Y Phương, hồn
cốt lặn trong núi đá
Sài Gòn, buổi chiều ngày 30 tháng 4 năm 1975, số
2 đường Hồng Thập Tự, những nhà báo, nhà văn, nhà quay phim, chụp ảnh… còn lấm
lem khói bụi, từ các ngã đường chiến tranh, theo các cánh quân chủ lực, như
cùng hẹn trước, về gặp nhau tại đây. Số 2 đường Hồng Thập Tự trước đó là cơ
quan tâm lý chiến của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu, sau ngày chiến thắng trở
thành cơ quan Cục Chính trị Quân giải phóng. Trong những người gặp gỡ tay bắt mặt
mừng còn nguyên mùi súng đạn hôm đó, có Y Phương.
Chàng trai trẻ có gương mặt đẹp, rắn rỏi nhưng tái sạm vì sốt rét, mũ tai bèo, áo vải dù xanh đen đã sờn, súng K54 đeo trễ lãng tử như hầu hết những ai có mặt hôm đó, vốn là một chiến sỹ đặc công, rồi là thành viên của Đội chiếu bóng lưu động thuộc Cục Chính trị miền. Chiến dịch Hồ Chí Minh mở màn, anh theo một cánh quân về giải phóng và tiếp quản Sài Gòn.
Tôi không thật sự có ấn tượng gì khác thường, ngoài cái tên Y
Phương, có vẻ như tên của người vùng cao, cái tên mà tôi đã đọc khi anh là tác
giả của một chùm thơ (Bài Bếp lửa trời và Dáng một dòng sông) in
trên Tạp chí Văn Nghệ Quân đội tháng 6 năm 1973. Năm ấy (1973) cũng
là năm tôi từ một đơn vị Thông tin về Tạp chí VNQĐ, nhà thơ Văn Thảo Nguyên, bấy
giờ là biên tập viên Ban Thơ, biết tôi lón lén gieo vần, liền giới thiệu một loạt
những tên tuổi mới coong (mà Văn Thảo Nguyên chưa biết mặt ) vừa có bài in trên
mấy số Tạp chí gần đây, như Y Phương, Từ Ngàn Phố, Từ Ngọc Lang, Trần Mạnh Hảo,
Văn Lê… Văn Thảo Nguyên rất khen thơ Y Phương, vì vậy, tôi nhớ ngay người đang
đeo khẩu K54 áo sờn vai trước mặt mình chính là tác giả của mấy bài thơ nọ, khi
anh giới thiệu tên mình lần gặp tại số 2 đường Hồng Thập Tự.
Rồi từ đó, tôi đọc khá nhiều Y Phương, càng đọc (cả thơ, trường
ca và sau này là tản văn, chân dung) càng nhận ra ở anh một ngòi bút đặc sắc, một
tâm hồn đặc sắc.
Nhắc đến Y Phương, đồng nghiệp không ai không nhận ra anh là
nhà thơ của Trùng Khánh, Cao Bằng. Người viết văn, làm thơ thì nhiều vô kể,
nhưng viết để người ta nhớ thơ văn ấy gắn với đất ấy, người ấy, nết ăn, nết ở ấy
thì đâu có nhiều!. Tôi càng đọc anh, càng nhận ra hồn vía cốt cách của
Y Phương cho dù đi đến đâu, tha phương cầu thực, ăn nhờ ở đậu lang bạt kỳ hồ
phương trời nào cũng không tách khỏi núi đá Trùng Khánh Cao Bằng. Người từ đó
đi ra, hồn vía nhớ đó trở về, cứ quanh quẩn bịn rịn như mây, như gió qua
thung lũng, ở lại đó làm nên mùi vị: Mùi trai Tày/ Giận người không ra mặt/
Yêu người ngâm đáy mắt/ Ruột gan âm ỉ cháy/ Lòng dạ hùng hục sôi (Đò
trăng, tr.101). Hơn đâu hết, trong nghề bút mực, nói lên được cái mùi, nói
cái riêng biệt mà vẫn làm hiện ra cái toàn thể… mới là điều căn cốt. Y Phương
làm điều đó cứ như nhẹ hều, rằng nó thế, vẫn thế, tự nhiên thế, không lên gân,
lên guốc, ra vẻ, ra dáng gì. Nhưng ai có chút máu mê viết lách hẳn đều biết, đến
được như thế là đã qua nhiều bến mê, rất nhiều chỗ lội, trước khi đến đoạn đường
bằng, đã vã rất nhiều mồ hôi trước khi gặp bóng mát hàng cây, đã qua rất nhiều
những mùa gieo thấp thỏm trước khi nhìn thấy bông lúa chín. Văn chương chính là
gieo gặt vậy.
Ai đó đã ví von viết như là cày ruộng, vậy thửa ruộng của Y
Phương đã được chuẩn bị như thế nào? Nói khác đi, ngọn nến đang cháy sáng kia
đang được đốt lên bằng năng lượng nào?. Có thể nói ngay: nó được đốt lên bằng
trầm tích văn hóa núi đá. Trong trang viết của Y Phương có thể gặp rất nhiều những
tầng vỉa của văn hóa, từ đó mọc lên những ý tưởng, những tư tưởng, những triết
lý bình dị như chính cuộc sống. Nhưng không phải ai trời cũng phú cho khả năng
đó. Chỉ những người sống kỹ, sống máu thịt, sống không dễ dãi, sống thấp thỏm,
lo âu, sống đau đớn với đời, ông trời mới tin tưởng giao cho một chút tài năng
cầm bút để mà dùng ngọn bút an ủi chút ít cho đời: Sỏi đá găm vào tôi/ Nỗi
nhớ nhà tê buốt (Đò trăng, tr.96). Vì sao vậy? Vì kẻ tha phương đang nhớ
những vật dụng đã thành kỷ niệm: Tôi đi bốn chân/ Ngung ngoang khắp nhà/ Lục
lọi mọi miền chai lọ/ Và nhiều vùng khác nữa/ Toàn những thứ ngon lành… (Chín
tháng). Nó là cái chai, cái lọ, là tảng đá đầu nhà, là rừng cây mác mật, mác
muông, là trò hơi dziều mằn thuở chăn trâu, cắt cỏ, là con ngựa hồng
mao cưỡi đến trường thuở nào, là con Đốm hoa dắt theo vào lớp học, nó là câu
sli, câu lượn, là điệu múa hải bjooc hải hoa, phiên chợ Lồng Tổng, là đùm
xôi bjooc phón, nó là ngôi nhà xây bằng đá hộc/ con đường trâu bò đi vàng
đen kìn kịt/ lúa chín tràn trề, là gánh củi gỗ nghiến ngày tết, là nồi
cháo mạ, là khói sục dín mơ màng, là nón mao zà, là khói coóc
vài, là chiếc máy khâu cũ kỹ, ân nhân nuôi sống cả nhà thời bao cấp,
(mà anh vô cùng tiếc nuối khi hiến nó cho Bảo tàng Văn học, đặng để nhiều người
biết rằng, nhà văn Việt Nam đã trải qua biết bao gian nan của đời thường), nó
là mùi đá vôi Trùng Khánh. Mùi hoa bjoc phón màu vàng rộm. Mùi xôi trám đen
nhưng nhức. Mùi hạt dẻ ngậy và bùi. Mùi khoai lang nướng ngọt lừ. Mùi măng chua
nấu canh cá trê. Mùi bánh cuốn nóng trên bếp lò đun bằng củi nghiến… Tất cả quê
hương Trùng Khánh đang thở trên người tôi. (Fừn nèn-củi tết, tr.207). Hãy nghe
anh kể về một vật dụng rất đỗi bình thường của bất cứ nhà nào, vùng quê nào,
bình thường đến mức như có thể lãng quên bất cứ lúc nào với bất cứ ai. Nhưng với
Y Phương thì không, nó trở thành ký ức: Người Tày lại có cách nghĩ khác. Để
tỏ lòng biết ơn đôi chân, gia chủ đặt một ang nước trong, ngay cạnh cầu
thang…Bên cạnh ang nước, buộc phải có một cái gáo…Chuôi gáo thò ra một chiếc
đuôi. Trên chiếc đuôi rất hay có những con chuồn chuồn ớt màu hồng đến đậu. Một
chấm đỏ như lửa cháy. Cháy cay xè trong đôi mắt nhớ nhung (Fừn nèn – củi tết,
tr. 204). Đây là những câu văn của Tản văn Y Phương, nhưng dường như
những câu thơ cũng đã mấp mé đầu ngọn bút, bởi vì cái chuôi gáo có con chuồn ớt
kia, như một ngọn lửa đã âm ỉ đầy bí mật trong tâm hồn người viết, có thể cháy
lên bất kỳ lúc nào, bởi vì phía dưới chúng (những câu thơ ) là cả một thềm
lục địa của năng lượng văn hóa. Nếu con người không chỉ sống mà phải biết
ghi nhớ cuộc sống, thì Y Phương chính là môt ví dụ. Biết bao nết ăn, nết ở từ
lâu đời, truyền đời từ thế hệ này sang thế hệ khác, trở thành những hệ giá trị
đã được loài người lựa chọn qua thời gian, năm tháng, đến lượt Y Phương chúng
thấm sâu vào từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim và ở luôn tại đấy làm
thành luân lý tự thân, thành đạo lý mang giá trị thường hằng, phổ quát của văn
hóa. Anh nói với con về quê hương vùng cao của mình:
Xa đo nỗi buồn
Cao nuôi chí lớn
Dẫu có làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá (đừng chê đá gập ghềnh)
Ở trong thung (không chê thung nghèo đói)
(Nói
với con)
Đó là đạo lý của vùng núi đá cổ Co Xàu (Cô Sầu), nhưng cũng
là đạo lý của mọi tộc người trên thế gian. Đạo lý ấy không tự dưng mà đến, nó đến
từ nết ăn ở tự ngàn xưa, nó đến từ minh triết của cha ông, nó đến từ tôn
giáo của trí tuệ: Chữ thánh hiền là thuốc, là cái gốc để làm thành
con người…Biết trọng chữ nghĩa mới là người có nhân cách (Tháng giêng,
tháng giêng một vòng dao quắm, tr. 72). Y Phương sinh ra và lớn lên trong một
gia đình có người cha là thầy Tào chữ nghĩa, uy tín, biết lấy cái tình, cái
nghĩa để đối nhân xử thế, sống thì được nể trọng, chết thì được nhớ tiếc: Ngày
cha tôi mất, khắp cánh đồng Bo Păn trước nhà rợp một màu khăn tang trắng
xóa (Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm, tr. 69). Ở đâu trên thế
gian này cũng có những người cha hóa thành ngọn lửa đạo lý hun đúc ý chí của những
người con như vậy. Có phải vì thế, đến lượt mình, khi nói với con, Y Phương thật
tình cảm nhưng cũng thật chí lý. Hai cung bậc của một tình thế: đừng chê là
lời khuyên trước một thực trạng khách quan (đá gập ghềnh), không chê mang
sắc thái mệnh lệnh nói với thế hệ sau trước một hoàn cảnh chủ quan (nghèo đói).
Nó bao hàm ý thức và luân lý, suy nghĩ và hành động, tình yêu và lòng tự tôn.
Thay vì những lời to tát như yêu đất nước, quê hương, Y Phương chọn lối
nói giản dị, giàu hình ảnh. Giản dị nhưng đủ sức găm vào trí nhớ người nghe,
người đọc. Ở đây ta bắt gặp kiểu tư duy và nếp văn hóa giao tiếp của người vùng
cao: ngắn gọn, hiệu quả, nhớ lâu. Người vùng cao sống trên địa bàn rộng, nên mỗi
khi gặp nhau họ thường nói sao để người nghe, dù sau đó đi ba quả núi, mười quả
đèo, đi mười phương, tám hướng vẫn phải mang theo lời người nói. Chẳng hạn, để
nói ý chí bất khuất của người sống trên núi, người vùng cao nói: núi không
cao quá đầu gối con người! Còn Y Phương chất liệu thì có vẻ hiện đại, mà cách
nói thì vẫn y chang thế: Làng tôi cách huyện đúng bằng một điếu thuốc lá (
Kungfu người Co Xàu, tr. 108 ), hoặc: Từ anh sang em/ Đi hỏng đôi
giày ( Đi tìm ), hoặc thị trấn Trùng Khánh cỏn con, nhỏ bé bằng ba tiếng
ho ( Kungfu người Co Xàu, tr. 43 ), rồi Họ định cư ở đây lâu đến
nỗi đã làm mục nát cả nỗi nhớ ( Kungfu người Co Xàu, tr. 150 ), say
như quả bí ngủ treo ( Kungfu người Co Xàu, tr. 233 ). Đấy là văn hóa của
giao tiếp, của lời nói, của tư duy người vùng cao. Là ký hiệu của ngôn ngữ,
dùng hình ảnh thay cho lời nói. Không ở đâu kết tinh đậm đặc văn hóa, thấm đẫm
văn hóa như ở ngôn ngữ.
Ở một trường hợp khác, diễn tả mùa hoa nhưng tịnh không thấy
hoa lá đâu, chỉ thấy vào mùa hoa Người đàn bà/ Mặt đỏ phừng/ Đủ sức vác
ông chồng/ Chạy phăm phăm lên núi và Người đàn ông/ Mệt như chiếc áo
rũ/ Vừa vịn rào vừa đi vừa ngái ngủ. Người đọc tha hồ liên tưởng, suy tưởng:
là mùa gieo trồng, là mùa sinh lực, là mùa dục tình, là mùa ái ân, là mùa sinh
sôi…và vì sao người đàn bà lại thế và người đàn ông lại như thế… Một lần khác,
cũng để diễn đạt hoàn cảnh tương tự của những chàng trai, cô gái vùng cao quê
mình, anh viết: Họ nói gì mà vòm lá rụng/ họ làm gì mà lùm quả chín/ …Để rồi
sáng sớm trong rừng/ Lá rụng/ Hoa rụng/ Quả rụng/ Chim chóc cáo chồn ngơ ngác/
Suối chở đầy hương thơm nhàu nát (Chín tháng). Chỉ dừng lại ở đấy, ý nấp ẩn,
như chơi trò trốn tìm, ý ngoài lời, ý chen lấn trong đầu người nghe, người đọc.
Y Phương chỉ gợi, không nói hết, vì nói hết biết đâu lại tòi ra cái điều không
muốn nói, vì Y Phương nhớ đến phong thái người xưa: Tin nhau không nói nhiều
lời…Ngày xưa nói là thơ/ Không thích kể/ Bây giờ vẫn thế ( Ngày xưa ngày
nay ). Còn nhớ Nguyễn Đình Thi có bài thơ tên là Không nói, nhưng đọc xong
ai nấy đều thấy xôn xao trong mình bao điều muốn nói. Làm thơ mà ham miêu tả
hay sa vào kể lể dài dòng là sở đoản. Cái độc chiêu, độc đáo của Y Phương,
kungfu của người Co Xàu là khả năng dẫn dụ, lôi cuốn người đọc vào từ trường
ngôn ngữ của mình, cùng chơi trò chơi ngôn ngữ, là khả năng không nói
hết, khả năng kiềm chế lưng chừng giữa những câu thơ. Trang viết của Y
Phương vì vậy chen lấn cái nhìn thấy. Cái không nhìn thấy. Cái nghe thấy.
Cái không nghe thấy. Chỉ cảm được bằng tâm hồn. Cái không nhìn thấy nhưng vẫn
nhận được bằng hơi bay của gió ( Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm,
tr.56 ).Thơ Y Phương thấm nhuần cách cảm…bằng tâm hồn ấy, chỉ
vài ba câu kiềm chế ( kiềm chế là một cốt cách của thơ ) mà đủ để nói được một
cách sâu sắc điều cần nói, gom và nén được thật nhiều ý tứ, mà giả dụ muốn tháo
tung chữ nghĩa, ý tứ ra để sắp đặt lại bằng văn xuôi, có lẽ phải rất dài dòng:
Người đồng mình thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương.
(Nói
với con)
Tự đục đá kê cao quê hương …hàm chứa cả lịch sử, cả năm
tháng sống, lao động và cống hiến và ý chí của những người đồng mình. Cũng những
con người sống trên đá, ở trong thung ấy, khi đón bạn thì Mời rượu
cả chum, mời quả cả cây, nhưng nếu quê hương bị kẻ thù xâm lăng, thì không
nhiều lời, mỗi người tự đứng vào chỗ của mình, như không cần phải ai bảo ai,
như lẽ sống của cha ông, tự mình làm nên thành lũy:
Phòng tuyến thứ hai
Mỗi mỏm đá một người cầm súng.
(Phòng
tuyến Khau Liêu)
Có thể hiểu: mỗi người cầm súng đang ở trên một mỏm đá, nhưng
cũng có thể hiểu mỗi mỏm đá đã biến thành mỗi người cầm súng (!). Khi đá đã biết
cầm súng (cũng như khi rừng biết che bộ đội, biết vây quân thù) thì
văn hóa yêu nước, giữ nước đã là trầm tích trong từng tấc đất, tảng đá. Mà đá
Trùng Khánh Cao Bằng thì: nhiều như không khí. Đâu đâu cũng có đá. Đá chất
ngất lên thành núi…núi sừng sững trong đời đã nghìn vạn triệu năm tuổi…Núi con
đứng trên vai núi bố. Núi cháu đứng trên vai núi bà. Cứ thế đá núi chồng đè lên
nhau chọc thủng cả trời mây ( Kungfu người Co Xàu, tr. 151 ). Đá núi
xô dạt vào nhau, tạo thành những lớp sóng cao ngất. Hết lớp sóng này chồm lên lớp
sóng khác ( Fừn nèn-củi tết, tr. 52 ). Đừng nghĩ đá khô cứng, thô
nhám, lạnh lùng. Đá tự hào không ai yêu làng này bằng mình. Người có chân đi
đông, đi tây. Đá không chân đá nằm, đá ngồi đá quỳ, đá chồng lên đá đứng lại.
Đá trông ruộng vườn. Đá canh mồ mả ông cha cho người. Đá nhìn ra đầu làng, mong
có người lần lượt trở về. Đá mong chờ người thân ( Tháng giêng tháng giêng
…, tr.34 ), Thương lắm hòn đá to dắt tay hòn đá nhỏ/ Bồng bế nhau đợi miết (
Đò trăng, tr.103 ), Cả một đời chắp vá/ Cả một đời ăn tạm bợ/ Bà cụ cười
giòn tan…/ Hôm nay khuất núi rồi/ Hòn đá như muôn người/ Đứng âm thầm thương cụ (
Đá )…
Ta hãy xem những hòn đá Trùng Khánh quan niệm về cuộc
đời như thế nào trước khi dừng lại một chút về cảm thức tha phương trong thơ Y
Phương. Tại đây, hãy quan sát Y Phương như một tác nhân thường trực với đá, để
nói về nhân cách những người trên núi đá:
Sỏi đá găm vào tôi
Nỗi nhớ nhà tê buốt
(Đò trăng, tr. 96)
Đấy là nỗi nhớ tê buốt ngôi nhà sàn bất di bất dịch,
nơi ta ra đời:
Nhưng ngôi nhà sàn trong tôi bất di bất dịch
Vách nứa mái gianh
Chiếc nấm ngọt lành
Che chở một thời và mãi mãi
(Đò trăng, tr. 106)
Đấy là nhân cách làm người khi đã khôn lớn: Làm trai người
Tày, nếu không sống thật lòng, lập tức bị mọi người coi như hủi…bởi vì người
Tày: ghét cay ghét đắng cái ác, cái giả dối, cái lươn lẹo, cái đổi trắng
thay đen, cái phản thùng, cái thớ lợ của người đời ( Tháng giêng tháng
giêng một vòng dao quắm, tr. 193,133). Đấy là cốt cách của người Co Xàu: Trên
đầu người miền núi chỉ có tổ tiên, ông bà và mặt trời. Cúi mình trước người
khác vì cái này, cái nọ thì không bao giờ (Kungfu người Co xàu, tr. 64).
Còn đây là cái tình của người vùng cao: lấy cái tình làm trọng. Cái tình
người phủ xanh trái đất (Người Co Xàu, tr.127 ), là khí phách của người
vùng cao: củi quê mình sần sùi cứng cáp/ Đã cháy lên là chẳng lụi bao giờ (Ngọn
lửa rừng), là tính nết người vùng cao: Người làng mình có thói quen
nhường nhịn nên trâu bò cũng lành hiền. Nhường nhịn là đức tính tốt đẹp từ ông
tổ ( Kungfu người Co Xàu, tr. 9 ), và lớn lao hơn, đây là Đất nước, dân tộc: Mỗi
khi hát đầm đìa nước mắt/ Thương cho dân tộc mình lao đao bốn mặt/ Những phương
trời lửa tắt lại bùng lên (Tiếng hát tháng giêng)…Quả là, đá ở Trùng Khánh
cũng mang hồn vía, cốt cách, nhân phẩm, đạo lý, khí phách… Không cần nói gì
thêm sau câu Mỗi mõm đá một người cầm súng cũng đủ hiểu liệu có kẻ
thù nào, cho dù là phương bắc hay phương tây, qua được phòng tuyến của người
vùng cao!
Như vậy, với đạo lý và văn hóa, nết ăn, nết ở, nết nói tự
ngàn xưa của vùng núi đá cổ, di sản hồn nhiên nhưng giàu có và hướng thượng thấm
tự nhiên trong tâm hồn mình, Y Phương, như đã tự chuẩn bị một nguồn năng lượng
dồi dào trước hết để làm người, rồi từ đó sẵn sàng đốt lên ngọn lửa sáng tạo,
như đã tự chuẩn bị một cánh đồng phì nhiêu, nắng gió và ẩm ướt trước mùa gieo hạt.
Và, không thể có cây gì mọc lên từ sa mạc!
Sớm nay
Mẹ thả ra đồng
Đứa con phổng phao
Trao cho Đất nước
(Chín tháng)
Muôn đời vẫn là hy sinh của mẹ: Trên thế gian này đầy
người/ Có ai đau khổ bằng mẹ tôi không/ Trước mặt là biển đông/ Sóng trào lên
nước mắt (Đò trăng, tr. 13), Tuổi tám mươi không dám ốm một ngày/
Không dám mỏi một giờ, lẳng lặng nuôi con khôn lớn, thả ra đồng và
trao cho Đất nước. Đất nước bấy giờ đang bị xâm lăng, cơn bão lốc chiến tranh
đang cuốn vào vòng xoáy chết chóc của nó hàng vạn những đứa con ưu tú khắp mọi
miền.. Từ vùng núi đá Co Xàu ra đi, những chàng trai trán dô/ Mũi thô/ Môi
dày/ Chân đi dép bốn hai vẫn thừa năm ngón/ Nhịn đói không kêu/ Nhịn khát không
kêu…/ Nhớ mẹ quá thì ngồi lên đá/ Có lúc khóc không cho ai biết/ Trốn ra sông vầy
nước/ Vẽ lên cát hình thù dãy núi quê hương. Đấy là những năm Đất nước/
Chưa một ngày yên nghỉ/ Ngủ cũng đi/ Và ăn cũng đi…/ Đất nước dài như nước mắt
người thiếu phụ. Có phải mỗi khi gian nan nhất thì đá chính là mẹ: Nhớ
mẹ quá thì ngồi lên đá, vậy là đá đã giấu trong mình cả những gì thiêng
liêng nhất. Những đứa con được mẹ trao cho Đất nước, đã mang cả linh hồn
núi đá vào trận!
Và, những chàng trai trẻ đã không phụ lòng mẹ, đã không phụ
những ngọn núi đá trùng điệp Cao Bằng từng nuôi mình khôn lớn: Chúng con
no như hạt mùa màng/ Đi từ nhà ra đồng/ Đi từ sông ra biển/ Đi từ đêm tới ngày/
Đem chiến thắng về đầy hai tay mẹ (Chúng con đã lớn).
Có một nỗi niềm, nỗi niềm tha phương cứ trở đi trở lại trong
thơ, trường ca và tản văn của Y Phương. Nó như là nỗi lòng của người xa xứ, của
người quá nặng lòng với xứ sở. Tha phương và lo âu khi những kỷ niệm vui buồn
xưa, những con người giàu nhân nghĩa xưa, những bạn bè thủy chung và nồng nhiệt
kia, tiếng nói Tày thân thiết nghe dẻo mềm như hơi bay từ chõ đồ xôi nếp
nương kia, tiếng hát của đám trai non gái tơ vang vọng khắp núi đồi.
Nghe dễ thương như lũ gà con tập gáy (Fừn nèn-củi tết, tr. 134) kia…đã bắt
đầu mai một từ hôm nay và coi chừng đến một ngày nào đó sẽ không còn trên
cái thế giới phẳng này. Y Phương luôn khắc khoải:
Chỉ còn tôi mải mê lưu lạc
Súng đạn một thời xong lâu rồi
Vẫn chưa trở về ngôi nhà của mình
(Đò trăng, tr.105)
Anh gọi hồn những ai còn lưu lạc, anh gọi vía những ai có mặt
trên thế gian nhưng vẫn còn mải mê lưu lạc:
Hãy lăn theo quả trứng khói cơm mà về làng
Ơi muôn hồn con dân Việt Nam
(Đò trăng, tr.122).
Hồn chưa về
Người làng tôi buồn đau
Lúc đầu chỉ bằng hạt vừng
Về sau to mãi lên thành quê hương miền núi
(Đò trăng, tr.11)
Y Phương xa xứ nhưng không xa làng. Tôi coi cái làng Tày
như da bọc lấy người tôi. Nó nghi ngút khói lửa cay đắng trong hồn tôi. Ngôi
làng ấy biến nước lã thành máu, chảy thấm qua nuôi hàng trăm nghìn vạn tế bào
quanh thân xác tôi (Tháng giêng tháng giêng một vòng dao quắm, tr.209 ).
Anh xa quê nhưng vẫn giữ hồn quê trong lời ăn tiếng nói hằng ngày. Trong ý thức
thường trực của Y Phương, anh rất sợ sự mai một tiếng mẹ đẻ của mình. Như con tắc
kè nhớ núi, sống ở thành phố, anh quy định khi ở nhà, cả bố mẹ con
cháu đều nói tiếng Tày cho khỏi nhớ nhà, cho khỏi quên tiếng ông cha. Anh tự
hào khi nhận ra đứa cháu ngoại đang nói tiếng của ông bà. Anh sung sướng mỗi
khi được tắm gội trong ngôn ngữ dân tộc mình: Cả nhà ai cũng nói tiếng
Tày. Gắp rau cũng ra tiếng Tày. Nhai thức ăn cũng ra tiếng Tày ( Kungfu
người Co Xàu, tr.207 ). Anh lo lắng: Hồi ấy/ Ở làng tôi/ Có người đi lính
về/ Quên hết tiếng Tày/…Sau đó/ Chừng vài ngày/ Bà mẹ thắt cổ (Tiếng mẹ đẻ).
Anh buồn bực, thảng thốt trước những thay đổi tân thời tỉnh thành lòe loẹt trên
quê hương mình làm bay đi rất nhiều cái đẹp bản làng ngày xưa, đang hiển hiện
trong những chàng trai cô gái 8X, 9X quê anh khoác lên mình những bộ quần
áo may sẵn, nhiều kiểu dáng, hợp thời trang. Xanh. Đỏ. Tím. Vàng. Còn màu chàm
thân thương ngày nào, nay không thấy đâu ( Kungfu người Co Xàu, tr.154).
Ký ức vùng cao núi đá gập ghềnh trong anh nặng như đá, sâu như vực đến mức thường
khi như bị xốc phản vệ hồn nhiên vô cớ với bất cứ những gì không thuộc
về vùng cao núi đá quê mình: Không thể sống với những cánh đồng/ Bằng phẳng
quá cò bay phát chán (Những người trèo núi)… Nghĩa là Y Phương vì quá yêu
quê hương nên luôn canh cánh sợ mất đi văn hóa quê hương. Cái nỗi lo này không
phải của riêng ai, vì mất văn hóa là mất tất cả.
Kể từ lần gặp gỡ mới hôm nào tại số 2 đường Hồng Thập Tự, đến Tết Nguyện Đán 2022 vừa rồi đã ngót nghét năm mươi năm. Tóc râu đã phai màu, dáng đi đã khật khà khật khưỡng, bước nếp bước tẻ, mắt nhìn đã mờ mờ sương khói. Thôi thì mặc kệ công danh trên đầu bồng bềnh trôi (Những mùa sông Bằng không chảy).Thôi anh lại về đục đá kê cao quê hương Cao Bằng nhé.
11/2/2022
Lê Thành Nghị
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét