thầy có tính tham ăn đem về giấu một chỗ
kín, chờ lúc vợ vắng nhà, lấy ra ăn một mình.
Chị vợ biết được. Một hôm tối trời,
thầy đi cúng về, chị gắp một hòn than lửa đỏ, chận đường thầy nhát ma. Thầy tưởng
ma thật, bắt ấn hét lên : « Yểm
thiên lý thu lai, vạn lý thu lai. »
Nhưng thấy ma không chạy, lại cứ
lập lòe mãi, thầy sợ quá bỏ cả xôi bánh, cắm đầu chạy về nhà. Chị vợ lượm xôi
bánh của thầy đem về cất.
Sáng hôm sau, chị vợ dọn xôi bánh
lên, mời thầy ăn. Thầy trông thấy, lấy làm lạ, lầm bầm : « Xôi sao giống
xôi… bánh sao giống bánh… »
Chị vợ bật cười : « Xôi không giống
xôi, bánh không giống banh thì giống cái gì ? Hay giống con ma trơi tối hôm qua
? »
Thầy biết mắc mưu vợ, xấu hổ ngồi
cắm đầu xuống, không dám ngẩng lên.
Bởi thế, người ta có câu giễu thầy
:
Thầy về nửa đường,
Thầy gặp đom đóm,
Thầy tưởng ma trơi,
Thầy chạy hụt hơi,
Đổ xôi đổ bánh.
Về nhà réo vợ,
Ma bắt thầy đi,
Kim nhật kim trì,
Kim đương thỉnh giải. »
Đã làm thầy phù thủy trừ ma bắt
quái, chữa bệnh cho người ta mà lại sợ ma đến khiếp vía như vậy thì còn gì đáng
buồn cười hơn. Đưa câu chuyện này ra châm biếm, người bình dân muốn chửi vào cuộc
đời giả dối, phỉnh phờ, mượn cái uy danh của thần thánh, dùng hình
thức ngụy tạo bên ngoài lừa gạt thiên hạ. Trong ca dao, chúng ta cũng thấy họ
châm biếm các ông thầy bói như :
Tử vi xem số cho người,
Số thầy, thầy để cho ruồi nó bâu.
*
Chuyện thơ con cóc
« Có ba anh học trò, học hành chẳng
bao nhiêu, nhưng lại tự phụ là thơ hay nhất đời. Họ thường than thở với nhau vì
sợ chết non, bởi họ nghe nói « tài mạng tương đố », kẻ có tài thường chết sớm.
Bữa nọ, cả ba họp mặt nhau, cùng
lấy rượu ra uống. Trong lúc thích thú thì có một con cóc từ trong hang nhảy ra.
Anh thứ nhất mở đầu : « Con cóc
trong hang, con cóc nhảy ra ».
Anh thứ nhì tiếp : « Con cóc nhảy
ra, con cóc ngồi đấy ».
Anh thứ ba tiếp luôn : « Con cóc
ngồi đấy, con cóc nhảy đi ».
Làm xong bài thơ con cóc, cả ba đều
lăn ra khóc, sợ thơ minh hay quá trời ghen ghét, sẽ bắt họ chết non.
Rồi họ sai tên tiểu đồng đi mua
ba cái áo quan, đề phòng lúc chết có sẵn mà chôn. Tên tiểu đồng chạy đi, vì gấp
rút nên mệt quá, ghé vào một quán nước. Chủ quán thấy vậy hỏi nguyên do. Tiểu đồng
thuật lại câu chuyện và đọc bài thơ con cóc cho chủ quán nghe.
Chủ quán nghe xong cười nôn ruột,
vội móc túi lấy tiền đưa cho tên tiểu đồng, bảo : « Nhân tiện mày mua cho tao một
cái hòm luôn ».
Tiểu đồng ngơ ngác, hỏi tại sao ?
Chủ quán đáp : « Tao nghe thơ của mấy ông thầy mày, tao tức cười quá. Không sớm
thì muộn chắc tao bị bể bụng ra mà chết »
*
Đem những cái dốt nát, ngớ ngẩn của
mấy anh đồ nho ra làm trò cười, người bình dân thời xưa đã nhắm vào giai cấp
quan lại để hạ nhục. Họ chống đối giai cấp quan lại vì giai cấp này
phần nhiều là những kẻ gian manh, dốt nát, dựa vào thế lực nào đó để đạt lấy địa
vị cai trị.
Châm biếm học trò không phải họ
ghét học trò, chỉ vì học trò là tượng trưng cho khoa bảng, cho địa vị xã hội.
Vì ghét những kẻ cậy địa vị xã hội làm điều xằng bậy, nên họ lôi bọn học trò ra
chửi xéo.
Trong ca dao, chúng ta cũng thấy
những lời đay nghiến, mỉa mai của họ đối với học trò như :
Học trò cao cẳng dài giò,
Chân đi ngoài ngõ miệng thò trong
treo.
Học trò, học trỏ, học tro,
Chửa lo ba chữ đã lo vét nồi.
Học trò ăn vụng càng cua,
Bà thầy bắt được : « Tui mua tui
đền. »
Bao nhiêu thói hư tật xấu họ đổ
vào đầu học trò, chỉ vì họ muốn châm biếm chế độ khoa cử là chỗ xuất thân của
giai cấp thống trị, lớp người đã đàn áp họ. Cho nên, nếu họ có những câu ca dao
hài hước như :
Nhơn chi sơ : tay rờ cơm nguội,
Tánh bổn thiện : cái miệng đòi
ăn.
Tóm lại, tinh thần hài hước, châm
biếm là đặc tính của lớp người bình dân từ xưa tới nay. Tinh thần ấy là thái độ
bất mãn của tâm tư họ trước cuộc sống, mà cũng là thái độ bày tỏ quan niệm nhân
sinh của họ.
Theo sự khảo sát vừa rồi, chúng
ta có thể xác định quan niệm nhân sinh của họ dựa vào ý thức thăng bằng, chống
mọi cực đoan, và tìm sự tự do, bình đẳng trong ý thức thăng bằng ấy.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC
1. Ai người áo vải quần
dương
Mu soa lau mặt có thường hay
không?.
2. Ai ù ta cạc ta chơi,
Thú ta ta biết, việc trời trời
hay.
3. Ai lên Phố-cát Đại-đồng
Hỏi thăm cô tú có chồng hay chưa
?
- Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay chồng để như chưa có chồng.
4. Anh hùng rấp phải khúc
lươn,
Khi gấp thì ngắn, khi vươn thì
dài.
5. Anh hùng gì, anh hùng
rơm,
Cho một bó lửa, hết cơn anh hùng.
6. Anh nhất thì tôi thứ nhì,
Ai mà hơn nữa, tôi thì thứ ba.
7. Ăn sao cho được mà mời,
Thương sao cho được vợ người mà
thương.
8. Áo anh đứt nút đứt khuy,
Quần anh đứt đũng lấy chi hoa
hòe.
9. Áo dài chẳng nệ quần
thưa,
Tám mươi có của cũng vừa mười
lăm.
10. Ba bà đi chợ đường quai,
Vừa đi vừa tỉa lá khoai bưng l…
Ba bà đi chợ đường cồn,
Vừa đi vừa tỉa lông l… bán trăm.
11. Ba đời bảy họ nhà khoai,
Dù ngọt dù bùi cũng phải lăn tăn.
12. Ba bà đi chợ với nhau,
Một bà đi trước kể chuyện nàng
dâu.
Một bà đi sau tu tu lên khóc :
Nhà bà có phúc lấy được dâu hiền,
Nhà tôi vô duyên, phải lấy dâu dại.
Việc làm thì rái, chỉ tướng những
ăn.
Hễ bảo quét sân, đánh chết ba gà.
Bảo đi quét nhà, đánh chết ba
chó.
Có mâm cỗ họ, miếng ra miếng vào.
Rửa bát cầu ao, liếm đĩa quèn quẹt.
Đi chợ quên thúng, quên tiền.
Về nhà quên ngõ, đâm xiên vào
chùa,
Vào chùa thấy hai ông Hộ-pháp mới
tô
Nó nghĩ khách đến, đây nhà nhà
tôi
Trở ra về nó mỉm miệng nó cười.
Thằng chồng nó đánh nó một hồi cằng
chân.
Bà đi giữa nghe chuyện phân vân,
Rằng : Dâu rôi cũng không đần,
không khôn.
Mẹ chồng có nói đến con,
Thì con tôi chỉ cười dòn nói đưa…
13. Bà già đi chợ cầu Đông,
Bói xem một quẻ lấy chồng lợi
chăng ?
Ông thầy xem quẻ nói rằng :
Lợi thì có lợi nhưng răng không
còn !
14. Bà già đã tám mươi tư,
Ngồi bên cửa sổ viết thư tìm chồng.
15. Bà đội cho chí bà cai,
Bà nào hay đố chữ cũng l… ngoài,
váy trong.
16. Bạc ba quan, tha hồ mở
bát,
Cháo ba đồng, chê đắt chẳng ăn.
17. Bảy mươi, mười bảy bao
xa,
Bảy mươi có của mười ba cũng vừa.
18. Bắc thang lên hỏi ông Trời
:
Những tiền cho gái có đòi được
không ?
19. Bắt giồng trồng mía cò
ke,
Ai dè điền chủ mà ve tá điền.
20. Bên sông có bụi dành
dành,
Dượng mà lấy cháu sao đành dượng
ơi !
21. Bên Tàu ăn ở ngược xuôi
Cho nên chú Chệc mọc đuôi trên đầu.
22. Bì phấn với vôi,
Bì l… con đĩ với môi thợ kèn.
23. Buổi chợ đông sao em chẳng
bán hàng
Để tan buổi chợ, em dạo làng bán
duyên ?
24. Bươm bướm mà đậu cành hồng,
Đã yêu con chị, lại bồng con em.
25. Bướm bay bướm cũng bạc đầu,
Thấy hoa thiên lý, cúi đầu làm
tôi.
26. Cà thâm bỏ góc chạn,
Đến khi hoạn nạn, lại hỏi cà
thâm.
27. Cái cò lặn lội bờ ao,
Hỡi cô yếm đào lấy chú tôi chăng
?
Chú tôi hay tửu, hay tăm,
Hay nước chè đặc, hay nằm ngủ
trưa.
28. Cây kia chưa đẵn đã đo,
Anh kia chưa cưới đã lo làm chồng.
29. Có đ… thì cô có chồng,
Có chim sao sậu, có lồng sơn son.
30. Có ông mới gọi là bà,
Không ông thì gọi là da cái đ…
31. Có tiền chán vạn người hầu,
Có bấc, có dầu chán vạn người
khêu.
32. Có của thì có mẹ nàng,
Có bạc, có vàng thì có kẻ ưa.
33. Có trăng tình phụ lồng
đèn,
Ba mươi mồng một đi tìm lấy
trăng.
34. Con ơi ở lại với bà,
Mẹ đi chịu đực, tháng ba mẹ về.
Mẹ về, mẹ chẳng về không,
Mẹ mang một ruột thằng hong mẹ về.
35. Con cò nó mổ con lươn,
Bớ chị ghe lườn muốn tía tôi
không ?
Tía tôi lịch sự quá chừng :
Cái lưng mốc thít, cái đầu chơm
bơm.
36. Con ơi ở lại với bà,
Má đi làm mắm tháng ba má về,
Má về có mắm con ăn,
Có khô con nướng, có em con bồng.
37. Con công tố hộ trên rừng,
Đã được con chị, thì đừng con em.
- Lòng yêu vô giá quá chừng,
Con cõng tố hộ trên rừng mặc
công.
38. Con cóc ăn trầu đỏ môi,
Có ai lấy lẽ thầy tôi thì vào.
39. Con cò mà mổ con con
trai,
U ơi, u lấy vợ hai cho thầy.
40. Con cậu cho học chữ nho,
Cháu cậu, cậu bắt chăn bò, chăn
trâu.
41. Cô kia mà hát ghẹo ai,
Cái mồm méo xệch như quai chèo
đò,
Lại đây anh nắn lại cho,
Ngày mai chèo đò, ăn bạt cơm
thiu.
42. Cô kia má đỏ hồng hồng,
Cô chửa lấy chồng, còn đợi chờ ai
?
Buồng không lần lữa hôm mai,
Đầu xanh mấy lúc da mồi tóc
sương.
43. Cô kia cắt cỏ bên sông,
Cái váy thì cộc, cái lông thì
dài,
Thuyền chài nó trả quan hai.
- Thưa rằng : Chẳng bán để dài
quét sân.
44. Cô kia má tựa hòn than,
Nằm đâu ngủ đấy, lại toan chê chồng.
45. Cổ tay em trắng lại vừa
tròn,
Để cho ai gối đến mòn một bên.
Nghiêng tai hỏi nhỏ ông Phật rằng
:
« Trai thanh lấy gái có chồng được
không ? »
46. Cồng cọc bắt cá bầu eo,
Chị chê tôi nhỏ, tôi trèo chị
coi.
47. Cơm ăn chẳng hết thì
treo,
Việc làm chẳng hết thì kêu láng
giềng.
48. Cơm ăn mỗi bữa mỗi niêu,
Tội gì bắt ốc cho rêu bám l…
49. Cụ già đầu bạc răng
long,
Cưới cô con gái còn măng tuổi
đào.
50. Củi mục thì để trong
rương,
Hễ ai hỏi đến : trầm hương của
bà.
51. Cha đời con gái xứ Đông,
Ăn trộm tiền chồng mua khố cho
trai.
- Cha đời con gái xứ Đoài.
Ăn trộm tiền mẹ mua khoai cho chồng.
52. Chàng về,thiếp cũng xin
về,
Chàng về Hồ Bắc, thiếp về Hồ Tây.
Chàng bao nhiêu tuổi năm nay ?
Chàng rày mười tám, thiếp rày bốn
ba.
Mồ cha đứa chê thiếp già,
Thiếp còn gánh nổi một vài trăm
kim.
Trăm kim đổi lấy lạng vàng,
Mua gương Tư-mã để thiếp với
chàng soi chung.
Chàng về sắm sửa loan phòng,
Thiếp xin điểm phấn, tô hồng thiếp
theo.
53. Chẳng ăn, chẳng mặc, chẳng
chơi,
Bo bo giữ lấy của trời làm chi !
54. Chè la, chè lẩy, con gái
bảy nghề,
Ngồi lê là một, dựa cột là hai.
Giỡn trai là ba, ăn quà là bốn,
Trốn việc là năm, hay nằm là sáu,
Hay ăn dẽn cháu là bảy.
55. Chê thằng mòng hóng.
Đóng thằng đen thui.
Chê thằng ghẻ ruồi.
Đụng thằng ghẻ phòng.
56. Chê tôm ăn cá lù đù.
Chê thằng ỏng bụng, lấy thằng gù
lưng.
57. Chì khoe chì nặng hơn đồng,
Sao chì chẳng đúc nên cồng nên
chuông.
58. Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Thuốc đâu mà chữa con người lẳng
lơ ?
59. Chị giàu, chị đánh cá
mè,
Chúng em tôi khó, buôn bè gỗ lim.
60. Chị kia có quan tiền
dài,
Có bị gạo nặng, coi ai ra gì.
61. Chim chích chòe mà đậu
cành sòi,
Chuột chù trong ống đòi soi gương
Tàu.
62. Chính chuyên lấy được
chín chồng,
Ba chồng Thành Lạng, ba chồng
Thành Cao.
Ba chồng để ngọn sông Đào,
Trở về đóng cả làm cao chưa chồng.
63. Chính chuyên lấy được
chín chồng,
Vê viên bỏ lọ gánh gồng đi chơi.
Không ngờ quang đứt, lọ rơi,
Bò ra lổm ngổm chín nơi chín chồng.
64. Chồng hen mà lấy vợ hen,
Đêm nằm cò cử như kèn thổi đôi.
65. Chồng què, vợ lại khiễng
chân,
Nuôi được thằng ở đứt gân lại
què.
66. Chồng thấp mà lấy vợ
cao,
Nồi tròn, vung méo, úp sao cho vừa.
67. Chồng còng lấy vợ cũng
còng,
Nằm phản thì chật, nằm nong thì vừa.
68. Chuối khoe rằng chuối đồng
trinh.
Chuối ở một mình sao chuối có con
?
69. Chuối chê xó bếp chẳng
ăn,
Chó chê nhà dột, ra nằm bụi tre.
70. Dạy đĩ vén xống,
Dạy ông cống vào tràng.
Dạy bà lang bốc thuốc.
71. Đãi cứt sao lấy hạt đa,
Đãi cứt gà lấy tấm.
72. Đàn bà yếu chân mềm tay,
Làm ăn chả được mà hay nỏ mồm.
73. Đau bụng lấy bụng mà chườm,
Nhược bằng không khỏi, hắc hương
với gừng.
74. Đầu tôm nấu với ruột bầu,
Chồng chan, vợ húp gật đầu khen
ngon.
75. Đẻ con khôn mát như nước,
Đẻ con dại thì rát như hơ.
76. Đem về bế bế hôn hôn,
Đánh tiếng ứ hự rằng con xứ Đoài.
77. Đeo bầu mang tiếng thị
phi,
Bầu không có rượu lấy gì mà say.
78. Đi ra đàng soi gương
đánh sáp,
Khi về nhà liếm láp nồi niêu.
79. Đi chợ thì bỏ quên tiền,
Về nhà quên ngõ đâm xiên vào
chùa.
80. Đói lòng ăn trái khổ
qua,
Nuốt vô thì đắng, nhả ra bậu cười.
81. Đố ai ngồi võng không
đưa,
Ru em không hát, anh chừa rượu
tăm.
82. Được mùa thì chê cơm hẩm,
Mất mùa thì lẩm cơm thiu.
83. Em đừng khinh quân tử nhỏ
nhoi,
Con lươn bao lớn nó xoi lủng bờ.
84. Em đừng cậy sắc, khoe
hay,
Khéo thay nồi thủng về tay thợ
hàn.
85. Em ơi anh bịnh nhức đầu,
Hay đi đái rát, lại đau ngọc
hành.
Thuốc gì mà nuốt với chanh,
Thì em đi lấy cho anh một liều.
86. Em mất chồng em chả có
lo,
Sợ anh mất vợ, nằm co một mình.
87. Em đây là gái năm con,
Chồng em rộng lượng em còn chơi
xuân.
88. Gái sao chồng đánh chẳng
chừa,
Đi chợ vẫn giữ cùi dừa, bánh đa.
89. Gái đau có gái lạ đời,
Chỉ thiếu ông trời là gái không
chim.
90. Gáo đồng múc nước giếng
tây,
Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người
ta.
91. Gẫm trong thế sự nực cười,
Thấy con cá lội hai người muốn
câu.
92. Gió đưa ông đội về Tàu,
Bà đội ở lại xuống bàu bắt cua.
Bắt cua làm mắm cho chua,
Gởi về ông đội khỏi mua tốn tiền.
93. Gió chiều nào bay theo
chiều nấy.
Trước em nói em lấy chồng quan,
Sao bây giờ em chẳng hưởng giàu
sang ?
Mà đi phơi nắng bán than đen sì.
94. Gió đưa ông đội về kinh
Bà đội thất tình xách nón chạy
theo.
95. Gió đưa bụi chuối sau hè
Chồng lết vợ què, đầy tớ quẹo
tay.
96. Hà tiện mà ăn cháo hoa,
Đồng đường, đồng đậu cũng ra ba đồng.
97. Hát cho chó cắn, bò lồng,
Hát cho con gái bỏ chồng mà theo.
Hát cho chó cắn, bò kêu,
Hát cho ông lão trong lều bò ra.
98. Hiu hiu gió thổi đầu
non,
Mấy người uống rượu là con Ngọc-Hoàng,
Ngọc-Hoàng ngồi tựa ngai vàng
Thấy con uống rượu hai hàng lệ
rơi.
Tưởng đâu con uống con chơi,
Ai dè con uống con rơi xuống
sình.
99. Học hành ba chữ lem
nhem,
Thấy gái thì thèm như chửa thèm
chua.
100. Hòn đất mà biết nói
năng,
Thì thầy địa lý hàm răng chẳng
còn.
101. Hỡi cô mặc yếm hoa tầm,
Chồng cô đi lính, cô nằm với ai ?
Cô nằm cô đẻ thằng bé con trai,
Chồng cô về hỏi : Con ai thế này
?
- Con tôi đi kiếm về đây,
Có cho nó gọi bằng thầy thì cho.
102. Hỡi cô yếm thắm bùa đeo
!
Chồng cô, cô bỏ, cô theo chồng
người.
103. Hỡi nàng mặt đỏ hồng hồng,
Cổ cao, rộng miệng, lộn chồng
theo trai.
104. Kim đâm vào thịt thì
đau,
Thịt đâm vào thịt nhớ nhau cả đời.
105. Khác nào quạ mượn lông
công,
Ngoài nhìn xinh đẹp, trong lòng xấu
xa.
106. Khéo liệu, khéo lo.
Khéo bán con bò, tậu lấy ĩnh
ương.
107. Khen ai khéo nấu chè
này,
Đã ngon lại ngọt, có mùi khê khê.
108. Khi xưa ăn những gạo
vay,
Bây giờ mó đến cái chày giã hơi.
109. Khó thì hết thảo, hết
ngay.
Công cha cũng bỏ, nghĩa thầy cũng
quên.
110. Khó hèn thì chẳng ai
nhìn,
Đến khi đỗ Trạng chính nghìn nhân
duyên.
111. Không chồng mà chửa mới
ngoan,
Có chồng mà chửa, thế gian sự thường.
112. Làm chi lăng líu hỡi
Ba,
Bậu ham đồng bạc trắng, bậu bán
hoa cho Chà.
113. Làm trai rửa bát quét
nhà,
Vợ gọi thì dạ : Bẩm bà tôi đây.
114. Làm trai có chí thì
hơn,
Lấy vợ hay hờn, nhiều bữa đánh
no.
115. Làm trai cho đáng nên
trai,
Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.
116. Làm chẳng nên lại trách
trời cao,
Đã vụng múa, lại chê đất lệch.
117. Lẳng lơ đeo nhẫn không
chừa.
Nhẫn thì rơi mất, lẳng lơ hãy
còn.
118. Lấy chồng từ thuở mười
lăm,
Chồng chê tôi bé, chẳng nằm cùng
tôi,
Đến năm mười tám đôi mươi,
Tôi nằm dưới đất, chồng lôi lên
giường.
Một rằng thương, hai rằng thương,
Có bốn chân giường, gãy một còn
ba,
Ai về nhắn nhủ mẹ cha :
Chồng tôi nay đã giao hòa cùng
tôi.
119. Lấy chồng chẳng biết mặt
chồng,
Đêm nằm tơ tưởng nghĩ ông láng diềng.
120. Lấy chồng ông cống, ông
nghè,
Lấy chồng ông phỗng cũng khoe lấy
chồng.
121. Lỗ mũi em thì tám gánh
lông,
Chồng yêu, chồng bảo râu rồng trời
cho.
Đêm nằm thì gáy o, o…
Chồng yêu, chồng bảo ngáy cho vui
nhà.
Đi chợ thì hay ăn quà,
Chồng yêu, chồng bảo về nhà đỡ
cơm.
Trên đầu những rác cùng rơm,
Chồng yêu, chồng bảo hoa thơm rắc
đầu.
122. Lúc khó thì chẳng ai
màng,
Làm nên quan cả chán vàn người
yêu.
123. Má khoe con má chính
chuyên,
Chính chuyên với má, nó liền với
trai.
124. Mảng coi con hạc nó tắm
suối vàng,
Cây cao vội ngã rắp đàng ngãi
nhân.
Ngãi nhân mỏng dánh tợ như cánh
con chuồn chuồn,
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay.
125. Mày ăn cơm hay ăn
khoai,
Có một câu hát, hát hai ba lần.
126. Mặt rỗ như tổ ong bầu,
Cái răng khấp khểnh như cầu rửa
chân.
127. Mèo tha miếng thịt thì
đòi,
Kềnh tha con lợn mắt coi chừng chừng.
128. Mèo lành ai nỡ cắt tai,
Gái hư, chồng bỏ, khoe tài nữa
chi.
129. Mèo đàng lại gặp chó
hoang,
Anh đi ăn trộm gặp nàng xới
khoai.
130. Mồ cha không khóc, khóc
đống mối,
Mồ mẹ không khóc, khóc bối bòng
bong.
131. Một trăng được mấy Cuội
ngồi ?
Một thuyền chở được mấy người
tình chung ?
132. Một mình lo bảy lo ba,
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên.
Còn duyên kẻ đón, người đưa,
Hết duyên đi sớm, về trưa một
mình.
133. Một mình ăn hết bao
nhiêu,
Mò cua, bắt ốc cho rêu dính đùi.
134. Một trăm ông chú không
lo,
Lo về một nỗi mụ o nỏ mồm.
135. Muốn ăn đậu phụ, tương
Tàu,
Mài dao đánh kéo gọt đầu đi tu.
136. Nếu đẹp đã có tiếng đồn,
Lọ là nhí nhảnh như trôn chích
chòe.
137. No cơm ấm cật, dậm dật
mọi nơi,
Quần áo tả tơi, mọi nơi chẳng dật.
138. Nực cười thầy bói soi
gương,
Thầy tu chải lược, người thương bực
mình.
139. Nực cười cơm nguội có
hơi,
Cạnh buồm kế tố, áo tơi viền tà.
140. Nước sông cuồn cuộn chảy
xuôi,
Có con cá diếc đỏ đuôi theo mồi.
141. Ngẩn ngơ như chú bán
gà,
Tiền rưỡi chẳng bán, bán ba mươi
đồng.
142. Nghe đồn cha mẹ anh hiền,
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể
hai.
143. Nghe tin anh nói nhọc
nhằn,
Mẹ cho trái mít, anh mần cả sơ.
144. Ngồi trong cửa sổ chạm
rồng,
Chăn loan gối phụng, không chồng
cũng hư.
145. Ngồi buồn vuốt bụng thở
dài,
Nhớ chồng thì ít, nhớ trai thì
nhiều.
146. Người thì chẳng đáng đồng
chì,
Ba hồn chín vía đòi đi võng đào.
147. Nhác trông ngỡ tượng tô
vàng,
Nhìn lâu mới biết chẫu chàng trời
mưa.
148. Nhất hào,
Nhị hào, tam hào…
Chó chạy bờ ao,
Chuột chạy bờ rào,
Quẻ nầy nói động,
Nhà này có quái,
Trong nhà có con chó đực,
Cắn ra đằng mồm,
Nhà bà có con chó đen,
Người lạ nó cắn, người quen nó mừng.
Nhà bà có cái cối xay,
Bốn chân xuống đất, ngõng ngay
lên trời.
149. O ni coi dáng nhu mì,
Cứt dê bỏ bị mà đi khắp làng.
Quần hồ áo cánh làm chi,
Quần hồ áo cánh có khi ăn mày.
150. Ông già ông đội nón cời,
Ông ve con nít ông trời đánh ông.
151. Ông ơi tôi chẳng lấy
đâu,
Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.
152. Ở đây có đứa lấy trai,
Cho nên trời hạn nắng hoài không
mưa.
153. Phượng hoàng chặt cánh
đuổi đi,
Bắt con bìm bịp đem về mà nuôi.
154. Quả chuông treo mấy cửa
chùa,
Làm thân con gái bán mua mấy lần.
155. Rập rềnh nước chảy qua
đèo.
Bà già tập tễnh mua heo cưới chồng.
156. Rõ ràng giấy trắng, mực
đen,
Duyên ai phận ấy chớ ghen mà già.
157. Rủ nhau đi cấy xứ Đoài,
Công lênh chẳng được, được vài
chút con.
158. Rung rinh nước chảy
trên đèo,
Bà già lật đật mua heo cưới chồng.
159. Rừng xanh con cọp nó gầm,
Hỡi cô chồng đánh la rầm xóm kia…
Đầu đuôi bởi tại chuyện chi,
Hay là bởi chuyện cô mi ve ông
lái mành…
160. Số thầy là số lôi thôi,
Quanh năm chỉ những chùi nồi cả
năm.
161. Sông Mơ, sông Mận, sông
Đào,
Ba ngọn sông ấy chảy vào tuần ty.
Em trót yêu anh bụng dạ phát phì,
Thuốc thang đâu khỏi anh thì bảo
tôi,
Trót yêu anh dễ đứng, khó ngồi.
162. Sống thì chẳng cho ăn
nào,
Chết thì cúng giỗ mâm cao cỗ đầy.
163. Sống thời con chẳng cho
ăn,
Chết thời xôi thịt, làm văn tế ruồi.
164. Sớm mai đi chợ Gò-vấp,
Mua một xấp vải,
Đem về cho con hai nó cắt,
Con ba nó may,
Con tư nó đột,
Con năm nó viền,
Con sáu đơm nút,
Con bảy vắt khuy,
Anh bước cẳng ra đi,
Con tám níu, con chín trì,
Ớ mười ơi, sao em để vậy còn gì
áo anh ?
165. Tam hoàng ngũ đế chi
thư,
Có anh mất vợ ngồi thừ mặt ra.
166. Tay cầm tiền quí bo bo,
Đưa cho thầy bói thêm lo vào
mình.
167. Tâm thành đốt một đống
rơm,
Khói lên nghi ngút chẳng thơm
chút nào.
Khói lên đến tận thiên tào,
Ngọc-hoàng phán hỏi : Đứa nào đốt
rơm ?
168. Tiếc thay hột gạo trắng
ngần,
Đã vo nước đục, lại gần lửa rơm.
169. Tiếc thay gạo dé trắng
ngần,
Thổi nồi đồng điếu lại vần than
rơm.
170. Tiếc thay hạt gạo tám
xoan,
Thổi nồi đồng điếu lại chan nước
cà.
171. Tiếc cây mía ngọt lại
sâu,
Tiếc con gái tốt trọc đầu khó
coi.
172. Tiếc thay con ngựa bạch
Mà thắt cái dây cương thừng,
Tiếc thay con người thế ấy
Mà ôm lưng ông lão già.
173. Tiếc thay con chim Phượng-hoàng
Còn dại chửa có khôn,
Núi Tam-sơn chẳng đậu, lại đi đậu
ngàn cỏ may.
174. Tiếc thay cây quế giữa
rừng,
Để cho thằng Mán, thằng Mường nó
leo.
175. Tiếc thay con gái mười
ba,
Liều thân mà lấy ông già sao
đang.
176. Tiếc con gái khôn lấy
thằng chồng dại,
Cũng như cái bông hoa lài cặm bãi
cứt trâu.
177. Tóc ngắn thì tóc lại
dài,
Ba tuồng mặt rỗ đá mài không
trơn.
178. Tóc quăn chải lược đồi
mồi,
Chải đứng, chải ngồi, quăn vẫn
hoàn quăn.
179. Tóc vắn còn có khi dài,
Mấy đời mặt rỗ mà mài cho ra.
180. Tồ đánh mà chẳng biết
thân,
Mặt như điếu vạn chơi xuân nỗi gì
!
181. Tối trời bắt xẫm trông
sao,
Xẫm rằng có thấy sao nào xẫm đui.
182. Tử vi xem số cho người,
Số thầy thì để cho ruồi nó bâu.
183. Tưởng rằng khăn trắng
mà xinh,
Ai ngờ khăn trắng có tình với
trai.
184. Tưởng rằng khăn trắng
có tang,
Ai ngờ khăn trắng ra đàng ve
trai.
185. Tưởng rằng khăn trắng
có duyên,
Ai ngờ khăn trắng không tiền mua
nâu.
186. Thài lài mọc cạnh bờ
sông,
Thay dáng, thay thấp, nhưng người
không thay.
187. Tham tiền, tham bạc thì
giàu,
Chớ tham gánh nặng mà đau xương
sườn.
188. Tham giàu lấy phải thằng
Ngô,
Đêm nằm như thể cành khô chọc
vào.
189. Tham giàu phụ khó ai
khen.
Giả như con châu chấu rạng mặt
bóng đèn bay vô.
190. Thằng Ngô làm nhẫn nhiều
vòng,
Làm cho cái ả phải lòng thằng
Ngô.
191. Thầy dốt mà đọc cạnh
khôn,
Đến khi đọc dồn ý ả ỳ a.
192. Thầy thiếp là thầy thiếp
ơi,
Nay chuông mai trống cho tôi động
lòng.
Bốn con tôi bỏ cho chồng,
Tôi theo thầy thiếp cực lòng tôi
thay.
193. Thấy đua, thì cũng đua
đòi,
Thấy tỉa lông nách, cũng xoi lông
l…
194. Thế gian lắm kẻ mơ
màng,
Thấy hòn sơn thắm ngỡ vàng trời
cho.
195. Thế gian còn dại chưa
khôn,
Sống mặc áo rách, chết chôn áo
lành.
196. Thế gian một vợ, một chồng,
Chẳng như vua bếp hai ông một bà.
197. Thiếu chi rau mà ăn rau
é,
Thiếu chi chồng, làm bé người ta.
198. Thôi thôi xếp sách ra về,
Học hành chi nữa chúng chê bạn cười.
− Bạn cười thì mặc bạn cười,
Tháng năm đi cưới, tháng mười có
con.
199. Thối tai, hôi nách rình
rình,
Chẳng ai hỏi đến, cậy mình chính
chuyên.
200. Thú vị tình thâm,
Lấy phải con vợ đái dầm, thú vị
tình khai.
201. Thua kiện mười bốn quan
năm,
Được kiện mười lăm quan chẵn.
202. Thuyền than lại đậu bến
than.
Gặp cô yếm thắm, ông quàng ngang
lưng.
- Thôi thôi, tôi van cậu rằng đừng,
Tôi lạy cậu rằng đừng,
Tuổi tôi còn bé, chưa từng nguyệt
hoa.
Tôi về gọi chị tôi ra,
Chị tôi đã lớn, nguyệt hoa đã từng.
203. Trai anh hùng mắc nạn,
Giả như quốc trạng bị vây,
Ới mấy chị em mình ơi,
Lập cơ mưu đồ trận,
Ra biển hồ Tây cứu chàng.
204. Trai tơ, ơi hỡi trai tơ
!
Đi đâu mà vội mà vơ nạ dòng
Nạ dòng lấy được trai tơ,
Đêm nằm hí hửng như Ngô được
vàng.
205. Trai tơ nằm với nạ
dòng,
Như nước mắm thối chấm lòng lợn
thiu.
206. Trăm năm trăm tuổi trăm
chồng,
Hễ ai có bạc thì bồng lên tay.
207. Trăng khuyết, rồi trăng
lại tròn,
Mụ già kén rể con còn goá lâu.
208. Trăng khoe trăng tỏ hơn
đèn,
Cớ sao trăng phải chị luồn áng
mây.
209. Trăng rằng trăng chẳng
nguyệt hoa,
Sao trăng chứa Cuội trong nhà hử
trăng ?
210. Trèo lên cây khế giữa
ngày,
Váy thì chụt mất, lưỡi cày thò
ra.
Lưỡi cày ba góc chẻ ba,
Muốn đem đòn gánh mà va lưỡi cày.
211. Trèo lên trái núi mà
coi,
Kìa kìa Ngô khách mọc đuôi đàng đầu.
Em ơi, anh dại tiếng Tàu,
« Tỉu na má nị » đâm đầu lấy Ngô.
212. Trèo lên cây khế mà
rung,
Khế rụng đùng đùng không biết khế
ai.
Khế này khế của ông cai,
Khế chưa có trái, chị hai có chồng.
Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay chồng chết như chưa có chồng.
213. Trên trời có ông sáo
dâu,
Hạ giới cô đầu có cái lưỡi gà
con.
Nhà nho có cái đục cùn.
214. Trên thì gián nhấm vứt
đi,
Dưới thì chuột cắn, giữa gì gì
xuân.
215. Trong nhà đã có đồ
chơi,
Song le còn muốn của người thêm
xinh.
216. Trong nhà đã có hoàng cầm,
Song le còn muốn nhân sâm nước
người.
217. Tròng trành như nón
không quai,
Như thuyền không lái như ai không
chồng.
218. Trồng tre trở gốc trên
trời,
Con chị qua đời rồi đến con em.
219. Trống chùa ai vỗ thì
thùng,
Của chung ai khéo vẫy vùng nên
riêng.
220. Trời mưa thì mặc trời
mưa,
Tôi không có nón, trời chừa tôi
ra.
221. Văn chương chữ nghĩa bề
bề,
Thần l… ám ảnh cũng mê mẩn người.
222. Ví ví von von,
Anh cho một cái cõng con về nhà.
223. Vợ anh đen lắm anh ơi,
Đem ra chỗ nắng mà phơi cho dòn.
Thóc phơi ba tháng thì dòn,
Vợ anh ba nắng sắp đòn mà khiêng.
224. Vốn khi xưa anh ở trên
trời,
Đứt dây rơi xuống làm người trần
gian.
Vốn khi xưa anh vẫn đi hàn,
Anh hàn nồi bảy, nồi ba,
Bắt cô con gái mười tám đem ra
anh cũng hàn,
Cô này to lỗ, tổn than,
Đồng đâu mà đổ cho dàn lỗ ni.
Hết đồng anh lại pha chì,
Anh hàn chín tháng cô dì mình thụ
thai.
Sinh được thằng bé con trai,
Về sau, giống bố, gặp ai nó cũng
hàn.
225. Vụng múa chê đất lệch,
Chân đi lệch đệch lại chê đất thấp
cao.
226. Vừa khôn mà lại vừa
ngoan,
Đã vừa làm đĩ, đã toan cáo làng.
227. Xem cung nô bộc số này,
Ăn no rồi phản cả thầy mà đi.
228. Xót lòng mẹ góa con
côi,
Kiến ăn lần hồi, l… lớn bằng mo.
229. Xống thâm vắt ngọn cành
hồng,
Loạn trôn từ thuở vắng chồng đến
nơi.
230. Xung xăng như thằng mới
đến,
Trụn trện như đứa ở đầy mùa.
231. Xưa nay ăn những của chồng,
Kiếm được một đồng đỏng đảnh ăn
riêng.
232. Xưa kia có thế này đâu,
Bởi vì sợ vợ nên râu quặp vào.
c) BIẾN THÁI CỦA TÌNH YÊU
Tại sao chúng ta phải đặt ở đây vấn
đề « biến thái của tình yêu » ?
Khi nói đến biến thái của tình
yêu tức là trong ý thức chúng ta cảm thấy có một tình yêu « nguyên trạng ». Bởi
vì không có nguyên trạng thì không có biến thái.
Vậy tình yêu thế nào là nguyên trạng
? Thế nào là biến thái ?
Đó là một vấn đề phức tạp, khó
khăn trong lãnh vực ái tình mà khi chúng ta đứng trước dòng lịch sử tâm tư đã
phơi bày qua các thế hệ, tạo thành những chức tích của thời gian, chúng ta
không có quyền chối bỏ, không suy cứu.
Chúng ta không thể làm một nhà
nghệ sĩ, đem cảm giác rung theo mọi tác động trong nhịp điệu yêu đương. Công việc
chúng ta ở đây là phải soát xét lại tính chất của những hiện tượng đã phát sinh
tự ngàn xưa, tìm trong hiện tượng ấy những nguyên nhân đưa tâm tư con người từ
chỗ đơn thuần đến chỗ phức tạp bằng trạng thái xã hội.
Khi nói đơn thuần và phức tạp
chúng ta cũng lại nói đến tính chất diễn biến cả sự vật, và cũng có nghĩa là
chúng ta xác định tình yêu cũng như mọi hiện tượng khác, đều phát sinh bởi một
nguồn gốc và chịu ảnh hưởng qua trạng thái tâm tư diễn biến thành một hệ thống
lịch sử song hành với diễn biến sinh hoạt loài người.
Tình yêu ! Chúng ta đừng tưởng là
vấn đề muôn thuở ! Đành rằng nó là yếu tố sinh tồn trong vũ trụ, mang qui luật
tất yếu của thiên nhiên, song cái bất di bất dịch của nó chỉ có nghĩa trên
phương diện căn bản mà không có nghĩa trên phương diện tính chất. Xưa nay, loài
người không ngớt ca tụng và nguyền rủa ái tình cũng chỉ vì trạng thái biến dịch
của nó.
Trạng thái biến dịch được chúng
tôi gọi ở đây bằng danh từ « biến thái ».
Nếu xã hội loài người thoát thai
từ bản chất cá nhân đi vào bản chất tập thể, gây thành một chuỗi mâu thuẫn chứa
đựng qua thời gian nối tiếp nhau không ngừng, thì tình yêu con người cũng thoát
thai từ bản chất thiên nhiên trong lãnh vực cá nhân đi lần vào bản chất mâu thuẫn
tập thể, và chịu mọi ảnh hưởng trước cuộc sống. Sự diễn biến ấy là nguồn gốc của
biến thái, và đồng thời cũng có nghĩa là nguồn gốc của qui luật ảnh hưởng và
mâu thuẫn.
Vậy thế nào là ảnh hưởng ? Thế
nào là mâu thuẫn ?
Qui luật ảnh hưởng là qui luật của
chiều xuôi, do sức sống chung của xã hội loài người lôi cuốn, bắt buộc tâm tư
con người phải họa theo để bảo tồn sinh lực cá nhân trong sinh lực của tập thể.
Còn qui luật mâu thuẫn là qui luật của chiều ngược. Nó là năng lực tiềm tàng,
có tính cách phá hoại những gì đã thành hình để biến đổi, canh cải. Do đó, đời
sống loài người cũng như trạng thái tâm tư luôn luôn tiến tới, tạo thành dòng lịch
sử nhân loại.
Lãnh vực tình yêu cũng thế. Nếu
chúng ta chỉ sống một chiều theo qui luật ảnh hưởng, nghĩa là tạo cho xã hội một
khuôn khổ, rồi bắt luyến ái quan chúng ta khép vào nguyên tắc ấy thì tình yêu của
loài người coi như đứng yên một chỗ, và bị tiêu diệt, vì nó thiếu sức mâu thuẫn
để tự tồn, và không có năng lực phát triển. Cho nên sức mâu thuẫn ấy chúng ta
có thể gọi là sức phá hoại, đồng thời cũng có thể gọi là sức kiến thiết. Bởi vì
trong lúc lẽ sống của tập thể luôn luôn hình thành những khuôn khổ, thì chính sức
mâu thuẫn tiềm tàng trong mỗi cá nhân chúng ta lại luôn luôn hướng đến chỗ phá
hoại những khuôn khổ ấy, để rồi tập thể lại hình thành những khuôn khổ khác, và
cứ thế tiếp diễn mãi trên dòng thời gian. Cho nên, sự diễn biến của xã hội loài
người nằm trong qui luật ảnh hưởng và mâu thuẫn, mà sự tiến bộ của loài người
chỉ là sự nối tiếp những khuôn khổ được hình thành và bị phá vỡ, chồng chất lên
nhau.
Lịch sử tình yêu của loài người
đã bắt đầu tự nghìn xưa, và qui luật ảnh hưởng và mâu thuẫn trong tình yêu cũng
bắt đầu tượng hình khi loài người đem tình yêu hòa vào cuộc sống, Bởi vậy, dù ở
xã hội nào, thời đại nào, trạng thái tình yêu trong tâm tư con người cũng gồm
vào ba tính chất : tính chất nguyên trạng, tính chất ảnh hưởng và tính chất mâu
thuẫn.
1) Tính chất nguyên trạng là
tính chất của tình yêu nguyên thủy, phát nguyên từ qui luật sinh tồn nòi giống,
nó biệt lập với cuộc đời, riêng rẽ với sinh hoạt xã hội, không bị thời gian,
không gian chi phối. Một cô gái đến tuổi cập kê, một chang trai đến tuổi xuân
thì, dù ở một thời đại nào, của một dân tộc nào vẫn cảm thấy lòng tha thiết yêu
đương. Họ cần yêu, và phải sống trong yêu đương do bản năng tự tại.
Cho nên, trong thi ca bình dân Việt-nam,
chúng ta thấy những tâm tư ấy xuất hiện bàng bạc :
Anh về sương gió lạnh lùng,
Ở đây chung gối, chung mùng với
em.
Hoặc : Gái chưa chồng
trông mong đi chợ,
Trai chưa vợ thơ thẩn ngoài đường.
Thì đó chính là tính chất thuần
túy của yêu đương. Tâm tư họ chỉ hướng về mục tiêu đáp ứng những khát vọng
trong người họ chứ không liên hệ gì đến cuộc sống bên ngoài.
Trong lãnh vực này, chúng ta thấy
tình yêu chỉ là một hiện tượng đơn thuần, bất di bất dịch. Nhưng khi hiện tượng
đơn thuần ấy phát lộ ra ngoài, và được sự đáp ứng của ngoại năng thì hiện tượng
ấy không còn đơn thuần nữa, mà bắt đầu đi vào lãnh vực biến thái trên hai tính
chất ảnh hưởng và mâu thuẫn.
2) Tính chất ảnh hưởng là
tính chất hòa hợp giữa nội cảm và ngoại năng. Nói cách khác thì cảm giác yêu
đương trong con người bị hòa vào cuộc sống.
Mọi hiện tượng khi đã hòa vào cuộc
sống thì không còn giữ được đơn thuần nữa. Với tình yêu cũng thế. Sự rạo rực
yêu đương khi đã được tình yêu bên ngoài đáp ứng thì chúng ta cảm thấy có sự
chi phối trước nhất về thời gian và không gian.
Thời gian, không gian đem lại cho
tình yêu những khắc khoải đợi chờ, ngăn cách. Ví như :
Núi cao chi lắm núi ơi,
Núi che mặt trời không thấy người
thương.
Hoặc : Anh về để áo lại
đây,
Đêm khuya em đắp, kẻo gió tây lạnh
lùng.
Tâm tư ấy chính yêu đương đã đi
vào không gian, và bị không gian chi phối. Cảm giác tình yêu bị chia cách bởi
núi sông, gieo vào lòng người một mối buồn, thì cũng có nghĩa là tình yêu không
còn độc lập với thiên nhiên nữa.
Một dòng sông chảy lững lờ, một
con đò nằm trên bến, một nhịp cầu tre bắc ngang gành suối… đó là những biểu tượng
ngăn cách không gian, nên khi tình yêu đã chịu ảnh hưởng vào không gian thì những
biểu tượng ấy cũng mang những dấu vết của yêu đương. Ví như :
Không đi thì nhớ thì sầu,
Có đi thì mắc cái cầu cái mương.
Không đi thì thảm thì thương,
Có đi thì mắc cái mương cái cầu.
Hoặc : Trăm năm dù lỗi
hẹn hò,
Cây đa bến cũ con đò năm xưa.
Hay : Qua cầu than thở
cùng cầu,
Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy
nhiêu.
Trạng thái đơn thuần của tình yêu
không còn nữa. Không gian đã ảnh hưởng vào tình yêu, tạo cho tâm tư con người
có một cảm giác liên hệ giữa tình yêu với khoảng cách của ngoại vật.
Và, chính khoảng cách ấy có lúc lại
làm chủ trong lãnh vực hôn nhân. Dưới đây là điển hình chứng cớ ấy :
Ăn cam ngồi gốc cây cam,
Lấy anh thì lấy, về Nam không về.
Hoặc : Có con mà gả chồng
gần,
Nửa đêm gà gáy, mang phần đến
cho.
Có con mà gả chồng xa,
Ba sào ruộng tréo chẳng ma nào
cày.
Như vậy, chúng ta thấy rõ ràng
không gian đã chi phối tình yêu, đưa tình yêu vào trạng thái biến đổi của vạn hữu.
Bản năng tình yêu đã phải khổ cực
để chiến thắng ảnh hưởng của không gian như :
Thương nhau mấy núi cũng trèo,
Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng
qua.
Và chúng ta cũng lại thấy bản
năng tình yêu đã phải đầu hàng trước mãnh lực chi phối của không gian như :
Tiếng ai than khóc nỉ non,
Như vợ chú lính trèo hòn Cù-mông
!
Thì chúng ta không thể đặt tình
yêu ngoài ảnh hưởng của không gian được.
Tuy nhiên, không gian cũng chỉ ảnh
hưởng một phần nào thôi. Tình yêu còn phải chịu ảnh hưởng rất nặng trước thời
gian.
Một bóng mặt trời qua thiên đỉnh,
một tờ lịch rơi xuống, một tiếng tíc tắc đồng hồ đều ảnh hưởng đối với thân phận
con người và vạn vật. Nó đánh dấu mọi biến chuyển, thay đổi trong vũ trụ.
Chúng ta thường được nghe tiền
nhân hát lên những câu như :
Còn duyên như tượng tô vàng,
Hết duyên như tổ ong tàn ngày
mưa.
Còn duyên kẻ đón người đưa,
Hết duyên đi sớm về trưa một
mình.
Hoặc : Ngồi buồn lo bảy
lo ba
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên.
Thì thấy rõ ràng thời gian đã đi
vào tâm tư con người, tạo thành sức mạnh, ảnh hưởng vào lãnh vực tình yêu, khiến
cho tình yêu phải lệ thuộc vào thời gian.
Tại sao người con gái phải lo lắng
khi đến tuổi xuân thì ? Tại sao khi nói đến tình yêu chúng ta phải nói đến sắc
đẹp ? Đó chính là tâm tư chúng ta đã chịu sự chi phối của thời gian, và
cũng có nghĩa là chúng ta nhìn nhận tác động của thời gian cũng là tác động của
tâm tư con người và mọi biến chuyển của thời gian là mọi biến chuyển của cuộc sống.
Trước ảnh hưởng mạnh mẽ ấy, người
xưa đã băn khoăn, để rồi tự mình đem tình yêu hòa hợp với biến chuyển thời
gian, như :
Liệu cơm mà gắp mắm ra,
Liệu cửa, liệu nhà mà lấy chồng
đi.
Kẻo mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì không
thông.
Ý thức hối hả, vội vàng, chính là
ý thức của thời gian, nó nằm trong trạng thái biến đổi của sự vật. Chỉ có thời
gian mới làm cho sự vật biến đổi, và tâm tư con người cũng không thể đứng yên
trước mọi biến đổi của sự vật.
Bởi vậy, chúng ta không lấy làm lạ
khi trong xã hội phong kiến,tính chất duy lý của nền giáo dục Khổng Mạnh bị rạn
nứt, những biến thái của tình yêu âm thầm phá vỡ những ràng buộc của giáo lý.
Và chính trong lớp người bình dân cũng đã nhận định được khả năng lý trí không
thể đặt tâm tư còn người ra ngoài vòng ảnh hưởng của vũ trụ, nên họ đã mạnh dạn
nói lên :
Ai ơi ! Chơi lấy kẻo già,
Măng mọc có lứa, người ta có thì.
Chơi xuân kẻo hết xuân đi,
Cái già xồng xộc nó thì theo sau.
Tiếng nói liều lĩnh của họ chính
là trạng thái biến động của tâm tư trong lãnh vực tình yêu đối với ảnh hưởng của
thời gian.
Trên đây chúng ta mới đặt tình
yêu con người qua hai ảnh hưởng của thời gian, không gian, mà trên thực tế,
tình yêu con người lại không chỉ ảnh hưởng vào thời gian, không gian. Nó còn chịu
ảnh hưởng trực tiếp vào lẽ sống con người nữa.
Chúng tôi muốn nói đến guồng máy
tổ chức xã hội. Đó là những định luật, những khuôn khổ bảo tồn quyền sống chung
trong tập thể con người.
Xã hội loài người thành hình để bảo
vệ trật tự cho cuộc sống thì áo cơm lại chi phối mọi tình cảm con người. Tình
yêu con người không thoát ra ngoài tầm ảnh hưởng của cơm áo. Do đó, lẽ sống chi
phối vào tình yêu, làm cho tình yêu con người biến đổi qua nhiều trạng thái.
Yếu tố ấy không phải ngày nay
trong thế hệ chúng ta mới ý thức được, mà ngay người xưa, lớp người bình dân mộc
mạc, sống trong thửa ruộng nương dâu, trong bùn lầy nước đọng vẫn quan niệm như
thế. Họ vẫn thấy tình yêu không thể tách rời cuộc sống thực tại, và chính cuộc
sống thực tại là cái khuôn khổ uốn nắn tình yêu con người vào trong hình thái của
nó. Cho nên, biến tướng của tình yêu cũng là biến tướng của xã hội. Trạng thái
xã hội thay đổi thì trạng thái tình yêu cũng thay đổi theo. Chúng ta có thể
hình dung mọi tổ chức xã hội như những vật chứa đựng, mà trạng thái tâm tư con
người như mực nước. Mực nước lúc nào cũng lan tràn, tìm hình thái của vật chứa
đựng để tác thành hình thái của mặt nước.
Dựa trên quan điểm ấy, chúng ta
có thể đi tìm những biến thái của tình yêu qua các thời đại không khó khăn lắm.
Bởi vì biến thái chỉ là hiện tượng của cuộc sống.
Người bình dân Việt-nam thời xưa
sống bằng sức lao động, sự khổ cực ấy đem đến cho họ ý thức tự lực, tự cường,
do đó, trạng thái tình yêu đối với họ có vẻ khoan hòa, chân thật, ít có những lừa
gạt, phỉnh phờ. Tuy nhiên, khuôn khổ của họ là một chế độ chính trị phong kiến,
cảnh sống giàu nghèo, sang hèn rất cách biệt, luật pháp không ưu đãi họ. Họ là
đối tượng của khinh rẻ, ruồng rẫy, đe dọa… Ảnh hưởng ấy đã lôi cuốn họ vào cuộc
sống thực tiễn, muốn thoát ra khỏi lãnh vực bình dân, hòa mình vào cơm áo, vươn
lên địa vị giàu sang, tức là tâm tư họ đi vào biến thái. Họ là mặt nước, luôn
luôn hình thành trong khuôn khổ của vật chứa. Chính vì vậy mà cuộc sống biến
sinh mâu thuẫn, gây thành xáo trộn đối với tâm tư. Biến thái của tình yêu một
phần do ảnh hưởng ấy.
Với qui luật ảnh hưởng, chúng ta
tuần tự đi tìm những biến thái của tình yêu qua từng lãnh vực của chế độ xã hội.
Trước hết, trong lãnh vực kinh tế,
chúng ta phải nhìn nhận rằng tình yêu chịu ảnh hưởng rất mạnh.
Điều đó đã chứng minh rõ ràng
trong ca dao Việt-nam. Ví dụ :
Áo dài chẳng nệ quần thưa,
Bảy mươi có của, cũng vừa mười
lăm.
Hoặc : Em ham giàu em lấy
thằng bé tí ti,
Làng trên xã dưới thiếu gì trai
tơ.
Tiền của đã chế ngự hẳn tình yêu,
biến tình yêu trở thành vật lệ thuộc. Nếu có những kẻ lợi dụng tình yêu khai
thác cơm áo, biến tình yêu thành cơm, thành áo, thì cũng có kẻ dùng cơm áo mua
chuộc tình yêu, biến cơm áo thành duyên, thành nợ.
Chẳng những tiền của ngự trị trên
lãnh vực tâm tư mà còn ngự trị trên cả quan điểm nghệ thuật của con người nữa.
Sự kiện ấy đã được mô tả trong tục ngữ, ca dao, như :
Nhiều phân lúa tốt, nhiều lụa tốt
l…
Hoặc : Hơn nhau tấm áo
manh quần,
Cởi ra bóc trần ai cũng như ai.
Cho nên, cuộc sống càng phức tạp,
loài người càng xâu xé nhau thì ảnh hưởng kinh tế càng xâm nhập vào tình yêu,
làm cho trạng thái tình yêu biến đổi một cách đột ngột.
Ảnh hưởng kinh tế và ảnh hưởng
chính trị lại đi đôi nhau. Nếu cơ sở kinh tế là nền móng của tổ chức chính trị,
thì tổ chức chính trị ngược lại là để bảo vệ cho nền móng kinh tế.
Nước Việt-nam thời xưa, nền kinh
tế nông nghiệp đã đẻ ra chế độ chính trị phong kiến, hình thành rất nhiều giai
cấp phức tạp. Địa vị xã hội trong guồng máy chính trị quyết định tầm mức sinh
hoạt của con người. Do đó, chế độ chính trị lại ảnh hưởng vào tâm tư, biến con
người lệ thuộc vào ảnh hưởng chính trị. Người ta nhận thấy địa vị xã hội là chiếc
chìa khóa mở cửa vào cảnh giới phong lưu, ở đó tạo được nhiều ưu thế đối với lẽ
sống bản năng. Yếu tố ấy đưa tình yêu vào hấp lực của guồng máy chính trị. Từ
ngàn xưa, chúng ta vẫn thấy địa vị của giai cấp là đối tượng đấu tranh của xã hội
loài người. Ca dao Việt-nam đã chứng minh điều đó trong lãnh vực hôn nhân, như
:
Mua heo chọn nái,
Mua gái chọn nòi !
Hoặc : Trứng rồng lại nở
ra rồng,
Dù sao đi nữa con dòng cũng hơn.
Dòng giống ở đây có nghĩa là giai
cấp quí tộc, những kẻ sinh trưởng trong gia đình có ưu thế về chính trị. Và như
vậy cũng có nghĩa là địa vị xã hội đã đi vào bản chất của tình yêu, chi phối mọi
tình cảm con người.
Chúng ta không lấy làm lạ, khi một
cô gái đương thì có những tham vọng như :
Không tham ruộng cả ao liền,
Tham vì cái bút cái nghiên anh đồ.
Hoặc : Không tham vựa
lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tày thế gian.
Hay : Yếm thắm mà vã
nước hồ,
Vã đi vã lại anh đồ yêu đương.
Trong chế độ phong kiến, anh đồ
tượng trưng cho địa vị xã hội, tượng trưng cho những kẻ được ưu đãi trong guồng
máy chính trị, cho nên ảnh hưởng chính trị đi vào tình yêu bắt đầu bằng những
tham vọng ấy.
Chúng ta cũng lại thấy họ bảo
nhau :
Tai nghe quan huyện đòi hầu,
Mua chanh mà gội cái đầu cho
thơm.
Thì đó cũng là trạng thái biến động
của tình yêu trước ảnh hưởng chính trị mà thôi.
Ảnh hưởng kinh tế và chính trị đã
đưa bản chất tình yêu đến chỗ hy sinh cực độ. Tình cảnh làm lẽ làm mọn của đàn
bà cũng chính là do hai ảnh hưởng về kinh tế, chính trị tạo nên. Chế độ chính
trị phong kiến đã từ chối địa vị đàn bà trong xã hội, chỉ có người đàn ông mới
có địa vị xã hội mà thôi. Người đàn bà muốn đạt được địa vị xã hội không còn
cách gì hơn là nương bóng người đàn ông. Cái khuôn khổ bất bình đẳng ấy đã uốn
nắn tâm tư người đàn bà phải chui luồn vào trạng thái sinh hoạt xã hội.
Trên đây chúng ta chỉ mới đặt
tình yêu trước áp lực của ngoại năng. Nghĩa là chúng ta cũng mới kiểm điểm trạng
thái biến động của tình yêu qua các tác động của thời gian, không gian, và sinh
hoạt xã hội. Những tác động ấy đều nằm ngoài thể xác chúng ta cả. Mà trạng thái
biến động của tình yêu nếu chỉ căn cứ vào tác động của bên ngoài thì chưa đủ.
Chúng ta phải nói đến tác động của nội tính con người nữa. Nội tính con người
cũng biến dịch, cũng ảnh hưởng vào tình yêu và bắt tình yêu phải biến động theo
chiều hướng của nó.
Vậy nội tính là gì ?
Nó là sự phát triển và tàn tạ của
thể chất con người, tạo cho tình cảm con người, tạo cho tình cảm con người một
khả năng biến dịch. Tình yêu lệ thuộc vào cảm tính con người nên phải chịu ảnh
hưởng ấy.
Trong quyển Liều thuốc ngoại
tình do Sống Mới xuất bản năm 1958, ông Hồng Trung có phân tích về cảm
tính con người trong lãnh vực tình yêu. Ông viết :
« Khác với mọi sinh vật khác, con
người có một bộ óc tinh vi, có những luồng cảm giác tế nhị, do đó ái tình con
người lệ thuộc vào cảm tính nhiều hơn.
Cảm tính lệ thuộc vào thể chất
con người, và nó cũng là sản phẩm của thể chất.
Nếu thể chất cần phải được ăn uống
để bồi dưỡng, thì cảm tính con người cũng đòi hỏi một khả năng cung ứng để thỏa
mãn khát vọng của nó.
Một áng mây chiều trôi qua trước
khi tắt nắng, chúng ta đón nhận lấy sắc đẹp ấy. Một điệu nhạc trầm buồn nổi
lên, lòng ta nhận cảm kích, đê mê… Hiện tượng ấy chính là nhu cầu của cảm tính
con người. Nó là sức sống, là sự đòi hỏi dục vọng của cảm tính. Tình yêu chúng
ta cũng xuất phát từ nguồn gốc ấy.
Tuy nhiên, cảm tính con người lệ
thuộc vào thể chất, vào hoàn cảnh xã hội nên phát triển không giống nhau, và
không đồng đều. Có kẻ thích cái đẹp lả lướt, có kẻ thích cái đẹp khoan hòa, có
kẻ thích cái đẹp mạnh mẽ… còn về âm thanh, có kẻ thích nghe những giọng trầm buồn,
có kẻ lại thích nghe những giọng thanh tao, mộc mạc… Tóm lại, cảm giới mỗi người
trong chúng có một trình độ không ai giống ai, và cũng có một nhu cầu của cảm
giác.
Khi chúng ta thích tức là chúng
ta đang thiếu thốn trong người những cảm giác đó, và cảm giác chúng ta đang đòi
hỏi được hưởng thụ…
…Cảm giác trong mỗi con người
chúng ta đã khác nhau, lại không cố định. Nó tùy thuộc vào sự phát triển của thể
chất theo thời gian. Cho nên, đôi vợ chồng mới lấy nhau thường khi thương yêu
nhau, rồi cách một thời gian sau đó họ lại ghét bỏ nhau. Nguyên do là tại trình
độ cảm giác của mỗi người bị chênh lệch hoặc trái ngược. Nhu cầu cảm giác của
hai bên không còn thích hợp để cung ứng nhau nữa. Người ta đâm ra ngoại tình,
hoặc có kẻ say mê thầm lén, phá vỡ hạnh phúc gia đình cũng chỉ vì cảm giới của
họ bị biến thái, mà khả năng cung ứng giữa đôi vợ chồng không còn phù hợp. »
Với quan điểm trên, chúng ta thấy
rằng tình yêu là một trạng thái biến dịch, ảnh hưởng rất nhiều mặt về ngoại
năng và nội tính. Qui luật ấy cũng đã ngự trị rất mạnh mẽ vào xã hội bình dân
thời xưa, khiến họ đã phải rên siết than van trước mọi biến thái của nó.
Chúng ta không thể nào khám phá hết
mọi trạng thái biến dịch của tình yêu nổi. Ở đây, chúng ta chỉ huy tầm nguồn gốc
của nó, và lấy một vài câu ca dao điển hình. Ví dụ :
Tôi ở cùng mẹ cùng cha,
Mẹ cha nâng giấc như hoa trên
cành.
Bây giờ tôi ở cùng anh,
Anh tham nhan sắc anh đành phụ
tôi.
Em nhớ ngày nào bên ao cá lội,
Anh chỉ anh thề không lỗi nghĩa
keo sơn.
Bây giờ anh đã sang giàu,
Anh quên đi lời hứa buồn ban đầu
cùng em.
Qua cầu, cầu yếu phải nương,
Ta nghe bạn cũ hết thương ta rồi.
Ta nghe bạn cũ có đôi,
Trong mình nóng nảy như vôi mới hầm.
Nắm tay bạn cũ khóc thầm,
Ngày rày quế nọ xa trầm, trầm ơi
!
Anh tiếc cho ai nuôi, dạy, mong
chờ,
Một, hai, ba tuổi đến bây giờ em
lớn khôn.
Cái vành khăn em vấn đã tròn,
Câu cười tiếng nói đã dòn, em lại
ngoan.
Sợi tơ hồng đã buộc với nhân
gian,
Sao em không chịu khó gánh giang
san nhà chồng.
Nỡ đang tay em dứt tơ hồng,
Đứng trên núi nọ mà trông non
này.
Áng phong lưu son phấn đọa đày,
Thay đen đổi trắng dễ ai rày
thương yêu.
Những tâm tư đau khổ vì tình
duyên trên đây chính là ý thức bất mãn của con người trước trạng thái biến dịch
của ái tình. Sự bất mãn ấy là nguồn gốc của mọi tính chất mâu thuẫn.
3) Tính chất mâu thuẫn là
tính chất của tình yêu phá hoại. Nếu chúng ta quan niệm mọi tổ chức xã hội loài
người là những vật chứa, mà tâm tư con người là mặt nước, thì mặt nước luôn
luôn hình thành theo vật chứa, đồng thời cũng tạo thành những gợn sóng, nối tiếp
và dồn dập để phá vỡ những khuôn khổ bên ngoài, thay đổi bằng những khuôn khổ mới
để đủ sức dung nạp những biến thái bên trong.
Sức phá hoại ấy là sức phản ứng của
những tâm tư bị xáo trộn trong guồng máy sinh hoạt xã hội, mà cũng là năng lực
chiến đấu để vùng lên khi tình yêu của họ bị ảnh hưởng xã hội đè bẹp xuống.
Bởi vậy, bất kỳ thời đại nào, sự
biến thái của tình yêu cũng đưa đến những chống đối, liều lĩnh.
Xã hội bình dân thời xưa dưới guồng
máy phong kiến, ảnh hưởng Nho-giáo thịnh thành, người đàn bà được lấy tiết
trinh làm trọng, thế mà chúng ta vẫn thấy những trạng thái liều lĩnh như :
Chơi cho thủng trống long bồng
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập
nghiêm.
Chơi cho thủng trống long chiêng,
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.
Dưới con mắt nhà đạo đức học, hoặc
những nhà chính trị theo quan niệm duy lý thì đó là những thói hư, tật xấu phản
ảnh một cuộc sống đồi trụy. Tuy nhiên, nếu chúng ta nhìn xã hội loài người với
con mắt khách quan thì đó là qui luật tất yếu. Diễn biến của xã hội loài người
cũng như diễn biến của vũ trụ. Trong chiều xuôi bao giờ cũng có chiều ngược. Nó
là sức đối kháng, sức phản ứng tự nhiên. Một đứa trẻ bị đánh đau quá tất phải
la, một con chim bị nhốt trong lồng tất phải phá phách, tìm chỗ thoát ra.
Cái khuôn khổ « tứ đức tam tùng »
của giáo lý Khổng Mạnh áp dụng vào chế độ chính trị phong kiến để bảo vệ trật tự
gia đình, chẳng những ảnh hưởng vào cuộc sống quí tộc, mà còn chụp lên xã hội
bình dân nữa. Người đàn bà bình dân không phải là những kẻ ăn không ngồi rồi
như những hạng nữ lưu đài các, chỉ sống bám vào quyền lực của người chồng.
Chính họ là những kẻ tay lấm chân bùn, vất vả tối ngày, khổ cực chẳng kém gì
người đàn ông. Khi đã chịu chung những khổ cực như vậy, lẽ ra họ phải có một chế
độ ưu đãi, bình đẳng, thì xã hội phong kiến lại truất mất quyền hạn của họ
trong gia đình, bắt họ phải lệ thuộc hoàn toàn vào nam giới. Tại sao luật pháp
không bắt buộc người đàn ông phải giữ gìn trinh tiết với đàn bà, mà chỉ người
đàn bà mới phải có bổn phận ấy ? Buộc người đàn bà phải bảo vệ trinh tiết trong
lúc người đàn ông được quyền đùa giỡn với ái tình, xem ái tình như là của riêng
họ, mà người đàn bà chỉ là vật sở hữu :
Trai năm thê bảy thiếp,
Gái chính chuyên một chồng.
Bất công ấy chính là yếu tố mâu
thuẫn, đưa nữ giới vào quỹ đạo đấu tranh giải phóng. Những ý thức liều lĩnh
trong các câu ca dao trên đây chính là những đau khổ chất chứa trong tâm tư người
đàn bà, và sự đau khổ ấy đã buộc họ phải vùng lên phản đối bằng hành động tích
cực.
Dĩ nhiên, sự bất bình đẳng giữa
nam nữ dưới chế độ phong kiến thời xưa toàn thể nữ giới đều phải chịu chung,
song hành động phản đối nằm trong hai tính chất : tiêu cực và tích cực.
Hành động tiêu cực chỉ là hành động
bất mãn mà người đàn bà cố gắng ép mình chịu đựng trong những tiếng rên than,
còn hành động tích cực là hành động được bộc lộ ra ngoài bằng trạng thái phá
phách, chống đối.
Mọi sự chống đối đều bắt nguồn bằng
sự áp chế. Nếu không có áp chế, thì không có sức chống đối. Cho nên, nếu chế độ
phong kiến thời xưa đặt vấn đề trinh tiết của người đàn bà như một bổn phận,
thì luật pháp phong kiến cũng lại khắt khe với những ai làm sai bổn phận ấy.
Chứng minh điều này, chúng ta có
thể tìm thấy trong những câu ca dao như :
Tính quen chừa chẳng được đâu,
Vạ làng, làng bắt mấy trâu mặc
lòng.
Người đàn bà không giữ được tiết
trinh, chẳng những xã hội phong kiến gắn cho tiếng xấu, mà luật pháp còn trừng
trị họ nữa.
Nhưng đối với người đàn ông thì
sao ? Luật pháp không cấm người đàn ông phải chính chuyên với người đàn bà !
Cho nên ý thức liều lĩnh trên đây là một hành động tích cực phản đối bất công
xã hội trong lãnh vực tình yêu, phá vỡ những khuôn khổ phong kiến đã ép buộc
người đàn bà phải chịu.
Trong khuôn khổ ấy chẳng những
giai cấp bình dân tự thấy mình nghẹt thở, mà đối với giai cấp nữ lưu trưởng giả
vẫn thấy bực dọc. Tuy nhiên, tinh thần đấu tranh để giải phóng cho mình, người
đàn bà thuộc giai cấp quí tộc vẻ yếu đuối, tiêu cực, bởi lẽ họ bị tiêm nhiễm
trong đầu óc cốt cách của Nho phong. Con người họ đã trở thành ủy mỵ, họ chỉ
đem nước mắt khóc cho đời, đem những lời rên than an ủi cho số phận. Những hành
động chống đối Nho phong tự họ xem như trái đạo làm người, mặc dù cái đạo làm
người ấy đối với họ là cả một sức nặng đè lên mầm sống của họ.
Chứng minh điều này, chúng ta thấy
trong « Đoạn trường tân thanh », nàng Kiều dù phải bị chế độ vua quan
hà lạm, áp bức, phải bán mình chuộc cha, đem thân đi làm gái mãi dâm, thế mà
tinh thần chống đối của nàng trước thực trạng xã hội vẫn không một chút hờn giận,
mà chỉ dùng thuyết « Định mệnh » để tự an ủi mình qua tâm hồn của cụ Nguyễn Du
:
Lạ gì bĩ sắc tư phong,
Trời xanh quen thói má
hồng đánh ghen.
(Kiều)
Người đàn bà quí tộc nhìn chế độ
phong kiến và khuôn khổ Nho giáo như một định mệnh. Cho đến nỗi oán hờn chồng
chất cả cuộc đời mình, nàng Kiều cũng chỉ được quyền kêu than với số mạng :
Chém cha cái số ba đào
Mở ra rồi lại buộc vào như chơi.
(Kiều)
Họ không dám nhìn thẳng vào thực
trạng xã hội. Và nếu có nhìn vào xã hội, họ vẫn xem những thực trạng ấy như qui
luật tất yếu của tạo hóa đã an bài.
Cũng như « Chinh phụ ngâm », cảnh
chiến tranh thời xưa chỉ là những cuộc tranh đoạt quyền lợi của các lãnh chúa.
Người chinh phụ khi mỏi mắt trông chồng nơi biên ải, đáng lẽ họ nghĩ đến cảnh
xâu xé của xã hội loài người mà oán hờn những bất công, tham vọng của chế độ,
thì họ lại không nhìn vào thực trạng ấy, mà đổ lỗi cho trời. Ví dụ :
Thuở trời đất nổi cơn gió bụi,
Khách má hồng nhiều nỗi truân
chuyên.
Xanh kia thăm thẳm từng trên,
Vì ai gây dựng cho nên nỗi này ?
Nếu bào rằng thời xưa dưới chế độ
khắc nghiệt của vua quan, người đàn bà dù oán hờn đến đâu cũng không dám nói thẳng
vào thực trạng, thì e cũng không đúng. Người bình dân là người thấp nhất trong
xã hội, họ vẫn sống dưới chế độ hà khắc của vua chúa, thế tại sao họ dám chống
đối quyền lực của quan lại một cách ngang nhiên. Ví dụ :
Em là con gái đồng trinh,
Em đi bán rượu qua dinh ông Nghè.
Ông Nghè sai lính ra ve,
- Bẩm lạy ông Nghè tối đã có con
!
- Có con thì mặc có con,
Thắt lưng còn dòn theo võng cho
mau.
Những câu hát châm biếm như vậy
rõ ràng người phụ nữ bình dân đã dám nhìn vào thực trạng xấu xa của guồng máy
xã hội, và họ dám nói lên bằng ý thức chống đối mạnh mẽ.
Mặt khác, trong lúc chế độ phong
kiến bắt buộc người đàn bà phải tiết hạnh, cái tiết hạnh để phụng sự riêng cho
quyền lợi người đàn ông, thì chính đàn bà bình dân cũng lại đứng ra chống đối
mãnh liệt hơn. Họ bảo :
Lẳng lơ chết cũng ra ma,
Chính chuyên chết cũng chôn ra đầy
đồng.
Họ từ chối giá trị của tiết hạnh.
Họ quan niệm giáo lý xã hội phong kiến chỉ là chuyện phỉnh phờ, gạt gẫm. Cái xấu
và cái tốt trong đời không lợi ích gì cả, bởi vì khi chết đi, con người ai cũng
như ai.
Xem thế thì thấy rõ người đàn bà
bình dân và người đàn bà quí tộc cũng chung một cảnh khổ dưới ách Nho giáo,
nhưng người đàn bà bình dân có tinh thần tranh đấu tích cực hơn. Họ dám nhìn
vào thực trạng xã hội, và dám nói lên tiếng lòng của họ bằng một đường thẳng,
không khiếp nhược.
Dưới chế độ phụ quyền, người đàn
ông được luật pháp bảo vệ cả đến việc bạc đãi người đàn bà, như :
Ví dầu tình bậu muốn thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay ta,
Cái xương bậu nát, cái da bậu
mòn.
Người đàn ông có quyền hành hạ
người đàn bà, mà không sợ luật pháp. Tuy nhiên, khi mà bất công xã hội đã đè nặng
trên tâm tư, người đàn bà bình dân có đủ can đảm để chống lại sự hành hạ ấy.
Anh đánh thì tôi chịu đau,
Tánh tôi hoa nguyệt mười con chẳng
chừa.
Hoặc : Đánh tôi thì tôi
chịu đau,
Tánh tôi hoa nguyệt chẳng chừa đặng
đâu.
Tại sao người đàn bà có thể mạnh
dạn đưa tánh xấu mình ra để thách đố trước hành động vũ lực của người đàn ông ?
Xét về mặt tâm lý thì khi phơi bày tánh xấu của mình, người đàn bà vẫn không
cho là xấu. Bởi vì họ thấy đối tượng của họ là người đàn ông vẫn còn xấu hơn.
Trước mắt họ, người đàn ông không
phải là thần tượng đáng tôn thờ. Và họ đã xét thấy :
Đàn ông năm bảy lá gan,
Lá ở cùng vợ, lá toan cùng người.
Hoặc : Sông bao nhiêu
nước cũng vừa,
Trai bao nhiêu vợ cũng chưa vừa
lòng.
Như vậy người đàn bà dù có lẳng
lơ cũng chưa phải hèn hạ, hư đốn. Cái hèn hạ, hư đốn của họ chỉ do quan niệm bất
công của xã hội phong kiến gắn lên họ mà thôi.
Tuy vậy, sự chống đối của người
đàn bà không phải do trạng thái thông thường, nó phát xuất ở khả năng vùng lên
của những tâm tư bị áp chế, cho nên chúng ta thấy phảng phất một cái gì uất ức,
liều lĩnh !
Thật vậy, sống trong xã hội từ bậc
phong lưu đài các đến hạng khố vải quần thâm, khi đã tạo lập gia đình ai lại
không muốn vui trong hạnh phúc ? Tuy nhiên, nếu vì lẽ gì hạnh phúc ấy không đạt
được, mà con người họ lại bị chìm trong thảm trạng bất công, dĩ nhiên nguồn đau
khổ ấy phải đưa họ vào trạng thái liều lĩnh, chống đối.
Sự chống đối, liều lĩnh của họ đã
bộc lộ một cách ngang nhiên, bất chấp cả phép vua lệ làng, bất chấp cả quyền lực
của người đàn ông được xã hội phong kiến bảo vệ. Đây chúng ta nghe họ nói :
Không chồng mà chửa mới ngoan,
Có chồng mà chửa, thế gian sự thường.
Tại sao họ lại đi tìm cái chuyện
phi thường như vậy để hành động, mà lại xưng mình như có vẻ anh hùng ? Rõ ràng
lòng tự đắc của họ dựa trên quan điểm chống đối hơn là đạo lý. Họ tự đắc vì họ
dám ngang nhiên chống lại luật lệ và lề thói của một xã
hội bất công, họ tự đắc vì họ đã
dám đi ngược với dòng đời ngang trái. Cho nên trước cái khuôn phép ràng buộc để
bảo vệ những giả dối bên ngoài, họ khinh bỉ bằng lối châm biếm như :
Có chồng càng dễ chơi ngang,
Đẻ ra con thiếp, con chàng, con
ai ?
Luật lệ không thể ngăn cấm lòng
người một khi lòng người đã muốn. Với ý thức chống đối, họ khinh thường cả luật
lệ. Và đối với họ, chỉ có tình nghĩa mới đem lại con người lòng chân thật.
Ai cấm được lòng người khi tình
yêu trong gia đình không tìm được sức sống của yêu đương. Người đàn ông không
yêu vợ, có thể đi tìm những thú vui khác, còn người đàn bà thì phải chính
chuyên với kẻ bất nghĩa. Bởi vậy, người đàn bà đã phải phản ứng :
Hai tay cầm lấy quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả chín phần
trai.
Đêm nằm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, thương trai
thì nhiều.
Tuy đó là một tình yêu lang chạ,
trái với đạo, nhưng nó cũng bộc lộ cho chúng ta thấy bên trong hàm chứa một sự
bất mãn đối với cuộc sống gia đình.
Không thương chồng mà lại thương
trai, người đàn bà đã tách rời bổn phận làm vợ. Đứng về mặt đạo nghĩa, chúng ta
thấy đáng chết, nhưng nếu đi sâu vào tâm trạng của kẻ ngoại tình chúng ta lại
thấy thương. Bởi vì chính kẻ ấy là kẻ thiếu hạnh phúc, đang khát vọng một cuộc
sống êm đềm, kẻ đang bị đời dành cho họ một thảm cảnh mà tâm hồn họ không thể
nào buộc họ ép dần trong một cái chết giữa lúc họ đang sống. Họ phải vươn lên
tìm lấy cái sống thầm lén, khổ đau.
Xã hội tạo cho họ một cuộc sống
đau khổ, và luật lệ buộc họ phải đi vào con đường thầm lén để tìm ý sống, thì
đó chính mà mầm móng tác thành một phản động lực trong tâm tư con người. Phản động
lực ấy khi đã chất chứa tất phải bùng nổ. Cho nên chúng ta không lấy làm lạ khi
thấy trong ca dao bình dân có những ý tưởng táo bạo của người đàn bà, như :
Chữ tình đáng giá nghìn vàng,
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.
Còn như yêu vụng nhớ thầm,
Họp chợ trên bụng đến trăm con
người.
Họ có nguyền rủa chữ trinh, ngạo
nghễ với chữ trinh, lôi chữ trinh ra làm trò cười trước xã hội ! Ai dám bảo đó
không phải ý thức bất mãn bị dồn ép do lẽ sống bất công ? Người ta đã bắt kẻ
khác phải bảo vệ trinh tiết để phục vụ cho một lớp người mà những kẻ ấy xem như
của riêng họ. Bởi vậy họ quan niệm rằng những kẻ nêu ra vấn đề trinh tiết chỉ
là những kẻ ích kỷ, và họ thoá mạ :
Lẳng lơ cũng chẳng hao mòn,
Chính chuyên cũng chẳng sơn son
thếp vàng.
Thái độ hằn học ấy chính là thái
độ chống đối, phá phách trong ý thức bất mãn. Từ chỗ bất mãn họ đi đến liều
lĩnh :
Sáng ngày ra đứng cửa Đông,
Bói xem một quẻ lộn chồng được
chăng ?
Ông thầy gieo quẻ bói rằng :
Lộn chồng thì được nhưng năng phải
đòn
- Mồ cha đứa có sợ đòn,
Miễn là lấy được chồng dòn thì
thôi !
Trạng thái biến động đã đưa lịch
sử ái tình loài người vào con đường phiêu lưu, mạo hiểm. Ngày nay, sống trong
chế độ tự do luyến ái, bình đẳng hôn nhân, chúng ta vẫn còn thấy những vụ án
ngoại tình, những cuộc thảm sát vì tình, những cảnh tượng đau khổ vì tình, thì
từ ngàn xưa, dưới chế độ bất bình đẳng hôn nhân của nền phong kiến, những tâm
tư liều lĩnh, chống đối ấy cũng chẳng có gì lạ. Nó cũng chỉ là sự biến thái của
tình yêu.
Khi tình yêu đã bị ảnh hưởng vào
lẽ sống tất nhiên phải chịu sự phân hoá. Huống chi, người đàn bà thời xưa, sống
dưới chế độ duy lý của nền phong kiến, bản năng bị kềm toả. Những thảm trạng của
lễ giáo như khi người đàn ông chết, người đàn bà phải trực tiết nuôi con (phu tử
tòng tử) trong lúc đó người đàn ông vợ chết vẫn có quyền tục huyền, thì đó cũng
là một căn bản mâu thuẫn trong chế độ hôn nhân.
Mầm mâu thuẫn đã có, dĩ nhiên
không thể tránh khỏi những hành động chống đối. Đây, chúng ta hãy nhìn vào tâm
tư một goá phụ đã đau đớn, mỉa mai trước một anh chồng ngắn số :
Giàu thì thịt cá cơm canh,
Khó thì lưng rau đĩa muối, cúng
anh tôi đi lấy chồng.
Hỡi anh chồng cũ tôi ơi !
Anh có khôn thiêng xin anh trở dậy
ăn xôi nghe kèn.
Thôi, anh đã về kiếp ấy xin anh đừng
ghen.
Để cho người khác cầm quyền thê
nhi.
Miệng em khóc, tay em bế ẵm cái
ông thần vì,
Tay em gạt nước mắt, tay em thì
thắp nén nhang.
Bời vì đâu mà em xót nỗi muôn vàn
!
Xem thế, chúng ta phải công nhận
rằng ý thức người bình dẫn thời xưa chống đối thuyết « tam tùng » của Khổng
giáo một cách mãnh liệt. Sự chống đối ấy luôn luôn tượng hình trong tâm tư người
bình dân, mà ở đây chúng ta không thể nào lược trích cho hết được.
Cùng với hành động chống đối ấy,
chúng ta thử xét qua một tâm trạng nữa của người đàn bà bất mãn với chế độ trực
tiết nuôi con như :
Hỡi thằng cu lớn, hỡi thằng cu
bé,
Cu tí, cu tị, cu tỉ, cu tì ơi !
Con dậy ăn cơm với bà.
Để mẹ đi kiếm một và con thêm.
… … …
Con ra gọi chú vào đây
Để mẹ giao trả cái cơ nghiệp này
mẹ bước đi.
Tiếng gọi của tình yêu đã phá vỡ
khuôn khổ ràng buộc của giáo lý Khổng Mạnh.
Tuy nhiên, trạng thái biến động của
ái tình đã bị ảnh hưởng nhiều mặt thì tính chất biến thái ấy cũng phải diễn biến
qua nhiều chiều hướng.
Theo sự phân tích trên đây, chúng
ta có thể dồn tất cả những chiều hướng ấy vào hai lãnh vực : ngoại năng và nội
tính.
*
Tóm lại, tình yêu sở dĩ có sự biến
thái là do ảnh hưởng vào guồng máy sinh hoạt xã hội loài người, do qui luật biến
động của vạn hữu. Lịch sử diễn biến của tình yêu cũng là lịch sử diễn biến của
xã hội loài người qua các chế độ chính trị.
Ở đây, nếu nói riêng về lớp người
bình dân thì chúng ta phải thừa nhận ý thức đấu tranh bình đẳng của họ mạnh mẽ
hơn trong lúc họ cũng vẫn phải hoà mình trong mọi ảnh hưởng xã hội.
Và khi họ đấu tranh cho tình yêu
được bình đẳng thì cũng có nghĩa là họ đấu tranh để xoá bỏ một chế độ.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO BIẾN THÁI CỦA TÌNH YÊU
1. Ai làm cho đó xa đây,
Cho chim minh liễu xa cây ngô đồng.
2. Ai xui, ai khiến bất
nhơn,
Tôi nay gặp bạn thương hơn vợ
nhà.
3. Anh về tìm vợ con anh,
Lá rụng về cội bỏ nhành bơ vơ.
4. Anh lo phận anh chưa có vợ,
Em có chồng rồi duyên nợ lôi
thôi.
Hiu hiu gió thổi lò vôi,
Ai đem tin cho bạn, đây ta có
đôi, bạn buồn.
5. Anh đi ngang qua cửa sao
không vào,
Hay là anh có chỗ má đào, phụ em.
6. Anh ơi anh đợi tôi cùng !
Tôi còn đốt mã cho chồng tôi đây.
7. Anh đi đàng ấy xa xa,
Để em ôm bóng trăng tà năm canh.
Nước non một gánh chung tình,
Nhớ ai, ai có nhớ mình hay chăng
?
8. Anh đừng ham gái bóng quế,
bỏ phế cái bông lài.
Mai sau quế rụng, bông lài thơm
xa.
9. Anh về tìm vảy cá trê,
Tìm gan tim thú ? tìm mề con
lươn.
Tìm cho con bún có xương,
Tìm dây tơ hồng có rễ em mà theo
không ?
- Em về đánh kiểng la làng,
Tới đây anh chỉ vẩy cá trê vàng
em coi.
Em đừng nói dại, nói khờ,
Bún làm bằng bột ê hề xương đâu.
10. Anh tiếc cho ai nuôi, dạy,
mong, chờ,
Một, hai, ba tuổi cho đến bây giờ
em lớn khôn.
Cái vành khăn em vẩn đã tròn,
Câu cười tiếng nói đã dòn, em lại
ngoan.
Sợi tơ hồng đã buộc với nhân
gian,
Sao em không chịu khó gánh vác
giang san cho chồng.
Nỡ dang tay em dứt tơ hồng,
Đứng đầu núi nọ mà trông bên non
này.
Áng phong lưu son phấn đoạ đày,
Thay đen đổi trắng để ai rày yêu
thương.
Dẫu mai ra tán tía tàn vàng,
Mười phương thiên hạ xem thường
có vào đâu.
Tấm thân em chẳng nghĩ mặc dầu,
Bọn đàn bà còn để tiếng xấu về
sau muôn đời.
Chị em ơi, thế cũng kiếp người !
Anh có thương thì thương cho chắc,
Có trục trặc thì trục trặc cho
luôn,
Đừng như con thỏ nọ đứng đầu
truông,
Khi vui giỡn bóng, khi buồn giỡn
trăng.
11. Anh về ngoài Huế lâu vô,
Hoạ bức tranh đồ để lại cho em.
12. Anh buồn có chốn thở
than.
Em buồn như ngọn nhang tàn thắp
khuya.
13. Anh đi đâu bỏ nhện giăng
mùng,
Bỏ đôi chiếu lạnh, bỏ phòng quạnh
hiu.
14. Áo rách vai vá hoài vá
huỷ,
Sao em có chồng chẳng nghĩ đến
anh ?
15. Áo em đang khô, không ngờ
áo em ướt,
Bởi hiềm vì anh chậm bước,
Nên thày mẹ bán gả em đi.
16. Bao giờ cho chuối có
cành,
Cho sung có nụ, cho hành có hoa.
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa,
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình
!
Bao giờ cây cải làm đình.
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
17. Bao giờ đá nổi, rong
chìm,
Muối chua, chanh mặn mới tìm được
em.
18. Bắc Nam lòng chẳng
thương tình,
Để tôi đứng lại một mình sao
đang.
19. Bắc thang hỏi thử ông trời
!
Tiền mà cho gái có đòi được không
?
20. Bần gie đóm đậu sáng ngời,
Lỡ duyên tại bậu, trách trời sao
đang.
21. Bận này tôi thác tại em,
Hồn về chín suối để cho em có chồng.
22. Bậu có chồng rồi như con
cá vô lờ,
Tôi tương tư nhớ bạn, dật dờ đêm
thanh.
23. Bậu nói với qua bậu
không hái lựu bẻ đào,
Đào đâu bậu mọc, lựu nào bậu cầm
tay ?
24. Bây giờ hỏi thiệt cô ba,
Còn thương như cũ hay là hết
thương ?
Ban ngày đang nắng, tối lại dầm
sương.
Công tôi lao khổ, mình thương
không mình ?
25. Bây giờ anh bắt tay
nàng,
Hỏi sao lá ngọc cành vàng xa nhau
?
Xa nhau, ta mới xa nhau,
Khi xưa ta vẫn ăn trầu một cơi.
26. Bây giờ gạo hết tiền
không,
Anh ơi trở lại mà trông lấy hòm.
Bao giờ tiền có gạo còn,
Bấy giờ tôi lại giữ hòm cho anh.
27. Bướm bay nữa biển bướm
ngừng,
Căn duyên trời định nửa chừng mà
thôi.
28. Cam ngon quít ngọt đã từng,
Còn quả khế ngọt trên rừng chưa
ăn.
29. Canh khuya trăng khóc
trên đồi,
Khóc cho chiếc bóng hết ngồi lại
đi.
Nhớ chàng lắm lắm chàng ôi,
Sao chàng không tới để thiếp tôi
một mình lẻ loi.
30. Canh một cho chí canh
hai,
Có ai vui thay như cá nước,
Bạn xa nhau rồi bạn không nói trước cho em hay.
Qua chuyến đò đầy nhớ nghĩa đó
thay,
Huống chi đôi đứa mình
Ơn trung nghĩa trọng ba bốn tháng
rày nhớ thương.
31. Cau khô mà bỏ hộp đồng,
Mặt mi không xứng làm chồng tao
mô.
32. Căn duyên sáng tợ trăng
rằm,
Bây giờ mình để tôi nằm phòng
không.
33. Cầu Trường-tiền sáu vạy,
mười hai nhịp,
Anh qua không kịp tội lắm em ơi,
Nghĩa Tào-khang ai mà vội dứt,
Đêm nằm tấm tức luỵ nhỏ tuôn rơi.
Biết bao giờ tạc được bóng người
Để đêm khuya canh vắng vui cười
giải khuây.
34. Cây quằn vì bởi trái
sai,
Anh xa em vì bởi ông mai ít lời.
35. Cây da là cây da bến cũ,
Bến cũ là bến cũ đò xưa,
Ôi thôi rồi người khác sang đưa,
Thiếp nhìn chàng lưng lẻo,
Nước sa xuống như mưa hỡi chàng !
36. Cây cao bị gió khó trèo,
Mình thấy đây vận bĩ, lâm nghèo
mình xa,
37. Cây đa trốc gốc trôi rồi,
Đò đưa bến khác anh ngồi trông ai
?
38. Có vả mà phụ lòng sung,
Mình về chốn cũ vấn vương nơi
nào.
39. Có mặt tôi, mình nói
mình thương,
Mình về chốn cũ vấn vương nơi
nào.
40. Có chả em phụ tình xôi,
Có cam phụ quít, có người phụ ta.
Có quán tình phụ cây đa,
Ba năm quán đổ, cây đa hãy còn.
Có mực anh phụ tình son,
Có kẻ đẹp dòn em phụ nhân duyên.
Có bạc em tình phụ tiền,
Có nhân ngãi mới quên người tình
xưa.
Trách người quân tử vụng suy,
Giàn hoa thiên lý chẳng chê mành
mành.
Đêm thổn thức ngồi khêu đèn phụng,
Canh sang năm gần rụng khúc rồng.
Trách ai ở chẳng hết lòng,
Phụ tình gần gũi có chồng xa xôi.
41. Con ai đem bỏ chùa này,
Nam-Mô-A-Di-Đà-Phật con thầy, thầy
nuôi.
42. Con quạ đen lông xuống
sông nó tắm,
Chồng bậu ở nhà khó lắm bậu ơi.
43. Con chim nho nhỏ cái mỏ
hắn vàng,
Hắn đứng trước cửa tam quan hắn
kêu hỏi bác lính khố vàng.
Chớ có ham nơi giàu sang sắc mắc
mà phụ chàng duyên em.
44. Con chim quyên nó đậu dựa
cành dâu,
Sao mình bỏ thảm bỏ sầu cho tôi ?
45. Con dao vàng cắt giải y
môn,
Thiếp tôi đần dại lấy chàng khôn
mà nhờ.
Không ai ngờ trăng gió mập mờ,
Giao đoan tình phụ thiếp nhờ vào
đâu.
Vì chàng chẳng tại, thiếp đâu,
Chàng xe chỉ mảnh, thiếp khâu sao
bền ?
46. Còn ba miếng thuốc thiếp
thiếp chàng chàng.
Hết ba miếng thuốc cứ đàng em
dong.
47. Còn tiền còn bạc, còn vợ
còn chồng,
Hết tiền hết bạc, tơ hồng hết xe.
48. Cô mình ơi ! anh quyết với
cô mình,
Công anh dan díu, chẳng có thành
thì thôi.
Con sông bên kia lở, bên bồi,
Bên lở thì đục, bên bồi thì
trong.
Con sông kia nước chảy đôi dòng,
Biết rằng bên đục, bên trong thế
nào ?
49. Công trình ân ái biết
bao,
Gặp nhau lại thẹn, toan chào lại
thôi.
50. Công anh chẻ nứa đan bồ,
Con chị đi mất, anh vồ con em.
Công anh rọc lá gói nem,
Con chị đi mất, con em trốn chồng.
51. Công anh đắp đất rào
phên,
Phải người ngắt ngọn còn nên công
gì.
Công anh đánh đá xây tường,
Để ai đóng oản dâng hương chùa
này.
52. Cởi áo ra lựa sáo mà bặn,
anh ra về,
Cho em dặn làm ri. Ví dầu em có
lâm nguy
Cũng theo nhau cho trọn, chớ dứt
nghĩa em đi mà tồi tàn.
53. Củi đậu nấu đậu ra dầu,
Lấy mình không đặng, đây qua cạo
đầu đi tu.
54. Cha đời con gái xứ Đông,
Ăn trộm tiền chồng mua khố cho
trai.
Cha đời con gái xứ Đoài,
Ăn trộm tiền mẹ mua khoai cho chồng.
55. Chàng đừng có lóng trong
gạn đục,
Thiếp giao tình bằng phẳng như
cưa.
Giữ cho tròn tình nghĩa sau xưa,
Cũng như anh thợ mộc liệu vừa rập
khuôn.
56. Chàng về Vạn-hoạch chàng
ơi !
Con thơ bỏ đói ai nuôi cho chàng
?
57. Chàng ơi phụ thiếp làm
chi,
Thiếp như cơm nguội để khi đói
lòng.
58. Chẳng ưa dưa khú bầu
già,
Trước còn đằm thắm, sau ra nhạt
nhùng.
59. Chém cha cái thói lần khần,
Thấy chồng yêu xỏ chân lỗ mũi.
Chửa chết đã thối,
Chửa giàu đã lấy.
B… làm then cửa.
Thôi đừng bắc bực làm cao,
Phèn chua anh đánh nước nào cũng
trong.
60. Chê anh, lấy đấy sao
đành,
Em chê cam sành, lấy phải quít
hôi.
Quít hôi bán một đồng mười,
Cam ba đồng một, quít ngồi trơ
trơ.
61. Chỉ tơ đứt mối thình
lình,
Thương chưa phỉ dạ mà tình dứt
xa.
62. Chiều chiều mây phủ đá
bia,
Đá bia mây phủ, chị kia mất chồng.
Mất chồng đây chẳng có lo,
Sợ có mất vợ nằm co một mình.
63. Chiều nay người nghĩa xa
anh,
Chim sa cá lụy, kiểng đương xanh
vội tàn.
64. Chiều nay tôi cắt cổ gà
vàng,
Để chi khuya nó gáy, hai đàng biệt
ly.
65. Chim kêu chíp chíp trên
mái nhà,
Đây ta không muốn sao đó đà cứ xuống
lên.
66. Chín con chưa gọi rằng
chồng,
Cơm chẳng lành, canh chẳng ngon.
Dầu cho chín đụn, mười con cũng
lìa.
67. Chồng gì anh, vợ gì tôi,
Chẳng qua là cái nợ đời chi đây.
Mỗi người một nợ cầm tay.
Đời xưa nợ vợ, đời nay nợ chồng.
68. Chợ chiều nhiều khế ế
chanh,
Nhiều cô gái lạ nên anh chàng
ràng.
69. Chợ Sài-gòn cẩn đá,
Chợ Rạch-giá cẩn xi-moong.
Chúc em ở lại vuông tròn,
Anh về xứ sở chắc không còn trở
vô.
70. Chơi hoa cho biết mùi
hoa,
Khi tươi thì hái, thì tàn quăng
đi.
71. Chúa tàu mở hội bên Ngô,
Cớ sao bóng phướn sang chùa
An-nam.
Thà rằng chẳng biết cho cam,
Biết ra kẻ Bắc, người Nam thêm sầu.
Cột buồm mà nghĩ cây cau,
Thấy thuyền thúng nát, nghĩ tàu
thằng Ngô.
Còn tàu, tàu bán vải sô,
Tàu về mới biết xi xô bạc tình.
72. Chung quanh những chị em
người,
Giữa chùa Non-nước một tôi với
chàng.
Dù chàng mà có yêu đương,
Thì chàng đắp điếm trăm đường đi
cho.
Yêu chán, sợ chàng lại no,
Rồi khi ngúng ngẩy biết nhờ cậy
ai.
73. Chữ trinh đáng giá ngàn
vàng,
Từ anh chồng cũ đến chàng là năm.
Còn như yêu vụng nhớ thầm,
Họp chợ trên bụng đến trăm con
người.
74. Chữ đề vô đá lâu phai,
Đêm nằm nghĩ lại coi ai bạc tình.
75. Chửa quen, đi lại cho
quen,
Tuy rằng cửa đóng mà then không
cài.
Kẻ khinh, người trọng vãng lai,
Song le cũng chửa có ai bằng
lòng.
76. Dậm chân đấm ngực kêu trời,
Vợ chồng chưa mấy năm trời lại
xa.
77. Dẫu rằng đá nát vàng
phai,
Ba sinh phải giữ lấy lời ba sinh.
Duyên kia có phụ chi tình,
Mà toan xẻ gánh chung tình làm
hai.
Bây giờ người đã nghe ai,
Thả chông đường nghĩa, rắc gai lối
tình.
Nhớ lời hẹn ước đinh ninh,
Xa xôi ai có thấu tình chăng ai ?
78. Đau tương tư uống thuốc
bạc trăm,
Không thấy người nghĩa tới thăm
chút nào.
79. Đất láng quyên tự nhiên
cỏ mọc,
Bởi mang chữ nghèo bạn ngọc có
đôi.
80. Đầu đường có một cây
dúi,
Cuối đường có một cây da,
Làm chi tội nghiệp, bỏ qua sao
đành ?
81. Đem em ra bỏ xuống gành,
Kéo neo mà chạy sao đành anh ơi !
82. Đêm khuya hoài vọng chờ
ai,
Bạn lang dứt mối bao giờ không
hay.
83. Đêm qua vật đối sao dời.
Tiếc công gắn bó, tiếc lời giao
đoan.
Đêm qua rót đọi dầu đầy,
Bấc non chẳng cháy, oan mày dầu
ơi !
Đêm qua rót đọi dầu vơi,
Bấc non chẳng cháy, dầu ơi oan
mày !
84. Đèn nào cao bằng đèn ông
Chánh,
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông.
Anh thương em từ thuở mẹ bồng.
Bây giờ khôn lớn lấy chồng bỏ
anh.
85. Đó gắn tình, tôi lại gắn
công ;
Mình có chồng, tôi tức quá, uổng
công tôi chờ.
86. Đố ai đốt cháy ao bèo,
Để ta gánh đá Đông-triều về ngâm.
Bao giờ cho đá mọc mầm,
Thì ta kết nghĩa tri âm với nàng.
87. Đôi chim se sẻ ăn rẽ đường
cày,
Đôi đứa ta thương vội ít ngày rồi
thôi.
88. Đồng tiền Vạn-lịch thích
bốn chữ vàng.
Anh tiếc công anh gắn bó với cô
nàng bấy lâu.
Bây giờ cô lấy chồng đâu ?
Để anh giúp đỡ trăm cau, ngàn
vàng.
Năm trăm anh đốt cho nàng,
Còn năm trăm nữa giải oan lời thề,
Xưa kia nói nói, thề thề,
Bây giờ bẻ khóa, trao chìa cho ai
?
Bây giờ nàng đã nghe ai,
Gặp anh ghé nón chạm vai chẳng
chào ?
89. Đồng tiền, chiếc đũa
phân ly,
Xa anh vì bởi sợi chỉ điều xe
lơi.
90. Đứng gần bên anh đôi chuỗi
lên màu,
Trách lòng người nghĩa ham giàu bỏ
em.
91. Đứt dây gỗ nên mới chìm,
Bởi anh ở bạc em tìm nơi xa.
92. Em là con gái Đường
Trong,
Em đi thuyền dưới, mất lòng thuyền
trên.
Ba năm ăn ở thuyền trên.
Bởi anh hàng muối cho nên mặn mà.
Xuống thuyền dịp bảy, dịp ba,
Trách anh hàng trứng ở ra đôi
lòng.
Con sông Thương nước chảy đôi
dòng,
Đèn khêu đôi ngọn, anh trông ngọn
nào ?
Muốn tắm mát thì lên ngọn con
sông Đào,
Muốn ăn sim chín thì vào rừng
xanh,
Đôi tay vít cả đôi cành,
Quả chín thì hái, quả xanh thì đừng.
Ba bốn năm nay ăn ở trên rừng,
Chim kêu, vượn hú, nửa mừng, nửa
lo.
Trót sa chân lỡ bước xuống đò,
Gieo mình xuống sập những lo cùng
phiền.
Chợ tỉnh Đông một tháng sáu
phiên,
Gặp cô hàng xén kết nhân duyên vừa
rồi.
Cái gánh hàng đây, những quế cùng
hồi,
Có mẹt bồ kếp, có nồi phèn chua.
Bó hương thơm xếp để bên bồ,
Trần bì, cam thảo, sài hồ, bàng
liên.
Hàng em đáng giá bao nhiêu tiền ?
Để ta xếp vốn, ta liền buôn
chung.
Buôn chung, ta lại bán chung,
Được bao nhiêu lãi ta cùng chia
nhau.
93. Em đương bắc nước sôi
sôi,
Nghe anh có vợ, quăng nồi đá
vung.
94. Em nhớ ngày nào bên ao
cá lội.
Anh chỉ, anh thề không lỗi nghĩa
keo sơn.
Mà giờ đây anh đã sang giàu,
Anh quên đi lời hứa buổi ban đầu
cùng em.
95. Em đi đâu, đào liễu một
mình,
Để ai nặng khối chung tình trong
tâm ?
Đêm qua vắng khách tri âm,
Vắng hoa luống những âm thầm cỗi
cây.
Đêm đêm ngồi tựa cành cây,
Than thân với bóng, bóng rày bóng
chẳng có thương.
96. Em một khuyên anh bớt thảm,
Hai khuyên đó giảm sầu,
Ba khuyên anh bớt buồn rầu,
Hãy kiếm nơi cầm sắt nối cơ cầu về
sau.
97. Em đương dệt chiếu hồi
văn,
Nghe anh có vợ, em quăng con chuồi.
98. Gánh nặng mà đi đường
dài,
Để anh gánh đỡ một mai nên chồng.
Gánh thời chị lại trả công,
Mặt em chả đáng làm chồng chị
đâu.
99. Gặp nhau từ bến Phú-nhi,
Chẳng đi thì nhớ, đi thì uổng
công.
Gặp nhau từ bến Đại-đồng,
Quên nhau hay đã có chồng mà quên
?
100. Gặp mặt anh đây, em
quên hỏi, quên chào,
Hay là em có nơi nào bỏ anh ?
Thỏ giỡn trăng như sơn băng thủy
kiệt,
Anh bỏ nàng nhật nguyệt xét soi.
101. Gặp tôi, không hỏi,
không chào,
Hay là bạn có chốn nào phụ anh ?
102. Gió đưa ngọn cỏ phất
phơ,
Ngọn cờ phơ phất,
Nồi đồng sôi, nồi đất cũng sôi,
Đũa bếp có đôi,
Chìa vôi lẽ bạn,
Mà anh sao đành đoạn bỏ em ?
103. Gió nam non thổi lòn
hang chuột,
Nghe em có chồng anh đứt ruột, đứt
gan.
Gió vàng hiu hắt đêm thanh,
Đường xa dậm vắng, xin anh đừng về.
Mảnh trăng đã trót lời thề,
Làm chi để gánh nặng nề riêng ai.
104. Gió chiều thổi héo ngọn
dừa.
Dứt tình tại bạn em chưa tiếng
gì.
105. Gió đưa trăng, trăng
thanh vằng vặc,
Trăng đưa gió, gió mát hiu hiu…
Ngày rày anh được chỗ tân yêu,
Nghĩa nhơn hồi trước em kêu thấu
trời !
Uổng công em cặn kẽ mấy lời…
Uổng công trao thuốc, trao trầu,
Uổng công nóng lạnh nhức đầu em
thăm.
Uổng công mang tiếng mang tăm,
Uổng công lụm cụm ba bốn năm với
chàng.
Hồi nào ngăn ngả đón đàng,
Bây giờ hỏi thiệt bạn vàng thương
ai ?
106. Hai đứa mình dứt điệu
tình thương,
Giả như Kim Trọng dứt tình thương
Thúy Kiều.
107. Hai tay cầm hai quả hồng,
Quả chát phần chồng, quả ngọt phần
trai.
Nằm đêm vuốt bụng thở dài,
Thương chồng thì ít, nhớ trai thì
nhiều.
108. Hồi nào một gối đôi đầu,
Bây giờ bỏ thảm, bỏ sầu cho anh.
109. Hồi nào một gối kề
lưng,
Bây giờ khác thể người dưng sao
đành.
110. Hỡi thằng cu bé ! hỡi
thằng cu lớn !
Cu tí, cu tị, cu tì ơi !
Con dậy, con ăn, con ở với ông,
Để mẹ đi lấy chồng kiếm lấy em
con.
111. Hỡi thằng cu lớn ! Hỡi
thằng cu bé !
Cu tí, cu tị, cu tỉ, cu tì ơi !
Con dậy, con ăn, con ở với bà,
Để mẹ đi kiếm một vài con thêm.
Bố con chết đi, trong bụng mẹ
đây, nó hãy còn thèm.
Mẹ xem quẻ bói, vẫn còn đàn em
trong bụng này.
Con ra gọi chú vào đây,
Để mẹ giao trả cái cơ nghiệp này
mẹ bước đi.
112. Hỡi cô ! vết chiếu rành
rành,
Chén son chưa cạn mà tình đã vơi.
113. Kẻ chồng còn đó trơ
trơ.
Cùng người khác đã đợi chờ tình
chung.
Kẻ thời mới khuất mặt chồng,
Chưa xanh ngọn cỏ cải dong biến
nghì.
114. Khăn anh nàng lấy vá
vai,
Bây giờ nàng đã nghe ai dỗ dành ?
Chẳng nên ra, tháo chỉ lấy mụn trả
anh.
Để anh đem bán lấy hai trăm vàng.
Một trăm anh đưa cho nàng,
Còn một trăm nữa để chàng treo ngọn
cây đa.
Chớ em không nhớ lời nguyện cùng
ta,
Sông có Nhị-Hà, núi có Tản-Viên.
Còn bây giờ, nàng ở thế sao nên.
Tôi khấn quan Nam-tào, Bắc-đẩu
biên tên đành rành.
115. Khi xưa anh ở cùng ai,
Bây giờ đặng chiếc thuyền hai phụ
đò.
Khi xưa anh ở cùng đò,
Bây giờ đò lủng, anh mò thuyền
nguyên.
116. Khi xưa nói nói, thề thề,
Bây giờ bẻ khóa lộn chìa sao
đang.
117. La hời, la hỡi, la hơi
!
Ai lên nhắn khách nguồn đào,
Nghĩa xưa còn nhớ chút nào hay
chăng ?
La hời, la hỡi, la hơi,
Bây giờ đến cảnh Đào-nguyên,
Bao nhiêu là một con thuyền tiễn
đưa.
La hời, la hỡi, la hơi !
118. Lạ lùng anh mới tới
đây,
Lạ thung, lạ thồ, anh nay lạ
nàng.
119. Lắm con thêm bận nhà
hàng,
Lắm nơi lịch sự hơn chàng, chàng
ơi !
Chàng thôi, thiếp cũng xin thôi,
Hồ sen tát cạn ai hôi mặc chàng.
120. Lầu nào cao bằng lầu
ông Chánh,
Bánh nào trắng bằng bánh bò bông.
Thương em từ thuở má hồng,
Bây giờ em lớn có chồng bỏ anh.
121. Liệu bề thương đặng thời
thương ;
Đừng trao gánh nặng giữa đường
cho anh.
122. Lòng anh còn đợi còn chờ,
Sao em dứt nghĩa bao giờ không
hay.
123. Lỡ khi ăn miếng trầu
xanh,
Đêm lo ngày sợ mặt xanh như chàm.
124. Lửa vùi cho ấm lòng lư,
Bậu nghe lời thả, bậu từ nghĩa
anh.
125. Mình đừng ham phú phụ bần,
Tiền tài ăn hết, nghĩa châu trần
còn thương.
126. Mình đừng đặng cá quên
nơm,
Đôi ta gá nghĩa danh thơm ở đời.
Cóc nghiến răng còn động lòng trời,
Sao mình chẳng tưởng mấy lời tôi
than ?
Đờn tranh dây xế, dây xang,
Anh còn thương bạn, bạn khoan lấy
chồng.
127. Một tấm thanh tre là
nghĩa,
Một chiếc chiếu là tình,
Bấy lâu nay em thương bóng nhớ
hình,
Bây giờ em hỏi thiệt anh có
thương mình hay không ?
128. Muốn người ta, người ta
không muốn,
Xách lồng đèn đi xuống đi lên.
129. Nào khi gánh nặng em chờ,
Qua truông em đợi, bây giờ phụ
em.
130. Nào em phụ nghĩa bỏ chồng,
Bởi chưng Nguyệt lão mối chỉ hồng
xe lơi.
131. Nay chừ anh đã nghe ai,
Bỏ em giữa chốn non đoài thảm
chưa ?
132. Nói ra té lẽ anh bày,
Em thương chồng hai mươi chín bữa
để một ngày thương anh.
133. Nói thương mà ở chẳng
thương,
Đi đâu nỡ bỏ buồng hương lạnh
lùng.
134. Nước ròng bỏ bãi xa cừ,
Gặp em hỏi thử sao từ ngỡi nhân !
Ngỡi nhân mỏng dánh tợ như cánh
chuồn chuồn.
Khi vui nó đậu, khi buồn nó bay.
135. Nước sông còn đỏ như
vang,
Nhiều nơi lịch sự hơn chàng,
chàng ơi ?
136. Nước sông còn đỏ như
vang,
Nhiều nơi lịch sự hơn nàng, nàng
ơi,
Nước sông cuồn cuộn chảy xuôi,
Có con cá diếc đỏ đuôi theo mồi.
137. Nước lên khỏi bực tràn
bờ,
Thương thì nói vậy, biết chờ đặng
không ?
Đặng không tôi cũng gắng công,
Chừng nào ao cá hóa rồng sẽ hay,
138. Nước mắm chanh dành ăn
bánh hỏi,
Qua thương nàng theo dõi mấy năm.
Cớ sao vắng bặt tin thâm,
Hay là thục nữ có tầm nơi nao ?
139. Ngày nay hỏi gấp con bạn
mình,
Còn thương như cũ, hay là hết
thương ?
140. Nghĩ con cá lý ngư cũng
như thân thiếp,
Chờ cho mãn kiếp tu được hóa rồng,
Thôi anh đừng mong vợ mong chồng,
Để cho em xa lánh bụi hồng gió
trăng.
141. Nghiêng tai hỏi nhỏ con
bạn vàng,
Còn thương như cũ hay nàng hết
thương.
142. Nhớ lời nguyện ước ba
sinh,
Xa xôi ai có biết tình chăng ai ?
Khi về nhắn liễu chương đài,
Cành xuân đã bẻ cho ai một cành,
Có yêu anh thì bẻ quách cho anh.
143. Nhức đầu đặt lá tiền
sanh,
Tội trời tôi chịu, thương anh hơn
chồng.
144. Nhứt ngôn trúng, vạn
ngôn dung,
Nhứt ngôn bất trúng, vạn sự bất
thành.
Em không có dạ gạt anh,
Nỡ nào em trao thảm cho đành dạ
em.
145. Oan ức tấm tức đánh ngực
kêu thừng,
Người thương tôi trở dạ, khổ vô
chừng bạn ơi !
146. Ông Tô-tử lên chơi đỉnh
núi,
Thấy hai vợ chồng con chim chích,
Chín tháng mười ngày, đủ cánh mọc
lông.
Vợ để con cho chồng, bay đi kiếm
chác,
Lạ thung thổ, mồi thời không được,
Bước chân ra về thấy nhện giăng
tơ.
Mảng vui chơi bắt nhện, nào ngờ,
Khí âm tối, hoa sen cụp lại,
Chồng thì mong, con thì bỏ đói,
Hét dỗ đứng dỗ ngồi, ra ngõ liền
trông.
Kìa kìa gái bốn năm con,
Ở chửa thực lòng chồng.
Hãy còn đang say đắm về bên huê
nguyệt.
Tôi thề trời xanh nước biến,
Núi non thề với nước non,
Nào ai phụ rẫy chồng con đã trời.
147. Ới anh ơi ! anh có xa
thì xa cho mất,
Anh có lại gần thì cho thành thất
thành gia.
Em khuyên anh đừng lại lại qua
qua.
Một mai kia thầy mẹ biết đặng
đánh la tụi mình.
148. Phải chi lên được trên
trời,
Mượn gươm Hoàng-đế giết người bạc
ân.
149. Phải gần năm ngoái cũng
gần,
Năm nay vái miễu cúng thần cũng
xa,
150. Qua cầu, cầu yếu phải
nương,
Ta nghe bạn cũ hết thương mình rồi,
Ta nghe bạn cũ có đôi,
Trong mình nóng nảy như vôi mới hầm.
Nắm tay bạn cũ khóc thầm,
Ngày rày quế nọ xa trầm, trầm ơi
!
151. Ra về răng đứt mà về,
Bỏ non, bỏ nước, bỏ lời thề cho
ai.
152. Ra về nguyệt lặn sao
thưa,
Dứt tình tại bậu, qua chưa tiếng
gì.
153. Ra đường trông thấy tơ
người,
Về nhà trông thấy chỉ tôi, tôi buồn.
Buồn thì cất gánh đi buôn,
Một vốn bốn lãi, anh buồn làm
chi.
154. Rau muống bắt cuống rau
răm,
Làm chi đến nỗi chàng cầm cổ tay.
Xin chàng hãy bỏ tay ra,
Đến mai về cửa, về nhà sẽ hay.
Chàng đừng cầm lấy cổ tay,
Khi xưa cành mận, khi nay cành
đào.
155. Rắn đứt đầu, rắn sầu
không chạy,
Chim đứt cánh, chim chẳng biết
bay.
Từ ngày anh xa con bạn đến nay,
Cơm ăn chẳng đặng, áo gài hở bâu.
156. Rút gươm linh đậm họng
máu trào,
Để cho mình kiếm chỗ sang giàu kết
đôi.
157. Sáng ngày ra đứng cửa
Đông,
Bói xem một quẻ lộn chồng được
chăng ?
Ông thầy gieo quẻ nói rằng :
« Lộn thì lộn được, nhưng năng phải
đòn »
- Mồ cha đứa có sợ đòn,
Miễn rằng lấy được chồng dòn thì
thôi.
158. Sáng trăng suông vằng vặc
cái đêm hôm rằm,
Nửa đêm và sáng trăng bằng ngọn
tre.
Em trót yêu anh cho trọn một bề,
Để anh thấp thoáng ngồi kề bóng
trăng.
Cái sự tình này ai thấu cho
chăng,
Để anh ngồi tựa bóng ông trăng chịu
sầu.
Gánh tương tư một nhịp đôi ba cầu,
Bắc nam đôi ba ngả chịu sầu đôi
ba nơi.
Con chim khôn chết mệt về mồi,
Nó kêu réo rắt ghẹo người tình
chung.
Hai chúng ta vấn vít sợi tơ hồng.
159. Sông sâu sào vắn khó
dò,
Muốn qua thăm bậu sợ đò không
đưa.
160. Sông Mơ, sông Mận, sông
Đào,
Ba ngọn sông ấy chảy vào tuần ti.
Tôi trót yêu anh bụng dạ phát
phì,
Thuốc thang đâu khỏi anh thì bảo
tôi.
161. Sông bên này anh lập
chùa Tân-thiện,
Sông bên kia anh lập cái huyện
Hà-đông,
Cái huyện Hà-đông để cho Bao-Công
xử kiện.
Cái chùa Tân-thiện nhiều kẻ tu
hành,
Bạn mình ơi, chim kêu dưới suối
trên nhành.
Qua không bỏ bậu, bậu đành bỏ
qua.
162. Sông sâu cá lặn mất
tăm,
Chín tháng cũng đợi, một năm cũng
chờ.
Sông sâu cá lặn vào bờ,
Lấy ai thì lấy, đợi chờ ta chi.
163. Sông Thương nước chảy
đôi dòng,
Trai quên vợ, gái quên chồng, thì
lên.
164. Sớm mai ra đứng ngõ
sau,
Hai tay dủi xuống như tàu te.
Tiếc công vun quét cây mè,
Mè chưa ra trái, chim hòe đậu
lên.
Tiếc công lên xuống, xuống lên,
Mòn dàng chết cỏ không nên sự
tình.
165. Tay em cầm đôi đũa nhỏ,
Gắp than lửa đốt bỏ độ bài qui.
Chuyện cũ rồi anh nhắc lại làm
chi ?
Anh thấy em nghèo khổ lánh đi tìm
giàu.
Đói cơm, no bữa cơm rau,
Nghèo thời có nghĩa hơn giàu bạc
ơn.
166. Tiếc công chuốt ná lau
tên,
Nhạn bay về đền công uổng danh
hư.
167. Tiếc công đóng giá chờ
gàu,
Đó đà phụ khó tham giàu thì thôi.
168. Tiếc công anh chẻ nứa
đan lờ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi.
169. Tiếc công lao đào ao thả
cá,
Ba bốn năm trời người lạ tới câu.
170. Tiếc công lao đào ao thả
cá,
Năm bảy tháng trường người lạ đến
câu.
171. Tiếc công xe nhợ uốn
cây cần,
Xe rồi sợi nhợ, con cá lần ra
khơi.
172. Tìm em như ná tìm chim,
Em đi phương Bắc, anh tìm phương
Nam.
173. Tiết Nhơn Quý lấy
Ma-thiên-lãnh,
Lấy Bạch-giáp, Bạch-bào,
Em gặp mặt anh không hỏi không
chào,
Hay là em có chốn sang giàu hơn
anh.
174. Tôi ở cùng mẹ cùng cha,
Mẹ cha nâng giấc như hoa trên
cành.
Bây giờ tôi ở cùng anh,
Anh tham nhan sắc anh đành phụ
tôi.
175. Từ phen ra tới giang
tân,
Sớm theo dặm tuyết, đêm lần ngàn
mưa.
Tiếc công anh chứa nước đan lơ,
Để cho con cá vượt bờ nó đi !
176. Từ đây anh ôm chịu thất
tình,
Dựa mai mai gãy, dựa huỳnh huỳnh
xiêu.
177. Từ khi anh thọ lãnh chữ
vàng,
Giao cha cũng mẹ cho nàng dưỡng
nuôi.
178. Tưởng rằng khăn trắng
mà xinh,
Ai ngờ khăn trắng có tình với
trai.
179. Thấy em chữ nghĩa văn
chương,
Buộc lời hỏi bạn lộ dương ai trồng.
- Mình không thương hỏi việc bao đồng,
Lộ dương ông Chánh biểu dân trồng
chứ ai.
180. Thề thì thề gái thề
trai,
Thề đâu chết đó mà ai dám thề.
181. Thiếp liền đòn gánh đôi
quang,
Bán buôn nuôi mẹ, chàng sang mặc
chàng.
182. Thương nhau cau sáu bổ
ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra thành mười.
183. Trách ai đem lửa đốt
nguồn,
Cho tro buông xuống, cho buồn dạ
em.
184. Trách ai biên giấy bỏ
bìa,
Khi thương, thương vội, khi lìa,
lìa xa.
185. Trách người quân tử bia
danh,
Chơi hoa rồi lại bẻ nhành bán
rao.
186. Trăng thanh nguyệt rặng
mái đình,
Chén son chưa cạn, sao tình đã
quên.
187. Trăng lên khỏi núi,
Trăng mắc bụi duối con trăng lờ.
Em biết anh mấy tuổi đợi chờ thất
công.
188. Trăng lu vì bởi áng
mây,
Đôi ta cách trở vì dây tơ hồng.
189. Trèo lên cây khế nửa
ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi !
190. Trèo lên cây khế nửa
ngày
Ai làm chua xót lòng này khế ơi !
Mặt trăng sánh với mặt trời,
Sao hôm sánh với sao mai chằng chằng.
Mình ơi ! Có nhớ ta chăng,
Ta như sao Vượt chờ trăng giữa trời.
191. Trên cây lê dưới vịn
cây đào,
Ba bốn nơi người nghĩa, bên nào
cũng thương.
192. Trên trăng dưới nước
anh giao ước một lời,
Dầu trăng lờ nước cạn, anh mấy đời
phụ em.
193. Trời sanh đầu tóc gá
nghĩa với tóc mai,
Mình xa tôi, tôi gá nghĩa với ai
bây giờ ?
194. Trời cao lộng lộng, đất
rộng thinh thinh,
Tôi không có dạ phụ mình,
Bởi anh trước bạc, phụ tình ngãi
xưa.
195. Trời mưa vần vũ,
Tình cũ xa rồi,
Biết ai nương dựa lần hồi tấm
thân.
196. Trông ra bụi chuối lá
tre,
Em nghe ai dụ đánh què duyên anh.
197. Trống sang canh giờ nầy
sao vội điểm.
Lệ lưng tròng chàng hỡi có biết
không ?
198. Trước sao đằm thắm muôn
phần,
Nay sao đểnh đoảng như cần nấu
xuông.
199. - Ước gì anh hóa được
con kiến vàng,
Bò lên cổ bậu dạo đàn lê viên.
- Ước gì em hóa được con kiến
hôi,
Bò lên đái xuống cho trôi kiến
vàng.
200. Vàng mười vô lửa nào
phai,
Anh nằm đêm anh nghĩ lại coi ai bạc
tình.
Chuông nhà thờ nghe đổ tiếng mười,
Rạng mai đây phân rẽ, em cười nỗi
chi.
Vật bạc tình bất thủ, nhơn phi
ngãi bất giao,
201. Anh nguyền thưởng bậu một
dao,
Răn người lòng mận, dạ đào liếu
lăng.
202. Vắng sao hôm, có sao
mai,
Vắng chàng thiếp đã có trai ở
nhà.
203. Vắng trăng thì đã có
sao,
Vắng hoa thiên lý, có đào nhị
tiên.
204. Vì ai nước mắt sụt sùi.
Khăn lau không ráo, áo chùi không
khô.
205. Ví dầu tình bậu muốn
thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Bậu ra cho khỏi tay ta,
Cái xương bậu nát cái da bậu bầm.
206. Ví dầu tình bậu muốn
thôi,
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra.
Bậu ra bậu lấy ông câu,
Bậu câu cá bóng chặt đầu kho
tiêu.
Kho tiêu bỏ ớt bỏ hành,
Kho ba lượng thịt để dành em ăn.
207. Vị gì một bát cháo
lòng,
Làm cho thiên hạ bỏ chồng theo
trai.
208. Vô duyên mua phải gương
mờ,
Bao giờ gương vỡ mà mua gương
lành.
209. Vợ chồng như bát nước
tràn đầy,
Trách ai nghiêng đổ để sầu tây
cho mình.
210. Vợ anh như ngọc như
ngà,
Anh còn tình phụ, nữa là thân
tôi.
Vợ anh như thể dĩa xôi,
Anh còn phụ bạc, nữa tôi cơm đùm.
211. Xa xôi còn gởi thơ về,
Huống chi đây đó không hề viếng
thăm.
212. Yêu nhau yêu cả bàn
chân,
Ghét nhau ghét cả tông nhân họ
hàng.
213. Yêu nhau xé lụa may quần,
Ghét nhau kể nợ kể nần nhau ra.
III. PHẢN ỨNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI
LẼ SỐNG
Qua hai phần trên (Bản năng tự tại
và Liên quan giữa đời sống vật chất, tinh thần) mặc dù chúng ta đã xuyên qua mọi
ảnh hưởng từ nội thức đến ngoại năng, nghĩa là chúng ta đã đem tâm tư con người
đặt trước mọi biến chuyển của ngoại vật. Tuy nhiên, chiều hướng khảo sát của
chúng ta chưa đặt nặng về trạng thái phản ứng. Trong phần này chúng ta mới phân
tích rõ ràng hơn để tìm một định hướng trong quan niệm nhân sinh của người bình
dân.
Sài Gòn, 1/7/1969
Nguyễn Tấn Long - Phan Canh
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét