Thi ca bình dân Việt Nam 5
Trạng thái phản ứng là gì?
Nó là sự khắc khoải, ưu tư, hằn học,
bất mãn của tâm hồn chúng ta trước lẽ sống xã hội loài người.
Thế hệ chúng ta ngày nay cũng như
những thế hệ tự nghìn xưa, cuộc sống loài người chẳng bao giờ đem đến cho chúng
ta những thỏa mãn. Vì vậy trải qua dòng lịch sử của loài người, chẳng lúc nào
tâm hồn con người không có những trạng thái phản ứng.
Trạng thái phản ứng lại không giống
nhau, tùy thuộc vào tính chất mâu thuẫn của từng thế hệ. Nếu tự ngàn xưa chúng
ta đã nghe tiếng rên than của lớp người chân lấm tay bùn sống trong đầu non hóc
núi, tiếng hằn học nơi cửa các lầu son của những bậc phong lưu vì công danh chẳng
đạt được, giọng sầu bi của những nhà thơ vì chán đời xem cuộc sống như một vũng
bùn lầy… thì đó là những trạng thái phản ứng của con người trước lẽ sống. Họ phản
ứng vì cuộc sống không đem lại những ước mơ của lòng họ. Họ phản ứng vì họ thấy
cuộc sống đã đem đến cho họ những mất mát.
Chúng ta có thể tìm thấy trong đó
hai trạng thái : tích cực và tiêu cực. Trạng thái tiêu cực là trạng thái ép
mình chịu đựng những tiếng rên than, khắc khoải, ưu tư. Trạng thái tích cực là
trạng thái phá phách chống đối, gây xáo trộn trong bánh xe lịch sử của xã hội
loài người.
Thế hệ chúng ta, thế kỷ hai mươi,
trước mắt, chúng ta đã chứng kiến một tiềm năng phản ứng, khủng khiếp của con
người đối với cuộc sống. Tiềm năng phản ứng ấy là kết tinh của một khúc quanh lịch
sử mà bên trong chứa đầy bất công mâu thuẫn trong guồng máy xã hội.
Chúng tôi xin trích những đoạn
văn đối thoại giữa hai lớp trẻ và già đã sống và đang sống trên mảnh đất Việt-nam
để chứng minh điều đó. Hai đoạn văn này cũng là hai trạng thái tâm tư đúc kết
thành tiềm năng phản ứng trước cuộc sống đương thời.
« …Cũng như những người trong lớp
tuổi các anh, các anh trách chúng tôi, lứa tuổi đôi mươi, là những thiêu thân của
xã hội…
Các anh, nói chung đã không tiếc
lời nhục mạ với đủ danh từ : cao bồi, du thủ du thực, đàng điếm, mất dại, không
lý tưởng, non nớt, không tương lai, v.v…
Phải, chúng tôi là những người
đó, và chúng tôi bằng lòng chấp nhận với nụ cười, không bào chữa.
Không hãnh diện sao được khi
chúng tôi biết sống cho chúng tôi, sống với thế hệ trẻ trung, để toàn nhựa sống
vào lẽ sống ?
Ô ! Các anh tự hào là lớp người lớn
tuổi, mang một mớ kinh nghiệm, hiểu đời, khôn ngoan, nhìn chúng tôi như những
ung nhọt.
Được, các anh cứ nhìn chúng tôi với
đôi mắt khinh bỉ đi. Chúng tôi không cần các anh chị nói đến chúng tôi, không cần
những cái mà các anh gọi là « kinh nghiệm, khôn ngoan, hiểu đời… » Những cái đó
không quan hệ gì cho lẽ sống chúng tôi cả.
Các anh đừng bắt chúng tôi phải sống
cho các anh. Chúng tôi là tuổi trẻ, là tự do, là hồn nhiên, chúng tôi có quyền
sống cho chúng tôi, sống cho tất cả nghĩa sống của nó.
Các anh bảo chúng tôi phải học
theo khuôn sáo khôn ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời của các anh ư ? Để làm gì ? Nếu
không phải cúi đầu, ép mình làm nô lệ, đúc kết thành cái vỏ đạo đức bề ngoài,
mà bên trong chứa đầy thối tha mục nát…
Chúng tôi xin nhắc lại : « Tuổi
trẻ chúng tôi không cần những cái đó ». Các anh cứ để cho chúng tôi được sống.
Trả lại hồn nhiên cho chúng tôi ! Các anh là những người đã chết. Thế giới các
anh là thế giới nghĩa địa. Chúng tôi không buộc người chết phải sống lại, thì
các anh cũng đừng buộc người sống phải chết theo mình.
Các anh « đã chết » vì các anh
không còn « sức sống ». Chỉ có chúng tôi là kẻ đang sống. Và chỉ có người sống
mới hòa vào xã hội những nguồn sinh lực mới lạ, vui tươi, dồi dào, mãnh liệt.
Còn nói đến lý tưởng… thì lý tưởng
gì ? Có phải cúi mình khép nép để bảo vệ lấy thân hình thấp thỏi, nhỏ bé, để chịu
nô lệ cho chén cơm manh áo nhục nhã.
Chúng tôi không cần lý tưởng.
Không cần đặt một ảo vọng giả dối để lừa gạt mình. Chúng tôi sống cô đơn thật,
nhưng lẽ sống chúng tôi hồn nhiên, trọn vẹn… Con người hồn nhiên không cần lý
tưởng.
Mái nhà Việt-nam đang sụp đổ, đất
nước Việt-nam đang ngửa nghiêng, mang đầy thương tích. Nơi rừng hoang, núi thẳm,
và khắp nơi, máu của tuổi hai mươi đang chảy. Các bạn chúng tôi đang thay nhau
ngã gục. Những mái đầu xanh biến thành những nấm mồ trên khắp bãi tha ma.
Hỡi người Mẹ Việt-nam thiêng
liêng ! Mẹ khóc đi ! Máu chúng con đang hòa trong lòng Mẹ ! Xương thịt chúng
con đang đắp vào những vết tích thương đau của Mẹ do lớp người trước, lớp người
hiện tại gây nên !
Các anh ! Các anh tự hào khôn
ngoan, kinh nghiệm, hiểu đời, lý tưởng, các anh đã làm được gì trong dĩ vãng và
hiện tại ?
Dĩ vãng, các anh gây đau thương
người Mẹ, để lại cho tuổi trẻ chúng tôi một điêu tàn ! Hiện tại, các anh thu
mình vào nghĩa địa ma quái, trố mắt nhìn chúng tôi như những sinh vật thối tha,
lạc lõng, nếu chúng tôi không xây đắp thêm ngôi nghĩa địa ma quái của các anh.
Lễ giáo, phong tục, đạo đức là gì
mà các anh bắt chúng tôi phải theo ? Phải chăng những thứ ấy là một cỗ áo quan
dùng để liệm người chết ?
Chúng tôi đang sống ! Các anh đừng
đem liệm chúng tôi ! Các anh đã nằm vào đó, và chúng tôi đưa các anh đến nghĩa
địa rồi.
Chúng tôi không muốn nhìn ngôi
nghĩa địa của các anh, cũng như các anh khinh bỉ không nhìn đến chúng tôi đang
chập chững trong mưa gió. Chúng tôi phải sống và giành quyền sống. Ngôi nhà đổ
nát phải được dựng lại. Đồng cỏ xanh, bóng mát dịu, bướm đẹp hoa tươi phải có
trong lòng đất Mẹ.
Chúng tôi phải đòi hỏi, phải xây
dựng, phải tự mình đứng ra gánh vác với đôi vai mềm yếu, cô đơn, không mong ở
các anh !
Các anh là những người chết ! Phải,
chúng tôi đã lầm lạc, dại khờ hy vọng người chết xây đắp thế giới người sống !
Chúng tôi không đòi hỏi ở các anh một nghĩa vụ, thì các anh cũng đừng bắt chúng
tôi phải chịu một trách nhiệm nào.
Chúng tôi sống cho chúng tôi !
Ngoài kia khắp nơi máu của tuổi
chúng tôi đang đổ, đỏ ngòm và xối xả ! Tôi lại ngồi đây nói chuyện với người chết
sao ? »
Trên đây là lời trách móc, hằn học,
phản đối của lớp người trẻ, trong lứa tuổi hai mươi, và cũng là trạng thái phản
ứng của họ khi họ đặt tâm tư trước cuộc sống. Họ oán trách lớp người đàn anh của
họ, trong lứa tuổi bốn mươi, đã đem đến cho họ một cuộc sống điêu tàn, một xã hội
đổ nát, một thảm trạng ê chề, trái ngược với ý muốn của họ.
Và dưới đây là lời đối thoại của
lớp người đàn anh của họ, những người của lứa tuổi bốn mươi. Chính họ cũng là nạn
nhân của lẽ sống, và lẽ sống cũng là yếu tố đưa tâm tư họ đến trạng thái khắc
khoải, đau buồn :
« …Phải, chúng tôi là những người
đã chết trong các em ! Tuổi các em lẽ ra phải yên hưởng hạnh phúc trên lòng đất
Mẹ. Bàn tay chúng tôi, những người anh, lẽ ra phải tạo những dòng suối ngọt, những
bóng mát dặm dài, những vườn hoa tươi, những con bướm thắm để các em hòa mình,
nhởn nhơ trong nắng ấm, thì trái lại, các em phải đón những khổ đau, bi đát,
hãi hùng ! Máu các em chưa phai mùi sữa đã phải đổ xuống ! Tuổi hồn nhiên các
em đã rơi rớt từ thuở ngây thơ !
Các em hằn học, trách móc, gào
thét, và tâm hồn các em « nổi loạn » ! Các em không muốn nói chuyện với chúng
tôi, không cần tiếp xúc với những người anh của các em nữa !
Nhưng, các em ạ ! Hãy bình tĩnh !
Ngồi lại gần đây ! Tôi đã cảm thông sự giận dữ của các em rồi ! Tôi không buộc
các em nghe những giáo điều, không dụ dỗ các em chui vào cỗ áo quan đâu.
Các em ạ ! Tôi rất sung sướng khi
nhận thấy lòng các em còn thương Mẹ, còn nhận ra chúng tôi là anh, mặc dù các
em không muốn nói chuyện với chúng tôi.
Các em không ngang ngạnh, bướng bỉnh,
không hư hèn, hủ hóa. Các em với chúng tôi là dòng máu cùng một mẹ sinh ra, dù
các em có ngảnh mặt đi, chúng tôi vẫn nhận được thực trạng tâm hồn và chân tướng
của các em mà !
Nếu là hư hèn, thối hóa, các em
không bao giờ nghĩ đến vết đau người Mẹ. Mà nghĩ đến Mẹ, các em không bao giờ từ
bỏ chúng tôi, những người anh đã cùng ngậm chung một dòng sữa. Sở dĩ các em hủy
hoại bản thân các em, làm cho tâm hồn các em trác táng, cuồng
loạn, cũng chỉ để cho đã nư giận, cho vơi những hằn học đang nung đốt tâm can.
Thực chất các em không muốn thế !
Hình bóng các em chỉ là hình bóng giả tạo, các em cố gây ra những vết tích để
oán ghét chúng tôi, những lớp người lớn tuổi đã bất tài, thiếu trí.
Nhưng chúng tôi đã đau đớn lắm rồi
! Các em đừng trách phạt chúng tôi nữa. Đừng hủy hoại những gì là của Mẹ đã
sinh thành, ký thác vào tâm hồn, thể xác của các em, Mẹ đang cần sức sống của
các em để hàn gắn lại vết thương, trả lại những gì đã mất mát.
Hỡi các em ! Các em là những mầm
non đất nước. Trong người các em chứa đầy máu nóng. Sức sống rào rạt trong người
các em là một nguồn sinh lực Việt-nam.
Dòng máu đang chảy trong huyết quản
các em là dòng máu của Mẹ, của tiền nhân, của chúng tôi của các em của tương
lai dân tộc. Nó là một tài sản, một sinh lực quí báu ! Người ta muốn hủy hoại,
hoặc chiếm đoạt nó đi. Nhà tan cửa nát không quan ngại, chỉ ngại chúng ta bị
tiêu diệt sức sống. Còn sức sống là còn xây dựng.
Chúng ta có thể chịu đau đớn, khổ
cực đủ điều, nhưng không thể đánh mất nguồn sống của Việt-nam.
Chúng ta đã cằn cỗi, bao nhiêu
sinh lực đổ dồn về các em. Các em như người đang nắm giữ lấy mạch sống của dân
tộc, không nên lơ đãng để bị chiếm đoạt.
Chúng tôi rất đau đớn khi thấy
các em bị mất mát ; vì các em là của chúng tôi. Tài sản các em là tài sản của
chúng tôi. Nguồn sống của các em là nguồn sống Việt-nam. Chúng ta có nhiệm vụ bảo
vệ trước kẻ cướp đoạt.
Nhưng, cái gì đã làm các em mất
mát, cưỡng đoạt của các em ?
Nó là sự đồi trụy : Đáng lẽ
sinh lực các em phải được đâm chồi, nẩy hoa, kết trái để tô điểm cho giang sơn
gấm vóc, đem lại những dòng suối ngọt, những bóng mát rợp đường, những vườn hoa
thơm ngát, thì các em đã tự hủy hoại nó đi bằng cách lao mình vào các cuộc truy
hoan. Vì các em không thể sống trong cằn cỗi, trong cõi chết. Các em tự tìm cho
nguồn sinh lực một lối thoát, nhưng là một lối thoát hiểm nghèo !
Các em đã sống trong cõi chết rồi
! Thể chất các em sớm tàn tạ, tinh thần các em bạc nhược, đôi mắt trong của các
em không còn mơ màu suối, tóc xanh các em vàng úa ! Hình bóng ấy đâu phải hình
bóng các em, hình bóng đích thực của Mẹ sinh ra các em. Đó là dấu vết thương
tích do kẻ cướp đã hủy hoại thân xác các em để đoạt lấy nguồn sinh lực quí báu,
phá vỡ tiềm năng sinh lực của tổ quốc thân yêu.
Nó là xa hoa, phung phí : Loài
người cần có những phương tiện để sống, nhưng không phải để là nô lệ cho các
phương tiện ấy.
Không, các em đừng nghĩ rằng
chúng tôi đưa ra giáo điều buộc các em vào cái vỏ đạo đức muôn đời.
Chính cuộc sống hào nhoáng, giải
dối bên ngoài đã cướp đoạt tuổi hồn nhiên, trong trắng của các em, đưa các em
vào thế giới ma quái, độc ác, mà chính các em đã phải khổ đau, hờn trách. Nó là
liều thuốc độc, nhưng rất quyến rủ, làm cho tâm hồn các em không còn tự chủ nữa,
lý trí không còn là của các em mà trở thành sản phẩm nô lệ của vật chất. Các em
bị nó lôi vào vòng xâu xé, biến các em thành những tên lính của đoàn quân ma.
Là tên lính của đoàn quân ma tất
cả các em phải chiến đấu cho thế giới ma quái, hòa mình trong hỗn hoạn, ảo ảnh
và làm bất cứ điểu gì để chiến thắng. Và, sau những cơn vật lộn, các em chỉ thấy
toàn là chiến bại, vì thế giới xa hoa là thế giới ảo ảnh, các em không thể nào
bỏ túi những chiếc bóng đẹp không phải là vật thực.
Khi các em đã sa vào cõi ma quái ấy,
các em càng chạy xa càng thấy mất gốc, và cho đến ngày các em kiệt sức, không
còn biết mình là ai nữa, thì lúc đó các em đang sống trong cõi chết, mà lý trí
các em cứ tưởng như mình đang tranh thủ, tìm một cuộc sống tươi đẹp.
Phải ! Ý sống bao giờ cũng vương
đến chỗ tươi đẹp. Nhưng tươi đẹp mà chúng ta đi tìm không phải là cái tươi đẹp
giả dối bề ngoài. Nếu các em trông thấy cái đẹp hào nhoáng của đô thị phồn hoa
thì các em cũng không thể từ chối cái đẹp hồn nhiên, mộc mạc của ngôi nhà lá, của
dòng suối trong, của vườn cây sum trái, của đồng ruộng bao la. Các em thích ngửi
mùi rượu hoa tối tân thì các em cũng không thể không thoải mái khi hít thở luồng
gió mát trong lành, khoáng đãng, đượm mùi đất nước thân yêu. Các em say sưa trước
một bản nhạc tân kỳ thì các em cũng không thể không cảm động khi nghe tiếng hát
người mẹ ru con bên chiếc nôi nhỏ, những tiếng chim lảnh lót nơi khung trời quê
! Thế thì những cái tươi đẹp cần cho cuộc sống loài người đâu phải tuyệt đối.
Các em vẫn sống xa mùi phung phí mà vẫn đủ phương tiện để sống, không phải
giành giựt của ai, hay bị ai giành giựt.
Nói như thế không có nghĩa là kéo
lui các em trở về thế giới lạc hậu. Chúng ta không chủ trương như thế. Chúng ta
cần phải vươn lên, sáng tạo, kiến thiết, và hưởng thụ những gì chúng ta đã tạo
được. Chúng ta chỉ hưởng thụ những công trình do chúng ta làm nên, không ngửa
tay xin bố thí của kẻ khác. Chúng ta không làm những con thiêu thân trước ánh
đèn, làm nô lệ của thế giới xa hoa, làm những con diều hâu độc ác lượn quanh đống
xác chết đang nằm gục trên khu nghĩa địa của thế giới ma mị.
Nó là ý thức tiêu cực : Không
ai đem đến chúng ta một công trình, một sự nghiệp, một vinh dự, nếu không tự
tay chúng ta xây dựng. Là tuổi xanh, tất nhiên các em có rất nhiều hoài vọng đối
với non sông, tổ quốc. Nhưng ác nghiệt thay là guồng máy xã hội, cái mà con người
tạo ra để làm phương châm cho xã hội, thì chính nó trở lại khống chế con người.
Con người bắt buộc chui vào khuôn khổ ấy để rồi phải bất mãn, từ chối bản ngã
chân thật của mình. Guồng máy xã hội sẽ đập vào lưng những ai bước ra ngoài
vòng của nó. Thân phận con người đã bi thảm lại càng bi thảm hơn, đã không đủ sức
phá vỡ áp lực của guồng máy còn bị nó gây nên thương tích, điêu đứng và diệt
vong. Vậy muốn an thân, con người phải cúi đầu khuất phục mệnh lệnh của số phận.
Đứng trước những đe dọa tiêu diệt
nhân tính của guồng máy xã hôi, những vết tích thương đau đổ vỡ, và mọi thảm kịch
của cuộc sống, người trẻ tuổi hôm nay vừa bàng hoàng vừa phẫn nộ, vừa khủng khiếp
vừa xót xa.
Các em tự thấy mình quá yếu đuối.
Yếu đến nỗi không còn đủ sức vươn lên nữa. Và ý thức tiêu cực, cầu an, len lỏi
vào đầu óc các em.
Các em phải làm những gì các em
không thích, yêu chuộng những cái các em không ưa. Các em phải học đòi những giả
dối của cuộc đời mà hàng ngày đem đến cho các em niềm ngao ngán, buồn tẻ. Các
em đã kẹt vào guồng máy xã hội và ý chí đấu tranh, xây dựng, sáng tạo, tìm tòi,
phát triển trong thể chất trẻ trung của các em bị cằn cỗi dần, tiêu diệt
dần cho đến lúc kiệt sức. Nguồn sinh lực các em không còn bồi đắp được gì cho tổ
quốc, non sông nữa.
Ý thức tiêu cực, cầu an là kẻ thù
của tuổi trẻ. Nó đoạt mất năng lực hoạt động trong bản ngã chân thật của các
em.
Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa
là khuyến khích các em nên hỗn loạn, vì hỗn loạn sẽ bị thương tích, tiêu diệt.
Mà những thương tích, tiêu diệt là nguyên nhân của tiêu cực, cầu an. Các em cần
phải chiến đấu, xây đời, cải tạo xã hội, vươn mình lên thế giới tươi đẹp hơn.
Chiến đấu, cải tạo không có nghĩa là tự mình nổi loạn, đập phá, hủy hoại mà là
cải tạo từ cái nhỏ đến cái lớn, từ cá nhân đến đoàn thể, từ gia đình đến xã hội
với đức tính kiên trì, có đường lối, có tổ chức. Đó là việc làm khó khăn đối với
tuổi trẻ. Các em là lớp người nóng nảy, bồn chồn, liều lĩnh, có thể gặp nhiều lầm
lỗi, thất bại, nhưng nếu các em không để cho ý thức mình chìm vào lãnh vực cầu
an, tiêu cực thì rồi các em sẽ trở thành những con người giàu khả năng kinh
nghiệm trên đấu trường… »
Trên đây là tiếng kêu than của lớp
người đương thời, lớp người của thế hệ chúng ta. Họ đã kẹt vào bánh xe xã hội,
guồng máy độc ác của loài người. Họ đã sống và mang những vết tích trong tâm tư
họ, để dần dần đi đến hủy hoại, tiêu diệt trong lúc đó bánh xe xã hội vẫn lăn đều,
giam hãm con người vào định luật.
Tiếng kêu than của nạn nhân xã hội
không ngớt. Nó đã phát xuất tự ngàn xưa và kéo dài đến hiện tại, tương lại, và
mãi mãi.
Tiếng kêu than đó là gì ?
Là những mảnh tâm hồn tan vỡ, những
thể chất bị diệt vong trên đấu trường, những yếu đuối của con người trước guồng
máy xã hội. Nói chung, là mọi phản ứng của con người trước lẽ sống.
Trích hai đoạn văn đối thoại trên
đây để chứng minh trạng thái phản ứng của con người trong thế hệ chúng ta, gần
gũi với chúng ta, để lấy nó làm nền tảng đi tìm những phản ứng trong tâm tư của
người xưa đối với lẽ sống, chúng tôi tưởng rằng không phải vô ích.
Chúng tôi cũng thừa nhận rằng trạng
thái phản ứng của tâm tư đối với cuộc sống qua mỗi thời mỗi khác, không thể giống
nhau. Tuy nhiên, dù trạng thái có đổi khác, tính chất vẫn là một. Tính chất ấy
là sự mâu thuẫn giữa tâm tư và cuộc sống, sự mâu thuẫn giữa con người và con
người, để sau cùng đem những thực tiễn trong lẽ sống đúc kết thành một nhân
sinh quan, cải tiến xã hội.
Bây giờ chúng ta trở lại thế giới
bình dân thời xưa trên ba tính chất ấy.
a) MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC
SỐNG
Nếu chúng ta đã thấy tâm tư con
người trước lẽ sống là một sự mâu thuẫn kéo dài trong bất diệt, thì tự nghìn
xưa xã hội Việt-nam vẫn không tránh khỏi.
Cuộc sống bắt buộc con người phải
tổ chức xã hội, nhưng tổ chức xã hội cũng chỉ là cái khuôn thước giam hãm con
người, bắt con người phải uốn nắn theo, để rồi con người lại bất mãn với cái do
mình tạo ra.
Đó chính là một mâu thuẫn ! Mà có
lẽ mâu thuẫn là yếu tố căn bản của mọi vật sinh tồn trong vũ trụ. Xã hội loài
người dù tổ chức ra sao, sắp xếp thế nào cũng không thể chối bỏ đi được.
Bằng chứng là từ trước đến nay,
loài người đã bỏ không biết bao nhiêu công phu để đi tìm một định hướng cho lẽ
sống, nghĩa là đem mọi suy tư của khối óc bỏ vào việc nghiên cứu một tổ chức xã
hội làm thế nào cho công bằng, hợp lý, hoặc giúp cho loài người rời bỏ những ưu
tư, buồn phiền của họ khi đã bước vào cuộc đời. Tuy nhiên, cho đến nay, loài
người càng bồi đắp cho lẽ sống bao nhiêu thì lẽ sống càng đi đến chỗ lầm than bấy
nhiêu.
Nhà tu hành càng đem năng lực phụng
sự cho đạo đức thì đạo đức ngày càng bị sa lầy. Thử hỏi thế giới loài người đã
bao giờ đồi trụy như lúc này chưa ? Những gì gọi là lý tưởng, là chân thiện mỹ
đáng phụng thờ thì ngày nay thực tế chỉ còn là một thần tượng lu mờ trên chiếc
ngai cũ kỹ.
Nhà chính trị càng cố gắng thiết
lập những định chế xã hội, với hy vọng ổn định trật tự cho con người thì xã hội
loài người càng biến loạn thêm. Những cuộc chiến tranh đẫm máu, những cuộc cướp
đoạt lẽ sống, những mưu mô thâm hiểm luôn luôn diễn ra tạo thành những xáo trộn
trên thế giới loài người chẳng bao giờ dứt.
Nhà khoa học càng tận dụng lý
trí, nghiên cứu kỹ thuật, phát minh, sáng chế, chinh phục thiên nhiên, càng đưa
loài người đến gần nguy cơ diệt vong. Nghĩa là văn minh cơ giới phụng sự cho
loài người thì văn minh cơ giới cũng lại đe dọa cuộc sống loài người.
Nhà kinh tế học đem năng lực điều
hòa guồng máy sản xuất, biến năng lực con người thành áo, thành cơm, thành tất
cả mọi thứ cần dùng cho cuộc sống, nhưng loài người cũng không thoát khỏi cảnh
lầm than, cơ cực, và cảnh thiếu thốn vẫn là động cơ thúc đẩy con người đi vào
đường cướp giựt để tự tồn, tự diệt.
Nhà văn học góp nhặt những suy tư
làm nền tảng cho tinh thần nhân loại, nhưng càng góp nhặt, bồi đắp càng thấy khủng
hoảng, đổ vỡ, không thể dùng cho việc xây đắp một ngôi nhà lý tưởng của loài
người.
Vậy thì lẽ sống con người là gì ?
Và ở đâu ?
Thì đây, chính người bình dân thời
xưa đã cho chúng ta thấy nó là một trạng thái mâu thuẫn bất diệt do tính chất
căn bản của vạn hữu.
Quan niệm ấy hàm chứa trong các
câu ca dao như :
Buồn về một nỗi tháng giêng,
Con chim cái cú nằm nghiêng thở
dài.
Buồn về một nỗi tháng hai,
Đêm ngắn ngày dài thua thiệt người
ta.
Buồn về một nỗi tháng ba,
Mưa dầu, nắng lửa người ta lừ đừ.
Buồn về một nỗi tháng tư,
Con mắt lừ đừ, cơm chẳng muốn ăn.
Buồn về một nỗi tháng năm,
Chửa đặt mình nằm, gà gáy chim
kêu.
… … …
Một năm có mười hai tháng, nhưng
không tháng nào có thể làm cho lòng người thỏa mãn cả. Đối với thiên nhiên, tâm
trạng con người đã vậy, thì đối với tổ chức xã hội, tâm trạng con người làm sao
thỏa mãn được ? Sự mâu thuẫn chứa đựng trong tâm tư con người cũng như mọi hiện
hữu trong vũ trụ là chuyện tất yếu, mà bộ óc con người dù tinh vi đến đâu cũng
không thể nào biến cải quy luật ấy !
Hỡi những nhà trí thức ! Các người
đừng tưởng tâm tư người bình dân không cảm thông được với quy luật vũ trụ ! Họ
vẫn có những ưu tư như chúng ta đối với cuộc sống, và chính
những ưu tư của họ cũng đã đúc kết thành những nhận xét trong quan niệm nhân
sinh, mà ngày này có nhiều vấn đề chúng ta cứ tưởng chúng ta vừa tìm được trong
sự khám phá mới mẻ, nhưng ngược lại, người thời xưa cũng đã tìm thấy rồi.
Cho nên, nếu chúng ta ngày nay,
khi đem tâm tư nhận xét xã hội, cho xã hội là một trường giả dối, một trò dâu bể,
hoặc cho là bể khổ trầm luân, rồi hằn học, bất mãn, chán ngán, thì chính người
xưa cũng đã có những tâm trạng như chúng ta. Họ cũng than vãn trước cuộc sống,
và có lúc cũng như chúng ta, họ muốn nổi loạn phá phách.
Thí dụ, khi họ chán nản :
Khi vui thì muốn sống dai,
Khi buồn thì muốn thác mai cho rồi.
Và khi họ muốn vùng lên nổi loạn,
phá phách :
Ra tay cầm lửa đốt trời,
Chẳng may lửa cháy, lửa rơi xuống
đầu.
Hai trạng thái trên đây, chính là
sự hằn học, bất mãn của tâm tư con người đối với lẽ sống.
Lẽ sống đã gieo vào tâm tư họ những
cảm giác phản ứng ấy. Và nếu chúng ta đi sâu vào cảm giới họ thì chúng ta lại
còn tìm thấy quan điểm của họ đối với lẽ sống nữa. Cũng như chúng ta ngày nay,
khi bất mãn với lẽ sống, chúng ta đi tìm nguyên nhân của nó, thì người bình dân
thời xưa cũng vậy. Qua phản ứng của tâm tư họ, chúng ta có thể tìm thấy quan điểm
của họ đối với lẽ sống gồm bốn tính chất sau đây :
I. CHÊNH LỆCH VÀ BẤT CÔNG
Họ quan niệm lẽ sống con người
hàm chứa những bất công, chênh lệch, mà con người là nạn nhân của xã hội. Họ
bảo :
Sự đời lắm chuyện lăng nhăng,
Trăm năm để nỗi bất bằng cho ai…
!
Không có một người nào từ lúc bước
chân vào ngưỡng cửa đời mình đến lúc bị hủy diệt mà tâm hồn được thỏa mãn. Vậy,
theo họ, chênh lệch bất công là việc tất yếu của lẽ sống con người. Chẳng những
chỉ có tổ chức xã hội loài người đã mang đến cho tâm tư con người
những chênh lệch bất công, mà ngay cả vũ trụ, bộ máy đã sinh ra loài người,
cũng đem đến cho loài người những bất công nữa. Đây, họ đã rên than qua sự bất
bình đối với tạo vật :
Mưa xuân lác đác vườn đào,
Công anh đắp đất ngăn rào trồng
hoa.
Ai làm gió táp mưa sa,
Cho cây anh đổ, cho hoa anh tàn.
Hoặc : Ngồi buồn trách lẫn
ông xanh,
Khi vui muốn khóc, buồn tanh lại
cười.
Kiếp sau xin chớ làm người,
Làm cây thông đứng giữa trời mà
reo.
Vũ trụ không bao giờ chiều lòng
người ! Vũ trụ đã đem đến cho lòng người những hờn trách, vậy thì con người có
nên hờn trách xã hội loài người, hoặc nổi loạn để biến cải xã hội loài người
chăng ?
Đó chính là công việc của nhà tư
tưởng học từ xưa đến nay đã bàn cãi rất nhiều.
Các nhà tư tưởng học đã đem đến
cho nhân loại những ngọn đuốc soi đường, rọi vào những nẻo u minh của vũ trụ để
dắt nhân loại ra khỏi cái hố thẳm ấy.
Tuy nhiên, càng thăm dò vũ trụ,
càng cải biến xã hội, loài người vẫn chưa sao thoát khỏi ra ngoài guồng máy chi
phối của vũ trụ được.
Chúng ta than thở cho rằng xã hội
loài người mang đầy chênh lệch và bất công chăng ? Nếu không, tại sao chúng ta
lại hờn trách vũ trụ ?
Thực ra, tâm tư con người là cái
thước đo. Mọi chênh lệch bất công đều phản ứng về tâm tư con người. Tiếng rên
than của con người chính là biểu hiện của trạng thái ấy. Con người đã rên than
vũ trụ, tất nhiên vũ trụ đã có sự chênh lệch bất công đối với họ !
Nhưng tại sao vũ trụ lại chênh lệch
bất công với loài người ? Điều này, nếu chúng ta xét về năng lực tạo hóa thì
chúng ta có một quan điểm khác. Tạo hóa không phải chênh lệch, bất công riêng với
loài người mà chung cho cả vạn hữu. Vạn hữu cần có sự chênh lệch ấy để biến động
tạo thành không gian thời gian, tác thành quy luật thiên nhiên. Nếu không
có cái nắng dữ dội của mùa hạ làm gì có cái mưa dầm lạnh lẽo của mùa đông ? Nếu
không có những cảnh trời đêm tịch mịch, làm gì có cảnh vui nhộn lúc ban ngày. Vậy
thì cái chênh lệch của thiên nhiên chỉ là những quy luật cấu tạo những yếu tố
biến động vạn hữu. Nó phát xuất tự nhiên, do sức mâu thuẫn thăng bằng của vạn hữu.
Nếu đặt những biến động này ra
ngoài tư tưởng con người thì vũ trụ không có gì chênh lệch bất công cả, bởi vì
mọi chênh lệch ấy chỉ là hiện tượng để tiến đến chỗ dung hòa. Nếu chúng ta có
những ngày mưa lầy lội thì chúng ta lại có những ngày nắng ráo, khô khan. Nếu
chúng ta nhìn thấy những cơn dông tố hãi hùng, thì chúng ta cũng lại được chiêm
ngưỡng những cảnh bình minh của khung trời bao la, bát ngát. Nếu chúng ta mến
tiếc những cánh hoa tàn rơi rã, thì chúng ta cũng cảm khoái trước những mầm non
hơ hớ đang vươn lên. Vậy, cái chênh lệch của vũ trụ không phải là cái bất công.
Những gì chúng ta gọi là bất công
chẳng qua do tư tưởng con người mà có. Tâm tư chúng ta khi hòa hợp với cảnh giới,
ý thức cá nhân len lỏi vào, gợi cho lòng chúng ta những cảm giác đau buồn, thì
ngoại cảnh không làm chúng ta thỏa mãn những tham vọng riêng tư.
Vì vậy, cái bất công của vũ trụ đối
với con người chỉ là cảm giác cá nhân trong tâm tư con người mà thôi.
