Khúc tưởng niệm Ngô Kha
Chiều tối ngày 27 tháng Chạp năm Nhâm Tý, chỉ ba ngày
sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam
được ký kết (27.01.1973), nhà thơ Ngô Kha – người nghệ sĩ luôn ước mơ và kêu gọi
hòa bình, bị hai viên chức chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến bắt tại nhà, giải
đi ra cánh đồng An Cựu (Huế) và biệt tích từ đó đến nay.
Cuốn sách Ngô Kha – hành trình thơ, hành trình dấn thân và ngôi nhà vĩnh cửu (NXB Hội Nhà văn, Hà Nội, 2013), khổ 16×24, dày 468 trang, có thể xem là công trình giá trị nhất viết về con người và tác phẩm Ngô Kha (1935-1973), nhà thơ độc đáo có số phận bi tráng ở miền Nam thời chiến tranh. Cuốn sách tập hợp khá đầy đủ những bài viết của những người cùng thời gần gũi và hiểu rõ hoàn cảnh cũng như sự chọn lựa của Ngô Kha: Hoàng Phủ Ngọc Tường, Đinh Cường, Lê Khắc Cầm, Nguyễn Đắc Xuân, Bửu Ý, Chu Sơn, Thái Ngọc San, Tiêu Dao Bảo Cự, Ngô Minh, Hoàng Hà, Lê Văn Thuyên, Nguyễn Duy Hiền, Võ Quê, Tần Hoài Dạ Vũ, Trần Đình Sơn Cước, Trần Kiêm Đoàn, Lê Văn Ngăn, Nguyễn Phú Yên, Lê Nhược Thủy, Nguyễn Xuân Hoa, Nguyễn Công Thắng, Nguyễn Thanh Văn, Lê Văn Lân… Những người chủ biên cuốn sách, hai nhà giáo – nhà nghiên cứu văn học Bửu Nam và Phạm Thị Anh Nga, đã làm việc cẩn trọng để có một công trình phong phú về nội dung và trang nhã về hình thức, xứng đáng với đóng góp của Ngô Kha cho cuộc đời và cho nghệ thuật.
Cuốn sách này kế thừa các tập Thơ Ngô Kha (Hội Văn
học Nghệ thuật Thừa Thiên – Huế, 1991) và Ngô Kha – ngụ ngôn của một thế hệ (NXB
Thuận Hóa, 2005), đồng thời bổ sung nhiều tài liệu, hình ảnh quý hiếm. Các soạn
giả đã chụp lại nguyên vẹn 54 trang “Hồ sơ Ngô Kha” đăng trên tạp chí Đứng
Dậy số 65-66, in ronéo, phát hành bí mật tháng 12-1974 nhằm bày tỏ tình
liên đới với nhà thơ đã bị chính quyền bắt giam và mất tích gần hai năm trước
đó. Đây là số báo công bố “Thư đòi con” của bà Cao Thị Uẩn, mẹ của nhà thơ;
Tuyên cáo của các giáo sư, văn nghệ sĩ Huế về việc bắt giữ Ngô Kha; đặc biệt là
“Lá thư gửi cho người đang ở trong tù hay đã bị thủ tiêu” của Trịnh Công Sơn.
Những hồi ức quý giá về Ngô Kha của đồng nghiệp, bạn hữu, học trò đã khắc họa
chân dung tinh thần của nhà thơ như một ngôn sứ của tình yêu hiến dâng cho đất
mẹ và nghệ thuật.
Về sáng tác của Ngô Kha, có lẽ vẫn còn một số bản thảo bị thất
lạc, nhưng từ trước đến nay, đây là lần tập hợp đầy đủ nhất, bao gồm các tập
thơ Hoa cô độc, Ngụ ngôn của người đãng trí, Trường ca Hòa bình và
những bài thơ rời. Ngô Kha, cũng như những người trẻ làm thơ phản kháng ở miền
Nam, đã gánh trên vai một sứ mạng quá hiểm nguy trong một tình thế cực đoan của
lịch sử, khi thơ ca không chỉ dẫn đến hành động mà chính là hành động.
Trong dòng thơ phản kháng ở miền Nam, theo chúng tôi, Ngô Kha
là tác giả mà tác phẩm mang đậm hơi thở hiện đại hơn cả. Tác phẩm Ngô Kha lâu
nay được phân tích nhiều từ góc độ văn học dấn thân, giờ được đi sâu khám phá cảm
hứng siêu thực, tinh thần hiện sinh và cả ảnh hưởng phân tâm học, cho thấy đây
là một tài năng đa dạng của thơ ca hiện đại. Trong một thời gian ngắn ngủi chỉ
hơn mười năm, nhà thơ vắn số này đã làm một cuộc hành trình nghệ thuật đi qua
miền địa ngục của thế giới siêu thực, đi qua tâm thức hoài nghi và cô độc, đến
với cánh đồng hy vọng mà thi sĩ là người gieo hạt cho tương lai.
Với hai tập Hoa cô độc và Ngụ ngôn của người
đãng trí, Ngô Kha được xem như một nhà thơ siêu thực độc đáo của miền Nam.
Trong thơ Ngô Kha xuất hiện hình ảnh cái chết, sa mạc, khoảng vô hình, ác mộng,
hư vô, tạo nên một bức tranh ảo tượng về con người và cảnh vật. Với tập Hoa
cô độc, như một hô ứng với Tôi không còn cô độc của Thanh Tâm Tuyền,
Ngô Kha xây dựng một thế giới nghệ thuật huyền bí, lẫn lộn giữa thực và mộng:
em tương lai mồ rêu cỏ mọc
côn trùng rên tiếng nhạc ca than
thành trì đây giấc mộng hoang tàn
trăng lý tưởng muôn ngàn hoa dại.
(Ưu tư)
Ngụ ngôn của người đãng trí là một bài thơ dài, nhân vật
trữ tình là một người đãng trí, không có khả năng phân biệt thực – hư, quá khứ
– hiện tại – tương lai, nói với mọi người bằng tiếng nói của ngụ ngôn, đầy những
ẩn dụ:
khúc hát ngu ngơ của bông lau
tháng giêng giã từ thuốc đắng đi tìm cỏ may
tôi không thấy nàng mặc áo chim
chỉ có người hư vô và mặt trời
tôi đếm dấu chân nai trên bản chúc thư tình yêu
có những con đường mang tên em chưa ra đời
những con đường mọc đầy cây ma túy…
Ở một đoạn thơ khác, Ngô Kha khiến ta liên tưởng đến cách thể
hiện ngôn từ như được viết trong cơn mê, trong lúc “lên đồng”, một thứ ngôn từ
của tự do, tinh khiết và loại trừ lý tính:
tôi hay nói chuyện về những dòng chữ ngụ ngôn
những dòng chữ chảy từng hàng não sống
trên chiếc máy in hùng hồn của thác nước
những dòng chữ khai sinh
vào ngày trẻ con hát đồng dao
trang sách mở ra đầy hoa…
Trong bài viết “Vũ trụ thơ Ngô Kha”, Bửu Nam thật công tâm
khi phân chia hai giai đoạn sáng tác của Ngô Kha, đồng thời nhận xét về ưu điểm
và hạn chế của mỗi giai đoạn. Theo nhà nghiên cứu, giai đoạn thứ nhất bắt đầu với
tập thơ Hoa cô độc (1961) và kết thúc với trường ca Ngụ ngôn của người đãng trí
(1968) là những tác phẩm thể hiện sâu đậm cảm hứng và thi pháp siêu thực, có
nhiều cách tân về mặt hình thức. Còn giai đoạn thứ hai bắt đầu với Trường ca
Hòa bình (1969) và kết thúc với bài thơ Mai có hòa bình (1973) là những tác phẩm
thể hiện ý thức nhập cuộc với thời thế, ngôn ngữ hướng đến đại chúng.
Bửu Nam đánh giá khách quan: “Phần thơ thứ hai này đa phần là
kiểu thơ xuất phát từ hoàn cảnh (poésie de circonstance), kiểu thơ thể hiện tư
tưởng dấn thân xã hội. thơ đấu tranh chống lại những thực tại phi nhân, phi dân
chủ, thơ cổ vũ cho lý tưởng nhân bản và yêu nước trong nhãn quan của một trí thức
khuynh tả. Do đó, khi hoàn cảnh và thời cuộc qua đi, thì những câu thơ nào, bài
thơ nào ít có giá trị nghệ thuật, chưa hòa quyện được ý tưởng và cảm xúc một
cách nhuần nhị, nặng tính cách tuyên ngôn, quảng trường, hùng biện, khoa
trương, khẩu hiệu nhất thời, thì khó tồn tại lâu dài.” (Ngô Kha…, sđd, tr. 35).
Đồng thời, Bửu Nam cũng lý giải rất thuyết phục những ảnh hưởng dẫn đến sự chuyển
tiếp và giao thoa của hai giai đoạn này. Ông ghi nhận một số bài thơ ở giai đoạn
thứ hai kết hợp được “chất cảm xúc của chủ thể trữ tình hài hòa với chất tư tưởng,
lại tương tác hữu cơ với các biến cố thời cuộc, còn ngôn ngữ thơ ca được nhà
thơ sử dụng thì điêu luyện, bóng bẩy và gợi cảm” (Ngô Kha…, sđd, tr. 35). Theo
dẫn chứng của Bửu Nam, đó những bài Mùa đông chiến tranh ở Huế (1970), Cho những
người nằm xuống (1972) và Mai có hòa bình (1973).
Kinh nghiệm cảm thụ nghệ thuật có tính riêng tư và đôi khi “bảo
thủ” một cách kỳ lạ. Những bài thơ của Ngô Kha mà tôi được đọc đầu tiên là thuộc
giai đoạn thứ hai. Hồi đó, năm 1970, ở vài hiệu sách của thị xã Quảng Ngãi có
bán các tạp chí từ Sài Gòn đưa về, nhờ đó tôi tiếp xúc với thơ Ngô Kha đăng
trên Đất Nước, Trình Bầy và Đối Diện. Mãi sau 1980 tôi mới biết đến mảng thơ
siêu thực của ông, vốn chỉ phổ biến hạn chế ở Huế lúc tôi còn nhỏ. Tôi khâm phục
tài nghệ của Ngô Kha trong Hoa cô độc và Ngụ ngôn của người đãng trí. Tôi khâm
phục dũng khí của ông trong Trường ca Hòa bình, Bài ca tự quyết. Nhưng tôi lại
yêu thích những bài thơ mà ngôn ngữ thật tinh tế, không dàn trải, hòa kết hiện
thực với siêu thực, “dấn thân” với “viễn mơ”, triết lý với trữ tình, nhịp điệu
với ý tưởng. Một cách chủ quan, theo thiển ý của tôi, ba bài thơ hay nhất của
Ngô Kha là Hành trình (Đất Nước số 17, tháng 01-1970), Mặc khải (Đất Nước số
18, tháng 2&3-1970) và Mùa xuân ánh lửa mặt trời (Trình Bầy số 1,
01-8-1970). Riêng bài Mặc khải thì không thấy in lại, thậm chí không được nhắc
đến tên, trong cả ba cuốn sách về Ngô Kha xuất bản sau 1990.
Thời đi học, tôi đã chép trong tập vở những đoạn thơ mà tôi
thích, nay xin ghi lại. Dưới đây là một đoạn trong bài Hành trình mà tôi nghĩ
là bài thơ đặc sắc và vĩnh cửu nhất của Ngô Kha, với hình tượng chắt lọc và
ngôn ngữ nhuần nhị:
xe lăn đi
trên đường bay của gió
hành trình qua năm cửa giác quan
rời cao nguyên
xe vượt suối đau thương
từ tối tăm
về kinh thành hy vọng
xe đi từ trái tim buổi sáng
để tìm em trong lũng đá mù
xe đi từ mùa xuân
khi núi hãy còn xanh
qua mùa đông
khi trăng vùi đất ẩm.
Mặc khải là một bài thơ dài (175 câu), với những câu mở đầu:
bi kịch nào đã bắc chiếc cầu
trong màn lưới đêm ta vẫn nhìn thấy
em là vóc dáng của bờ biển Thái Bình
với những hạt trân châu thật mỏng manh như nước mắt
ta đã lẳng lặng đi và về rất nhiều đêm
ngự trị trên chiếc ngai bỏ trống
mang xác bướm nằm chết tình cờ buổi đầu hôm
từng giờ ta nhặt mảnh hồn rơi trên các thực trạng
em là hiện thân của huyền diệu đam mê
khi bóng chim hiện về trong khói lửa mùa xuân
lòng ta
dù không phải là một cánh buồm
đêm đêm vẫn giong thuyền ngư phủ.
Như sự sắp đặt của số phận, Ngô Kha là người viết bản requiem cho
chính mình (“Tôi sẽ chết như mùa đông trút lá cây hờn tủi/ con ngựa ô già ngã gục/
trên chiếc thảm nhung của loài ốc sên”, Ngụ ngôn của người đãng trí), cũng
là người “tấu khúc hoà bình” dâng cho đất nước:
bằng trái tim nôn nao hay bằng ước vọng
người đã ra đồng gieo những hạt bông
ta trông thấy đất đai hiền thục
sông núi trữ tình
người ốm đau cũng lên đường
cùng ngô khoai ngỏ ý
khi cánh quạt mở tung mùa nắng
người lính canh về trong lớp áo nông phu
khi tình yêu thổi bùng lên cơn gió
giữa mùa xuân ngọn đuốc mặt trời.
(Mùa xuân ánh lửa mặt trời)
Trường ca Hòa bình hơn ngàn câu thơ, dài hơn Ngụ
ngôn của người đãng trí, câu này gọi câu kia, dồn dập lời hiệu triệu của một
ngôn sứ đầy cao vọng và ảo vọng, bỗng có những câu thơ lắng đọng như những giọt
mưa đọng vào lá sen:
trên bực cửa thanh bình về buổi sớm
khi trẻ thơ tìm chữ mẹ đánh vần
trên bàn tay em ẩn hiện gân xanh
đang thấp thoáng một dòng sông sưởi nắng. […]
khi đau thương chỉ còn là mặt trái
của giấc mơ trỗi dậy ở trong hồn
như thoáng hiện những bàn tay bão tố
đang cùng nhau góp nhặt ánh triều lên.
Đọc thơ Ngô Kha, ta thấy giọng thơ hào sảng hòa quyện với giọng thơ trầm mặc; lúc như lời cầu kinh âm thầm trong đêm vắng, lúc như tiếng kèn đồng gào thét giữa phố phường; lúc như bếp than hồng hừng hực ém dưới tàn tro, lúc như một trái tim bừng cháy cho ánh sáng lan tỏa trên những ngọn gió thổi về vĩnh cửu.
31/1/2022
Huỳnh Như Phương
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét