Chủ Nhật, 1 tháng 2, 2026

Thi ca bình dân Việt Nam 5 XXXXXX

Thi ca bình dân Việt Nam 5

Trạng thái phản ứng là gì?

Nó là sự khắc khoải, ưu tư, hằn học, bất mãn của tâm hồn chúng ta trước lẽ sống xã hội loài người.

Thế hệ chúng ta ngày nay cũng như những thế hệ tự nghìn xưa, cuộc sống loài người chẳng bao giờ đem đến cho chúng ta những thỏa mãn. Vì vậy trải qua dòng lịch sử của loài người, chẳng lúc nào tâm hồn con người không có những trạng thái phản ứng.

Trạng thái phản ứng lại không giống nhau, tùy thuộc vào tính chất mâu thuẫn của từng thế hệ. Nếu tự ngàn xưa chúng ta đã nghe tiếng rên than của lớp người chân lấm tay bùn sống trong đầu non hóc núi, tiếng hằn học nơi cửa các lầu son của những bậc phong lưu vì công danh chẳng đạt được, giọng sầu bi của những nhà thơ vì chán đời xem cuộc sống như một vũng bùn lầy… thì đó là những trạng thái phản ứng của con người trước lẽ sống. Họ phản ứng vì cuộc sống không đem lại những ước mơ của lòng họ. Họ phản ứng vì họ thấy cuộc sống đã đem đến cho họ những mất mát.

Chúng ta có thể tìm thấy trong đó hai trạng thái : tích cực và tiêu cực. Trạng thái tiêu cực là trạng thái ép mình chịu đựng những tiếng rên than, khắc khoải, ưu tư. Trạng thái tích cực là trạng thái phá phách chống đối, gây xáo trộn trong bánh xe lịch sử của xã hội loài người.

Thế hệ chúng ta, thế kỷ hai mươi, trước mắt, chúng ta đã chứng kiến một tiềm năng phản ứng, khủng khiếp của con người đối với cuộc sống. Tiềm năng phản ứng ấy là kết tinh của một khúc quanh lịch sử mà bên trong chứa đầy bất công mâu thuẫn trong guồng máy xã hội.

Chúng tôi xin trích những đoạn văn đối thoại giữa hai lớp trẻ và già đã sống và đang sống trên mảnh đất Việt-nam để chứng minh điều đó. Hai đoạn văn này cũng là hai trạng thái tâm tư đúc kết thành tiềm năng phản ứng trước cuộc sống đương thời.

« …Cũng như những người trong lớp tuổi các anh, các anh trách chúng tôi, lứa tuổi đôi mươi, là những thiêu thân của xã hội…

Các anh, nói chung đã không tiếc lời nhục mạ với đủ danh từ : cao bồi, du thủ du thực, đàng điếm, mất dại, không lý tưởng, non nớt, không tương lai, v.v…

Phải, chúng tôi là những người đó, và chúng tôi bằng lòng chấp nhận với nụ cười, không bào chữa.

Không hãnh diện sao được khi chúng tôi biết sống cho chúng tôi, sống với thế hệ trẻ trung, để toàn nhựa sống vào lẽ sống ?

Ô ! Các anh tự hào là lớp người lớn tuổi, mang một mớ kinh nghiệm, hiểu đời, khôn ngoan, nhìn chúng tôi như những ung nhọt.

Được, các anh cứ nhìn chúng tôi với đôi mắt khinh bỉ đi. Chúng tôi không cần các anh chị nói đến chúng tôi, không cần những cái mà các anh gọi là « kinh nghiệm, khôn ngoan, hiểu đời… » Những cái đó không quan hệ gì cho lẽ sống chúng tôi cả.

Các anh đừng bắt chúng tôi phải sống cho các anh. Chúng tôi là tuổi trẻ, là tự do, là hồn nhiên, chúng tôi có quyền sống cho chúng tôi, sống cho tất cả nghĩa sống của nó.

Các anh bảo chúng tôi phải học theo khuôn sáo khôn ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời của các anh ư ? Để làm gì ? Nếu không phải cúi đầu, ép mình làm nô lệ, đúc kết thành cái vỏ đạo đức bề ngoài, mà bên trong chứa đầy thối tha mục nát…

Chúng tôi xin nhắc lại : « Tuổi trẻ chúng tôi không cần những cái đó ». Các anh cứ để cho chúng tôi được sống. Trả lại hồn nhiên cho chúng tôi ! Các anh là những người đã chết. Thế giới các anh là thế giới nghĩa địa. Chúng tôi không buộc người chết phải sống lại, thì các anh cũng đừng buộc người sống phải chết theo mình.

Các anh « đã chết » vì các anh không còn « sức sống ». Chỉ có chúng tôi là kẻ đang sống. Và chỉ có người sống mới hòa vào xã hội những nguồn sinh lực mới lạ, vui tươi, dồi dào, mãnh liệt.

Còn nói đến lý tưởng… thì lý tưởng gì ? Có phải cúi mình khép nép để bảo vệ lấy thân hình thấp thỏi, nhỏ bé, để chịu nô lệ cho chén cơm manh áo nhục nhã.

Chúng tôi không cần lý tưởng. Không cần đặt một ảo vọng giả dối để lừa gạt mình. Chúng tôi sống cô đơn thật, nhưng lẽ sống chúng tôi hồn nhiên, trọn vẹn… Con người hồn nhiên không cần lý tưởng.

Mái nhà Việt-nam đang sụp đổ, đất nước Việt-nam đang ngửa nghiêng, mang đầy thương tích. Nơi rừng hoang, núi thẳm, và khắp nơi, máu của tuổi hai mươi đang chảy. Các bạn chúng tôi đang thay nhau ngã gục. Những mái đầu xanh biến thành những nấm mồ trên khắp bãi tha ma.

Hỡi người Mẹ Việt-nam thiêng liêng ! Mẹ khóc đi ! Máu chúng con đang hòa trong lòng Mẹ ! Xương thịt chúng con đang đắp vào những vết tích thương đau của Mẹ do lớp người trước, lớp người hiện tại gây nên !

Các anh ! Các anh tự hào khôn ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời, lý tưởng, các anh đã làm được gì trong dĩ vãng và hiện tại ?

Dĩ vãng, các anh gây đau thương người Mẹ, để lại cho tuổi trẻ chúng tôi một điêu tàn ! Hiện tại, các anh thu mình vào nghĩa địa ma quái, trố mắt nhìn chúng tôi như những sinh vật thối tha, lạc lõng, nếu chúng tôi không xây đắp thêm ngôi nghĩa địa ma quái của các anh.

Lễ giáo, phong tục, đạo đức là gì mà các anh bắt chúng tôi phải theo ? Phải chăng những thứ ấy là một cỗ áo quan dùng để liệm người chết ?

Chúng tôi đang sống ! Các anh đừng đem liệm chúng tôi ! Các anh đã nằm vào đó, và chúng tôi đưa các anh đến nghĩa địa rồi.

Chúng tôi không muốn nhìn ngôi nghĩa địa của các anh, cũng như các anh khinh bỉ không nhìn đến chúng tôi đang chập chững trong mưa gió. Chúng tôi phải sống và giành quyền sống. Ngôi nhà đổ nát phải được dựng lại. Đồng cỏ xanh, bóng mát dịu, bướm đẹp hoa tươi phải có trong lòng đất Mẹ.

Chúng tôi phải đòi hỏi, phải xây dựng, phải tự mình đứng ra gánh vác với đôi vai mềm yếu, cô đơn, không mong ở các anh !

Các anh là những người chết ! Phải, chúng tôi đã lầm lạc, dại khờ hy vọng người chết xây đắp thế giới người sống ! Chúng tôi không đòi hỏi ở các anh một nghĩa vụ, thì các anh cũng đừng bắt chúng tôi phải chịu một trách nhiệm nào.

Chúng tôi sống cho chúng tôi !

Ngoài kia khắp nơi máu của tuổi chúng tôi đang đổ, đỏ ngòm và xối xả ! Tôi lại ngồi đây nói chuyện với người chết sao ? »

Trên đây là lời trách móc, hằn học, phản đối của lớp người trẻ, trong lứa tuổi hai mươi, và cũng là trạng thái phản ứng của họ khi họ đặt tâm tư trước cuộc sống. Họ oán trách lớp người đàn anh của họ, trong lứa tuổi bốn mươi, đã đem đến cho họ một cuộc sống điêu tàn, một xã hội đổ nát, một thảm trạng ê chề, trái ngược với ý muốn của họ.

Và dưới đây là lời đối thoại của lớp người đàn anh của họ, những người của lứa tuổi bốn mươi. Chính họ cũng là nạn nhân của lẽ sống, và lẽ sống cũng là yếu tố đưa tâm tư họ đến trạng thái khắc khoải, đau buồn :

« …Phải, chúng tôi là những người đã chết trong các em ! Tuổi các em lẽ ra phải yên hưởng hạnh phúc trên lòng đất Mẹ. Bàn tay chúng tôi, những người anh, lẽ ra phải tạo những dòng suối ngọt, những bóng mát dặm dài, những vườn hoa tươi, những con bướm thắm để các em hòa mình, nhởn nhơ trong nắng ấm, thì trái lại, các em phải đón những khổ đau, bi đát, hãi hùng ! Máu các em chưa phai mùi sữa đã phải đổ xuống ! Tuổi hồn nhiên các em đã rơi rớt từ thuở ngây thơ !

Các em hằn học, trách móc, gào thét, và tâm hồn các em « nổi loạn » ! Các em không muốn nói chuyện với chúng tôi, không cần tiếp xúc với những người anh của các em nữa !

Nhưng, các em ạ ! Hãy bình tĩnh ! Ngồi lại gần đây ! Tôi đã cảm thông sự giận dữ của các em rồi ! Tôi không buộc các em nghe những giáo điều, không dụ dỗ các em chui vào cỗ áo quan đâu.

Các em ạ ! Tôi rất sung sướng khi nhận thấy lòng các em còn thương Mẹ, còn nhận ra chúng tôi là anh, mặc dù các em không muốn nói chuyện với chúng tôi.

Các em không ngang ngạnh, bướng bỉnh, không hư hèn, hủ hóa. Các em với chúng tôi là dòng máu cùng một mẹ sinh ra, dù các em có ngảnh mặt đi, chúng tôi vẫn nhận được thực trạng tâm hồn và chân tướng của các em mà !

Nếu là hư hèn, thối hóa, các em không bao giờ nghĩ đến vết đau người Mẹ. Mà nghĩ đến Mẹ, các em không bao giờ từ bỏ chúng tôi, những người anh đã cùng ngậm chung một dòng sữa. Sở dĩ các em hủy hoại bản thân các em, làm cho tâm hồn các em trác táng, cuồng loạn, cũng chỉ để cho đã nư giận, cho vơi những hằn học đang nung đốt tâm can.

Thực chất các em không muốn thế ! Hình bóng các em chỉ là hình bóng giả tạo, các em cố gây ra những vết tích để oán ghét chúng tôi, những lớp người lớn tuổi đã bất tài, thiếu trí.

Nhưng chúng tôi đã đau đớn lắm rồi ! Các em đừng trách phạt chúng tôi nữa. Đừng hủy hoại những gì là của Mẹ đã sinh thành, ký thác vào tâm hồn, thể xác của các em, Mẹ đang cần sức sống của các em để hàn gắn lại vết thương, trả lại những gì đã mất mát.

Hỡi các em ! Các em là những mầm non đất nước. Trong người các em chứa đầy máu nóng. Sức sống rào rạt trong người các em là một nguồn sinh lực Việt-nam.

Dòng máu đang chảy trong huyết quản các em là dòng máu của Mẹ, của tiền nhân, của chúng tôi của các em của tương lai dân tộc. Nó là một tài sản, một sinh lực quí báu ! Người ta muốn hủy hoại, hoặc chiếm đoạt nó đi. Nhà tan cửa nát không quan ngại, chỉ ngại chúng ta bị tiêu diệt sức sống. Còn sức sống là còn xây dựng.

Chúng ta có thể chịu đau đớn, khổ cực đủ điều, nhưng không thể đánh mất nguồn sống của Việt-nam.

Chúng ta đã cằn cỗi, bao nhiêu sinh lực đổ dồn về các em. Các em như người đang nắm giữ lấy mạch sống của dân tộc, không nên lơ đãng để bị chiếm đoạt.

Chúng tôi rất đau đớn khi thấy các em bị mất mát ; vì các em là của chúng tôi. Tài sản các em là tài sản của chúng tôi. Nguồn sống của các em là nguồn sống Việt-nam. Chúng ta có nhiệm vụ bảo vệ trước kẻ cướp đoạt.

Nhưng, cái gì đã làm các em mất mát, cưỡng đoạt của các em ?

Nó là sự đồi trụy : Đáng lẽ sinh lực các em phải được đâm chồi, nẩy hoa, kết trái để tô điểm cho giang sơn gấm vóc, đem lại những dòng suối ngọt, những bóng mát rợp đường, những vườn hoa thơm ngát, thì các em đã tự hủy hoại nó đi bằng cách lao mình vào các cuộc truy hoan. Vì các em không thể sống trong cằn cỗi, trong cõi chết. Các em tự tìm cho nguồn sinh lực một lối thoát, nhưng là một lối thoát hiểm nghèo !

Các em đã sống trong cõi chết rồi ! Thể chất các em sớm tàn tạ, tinh thần các em bạc nhược, đôi mắt trong của các em không còn mơ màu suối, tóc xanh các em vàng úa ! Hình bóng ấy đâu phải hình bóng các em, hình bóng đích thực của Mẹ sinh ra các em. Đó là dấu vết thương tích do kẻ cướp đã hủy hoại thân xác các em để đoạt lấy nguồn sinh lực quí báu, phá vỡ tiềm năng sinh lực của tổ quốc thân yêu.

Nó là xa hoa, phung phí : Loài người cần có những phương tiện để sống, nhưng không phải để là nô lệ cho các phương tiện ấy.

Không, các em đừng nghĩ rằng chúng tôi đưa ra giáo điều buộc các em vào cái vỏ đạo đức muôn đời.

Chính cuộc sống hào nhoáng, giải dối bên ngoài đã cướp đoạt tuổi hồn nhiên, trong trắng của các em, đưa các em vào thế giới ma quái, độc ác, mà chính các em đã phải khổ đau, hờn trách. Nó là liều thuốc độc, nhưng rất quyến rủ, làm cho tâm hồn các em không còn tự chủ nữa, lý trí không còn là của các em mà trở thành sản phẩm nô lệ của vật chất. Các em bị nó lôi vào vòng xâu xé, biến các em thành những tên lính của đoàn quân ma.

Là tên lính của đoàn quân ma tất cả các em phải chiến đấu cho thế giới ma quái, hòa mình trong hỗn hoạn, ảo ảnh và làm bất cứ điểu gì để chiến thắng. Và, sau những cơn vật lộn, các em chỉ thấy toàn là chiến bại, vì thế giới xa hoa là thế giới ảo ảnh, các em không thể nào bỏ túi những chiếc bóng đẹp không phải là vật thực.

Khi các em đã sa vào cõi ma quái ấy, các em càng chạy xa càng thấy mất gốc, và cho đến ngày các em kiệt sức, không còn biết mình là ai nữa, thì lúc đó các em đang sống trong cõi chết, mà lý trí các em cứ tưởng như mình đang tranh thủ, tìm một cuộc sống tươi đẹp.

Phải ! Ý sống bao giờ cũng vương đến chỗ tươi đẹp. Nhưng tươi đẹp mà chúng ta đi tìm không phải là cái tươi đẹp giả dối bề ngoài. Nếu các em trông thấy cái đẹp hào nhoáng của đô thị phồn hoa thì các em cũng không thể từ chối cái đẹp hồn nhiên, mộc mạc của ngôi nhà lá, của dòng suối trong, của vườn cây sum trái, của đồng ruộng bao la. Các em thích ngửi mùi rượu hoa tối tân thì các em cũng không thể không thoải mái khi hít thở luồng gió mát trong lành, khoáng đãng, đượm mùi đất nước thân yêu. Các em say sưa trước một bản nhạc tân kỳ thì các em cũng không thể không cảm động khi nghe tiếng hát người mẹ ru con bên chiếc nôi nhỏ, những tiếng chim lảnh lót nơi khung trời quê ! Thế thì những cái tươi đẹp cần cho cuộc sống loài người đâu phải tuyệt đối. Các em vẫn sống xa mùi phung phí mà vẫn đủ phương tiện để sống, không phải giành giựt của ai, hay bị ai giành giựt.

Nói như thế không có nghĩa là kéo lui các em trở về thế giới lạc hậu. Chúng ta không chủ trương như thế. Chúng ta cần phải vươn lên, sáng tạo, kiến thiết, và hưởng thụ những gì chúng ta đã tạo được. Chúng ta chỉ hưởng thụ những công trình do chúng ta làm nên, không ngửa tay xin bố thí của kẻ khác. Chúng ta không làm những con thiêu thân trước ánh đèn, làm nô lệ của thế giới xa hoa, làm những con diều hâu độc ác lượn quanh đống xác chết đang nằm gục trên khu nghĩa địa của thế giới ma mị.

Nó là ý thức tiêu cực : Không ai đem đến chúng ta một công trình, một sự nghiệp, một vinh dự, nếu không tự tay chúng ta xây dựng. Là tuổi xanh, tất nhiên các em có rất nhiều hoài vọng đối với non sông, tổ quốc. Nhưng ác nghiệt thay là guồng máy xã hội, cái mà con người tạo ra để làm phương châm cho xã hội, thì chính nó trở lại khống chế con người. Con người bắt buộc chui vào khuôn khổ ấy để rồi phải bất mãn, từ chối bản ngã chân thật của mình. Guồng máy xã hội sẽ đập vào lưng những ai bước ra ngoài vòng của nó. Thân phận con người đã bi thảm lại càng bi thảm hơn, đã không đủ sức phá vỡ áp lực của guồng máy còn bị nó gây nên thương tích, điêu đứng và diệt vong. Vậy muốn an thân, con người phải cúi đầu khuất phục mệnh lệnh của số phận.

Đứng trước những đe dọa tiêu diệt nhân tính của guồng máy xã hôi, những vết tích thương đau đổ vỡ, và mọi thảm kịch của cuộc sống, người trẻ tuổi hôm nay vừa bàng hoàng vừa phẫn nộ, vừa khủng khiếp vừa xót xa.

Các em tự thấy mình quá yếu đuối. Yếu đến nỗi không còn đủ sức vươn lên nữa. Và ý thức tiêu cực, cầu an, len lỏi vào đầu óc các em.

Các em phải làm những gì các em không thích, yêu chuộng những cái các em không ưa. Các em phải học đòi những giả dối của cuộc đời mà hàng ngày đem đến cho các em niềm ngao ngán, buồn tẻ. Các em đã kẹt vào guồng máy xã hội và ý chí đấu tranh, xây dựng, sáng tạo, tìm tòi, phát triển trong thể chất trẻ trung của các em bị cằn cỗi dần, tiêu diệt dần cho đến lúc kiệt sức. Nguồn sinh lực các em không còn bồi đắp được gì cho tổ quốc, non sông nữa.

Ý thức tiêu cực, cầu an là kẻ thù của tuổi trẻ. Nó đoạt mất năng lực hoạt động trong bản ngã chân thật của các em.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là khuyến khích các em nên hỗn loạn, vì hỗn loạn sẽ bị thương tích, tiêu diệt. Mà những thương tích, tiêu diệt là nguyên nhân của tiêu cực, cầu an. Các em cần phải chiến đấu, xây đời, cải tạo xã hội, vươn mình lên thế giới tươi đẹp hơn. Chiến đấu, cải tạo không có nghĩa là tự mình nổi loạn, đập phá, hủy hoại mà là cải tạo từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cá nhân đến đoàn thể, từ gia đình đến xã hội với đức tính kiên trì, có đường lối, có tổ chức. Đó là việc làm khó khăn đối với tuổi trẻ. Các em là lớp người nóng nảy, bồn chồn, liều lĩnh, có thể gặp nhiều lầm lỗi, thất bại, nhưng nếu các em không để cho ý thức mình chìm vào lãnh vực cầu an, tiêu cực thì rồi các em sẽ trở thành những con người giàu khả năng kinh nghiệm trên đấu trường… »

Trên đây là tiếng kêu than của lớp người đương thời, lớp người của thế hệ chúng ta. Họ đã kẹt vào bánh xe xã hội, guồng máy độc ác của loài người. Họ đã sống và mang những vết tích trong tâm tư họ, để dần dần đi đến hủy hoại, tiêu diệt trong lúc đó bánh xe xã hội vẫn lăn đều, giam hãm con người vào định luật.

Tiếng kêu than của nạn nhân xã hội không ngớt. Nó đã phát xuất tự ngàn xưa và kéo dài đến hiện tại, tương lại, và mãi mãi.

Tiếng kêu than đó là gì ?

Là những mảnh tâm hồn tan vỡ, những thể chất bị diệt vong trên đấu trường, những yếu đuối của con người trước guồng máy xã hội. Nói chung, là mọi phản ứng của con người trước lẽ sống.

Trích hai đoạn văn đối thoại trên đây để chứng minh trạng thái phản ứng của con người trong thế hệ chúng ta, gần gũi với chúng ta, để lấy nó làm nền tảng đi tìm những phản ứng trong tâm tư của người xưa đối với lẽ sống, chúng tôi tưởng rằng không phải vô ích.

Chúng tôi cũng thừa nhận rằng trạng thái phản ứng của tâm tư đối với cuộc sống qua mỗi thời mỗi khác, không thể giống nhau. Tuy nhiên, dù trạng thái có đổi khác, tính chất vẫn là một. Tính chất ấy là sự mâu thuẫn giữa tâm tư và cuộc sống, sự mâu thuẫn giữa con người và con người, để sau cùng đem những thực tiễn trong lẽ sống đúc kết thành một nhân sinh quan, cải tiến xã hội.

Bây giờ chúng ta trở lại thế giới bình dân thời xưa trên ba tính chất ấy.

a) MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG

Nếu chúng ta đã thấy tâm tư con người trước lẽ sống là một sự mâu thuẫn kéo dài trong bất diệt, thì tự nghìn xưa xã hội Việt-nam vẫn không tránh khỏi.

Cuộc sống bắt buộc con người phải tổ chức xã hội, nhưng tổ chức xã hội cũng chỉ là cái khuôn thước giam hãm con người, bắt con người phải uốn nắn theo, để rồi con người lại bất mãn với cái do mình tạo ra.

Đó chính là một mâu thuẫn ! Mà có lẽ mâu thuẫn là yếu tố căn bản của mọi vật sinh tồn trong vũ trụ. Xã hội loài người dù tổ chức ra sao, sắp xếp thế nào cũng không thể chối bỏ đi được.

Bằng chứng là từ trước đến nay, loài người đã bỏ không biết bao nhiêu công phu để đi tìm một định hướng cho lẽ sống, nghĩa là đem mọi suy tư của khối óc bỏ vào việc nghiên cứu một tổ chức xã hội làm thế nào cho công bằng, hợp lý, hoặc giúp cho loài người rời bỏ những ưu tư, buồn phiền của họ khi đã bước vào cuộc đời. Tuy nhiên, cho đến nay, loài người càng bồi đắp cho lẽ sống bao nhiêu thì lẽ sống càng đi đến chỗ lầm than bấy nhiêu.

Nhà tu hành càng đem năng lực phụng sự cho đạo đức thì đạo đức ngày càng bị sa lầy. Thử hỏi thế giới loài người đã bao giờ đồi trụy như lúc này chưa ? Những gì gọi là lý tưởng, là chân thiện mỹ đáng phụng thờ thì ngày nay thực tế chỉ còn là một thần tượng lu mờ trên chiếc ngai cũ kỹ.

Nhà chính trị càng cố gắng thiết lập những định chế xã hội, với hy vọng ổn định trật tự cho con người thì xã hội loài người càng biến loạn thêm. Những cuộc chiến tranh đẫm máu, những cuộc cướp đoạt lẽ sống, những mưu mô thâm hiểm luôn luôn diễn ra tạo thành những xáo trộn trên thế giới loài người chẳng bao giờ dứt.

Nhà khoa học càng tận dụng lý trí, nghiên cứu kỹ thuật, phát minh, sáng chế, chinh phục thiên nhiên, càng đưa loài người đến gần nguy cơ diệt vong. Nghĩa là văn minh cơ giới phụng sự cho loài người thì văn minh cơ giới cũng lại đe dọa cuộc sống loài người.

Nhà kinh tế học đem năng lực điều hòa guồng máy sản xuất, biến năng lực con người thành áo, thành cơm, thành tất cả mọi thứ cần dùng cho cuộc sống, nhưng loài người cũng không thoát khỏi cảnh lầm than, cơ cực, và cảnh thiếu thốn vẫn là động cơ thúc đẩy con người đi vào đường cướp giựt để tự tồn, tự diệt.

Nhà văn học góp nhặt những suy tư làm nền tảng cho tinh thần nhân loại, nhưng càng góp nhặt, bồi đắp càng thấy khủng hoảng, đổ vỡ, không thể dùng cho việc xây đắp một ngôi nhà lý tưởng của loài người.

Vậy thì lẽ sống con người là gì ? Và ở đâu ?

Thì đây, chính người bình dân thời xưa đã cho chúng ta thấy nó là một trạng thái mâu thuẫn bất diệt do tính chất căn bản của vạn hữu.

Quan niệm ấy hàm chứa trong các câu ca dao như :

Buồn về một nỗi tháng giêng,

Con chim cái cú nằm nghiêng thở dài.

Buồn về một nỗi tháng hai,

Đêm ngắn ngày dài thua thiệt người ta.

Buồn về một nỗi tháng ba,

Mưa dầu, nắng lửa người ta lừ đừ.

Buồn về một nỗi tháng tư,

Con mắt lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn.

Buồn về một nỗi tháng năm,

Chửa đặt mình nằm, gà gáy chim kêu.

… … …

Một năm có mười hai tháng, nhưng không tháng nào có thể làm cho lòng người thỏa mãn cả. Đối với thiên nhiên, tâm trạng con người đã vậy, thì đối với tổ chức xã hội, tâm trạng con người làm sao thỏa mãn được ? Sự mâu thuẫn chứa đựng trong tâm tư con người cũng như mọi hiện hữu trong vũ trụ là chuyện tất yếu, mà bộ óc con người dù tinh vi đến đâu cũng không thể nào biến cải quy luật ấy !

Hỡi những nhà trí thức ! Các người đừng tưởng tâm tư người bình dân không cảm thông được với quy luật vũ trụ ! Họ vẫn có những ưu tư như chúng ta đối với cuộc sống, và chính những ưu tư của họ cũng đã đúc kết thành những nhận xét trong quan niệm nhân sinh, mà ngày này có nhiều vấn đề chúng ta cứ tưởng chúng ta vừa tìm được trong sự khám phá mới mẻ, nhưng ngược lại, người thời xưa cũng đã tìm thấy rồi.

Cho nên, nếu chúng ta ngày nay, khi đem tâm tư nhận xét xã hội, cho xã hội là một trường giả dối, một trò dâu bể, hoặc cho là bể khổ trầm luân, rồi hằn học, bất mãn, chán ngán, thì chính người xưa cũng đã có những tâm trạng như chúng ta. Họ cũng than vãn trước cuộc sống, và có lúc cũng như chúng ta, họ muốn nổi loạn phá phách.

Thí dụ, khi họ chán nản :

Khi vui thì muốn sống dai,

Khi buồn thì muốn thác mai cho rồi.

Và khi họ muốn vùng lên nổi loạn, phá phách :

Ra tay cầm lửa đốt trời,

Chẳng may lửa cháy, lửa rơi xuống đầu.

Hai trạng thái trên đây, chính là sự hằn học, bất mãn của tâm tư con người đối với lẽ sống.

Lẽ sống đã gieo vào tâm tư họ những cảm giác phản ứng ấy. Và nếu chúng ta đi sâu vào cảm giới họ thì chúng ta lại còn tìm thấy quan điểm của họ đối với lẽ sống nữa. Cũng như chúng ta ngày nay, khi bất mãn với lẽ sống, chúng ta đi tìm nguyên nhân của nó, thì người bình dân thời xưa cũng vậy. Qua phản ứng của tâm tư họ, chúng ta có thể tìm thấy quan điểm của họ đối với lẽ sống gồm bốn tính chất sau đây :

I. CHÊNH LỆCH VÀ BẤT CÔNG

Họ quan niệm lẽ sống con người hàm chứa những bất công, chênh lệch, mà con người là nạn nhân của xã hội. Họ bảo :

Sự đời lắm chuyện lăng nhăng,

Trăm năm để nỗi bất bằng cho ai… !

Không có một người nào từ lúc bước chân vào ngưỡng cửa đời mình đến lúc bị hủy diệt mà tâm hồn được thỏa mãn. Vậy, theo họ, chênh lệch bất công là việc tất yếu của lẽ sống con người. Chẳng những chỉ có tổ chức xã hội loài người đã mang đến cho tâm tư con người những chênh lệch bất công, mà ngay cả vũ trụ, bộ máy đã sinh ra loài người, cũng đem đến cho loài người những bất công nữa. Đây, họ đã rên than qua sự bất bình đối với tạo vật :

Mưa xuân lác đác vườn đào,

Công anh đắp đất ngăn rào trồng hoa.

Ai làm gió táp mưa sa,

Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.

Hoặc : Ngồi buồn trách lẫn ông xanh,

Khi vui muốn khóc, buồn tanh lại cười.

Kiếp sau xin chớ làm người,

Làm cây thông đứng giữa trời mà reo.

Vũ trụ không bao giờ chiều lòng người ! Vũ trụ đã đem đến cho lòng người những hờn trách, vậy thì con người có nên hờn trách xã hội loài người, hoặc nổi loạn để biến cải xã hội loài người chăng ?

Đó chính là công việc của nhà tư tưởng học từ xưa đến nay đã bàn cãi rất nhiều.

Các nhà tư tưởng học đã đem đến cho nhân loại những ngọn đuốc soi đường, rọi vào những nẻo u minh của vũ trụ để dắt nhân loại ra khỏi cái hố thẳm ấy.

Tuy nhiên, càng thăm dò vũ trụ, càng cải biến xã hội, loài người vẫn chưa sao thoát khỏi ra ngoài guồng máy chi phối của vũ trụ được.

Chúng ta than thở cho rằng xã hội loài người mang đầy chênh lệch và bất công chăng ? Nếu không, tại sao chúng ta lại hờn trách vũ trụ ?

Thực ra, tâm tư con người là cái thước đo. Mọi chênh lệch bất công đều phản ứng về tâm tư con người. Tiếng rên than của con người chính là biểu hiện của trạng thái ấy. Con người đã rên than vũ trụ, tất nhiên vũ trụ đã có sự chênh lệch bất công đối với họ !

Nhưng tại sao vũ trụ lại chênh lệch bất công với loài người ? Điều này, nếu chúng ta xét về năng lực tạo hóa thì chúng ta có một quan điểm khác. Tạo hóa không phải chênh lệch, bất công riêng với loài người mà chung cho cả vạn hữu. Vạn hữu cần có sự chênh lệch ấy để biến động tạo thành không gian thời gian, tác thành quy luật thiên nhiên. Nếu không có cái nắng dữ dội của mùa hạ làm gì có cái mưa dầm lạnh lẽo của mùa đông ? Nếu không có những cảnh trời đêm tịch mịch, làm gì có cảnh vui nhộn lúc ban ngày. Vậy thì cái chênh lệch của thiên nhiên chỉ là những quy luật cấu tạo những yếu tố biến động vạn hữu. Nó phát xuất tự nhiên, do sức mâu thuẫn thăng bằng của vạn hữu.

Nếu đặt những biến động này ra ngoài tư tưởng con người thì vũ trụ không có gì chênh lệch bất công cả, bởi vì mọi chênh lệch ấy chỉ là hiện tượng để tiến đến chỗ dung hòa. Nếu chúng ta có những ngày mưa lầy lội thì chúng ta lại có những ngày nắng ráo, khô khan. Nếu chúng ta nhìn thấy những cơn dông tố hãi hùng, thì chúng ta cũng lại được chiêm ngưỡng những cảnh bình minh của khung trời bao la, bát ngát. Nếu chúng ta mến tiếc những cánh hoa tàn rơi rã, thì chúng ta cũng cảm khoái trước những mầm non hơ hớ đang vươn lên. Vậy, cái chênh lệch của vũ trụ không phải là cái bất công.

Những gì chúng ta gọi là bất công chẳng qua do tư tưởng con người mà có. Tâm tư chúng ta khi hòa hợp với cảnh giới, ý thức cá nhân len lỏi vào, gợi cho lòng chúng ta những cảm giác đau buồn, thì ngoại cảnh không làm chúng ta thỏa mãn những tham vọng riêng tư.

Vì vậy, cái bất công của vũ trụ đối với con người chỉ là cảm giác cá nhân trong tâm tư con người mà thôi.

Những câu ca dao của người bình dân thời xưa được chúng ta ghi nhận sau đây đều nằm trong tính chất ấy :

Anh tiếc thay hạt mưa trong rơi xuống đống bùn,

Anh tiếc thay tờ giấy trắng

Để thằng bé cỏn còn con nó vẽ xằng !

Tiếc thay cây quế giữa rừng,

Để cho thằng Mán thằng Mường nó leo.

Ong làm mật mà không được ăn,

Yến làm tổ mà không được ở.

Những tâm tư ấy phát xuất từ bất công của xã hội loài người liên tưởng đến tính chất bất công của vũ trụ. Thực ra, sự chênh lệch của vũ trụ không phải là bất công, bởi vì mọi chênh lệch ấy bao giờ cũng tìm đến chỗ dung hòa.

Nhưng đối với xã hội loài người thì sao ? Con người phiền trách xã hội có phải vì tham vọng cá nhân như đã phiền trách vũ trụ chăng ?

Xã hội loài người cũng là một cá thể trong vũ trụ, và mọi cá thể đều biến động theo qui luật của thiên nhiên, nghĩa là bên trong cũng hàm chứa mọi chênh lệch và mâu thuẫn để diễn biến. Tuy nhiên, khác vơi sự cấu tạo của vũ trụ, nếu vũ trụ cấu tạo bằng một quy luật chung cho muôn loài vạn vật, thì xã hội loài người lại cấu tạo riêng do ý thức con người tạo thành. Bởi vậy xã hội loài người là sản phẩm của ý thức con người nằm trong quy luật chung của vũ trụ. Khi đã cộng phần ý thức con người vào đấy, tất nhiên không tránh khỏi những tham vọng cá nhân, biến tổ chức xã hội thành công cụ bảo vệ quyền lợi cho một lớp người. Do đó mà xã hội loài người có những bất công, đàn áp khác với mọi chênh lệch trong vũ trụ. Mọi chênh lệch của vũ trụ luôn luôn hướng vào trạng thái dung hòa để giải quyết mâu thuẫn, thì mọi chênh lệch của xã hội, vì ý thức tham vọng của con người, nên đi ngược lại qui luật của vũ trụ, cản trở sức dung hòa mâu thuẫn, tạo cho xã hội cán cân chênh lệch mỗi ngày một nghiêng thêm, do đó ý thức tranh chấp mỗi ngày một khốc liệt, tàn ác.

Tâm tư đau khổ của con người, của lớp người bình dân chính là phản ứng của tính chất chênh lệch, bất công ấy. Đây chúng ta nghe họ than thở :

Cha đời cái áo rách này,

Mất chúng, mất bạn vì mày, áo ơi !

Còn gì đau khổ hơn, khi xã hội loài người đem đạo lý ra bảo vệ nhân cách con người, bảo vệ đời sống con người, nhưng rồi cũng do tổ chức xã hội ấy lại biến con người thành một hố sâu chia rẽ, mà tình thương không còn là thần tượng của lẽ sống nữa.

Em thời trướng gấm quần là,

Chị thời tan tác như hoa giữa đường.

Em ngã thì chị phải nưng,

Đến khi chị ngã em bưng miệng cười !

Chính những chênh lệch bất công như vậy đã gieo vào tâm tư con người những đau khổ. Mà sự đau khổ của họ chính là ý thức phản đối để tìm đến trạng thái dung hợp, thăng bằng theo quy luật thiên nhiên trong vũ trụ.

Phần nhiều sự chênh lệch phát xuất do trạng thái giàu nghèo. Bởi vậy trong ca dao Việt Nam phản ánh nhiều nhất về tính chất ấy. Ví dụ :

Hèn mà làm bạn với sang,

Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.

Có của thì có mẹ nàng,

Có bạc có vàng thì có kẻ ưa.

Chị là con gái nhà giàu,

Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen.

Em là con gái nhà hèn,

Ăn mặc rách rưới mon men ngoài hè.

Vai mang túi bạc kè kè,

Nói quấy, nói quá, người nghe ầm ầm !

Sự chênh lệch bao giờ cũng đưa đến bất công bởi vì xã hội loài người mang tính chất ảnh hưởng rất nặng mà chúng ta gọi là tính chất ràng buộc và mâu thuẫn.

2. RÀNG BUỘC VÀ MÂU THUẪN

Chúng ta đã thấy sự chênh lệch là nền móng của bất công thì ràng buộc và mâu thuẫn chính lại là trạng thái phát xuất do sự bất công ấy.

Tại sao trong cuộc sống loài người lại có sự ràng buộc ? Bởi vì khi xã hội loài người đã chênh lệch thì ý thức tìm đến cái sống là ý thức tranh đấu, vươn lên ! Kẻ hèn tìm đến chỗ sang, kẻ đói tìm đến chỗ no, cái rách tìm đến cái lành… Mọi ràng buộc ấy ảnh hưởng vào tâm tư con người, thúc đẩy họ phải tranh đấu, cướp đoạt để tự tồn. Cho nên, khi đã bước vào dòng đời, tâm tư con người lúc nào cũng nơm nớp lo âu, mà chúng ta thấy những tâm tư ấy phát xuất nhiều nhất trong lớp người bình dân, bởi vì họ là người bị thiệt thòi nhất trong cán cân chênh lệch của xã hội, họ cần phải lo lắng để tự bảo vệ lấy cuộc sống họ :

Một là đứng cửa trông ra,

Hai lo đi lấy chồng xa nước người.

Ba lo sợ chị em cười,

Bốn lo đi ngược về xuôi sao đành.

Năm lo lúc tử lúc sinh,

Sáu lo con gái một mình đường xa.

Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà.

Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi.

Chín lo em thiệt cả người,

Để em kiếm lối tìm nơi đi về.

Nếu bảo rằng trong đời sống chỉ có lớp người bình dân mới nhiều lo lắng ưu tư thì cũng không đúng. Bất kỳ trong giai cấp nào, mỗi người đều chịu một sự ưu tư, lo lắng trong hoàn cảnh sinh sống của mình. Cái khác nhau ở chỗ tính chất của sự ưu tư, lo lắng ấy mà thôi. Sở dĩ người đời cảm thấy nỗi lo lắng của lớp người bình dân đáng thương hại hơn là vì cái lo lắng của họ trực tiếp với cái đói khổ, rách rưới, trong lúc cái lo lắng, ưu tư của người trong giai cấp thượng lưu thường là những cái lo lắng, ưu tư vì tham vọng cá nhân hơn là bản chất tự tồn.

Tuy nhiên, dù với tính chất nào, mọi ưu tư, lo lắng của con người trong xã hội vẫn đưa đến một ảnh hưởng tất yếu là tranh đoạt, mà kẻ ưu tư là kẻ bị thất thế, thiếu sức tranh đoạt ấy.

Đây, trong ca dao bình dân đã chứng minh ý thức tranh đoạt của họ :

Xưa kia ngọc ở tay ta,

Bởi ta chểnh mảng, ngọc qua tay người.

Và nếu họ có phải than phiền như :

Đem thân vào chốn cát lầm,

Cho thân lấm láp như mầm ngó sen.

Đêm đêm ngồi tựa ánh đèn,

Thở than với bóng, giải phiền với hoa.

Thì cũng chính vì họ đã mệt lừ trong trạng thái tranh đoạt của lẽ sống.

Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ khi yếu tố tranh đoạt tự tồn lôi kéo con người như một ràng buộc, chằng chịt với nhau không sao tháo gỡ ra nổi. Và cũng yếu tố tranh đoạt ấy đưa lẽ sống con người vào trạng thái mâu thuẫn chống đối nhau.

3. BIẾN ĐỘNG VÀ HỖN LOẠN

Tuy nhiên guồng máy xã hội là sản phẩm của khối óc con người. Nếu tâm tư con người luôn chống đối trạng thái chênh lệch và bất công đã đưa đến trạng thái ràng buộc và mâu thuẫn trong xã hội, thì khối óc con người luôn luôn tìm kiếm những mánh khóe thăng bằng giả tạo để phỉnh phờ và duy trì sự bất công ấy. Nhưng bất công càng được duy trì thì sức mâu thuẫn chất chứa càng nhiều và xã hội loài người tiến dần đến chỗ biến động và hỗn loạn.

Trạng thái biến động trong xã hội lại đi từ tiệm tiến đến bột phát.

Tiệm tiến là khi mâu thuẫn của lẽ sống còn nằm trong tâm tư con người và phát lộ bằng những ưu tư, thắc mắc. Ví dụ như :

Thế tình chuộng lạ tham thanh,

Bên khinh bên trọng ra hình xấu chơi.

Hay : Khi vui thì vỗ tay vào,

Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.

Hoặc : Khó khăn thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

Những thắc mắc trong tâm tư con người chính là ý thức biến động. Nó đi từ bất mãn cá nhân chất chứa vào lòng xã hội để hun đúc trong xã hội một năng lực phản ứng bằng tính chất bột phát. Cho nên, các nhà chính trị học lỗi lạc muốn nghiên cứu một thể chế xã hội ấy tồn tại lâu hay mau, đều căn cứ vào trạng thái biến động của tâm tư người dân trong thể chế ấy. Khi trạng thái biến động của tâm tư người dân đã dung nạp vào lòng xã hội một dung lượng khả dĩ chống lại cơ cấu tổ chức chính trị thì xã hội bắt đầu chuyển mình vào thời kỳ hỗn loạn.

Trở lại trạng thái biến động của tâm tư người bình dân thời xưa, chúng ta thấy mọi thắc mắc của họ đối với cuộc sống chỉ nhắm vào mục tiêu sang bằng mọi chênh lệch, bất công trong nền chính trị và kinh tế phong kiến. Bởi vậy, chúng ta thấy họ đả kích những trạng thái xu nịnh, ham giàu và ỷ thần cậy thế. Ví dụ :

Chớ thấy em bé nhà nghèo,

Đến khi nước lụt bèo trèo lên trên.

Trời làm một trận lăng nhăng,

Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông.

Nhà giàu trồng lau ra mía,

Nhà nghèo trồng củ tía ra củ nâu.

Điều đặc biệt, người bình dân thời xưa tuy ở vào thế hệ bán khai, nhưng tâm tư họ đã nhận thức được xã hội loài người như mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là những trạng thái biến động, luôn luôn đổi dời, không phải đứng yên một chỗ.

Quan niệm ấy biểu lộ trong nhiều câu ca dao như :

Ngồi đêm trông bóng trăng tàn,

Muốn đoan với Nguyệt mà than một lời.

Nguyệt rằng vật đổi sao dời,

Thân này vẫn để cho người soi chung.

Căn cứ vào trạng thái đổi dời của vũ trụ, họ quan niệm con người và xã hội loài người cũng thế. Họ bảo :

Trời còn khi nắng khi mưa,

Ngày còn khi sớm, khi trưa nữa người.

Hôm nay tụm bảy tụm mười,

Ngày mai tan tác mỗi người một nơi.

Khi bé đùm bọc lấy nhau,

Đến khi cả lớn ai giàu nấy ăn.

Nhìn đời là một hiện tượng tạm bợ, người bình dân đã dùng quan niệm ấy để an ủi cuộc sống khổ cực của mình. Họ cho rằng những khổ cực trước mắt chẳng qua là chuyện tạm thời. Mọi vật sẽ đổi thay, và sự thay đổi ấy sẽ đưa kiếp sống của họ đến chỗ huy hoàng. Bởi vậy, họ thường an ủi cảnh khổ của họ bằng những ý niệm như :

Mấy ai giàu ba họ ?

Mấy ai khó ba đời ?

Và có khi họ lại bằng lòng với cảnh ngộ rày đây mai đó của họ trong việc làm ăn khổ cực, như :

Chồng chài, vợ lưới, con câu,

Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà ?

Hoặc : Măng chua nấu với ngạnh nguồn,

Sự đời đắp đổi khi buồn khi vui.

Ý thức cho đời là một trạng thái đổi thay, chẳng những là nguồn an ủi đối với người bình dân trong cảnh sống kham khổ mà còn đem cho họ một niềm tin để họ vững lòng tranh đấu, cải tiến xã hội nữa.

4. TÁC THÀNH VÀ HỦY DIỆT

Những mâu thuẫn của tâm tư con người đối với xã hội khi đã chất chứa một dung lượng khả dĩ làm nền tảng cho một ý thức hệ, thì ý thức hệ ấy tự nó trở thành sức mạnh để phá vỡ những chênh lệch, bất công do tổ chức xã hội đương thời gây nên. Đó là những bước tiến của xã hội loài người. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh điều đó qua các cuộc phế hưng, các cuộc cách mạng, mà cho đến ngày nay chúng ta nhìn lại đoạn đường đã qua thì thấy hình bóng của cuộc sống loài người chỉ là một chuỗi thời gian của tác thành và hủy diệt nối tiếp nhau chẳng bao giờ dứt.

*

Tóm lại, tâm tư con người và cuộc sống là trạng thái chênh lệch, mâu thuẫn, biến động và sinh diệt. Tâm tư con người là thể tích mà cuộc sống là dung tích. Thể tích luôn ảnh hưởng vào dung tích, nhưng lại luôn tìm cách phá vỡ để tràn ra ngoài. Nói cách khác, guồng máy xã hội loài người, tượng trưng cho cuộc sống, là sản phẩm của khối óc nằm trong qui luật biến động chung của vạn hữu, còn tâm tư con người, tượng trưng cho tình cảm, luôn luôn tìm cách phá vỡ những qui tắc chênh lệch, bất công của tham vọng con người. Mọi biến động của tâm tư luôn tìm đến chỗ dung hợp, tranh đấu cho mọi sống còn của muôn loài vạn vật, mà đó cũng là qui luật tất yếu của vạn hữu.

Người bình dân thời xưa trong cuộc sống hồn nhiên chất phác, tâm tư của họ đã phản ảnh trạng thái ấy. Họ bất mãn với lẽ sống chỉ vì lẽ sống đã tạo ra những chênh lệch bất công. Họ cố tranh đấu để tìm đến chỗ san bằng mâu thuẫn do tham vọng con người gây nên. San bằng mâu thuẫn không phải là tiêu diệt mâu thuẫn, bởi vì họ đã thừa nhận qui luật mâu thuẫn là qui luật tất yếu của vũ trụ ; san bằng mâu thuẫn đối với họ chỉ có nghĩa là đem lại sự công bình do tham vọng cá nhân con người đã ra đi ngoài khuôn khổ của vũ trụ, gây cho xã hội loài người một cảnh sống tang tóc, nghiệt ngã, khổ đau.

Đó cũng là nhân sinh quan của người bình dân thời xưa, mà chúng ta có thể đúc kết trong câu ca dao :

Ở cho phải phải phân phân,

Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG

1. Ai làm cho bướm lìa hoa,

Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.

Ai đi muôn dặm non sông,

Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.

2. Ai làm cho cải tôi ngồng,

Cho dưa tôi khú, cho chồng tôi chê ?

- Chồng chê, thì mặc chồng chê,

Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.

3. Ai chẳng muốn đẹp, muốn giòn,

Muốn đi tháo dạ cho mòn lỗ trôn.

4. Ai về, em gởi bức tranh,

Tô con chim sáo đậu nhành lan chi,

Ai làm nên bước phân ly,

Cám công mưa nắng, kẻ đi người về.

5. Ai xui ai khiến trong lòng,

Mau chân nhạy miệng mắc vòng thế gian.

6. Ai mà phụ nghĩa quên công,

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

7. Ai cho sen muống một bồn,

Ai từng chanh khế sánh cùng lựu lê.

8. Ai về đường ấy hôm nay,

Ngựa hồng ai cưỡi, dù tay ai cầm ?

- Ngựa hồng đã có tri âm,

Dù tay đã có người cầm thì thôi.

9. Anh tiếc thay hạt mưa trong rơi xuống đống bùn,

Anh tiếc thay tờ giấy trắng để thằng bé cỏn còn con nó vẽ xằng.

Sự đời lắm chuyện lăng nhăng,

Trăm năm để nỗi bất bằng cho ai.

10. Áo đen năm nút con rồng,

Ở xa con phụng lại gần con qui.

11. Ăn sung ngồi gốc cây sung,

Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành.

12. Ăn sao cho được mà mời,

Thương sao cho được vợ người mà thương.

13. Ba cô cùng ở một nhà,

Cùng đội nón thúng, cùng ra thăm đồng.

Ba cô cùng chửa có chồng,

Để anh mua cốm, mua hồng sang chơi.

Sang đến nơi, cô đã chồng rồi,

Để cốm anh nốc, để hồng long tai.

Ai làm cái quạt long nhài,

Cầu ô long dịp, cửa cài long then.

14. Ba cô vác gậy chòi đào,

Có một quả chín biết vào tay ai ?

Trên cây có quả chín mồi,

Anh trông mỏi mắt, anh chòi mỏi tay.

15. Bà già đeo bị hạt tiêu,

Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng cay.

Đời người được mấy gang tay,

Ai hay ngủ ngày chỉ được nửa gang.

16. Bao giờ cho đến tháng ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.

Dao nằm cho lợn cạo lông,

Ba bốn quả hồng nuốt bà tám mươi.

Chuối tiêu nuốt trẻ lên mười,

Ba bốn bình rượu nuốt người xôn xao.

Cào cào bắt đuổi cá cô,

Cỏ lang, cỏ nát lại vồ bắt trâu.

Gà con đuổi bắt diều hâu,

Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm.

17. Bao giờ rồng đến nhà tôm,

Bồng leo cây ngải, thì ôm rồng vàng.

18. Bảy với ba anh tính ra một chục,

Tam tứ lục anh tính lại cửu chương.

Liệu bề đát được thì đươn,

Đừng gầy mà bỏ thế thường khó coi.

19. Bảy mươi chống gậy ra đi,

Than thân rằng thuở đương thì chẳng chơi.

20. Bần cũng bất đắc dĩ,

Loài tỉ mới phải dịt lá vông.

21. Bầu dục đâu đến bàn năm,

Chè đâu đến chú, chú lăm ăn chè.

22. Bầu già thì ở trên cây,

Bầu non bứt xuống, làm dây kéo thuyền.

23. Bậu chê qua ở rẫy ăn còng,

Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm.

24. Bây giờ mới ra thân hèn,

Khi xưa tôi cũng cầm đèn hai tay.

25. Biết đâu là tổ chuồn chuồn,

Biết đầu cú đậu, biết đâu lươn nằm.

26. Bố đĩ giàu, bố đĩ tiên,

Ông tổng không tiền, ông tổng tểnh.

27. Buổi chợ đông con cá hồng em chê lạt,

Buổi chợ tan rồi con tép bạc em khen ngon.

28. Buổi xuân xanh thiếp chẳng gặp chàng,

Bây giờ năm con bảy cái ra đàng gặp nhau.

29. Buồn chẳng muốn nói,

Gọi chẳng muốn trông.

Tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con sáo.

30. Buồn ngủ buồn nghê,

Bán bò tậu ruộng, mua dê về cày.

Đồn răng dê đực khỏe thay,

Bắt ách lên cày, nó lại phá ngang.

31. Buồn tênh cháu rể khóc đưa bà,

Một tiếng khóc là ba tiếng à.

32. Bướm già thì bướm có râu,

Thấy bông hoa nở cúi đầu bướm châm.

Bướm châm mà bướm lại nhầm,

Có bông hoa nở, ong châm mất rồi.

33. Cá nục nấu với dưa hồng,

Lờ đờ có kẻ mất chồng như chơi.

34. Cá bống đi tu,

Cá thu nó khóc,

Cá lóc nó rầu,

Phải chi ngoài biển có cầu,

Anh ra đến đó giải đoạn sầu cho em.

35. Cách sông nên phải lụy đò,

Tối trời nên phải lụy o bán dầu.

36. Cách bức chẳng được nói luôn,

Những người bên ấy có buồn cùng chăng ?

37. Cái cò, cái vạc, cái nông,

Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca.

Muối kia đổ ruột con gà,

Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót mình.

38. Cái cò, cái vạc, cái nông

Ba cái cùng béo, vặt long cái nào ?

Vặt lông cái vạc cho tao,

Hành răm nước mắm bỏ vào mà thuôn.

39. Cả giận mất khôn,

Bây giờ cắn rốn lại còn được ru.

40. Cái cò là cái cò kỳ,

Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô,

Đêm nằm thì ngáy o o,

Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà.

Hàng bánh, hàng bún bày ra,

Con mắt sắc sảo đi qua món hàng.

Bánh đúc có lắm bánh dàng.

Củ từ khoai nước lẫn hàng cháo kê.

Ăn rồi cắp đít ra về,

Thấy hàng chả chó, lại lê trôn vào.

Chả nầy bà bán làm sao ?

Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng mua.

Nói dối rằng mua cho chồng,

Đi đến quãng đồng, ngả nón ra ăn.

Về nhà đau quẳn đau quăn dạ này,

Đem tiền đi bói ông thầy,

Bói ra quẻ nầy những chả cùng nem.

Ông thầy nói dối đã quen,

Nào tôi ăn chả, ăn nem bao giờ.

41. Canh xuông khéo nấu thì ngon,

Mẹ già khéo tán thì con đắt chồng.

42. Căn nợ đâu xe thấu tới bên Tàu,

Hay là mình thấy chệc giàu mình mê.

43. Cậu lậu cây bàng,

Bao giờ cậu chết cả làng đi khiêng.

44. Cậu lậu bình vôi,

Bao giờ cậu chết cho tôi ăn phần.

45. Cây cao, quả chín đồi mồi,

Anh trông mỏi mắt, anh chòi mỏi tay.

46. Cây bần ơi hỡi cây bần,

Lá xanh bông thắm lại gần không thơm.

47. Cây cao bóng mát không ngồi,

Ra ngồi chỗ nắng trách trời không râm.

48. Có tiền mua tiên cũng được,

Không tiền mua lược cũng không,

49. Có đỏ mà chẳng có thơm,

Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì.

50. Có cô thì chợ cũng đông,

Cô đi lấy chồng thì chợ cũng qua.

Có cô thì dượng cũng già,

Vắng cô thì dượng cũng qua một thì.

51. Có của thì vạn người hầu,

Có bấc có dầu thì vạn người khêu.

52. Có của thì khôn như mại,

Không của thì dại như lú.

53. Có ai nước cũng đứng bờ,

Không ai nước cũng đứng cơ mực này.

54. Có răng thì lấy răng nhai,

Không răng lợi gặm chẳng sai miếng nào,

Có cô thì chợ cũng đông,

Cô đi lấy chồng thì chợ cũng qua.

Có cô thì dượng cũng già,

Không cô thì dượng cũng qua một thì.

55. Có tiền vợ vợ chồng chồng,

Hết tiền chồng đông vợ đoài.

56. Có trầu mà chẳng có cau,

Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm.

57. Con rắn không chưn chạy năm rừng bảy rú.

Con gà không vú nuôi chín mười con,

Phải chi nhan sắc em còn,

Anh lăn vô đó chịu lòn cũng ưng.

58. Con cò đậu cọc bờ ao,

Ăn sung, sung chát, ăn đào, đào chua.

Ngày ngày ra đứng cổng chùa,

rông lên Hà-nội xem xem vua đúc tiền,

Ruộng tư điền không ai cày cấy,

Liệu cô mình đứng vậy được chăng ?

Mười hai cửa bể anh đã cắm đăng,

Cửa nào lắm cá thì quăng chài vào.

59. Con gái là con người ta,

Con dâu mới thật mẹ cha mua về.

60. Con cóc nằm ép bờ ao,

Lăm le lại muốn đớp sao trên trời.

61. Con cò chết rũ trên cây,

Cò con giở sách xem ngày ra ma.

Cà cuống uống rượu la đà,

Chim di ríu rít bò ra lấy phần.

62. Con mèo đập bể nồi rang,

Con chó chạy lại phải mang lấy đòn.

63. Con quạ đen lông kêu bằng con ô thước,

Thấy em có chồng vô phước anh thương.

64. Con dòng thì bỏ xuống đất,

Con vất thì đem lên sàng.

65. Con ơi ! chớ khóc mẹ rầu,

Bữa mai, bữa mốt ghe bầu tới nơi.

66. Con quạ nó đứng bờ sông,

Nó kêu bớ má lấy chồng bỏ con.

Con quạ nó đứng đầu non,

Nó kêu bớ má thương con trở về.

67. Con gà béo bán bên Ngô,

Con gà khô bán láng giềng.

68. Con quan đô đốc đô đài,

Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy mui.

69. Con lành con ở cùng bà,

Vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường.

70. Cố công sống mấy nghìn năm,

Thử xem thửa ruộng mấy trăm người cày.

71. Cố đấm ăn xôi,

Đấm thì vô hồi, xôi chẳng được ăn.

72. Công anh đánh đất trồng chanh,

Ăn quả chẳng được vin cành cho cam.

73. Cơm sôi cả lửa thì khê,

Việc làm hay hỏng là lề thế gian.

74. Của mình thì giữ bo bo,

Của người thì để cho bò liếm đi.

75. Cũng thì con mẹ con cha,

Cành cao vun tới, cành la bỏ liều.

76. Cũng thì làm lẽ,

Người ăn bát mẻ, nằm chiếu manh,

Người ăn bát Đại-thanh, nằm chiếu miến.

77. Cực lòng nên phải biến dời,

Biến dời lại gặp phải nơi cực lòng.

78. Chàng xa, thiếp cách, tội đách gì rầu,

Thác như Lữ-Vọng té xuống cầu non Tiên.

Ngửa tay em trao cho một đồng tiền,

Phận sao, chịu vậy đừng phiền mà hư.

79. Chẳng xinh cũng thể đôi ta,

Chẳng thơm cũng thể là hoa ngâu Tàu.

80. Chẳng vui cũng thể Hội Thầy,

Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ Đoài.

Rửa chân đi hán, đi hài,

Rửa chân đi đất, chớ hoài rửa chân.

81. Chẳng đi thì dạ chẳng đành,

Đi ra mang tiếng dỗ dành nhau đi.

82. Chẳng tham vựa lúa anh đầy,

Tham năm ba chữ cho tày thế gian.

83. Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Chẳng thanh lịch cũng thể là người Trường-an.

84. Chẳng chua cũng thể là chanh,

Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín cây.

85. Chẳng thơm cũng thể hương tàn,

Chẳng ngọt cũng thể nước sông Hàn chảy ra.

Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,

Chẳng lịch cũng thể con người thượng kinh.

86. Chê tôm lại phải ăn tôm,

Chê rau muống héo lại ôm dưa già.

87. Chỉ đâu mà buộc ngang trời,

Tay đâu mà đậy miệng người thế gian.

Giàu sang nhiều kẻ tới nhà,

Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau.

88. Chim ham trái chín ăn xa,

Buồn tình nhớ lại gốc da muốn về.

89. Chim quyên dại lắm không khôn,

Nhành mai không đậu, đậu cồn cỏ may.

90. Chim quyên xuống đất ăn trùng,

Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than.

91. Chồng yêu cái tóc nên dài,

Cái duyên nên đẹp, cái tài nên khôn.

92. Chớ chê em xấu, em đen,

Em như nước đục, đánh phèn lại trong.

93. Chớ quen bán chó, mua dê,

Vui cùng hạc nội ham chi gà lồng.

Sá chi chiều ấy như không,

Xác ve luống chịu tiếng trong cõi đời.

94. Chơi cho thủng trống, long bồng,

Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập nghiêm.

Chơi cho thủng trống, long chiêng,

Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.

95. Chuối cậy mình là chuối đồng trinh,

Chuối ở một mình sao chuối có con ?

96. Chửa được thì hứng bằng rá,

Đá được thì đá bằng chân.

97. Dù anh buôn đâu bán đâu,

Cũng không tránh khỏi tuần Châu, Vân Sàng.

98. Dù ai sang cả mặc ai,

Thân này nước chảy hoa trôi sá gì.

99. Duyên sao cắc cớ lỡ làng,

Cầm gương gương tối, cầm vàng vàng phai.

100. Đã từng xem quẻ bói rùa,

Còn toan bói hạc xem cho mới đành.

101. Đã gian lại ngoan,

Đã đi làm đĩ lại toan cáo làng.

102. Đãi bôi kia hỡi đãi bôi,

Có một đấu tấm đãi mười khúc sông.

103. Đàn ông nông nổi giếng khơi,

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

104. Đấng trượng phu đừng thù mới đáng,

Đấng anh hùng đừng oán mới hay.

105. Đau bụng thì uống nước sông,

Đau mắt lấy nhựa xương rồng mà bôi.

106. Đất Bục mà ném chim trời,

Chim thời bay mất, đất rơi xuống đầu.

107. Đẻ chết mà nết không chừa,

Đến mai đi chợ, chồ dừa lại ăn.

108. Đẻ con không, mát l… tời rợi,

Đã con dại, thảm hại cái l…

109. Đeo bầu mang tiếng thị phi,

Bầu không có rượu lấy gì mà say.

110. Đêm qua ngỏ cửa chờ chồng,

Đêm nay ngỏ cửa gió đông lọt vào.

111. Đêm qua rủ rỉ rù rì,

Tiếng nặng bằng bấc, tiếng chì bằng bông.

Chì khoe chì nặng hơn đồng,

Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên chuông ?

112. Đêm khuya dưới đất trên trời,

Một mình cô đứng, cô ngồi, cô nghe.

Cô nghe hết giọng con ve,

Đến lời con quốc đợi hè, tiếc xuân.

113. Đêm đêm vuốt bụng thở dài,

Thở ngắn bằng trạch, thở dài bằng lươn.

114. Đi sau, ăn nhau bà đẻ,

Ăn giẻ chùi trôn, ăn l… chấm muối.

115. Đi ỉa không biết đường lại,

Đi đái không biết đường về.

116. Đi đâu mà chẳng ăn re,

Đến khi hết của, thì rè chẳng ra.

117. Đi đâu mà vội mà vàng,

Mà bỏ túi bạc, mà mang túi chì.

118. Đi đã ba bảy chín chu,

Trở về đến ngõ, chuột chù gặm chân.

119. Đói thì nặng mặt sa mày,

No thời tức bụng trời hay chăng trời.

120. Đói lòng ăn trái khổ qua,

Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.

121. Đố ai tát bể Đông-khê,

Tát sông Bồ-đề nhổ mạ cấy chiêm ?

122. Đố ai biết lúa mấy cây,

Biết sông mấy khúc, biết mây mấy từng.

Đố ai quét sạch lá rừng,

Để ta khuyên gió, gió đừng rung cây.

123. Đôi ta như bộ chén chung,

Giấu kín như mùng còn lậu tiếng ra.

124. Đồn rằng ngoài tỉnh Hưng-yên,

Có cô con gái trái nhân duyên cô lỡ chồng.

Trống cơm ai khéo vỗ nên vông,

Một đàn con vịt lặn sông đi tìm.

Rạng ngày mai con mắt lim dim,

Chân đi thất thểu như chim tha mồi.

125. Đồng tiền đi trước đồng tiền khôn.

Đồng tiền đi sau đồng tiền dại.

126. Đồng tiền không phấn không hồ.

Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt người.

127. Đưa anh ra tới làng Hồ,

Em mua trái mít, em vồ trái thơm.

Anh về, em nọ dám đưa,

Hai hàng châu lệ như mưa tháng mười.

128. Đừng chê tôi xấu, tôi già,

Tôi đi bán thị, mọi bà, mọi hôn.

129. Được mùa chớ phụ môn khoai,

Đến năm thân dậu không ai bạn cùng.

130. Em nghiêng tai dưới gió,

Qua kề nhỏ cho em rành,

Đôi ta còn vướng tơ mành,

Đó chẳng đành, đây anh cũng gắng,

Sóng ba đào, mưa nắng chẳng sao.

131. Em ơi, anh bảo em này,

Trứng chọi với đá có ngày vỡ tan.

132. Em là con gái kẻ đằng,

Bên Tề, bên Sở biết rằng theo ai.

133. Em trông thấy anh, em cũng muốn theo,

Sợ mẹ anh nghèo bán váy em đi.

134. Em ngoan lấy phải chồng đần,

Cho giỏi mười phần ai biết rằng ngoan.

135. Gà lôi đội lốt con công,

Tưởng rằng mình ngộ đi dong đi dài.

Gặp công xốc lại nhập bầy,

Công đá xể mặt trầy mày đuổi đi.

136. Gái chê chồng đến Bông trở lại,

Trai chê vợ đến Ngái trở về.

137. Gái liệt nữ dám đâu hai dạ,

Đấng thuyền quyên đâu dám hai lòng.

Nợ duyên em giữ vẹn, khỏi vòng cười chê.

138. Gáo đồng múc nước giếng Tây,

Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người ta.

139. Gần nhà giàu đau răng ăn cốm,

Gần nhà kẻ trộm ốm lưng đau đòn.

140. Gập ghềnh nước chảy qua đèo,

Ngựa ô xuống bến, thuyền chèo lên non.

141. Giàu sang nhiều kẻ tới nhà,

Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau.

142. Giẻ cùi tốt mã dài đuôi,

Hay ăn cứt chó, ai nuôi giẻ cùi.

143. Gió đưa cây cải về trời,

Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.

144. Gió nồm là gió nồm nôm,

Trách chàng quân tử có mồm không ăn.

145. Giúp lời không ai giúp của.

Giúp đũa không ai giúp cơm,

146. Giương cung sắp bắn phượng hoàng,

Chẳng may lại phải một đàn chim ri.

Lấy sào mà đuổi nó đi,

Nó kêu ríu rít kẻo thì điếc tai.

147. Gỗ trắc đem lát ván cầu,

Yến sào đem nấu với đầu tôm khô.

148. Hò không đi, rì không đứng,

Nhủ đi đằng rì, nó đi đằng tắc.

149. Hoa sen mọc bãi cát lầm,

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

150. Hoài hồng ngâm cho chuột vọc,

Hoài hòn ngọc cho ngâu vầy,

Hoài bánh giầy cho thằng méo miệng ăn.

151. Hồng nhan nào kém ai đâu.

Kẻ xe chỉ thắm, người xe hạt vàng.

152. Hữu tật thì bái tứ phương,

Vô tật đồng hương chẳng mất.

153. Kinh đô cũng có người rồ,

Man-di cũng có sinh đồ trạng nguyên.

154. Khen ai khéo đúc chuông chì,

Dạng thì có dạng, đánh thì không kêu.

155. Khế rụng bờ ao thanh tao anh lượm,

Ngọt như cam sành, héo cuống anh cũng chê.

156. Khi vui thì miệng lép bép,

Khi buồn ruồi đậu bên mép không đòi.

157. Khi vui non nước cũng vui,

Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng buồn.

158. Khi xưa ước những chân mây,

Bây giờ rớt xuống giữa dây bìm bìm.

159. Khi nóng, bắt lấy tai,

Khi nguội chẳng biết tai là gì.

160. Khó khăn đắp đổi lần hồi,

Giàu thì chưa dễ em ngồi em ăn.

161. Khó hèn thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

162. Khoan khoan quần tía xuống màu,

Dây lưng mua chịu khoe giàu với ai ?

163. Khôn ngoan cũng thể đàn bà,

Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông.

164. Khôn ngoan quỉ quyệt chết lao, chết tù.

Lủ khủ lù khù chết già chết rũ.

165. Không thương đoái lại chút tình.

Lẽ nào có lẽ bất bình cả hai.

166. La hô, hồ khoan !

Ta chèo cất mái hồ khoan,

Thuyền rồng chúa ngự khoan khoan mái chèo.

Lênh đênh duyên nổi phận bèo,

Đã đành khi nước thủy triều đầy vơi.

Lộ đồ giao viễn xa khơi,

Thuyền tình chở một mình tôi nặng gì.

Chẳng giậm, thì thuyền chẳng đi,

Giậm ra mắt tiếng thị phi với tình.

Khách tình lại nhớ thuyền tình,

Thuyền tình lại nhớ khách tình là duyên.

167. Lá vàng còn ở trên cây,

Lá xanh rụng xuống, trời hay chăng trời !

168. Làm dàn cho bí leo chơi,

Chẳng may bí dột, mùng tơi leo cùng.

169. Lạy ông nắng lên cho ấm trẻ ông ơi,

Già thì cháy rận chớ tôi được gì.

170. Lênh đênh duyên nổi phận bèo,

Tránh sao cho khỏi nước triều đầy vơi,

171. Linh đinh một chiếc thuyền tình,

Mười hai bến nước gởi mình vào đâu.

172. Lộ diên tri mã lực,

Sự cửu kiến nhân tâm,

Bởi anh nghe vậy mới lầm,

Vàng rơi khó kiếm châu trầm khôn theo.

173. Lỡ quan, lỡ lính, lỡ làng,

Lỡ bề dân giả, lỡ hàng công khanh.

174. Lụa mười lăm anh chê lụa vụng,

Mắc phải lụa hồ đành bụng bậu chưa ?

175. Lúc làm thì chẳng có ai,

Lúc thì ông xã, ông cai đầy nhà.

176. Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗ Trạng chín nghìn anh em,

177. Luồn cửa tiền cửa hậu.

Chẳng thèm luồn bờ giậu chó chui.

178. Mạnh về gạo, bạo về tiền,

Lắm tiền, nhiều gạo là tiên trên đời.

179. Máu gà thì tẩm xương gà,

Máu gà đem tẩm xương ta sao đành.

180. Mặc đời cua máy, cáy đào,

Gai kia ai mứt, quả nào ai vo.

181. Măng giang nấu cá ngạnh nguồn,

Đến đây em phải bán buồn mua vui.

182. Mặt mũi méo mó thì có đồng tiền,

Mặt vuông chữ điền thì tiền không có.

183. Mất vải lại phải đi đo,

Mất tiền đi đò, lại phải kéo dây.

184. Mất tiền rồi lại thua thâm,

Mất tiền rồi lại tri âm bạn cười.

185. Mẹ thời già, nhà thời khó,

Tôi muốn lấy nó, nó chẳng lấy tôi.

186. Mẹ già ở chốn lều tranh,

Đói no chẳng biết, rách lành chẳng hay.

187. Mẹ cha bú mớm nưng niu,

Tội trời thì chịu không yêu bằng chồng.

188. Mẹ già lo bảy lo ba,

Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên,

189. Mèo tha miếng thịt thì đòi,

Kễnh tha con lợn mắt coi chừng chừng.

190. Mênh mông góc bể chân trời,

Những người thiên hạ nào người tri âm ?

Buồn riêng, thôi lại tủi thầm,

Một duyên, hai nợ, ba nhầm lấy nhau.

191. Miếng đất láng nguyên, tự nhiên cây cỏ mọc

Anh mảng lo nghèo, bạn ngọc có đôi.

192. Miệng kẻ sang có gang có thép,

Đồ nhà khó vừa nhẹ vừa tham.

193. Miếng ăn là miếng tồi tàn,

Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.

194. Mồ cha đứa có sợ đòn,

Quí hồ kiếm được chồng dòn thì thôi.

195. Mồ cha cái áo rách nầy,

Mất chúng, mất bạn, vì mầy áo ơi !

196. Mồ cha ai đốn cây bần,

Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.

197. Một mẹ nuôi được mười con,

Mười con không nuôi được một mẹ.

198. Một năm là mấy tháng xuân,

Một đời người được mấy lần vinh hoa.

199. Một thuyền một lái chẳng xong,

Một chĩnh hai gáo còn nong tay vào,

200. Một người làm nên, cả họ được cậy,

Một người làm bậy, cả họ mất nhờ.

201. Một người làm xấu, cả bọn mang nhơ,

Một người làm tốt, cả bọn được nhờ.

202. Một mình đứng giữa trung ương,

Bên tình, bên nghĩa biết thương bên nào ?

203. Một vũng nước trong, năm bảy dòng nước đục,

Một trăm người tục, không được chục người thanh.

204. Một lần cho tởn tới già,

Đừng đi nước mặn mà hà ăn chưn.

205. Một đời phú quý vinh hoa,

Một đời đói rách cũng qua một đời.

206. Mơ mang, mang chạy lên rừng,

Ta hay mang chạy thì đừng mơ mang.

207. Mụ gia ba bảy mụ gia,

Mụ thì tiền rưỡi, mụ ba mươi đồng.

208. Muốn ăn măng trúc, măng giang,

Măng tre, măng nứa, chè bàng cơm lam.

Muốn ăn sim chín đi tìm.

Đố ai tìm được đem lên hầu nàng.

Chim kêu, vượn hót trên ngàn,

Bây giờ đã đến trăng tàn canh ba.

209. Muốn sao tháng đôi tuần trăng,

Muốn sao đây ở cho bằng lòng đây.

210. No thì ra Bụt, đói ra ma,

Chẳng lạ nhân tình đất kẻ ta.

211. Nửa về nửa muốn ở đây,

Về nhà nhớ bạn, ở đây nhớ nhà.

212. Nửa về nửa muốn ở đây,

Nửa thơm như quế, nửa cay như gừng.

213. Nực cười châu chấu chống xe,

Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng.

214. Nực cười chữ « nãi » là bèn,

Mất tiền mà có ai khen chi mình.

215. Nước giữa dòng chê trong chê đục,

Vũng nước trâu dầm hì hục khen ngon.

216. Nước triều ai tát, ai khơi,

Khi lên thời thế, cơn rồi như không.

217. Nước non lận đận một mình,

Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy nay.

Ai làm cho bể kia đầy,

Cho ao kia cạn, cho gầy cò con.

218. Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ,

Biết về đâu trong đục mà chờ,

Hương thơm mất tuyết biết nương nhờ vào ai ?

219. Nghĩ ngán cho ai nhành mai đang thắm,

Chẳng xứng tay cầm uổng nhánh mai tươi.

220. Nghĩ em đáng lạng vàng mười,

Đem ra kẻ chợ kém người trăm phân.

Trông xa cứ tưởng là tiên,

Đến gần cú đậu ở bên cạnh sườn,

Kìa ai lào lạo ngoài da,

Mà trong rỗng tuếch như hoa muống rừng.

221. Ngọc sa xuống giếng ngọc trầm

Anh đi tầm ngọc, tầm lầm hột châu.

222. Ngồi buồn xe chỉ uốn cần,

Chỉ xe chưa đặng, cá lần ra khơi.

223. Ngờ đâu quá giận mất khôn,

Khi vui đã vậy, khi buồn làm sao ?

224. Ngỡ rằng cây cả bóng cao,

Thiếp lăn mình vào phơi nắng cùng mưa.

225. Ngũn ngỡn như con thuyền chài,

Áo ngắn mặc ngoài, áo dài mặc trong.

Người gian thì sợ người ngay,

Người ngay chẳng sợ đường cày khúc khiu.

226. Người dưng ơi hỡi người dưng !

Bánh dày phải lửa thì sưng phồng phồng.

227. Người trên ở chẳng kỷ cương

Khiến cho kẻ dưới lập trường mây mưa.

228. Người ta con trước con sau,

Thân anh không vợ như cau không buồng.

Cau không buồng ra tuồng cau đực,

Trai không vợ cực lắm em ơi.

Người ta đi đón về đôi,

Thân anh đi lẻ về loi một mình.

229. Người ta năm bảy chị em,

Tôi đây khác thể chiếc nem lột trần.

230. Nhác trông ngỡ tượng tô vàng,

Nhìn lâu mới biết chẫu chàng trời mưa.

231. Nhạn đậu cành sung, giương cung bắn nhạn,

Con nhạn chết rồi, biết làm bạn với ai ?

232. Nhọc nhằn ăn nọ được khoai,

Nấu một nồi bộng, lựa hai củ sùng.

233. Những người gót đỏ như son,

Xưa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn.

234. Ô hô chậu rã, cúc ngã, sen tàn.

Tiếc công anh lận đận với nàng bấy lâu.

235. Ông thầy khoe ông thầy tốt,

Bà cốt cậy bà cốt hay.

236. Ở đời Kiệt-Trụ sướng sao,

Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.

Ở đời Nghiêu, Thuấn khổ thay,

Giếng đào mà uống, ruộng cày mà ăn.

237. Ở nhà nhất mẹ, nhì con,

Ra đường lắm kẻ còn dòn hơn ta.

238. Ở đời chẳng biết sợ ai,

Sợ thằng say rượu nói dai tối ngày.

239. Ở xa không biết nên lầm,

Bây giờ rõ lại vàng cầm cũng buông.

240. Phản Trụ đầu Châu,

Ăn cơm nhà Phật, đốt râu nhà chùa.

241. Phận em liễu yếu vâng lịnh nghiêm dàng,

Em kết duyên với khách, ngỡ ngàng nước non.

242. Phềnh phềnh lớn giữa lớn ra,

Mẹ ơi, con chẳng ở nhà được đâu.

Ở nhà, làng bắt mất trâu,

Cho nên con phải đâm đầu ra đi.

243. Phượng hoàng chặt cánh đuổi đi,

Bắt con bìm bịp đem về mà nuôi.

244. Phượng hoàng đậu chốn cheo leo,

Sa chân lỡ bước phải theo đàn gà.

Bây giờ mưa thuận gió hòa,

Thay lông đổi cánh lại ra phượng hoàng.

245. Quạ mà đã biết là quạ đen,

Có đâu quạ dám mon men với cò.

246. Quân sử thần tử, thần bất tử bất trung,

Phụ sử tử vong, tử bất vong bất hiếu.

247. Ra đường thấy cánh hoa rơi,

Hai chân dậm xuống chẳng chơi hoa thừa.

248. Ra đường vui những cảnh người,

Về nhà tôi thấy cảnh tôi, tôi buồn.

249. Ra đường gió mát thảnh thơi,

Thương người nằm võng nắng nôi ở nhà.

250. Ra đường ông tú, ông chiêu,

Về nhà móng tay mỏ sẻ, cậy niêu đã mòn.

251. Ra đường chẳng biết ai nói thế nào

Về nhà lấy thớt, lấy dao băm l…

252. Roi song đánh đoạn thì thôi,

Một lời siết cạnh muôn đời chửa quên.

253. Ru con, con ngủ cho rồi,

Mẹ ra chỗ vắng, mẹ ngồi than thân.

254. Rủ nhau đánh cá Đồng-lâm,

Cá kia chẳng được, âm thầm lòng anh.

Cây vàng, lá rụng chung quanh,

Rủ nhau đánh cá Đồng-nai,

Cá kia chẳng được, một ngày đến trưa,

Sầu em nước mắt như mưa.

255. Ruộng gần bỏ cỏ không cày,

Chợ xa quà rẻ, mấy ngày cũng đi.

256. Rửa chân đi hán đi hài,

Rửa chân đi đất chớ hoài rửa chân.

257. Sá chi một nải chuối xanh,

Năm bảy người giành cho mủ dính tay.

258. Sáng mưa, trưa nắng, chiều nồm,

Trời còn thay đổi huống mồm thế gian.

259. Sáng trăng suông, em nghĩ tối trời,

Em ngồi em để cái sự đời em ra.

Sự đời bằng cái lá đa,

Đen như mõm chó, chém cha sự đời.

260. Sầu đông trong héo, ngoài tươi,

Vui là vui gượng, cười là cười khuây.

261. Soi gương còn mặt mũi nào,

Đã dở lại xấu soi vào sao đang.

262. Sóng ba đào khi không mà dậy,

Em bậu có chồng rồi nửa chừng đứt gióng lại đòn triêng.

Anh vô thay lời đổi mặt cầm quyền cho con em.

263. Sông con gặp lúc sóng cồn,

Trời ơi ham kẻ anh hùng làm chi !

264. Sông dài mà sắm đò ngang,

Em nhiều nhân ngãi, em mang oán thù.

265. Sống thì chẳng cho ăn nào

Chết thì cúng giỗ, mâm cao, cỗ đầy

266. Sự đời nghĩ cũng nực cười,

Một con cá lội mấy người buông câu.

267. Tay em cầm gáo nước tưới cả ba cây,

Tưới cây lựu, bỏ cây đào,

Tưới cây đào, bỏ cây lê,

Có ai ở trong nhà cho em mượn đôi gióng bứng về cả ba cây.

268. Tay mang túi bạc kè kè,

Nói quấy nói quá người nghe ầm ầm.

269. Tay tiên rót chén rượu đào,

Đổ đi thì tiếc, uống vào thì say.

270. Tấn thối nan cực khổ trăm bề,

Ở đây khó ở, ra về khó ra.

271. Tết đã đuổi đến sau lưng,

Ông vải thì mừng, con cháu thì lo.

272. Tậu voi chung với đức ông,

Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt phân.

273. Tiếc công xúc tép nuôi cò,

Cò ăn, cò mổ, cò dò lên cây.

274. Tiếc công vãi mằn cho cu,

Cu ăn, cu lớn, cu gù nhau đi.

275. Tiếc công anh vun quén cây tùng,

Anh săm soi trên ngọn dưới gốc cây sùng không hay.

276. Tiếc thay cái chậu nước trong,

Để cho bèo tấm, bèo ong rạt vào.

277. Tiếc thay hột gạo trắng ngần,

Đã vo nước đục lại vần than rơm.

278. Tiếc công lao anh đào ao thả cá,

Năm bảy tháng trường người lạ đến câu.

279. Tiền chì mua được cá tươi,

Mua rau mới hái, mua người nỏ nang.

Tiền trinh mua vội mua vàng,

Mua phải rau héo, mua nàng ngẩn ngơ.

280. Tiền Bần, lụa Lạc, vải Đồng-than,

Đã mua thì chớ phàn nàn làm chi.

281. Tiếng anh ăn học bên Tàu,

Chị dâu té giếng nắm chỗ nào kéo lên ?

Nắm trên đầu thì sợ lỗi trời trên,

Thò tay nắm áo kéo lên tức thì.

282. Tổ đánh mà chẳng biết thân,

Mặt như điếu dạn chơi xuân nỗi gì.

283. Tôi đi tìm bạn tôi đây,

Bạn thấy tôi khó chưng nay chẳng chào.

284. Tôi muốn lên non tìm con chim lạ,

Ở dưới thị thiền chim chạ thiếu chi.

285. Tôi đây như thể áo tơi,

Khi mưa thì dùng, tạnh trời thì thôi.

286. Tối tăm biết mít là gai,

Biết quen hay lạ, biết ai mà chào.

287. Từ rày buộc chỉ cổ tay,

Chim đậu thì bắt, chim bay thì đừng.

288. Tới đây đất nước lạ lùng,

Chim kêu phải sợ, cá vùng phải kiêng

289. Tua rua đã xế ngang đầu,

Em còn đứng lại làm giàu cho cha.

290. Tưởng giếng sâu nối sợi dây dài

Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây.

291. Tưởng rằng đá nát thì thôi,

Hay đâu đá nát đun vôi lại nồng.

292. Tưởng lấy anh cho lành manh áo,

Hay đâu lấy anh rồi bán áo nuôi anh.

293. Tưởng rằng rồng ấp với mây

Ai ngờ rồng ấp với cây địa liền.

294. Tưởng rằng nước chảy đá mòn,

Ai ngờ nước chảy đá còn trơ trơ.

295. Thà rằng chẳng biết cho xong,

Biết ra kẻ bắc, người đông thêm sầu.

296. Thà ăn bắp hột chà vôi,

Còn hơn giàu có bồ côi một mình.

297. Thà rằng chẳng biết cho đừng,

Biết ra dan díu nửa chừng lại thôi.

Con sông bên lở bên bồi,

Một con cá lội mấy người buông câu.

298. Tham vàng bỏ ngãi, anh ơi !

Vàng thì ăn hết, ngãi tôi hãy còn.

299. Tham vàng bỏ đống gạch đầy,

Vàng thì ăn hết, gạch xây nên thành.

300. Thành đổ đã có chúa xây,

Việc gì gái góa lo ngày lo đêm.

301. Thân em tội nghiệp về đâu,

Ngày ngày em chổng phao câu lên trời.

302. Thế gian lắm kẻ mơ màng,

Thấy hòn son thắm ngỡ vàng chắt chiu.

303. Thế tình chuộng lạ tham thanh,

Bên khinh bên trọng ra tình xấu chơi.

304. Thế gian còn mặt mũi nào,

Đã nhổ, lại liếm làm sao cho đành.

305. Thế gian nói chi thì mặc nó,

Miễn là mình không có thì thôi.

306. Thiếu chi cam rim, hồng rim,

Bắt anh đi tìm khế rụng bờ ao.

307. Thôi thôi giụi đuốc đi thầm,

Còn duyên chi nữa mua trầm bán hương.

308. Thuở giàu sang nhiều kẻ yêu vì,

Đến khi khó, rủ nhau gièm sém.

309. Thuyền đua thì lái cũng đua,

Thuyền lên trên bờ thì lái chết toi.

Thuyền câu lơ lửng đã xong,

Thuyền chài lơ lửng uổng công thuyền chài.

310. Thuận buồm xuôi gió, chén chú chén anh,

Lên thác xuống ghềnh, mày tao chi tớ.

311. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

Thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn.

312. Thương miệng thương môi,

Thương miếng xôi miếng thịt.

313. Thương miệng thương môi,

Việc quan anh cứ phép công anh làm.

314. Thương người khác thể thương thân,

Ghét người như thể vun phân cho người.

315. Thương thương, nhớ nhớ, thương thương,

Nước kia muốn chảy mà mương không đào.

316. Trách thân chẳng dám giận trời,

Trách thân lắm lắm, giận trời bao nhiêu.

317. Trai ba mươi tuổi mà già,

Gái bốn mươi tuổi đang ra má hồng.

318. Trăm năm trăm tuổi, trăm chồng,

Hễ ai có bạc, thì bồng lên tay.

319. Trăm năm dốc nguyện đá vàng,

Dè đâu gãy gánh giữa đàng khá toan.

320. Trắng như thủy tinh,

Trong như giá lọc,

Nhún mình đồng đen,

Ai ơi chớ nghĩ rằng hèn,

Kìa như nước đục đánh phèn lại trong.

321. Trẻ chẳng tha, già chẳng thương,

Cóc nhái, ễnh ương chấp chi, nhặt nhạnh.

322. Trèo non ước những non cao,

Anh đi đò dọc, ước ao sông dài.

323. Trèo lên cây tắt lắt lòng,

Bước sang cây thị lại hòng thanh yên.

324. Trèo lên Ba-dội tôi coi,

Bốn dội tôi ngồi, năm dội tôi trông.

Nồi đồng lại úp vung đồng,

Con gái xứ Huế lấy chồng Đồng-nai.

Giậm chân xuống đất kêu trời,

Lấy chồng trong Quảng biết đời nào ra.

325. Trách bậu sao không dạ lo âu,

Sao không có phản Trụ đầu Châu cho rồi.

326. Trộm vàng, trộm bạc cho cam,

Trộm một nắm cám, cũng mang tiếng đời.

327. Trong lưng chẳng có một đồng,

Lời nói như rồng, chúng chẳng thèm nghe.

Vai mang túi bạc kè kè,

Nói bậy nói bạ chúng nghe rầm rầm.

328. Trong ba mươi sáu đường tư,

Đường nào phú quý phong lưu thì làm.

329. Trong lòng bối rối băn khoăn,

Chân đi thất thểu, cơm ăn ít nhiều.

330. Trông trăng mà thẹn với trời,

Soi gương mà thẹn với người trong gương.

331. Trống chùa ai đánh thùng thùng,

Của chung ai khéo vẫy vùng nên riêng.

332. Trồng tre chẳng dám ăn măng,

Để cho măng lớn kết bè đưa dâu.

Đưa dâu thì đưa bằng ghe,

Đừng đưa bằng bè ướt áo nàng dâu.

333. Trời mưa ướt bụi ướt bờ,

Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em.

334. Trời sanh hùm chẳng có vây,

Hùm mà có cánh, hùm bay lên trời.

335. Trời sinh ra kiếp hay chơi,

Sao trời lại khép vào nơi không tiền.

336. Trời sao trời chẳng ở công,

Người ba bốn vợ, người không vợ nào.

337. Vàng mười chê đắt không mua,

Mua lấy vàng bảy thiệt thua trăm đường.

338. Vì sông nên phải lụy thuyền,

Chớ như đường liền ai phải lụy ai.

339. Ví dầu nhà dột cột xiêu,

Muốn đi cưới vợ, sợ nhiều miệng ăn.

340. Xa sông xách nước bằng chình,

Sẩy tay rớt xuống gẫm mình vô duyên.

341. Xa sông cách núi lỡ vời,

Gởi thơ sợ lậu, gởi lời sợ quên.

342. Xa xôi chi đó mà lầm,

Phải hương hương bén, phải trầm trầm thơm.

343. Xăm xăm bước tới cây chanh,

Lăm le muốn bẻ sợ nhành chông gai,

344. Xúp lê ba tàu ra biển bắc,

Giậm cẳng kêu trời, chồng bắc vợ nam.

345. Yêu nhau chẳng lấy được nhau,

Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ rời.

b) MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

Con người là cá thể của vũ trụ. Mỗi con người đều chất chứa một khả năng tự tồn. Chính khả năng tự tồn ấy đưa con người đến trạng thái vị kỷ, mà xưa nay trong cuộc sống, giữa con người và con người vẫn là những đối tượng mâu thuẫn bất diệt. Đó là điều căn bản không thể tránh được.

Dựa trên căn bản mâu thuẫn tất yếu ấy, con người bị qui luật tranh đấu tự tồn thúc đẩy đem hết khả năng tinh vi của bộ óc mình cố tranh đoạt lẽ sống, trộn vào năng lực của guồng máy thiên nhiên một năng lực của khối óc tạo ra hỗn loạn, hiềm khích, tranh chấp giữa con người và con người.

Bởi vậy, khi khảo sát về sự mâu thuẫn giữa con người và con người, ngoài yếu tố tất yếu của thiên nhiên, chúng ta còn phải nói đến yếu tố phát triển của khối óc con người nữa. Chính khối óc con người mới là khả năng phức tạp trong guồng máy xã hội.

Khối óc đã biến qui luật mâu thuẫn thiên nhiên thành qui luật mâu thuẫn của con người. Bởi vì, nếu con người không có khối óc, không đem khối óc ấy pha trộn vào lẽ sống thì xã hội loài người chẳng qua cũng chỉ như xã hội của muôn loài sinh vật khác, không hơn không kém. Sự khôn ngoan của con người đã đem đến cho họ năng lực bảo tồn lẽ sống, đồng thời cũng đem đến cho họ những nguy hiểm của sự khôn ngoan trong phạm vi tranh đấu tự tồn ấy. Vậy, mâu thuẫn giữa con người và con người mà chúng ta cần nói ở đây là phần đấu tranh của khối óc. Nói cách khác, là sự cọ xát giữa cái khôn ngoan của con người trong phạm vi vị kỷ.

Vị kỷ ? Chỉ hai tiếng ấy chúng ta cũng đủ hình dung một năng lực chất chứa trong xã hội loài người rồi. Nó là nguồn gốc phát sinh và hủy diệt, đưa con người vào quĩ đạo xâu xé, tranh đoạt.

Các nhà đạo đức học đã đem tình thương và ý thức vị tha chống lại, cố làm giảm bớt cường độ xâu xé và tranh đoạt ấy, tuy nhiên tham vọng cá nhân con người không cho phép bộ óc họ cởi bỏ những cái khôn ngoan luôn luôn nẩy nở không đồng đều.

Thật vậy, nếu mỗi bộ óc con người đem đến cho mỗi cá nhân một mức phát triển tương đương thì có lẽ loài người không đến nỗi dẫn cuộc sống họ vào trạng thái thảm khốc, bi đát. Sự khôn ngoan chênh lệch đã khiến con người phát huy ý thức vị kỷ của mình, mà đạo đức, tôn giáo dù có phổ biến đến đâu cũng không sao kềm hãm nổi.

Từ xưa đến nay, loài người đã tốn biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu tâm huyết để tách rời cuộc sống con người ra khỏi ý thức vị kỷ, nhưng công việc làm ấy không đem lại kết quả bao nhiêu chỉ vì loài người không có cách nào làm cho trí khôn con người nẩy nở đồng đều. Yếu tố chênh lệch trong sự hiểu biết con người chính là một khó khăn, mà theo chúng tôi nghĩ, muốn cho xã hội loài người đi đến chỗ nhân đạo, tách rời lòng vị kỷ, thì trước nhất phải thăng bằng trình độ hiểu biết đã. Những tính xấu của con người như : ích kỷ, tham lam, giả dối, độc ác, dua nịnh, phản phúc, sở dĩ được nẩy nở cũng chỉ vì trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân trong xã hội bị chênh lệch mà thôi.

Người này bị kẻ kia lừa dối chỉ vì người này kém hiểu biết hơn. Dân tộc này bị dân tộc khác đô hộ chỉ vì dân tộc này kém khôn ngoan hơn. Ngược lại, những kẻ có ý thức tham lam, giả dối, dua nịnh chỉ vì họ cảm thấy họ đủ tài làm những việc ấy mà kẻ khác không đủ khôn ngoan để hiểu biết hành động của họ. Nói cách dễ hiểu, khi ý thức lừa đảo của mình bị kẻ khác khám phá (tức cũng đủ khôn ngoan) thì mình không dám giở thủ đoạn nữa. Đó là luật thăng bằng giữa mâu thuẫn vậy.

Nhưng, nói chung, mọi tính xấu trong con người ai cũng ghét, mà trái lại, ai cũng làm. Đó là điều mâu thuẫn, mà căn nguyên đều do lòng vị kỷ cả.

Những tính xấu ấy đã phát hiện từ xã hội ngàn xưa, đưa vào tâm tư con người một bất mãn, cay đắng : bất mãn giữa con người và con người.

Ở đây, chúng ta thử xem trạng thái bất mãn ấy chứng minh qua một số ca dao :

I. ÍCH KỶ

Ích kỷ tức là vị kỷ. Nó nằm trong tính chất tự tồn. Mỗi chúng ta đều cảm thấy nó khi chúng ta bị thiệt thòi. Chúng ta muốn đem lại cho chúng ta nhiều thụ hưởng mà chúng ta bị thiếu thốn. Vậy ích kỷ là lòng thương mình, thương thân phận cá nhân mình hơn thân phận kẻ khác.

Người bình dân cũng đã thấy trạng thái của nó qua tâm tư họ, như :

Một mai cúc ngã lan quì,

Bậu lo thân bậu, lo gì thân qua !

Khi mỗi cá nhân đứng trước một khả năng thụ hưởng bao giờ cá nhân ấy cũng nghĩ đến quyền lợi của họ trước hết. Chính đó là lòng ích kỷ mà con người cảm thấy như là một tật xấu. Nhưng nếu xét cho cùng thì ích kỷ là năng lực của mỗi cá thể cần phải có để tự bảo vệ cái sống của mình. Chẳng những đối với con người mà đối với vạn hữu cũng vậy, mỗi sinh vật đều chất chứa bên trong một năng lực tự tồn, nhờ năng lực ấy mỗi cá thể tránh được trạng thái tự diệt trong sức tranh đoạt của vạn hữu. Vậy ích kỷ theo đúng nghĩa của nó không phải là xấu. Cái xấu của con người nằm trong ý thức tham vọng, bất công. Bởi vì, con người dùng bộ óc để bảo vệ lẽ sống, thì con người cũng lại dùng bộ óc để mưu đồ tham vọng cá nhân của mình.

Ví dụ như người bình dân thời xưa đã than thở :

Tiếc công xúc tép nuôi cò,

Mai sau cò lớn, cò dò, cò bay.

Thì đó không phải là họ tiếc con cò, mà chính họ hờn trách con cò đã đặt tham vọng vào đời sống của nó. Nó đã được sống ấm no trong tay con người nuôi dưỡng, lại còn thèm muốn những cảnh sung sướng khác hơn. Cũng như :

Của mình, mình giữ bo bo,

Của người thì thả cho bò nó ăn.

Thì đó cũng do tham vọng của con người tạo ra tánh ích kỷ. Nhưng tánh ích kỷ con người rất phức tạp. Từ chỗ thương thân bảo tồn lẽ sống đi dần đến chỗ mất hẳn tình thương đối với kẻ khác, như :

Ông chết thì mặc thân ông,

Bà tôi sắp sửa lấy chồng hôm nay.

Bà chết thì thiệt thân bà,

Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.

Hoặc : Thế gian giúp miệng lao xao,

Ai cho đồng nào mà đỡ khó khăn.

Từ chỗ thương thân mình, lo lắng cho thân mình, tính ích kỷ của con người dần dần tách rời tình thương giữa cá nhân này đối với cá nhân khác, mà những triết lý vị tha không thể nào kềm hãm nổi.

Sở dĩ xã hội loài người từ trước đến nay các nhà đạo đức học đem thuyết vị tha làm phương châm cho lẽ sống cũng chỉ vì muốn cổi bỏ tánh vị kỷ của con người. Nhưng khổ thay, phần căn bản của tính ấy lại nằm trong qui luật tất yếu của vạn hữu. Mỗi cá thể trong vũ trụ cần phải có khả năng tự vệ, tự tồn. Chính khả năng ấy tạo thành qui luật biến động và sinh diệt trong vũ trụ. Khi đã là qui luật tất yếu của vũ trụ thì bộ óc con người, sản phẩm của vũ trụ, làm gì có thể cải biến được.

Từ chỗ căn bản, phát xuất do qui luật thiên nhiên ấy, con người đem bộ óc khôn ngoan của mình phổ biến vào, đưa qui luật vị kỷ của cá thể chui vào một địa hạt mới : địa hạt ích kỷ với tính chất phức tạp của khối óc.

Xã hội Việt-nam thuở xưa, sống dưới guồng máy phong kiến, quyền lợi vua chúa được tôn trọng tuyệt đối. Thần dân trong chế độ phong kiến được xem như của riêng của nhà vua. Vậy, tổ chức phong kiến là một tổ chức vị kỷ, bắt buộc mọi người phải hy sinh cho một nhóm gia đình vua chúa, mà thuyết Khổng Mạnh cho đó là « sùng thiên mệnh » tức là hợp với lẽ sống thiên nhiên.

Một mặt Nho giáo hô hào dân chúng phụng sự cho nhóm người vua chúa, một mặt Nho giáo lại bắt dân chúng phải vị tha, tức là hy sinh quyền lợi cá nhân mình để phụng sự cho lẽ sống riêng rẽ của nhóm vua chúa. Như vậy, giáo lý vị tha của Khổng Mạnh, bản chất lại mâu thuẫn, không phù hợp với tác động thăng bằng trong lẽ sống thiên nhiên. Lẽ sống thiên nhiên không bắt buộc một cá thể nào trong vạn hữu phải hy sinh để phụng sự riêng rẽ cho một cá thể nào cả. Nếu mỗi cá thể phải đi đến chỗ diệt vong cũng chỉ vì để thăng bằng guồng máy sinh tồn của vũ trụ mà thôi.

Bản chất vị tha của Nho giáo vì thế không tồn tại, mặc dù trong thời gian nào đó, sức mạnh của Nho giáo đã chi phối ít nhiều bộ óc con người đương thời và bảo vệ guồng máy phong kiến, song cuộc sống con người không thể kềm hãm mãi trong khuôn khổ bất công. Trạng thái mâu thuẫn trong tính chất vị kỷ bắt buộc bộ óc con người phải tranh đấu và phá vỡ những độc tài, chế ngự, giam hãm, biến guồng máy xã hội thành một vũ trường để đấu nhau bằng những mánh khóe xảo quyệt, khôn ngoan của bộ óc.

Riêng các tôn giáo, từ xưa đến nay vẫn đem đạo lý phổ theo đời sống xã hội loài người. Không một tôn giáo nào không thấy lòng vị kỷ của con người là nguyên nhân căn bản đưa loài người đến thảm trạng tương tàn tương hại. Tuy nhiên, mọi giáo lý vị tha của các tôn giáo vẫn chỉ giữ được vai trò của một kẻ đồng hành để an ủi những mảnh tâm hồn đau khổ vì bị loại ra khỏi đấu trường. Nói cách khác, chúng ta có thể ví cuộc sống loài người như một cuộc đua xe đạp, họ cố tranh nhau để vượt lên, họ không thương những kẻ vấp ngã, trái lại, họ cần nhiều vấp ngã ấy để họ xây chiến thắng. Thì tôn giáo chính là những chiếc xe Hồng-thập-tự theo dõi vòng đua để chấp nhặt những kẻ chiến bại mà băng bó, vỗ về. Cuộc đua càng gay gắt, con đường càng gồ ghề, khúc khuỷu thì trên xe Hồng-thập-tự càng đông khách.

Bởi vậy, đời sống con người coi tôn giáo như chiếc xe Hồng-thập-tự chạy kèm theo vòng đua.

Nếu bộ óc con người sáng chế ra những tài năng, thì lòng ích kỷ của con người cũng không có giới hạn. Lòng ích kỷ ấy bắt đầu từ trạng thái bảo vệ chính đáng đi dần đến chỗ vì thương mình mà không thương người, rồi lại tiến đến chỗ vì quá thương mình mà giết người. Ví dụ :

Yêu nhau yêu cả bàn chân.

Ghét nhau ghét cả tông nhân họ hàng.

Khi thương thì ngóng trông làu lạu,

Khi ghét nhau mặt quạu làm ngơ.

Yêu nhau thì nói quá ưa,

Ghét nhau, nói thiếu nói thừa như không.

Con người tại sao lại có chuyện thương ghét ? Thương ghét phát xuất từ lãnh vực tình cảm. Tuy nhiên, không phải tình cảm con người bỗng dưng nổi dậy một cách vô lý. Tình cảm bao giờ cũng bắt nguồn từ một nguyên nhân. Nguyên nhân ấy chính là lòng vị kỷ. Bởi vậy chúng ta không bao giờ thương một kẻ làm hại chúng ta, cũng không bao giờ ghét một kẻ làm lợi chúng ta.

Lòng vị kỷ con người tiến đến chỗ thương, ghét, nhưng không phải chỉ có thế, nó còn tìm cách làm hại những kẻ bị ghen ghét nữa, mà người xưa đã từng nói « ích kỷ hại nhân ».

Đó là những hành động phũ phàng của con người, mà trong ca dao thời xưa, người bình dân Việt-nam đã mô tả những đau đớn ấy như những tiếng rên than bất diệt. Ví dụ :

Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Vô duyên ghét kẻ có duyên,

Không tiền ghét kẻ có tiền cầm tay.

Cóc chết bao thuở nhái rầu,

Ễnh ương lớn tiếng nhái bầu dựa hơi !

Lòng ích kỷ xóa bỏ mọi công bằng trong xã hội. Kẻ ích kỷ bao giờ cũng nhìn thấy cái tốt của mình mà không thấy cái tốt của kẻ khác, cũng như họ chỉ thấy cái xấu của kẻ khác mà không thấy cái xấu của mình.

Người bình dân thời xưa đã chứng minh :

Chân mình thì lấm mê mê,

Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.

Lươn ngắn mà chê lạch dài,

Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch mồm.

Nói người chẳng ngẫm đến thân,

Thử rờ lên gáy xem gần hay xa.

Lòng ích kỷ chẳng những làm cho con người mù quáng trước lẽ phải, trước sự công bằng, mà còn biến con người trở thành những con vật mang nhiều tính nết xấu xa nhất đối với nhân đạo. Những tính xấu như giả dối, tham lam, độc ác, dua nịnh, phản phúc đều do lòng ích kỷ mà ra cả. Nó là biến thái của tính ích kỷ.

2. GIẢ DỐI

Tại sao con người lại giả dối ?

Thật chẳng có gì khó hiểu. Nó chỉ là sản phẩm của khối óc, do trí thông minh của con người mà ra. Vũ trụ tạo cho con người một năng lực hiểu biết để làm chủ muôn vật trên quả đất, nhưng vũ trụ lại bắt con người phải sống trong vòng định luật của thiên nhiên, nghĩa là phải tranh đấu tự tồn, do đó, khối óc con người phải lệ thuộc vào cuộc sống con người. Khi đã lệ thuộc vào cuộc sống, khối óc trở nên phức tạp. Nếu có những kẻ dùng thông minh hiểu biết của mình để khai phá, tìm hiểu cơ năng vũ trụ, giúp cho đời sống có đủ tiện nghi, sung túc, thì họ lại dùng nó đi lừa gạt đồng loại, tranh đoạt lẽ sống thường ngày. Vậy giả dối là năng lực của khối óc, tranh đấu cho tính chất vị kỷ. Nó cũng là sự cọ xát về khả năng khôn ngoan của bộ óc, biến cuộc sống con người thành đấu trường. Nếu con người không vị kỷ thì chẳng cần giả dối để làm gì. Mà đã có người giả dối tất kẻ khác bắt buộc phải đề phòng. Trình độ giả dối con người lại không đứng yên một chỗ, nó tiến triển theo sự khôn ngoan của khối óc con người tùy từng thời đại.

Người bình dân thời xưa tuy sống trong hiền lành, chất phác, sự giả dối không sâu sắc như ở thế hệ chúng ta, tuy nhiên, khi bộ óc con người đã lệ thuộc vào lẽ sống, tâm tư con người đã phát khởi từ lòng vị kỷ thì dù thời đại nào, thế hệ nào, tính chất giả dối vẫn là điều để cho loài người phải xót xa, thống khổ, hờn trách.

Đây, chúng ta thử nhìn vào trạng thái nghi hoặc của họ :

Dò sông dò bể dễ dò,

Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

Lòng người thăm thẳm mù khơi,

Không bờ, không bến biết nơi nào dò.

Chính người xưa cũng đã tìm thấy trong thâm tâm con người như một đại dương mù mịt. Nhưng đại dương còn có đáy, bộ óc con người còn có thể khám phá được, còn lòng người thì u tối, không biết chiều sâu bao nhiêu, đến nỗi bộ óc con người cũng đành thúc thủ.

Nói như thế cũng có nghĩa là người bình dân đã cho ta thấy bộ óc con người có thể khám phá cơ năng vũ trụ, nhưng không thể khám phá cơ năng của khối óc, bởi vì lòng người chính là hiện tượng cơ năng của khối óc. Đem khối óc khám phá khối óc là điều không thể làm được. Túi khôn con người là một hiện tượng « ma quái » luôn luôn chui vào bề sâu của « đáy huyệt » vô hình. Ở đấy nó biến hóa thiên hình vạn trạng, mà loài người càng theo đuổi nó thì nó càng tỏ ra một năng lực phi thường, để rồi không còn ai hiểu được nó là cái gì, hình dáng ra sao nữa ? Chúng ta chỉ còn thấy ở con người những hình hài giả tượng, mà từ trước đến nay chúng ta phải luôn luôn đi tìm chân tướng đích thực của nó.

Những gì chúng ta than phiền, trách móc, oán ghét giữa con người và con người cũng chỉ vì chúng ta bị lầm lạc hình hài giả tượng ấy. Và đây, là điển hình một lầm lạc :

Mình nói dối ta mình chửa có chồng,

Để ta mang cốm mang hồng sang sêu.

Ta sang mình có chồng rồi,

Để cốm ta mốc, để hồng long tai.

Ngỡ là long một long hai,

Ai ngờ long cả trăm hai quả hồng.

Cái gì buộc con người phải phỉnh phờ, giả dối như vậy nếu không do lòng vị kỷ.

Lòng vị kỷ không thương đến ai cả, chỉ làm sao thỏa mãn được tham vọng cá nhân. Do đó, dù kẻ khác có thiệt thòi mà đem lại quyền lợi cho họ, họ vẫn làm. Từ chỗ mưu cầu quyền lợi cá nhân họ đi đến chỗ giả dối, lừa gạt.

Đây là một diễn biến bắt đầu :

Anh về rẫy vợ anh ra,

Con anh thơ dại thì đà có tôi.

Nhưng đến lúc : Anh đà rẫy vợ anh rồi.

Thì : Con anh thơ dại, mặc trời với anh.

Vì mưu cầu quyền lợi cá nhân mà con người sinh ra tính giả dối, lừa đảo như vậy, cho nên trong cuộc sống con người tự mình bắt buộc phải đề phòng. Họ nghi ngờ tất cả hành động của con người trước lẽ sống. Họ khuyên :

Chớ nghe quân tử ỉ òn,

Mà rồi có lúc ẵm con một mình !

Làm sao không nghi ngờ được khi trí khôn con người càng điêu luyện thì cái bề ngoài con người càng khác biệt với lòng chân thật của họ. Họ cố tình làm cho kẻ khác lầm lạc để họ hưởng lợi. Hình dáng bên ngoài không còn là hình dáng đích thực của con người mà nó trở thành quái tượng của ý thức đấu tranh cơm áo. Chính người xưa cũng đã trông thấy quái tượng ấy xuất hiện một cách đáng sợ mà họ đã vẽ lại trong những câu ca dao như :

Khen ai khéo tạc bình phong,

Bên ngoài long, phụng, trong lòng gạch vôi.

Cái tốt bên ngoài chỉ để che đậy cái xấu bên trong. Con người càng xấu thì lại càng làm bên ngoài thật tốt để kẻ khác lầm lạc không thấy cái xấu của mình. Đó chính là trình độ kỹ thuật của kẻ giả dối dùng để che đậy. Cho nên con người có quyền nghi ngờ và đề phòng :

Nghe anh được lúc bây giờ,

Mai sau trứng nước con thơ ai nhìn ?

Anh đừng rơi nước mắt ớt

Mà đừng rớt nước mắt gừng.

Nhơn duyên ông trời định nửa chừng thì thôi !

Qua mấy câu ca dao ấy chúng ta thấy rõ tâm tư người bình dân thời xưa cũng đã đau đớn với trạng thái giả dối của con người không ít. Bởi vậy, cuộc sống của họ bắt đầu có kinh nghiệm đối phó, như :

Thức đêm mới biết đêm dài,

Ở lâu mới biết ai ai bạc tình.

Thử lòng quân tử mà chơi,

Thử lòng quân tử xem vơi hay đầy.

Mình rằng : « Mình muốn lấy ta ».

Ta đi xuống chợ mua gà xem chân.

Một chân xem cửa xem nhà,

Một chân xem lứa bạn ta thế nào ?

Xấu dao cắt chẳng mỏng gừng,

Đó thương dối dối, đây cũng mừng sơ sơ.

Trên đây là những ý thức của con người bình dân khi phải đương đầu với mọi giả dối trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ đã thấy cái gì bên ngoài của con người chỉ là ảo tưởng thì dù có đem kinh nghiệm hiểu biết của họ để đối phó cũng không thể đưa con người trở về hoàn toàn với chân tướng. Cho nên cuộc sống cứ lần lần đẩy con người vào trạng thái gạt gẫm, và chính họ phải bất mãn, phỉ nhổ :

Thói đời hay chọn bề ngoài,

Nào ai, ai đã biết hơn ai nào.

Màn treo, chiếu rách cũng treo,

Hương xông nghi ngút, củi rìu cũng xông.

Trông anh như thể sao mai,

Biết rằng trong có như ngoài hay không ?

Ở xa anh tưởng là tiên,

Lại gần mới biết thuyền quyên lộn chồng.

Và có lúc họ châm biếm :

Bắc thang lên tận cung mây,

Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời.

Cuội nghe thấy nói Cuội cười,

Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc đa.

Hoặc : Ai mà phụ nghĩa quên công,

Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng thơm.

Hay : Rồng nằm bể cạn phơi râu,

Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi.

Mướp đắng đã có mạt cưa,

Bố bây hay lừa, đã có mẹ bây.

Nhìn chung qua ca dao, chúng ta thấy rõ người bình dân thời xưa rất bất mãn với trạng thái giả dối trong xã hội loài người. Họ là những nạn nhân bị cuộc sống đa diện của khối óc con người lôi cuốn, mà họ là kẻ bị nhiều phỉnh phờ nhất.

3. ĐỘC ÁC

Nếu giả dối là trạng thái biến động của khối óc con người mưu tìm lẽ sống trong phạm vị ích kỷ thì độc ác chính là trạng thái biến động của tình cảm, khi tình cảm bị lẽ sống cám dỗ.

Lòng vị kỷ đưa con người từ thương đến ghét và tiếp tục diễn biến tai hại hơn nữa là độc ác. Vậy độc ác cũng phát xuất từ lòng vị kỷ. Nhưng, khi nói đến độc ác thì chúng ta nghĩ ngay đến lãnh vực tình cảm con người. Bởi vì, nếu không đặt vấn đề tình cảm thì độc ác không còn ý nghĩa nữa.

Vũ trụ sinh ra vạn hữu, nhưng vũ trụ cũng bắt vạn hữu phải gánh chịu những tai ương trong qui luật mâu thuẫn và sinh diệt. Riêng đối với loài người, vũ trụ cũng đem đến những phong ba bão tố, những cảnh chết chóc hãi hùng mà con người phải đem trí óc thông minh để chống lại thiên nhiên, bảo tồn lẽ sống, vậy chúng ta không thể bảo vũ trụ độc ác với loài người, vì đó là qui luật chung cho vạn hữu. Đối với loài vật, các thú dữ lúc nào cũng lăm le tiêu diệt sinh mệnh của loài thú nhỏ hơn để nuôi sống, vậy loài vật cũng không là độc ác, vì đó là qui luật sinh tồn.

Nhưng, khi loài người giết nhau để cướp giật lẽ sống, tranh đoạt nhau để mưu sinh, chúng ta cảm thấy con người độc ác. Tại sao ?

Đó chỉ vì con người tự cho mình là một sinh vật có khối óc thông mình, có một tình cảm tế nhị hơn muôn loài vạn vật. Lẽ ra chúng ta phải dùng khối óc ấy, tình cảm ấy để thương yêu đùm bọc lấy nhau, tổ chức một cuộc sống dựa trên tinh thần tương thân tương trợ, thì chúng ta lại dùng sự thông minh hiểu biết của chúng ta để chém giết lẫn nhau, làm hại lẫn nhau. Đó chính là sự độc ác mà loài người nói đến. Bộ óc con người càng khôn ngoan thì trạng thái độc ác của xã hội loài người càng khốc liệt.

Đem hai cuộc chiến tranh làm ví dụ :

Ngày xưa tuy con người cổ lỗ, dã man, song họ giết nhau chỉ bằng gậy gộ, tầm sát hại không bao nhiêu. Ngày nay chúng ta văn minh hơn, chế ra tàu bay, bom đạn, một tiếng nổ có thể giết hàng loạt người. Như vậy, cái độc ác của loài người không còn nằm trong qui luật sinh diệt của thiên nhiên, mà nằm trong trạng thái tiến triển của khối óc.

Không phải đến ngày nay chúng ta mới thấy yếu tố độc ác của con người nẩy sinh do khối óc mưu đồ việc tranh đoạt mà chính người xưa cũng đã nhận thấy điều đó. Cho nên, họ đã phản ảnh qua ca dao :

Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

Nếu sự giả dối của con người diễn biến qua thiên hình vạn trạng, thì lòng độc ác con người cũng phức tạp vô cùng, không phải chỉ đóng khung trong hành động chém giết, mà nó rải rác bàng bạc trong mọi lãnh vực của cuộc sống.

Ở đây chúng ta thử soát xét qua một số ca dao của người bình dân thời xưa để chứng minh lòng độc ác con người qua mọi lãnh vực ấy.

Trước hết, trong lãnh vực tình yêu, chúng ta thấy :

Con cua anh không sợ, anh sợ con còng,

Người du côn anh không sợ, anh sợ gái hai lòng hại anh.

Lòng độc ác con người không phải lúc nào cũng biểu tượng bằng hung dữ, đôi khi nó ẩn nấp trong những cử chỉ dịu dàng, lả lướt, êm ả, mà con người không sao đề phòng được. Truyện Kiều, Nguyễn Du diễn tả cái độc ác của Hoạn-Thư trong tính chất ghen tương chính là cái độc ác của trường hợp này. Người bình dân tuy hiền lành, chất phác, song không phải vì hiền lành chất phác mà tâm tư họ không tìm thấy những trạng thái độc ác như vậy :

Anh thấy em nhan sắc, anh bắt rùng mình,

Nổi xung gan thì có, thuận nhơn tình thì không.

Thì rõ ràng họ đã có một nhận xét tinh vi về lòng dạ con người. Sự độc ác không thể ẩn núp trong cái đẹp mỹ miều mà làm họ mù quáng được. Ngày nay chúng ta khám phá ra những tư tưởng lạ, như :

Hồng nào hồng chẳng có gai.

Hoặc : Một hai nghiêng nước nghiêng thành,

Sắc đành đòi một, tài đành họa hai. (Kiều)

Mà chúng ta cho là mới mẻ, thì chính là người bình dân thời xưa đã tìm thấy rồi.

Lòng độc ác của con người có lúc lại ẩn núp trong cái vỏ đạo đức, mà người bình dân đã khám phá ra được, như :

Tiếng đồn cha mẹ anh hiền,

Cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai.

Hoặc : Ngoài miệng thì niệm Nam-mô,

Trong lòng thì chứa một bồ dao găm.

Những tính xấu có lúc lại liên kết với nhau theo trình độ khôn ngoan của bộ óc con người, ví như trên đây là trường hợp sự độc ác liên kết với sự giả dối, lừa gạt. Cũng như :

Đi lên đi xuống bờ dừa,

Lấy ai có chửa, đổ thừa cho tôi !

Chúng ta không thể nào kể hết những trạng thái ác độc của con người khi nó uốn nắn theo trí khôn hòa vào lẽ sống.

Để kết luận, chúng ta có tể tóm lược một cách đại khái là dù tính cách độc ác thế nào cũng đều phát xuất nơi lòng vị kỷ của con người mà ra. Chính lẽ sống con người đã tạo nên nó và biến nó thành sự mâu thuẫn giữa con người và con người.

4. THAM LAM

Tính tham lam của con người cũng do lòng vị kỷ mà có. Nếu không vị kỷ thì chẳng cần tham lam làm gì ! Cuộc sống loài người càng văn minh tiến bộ, lòng vị kỷ càng nhiều. Đáng lẽ phải hưởng thụ theo mức sống bình thường, con người lại đòi hỏi một sự hưởng thụ vượt ngoài khả năng cung cầu giữa con người và cuộc sống. Chúng ta cứ tưởng trí óc con người đem đến cho đời sống con người những phương tiện dồi dào thì lòng vị kỷ con người sẽ giảm thiểu, và ý thức tham lam cũng nhờ đó mà hủy diệt dần.

Nhưng không, nếu con người đã có trí khôn, biến cải xã hội, thì trí không con người cũng lại thúc đẩy con người tìm kiếm những mục tiêu hưởng thụ tuyệt đỉnh, mà mức tham vọng của hưởng thụ chẳng bao giờ được thỏa mãn.

Thế giới loài người từ lúc sơ khởi đến nay trải qua một lớp thời gian dày đặc, trong đó bộ óc con người đã kiến tạo lịch sử xã hội, đưa xã hội loài người từ hoang sơ cổ lỗ đến nếp sống văn minh. Tuy nhiên, trên dòng lịch sử tiến bộ của loài người vẫn nằm trong cái vòng lẩn quẩn.

Trở về với người xưa, chúng ta thấy mặc dù thế giới hoang sơ của họ không có gì văn minh, song lòng tham vọng của họ không quá quắt như chúng ta ngày nay. Cho nên, lòng tham của con người đi đôi với đà tiến triển của khối óc, mà mỗi thời tính chất mỗi khác.

Dù vậy, bất kỳ ở thế hệ nào, thời gian nào, tính tham lam của con người cũng là trạng thái gây mâu thuẫn trong lẽ sống giữa con người và con người.

Người bình dân thời xưa cũng đã thống trách tính chất tham lam của con người qua các câu ca dao, như :

Một nhà hai chủ không hòa

Hai vua một nước ắt là không yên.

Quyền lợi của con người xung đột khởi nguồn từ tham vọng, và tham vọng đã đưa con người vào đường xấu xa, mất cả nhân tính. Ví dụ :

Chim quyên nó đậu bụi riềng,

Dẫu bà con ruột không tiền cũng xa !

Lòng tham vọng xuất phát từ ý thức vị kỷ. Đã vị kỷ thì không còn biết nghĩ đến những thiệt thòi, đau đớn của kẻ khác. Cho nên có những hành động sau đây, chúng ta cũng chẳng lấy gì làm lạ.

Thôi thôi, buông áo em ra,

Đặng em đi bán kẻo hoa em tàn.

Có nên thì nói rằng nên,

Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng.

Làm chi cho dạ ngập ngừng,

Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.

Làm sao bảo họ dừng được khi lòng tham thúc giục họ phải chiếm đoạt để thụ hưởng, bất chấp những thiệt thòi của kẻ khác.

Nhưng nếu lòng giả dối, độc ác của con người phát hiện bằng nhiều hình thái thì lòng tham vọng của con người cũng chẳng phải đóng khuôn vào một bộ mặt nào nhất định. Nó cũng biến hóa thiên hình vạn trạng mà người bình dân thời xưa cũng đã cho chúng ta thấy :

Giàu sang nhiều kẻ đến nhà,

Khó khăn đến phải ruột rà xa nhau.

Anh em thậm thật là hiền,

Bởi một đồng tiền làm mất lòng nhau.

Tham thanh chuộng lạ tham thanh,

Chê đây quán nát lều tranh không ngồi.

Lòng tham con người quấy động cuộc sống xã hội, gây mâu thuẫn giữa con người và con người, khiến họ bất mãn, chống đối :

Chồng ăn chả, vợ ăn nem,

Đứa tớ có thèm mua thịt mà ăn.

Chồng đánh bạc, vợ đánh bài,

Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng !

Từ ý thức chống đối, người bình dân đã cho tham vọng con người là cái gì xấu xa, nên họ châm biếm :

Của chua ai thấy chẳng thèm,

Em cho chị mượn chồng em ít ngày,

Chồng em nào phải trâu cày,

Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm !

Chửa quen đi lại cho quen,

Tuy rằng cửa đóng mà then không cài.

Kẻ khinh người trọng vãng lai,

Song le cũng chửa có ai bằng lòng.

Thói đời chuộng của, chuộng công,

Nào ai có chuộng người không bao giờ.

Đĩ dại làm hại thằng tù,

Nó cho cái kẹo, nó cù cả đêm.

Mọi ý thức vị kỷ đều gieo vào cuộc sống loài người những mâu thuẫn. Nhưng vì xã hội thời xưa, trí khôn con người chưa đạt đến chỗ tinh vi, xảo quyệt như ngày nay, nên trạng thái mâu thuẫn chưa mấy sâu sắc.

5. DUA NỊNH

Dua nịnh cũng xuất phát từ ý thức vị kỷ mà thời nào cũng có. Nếu giả dối chỉ mới là trạng thái thông thường trong lãnh vực xảo quyệt thì dua nịnh chính là hành động tế nhị của óc con người khuynh đảo mọi trí khôn của kẻ khác.

Trong lãnh vực này, người dua nịnh phải là kẻ có một trình độ tâm lý cao hơn, biết lợi dụng sở thích của kẻ khác để làm cho họ thỏa mãn.

Kẻ dua nịnh bao giờ cũng bám vào những người có quyền hành, thế lực để mưu cầu lợi riêng. Vì vậy, người bình dân, lớp người nhỏ bé nhất trong mọi giai cấp xã hội rất ghét những phường ấy.

Trong ca dao Việt-nam, chúng ta thấy có rất nhiều câu khinh bỉ. Ví dụ :

Dạ trước mặt, trổ c… sau lưng !

Hoặc : Khi chưa câu, lụy trăm đàng,

Được rồi thì lại phũ phàng làm ngơ.

Tính dua nịnh của con người nếu làm cho kẻ được dua nịnh ưa thích thì trái lại người ngoài cho đó là một ý thức đê hèn. Vì vậy, dua nịnh cũng là trạng thái sinh mâu thuẫn giữa con người và con người trong lẽ sống.

6. PHẢN PHÚC

Con người từ dua nịnh đi đến phản phúc. Kẻ phản phúc là kẻ vong ân, bội nghĩa, chối bỏ lòng chung thủy mà tình cảm con người cho đó là trái đạo.

Sự liên hệ giữa con người trong cuộc sống đem đến những tình thương, những luyến ái, những dây giao cảm. Con người không muốn những yếu tố thiêng liêng ấy bị ruồng rẫy, chối bỏ, khiến cuộc sống loài người trở thành khô khan, vô vị.

Đời người không những chỉ mưu cầu cho lẽ sống vật chất, mà con phải chứa đựng những tình cảm về tinh thần. Bởi vậy, trong lúc chúng ta đem bộ óc kiến tạo xã hội, tìm hiểu cơ năng vũ trụ, sáng chế những phương tiện phục vụ cho cơm áo, thì chúng ta lại cũng đem bộ óc đi tìm ý sống, đem tình cảm rải vào dòng đời, đúc kết thành những chuỗi tâm tư, kiến tạo cho cuộc sống một ngôi nhà tư tưởng. Hai việc làm ấy đi song song với nhau không thể thiếu một.

Tuy nhiên những mâu thuẫn trong cuộc sống loài người luôn luôn là nguồn gốc đem đến cho con người những xáo trộn. Nếu con người cần đem trí khôn để kiến tạo xã hội thì con người vì quyền lợi cá nhân lại đem trí khôn phá phách những sự nghiệp do chính mình đã tác thành. Nếu con người cần đem tâm tư gieo vào lòng đời đúc thành một ngôi nhà lý tưởng của nhân loại, bảo vệ những mối giao cảm về tinh thần, thì chính con người lại vì quyền lợi cá nhân dứt bỏ, phá phách ngôi nhà ấy. Sự mâu thuẫn giữa tác thành và phá phách luôn luôn chống đối nhau. Cho nên, nếu đứng về phương diện cá nhân thì những mâu thuẫn ấy là tất yếu, không có gì đáng nói, nhưng nếu đứng về phương diện tập thể trong xã hội, thì những hành động cá nhân, vị kỷ thật đáng trách. Con người khác với muôn vật, không phải chỉ biết có cá nhân, mà trong cá nhân phải có tập thể, trong tinh thần tự tôn phải có tinh thần bảo vệ xã hội.

Chính vì quan niệm như vậy, người bình dân thời xưa đã chống lại mọi tâm tư và hành động phản phúc, chống lại những kẻ đã vì quyền lợi cá nhân dứt bỏ những cái gì thiêng liêng, cao quý mà đối với tình cảm con người cần phải được bảo tồn trong lẽ sống. Cái thiêng liêng cao quí ấy là tình thương đồng loại.

Những kẻ thiếu tình thương đều bị lớp người bình dân thống trách, như :

Uổng công xúc tép nuôi cò,

Còn ăn mau lớn, cò dò cò bay !

Lẽ sống của loài người, nếu bứt bỏ tình thương thì xã hội sẽ trống rỗng. Nếu cơm áo đã nuôi dưỡng thể xác con người, thì tình thương, sự chung thủy, chính là những món ăn tinh thần đem đến cho loài người ý nghĩa thanh cao của cuộc sống.

Ai đã sống trong nghèo nàn, khổ nhục đều thấy rõ nguồn an ủi của tình thương. Người bình dân rất cần tình thương để mà sống, để chiến đấu với mọi khổ cực của vật chất. Cho nên họ rất ghét những ý thức phản bội, không chung thủy.

Tâm tư của họ đã giãi bày qua những câu ca dao như :

Xưa kia ăn những của chồng,

Kiếm được một đống, đủng đỉnh ăn riêng.

Dây nhờ cây, dây lên cao,

Lên cao dây lại cười sao cây lùn.

Từ ý thức bất mãn những kẻ phản phúc, họ đi đến ý thức phản đối, thóa mạ, như :

Trách người quân tử vô danh,

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

Tuy rằng ăn ở chùa này,

Tiền lưng gạo bị cúng thầy chùa kia.

Chưa được, khấn bà một trâu,

Được rồi thì có trâu đâu cho bà.

Ý thức bất mãn của người bình dân đối với những kẻ phản phúc, không chung thủy, chính là ý thức bảo vệ tình thương, bảo vệ đạo nghĩa. Đạo nghĩa của họ là đạo nghĩa của con người cần phải có trong phạm vi tình cảm. Bởi vậy, chúng ta không lấy làm lạ, khi tâm hồn họ có những hằn học qua các câu ca dao như :

Mồ cha con bướm trắng,

Mẹ đẻ con ong xanh !

Khen ai uốn lưỡi cho anh nói càn.

Mồ cha con bướm trắng,

Mẹ đẻ con ong vàng,

Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói chua.

Công anh bắt tép nuôi cò,

Bây giờ cò lớn, cò dò lên cây.

Biết rằng nông nỗi thế này,

Thì thà đập chết những ngày cò con.

Có tiền vợ vợ chồng chồng,

Hết tiền thì lại chồng đông vợ đoài.

Mồ cha con bướm khôn ngoan,

Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm bay.

Tóm lại, ý thức mâu thuẫn giữa con người và con người phát xuất từ trạng thái vị kỷ. Lòng vị kỷ của con người biến sinh mọi tính xấu trong đời sống xã hội mà chúng ta vừa lược khảo trên đây. Những tính xấu ấy khi pha trộn vào trình độ xảo quyệt của khối óc, con người tiến dần đến chỗ tinh vi, phát hiện thiên hình vạn trạng.

Qua bài khảo luận trên, chúng ta đã thấy người bình dân cực lực phản đối mọi ý thức vị kỷ. Họ cố đem lại cuộc sống xã hội loài người một trạng thái thăng bằng, dùng tình thương làm nòng cốt cho lẽ sống. Cho nên tất cả những gì chênh lệch ra ngoài, làm tổn thương đến tình cảm con người đều bị họ đả kích, chê bai, châm biếm. Mà đó cũng chính là nhân sinh quan của họ.

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

1. Ai lấy, thì lấy giúp.

Ai không lấy, thì úp một nơi.

Ai lấy, thì lấy chơi,

Ai không lấy, thì phơi đầu hàng,

2. Ai mà nói dối cùng chồng,

Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao.

3. Ai mà nói dối cùng ai,

Thì trời giáng hạ cây khoai giữa đồng.

4. Ai đem con sáo qua sông,

Cho nên con sáo sổ lồng bay xa.

5. Ai đưa em đến chốn này,

Bên kia thì núi bên này thì sông.

6. Ai trồng cây sen cho nàng ăn quả,

Ai trông cây vả cho nàng hái hoa.

7. Ai rằng ta chẳng khôn này,

Đến khi nói dại, mặt ngay cán tàn.

8. Ai mà phụ nghĩa quên công,

Thì đeo trăm cánh hoa hồng không thơm.

9. Ai ơi chớ lấy học trò,

Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.

Dài lưng đã có võng điều.

Tốn vải đã có áo triều vua ban.

10. Ai có chồng, nói chồng đừng sợ.

Ai có vợ nói vợ đừng ghen,

Tới đây hò hát một đôi phen.

Rạng ngày mai ai về nhà nấy,

Khá dễ ngọn đèn hai tim,

11. Anh tưởng chị có tiền đầy của,

Chị tưởng anh có bạc đầy cong.

12. Anh như tán tía, tàn vàng,

Em như mảnh chiếu rách nhà hàng bỏ quên.

Lạy trời cho cả gió lên,

Cho manh chiếu rách lên trên tàn vàng.

13. Anh về rẫy vợ anh ra,

Con anh thợ dại thì đà có tôi.

Anh đã rẫy vợ anh rồi,

Con anh thơ dại, mặc trời với anh.

14. Anh về rẫy vợ anh ra,

Công nợ em trả, mẹ già em nuôi.

Anh đà rẫy vợ anh rồi,

Công nợ anh trả, anh nuôi mẹ già,

15. Anh chê thuyền thúng chẳng đi,

Anh đi thuyền ván có khi rập rềnh,

Ba chìm bảy nổi lênh đênh.

Em chê thuyền ván chẳng đi

Em đi thuyền thúng có khi rập rềnh,

Có khi đổ ngã, đổ nghiêng.

16. Áo đen không lẽ đen hoài,

Mưa lâu cũng nhạt, nắng hoài cũng phai.

17. Áo mặc chẳng qua khỏi đầu,

Làm sao mày cũng chẳng hầu khỏi ta.

18. Áo vá vai vợ ai không biết,

Áo vá quàng chí quyết vợ anh.

19. Ăn sung ngồi gốc cây sung,

Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm.

20. Ăn trầu thì giở trầu ra,

Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.

21. Ba cô mà đứng thong dong,

Tôi lấy cô giữa mất lòng cô bên.

22. Ba đồng một mớ đàn ông.

Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó tha.

Ba trăm một mụ đàn bà,

Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.

23. Bán hàng ăn những chũm cau,

Chồng con có biết cơ màu này chăng ?

24. Bánh trăng nhân đường ngon thật là ngon.

Đến cơn đánh đòn đau thật là đau.

25. Bà chết thì thiệt thân bà,

Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.

26. Bà khoe con bà tốt,

Đến tháng mười một bà xem con bà.

27. Bao nhiêu trai tráng giữa làng,

Ra đây mà vật có nàng đứng coi.

28. Bao giờ trạch đẻ ngọn đa,

Sáo để dưới nước thì ta lấy mình,

Bao giờ cây cải làm đình,

Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.

29. Bao giờ cho chuối có cành,

Cho sung có nụ, cho hành có hoa,

Bao giờ trạch đẻ ngọn đa.

Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.

30. Bao giờ rau cải làm đình,

Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.

31. Bắc thang lên hỏi cung mây,

Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời ?

Cuội nghe thấy nói Cuội cười,

Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc cây.

32. Bắp non mà nướng lửa lò,

Đố ai ve đặng con đò Vàm Nao.

33. Bấy lâu lên ngọn sông Tân,

Muốn tìm cá nước phải lần trời mưa.

Tiếc công anh đắp đập coi bờ,

Để ai quảy đó mang lờ đến đơm.

34. Bí đao non không ngon lại nấu,

Thiếp xa chàng tại xấu mai dong.

Ngó vô cửa sổ năm song,

Thấy đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng,

Tại cha tại mẹ phía chàng,

Cho nên đũa ngọc chén vàng xa nhau.

35. Biết tay ăn mặn thì chừa,

Đừng trêu mẹ mướp mà sơ có ngày.

36. Biết rằng chồng ai vợ ai,

Bao giờ ra bảng, ra bài sẽ hay.

37. Biết nhau tự ấy mà thôi,

Bây giờ kẻ ngược, người xuôi mặc lòng.

38. Bốn con ngồi bốn chân giường,

Mẹ ơi ! mẹ hỡi ! mẹ thương con nào ?

Mẹ thương con bé mẹ thay !

Thương thì thương vậy chẳng tài trưởng nam.

Trưởng nam nào có gì đâu,

Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng nam.

39. Bực mình chẳng muốn nói ra,

Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời.

40. Buồn trông chếch chếch sao mai,

Sao ơi ! sao hỡi nhớ ai sao mờ.

Buồn trông con nhện vương tơ,

Nhện ơi, nhện hỡi mầy chờ mối ai ?

41. Bớ chiếc thuyền lan !

Khoan khoan ngớt mái

Đặng đó đây tỏ một đôi lời phải trái nghe chơi.

42. Cá rô tháng tám, chẳng dám bảo ai,

Cá rô tháng hai, bảo ai thì bảo.

43. Cách sông nên phải lụy thuyền,

Những như đường liền ai phải lụy ai.

44. Cái cò, cái vạc, cái nông.

Sao mầy giẫm lúa nhà ông hỡi cò ?

Không, không, tôi đứng bên bờ,

Mẹ con cái vạc đổ ngờ cho tôi.

Chẳng tin thì ông đi đôi.

Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.

45. Cái cò mầy mổ cái tôm,

Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò.

Cái cò mầy mổ cái trai,

Cái trai quặp lại, lại nhai cái cò.

46. Cái bống là cái bống bang,

Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoai.

Con ăn một, mẹ ăn hai,

Con đi bóc muối thì khoai chẳng còn.

47. Cái trai mầy há miệng ra,

Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày.

Cái cò mầy mổ cái trai.

Cái trai quặp lại, muốn nhai thịt cò.

48. Cái cốc lặn lội qua ngòi,

Ta chưa lấy nó, nó đòi lấy ta.

49. Cái cò mầy đi ăn đêm,

Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao.

Ông ơi, ông vớt tôi nao,

Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

Có xáo thì xáo nước trong,

Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con.

50. Cao chê ngổng, thấp chê lùn,

Gầy chê xương sống, xương sườn lòi ra.

51. Cậy tài cậy khéo, khoe khôn.

Đừng cậy có của đa ngôn quá lời.

Của thời mặc của em ơi !

Đừng cậy có của coi người mà khinh.

52. Có ăn thiếp ở cùng chàng.

Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp lui.

53. Có rồi tất phải đuổi ra,

Lẽ thường trời đất lẵn là chẳng sai.

54. Có yêu thời nói rằng yêu,

Chẳng yêu thời nói một điều cho xong.

Làm chi dở đục, dở trong,

Lờ đờ nước bến cho lòng chẳng thương.

55. Có lá lốt tình phụ xương sông,

Có chùa bên bắc bỏ miếu bên đông tồi tàn.

56. Có ai ta cũng thế này,

Không ai ta cũng như ngày có ai.

57. Có trăng tình phụ lồng đèn,

Ba mươi mồng một đi tìm lấy trăng,

58. Có tiền vợ vợ chồng chồng,

Hết tiền thì lại chồng đông vợ đoài

59. Có trăng tình phụ lồng đèn,

Tuy rằng tốt đẹp cũng ra chồng người.

60. Có người mặt nhọ như niêu,

Cái răng khấp khểnh chồng yêu lạ lùng.

61. Con cò, con vạc, con nông,

Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng ca.

Muối kia đổ ruột con gà,

Mẹ mình không xót bằng ta xót mình.

62. Con cò, con vạc, con nông,

Ba con cùng béo vặt lông con nào.

Vặt lông con vạc cho tao,

Hành răm nước mắm bỏ vào mà thuôn.

63. Con đò bậu chớ nghi ngờ,

Bậu đưa khách bậu, qua chờ bạn qua.

64. Con ngồi con khóc nỉ non,

Mẹ giận mẹ đạp, con bon đầu hè.

Có đánh thì đánh vọt tre,

Chớ đánh vọt nứa, nữa què chân con.

65. Con đĩ đồng đanh nấu canh rau dừa.

Chồng đánh chẳng chừa,

Đi chợ thì giữ cùi dừa bánh đa.

66. Con mèo nằm bồ lúa vinh râu,

Thấy con chuột chạy ngóc đầu kêu ngao.

67. Con mẹ có thương mẹ đâu,

Để cho chàng rể nàng dâu thương cùng.

68. Con cậu, cậu nuôi thầy cho,

Cháu cậu, cậu bắt chăn bò chăn trâu.

69. Con thì giống mẹ giống cha,

Con đâu lại giống lân la xóm giềng.

70. Con cò bay lả bay la,

Bay ra cửa bể bay về Đồng-đăng,

Đồng-đăng có phố Kỳ-lừa,

Có nàng Tô-thị có chùa Tam-thanh.

Ai lên xứ Lạng cùng anh,

Tiếc công bác mẹ sinh thành ra em.

Tay cầm bầu rượu nắm nem,

Mảng vui quên hết lời em dặn dò.

71. Còn tiền còn bạc, còn vợ còn chồng,

Hết tiền hết bạc, tơ hồng hết xe.

72. Công anh gánh gạch xây thành.

Thành giữ cho nước, công anh mấy đồng.

73. Cú lại chê vọ rằng hôi.

Giẻ cùi chê khách dài đuôi vật vờ.

74. Của trời, trời lại lấy đi,

Giương hai mắt ếch làm chi được trời.

75. Cũng thì con mẹ, con cha,

Cành cao vun xới cành la bỏ liều.

76. Cũng thì con mẹ con cha,

Con thì chín rưỡi, con ba mươi đồng.

77. Chẳng thương, chẳng nhớ thì đừng,

Lại còn đem đổ nước gừng cho cay.

78. Chẳng được miếng thịt miếng xôi,

Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng.

79. Chẳng thèm ăn gỏi cá mè,

Chẳng thèm chơi với những bè tiểu nhân.

80. Chẳng thương chẳng nhớ thì thôi

Cũng được lời nói cho nguôi tấm lòng

81. Chẳng ưa dưa khú bầu già,

Trước còn đằm thắm, sau ra nhạt nhùng.

82. Chẳng thương chẳng nhớ thì thôi,

Lại còn đem đổ nước vôi cho nồng.

83. Chẳng nên gia thất thì về,

Ở làm chi nữa chúng chê bạn cười.

84. Chân mình những lấm (cứt) mê mê,

Lại cầm bó đuốc mà vê chân người.

85. Chê chồng chẳng bõ chồng chê,

Chê chồng thì ít, chồng chê thì nhiều.

86. Chê chồng, rồi lại chồng chê,

Tôi ăn cho béo, tôi về nhà tôi.

87. Chết tôi chịu

Mình đừng bận bịu

Bớ điệu chung tình !

Nhạn bay cao khó bắn,

Cá ở ao quỳnh khó câu,

Cá ở ao quỳnh, cá ở cũng lâu,

Mồi ngon thả xuống lâu lâu cũng chìm.

88. Chì khoe chì nặng hơn đồng,

Sao chì chẳng đúc nên cồng nên chuông ?

89. Chỉ đâu mà buộc ngang trời,

Thuốc đâu mà buộc con người lẳng lơ.

90. Chim sa, cá nhảy, chớ chơi,

Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng.

91. Chim khôn ai nỡ bắn,

Người khôn ai nỡ nói nặng.

92. Chim khôn chưa bắt đã bay,

Người khôn chưa nắm cổ tay đã cười.

93. Chim trời, gà cú không chơi,

Những người lông bụng chớ chơi bạn cùng

Tiếc công vun quén cây tùng,

Săm soi trên ngọn, gốc sùng không hay.

94. Chị giàu quần lĩnh hoa chanh,

Chúng em khốn khó, quấn quanh lụa đào.

Chị giàu chị đánh cá ao,

Chúng em khốn khó đi trao cá mè.

Chị giàu chị lấy ông nghè,

Chúng em khốn khó đi vào lấy vua.

95. Chị thời quần lĩnh hoa chanh,

Chúng em tôi khó quấn quanh lụa điều.

96. Chị lớn, chị lấy đằng đầu.

Phận em bé mọn, em hầu đằng trôn.

- Con nầy nó bé, nó khôn,

Đằng đầu trơ trẽn, đằng trôn có màu.

97. Chị gì, chị bị cứt trâu,

Chị ra đầu cầu, chị ỉa chị ăn.

98. Chị gì bới tóc cánh tiên,

Chồng chị đi cưới một thiên cá mòi,

Không tin dở hộp ra coi

Rau răm ở dưới, cá mòi ở trên.

99. Chị kia có quan tiền tài,

Có bị gạo nặng coi ai ra gì.

100. Chị em, nắm nem ba đồng,

Muốn ăn thì trả sáu đồng mà ăn.

101. Chị chẳng muốn cho em vàng đùi,

Em đi mua nghệ em bôi cho vàng.

102. Chổi cùn cắp nách khăng khăng,

Hễ ai hỏi đến thì văng nghìn vàng.

103. Chổi tiên quét sạch chùa vàng,

Sửa sang ông phật cho nàng đi tu.

104. Chồng giận thì vợ bớt lời,

Chồng giận, vợ giận thì giùi nó quăng.

105. Chồng chung chồng chạ

Ai khéo hầu hạ thì được chồng riêng.

106. Chớ thấy áo rách mà cười,

Những giống gà nòi lông nó lơ thơ.

Chớ thấy áo dài mà sang,

Bởi không áo ngắn phải mang áo dài.

107. Chuối non trổ phải mùa đông,

Biết rằng có chắc hay không mà chờ.

108. Chuông khánh còn chẳng ăn ai,

Huống là mảnh chỉnh ném ngoài bụi tre,

Chuông khánh còn chửa ăn chè,

Huống chi mảnh chĩnh rò rè ăn xôi.

109. Chưa đánh được người mặt đỏ như vang,

Đánh được người mặt vàng như nghệ.

110. Chưa mua thì nói rằng hèn,

Đến khi mua được, vừa khen vừa mừng.

111. Chơi hoa cho biết mùi hoa,

Khi tươi thì hái, khi tàn thì quăng.

112. Dã tràng xe cát luống công,

Tò vò nuôi nhện há mong cậy chờ.

113. Dao vàng bỏ đãy kim nhung,

Biết rằng quân tử có dùng ta chăng ?

114. Dầu ai gieo tiếng ngọc,

Dầu ai đọc lời vàng.

Trớ trêu khúc Phụng-cầu-hoàng,

Lòng em không giống như nàng Văn Quân.

115. Dễ ai đội áo qua cầu,

Sao không nghĩ trước nghĩ sau cho tày.

116. Dù chàng năm thiếp bảy thê,

Cũng không tránh khỏi gái sề này đâu.

117. Đàn ông chơi với đàn bà,

Một trăm gánh đồng đúc chẳng nên chuông

Đàn bà chơi với đàn bà,

Một đồng tiền gián đúc ra chuông kềnh.

118. Đàn ông sâu sắc nước đời,

Đàn bà cạn sớt như cơi ăn trầu.

119. Đàn ông năm bảy đàn ông,

Vợ dặn mua hồng lại mua quít non.

Đàn bà năm bảy đàn bà,

Chồng dặn mua gà lại mua quốc con.

120. Đàn đâu mà khảy tai trâu,

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.

121. Đắt hàng gặp ả, cùng anh,

Ế hàng gặp những thong manh quáng gà.

122. Đầu gành có con ba ba,

Kẻ kêu con trạnh, người kêu con rùa.

123. Đấy sông, đây cũng mây liền,

Đấy có một tiền đây cũng sáu mươi.

124. Đấy vàng đây cũng đồng đen,

Đấy hoa thiên lý, đây sen nhị hồ.

Đấy em như tượng mới tô,

Đây anh như người ngọc họa đồ trong tranh.

125. Đấy quan đây cũng chín tiền,

Đấy khoa văn giáp, đây điền có chuôi.

126. Đèn ai leo lét bên bờ.

Tưởng đèn người nghĩa ai ngờ đèn ma.

127. Đèn nhà ai rạng nhà ấy,

Khách đi qua đường biết đấy là đâu.

128. Đèn trời, trời sáng bốn phương,

Đèn tôi sáng tỏ đầu giường nhà tôi.

129. Đèn treo trong quán tỏ rạng bờ kinh,

Em có thương anh thì nói thiệt tình,

Để anh lên xuống một mình bơ vơ.

130. Đêm qua mận mới hỏi đào :

Vườn xuân đã có ai vào hái hoa ?

Bông đào chênh chếch nở ra,

Dang tay muốn hái, sợ nhà có cây.

131. Đêm qua ngỏ cửa chờ ai,

Đêm nay cửa đóng then gài khăng khăng.

132. Đêm qua chớp bể mưa nguồn,

Hỏi người tri thức có buồn hay chăng ?

133. Đêm qua chung bóng chung hơi,

Bây giờ kẻ ngược người xuôi mặc lòng.

134. Đêm khuya thiếp mới hỏi chàng,

Cau khô ăn với trầu vàng xứng không ?

135. Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng :

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng ?

- Đan sàng, thiếp cũng xin vâng,

Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng.

136. Đến đây dầu đói giả no,

Dẫu khôn giả dại đặng dò ý em.

137. Đi đâu mà chẳng nằm co,

Để cho nó đút sừng bò vào sau.

138. Đò sao đò có không đưa ?

Tại người đi sớm về trưa không chừng.

139. Đôi ta làm bạn thong dong,

Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng.

Bởi chưng cha mẹ nói ngang,

Để cho mâm ngọc đũa vàng cách xa.

140. Đôi ta như thể con dao,

Năng liếc thì sắc, năng chào thì quen.

141. Đừng chê thiếp vụng thiếp về,

Có tiền thiếp cũng biết thuê mướn người.

142. Được bạn thì lại bỏ bè,

Được con trâu trậm, chê me không cày.

143. Em chớ thấy anh bé mà sầu,

Kìa con ong bao nhiêu tuổi nó châm bầu, bầu thui.

144. Em đừng nói vậy ngu si,

Bịt chơi cho biết, để họ khi bò rừng.

145. Em về hỏi mẹ cùng cha,

Có cho em lấy chồng xa hay đừng.

146. Em là con gái có chồng,

Mồ cha những đứa đem lòng nọ kia.

147. Gái nầy là gái chẳng vừa,

Giá bán vải tấm, gái lừa vải con.

Gái nầy là gái chả non,

Gái lường Chợ Quán, gái buôn Chợ Cầu.

148. Già thì già tóc già tai,

Già răng già lợi đồ chơi không già.

149. Già rồi lận cận bỏ liều,

Sá chi vú ếch lưng eo sồ sề.

Chẳng ưa cà chín bầu già,

Tuổi đà dư lạp lịch đà qua niên.

Có trăng nên nỗi phụ đèn,

Chẳng non thể sốt thời liền biến hơi.

150. Giàu sơn lâm lắm kẻ tìm đến,

Khó giữa chợ chẳng ma nào nhìn.

151. Giàu cha giàu mẹ thì mừng,

Giàu cô, giàu bác thì đừng có trông.

152. Giàu cha giàu mẹ thì ham,

Giàu anh giàu chị ai làm nấy ăn.

153. Giả ơn canh cải nấu gừng,

Chẳng ăn thì chớ xin đừng mỉa mai.

154. Giận chồng mà chẳng bế con,

Cha mầy làm mất cái giòn mẹ đi.

155. Gió nam non thổi lòn hang dế,

Tiếng anh học trò mưu kế để đâu ?

- Mưu kế anh để lại nhà,

Ai dè em hỏi anh mà đem theo.

156. Gió bay cầu thấp cầu cao,

Gió bay cầu nào con chỉ mẹ coi.

157. Gió bên đông, động bên tây,

Tuy rằng nói đấy, nhưng đây biết rồi.

158. Gió đưa bông cúc bông trang,

Bông búp về nàng, bông nở về anh.

159. Giốc bồ thương kẻ ăn đong,

Có chồng thương kẻ nằm không một mình.

160. Giường rộng thì ghé lưng vào,

Nghìn năm ai có tơ hào với ai.

161. Hang hùm ai dám mó tay,

Chuột nào lại dám cắn dây buộc mèo.

162. Hay xóc dĩa ông mời về,

Gái nầy đang muốn ngứa nghề với ông.

163. Hãy xin bớt giận làm lành,

Bắt con rận béo nấu canh rau dền.

164. Hãy còn bán tín bán nghi,

Chưa đem vô dạ, chưa ghi vô lòng.

165. Hoa thơm, thơm nức cả rừng,

Ong chưa dám đậu, bướm đừng xôn xao.

166. Hoài lời kẻ nói vô tri,

Một trăm gánh chì đúc chẳng nên chuông.

167. Học chẳng biết chữ cu, chữ cò,

Nói những chữ như rồng, như rắn.

168. Họa hổ họa bì nan họa cốt,

Tri nhơn tri diện bất tri tâm.

Ở xa chẳng biết mà lầm,

Bây giờ rõ đặng vàng cầm cũng buông.

169. Hôm qua anh đến nhà chơi,

Thấy mẹ vét chảo, thấy cha vét nồi.

Thấy em dựa cột liếm môi,

Anh ngỡ con chó, anh lùi chân ra.

170. Hồng nhan ai kém ai đâu,

Kẻ xe chỉ thắm, người xe hạt vàng.

171. Hơn nhau tấm áo manh quần,

Thả ra bóc trần, ai cũng như ai.

172. Kềnh nghê vui thú kềnh nghê,

Tép tôm thì lại vui bề tép tôm.

173. Kìa kìa tam tòa đó,

Nọ nọ khám thất đây,

Miệng lằn lưỡi mối, nhiều ngày biết ai.

174. Kiến bò miệng chén bao lâu,

Phù du lướt gió, ruồi bu miệng hùm.

175. Ký mã phùng Bá Nhạc,

Bàng điểu ngộ lam phong.

Qua muốn tường dạ đó đục trong,

Cho hay thuyền bưởi dạ bồng thuyền quyên.

176. Kim vàng ai nỡ uốn câu,

Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.

177. Khen ai khéo tạo bình phong,

Ngoài long lân phượng, trong lòng gạch vôi.

178. Khi lành quạt giấy cũng cho,

Khi dữ quạt mo cũng đòi.

179. Khi chưa cầu lụy trăm đàng,

Được rồi thì lại phũ phàng làm ngơ.

180. Khi giàu chẳng có đỡ ai.

Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ mình.

181. Khó than, khó thở, lại khó phân trần,

Tóc không vò tóc rối, ruột không giần ruột đau.

182. Khó khăn thì chẳng ai nhìn,

Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em.

183. Khôn thì ăn cháo, ăn chè,

Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn gh… cái l…

184. Khôn ngoan ở đất nhà bây,

Dù che ngựa cỡi đến đây phải luồn.

185. Khôn ngoan thì bảo rằng ngoa,

Vụng vại thì bảo ngươi ta rằng đần.

186. Khôn thế gian, làm quan địa ngục,

Dại thế gian, làm quan thiên trường.

187. Khôn ngoan đối đáp người ngoài,

Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.

188. Khốn nạn thay nhạn ở với ruồi,

Tiên ở với cú, người cười với ma.

189. Không thèm ăn gỏi cá mè,

Không thèm nói với một bè trẻ ranh.

Không thèm ăn gỏi cá mương,

Không thèm nói với một phường trẻ ranh.

Không thèm ăn gỏi cá chày,

Không thèm nói với thằng thầy mầy đâu.

190. Lá khô mà hay treo ngành,

Giận thì nói vậy sao đành bỏ nhau.

191. Lác dâm thì lúa cũng dâm.

Anh nói với em nhiều tiếng thâm trầm,

Nằm đêm nghĩ lại nát bầm lá gan.

192. Lập vườn trồng nhãn, trồng hoa,

Thấy mặt anh đó, không biết nhà anh đâu.

Khi vui : miếng thuốc miếng trầu,

Khi buồn đi mất biết đâu mà tìm.

193. Lấy anh, anh sắm sửa cho,

Cái bị, cái bát, cái quạt mo đuổi ruồi.

194. L… rằng l… chẳng sợ ai,

Sợ thằng say rượu đ… dai đau l…

195. Lươn nằm trong lỗ trông ra,

Thấy trạch đi qua hỏi : « Gì dài mấy ».

196. Lọ là thét mắng, cặp rèn,

Một lời xiết cạnh bằng nghìn roi xong.

197. Lưỡi vò độc quá đuôi ong,

Xui người tan hợp rứt lòng nghĩa nhân.

198. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo,

L… không cạp l… méo làm ba.

199. May mô may chút nữa em lầm,

Khoai khô xắt lát em tưởng Cao ly sâm bên Tàu.

200. May hay giải cấu tương phùng.

Biết người biết mặt, biết lòng làm sao.

201. Mành treo chiếu rách cũng treo,

Hương xông nghi ngút, củi dều cũng xông.

202. Mấy đời sấm trước có mưa ?

Mấy đời dì ghẻ có ưa con chồng.

203. Mấy đời bánh đúc có xương,

Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.

204. Mất trâu thì lại tậu trâu,

Những quân cướp nợ có giàu được ai.

205. Mẹ để đồ thì mát,

Con để đồ vừa phát, vừa đánh.

206. Mẹ em ra đi, dặn em ở nhà,

Đừng ra chơi biển mà hà ăn chin.

Ăn chin thì mặc ăn chin,

Em ra chơi biển để cho ghin mẹ thầy.

207. Mẹ nuôi con bằng trời bằng bể,

Con nuôi mẹ, con kể từng ngày.

208. Mèo khoe mèo dài đuôi,

Chuột rằng nhỏ mình dễ chạy.

209. Mình dối ta mình chửa có con,

Ta đi qua ngõ thấy con mình bò,

Con mình những trấu cùng tro,

Ta đi xách nước rửa cho con mình.

210. Mình về, ta chẳng cho về,

Cầm tay kéo lại mình thì ở đây.

211. Mình nói dối ta mình chửa có chồng,

Ta đi qua ngõ mình bồng con ra.

Con mình khéo giống con ta,

Con mình bảy rưỡi con ta ba phần.

212. Mồ cha con bướm trắng,

Đẻ mẹ con ong xanh.

Khen ai uốn lưỡi cho ranh nói càn,

Mồ cha con bướm trắng,

Đẻ mẹ con ong vàng,

Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói chua.

213. Một người làm xấu cả bọn mang nhơ,

Một người làm tốt cả bọn được nhờ.

214. Một vũng nước trong, mười dòng nước đục,

Một trăm người tục, một chục người thanh,

Biết ai tâm sự gởi mình,

Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên Quân.

215. Một tay đun chín bếp rơm,

Một tay nạo mướp chị nhường chồng cho.

216. Một lời nói quan tiền thúng thóc.

Một lời nói dùi đục cẳng tay.

217. Mới hay giải cấu tương phùng,

Biết người, biết mặt, biết lòng làm sao.

Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người ai biết mà đo cho cùng.

Ai mua dưa hấu biết lòng,

Để tôi xin ngỏ trong lòng tôi ra.

218. Muốn lấy chồng mà chồng chẳng lấy,

Biết giá chồng đáng mấy mà mua.

219. Mướp đắng đã có mạt cưa,

Bố bây hay lừa lại gặp mẹ bây.

220. Nào là cá lớn đi đâu,

Để cho cá nhỏ cắn câu thế này ?

221. Nào ai nhắn nhủ mi ra,

Mà mi lại kể con cà, con kê.

222. Năm quan tiền tốt bó mo,

Làm tờ ký chỉ, chị cho chuộc chồng.

Măng non nấu với gà đồng,

Chơi nhau một trận xem chồng về ai.

Già gan cướp được chồng người,

Non gan hết vía rụng tời chân tay.

223. Nín náu mồng chín, đụn địn mồng mười,

Sợ chị em cười, ở đến ngày mười một.

224. Nôm na là cha mách qué,

Mách qué là mẹ quách siêu,

Ta cho đồng tiền mách nữa ta nghe.

225. Nói lời phải nhớ lấy lời,

Đừng như con bướm đậu rồi bay đi.

226. Nói đẩy đưa cho vừa lòng bạn,

Cái sông Giang-hà chỗ cạn chỗ sâu.

227. Nói người chẳng gẫm đến ta,

Cái gương tày liếp để mà soi chung.

228. Nói với người khôn không lại,

Nói với người dại không cùng.

229. Núi kia ai đắp nên cao,

Sông kia bể nọ ai đào nên sâu ?

Một lòng sầu năm bảy lòng sầu ?

Đấy vui có biết đây sầu cùng chăng.

Muốn sao tháng đôi tuần trăng,

Muốn sao đấy ở cho bằng lòng đây.

230. Nước trong khe suối chảy ra,

Mình chê ta đục, mình đà trong chưa.

231. Nước chảy xấp xấp cột chòi.

Anh đen như mọi mà đòi vợ xinh.

Nước chảy xấp xấp mặt mâm,

Em như chó má mà đòi chồng xinh.

232. Nước sông còn đỏ như vang,

Nhiều người lịch sự hơn chàng, chàng ơi.

233. Ngày xưa quỉ mọc đằng đông,

Bây giờ quỉ mọc trong lòng trẻ con.

234. Ngày nay tôi nói với mình,

Anh đã phụ em, em kiếm chốn gởi mình liễu mai.

235. Ngày thì cười đứng cười câm,

Tối thì lẩm bẩm chửi thầm người ta.

236. Ngày ngồi cửa Hữu bán cau,

Muốn xin chút vú sợ đau dạ nàng.

237. Ngồi buồn kể ruốc nhau ra,

Ruốc ông cũng thối, ruốc bà cũng thơm.

238. Ngỡ rằng ông thử, ông thương,

Ai ngờ ông thử trăm đường ông thôi.

239. Người ta đánh chú, tôi chẳng tha người,

Chú đánh cha tôi, tôi chẳng tha chú.

240. Người dưng có ngãi, thì đãi người dưng,

Anh em vô ngãi thì đừng anh em.

241. Người khôn không nỡ roi đòn,

Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay.

242. Người sao một hẹn mà nên,

Tôi sao chín hẹn mà quên cả mười.

243. Người trên ở chẳng chính ngôi.

Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn hào.

Người trên ở chẳng được cao,

Khiến cho kẻ dưới lộn nhào lên trên.

244. Nghĩ rằng chị ngã em nâng.

Hay đâu chị ngã, em bâng miệng cười.

245. Nhà em có bụi mía mung,

Có con chó dữ anh đừng có vô.

246. Nhà anh lợp những mo nang,

Nói láo với nàng nhà ngói năm căn.

247. Nhạn về biển bắc nhạn ơi,

Bao thuở nhạn hồi để én đợi trông.

248. Những người ti hí mắt lươn,

Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng người.

249. Những người chép miệng thở dài,

Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ.

250. Nhứt nhựt vãng lai thường ngày kiến diện,

Muốn phân một lời sợ miệng thế gian.

251. Ông chết thì thiệt thân ông,

Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.

Bà chết thì thiệt thân bà,

Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.

252. Ông trăng mà bảo ông trời,

Những người hạ giới là người như tiên.

Ông trời mới bảo ông trăng,

Những người hạ giới mặt nhăn như tườu.

253. Ở xa anh tưởng là tiên,

Lại gần mới biết gái thuyền quyên lộn chồng.

254. Ở đời tôi chẳng sợ ai,

Sợ người say rượu nói dai như thừng.

255. Ở cho phải phải, phân phân,

Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.

256. Ở sao vừa lòng người,

Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

257. Phấn dồi mặt nọ tốt tươi,

Thuyền em chở được mấy mươi anh hùng.

Thuyền tôi đáy rộng lườn dài,

Xưa kia có chở quan tài cha anh.

258. Phỉ hồ, lấy rỗ mà che, lấy nong mà đè,

Lấy đấu mà đưa, lấy ngọn rau dừa chấm cứt mà ăn.

259. Quân tử ư hự đã đau,

Tiểu nhân dùi đục đập đầu như không.

260. Quân tử nhất ngôn là quân tử dại,

Quân tử nói đi, nói lại là quân tử khôn.

261. Quân tử ngồi buồn rung chống gối,

Tiểu nhân đắc chí gẩy đàn môi.

262. Quân tử cố cùng quân tử cố,

Tiểu nhân đắc ý tiểu nhân hay.

263. Rồng vàng tắm nước ao tù,

Người khôn ở với người ngu bực mình.

264. Rồng nằm bể cạn phơi râu,

Mấy lời anh nói giấu đầu lòi đuôi.

265. Ru em, em hãy nín đi,

Kẻo mà mẹ đánh em thì em đau.

Em đau chị cũng buồn rầu,

Bé mồm bé miệng kêu đâu bây giờ.

266. Rù đầu giả dại làm ngây,

Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn.

267. Sa chân bước xuống ruộng dưa,

Kẻ kia tám lạng, người nầy nửa cân.

268. Sấm bên đông, động bên tây,

Tuy rằng nói đấy nhưng đây động lòng.

269. So ra ai dễ kém ai,

Kẻ kia tám lạng, khôn này nửa cân.

270. Sông sâu sào ngắn khôn dò,

Người khôn ít nói, người đo tất lòng.

271. Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người ai biết mà đo cho cùng.

Ai mua dưa hấu biết lòng,

Để tôi xin ngỏ trong lòng tôi ra.

272. Sông sâu còn thể bắc cầu,

Lòng người nham hiểm biết đâu mà dò.

273. Sông sâu ngựa lội ngập kiều,

Dù anh có phụ cũng nhiều nơi thương.

274. Sớm mai đi chợ Gò-vấp,

Mua một xấp vải,

Đem về con hai nó cắt,

Con ba nó may,

Con tư nó đột,

Con năm nó viền,

Con sáu đơm nút,

Con bảy vắt khuy,

Anh bước cẳng ra đi,

Con tám nó kéo, con chín nó trì,

Ớ mười ơi ! Sao em để vậy còn gì áo anh.

275. Tằm sao tằm chẳng ăn dâu,

Tằm đòi ăn ruộng, ăn trâu, ăn nhà.

276. Tết đến sau lưng,

Ông vải thì mừng, con cháu tôi lo.

277. Tiếc tiền mua lấy cá ươn,

Mua rau, rau héo, mua người lẳng lơ.

278. Tiền trinh đổ lẫn tiền vàng,

Ở trong khăn gói đố nàng biết chi ?

Tiền trinh đổ lẫn tiền chì,

Ở trong khăn gói đố gì hỡi anh ?

279. Tiền Đường hậu Tống, Tam quốc Châu Do.

Anh với em nói chuyện đưa đò,

Giả như Đát-Kỷ theo phò Trụ-vương.

280. Tiếng đồn cô bảy hò lanh,

Ngày nay mới biết mặt xanh như chàm.

281. Tiếng đồn chị Bốn có duyên,

Anh Bốn đi cưới một thiên cá mòi.

Chẳng tin giở quả ra coi,

Mít non ở dưới cá mòi lên trên.

282. Tình cờ bắt gặp nàng đây,

Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.

Rồng gặp mây bán văn bán vũ,

Cá gặp nước con ngược con xuôi.

Chồng Nam, vợ Bắc anh ơi,

Sao anh chẳng lấy một người như em.

283. Tính sao như thể nước cờ,

Một vừa, hai phải hai bề thì thôi.

284. Tò vò ngồi khóc ti hi.

Ta nuôi con nhện nó đi đàng nào.

285. Tôi yêu anh vạn, tôi mến anh nghìn.

Anh có ăn thuốc đưa tiền tôi mua.

286. Tôm tép vũng chân trâu be bé,

Cá kềnh nghê bãi bể dong chơi.

287. Tôm tép thì nhảy lên bờ,

Bụng mình có thế mới ngờ cho ta.

288. Tới đây thủ phận đưa đò,

Trước đưa quan khách, sau dò ý em.

289. Tới đây sở cậy cùng dì,

Dì đem lòng giận, tôi thì cậy ai.

290. Tới đây dầu đói giả no,

Dầu khôn giả dại đặng dò ý anh.

291. Tới đây lạ xứ quen người,

Trăm bề nhẫn nhịn đừng cười tôi quê.

292. Tới lui không biết làm sao,

Khách gào như thể cáy vào hang cua.

294. Tham thanh, chuộng lạ, tham thanh,

Chê đây quán nát lều tranh không ngồi.

295. Thằng Cuội ngồi gốc cây đa,

Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời !

Cha còn cắt cỏ trên trời,

Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên.

Quan thì cầm bút cầm nghiên

Quan thì cầm tiền đi chuộc lá đa.

296. Thân em như miếng cau khô,

Kẻ thanh ưa mỏng, kẻ thô ưa dày.

297. Thân em như đóa hoa rơi,

Phải chăng chàng thật là người yêu hoa.

298. Thân em như giếng giữa đường,

Người khôn rửa mặt, người thường rửa chân.

299. Thẩn thơ đứng gốc cây mai,

Bóng tôi, tôi nghĩ bóng ai tôi lầm.

300. Thật vàng chẳng phải thau đâu,

Đừng mang thử lửa cho đau lòng vàng.

301. Thật thà là cha quỉ quái,

Quỉ quái còn phải rái thật thà.

302. Thấy em anh cũng muốn theo,

Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.

Lấy anh, em biết ăn gì ?

Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.

303. Thấy chồng đần, xỏ chân lỗ mũi,

Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành.

304. Thề rằng sẩm chẳng thấy gì,

Sẩm mà nói dối sẩm thì cũng đui.

305. Thế gian còn mặt mũi nào,

Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành.

306. Thôi tôi chẳng lấy ông đâu,

Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.

307. Thối tai hôi nách rình rình,

Chẳng ai hỏi đến cậy mình chính chuyên.

308. Thông gia là bà con tiên,

Ăn ở không hiền là bà con chó.

309. Thơm thảo bà lão ăn thừa,

Bà ăn chẳng được bà lừa cho tôi.

310. Thứ nhất cung voi ra na,

Thứ nhì đắt đỏ, thứ ba khoa tràng.

Rủ nhau lên núi đốt than,

Anh trèo Tam-điệp em mang nón giành.

Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,

Lấy anh thì lấy, về Thanh không về.

311. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng,

Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây.

312. Thua kiện mười bốn quan năm,

Được kiện mười lăm quan chẵn.

313. Thức lâu mới biết đêm dài,

Ở lâu mới biết là người có nhân.

314. Thương trò may áo cho trò,

Thiếu bâu, thiếu vạt, thiếu hò, thiếu đinh.

315. Thương nhau cởi áo cho nhau,

Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay.

Con ơi con nói trớ trêu,

Áo mặc trong mình đến nỗi gió bay.

316. Thương thì củ ấu cũng tròn,

Không thương thì quả bồ hòn cũng méo.

317. Trai mồng một gái hôm rằm,

Nuôi thì nuôi vậy còn căm dạ nầy.

318. Trách thân chẳng dám giận trời,

Trách thân lắm lắm giận trời bao nhiêu.

319. Trách người phơi lúa nống xưa,

Chèo thuyền trên động khéo lừa duyên em.

320. Trách ai đặng cá quên nơm,

Đặng chim bẻ ná, quên ơn vội thù.

321. Trách người quân tử vụng suy,

Vườn hoa thiên lý chẳng che mành mành.

322. Trách lòng quân tử vô danh,

Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.

323. Trách người một, trách ta mười,

Trách thân lắm lắm, giận trời bao nhiêu,

324. Trách cha trách mẹ tôi nay,

Sinh tôi sao chẳng chọn ngày mà sinh.

325. Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,

Sao trăng lại phải chịu lòn đám mây.

Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng,

Đèn ra trước gió được chăng hởi đèn ?

326. Trăng tròn thì mặc trăng tròn,

Bậu xinh mặc bậu bận xằng anh chê.

327. Trăng trong gió mát, em hỏi thử đôi lời :

Chẳng hay quây tử vợ thời có chưa ?

- Có vợ mà cũng như chưa,

Vợ ngày, vợ bữa nắng mưa qua thời.

328. Trâu cột thì ghét trâu ăn,

Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

329. Trầu không ăn sao ngon sao béo.

Nghĩa nhơn không mến sao đem lòng phiền ?

Chờ chàng bóng ngả trăng nghiêng,

Bao nhiêu vui về bạn, bấy nhiêu phiền về ta.

330. Trèo lên cây khế chua le,

Vợ thì muốn lấy, chồng e mất tiền.

331. Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,

Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay.

332. Trèo lên cây khế nửa ngày,

Ai làm chua xót lòng này khế ơi !

333. Trong nhà đã có hoàn cầm,

Song le còn muốn nhân sâm nước người.

334. Trong làng chẳng có ai vì,

Vậy nên em phải ra đi nước người.

335. Trong nhà đã có vàng mười,

Song le lại muốn của người nhân sâm.

336. Trong nhà đã có đồ chơi,

Song le còn muốn của người thêm xinh.

337. Trọng người, người lại trọng thân,

Khinh đi, khinh lại như lần trôn quan.

338. Trông lên mình chẳng bằng ai,

Trông xuống dễ đã có ai bằng mình.

339. Trông anh như thể sao mai,

Biết rằng trong có như ngoài hay không.

340. Trời mưa nước chảy qua hè,

Tôi chẳng lấy nó, nó dè lấy tôi.

341. Trời mưa nước chảy qua đình,

Tôi chẳng lấy nó, nó dình lấy tôi.

342. Trời mưa nước chảy qua ngòi,

Tôi chẳng lấy nó, nó đòi lấy tôi.

343. Truyện mình giấu đầu hở đuôi,

Truyện xấu chi người vạch lá tìm sâu.

344. Vàng mười, bạc bảy, thau ba,

Đồng đen trinh tiết lại pha lộn chì.

345. Vào thì bẩm bẩm thưa thưa,

Ra thì văng tục có chừa ai đâu.

346. Vẽ rồng ai vẽ được vi,

Biết người biết mặt, biết chi tấm lòng.

347. Ví dầu, ví dẫu, ví dâu,

Ăn trộm bẻ bầu tôi chẳng dám la.

348. Ví dầu tình bậu muốn thôi,

Tình qua muốn nữa, bậu thôi sao đành.

349. Vô duyên chửa nói đã cười,

Còn duyên gọi chín mười lời không thưa.

350. Vợ chồng hàng sáo chúng ta,

Bách niên giai lão được vài trống canh.

351. Vườn xuân hoa nở đầy giàn,

Ngăn con bướm lại kẻo tàn nhị hoa.

352. Sá chi một khúc thịt bò,

Ba tô gạo lứt mà anh xô tôi hoài.

353. Xem lên hòn núi Thái-sơn,

Hòn trăng hòn trở thiếp cũng muốn thương.

Chàng thương đỡ, đỡ không dám thương lâu,

Nghĩ thân phận chàng như áo vá hai bâu.

Đêm chung tình với vợ,

Ngày thả lưới buông câu cho thiếp lầm.

354. Xưa nay có thế này đâu,

Bởi chưn sợ vợ nên râu quặp vào.

355. Yêu ta, ta cũng thế này,

Ghét ta, ta cũng như ngày mình yêu.

356. Yêu nhau bốc bãi dân sàng,

Ghét nhau đũa ngọc mâm vàng chẳng ăn

357. Yêu nhau cũng chẳng cho vàng,

Ghét nhau cũng chẳng tránh đàng mà đi.

358. Yêu nhau chị em gái, rái nhau chị em dâu,

Đánh nhau lổ đầu là anh em rể.

359. Yêu nhau xin quyết một lòng,

Đậu ngâm ra giá đãi đằng nhau chi.

c) Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG

Khác với mọi lớp người trong xã hội, lớp người bình dân không đem lý trí của họ khám phá thiên nhiên, tìm hiểu cơ cấu vũ trụ, hoặc sáng tạo một tổ chức xã hội để chế ngự cuộc sống loài người. Họ là lớp người bị trị, thấp cổ bé miệng, chỉ lo chống chọi với những bất công luôn luôn vây phủ lấy đời sống họ.

Tuy nhiên, nói như thế không có nghĩa là họ không có những suy tư, cảm nghĩ về cuộc sống. Đã là con người, có một khối óc, dù ở tầng lớp nào, khi đã hòa mình vào lẽ sống, không thể không có những ước vọng. Ước vọng chính là sản phẩm của tâm tư, của sự đòi hỏi về nhân tính. Sự đòi hỏi ấy va chạm với mâu thuẫn của cuộc sống đem lại cho người bình dân những khắc khoải, suy tư, và đó chính là nguồn sống trong tâm giới họ, mà chúng ta gọi là nhân sinh quan.

Điều thiệt thòi đối với họ là những suy tư, cảm nghĩ ấy không được đúc kết thành hệ thống mạch lạc để dựng lên một ngôi nhà tư tưởng cho họ.

Ngôi nhà tư tưởng của họ không tạo dựng trong đơn thuần lý trí. Nó xuất phát ở lãnh vực tâm tư, bởi vì họ là những người chịu đựng trực tiếp với cuộc sống. Họ là con người hiện thực, sống bằng cuộc sống thiết thực, không bị bức màn giả dối của đạo lý bao phủ. Họ gần gũi, va chạm, đương đầu với tất cả mọi khía cạnh vật chất cũng như tinh thần mà lẽ sống con người bắt buộc phải có.

Vì họ sống bằng thực trạng nên tâm hồn họ trở nên thực tế, và những tâm tư của họ chính là những ý thức thực tiễn phát sinh từ trạng thái đích thực của lẽ sống mà ra.

Ở đây, chúng ta tìm hiểu ý thức thực tiễn của người bình dân thời xưa trong lẽ sống, nhưng chúng ta không đi vào những tuế toái của tâm tư họ, vì như thế chúng ta sẽ lạc vào một thế giới phức tạp mà không thể tìm thấy đâu là phương hướng.

Nếu ở những tiêu mục trước đây chúng ta đã đi sâu vào từng khía cạnh của tâm giới người bình dân, thì ở mục này chúng ta thử trèo lên đỉnh núi cao, nhìn chung vào những gì chúng ta đã đào xới được trong lãnh vực tâm tư họ, để đúc kết thành một quan niệm nhân sinh. Như vậy, cũng có nghĩa là chúng ta sẽ làm công việc tổng kết của nhà khảo cứu trong phần đầu của bộ sách này.

Trước hết chúng ta đặt vấn đề con người với lẽ sống.

Con người với lẽ sống, dù tự ngàn xưa, hay ngay trong thế hệ chúng ta, tâm tư vẫn nằm trong hai trạng thái phát triển xã hội. Hai trạng thái ấy là năng lực vật chất và năng lực tinh thần.

Năng lực vật chất phát sinh do khả năng tranh đấu của loài người với thiên nhiên để bảo tồn lẽ sống. Vũ trụ sinh ra loài người, nhưng loài người phải làm mới có ăn. Muốn sống, con người phải dùng đến sức lao động của mình. Cho nên, cuộc sống con người luôn luôn phải kể đến sức lao động, và sức lao động trở thành yếu tố thiết thực của cơm áo.

Tuy nhiên, sức lao động cũng chỉ mới là một phần quan trọng của lẽ sống, mà chúng ta còn phải kể đến trí khôn của con người nữa. Trí khôn con người lần lần xen vào sức lao động, làm cho sức lao động biến đổi năng xuất. Đó chính là kỹ thuật lao động.

Kỹ thuật lao động mỗi ngày một tinh vi, thì đời sống vật chất con người mỗi ngày một đổi mới.

Nhưng, nếu trí khôn con người luôn luôn cải tiến kỹ thuật lao động để tranh đấu với thiên nhiên, thì trí khôn con người lại cũng luôn luôn cải tiến mọi liên hệ giữa con người và con người để đem lại cho xã hội nguồn tinh thần tốt đẹp với ý sống.

Bởi vậy, chúng ta có thể qui kết mọi nỗ lực con người với lẽ sống chỉ là hai năng lực tranh đấu nằm trong hai chiều hướng trên, mà ngày nay chúng ta chia thành hai ngành học thuật, đạo học và khoa học.

Đạo học là ngành học về tinh thần, tìm trong khả năng nhân loại mối liên hệ mật thiết, đúc kết thành hệ thống tâm tư, hướng dẫn ý thức loài người theo một căn bản nhân nghĩa cao đẹp. Vậy đạo học là cái học dùng để cải tiến giữa con người và con người.

Khoa học là ngành học cải tạo vật chất, đào xới trong bộ óc những kỹ thuật lao động, đúc kết và phổ biến để giúp cho nhân loại đạt được một khả năng tranh đấu với thiên nhiên, đem lại cho loài người một sức sống phong phú. Vậy khoa học là cái học dùng để tranh đấu giữa con người với thiên nhiên.

Xét về sự tiến hóa loài người thì xưa nay chúng ta vẫn căn cứ trên hai lãnh vực khoa học và đạo học mà thôi. Khoa học và đạo học lại không thể tách rời. Bởi vì cả hai đều phụng sự cho lẽ sống con người, nếu thiếu một trong hai yếu tố ấy con người sẽ trở nên bi đát.

Qua những thế hệ gần đây, Tây-phương tiến nhanh về khoa học, còn Đông phương lại duy trì những căn bản đạo học để làm nền tảng cho lẽ sống. Sự tiến bộ không cân xứng giữa hai nền học thuật Đông Tây gây cho thế giới loài người một trạng thái chênh lệch và mâu thuẫn. Những điều đó chúng ta có dịp bàn đến ở một quyển sách khác. Ở đây chúng ta thử phân tách xem xã hội bình dân Việt-nam thời xưa có dựa trên hai ngành học thuật ấy mà tiến triển không ?

Khi nói đến học thuật, chúng ta thường dựa trên một hệ thống giáo dục, có chương trình, có trường ốc, có tổ chức. Nghĩa là chúng ta chỉ thừa nhận một nền học thuật khi đã được hệ thống hóa và một cơ sở giáo dục. Nếu quan niệm như thế, chúng ta sẽ đi đến sự phủ nhận xã hội bình dân Việt-nam thời xưa chưa có một nền học thuật nào cả. Nhưng nếu chúng ta quan niệm nền học thuật của dân gian không nhất thiết phải lệ thuộc vào hệ thống tổ chức, thì chúng ta sẽ thấy xã hội bình dân Việt-nam thời xưa vẫn phát triển theo hai chiều hướng khoa học và đạo học.

Về khoa học, khả năng sáng kiến của họ là những cải tiến kỹ thuật lao động thường ngày trong công việc làm ăn từ một nhát cuốc, đến một luống cày, họ đem kinh nghiệm của họ đúc kết thành những bài học không cần ghi chép bằng sách vở, mà chỉ phổ biến trong gia đình, con cái, truyền đạt những kinh nghiệm, sáng kiến ấy từ đời nọ qua đời kia. Tuy những sáng kiến và kinh nghiệp ấy không được đúc kết thành hệ thống giáo dục qua các trường đào tạo chuyên viên, song lối truyền đạt kinh nghiệm trong dân gian, chúng ta không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.

Về đạo học, tuy họ không có những học thuyết minh định loài người đối với lẽ sống, trong cuộc sống của họ hàng ngày va chạm với thực tại, khiến tâm tư họ phát sinh không biết bao nhiêu cảm nghĩ khác đúc thành những tiếng lòng, di truyền từ đời nọ sang đời kia, qua các điệu hò, câu hát, để phản ảnh lẽ sống con người trước nhân đạo. Như vậy, chúng ta cũng không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.

Xem thế thì hai nền đạo học và khoa học của loài người đã có từ ngàn xưa, không phải đến ngày nay chúng ta mới tìm thấy. Tuy nhiên, dù chúng ta có phân chia thành hai nền học thuật, song mục đích cũng vẫn là một, tức là cùng phụng sự cho lẽ sống con người : lẽ sống vật chất và lẽ sống tinh thần.

Mà lẽ sống con người không thể đứng độc lập, tách rời mọi biến chuyển của vũ trụ. Do đó, con người muốn cải tiến khoa học, muốn cải tiến đạo học, lại phải dựa vào những qui luật của vũ trụ để phù hợp với trạng thái thiên nhiên. Không một phát minh khoa học nào thành công mà không nhờ tìm hiểu qui luật vũ trụ. Cũng không một đạo lý nào áp dụng được vào cuộc sống loài người, nếu đạo lý ấy không căn cứ vào qui luật diễn biến chung của vạn hữu.

Vậy, chúng ta vượt lên trên hai lãnh vực đạo học và khoa học, trở vào thế giới tâm tư của người xưa, xem lớp người bình dân quan niệm thế nào đối với thân phận con người trước lẽ sống. Tìm được điều đó tức là chúng ta tìm được nền móng của ngôi nhà tư tưởng của họ, mà trong các phần trước đây chúng ta đã có dịp mổ xẻ.

Chúng ta cũng không gán cho họ những ý thức xa lạ, không phải là tư tưởng của họ, mà ở đây chúng ta chỉ gạn lọc những chiều hướng suy tư của họ, đúc kết thành những quan điểm căn bản của họ mà thôi.

Thân phận con người trước lẽ sống !

Đó là một vấn đề phức tạp và khó khăn mà từ trước đến nay loài người đã tốn không biết bao nhiêu công phu của khối óc để tìm tòi, nghiên cứu. Chúng ta hiện có một khối óc của người bình dân. Khối óc ấy đã hình thành qua bốn ngàn năm lịch sử. Tại sao chúng ta không tìm hiều họ, tìm hiểu cả một khối óc vĩ đại của một dân tộc mà chỉ đi tìm tới những bộ óc của từng cá nhận ? Không, theo chúng tôi nghĩ, nếu bỏ quên khối óc khổng lồ ấy, không tìm hiểu họ. không để họ đóng góp vào sự nghiệp tinh thần của nhân loại thì quả là chuyện thiếu sót.

Bởi vậy, chúng tôi muốn khai thác ở khối óc vĩ đại ấy, khối óc của hai mươi lăm triệu người, hay nói một cách thực tế hơn, khối óc của phần đông dân chúng sống gần gũi với thực tế, với thiên nhiên, trong khung cảnh âm thầm, trầm lặng ấy. Ai dám bảo là họ không có một cảm nghĩ, một nhận xét đúng đắn mà ngày nay, trước cuộc sống tao loạn, loài người không thế nào có được !

Hỡi tiền nhân của dân tộc ! Tại sao chúng tôi, người con của thế kỷ hai mươi này, lại phải viện dẫn đến những cảm nghĩ, suy tư của tiền nhân, mà từ trước đến nay mọi người bỏ quên, chỉ đi bới móc, tìm tòi những gì của ngoại lai, của cá nhân, để dùng làm căn bản cho lẽ sống ?

Thưa tiền nhân, chỉ vì từ trước đến nay, những gì họ ca tụng và được loài người trọng vọng, thì ngày nay chỉ là những đổ nát, hoang tàn.

Thử hỏi, qua dòng lịch sử nhân loại, loài người đã tìm thấy thận phận con người trước lẽ sống chưa ? Thế giới loài người ngày nay tự hào văn minh, tiến bộ, nhưng họ vẫn chưa giải đáp được câu hỏi ấy. Và khi chưa tìm ra giải đáp, họ vẫn lao mình vào những cuộc xâu xé, chém giết rùng rợn, đê hèn.

Ngoài kia, tiếng súng đang nổ ! Những tạc đạn đang sát hại hàng loạt người ! Bên tai chúng tôi, họ đang chửi bới nhau qua các kỹ thuật truyền hình, phát thanh, trong lúc họ ca tụng những thành công tực rỡ của khoa học về khả năng chinh phục không gian !

Thưa tiền nhân, loài người của thế hệ hai mươi chúng tôi có tiền bộ về khoa học thực. Họ có thể du hành lên nguyệt điện, phá núi lấp sông, nhưng khối óc thông minh tuyệt đỉnh của họ vẫn không sao hiểu nổi thân phận con người trước lẽ sống !

Con người phải làm thế nào trước lẽ sống để cho họ có một cuộc đời tươi đẹp ? Những tiến bộ khoa học không đáp ứng nổi điều đó. Hàng ngày bom đạn vẫn tiếp tục tước đoạt mạng sống của con người. Vành khăn trắng vẫn tìm ngự trị trên mái đầu xanh, và thảm họa của lẽ sống đưa tâm tư con người tiến dần đến bờ vực thẳm, ở đó bóng tối đen ngòm, khiến chúng tôi, lớp người của thế hệ gọi là văn minh trở nên hoài nghi tất cả những gì mà thế giới chúng tôi ngày nay đang tôn thờ, theo đuổi…

Nhưng mảnh tâm hồn của chúng tôi, những con người hôm nay, đang quằn quại với đau thương, không phải vì yếu đuối, mà vì không tìm thấy thân phận con người trước lẽ sống.

Chúng tôi xin ghi lại ở đây một trong muôn ngàn trạng thái tâm hồn của lớp người trẻ trung thế hệ chúng tồi để xác định điều đó :

« Vùng đêm đen đang vây phủ tôi, ngọn đèn dầu leo lét không làm sáng đủ trang giấy trắng mở trước mặt. Tôi cúi mặt ru hồn mình trong niềm đớn đau cùng tận, nghe thương nhớ vô vàn khép chặt đôi mi. Vùng bóng tối trước mặt, vùng bóng tối chung quanh, vùng bóng tối trong linh hồn con gái. « Can đảm lên con ». Mẹ tôi đã dặn mỗi lần bắt gặp tôi gục đầu trên hai trang giấy trắng hai mở to mắt nhìn trừng bào khoảng hư vô trước mặt. « Can đảm lên con », lời nói như một cơn bão ngân dài thành điệp khúc vang vang trong linh hồn tôi từ mấy hôm nay. Tờ điện tín màu xanh nhàu nát trong tay, tôi giương mắt đọc lại trăm nghìn lần đến thuộc lòng sau từng cơn mê sảng : « Đợi anh nha Linh Thương. Xong cuộc hành quân, anh về ngay ».

II chữ, II lời nói tràn trề hy vọng nuôi sống tôi qua những tháng năm dài mòn mỏi đợi chờ. Cuộc hành quân chấm dứt, các anh lính đã trở về đây tràn đầy những hàng nước, những sạp báo gần nhà tôi. Họ thả hồn theo khói thuốc trên những chiếc xe Lam toàn áo lính mà rôi vẫn bơ vơ, bóng dáng anh vẫn biền biệt phương nào. Một ngày sau khi tiểu đoàn về hậu cứ mới có một người lính đến đây, nhìn nét mặt anh, tôi đã hiểu ngay chuyện anh muốn nói. Nỗi đau đớn tê buốt cả tâm hồn, tôi gật đầu mời anh lính ngồi và yêu cầu anh đừng nói gì cả, tôi chỉ hỏi : « Bây giờ tôi phải làm sao ? » Anh lính cúi đầu : « Chị đi theo tôi ».

Chiếc xe Jeep chở tôi đi đến gặp anh, bóng dáng đó, hình hài đó nằm yên nghỉ nơi đây. « Hai giờ nữa chúng tôi liệm đi, giọng nói của anh lính làm tôi nghẹn ngào. Tôi quỳ xuống gục mặt bên cạnh anh. Thế là hết. Niềm đau đớn chai cứng trong linh hồn. Tiếng bật khóc của em anh, của mẹ anh làm tôi lịm ».

Tôi quỳ thẳng lên, hôn vào trán anh lần cuối cùng rồi lùi ra. Thời gian này không phải thời gian để khóc, còn phải lo nhiều giấy tờ thủ tục… Mẹ nhìn tôi : « can đảm lên con ». Vâng, con sẽ can đảm, con sẽ cố gắng hết sức.

Quan tài đã đưa về, hai hàng nến trắng, hai người lính bồng súng hai bên, người ta đến chia buồn, ai cũng khuyên tôi can đảm, ai cũng khuyên tôi nên chấp nhận một sự đã rồi.

Vâng, tôi gục đầu van lơn, đừng nói gì cả, đừng nói gì cả, tôi đã chấp nhận, và ngàn đời tôi sẽ chấp nhận mọi khốn khổ bất hạnh, xót xa đến trong đời tôi. Tôi mang tang, vành tang ngạo nghễ trên đầu xiết chặt mọi niềm vui trong lòng tôi. Vùng đêm đen khốn khổ của tuổi trẻ, còn một đứa con gái sinh ra đời mang tên thật nhỏ nhoi, hèn mọn : Linh Thương ! Chiếc quan tài nằm đó, nước mắt vây phủ chung quanh, vành tang trắng sáu mái đầu, tôi cúi mặt thần thờ. Tình yêu tôi ngàn đời xin chôn theo anh, xin chôn theo thi hài người lính màu mũ đỏ kiêu sa, ngạo nghễ, nhưng đầy thương yêu. Mẹ nhìn tôi, nhìn anh, mắt mẹ buồn héo hắt xót thương cho tình yêu đứa con gái đầu lòng đã gãy đổ.

Tôi lịm dần theo từng cơn mê sảng, trong giấc hôn mê, anh hiện về đẹp như một thiên thần, tôi gào thét, bám víu vì anh lại bay xa. Từng nắm đất buông rơi vội vã, từng nhát xẻng phũ phàng vùi sâu hình hài anh vào lòng đất. Tôi gào tên anh, tôi hét gọi hồn anh, từ cõi bên kia trở về cho những hiện tượng đang tiếp diễn trước mắt tôi đừng bao giờ là sự thật. Anh đi rồi, tràng đạn nào bay đến kết liễu đời anh ? Ai đã giết anh ?

*

Thân phận hôm nay, tuổi trẻ hôm nay là đó, toàn những nước mắt bi thương, toàn những đổ vỡ xót xa, toàn những vành tang góa phụ. Nỗi ray rứt thống khổ không nguôi trong lòng tôi, trong lòng những người dân cùng một niềm đau thời chinh chiến dày xéo quê hương hàng đêm, màn đêm phũ phàng bao lấy tôi, bao vây lấy cuộc đời tôi. Tiếng gọi nào không thoát nổi từ tiềm thức còn hằn sâu những đau buồn. Tôi chỉ biết gục mặt, cúi đầu, nấm mộ đùn cao như nỗi đớn đau dâng tràn trong lòng tôi.

Tôi cào cấu những nấm đất, xới tung ngôi mộ mới lấp để tìm lại di hài anh, tìm lại những thương yêu trong thoáng chốc bay đi, vùi chôn vào lòng đất. « Can đảm lên con », dư âm tiếng nói của mẹ còn vang lại đó. Niềm đau trong linh hồn tôi còn chất ngất lên cao. Tôi làm gì ? Làm gì để quên đi thực trạng phũ phàng trước mắt ?

« Nín đi Thương, mỗi người đều có một số mệnh, tất cả đã an bài. Rồi Thương sẽ quên, sẽ quên », lời Trâm, bạn tôi vang lên bên tai. Ừ, tôi sẽ quên, nhưng bao giờ tôi quên được ? Bao giờ rôi không còn nhớ gì nữa ? Hàng me già vãn rũ buồn bên vệ đường, thảm cỏ trước mặt tôi vẫn xanh như xưa, nhưng còn tôi, tôi có quên được để yên lặng như vậy không ? Chiều bên giáo đường với tháp chuông cao lồng lộng, với hình ảnh Chúa đau khổ cứu chuộc nhân loại, hình ảnh đức Mẹ dịu hiền tuyệt vời chỉ làm ấm linh hồn tôi trong thoáng chốc rồi quên đi. Tôi yếu kém đức tin quá rồi, chiến tranh đã cướp của tôi cả niềm tin tưởng bên chân giáo đường.

Tôi quá nhỏ bé hèn mọn đến nỗi đã để đánh mất tất cả. Tôi cố gắng vươn lên, vươn lên nhưng niềm tin đã bay vụt thật xa, tôi ngơ ngác nhìn theo, hai bàn tay bỗng thành bất lực. Tuổi trẻ hôm nay là đó, không có niềm tin để bám víu vươn lên. Người mình yêu thương nhất, trong một thoáng súng đạn tàn bạo cướp đi ngôi thần tượng bơ vơ, lạc loài, khốn khổ.

*

Giảng đường chiều thứ năm chỉ gợi lại trong tôi thật nhiều ray rứt. Tôi ngồi đây mà hồn tôi đi đâu ? Đó, những bạn sinh viên chung quanh tôi đó : những Trâm, Anh, Ngọc với vầng trán cao vô tư và Triệu với đôi kính trắng kiêu sa vời vợi. Họ đều hãnh diện với hai chữ sinh viên gắn trước hàng tên. Họ đều cao ngạo với những tình yêu mà người ta đang quỳ xuống dưới chân.

Tôi ngồi đây thu hình thật nhỏ nhoi, tầm thường. Tôi van xin cho tôi được quên, cho đừng nhìn gì cả, đừng nghe gì cả, cả tiếng giảng dạy sang sảng trên kia. Ngòi bút buông xuôi, không vẽ vời được hàng chữ nào. Con Trâm nhìn qua tôi ái ngại, không, đừng nhìn, nhìn vành khăn trên đầu tôi, trên áo tôi hay nhìn cho tôi một chút thương hại ? Không, quay đi, nhìn tôi, niềm đau của tôi sẽ bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ.

7 giờ tối, tôi đứng lên rời khỏi giảng đường, những quyển sách trên tay, hai vạt áo dài trắng lê thê, tôi lách khỏi đám đông đó và đi thật nhanh về nhà. Chiếc Vespa đứng đợi bên kia đường, vẫn bộ mặt ấy, vẫn màu treillis ấy. Người lính thường đứng đây đợi ai, tôi không biết, nhưng có điều tôi biết người ấy không quen ai trong khu này, hình như anh đứng câm lặng nhìn một hình ảnh, một tà áo nào thì phải, vì mỗi lần đi được nửa đoạn đường tôi thường gặp xe anh chạy vượt qua, yên sau trống. Tự nhiên rôi nghe thương nhớ vô vàn. Anh ơi, sao người đó không là anh, không là anh đứng đợi em trìu mến đưa đón em về để bóng tối cô đơn không quyện lấy chân em, xoắn lấy tà áo em, ngập tràn đôi mắt em. Cơn lốc xoáy đau đớn lại bùng dậy trong bóng tối.

Tôi chạy thật mau, hai hàng nước mắt rơi lả tả… đường vắng, đèn lên hiu hắt. Duy, thằng em tôi trờ tới : « Chị, em chở chị về. » Tôi lặng lẽ ngồi vào băng sau.

Hai chị em tôi yên lặng suốt một quãng đường. Từ ngày anh chết, tôi và cả gia đình tôi, cả gia đình anh đều lặng lẽ âm thầm. Bóng tối, bóng đêm đang chụp phủ lấy người yêu anh, gia đình anh. Tuổi trẻ hôm nay là đó. Chiến tranh tàn phá gãy vụn tất cả. Anh nằm yên nghỉ, những người còn lại ngớ ngẩn mất hồn, ai cũng phải chấp nhận số phận cay nghiệt của mình. Cái chết thật phi lý, người kiêu sa thì cứ kiêu sa, người hèn kém gục mặt, cúi đầu thì cứ gục mặt cúi đầu. Tuổi trẻ hôm nay đó : một thoáng có, một thoáng quên, một thoáng bùng dậy nhưng cơn đau sẽ còn hành hạ đến khi nào khâm liệm được mình trong lòng đất sâu thẳm mịt mùng.

*

Tôi bỏ buổi học thực tập hôm nay. Đến nghĩa trang vuốt ve trong tay những đóa hoa màu trắng, màu tang tóc nghẹn ngào, màu thê thảm của tuổi trẻ của tôi. Tôi quỳ xuống đốt cho anh hai cây nến, nước mắt tôi thấm ướt những đóa hoa nằm im trong tay. Linh hồn rã rời, mệt mỏi. Anh nằm đây, tôi quỳ trên này cách xa nhau vài thước đất mà sẽ chẳng bao giờ được nhìn mặt nhau, chẳng bao giờ được nắm tay nhau dìu nhau trọn đường trần. Máu anh đã đổ ra, cuộc chiến thêm một người hy sinh, anh đi trọn đường anh, nhưng còn em : em mọn hèn, xót xa với vành tang trong linh hồn. Nhưng mà thôi… ngủ đi anh, ngủ đi anh.

Buổi chiều hôm nay thật êm và thật mát, em không nghe súng nổ, không nghe bom đạn reo vang trên quê hương, lòng đất thật yên, anh ngủ đi, anh ngủ đi anh, ngủ yên và trong giấc ngủ đó anh nhớ cầu nguyện cho quê hương mình được an lành, được hiền hòa. Ngủ đi anh, và cầu nguyện cho Nghĩa-trang Quân đội này đừng bao giờ có thêm một nấm mộ nữa, cho quê hương thôi hết chiến chinh. Em ở lại, em sẽ cố gắng, em sẽ đi vào con đường lý tưởng anh đã đi và cầu nguyện cho mãi mãi được ngủ yên, cho những người lính sẽ không còn gục ngã nữa. Để những đứa em, đứa cháu của em sau này đừng mang vành tang góa phụ khi tuổi vừa 19, để tuổi trẻ ngày sau tìm được sự chân thành, hòa đồng và tươi đẹp không như tuổi trẻ hôm nay mà anh, mà em đang lãnh nhận. »

Thắp hương cho người quá cố

NHẬT LINH THƯƠNG

(Trích Nhật-báo Công Luận số 419, 420, 421, 422)

*

Những tâm tư đau khổ trên đây không phải dành riêng cho con người sống trên đất nước Việt-nam, mà là những đổ vỡ cho tất cả nhân loại. Cho nên, phần lớn các nhà nghiên cứu triết học sử của thế hệ hai mươi đã phải thở dài, than : « Hiện tình thế giới loài người là một cảnh hỗn mang tao loạn !… »

Nhưng, cảnh hỗn mang tao loạn ấy là gì ?

Phải chăng loài người không tìm thấy thân phận con người đối với lẽ sống, và họ đã dùng những hiểu biết sai lầm của họ để đưa thế giới loài người vào những đổ vỡ, tang thương

Nếu vậy, thật đau buồn ! Và, chúng tôi tìm về thế giới tiền nhân, soát xét lại những tâm tư, những cảm nghĩ của mấy trăm thế kỷ trước về để tìm xem ở đấy có một tia sáng nào có thể giúp ích cho loài người mà bị thời gian che khuất, tưởng cũng không phải là chuyện vô ích

Người bình dân với tinh thần thực tiễn, tâm tư họ gần gũi với lẽ sống, nên những cảm nghĩ của họ luôn cọ xát với thiên nhiên. Lẽ sống và thiên nhiên phải phù hợp thì mới có thể đạt được trạng thái ổn định trong xã hội loại người

Bởi vậy chúng ta đi tìm nhân sinh quan. Mà nhân sinh quan là gì ? Nói một cách dễ hiểu thì nhân sinh quan chỉ là một ý thức dung hợp giữa lẽ sống cá nhân với lẽ sống tập thể, nằm trong trạng thái ổn định xã hội

Cho nên, nhân sinh quan không phải là ý thức tham vọng cá nhân, nó phải tách rời ra ngoài tính chất ích kỷ của bản ngã, vươn lên mọi tranh chấp cá biệt, kết thành một hệ thống tổ chức xã hội, dung hòa mọi quyền lợi và mọi chi phối giữa vật chất lẫn tinh thần. Với ý thức ấy, người bình dân thời xưa cũng đã tìm thấy nhân sinh quan của họ trong trạng thái sinh hoạt giữa con người với vũ trụ

Đến đây chúng ta thử đi vào nhân sinh quan của người bình dân bằng những ý thức đã biểu lộ qua ca dao.

I. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI BIẾN DỊCH

Người bình dân xem cuộc sống con người cũng như mọi sinh vật tồn tại của vạn hữu, không thể đặt ra ngoài quy luật biến dịch của thời gian. Nếu thời gian là yếu tố sinh biệt của vạn hữu thì cuộc sống loài người cũng nằm trong định lệ ấy. Họ bảo :

Đời người chỉ được gang tay,

Những ai ngủ ngày chỉ được nửa gang

Xem đời bằng khoảng thời gian ngắn ngủi như vậy nên họ rất chán ghét những hành vi bạo ngược, sát phạt, tước đoạt giữa con người và con người. Tại sao chúng ta chỉ sống trong cái khoảnh khắc ấy mà chúng ta lại không biết mưu cầu cho chúng ta những gì tươi đẹp hơn ?

Nỗi chán ghét của họ đã bộc lộ qua ý niệm như :

Một đời đánh sáp đeo hoa,

Một đời lây lấc cũng qua một đời !

Họ lấy cái chết định giá cái sống. Bởi vì họ quan niệm chết là hết, không được gì cả

Tuy nhiên, dù lấy cái chết làm đích cho con người, họ không lấy thế làm bi quan, cho thân phận con người là một hiện hữu bi đát như cảm nghĩ của một lớp người trong thế hệ chúng ta ngày nay. Họ thấy phải phấn đấu, phải tự mình đem lại cho con người một cái gì trọn vẹn với ý sống. Vì thế mà họ không đặt đời sống của họ trong ý thức chán đời, yếm thế. Tinh thần tranh đấu của họ rất mạnh mẽ như :

Có thân phải khổ lấy thân.

Không dưng ai dễ mang phần đến cho !

Còn trời, còn nước, còn mây,

Còn ao rau muống, còn đầy chum tương.

Tinh thần tranh đấu của họ đã vươn lên trên ý thức yếm thế của đạo giáo. Nhưng tinh thần ấy cũng không nằm trong trạng thái cướp đoạt, xâu xé một cách táo bạo, ác liệt như những gì chúng ta hiện thấy trong cuộc sống ngày nay. Ý thức tranh đấu của họ là ý thức tranh đấu ôn hòa, xây dựng, tự tồn nằm trong trạng thái chung của vạn hữu, tách bỏ mọi mánh khóe khôn ngoan, xảo quyệt do bộ óc con người nẩy sinh

Vũ trụ tạo ra con người ai cũng như ai. Họ bảo :

Hơn nhau tấm áo manh quần,

Cổi ra bóc trần ai cũng như ai.

Họ từ chối giá trị « tiền định » của con người. Như vậy, con người sở dĩ có khác nhau là do cuộc sống tạo cho họ. Mà cuộc sống tạo cho họ là do ý thức xấu xa của con người không quan niệm đúng với thân phận con người trước lẽ sống. Đáng lẽ những gì khôn ngoan hiểu biết là tài nguyên của nhân loại phải đem dùng vào việc xây dựng xã hội ngày ngày một đẹp thêm, thì họ lại dùng để phụng sự cá nhân, phá hoại xã hội, đưa đến chỗ chênh lệch, bất công

Nếu quan niệm đúng thân phận con người trước lẽ sống, nghĩa là hiểu rõ vũ trụ sinh ra loài người không phải để xâu xé lẫn nhau, chỉ có bộ óc con người đi ngược lại vũ trụ, thì bộ óc con người sẽ trở về đúng với nghĩa sống của nó. Bộ óc con người sẽ thấy trong quãng thời gian ngắn ngủi kia con người sẽ không được gì cả, nếu họ xâu xé nhau, tiêu diệt nhau để nhận lấy cái chết – dù cho cái chết bằng cách nào

Nhưng làm thế nào để bộ óc con người nhận rõ thân phận con người ?

Đó là một điều khó, nhưng không phải không làm được. Sở dĩ con người dần dần xa rời ý thức con người là do sự tiến triển giữa hai lãnh vực đạo học và khoa học không đồng đều. Khoa học và đạo học lúc nào cũng phải thăng bằng, nếu chênh lệch thì cuộc sống con người trở nên bi đát.

Khoa học biểu trưng cho cuộc sống vật chất, đạo học biểu tượng cho cuộc sống tinh thần. Vật chất và tinh thần bao giờ cũng phải cân đối thì đời sống con người mới có nghĩa.

Lấy con người làm ví dụ. Nếu đời sống con người chỉ chú trọng về vật chất mà không chú trọng về tinh thần thì con người họ trở nên độc ác, đê hèn. Nếu kẻ nào chỉ chú trọng về tinh thần mà không chú trọng về vật chất thì đời sống họ sẽ bi quan, yếm thế. Cả hai trạng thái đều bị chênh lệch

Cuộc sống loài người cũng vậy. Những gì loài người khám phá được trong lĩnh vực khoa học, mà chúng ta gọi là văn minh, không thể thay thế cho đạo học được. Cũng như vật chất không thể thay thế cho tinh thần. Chúng ta ngày nay đã bị ánh sáng văn minh vật chất làm áp đảo nguồn văn minh tinh thần mà căn bản của cuộc sống loài người đã để lại. Chúng ta phải thăng bằng hai bên học thuật ấy bằng cách chú trọng về đạo học, nâng cao tinh thần đạo học lên để tránh mọi cực đoan trong lẽ sống.

Nền đạo học của người bình dân không phải là những giáo điều độc tài, uốn nắn tư tưởng con người để phụng sự cho một cá nhân, hay một nhóm người nào trong xã hội. Nó phát xuất từ ý sống thực tiễn, thừa nhận căn nguyên chênh lệch của xã hội và tranh đấu đưa những chênh lệch ấy đến chỗ thăng bằng tự tại

2. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHÊNH LỆCH

Người bình dân lúc nào cũng nhìn thấy xã hội loài người hàm chứa những chênh lệch, bất công.

Tại sao xã hội loài người sinh ra những chênh lệch ấy ?

Nguyên nhân là tại lòng tham vọng, ích kỷ. Tuy nhiên, tham vọng, ích kỷ chỉ mới là cảm giác tự tồn, mà cái nguy hiểm đưa con người đến chỗ tai hại ấy là bộ óc con người. Nếu bộ óc con người có thể hun đúc cho cuộc sống một khả năng tự tại, thì bộ óc con người lại hun đúc cho xã hội một khả năng hủy diệt. Như vậy, chính bộ óc con người làm cho cuộc sống chênh lệch chứ không phải lòng tham vọng. Bộ óc con người không tẩy được thân phận con người trước lẽ sống, nên đã đồng lõa với tham vọng, đẩy tham vọng vào vòng tranh chấp tự diệt.

Sự chênh lệch trong cuộc sống đã tạo cho loài người những mâu thuẫn mà người bình dân đã nói đến rất nhiều trong cảnh giàu nghèo sang hèn.

Ý thức chống đối mọi chênh lệch bất công trong xã hội bình dân chính là ý thức thăng bằng mâu thuẫn mà chúng ta có thể đúc kết và quan niệm sau đây bằng câu hát :

Ở cho phải phải phân phân,

Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.

Như vậy, người bình dân không chủ trương phá bỏ mâu thuẫn xã hội, chỉ chủ trương thăng bằng mâu thuẫn xã hội mà thôi.

Giàu nghèo sang hèn chính là biểu tượng phát triển của vật chất. Cho nên, khi nói đến điều hòa những mâu thuẫn ấy cũng có nghĩa là người bình dân muốn kêu gọi ảnh hưởng tinh thần. Họ muốn dùng trí khôn của con người trong phạm vi phát triển khả năng vật chất để điều hòa phạm vi phát triển khả năng tinh thần. Khi hai lãnh vực ấy được điều hòa thì giàu nghèo không còn chênh lệch trong cảm nghĩ khinh trọng nữa.

3. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHỊU ẢNH HƯỞNG

Người bình dân chẳng những thấy rằng ảnh hưởng vật chất trong cuộc sống con người là một sức mạnh, biến con người trở thành một sinh vật xa rời với bản ngã thiên nhiên. Bộ óc con người có thể giúp cho loài người khả năng phát triển về sinh hoạt vật chất, nhưng lại rất yếu đuối đối với khả năng sáng tạo tinh thần. Do đó muốn loại bỏ ảnh hưởng vật chất để kiến tạo tinh thần, cuộc sống loài người phải có một tổ chức điều hòa mâu thuẫn. Guồng máy xã hội chính là phương tiện để thăng-bằng-hóa cuộc sống, mà người bình dân bao giờ cũng cảm thấy có bổn phận tranh đấu để loại bỏ những chênh lệch bất công.

Tất cả những gì chúng ta đã khảo sát qua trong những tiểu mục trước đây đều nhằm vào mục đích ấy.

Tóm lại, nhân sinh quan của người bình dân hướng vào mục đích thăng bằng mâu thuẫn để cải tạo xã hội con người. Yếu tố thăng bằng mâu thuẫn bắt nguồn từ sự phát triển hai lãnh vực đạo học và khoa học (tinh thần và vật chất) phải thăng bằng nhau, dùng guồng máy tổ chức xã hội làm phương tiện.

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG

1. Ai ơi ! đừng lấy làm lo,

Đương xuân rồi cũng soi cho âm hàn.

2. Ai ơi ! chớ vội cười nhau,

Ngắm mình cho tỏ trước sau hãy cười.

3. Ai ơi ! trẻ mãi ru mà,

Càng so sắn lắm, càng già mất duyên.

4. Ai ơi xin chớ cười nhau,

Cười người hôm trước, hôm sau người cười.

5. Ai ơi nhắn chị hàng cau,

Chiếu buồm dấp nước giữ màu cho tươi.

6. Ai ơi ! Đừng lấy làm lo,

Bóng son rồi cũng soi cho gương mờ.

7. Ai ngờ mật sứa gan hầm,

Rắp toan gà luộc rượu tăm thỏa lòng.

Khác nào như nhện đánh vòng,

Ếch kia trong giếng còn trông kẻ dò.

Đói thì đầu gối biết bò,

No cơm ấm cật còn lo lắng gì.

8. Ai đem con kéc vô vườn,

Cho nên con kéc ăn buồng chuối tiêu.

9. Ai ơi ! chớ vội cười nhau,

Câu nào mà chẳng có sâu chạm cành.

10. Anh đừng chê thiếp xấu xa,

Bởi chưng bác mẹ sinh ra thế này.

11. Áo người mặc đoạn cởi ra,

Chồng người ấp mượn canh ba lại hoàn.

12. Áo cũ để vận trong nhà,

Áo mới để vận đi ra ngoài đường.

13. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần, sàng.

14. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,

Nào ai vun quén cho mầy được ăn

15. Ăn được, ngủ được là tiên.

Không ăn không ngủ là tiền vứt đi.

16. Bàn tay còn có ngón dài ngón vắn,

Con một nhà đứa trắng đứa đen,

Hễ ăn vóc học quen,

Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn phải hay.

17. Bầu già thì ném xuống ao,

Bí già đóng cửa làm cao lấy tiền.

18. Bầu già thì mướp cũng sơ,

Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.

19. Bồ cu mà đổ nóc nhà,

Mấy đời đàn bà đi hỏi đàn ông.

20. Bông bổng bồng bồng,

Trai ơn vua chầu chực sân rồng,

Gái ơn chồng ngồi võng ru con

Ơn vua xem nặng bằng non,

Ơn chồng đội đức tổ tông dõi truyền.

Làm trai lấy được vợ hiền,

Như cầm đồng tiền mua được của ngon.

Phận gái lấy được chồng khôn,

Xem bằng cá vượt Vũ-môn hóa rồng,

Bông bổng bồng bồng,

Bông bổng bồng bồng,

21. Bờ sông lại lở xuống sông,

Đàn bà mà lấy đàn ông thiệt gì.

22. Bớt đồng, thì bớt cù lao,

Bớt ăn, bớt uống, thì tao bớt làm.

23. Cái tươi, thì phải xem mang,

Người khôn xem lấy đôi hàng tóc mai.

24. Cách sông nên phải lụy đò,

Bởi chưng về tối lụy cô bán hàng.

25. Cách sông nên phải lụy đò,

Tối trời nên phải lụy o hàng dầu.

Hàng dầu cất gánh làm cao,

Khi mua chẳng bán, khi rao chẳng màng.

26. Cách sông nên mới lụy thuyền,

Những như đường liền ai phải lụy ai.

27. Cái vòng danh lợi cong cong,

Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước vào.

Sự đời nghĩ cũng nực cười,

Một con cá lội mấy người buông câu.

28. Cấm người giả lịnh giả thị,

Chẳng ai cấm người mang bị nói khoác.

29. Cạn đầm thì uống nước khe,

Hết người lịch sự thì ve người đần.

30. Càng thắm thì lại càng phai.

Thoang thoảng hoa lài càng được thơm lâu.

31. Cây khô chưa dễ mọc chồi,

Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta.

Non xanh bao tuổi mà già,

Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu.

32. Cây cao thì gió càng lay,

Càng cao danh vọng càng dày gian truân.

33. Có tiền mua tiên cũng được,

Không tiền mua lược cũng không.

34. Có lòng thì trả ơn lòng,

Xa xôi chi lắm đèo bòng được sao.

35. Có cây mới có dây leo.

Có cột, có kèo mới có đòn tay.

Có ai ta cũng thế này,

Không ai ta cũng như ngày có ai.

36. Có cha có mẹ thì hơn,

Không cha không mẹ như đờn đứt dây,

37. Có hát thì hát cho bổng, cho cao,

Cho gió lọt vào, cho chúng chị nghe.

Chị còn ngồi võng ngọn tre,

Gió đưa cút kít không nghe thấy gì.

38. Có khó mới có miếng ăn,

Không dung ai dễ mang phần đến cho.

39. Có thóc thì rốc gạo ra

Có gạo thì nạo ra cơm.

40. Có phúc thợ mộc, thợ nề,

Vô phúc thầy đề, thầy thông.

41. Có tiền khôn như mày mạy,

Không tiền dại như đòng đong

42. Có khó thì mới có sang,

Bỗng dung ai võng Ba Hoàng đến cho.

43. Có không mùa đông mới biết,

Giàu khó ba mươi tết mới hay.

44. Có răng thì để răng nhai,

Không răng, lợi gậm chẳng sai miếng nào.

45. Có ăn vất vả đã cam,

Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

46. Có trầu chẳng để môi thâm,

Có chồng chẳng để ôm lầm cối xay.

47. Có chồng mà chẳng có con,

Khác gì hoa nở trên non một mình.

48. Có thì có tự mảy may,

Không thì cả thế gian nầy cũng không.

49. Có ai nước cũng đứng bờ,

Không ai nước cũng đứng cơ mực này.

50. Có cô thì chợ cũng đông,

Cô đi lấy chồng, thì chợ cũng qua.

Có cô thì dượng cũng già,

Vắng cô, thì dượng cũng qua một thì.

51. Có của thì khôn như mạy,

Không của thì dài như lú.

52. Con vua thì lại làm vua,

Con nhà thầy chùa lại quét lá đa.

53. Con cóc mày trèo cây nho,

Anh kia không vợ hay mò đi đêm.

54. Con mèo con mẻo con meo,

Muốn ăn thịt chuột thì leo xà nhà.

55. Con có cha mẹ đẻ

Không ai lỗ nẻ mà lên.

56. Con gái chơi với con trai,

Rồi sau cái vú bằng hai sọ dừa.

57. Con ai mà chẳng con cha,

Cháu ai là chẳng cháu bà cháu ông.

58. Con quan thì lại làm quan,

Con nhà kẻ khó đốt than tối ngày.

59. Con người có tổ có tông,

Như cây có cội, như sông có nguồn,

60. Con sâu bỏ rầu nồi canh,

Một người làm đĩ xấu danh đàn bà.

61. Con gà tốt mã về lông,

Răng đen về thuốc, rượu nồng về men.

62. Con vua lấy thằng bán than,

Nó đem lên ngàn, cũng phải đi theo.

Con quan Đô-đốc, Đô-tài

Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy mui.

63. Còn cha gót đỏ như son,

Đến khi cha chết gót con đen sì.

64. Còn duyên kén cá, chọn canh,

Hết duyên dẫu nắm chày hành cũng xoay.

65. Còn duyên như tượng tô vàng,

Hết duyên như tổ ong tàn ngày mưa.

66. Còn duyên buôn cậy, bán hồng,

Hết duyên buôn mít cho chồng nhặt sơ.

Còn duyên kén cá, chọn canh,

Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng vơ.

67. Còn trời, còn nước, còn mây,

Còn ao rau muống, còn đầy chum tương.

68. Còn trời, còn nước, còn non,

Còn trăng, còn gió hãy còn đó đây.

69. Cong môi hay hớt,

Mỏng môi hay hờn, dầy môi ăn vụng.

70. Còng còng dại lắm ai ơi,

Uổng công xe cát, sóng dồi lại tan.

71. Cô kia má đỏ hồng hồng,

Cô chửa lấy chồng còn đợi chờ ai.

Buồng không lần lữa hôm mai,

Đầu xanh mấy chốc da mồi tóc sương.

72. Cố công sống mấy nghìn năm,

Thử xem thửa ruộng mấy trăm người cày.

73. Cồng cộc bắt cá dưới bàu,

Cha mẹ mầy giàu đám giỗ đầu heo.

Cồng cộc bắt cá dưới sông,

Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.

74. Cờ đến tay ai người ấy phất,

Đèn nhà ai người ấy rạng.

75. Cờ bạc là bác thằng bần,

Áo quần bán hết ngồi trần tô hô.

76. Cờ đến tay ai người ấy phất.

Đất đến tay ai người ấy nên.

77. Cơm ăn chẳng sớm thì trưa,

Nón đội trên đầu chẳng mưa thì nắng.

78. Của làm ra để trên gác,

Của cờ bạc để ngoài sân,

Của phù vân để ngoài ngõ.

79. Của rẻ của ôi,

Tôi rẻ tôi trốn, vợ rẻ vợ lộn.

80. Cười người phải nghĩ đến thân,

Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.

81. Cha mẹ giàu thì con thong thả,

Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan.

Sáng ngày lên núi đốt than,

Chiều về xuống biển đào hang cua còng.

82. Chẳng nên tình trước, nghĩa sau,

Có con, ta gả cho nhau thiệt gì.

83. Chẳng gì tươi tốt bằng vàng,

Chẳng gì lịch sự nỏ nang bằng tiền.

84. Chẳng chùi để vậy lu li,

Chùi ra tỏ rạng thua gì thủy tinh.

85. Chẳng thiêng, ai gọi là Thần,

Lối ngang, đường tắt chẳng gần ai đi.

86. Chẳng đẻ, chẳng thương,

Chẳng mất tiền cưới chẳng thương cái đì.

87. Chi ngon bằng gỏi cá nhồng,

Chi vui bằng được tin chồng vu qui.

88. Chị em rủ đi tắm đầm,

Của em thời trắng, chị thâm thế này ?

- Chị thâm bởi tại anh mày,

Khi xưa chị cũng hạt chay đỏ lòm.

89. Chị dại đã có em khôn,

Lẽ đâu mang giỏ thủng trôn đi mò.

Em khôn, em ở trong bồ,

Chị dại chị ở Kinh-đô mới về.

- Kinh đô thì mặc Kinh-đô

Chị đi cho lắm thì đồ chi tan.

90. Chim khôn, tránh lưới, tránh dò,

Người khôn tránh chốn xô bồ mới khôn.

91. Chim khôn ăn nhãn ăn xoài,

Em khôn ngồi đợi tú tài cử nhân.

92. Chim khôn kêu tiếng rảnh rang,

Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ nghe.

93. Chim khôn, chưa bắt đã bay,

Người khôn chưa nói, dang tay đỡ lời.

94. Chó cắn chẳng cắn chỗ không,

Chẳng thằng ăn trộm thì ông đi đường.

95. Chó khôn tứ túc huyền đều,

Tai thì hơi cúp, đuôi thì hơi cong.

Giống nào mỏ nhọn đít vồng,

Ăn càn cắn bậy ấy không ra gì.

96. Chó vội ăn nóng mà hư,

Để lâu càng nguội, càng nhừ, càng ngon.

97. Chó thấy hùm ngủ vuốt râu,

Đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng còn.

98. Chơi thì chơi chốn thập thành,

Lời ăn tiếng nói nhẹ mình như tên.

99. Chơi hoa cho biết mùi hoa,

Hoa lê thì trắng, hoa cà thì xanh.

100. Chơi thì chơi chốn cho thanh,

Tuy rằng lộ tiết, nhưng danh để đời.

101. Chơi trăng từ thuở trăng tròn,

Chơi hoa từ thuở hoa còn trên cây

102. Chơi hoa cho biết mùi hoa,

Cầm cân cho biết cân già, cân non.

103. Chuông có gõ mới kêu,

Đèn có khêu mới rạng.

104. Chữ nhẫn là chữ tương vàng,

Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu.

105. Chửa chồng nón thúng quai thao,

Chồng rồi, nón rách quai nào thì quai.

Chửa chồng, yếm thắm đeo hoa,

Chồng rồi, hai vú bỏ ra tày giành.

106. Dã tràng xe cát bể đông,

Nhọc lòng mà chẳng nên công cán gì.

107. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng,

Trăm khôn nghìn khéo không chồng cũng hư.

Con trai chưa vợ đã xong,

Con gái chưa chồng buồn lắm em ơi.

108. Dễ dàng là thói hồng nhan,

Càng cay nghiệt lắm, càng oan trái nhiều.

109. Dì ruột thương cháu như con,

Rủi mà không mạ, cháu còn cậy trông.

110. Dù rách mới ra thân tàn,

Xưa kia nó cũng hồng nhan hơn người.

111. Đã có con mắt thì xem đàng,

Có phải cận thị mà ngó quàng ngó quơ

112. Đã giàu thì lại giàu thêm,

Đã khó lại khó cả đêm lẫn ngày.

113. Đàn bà yếu chân mềm tay,

Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm.

114. Đàn đâu mà gảy tai trâu,

Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.

115. Đàn ông quan tắt thì chày,

Đàn bà quan tắt nửa ngày nên quan.

116. Đàn ông kia hỡi đàn ông,

Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà.

Đàn bà kia hỡi đàn bà,

Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn ông.

117. Đàn ông miệng rộng thì sang

Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà.

118. Đàn ông nông nổi giếng khơi

Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.

119. Đàn ông vượt bể, có chúng, có bạn,

Đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.

120. Đàn ông miệng rộng thì tài

Đàn bà miệng rộng điếc tai láng diềng.

121. Đàn bà như cánh hoa tươi

Nở ra chỉ được một thời mà thôi.

122. Đàn ông không râu mất nghì,

Đàn bà không vú lấy gì nuôi con.

123. Đàn bà lanh lảnh tiếng đồng

Một là sát chồng, hai lại hại con.

124. Đàng dài hay sức ngựa,

Nước loạn biết tôi ngay.

125. Đào liễu em ơi một mình

Đổi vai tình tang gánh chữ chung tình xa là đường xa.

Tấm áo nâu sồng xếp nếp em để trong nhà.

Ba vuông khăn tím phất phơ em đội đầu.

Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu,

Răng đen rưng rức, mái tóc dầu em hãy còn xanh.

Ấy thế sao em ở vậy cho nó đành,

Sao em chẳng kiếm chút chồng lành kẻo thế mỉa mai ?

Sách có chữ rằng : « Xuân bất tái lai »

126. Đất tốt trồng cây rườm rà,

Những người thanh lịch nói ra quí quyền.

127. Đất xấu trồng cây ngẳng nghiu,

Những người thô tục nói điều phàm phu.

128. Đánh giặc mà đánh tay không,

Thà về xó bếp giương cung bắn mèo.

129. Đầu làng có bụi chuối khô,

Trông về xóm bắc đôi cô chửa chồng.

Cây cao gió đập đùng đùng,

Ai về đàng ấy, nhắn cùng đôi cô.

130. Đèn khoe đền tỏ hơn trăng,

Đèn ra chỗ gió được chăng hỡi đèn.

Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,

Cớ sao trăng phải chui luồn đám mây ?

131. Để hơi mà tát nước bè,

Hoài lời mà nói với bè trẻ ranh.

132. Đến ta mới biết của ta,

Nghìn trăm năm trước biết là của ai.

133. Đi lâu mới biết đường dài,

Ở lâu mới biết con người phải chăng.

134. Đi đâu mà vội mà vàng,

Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.

Thủng thỉnh như chúng anh đây,

Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng.

135. Đi cho biết đó biết đây,

Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

136. Đi đâu mà vội vàng,

Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.

Đi đâu mà vội mà vàng,

Ngã năm, bảy cái lại càng thêm lâu.

137. Đói thì đầu gối phải bò,

No cơm ấm cật, chẳng dò đi đâu.

138. Đói lòng ăn trái khổ qua,

Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.

139. Đói thời ăn ráy, ăn khoai,

Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng.

140. Đòng đòng đi dạo đòng đòng,

Trẻ vui đạo trẻ, già dong đạo già.

141. Đố ai lặn xuống vực sâu,

Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa ?

142. Đố ai biết món chi ngon,

Gà lộn, trái vải, cu con ra ràng.

143. Đố ai bắt trạch đằng đuôi,

Bắt chim đầu cánh, bắt người trong trăng.

144. Đố ai nằm võng không đưa,

Ru con không hát, tôi chừa rượu tăm.

145. Đồng tiền không phấn không hồ,

Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt người.

146. Đồng tiền chì mua mớ tôm tươi.

Mua rau mới hái, mua nàng đảm đang,

Tiếc thay đồng tiền trinh mua vội mua vàng,

Mua rau muống héo, mua nàng ngẩn ngơ.

147. Đời xưa kén những con dòng,

Đời nay ấm cật, no lòng thì thôi.

148. Đời cha cho đến đời con,

Có muốn nặn tròn, thời phải nặn vuông.

149. Đừng chê tôi xấu tôi đen,

Kìa như nước đục đánh phèn lại trong.

150. Đường về Kiếp-bạc bao xa.

Đường về Kiếp-bạc có cây đa bồ đề.

Có yêu anh cắp nón ra về,

Giàu ăn, khó chịu, chớ hề hở hang.

151. Gà đen chân trắng, mẹ mắng cũng mua,

Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy.

152. Gái một con trông mòn con mắt,

Gái hai con vú quặt đằng sau.

Gái ba con thì đâu ngồi đấy.

153. Gái mà chi ! trai mà chi !

Sinh ra có ngãi có nghì là hơn.

154. Gái không chồng như nhà không nóc,

Trai không vợ như cọc long chưn.

155. Gái khôn tránh khỏi đò đưa,

Trai khôn tránh khỏi vợ thừa người ta.

156. Giàu cha giàu mẹ thì mừng,

Giàu cô giàu bác thì đừng có trông.

157. Giàu thì cũng chẳng có thèm,

Khó khăn ta liệu ta làm, ta ăn.

158. Giàu ba mươi tuổi chớ mừng,

Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo.

159. Giàu nhân ngãi hãy giữ cho giàu,

Khó tiền bạc mựa lo rằng khó.

160. Gần sông quen tính cá,

Gần núi không lạ tiếng chim.

161. Gần thì rày viếng, mai thăm,

Xa xôi cách trở một năm vài lần.

162. Gần nhà giàu đau lưng ăn cốm,

Gần nhà kẻ trộm ốm lưng chịu đòn.

163. Giúp lời không ai giúp của,

Giúp đũa không ai giúp cơm.

164. Gỗ nghiến anh dễ đóng cày,

Gỗ lim gỗ sến anh nay đóng bừa.

Răng bừa tám cái còn thừa,

Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống tơ.

165. Gươm linh sút cán còn trành,

Bình hương dẫu bể miểng sành còn thơm.

166. Hay quần, hay áo, hay hơi,

Mà chẳng hay người là của bỏ đi.

167. Hèn mà làm bạn với sang,

Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.

168. Hoa thơm mất nhị đi rồi,

Dù rằng trang điểm cũng người vô duyên.

169. Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,

Người khôn ai nỡ nặng lời đến ai.

170. Hoa sen mọc bãi cát lầm,

Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.

Thài lài mọc cạnh bờ sông,

Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài.

171. Hoa thơm mất nhị đi rồi,

Còn thơm đâu nữa mà người ước ao.

172. Hoa thơm ai chẳng muốn đeo,

Người khôn ai chẳng nâng niu bên mình.

173. Hoa thơm ai chẳng nâng niu,

Người khôn ai chẳng kính yêu mọi bề.

174. Học hành thì ích vào thân,

Chức cao quyền trọng dần dần theo sau.

175. Hoài tiền mua thuốc nhuộm răng,

Để tiền mua bánh đút mà quăng vào mồm.

176. Hoài tiền mua pháo đốt chơi,

Pháo nổ ra xác, tiền ôi là tiền !

177. Học trò học trẹt ỉa phẹt ra mo,

Chó không liếm cho, học trò liếm vậy.

178. Hơi đâu mà giận người dưng,

Bắt sao được cái chim rừng nó bay.

179. Hơn nhau tấm áo manh quần,

Thả ra bóc trần ai cũng như ai.

180. Kẻ có tình thì rình trong bụi,

Kẻ vô tình lủi thủi mà đi.

181. Kiến leo cột sắt bao mòn,

Tò vò xây ổ bao tròn mà xây.

182. Khen ai khéo đúc chuông chùa,

Dạng thì có dạng, đánh thì không kêu.

183. Khế xanh nấu với ốc nhồi,

Tuy nước nó xám nhưng mùi nó ngon.

184. Khi ăn chẳng nhớ đến tai,

Đến khi phải bóng, lấy tai mà rờ.

185. Khôn ngoan hiện ra mặt,

Què quặt hiện ra chưn tay.

186. Khôn từ trong trứng khôn ra,

Dại dẫu đến già cũng dại.

187. Khôn thì trong trí lượng ra,

Dại thì học lỏm người ta bề ngoài.

188. Khôn ngoan chẳng lọ là nhiều,

Người khôn mới nói nửa điều đã khôn.

189. Khôn ngoan tâm tính tại lòng,

Lọ là uống nước giữa dòng mới khôn.

190. Khôn thì ăn trước ngồi trên,

Dại thì đứng dựa cột đình đánh trống cầm canh.

191. Khôn cho người dái, dại cho người thương,

Dở dở ương ương, tổ người ta ghét.

192. Không tiền ngồi gốc cây đa,

Có tiền, thì sẽ lân la vào hàng.

193. Lạc đàng nắm đuôi chó,

Lạc ngõ nằm đuôi trâu.

194. Làm người ăn tối lo mai,

Việc mình hồ dễ để ai lo lường.

195. Làm người có miệng, có môi,

Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.

196. Làm ruộng thì phải đắp đìa,

Vừa để giữ nước, vừa đi đi về

197. Làng ta mở hội vui mừng,

Chuông kêu, trống gióng vang lừng đôi bên.

198. Lật đật cũng đến bến giang,

Anh nay thong thả cũng sang bến đò.

199. Lấy khách thì khách về Tàu,

Lấy nhà giàu, thì nhà giàu phải tội tiêu sưng.

Trở về lấy chú tửng tưng,

Tốt bền cố hỉ.

200. Lênh đênh chiếc bách giữa dòng,

Thương thân góa bụa phòng không lỡ thì.

Gió đưa cây trúc ngã quì,

Ba năm trực tiết còn gì là xuân ?

201. Liệu cơm mà gắp mắm ra,

Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng đi,

Nửa mai quá lứa lỡ thì,

Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng thông.

202. Lo chi việc ấy mà lo,

Kiến trong miệng chén có bò đi đâu.

203. Lòng đá thắm, dạ vàng phai,

Hơi đâu theo đuổi đường dài uổng công.

204. Lòng vả cũng như lòng sung,

Một trăm con lợn cũng chung một lòng.

205. L… tốt về lụa, lúa tốt phân,

Chân tốt về hài, tai tốt về hoản.

206. Lộng che sương dầu sườn cũng lộng.

Cái ô bịt vàng dầu trọng cũng ô.

207. Lưỡi không xương nhiều đường lắt léo,

Lưỡi… không cạp l… méo làm ba.

208. Máu gà lại tẩm xương gà,

Máu người đem tẩm xương ta bao giờ.

209. Mạch trong nước chảy ra trong,

Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn.

210. Mạnh về gạo, bạo về tiền,

Lắm tiền nhiều gạo là tiên trên đời.

211. Mấy đời sấm trước có mưa,

Mấy đời dì ghẻ có ưa con chồng.

212. Mẹ gà con vịt chít chiu,

Mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng.

213. Mèo lành ở mả bao giờ,

Của yêu ai có bày ra ở ngoài,

Mèo lành ai nỡ cắt tai,

Gái hư chồng để, kêu nài ai thương.

214. Mình đẹp cha mẹ mình lo,

Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao.

Xấu xí như mẹ con tao,

Đêm nằm ngõ cửa mát tao, mát mày.

215. Mồ côi cha ăn cơm với cá,

Mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ.

216. Mỗi người thì có một nghề,

Làm cốt thì ngáp, làm nghê thì chầu.

217. Mỗi năm mỗi tuổi mỗi như đuổi xuân đi.

Cái già sồng sộc nó thì theo sau.

218. Mỗi năm mỗi tuổi mỗi già,

Chẳng lo liệu trước ắt là lụy sau.

219. Mồng bốn cá đi ăn thề,

Mồng tám cá về, cá vượt Vũ-môn,

220. Một lần cho tởn tới già,

Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân.

221. Một tay em víu hai cành,

Quả chín thì bẻ, quà xanh thì đừng.

222. Một quan có giấy một quan,

Năm tiền không giấy, mất oan đừng nài.

223. Một mai, mai một, một mai,

Giàu sang cũng chết, xạc xài cũng xong.

Thông minh tài trí anh hùng,

Ngu si dại dột cũng chung một gò.

224. Một cái rắm bằng nắm thuốc tiêu,

Bằng liều thuốc gió, bằng lọ thuốc viên.

225. Một năm là mấy tháng xuân,

Gái kia có lẽ mấy lần đưa dâu.

226. Một cây làm chẳng nên non,

Ba cây giụm lại nên hòn núi cao.

227. Một nhà hai chủ khôn hòa,

Hai vua, một nước ắt là không yên.

228. Một con tằm cũng phải hái dâu,

Một con trâu cũng phải đóng đồng.

229. Một năm được mấy mùa xuân,

Một ngày được mấy giờ dần sớm mai.

Em đừng cậy sắc, khoe tài,

Khéo thay nồi thủng cũng tay thợ hàn,

Trước kia Khôn cũng thờ Càn,

Nước kia Tấn cũng hợp Tần mới xong.

Ngồi trong cửa sổ chạm rồng,

Chăn loan, gối phượng, không chồng ra chi.

Thơ đào nghĩ chữ vu qui,

Hôn nhân lễ đạt, gặp thì đào yên.

Trăm sông díu dít thư cưu.

Thục nữ, quân tử hảo cầu đẹp duyên.

Tục rằng : Tiên lại tìm Tiên,

Phú lại tìm quý, bạn hiền tìm nhau.

230. Mua cau chọn những buồng sai,

Mua trầu chọn những trăm hai lá vàng.

Cau tiện ngang, trầu vằng ngắt ngọn,

Thời buổi nầy kén chọn làm chi,

Sao em chẳng lấy chồng đi ?

231. Muốn ăn cơm trắng nước trong,

Em lên Phố-cát Đại-đồng cùng anh.

Ai lên Phố-cát Đại-đồng,

Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa ?

- Có chồng năm ngoái năm xưa,

Năm nay chồng để, nên chưa có chồng.

231. Muốn tắm mát lên ngọn sông Đào,

Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.

233. Muốn may thì phải có kim,

Muốn hay thì phải ắt tìm người xưa.

234. Muốn ăn hét phải đào giun,

Phá bờ xông bụi nào còn biết e.

235. Muốn ăn đậu phụ, tương tàu,

Mài dao, đánh kéo gọt đầu đi tu.

236. Muốn giàu nuôi trâu cái,

Muốn lụn bại nuôi chim bồ câu.

237. Muốn cho có đó có đây,

Sơn lâm chưa dễ một cây nên rừng.

238. Muốn đánh thì đẻ con ra,

Muốn ăn thì thổi cơm nhà mà ăn.

239. Mượn màu một chút làm duyên,

Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng.

240. Mưu toan thì dễ,

Sự thành thì khôn dễ làm nên.

241. Nào lời chàng dặn nàng hay,

Ăn nhịn qua bữa, chớ vay đổ lời.

242. Nắm lại thì chắc như cua,

Mở ra thì lại được rùa mà thôi.

243. Năng mưa, năng tốt lúa đường,

Năng đi, năng lại xem thường xem khinh.

244. Nên ra trên kính dưới nhường,

Chẳng nên đạp hắt bên đường mà đi.

245. Nồi nát lại về Cầu Nôm,

Con gái nỏ mồm về ở với cha.

246. Nồi tròn thì úp vung tròn,

Đừng úp vung méo, nữa con người cười.

247. Nông thì vén áo xắn quần,

Sâu thì phải dán cả thân ướt dầm.

248. Nuôi con chẳng biết tình con,

Hễ vú gai gạo thì l… chớp đông.

249. Nỡ nào mèo lại ăn than,

Bởi chung có mỡ đổ tràn lên trên.

250. Nứa trôi sông chẳng dập thì gãy,

Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ thì tật kia.

251. Nước trong múc lấy một xanh,

Hoa thơm bẻ lấy một nhành cầm tay.

252. Nước chảy hồn đá lăn cù,

Con chị có chết thì bù con em.

253. Nước lên rồi nước lại ròng,

Đố ai bắt được con còng trong hang.

254. Nứng c… thì vặc đến nhà,

L… còn đau mắt không ra đến ngoài.

255. Ngáp đói hay là ngáp no,

Có phải ngáp ngủ thì cho lên giường.

256. Ngày đi, trúc chửa mọc răng,

Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn tre.

Ngày đi, lúa chửa chia vè

Ngày về, lúa đã đỏ hoe ngoài đồng.

Ngày đi, em chửa có chồng,

Ngày về, em đã có con quấn, con dắt, con bồng, con mang.

257. Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,

Làm thân con nhện mấy lần vương tơ.

Biết đâu trong đục mà chờ,

Hương thơm hết tuyết nương nhờ vào ai ?

258. Ngọt mật càng tổ chết ruồi,

Những nơi cay đắng là nơi thật thà.

259. Ngỡ là nước chảy đá mòn,

Chẳng là nước chảy, đá còn trơ trơ.

Chờ cho nước cạn phơi bờ,

Xem con người ấy nương nhờ về đâu.

260. Ngựa long cong ngựa cũng đến bến,

Voi thủng thỉnh voi cũng đến đò.

261. Người đời ai có dại chi,

Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc sông.

262. Người khôn con mắt đen sì

Người dại con mắt nửa chì, nửa thau.

263. Người mặc người, ta mặc ta,

Mình chưa giữ được, lọ là lo ai.

264. Người đời khác nữa là hoa,

Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn.

265. Người ta bắt trạch đằng đầu

Mẹ em tham giàu bắt trạch đằng đuôi.

266. Người trời lại bán chợ trời,

Hễ ai biết của, biết người thì mua.

267. Người đời hữu tử, hữu sanh.

Sống lo xứng phận, thác dành tiếng thơm.

268. Người khôn ăn miếng thịt gà,

Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu,

Người dại ăn trái bồ nâu,

Ăn no bĩnh bầu chẳng biết mùi ngon.

269. Người đẹp như tiên,

Tắm nước Đồng-triều cũng xấu như ma.

Người xấu như ma,

Tắm nước Đồng-trà cũng đẹp như tiên.

270. Người đời phải xét thiệt hơn,

Đừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà sai.

271. Người khôn đón trước rào sau,

Để cho người dại biết đâu mà dò.

272. Người có lúc vinh, cũng có lúc nhục.

Nước có lúc đục, cũng có lúc trong.

273. Nhà giàu yêu kẻ thật thà,

Nhà quan yêu kẻ vào ra nịnh thần.

274. Nhất trong là nước giếng Hồi,

Nhất béo, nhất bùi là cá rô câu.

275. Nhẹ bằng lông quăng chẳng đi,

Nặng bằng chì quăng xa lăng lắc.

276. Ong kiến còn có vua tôi,

Huống chi loài người chẳng có nghĩa ru.

277. Ơn ai một chút chớ quên,

Oán ai một chút để bên này.

278. Ở sao cho vừa lòng người,

Ở rộng người cười, ở hẹp người chê.

279. Phong lưu là cạm trên đời,

Hồng nhan là bả những người tài hoa.

280. Phòng khi sấm sét bất kỳ,

Cá ao rây họa nữa thì làm sao.

281. Phượng hoàng đậu chốn cheo leo,

Sa cơ thất thế phải theo đàn gà.

282. Quân tử thời oán tam niên,

Tiểu nhân thời oán nhãn tiền mà thôi.

283. Quần hồ áo cánh làm chi,

Quần hồ áo cánh có khi tồi tàn.

284. Ra vời mới biết cạn sâu,

Ở trong lạch hói, biết đâu mà mà dò.

285. Ra đồng chiêm có liềm thì cắt,

Ra đồng mùa, có mắt thì trông.

286. Răng đen chẳng lọ là nhăn,

Người dòn chẳng lọ vấn khăn mới dòn.

287. Rộng đồng mặc sức chim bay.

Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua.

288. Rượu ngon bất luận be sành,

Áo rách khéo vá, hơn lành vụng may.

289. Rượu lạt uống lắm cũng say,

Người khôn nói lắm, dầu hay cũng nhàm.

290. Rừng có mạch, vách có tai,

Người trong chưa tỏ, người ngoài đã hay.

291. Sao ba (tua rua) đã đứng ngang đầu,

Em còn ở mãi làm giàu cho cha.

Giàu thời chia bảy chia ba,

Phận em là gái được là bao nhiêu.

292. Sáo đói thì sáo ăn đa,

Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng ăn.

293. Sông sâu còn có kẻ dò,

Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng.

294. Sông sâu nước đục lờ đờ,

Cắm sào mà đợi bao giờ cho trong.

295. Sông sâu có thể bắc cầu,

Lòng người nham hiểm biết đâu mà dò.

296. Tay tiên rót chén rượu đào,

Bỏ ra thì tiếc uống vào thì say.

297. Tằm vương tơ, nhện cũng vương tơ,

Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm.

298. Tằm sao, tằm chẳng ăn dâu,

Tằm đòi ăn ruộng, ăn trâu, ăn nhà.

299. Tậu voi chung với đức ông,

Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt phân.

300. Tiền của là chúa muôn đời,

Người ta là khách vãng lai một thì.

301. Tiền buôn tiền bán thì để trong nhà,

Tiền cờ tiền bạc thì ra ngoài đồng.

Tiền ở trong nhà tiền chửa,

Tiền ra khỏi cửa tiền đẻ.

302. Tin bợm mất bò,

Tin bạn mất vợ, nằm co một mình.

303. Tình thân bất luận khó, giàu,

Vải to khó nhuộm cau màu cũng xinh.

304. Tôi quyết lên non chọn đá thử vàng,

Thử cho đúng lượng, mấy ngàn cũng mua.

305. Từ rày buộc chỉ ngang lưng,

Hễ thấy người ấy thì đừng làm quen.

306. Tưởng rằng nước chảy đá mòn,

Ai ngờ nước chảy đá còn trơ trơ.

Chờ cho nước xuống phơi bờ,

Xem con người ấy nương nhờ vào đâu ?

307. Thà rằng biệt tịch chi đồ,

Càng trông thấy cảnh, thấy chùa càng thương.

308. Thà rằng ăn nửa quả hồng,

Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè.

309. Thắp đuốc tìm giàu, giàu chẳng thấy,

Cầm gươm chém khó, khó theo sau.

310. Thay quần, thay áo, thay hơi,

Thay dáng, thay dấp, nhưng người khôn thay.

311. Thằng Bờm có cái quạt mo,

Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu.

Bờm rằng, Bờm chẳng lấy trâu.

Phú ông xin đổi ao sâu cá mè,

Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mè,

Phú ông xin đổi một bè gỗ lim,

Bờm rằng, Bờm chẳng lấy lim,

Phú ông xin đổi con chim đồi mồi,

Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mồi,

Phú ông xin đổi hòn xôi, Bờm cười.

312. Theo ma mặc áo giấy,

Ở với ai bắt chước người ấy.

313. Thè lè lưỡi trai, chẳng ai thời nó,

Khum khum gọng vó, chẳng nó thời ai.

314. Thế gian lắm kẻ mơ màng,

Thấy hòn son thắm, ngỡ vàng chắt chiu.

315. Thế gian chẳng ít thì nhiều,

Dưng không ai dễ đặt điều cho ai.

316. Thế gian chuộng cửa chuộng công,

Nào ai có chuộng người không bao giờ.

317. Thế gian còn dại chửa khôn,

Sống mặc áo rách, chết chôn áo lành.

318. Thế gian giúp miệng lao xao,

Ai cho đồng nào mà đỡ khó khăn.

319. Thế gian được vợ hỏng chồng,

Có phải như rồng mà được cả đôi.

320. Thổi lửa phùng mang mau nhẽ cháy,

Đòi nợ hung bạo mới nhạy tiền.

321. Thứ nhất sợ kẻ anh hùng,

Thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân.

322. Thứ nhất vợ dại trong nhà,

Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa còn.

323. Thứ nhất thì gỗ vàng tâm,

Thứ hai gỗ nghiến, thứ năm bạch đàn.

324. Thừa tiền thì đem mà cho,

Đừng có xem bói thêm lo vào mình.

325. Trai chê vợ mất của tay không,

Gái chê chồng một đống trả thành bốn.

326. Trai ba mươi tuổi đang xoan,

Gái ba mươi tuổi đã toan về già.

327. Trai tân gái góa thì chơi,

Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng.

328. Trăm năm bia đá thì mòn,

Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ.

329. Trăm hoa đua nở mùa xuân,

Có sao cúc lại muộn tuần tiết thu ?

Vì hoa tham lấy sắc vàng,

Cho nên hoa phải muộn màng tiết thu.

330. Trăm thức hoa đua nở trên cành,

Thung dung tam bảo chúng sinh đôi đường.

Chớ hoa từ bi kia còn dãi nắng dầu sương.

Hoa lan, hoa huệ anh thương hoa nào ?

Anh còn thương hoa mận hoa đào,

Hoa cam, hoa quít biết vào tay ai ?

Hoa đào kia chửa thắm đã phai,

Thoang thoảng hoa lài nó lại thơm lâu.

Ai ơi chớ phụ hoa ngâu,

Hoa bí, hoa bầu cũng gọi là hoa.

Chơi hoa cho biết mùi hoa.

331. Trăm năm như cõi trời chung,

Trăm nghề cũng phải có công mới thành.

Cứ trong gia nghiệp nhà mình,

Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.

Chữ rằng : « Tiểu phú do cần ».

Còn như « đại phú » là phần « do thiên »,

Đừng trễ nãi, chớ ghét ghen,

Còn như lộc nước có phen dồi dào.

332. Trăng khuyết rồi lại trăng tròn,

Mụ già kén rể con còn góa lâu.

333. Trăng mờ còn tỏ hơn sao,

Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi.

334. Trâu năm sáu tuổi còn nhanh,

Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già,

Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,

Mùa đông tháng giá bò rò làm sao ?

335. Trẻ thì bé dại thơ ngây,

Già thì lẫn lộn biết ngày nào khôn.

336. Trong đời có bốn thứ ngu,

Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.

337. Trong đầm gì đẹp bằng sen,

Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,

Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

338. Trông mặt mà bắt hình dong,

Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

339. Trời nắng rồi lại trời mưa,

Chứng nào tật ấy có chừa được đâu.

340. Trời cao đất rộng thênh thênh,

Cái đường phú quý còn dành cho ta.

Có công mài sắt những là,

Khi nhờ lộc nước rồi ra dồi dào.

Công của nỡ có là bao,

Ra tay tháo vát thế nào cũng xong.

341. Trời còn khi nắng khi mưa,

Ngày còn khi sớm khi trưa nữa người.

342. Trời cao bể rộng bao la,

Việc gì mà chẳng phải là may ta.

Trong việc nhà, ngoài thì việc nước,

Giữ làm sao sau trước vẹn tuyền,

Lọ là cầu Phật, cầu Tiên.

343. Trời sinh đã ra làm người,

Hay ăn, hay nói, hay cười, hay chơi.

Khi ăn thời phải lựa mùi,

Khi nói thì phải lựa lời chớ sai.

Cả vui chớ có vội cười,

Nơi không lễ phép chớ chơi làm gì.

344. Trời nào có phụ ai đâu,

Hay làm thì giàu, có chí thì nên.

345. Trứng rồng lại nở ra rồng,

Liu điu lại nở ra dòng liu điu.

346. Trứng rồng lại nở ra rồng,

Hạt thông lại nở cây thông rườm rà.

347. Vay chín thì trả lên mười,

Phòng khi túng lỡ có người cho vay.

348. Văn hay chẳng luận đọc dài,

Vừa mở đầu bài đã biết văn hay.

349. Vất vả có lúc thanh nhàn,

Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

350. Vàng thì thử lửa thử than,

Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.

351. Vàng sa xuống giếng khôn chìm,

Người sa lời nói như chim sổ lồng.

352. Vợ đẹp càng tổ đau lòng,

Chè ngon tức bụng, điếu thông quyện đờm.

353. Vua Ngô băm sáu tàn vàng,

Chết xuống âm phủ chẳng mang được gì.

Chúa Chỗm uống rượu tì tì,

Chết xuống âm phủ kém gì vua Ngô.

354. Vua chúa còn có khi lầm,

Nửa là con trẻ mươi lăm tuổi đầu.

355. Vừa đi, vừa đợi, vừa chờ,

Nhanh chân thì kịp, lờ đờ thì thôi.

356. Vườn rộng chớ trồng tre ngà,

Nhà rộng chớ chứa người ta ở cùng.

357. Xấu thì bác mẹ sinh ra,

Xấu an phận xấu, xấu hòa đổi ai.

358. Yêu cây mới nhớ đến hoa,

Yêu dì thằng đỏ, mua quà nó ăn.

Kiến leo cột sắt bao mòn,

Tò vò xây tổ bao tròn mà xây.

MỤC LỤC

NIỀM GIAO CẢM

PHẦN MỞ ĐẦU

A. QUA VÀI Ý NIỆM VỀ VĂN HỌC BÌNH DÂN

B. XÁC ĐỊNH MỘT CHIỀU HƯỚNG SƯU KHẢO

C. THỬ ĐẶT MỘT PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG VIỆC KHẢO SÁT THI CA BÌNH DÂN

I. PHƯƠNG PHÁP SƯU TẬP

II. PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH

III. PHƯƠNG PHÁP TRÍCH DẪN

IV. PHƯƠNG PHÁP SUY CỨU

a) VỀ CHIỀU HƯỚNG

b) VỀ PHƯƠNG PHÁP

PHẦN THỨ NHẤT : NHẬN ĐỊNH

A. NGUỒN GỐC THI CA BÌNH DÂN

B. QUÁ TRÌNH CẤU TẠO THI CA BÌNH DÂN

I. VỀ NỘI DUNG

II. VỀ HÌNH THỨC

PHẦN THỨ HAI : PHONG DAO

A. NGƯỜI BÌNH DÂN VỚI LẼ SỐNG BẢN THÂN

I. BẢN NĂNG TỰ TẠI

a) SỰ LUYẾN ÁI GIỮA GÁI TRAI

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO SỰ LUYẾN ÁI GIỮA GÁI TRAI

b) QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN

c) TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜI

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG

d) SỰ SI MÊ CÁC THÚ VUI

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO SỰ SI MÊ TRONG THÚ VUI

e) TÍNH CHẤT CẦN CÙ, NHẪN NẠI, CHẤT PHÁC

I. QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ

2. QUAN ĐIỂM KINH TẾ

3. QUAN ĐIỂM XÃ HỘI

4. QUAN ĐIỂM VĂN HÓA

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÍNH CHẤT CẦN CÙ, KIÊN NHẪN, CHẤT PHÁC

g) TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI VẬT

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI VẬT

II. LIÊN HỆ GIỮA ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN

a) Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP, CÁI XẤU

I. DUNG NHAN

2. PHỤC SỨC

3. CÁI ĐẸP TINH THẦN

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP, CÁI XẤU

b) Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜI GIỮA TÌNH CẢM VÀ THỰC TẾ

I. QUAN NIỆM SINH LÝ

2. QUAN NIỆM TÂM LÝ

3. QUAN NIỆM ĐẠO LÝ

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC

c) BIẾN THÁI CỦA TÌNH YÊU

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO BIẾN THÁI CỦA TÌNH YÊU

III. PHẢN ỨNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI LẼ SỐNG

a) MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG

I. CHÊNH LỆCH VÀ BẤT CÔNG

2. RÀNG BUỘC VÀ MÂU THUẪN

3. BIẾN ĐỘNG VÀ HỖN LOẠN

4. TÁC THÀNH VÀ HỦY DIỆT

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG

b) MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

I. ÍCH KỶ

2. GIẢ DỐI

3. ĐỘC ÁC

4. THAM LAM

5. DUA NỊNH

6. PHẢN PHÚC

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI

c) Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG

I. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI BIẾN DỊCH

2. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHÊNH LỆCH

3. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHỊU ẢNH HƯỞNG

PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG.

Sài Gòn, 1/7/1969

Nguyễn Tấn Long - Phan Canh

Theo http://vnthuquan.net/ 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  Xuân bay trên động hoa vàng Trường ca Động hoa vàng được Phạm Thiên Thư sáng tạo năm 1971, trong thời gian tác giả tạm lánh bụi trần, vô...