Những câu ca dao của người bình
dân thời xưa được chúng ta ghi nhận sau đây đều nằm trong tính chất ấy :
Anh tiếc thay hạt mưa trong rơi
xuống đống bùn,
Anh tiếc thay tờ giấy trắng
Để thằng bé cỏn còn con nó vẽ xằng
!
Tiếc thay cây quế giữa rừng,
Để cho thằng Mán thằng Mường nó
leo.
Ong làm mật mà không được ăn,
Yến làm tổ mà không được ở.
Những tâm tư ấy phát xuất từ bất
công của xã hội loài người liên tưởng đến tính chất bất công của vũ trụ. Thực
ra, sự chênh lệch của vũ trụ không phải là bất công, bởi vì mọi chênh lệch
ấy bao giờ cũng tìm đến chỗ dung hòa.
Nhưng đối với xã hội loài người
thì sao ? Con người phiền trách xã hội có phải vì tham vọng cá nhân như đã phiền
trách vũ trụ chăng ?
Xã hội loài người cũng là một cá
thể trong vũ trụ, và mọi cá thể đều biến động theo qui luật của thiên nhiên,
nghĩa là bên trong cũng hàm chứa mọi chênh lệch và mâu thuẫn để diễn biến. Tuy
nhiên, khác vơi sự cấu tạo của vũ trụ, nếu vũ trụ cấu tạo bằng một quy luật
chung cho muôn loài vạn vật, thì xã hội loài người lại cấu tạo riêng do ý thức
con người tạo thành. Bởi vậy xã hội loài người là sản phẩm của ý thức con người
nằm trong quy luật chung của vũ trụ. Khi đã cộng phần ý thức con người vào đấy,
tất nhiên không tránh khỏi những tham vọng cá nhân, biến tổ chức xã hội thành
công cụ bảo vệ quyền lợi cho một lớp người. Do đó mà xã hội loài người có những
bất công, đàn áp khác với mọi chênh lệch trong vũ trụ. Mọi chênh lệch của vũ trụ
luôn luôn hướng vào trạng thái dung hòa để giải quyết mâu thuẫn, thì mọi chênh
lệch của xã hội, vì ý thức tham vọng của con người, nên đi ngược lại qui luật của
vũ trụ, cản trở sức dung hòa mâu thuẫn, tạo cho xã hội cán cân chênh lệch mỗi
ngày một nghiêng thêm, do đó ý thức tranh chấp mỗi ngày một khốc liệt, tàn ác.
Tâm tư đau khổ của con người, của
lớp người bình dân chính là phản ứng của tính chất chênh lệch, bất công ấy. Đây
chúng ta nghe họ than thở :
Cha đời cái áo rách này,
Mất chúng, mất bạn vì mày, áo ơi
!
Còn gì đau khổ hơn, khi xã hội
loài người đem đạo lý ra bảo vệ nhân cách con người, bảo vệ đời sống con người,
nhưng rồi cũng do tổ chức xã hội ấy lại biến con người thành một hố sâu chia rẽ,
mà tình thương không còn là thần tượng của lẽ sống nữa.
Em thời trướng gấm quần là,
Chị thời tan tác như hoa giữa đường.
Em ngã thì chị phải nưng,
Đến khi chị ngã em bưng miệng cười
!
Chính những chênh lệch bất công
như vậy đã gieo vào tâm tư con người những đau khổ. Mà sự đau khổ của họ chính
là ý thức phản đối để tìm đến trạng thái dung hợp, thăng bằng theo quy luật
thiên nhiên trong vũ trụ.
Phần nhiều sự chênh lệch phát xuất
do trạng thái giàu nghèo. Bởi vậy trong ca dao Việt Nam phản ánh nhiều nhất về
tính chất ấy. Ví dụ :
Hèn mà làm bạn với sang,
Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.
Có của thì có mẹ nàng,
Có bạc có vàng thì có kẻ ưa.
Chị là con gái nhà giàu,
Ăn mặc tốt đẹp vào chầu tòa sen.
Em là con gái nhà hèn,
Ăn mặc rách rưới mon men ngoài
hè.
Vai mang túi bạc kè kè,
Nói quấy, nói quá, người nghe ầm ầm
!
Sự chênh lệch bao giờ cũng đưa đến
bất công bởi vì xã hội loài người mang tính chất ảnh hưởng rất nặng mà chúng ta
gọi là tính chất ràng buộc và mâu thuẫn.
2. RÀNG BUỘC VÀ MÂU THUẪN
Chúng ta đã thấy sự chênh lệch là
nền móng của bất công thì ràng buộc và mâu thuẫn chính lại là trạng thái phát
xuất do sự bất công ấy.
Tại sao trong cuộc sống loài người
lại có sự ràng buộc ? Bởi vì khi xã hội loài người đã chênh lệch thì ý thức tìm
đến cái sống là ý thức tranh đấu, vươn lên ! Kẻ hèn tìm đến chỗ sang, kẻ đói
tìm đến chỗ no, cái rách tìm đến cái lành… Mọi ràng buộc ấy ảnh hưởng vào tâm
tư con người, thúc đẩy họ phải tranh đấu, cướp đoạt để tự tồn. Cho nên, khi đã
bước vào dòng đời, tâm tư con người lúc nào cũng nơm nớp lo âu, mà chúng ta thấy
những tâm tư ấy phát xuất nhiều nhất trong lớp người bình dân, bởi vì họ là người
bị thiệt thòi nhất trong cán cân chênh lệch của xã hội, họ cần phải lo lắng để
tự bảo vệ lấy cuộc sống họ :
Một là đứng cửa trông ra,
Hai lo đi lấy chồng xa nước người.
Ba lo sợ chị em cười,
Bốn lo đi ngược về xuôi sao đành.
Năm lo lúc tử lúc sinh,
Sáu lo con gái một mình đường xa.
Bảy lo nhớ cửa nhớ nhà.
Tám lo còn chút mẹ già ai nuôi.
Chín lo em thiệt cả người,
Để em kiếm lối tìm nơi đi về.
Nếu bảo rằng trong đời sống chỉ
có lớp người bình dân mới nhiều lo lắng ưu tư thì cũng không đúng. Bất kỳ trong
giai cấp nào, mỗi người đều chịu một sự ưu tư, lo lắng trong hoàn cảnh sinh sống
của mình. Cái khác nhau ở chỗ tính chất của sự ưu tư, lo lắng ấy mà thôi. Sở dĩ
người đời cảm thấy nỗi lo lắng của lớp người bình dân đáng thương hại hơn là vì
cái lo lắng của họ trực tiếp với cái đói khổ, rách rưới, trong lúc cái lo lắng,
ưu tư của người trong giai cấp thượng lưu thường là những cái lo lắng, ưu tư vì
tham vọng cá nhân hơn là bản chất tự tồn.
Tuy nhiên, dù với tính chất nào,
mọi ưu tư, lo lắng của con người trong xã hội vẫn đưa đến một ảnh hưởng tất yếu
là tranh đoạt, mà kẻ ưu tư là kẻ bị thất thế, thiếu sức tranh đoạt ấy.
Đây, trong ca dao bình dân đã chứng
minh ý thức tranh đoạt của họ :
Xưa kia ngọc ở tay ta,
Bởi ta chểnh mảng, ngọc qua tay
người.
Và nếu họ có phải than phiền như
:
Đem thân vào chốn cát lầm,
Cho thân lấm láp như mầm ngó sen.
Đêm đêm ngồi tựa ánh đèn,
Thở than với bóng, giải phiền với
hoa.
Thì cũng chính vì họ đã mệt lừ
trong trạng thái tranh đoạt của lẽ sống.
Cho nên, chúng ta không lấy làm lạ
khi yếu tố tranh đoạt tự tồn lôi kéo con người như một ràng buộc, chằng chịt với
nhau không sao tháo gỡ ra nổi. Và cũng yếu tố tranh đoạt ấy đưa lẽ sống con người
vào trạng thái mâu thuẫn chống đối nhau.
3. BIẾN ĐỘNG VÀ HỖN LOẠN
Tuy nhiên guồng máy xã hội là sản
phẩm của khối óc con người. Nếu tâm tư con người luôn chống đối trạng thái
chênh lệch và bất công đã đưa đến trạng thái ràng buộc và mâu thuẫn trong xã hội,
thì khối óc con người luôn luôn tìm kiếm những mánh khóe thăng bằng giả tạo để
phỉnh phờ và duy trì sự bất công ấy. Nhưng bất công càng được duy trì thì sức
mâu thuẫn chất chứa càng nhiều và xã hội loài người tiến dần đến chỗ biến động
và hỗn loạn.
Trạng thái biến động trong xã hội
lại đi từ tiệm tiến đến bột phát.
Tiệm tiến là khi mâu thuẫn của lẽ
sống còn nằm trong tâm tư con người và phát lộ bằng những ưu tư, thắc mắc. Ví dụ
như :
Thế tình chuộng lạ tham thanh,
Bên khinh bên trọng ra hình xấu
chơi.
Hay : Khi vui thì vỗ tay
vào,
Đến khi hoạn nạn thì nào thấy ai.
Hoặc : Khó khăn thì chẳng ai
nhìn,
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh
em.
Những thắc mắc trong tâm tư con
người chính là ý thức biến động. Nó đi từ bất mãn cá nhân chất chứa vào lòng xã
hội để hun đúc trong xã hội một năng lực phản ứng bằng tính chất bột phát. Cho
nên, các nhà chính trị học lỗi lạc muốn nghiên cứu một thể chế xã hội ấy tồn tại
lâu hay mau, đều căn cứ vào trạng thái biến động của tâm tư người dân trong thể
chế ấy. Khi trạng thái biến động của tâm tư người dân đã dung nạp vào lòng xã hội
một dung lượng khả dĩ chống lại cơ cấu tổ chức chính trị thì xã hội bắt đầu chuyển
mình vào thời kỳ hỗn loạn.
Trở lại trạng thái biến động của
tâm tư người bình dân thời xưa, chúng ta thấy mọi thắc mắc của họ đối với cuộc
sống chỉ nhắm vào mục tiêu sang bằng mọi chênh lệch, bất công
trong nền chính trị và kinh tế phong kiến. Bởi vậy, chúng ta thấy họ đả kích những
trạng thái xu nịnh, ham giàu và ỷ thần cậy thế. Ví dụ :
Chớ thấy em bé nhà nghèo,
Đến khi nước lụt bèo trèo lên
trên.
Trời làm một trận lăng nhăng,
Ông hóa ra thằng, thằng hóa ra
ông.
Nhà giàu trồng lau ra mía,
Nhà nghèo trồng củ tía ra củ nâu.
Điều đặc biệt, người bình dân thời
xưa tuy ở vào thế hệ bán khai, nhưng tâm tư họ đã nhận thức được xã hội loài
người như mọi hiện tượng trong vũ trụ đều là những trạng thái biến động, luôn
luôn đổi dời, không phải đứng yên một chỗ.
Quan niệm ấy biểu lộ trong nhiều
câu ca dao như :
Ngồi đêm trông bóng trăng tàn,
Muốn đoan với Nguyệt mà than một
lời.
Nguyệt rằng vật đổi sao dời,
Thân này vẫn để cho người soi
chung.
Căn cứ vào trạng thái đổi dời của
vũ trụ, họ quan niệm con người và xã hội loài người cũng thế. Họ bảo :
Trời còn khi nắng khi mưa,
Ngày còn khi sớm, khi trưa nữa
người.
Hôm nay tụm bảy tụm mười,
Ngày mai tan tác mỗi người một
nơi.
Khi bé đùm bọc lấy nhau,
Đến khi cả lớn ai giàu nấy ăn.
Nhìn đời là một hiện tượng tạm bợ,
người bình dân đã dùng quan niệm ấy để an ủi cuộc sống khổ cực của mình. Họ cho
rằng những khổ cực trước mắt chẳng qua là chuyện tạm thời. Mọi vật sẽ đổi thay,
và sự thay đổi ấy sẽ đưa kiếp sống của họ đến chỗ huy hoàng. Bởi vậy, họ thường
an ủi cảnh khổ của họ bằng những ý niệm như :
Mấy ai giàu ba họ ?
Mấy ai khó ba đời ?
Và có khi họ lại bằng lòng với cảnh
ngộ rày đây mai đó của họ trong việc làm ăn khổ cực, như :
Chồng chài, vợ lưới, con câu,
Sông Ngô bể Sở biết đâu là nhà ?
Hoặc : Măng chua nấu với ngạnh
nguồn,
Sự đời đắp đổi khi buồn khi vui.
Ý thức cho đời là một trạng thái
đổi thay, chẳng những là nguồn an ủi đối với người bình dân trong cảnh sống
kham khổ mà còn đem cho họ một niềm tin để họ vững lòng tranh đấu, cải tiến xã
hội nữa.
4. TÁC THÀNH VÀ HỦY DIỆT
Những mâu thuẫn của tâm tư con
người đối với xã hội khi đã chất chứa một dung lượng khả dĩ làm nền tảng cho một
ý thức hệ, thì ý thức hệ ấy tự nó trở thành sức mạnh để phá vỡ những chênh lệch,
bất công do tổ chức xã hội đương thời gây nên. Đó là những bước tiến của xã hội
loài người. Lịch sử xã hội loài người đã chứng minh điều đó qua các cuộc phế
hưng, các cuộc cách mạng, mà cho đến ngày nay chúng ta nhìn lại đoạn đường đã
qua thì thấy hình bóng của cuộc sống loài người chỉ là một chuỗi thời gian của
tác thành và hủy diệt nối tiếp nhau chẳng bao giờ dứt.
*
Tóm lại, tâm tư con người và cuộc
sống là trạng thái chênh lệch, mâu thuẫn, biến động và sinh diệt. Tâm tư con
người là thể tích mà cuộc sống là dung tích. Thể tích luôn ảnh hưởng vào dung
tích, nhưng lại luôn tìm cách phá vỡ để tràn ra ngoài. Nói cách khác, guồng máy
xã hội loài người, tượng trưng cho cuộc sống, là sản phẩm của khối óc nằm trong
qui luật biến động chung của vạn hữu, còn tâm tư con người, tượng trưng cho
tình cảm, luôn luôn tìm cách phá vỡ những qui tắc chênh lệch, bất công của tham
vọng con người. Mọi biến động của tâm tư luôn tìm đến chỗ dung hợp, tranh đấu
cho mọi sống còn của muôn loài vạn vật, mà đó cũng là qui luật tất yếu của vạn
hữu.
Người bình dân thời xưa trong cuộc
sống hồn nhiên chất phác, tâm tư của họ đã phản ảnh trạng thái ấy. Họ bất mãn với
lẽ sống chỉ vì lẽ sống đã tạo ra những chênh lệch bất công. Họ cố tranh đấu để
tìm đến chỗ san bằng mâu thuẫn do tham vọng con người gây nên. San bằng mâu thuẫn
không phải là tiêu diệt mâu thuẫn, bởi vì họ đã thừa nhận qui luật mâu thuẫn là
qui luật tất yếu của vũ trụ ; san bằng mâu thuẫn đối với họ chỉ có nghĩa là đem
lại sự công bình do tham vọng cá nhân con người đã ra đi ngoài khuôn khổ của vũ
trụ, gây cho xã hội loài người một cảnh sống tang tóc, nghiệt ngã, khổ đau.
Đó cũng là nhân sinh quan của người
bình dân thời xưa, mà chúng ta có thể đúc kết trong câu ca dao :
Ở cho phải phải phân phân,
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG
1. Ai làm cho bướm lìa hoa,
Cho chim xanh nỡ bay qua vườn hồng.
Ai đi muôn dặm non sông,
Để ai chứa chất sầu đong vơi đầy.
2. Ai làm cho cải tôi ngồng,
Cho dưa tôi khú, cho chồng tôi
chê ?
- Chồng chê, thì mặc chồng chê,
Dưa khú nấu với cá trê ngọt lừ.
3. Ai chẳng muốn đẹp, muốn
giòn,
Muốn đi tháo dạ cho mòn lỗ trôn.
4. Ai về, em gởi bức tranh,
Tô con chim sáo đậu nhành lan
chi,
Ai làm nên bước phân ly,
Cám công mưa nắng, kẻ đi người về.
5. Ai xui ai khiến trong
lòng,
Mau chân nhạy miệng mắc vòng thế
gian.
6. Ai mà phụ nghĩa quên
công,
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng
thơm.
7. Ai cho sen muống một bồn,
Ai từng chanh khế sánh cùng lựu
lê.
8. Ai về đường ấy hôm nay,
Ngựa hồng ai cưỡi, dù tay ai cầm
?
- Ngựa hồng đã có tri âm,
Dù tay đã có người cầm thì thôi.
9. Anh tiếc thay hạt mưa
trong rơi xuống đống bùn,
Anh tiếc thay tờ giấy trắng để thằng
bé cỏn còn con nó vẽ xằng.
Sự đời lắm chuyện lăng nhăng,
Trăm năm để nỗi bất bằng cho ai.
10. Áo đen năm nút con rồng,
Ở xa con phụng lại gần con qui.
11. Ăn sung ngồi gốc cây
sung,
Ăn rồi lại ném tứ tung ngũ hoành.
12. Ăn sao cho được mà mời,
Thương sao cho được vợ người mà
thương.
13. Ba cô cùng ở một nhà,
Cùng đội nón thúng, cùng ra thăm
đồng.
Ba cô cùng chửa có chồng,
Để anh mua cốm, mua hồng sang
chơi.
Sang đến nơi, cô đã chồng rồi,
Để cốm anh nốc, để hồng long tai.
Ai làm cái quạt long nhài,
Cầu ô long dịp, cửa cài long
then.
14. Ba cô vác gậy chòi đào,
Có một quả chín biết vào tay ai ?
Trên cây có quả chín mồi,
Anh trông mỏi mắt, anh chòi mỏi
tay.
15. Bà già đeo bị hạt tiêu,
Sống bao nhiêu tuổi nhiều điều đắng
cay.
Đời người được mấy gang tay,
Ai hay ngủ ngày chỉ được nửa
gang.
16. Bao giờ cho đến tháng
ba,
Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng.
Dao nằm cho lợn cạo lông,
Ba bốn quả hồng nuốt bà tám mươi.
Chuối tiêu nuốt trẻ lên mười,
Ba bốn bình rượu nuốt người xôn
xao.
Cào cào bắt đuổi cá cô,
Cỏ lang, cỏ nát lại vồ bắt trâu.
Gà con đuổi bắt diều hâu,
Trứng gà tha quạ biết đâu mà tìm.
17. Bao giờ rồng đến nhà
tôm,
Bồng leo cây ngải, thì ôm rồng
vàng.
18. Bảy với ba anh tính ra một
chục,
Tam tứ lục anh tính lại cửu
chương.
Liệu bề đát được thì đươn,
Đừng gầy mà bỏ thế thường khó
coi.
19. Bảy mươi chống gậy ra
đi,
Than thân rằng thuở đương thì chẳng
chơi.
20. Bần cũng bất đắc dĩ,
Loài tỉ mới phải dịt lá vông.
21. Bầu dục đâu đến bàn năm,
Chè đâu đến chú, chú lăm ăn chè.
22. Bầu già thì ở trên cây,
Bầu non bứt xuống, làm dây kéo
thuyền.
23. Bậu chê qua ở rẫy ăn
còng,
Bậu về ở chợ ăn ròng mắm nêm.
24. Bây giờ mới ra thân hèn,
Khi xưa tôi cũng cầm đèn hai tay.
25. Biết đâu là tổ chuồn chuồn,
Biết đầu cú đậu, biết đâu lươn nằm.
26. Bố đĩ giàu, bố đĩ tiên,
Ông tổng không tiền, ông tổng tểnh.
27. Buổi chợ đông con cá hồng
em chê lạt,
Buổi chợ tan rồi con tép bạc em
khen ngon.
28. Buổi xuân xanh thiếp chẳng
gặp chàng,
Bây giờ năm con bảy cái ra đàng gặp
nhau.
29. Buồn chẳng muốn nói,
Gọi chẳng muốn trông.
Tưởng sự lấy chồng, tỉnh như con
sáo.
30. Buồn ngủ buồn nghê,
Bán bò tậu ruộng, mua dê về cày.
Đồn răng dê đực khỏe thay,
Bắt ách lên cày, nó lại phá
ngang.
31. Buồn tênh cháu rể khóc
đưa bà,
Một tiếng khóc là ba tiếng à.
32. Bướm già thì bướm có
râu,
Thấy bông hoa nở cúi đầu bướm
châm.
Bướm châm mà bướm lại nhầm,
Có bông hoa nở, ong châm mất rồi.
33. Cá nục nấu với dưa hồng,
Lờ đờ có kẻ mất chồng như chơi.
34. Cá bống đi tu,
Cá thu nó khóc,
Cá lóc nó rầu,
Phải chi ngoài biển có cầu,
Anh ra đến đó giải đoạn sầu cho
em.
35. Cách sông nên phải lụy
đò,
Tối trời nên phải lụy o bán dầu.
36. Cách bức chẳng được nói
luôn,
Những người bên ấy có buồn cùng
chăng ?
37. Cái cò, cái vạc, cái
nông,
Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng
ca.
Muối kia đổ ruột con gà,
Mẹ mình chẳng xót bằng ta xót
mình.
38. Cái cò, cái vạc, cái
nông
Ba cái cùng béo, vặt long cái nào
?
Vặt lông cái vạc cho tao,
Hành răm nước mắm bỏ vào mà
thuôn.
39. Cả giận mất khôn,
Bây giờ cắn rốn lại còn được ru.
40. Cái cò là cái cò kỳ,
Ăn cơm nhà dì, uống nước nhà cô,
Đêm nằm thì ngáy o o,
Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà.
Hàng bánh, hàng bún bày ra,
Con mắt sắc sảo đi qua món hàng.
Bánh đúc có lắm bánh dàng.
Củ từ khoai nước lẫn hàng cháo
kê.
Ăn rồi cắp đít ra về,
Thấy hàng chả chó, lại lê trôn
vào.
Chả nầy bà bán làm sao ?
Ba đồng một gắp lẽ nào chẳng mua.
Nói dối rằng mua cho chồng,
Đi đến quãng đồng, ngả nón ra ăn.
Về nhà đau quẳn đau quăn dạ này,
Đem tiền đi bói ông thầy,
Bói ra quẻ nầy những chả cùng
nem.
Ông thầy nói dối đã quen,
Nào tôi ăn chả, ăn nem bao giờ.
41. Canh xuông khéo nấu thì
ngon,
Mẹ già khéo tán thì con đắt chồng.
42. Căn nợ đâu xe thấu tới
bên Tàu,
Hay là mình thấy chệc giàu mình
mê.
43. Cậu lậu cây bàng,
Bao giờ cậu chết cả làng đi
khiêng.
44. Cậu lậu bình vôi,
Bao giờ cậu chết cho tôi ăn phần.
45. Cây cao, quả chín đồi mồi,
Anh trông mỏi mắt, anh chòi mỏi
tay.
46. Cây bần ơi hỡi cây bần,
Lá xanh bông thắm lại gần không
thơm.
47. Cây cao bóng mát không
ngồi,
Ra ngồi chỗ nắng trách trời không
râm.
48. Có tiền mua tiên cũng được,
Không tiền mua lược cũng không,
49. Có đỏ mà chẳng có thơm,
Như hoa dâm bụt nên cơm cháo gì.
50. Có cô thì chợ cũng đông,
Cô đi lấy chồng thì chợ cũng qua.
Có cô thì dượng cũng già,
Vắng cô thì dượng cũng qua một
thì.
51. Có của thì vạn người hầu,
Có bấc có dầu thì vạn người khêu.
52. Có của thì khôn như mại,
Không của thì dại như lú.
53. Có ai nước cũng đứng bờ,
Không ai nước cũng đứng cơ mực
này.
54. Có răng thì lấy răng
nhai,
Không răng lợi gặm chẳng sai miếng
nào,
Có cô thì chợ cũng đông,
Cô đi lấy chồng thì chợ cũng qua.
Có cô thì dượng cũng già,
Không cô thì dượng cũng qua một
thì.
55. Có tiền vợ vợ chồng chồng,
Hết tiền chồng đông vợ đoài.
56. Có trầu mà chẳng có cau,
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm.
57. Con rắn không chưn chạy
năm rừng bảy rú.
Con gà không vú nuôi chín mười
con,
Phải chi nhan sắc em còn,
Anh lăn vô đó chịu lòn cũng ưng.
58. Con cò đậu cọc bờ ao,
Ăn sung, sung chát, ăn đào, đào
chua.
Ngày ngày ra đứng cổng chùa,
rông lên Hà-nội xem xem vua đúc
tiền,
Ruộng tư điền không ai cày cấy,
Liệu cô mình đứng vậy được chăng
?
Mười hai cửa bể anh đã cắm đăng,
Cửa nào lắm cá thì quăng chài
vào.
59. Con gái là con người ta,
Con dâu mới thật mẹ cha mua về.
60. Con cóc nằm ép bờ ao,
Lăm le lại muốn đớp sao trên trời.
61. Con cò chết rũ trên cây,
Cò con giở sách xem ngày ra ma.
Cà cuống uống rượu la đà,
Chim di ríu rít bò ra lấy phần.
62. Con mèo đập bể nồi rang,
Con chó chạy lại phải mang lấy
đòn.
63. Con quạ đen lông kêu bằng
con ô thước,
Thấy em có chồng vô phước anh
thương.
64. Con dòng thì bỏ xuống đất,
Con vất thì đem lên sàng.
65. Con ơi ! chớ khóc mẹ rầu,
Bữa mai, bữa mốt ghe bầu tới nơi.
66. Con quạ nó đứng bờ sông,
Nó kêu bớ má lấy chồng bỏ con.
Con quạ nó đứng đầu non,
Nó kêu bớ má thương con trở về.
67. Con gà béo bán bên Ngô,
Con gà khô bán láng giềng.
68. Con quan đô đốc đô đài,
Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy
mui.
69. Con lành con ở cùng bà,
Vang mình sốt mẩy con ra ngoài đường.
70. Cố công sống mấy nghìn
năm,
Thử xem thửa ruộng mấy trăm người
cày.
71. Cố đấm ăn xôi,
Đấm thì vô hồi, xôi chẳng được
ăn.
72. Công anh đánh đất trồng
chanh,
Ăn quả chẳng được vin cành cho
cam.
73. Cơm sôi cả lửa thì khê,
Việc làm hay hỏng là lề thế gian.
74. Của mình thì giữ bo bo,
Của người thì để cho bò liếm đi.
75. Cũng thì con mẹ con cha,
Cành cao vun tới, cành la bỏ liều.
76. Cũng thì làm lẽ,
Người ăn bát mẻ, nằm chiếu manh,
Người ăn bát Đại-thanh, nằm chiếu
miến.
77. Cực lòng nên phải biến dời,
Biến dời lại gặp phải nơi cực
lòng.
78. Chàng xa, thiếp cách, tội
đách gì rầu,
Thác như Lữ-Vọng té xuống cầu non
Tiên.
Ngửa tay em trao cho một đồng tiền,
Phận sao, chịu vậy đừng phiền mà
hư.
79. Chẳng xinh cũng thể đôi
ta,
Chẳng thơm cũng thể là hoa ngâu
Tàu.
80. Chẳng vui cũng thể Hội
Thầy,
Chẳng trong cũng thể Hồ Tây xứ
Đoài.
Rửa chân đi hán, đi hài,
Rửa chân đi đất, chớ hoài rửa
chân.
81. Chẳng đi thì dạ chẳng
đành,
Đi ra mang tiếng dỗ dành nhau đi.
82. Chẳng tham vựa lúa anh đầy,
Tham năm ba chữ cho tày thế gian.
83. Chẳng thơm cũng thể hoa
nhài,
Chẳng thanh lịch cũng thể là người
Trường-an.
84. Chẳng chua cũng thể là
chanh,
Chẳng ngọt cũng thể cam sành chín
cây.
85. Chẳng thơm cũng thể
hương tàn,
Chẳng ngọt cũng thể nước sông Hàn
chảy ra.
Chẳng thơm cũng thể hoa nhài,
Chẳng lịch cũng thể con người thượng
kinh.
86. Chê tôm lại phải ăn tôm,
Chê rau muống héo lại ôm dưa già.
87. Chỉ đâu mà buộc ngang trời,
Tay đâu mà đậy miệng người thế
gian.
Giàu sang nhiều kẻ tới nhà,
Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau.
88. Chim ham trái chín ăn
xa,
Buồn tình nhớ lại gốc da muốn về.
89. Chim quyên dại lắm không
khôn,
Nhành mai không đậu, đậu cồn cỏ
may.
90. Chim quyên xuống đất ăn
trùng,
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt
than.
91. Chồng yêu cái tóc nên
dài,
Cái duyên nên đẹp, cái tài nên
khôn.
92. Chớ chê em xấu, em đen,
Em như nước đục, đánh phèn lại
trong.
93. Chớ quen bán chó, mua
dê,
Vui cùng hạc nội ham chi gà lồng.
Sá chi chiều ấy như không,
Xác ve luống chịu tiếng trong cõi
đời.
94. Chơi cho thủng trống,
long bồng,
Rồi ra ta sẽ lấy chồng lập
nghiêm.
Chơi cho thủng trống, long
chiêng,
Rồi ra ta sẽ lập nghiêm lấy chồng.
95. Chuối cậy mình là chuối
đồng trinh,
Chuối ở một mình sao chuối có con
?
96. Chửa được thì hứng bằng
rá,
Đá được thì đá bằng chân.
97. Dù anh buôn đâu bán đâu,
Cũng không tránh khỏi tuần Châu,
Vân Sàng.
98. Dù ai sang cả mặc ai,
Thân này nước chảy hoa trôi sá
gì.
99. Duyên sao cắc cớ lỡ
làng,
Cầm gương gương tối, cầm vàng
vàng phai.
100. Đã từng xem quẻ bói
rùa,
Còn toan bói hạc xem cho mới
đành.
101. Đã gian lại ngoan,
Đã đi làm đĩ lại toan cáo làng.
102. Đãi bôi kia hỡi đãi
bôi,
Có một đấu tấm đãi mười khúc
sông.
103. Đàn ông nông nổi giếng
khơi,
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
104. Đấng trượng phu đừng
thù mới đáng,
Đấng anh hùng đừng oán mới hay.
105. Đau bụng thì uống nước
sông,
Đau mắt lấy nhựa xương rồng mà
bôi.
106. Đất Bục mà ném chim trời,
Chim thời bay mất, đất rơi xuống
đầu.
107. Đẻ chết mà nết không chừa,
Đến mai đi chợ, chồ dừa lại ăn.
108. Đẻ con không, mát l… tời
rợi,
Đã con dại, thảm hại cái l…
109. Đeo bầu mang tiếng thị
phi,
Bầu không có rượu lấy gì mà say.
110. Đêm qua ngỏ cửa chờ chồng,
Đêm nay ngỏ cửa gió đông lọt vào.
111. Đêm qua rủ rỉ rù rì,
Tiếng nặng bằng bấc, tiếng chì bằng
bông.
Chì khoe chì nặng hơn đồng,
Sao chì chẳng đúc nên cồng, nên
chuông ?
112. Đêm khuya dưới đất trên
trời,
Một mình cô đứng, cô ngồi, cô
nghe.
Cô nghe hết giọng con ve,
Đến lời con quốc đợi hè, tiếc
xuân.
113. Đêm đêm vuốt bụng thở
dài,
Thở ngắn bằng trạch, thở dài bằng
lươn.
114. Đi sau, ăn nhau bà đẻ,
Ăn giẻ chùi trôn, ăn l… chấm muối.
115. Đi ỉa không biết đường
lại,
Đi đái không biết đường về.
116. Đi đâu mà chẳng ăn re,
Đến khi hết của, thì rè chẳng ra.
117. Đi đâu mà vội mà vàng,
Mà bỏ túi bạc, mà mang túi chì.
118. Đi đã ba bảy chín chu,
Trở về đến ngõ, chuột chù gặm
chân.
119. Đói thì nặng mặt sa
mày,
No thời tức bụng trời hay chăng
trời.
120. Đói lòng ăn trái khổ
qua,
Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.
121. Đố ai tát bể Đông-khê,
Tát sông Bồ-đề nhổ mạ cấy chiêm ?
122. Đố ai biết lúa mấy cây,
Biết sông mấy khúc, biết mây mấy
từng.
Đố ai quét sạch lá rừng,
Để ta khuyên gió, gió đừng rung
cây.
123. Đôi ta như bộ chén
chung,
Giấu kín như mùng còn lậu tiếng
ra.
124. Đồn rằng ngoài tỉnh
Hưng-yên,
Có cô con gái trái nhân duyên cô
lỡ chồng.
Trống cơm ai khéo vỗ nên vông,
Một đàn con vịt lặn sông đi tìm.
Rạng ngày mai con mắt lim dim,
Chân đi thất thểu như chim tha mồi.
125. Đồng tiền đi trước đồng
tiền khôn.
Đồng tiền đi sau đồng tiền dại.
126. Đồng tiền không phấn
không hồ.
Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt
người.
127. Đưa anh ra tới làng Hồ,
Em mua trái mít, em vồ trái thơm.
Anh về, em nọ dám đưa,
Hai hàng châu lệ như mưa tháng mười.
128. Đừng chê tôi xấu, tôi
già,
Tôi đi bán thị, mọi bà, mọi hôn.
129. Được mùa chớ phụ môn
khoai,
Đến năm thân dậu không ai bạn
cùng.
130. Em nghiêng tai dưới
gió,
Qua kề nhỏ cho em rành,
Đôi ta còn vướng tơ mành,
Đó chẳng đành, đây anh cũng gắng,
Sóng ba đào, mưa nắng chẳng sao.
131. Em ơi, anh bảo em này,
Trứng chọi với đá có ngày vỡ tan.
132. Em là con gái kẻ đằng,
Bên Tề, bên Sở biết rằng theo ai.
133. Em trông thấy anh, em
cũng muốn theo,
Sợ mẹ anh nghèo bán váy em đi.
134. Em ngoan lấy phải chồng
đần,
Cho giỏi mười phần ai biết rằng
ngoan.
135. Gà lôi đội lốt con
công,
Tưởng rằng mình ngộ đi dong đi
dài.
Gặp công xốc lại nhập bầy,
Công đá xể mặt trầy mày đuổi đi.
136. Gái chê chồng đến Bông
trở lại,
Trai chê vợ đến Ngái trở về.
137. Gái liệt nữ dám đâu hai
dạ,
Đấng thuyền quyên đâu dám hai
lòng.
Nợ duyên em giữ vẹn, khỏi vòng cười
chê.
138. Gáo đồng múc nước giếng
Tây,
Khôn ngoan cho lắm tớ thầy người
ta.
139. Gần nhà giàu đau răng
ăn cốm,
Gần nhà kẻ trộm ốm lưng đau đòn.
140. Gập ghềnh nước chảy qua
đèo,
Ngựa ô xuống bến, thuyền chèo lên
non.
141. Giàu sang nhiều kẻ tới
nhà,
Khó khăn nên nỗi ruột rà xa nhau.
142. Giẻ cùi tốt mã dài
đuôi,
Hay ăn cứt chó, ai nuôi giẻ cùi.
143. Gió đưa cây cải về trời,
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay.
144. Gió nồm là gió nồm nôm,
Trách chàng quân tử có mồm không
ăn.
145. Giúp lời không ai giúp
của.
Giúp đũa không ai giúp cơm,
146. Giương cung sắp bắn phượng
hoàng,
Chẳng may lại phải một đàn chim
ri.
Lấy sào mà đuổi nó đi,
Nó kêu ríu rít kẻo thì điếc tai.
147. Gỗ trắc đem lát ván cầu,
Yến sào đem nấu với đầu tôm khô.
148. Hò không đi, rì không đứng,
Nhủ đi đằng rì, nó đi đằng tắc.
149. Hoa sen mọc bãi cát lầm,
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.
150. Hoài hồng ngâm cho chuột
vọc,
Hoài hòn ngọc cho ngâu vầy,
Hoài bánh giầy cho thằng méo miệng
ăn.
151. Hồng nhan nào kém ai
đâu.
Kẻ xe chỉ thắm, người xe hạt
vàng.
152. Hữu tật thì bái tứ
phương,
Vô tật đồng hương chẳng mất.
153. Kinh đô cũng có người rồ,
Man-di cũng có sinh đồ trạng
nguyên.
154. Khen ai khéo đúc chuông
chì,
Dạng thì có dạng, đánh thì không
kêu.
155. Khế rụng bờ ao thanh
tao anh lượm,
Ngọt như cam sành, héo cuống anh
cũng chê.
156. Khi vui thì miệng lép
bép,
Khi buồn ruồi đậu bên mép không
đòi.
157. Khi vui non nước cũng
vui,
Khi buồn sáo thổi, kèn đôi cũng
buồn.
158. Khi xưa ước những chân
mây,
Bây giờ rớt xuống giữa dây bìm
bìm.
159. Khi nóng, bắt lấy tai,
Khi nguội chẳng biết tai là gì.
160. Khó khăn đắp đổi lần hồi,
Giàu thì chưa dễ em ngồi em ăn.
161. Khó hèn thì chẳng ai
nhìn,
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh
em.
162. Khoan khoan quần tía xuống
màu,
Dây lưng mua chịu khoe giàu với
ai ?
163. Khôn ngoan cũng thể đàn
bà,
Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn
ông.
164. Khôn ngoan quỉ quyệt chết
lao, chết tù.
Lủ khủ lù khù chết già chết rũ.
165. Không thương đoái lại
chút tình.
Lẽ nào có lẽ bất bình cả hai.
166. La hô, hồ khoan !
Ta chèo cất mái hồ khoan,
Thuyền rồng chúa ngự khoan khoan
mái chèo.
Lênh đênh duyên nổi phận bèo,
Đã đành khi nước thủy triều đầy
vơi.
Lộ đồ giao viễn xa khơi,
Thuyền tình chở một mình tôi nặng
gì.
Chẳng giậm, thì thuyền chẳng đi,
Giậm ra mắt tiếng thị phi với
tình.
Khách tình lại nhớ thuyền tình,
Thuyền tình lại nhớ khách tình là
duyên.
167. Lá vàng còn ở trên cây,
Lá xanh rụng xuống, trời hay
chăng trời !
168. Làm dàn cho bí leo
chơi,
Chẳng may bí dột, mùng tơi leo
cùng.
169. Lạy ông nắng lên cho ấm
trẻ ông ơi,
Già thì cháy rận chớ tôi được gì.
170. Lênh đênh duyên nổi phận
bèo,
Tránh sao cho khỏi nước triều đầy
vơi,
171. Linh đinh một chiếc
thuyền tình,
Mười hai bến nước gởi mình vào
đâu.
172. Lộ diên tri mã lực,
Sự cửu kiến nhân tâm,
Bởi anh nghe vậy mới lầm,
Vàng rơi khó kiếm châu trầm khôn
theo.
173. Lỡ quan, lỡ lính, lỡ
làng,
Lỡ bề dân giả, lỡ hàng công
khanh.
174. Lụa mười lăm anh chê lụa
vụng,
Mắc phải lụa hồ đành bụng bậu
chưa ?
175. Lúc làm thì chẳng có
ai,
Lúc thì ông xã, ông cai đầy nhà.
176. Lúc nghèo thì chẳng ai
nhìn,
Đến khi đỗ Trạng chín nghìn anh
em,
177. Luồn cửa tiền cửa hậu.
Chẳng thèm luồn bờ giậu chó chui.
178. Mạnh về gạo, bạo về tiền,
Lắm tiền, nhiều gạo là tiên trên
đời.
179. Máu gà thì tẩm xương
gà,
Máu gà đem tẩm xương ta sao đành.
180. Mặc đời cua máy, cáy
đào,
Gai kia ai mứt, quả nào ai vo.
181. Măng giang nấu cá ngạnh
nguồn,
Đến đây em phải bán buồn mua vui.
182. Mặt mũi méo mó thì có đồng
tiền,
Mặt vuông chữ điền thì tiền không
có.
183. Mất vải lại phải đi đo,
Mất tiền đi đò, lại phải kéo dây.
184. Mất tiền rồi lại thua
thâm,
Mất tiền rồi lại tri âm bạn cười.
185. Mẹ thời già, nhà thời
khó,
Tôi muốn lấy nó, nó chẳng lấy
tôi.
186. Mẹ già ở chốn lều
tranh,
Đói no chẳng biết, rách lành chẳng
hay.
187. Mẹ cha bú mớm nưng niu,
Tội trời thì chịu không yêu bằng
chồng.
188. Mẹ già lo bảy lo ba,
Lo cau trổ muộn, lo già hết
duyên,
189. Mèo tha miếng thịt thì
đòi,
Kễnh tha con lợn mắt coi chừng chừng.
190. Mênh mông góc bể chân
trời,
Những người thiên hạ nào người
tri âm ?
Buồn riêng, thôi lại tủi thầm,
Một duyên, hai nợ, ba nhầm lấy
nhau.
191. Miếng đất láng nguyên,
tự nhiên cây cỏ mọc
Anh mảng lo nghèo, bạn ngọc có
đôi.
192. Miệng kẻ sang có gang
có thép,
Đồ nhà khó vừa nhẹ vừa tham.
193. Miếng ăn là miếng tồi
tàn,
Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.
194. Mồ cha đứa có sợ đòn,
Quí hồ kiếm được chồng dòn thì
thôi.
195. Mồ cha cái áo rách nầy,
Mất chúng, mất bạn, vì mầy áo ơi
!
196. Mồ cha ai đốn cây bần,
Chẳng cho ghe cá đậu gần ghe tôm.
197. Một mẹ nuôi được mười
con,
Mười con không nuôi được một mẹ.
198. Một năm là mấy tháng
xuân,
Một đời người được mấy lần vinh
hoa.
199. Một thuyền một lái chẳng
xong,
Một chĩnh hai gáo còn nong tay
vào,
200. Một người làm nên, cả họ
được cậy,
Một người làm bậy, cả họ mất nhờ.
201. Một người làm xấu, cả bọn
mang nhơ,
Một người làm tốt, cả bọn được nhờ.
202. Một mình đứng giữa
trung ương,
Bên tình, bên nghĩa biết thương
bên nào ?
203. Một vũng nước trong,
năm bảy dòng nước đục,
Một trăm người tục, không được chục
người thanh.
204. Một lần cho tởn tới
già,
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chưn.
205. Một đời phú quý vinh
hoa,
Một đời đói rách cũng qua một đời.
206. Mơ mang, mang chạy lên
rừng,
Ta hay mang chạy thì đừng mơ
mang.
207. Mụ gia ba bảy mụ gia,
Mụ thì tiền rưỡi, mụ ba mươi đồng.
208. Muốn ăn măng trúc, măng
giang,
Măng tre, măng nứa, chè bàng cơm
lam.
Muốn ăn sim chín đi tìm.
Đố ai tìm được đem lên hầu nàng.
Chim kêu, vượn hót trên ngàn,
Bây giờ đã đến trăng tàn canh ba.
209. Muốn sao tháng đôi tuần
trăng,
Muốn sao đây ở cho bằng lòng đây.
210. No thì ra Bụt, đói ra
ma,
Chẳng lạ nhân tình đất kẻ ta.
211. Nửa về nửa muốn ở đây,
Về nhà nhớ bạn, ở đây nhớ nhà.
212. Nửa về nửa muốn ở đây,
Nửa thơm như quế, nửa cay như gừng.
213. Nực cười châu chấu chống
xe,
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe
nghiêng.
214. Nực cười chữ « nãi » là
bèn,
Mất tiền mà có ai khen chi mình.
215. Nước giữa dòng chê
trong chê đục,
Vũng nước trâu dầm hì hục khen
ngon.
216. Nước triều ai tát, ai
khơi,
Khi lên thời thế, cơn rồi như
không.
217. Nước non lận đận một
mình,
Thân cò lên thác xuống ghềnh bấy
nay.
Ai làm cho bể kia đầy,
Cho ao kia cạn, cho gầy cò con.
218. Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,
Làm thân con nhện mấy lần vương
tơ,
Biết về đâu trong đục mà chờ,
Hương thơm mất tuyết biết nương
nhờ vào ai ?
219. Nghĩ ngán cho ai nhành
mai đang thắm,
Chẳng xứng tay cầm uổng nhánh mai
tươi.
220. Nghĩ em đáng lạng vàng
mười,
Đem ra kẻ chợ kém người trăm
phân.
Trông xa cứ tưởng là tiên,
Đến gần cú đậu ở bên cạnh sườn,
Kìa ai lào lạo ngoài da,
Mà trong rỗng tuếch như hoa muống
rừng.
221. Ngọc sa xuống giếng ngọc
trầm
Anh đi tầm ngọc, tầm lầm hột
châu.
222. Ngồi buồn xe chỉ uốn cần,
Chỉ xe chưa đặng, cá lần ra khơi.
223. Ngờ đâu quá giận mất
khôn,
Khi vui đã vậy, khi buồn làm sao
?
224. Ngỡ rằng cây cả bóng
cao,
Thiếp lăn mình vào phơi nắng cùng
mưa.
225. Ngũn ngỡn như con thuyền
chài,
Áo ngắn mặc ngoài, áo dài mặc
trong.
Người gian thì sợ người ngay,
Người ngay chẳng sợ đường cày
khúc khiu.
226. Người dưng ơi hỡi người
dưng !
Bánh dày phải lửa thì sưng phồng
phồng.
227. Người trên ở chẳng kỷ
cương
Khiến cho kẻ dưới lập trường mây
mưa.
228. Người ta con trước con
sau,
Thân anh không vợ như cau không
buồng.
Cau không buồng ra tuồng cau đực,
Trai không vợ cực lắm em ơi.
Người ta đi đón về đôi,
Thân anh đi lẻ về loi một mình.
229. Người ta năm bảy chị
em,
Tôi đây khác thể chiếc nem lột trần.
230. Nhác trông ngỡ tượng tô
vàng,
Nhìn lâu mới biết chẫu chàng trời
mưa.
231. Nhạn đậu cành sung,
giương cung bắn nhạn,
Con nhạn chết rồi, biết làm bạn với
ai ?
232. Nhọc nhằn ăn nọ được
khoai,
Nấu một nồi bộng, lựa hai củ
sùng.
233. Những người gót đỏ như
son,
Xưa nay ai nỡ đem chôn xuống bùn.
234. Ô hô chậu rã, cúc ngã,
sen tàn.
Tiếc công anh lận đận với nàng bấy
lâu.
235. Ông thầy khoe ông thầy
tốt,
Bà cốt cậy bà cốt hay.
236. Ở đời Kiệt-Trụ sướng
sao,
Có rừng nem béo, có ao rượu đầy.
Ở đời Nghiêu, Thuấn khổ thay,
Giếng đào mà uống, ruộng cày mà
ăn.
237. Ở nhà nhất mẹ, nhì con,
Ra đường lắm kẻ còn dòn hơn ta.
238. Ở đời chẳng biết sợ ai,
Sợ thằng say rượu nói dai tối
ngày.
239. Ở xa không biết nên lầm,
Bây giờ rõ lại vàng cầm cũng
buông.
240. Phản Trụ đầu Châu,
Ăn cơm nhà Phật, đốt râu nhà
chùa.
241. Phận em liễu yếu vâng lịnh
nghiêm dàng,
Em kết duyên với khách, ngỡ ngàng
nước non.
242. Phềnh phềnh lớn giữa lớn
ra,
Mẹ ơi, con chẳng ở nhà được đâu.
Ở nhà, làng bắt mất trâu,
Cho nên con phải đâm đầu ra đi.
243. Phượng hoàng chặt cánh
đuổi đi,
Bắt con bìm bịp đem về mà nuôi.
244. Phượng hoàng đậu chốn
cheo leo,
Sa chân lỡ bước phải theo đàn gà.
Bây giờ mưa thuận gió hòa,
Thay lông đổi cánh lại ra phượng
hoàng.
245. Quạ mà đã biết là quạ
đen,
Có đâu quạ dám mon men với cò.
246. Quân sử thần tử, thần bất
tử bất trung,
Phụ sử tử vong, tử bất vong bất
hiếu.
247. Ra đường thấy cánh hoa
rơi,
Hai chân dậm xuống chẳng chơi hoa
thừa.
248. Ra đường vui những cảnh
người,
Về nhà tôi thấy cảnh tôi, tôi buồn.
249. Ra đường gió mát thảnh
thơi,
Thương người nằm võng nắng nôi ở
nhà.
250. Ra đường ông tú, ông
chiêu,
Về nhà móng tay mỏ sẻ, cậy niêu
đã mòn.
251. Ra đường chẳng biết ai
nói thế nào
Về nhà lấy thớt, lấy dao băm l…
252. Roi song đánh đoạn thì
thôi,
Một lời siết cạnh muôn đời chửa
quên.
253. Ru con, con ngủ cho rồi,
Mẹ ra chỗ vắng, mẹ ngồi than
thân.
254. Rủ nhau đánh cá Đồng-lâm,
Cá kia chẳng được, âm thầm lòng
anh.
Cây vàng, lá rụng chung quanh,
Rủ nhau đánh cá Đồng-nai,
Cá kia chẳng được, một ngày đến
trưa,
Sầu em nước mắt như mưa.
255. Ruộng gần bỏ cỏ không
cày,
Chợ xa quà rẻ, mấy ngày cũng đi.
256. Rửa chân đi hán đi hài,
Rửa chân đi đất chớ hoài rửa
chân.
257. Sá chi một nải chuối
xanh,
Năm bảy người giành cho mủ dính
tay.
258. Sáng mưa, trưa nắng,
chiều nồm,
Trời còn thay đổi huống mồm thế
gian.
259. Sáng trăng suông, em
nghĩ tối trời,
Em ngồi em để cái sự đời em ra.
Sự đời bằng cái lá đa,
Đen như mõm chó, chém cha sự đời.
260. Sầu đông trong héo,
ngoài tươi,
Vui là vui gượng, cười là cười
khuây.
261. Soi gương còn mặt mũi
nào,
Đã dở lại xấu soi vào sao đang.
262. Sóng ba đào khi không
mà dậy,
Em bậu có chồng rồi nửa chừng đứt
gióng lại đòn triêng.
Anh vô thay lời đổi mặt cầm quyền
cho con em.
263. Sông con gặp lúc sóng cồn,
Trời ơi ham kẻ anh hùng làm chi !
264. Sông dài mà sắm đò
ngang,
Em nhiều nhân ngãi, em mang oán
thù.
265. Sống thì chẳng cho ăn
nào
Chết thì cúng giỗ, mâm cao, cỗ đầy
266. Sự đời nghĩ cũng nực cười,
Một con cá lội mấy người buông
câu.
267. Tay em cầm gáo nước tưới
cả ba cây,
Tưới cây lựu, bỏ cây đào,
Tưới cây đào, bỏ cây lê,
Có ai ở trong nhà cho em mượn đôi
gióng bứng về cả ba cây.
268. Tay mang túi bạc kè kè,
Nói quấy nói quá người nghe ầm ầm.
269. Tay tiên rót chén rượu
đào,
Đổ đi thì tiếc, uống vào thì say.
270. Tấn thối nan cực khổ
trăm bề,
Ở đây khó ở, ra về khó ra.
271. Tết đã đuổi đến sau
lưng,
Ông vải thì mừng, con cháu thì
lo.
272. Tậu voi chung với đức
ông,
Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt
phân.
273. Tiếc công xúc tép nuôi
cò,
Cò ăn, cò mổ, cò dò lên cây.
274. Tiếc công vãi mằn cho
cu,
Cu ăn, cu lớn, cu gù nhau đi.
275. Tiếc công anh vun quén
cây tùng,
Anh săm soi trên ngọn dưới gốc
cây sùng không hay.
276. Tiếc thay cái chậu nước
trong,
Để cho bèo tấm, bèo ong rạt vào.
277. Tiếc thay hột gạo trắng
ngần,
Đã vo nước đục lại vần than rơm.
278. Tiếc công lao anh đào
ao thả cá,
Năm bảy tháng trường người lạ đến
câu.
279. Tiền chì mua được cá
tươi,
Mua rau mới hái, mua người nỏ
nang.
Tiền trinh mua vội mua vàng,
Mua phải rau héo, mua nàng ngẩn
ngơ.
280. Tiền Bần, lụa Lạc, vải
Đồng-than,
Đã mua thì chớ phàn nàn làm chi.
281. Tiếng anh ăn học bên
Tàu,
Chị dâu té giếng nắm chỗ nào kéo
lên ?
Nắm trên đầu thì sợ lỗi trời
trên,
Thò tay nắm áo kéo lên tức thì.
282. Tổ đánh mà chẳng biết
thân,
Mặt như điếu dạn chơi xuân nỗi
gì.
283. Tôi đi tìm bạn tôi đây,
Bạn thấy tôi khó chưng nay chẳng
chào.
284. Tôi muốn lên non tìm
con chim lạ,
Ở dưới thị thiền chim chạ thiếu
chi.
285. Tôi đây như thể áo tơi,
Khi mưa thì dùng, tạnh trời thì
thôi.
286. Tối tăm biết mít là
gai,
Biết quen hay lạ, biết ai mà
chào.
287. Từ rày buộc chỉ cổ tay,
Chim đậu thì bắt, chim bay thì đừng.
288. Tới đây đất nước lạ
lùng,
Chim kêu phải sợ, cá vùng phải
kiêng
289. Tua rua đã xế ngang đầu,
Em còn đứng lại làm giàu cho cha.
290. Tưởng giếng sâu nối sợi
dây dài
Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi
dây.
291. Tưởng rằng đá nát thì
thôi,
Hay đâu đá nát đun vôi lại nồng.
292. Tưởng lấy anh cho lành
manh áo,
Hay đâu lấy anh rồi bán áo nuôi
anh.
293. Tưởng rằng rồng ấp với
mây
Ai ngờ rồng ấp với cây địa liền.
294. Tưởng rằng nước chảy đá
mòn,
Ai ngờ nước chảy đá còn trơ trơ.
295. Thà rằng chẳng biết cho
xong,
Biết ra kẻ bắc, người đông thêm sầu.
296. Thà ăn bắp hột chà vôi,
Còn hơn giàu có bồ côi một mình.
297. Thà rằng chẳng biết cho
đừng,
Biết ra dan díu nửa chừng lại
thôi.
Con sông bên lở bên bồi,
Một con cá lội mấy người buông
câu.
298. Tham vàng bỏ ngãi, anh
ơi !
Vàng thì ăn hết, ngãi tôi hãy
còn.
299. Tham vàng bỏ đống gạch
đầy,
Vàng thì ăn hết, gạch xây nên
thành.
300. Thành đổ đã có chúa
xây,
Việc gì gái góa lo ngày lo đêm.
301. Thân em tội nghiệp về
đâu,
Ngày ngày em chổng phao câu lên
trời.
302. Thế gian lắm kẻ mơ
màng,
Thấy hòn son thắm ngỡ vàng chắt
chiu.
303. Thế tình chuộng lạ tham
thanh,
Bên khinh bên trọng ra tình xấu
chơi.
304. Thế gian còn mặt mũi
nào,
Đã nhổ, lại liếm làm sao cho
đành.
305. Thế gian nói chi thì mặc
nó,
Miễn là mình không có thì thôi.
306. Thiếu chi cam rim, hồng
rim,
Bắt anh đi tìm khế rụng bờ ao.
307. Thôi thôi giụi đuốc đi
thầm,
Còn duyên chi nữa mua trầm bán
hương.
308. Thuở giàu sang nhiều kẻ
yêu vì,
Đến khi khó, rủ nhau gièm sém.
309. Thuyền đua thì lái cũng
đua,
Thuyền lên trên bờ thì lái chết
toi.
Thuyền câu lơ lửng đã xong,
Thuyền chài lơ lửng uổng công
thuyền chài.
310. Thuận buồm xuôi gió,
chén chú chén anh,
Lên thác xuống ghềnh, mày tao chi
tớ.
311. Thứ nhất vợ dại trong
nhà,
Thứ hai nhà dột, thứ ba rựa cùn.
312. Thương miệng thương
môi,
Thương miếng xôi miếng thịt.
313. Thương miệng thương
môi,
Việc quan anh cứ phép công anh
làm.
314. Thương người khác thể
thương thân,
Ghét người như thể vun phân cho
người.
315. Thương thương, nhớ nhớ,
thương thương,
Nước kia muốn chảy mà mương không
đào.
316. Trách thân chẳng dám giận
trời,
Trách thân lắm lắm, giận trời bao
nhiêu.
317. Trai ba mươi tuổi mà
già,
Gái bốn mươi tuổi đang ra má hồng.
318. Trăm năm trăm tuổi,
trăm chồng,
Hễ ai có bạc, thì bồng lên tay.
319. Trăm năm dốc nguyện đá
vàng,
Dè đâu gãy gánh giữa đàng khá
toan.
320. Trắng như thủy tinh,
Trong như giá lọc,
Nhún mình đồng đen,
Ai ơi chớ nghĩ rằng hèn,
Kìa như nước đục đánh phèn lại
trong.
321. Trẻ chẳng tha, già chẳng
thương,
Cóc nhái, ễnh ương chấp chi, nhặt
nhạnh.
322. Trèo non ước những non
cao,
Anh đi đò dọc, ước ao sông dài.
323. Trèo lên cây tắt lắt
lòng,
Bước sang cây thị lại hòng thanh
yên.
324. Trèo lên Ba-dội tôi
coi,
Bốn dội tôi ngồi, năm dội tôi
trông.
Nồi đồng lại úp vung đồng,
Con gái xứ Huế lấy chồng Đồng-nai.
Giậm chân xuống đất kêu trời,
Lấy chồng trong Quảng biết đời
nào ra.
325. Trách bậu sao không dạ
lo âu,
Sao không có phản Trụ đầu Châu
cho rồi.
326. Trộm vàng, trộm bạc cho
cam,
Trộm một nắm cám, cũng mang tiếng
đời.
327. Trong lưng chẳng có một
đồng,
Lời nói như rồng, chúng chẳng
thèm nghe.
Vai mang túi bạc kè kè,
Nói bậy nói bạ chúng nghe rầm rầm.
328. Trong ba mươi sáu đường
tư,
Đường nào phú quý phong lưu thì
làm.
329. Trong lòng bối rối băn
khoăn,
Chân đi thất thểu, cơm ăn ít nhiều.
330. Trông trăng mà thẹn với
trời,
Soi gương mà thẹn với người trong
gương.
331. Trống chùa ai đánh
thùng thùng,
Của chung ai khéo vẫy vùng nên
riêng.
332. Trồng tre chẳng dám ăn
măng,
Để cho măng lớn kết bè đưa dâu.
Đưa dâu thì đưa bằng ghe,
Đừng đưa bằng bè ướt áo nàng dâu.
333. Trời mưa ướt bụi ướt bờ,
Ướt cây ướt lá ai ngờ ướt em.
334. Trời sanh hùm chẳng có
vây,
Hùm mà có cánh, hùm bay lên trời.
335. Trời sinh ra kiếp hay
chơi,
Sao trời lại khép vào nơi không
tiền.
336. Trời sao trời chẳng ở
công,
Người ba bốn vợ, người không vợ
nào.
337. Vàng mười chê đắt không
mua,
Mua lấy vàng bảy thiệt thua trăm
đường.
338. Vì sông nên phải lụy
thuyền,
Chớ như đường liền ai phải lụy
ai.
339. Ví dầu nhà dột cột
xiêu,
Muốn đi cưới vợ, sợ nhiều miệng
ăn.
340. Xa sông xách nước bằng
chình,
Sẩy tay rớt xuống gẫm mình vô
duyên.
341. Xa sông cách núi lỡ vời,
Gởi thơ sợ lậu, gởi lời sợ quên.
342. Xa xôi chi đó mà lầm,
Phải hương hương bén, phải trầm
trầm thơm.
343. Xăm xăm bước tới cây
chanh,
Lăm le muốn bẻ sợ nhành chông
gai,
344. Xúp lê ba tàu ra biển bắc,
Giậm cẳng kêu trời, chồng bắc vợ
nam.
345. Yêu nhau chẳng lấy được
nhau,
Con lợn bỏ đói, buồng cau bỏ rời.
b) MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ
CON NGƯỜI
Con người là cá thể của vũ trụ. Mỗi
con người đều chất chứa một khả năng tự tồn. Chính khả năng tự tồn ấy đưa con
người đến trạng thái vị kỷ, mà xưa nay trong cuộc sống, giữa con người và con
người vẫn là những đối tượng mâu thuẫn bất diệt. Đó là điều căn bản không thể
tránh được.
Dựa trên căn bản mâu thuẫn tất yếu
ấy, con người bị qui luật tranh đấu tự tồn thúc đẩy đem hết khả năng tinh vi của
bộ óc mình cố tranh đoạt lẽ sống, trộn vào năng lực của guồng máy thiên nhiên một
năng lực của khối óc tạo ra hỗn loạn, hiềm khích, tranh chấp giữa con người và
con người.
Bởi vậy, khi khảo sát về sự mâu
thuẫn giữa con người và con người, ngoài yếu tố tất yếu của thiên nhiên, chúng
ta còn phải nói đến yếu tố phát triển của khối óc con người nữa. Chính khối óc
con người mới là khả năng phức tạp trong guồng máy xã hội.
Khối óc đã biến qui luật mâu thuẫn
thiên nhiên thành qui luật mâu thuẫn của con người. Bởi vì, nếu con người không
có khối óc, không đem khối óc ấy pha trộn vào lẽ sống thì xã hội loài người chẳng
qua cũng chỉ như xã hội của muôn loài sinh vật khác, không hơn không kém. Sự
khôn ngoan của con người đã đem đến cho họ năng lực bảo tồn lẽ sống, đồng thời
cũng đem đến cho họ những nguy hiểm của sự khôn ngoan trong phạm vi tranh đấu tự
tồn ấy. Vậy, mâu thuẫn giữa con người và con người mà chúng ta cần nói ở đây là
phần đấu tranh của khối óc. Nói cách khác, là sự cọ xát giữa cái khôn ngoan của
con người trong phạm vi vị kỷ.
Vị kỷ ? Chỉ hai tiếng ấy chúng ta
cũng đủ hình dung một năng lực chất chứa trong xã hội loài người rồi. Nó là nguồn
gốc phát sinh và hủy diệt, đưa con người vào quĩ đạo xâu xé, tranh đoạt.
Các nhà đạo đức học đã đem tình
thương và ý thức vị tha chống lại, cố làm giảm bớt cường độ xâu xé và tranh đoạt
ấy, tuy nhiên tham vọng cá nhân con người không cho phép bộ óc họ cởi bỏ những
cái khôn ngoan luôn luôn nẩy nở không đồng đều.
Thật vậy, nếu mỗi bộ óc con người
đem đến cho mỗi cá nhân một mức phát triển tương đương thì có lẽ loài người
không đến nỗi dẫn cuộc sống họ vào trạng thái thảm khốc, bi đát. Sự
khôn ngoan chênh lệch đã khiến con người phát huy ý thức vị kỷ của mình, mà đạo
đức, tôn giáo dù có phổ biến đến đâu cũng không sao kềm hãm nổi.
Từ xưa đến nay, loài người đã tốn
biết bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu tâm huyết để tách rời cuộc sống con người ra
khỏi ý thức vị kỷ, nhưng công việc làm ấy không đem lại kết quả bao nhiêu chỉ
vì loài người không có cách nào làm cho trí khôn con người nẩy nở đồng đều. Yếu
tố chênh lệch trong sự hiểu biết con người chính là một khó khăn, mà theo chúng
tôi nghĩ, muốn cho xã hội loài người đi đến chỗ nhân đạo, tách rời lòng vị kỷ,
thì trước nhất phải thăng bằng trình độ hiểu biết đã. Những tính xấu của con
người như : ích kỷ, tham lam, giả dối, độc ác, dua nịnh, phản phúc, sở dĩ được
nẩy nở cũng chỉ vì trình độ hiểu biết của mỗi cá nhân trong xã hội bị chênh lệch
mà thôi.
Người này bị kẻ kia lừa dối chỉ
vì người này kém hiểu biết hơn. Dân tộc này bị dân tộc khác đô hộ chỉ vì dân tộc
này kém khôn ngoan hơn. Ngược lại, những kẻ có ý thức tham lam, giả dối, dua nịnh
chỉ vì họ cảm thấy họ đủ tài làm những việc ấy mà kẻ khác không đủ khôn ngoan để
hiểu biết hành động của họ. Nói cách dễ hiểu, khi ý thức lừa đảo của mình bị kẻ
khác khám phá (tức cũng đủ khôn ngoan) thì mình không dám giở thủ đoạn nữa. Đó
là luật thăng bằng giữa mâu thuẫn vậy.
Nhưng, nói chung, mọi tính xấu
trong con người ai cũng ghét, mà trái lại, ai cũng làm. Đó là điều mâu thuẫn,
mà căn nguyên đều do lòng vị kỷ cả.
Những tính xấu ấy đã phát hiện từ
xã hội ngàn xưa, đưa vào tâm tư con người một bất mãn, cay đắng : bất mãn giữa
con người và con người.
Ở đây, chúng ta thử xem trạng
thái bất mãn ấy chứng minh qua một số ca dao :
I. ÍCH KỶ
Ích kỷ tức là vị kỷ. Nó nằm trong
tính chất tự tồn. Mỗi chúng ta đều cảm thấy nó khi chúng ta bị thiệt thòi.
Chúng ta muốn đem lại cho chúng ta nhiều thụ hưởng mà chúng ta bị thiếu thốn. Vậy
ích kỷ là lòng thương mình, thương thân phận cá nhân mình hơn thân phận kẻ
khác.
Người bình dân cũng đã thấy trạng
thái của nó qua tâm tư họ, như :
Một mai cúc ngã lan quì,
Bậu lo thân bậu, lo gì thân qua !
Khi mỗi cá nhân đứng trước một khả
năng thụ hưởng bao giờ cá nhân ấy cũng nghĩ đến quyền lợi của họ trước hết.
Chính đó là lòng ích kỷ mà con người cảm thấy như là một tật xấu. Nhưng nếu xét
cho cùng thì ích kỷ là năng lực của mỗi cá thể cần phải có để tự bảo vệ cái sống
của mình. Chẳng những đối với con người mà đối với vạn hữu cũng vậy, mỗi sinh vật
đều chất chứa bên trong một năng lực tự tồn, nhờ năng lực ấy mỗi cá thể tránh
được trạng thái tự diệt trong sức tranh đoạt của vạn hữu. Vậy ích kỷ theo đúng
nghĩa của nó không phải là xấu. Cái xấu của con người nằm trong ý thức tham vọng,
bất công. Bởi vì, con người dùng bộ óc để bảo vệ lẽ sống, thì con người cũng lại
dùng bộ óc để mưu đồ tham vọng cá nhân của mình.
Ví dụ như người bình dân thời xưa
đã than thở :
Tiếc công xúc tép nuôi cò,
Mai sau cò lớn, cò dò, cò bay.
Thì đó không phải là họ tiếc con
cò, mà chính họ hờn trách con cò đã đặt tham vọng vào đời sống của nó. Nó đã được
sống ấm no trong tay con người nuôi dưỡng, lại còn thèm muốn những cảnh sung sướng
khác hơn. Cũng như :
Của mình, mình giữ bo bo,
Của người thì thả cho bò nó ăn.
Thì đó cũng do tham vọng của con
người tạo ra tánh ích kỷ. Nhưng tánh ích kỷ con người rất phức tạp. Từ chỗ
thương thân bảo tồn lẽ sống đi dần đến chỗ mất hẳn tình thương đối với kẻ khác,
như :
Ông chết thì mặc thân ông,
Bà tôi sắp sửa lấy chồng hôm nay.
Bà chết thì thiệt thân bà,
Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.
Hoặc : Thế gian giúp miệng
lao xao,
Ai cho đồng nào mà đỡ khó khăn.
Từ chỗ thương thân mình, lo lắng
cho thân mình, tính ích kỷ của con người dần dần tách rời tình thương giữa cá
nhân này đối với cá nhân khác, mà những triết lý vị tha không thể nào kềm hãm nổi.
Sở dĩ xã hội loài người từ trước
đến nay các nhà đạo đức học đem thuyết vị tha làm phương châm cho lẽ sống cũng
chỉ vì muốn cổi bỏ tánh vị kỷ của con người. Nhưng khổ thay, phần căn bản của
tính ấy lại nằm trong qui luật tất yếu của vạn hữu. Mỗi cá thể trong vũ trụ cần
phải có khả năng tự vệ, tự tồn. Chính khả năng ấy tạo thành qui luật biến động
và sinh diệt trong vũ trụ. Khi đã là qui luật tất yếu của vũ trụ thì bộ óc con
người, sản phẩm của vũ trụ, làm gì có thể cải biến được.
Từ chỗ căn bản, phát xuất do qui
luật thiên nhiên ấy, con người đem bộ óc khôn ngoan của mình phổ biến vào, đưa
qui luật vị kỷ của cá thể chui vào một địa hạt mới : địa hạt ích kỷ với tính chất
phức tạp của khối óc.
Xã hội Việt-nam thuở xưa, sống dưới
guồng máy phong kiến, quyền lợi vua chúa được tôn trọng tuyệt đối. Thần dân
trong chế độ phong kiến được xem như của riêng của nhà vua. Vậy, tổ chức phong
kiến là một tổ chức vị kỷ, bắt buộc mọi người phải hy sinh cho một nhóm gia
đình vua chúa, mà thuyết Khổng Mạnh cho đó là « sùng thiên mệnh » tức là hợp với
lẽ sống thiên nhiên.
Một mặt Nho giáo hô hào dân chúng
phụng sự cho nhóm người vua chúa, một mặt Nho giáo lại bắt dân chúng phải vị
tha, tức là hy sinh quyền lợi cá nhân mình để phụng sự cho lẽ sống riêng rẽ của
nhóm vua chúa. Như vậy, giáo lý vị tha của Khổng Mạnh, bản chất lại mâu thuẫn,
không phù hợp với tác động thăng bằng trong lẽ sống thiên nhiên. Lẽ sống thiên
nhiên không bắt buộc một cá thể nào trong vạn hữu phải hy sinh để phụng sự
riêng rẽ cho một cá thể nào cả. Nếu mỗi cá thể phải đi đến chỗ diệt vong cũng
chỉ vì để thăng bằng guồng máy sinh tồn của vũ trụ mà thôi.
Bản chất vị tha của Nho giáo vì
thế không tồn tại, mặc dù trong thời gian nào đó, sức mạnh của Nho giáo đã chi
phối ít nhiều bộ óc con người đương thời và bảo vệ guồng máy phong kiến, song
cuộc sống con người không thể kềm hãm mãi trong khuôn khổ bất công. Trạng thái
mâu thuẫn trong tính chất vị kỷ bắt buộc bộ óc con người phải tranh đấu và phá
vỡ những độc tài, chế ngự, giam hãm, biến guồng máy xã hội thành một vũ trường
để đấu nhau bằng những mánh khóe xảo quyệt, khôn ngoan của bộ óc.
Riêng các tôn giáo, từ xưa đến
nay vẫn đem đạo lý phổ theo đời sống xã hội loài người. Không một tôn giáo nào
không thấy lòng vị kỷ của con người là nguyên nhân căn bản đưa loài người đến
thảm trạng tương tàn tương hại. Tuy nhiên, mọi giáo lý vị tha của các tôn giáo
vẫn chỉ giữ được vai trò của một kẻ đồng hành để an ủi những mảnh tâm hồn đau
khổ vì bị loại ra khỏi đấu trường. Nói cách khác, chúng ta có thể ví cuộc sống
loài người như một cuộc đua xe đạp, họ cố tranh nhau để vượt lên, họ không
thương những kẻ vấp ngã, trái lại, họ cần nhiều vấp ngã ấy để họ xây chiến thắng.
Thì tôn giáo chính là những chiếc xe Hồng-thập-tự theo dõi vòng đua để chấp nhặt
những kẻ chiến bại mà băng bó, vỗ về. Cuộc đua càng gay gắt, con đường càng gồ
ghề, khúc khuỷu thì trên xe Hồng-thập-tự càng đông khách.
Bởi vậy, đời sống con người coi
tôn giáo như chiếc xe Hồng-thập-tự chạy kèm theo vòng đua.
Nếu bộ óc con người sáng chế ra
những tài năng, thì lòng ích kỷ của con người cũng không có giới hạn. Lòng ích
kỷ ấy bắt đầu từ trạng thái bảo vệ chính đáng đi dần đến chỗ vì thương mình mà
không thương người, rồi lại tiến đến chỗ vì quá thương mình mà giết người. Ví dụ
:
Yêu nhau yêu cả bàn chân.
Ghét nhau ghét cả tông nhân họ
hàng.
Khi thương thì ngóng trông làu lạu,
Khi ghét nhau mặt quạu làm ngơ.
Yêu nhau thì nói quá ưa,
Ghét nhau, nói thiếu nói thừa như
không.
Con người tại sao lại có chuyện
thương ghét ? Thương ghét phát xuất từ lãnh vực tình cảm. Tuy nhiên, không phải
tình cảm con người bỗng dưng nổi dậy một cách vô lý. Tình cảm bao giờ cũng bắt
nguồn từ một nguyên nhân. Nguyên nhân ấy chính là lòng vị kỷ. Bởi vậy chúng ta
không bao giờ thương một kẻ làm hại chúng ta, cũng không bao giờ ghét một kẻ
làm lợi chúng ta.
Lòng vị kỷ con người tiến đến chỗ
thương, ghét, nhưng không phải chỉ có thế, nó còn tìm cách làm hại những kẻ bị
ghen ghét nữa, mà người xưa đã từng nói « ích kỷ hại nhân ».
Đó là những hành động phũ phàng của
con người, mà trong ca dao thời xưa, người bình dân Việt-nam đã mô tả những đau
đớn ấy như những tiếng rên than bất diệt. Ví dụ :
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho
cùng.
Vô duyên ghét kẻ có duyên,
Không tiền ghét kẻ có tiền cầm
tay.
Cóc chết bao thuở nhái rầu,
Ễnh ương lớn tiếng nhái bầu dựa
hơi !
Lòng ích kỷ xóa bỏ mọi công bằng
trong xã hội. Kẻ ích kỷ bao giờ cũng nhìn thấy cái tốt của mình mà không thấy
cái tốt của kẻ khác, cũng như họ chỉ thấy cái xấu của kẻ khác mà không thấy cái
xấu của mình.
Người bình dân thời xưa đã chứng
minh :
Chân mình thì lấm mê mê,
Lại cầm bó đuốc mà rê chân người.
Lươn ngắn mà chê lạch dài,
Thờn bơn méo miệng, chê trai lệch
mồm.
Nói người chẳng ngẫm đến thân,
Thử rờ lên gáy xem gần hay xa.
Lòng ích kỷ chẳng những làm cho
con người mù quáng trước lẽ phải, trước sự công bằng, mà còn biến con người trở
thành những con vật mang nhiều tính nết xấu xa nhất đối với nhân đạo. Những
tính xấu như giả dối, tham lam, độc ác, dua nịnh, phản phúc đều do lòng ích kỷ
mà ra cả. Nó là biến thái của tính ích kỷ.
2. GIẢ DỐI
Tại sao con người lại giả dối ?
Thật chẳng có gì khó hiểu. Nó chỉ
là sản phẩm của khối óc, do trí thông minh của con người mà ra. Vũ trụ tạo cho
con người một năng lực hiểu biết để làm chủ muôn vật trên quả đất, nhưng vũ trụ
lại bắt con người phải sống trong vòng định luật của thiên nhiên, nghĩa là phải
tranh đấu tự tồn, do đó, khối óc con người phải lệ thuộc vào cuộc sống con người.
Khi đã lệ thuộc vào cuộc sống, khối óc trở nên phức tạp. Nếu có những kẻ dùng
thông minh hiểu biết của mình để khai phá, tìm hiểu cơ năng vũ trụ, giúp cho đời
sống có đủ tiện nghi, sung túc, thì họ lại dùng nó đi lừa gạt đồng loại, tranh
đoạt lẽ sống thường ngày. Vậy giả dối là năng lực của khối óc, tranh đấu cho
tính chất vị kỷ. Nó cũng là sự cọ xát về khả năng khôn ngoan của bộ óc, biến cuộc
sống con người thành đấu trường. Nếu con người không vị kỷ thì chẳng cần giả dối
để làm gì. Mà đã có người giả dối tất kẻ khác bắt buộc phải đề phòng. Trình độ
giả dối con người lại không đứng yên một chỗ, nó tiến triển theo sự khôn ngoan
của khối óc con người tùy từng thời đại.
Người bình dân thời xưa tuy sống
trong hiền lành, chất phác, sự giả dối không sâu sắc như ở thế hệ chúng ta, tuy
nhiên, khi bộ óc con người đã lệ thuộc vào lẽ sống, tâm tư con người đã phát khởi
từ lòng vị kỷ thì dù thời đại nào, thế hệ nào, tính chất giả dối vẫn là điều để
cho loài người phải xót xa, thống khổ, hờn trách.
Đây, chúng ta thử nhìn vào trạng
thái nghi hoặc của họ :
Dò sông dò bể dễ dò,
Nào ai lấy thước mà đo lòng người.
Lòng người thăm thẳm mù khơi,
Không bờ, không bến biết nơi nào
dò.
Chính người xưa cũng đã tìm thấy
trong thâm tâm con người như một đại dương mù mịt. Nhưng đại dương còn có đáy,
bộ óc con người còn có thể khám phá được, còn lòng người thì u tối, không biết
chiều sâu bao nhiêu, đến nỗi bộ óc con người cũng đành thúc thủ.
Nói như thế cũng có nghĩa là người
bình dân đã cho ta thấy bộ óc con người có thể khám phá cơ năng vũ trụ, nhưng
không thể khám phá cơ năng của khối óc, bởi vì lòng người chính là hiện tượng
cơ năng của khối óc. Đem khối óc khám phá khối óc là điều không thể làm được.
Túi khôn con người là một hiện tượng « ma quái » luôn luôn chui vào bề sâu của
« đáy huyệt » vô hình. Ở đấy nó biến hóa thiên hình vạn trạng, mà loài người
càng theo đuổi nó thì nó càng tỏ ra một năng lực phi thường, để rồi không còn
ai hiểu được nó là cái gì, hình dáng ra sao nữa ? Chúng ta chỉ còn thấy ở con
người những
hình hài giả tượng, mà từ trước đến nay chúng ta phải luôn luôn đi tìm chân tướng
đích thực của nó.
Những gì chúng ta than phiền,
trách móc, oán ghét giữa con người và con người cũng chỉ vì chúng ta bị lầm lạc
hình hài giả tượng ấy. Và đây, là điển hình một lầm lạc :
Mình nói dối ta mình chửa có chồng,
Để ta mang cốm mang hồng sang
sêu.
Ta sang mình có chồng rồi,
Để cốm ta mốc, để hồng long tai.
Ngỡ là long một long hai,
Ai ngờ long cả trăm hai quả hồng.
Cái gì buộc con người phải phỉnh
phờ, giả dối như vậy nếu không do lòng vị kỷ.
Lòng vị kỷ không thương đến ai cả,
chỉ làm sao thỏa mãn được tham vọng cá nhân. Do đó, dù kẻ khác có thiệt thòi mà
đem lại quyền lợi cho họ, họ vẫn làm. Từ chỗ mưu cầu quyền lợi cá nhân họ đi đến
chỗ giả dối, lừa gạt.
Đây là một diễn biến bắt đầu :
Anh về rẫy vợ anh ra,
Con anh thơ dại thì đà có tôi.
Nhưng đến lúc : Anh đà rẫy vợ
anh rồi.
Thì : Con anh thơ dại, mặc
trời với anh.
Vì mưu cầu quyền lợi cá nhân mà
con người sinh ra tính giả dối, lừa đảo như vậy, cho nên trong cuộc sống con
người tự mình bắt buộc phải đề phòng. Họ nghi ngờ tất cả hành động của con người
trước lẽ sống. Họ khuyên :
Chớ nghe quân tử ỉ òn,
Mà rồi có lúc ẵm con một mình !
Làm sao không nghi ngờ được khi
trí khôn con người càng điêu luyện thì cái bề ngoài con người càng khác biệt với
lòng chân thật của họ. Họ cố tình làm cho kẻ khác lầm lạc để họ hưởng lợi. Hình
dáng bên ngoài không còn là hình dáng đích thực của con người mà nó trở thành
quái tượng của ý thức đấu tranh cơm áo. Chính người xưa cũng đã trông thấy
quái tượng ấy xuất hiện một cách đáng sợ mà họ đã vẽ lại trong những câu ca dao
như :
Khen ai khéo tạc bình phong,
Bên ngoài long, phụng, trong lòng
gạch vôi.
Cái tốt bên ngoài chỉ để che đậy
cái xấu bên trong. Con người càng xấu thì lại càng làm bên ngoài thật tốt để kẻ
khác lầm lạc không thấy cái xấu của mình. Đó chính là trình độ kỹ thuật của kẻ
giả dối dùng để che đậy. Cho nên con người có quyền nghi ngờ và đề phòng :
Nghe anh được lúc bây giờ,
Mai sau trứng nước con thơ ai
nhìn ?
Anh đừng rơi nước mắt ớt
Mà đừng rớt nước mắt gừng.
Nhơn duyên ông trời định nửa chừng
thì thôi !
Qua mấy câu ca dao ấy chúng ta thấy
rõ tâm tư người bình dân thời xưa cũng đã đau đớn với trạng thái giả dối của
con người không ít. Bởi vậy, cuộc sống của họ bắt đầu có kinh nghiệm đối phó,
như :
Thức đêm mới biết đêm dài,
Ở lâu mới biết ai ai bạc tình.
Thử lòng quân tử mà chơi,
Thử lòng quân tử xem vơi hay đầy.
Mình rằng : « Mình muốn lấy ta ».
Ta đi xuống chợ mua gà xem chân.
Một chân xem cửa xem nhà,
Một chân xem lứa bạn ta thế nào ?
Xấu dao cắt chẳng mỏng gừng,
Đó thương dối dối, đây cũng mừng
sơ sơ.
Trên đây là những ý thức của con
người bình dân khi phải đương đầu với mọi giả dối trong cuộc sống. Tuy nhiên, họ
đã thấy cái gì bên ngoài của con người chỉ là ảo tưởng thì dù có đem kinh nghiệm
hiểu biết của họ để đối phó cũng không thể đưa con người trở về
hoàn toàn với chân tướng. Cho nên cuộc sống cứ lần lần đẩy con người vào trạng
thái gạt gẫm, và chính họ phải bất mãn, phỉ nhổ :
Thói đời hay chọn bề ngoài,
Nào ai, ai đã biết hơn ai nào.
Màn treo, chiếu rách cũng treo,
Hương xông nghi ngút, củi rìu
cũng xông.
Trông anh như thể sao mai,
Biết rằng trong có như ngoài hay
không ?
Ở xa anh tưởng là tiên,
Lại gần mới biết thuyền quyên lộn
chồng.
Và có lúc họ châm biếm :
Bắc thang lên tận cung mây,
Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời.
Cuội nghe thấy nói Cuội cười,
Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc
đa.
Hoặc : Ai mà phụ nghĩa quên
công,
Thì đeo trăm cánh hoa hồng chẳng
thơm.
Hay : Rồng nằm bể cạn phơi
râu,
Mấy lời anh nói giấu đầu hở đuôi.
Mướp đắng đã có mạt cưa,
Bố bây hay lừa, đã có mẹ bây.
Nhìn chung qua ca dao, chúng ta
thấy rõ người bình dân thời xưa rất bất mãn với trạng thái giả dối trong xã hội
loài người. Họ là những nạn nhân bị cuộc sống đa diện của khối óc con người lôi
cuốn, mà họ là kẻ bị nhiều phỉnh phờ nhất.
3. ĐỘC ÁC
Nếu giả dối là trạng thái biến động
của khối óc con người mưu tìm lẽ sống trong phạm vị ích kỷ thì độc ác chính là
trạng thái biến động của tình cảm, khi tình cảm bị lẽ sống cám dỗ.
Lòng vị kỷ đưa con người từ
thương đến ghét và tiếp tục diễn biến tai hại hơn nữa là độc ác. Vậy độc ác
cũng phát xuất từ lòng vị kỷ. Nhưng, khi nói đến độc ác thì chúng ta nghĩ ngay
đến lãnh vực tình cảm con người. Bởi vì, nếu không đặt vấn đề tình cảm thì độc
ác không còn ý nghĩa nữa.
Vũ trụ sinh ra vạn hữu, nhưng vũ
trụ cũng bắt vạn hữu phải gánh chịu những tai ương trong qui luật mâu thuẫn và
sinh diệt. Riêng đối với loài người, vũ trụ cũng đem đến những phong ba bão tố,
những cảnh chết chóc hãi hùng mà con người phải đem trí óc thông minh để chống
lại thiên nhiên, bảo tồn lẽ sống, vậy chúng ta không thể bảo vũ trụ độc ác với
loài người, vì đó là qui luật chung cho vạn hữu. Đối với loài vật, các thú dữ
lúc nào cũng lăm le tiêu diệt sinh mệnh của loài thú nhỏ hơn để nuôi sống, vậy
loài vật cũng không là độc ác, vì đó là qui luật sinh tồn.
Nhưng, khi loài người giết nhau để
cướp giật lẽ sống, tranh đoạt nhau để mưu sinh, chúng ta cảm thấy con người độc
ác. Tại sao ?
Đó chỉ vì con người tự cho mình
là một sinh vật có khối óc thông mình, có một tình cảm tế nhị hơn muôn loài vạn
vật. Lẽ ra chúng ta phải dùng khối óc ấy, tình cảm ấy để thương yêu đùm bọc lấy
nhau, tổ chức một cuộc sống dựa trên tinh thần tương thân tương trợ, thì chúng
ta lại dùng sự thông minh hiểu biết của chúng ta để chém giết lẫn nhau, làm hại
lẫn nhau. Đó chính là sự độc ác mà loài người nói đến. Bộ óc con người càng
khôn ngoan thì trạng thái độc ác của xã hội loài người càng khốc liệt.
Đem hai cuộc chiến tranh làm ví dụ
:
Ngày xưa tuy con người cổ lỗ, dã
man, song họ giết nhau chỉ bằng gậy gộ, tầm sát hại không bao nhiêu. Ngày nay
chúng ta văn minh hơn, chế ra tàu bay, bom đạn, một tiếng nổ có thể giết hàng
loạt người. Như vậy, cái độc ác của loài người không còn nằm trong qui luật
sinh diệt của thiên nhiên, mà nằm trong trạng thái tiến triển của khối óc.
Không phải đến ngày nay chúng ta
mới thấy yếu tố độc ác của con người nẩy sinh do khối óc mưu đồ việc tranh đoạt
mà chính người xưa cũng đã nhận thấy điều đó. Cho nên, họ đã phản ảnh qua ca
dao :
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho
cùng.
Nếu sự giả dối của con người diễn
biến qua thiên hình vạn trạng, thì lòng độc ác con người cũng phức tạp vô cùng,
không phải chỉ đóng khung trong hành động chém giết, mà nó rải rác bàng bạc
trong mọi lãnh vực của cuộc sống.
Ở đây chúng ta thử soát xét qua một
số ca dao của người bình dân thời xưa để chứng minh lòng độc ác con người qua mọi
lãnh vực ấy.
Trước hết, trong lãnh vực tình
yêu, chúng ta thấy :
Con cua anh không sợ, anh sợ con
còng,
Người du côn anh không sợ, anh sợ
gái hai lòng hại anh.
Lòng độc ác con người không phải
lúc nào cũng biểu tượng bằng hung dữ, đôi khi nó ẩn nấp trong những cử chỉ dịu
dàng, lả lướt, êm ả, mà con người không sao đề phòng được. Truyện Kiều, Nguyễn
Du diễn tả cái độc ác của Hoạn-Thư trong tính chất ghen tương chính là cái độc
ác của trường hợp này. Người bình dân tuy hiền lành, chất phác, song không phải
vì hiền lành chất phác mà tâm tư họ không tìm thấy những trạng thái độc ác như
vậy :
Anh thấy em nhan sắc, anh bắt
rùng mình,
Nổi xung gan thì có, thuận nhơn
tình thì không.
Thì rõ ràng họ đã có một nhận xét
tinh vi về lòng dạ con người. Sự độc ác không thể ẩn núp trong cái đẹp mỹ miều
mà làm họ mù quáng được. Ngày nay chúng ta khám phá ra những tư tưởng lạ, như :
Hồng nào hồng chẳng có gai.
Hoặc : Một hai nghiêng nước
nghiêng thành,
Sắc đành đòi một, tài đành họa
hai. (Kiều)
Mà chúng ta cho là mới mẻ, thì
chính là người bình dân thời xưa đã tìm thấy rồi.
Lòng độc ác của con người có lúc
lại ẩn núp trong cái vỏ đạo đức, mà người bình dân đã khám phá ra được, như :
Tiếng đồn cha mẹ anh hiền,
Cắn cơm không bể, cắn tiền bể
hai.
Hoặc : Ngoài miệng thì niệm
Nam-mô,
Trong lòng thì chứa một bồ dao
găm.
Những tính xấu có lúc lại liên kết
với nhau theo trình độ khôn ngoan của bộ óc con người, ví như trên đây là trường
hợp sự độc ác liên kết với sự giả dối, lừa gạt. Cũng như :
Đi lên đi xuống bờ dừa,
Lấy ai có chửa, đổ thừa cho tôi !
Chúng ta không thể nào kể hết những
trạng thái ác độc của con người khi nó uốn nắn theo trí khôn hòa vào lẽ sống.
Để kết luận, chúng ta có tể tóm
lược một cách đại khái là dù tính cách độc ác thế nào cũng đều phát xuất nơi
lòng vị kỷ của con người mà ra. Chính lẽ sống con người đã tạo nên nó và biến
nó thành sự mâu thuẫn giữa con người và con người.
4. THAM LAM
Tính tham lam của con người cũng
do lòng vị kỷ mà có. Nếu không vị kỷ thì chẳng cần tham lam làm gì ! Cuộc sống
loài người càng văn minh tiến bộ, lòng vị kỷ càng nhiều. Đáng lẽ phải hưởng thụ
theo mức sống bình thường, con người lại đòi hỏi một sự hưởng thụ vượt ngoài khả
năng cung cầu giữa con người và cuộc sống. Chúng ta cứ tưởng trí óc con người
đem đến cho đời sống con người những phương tiện dồi dào thì lòng vị kỷ con người
sẽ giảm thiểu, và ý thức tham lam cũng nhờ đó mà hủy diệt dần.
Nhưng không, nếu con người đã có
trí khôn, biến cải xã hội, thì trí không con người cũng lại thúc đẩy con người
tìm kiếm những mục tiêu hưởng thụ tuyệt đỉnh, mà mức tham vọng của hưởng thụ chẳng
bao giờ được thỏa mãn.
Thế giới loài người từ lúc sơ khởi
đến nay trải qua một lớp thời gian dày đặc, trong đó bộ óc con người đã kiến tạo
lịch sử xã hội, đưa xã hội loài người từ hoang sơ cổ lỗ đến nếp sống văn minh.
Tuy nhiên, trên dòng lịch sử tiến bộ của loài người vẫn nằm trong cái vòng lẩn
quẩn.
Trở về với người xưa, chúng ta thấy
mặc dù thế giới hoang sơ của họ không có gì văn minh, song lòng tham vọng của họ
không quá quắt như chúng ta ngày nay. Cho nên, lòng tham của con người đi đôi với
đà tiến triển của khối óc, mà mỗi thời tính chất mỗi khác.
Dù vậy, bất kỳ ở thế hệ nào, thời
gian nào, tính tham lam của con người cũng là trạng thái gây mâu thuẫn trong lẽ
sống giữa con người và con người.
Người bình dân thời xưa cũng đã
thống trách tính chất tham lam của con người qua các câu ca dao, như :
Một nhà hai chủ không hòa
Hai vua một nước ắt là không yên.
Quyền lợi của con người xung đột
khởi nguồn từ tham vọng, và tham vọng đã đưa con người vào đường xấu xa, mất cả
nhân tính. Ví dụ :
Chim quyên nó đậu bụi riềng,
Dẫu bà con ruột không tiền cũng
xa !
Lòng tham vọng xuất phát từ ý thức
vị kỷ. Đã vị kỷ thì không còn biết nghĩ đến những thiệt thòi, đau đớn của kẻ
khác. Cho nên có những hành động sau đây, chúng ta cũng chẳng lấy gì làm lạ.
Thôi thôi, buông áo em ra,
Đặng em đi bán kẻo hoa em tàn.
Có nên thì nói rằng nên,
Chẳng nên sao để đấy quên đây đừng.
Làm chi cho dạ ngập ngừng,
Đã có cà cuống thì đừng hạt tiêu.
Làm sao bảo họ dừng được khi lòng
tham thúc giục họ phải chiếm đoạt để thụ hưởng, bất chấp những thiệt thòi của kẻ
khác.
Nhưng nếu lòng giả dối, độc ác của
con người phát hiện bằng nhiều hình thái thì lòng tham vọng của con người cũng
chẳng phải đóng khuôn vào một bộ mặt nào nhất định. Nó cũng biến
hóa thiên hình vạn trạng mà người bình dân thời xưa cũng đã cho chúng ta thấy :
Giàu sang nhiều kẻ đến nhà,
Khó khăn đến phải ruột rà xa
nhau.
Anh em thậm thật là hiền,
Bởi một đồng tiền làm mất lòng
nhau.
Tham thanh chuộng lạ tham thanh,
Chê đây quán nát lều tranh không
ngồi.
Lòng tham con người quấy động cuộc
sống xã hội, gây mâu thuẫn giữa con người và con người, khiến họ bất mãn, chống
đối :
Chồng ăn chả, vợ ăn nem,
Đứa tớ có thèm mua thịt mà ăn.
Chồng đánh bạc, vợ đánh bài,
Chồng hai ba vợ, vợ hai ba chồng
!
Từ ý thức chống đối, người bình
dân đã cho tham vọng con người là cái gì xấu xa, nên họ châm biếm :
Của chua ai thấy chẳng thèm,
Em cho chị mượn chồng em ít ngày,
Chồng em nào phải trâu cày,
Mà cho chị mượn cả ngày lẫn đêm !
Chửa quen đi lại cho quen,
Tuy rằng cửa đóng mà then không
cài.
Kẻ khinh người trọng vãng lai,
Song le cũng chửa có ai bằng
lòng.
Thói đời chuộng của, chuộng công,
Nào ai có chuộng người không bao
giờ.
Đĩ dại làm hại thằng tù,
Nó cho cái kẹo, nó cù cả đêm.
Mọi ý thức vị kỷ đều gieo vào cuộc
sống loài người những mâu thuẫn. Nhưng vì xã hội thời xưa, trí khôn con người
chưa đạt đến chỗ tinh vi, xảo quyệt như ngày nay, nên trạng thái mâu thuẫn chưa
mấy sâu sắc.
5. DUA NỊNH
Dua nịnh cũng xuất phát từ ý thức
vị kỷ mà thời nào cũng có. Nếu giả dối chỉ mới là trạng thái thông thường trong
lãnh vực xảo quyệt thì dua nịnh chính là hành động tế nhị của óc con người
khuynh đảo mọi trí khôn của kẻ khác.
Trong lãnh vực này, người dua nịnh
phải là kẻ có một trình độ tâm lý cao hơn, biết lợi dụng sở thích của kẻ khác để
làm cho họ thỏa mãn.
Kẻ dua nịnh bao giờ cũng bám vào
những người có quyền hành, thế lực để mưu cầu lợi riêng. Vì vậy, người bình
dân, lớp người nhỏ bé nhất trong mọi giai cấp xã hội rất ghét những phường ấy.
Trong ca dao Việt-nam, chúng ta
thấy có rất nhiều câu khinh bỉ. Ví dụ :
Dạ trước mặt, trổ c… sau lưng !
Hoặc : Khi chưa câu, lụy
trăm đàng,
Được rồi thì lại phũ phàng làm
ngơ.
Tính dua nịnh của con người nếu
làm cho kẻ được dua nịnh ưa thích thì trái lại người ngoài cho đó là một ý thức
đê hèn. Vì vậy, dua nịnh cũng là trạng thái sinh mâu thuẫn giữa con người và
con người trong lẽ sống.
6. PHẢN PHÚC
Con người từ dua nịnh đi đến phản
phúc. Kẻ phản phúc là kẻ vong ân, bội nghĩa, chối bỏ lòng chung thủy mà tình cảm
con người cho đó là trái đạo.
Sự liên hệ giữa con người trong
cuộc sống đem đến những tình thương, những luyến ái, những dây giao cảm. Con
người không muốn những yếu tố thiêng liêng ấy bị ruồng rẫy, chối bỏ, khiến cuộc
sống loài người trở thành khô khan, vô vị.
Đời người không những chỉ mưu cầu
cho lẽ sống vật chất, mà con phải chứa đựng những tình cảm về tinh thần. Bởi vậy,
trong lúc chúng ta đem bộ óc kiến tạo xã hội, tìm hiểu cơ năng vũ trụ, sáng chế
những phương tiện phục vụ cho cơm áo, thì chúng ta lại cũng đem bộ óc đi tìm ý
sống, đem tình cảm rải vào dòng đời, đúc kết thành những chuỗi tâm tư, kiến tạo
cho cuộc sống một ngôi nhà tư tưởng. Hai việc làm ấy đi song song với nhau
không thể thiếu một.
Tuy nhiên những mâu thuẫn trong
cuộc sống loài người luôn luôn là nguồn gốc đem đến cho con người những xáo trộn.
Nếu con người cần đem trí khôn để kiến tạo xã hội thì con người vì quyền lợi cá
nhân lại đem trí khôn phá phách những sự nghiệp do chính mình đã tác thành. Nếu
con người cần đem tâm tư gieo vào lòng đời đúc thành một ngôi nhà lý tưởng của
nhân loại, bảo vệ những mối giao cảm về tinh thần, thì chính con người lại vì
quyền lợi cá nhân dứt bỏ, phá phách ngôi nhà ấy. Sự mâu thuẫn giữa tác thành và
phá phách luôn luôn chống đối nhau. Cho nên, nếu đứng về phương diện cá nhân
thì những mâu thuẫn ấy là tất yếu, không có gì đáng nói, nhưng nếu đứng về
phương diện tập thể trong xã hội, thì những hành động cá nhân, vị kỷ thật đáng
trách. Con người khác với muôn vật, không phải chỉ biết có cá nhân, mà trong cá
nhân phải có tập thể, trong tinh thần tự tôn phải có tinh thần bảo vệ xã hội.
Chính vì quan niệm như vậy, người
bình dân thời xưa đã chống lại mọi tâm tư và hành động phản phúc, chống lại những
kẻ đã vì quyền lợi cá nhân dứt bỏ những cái gì thiêng liêng, cao quý mà đối với
tình cảm con người cần phải được bảo tồn trong lẽ sống. Cái thiêng liêng cao
quí ấy là tình thương đồng loại.
Những kẻ thiếu tình thương đều bị
lớp người bình dân thống trách, như :
Uổng công xúc tép nuôi cò,
Còn ăn mau lớn, cò dò cò bay !
Lẽ sống của loài người, nếu bứt bỏ
tình thương thì xã hội sẽ trống rỗng. Nếu cơm áo đã nuôi dưỡng thể xác con người,
thì tình thương, sự chung thủy, chính là những món ăn tinh thần đem đến cho
loài người ý nghĩa thanh cao của cuộc sống.
Ai đã sống trong nghèo nàn, khổ
nhục đều thấy rõ nguồn an ủi của tình thương. Người bình dân rất cần tình
thương để mà sống, để chiến đấu với mọi khổ cực của vật chất. Cho nên họ rất
ghét những ý thức phản bội, không chung thủy.
Tâm tư của họ đã giãi bày qua những
câu ca dao như :
Xưa kia ăn những của chồng,
Kiếm được một đống, đủng đỉnh ăn
riêng.
Dây nhờ cây, dây lên cao,
Lên cao dây lại cười sao cây lùn.
Từ ý thức bất mãn những kẻ phản
phúc, họ đi đến ý thức phản đối, thóa mạ, như :
Trách người quân tử vô danh,
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.
Tuy rằng ăn ở chùa này,
Tiền lưng gạo bị cúng thầy chùa
kia.
Chưa được, khấn bà một trâu,
Được rồi thì có trâu đâu cho bà.
Ý thức bất mãn của người bình dân
đối với những kẻ phản phúc, không chung thủy, chính là ý thức bảo vệ tình
thương, bảo vệ đạo nghĩa. Đạo nghĩa của họ là đạo nghĩa của con người cần phải
có trong phạm vi tình cảm. Bởi vậy, chúng ta không lấy làm lạ, khi tâm hồn họ
có những hằn học qua các câu ca dao như :
Mồ cha con bướm trắng,
Mẹ đẻ con ong xanh !
Khen ai uốn lưỡi cho anh nói càn.
Mồ cha con bướm trắng,
Mẹ đẻ con ong vàng,
Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói
chua.
Công anh bắt tép nuôi cò,
Bây giờ cò lớn, cò dò lên cây.
Biết rằng nông nỗi thế này,
Thì thà đập chết những ngày cò
con.
Có tiền vợ vợ chồng chồng,
Hết tiền thì lại chồng đông vợ
đoài.
Mồ cha con bướm khôn ngoan,
Hoa thơm bướm đậu, hoa tàn bướm
bay.
Tóm lại, ý thức mâu thuẫn giữa
con người và con người phát xuất từ trạng thái vị kỷ. Lòng vị kỷ của con người
biến sinh mọi tính xấu trong đời sống xã hội mà chúng ta vừa lược khảo trên
đây. Những tính xấu ấy khi pha trộn vào trình độ xảo quyệt của khối óc, con người
tiến dần đến chỗ tinh vi, phát hiện thiên hình vạn trạng.
Qua bài khảo luận trên, chúng ta
đã thấy người bình dân cực lực phản đối mọi ý thức vị kỷ. Họ cố đem lại cuộc sống
xã hội loài người một trạng thái thăng bằng, dùng tình thương làm nòng cốt cho
lẽ sống. Cho nên tất cả những gì chênh lệch ra ngoài, làm tổn thương đến tình cảm
con người đều bị họ đả kích, chê bai, châm biếm. Mà đó cũng chính là nhân sinh
quan của họ.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI
1. Ai lấy, thì lấy giúp.
Ai không lấy, thì úp một nơi.
Ai lấy, thì lấy chơi,
Ai không lấy, thì phơi đầu hàng,
2. Ai mà nói dối cùng chồng,
Thì trời giáng hạ cây hồng bờ ao.
3. Ai mà nói dối cùng ai,
Thì trời giáng hạ cây khoai giữa
đồng.
4. Ai đem con sáo qua sông,
Cho nên con sáo sổ lồng bay xa.
5. Ai đưa em đến chốn này,
Bên kia thì núi bên này thì sông.
6. Ai trồng cây sen cho nàng
ăn quả,
Ai trông cây vả cho nàng hái hoa.
7. Ai rằng ta chẳng khôn
này,
Đến khi nói dại, mặt ngay cán
tàn.
8. Ai mà phụ nghĩa quên
công,
Thì đeo trăm cánh hoa hồng không
thơm.
9. Ai ơi chớ lấy học trò,
Dài lưng tốn vải ăn no lại nằm.
Dài lưng đã có võng điều.
Tốn vải đã có áo triều vua ban.
10. Ai có chồng, nói chồng đừng
sợ.
Ai có vợ nói vợ đừng ghen,
Tới đây hò hát một đôi phen.
Rạng ngày mai ai về nhà nấy,
Khá dễ ngọn đèn hai tim,
11. Anh tưởng chị có tiền đầy
của,
Chị tưởng anh có bạc đầy cong.
12. Anh như tán tía, tàn
vàng,
Em như mảnh chiếu rách nhà hàng bỏ
quên.
Lạy trời cho cả gió lên,
Cho manh chiếu rách lên trên tàn
vàng.
13. Anh về rẫy vợ anh ra,
Con anh thợ dại thì đà có tôi.
Anh đã rẫy vợ anh rồi,
Con anh thơ dại, mặc trời với
anh.
14. Anh về rẫy vợ anh ra,
Công nợ em trả, mẹ già em nuôi.
Anh đà rẫy vợ anh rồi,
Công nợ anh trả, anh nuôi mẹ già,
15. Anh chê thuyền thúng chẳng
đi,
Anh đi thuyền ván có khi rập rềnh,
Ba chìm bảy nổi lênh đênh.
Em chê thuyền ván chẳng đi
Em đi thuyền thúng có khi rập rềnh,
Có khi đổ ngã, đổ nghiêng.
16. Áo đen không lẽ đen
hoài,
Mưa lâu cũng nhạt, nắng hoài cũng
phai.
17. Áo mặc chẳng qua khỏi đầu,
Làm sao mày cũng chẳng hầu khỏi
ta.
18. Áo vá vai vợ ai không biết,
Áo vá quàng chí quyết vợ anh.
19. Ăn sung ngồi gốc cây
sung,
Lấy anh thì lấy, nằm chung không
nằm.
20. Ăn trầu thì giở trầu ra,
Một là thuốc độc, hai là mặn vôi.
21. Ba cô mà đứng thong
dong,
Tôi lấy cô giữa mất lòng cô bên.
22. Ba đồng một mớ đàn ông.
Đem về mà bỏ vào lồng cho kiến nó
tha.
Ba trăm một mụ đàn bà,
Đem về mà trải chiếu hoa cho ngồi.
23. Bán hàng ăn những chũm
cau,
Chồng con có biết cơ màu này
chăng ?
24. Bánh trăng nhân đường
ngon thật là ngon.
Đến cơn đánh đòn đau thật là đau.
25. Bà chết thì thiệt thân
bà,
Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.
26. Bà khoe con bà tốt,
Đến tháng mười một bà xem con bà.
27. Bao nhiêu trai tráng giữa
làng,
Ra đây mà vật có nàng đứng coi.
28. Bao giờ trạch đẻ ngọn
đa,
Sáo để dưới nước thì ta lấy mình,
Bao giờ cây cải làm đình,
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
29. Bao giờ cho chuối có
cành,
Cho sung có nụ, cho hành có hoa,
Bao giờ trạch đẻ ngọn đa.
Sáo đẻ dưới nước thì ta lấy mình.
30. Bao giờ rau cải làm
đình,
Gỗ lim thái ghém thì mình lấy ta.
31. Bắc thang lên hỏi cung
mây,
Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời ?
Cuội nghe thấy nói Cuội cười,
Bởi hay nói dối, phải ngồi gốc
cây.
32. Bắp non mà nướng lửa lò,
Đố ai ve đặng con đò Vàm Nao.
33. Bấy lâu lên ngọn sông
Tân,
Muốn tìm cá nước phải lần trời
mưa.
Tiếc công anh đắp đập coi bờ,
Để ai quảy đó mang lờ đến đơm.
34. Bí đao non không ngon lại
nấu,
Thiếp xa chàng tại xấu mai dong.
Ngó vô cửa sổ năm song,
Thấy đôi đũa ngọc nằm trong mâm
vàng,
Tại cha tại mẹ phía chàng,
Cho nên đũa ngọc chén vàng xa
nhau.
35. Biết tay ăn mặn thì chừa,
Đừng trêu mẹ mướp mà sơ có ngày.
36. Biết rằng chồng ai vợ
ai,
Bao giờ ra bảng, ra bài sẽ hay.
37. Biết nhau tự ấy mà thôi,
Bây giờ kẻ ngược, người xuôi mặc
lòng.
38. Bốn con ngồi bốn chân
giường,
Mẹ ơi ! mẹ hỡi ! mẹ thương con
nào ?
Mẹ thương con bé mẹ thay !
Thương thì thương vậy chẳng tài
trưởng nam.
Trưởng nam nào có gì đâu,
Một trăm cái giỗ đổ đầu trưởng
nam.
39. Bực mình chẳng muốn nói
ra,
Muốn đi ăn cỗ chẳng ma nào mời.
40. Buồn trông chếch chếch
sao mai,
Sao ơi ! sao hỡi nhớ ai sao mờ.
Buồn trông con nhện vương tơ,
Nhện ơi, nhện hỡi mầy chờ mối ai
?
41. Bớ chiếc thuyền lan !
Khoan khoan ngớt mái
Đặng đó đây tỏ một đôi lời phải
trái nghe chơi.
42. Cá rô tháng tám, chẳng
dám bảo ai,
Cá rô tháng hai, bảo ai thì bảo.
43. Cách sông nên phải lụy
thuyền,
Những như đường liền ai phải lụy
ai.
44. Cái cò, cái vạc, cái
nông.
Sao mầy giẫm lúa nhà ông hỡi cò ?
Không, không, tôi đứng bên bờ,
Mẹ con cái vạc đổ ngờ cho tôi.
Chẳng tin thì ông đi đôi.
Mẹ con nhà nó còn ngồi đây kia.
45. Cái cò mầy mổ cái tôm,
Cái tôm quặp lại, lại ôm cái cò.
Cái cò mầy mổ cái trai,
Cái trai quặp lại, lại nhai cái
cò.
46. Cái bống là cái bống
bang,
Con đi lấy sàng cho mẹ đổ khoai.
Con ăn một, mẹ ăn hai,
Con đi bóc muối thì khoai chẳng
còn.
47. Cái trai mầy há miệng
ra,
Cái cò nó mổ muốn tha thịt mày.
Cái cò mầy mổ cái trai.
Cái trai quặp lại, muốn nhai thịt
cò.
48. Cái cốc lặn lội qua
ngòi,
Ta chưa lấy nó, nó đòi lấy ta.
49. Cái cò mầy đi ăn đêm,
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống
ao.
Ông ơi, ông vớt tôi nao,
Tôi có lòng nào, ông hãy xáo
măng.
Có xáo thì xáo nước trong,
Đừng xáo nước đục, đau lòng cò
con.
50. Cao chê ngổng, thấp chê
lùn,
Gầy chê xương sống, xương sườn
lòi ra.
51. Cậy tài cậy khéo, khoe
khôn.
Đừng cậy có của đa ngôn quá lời.
Của thời mặc của em ơi !
Đừng cậy có của coi người mà
khinh.
52. Có ăn thiếp ở cùng
chàng.
Không ăn thiếp tếch, cơ hàn thiếp
lui.
53. Có rồi tất phải đuổi ra,
Lẽ thường trời đất lẵn là chẳng
sai.
54. Có yêu thời nói rằng
yêu,
Chẳng yêu thời nói một điều cho
xong.
Làm chi dở đục, dở trong,
Lờ đờ nước bến cho lòng chẳng
thương.
55. Có lá lốt tình phụ xương
sông,
Có chùa bên bắc bỏ miếu bên đông
tồi tàn.
56. Có ai ta cũng thế này,
Không ai ta cũng như ngày có ai.
57. Có trăng tình phụ lồng
đèn,
Ba mươi mồng một đi tìm lấy
trăng,
58. Có tiền vợ vợ chồng chồng,
Hết tiền thì lại chồng đông vợ
đoài
59. Có trăng tình phụ lồng
đèn,
Tuy rằng tốt đẹp cũng ra chồng
người.
60. Có người mặt nhọ như
niêu,
Cái răng khấp khểnh chồng yêu lạ
lùng.
61. Con cò, con vạc, con
nông,
Cùng ăn một đồng nói chuyện giăng
ca.
Muối kia đổ ruột con gà,
Mẹ mình không xót bằng ta xót
mình.
62. Con cò, con vạc, con
nông,
Ba con cùng béo vặt lông con nào.
Vặt lông con vạc cho tao,
Hành răm nước mắm bỏ vào mà
thuôn.
63. Con đò bậu chớ nghi ngờ,
Bậu đưa khách bậu, qua chờ bạn
qua.
64. Con ngồi con khóc nỉ
non,
Mẹ giận mẹ đạp, con bon đầu hè.
Có đánh thì đánh vọt tre,
Chớ đánh vọt nứa, nữa què chân
con.
65. Con đĩ đồng đanh nấu
canh rau dừa.
Chồng đánh chẳng chừa,
Đi chợ thì giữ cùi dừa bánh đa.
66. Con mèo nằm bồ lúa
vinh râu,
Thấy con chuột chạy ngóc đầu
kêu ngao.
67. Con mẹ có thương mẹ
đâu,
Để cho chàng rể nàng dâu
thương cùng.
68. Con cậu, cậu nuôi
thầy cho,
Cháu cậu, cậu bắt chăn bò
chăn trâu.
69. Con thì giống mẹ
giống cha,
Con đâu lại giống lân la xóm
giềng.
70. Con cò bay lả bay la,
Bay ra cửa bể bay về
Đồng-đăng,
Đồng-đăng có phố Kỳ-lừa,
Có nàng Tô-thị có chùa
Tam-thanh.
Ai lên xứ Lạng cùng anh,
Tiếc công bác mẹ sinh thành
ra em.
Tay cầm bầu rượu nắm nem,
Mảng vui quên hết lời em dặn
dò.
71. Còn tiền còn bạc,
còn vợ còn chồng,
Hết tiền hết bạc, tơ hồng
hết xe.
72. Công anh gánh gạch xây
thành.
Thành giữ cho nước, công anh
mấy đồng.
73. Cú lại chê vọ rằng
hôi.
Giẻ cùi chê khách dài đuôi
vật vờ.
74. Của trời, trời lại
lấy đi,
Giương hai mắt ếch làm chi
được trời.
75. Cũng thì con mẹ, con
cha,
Cành cao vun xới cành la bỏ
liều.
76. Cũng thì con mẹ con
cha,
Con thì chín rưỡi, con ba mươi
đồng.
77. Chẳng thương, chẳng
nhớ thì đừng,
Lại còn đem đổ nước gừng cho
cay.
78. Chẳng được miếng
thịt miếng xôi,
Cũng được lời nói cho nguôi
tấm lòng.
79. Chẳng thèm ăn gỏi cá
mè,
Chẳng thèm chơi với những bè
tiểu nhân.
80. Chẳng thương chẳng
nhớ thì thôi
Cũng được lời nói cho nguôi
tấm lòng
81. Chẳng ưa dưa khú bầu
già,
Trước còn đằm thắm, sau ra
nhạt nhùng.
82. Chẳng thương chẳng
nhớ thì thôi,
Lại còn đem đổ nước vôi cho
nồng.
83. Chẳng nên gia thất
thì về,
Ở làm chi nữa chúng chê bạn
cười.
84. Chân mình những lấm
(cứt) mê mê,
Lại cầm bó đuốc mà vê chân
người.
85. Chê chồng chẳng bõ
chồng chê,
Chê chồng thì ít, chồng chê thì
nhiều.
86. Chê chồng, rồi lại chồng
chê,
Tôi ăn cho béo, tôi về nhà
tôi.
87. Chết tôi chịu
Mình đừng bận bịu
Bớ điệu chung tình !
Nhạn bay cao khó bắn,
Cá ở ao quỳnh khó câu,
Cá ở ao quỳnh, cá ở cũng
lâu,
Mồi ngon thả xuống lâu lâu
cũng chìm.
88. Chì khoe chì nặng hơn
đồng,
Sao chì chẳng đúc nên cồng
nên chuông ?
89. Chỉ đâu mà buộc ngang
trời,
Thuốc đâu mà buộc con người
lẳng lơ.
90. Chim sa, cá nhảy, chớ
chơi,
Những người lông bụng chớ
chơi bạn cùng.
91. Chim khôn ai nỡ bắn,
Người khôn ai nỡ nói nặng.
92. Chim khôn chưa bắt đã
bay,
Người khôn chưa nắm cổ tay đã
cười.
93. Chim trời, gà cú
không chơi,
Những người lông bụng chớ
chơi bạn cùng
Tiếc công vun quén cây tùng,
Săm soi trên ngọn, gốc sùng
không hay.
94. Chị giàu quần lĩnh
hoa chanh,
Chúng em khốn khó, quấn quanh
lụa đào.
Chị giàu chị đánh cá ao,
Chúng em khốn khó đi trao cá
mè.
Chị giàu chị lấy ông nghè,
Chúng em khốn khó đi vào lấy
vua.
95. Chị thời quần lĩnh
hoa chanh,
Chúng em tôi khó quấn quanh
lụa điều.
96. Chị lớn, chị lấy
đằng đầu.
Phận em bé mọn, em hầu đằng
trôn.
- Con nầy nó bé, nó khôn,
Đằng đầu trơ trẽn, đằng trôn
có màu.
97. Chị gì, chị bị cứt
trâu,
Chị ra đầu cầu, chị ỉa chị
ăn.
98. Chị gì bới tóc cánh
tiên,
Chồng chị đi cưới một thiên
cá mòi,
Không tin dở hộp ra coi
Rau răm ở dưới, cá mòi ở
trên.
99. Chị kia có quan tiền
tài,
Có bị gạo nặng coi ai ra gì.
100. Chị em, nắm nem ba
đồng,
Muốn ăn thì trả sáu đồng mà
ăn.
101. Chị chẳng muốn cho
em vàng đùi,
Em đi mua nghệ em bôi cho vàng.
102. Chổi cùn cắp nách
khăng khăng,
Hễ ai hỏi đến thì văng nghìn
vàng.
103. Chổi tiên quét sạch
chùa vàng,
Sửa sang ông phật cho nàng đi
tu.
104. Chồng giận thì vợ
bớt lời,
Chồng giận, vợ giận thì
giùi nó quăng.
105. Chồng chung chồng
chạ
Ai khéo hầu hạ thì được
chồng riêng.
106. Chớ thấy áo rách
mà cười,
Những giống gà nòi lông nó
lơ thơ.
Chớ thấy áo dài mà sang,
Bởi không áo ngắn phải mang
áo dài.
107. Chuối non trổ phải
mùa đông,
Biết rằng có chắc hay không
mà chờ.
108. Chuông khánh còn
chẳng ăn ai,
Huống là mảnh chỉnh ném
ngoài bụi tre,
Chuông khánh còn chửa ăn chè,
Huống chi mảnh chĩnh rò rè
ăn xôi.
109. Chưa đánh được người
mặt đỏ như vang,
Đánh được người mặt vàng như
nghệ.
110. Chưa mua thì nói
rằng hèn,
Đến khi mua được, vừa khen
vừa mừng.
111. Chơi hoa cho biết mùi
hoa,
Khi tươi thì hái, khi tàn thì
quăng.
112. Dã tràng xe cát
luống công,
Tò vò nuôi nhện há mong cậy
chờ.
113. Dao vàng bỏ đãy kim
nhung,
Biết rằng quân tử có dùng ta
chăng ?
114. Dầu ai gieo tiếng
ngọc,
Dầu ai đọc lời vàng.
Trớ trêu khúc
Phụng-cầu-hoàng,
Lòng em không giống như nàng
Văn Quân.
115. Dễ ai đội áo qua
cầu,
Sao không nghĩ trước nghĩ sau
cho tày.
116. Dù chàng năm thiếp
bảy thê,
Cũng không tránh khỏi gái sề
này đâu.
117. Đàn ông chơi với đàn
bà,
Một trăm gánh đồng đúc chẳng
nên chuông
Đàn bà chơi với đàn bà,
Một đồng tiền gián đúc ra
chuông kềnh.
118. Đàn ông sâu sắc nước
đời,
Đàn bà cạn sớt như cơi ăn
trầu.
119. Đàn ông năm bảy đàn
ông,
Vợ dặn mua hồng lại mua quít
non.
Đàn bà năm bảy đàn bà,
Chồng dặn mua gà lại mua
quốc con.
120. Đàn đâu mà khảy tai
trâu,
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém
ruồi.
121. Đắt hàng gặp ả,
cùng anh,
Ế hàng gặp những thong manh
quáng gà.
122. Đầu gành có con ba
ba,
Kẻ kêu con trạnh, người kêu
con rùa.
123. Đấy sông, đây cũng
mây liền,
Đấy có một tiền đây cũng
sáu mươi.
124. Đấy vàng đây cũng
đồng đen,
Đấy hoa thiên lý, đây sen nhị
hồ.
Đấy em như tượng mới tô,
Đây anh như người ngọc họa đồ
trong tranh.
125. Đấy quan đây cũng
chín tiền,
Đấy khoa văn giáp, đây điền
có chuôi.
126. Đèn ai leo lét bên
bờ.
Tưởng đèn người nghĩa ai ngờ
đèn ma.
127. Đèn nhà ai rạng nhà
ấy,
Khách đi qua đường biết đấy
là đâu.
128. Đèn trời, trời sáng
bốn phương,
Đèn tôi sáng tỏ đầu giường
nhà tôi.
129. Đèn treo trong quán
tỏ rạng bờ kinh,
Em có thương anh thì nói
thiệt tình,
Để anh lên xuống một mình bơ
vơ.
130. Đêm qua mận mới hỏi
đào :
Vườn xuân đã có ai vào hái
hoa ?
Bông đào chênh chếch nở ra,
Dang tay muốn hái, sợ nhà có
cây.
131. Đêm qua ngỏ cửa chờ
ai,
Đêm nay cửa đóng then gài
khăng khăng.
132. Đêm qua chớp bể mưa
nguồn,
Hỏi người tri thức có buồn
hay chăng ?
133. Đêm qua chung bóng
chung hơi,
Bây giờ kẻ ngược người xuôi
mặc lòng.
134. Đêm khuya thiếp mới
hỏi chàng,
Cau khô ăn với trầu vàng xứng
không ?
135. Đêm trăng thanh anh
mới hỏi nàng :
Tre non đủ lá đan sàng nên
chăng ?
- Đan sàng, thiếp cũng xin
vâng,
Tre vừa đủ lá non chăng hỡi
chàng.
136. Đến đây dầu đói giả
no,
Dẫu khôn giả dại đặng dò ý
em.
137. Đi đâu mà chẳng nằm
co,
Để cho nó đút sừng bò vào
sau.
138. Đò sao đò có không
đưa ?
Tại người đi sớm về trưa
không chừng.
139. Đôi ta làm bạn thong
dong,
Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm
vàng.
Bởi chưng cha mẹ nói ngang,
Để cho mâm ngọc đũa vàng
cách xa.
140. Đôi ta như thể con
dao,
Năng liếc thì sắc, năng chào
thì quen.
141. Đừng chê thiếp vụng
thiếp về,
Có tiền thiếp cũng biết thuê
mướn người.
142. Được bạn thì lại
bỏ bè,
Được con trâu trậm, chê me
không cày.
143. Em chớ thấy anh bé
mà sầu,
Kìa con ong bao nhiêu tuổi nó
châm bầu, bầu thui.
144. Em đừng nói vậy ngu
si,
Bịt chơi cho biết, để họ khi
bò rừng.
145. Em về hỏi mẹ cùng
cha,
Có cho em lấy chồng xa hay
đừng.
146. Em là con gái có
chồng,
Mồ cha những đứa đem lòng nọ
kia.
147. Gái nầy là gái
chẳng vừa,
Giá bán vải tấm, gái lừa
vải con.
Gái nầy là gái chả non,
Gái lường Chợ Quán, gái buôn
Chợ Cầu.
148. Già thì già tóc
già tai,
Già răng già lợi đồ chơi
không già.
149. Già rồi lận cận bỏ
liều,
Sá chi vú ếch lưng eo sồ sề.
Chẳng ưa cà chín bầu già,
Tuổi đà dư lạp lịch đà qua
niên.
Có trăng nên nỗi phụ đèn,
Chẳng non thể sốt thời liền
biến hơi.
150. Giàu sơn lâm lắm kẻ
tìm đến,
Khó giữa chợ chẳng ma nào
nhìn.
151. Giàu cha giàu mẹ
thì mừng,
Giàu cô, giàu bác thì đừng
có trông.
152. Giàu cha giàu mẹ
thì ham,
Giàu anh giàu chị ai làm nấy
ăn.
153. Giả ơn canh cải nấu
gừng,
Chẳng ăn thì chớ xin đừng
mỉa mai.
154. Giận chồng mà chẳng
bế con,
Cha mầy làm mất cái giòn mẹ
đi.
155. Gió nam non thổi lòn
hang dế,
Tiếng anh học trò mưu kế để đâu ?
- Mưu kế anh để lại nhà,
Ai dè em hỏi anh mà đem theo.
156. Gió bay cầu thấp cầu
cao,
Gió bay cầu nào con chỉ mẹ coi.
157. Gió bên đông, động bên
tây,
Tuy rằng nói đấy, nhưng đây biết
rồi.
158. Gió đưa bông cúc bông
trang,
Bông búp về nàng, bông nở về anh.
159. Giốc bồ thương kẻ ăn
đong,
Có chồng thương kẻ nằm không một
mình.
160. Giường rộng thì ghé
lưng vào,
Nghìn năm ai có tơ hào với ai.
161. Hang hùm ai dám mó tay,
Chuột nào lại dám cắn dây buộc
mèo.
162. Hay xóc dĩa ông mời về,
Gái nầy đang muốn ngứa nghề với
ông.
163. Hãy xin bớt giận làm
lành,
Bắt con rận béo nấu canh rau dền.
164. Hãy còn bán tín bán
nghi,
Chưa đem vô dạ, chưa ghi vô lòng.
165. Hoa thơm, thơm nức cả rừng,
Ong chưa dám đậu, bướm đừng xôn
xao.
166. Hoài lời kẻ nói vô tri,
Một trăm gánh chì đúc chẳng nên
chuông.
167. Học chẳng biết chữ cu,
chữ cò,
Nói những chữ như rồng, như rắn.
168. Họa hổ họa bì nan họa cốt,
Tri nhơn tri diện bất tri tâm.
Ở xa chẳng biết mà lầm,
Bây giờ rõ đặng vàng cầm cũng
buông.
169. Hôm qua anh đến nhà
chơi,
Thấy mẹ vét chảo, thấy cha vét nồi.
Thấy em dựa cột liếm môi,
Anh ngỡ con chó, anh lùi chân ra.
170. Hồng nhan ai kém ai
đâu,
Kẻ xe chỉ thắm, người xe hạt
vàng.
171. Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra bóc trần, ai cũng như ai.
172. Kềnh nghê vui thú kềnh
nghê,
Tép tôm thì lại vui bề tép tôm.
173. Kìa kìa tam tòa đó,
Nọ nọ khám thất đây,
Miệng lằn lưỡi mối, nhiều ngày biết
ai.
174. Kiến bò miệng chén bao
lâu,
Phù du lướt gió, ruồi bu miệng
hùm.
175. Ký mã phùng Bá Nhạc,
Bàng điểu ngộ lam phong.
Qua muốn tường dạ đó đục trong,
Cho hay thuyền bưởi dạ bồng thuyền
quyên.
176. Kim vàng ai nỡ uốn câu,
Người khôn ai nỡ nói nhau nặng lời.
177. Khen ai khéo tạo bình
phong,
Ngoài long lân phượng, trong lòng
gạch vôi.
178. Khi lành quạt giấy cũng
cho,
Khi dữ quạt mo cũng đòi.
179. Khi chưa cầu lụy trăm
đàng,
Được rồi thì lại phũ phàng làm
ngơ.
180. Khi giàu chẳng có đỡ
ai.
Đến khi hoạn nạn chẳng ai đỡ
mình.
181. Khó than, khó thở, lại
khó phân trần,
Tóc không vò tóc rối, ruột không
giần ruột đau.
182. Khó khăn thì chẳng ai
nhìn,
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh
em.
183. Khôn thì ăn cháo, ăn
chè,
Dại thì ăn đếch, ăn đác, ăn gh…
cái l…
184. Khôn ngoan ở đất nhà
bây,
Dù che ngựa cỡi đến đây phải luồn.
185. Khôn ngoan thì bảo rằng
ngoa,
Vụng vại thì bảo ngươi ta rằng đần.
186. Khôn thế gian, làm quan
địa ngục,
Dại thế gian, làm quan thiên trường.
187. Khôn ngoan đối đáp người
ngoài,
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau.
188. Khốn nạn thay nhạn ở với
ruồi,
Tiên ở với cú, người cười với ma.
189. Không thèm ăn gỏi cá
mè,
Không thèm nói với một bè trẻ
ranh.
Không thèm ăn gỏi cá mương,
Không thèm nói với một phường trẻ
ranh.
Không thèm ăn gỏi cá chày,
Không thèm nói với thằng thầy mầy
đâu.
190. Lá khô mà hay treo
ngành,
Giận thì nói vậy sao đành bỏ
nhau.
191. Lác dâm thì lúa cũng
dâm.
Anh nói với em nhiều tiếng thâm
trầm,
Nằm đêm nghĩ lại nát bầm lá gan.
192. Lập vườn trồng nhãn, trồng
hoa,
Thấy mặt anh đó, không biết nhà
anh đâu.
Khi vui : miếng thuốc miếng trầu,
Khi buồn đi mất biết đâu mà tìm.
193. Lấy anh, anh sắm sửa
cho,
Cái bị, cái bát, cái quạt mo đuổi
ruồi.
194. L… rằng l… chẳng sợ ai,
Sợ thằng say rượu đ… dai đau l…
195. Lươn nằm trong lỗ trông
ra,
Thấy trạch đi qua hỏi : « Gì dài
mấy ».
196. Lọ là thét mắng, cặp
rèn,
Một lời xiết cạnh bằng nghìn roi
xong.
197. Lưỡi vò độc quá đuôi
ong,
Xui người tan hợp rứt lòng nghĩa
nhân.
198. Lưỡi không xương nhiều
đường lắt léo,
L… không cạp l… méo làm ba.
199. May mô may chút nữa em
lầm,
Khoai khô xắt lát em tưởng Cao ly
sâm bên Tàu.
200. May hay giải cấu tương
phùng.
Biết người biết mặt, biết lòng
làm sao.
201. Mành treo chiếu rách
cũng treo,
Hương xông nghi ngút, củi dều
cũng xông.
202. Mấy đời sấm trước có
mưa ?
Mấy đời dì ghẻ có ưa con chồng.
203. Mấy đời bánh đúc có
xương,
Mấy đời dì ghẻ có thương con chồng.
204. Mất trâu thì lại tậu
trâu,
Những quân cướp nợ có giàu được
ai.
205. Mẹ để đồ thì mát,
Con để đồ vừa phát, vừa đánh.
206. Mẹ em ra đi, dặn em ở
nhà,
Đừng ra chơi biển mà hà ăn chin.
Ăn chin thì mặc ăn chin,
Em ra chơi biển để cho ghin mẹ thầy.
207. Mẹ nuôi con bằng trời bằng
bể,
Con nuôi mẹ, con kể từng ngày.
208. Mèo khoe mèo dài đuôi,
Chuột rằng nhỏ mình dễ chạy.
209. Mình dối ta mình chửa
có con,
Ta đi qua ngõ thấy con mình bò,
Con mình những trấu cùng tro,
Ta đi xách nước rửa cho con mình.
210. Mình về, ta chẳng cho về,
Cầm tay kéo lại mình thì ở đây.
211. Mình nói dối ta mình chửa
có chồng,
Ta đi qua ngõ mình bồng con ra.
Con mình khéo giống con ta,
Con mình bảy rưỡi con ta ba phần.
212. Mồ cha con bướm trắng,
Đẻ mẹ con ong xanh.
Khen ai uốn lưỡi cho ranh nói
càn,
Mồ cha con bướm trắng,
Đẻ mẹ con ong vàng,
Khen ai uốn lưỡi cho nàng nói
chua.
213. Một người làm xấu cả bọn
mang nhơ,
Một người làm tốt cả bọn được nhờ.
214. Một vũng nước trong, mười
dòng nước đục,
Một trăm người tục, một chục người
thanh,
Biết ai tâm sự gởi mình,
Mua tơ thêu lấy tượng Bình Nguyên
Quân.
215. Một tay đun chín bếp
rơm,
Một tay nạo mướp chị nhường chồng
cho.
216. Một lời nói quan tiền
thúng thóc.
Một lời nói dùi đục cẳng tay.
217. Mới hay giải cấu tương
phùng,
Biết người, biết mặt, biết lòng
làm sao.
Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người ai biết mà đo cho
cùng.
Ai mua dưa hấu biết lòng,
Để tôi xin ngỏ trong lòng tôi ra.
218. Muốn lấy chồng mà chồng
chẳng lấy,
Biết giá chồng đáng mấy mà mua.
219. Mướp đắng đã có mạt
cưa,
Bố bây hay lừa lại gặp mẹ bây.
220. Nào là cá lớn đi đâu,
Để cho cá nhỏ cắn câu thế này ?
221. Nào ai nhắn nhủ mi ra,
Mà mi lại kể con cà, con kê.
222. Năm quan tiền tốt bó
mo,
Làm tờ ký chỉ, chị cho chuộc chồng.
Măng non nấu với gà đồng,
Chơi nhau một trận xem chồng về
ai.
Già gan cướp được chồng người,
Non gan hết vía rụng tời chân
tay.
223. Nín náu mồng chín, đụn
địn mồng mười,
Sợ chị em cười, ở đến ngày mười một.
224. Nôm na là cha mách qué,
Mách qué là mẹ quách siêu,
Ta cho đồng tiền mách nữa ta
nghe.
225. Nói lời phải nhớ lấy lời,
Đừng như con bướm đậu rồi bay đi.
226. Nói đẩy đưa cho vừa
lòng bạn,
Cái sông Giang-hà chỗ cạn chỗ
sâu.
227. Nói người chẳng gẫm đến
ta,
Cái gương tày liếp để mà soi
chung.
228. Nói với người khôn
không lại,
Nói với người dại không cùng.
229. Núi kia ai đắp nên cao,
Sông kia bể nọ ai đào nên sâu ?
Một lòng sầu năm bảy lòng sầu ?
Đấy vui có biết đây sầu cùng
chăng.
Muốn sao tháng đôi tuần trăng,
Muốn sao đấy ở cho bằng lòng đây.
230. Nước trong khe suối chảy
ra,
Mình chê ta đục, mình đà trong
chưa.
231. Nước chảy xấp xấp cột
chòi.
Anh đen như mọi mà đòi vợ xinh.
Nước chảy xấp xấp mặt mâm,
Em như chó má mà đòi chồng xinh.
232. Nước sông còn đỏ như
vang,
Nhiều người lịch sự hơn chàng,
chàng ơi.
233. Ngày xưa quỉ mọc đằng
đông,
Bây giờ quỉ mọc trong lòng trẻ
con.
234. Ngày nay tôi nói với
mình,
Anh đã phụ em, em kiếm chốn gởi
mình liễu mai.
235. Ngày thì cười đứng cười
câm,
Tối thì lẩm bẩm chửi thầm người
ta.
236. Ngày ngồi cửa Hữu bán
cau,
Muốn xin chút vú sợ đau dạ nàng.
237. Ngồi buồn kể ruốc nhau
ra,
Ruốc ông cũng thối, ruốc bà cũng
thơm.
238. Ngỡ rằng ông thử, ông
thương,
Ai ngờ ông thử trăm đường ông
thôi.
239. Người ta đánh chú, tôi
chẳng tha người,
Chú đánh cha tôi, tôi chẳng tha
chú.
240. Người dưng có ngãi, thì
đãi người dưng,
Anh em vô ngãi thì đừng anh em.
241. Người khôn không nỡ roi
đòn,
Một lời nhè nhẹ hãy còn đắng cay.
242. Người sao một hẹn mà
nên,
Tôi sao chín hẹn mà quên cả mười.
243. Người trên ở chẳng
chính ngôi.
Khiến cho kẻ dưới chúng tôi hỗn
hào.
Người trên ở chẳng được cao,
Khiến cho kẻ dưới lộn nhào lên
trên.
244. Nghĩ rằng chị ngã em
nâng.
Hay đâu chị ngã, em bâng miệng cười.
245. Nhà em có bụi mía mung,
Có con chó dữ anh đừng có vô.
246. Nhà anh lợp những mo
nang,
Nói láo với nàng nhà ngói năm
căn.
247. Nhạn về biển bắc nhạn
ơi,
Bao thuở nhạn hồi để én đợi
trông.
248. Những người ti hí mắt
lươn,
Trai thì trộm cướp, gái buôn chồng
người.
249. Những người chép miệng
thở dài,
Chỉ là sầu khổ bằng ai bao giờ.
250. Nhứt nhựt vãng lai thường
ngày kiến diện,
Muốn phân một lời sợ miệng thế
gian.
251. Ông chết thì thiệt thân
ông,
Bà tôi sắp sửa lấy chồng nay mai.
Bà chết thì thiệt thân bà,
Ông tôi sắp sửa lấy ba nàng hầu.
252. Ông trăng mà bảo ông trời,
Những người hạ giới là người như
tiên.
Ông trời mới bảo ông trăng,
Những người hạ giới mặt nhăn như
tườu.
253. Ở xa anh tưởng là tiên,
Lại gần mới biết gái thuyền quyên
lộn chồng.
254. Ở đời tôi chẳng sợ ai,
Sợ người say rượu nói dai như thừng.
255. Ở cho phải phải, phân
phân,
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
256. Ở sao vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người
chê.
257. Phấn dồi mặt nọ tốt
tươi,
Thuyền em chở được mấy mươi anh
hùng.
Thuyền tôi đáy rộng lườn dài,
Xưa kia có chở quan tài cha anh.
258. Phỉ hồ, lấy rỗ mà che,
lấy nong mà đè,
Lấy đấu mà đưa, lấy ngọn rau dừa
chấm cứt mà ăn.
259. Quân tử ư hự đã đau,
Tiểu nhân dùi đục đập đầu như
không.
260. Quân tử nhất ngôn là
quân tử dại,
Quân tử nói đi, nói lại là quân tử
khôn.
261. Quân tử ngồi buồn rung
chống gối,
Tiểu nhân đắc chí gẩy đàn môi.
262. Quân tử cố cùng quân tử
cố,
Tiểu nhân đắc ý tiểu nhân hay.
263. Rồng vàng tắm nước ao
tù,
Người khôn ở với người ngu bực
mình.
264. Rồng nằm bể cạn phơi
râu,
Mấy lời anh nói giấu đầu lòi
đuôi.
265. Ru em, em hãy nín đi,
Kẻo mà mẹ đánh em thì em đau.
Em đau chị cũng buồn rầu,
Bé mồm bé miệng kêu đâu bây giờ.
266. Rù đầu giả dại làm
ngây,
Khôn kia dễ bán dại nầy mà ăn.
267. Sa chân bước xuống ruộng
dưa,
Kẻ kia tám lạng, người nầy nửa
cân.
268. Sấm bên đông, động bên
tây,
Tuy rằng nói đấy nhưng đây động
lòng.
269. So ra ai dễ kém ai,
Kẻ kia tám lạng, khôn này nửa
cân.
270. Sông sâu sào ngắn khôn
dò,
Người khôn ít nói, người đo tất
lòng.
271. Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người ai biết mà đo cho
cùng.
Ai mua dưa hấu biết lòng,
Để tôi xin ngỏ trong lòng tôi ra.
272. Sông sâu còn thể bắc cầu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà
dò.
273. Sông sâu ngựa lội ngập
kiều,
Dù anh có phụ cũng nhiều nơi
thương.
274. Sớm mai đi chợ Gò-vấp,
Mua một xấp vải,
Đem về con hai nó cắt,
Con ba nó may,
Con tư nó đột,
Con năm nó viền,
Con sáu đơm nút,
Con bảy vắt khuy,
Anh bước cẳng ra đi,
Con tám nó kéo, con chín nó trì,
Ớ mười ơi ! Sao em để vậy còn gì
áo anh.
275. Tằm sao tằm chẳng ăn
dâu,
Tằm đòi ăn ruộng, ăn trâu, ăn
nhà.
276. Tết đến sau lưng,
Ông vải thì mừng, con cháu tôi
lo.
277. Tiếc tiền mua lấy cá
ươn,
Mua rau, rau héo, mua người lẳng
lơ.
278. Tiền trinh đổ lẫn tiền
vàng,
Ở trong khăn gói đố nàng biết chi
?
Tiền trinh đổ lẫn tiền chì,
Ở trong khăn gói đố gì hỡi anh ?
279. Tiền Đường hậu Tống,
Tam quốc Châu Do.
Anh với em nói chuyện đưa đò,
Giả như Đát-Kỷ theo phò Trụ-vương.
280. Tiếng đồn cô bảy hò
lanh,
Ngày nay mới biết mặt xanh như
chàm.
281. Tiếng đồn chị Bốn có
duyên,
Anh Bốn đi cưới một thiên cá mòi.
Chẳng tin giở quả ra coi,
Mít non ở dưới cá mòi lên trên.
282. Tình cờ bắt gặp nàng
đây,
Như cá gặp nước, như mây gặp rồng.
Rồng gặp mây bán văn bán vũ,
Cá gặp nước con ngược con xuôi.
Chồng Nam, vợ Bắc anh ơi,
Sao anh chẳng lấy một người như
em.
283. Tính sao như thể nước cờ,
Một vừa, hai phải hai bề thì
thôi.
284. Tò vò ngồi khóc ti hi.
Ta nuôi con nhện nó đi đàng nào.
285. Tôi yêu anh vạn, tôi mến
anh nghìn.
Anh có ăn thuốc đưa tiền tôi mua.
286. Tôm tép vũng chân trâu
be bé,
Cá kềnh nghê bãi bể dong chơi.
287. Tôm tép thì nhảy lên bờ,
Bụng mình có thế mới ngờ cho ta.
288. Tới đây thủ phận đưa
đò,
Trước đưa quan khách, sau dò ý
em.
289. Tới đây sở cậy cùng dì,
Dì đem lòng giận, tôi thì cậy ai.
290. Tới đây dầu đói giả no,
Dầu khôn giả dại đặng dò ý anh.
291. Tới đây lạ xứ quen người,
Trăm bề nhẫn nhịn đừng cười tôi
quê.
292. Tới lui không biết làm
sao,
Khách gào như thể cáy vào hang
cua.
294. Tham thanh, chuộng lạ,
tham thanh,
Chê đây quán nát lều tranh không
ngồi.
295. Thằng Cuội ngồi gốc cây
đa,
Bỏ trâu ăn lúa gọi cha ời ời !
Cha còn cắt cỏ trên trời,
Mẹ còn cỡi ngựa đi mời quan viên.
Quan thì cầm bút cầm nghiên
Quan thì cầm tiền đi chuộc lá đa.
296. Thân em như miếng cau
khô,
Kẻ thanh ưa mỏng, kẻ thô ưa dày.
297. Thân em như đóa hoa
rơi,
Phải chăng chàng thật là người
yêu hoa.
298. Thân em như giếng giữa
đường,
Người khôn rửa mặt, người thường
rửa chân.
299. Thẩn thơ đứng gốc cây
mai,
Bóng tôi, tôi nghĩ bóng ai tôi lầm.
300. Thật vàng chẳng phải
thau đâu,
Đừng mang thử lửa cho đau lòng
vàng.
301. Thật thà là cha quỉ
quái,
Quỉ quái còn phải rái thật thà.
302. Thấy em anh cũng muốn
theo,
Em sợ anh nghèo, anh bán em đi.
Lấy anh, em biết ăn gì ?
Lộc sắn thì chát, lộc si thì già.
303. Thấy chồng đần, xỏ chân
lỗ mũi,
Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành.
304. Thề rằng sẩm chẳng thấy
gì,
Sẩm mà nói dối sẩm thì cũng đui.
305. Thế gian còn mặt mũi
nào,
Đã nhổ lại liếm làm sao cho đành.
306. Thôi tôi chẳng lấy ông
đâu,
Ông đừng cạo mặt nhổ râu tốn tiền.
307. Thối tai hôi nách rình
rình,
Chẳng ai hỏi đến cậy mình chính
chuyên.
308. Thông gia là bà con
tiên,
Ăn ở không hiền là bà con chó.
309. Thơm thảo bà lão ăn thừa,
Bà ăn chẳng được bà lừa cho tôi.
310. Thứ nhất cung voi ra
na,
Thứ nhì đắt đỏ, thứ ba khoa
tràng.
Rủ nhau lên núi đốt than,
Anh trèo Tam-điệp em mang nón
giành.
Ăn chanh ngồi gốc cây chanh,
Lấy anh thì lấy, về Thanh không về.
311. Thứ nhất sợ kẻ anh
hùng,
Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây.
312. Thua kiện mười bốn quan
năm,
Được kiện mười lăm quan chẵn.
313. Thức lâu mới biết đêm
dài,
Ở lâu mới biết là người có nhân.
314. Thương trò may áo cho
trò,
Thiếu bâu, thiếu vạt, thiếu hò,
thiếu đinh.
315. Thương nhau cởi áo cho
nhau,
Về nhà mẹ hỏi, qua cầu gió bay.
Con ơi con nói trớ trêu,
Áo mặc trong mình đến nỗi gió
bay.
316. Thương thì củ ấu cũng
tròn,
Không thương thì quả bồ hòn cũng
méo.
317. Trai mồng một gái hôm rằm,
Nuôi thì nuôi vậy còn căm dạ nầy.
318. Trách thân chẳng dám giận
trời,
Trách thân lắm lắm giận trời bao
nhiêu.
319. Trách người phơi lúa nống
xưa,
Chèo thuyền trên động khéo lừa
duyên em.
320. Trách ai đặng cá quên
nơm,
Đặng chim bẻ ná, quên ơn vội thù.
321. Trách người quân tử vụng
suy,
Vườn hoa thiên lý chẳng che mành
mành.
322. Trách lòng quân tử vô
danh,
Chơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao.
323. Trách người một, trách
ta mười,
Trách thân lắm lắm, giận trời bao
nhiêu,
324. Trách cha trách mẹ tôi
nay,
Sinh tôi sao chẳng chọn ngày mà
sinh.
325. Trăng khoe trăng tỏ hơn
đèn,
Sao trăng lại phải chịu lòn đám
mây.
Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng,
Đèn ra trước gió được chăng hởi
đèn ?
326. Trăng tròn thì mặc
trăng tròn,
Bậu xinh mặc bậu bận xằng anh
chê.
327. Trăng trong gió mát, em
hỏi thử đôi lời :
Chẳng hay quây tử vợ thời có chưa
?
- Có vợ mà cũng như chưa,
Vợ ngày, vợ bữa nắng mưa qua thời.
328. Trâu cột thì ghét trâu
ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.
329. Trầu không ăn sao ngon
sao béo.
Nghĩa nhơn không mến sao đem lòng
phiền ?
Chờ chàng bóng ngả trăng nghiêng,
Bao nhiêu vui về bạn, bấy nhiêu
phiền về ta.
330. Trèo lên cây khế chua
le,
Vợ thì muốn lấy, chồng e mất tiền.
331. Trèo lên cây bưởi hái
hoa,
Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm
xuân.
Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,
Em có chồng rồi anh tiếc lắm
thay.
332. Trèo lên cây khế nửa
ngày,
Ai làm chua xót lòng này khế ơi !
333. Trong nhà đã có hoàn cầm,
Song le còn muốn nhân sâm nước
người.
334. Trong làng chẳng có ai
vì,
Vậy nên em phải ra đi nước người.
335. Trong nhà đã có vàng mười,
Song le lại muốn của người nhân
sâm.
336. Trong nhà đã có đồ
chơi,
Song le còn muốn của người thêm
xinh.
337. Trọng người, người lại
trọng thân,
Khinh đi, khinh lại như lần trôn
quan.
338. Trông lên mình chẳng bằng
ai,
Trông xuống dễ đã có ai bằng
mình.
339. Trông anh như thể sao
mai,
Biết rằng trong có như ngoài hay
không.
340. Trời mưa nước chảy qua
hè,
Tôi chẳng lấy nó, nó dè lấy tôi.
341. Trời mưa nước chảy qua
đình,
Tôi chẳng lấy nó, nó dình lấy
tôi.
342. Trời mưa nước chảy qua
ngòi,
Tôi chẳng lấy nó, nó đòi lấy tôi.
343. Truyện mình giấu đầu hở
đuôi,
Truyện xấu chi người vạch lá tìm
sâu.
344. Vàng mười, bạc bảy,
thau ba,
Đồng đen trinh tiết lại pha lộn
chì.
345. Vào thì bẩm bẩm thưa
thưa,
Ra thì văng tục có chừa ai đâu.
346. Vẽ rồng ai vẽ được vi,
Biết người biết mặt, biết chi tấm
lòng.
347. Ví dầu, ví dẫu, ví dâu,
Ăn trộm bẻ bầu tôi chẳng dám la.
348. Ví dầu tình bậu muốn
thôi,
Tình qua muốn nữa, bậu thôi sao
đành.
349. Vô duyên chửa nói đã cười,
Còn duyên gọi chín mười lời không
thưa.
350. Vợ chồng hàng sáo chúng
ta,
Bách niên giai lão được vài trống
canh.
351. Vườn xuân hoa nở đầy
giàn,
Ngăn con bướm lại kẻo tàn nhị
hoa.
352. Sá chi một khúc thịt
bò,
Ba tô gạo lứt mà anh xô tôi hoài.
353. Xem lên hòn núi
Thái-sơn,
Hòn trăng hòn trở thiếp cũng muốn
thương.
Chàng thương đỡ, đỡ không dám
thương lâu,
Nghĩ thân phận chàng như áo vá
hai bâu.
Đêm chung tình với vợ,
Ngày thả lưới buông câu cho thiếp
lầm.
354. Xưa nay có thế này đâu,
Bởi chưn sợ vợ nên râu quặp vào.
355. Yêu ta, ta cũng thế
này,
Ghét ta, ta cũng như ngày mình
yêu.
356. Yêu nhau bốc bãi dân
sàng,
Ghét nhau đũa ngọc mâm vàng chẳng
ăn
357. Yêu nhau cũng chẳng cho
vàng,
Ghét nhau cũng chẳng tránh đàng
mà đi.
358. Yêu nhau chị em gái,
rái nhau chị em dâu,
Đánh nhau lổ đầu là anh em rể.
359. Yêu nhau xin quyết một
lòng,
Đậu ngâm ra giá đãi đằng nhau
chi.
c) Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG
Khác với mọi lớp người trong xã hội,
lớp người bình dân không đem lý trí của họ khám phá thiên nhiên, tìm hiểu cơ cấu
vũ trụ, hoặc sáng tạo một tổ chức xã hội để chế ngự cuộc sống loài người. Họ là
lớp người bị trị, thấp cổ bé miệng, chỉ lo chống chọi với những bất công luôn
luôn vây phủ lấy đời sống họ.
Tuy nhiên, nói như thế không có
nghĩa là họ không có những suy tư, cảm nghĩ về cuộc sống. Đã là con người, có một
khối óc, dù ở tầng lớp nào, khi đã hòa mình vào lẽ sống, không thể không có những
ước vọng. Ước vọng chính là sản phẩm của tâm tư, của sự đòi hỏi về nhân tính. Sự
đòi hỏi ấy va chạm với mâu thuẫn của cuộc sống đem lại cho người bình dân những
khắc khoải, suy tư, và đó chính là nguồn sống trong tâm giới họ, mà chúng ta gọi
là nhân sinh quan.
Điều thiệt thòi đối với họ là những
suy tư, cảm nghĩ ấy không được đúc kết thành hệ thống mạch lạc để dựng lên một
ngôi nhà tư tưởng cho họ.
Ngôi nhà tư tưởng của họ không tạo
dựng trong đơn thuần lý trí. Nó xuất phát ở lãnh vực tâm tư, bởi vì họ là những
người chịu đựng trực tiếp với cuộc sống. Họ là con người hiện thực, sống bằng
cuộc sống thiết thực, không bị bức màn giả dối của đạo lý bao phủ. Họ gần gũi,
va chạm, đương đầu với tất cả mọi khía cạnh vật chất cũng như tinh thần mà lẽ sống
con người bắt buộc phải có.
Vì họ sống bằng thực trạng nên
tâm hồn họ trở nên thực tế, và những tâm tư của họ chính là những ý thức thực
tiễn phát sinh từ trạng thái đích thực của lẽ sống mà ra.
Ở đây, chúng ta tìm hiểu ý thức
thực tiễn của người bình dân thời xưa trong lẽ sống, nhưng chúng ta không đi
vào những tuế toái của tâm tư họ, vì như thế chúng ta sẽ lạc vào một thế
giới phức tạp mà không thể tìm thấy đâu là phương hướng.
Nếu ở những tiêu mục trước đây
chúng ta đã đi sâu vào từng khía cạnh của tâm giới người bình dân, thì ở mục
này chúng ta thử trèo lên đỉnh núi cao, nhìn chung vào những gì chúng ta đã đào
xới được trong lãnh vực tâm tư họ, để đúc kết thành một quan niệm nhân sinh.
Như vậy, cũng có nghĩa là chúng ta sẽ làm công việc tổng kết của nhà khảo cứu
trong phần đầu của bộ sách này.
Trước hết chúng ta đặt vấn đề con
người với lẽ sống.
Con người với lẽ sống, dù tự ngàn
xưa, hay ngay trong thế hệ chúng ta, tâm tư vẫn nằm trong hai trạng thái phát
triển xã hội. Hai trạng thái ấy là năng lực vật chất và năng lực tinh thần.
Năng lực vật chất phát sinh do khả
năng tranh đấu của loài người với thiên nhiên để bảo tồn lẽ sống. Vũ trụ sinh
ra loài người, nhưng loài người phải làm mới có ăn. Muốn sống, con người phải
dùng đến sức lao động của mình. Cho nên, cuộc sống con người luôn luôn phải kể
đến sức lao động, và sức lao động trở thành yếu tố thiết thực của cơm áo.
Tuy nhiên, sức lao động cũng chỉ
mới là một phần quan trọng của lẽ sống, mà chúng ta còn phải kể đến trí khôn của
con người nữa. Trí khôn con người lần lần xen vào sức lao động, làm cho sức lao
động biến đổi năng xuất. Đó chính là kỹ thuật lao động.
Kỹ thuật lao động mỗi ngày một
tinh vi, thì đời sống vật chất con người mỗi ngày một đổi mới.
Nhưng, nếu trí khôn con người
luôn luôn cải tiến kỹ thuật lao động để tranh đấu với thiên nhiên, thì trí khôn
con người lại cũng luôn luôn cải tiến mọi liên hệ giữa con người và con người để
đem lại cho xã hội nguồn tinh thần tốt đẹp với ý sống.
Bởi vậy, chúng ta có thể qui kết
mọi nỗ lực con người với lẽ sống chỉ là hai năng lực tranh đấu nằm trong hai
chiều hướng trên, mà ngày nay chúng ta chia thành hai ngành học thuật, đạo học
và khoa học.
Đạo học là ngành học về tinh thần,
tìm trong khả năng nhân loại mối liên hệ mật thiết, đúc kết thành hệ thống tâm
tư, hướng dẫn ý thức loài người theo một căn bản nhân nghĩa cao đẹp. Vậy đạo học
là cái học dùng để cải tiến giữa con người và con người.
Khoa học là ngành học cải tạo vật
chất, đào xới trong bộ óc những kỹ thuật lao động, đúc kết và phổ biến để giúp
cho nhân loại đạt được một khả năng tranh đấu với thiên nhiên, đem lại cho loài
người một sức sống phong phú. Vậy khoa học là cái học dùng để tranh đấu giữa
con người với thiên nhiên.
Xét về sự tiến hóa loài người thì
xưa nay chúng ta vẫn căn cứ trên hai lãnh vực khoa học và đạo học mà thôi. Khoa
học và đạo học lại không thể tách rời. Bởi vì cả hai đều phụng sự cho lẽ sống
con người, nếu thiếu một trong hai yếu tố ấy con người sẽ trở nên bi đát.
Qua những thế hệ gần đây,
Tây-phương tiến nhanh về khoa học, còn Đông phương lại duy trì những căn bản đạo
học để làm nền tảng cho lẽ sống. Sự tiến bộ không cân xứng giữa hai nền học thuật
Đông Tây gây cho thế giới loài người một trạng thái chênh lệch và mâu thuẫn. Những
điều đó chúng ta có dịp bàn đến ở một quyển sách khác. Ở đây chúng ta thử phân
tách xem xã hội bình dân Việt-nam thời xưa có dựa trên hai ngành học thuật ấy
mà tiến triển không ?
Khi nói đến học thuật, chúng ta
thường dựa trên một hệ thống giáo dục, có chương trình, có trường ốc, có tổ chức.
Nghĩa là chúng ta chỉ thừa nhận một nền học thuật khi đã được hệ thống hóa và một
cơ sở giáo dục. Nếu quan niệm như thế, chúng ta sẽ đi đến sự phủ nhận xã hội
bình dân Việt-nam thời xưa chưa có một nền học thuật nào cả. Nhưng nếu chúng ta
quan niệm nền học thuật của dân gian không nhất thiết phải lệ thuộc vào hệ thống
tổ chức, thì chúng ta sẽ thấy xã hội bình dân Việt-nam thời xưa vẫn phát triển
theo hai chiều hướng khoa học và đạo học.
Về khoa học, khả năng sáng kiến của
họ là những cải tiến kỹ thuật lao động thường ngày trong công việc làm ăn từ một
nhát cuốc, đến một luống cày, họ đem kinh nghiệm của họ đúc kết thành những bài
học không cần ghi chép bằng sách vở, mà chỉ phổ biến trong gia đình, con cái,
truyền đạt những kinh nghiệm, sáng kiến ấy từ đời nọ qua đời kia. Tuy những
sáng kiến và kinh nghiệp ấy không được đúc kết thành hệ thống giáo dục qua các
trường đào tạo chuyên viên, song lối truyền đạt kinh nghiệm trong dân gian,
chúng ta không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.
Về đạo học, tuy họ không có những
học thuyết minh định loài người đối với lẽ sống, trong cuộc sống của họ hàng
ngày va chạm với thực tại, khiến tâm tư họ phát sinh không biết bao nhiêu cảm
nghĩ khác đúc thành những tiếng lòng, di truyền từ đời nọ sang đời kia, qua các
điệu hò, câu hát, để phản ảnh lẽ sống con người trước nhân đạo. Như vậy, chúng
ta cũng không thể phủ nhận giá trị học thuật của họ được.
Xem thế thì hai nền đạo học và
khoa học của loài người đã có từ ngàn xưa, không phải đến ngày nay chúng ta mới
tìm thấy. Tuy nhiên, dù chúng ta có phân chia thành hai nền học thuật, song mục
đích cũng vẫn là một, tức là cùng phụng sự cho lẽ sống con người : lẽ sống vật
chất và lẽ sống tinh thần.
Mà lẽ sống con người không thể đứng
độc lập, tách rời mọi biến chuyển của vũ trụ. Do đó, con người muốn cải tiến
khoa học, muốn cải tiến đạo học, lại phải dựa vào những qui luật của vũ trụ để
phù hợp với trạng thái thiên nhiên. Không một phát minh khoa học nào thành công
mà không nhờ tìm hiểu qui luật vũ trụ. Cũng không một đạo lý nào áp dụng được
vào cuộc sống loài người, nếu đạo lý ấy không căn cứ vào qui luật diễn biến
chung của vạn hữu.
Vậy, chúng ta vượt lên trên hai
lãnh vực đạo học và khoa học, trở vào thế giới tâm tư của người xưa, xem lớp
người bình dân quan niệm thế nào đối với thân phận con người trước lẽ sống. Tìm
được điều đó tức là chúng ta tìm được nền móng của ngôi nhà tư tưởng của họ, mà
trong các phần trước đây chúng ta đã có dịp mổ xẻ.
Chúng ta cũng không gán cho họ những
ý thức xa lạ, không phải là tư tưởng của họ, mà ở đây chúng ta chỉ gạn lọc những
chiều hướng suy tư của họ, đúc kết thành những quan điểm căn bản của họ mà
thôi.
Thân phận con người trước lẽ sống
!
Đó là một vấn đề phức tạp và khó
khăn mà từ trước đến nay loài người đã tốn không biết bao nhiêu công phu của khối
óc để tìm tòi, nghiên cứu. Chúng ta hiện có một khối óc của người bình dân. Khối
óc ấy đã hình thành qua bốn ngàn năm lịch sử. Tại sao chúng ta không tìm hiều họ,
tìm hiểu cả một khối óc vĩ đại của một dân tộc mà chỉ đi tìm tới
những bộ óc của từng cá nhận ? Không, theo chúng tôi nghĩ, nếu bỏ quên khối óc
khổng lồ ấy, không tìm hiểu họ. không để họ đóng góp vào sự nghiệp tinh thần của
nhân loại thì quả là chuyện thiếu sót.
Bởi vậy, chúng tôi muốn khai thác
ở khối óc vĩ đại ấy, khối óc của hai mươi lăm triệu người, hay nói một cách thực
tế hơn, khối óc của phần đông dân chúng sống gần gũi với thực tế, với thiên
nhiên, trong khung cảnh âm thầm, trầm lặng ấy. Ai dám bảo là họ không có một cảm
nghĩ, một nhận xét đúng đắn mà ngày nay, trước cuộc sống tao loạn, loài người
không thế nào có được !
Hỡi tiền nhân của dân tộc ! Tại
sao chúng tôi, người con của thế kỷ hai mươi này, lại phải viện dẫn đến những cảm
nghĩ, suy tư của tiền nhân, mà từ trước đến nay mọi người bỏ quên, chỉ đi bới
móc, tìm tòi những gì của ngoại lai, của cá nhân, để dùng làm căn bản cho lẽ sống
?
Thưa tiền nhân, chỉ vì từ trước đến
nay, những gì họ ca tụng và được loài người trọng vọng, thì ngày nay chỉ là những
đổ nát, hoang tàn.
Thử hỏi, qua dòng lịch sử nhân loại,
loài người đã tìm thấy thận phận con người trước lẽ sống chưa ? Thế giới loài
người ngày nay tự hào văn minh, tiến bộ, nhưng họ vẫn chưa giải đáp được câu hỏi
ấy. Và khi chưa tìm ra giải đáp, họ vẫn lao mình vào những cuộc xâu xé, chém giết
rùng rợn, đê hèn.
Ngoài kia, tiếng súng đang nổ !
Những tạc đạn đang sát hại hàng loạt người ! Bên tai chúng tôi, họ đang chửi bới
nhau qua các kỹ thuật truyền hình, phát thanh, trong lúc họ ca tụng những thành
công tực rỡ của khoa học về khả năng chinh phục không gian !
Thưa tiền nhân, loài người của thế
hệ hai mươi chúng tôi có tiền bộ về khoa học thực. Họ có thể du hành lên nguyệt
điện, phá núi lấp sông, nhưng khối óc thông minh tuyệt đỉnh của họ vẫn không
sao hiểu nổi thân phận con người trước lẽ sống !
Con người phải làm thế nào trước
lẽ sống để cho họ có một cuộc đời tươi đẹp ? Những tiến bộ khoa học không đáp ứng
nổi điều đó. Hàng ngày bom đạn vẫn tiếp tục tước đoạt mạng sống của con người.
Vành khăn trắng vẫn tìm ngự trị trên mái đầu xanh, và thảm họa của lẽ sống đưa
tâm tư con người tiến dần đến bờ vực thẳm, ở đó bóng tối đen
ngòm, khiến chúng tôi, lớp người của thế hệ gọi là văn minh trở nên hoài nghi tất
cả những gì mà thế giới chúng tôi ngày nay đang tôn thờ, theo đuổi…
Nhưng mảnh tâm hồn của chúng tôi,
những con người hôm nay, đang quằn quại với đau thương, không phải vì yếu đuối,
mà vì không tìm thấy thân phận con người trước lẽ sống.
Chúng tôi xin ghi lại ở đây một
trong muôn ngàn trạng thái tâm hồn của lớp người trẻ trung thế hệ chúng tồi để
xác định điều đó :
« Vùng đêm đen đang vây phủ tôi,
ngọn đèn dầu leo lét không làm sáng đủ trang giấy trắng mở trước mặt. Tôi cúi mặt
ru hồn mình trong niềm đớn đau cùng tận, nghe thương nhớ vô vàn khép chặt đôi
mi. Vùng bóng tối trước mặt, vùng bóng tối chung quanh, vùng bóng tối trong
linh hồn con gái. « Can đảm lên con ». Mẹ tôi đã dặn mỗi lần bắt gặp tôi gục đầu
trên hai trang giấy trắng hai mở to mắt nhìn trừng bào khoảng hư vô trước mặt.
« Can đảm lên con », lời nói như một cơn bão ngân dài thành điệp khúc vang vang
trong linh hồn tôi từ mấy hôm nay. Tờ điện tín màu xanh nhàu nát trong tay, tôi
giương mắt đọc lại trăm nghìn lần đến thuộc lòng sau từng cơn mê sảng : « Đợi
anh nha Linh Thương. Xong cuộc hành quân, anh về ngay ».
II chữ, II lời nói tràn trề hy vọng
nuôi sống tôi qua những tháng năm dài mòn mỏi đợi chờ. Cuộc hành quân chấm dứt,
các anh lính đã trở về đây tràn đầy những hàng nước, những sạp báo gần nhà tôi.
Họ thả hồn theo khói thuốc trên những chiếc xe Lam toàn áo lính mà rôi vẫn bơ
vơ, bóng dáng anh vẫn biền biệt phương nào. Một ngày sau khi tiểu đoàn về hậu cứ
mới có một người lính đến đây, nhìn nét mặt anh, tôi đã hiểu ngay chuyện anh muốn
nói. Nỗi đau đớn tê buốt cả tâm hồn, tôi gật đầu mời anh lính ngồi và yêu cầu
anh đừng nói gì cả, tôi chỉ hỏi : « Bây giờ tôi phải làm sao ? » Anh lính
cúi đầu : « Chị đi
theo tôi ».
Chiếc xe Jeep chở tôi đi đến gặp
anh, bóng dáng đó, hình hài đó nằm yên nghỉ nơi đây. « Hai giờ nữa chúng tôi liệm
đi, giọng nói của anh lính làm tôi nghẹn ngào. Tôi quỳ xuống gục mặt bên cạnh
anh. Thế là hết. Niềm đau đớn chai cứng trong linh hồn. Tiếng bật khóc của em
anh, của mẹ anh làm tôi lịm ».
Tôi quỳ thẳng lên, hôn vào trán
anh lần cuối cùng rồi lùi ra. Thời gian này không phải thời gian để khóc, còn
phải lo nhiều giấy tờ thủ tục… Mẹ nhìn tôi : « can đảm lên con ». Vâng, con sẽ
can đảm, con sẽ cố gắng hết sức.
Quan tài đã đưa về, hai hàng nến
trắng, hai người lính bồng súng hai bên, người ta đến chia buồn, ai cũng khuyên
tôi can đảm, ai cũng khuyên tôi nên chấp nhận một sự đã rồi.
Vâng, tôi gục đầu van lơn, đừng
nói gì cả, đừng nói gì cả, tôi đã chấp nhận, và ngàn đời tôi sẽ chấp nhận mọi
khốn khổ bất hạnh, xót xa đến trong đời tôi. Tôi mang tang, vành tang ngạo nghễ
trên đầu xiết chặt mọi niềm vui trong lòng tôi. Vùng đêm đen khốn khổ của tuổi
trẻ, còn một đứa con gái sinh ra đời mang tên thật nhỏ nhoi, hèn mọn : Linh
Thương ! Chiếc quan tài nằm đó, nước mắt vây phủ chung quanh, vành tang trắng
sáu mái đầu, tôi cúi mặt thần thờ. Tình yêu tôi ngàn đời xin chôn theo anh, xin
chôn theo thi hài người lính màu mũ đỏ kiêu sa, ngạo nghễ, nhưng đầy thương
yêu. Mẹ nhìn tôi, nhìn anh, mắt mẹ buồn héo hắt xót thương cho tình yêu đứa con
gái đầu lòng đã gãy đổ.
Tôi lịm dần theo từng cơn mê sảng,
trong giấc hôn mê, anh hiện về đẹp như một thiên thần, tôi gào thét, bám víu vì
anh lại bay xa. Từng nắm đất buông rơi vội vã, từng nhát xẻng phũ phàng vùi sâu
hình hài anh vào lòng đất. Tôi gào tên anh, tôi hét gọi hồn anh, từ cõi bên kia
trở về cho những hiện tượng đang tiếp diễn trước mắt tôi đừng bao giờ là sự thật.
Anh đi rồi, tràng đạn nào bay đến kết liễu đời anh ? Ai đã giết anh ?
*
Thân phận hôm nay, tuổi trẻ hôm
nay là đó, toàn những nước mắt bi thương, toàn những đổ vỡ xót xa, toàn những
vành tang góa phụ. Nỗi ray rứt thống khổ không nguôi trong lòng tôi, trong lòng
những người dân cùng một niềm đau thời chinh chiến dày xéo quê hương hàng đêm,
màn đêm phũ phàng bao lấy tôi, bao vây lấy cuộc đời tôi. Tiếng gọi nào không
thoát nổi từ tiềm thức còn hằn sâu những đau buồn. Tôi chỉ biết gục mặt, cúi đầu,
nấm mộ đùn cao như nỗi đớn đau dâng tràn trong lòng tôi.
Tôi cào cấu những nấm đất, xới
tung ngôi mộ mới lấp để tìm lại di hài anh, tìm lại những thương yêu trong
thoáng chốc bay đi, vùi chôn vào lòng đất. « Can đảm lên con », dư âm tiếng
nói của mẹ còn vang lại đó. Niềm đau trong linh hồn tôi còn chất ngất lên cao.
Tôi làm gì ? Làm gì để quên đi thực trạng phũ phàng trước mắt ?
« Nín đi Thương, mỗi người đều có
một số mệnh, tất cả đã an bài. Rồi Thương sẽ quên, sẽ quên », lời Trâm, bạn tôi
vang lên bên tai. Ừ, tôi sẽ quên, nhưng bao giờ tôi quên được ? Bao giờ rôi
không còn nhớ gì nữa ? Hàng me già vãn rũ buồn bên vệ đường, thảm cỏ trước mặt
tôi vẫn xanh như xưa, nhưng còn tôi, tôi có quên được để yên lặng như vậy không
? Chiều bên giáo đường với tháp chuông cao lồng lộng, với hình ảnh Chúa đau khổ
cứu chuộc nhân loại, hình ảnh đức Mẹ dịu hiền tuyệt vời chỉ làm ấm linh hồn tôi
trong thoáng chốc rồi quên đi. Tôi yếu kém đức tin quá rồi, chiến tranh đã cướp
của tôi cả niềm tin tưởng bên chân giáo đường.
Tôi quá nhỏ bé hèn mọn đến nỗi đã
để đánh mất tất cả. Tôi cố gắng vươn lên, vươn lên nhưng niềm tin đã bay vụt thật
xa, tôi ngơ ngác nhìn theo, hai bàn tay bỗng thành bất lực. Tuổi trẻ hôm nay là
đó, không có niềm tin để bám víu vươn lên. Người mình yêu thương nhất, trong một
thoáng súng đạn tàn bạo cướp đi ngôi thần tượng bơ vơ, lạc loài, khốn khổ.
*
Giảng đường chiều thứ năm chỉ gợi
lại trong tôi thật nhiều ray rứt. Tôi ngồi đây mà hồn tôi đi đâu ? Đó, những bạn
sinh viên chung quanh tôi đó : những Trâm, Anh, Ngọc với vầng trán cao vô tư và
Triệu với đôi kính trắng kiêu sa vời vợi. Họ đều hãnh diện với hai chữ sinh
viên gắn trước hàng tên. Họ đều cao ngạo với những tình yêu mà người ta đang quỳ
xuống dưới chân.
Tôi ngồi đây thu hình thật nhỏ
nhoi, tầm thường. Tôi van xin cho tôi được quên, cho đừng nhìn gì cả, đừng nghe
gì cả, cả tiếng giảng dạy sang sảng trên kia. Ngòi bút buông xuôi, không vẽ vời
được hàng chữ nào. Con Trâm nhìn qua tôi ái ngại, không, đừng nhìn, nhìn vành
khăn trên đầu tôi, trên áo tôi hay nhìn cho tôi một chút thương hại ? Không,
quay đi, nhìn tôi, niềm đau của tôi sẽ bùng lên mạnh mẽ hơn bao giờ.
7 giờ tối, tôi đứng lên rời khỏi
giảng đường, những quyển sách trên tay, hai vạt áo dài trắng lê thê, tôi lách
khỏi đám đông đó và đi thật nhanh về nhà. Chiếc Vespa đứng đợi bên kia đường, vẫn
bộ mặt ấy, vẫn màu treillis ấy. Người lính thường đứng đây đợi ai, tôi
không biết, nhưng có điều tôi biết người ấy không quen ai trong khu này, hình
như anh đứng câm lặng nhìn một hình ảnh, một tà áo nào thì phải, vì mỗi lần đi
được nửa đoạn đường tôi thường gặp xe anh chạy vượt qua, yên sau trống. Tự
nhiên rôi nghe thương nhớ vô vàn. Anh ơi, sao người đó không là anh, không là
anh đứng đợi em trìu mến đưa đón em về để bóng tối cô đơn không quyện lấy chân
em, xoắn lấy tà áo em, ngập tràn đôi mắt em. Cơn lốc xoáy đau đớn lại bùng dậy
trong bóng tối.
Tôi chạy thật mau, hai hàng nước
mắt rơi lả tả… đường vắng, đèn lên hiu hắt. Duy, thằng em tôi trờ tới : « Chị,
em chở chị về. » Tôi lặng lẽ ngồi vào băng sau.
Hai chị em tôi yên lặng suốt một
quãng đường. Từ ngày anh chết, tôi và cả gia đình tôi, cả gia đình anh đều lặng
lẽ âm thầm. Bóng tối, bóng đêm đang chụp phủ lấy người yêu anh, gia đình anh.
Tuổi trẻ hôm nay là đó. Chiến tranh tàn phá gãy vụn tất cả. Anh nằm yên nghỉ,
những người còn lại ngớ ngẩn mất hồn, ai cũng phải chấp nhận số phận cay nghiệt
của mình. Cái chết thật phi lý, người kiêu sa thì cứ kiêu sa, người hèn kém gục
mặt, cúi đầu thì cứ gục mặt cúi đầu. Tuổi trẻ hôm nay đó : một thoáng có, một
thoáng quên, một thoáng bùng dậy nhưng cơn đau sẽ còn hành hạ đến khi nào khâm
liệm được mình trong lòng đất sâu thẳm mịt mùng.
*
Tôi bỏ buổi học thực tập hôm nay.
Đến nghĩa trang vuốt ve trong tay những đóa hoa màu trắng, màu tang tóc nghẹn
ngào, màu thê thảm của tuổi trẻ của tôi. Tôi quỳ xuống đốt cho anh hai cây nến,
nước mắt tôi thấm ướt những đóa hoa nằm im trong tay. Linh hồn rã rời, mệt mỏi.
Anh nằm đây, tôi quỳ trên này cách xa nhau vài thước đất mà sẽ chẳng bao giờ được
nhìn mặt nhau, chẳng bao giờ được nắm tay nhau dìu nhau trọn đường trần. Máu
anh đã đổ ra, cuộc chiến thêm một người hy sinh, anh đi trọn đường anh, nhưng
còn em : em mọn hèn, xót xa với vành tang trong linh hồn. Nhưng mà thôi… ngủ đi
anh, ngủ đi anh.
Buổi chiều hôm nay thật êm và thật
mát, em không nghe súng nổ, không nghe bom đạn reo vang trên quê hương, lòng đất
thật yên, anh ngủ đi, anh ngủ đi anh, ngủ yên và trong giấc ngủ đó anh nhớ cầu
nguyện cho quê hương mình được an lành, được hiền hòa. Ngủ đi anh, và cầu nguyện
cho Nghĩa-trang Quân đội này đừng bao giờ có thêm một nấm mộ nữa, cho quê hương
thôi hết chiến chinh. Em ở lại, em sẽ cố gắng, em sẽ đi vào con
đường lý tưởng anh đã đi và cầu nguyện cho mãi mãi được ngủ yên, cho những người
lính sẽ không còn gục ngã nữa. Để những đứa em, đứa cháu của em sau này đừng
mang vành tang góa phụ khi tuổi vừa 19, để tuổi trẻ ngày sau tìm được sự chân
thành, hòa đồng và tươi đẹp không như tuổi trẻ hôm nay mà anh, mà em đang lãnh
nhận. »
Thắp hương cho người quá cố
NHẬT LINH THƯƠNG
(Trích Nhật-báo Công Luận số 419,
420, 421, 422)
*
Những tâm tư đau khổ trên đây
không phải dành riêng cho con người sống trên đất nước Việt-nam, mà là những đổ
vỡ cho tất cả nhân loại. Cho nên, phần lớn các nhà nghiên cứu triết học sử của
thế hệ hai mươi đã phải thở dài, than : « Hiện tình thế giới loài người là
một cảnh hỗn mang tao loạn !… »
Nhưng, cảnh hỗn mang tao loạn ấy
là gì ?
Phải chăng loài người không tìm
thấy thân phận con người đối với lẽ sống, và họ đã dùng những hiểu biết sai lầm
của họ để đưa thế giới loài người vào những đổ vỡ, tang thương
Nếu vậy, thật đau buồn ! Và,
chúng tôi tìm về thế giới tiền nhân, soát xét lại những tâm tư, những cảm nghĩ
của mấy trăm thế kỷ trước về để tìm xem ở đấy có một tia sáng nào có thể giúp
ích cho loài người mà bị thời gian che khuất, tưởng cũng không phải là chuyện
vô ích
Người bình dân với tinh thần thực
tiễn, tâm tư họ gần gũi với lẽ sống, nên những cảm nghĩ của họ luôn cọ xát với
thiên nhiên. Lẽ sống và thiên nhiên phải phù hợp thì mới có thể đạt được trạng
thái ổn định trong xã hội loại người
Bởi vậy chúng ta đi tìm nhân sinh
quan. Mà nhân sinh quan là gì ? Nói một cách dễ hiểu thì nhân sinh quan chỉ là
một ý thức dung hợp giữa lẽ sống cá nhân với lẽ sống tập thể, nằm trong trạng
thái ổn định xã hội
Cho nên, nhân sinh quan không phải
là ý thức tham vọng cá nhân, nó phải tách rời ra ngoài tính chất ích kỷ của bản
ngã, vươn lên mọi tranh chấp cá biệt, kết thành một hệ thống tổ chức xã hội,
dung hòa mọi quyền lợi và mọi chi phối giữa vật chất lẫn tinh thần. Với ý thức ấy,
người bình dân thời xưa cũng đã tìm thấy nhân sinh quan của họ trong trạng thái
sinh hoạt giữa con người với vũ trụ
Đến đây chúng ta thử đi vào nhân
sinh quan của người bình dân bằng những ý thức đã biểu lộ qua ca dao.
I. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT
TRẠNG THÁI BIẾN DỊCH
Người bình dân xem cuộc sống con
người cũng như mọi sinh vật tồn tại của vạn hữu, không thể đặt ra ngoài quy luật
biến dịch của thời gian. Nếu thời gian là yếu tố sinh biệt của vạn hữu thì cuộc
sống loài người cũng nằm trong định lệ ấy. Họ bảo :
Đời người chỉ được gang tay,
Những ai ngủ ngày chỉ được nửa
gang
Xem đời bằng khoảng thời gian ngắn
ngủi như vậy nên họ rất chán ghét những hành vi bạo ngược, sát phạt, tước đoạt
giữa con người và con người. Tại sao chúng ta chỉ sống trong cái khoảnh khắc ấy
mà chúng ta lại không biết mưu cầu cho chúng ta những gì tươi đẹp hơn ?
Nỗi chán ghét của họ đã bộc lộ
qua ý niệm như :
Một đời đánh sáp đeo hoa,
Một đời lây lấc cũng qua một đời
!
Họ lấy cái chết định giá cái sống.
Bởi vì họ quan niệm chết là hết, không được gì cả
Tuy nhiên, dù lấy cái chết làm
đích cho con người, họ không lấy thế làm bi quan, cho thân phận con người là một
hiện hữu bi đát như cảm nghĩ của một lớp người trong thế hệ chúng ta ngày nay.
Họ thấy phải phấn đấu, phải tự mình đem lại cho con người một cái gì trọn vẹn với
ý sống. Vì thế mà họ không đặt đời sống của họ trong ý thức chán đời, yếm thế.
Tinh thần tranh đấu của họ rất mạnh mẽ như :
Có thân phải khổ lấy thân.
Không dưng ai dễ mang phần đến
cho !
Còn trời, còn nước, còn mây,
Còn ao rau muống, còn đầy chum
tương.
Tinh thần tranh đấu của họ đã
vươn lên trên ý thức yếm thế của đạo giáo. Nhưng tinh thần ấy cũng không nằm
trong trạng thái cướp đoạt, xâu xé một cách táo bạo, ác liệt như những gì chúng
ta hiện thấy trong cuộc sống ngày nay. Ý thức tranh đấu của họ là ý thức tranh
đấu ôn hòa, xây dựng, tự tồn nằm trong trạng thái chung của vạn hữu, tách bỏ mọi
mánh khóe khôn ngoan, xảo quyệt do bộ óc con người nẩy sinh
Vũ trụ tạo ra con người ai cũng
như ai. Họ bảo :
Hơn nhau tấm áo manh quần,
Cổi ra bóc trần ai cũng như ai.
Họ từ chối giá trị « tiền định »
của con người. Như vậy, con người sở dĩ có khác nhau là do cuộc sống tạo cho họ.
Mà cuộc sống tạo cho họ là do ý thức xấu xa của con người không quan niệm đúng
với thân phận con người trước lẽ sống. Đáng lẽ những gì khôn ngoan hiểu biết là
tài nguyên của nhân loại phải đem dùng vào việc xây dựng xã hội ngày ngày một đẹp
thêm, thì họ lại dùng để phụng sự cá nhân, phá hoại xã hội, đưa đến chỗ chênh lệch,
bất công
Nếu quan niệm đúng thân phận con
người trước lẽ sống, nghĩa là hiểu rõ vũ trụ sinh ra loài người không phải để
xâu xé lẫn nhau, chỉ có bộ óc con người đi ngược lại vũ trụ, thì bộ óc con người
sẽ trở về đúng với nghĩa sống của nó. Bộ óc con người sẽ thấy trong quãng thời
gian ngắn ngủi kia con người sẽ không được gì cả, nếu họ xâu xé nhau, tiêu diệt
nhau để nhận lấy cái chết – dù cho cái chết bằng cách nào
Nhưng làm thế nào để bộ óc con
người nhận rõ thân phận con người ?
Đó là một điều khó, nhưng không
phải không làm được. Sở dĩ con người dần dần xa rời ý thức con người là do sự
tiến triển giữa hai lãnh vực đạo học và khoa học không đồng đều. Khoa học và đạo
học lúc nào cũng phải thăng bằng, nếu chênh lệch thì cuộc sống con người trở
nên bi đát.
Khoa học biểu trưng cho cuộc sống
vật chất, đạo học biểu tượng cho cuộc sống tinh thần. Vật chất và tinh thần bao
giờ cũng phải cân đối thì đời sống con người mới có nghĩa.
Lấy con người làm ví dụ. Nếu đời
sống con người chỉ chú trọng về vật chất mà không chú trọng về tinh thần thì
con người họ trở nên độc ác, đê hèn. Nếu kẻ nào chỉ chú trọng về tinh thần mà
không chú trọng về vật chất thì đời sống họ sẽ bi quan, yếm thế. Cả hai trạng
thái đều bị chênh lệch
Cuộc sống loài người cũng vậy. Những
gì loài người khám phá được trong lĩnh vực khoa học, mà chúng ta gọi là văn
minh, không thể thay thế cho đạo học được. Cũng như vật chất không thể thay thế
cho tinh thần. Chúng ta ngày nay đã bị ánh sáng văn minh vật chất làm áp đảo
nguồn văn minh tinh thần mà căn bản của cuộc sống loài người đã để lại. Chúng
ta phải thăng bằng hai bên học thuật ấy bằng cách chú trọng về đạo học, nâng
cao tinh thần đạo học lên để tránh mọi cực đoan trong lẽ sống.
Nền đạo học của người bình dân
không phải là những giáo điều độc tài, uốn nắn tư tưởng con người để phụng sự
cho một cá nhân, hay một nhóm người nào trong xã hội. Nó phát xuất từ ý sống thực
tiễn, thừa nhận căn nguyên chênh lệch của xã hội và tranh đấu đưa những chênh lệch
ấy đến chỗ thăng bằng tự tại
2. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI
CHÊNH LỆCH
Người bình dân lúc nào cũng nhìn
thấy xã hội loài người hàm chứa những chênh lệch, bất công.
Tại sao xã hội loài người sinh ra
những chênh lệch ấy ?
Nguyên nhân là tại lòng tham vọng,
ích kỷ. Tuy nhiên, tham vọng, ích kỷ chỉ mới là cảm giác tự tồn, mà cái nguy hiểm
đưa con người đến chỗ tai hại ấy là bộ óc con người. Nếu bộ óc con người có thể
hun đúc cho cuộc sống một khả năng tự tại, thì bộ óc con người lại hun đúc cho
xã hội một khả năng hủy diệt. Như vậy, chính bộ óc con người làm cho cuộc sống
chênh lệch chứ không phải lòng tham vọng. Bộ óc con người không tẩy được thân
phận con người trước lẽ sống, nên đã đồng lõa với tham vọng, đẩy tham vọng vào vòng
tranh chấp tự diệt.
Sự chênh lệch trong cuộc sống đã
tạo cho loài người những mâu thuẫn mà người bình dân đã nói đến rất nhiều trong
cảnh giàu nghèo sang hèn.
Ý thức chống đối mọi chênh lệch bất
công trong xã hội bình dân chính là ý thức thăng bằng mâu thuẫn mà chúng ta có
thể đúc kết và quan niệm sau đây bằng câu hát :
Ở cho phải phải phân phân,
Cây đa cậy thần, thần cậy cây đa.
Như vậy, người bình dân không chủ
trương phá bỏ mâu thuẫn xã hội, chỉ chủ trương thăng bằng mâu thuẫn xã hội mà
thôi.
Giàu nghèo sang hèn chính là biểu
tượng phát triển của vật chất. Cho nên, khi nói đến điều hòa những mâu thuẫn ấy
cũng có nghĩa là người bình dân muốn kêu gọi ảnh hưởng tinh thần. Họ muốn dùng
trí khôn của con người trong phạm vi phát triển khả năng vật chất để điều hòa
phạm vi phát triển khả năng tinh thần. Khi hai lãnh vực ấy được điều hòa thì
giàu nghèo không còn chênh lệch trong cảm nghĩ khinh trọng nữa.
3. Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT
TRẠNG THÁI CHỊU ẢNH HƯỞNG
Người bình dân chẳng những thấy rằng
ảnh hưởng vật chất trong cuộc sống con người là một sức mạnh, biến con người trở
thành một sinh vật xa rời với bản ngã thiên nhiên. Bộ óc con người có thể giúp
cho loài người khả năng phát triển về sinh hoạt vật chất, nhưng lại rất yếu đuối
đối với khả năng sáng tạo tinh thần. Do đó muốn loại bỏ ảnh hưởng vật chất để
kiến tạo tinh thần, cuộc sống loài người phải có một tổ chức điều hòa mâu thuẫn.
Guồng máy xã hội chính là phương tiện để thăng-bằng-hóa cuộc sống, mà người
bình dân bao giờ cũng cảm thấy có bổn phận tranh đấu để loại bỏ những chênh lệch
bất công.
Tất cả những gì chúng ta đã khảo
sát qua trong những tiểu mục trước đây đều nhằm vào mục đích ấy.
Tóm lại, nhân sinh quan của người
bình dân hướng vào mục đích thăng bằng mâu thuẫn để cải tạo xã hội con người. Yếu
tố thăng bằng mâu thuẫn bắt nguồn từ sự phát triển hai lãnh vực đạo học và khoa
học (tinh thần và vật chất) phải thăng bằng nhau, dùng guồng máy tổ chức xã hội
làm phương tiện.
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU
CHO Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG
1. Ai ơi ! đừng lấy làm lo,
Đương xuân rồi cũng soi cho âm
hàn.
2. Ai ơi ! chớ vội cười
nhau,
Ngắm mình cho tỏ trước sau hãy cười.
3. Ai ơi ! trẻ mãi ru mà,
Càng so sắn lắm, càng già mất
duyên.
4. Ai ơi xin chớ cười nhau,
Cười người hôm trước, hôm sau người
cười.
5. Ai ơi nhắn chị hàng cau,
Chiếu buồm dấp nước giữ màu cho
tươi.
6. Ai ơi ! Đừng lấy làm lo,
Bóng son rồi cũng soi cho gương mờ.
7. Ai ngờ mật sứa gan hầm,
Rắp toan gà luộc rượu tăm thỏa
lòng.
Khác nào như nhện đánh vòng,
Ếch kia trong giếng còn trông kẻ
dò.
Đói thì đầu gối biết bò,
No cơm ấm cật còn lo lắng gì.
8. Ai đem con kéc vô vườn,
Cho nên con kéc ăn buồng chuối
tiêu.
9. Ai ơi ! chớ vội cười
nhau,
Câu nào mà chẳng có sâu chạm
cành.
10. Anh đừng chê thiếp xấu
xa,
Bởi chưng bác mẹ sinh ra thế này.
11. Áo người mặc đoạn cởi
ra,
Chồng người ấp mượn canh ba lại
hoàn.
12. Áo cũ để vận trong nhà,
Áo mới để vận đi ra ngoài đường.
13. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Ăn gạo nhớ kẻ đâm, xay, giần,
sàng.
14. Ăn quả nhớ kẻ trồng cây,
Nào ai vun quén cho mầy được ăn
15. Ăn được, ngủ được là
tiên.
Không ăn không ngủ là tiền vứt
đi.
16. Bàn tay còn có ngón dài
ngón vắn,
Con một nhà đứa trắng đứa đen,
Hễ ăn vóc học quen,
Dẫu họ chê mình vụng, tập rèn phải
hay.
17. Bầu già thì ném xuống
ao,
Bí già đóng cửa làm cao lấy tiền.
18. Bầu già thì mướp cũng
sơ,
Nạ dòng trang điểm, gái tơ mất chồng.
19. Bồ cu mà đổ nóc nhà,
Mấy đời đàn bà đi hỏi đàn ông.
20. Bông bổng bồng bồng,
Trai ơn vua chầu chực sân rồng,
Gái ơn chồng ngồi võng ru con
Ơn vua xem nặng bằng non,
Ơn chồng đội đức tổ tông dõi truyền.
Làm trai lấy được vợ hiền,
Như cầm đồng tiền mua được của
ngon.
Phận gái lấy được chồng khôn,
Xem bằng cá vượt Vũ-môn hóa rồng,
Bông bổng bồng bồng,
Bông bổng bồng bồng,
21. Bờ sông lại lở xuống
sông,
Đàn bà mà lấy đàn ông thiệt gì.
22. Bớt đồng, thì bớt cù
lao,
Bớt ăn, bớt uống, thì tao bớt
làm.
23. Cái tươi, thì phải xem
mang,
Người khôn xem lấy đôi hàng tóc
mai.
24. Cách sông nên phải lụy
đò,
Bởi chưng về tối lụy cô bán hàng.
25. Cách sông nên phải lụy
đò,
Tối trời nên phải lụy o hàng dầu.
Hàng dầu cất gánh làm cao,
Khi mua chẳng bán, khi rao chẳng
màng.
26. Cách sông nên mới lụy
thuyền,
Những như đường liền ai phải lụy
ai.
27. Cái vòng danh lợi cong
cong,
Kẻ hòng ra khỏi, người mong bước
vào.
Sự đời nghĩ cũng nực cười,
Một con cá lội mấy người buông
câu.
28. Cấm người giả lịnh giả
thị,
Chẳng ai cấm người mang bị nói
khoác.
29. Cạn đầm thì uống nước
khe,
Hết người lịch sự thì ve người đần.
30. Càng thắm thì lại càng
phai.
Thoang thoảng hoa lài càng được
thơm lâu.
31. Cây khô chưa dễ mọc chồi,
Bác mẹ chưa dễ ở đời với ta.
Non xanh bao tuổi mà già,
Bởi vì sương tuyết hóa ra bạc đầu.
32. Cây cao thì gió càng
lay,
Càng cao danh vọng càng dày gian
truân.
33. Có tiền mua tiên cũng được,
Không tiền mua lược cũng không.
34. Có lòng thì trả ơn lòng,
Xa xôi chi lắm đèo bòng được sao.
35. Có cây mới có dây leo.
Có cột, có kèo mới có đòn tay.
Có ai ta cũng thế này,
Không ai ta cũng như ngày có ai.
36. Có cha có mẹ thì hơn,
Không cha không mẹ như đờn đứt
dây,
37. Có hát thì hát cho bổng,
cho cao,
Cho gió lọt vào, cho chúng chị
nghe.
Chị còn ngồi võng ngọn tre,
Gió đưa cút kít không nghe thấy
gì.
38. Có khó mới có miếng ăn,
Không dung ai dễ mang phần đến
cho.
39. Có thóc thì rốc gạo ra
Có gạo thì nạo ra cơm.
40. Có phúc thợ mộc, thợ nề,
Vô phúc thầy đề, thầy thông.
41. Có tiền khôn như mày mạy,
Không tiền dại như đòng đong
42. Có khó thì mới có sang,
Bỗng dung ai võng Ba Hoàng đến
cho.
43. Có không mùa đông mới biết,
Giàu khó ba mươi tết mới hay.
44. Có răng thì để răng
nhai,
Không răng, lợi gậm chẳng sai miếng
nào.
45. Có ăn vất vả đã cam,
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.
46. Có trầu chẳng để môi
thâm,
Có chồng chẳng để ôm lầm cối xay.
47. Có chồng mà chẳng có
con,
Khác gì hoa nở trên non một mình.
48. Có thì có tự mảy may,
Không thì cả thế gian nầy cũng
không.
49. Có ai nước cũng đứng bờ,
Không ai nước cũng đứng cơ mực
này.
50. Có cô thì chợ cũng đông,
Cô đi lấy chồng, thì chợ cũng
qua.
Có cô thì dượng cũng già,
Vắng cô, thì dượng cũng qua một
thì.
51. Có của thì khôn như mạy,
Không của thì dài như lú.
52. Con vua thì lại làm vua,
Con nhà thầy chùa lại quét lá đa.
53. Con cóc mày trèo cây
nho,
Anh kia không vợ hay mò đi đêm.
54. Con mèo con mẻo con meo,
Muốn ăn thịt chuột thì leo xà
nhà.
55. Con có cha mẹ đẻ
Không ai lỗ nẻ mà lên.
56. Con gái chơi với con
trai,
Rồi sau cái vú bằng hai sọ dừa.
57. Con ai mà chẳng con cha,
Cháu ai là chẳng cháu bà cháu
ông.
58. Con quan thì lại làm
quan,
Con nhà kẻ khó đốt than tối ngày.
59. Con người có tổ có tông,
Như cây có cội, như sông có nguồn,
60. Con sâu bỏ rầu nồi canh,
Một người làm đĩ xấu danh đàn bà.
61. Con gà tốt mã về lông,
Răng đen về thuốc, rượu nồng về
men.
62. Con vua lấy thằng bán
than,
Nó đem lên ngàn, cũng phải đi
theo.
Con quan Đô-đốc, Đô-tài
Lấy thằng thuyền chài cũng phải lụy
mui.
63. Còn cha gót đỏ như son,
Đến khi cha chết gót con đen sì.
64. Còn duyên kén cá, chọn
canh,
Hết duyên dẫu nắm chày hành cũng
xoay.
65. Còn duyên như tượng tô
vàng,
Hết duyên như tổ ong tàn ngày
mưa.
66. Còn duyên buôn cậy, bán
hồng,
Hết duyên buôn mít cho chồng nhặt
sơ.
Còn duyên kén cá, chọn canh,
Hết duyên rốc đực, cua kềnh cũng
vơ.
67. Còn trời, còn nước, còn
mây,
Còn ao rau muống, còn đầy chum
tương.
68. Còn trời, còn nước, còn
non,
Còn trăng, còn gió hãy còn đó
đây.
69. Cong môi hay hớt,
Mỏng môi hay hờn, dầy môi ăn vụng.
70. Còng còng dại lắm ai ơi,
Uổng công xe cát, sóng dồi lại
tan.
71. Cô kia má đỏ hồng hồng,
Cô chửa lấy chồng còn đợi chờ ai.
Buồng không lần lữa hôm mai,
Đầu xanh mấy chốc da mồi tóc
sương.
72. Cố công sống mấy nghìn
năm,
Thử xem thửa ruộng mấy trăm người
cày.
73. Cồng cộc bắt cá dưới
bàu,
Cha mẹ mầy giàu đám giỗ đầu heo.
Cồng cộc bắt cá dưới sông,
Mấy đời cháu ngoại giỗ ông bao giờ.
74. Cờ đến tay ai người ấy
phất,
Đèn nhà ai người ấy rạng.
75. Cờ bạc là bác thằng bần,
Áo quần bán hết ngồi trần tô hô.
76. Cờ đến tay ai người ấy
phất.
Đất đến tay ai người ấy nên.
77. Cơm ăn chẳng sớm thì
trưa,
Nón đội trên đầu chẳng mưa thì nắng.
78. Của làm ra để trên gác,
Của cờ bạc để ngoài sân,
Của phù vân để ngoài ngõ.
79. Của rẻ của ôi,
Tôi rẻ tôi trốn, vợ rẻ vợ lộn.
80. Cười người phải nghĩ đến
thân,
Thử sờ lên gáy xem gần hay xa.
81. Cha mẹ giàu thì con
thong thả,
Cha mẹ nghèo con vất vả gian nan.
Sáng ngày lên núi đốt than,
Chiều về xuống biển đào hang cua
còng.
82. Chẳng nên tình trước,
nghĩa sau,
Có con, ta gả cho nhau thiệt gì.
83. Chẳng gì tươi tốt bằng
vàng,
Chẳng gì lịch sự nỏ nang bằng tiền.
84. Chẳng chùi để vậy lu li,
Chùi ra tỏ rạng thua gì thủy
tinh.
85. Chẳng thiêng, ai gọi là
Thần,
Lối ngang, đường tắt chẳng gần ai
đi.
86. Chẳng đẻ, chẳng thương,
Chẳng mất tiền cưới chẳng thương
cái đì.
87. Chi ngon bằng gỏi cá nhồng,
Chi vui bằng được tin chồng vu
qui.
88. Chị em rủ đi tắm đầm,
Của em thời trắng, chị thâm thế
này ?
- Chị thâm bởi tại anh mày,
Khi xưa chị cũng hạt chay đỏ lòm.
89. Chị dại đã có em khôn,
Lẽ đâu mang giỏ thủng trôn đi mò.
Em khôn, em ở trong bồ,
Chị dại chị ở Kinh-đô mới về.
- Kinh đô thì mặc Kinh-đô
Chị đi cho lắm thì đồ chi tan.
90. Chim khôn, tránh lưới,
tránh dò,
Người khôn tránh chốn xô bồ mới
khôn.
91. Chim khôn ăn nhãn ăn
xoài,
Em khôn ngồi đợi tú tài cử nhân.
92. Chim khôn kêu tiếng rảnh
rang,
Người khôn tiếng nói dịu dàng dễ
nghe.
93. Chim khôn, chưa bắt đã
bay,
Người khôn chưa nói, dang tay đỡ
lời.
94. Chó cắn chẳng cắn chỗ
không,
Chẳng thằng ăn trộm thì ông đi đường.
95. Chó khôn tứ túc huyền đều,
Tai thì hơi cúp, đuôi thì hơi
cong.
Giống nào mỏ nhọn đít vồng,
Ăn càn cắn bậy ấy không ra gì.
96. Chó vội ăn nóng mà hư,
Để lâu càng nguội, càng nhừ, càng
ngon.
97. Chó thấy hùm ngủ vuốt
râu,
Đến khi hùm dậy đầu lâu chẳng
còn.
98. Chơi thì chơi chốn thập
thành,
Lời ăn tiếng nói nhẹ mình như
tên.
99. Chơi hoa cho biết mùi
hoa,
Hoa lê thì trắng, hoa cà thì
xanh.
100. Chơi thì chơi chốn cho
thanh,
Tuy rằng lộ tiết, nhưng danh để đời.
101. Chơi trăng từ thuở
trăng tròn,
Chơi hoa từ thuở hoa còn trên cây
102. Chơi hoa cho biết mùi
hoa,
Cầm cân cho biết cân già, cân
non.
103. Chuông có gõ mới kêu,
Đèn có khêu mới rạng.
104. Chữ nhẫn là chữ tương
vàng,
Ai mà nhẫn được thì càng sống
lâu.
105. Chửa chồng nón thúng
quai thao,
Chồng rồi, nón rách quai nào thì
quai.
Chửa chồng, yếm thắm đeo hoa,
Chồng rồi, hai vú bỏ ra tày
giành.
106. Dã tràng xe cát bể
đông,
Nhọc lòng mà chẳng nên công cán
gì.
107. Dẫu ngồi cửa sổ chạm rồng,
Trăm khôn nghìn khéo không chồng
cũng hư.
Con trai chưa vợ đã xong,
Con gái chưa chồng buồn lắm em
ơi.
108. Dễ dàng là thói hồng
nhan,
Càng cay nghiệt lắm, càng oan
trái nhiều.
109. Dì ruột thương cháu như
con,
Rủi mà không mạ, cháu còn cậy
trông.
110. Dù rách mới ra thân
tàn,
Xưa kia nó cũng hồng nhan hơn người.
111. Đã có con mắt thì xem
đàng,
Có phải cận thị mà ngó quàng ngó
quơ
112. Đã giàu thì lại giàu
thêm,
Đã khó lại khó cả đêm lẫn ngày.
113. Đàn bà yếu chân mềm
tay,
Làm ăn chẳng được lại hay nỏ mồm.
114. Đàn đâu mà gảy tai
trâu,
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi.
115. Đàn ông quan tắt thì
chày,
Đàn bà quan tắt nửa ngày nên
quan.
116. Đàn ông kia hỡi đàn
ông,
Nửa đêm trở dậy cắm chông đàn bà.
Đàn bà kia hỡi đàn bà,
Nửa đêm trở dậy rút ruột già đàn
ông.
117. Đàn ông miệng rộng thì
sang
Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa
nhà.
118. Đàn ông nông nổi giếng
khơi
Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
119. Đàn ông vượt bể, có
chúng, có bạn,
Đàn bà vượt cạn chỉ có một mình.
120. Đàn ông miệng rộng thì
tài
Đàn bà miệng rộng điếc tai láng
diềng.
121. Đàn bà như cánh hoa
tươi
Nở ra chỉ được một thời mà thôi.
122. Đàn ông không râu mất
nghì,
Đàn bà không vú lấy gì nuôi con.
123. Đàn bà lanh lảnh tiếng
đồng
Một là sát chồng, hai lại hại
con.
124. Đàng dài hay sức ngựa,
Nước loạn biết tôi ngay.
125. Đào liễu em ơi một mình
Đổi vai tình tang gánh chữ chung
tình xa là đường xa.
Tấm áo nâu sồng xếp nếp em để
trong nhà.
Ba vuông khăn tím phất phơ em đội
đầu.
Tấm yếm đào sao em khéo giữ màu,
Răng đen rưng rức, mái tóc dầu em
hãy còn xanh.
Ấy thế sao em ở vậy cho nó đành,
Sao em chẳng kiếm chút chồng lành
kẻo thế mỉa mai ?
Sách có chữ rằng : « Xuân bất tái
lai »
126. Đất tốt trồng cây rườm
rà,
Những người thanh lịch nói ra quí
quyền.
127. Đất xấu trồng cây ngẳng
nghiu,
Những người thô tục nói điều phàm
phu.
128. Đánh giặc mà đánh tay
không,
Thà về xó bếp giương cung bắn
mèo.
129. Đầu làng có bụi chuối
khô,
Trông về xóm bắc đôi cô chửa chồng.
Cây cao gió đập đùng đùng,
Ai về đàng ấy, nhắn cùng đôi cô.
130. Đèn khoe đền tỏ hơn
trăng,
Đèn ra chỗ gió được chăng hỡi
đèn.
Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn,
Cớ sao trăng phải chui luồn đám
mây ?
131. Để hơi mà tát nước bè,
Hoài lời mà nói với bè trẻ ranh.
132. Đến ta mới biết của ta,
Nghìn trăm năm trước biết là của
ai.
133. Đi lâu mới biết đường
dài,
Ở lâu mới biết con người phải
chăng.
134. Đi đâu mà vội mà vàng,
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.
Thủng thỉnh như chúng anh đây,
Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào
quàng.
135. Đi cho biết đó biết
đây,
Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.
136. Đi đâu mà vội vàng,
Mà vấp phải đá mà quàng phải dây.
Đi đâu mà vội mà vàng,
Ngã năm, bảy cái lại càng thêm
lâu.
137. Đói thì đầu gối phải
bò,
No cơm ấm cật, chẳng dò đi đâu.
138. Đói lòng ăn trái khổ
qua,
Nuốt vô thì đắng, nhả ra bạn cười.
139. Đói thời ăn ráy, ăn
khoai,
Chớ thấy lúa trổ tháng hai mà mừng.
140. Đòng đòng đi dạo đòng
đòng,
Trẻ vui đạo trẻ, già dong đạo
già.
141. Đố ai lặn xuống vực
sâu,
Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa ?
142. Đố ai biết món chi
ngon,
Gà lộn, trái vải, cu con ra ràng.
143. Đố ai bắt trạch đằng
đuôi,
Bắt chim đầu cánh, bắt người
trong trăng.
144. Đố ai nằm võng không
đưa,
Ru con không hát, tôi chừa rượu
tăm.
145. Đồng tiền không phấn
không hồ,
Đồng tiền khéo điểm, khéo tô mặt
người.
146. Đồng tiền chì mua mớ
tôm tươi.
Mua rau mới hái, mua nàng đảm
đang,
Tiếc thay đồng tiền trinh mua vội
mua vàng,
Mua rau muống héo, mua nàng ngẩn
ngơ.
147. Đời xưa kén những con
dòng,
Đời nay ấm cật, no lòng thì thôi.
148. Đời cha cho đến đời
con,
Có muốn nặn tròn, thời phải nặn
vuông.
149. Đừng chê tôi xấu tôi
đen,
Kìa như nước đục đánh phèn lại
trong.
150. Đường về Kiếp-bạc bao
xa.
Đường về Kiếp-bạc có cây đa bồ đề.
Có yêu anh cắp nón ra về,
Giàu ăn, khó chịu, chớ hề hở
hang.
151. Gà đen chân trắng, mẹ mắng
cũng mua,
Gà trắng chân chì, mua chi giống ấy.
152. Gái một con trông mòn
con mắt,
Gái hai con vú quặt đằng sau.
Gái ba con thì đâu ngồi đấy.
153. Gái mà chi ! trai mà
chi !
Sinh ra có ngãi có nghì là hơn.
154. Gái không chồng như nhà
không nóc,
Trai không vợ như cọc long chưn.
155. Gái khôn tránh khỏi đò
đưa,
Trai khôn tránh khỏi vợ thừa người
ta.
156. Giàu cha giàu mẹ thì mừng,
Giàu cô giàu bác thì đừng có
trông.
157. Giàu thì cũng chẳng có
thèm,
Khó khăn ta liệu ta làm, ta ăn.
158. Giàu ba mươi tuổi chớ mừng,
Khó ba mươi tuổi em đừng vội lo.
159. Giàu nhân ngãi hãy giữ
cho giàu,
Khó tiền bạc mựa lo rằng khó.
160. Gần sông quen tính cá,
Gần núi không lạ tiếng chim.
161. Gần thì rày viếng, mai
thăm,
Xa xôi cách trở một năm vài lần.
162. Gần nhà giàu đau lưng
ăn cốm,
Gần nhà kẻ trộm ốm lưng chịu đòn.
163. Giúp lời không ai giúp
của,
Giúp đũa không ai giúp cơm.
164. Gỗ nghiến anh dễ đóng
cày,
Gỗ lim gỗ sến anh nay đóng bừa.
Răng bừa tám cái còn thừa,
Lưỡi cày tám tấc đã vừa luống tơ.
165. Gươm linh sút cán còn
trành,
Bình hương dẫu bể miểng sành còn
thơm.
166. Hay quần, hay áo, hay
hơi,
Mà chẳng hay người là của bỏ đi.
167. Hèn mà làm bạn với
sang,
Chỗ ngồi chỗ đứng có ngang bao giờ.
168. Hoa thơm mất nhị đi rồi,
Dù rằng trang điểm cũng người vô
duyên.
169. Hoa thơm ai nỡ bỏ rơi,
Người khôn ai nỡ nặng lời đến ai.
170. Hoa sen mọc bãi cát lầm,
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen.
Thài lài mọc cạnh bờ sông,
Tuy rằng xanh tốt vẫn tông thài
lài.
171. Hoa thơm mất nhị đi rồi,
Còn thơm đâu nữa mà người ước ao.
172. Hoa thơm ai chẳng muốn
đeo,
Người khôn ai chẳng nâng niu bên
mình.
173. Hoa thơm ai chẳng nâng
niu,
Người khôn ai chẳng kính yêu mọi
bề.
174. Học hành thì ích vào
thân,
Chức cao quyền trọng dần dần theo
sau.
175. Hoài tiền mua thuốc nhuộm
răng,
Để tiền mua bánh đút mà quăng vào
mồm.
176. Hoài tiền mua pháo đốt
chơi,
Pháo nổ ra xác, tiền ôi là tiền !
177. Học trò học trẹt ỉa phẹt
ra mo,
Chó không liếm cho, học trò liếm
vậy.
178. Hơi đâu mà giận người
dưng,
Bắt sao được cái chim rừng nó
bay.
179. Hơn nhau tấm áo manh quần,
Thả ra bóc trần ai cũng như ai.
180. Kẻ có tình thì rình
trong bụi,
Kẻ vô tình lủi thủi mà đi.
181. Kiến leo cột sắt bao
mòn,
Tò vò xây ổ bao tròn mà xây.
182. Khen ai khéo đúc chuông
chùa,
Dạng thì có dạng, đánh thì không
kêu.
183. Khế xanh nấu với ốc nhồi,
Tuy nước nó xám nhưng mùi nó
ngon.
184. Khi ăn chẳng nhớ đến
tai,
Đến khi phải bóng, lấy tai mà rờ.
185. Khôn ngoan hiện ra mặt,
Què quặt hiện ra chưn tay.
186. Khôn từ trong trứng
khôn ra,
Dại dẫu đến già cũng dại.
187. Khôn thì trong trí lượng
ra,
Dại thì học lỏm người ta bề
ngoài.
188. Khôn ngoan chẳng lọ là
nhiều,
Người khôn mới nói nửa điều đã
khôn.
189. Khôn ngoan tâm tính tại
lòng,
Lọ là uống nước giữa dòng mới
khôn.
190. Khôn thì ăn trước ngồi
trên,
Dại thì đứng dựa cột đình đánh trống
cầm canh.
191. Khôn cho người dái, dại
cho người thương,
Dở dở ương ương, tổ người ta
ghét.
192. Không tiền ngồi gốc cây
đa,
Có tiền, thì sẽ lân la vào hàng.
193. Lạc đàng nắm đuôi chó,
Lạc ngõ nằm đuôi trâu.
194. Làm người ăn tối lo
mai,
Việc mình hồ dễ để ai lo lường.
195. Làm người có miệng, có
môi,
Khi buồn thì khóc, khi vui thì cười.
196. Làm ruộng thì phải đắp
đìa,
Vừa để giữ nước, vừa đi đi về
197. Làng ta mở hội vui mừng,
Chuông kêu, trống gióng vang lừng
đôi bên.
198. Lật đật cũng đến bến
giang,
Anh nay thong thả cũng sang bến
đò.
199. Lấy khách thì khách về
Tàu,
Lấy nhà giàu, thì nhà giàu phải tội
tiêu sưng.
Trở về lấy chú tửng tưng,
Tốt bền cố hỉ.
200. Lênh đênh chiếc bách giữa
dòng,
Thương thân góa bụa phòng không lỡ
thì.
Gió đưa cây trúc ngã quì,
Ba năm trực tiết còn gì là xuân ?
201. Liệu cơm mà gắp mắm ra,
Liệu cửa liệu nhà, em lấy chồng
đi,
Nửa mai quá lứa lỡ thì,
Cao thì chẳng tới, thấp thì chẳng
thông.
202. Lo chi việc ấy mà lo,
Kiến trong miệng chén có bò đi
đâu.
203. Lòng đá thắm, dạ vàng
phai,
Hơi đâu theo đuổi đường dài uổng
công.
204. Lòng vả cũng như lòng
sung,
Một trăm con lợn cũng chung một
lòng.
205. L… tốt về lụa, lúa tốt
phân,
Chân tốt về hài, tai tốt về hoản.
206. Lộng che sương dầu sườn
cũng lộng.
Cái ô bịt vàng dầu trọng cũng ô.
207. Lưỡi không xương nhiều
đường lắt léo,
Lưỡi… không cạp l… méo làm ba.
208. Máu gà lại tẩm xương
gà,
Máu người đem tẩm xương ta bao giờ.
209. Mạch trong nước chảy ra
trong,
Thế nào đi nữa, con dòng vẫn hơn.
210. Mạnh về gạo, bạo về tiền,
Lắm tiền nhiều gạo là tiên trên đời.
211. Mấy đời sấm trước có
mưa,
Mấy đời dì ghẻ có ưa con chồng.
212. Mẹ gà con vịt chít
chiu,
Mấy đời dì ghẻ nâng niu con chồng.
213. Mèo lành ở mả bao giờ,
Của yêu ai có bày ra ở ngoài,
Mèo lành ai nỡ cắt tai,
Gái hư chồng để, kêu nài ai
thương.
214. Mình đẹp cha mẹ mình
lo,
Đêm nằm lắm kẻ rình mò ước ao.
Xấu xí như mẹ con tao,
Đêm nằm ngõ cửa mát tao, mát mày.
215. Mồ côi cha ăn cơm với
cá,
Mồ côi mẹ liếm lá đầu chợ.
216. Mỗi người thì có một
nghề,
Làm cốt thì ngáp, làm nghê thì chầu.
217. Mỗi năm mỗi tuổi mỗi
như đuổi xuân đi.
Cái già sồng sộc nó thì theo sau.
218. Mỗi năm mỗi tuổi mỗi
già,
Chẳng lo liệu trước ắt là lụy
sau.
219. Mồng bốn cá đi ăn thề,
Mồng tám cá về, cá vượt Vũ-môn,
220. Một lần cho tởn tới
già,
Đừng đi nước mặn mà hà ăn chân.
221. Một tay em víu hai
cành,
Quả chín thì bẻ, quà xanh thì đừng.
222. Một quan có giấy một
quan,
Năm tiền không giấy, mất oan đừng
nài.
223. Một mai, mai một, một
mai,
Giàu sang cũng chết, xạc xài cũng
xong.
Thông minh tài trí anh hùng,
Ngu si dại dột cũng chung một gò.
224. Một cái rắm bằng nắm
thuốc tiêu,
Bằng liều thuốc gió, bằng lọ thuốc
viên.
225. Một năm là mấy tháng
xuân,
Gái kia có lẽ mấy lần đưa dâu.
226. Một cây làm chẳng nên
non,
Ba cây giụm lại nên hòn núi cao.
227. Một nhà hai chủ khôn
hòa,
Hai vua, một nước ắt là không
yên.
228. Một con tằm cũng phải
hái dâu,
Một con trâu cũng phải đóng đồng.
229. Một năm được mấy mùa
xuân,
Một ngày được mấy giờ dần sớm
mai.
Em đừng cậy sắc, khoe tài,
Khéo thay nồi thủng cũng tay thợ
hàn,
Trước kia Khôn cũng thờ Càn,
Nước kia Tấn cũng hợp Tần mới
xong.
Ngồi trong cửa sổ chạm rồng,
Chăn loan, gối phượng, không chồng
ra chi.
Thơ đào nghĩ chữ vu qui,
Hôn nhân lễ đạt, gặp thì đào yên.
Trăm sông díu dít thư cưu.
Thục nữ, quân tử hảo cầu đẹp
duyên.
Tục rằng : Tiên lại tìm Tiên,
Phú lại tìm quý, bạn hiền tìm
nhau.
230. Mua cau chọn những buồng
sai,
Mua trầu chọn những trăm hai lá
vàng.
Cau tiện ngang, trầu vằng ngắt ngọn,
Thời buổi nầy kén chọn làm chi,
Sao em chẳng lấy chồng đi ?
231. Muốn ăn cơm trắng nước
trong,
Em lên Phố-cát Đại-đồng cùng anh.
Ai lên Phố-cát Đại-đồng,
Hỏi thăm cô Tú có chồng hay chưa
?
- Có chồng năm ngoái năm xưa,
Năm nay chồng để, nên chưa có chồng.
231. Muốn tắm mát lên ngọn
sông Đào,
Muốn ăn sim chín thì vào rừng
xanh.
233. Muốn may thì phải có
kim,
Muốn hay thì phải ắt tìm người
xưa.
234. Muốn ăn hét phải đào
giun,
Phá bờ xông bụi nào còn biết e.
235. Muốn ăn đậu phụ, tương
tàu,
Mài dao, đánh kéo gọt đầu đi tu.
236. Muốn giàu nuôi trâu
cái,
Muốn lụn bại nuôi chim bồ câu.
237. Muốn cho có đó có đây,
Sơn lâm chưa dễ một cây nên rừng.
238. Muốn đánh thì đẻ con
ra,
Muốn ăn thì thổi cơm nhà mà ăn.
239. Mượn màu một chút làm
duyên,
Mấy đời gỗ mục đóng nên thuyền rồng.
240. Mưu toan thì dễ,
Sự thành thì khôn dễ làm nên.
241. Nào lời chàng dặn nàng
hay,
Ăn nhịn qua bữa, chớ vay đổ lời.
242. Nắm lại thì chắc như
cua,
Mở ra thì lại được rùa mà thôi.
243. Năng mưa, năng tốt lúa
đường,
Năng đi, năng lại xem thường xem
khinh.
244. Nên ra trên kính dưới
nhường,
Chẳng nên đạp hắt bên đường mà
đi.
245. Nồi nát lại về Cầu Nôm,
Con gái nỏ mồm về ở với cha.
246. Nồi tròn thì úp vung
tròn,
Đừng úp vung méo, nữa con người
cười.
247. Nông thì vén áo xắn quần,
Sâu thì phải dán cả thân ướt dầm.
248. Nuôi con chẳng biết
tình con,
Hễ vú gai gạo thì l… chớp đông.
249. Nỡ nào mèo lại ăn than,
Bởi chung có mỡ đổ tràn lên trên.
250. Nứa trôi sông chẳng dập
thì gãy,
Gái chồng rẫy chẳng chứng nọ thì
tật kia.
251. Nước trong múc lấy một
xanh,
Hoa thơm bẻ lấy một nhành cầm
tay.
252. Nước chảy hồn đá lăn
cù,
Con chị có chết thì bù con em.
253. Nước lên rồi nước lại
ròng,
Đố ai bắt được con còng trong
hang.
254. Nứng c… thì vặc đến
nhà,
L… còn đau mắt không ra đến
ngoài.
255. Ngáp đói hay là ngáp
no,
Có phải ngáp ngủ thì cho lên giường.
256. Ngày đi, trúc chửa mọc
răng,
Ngày về, trúc đã cao bằng ngọn
tre.
Ngày đi, lúa chửa chia vè
Ngày về, lúa đã đỏ hoe ngoài đồng.
Ngày đi, em chửa có chồng,
Ngày về, em đã có con quấn, con dắt,
con bồng, con mang.
257. Nghĩ xa thôi lại nghĩ gần,
Làm thân con nhện mấy lần vương
tơ.
Biết đâu trong đục mà chờ,
Hương thơm hết tuyết nương nhờ
vào ai ?
258. Ngọt mật càng tổ chết
ruồi,
Những nơi cay đắng là nơi thật
thà.
259. Ngỡ là nước chảy đá
mòn,
Chẳng là nước chảy, đá còn trơ
trơ.
Chờ cho nước cạn phơi bờ,
Xem con người ấy nương nhờ về
đâu.
260. Ngựa long cong ngựa
cũng đến bến,
Voi thủng thỉnh voi cũng đến đò.
261. Người đời ai có dại
chi,
Khúc sông eo hẹp phải tùy khúc
sông.
262. Người khôn con mắt đen
sì
Người dại con mắt nửa chì, nửa
thau.
263. Người mặc người, ta mặc
ta,
Mình chưa giữ được, lọ là lo ai.
264. Người đời khác nữa là
hoa,
Sớm còn, tối mất, nở ra lại tàn.
265. Người ta bắt trạch đằng
đầu
Mẹ em tham giàu bắt trạch đằng
đuôi.
266. Người trời lại bán chợ
trời,
Hễ ai biết của, biết người thì
mua.
267. Người đời hữu tử, hữu
sanh.
Sống lo xứng phận, thác dành tiếng
thơm.
268. Người khôn ăn miếng thịt
gà,
Tuy rằng ăn ít nhưng mà ngon lâu,
Người dại ăn trái bồ nâu,
Ăn no bĩnh bầu chẳng biết mùi
ngon.
269. Người đẹp như tiên,
Tắm nước Đồng-triều cũng xấu như
ma.
Người xấu như ma,
Tắm nước Đồng-trà cũng đẹp như
tiên.
270. Người đời phải xét thiệt
hơn,
Đừng nghe tiếng sáo, tiếng đờn mà
sai.
271. Người khôn đón trước
rào sau,
Để cho người dại biết đâu mà dò.
272. Người có lúc vinh, cũng
có lúc nhục.
Nước có lúc đục, cũng có lúc
trong.
273. Nhà giàu yêu kẻ thật
thà,
Nhà quan yêu kẻ vào ra nịnh thần.
274. Nhất trong là nước giếng
Hồi,
Nhất béo, nhất bùi là cá rô câu.
275. Nhẹ bằng lông quăng chẳng
đi,
Nặng bằng chì quăng xa lăng lắc.
276. Ong kiến còn có vua
tôi,
Huống chi loài người chẳng có
nghĩa ru.
277. Ơn ai một chút chớ
quên,
Oán ai một chút để bên này.
278. Ở sao cho vừa lòng người,
Ở rộng người cười, ở hẹp người
chê.
279. Phong lưu là cạm trên đời,
Hồng nhan là bả những người tài
hoa.
280. Phòng khi sấm sét bất kỳ,
Cá ao rây họa nữa thì làm sao.
281. Phượng hoàng đậu chốn
cheo leo,
Sa cơ thất thế phải theo đàn gà.
282. Quân tử thời oán tam
niên,
Tiểu nhân thời oán nhãn tiền mà
thôi.
283. Quần hồ áo cánh làm
chi,
Quần hồ áo cánh có khi tồi tàn.
284. Ra vời mới biết cạn
sâu,
Ở trong lạch hói, biết đâu mà mà
dò.
285. Ra đồng chiêm có liềm
thì cắt,
Ra đồng mùa, có mắt thì trông.
286. Răng đen chẳng lọ là
nhăn,
Người dòn chẳng lọ vấn khăn mới
dòn.
287. Rộng đồng mặc sức chim
bay.
Biển hồ lai láng mặc bầy cá đua.
288. Rượu ngon bất luận be
sành,
Áo rách khéo vá, hơn lành vụng
may.
289. Rượu lạt uống lắm cũng
say,
Người khôn nói lắm, dầu hay cũng
nhàm.
290. Rừng có mạch, vách có
tai,
Người trong chưa tỏ, người ngoài
đã hay.
291. Sao ba (tua rua) đã đứng
ngang đầu,
Em còn ở mãi làm giàu cho cha.
Giàu thời chia bảy chia ba,
Phận em là gái được là bao nhiêu.
292. Sáo đói thì sáo ăn đa,
Phượng hoàng lúc đói cứt gà cũng
ăn.
293. Sông sâu còn có kẻ dò,
Lòng người nham hiểm ai đo cho
cùng.
294. Sông sâu nước đục lờ đờ,
Cắm sào mà đợi bao giờ cho trong.
295. Sông sâu có thể bắc cầu,
Lòng người nham hiểm biết đâu mà
dò.
296. Tay tiên rót chén rượu
đào,
Bỏ ra thì tiếc uống vào thì say.
297. Tằm vương tơ, nhện cũng
vương tơ,
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm.
298. Tằm sao, tằm chẳng ăn
dâu,
Tằm đòi ăn ruộng, ăn trâu, ăn
nhà.
299. Tậu voi chung với đức
ông,
Vừa phải đánh cồng, vừa phải hốt
phân.
300. Tiền của là chúa muôn đời,
Người ta là khách vãng lai một
thì.
301. Tiền buôn tiền bán thì
để trong nhà,
Tiền cờ tiền bạc thì ra ngoài đồng.
Tiền ở trong nhà tiền chửa,
Tiền ra khỏi cửa tiền đẻ.
302. Tin bợm mất bò,
Tin bạn mất vợ, nằm co một mình.
303. Tình thân bất luận khó,
giàu,
Vải to khó nhuộm cau màu cũng
xinh.
304. Tôi quyết lên non chọn
đá thử vàng,
Thử cho đúng lượng, mấy ngàn cũng
mua.
305. Từ rày buộc chỉ ngang
lưng,
Hễ thấy người ấy thì đừng làm
quen.
306. Tưởng rằng nước chảy đá
mòn,
Ai ngờ nước chảy đá còn trơ trơ.
Chờ cho nước xuống phơi bờ,
Xem con người ấy nương nhờ vào
đâu ?
307. Thà rằng biệt tịch chi
đồ,
Càng trông thấy cảnh, thấy chùa
càng thương.
308. Thà rằng ăn nửa quả hồng,
Còn hơn ăn cả chùm sung chát lè.
309. Thắp đuốc tìm giàu,
giàu chẳng thấy,
Cầm gươm chém khó, khó theo sau.
310. Thay quần, thay áo,
thay hơi,
Thay dáng, thay dấp, nhưng người
khôn thay.
311. Thằng Bờm có cái quạt
mo,
Phú ông xin đổi ba bò, chín trâu.
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy trâu.
Phú ông xin đổi ao sâu cá mè,
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mè,
Phú ông xin đổi một bè gỗ lim,
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy lim,
Phú ông xin đổi con chim đồi mồi,
Bờm rằng, Bờm chẳng lấy mồi,
Phú ông xin đổi hòn xôi, Bờm cười.
312. Theo ma mặc áo giấy,
Ở với ai bắt chước người ấy.
313. Thè lè lưỡi trai, chẳng
ai thời nó,
Khum khum gọng vó, chẳng nó thời
ai.
314. Thế gian lắm kẻ mơ
màng,
Thấy hòn son thắm, ngỡ vàng chắt
chiu.
315. Thế gian chẳng ít thì
nhiều,
Dưng không ai dễ đặt điều cho ai.
316. Thế gian chuộng cửa chuộng
công,
Nào ai có chuộng người không bao
giờ.
317. Thế gian còn dại chửa
khôn,
Sống mặc áo rách, chết chôn áo
lành.
318. Thế gian giúp miệng lao
xao,
Ai cho đồng nào mà đỡ khó khăn.
319. Thế gian được vợ hỏng
chồng,
Có phải như rồng mà được cả đôi.
320. Thổi lửa phùng mang mau
nhẽ cháy,
Đòi nợ hung bạo mới nhạy tiền.
321. Thứ nhất sợ kẻ anh
hùng,
Thứ nhì sợ kẻ cố cùng liều thân.
322. Thứ nhất vợ dại trong
nhà,
Thứ nhì trâu chậm, thứ ba rựa
còn.
323. Thứ nhất thì gỗ vàng
tâm,
Thứ hai gỗ nghiến, thứ năm bạch
đàn.
324. Thừa tiền thì đem mà
cho,
Đừng có xem bói thêm lo vào mình.
325. Trai chê vợ mất của tay
không,
Gái chê chồng một đống trả thành
bốn.
326. Trai ba mươi tuổi đang
xoan,
Gái ba mươi tuổi đã toan về già.
327. Trai tân gái góa thì
chơi,
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng.
328. Trăm năm bia đá thì
mòn,
Nghìn năm bia miệng vẫn còn trơ
trơ.
329. Trăm hoa đua nở mùa
xuân,
Có sao cúc lại muộn tuần tiết thu
?
Vì hoa tham lấy sắc vàng,
Cho nên hoa phải muộn màng tiết
thu.
330. Trăm thức hoa đua nở
trên cành,
Thung dung tam bảo chúng sinh đôi
đường.
Chớ hoa từ bi kia còn dãi nắng dầu
sương.
Hoa lan, hoa huệ anh thương hoa
nào ?
Anh còn thương hoa mận hoa đào,
Hoa cam, hoa quít biết vào tay ai
?
Hoa đào kia chửa thắm đã phai,
Thoang thoảng hoa lài nó lại thơm
lâu.
Ai ơi chớ phụ hoa ngâu,
Hoa bí, hoa bầu cũng gọi là hoa.
Chơi hoa cho biết mùi hoa.
331. Trăm năm như cõi trời
chung,
Trăm nghề cũng phải có công mới
thành.
Cứ trong gia nghiệp nhà mình,
Ngày đêm xem sóc giữ gìn làm ăn.
Chữ rằng : « Tiểu phú do cần ».
Còn như « đại phú » là phần « do
thiên »,
Đừng trễ nãi, chớ ghét ghen,
Còn như lộc nước có phen dồi dào.
332. Trăng khuyết rồi lại
trăng tròn,
Mụ già kén rể con còn góa lâu.
333. Trăng mờ còn tỏ hơn
sao,
Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi.
334. Trâu năm sáu tuổi còn
nhanh,
Bò năm sáu tuổi đã tranh cõi già,
Đồng chiêm xin chớ nuôi bò,
Mùa đông tháng giá bò rò làm sao
?
335. Trẻ thì bé dại thơ
ngây,
Già thì lẫn lộn biết ngày nào
khôn.
336. Trong đời có bốn thứ
ngu,
Làm mai, lãnh nợ, gác cu, cầm chầu.
337. Trong đầm gì đẹp bằng
sen,
Lá xanh bông trắng lại chen nhị
vàng.
Nhị vàng, bông trắng, lá xanh,
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi
bùn.
338. Trông mặt mà bắt hình
dong,
Con lợn có béo thì lòng mới ngon.
339. Trời nắng rồi lại trời
mưa,
Chứng nào tật ấy có chừa được
đâu.
340. Trời cao đất rộng thênh
thênh,
Cái đường phú quý còn dành cho
ta.
Có công mài sắt những là,
Khi nhờ lộc nước rồi ra dồi dào.
Công của nỡ có là bao,
Ra tay tháo vát thế nào cũng
xong.
341. Trời còn khi nắng khi mưa,
Ngày còn khi sớm khi trưa nữa người.
342. Trời cao bể rộng bao
la,
Việc gì mà chẳng phải là may ta.
Trong việc nhà, ngoài thì việc nước,
Giữ làm sao sau trước vẹn tuyền,
Lọ là cầu Phật, cầu Tiên.
343. Trời sinh đã ra làm người,
Hay ăn, hay nói, hay cười, hay
chơi.
Khi ăn thời phải lựa mùi,
Khi nói thì phải lựa lời chớ sai.
Cả vui chớ có vội cười,
Nơi không lễ phép chớ chơi làm
gì.
344. Trời nào có phụ ai đâu,
Hay làm thì giàu, có chí thì nên.
345. Trứng rồng lại nở ra rồng,
Liu điu lại nở ra dòng liu điu.
346. Trứng rồng lại nở ra rồng,
Hạt thông lại nở cây thông rườm
rà.
347. Vay chín thì trả lên mười,
Phòng khi túng lỡ có người cho
vay.
348. Văn hay chẳng luận đọc
dài,
Vừa mở đầu bài đã biết văn hay.
349. Vất vả có lúc thanh
nhàn,
Không dưng ai dễ cầm tàn che
cho.
350. Vàng thì thử lửa thử
than,
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan
thử lời.
351. Vàng sa xuống giếng
khôn chìm,
Người sa lời nói như chim sổ lồng.
352. Vợ đẹp càng tổ đau
lòng,
Chè ngon tức bụng, điếu thông quyện
đờm.
353. Vua Ngô băm sáu tàn
vàng,
Chết xuống âm phủ chẳng mang được
gì.
Chúa Chỗm uống rượu tì tì,
Chết xuống âm phủ kém gì vua Ngô.
354. Vua chúa còn có khi lầm,
Nửa là con trẻ mươi lăm tuổi đầu.
355. Vừa đi, vừa đợi, vừa chờ,
Nhanh chân thì kịp, lờ đờ thì
thôi.
356. Vườn rộng chớ trồng tre
ngà,
Nhà rộng chớ chứa người ta ở
cùng.
357. Xấu thì bác mẹ sinh ra,
Xấu an phận xấu, xấu hòa đổi ai.
358. Yêu cây mới nhớ đến
hoa,
Yêu dì thằng đỏ, mua quà nó ăn.
Kiến leo cột sắt bao mòn,
Tò vò xây tổ bao tròn mà xây.
MỤC LỤC
A.
QUA VÀI Ý NIỆM VỀ VĂN HỌC BÌNH DÂN
B.
XÁC ĐỊNH MỘT CHIỀU HƯỚNG SƯU KHẢO
C.
THỬ ĐẶT MỘT PHƯƠNG PHÁP MỚI TRONG VIỆC KHẢO SÁT THI CA BÌNH DÂN
B.
QUÁ TRÌNH CẤU TẠO THI CA BÌNH DÂN
A.
NGƯỜI BÌNH DÂN VỚI LẼ SỐNG BẢN THÂN
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO SỰ LUYẾN ÁI GIỮA GÁI TRAI
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO QUAN NIỆM VỀ HÔN NHÂN
c)
TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜI
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÍNH CHẤT HỜN DỖI, GHEN TƯƠNG
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO SỰ SI MÊ TRONG THÚ VUI
e)
TÍNH CHẤT CẦN CÙ, NHẪN NẠI, CHẤT PHÁC
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÍNH CHẤT CẦN CÙ, KIÊN NHẪN, CHẤT PHÁC
g)
TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI VẬT
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO TÂM TƯ CON NGƯỜI ĐỐI VỚI NGOẠI VẬT
II.
LIÊN HỆ GIỮA ĐỜI SỐNG VẬT CHẤT VÀ TINH THẦN
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC VỀ CÁI ĐẸP, CÁI XẤU
b)
Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC CỦA BẢN NĂNG CON NGƯỜI GIỮA TÌNH CẢM VÀ THỰC TẾ
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC CHÂM BIẾM VÀ HÀI HƯỚC
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO BIẾN THÁI CỦA TÌNH YÊU
III.
PHẢN ỨNG GIỮA CON NGƯỜI VỚI LẼ SỐNG
a)
MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA TÂM TƯ VÀ CUỘC SỐNG
b)
MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI
PHẦN
TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO MÂU THUẪN GIỮA CON NGƯỜI VÀ CON NGƯỜI
c)
Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG
I.
Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI BIẾN DỊCH
2.
Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHÊNH LỆCH
3.
Ý THỨC XEM LẼ SỐNG CON NGƯỜI LÀ MỘT TRẠNG THÁI CHỊU ẢNH HƯỞNG
PHẦN TUYỂN TẬP CA DAO TIÊU BIỂU CHO Ý THỨC THỰC TIỄN TRONG LẼ SỐNG.
Sài Gòn, 1/7/1969
Nguyễn Tấn Long - Phan Canh
Theo http://vnthuquan.net/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét