Tặng người nhìn thẳng mặt trời với đôi mắt ngây dại, nắm bắt lửa với những ngón
tay không chút run rẩy và nghe giai điệu tinh thần của Vĩnh cửu đằng sau tiếng
la hét chát chúa của người mù. Tôi tặng M.E.H cuốn sách này -- Gibran
Lời mở đầu
Tôi được tình yêu mở mắt năm mười tám tuổi với những tia sáng
kỳ diệu của nó, và tinh thần tôi được nó chạm tới lần đầu tiên bằng những ngón
tay nồng nàn. Selma Karamy là người nữ đầu tiên đánh thức tinh thần tôi bằng vẻ
đẹp của nàng và dẫn tôi vào khu vườn thương cảm cao ngất nơi ngày ngày đi qua
như những giấc mộng và đêm đêm như những tối tân hôn.
Selma là người dạy tôi thờ phượng cái đẹp bằng gương mẫu của
nhan sắc nàng và vén lộ cho tôi bí mật tình yêu bằng lòng thương cảm của nàng.
Nàng là người đầu tiên hát cho tôi nghe những bài thơ của cuộc đời chân chính.
Người tuổi trẻ nào khi nhớ lại mối tình đầu của mình và ra sức
nắm bắt trở lại giờ khắc lạ thường ấy thì hồi ức đó làm thay đổi cảm xúc sâu xa
nhất của y khiến y cảm thấy quá đổi hạnh phúc, bất chấp mọi đắng cay trong bí
nhiệm của nó.
Cuộc đời người tuổi trẻ nào cũng có một "Selma", kẻ
hốt nhiên xuất hiện với y giữa mùa xuân cuộc đời, chuyển biến nỗi cô đơn của y
thành những khoảnh khắc hạnh phúc và làm những đêm dài tịch mịch của y chan chứa
âm nhạc.
Thuở đó, trong khi tôi đang mê mải với ý nghĩ và miệt mài với
trầm tư, tìm cách thấu hiểu ý nghĩa của thiên nhiên cùng sự mặc khải của sách vở
và sách thánh thì nghe tiếng TÌNH YÊU thầm thì bên tai qua đôi môi của Selma.
Cuộc sống của tôi là một cơn hôn mê trống rỗng, như cuộc sống của A-đam trong
vườn Địa đàng, và rồi tôi bỗng thấy Selma đứng ngay trước mặt mình như một cột
ánh sáng. Nàng là Eva của trái tim tôi, một Eva làm cho tâm hồn tôi tràn ngập
những bí ẩn cùng những kỳ diệu và làm cho tinh thần tôi thấu hiểu ý nghĩa của
cuộc đời.
Nàng Eva đầu tiên của loài người dẫn A-đam ra khỏi vườn Địa
đàng bằng ý muốn của chính nàng, ngược lại Selma, nàng Eva của tôi, khiến cho
tôi tự nguyện đi vào vườn địa đàng tình yêu thuần khiết và đức hạnh bằng sự dịu
ngọt và tình yêu của nàng. Tuy thế, điều xảy ra cho người đàn ông đầu tiên cũng
đã xảy ra cho tôi, và thanh gươm sáng loé xua đuổi A-đam ra khỏi vườn Địa đàng
cũng giống với cái đã làm tôi kinh hãi các cạnh sắc lấp lánh của nó và bức bách
tôi phải ra khỏi vườn địa đàng tình yêu cho dẫu tôi không bất tuân mệnh lệnh
nào và không nếm vị trái cấm nào.
Giờ đây, sau nhiều năm trôi qua, tôi chẳng còn lại gì của giấc
mộng tuyệt diệu ấy ngoài những hồi ức đau đớn dồn dập như những chiếc cánh vô
hình đang vỗ chung quanh mình, làm mọi chốn sâu thẳm trong tâm hồn tôi tràn ngập
khổ não và mang nước mắt đến trên đôi mắt tôi. Selma xinh đẹp, người tôi thương
yêu, đã chết mà không để lại gì cho tôi tưởng niệm ngoài con tim tan vỡ của tôi
và nấm mồ của nàng với những cây bách bao quanh. Nấm mồ ấy và con tim này là tất
cả những gì lưu lại để làm chứng về Selma.
Không khí tịch lặng canh gác nấm mồ không vén lộ bí mật của
Thượng đế trong chốn áo quan mịt mùng, và âm thanh sột soạt của những cành cây
mà rễ chúng hút các thành tố của hình hài ấy không kể cho nghe những bí ẩn của
huyệt mộ; chỉ có tiếng thở dài áo nảo của con tim tôi báo cho người đang sống
biết một thảm kịch thể hiện tình yêu, cái đẹp và sự chết.
Hỡi các bằng hữu thời thanh xuân của tôi, những kẻ giờ đây
người một nơi trong thành phố Beirut, mỗi khi các bạn đi ngang nghĩa trang gần
rừng thông đó, xin hãy thinh lặng ghé vào và đi chầm chậm để tiếng chân bước
không làm rộn giấc ngủ của người đã qua đời. Và xin khiêm tốn dừng lại bên mồ của
Selma, nghiêng mình chào mặt đất đang khép kín hình hài nàng, và hãy nhắc đến
tên tôi với tiếng thở rất dài rồi nói với mình rằng:
"Đây là nơi chôn cất mọi hi vọng của Gibran, kẻ đang sống
như người tù ở chốn bên kia biển. Tại nơi này, hắn đã đánh mất hạnh phúc, khô cạn
nước mắt và quên hết nụ cười."
Bên nấm mồ ấy, khổ não của Gibran cùng lớn lên theo với các
cây bách. Trên nấm mồ ấy, tinh thần của Gibran hằng đêm lung linh tưởng nhớ
Selma, đau đớn hiệp cùng cành bách cất tiếng than khóc thương tiếc sự ra đi của
Selma, kẻ hôm qua là giai điệu tuyệt trần trên đôi môi cuộc đời và hôm nay là
niềm bí mật thinh lặng trong lòng đất.
Hỡi các bằng hữu thời thanh xuân của tôi! Nhân danh những
trinh nữ được con tim các bạn yêu thương, tôi thỉnh cầu các bạn hãy đặt vòng
hoa lên nấm mồ hoang lạnh của người tôi yêu thương. Vòng hoa ấy của các bạn sẽ
như hạt sương đang rơi từ những con mắt rạng đông trên các cánh hồng đang héo
úa.
1/ Khổ não thầm lặng
Hỡi những người từng sống bên cạnh tôi, các bạn hồi tưởng
bình minh của tuổi trẻ với hoan lạc và nuối tiếc sự trôi qua của nó, còn tôi,
tôi nhớ tới nó như người tù nhớ lại những chấn song và xiềng xích trong ngục tối
của y. Các bạn nói tới những năm tháng thời thơ ấu và thời thanh xuân như một kỷ
nguyên bằng vàng, không vướng mắc tù túng và không chút âu lo, còn tôi, tôi gọi
những năm tháng ấy là kỷ nguyên của khổ não thầm lặng, như hạt mầm gieo xuống
tâm hồn mình. Và cùng với nó tôi lớn lên, không tìm thấy lối ra khỏi thế giới của
tri thức và minh triết cho tới khi tình yêu đến mở cánh cửa tâm hồn tôi và soi
sáng các xó xỉnh của nó.
Tình yêu cho tôi tiếng nói và nước mắt. Các bạn hẳn còn nhớ
các hoa viên và các cây hoa lan, các nơi họp mặt và các góc phố, tất cả làm chứng
cho những trò chơi cùng những tiếng thì thầm hồn nhiên của các bạn, và tôi cũng
thế, tôi nhớ chốn xinh đẹp ấy tại Bắc Li-băng. Mỗi lần nhắm mắt, tôi lại thấy
các thung lũng ấy, tràn ngập kỳ diệu và đầy phẩm cách, và các ngọn núi ấy, phủ
đầy vẻ lộng lẫy và vĩ đại, đang vươn hết sức mình lên bầu trời.
Mỗi lần khép đôi tai trước âm thanh rộn ràng của thành thị,
tôi lại nghe tiếng thì thầm của các con lạch nhỏ ấy, tiếng xào xạc của các cành
cây ấy. Tất cả những vẻ đẹp ấy - mà giờ đây tôi khao khát được thấy như trẻ con
thèm bầu ngực mẹ - đã gây chấn thương cho tinh thần tôi và bị giam nhốt trong
bóng tối thời thanh xuân tôi, như chim ưng khổ sở trong lồng khi thấy có đàn
chim đang bay tự do giữa bầu trời cao rộng. Các thung lũng ấy, các ngọn đồi ấy
đã chết trong trí tưởng của tôi ngoại trừ các ý nghĩ cay đắng dệt thành tấm lưới
vô vọng vây phủ tâm hồn tôi.
Lần nào ra tới cánh đồng tôi cũng thất vọng quay về mà không
hiểu rõ tại sao mình thất vọng. Lần nào nhìn lên khung trời xám tôi cũng cảm thấy
trái tim quặn thắt. Lần nào nghe tiếng hót của đàn chim và tiếng róc ránh của
con suối tôi cũng cảm thấy khổ sở mà không hiểu cái gì làm mình khổ sở. Người
ta nói rằng biện luận làm con người thành trống rỗng và trống rỗng ấy làm con
người ra hồn nhiên. Điều đó có thể đúng với những ai vừa sinh ra đã chết và những
ai hiện hữu như những thây ma đông cứng, tuy thế một cậu bé đa cảm mà ít am hiểu
là sinh vật bất hạnh nhất dưới ánh mặt trời vì nó bị xâu xé giữa hai sức mạnh.
Sức mạnh này nâng nó lên cao để thấy vẻ đẹp của cuộc hiện sinh qua đám mây
trong giấc mộng, còn sức mạnh kia cột nó xuống đất, làm mắt nó phủ đầy bụi và
chế ngự nó bằng sợ hãi và bóng tối.
Cô đơn có những bàn tay mềm mại và mượt mà như lụa nhưng túm
lấy trái tim bằng các ngón tay mạnh bạo, làm nó nhức nhối với khổ não. Cô đơn
là bạn đồng minh của khổ não và cũng là bạn đồng hành với sự thăng hoa tâm
linh.
Linh hồn cậu bé ấy trải qua cơn vùi dập của khổ não, như đóa
huệ trắng mới nở. Nó run rẩy trước gió nhẹ, mở trái tim ra với hừng đông và khép
cánh lại khi bóng đêm tới. Nếu cậu bé không có thú tiêu khiển hoặc bạn hữu hoặc
đồng đội trong các trò chơi chung, cuộc đời đối với nó sẽ giống một nhà tù chật
chội trong đó nó hoàn toàn chỉ thấy lưới nhện và chỉ nghe tiếng côn trùng đang
bò.
Khổ não ám ảnh tôi suốt thời trai trẻ không do bởi thiếu thú
tiêu khiển vì tôi có thể có chúng. Cũng không do bởi thiếu bạn hữu vì tôi có thể
kiếm ra họ. Khổ não ấy gây nên bởi trăn trở nội tâm khiến tôi yêu thích cô đơn.
Nó giết trong tôi sở thích giải trí hoặc tiêu khiển. Nó gỡ mất đôi cánh thanh
xuân trên hai vai tôi và nó làm cho tôi trở nên như một chiếc ao tù đọng với nước
yên lặng trên bề mặt, phản chiếu các hình bóng, sắc màu của mây trời và cây cối
chung quanh nhưng không thể tìm được lối để qua đó vừa hát ca vừa thoát ra biển.
Đó là cuộc sống của tôi trước khi tới năm mười tám tuổi. Năm
đó như một đỉnh núi trong đời tôi vì nó đánh thức trong tôi sự am hiểu và nó
làm tôi thấu hiểu cuộc thăng trầm của loài người. Năm đó tôi được tái sinh, và
nếu con người không được sinh ra lần nữa, cuộc đời của y sẽ vẫn là một trang trắng
trong cuốn sách của cuộc sinh tồn.
Trong năm đó, tôi thấy các thiên thần thiên đàng nhìn tôi qua
đôi mắt một người nữ xinh đẹp. Tôi cũng thấy các quỉ dữ hỏa ngục nổi cơn thịnh
nộ trong trái tim của một người đàn ông độc ác. Kẻ nào không thấy thiên thần và
quỉ dữ trong vẻ đẹp và trong tâm địa ác độc của cuộc đời sẽ còn rất lâu mới đạt
tới sự am hiểu, và tinh thần của y sẽ trống rỗng lòng thương cảm.
2/ Bàn tay định mệnh
Mùa xuân năm kỳ diệu ấy tôi ở Beirut. Các khu vườn tràn ngập
hoa tháng Nisan và cỏ xanh lục trải thảm phủ kín mặt đất, tất cả như thể bí mật
của địa cầu được vén lộ cho Thiên đàng. Những cây cam cây táo trỗ lộc trông giống
các tiên nga Houri hay các cô dâu trong y trang trắng nõn nà, được thiên nhiên
phái tới để truyền cảm hứng cho thi sĩ.
Khắp nơi mùa xuân đều đẹp nhưng đẹp nhất ở Li-băng. Xuân như
một thần linh lang thang khắp mặt đất nhưng lơ lửng trên Li-băng, đàm đạo với
các vua chúa và các ngôn sứ, ca hát với dòng sông bài Nhã ca Salomon và lặp lại
với những cây Tuyết tùng Thiêng liêng của Li-băng hồi ức về một thời cổ huy
hoàng. Beirút không bao giờ bị lầy lội mùa đông và bụi mù mùa hạ. Nó như cô dâu
trong mùa xuân hoặc như thiếu nữ ngồi bên bờ suối hong khô làn da mịn màng dưới
ánh mặt trời.
Ngày nọ giữa tháng Nisan, tôi ghé thăm một người bạn nhà ở
cách thành phố Beirut đẹp say đắm ấy một quãng khá xa. Trong lúc chúng tôi đang
trò chuyện, có một người cao niên tướng mạo phương phi, khoảng sáu mươi lăm tuổi,
đi vào. Khi tôi đứng lên chào, bạn tôi giới thiệu với tôi ông ấy là Farris
Effandi Karamy và kế đó nói cho ông biết tên tôi, kèm theo vài lời tán tụng.
Ông cụ nhìn tôi một lúc, đưa tay lên bóp bóp trán như cố nhớ ra điều gì. Rồi
ông mỉm cười bước tới gần tôi và nói:
"Anh là con trai của một người bạn rất thân với tôi. Tôi
sung sướng được thấy lại người bạn ấy trong con người của anh."
Những lời nói ấy của ông làm tôi rất xúc động và tôi bị cuốn
hút vào ông như con chim theo bản năng tìm về tổ trước giờ giông bão đến. Sau
khi chúng tôi cùng ngồi xuống, ông cụ kể cho tôi nghe tình thân hữu của ông với
cha tôi và nhắc lại thời gian cả hai cùng trải qua bên nhau. Người cao niên
thích hồi tưởng những ngày thanh niên của mình giống người tha hương khao khát
trở về quê cũ. Ông cụ cảm thấy thú vị khi kể những chuyện thời quá khứ chẳng
khác nào thi sĩ sảng khoái khi đọc lại bài thơ hay nhất của mình.
Về mặt tinh thần, Farris Effandy Karamy sống với quá khứ vì
hiện tại lướt đi lẹ làng và đối với ông, tương lai càng lúc càng tới gần sự
quên lãng. Một giờ đầy ắp những hoài niệm thời cũ trôi qua rất nhanh như những
chiếc bóng của hàng cây trên mặt cỏ. Khi sắp sửa ra về, ông cụ đặt bàn tay trái
lên vai tôi, tay phải bắt tay tôi và nói:
"Hai chục năm nay, ta không gặp cha của anh. Ta hi vọng
anh sẽ thay chỗ của ông ấy để thường xuyên đến thăm ta."
Với lòng biết ơn và cảm giác dễ chịu, tôi hứa sẽ thực hiện
nghĩa vụ con cháu đối với một người bạn thân thiết của cha tôi.
Khi Farris Effandy ra khỏi nhà, tôi yêu cầu anh bạn kể cho
tôi nghe thêm về ông cụ. Bạn tôi nói:
"Tại Beirut này tôi không biết có người đàn ông nào khác
mà giàu có khiến cho nhân từ và nhân từ làm cho giàu có. Ông cụ Ferris Effandy
là một trong vài kẻ đến với thế giới này rồi từ biệt nó mà không làm thiệt hại
ai. Tuy thế, loại người ấy thường khốn khổ và chịu áp bức vì họ không đủ khôn
ngoan để tự cứu mình thoát khỏi móng vuốt nham hiểm của kẻ khác. Ông cụ có một
đứa con gái tính nết y như cha, với nhan sắc và duyên đáng không sao tả hết. Và
cô ấy cũng sẽ bị khốn khổ vì sự giàu có của người cha đang đặt con gái bên bờ vực
kinh hoàng."
Khi người bạn thốt ra những lời ấy, tôi để ý thấy vẻ mặt anh
ám bóng mây. Và anh nói tiếp:
"Farris Effandi là một ông cụ lương thiện tốt bụng với
tâm hồn cao thượng, nhưng ông ấy thiếu sức mạnh ý chí. Ông bị người đời dẫn đi
như một người mù. Con gái của ông, dẫu kiêu hãnh và thông minh, nhưng hoàn toàn
nghe theo lời cha. Và đó là bí mật sâu kín trong cuộc sống của hai cha con. Bí
mật này bị một kẻ hiểm độc phát hiện. Kẻ đó là Giám mục Bulos Galib, một con
người quỉ quyệt ẩn núp đằng sau cuốn Phúc âm. Ông ta là nhà lãnh đạo tôn giáo địa
phương này và là kẻ biết cách làm cho người đời tin rằng mình nhân từ và cao
thượng. Dân chúng nghe lời ông và bị ông dẫn đi như đàn cừu tới lò sát sinh.
"Giám mục ấy có một đứa cháu lòng đầy hận thù và hư đốn.
Trước sau gì cũng sẽ tới ngày ông ta dàn dựng cho cháu trai của mình ở bên phải
và con gái của Farris Effandi ở bên trái còn bàn tay độc dữ của ông cầm vòng
hoa cưới đặt lên trên đầu hai đứa, để cột chặt nàng trinh nữ thuần khiết vào gã
bại hoại ô uế kia, và đưa tâm điểm của ngày vào giữa lòng đêm.
"Tôi chỉ có thể cho anh biết như thế thôi về Farris
Effandi và con gái của ông cụ ấy; anh đừng hỏi tôi thêm câu nào nữa."
Nói xong những lời đó, anh bạn tôi quay mặt về hướng cửa sổ
như thể đang dự tính giải quyết vấn đề của cuộc sống con người bằng cách chú mục
vào vẻ đẹp của vũ trụ.
Khi rời ngôi nhà của người bạn, tôi nói với anh ấy rằng vài
ngày nữa, tôi sẽ tới thăm Farris Effandi để hoàn thành lời hứa và vì tình bằng
hữu đã kết hợp ông cụ ấy với thân phụ tôi. Nghe vậy, anh nhìn tôi một chốc. Và
tôi để ý thấy vẻ mặt anh bỗng biến sắc như thể mấy lời đơn giản của tôi vén lộ
cho anh một ý tưởng mới.
Kế đó, với động thái lạ lùng, anh nhìn thẳng mặt tôi với ánh
mắt đầy tình yêu, thương cảm và sợ hãi, cái nhìn của một ngôn sứ thấy trước những
gì không kẻ nào khác có thể dự báo. Rồi môi anh run run nhưng anh vẫn im lặng
khi đưa tôi ra cửa. Cái nhìn lạ lùng của anh đi theo tôi và tôi không thể nào
hiểu nổi ý nghĩa của nó cho tới khi tôi trưởng thành trong thế giới của trải
nghiệm, nơi các con tim hiểu nhau bằng cảm nhận và là nơi tinh thần chín chắn
nhờ am hiểu.
3/ Đường vào điện thờ
Suốt mấy ngày, tôi bị cô đơn khống chế và thấm mệt với bộ mặt
ảm đạm của sách vở. Tôi thuê chiếc xe ngựa và khởi sự đi tới nhà của Farris
Effandi. Khi tới rừng thông dân chúng thường ra cắm trại, xa phu quành xe theo
một lối đi riêng phủ bóng những hàng cây cao mọc hai bên đường. Trong lúc xe chạy
ngang đó, chúng tôi có thể ngắm vẻ đẹp của các bãi cỏ xanh thẩm, các vườn nho
và nhiều cây hoa tháng Nisan vừa kết nụ.
Vài phút sau, xe dừng bánh trước một toà nhà đơn độc tọa lạc
giữa một hoa viên xinh đẹp. Hương thơm hoa hồng, hoa sơn chi và hoa lài tràn ngập
không khí. Tôi thấy Farris Effandi bước ra đón tôi. Kế đó, với lời chào mừng nồng
nhiệt và chân thật ông dẫn tôi vào nhà. Ngồi bên tôi và nhìn tôi như người cha
sung sướng thấy con trai của mình, ông hỏi tôi dồn dập những câu hỏi về đời sống,
tương lai và việc học hành của tôi.
Tôi sốt sắng trả lời bằng giọng chứa chan hoài bão vì tôi
nghe âm vang trong tai mình một điệu nhạc vinh quang và thuyền tôi đang dong buồm
trên mặt biển lặng chan hòa những giấc mơ hi vọng. Đúng lúc ấy, từ đằng sau màn
cửa bằng nhung, xuất hiện một thiếu nữ xinh đẹp trong áo dài lụa trắng, và bước
về phía tôi. Farris và tôi cùng đứng lên.
"Đây là Selma, con gái ta."
Ông cụ mở lời như thế rồi giới thiệu tôi với nàng và nói
thêm:
"Con ạ, số phận đã mang trở lại cho cha người bạn cũ
thân thiết qua con trai của ông ấy."
Trong một chốc, Selma nhìn thẳng mặt tôi như thể nghi ngờ việc
có một người khách đã có thể vào nhà họ và viếng thăm họ. Bàn tay nàng, khi tôi
chạm vào, tựa đóa huệ trắng, và tôi chợt thấy tim mình như bị xuyên thấu bởi một
cảm giác đau nhói lạ thường.
Chúng tôi ngồi bên nhau thinh lặng như thể Selma vừa mang
theo nàng vào căn phòng này một tinh thần siêu phàm mà chỉ có sự trang trọng
không nói nên lời mới xứng đáng tiếp nhận. Cảm nhận được sự im lìm ấy, nàng mỉm
cười với tôi và nói:
"Cha tôi kể tới kể lui cho tôi nghe hoài câu chuyện thời
trai trẻ của ông và những ngày ông cùng phụ thân anh trải qua với nhau. Nếu
thân phụ anh từng nói với anh theo cách giống y như của cha tôi thì đây không
phải là lúc chúng ta gặp nhau lần đầu."
Thấy thái độ của con gái và nghe lời ấy, ông cụ tỏ vẻ hài
lòng. Ông nói:
"Selma tình cảm lắm. Nó nhìn mọi sự qua con mắt tinh thần".
Kế đó, ông tiếp tục cuộc trò chuyện với vẻ ân cần và cư xử lịch
thiệp như thể ông vừa tìm thấy trong tôi một sức cuốn hút kỳ bí mang ông bay
trên đôi cánh ký ức về lại những ngày xưa cũ.
Trong khi tôi suy ngẫm các lời ông nói và mơ màng tới những
năm về sau của mình, Farris Effandi nhìn tôi như một cây cổ thụ cao ngất từng
chịu đựng bão tố và lúc này ánh mặt trời rủ bóng mát của nó lên một cây non nhỏ
bé đang run rẩy trong gió nhẹ hừng đông.
Còn Selma giữ mình im lặng. Thỉnh thoảng nàng nhìn tôi rồi
nhìn sang thân phụ mình, như đang đọc chương đầu tiên rồi chương cuối cùng của
vở kịch cuộc đời. Ngày trôi qua nhanh trong vườn hoa. Qua cửa sổ, tôi có thể thấy
chiếc hôn ma quái vàng vọt của mặt trời đang lặn trên núi non Li-băng. Farris
Effandi tiếp tục kể về các trải nghiệm của ông còn tôi lắng nghe và đáp ứng với
thiện cảm tới độ nỗi khổ não của ông biến thành niềm hạnh phúc.
Selma ngồi bên cửa sổ, tiếp tục nhìn với đôi mắt não nùng và
không nói tuy thế, nhan sắc có ngôn ngữ tuyệt trần của chính nó, cao ngất hơn
những giọng nói của lưỡi của môi. Nó là thứ ngôn ngữ vượt thời gian, chung cho
toàn thể loài người, như mặt hồ yên lặng quyến rũ những con lạch nhỏ đang hát
ca tìm tới đáy sâu thẳm của nó và rồi làm cho chúng im tiếng.
Chỉ tinh thần của chúng ta mới có thể thấu hiểu cái đẹp hoặc
sống chung và tăng trưởng với nó. Cái đẹp làm tâm trí chúng ta bối rối. Chúng
ta không có khả năng diễn đạt nó bằng ngôn từ. Nó là một cảm giác mắt chúng ta
không thể thấy; nó phát nguồn từ người ngắm nhìn và kẻ được ngắm nhìn. Cái đẹp
chân chính là một tia sáng phát sinh từ chốn cực thiêng liêng của tinh thần; nó
soi chiếu thể xác, như sự sống đến từ chốn sâu thẳm của đất và cung cấp hương sắc
cho hoa.
Cái đẹp chân chính nằm trong sự hòa điệu tinh thần, được gọi
là tình yêu, và nó chỉ có thể hiện hữu giữa người nam và người nữ.
Có phải tinh thần của Selma và của tôi đã vươn tới nhau trong
ngày đầu gặp mặt, và có phải lòng khát khao khiến tôi thấy nàng là người nữ
xinh đẹp nhất dưới ánh mặt trời? Hoặc có phải vì cơn ngất ngây men rượu thanh
xuân khiến tôi tưởng tượng ra cái không bao giờ hiện hữu?
Có phải tuổi trẻ đã làm mù quáng con mắt tự nhiên của tôi khiến
tôi tưởng tượng ánh rạng rỡ trong đôi mắt nàng, vị dịu ngọt trên đôi môi nàng
và vẻ duyên đáng của khuôn mặt nàng? Hoặc có phải rạng rỡ, dịu ngọt và
duyên dáng ấy đã mở mắt tôi, cho tôi thấy hạnh phúc và khổ não của tình yêu?
Trả lời các câu hỏi đó không là việc dễ làm nhưng tôi chân
thành nói rằng vào giờ khắc ấy, tôi cảm thấy lòng xúc động như chưa bao giờ cảm
thấy trước đây, một nỗi niềm thương cảm mới mẻ an nghỉ tĩnh lặng trong tâm hồn
tôi, giống như tinh thần lơ lửng trên mặt nước lúc bắt đầu cuộc sáng thế. Và từ
nỗi niềm thương cảm đó ra đời hạnh phúc của tôi cùng khổ não của tôi. Như thế,
kết thúc giờ gặp gỡ đầu tiên giữa Selma với tôi, và như thế, ý muốn của Trời đã
giải phóng tôi khỏi tình trạng câu thúc của tuổi trẻ và cô đơn, để tôi đi trong
đám rước của tình yêu.
Tình yêu là sự tự do độc nhất trên thế giới này vì nó làm
thăng hoa tinh thần tới độ luật lệ của loài người và các hiện tượng thiên nhiên
không thể nào làm lệch dòng chảy của nó.
Khi tôi đứng lên để từ giã, Farris Effandi tới gần tôi và nói
nhã nhặn:
"Giờ đây, hỡi con trai của ta, vì anh đã biết cách tới
ngôi nhà này nên anh phải thường xuyên tới đây và xem như đang về nhà của thân
phụ anh. Anh cứ xem ta như một người cha và Selma như chị em gái của anh vậy."
Nói như thế xong, ông quay sang nhìn Selma như yêu cầu xác nhận
lời ông vừa phát biểu. Nàng gật đầu tán thưởng và nhìn tôi như nhìn một người
quen biết cũ vừa tìm lại được.
Những lời Farris Effandi vừa thốt ra đã đặt tôi vai kề vai với
con gái của ông nơi bàn thờ của tình yêu. Những lời ấy là khúc hát tuyệt vời, bắt
đầu với phơi phới rạng rỡ và kết thúc trong đau thương sầu thãm. Chúng nâng
tinh thần chúng tôi lên cao tới cảnh giới của sự sáng và ngọn lửa nồng cháy.
Chúng là chiếc ly trong đó chúng tôi cùng uống hạnh phúc và cay đắng.
Tôi rời tòa nhà. Ông cụ đi với tôi tới cuối hoa viên trong
khi con tim tôi đập theo nhịp run rẩy của đôi môi kẻ đang khát.
4/ Ngọn đuốc trắng
Tháng Nisan sắp hết, tôi tiếp tục đến thăm ngôi nhà của
Farris Effandi và gặp gỡ Selma trong hoa viên xinh đẹp, ngắm vẻ đẹp của nàng,
kinh ngạc về trí thông minh của nàng và lắng nghe sự tịch lặng đầy đau xót. Tôi
cảm thấy có bàn tay vô hình đang kéo mình tới với nàng.
Mỗi lần đến thăm lại cho tôi một ý nghĩ mới về nhan sắc của
Selma và một cái nhìn thấu suốt mới về tinh thần dịu dàng của nàng cho tới khi
nàng thành một cuốn sách với những trang tôi có thể thấu hiểu cùng những lời ngợi
ca tôi có thể hát lên mà không bao giờ có thể thôi đọc. Một người nữ mà Thiên ý
quan phòng đã ban cho vẻ đẹp của tinh thần và thể xác, là một chân lý vừa phơi
mở vừa ẩn mật, chúng ta chỉ có thể am hiểu bằng tình yêu và chỉ có thể chạm tới
bằng đức hạnh. Và khi chúng ta tìm cách mô tả một người nữ như thế, nàng biến mất
như làn hơi.
Salma có vẻ đẹp thể xác và tinh thần nhưng làm sao tôi có thể
mô tả nàng cho kẻ không bao giờ quen biết nàng? Làm sao một người đã chết có thể
nhớ tiếng hót của chim sơn ca, hương của hoa hồng và tiếng thở dài của con suối
nhỏ? Làm sao một người tù mang xiềng xích nặng nề có thể đi theo ngọn gió hiu
hiu thổi lúc rạng đông? Phải chăng im lặng không đau đớn hơn cái chết? Phải
chăng lòng kiêu hãnh ngăn không cho tôi mô tả Selma bằng ngôn ngữ trần trụi vì
tôi không thể diễn đạt trung thực nàng bằng những sắc màu rực rỡ? Người đói
trong sa mạc sẽ không từ chối ăn bánh mì khô nếu Trời không mưa xuống man-na và
chim cút.
Trong áo dài luạ trắng, Selma mỏng manh như ánh trăng xuyên
qua khung cửa sổ. Nàng bước đi duyên dáng và nhịp nhàng. Giọng nàng trầm lắng
và ngọt ngào; lời rơi trên môi như giọt sương rơi trên cánh hoa khi bị gió khua
động.
Còn khuôn mặt của Selma! Không lời nào có thể diễn tả vẻ mặt ấy;
nó phản ánh trước tiên cơn ray rứt cực độ trong lòng và rồi thanh thoát tuyệt
trần.
Khuôn mặt Selma không mang vẻ đẹp cổ điển; nó như giấc mơ mặc
khải không thể đo lường hoặc giới hạn hoặc sao chép bằng ngọn bút lông của họa
sĩ hay đục chàng của người tạc tượng. Nhan sắc của Selma không cư ngụ trên mái
tóc vàng của nàng nhưng trong đức hạnh và sự thuần khiết bao phủ mái tóc ấy.
Không ở trong đôi mắt to của nàng nhưng trong ánh sáng tỏa ra từ chúng. Không ở
trên đôi môi hồng của nàng nhưng trong vị dịu ngọt các lời nàng nói. Không ở
trong chiếc cổ màu ngà của nàng nhưng trong vẻ thanh tú nghiêng mình tới trước.
Cũng không ở trong vóc dáng hoàn hảo của nàng nhưng trong cao nhã của tinh thần
nàng, bừng cháy như ngọn đuốc trắng giữa mặt đất và bầu trời. Sắc đẹp của Selma
như một tặng phẩm bằng thơ. Nhưng thi sĩ không là kẻ hạnh phúc cho dẫu tinh thần
họ có vươn lên cao vút tới mấy đi nữa vì họ sẽ vẫn bị phong kín trong vòng nước
mắt bao phủ.
Selma ít nói và nghĩ ngợi sâu lắng. Im lặng của nàng là một
loại âm nhạc mang con người tới thế giới các giấc mộng, làm ta lắng nghe nhịp đập
trái tim mình, thấy các hình bóng của ý nghĩ và cảm xúc đang đứng trước mặt và
đang nhìn vào mắt ta.
Selma mặc chiếc áo choàng khổ não thăm thẳm một đời; chiếc áo
ấy làm tăng thêm một cách lạ thường nhan sắc và phẩm cách của nàng, như cây trổ
lộc yêu kiều khi ta nhìn qua sương sớm.
Khổ não ấy nối kết tinh thần của Selma và của tôi như thể kẻ
này thấy trên khuôn mặt kẻ kia những gì con tim mình đang cảm nhận và nghe vọng
lại từ kẻ kia tiếng nói bị ẩn giấu trong đáy lòng mình. Thượng đế đã làm cho
hai hình hài nên một mà chia lìa sẽ không để lại gì ngoài thống khổ.
Tinh thần khổ não tìm thấy nơi nghỉ ngơi khi được hiệp nhất với
một tinh thần tương tự. Chúng kết hiệp với lòng đầy thương cảm, như người xa lạ
này mừng rỡ khi gặp người xa lạ khác trên miền đất xa lạ. Các tâm hồn được hiệp
nhất qua trung gian của khổ não sẽ không bị tách rời vì sự lộng lẫy của hạnh
phúc. Tình yêu được rửa sạch bởi nước mắt sẽ vẫn thanh khiết và mãi mãi đẹp tuyệt
trần.
5/ Bão tố
Một hôm, Farris Effandi mời tôi tới nhà ông dùng bữa tối. Tôi
nhận lời; tinh thần tôi đang đói bánh mì thiêng liêng được trời đặt vào lòng
bàn tay Selma, và đó là loại bánh tâm linh làm tâm hồn ta càng ăn vào càng thấy
đói. Đó cũng chính là loại bánh Kais, thi sĩ A -rập, Dante và Sappho từng nếm
trải khiến con tim họ bừng cháy; bánh được Thần nữ dọn ra với vị dịu ngọt của nụ
hôn và cay đắng của nước mắt.
Khi tới toà nhà của ông cụ, tôi thấy Selma đang ngồi nơi băng
ghế trong hoa viên, đầu dựa vào thân cây. Trông nàng như cô dâu mặc áo dài lụa
trắng hoặc một lính gác đang canh giữ khu vườn.
Chầm chậm và cẩn trọng tôi bước tới gần, ngồi xuống bên nàng.
Tôi không thể nói bằng lời nên chỉ còn cách giữ im lặng vì đó là ngôn ngữ độc
nhất của tâm hồn. Tuy thế, tôi cảm thấy Selma đang lắng nghe tiếng gọi vô ngôn ấy
và đang ngắm hình bóng của linh hồn tôi trong đôi mắt tôi.
Mấy phút sau, thân phụ nàngï bước ra, chào hỏi tôi như thường
lệ. Khi ông cụ đưa bàn tay về hướng tôi, tôi có cảm giác ông chúc lành cho những
bí ẩn đang hiệp nhất con gái của ông với tôi. Kế đó, ông nói:
"Các con ơi, bữa ăn đã dọn, chúng ta vào ăn!"
Selma và tôi đứng lên đi theo ông. Đôi mắt Selma sáng rỡ vì một
tình cảm mới mẻ vừa thêm vào tình yêu của nàng qua việc thân phụ nàng gọi hai
chúng tôi là các con của ông.
Chúng tôi ngồi vào bàn, thưởng thức món ăn ngon và uống loại
rượu nho để dành lâu năm nhưng linh hồn chúng tôi đang sống trong một thế giới
xa xăm. Chúng tôi đang mơ tới một tương lai cùng những gian nan của nó.
Mỗi người tách biệt trong ý nghĩ của riêng mình nhưng cả ba
chúng tôi hiệp nhất trong tình yêu. Ba con người vô tội, nhiều cảm xúc nhưng ít
am hiểu. Chúng tôi đang trong một tấn kịch được thể hiện bởi một người cao niên
yêu thương và chăm lo cho hạnh phúc của con gái, một thiếu nữ đôi mươi đang
nhìn tương lai với tâm trạng khắc khoải, và một thanh niên mơ mộng và âu lo, kẻ
chưa từng nếm rượu nho lẫn giấm chua của cuộc đời và đang ra sức với tới cực điểm
của tình yêu và am hiểu nhưng không có khả năng nâng mình lên. Ba chúng tôi ngồi
trong trời sẩm tối, ăn và uống trong ngôi nhà đơn độc được canh giữ bằng những
con mắt của Trời nhưng dưới đáy ly của chúng tôi vẫn ẩn giấu vị đắng cay và thống
khổ.
Khi chúng tôi vừa dùng xong bữa, một người hầu gái vào báo
cho biết có người mong muốn được gặp Farris Effandi, hiện đang có mặt và chờ
trước cửa. Ông cụ hỏi:
"Ai vậy?"
Người hầu gái thưa:
"Một sứ giả của Đức giám mục."
Im lặng trong một chốc và Farris Effandi nhìn con gái chằm chặp,
như một ngôn sứ đăm đăm nhìn lên Trời để tiên đoán bí mật của nó. Rồi ông cụ
nói với người hầu gái:
"Cho người ấy vào."
Người hầu gái đi ra, và một người đàn ông mặc trang phục
phương Đông với hàng ria quặp ở hai đầu bước vào chào ông cụ và nói:
"Đức giám mục sai tôi tới đây với xe riêng của ngài.
Ngài muốn thảo luận với ông một vấn đề quan trọng."
Vẻ mặt của ông cụ bỗng ảm đạm và nụ cười biến mất. Sau một
phút chìm mình trong suy nghĩ, ông tới gần tôi và nói với giọng thân ái:
"Ta hi vọng con sẽ còn ở đây cho tới lúc ta về vì Selma
sẽ vui sướng khi có con làm bạn trong ngôi nhà quạnh vắng này."
Nói xong lời ấy, ông quay sang Selma và mỉm cười, hỏi con gái
có đồng ý không. Nàng gật đầu, hai má ửng hồng. Với giọng dịu ngọt hơn tiếng nhạc
đàn lia, nàng nói:
"Thưa cha, con sẽ cố hết sức mình để vị khách của chúng
ta được hạnh phúc."
Selma nhìn theo cổ xe ngựa chở cha mình và sứ giả của Giám mục
cho tới khi nó khuất dạng, rồi nàng tới ngồi đối diện với tôi, trên chiếc
đi-văng phủ lụa màu lục. Trông nàng như một đóa hoa huệ nghiêng cánh trên thảm cỏ
xanh thẩm trong gió nhẹ ban mai. Do ý muốn của Trời mà tối nay tôi được ở một
mình với Selma trong ngôi nhà xinh đẹp của nàng, bao quanh bởi cây cối và là
nơi sự tịch lặng, tình yêu, cái đẹp và đức hạnh cùng nương náu.
Hai chúng tôi đều im lặng, người này chờ đợi người kia cất tiếng,
nhưng lời nói không là phương tiện độc nhất để hai linh hồn cảm thông nhau.
Không phải chỉ những âm tiết đến từ môi và lưỡi mới mang hai tâm hồn tới với
nhau.
Có điều gì đó lớn lao hơn và thanh khiết hơn những lời thốt
ra từ miệng lưỡi. Im lặng chiếu sáng hai linh hồn chúng tôi, thì thầm với hai
tâm hồn và mang chúng lại với nhau. Im lặng làm chúng tôi tách khỏi bản thân
mình, cùng nhau dong buồm giữa bầu trời của tinh thần và mang chúng tôi tới gần
Thiên đàng hơn. Nó làm chúng tôi cảm thấy thân xác không còn là nhà ngục và thế
giới này không chỉ là chốn lưu đày.
Selma nhìn tôi, đôi mắt ấy vén lộ bí ẩn của trái tim nàng. Kế
đó, nàng nói trầm lặng:
Vâng lời nàng, tôi đứng lên, nhưng rồi tôi ngần ngại:
"Em có nghĩ là chúng ta nên ở lại đây chờ cho tới khi
trăng lên chiếu sáng khắp vườn hoa?"
Ngừng một chút, tôi nói tiếp:
"Bóng tối đang che giấu cây cối và các đóa hoa, có thể
chúng ta sẽ chẳng thấy gì cả."
Nghe thế, nàng đáp:
"Giả dụ bóng tối có che giấu cây cối và làm các đóa hoa
khuất mắt chúng ta đi nữa, nó cũng không thể nào che giấu tình yêu khuất tâm hồn
của chúng ta."
Sau khi thốt lên những lời ấy với một âm điệu lạ thường,
Selma đưa mắt nhìn qua khung cửa sổ. Tôi vẫn giữ mình im lặng, ngẫm nghĩ lời vừa
nói của nàng, thẩm định ý nghĩa đích thực của từng âm tiết. Rồi Selma nhìn tôi
như thể hối tiếc lời vừa nói và cố thu hồi nó ra khỏi hai tai tôi bằng tia nhìn
kỳ diệu từ đôi mắt nàng. Nhưng thay vì làm cho tôi quên những lời đó, đôi mắt ấy
lặp lại khắp những chốn sâu thẳm của tâm hồn tôi, minh bạch hơn và hiệu quả
hơn, những âm tiết dịu ngọt của chúng và ghi khắc rất sâu vào trí nhớ tôi cho đến
muôn đời.
Mỗi vẻ đẹp và sự vĩ đại trong thế gian này đều được tạo ra từ
một ý nghĩ hoặc một cảm xúc đơn chiếc bên trong con người. Mỗi cái được làm bởi
các thế hệ đã qua mà chúng ta thấy hôm nay, trước khi xuất hiện, đều là ý nghĩ
trong trong tâm trí của một người nam hay cơn bốc đồng trong tâm hồn của một
người nữ. Những cuộc cách mạng làm đổ nhiều máu và hướng tâm trí đàn ông tới tự
do là của một người sống giữa hàng ngàn đàn ông khác. Những cuộc chiến tranh
tàn khốc, hủy diệt các đế quốc đều là ý tưởng từng hiện hữu trong tâm trí của một
cá thể. Những lời giảng tối thượng biến đổi dòng chảy của loài người là ý tưởng
của một con người mà thiên tài đã tách rời kẻ ấy khỏi môi trường của y. Ý tưởng
đơn chiếc ấy đã dựng lên Kim tự tháp, đã được tìm thấy trong vinh quang của đạo
Islam và đã gây nên hành động thiêu rụi đại thư viện Alexandria.
Một ý nghĩ đến với bạn vào ban đêm sẽ làm bạn lên đến vinh
quang hoặc dẫn bạn tới chốn lánh nạn. Một tia nhìn từ đôi mắt một người nữ sẽ
làm bạn thành người đàn ông hạnh phúc nhất thế giới. Một lời nói từ đôi môi của
một người sẽ làm bạn trở nên kẻ giàu có hoặc người nghèo khổ.
Những lời Selma thốt ra đêm đó đã túm bắt tôi giữa quá khứ và
tương lai mình, như con tàu buông neo giữa biển khơi. Những lời ấy đánh thức
tôi ra khỏi giấc ngủ của tuổi trẻ và cô đơn, đồng thời đặt tôi lên một sân khấu
ở đó sự sống và sự chết đóng vai trò của chúng.
Hương của hoa quyện với gió nhẹ khi chúng tôi đặt chân vào
hoa viên và thinh lặng ngồi bên nhau trên chiếc ghế dài đặt cạnh cây hoa lài,
cùng lắng nghe hơi thở của thiên nhiên đang thiu thiu ngủ, trong khi đó, giữa bầu
trời xanh, những con mắt thiên đàng làm chứng cho tấn kịch của Selma và tôi.
Mặt trăng dần dần hiện lên đằng sau rặng núi Sunnin, tỏa sáng
khắp bờ biển, các ngọn đồi, núi non, và chúng tôi có thể thấy những thôn làng nằm
quanh rìa thung lũng như những bóng ma được triệu lên từ hư không. Dưới ánh
trăng bàng bạc, chúng tôi có thể thấy vẻ đẹp của toàn xứ Li-băng.
Các thi sĩ phương Tây nghĩ về Li-băng như một chốn truyền
thuyết, bị quên lãng kể từ thời qua đi của David, Salomon và các ngôn sứ, giống
như vườn Điạ đàng bị thất lạc sau cuộc sa ngã của A-đam và Eva. Đối với các thi
sĩ phương Tây, từ ngữ "Li-băng" là một diễn tả thi vị gắn liền với một
ngọn núi có các sườn thấm đẫm hương trầm của những cây Tuyết tùng Thiêng liêng.
Nó làm họ nhớ tới các ngôi đền bằng đồng và đá cẩm thạch trắng đứng trang
nghiêm vững chắc và tới đàn nai đang gặm cỏ trong các thung lũng. Còn tôi, đêm
đó, tôi thấy Li-băng như giấc mơ với đôi mắt của kẻ làm thơ.
Như thế, vẻ ngoài của vạn vật biến đổi theo cảm xúc, và như
thế, chúng ta thấy sự kỳ diệu và cái đẹp ở nơi chúng trong khi thật sự, sự kỳ
diệu và cái đẹp ở bên trong chúng ta.
Khi ánh trăng chiếu lên khuôn mặt, lên cổ và lên hai cánh tay
của Selma, nàng trông như thể một pho tượng bằng ngà được tạc nên bởi một tín đồ
nào đó thờ phượng Ishtar, nữ thần của cái đẹp và tình yêu. Vừa nhìn tôi nàng vừa
nói:
"Tại sao anh im lặng? Tại sao anh không nói với em điều
gì đó về thời đã qua của anh?"
Và khi tôi nhìn thẳng vào mặt nàng, cơn câm nín của tôi tan
biến. Tôi mở môi mình ra và nói:
"Em có nghe những gì anh đã nói khi chúng ta tới vườn
cây trái này? Tinh thần từng nghe tiếng thì thầm của hoa và tiếng hát của thinh
lặng cũng có thể nghe tiếng la hét của linh hồn anh và tiếng gào thét của tâm hồn
anh."
Nàng đưa hai bàn tay lên ôm mặt và nói với giọng run rẩy:
"Có, em có nghe. Em đã nghe một giọng nói đến từ lồng ngực
của ban đêm và tiếng gào thét thịnh nộ trong trái tim của ban ngày."
Tôi trả lời nàng, trong lãng quên quá khứ, quên cả hiện hữu của
tôi, quên hết mọi sự, chỉ còn biết tới Selma:
"Selma ạ, anh cũng đã nghe em. Anh đã nghe tiếng nhạc
hưng phấn đang đánh nhịp rộn ràng trong không khí và đang làm khắp vũ trụ run rẩy."
Vừa nghe những lời ấy, Selma khép mắt và trên môi nàng tôi thấy
một nụ cười sung sướng pha với buồn bã. Nàng thì thầm dịu dàng:
"Giờ đây, em đã biết có cái gì đó cao hơn trời, sâu hơn
biển và lạ thường hơn sự sống, cái chết và thời gian. Giờ đây em đã biết cái
trước đây mình không biết."
Vào khoảnh khắc đó, Selma trở nên thân thiết hơn một bằng hữu,
gần gũi hơn một cô em gái và yêu thương hơn một người tình. Nàng trở thành một
ý nghĩ tối thượng, một giấc mộng tuyệt vời, một cảm xúc áp đảo đang sống động
trong tinh thần tôi.
Thật lầm lạc khi nghĩ rằng tình yêu đến từ một cuộc kết bạn
dài ngày và kiên trì theo đuổi. Tình yêu là kết quả của mối quan hệ tinh thần,
và nếu mối quan hệ ấy không phát sinh trong khoảnh khắc, nó sẽ không thể được tạo
ra theo năm tháng hoặc thậm chí qua nhiều thế hệ.
Kế đó, Selma ngẩng đầu lên, đăm đăm nhìn chân trời nơi núi
Sunmin gặp bầu trời, và nói:
"Hôm qua, đối với em, anh như người anh em, một kẻ sống
gần gũi với em, cùng ngồi tĩnh lặng bên em trong sự chăm sóc của cha em. Lúc
này, em cảm thấy có sự hiện diện của cái gì đó rất lạ lùng, ngọt ngào hơn tình
cảm anh em, một sự hòa trộn đầy ngỡ ngàng của yêu thương và sợ hãi, làm tâm hồn
em tràn ngập xót xa và hạnh phúc."
"Cảm xúc này, làm chúng ta sợ hãi và run rẩy khi nó đi
qua tâm hồn mình, là định luật của thiên nhiên dẫn đường cho mặt trăng đi quanh
quả đất và mặt trời đi quanh Thượng đế."
Selma đặt tay lên đầu tôi, đan các ngón tay trong tóc tôi. Vẻ
mặt nàng rạng rỡ. Từ đôi mắt nàng, những giọt nước mắt ứa ra và chảy xuống như
những gịot sương rơi trên cánh lá hoa huệ. Và nàng nói:
"Kẻ nào tin câu chuyện của anh với em - kẻ nào tin rằng
vào giờ này chúng ta đã vượt qua những chướng ngại của nghi hoặc? Kẻ nào tin rằng
tháng Nisan đã mang chúng ta tới với nhau lần đầu tiên và là tháng bắt chúng ta
đứng lại ở chốn Cực thiêng liêng của cuộc đời?"
Trong khi nói những lời ấy, bàn tay của Selma vẫn để yên trên
đầu tôi và tôi không muốn một vương miện hay một vòng hoa lộng lẫy nào khác
thay cho bàn tay dịu êm ấy, với những ngón tay đang đan trong tóc tôi.
Tiếp đó, tôi trả lời nàng:
"Người đời sẽ không tin câu chuyện của em với anh vì họ
không biết rằng tình yêu là đóa hoa duy nhất đâm chồi và kết nụ mà không cần sự
hỗ trợ của các mùa, nhưng có phải tháng Nisan mang chúng ta tới với nhau lần đầu
tiên và có phải giờ khắc này đã túm bắt chúng ta tại chốn Cực thiêng liêng của
cuộc đời? Không phải bàn tay của Thượng đế đã mang linh hồn của hai chúng ta tới
gần nhau từ trước ngày chào đời và biến chúng ta thành tù nhân của nhau suốt
ngày ngày đêm đêm sao? Cuộc đời con người không bắt đầu từ trong cung lòng của
người mẹ và không bao giờ kết thúc dưới huyệt mộ. Và bầu trời đầy ánh trăng này
cùng các ngôi sao kia không bị bỏ hoang phế bởi những linh hồn đang yêu và những
tinh thần trực cảm."
Khi Selma rút bàn tay ra khỏi tóc tôi, tôi cảm thấy có sự
rung động như luồng điện ở chân tóc mình, quyện với gió nhẹ ban đêm. Như một
tín đồ ngoan đạo tiếp nhận ân sủng bằng cách hôn bàn thờ trong thánh điện, tôi
cầm bàn tay của Selma và đặt lên trên đó đôi môi nóng bỏng của mình, cho nó một
chiếc hôn thật lâu mà tới hôm nay, hồi ức về nó vẫn làm tan chảy trái tim tôi
và sự dịu ngọt của nó đánh thức toàn bộ đức hạnh của tinh thần tôi.
Một giờ đi qua với mỗi phút dài bằng một năm yêu thương. Trời
đêm thanh vắng, ánh trăng, các đoá hoa và cỏ cây làm chúng tôi lãng quên thực tại,
chỉ còn nhớ tới tình yêu. Rồi bỗng nhiên tôi nghe có tiếng vó ngựa và tiếng
bánh xe nghiến xào xạc. Bị đánh thức khỏi cơn mê lịm thú vị và bị lao mình từ
thế giới mộng mơ xuống thế giới đa đoan và khốn khổ, chúng tôi thấy ông cụ đang
trở về nhà sau khi làm xong một nhiệm vụ. Chúng tôi đứng lên, đi qua vườn cây
ăn quả để tới đón ông.
Khi chiếc xe ngựa tới lối vào hoa viên, Farris Effandi bước
xuống. Ông cụ đi rất chậm về phía chúng tôi, oằn người tới trước như thể trên
vai đang vác một gánh rất nặng. Ông tới gần Selma, đặt cả hai bàn tay lên vai
con gái và nhìn nàng chằm chặp. Trên hai gò má nhăn nheo của người già, nước mắt
tuôn xuống thành dòng, và trên đôi môi ông run rẩy một nụ cười khổ sở. Ông cụ
nói với giọng đứt quãng trong cổ họng:
"Selma thương yêu của cha, con sẽ rất sớm bị lấy đi khỏi
vòng tay của người cha này để tới hai cánh tay của một người đàn ông khác. Số
phận sẽ rất sớm mang con từ ngôi nhà quạnh quẽ này tới chiếc sân mênh mông của
thế giới, vườn hoa này sẽ nhớ mãi tiếng bước chân con và cha sẽ trở thành người
lạ đối với con. Tất cả đã định; xin Thiên Chúa ban ơn phước cho con"
Nghe những lời ấy, vẻ mặt của Selma tối sầm, hai mắt nàng lạnh
lẽo như thể cảm giác điềm báo trước cái chết. Rồi nàng thét lên như chim bị bắn
rớt, đau đớn run lẩy bẩy, và nàng hỏi với giọng uất nghẹn:
"Cha nói cái gì? Cha có ý nói gì? Cha định đưa con đi
đâu?"
Dứt câu hỏi, nàng nhìn cha với tia mắt xuyên suốt, cố gắng
khám phá cho ra bí mật của ông. Lát sau, nàng nói:
"Con hiểu, con hiểu hết mọi sự. Giám mục đòi hỏi con ở
nơi cha và đã chuẩn bị xong chiếc lồng cho con chim gãy cánh này. Thưa cha, có
phải đó là ý muốn của cha?"
Câu trả lời của Farris Effandi là một tiếng thở ra rất dài.
Ông dịu dàng dẫn Selma vào nhà trong khi tôi vẫn đứng nơi hoa viên với các đợt
sóng bối rối vỗ ào ạt lên mình như cơn bão đánh tan tác lá mùa thu. Kế đó, tôi
đi theo họ vào phòng khách. Và để tránh tình cảnh lúng túng, tôi bắt tay ông cụ
rồi nhìn Selma ngôi sao xinh đẹp của tôi, và ra khỏi nhà.
Khi tới cuối hoa viên, tôi nghe tiếng ông cụ gọi mình. Tôi
quay lại gặp ông. Ông cầm tay tôi và nói với vẻ xin lỗi:
"Con trai ơi, hãy tha thứ cho ta. Ta đã phá hỏng buổi tối
của con khi để cho dòng nước mắt này chảy. Nhưng xin con vui lòng tới gặp ta
khi ngôi nhà này thành nơi vắng vẻ và ta cô độc tuyệt vọng. Tuổi trẻ, con trai
của ta ơi, không sóng đôi với tuổi già như ban mai không gặp ban đêm, nhưng con
hãy đến với ta để gợi cho ta nhớ lại những ngày tươi trẻ đã trải qua với cha của
con. Và con sẽ kể cho ta nghe tin tức về cuộc đời mà giờ đây không còn tính ta
vào trong số con cái của nó nữa. Con có sẽ đến thăm ta khi Selma đã ra đi và ta
bị bỏ lại đây trong quạnh quẽ không?"
Trong khi ông nói ra những lời đau đớn ấy tôi im lặng bắt tay
ông và cảm thấy những giọt nước mắt ấm rơi từ mắt ông xuống bàn tay tôi. Run rẩy
với xót xa và tình hiếu thảo, tôi cảm thấy tim mình thắt lại với sầu khổ. Khi
tôi ngẩng đầu lên và ông cụ thấy những giọt lệ trong mắt tôi, ông chúi người tới
trước, chạm lên trán tôi bằng đôi môi của ông:
"Tạm biệt, con trai, tạm biệt."
Nước mắt của người già hiệu nghiệm hơn nước mắt của người trẻ
vì nó là phần còn lại trong hình hài đang yếu dần của họ. Nước mắt của người trẻ
như giọt sương trên cánh hoa hồng trong khi nước mắt người già như lá vàng rơi
theo gió lúc trời sắp sang đông.
Khi tôi rời tòa nhà của Farris Effandi Karamy, tiếng nói của
Selma vẫn rung động trong tai tôi, nhan sắc của nàng đi theo tôi như một hồn ma
và những giọt nước mắt của thân phụ nàng khô chầm chậm trên bàn tay tôi.
Lần ra đi này của tôi như cuộc xuất hành của A-đam từ vườn Địa
đàng, nhưng nàng Eva của trái tim tôi không cùng đi với tôi để làm cho toàn bộ
thế giới trở thành một chốn thần tiên. Đêm đó, trong khi được sinh ra thêm lần
nữa, tôi cảm thấy mình vừa thấy bộ mặt của thần chết lần đầu tiên.
Như thế mặt trời vừa làm sống động vừa giết chết các đồng ruộng
bằng sức nóng của nó.
6/ Hồ lửa
Mọi sự con người làm lén lút trong bóng tối ban đêm sẽ bị vén
lộ rõ ràng dưới ánh sáng ban ngày. Những câu nói thốt ra ở chỗ riêng tư sẽ trở
thành đề tài cho các cuộc trò chuyện công cộng không ai ngờ. Những hành vi cử
chỉ ta che giấu hôm nay trong các góc khuất nơi mình cư ngụ sẽ bị nói lớn lên
trên mọi đường phố ngày mai.
Như thế, hồn ma của bóng tối đã vén lộ mục đích cuộc gặp gỡ của
Giám mục Bulos Galib với Farris Effandi Karamy, và cuộc trò chuyện của ông được
lặp lại đầy đủ khắp vùng lân cận cho đến khi nó tới tai tôi.
Cuộc thảo luận diễn ra đêm đó giữa Giám mục Bulos Galib và
Farris Effandi không về các vấn đề của người nghèo khổ, góa bụa hay trẻ mồ côi.
Mục đích chính của việc cho đi kiếm Farris và mang ông ấy tới bằng cổ xe ngựa
riêng của Giám mục là chuyện hỏi cưới Selma cho cháu của Giám mục, Thiếu gia
Bey Galib.
Selma là đứa con duy nhất của phú ông Farris Effandi, và sự
tuyển chọn của Giám mục rơi trên Selma không phải là vì sắc đẹp và tinh thần
cao nhã của nàng nhưng do bởi tiền bạc của thân phụ nàng sẽ bảo đảm cho Thiếu
gia Bey một tài sản lớn lao và tốt lành đồng thời làm cho hắn trở nên người
quan trọng.
Các thủ lãnh tôn giáo ở phương Đông thường không chỉ bằng
lòng với sự hào phóng bản thân họ nhận được; họ phải phấn đấu sao cho mọi phần
tử trong dòng họ mình trở thành kẻ có ưu quyền và kẻ áp bức. Vinh quang của một
ông hoàng được lưu truyền cho trưởng nam bằng kế thừa nhưng quyền cao chức trọng
của một thủ lãnh tôn giáo được lan truyền trong anh em và con cháu của họ. Như
thế, giám mục Kitô giáo, đạo trưởng Hồi giáo và tư tế Bà-la-môn trở nên như
loài động vật bò sát dưới biển, chộp bắt con mồi bằng rất nhiều tua cảm ứng và
hút máu nó bằng vô số miệng.
Khi Giám mục yêu cầu Selma đưa bàn tay ra cho cháu trai mình,
câu trả lời duy nhất ông nhận từ thân phụ nàng là sự im lặng thẳm sâu và giọt
nước mắt rơi, vì người cha ấy oán hận việc mất đi đứa con độc nhất của ông.
Linh hồn của bất cứ ai cũng run rầy khi bị lìa xa đứa con gái độc nhất từng được
mình nuôi dạy thành thiếu nữ.
Nỗi đau của cha mẹ khi con gái kết hôn tương đương với niềm
vui của họ trong đám cưới của con trai vì con trai mang về cho gia đình một
thành viên mới, trong khi con gái, ngay sau hôn lễ, bị họ xem như đã mất.
Không thể không chấp nhận đòi hỏi của Giám mục, Farris
Effandi buộc lòng phải tuân theo ý muốn đó vì ông cụ biết rất rõ đứa cháu của
Giám mục là kẻ hiểm ác, lòng đầy hận thù, quỉ quyệt và hư đốn.
Tại Li-băng, không tín hữu Kitô giáo nào chống lại Giám mục của
mình mà có thể tiếp tục giữ địa vị tốt. Không người nào bất tuân vị lãnh đạo
tôn giáo của mình mà còn có thể giữ được thanh danh. Con mắt không thể đương cự
mũi giáo mà không bị đâm thủng, và bàn tay không thể nắm bắt lưỡi gươm mà không
bị chém đứt.
Giả dụ Farris Effandi chống lại Giám mục và từ khước nguyện vọng
của ông ta, lúc đó thanh danh của ông cụ sẽ bị mất hẳn và tên của ông sẽ bị làm
cho ô uế bởi những miệng lưỡi dơ bẫn. Theo ý kiến của con cáo thì những chùm
nho nằm cao quá tầm tay với của nó đều chua.
Như thế, định mệnh đã túm lấy Selma và dẫn nàng đi như một
tên nô lệ bị sỉ nhục trong cuộc diễu hành của phụ nữ phương Đông khốn khổ. Và
như thế, tinh thần cao thượng ấy bị sập bẫy sau khi đã bay tự do trên đôi cánh
trắng của tình yêu trong bầu trời tràn ngập ánh trăng và ngan ngát hương hoa.
Tại vài xứ sở, sự giàu có của cha mẹ là nguồn gốc khốn khổ của
con cái. Chiếc tủ lớn và chắc chắn được cha mẹ dùng làm tủ sắt cất giữ của cải
của mình trở thành xà lim chật hẹp và tối tăm cho linh hồn của kẻ kế thừa họ. Đồng
Đi-na vạn năng mà dân chúng tôn thờ trở thành quỉ dữ trừng phạt tinh thần và giết
chết tâm hồn. Selma Karamy là một trong các nạn nhân của sự giàu có của cha mẹ
và lòng tham của chú rễ. Nếu không vì tài sản của cha mình, nàng vẫn được tiếp
tục sống trong hạnh phúc.
Đã qua một tuần lễ. Tình yêu của Selma, nguồn an ủi độc nhất
của tôi, hát cho tôi nghe những khúc ca hạnh phúc khi đêm về, đánh thức tôi dậy
lúc tảng sáng để vén lộ ý nghĩa của cuộc đời và các bí ẩn của thiên nhiên. Nó
là một tình yêu thoát tục, vượt lên trên mọi ganh ti, của cải và không bao giờ
gây thương tổn tinh thần. Nó là mối quan hệ sâu xa làm toại nguyện linh hồn, một
cơn đói tình cảm tới kiệt quệ mà khi mãn nguyện sẽ làm tâm hồn phong phú, và là
một sự dịu dàng tạo ra hi vọng mà không kích động tâm hồn, biến trần gian thành
địa đàng và cuộc đời thành giấc mơ ngọt ngào tươi thắm. Vào buổi sáng, khi đi dạo
trong cánh đồng, tôi thấy biểu hiện của Vĩnh cửu trong sự thức dậy của thiên
nhiên. Khi ngồi bên bờ biển, tôi nghe sóng đang hát khúc ca của Vĩnh cửu. Và
khi bước đi trên đường phố, tôi thấy vẻ đẹp của cuộc đời và hào quang chói lọi
của con người trong diện mạo của những kẻ đi qua và trong chuyển động của người
lao động.
Những ngày ấy trôi qua như những bóng ma, biến mất như mây trời,
và rồi chẳng để lại gì cho tôi ngoài ký ức đau buồn. Đôi mắt tôi thường dùng để
ngắm vẻ đẹp mùa xuân và sự thức giấc của thiên nhiên nay chỉ còn có thể thấy
cơn thịnh nộ của bão tố và khốn khổ của mùa đông. Đôi tai trước đây đã cùng tôi
thú vị nghe khúc hát của sóng nước giờ đây chỉ còn có thể nghe tiếng gió hú và
tiếng gầm thét của biển cả đập vào vách đá dựng đứng. Linh hồn từng sung sướng
ngắm nhìn sức sống không mệt mỏi của loài người và vẻ hoành tráng của vũ trụ
lúc này bị hành hạ vì đã hiểu thế nào là thất vọng và thất bại. Không gì tuyệt
vời hơn những ngày yêu đương và không gì cay đắng hơn những đêm khổ não hãi
hùng.
Tới khi không còn có thể cưỡng lại cơn thôi thúc, vào cuối tuần,
tôi lại thêm lần nữa đi tới ngôi nhà của Selam, nơi điện thờ được dựng lên bởi
Tình yêu và ban ân sủng bởi Cái đẹp để ở đó tinh thần có thể thờ phượng và tâm
hồn khiêm cung quì gối nguyện cầu. Khi đặt chân vào hoa viên, tôi cảm thấy có một
sức mạnh vô hình kéo tôi ra khỏi thế giới này, đặt tôi vào một môi trường siêu
nhiên, thoát khỏi mọi tranh đấu và gian nan.
Như một nhà huyền học tiếp nhận mặc khải của Trời, tôi thấy
mình ở giữa các hàng cây và các bông hoa. Khi tới gần lối đi vào ngôi nhà, tôi
thấy Selma đang ngồi trên băng ghế dưới bóng cây hoa lài, nơi chúng tôi đã cùng
ngồi tuần lễ trước, vào đêm Thiên ý quan phòng đã chọn để khởi đầu cuộc hành
trình hạnh phúc và khổ não của tôi.
Selma ngồi thật yên, không nói một lời khi tôi đến gần. Dường
như nàng đã cảm nhận bước chân đang đi tới của tôi. Và khi tôi ngồi xuống kế
bên, nàng đăm đăm nhìn tôi trong một chốc, thở ra thật dài rồi quay mặt nhìn
lên trời. Sau một lúc chìm đắm trong bầu không khí im lặng diệu kỳ, nang xoay
người về hướng tôi, run rẩy cầm tay tôi và nói với giọng yếu ớt:
"Người bạn của em ơi, hãy nhìn em. Hãy nhìn kỹ khuôn mặt
em và đọc trên đó những gì anh muốn biết và em không thể nói thành lời. Người
em thương yêu ơi, hãy nhìn em... Người anh em của em ơi, hãy nhìn em."
Tôi nhìn nàng chăm chú và thấy đôi mắt ấy, mấy ngày trước đây
rạng rỡ như đôi môi đang cười và linh động như hai cánh chim sơn ca, giờ đây trủng
sâu đờ đẫn với khổ não và đau đớn. Khuôn mặt ấy mới đây như cánh hoa huệ mở ra
với nụ hôn nồng ấm của mặt trời giờ đây nhợt nhạt không chút sắc màu. Đôi môi dịu
ngọt ấy giờ đây như hai đóa hồng đang héo úa bị mùa thu để lại trên cuống hoa.
Chiếc cổ nàng mới đây xinh như chiếc cột nhỏ bằng ngà lúc này chúi tới trước
như không còn nâng nổi gánh nặng thống khổ trên đầu.
Tất cả những biến đổi ấy tôi đã thấy trên khuôn mặt của Selma
nhưng đối với tôi chúng như mây trời lướt qua che mờ mặt trăng và chỉ làm trăng
xinh đẹp thêm lên. Ánh mắt biểu lộ cơn ray rứt nội tâm chỉ cộng thêm vẻ đẹp vào
khuôn mặt cho dẫu nó cho thấy tấn thảm kịch đang diễn ra ấy đau đớn biết bao.
Nhưng một khuôn mặt cho dẫu cấu trúc cân đối từng đường nét mà không báo cho biết
những bí nhiệm ẩn mật, vẫn không đẹp. Chiếc ly không hấp dẫn nổi đôi môi của
chúng ta nếu màu rượu không được nhìn thấy xuyên qua pha lê trong suốt.
Tối hôm đó, Selma như thể chiếc ly đựng đầy rượu tuyệt hảo được
pha chế từ hương vị cuộc đời, cả cay đắng lẫn ngọt bùi. Nàng bỗng dưng tượng
trưng cho người nữ phương đông, kẻ không bao giờ ra khỏi nhà cha mẹ cho tới khi
bị đặt lên cổ cái ách của người chồng, và là kẻ chưa bao giờ rời khỏi vòng tay
thương yêu của mẹ ruột cho tới khi phải sống như một nô lệ, chịu đựng sự khắc
nghiệt của mẹ chồng.
Tôi tiếp tục nhìn Selma và lắng nghe tinh thần u uất của
nàng, cùng khổ sở với nàng cho tới khi tôi cảm thấy thời gian dừng lại và vũ trụ
nhạt nhòa ở quá bên kia cuộc hiện sinh. Tôi chỉ còn có thể nhận ra đôi mắt mở lớn
của nàng bất động nhìn tôi chằm chặp và cảm thấy bàn tay run rẩy giá lạnh của
nàng đang nắm tay tôi.
Giọng nói trầm lắng của Selma kéo tôi ra khỏi cơn mê lịm:
"Người thương yêu của em, chúng ta hãy thảo luận về
tương lai hãi hùng trước khi nó đến. Cha em vừa rời nhà để đi gặp người đàn ông
sắp làm bạn đời cho tới chết của em. Cha em, kẻ được Thượng đế chọn lựa để làm
cứu cánh cho sự hiện hữu của em, sẽ gặp người đàn ông mà thế gian tuyển lựa để
làm chủ nhân phần đời còn lại của em. Tại trung tâm thành phố này, kẻ từng cùng
đi suốt tuổi xuân của em sẽ gặp người thanh niên làm bạn đồng hành trong những
năm sắp tới. Đêm nay, hai gia đình sẽ định ngày hôn lễ.
"Quả là một giờ kỳ lạ và đầy ấn tượng! Cũng giờ này, tuần
trước, dưới cây hoa lài này, Tình yêu ấp ủ linh hồn em lần đầu tiên, và cùng
lúc ấy, Định mệnh viết chữ đầu tiên của câu chuyện đời em tại dinh thự của Giám
mục. Lúc này, trong khi cha em và hôn phu cùng lập chương trình ngày hôn lễ, em
lại thấy tinh thần của anh vỗ cánh chung quanh em như con chim đang khát lơ lửng
lượn vòng trên con suối bị con rắn đang đói canh giữ. Ôi đêm nay lớn lao biết mấy!
Và bí nhiệm của nó thẳm sâu biết mấy!"
Nghe những lời ấy, tôi có cảm tưởng bóng ma tối tăm của tình
thế hoàn toàn tuyệt vọng đang túm lấy tình yêu của tôi bóp cho nó chết ngạt
ngay lúc nó vừa sơ sinh. Tôi trả lời Selma:
"Con chim ấy sẽ vẫn lơ lửng trên con suối đó cho tới khi
bị cơn khát hủy diệt, rơi xuống tầm bắt giữ của con rắn và biến thành mồi ngon
cho nó."
Nàng đáp lại:
"Không, người thương yêu của em, con chim sơn ca ấy sẽ vẫn
sống, vẫn hát cho tới khi bóng tối buông xuống, cho tới khi mùa xuân qua đi,
cho tới khi thế giới này kết thúc, và nó sẽ vẫn hát mãi cho tới muôn đời. Không
nên để cho giọng của nó bị im lặng vì nó mang sự sống tới cho trái tim em,
không nên để cho đôi cánh của nó bị gãy vì những chuyển động của nó quạt mây
tan khỏi tâm hồn em."
Tiếp lời nàng, tôi thì thầm:
"Selma người thương yêu của anh, cơn khát sẽ làm nó kiệt
sức và sợ hãi sẽ giết chết nó."
Nàng lập tức đáp lại, với đôi môi run rẩy:
"Khát khao của linh hồn ngọt ngào hơn rượu của mọi thứ vật
chất, và sợ hãi của tinh thần thân thiết hơn sự an toàn của thể xác. Nhưng hãy
nghe đây, người thương yêu của em, hãy lắng nghe thật kỹ. Em đang đứng hôm nay ở
ngưỡng cửa của một cuộc sống mới mà em không biết gì về nó. Em như người mù cảm
nhận lối đi của mình để khỏi vấp ngã. Sự giàu có của cha em đặt em vào ngôi chợ
nô lệ và người đàn ông ấy đã mua em. Em không quen biết cũng chẳng yêu thương
người ấy, nhưng em sẽ học để yêu thương và em sẽ vâng lời, phục vụ và làm cho
người ấy hạnh phúc. Em sẽ cho người ấy tất cả những gì một phụ nữ yếu đuối có
thể cho người đàn ông mạnh mẽ.
"Còn anh, người thương yêu của em, anh vẫn ở trong thời
kỳ đầu của cuộc đời. Anh có thể tự do đi trên con đường thênh thang được cuộc đời
trải thảm hoa. Anh tự do đi khắp thế gian, biến tâm hồn anh thành ngọn đuốc soi
sáng lối đi của mình. Anh có thể suy nghĩ, phát biểu và hành động tự do. Anh có
thể viết tên anh lên khuôn mặt cuộc đời vì anh là người nam. Anh có thể sống
như một chủ nhân vì của cải của thân phụ anh sẽ không đặt anh vào ngôi chợ nô lệ
để bị mua bán. Anh có thể kết hôn với người đàn bà chọn lựa của anh, và trước
ngày cô ấy về sống trong nhà anh, anh có thể để cô ấy nương náu trong trái tim
anh và có thể cùng nhau trao đổi tâm tình không một chút chướng ngại."
Không khí càng lúc càng lặng yên, Selma nói tiếp:
"Nhưng có phải giờ đây, cuộc đời xé chúng ta ra hai mảnh
để anh có thể sở đắc vinh quang của người nam và em hoàn thành bổn phận của người
nữ? Có phải vì thế thung lũng nuốt khúc hát của con chim sơn ca xuống vực sâu,
gió thổi tan tác cánh hoa hồng và bàn chân dẫm lên ly rượu? Có phải hết thảy những
đêm chúng ta cùng trải qua bên nhau dưới ánh trăng cạnh cây hoa lài, nơi hai
linh hồn chúng ta hiệp nhất đều vô ích? Có phải chúng ta đã bay lẹ làng tới các
ngôi sao cho tới khi cánh của chúng ta thấm mệt và có phải chúng ta giờ đây
đang rơi xuống vực thẳm?ï
"Hay có phải Tình yêu đang ngủ khi đến với chúng ta và rồi
lúc thức giấc, Tình yêu nổi giận, quyết định trừng phạt chúng ta? Hay có phải
tinh thần của chúng ta biến ngọn gió nhẹ ban đêm thành cuồng phong xé chúng ta
thành từng mảnh và thổi chúng ta như bụi bay xuống vực sâu thung lũng? Chúng ta
không phạm điều răn, chúng ta không nếm trái cấm, thế thì cái gì khiến chúng ta
bị ra khỏi vườn địa đàng? Chúng ta không bao giờ âm mưu hoặc tiến hành nổi loạn
thế thì tại sao chúng ta đang sa địa ngục? Không, không, các khoảnh khắc đã hiệp
nhất chúng ta lớn lao hơn hàng hàng thế kỷ, và ánh sáng đã soi chiếu tinh thần
của chúng ta mạnh mẽ hơn bóng tối. Và nếu cơn bão chia lìa chúng ta giữa biển động
này, các con sóng sẽ làm chúng ta hiệp nhất trên bờ yên tĩnh. Và nếu cuộc sống
này giết chúng ta, cái chết sẽ hiệp nhất chúng ta.
"Trái tim của người nữ sẽ không thay đổi theo thời gian
hay mùa tiết, cho dẫu có chết bằn bặt nó cũng sẽ chẳng bao giờ tàn lụi. Trái
tim của người nữ giống cánh đồng biến thành chiến địa; sau khi cây trốc gốc, cỏ
cháy rụi, bị nhuộm đỏ máu và bị gieo rắc đầy xương người sọ người, nó lại yên
tĩnh thinh lặng như chưa có gì xảy ra; vì mùa xuân và mùa thu sẽ đến đúng hạn kỳ
và tiếp tục công việc của chúng.
"Và giờ đây, người thương yêu của em ơi, chúng ta sẽ làm
gì? Chúng ta sẽ tách làm đôi như thế nào và lúc nào chúng ta sẽ lại gặp nhau?
Chúng ta có xem tình yêu như khách lạ đến với mình buổi tối và ra đi sáng hôm
sau? Hay chúng ta sẽ giả dụ rằng mối tình này như một cơn mộng đến khi chúng ta
đang ngủ và ra đi khi chúng ta thức giấc?
"Chúng ta có sẽ xem tuần lễ này như một giờ say sưa ngây
ngất và nên thay thế nó bằng sự điềm đạm tiết độ? Người em thương yêu ơi, hãy
ngước mặt lên cho em nhìn anh. Anh hãy mở miệng để em nghe tiếng của anh. Anh
hãy nói với em! Anh có còn nhớ tới em sau khi cơn bão này đánh đắm con thuyền
tình yêu của chúng ta? Anh có sẽ nghe tiếng thì thầm của đôi cánh em trong trời
đêm thinh lặng? Anh có sẽ nghe tinh thần em vỗ cánh bên trên anh? Anh có sẽ lắng
nghe tiếng em thở dài? Anh có sẽ thấy chiếc bóng của em tới gần anh, cùng với
những hình bóng cát bụi và rồi biến mất với ánh hồng rạng đông? Người em thương
yêu ơi, hãy nói với em, rằng anh sẽ ra sao sau khi đã là tia sáng diệu kỳ cho
đôi mắt em, khúc hát ngọt ngào cho đôi tai em và đôi cánh cho linh hồn em? Anh
sẽ ra sao?"
Với trái tim tan chảy khi nghe những lời ấy, tôi trả lời
Selma:
"Em thương yêu ơi, em muốn anh như thế nào anh sẽ là như
thế ấy."
Nghe vậy, nàng trả lời:
"Em muốn anh yêu em như thi sĩ yêu những ý tưởng sầu muộn
của mình. Em muốn anh nhớ tới em như lữ khách nhớ ao nước tĩnh lặng từng phản
chiếu hình ảnh mình khi nghiêng đầu uống nước của nó. Em muốn anh nhớ tới em
như đức vua nhớ tới một tử tù chết trước khi lệnh ân xá tới kịp. Em muốn anh là
người suốt đời của em. Và em muốn anh đến thăm cha em, an ủi ông trong cảnh cô
độc hắt hiu vì chẳng bao lâu nữa em sẽ rời xa và sẽ là người lạ đối với
ông."
Tôi đáp lại:
"Anh sẽ làm tất cả những điều em vừa nói. Anh sẽ biến
linh hồn anh thành một phong bao chứa đựng linh hồn em, tâm hồn anh thành nơi
cư trú cho nhan sắc em và lồng ngực anh thành huyệt mộ cho khổ não của em.
Selma ạ, anh sẽ yêu em như đồng cỏ yêu mùa xuân. Và anh sẽ sống trong em cuộc sống
của đóa hoa dưới tia nắng mặt trời. Anh sẽ hát tên em như thung lũng hát vọng
âm của những chiếc chuông nhà thờ nơi thôn làng. Anh sẽ lắng nghe ngôn ngữ của
linh hồn em như bờ biển lắng nghe câu chuyện của những con sóng. Anh sẽ nhớ em
như người xa lạ nhớ quê hương yêu quí của mình, như người đói nhớ bữa tiệc, như
đức vua mất ngôi nhớ những ngày lộng lẫy và như một người tù nhớ những giờ phơi
phới tự do. Anh sẽ nhớ em như người gieo hạt nhớ các bó lúa trên sân đập thóc
và như mục tử nhớ đồng cỏ xanh cùng các con suối ngọt nước."
Selma lắng nghe lời tôi trong tiếng tim dồn dập đập. Nàng
nói:
"Ngày mai, sự thật sẽ hóa thành ma quái và khi tỉnh giấc
sẽ thấy mình như đang nằm mộng. Liệu một người đang yêu có cảm thấy mãn nguyện
khi ôm ấp một bóng ma, hoặc một người đang khát có cảm thấy nguôi ngoai nhờ con
suối trong giấc mộng?"
Tôi trả lời nàng:
"Ngày mai, định mệnh sẽ đặt em vào giữa một gia đình yên
ổn nhưng nó cũng sẽ đưa em vào thế giới của phấn đấu và chiến tranh. Em sẽ ở
trong ngôi nhà của kẻ mà hầu hết vận may của người ấy được làm thành bởi nhan sắc
và đức hạnh của em. Trong khi đó, anh sẽ sống một cuộc đời khổ đau và sợ hãi.
"Ngày mai, em sẽ đi qua ngưỡng cửa của sự sống trong khi
anh đi qua ngưỡng cửa của sự chết. Em sẽ được tiếp nhận với lòng trìu mến trong
khi anh hiện hữu trong hiu quạnh. Nhưng anh, anh sẽ dựng một bức tượng tình yêu
và thờ phượng nó trong thung lũng của sự chết. Tình yêu sẽ là kẻ dỗ dành độc nhất
của anh. Anh sẽ uống Tình yêu như rượu và mặc tình yêu như quần áo.
"Khi hừng đông, Tình yêu sẽ đánh thức anh ra khỏi giấc
ngủ và mang anh tới cánh đồng xa xa. Tới trưa, Tình yêu sẽ dẫn anh vào bóng mát
dưới tàng cây để anh tìm nơi trú ẩn với lũ chim, tránh hơi nóng mặt trời. Đến
chiều hôm, Tình yêu sẽ khiến anh dừng chân trước mặt trời đang lặn để nghe
thiên nhiên hát khúc từ giã ánh sáng ban ngày và tỏ cho anh thấy những đám mây
ma quái đang dong buồm giữa bầu trời. Ban đêm, Tình yêu sẽ ôm ấp anh cho anh ngủ,
mơ thấy một thế giới tuyệt trần ở đó nương náu linh hồn của các kẻ yêu nhau và
các thi sĩ.
"Xuân về, anh sẽ tới với Tình yêu để cùng đi bên nhau giữa
các cây hoa tím, hoa lài và uống những giọt mùa đông đọng lại trong đóa huệ
mang hình ly rượu. Vào hạ, chúng ta sẽ lấy bó cỏ khô làm gối, thảm cỏ tươi làm
giường và bầu trời xanh làm chăn màn phủ lên mình khi ngước mắt ngắm các ngôi
sao và mặt trăng. Sang thu, Tình yêu và anh sẽ cùng đi vào vườn nho, ngồi kế xưởng
ép rượu, nhìn những quả nho được bóc lớp y trang vàng đượm, và trên đầu chúng
ta đàn chim vẫy cánh thiên di. Qua đông, chúng ta sẽ ngồi cạnh nhau bên lò sưỡi,
kể cho nhau nghe từng câu chuyện những thuở rất xưa và sử ký biên niên của các
xứ sở xa xôi.
"Thuở hoa niên, Tình yêu là kẻ phù trợ anh. Thời cao
niên, Tình yêu là nguồn thú vị của anh. Ôi Selma, Tình yêu sẽ ở mãi với anh cho
tới cuối cuộc đời. Và sau cái chết trong bàn tay của Thượng đế, Tình yêu sẽ tái
hiệp chúng ta."
Tất cả các lời ấy đến từ những chốn sâu thẳm trong tâm hồn
tôi, như ngọn lửa bùng lên mãnh liệt từ đáy lò và rồi biến mất trong tro than.
Selma khóc nức nở, như thể đôi mắt ấy là đôi môi nàng đang thốt lên lời đáp trả
bằng dòng nước mắt.
Những kẻ không được Tình yêu ban cho đôi cánh, không thể nào
bay đằng sau đám mây của những vẻ bên ngoài để thấy thế giới diệu kỳ ở đó tinh
thần của Selma và tôi cùng nhau hiện hữu trong giờ hạnh phúc đầy đau đớn đó. Những
kẻ không được Tình yêu tuyển chọn làm người đi theo, không thể nào nghe lời gọi
khi Tình yêu cất tiếng. Và câu chuyện này không dành cho những kẻ ấy. Cho dẫu
có thể lĩnh hội các dòng chữ này họ vẫn không có khả năng nắm bắt nghĩa bóng của
chúng, vốn không khoác áo ngôn từ và không cư ngụ trên trang giấy. Và họ là loại
người nào mà không bao giờ nhấp rượu từ chiếc ly tình yêu và là loại tinh thần
nào mà không bao giờ đứng cung kính trước bàn thờ chói lọi trong ngôi đền nền
lát bằng trái tim nam nữ và vòm được làm nên bởi màn trướng bí ẩn của các giấc
mộng? Loại cây hoa nào mà trên cánh lá của nó rạng đông không bao giờ nhỏ xuống
một hạt sương? Loại con suối nào mà lạc đường khi không chảy ra biển?
Selma ngước mặt lên trời và những ngôi sao tuyệt đẹp đang rải
khắp bầu trời. Nàng với hai tay về phía trước, mắt mở lớn, môi run rẩy. Trên
khuôn mặt xanh xao ấy tôi có thể thấy những dấu hiệu của khổ não, áp bức vô vọng
và xót xa. Kế đó, nàng kêu lên:
"Ôi Chúa ơi, người nữ này đã làm điều gì xúc phạm tới
ngài? Nàng đã phạm tội lỗi nào để xứng với hình phạt như thế? Do bởi tội ác nào
mà nàng bị báo đáp bằng sự khiển trách đời đời?
"Ôi Chúa ơi, ngài mạnh mẽ còn con yếu đuối, tại sao ngài
làm con phải chịu đau đớn? Ngài vĩ đại và toàn năng, tại sao ngài dẫm nát con bằng
bàn chân của ngài? Ngài là bão tố thịnh nộ còn con như hạt bụi, tại sao ngài thổi
tung con trên mặt đất lạnh lẽo? Ngài hùng mạnh còn con trơ vơ, tại sao ngài tiến
đánh con? Ngài nhân từ chí công còn con khôn ngoan giữ gìn tại sao ngài hủy hoại
con? Ngài đã tạo ra phụ nữ với tình yêu, tại sao với tình yêu ngài tiêu diệt
nàng? Với bàn tay phải ngài nâng nàng lên rồi với bàn tay trái ngài đánh nàng
ngã xuống vực sâu và nàng không biết tại sao?
"Trong miệng nàng, ngài hà hơi thở sự sống và trong tim
nàng, ngài gieo hạt giống sự chết. Ngài tỏ cho nàng thấy con đường hạnh phúc
nhưng ngài dẫn dắt nàng trên lối đi khổ não. Trong miệng nàng, ngài đặt vào
khúc hát hạnh phúc nhưng rồi ngài khép đôi môi nàng với khổ não và kềm kẹp lưỡi
nàng với thống khổ. Với từng ngón tay kỳ diệu, ngài băng bó vết thương cho nàng
nhưng với cả bàn tay ngài họa hình kinh hoàng đau đớn quanh niềm hoan lạc của
nàng. Trong chăn nệm của nàng, ngài giấu khoái cảm và an tĩnh nhưng bên thành
giường ngài dựng chướng ngại và sợ hãi.
"Ngài kích động lòng thương cảm của nàng bằng ý muốn của
ngài nhưng từ lòng thương cảm đó nảy sinh sự hỗ thẹn. Bằng ý muốn của mình,
ngài cho nàng thấy cái đẹp của cuộc sáng thế nhưng tình nàng yêu cái đẹp lại
hóa thành cơn đói khát kinh hoàng. Ngài khiến nàng uống sự sống trong chiếc ly
của sự chết, và sự chết trong chiếc ly của sự sống. Ngài rửa sạch nàng bằng những
giọt lệ và theo dòng nước mắt của mình, cuộc đời nàng trôi đi mất.
"Ôi Chúa ơi, ngài đã mở đôi cánh của con với tình yêu,
và với tình yêu ngài làm mù mắt con. Ngài đã hôn con với đôi môi ngài và đánh
con bằng bàn tay mạnh bạo của ngài. Ngài đã trồng trong tâm hồn con bông hồng
trắng nhưng đặt chung quanh cây hoa ấy một rào cản bằng gai nhọn. Ngài đã trói
hiện tại con vào tinh thần của một thanh niên con yêu thương và buộc cuộc sống
thể xác con vào một người đàn ông con không quen biết.
"Như thế, Chúa ơi, xin hãy cứu giúp để con được mạnh mẽ
trong cuộc phấn đấu đầy chết chóc này, và xin hãy phù trợ để con được chân thật
cùng đức hạnh cho tới chết. Ôi lạy Chúa, con xin vâng theo ý ngài."
Không khí lại tiếp tục thinh lặng. Selma nhìn mặt đất, xanh
xao và yếu ớt. Hai cánh tay buông lơi, đầu gục xuống, đối với tôi, trông như thể
cơn bão vừa đánh đứt lìa một cành cây và nó rớt xuống trong khô héo tàn lụi.
Tôi cầm bàn tay lạnh lẽo của Selma và hôn lên nó. Nhưng khi
tôi định an ủi nàng thì chính bản thân tôi đang cần được ủi an hơn nàng. Tôi giữ
im lặng, ngẫm nghĩ về tình cảnh của chúng tôi và lắng nghe tiếng đập của trái
tim tôi. Chúng tôi chẳng ai nói gì thêm.
Câm lặng là một hình thức hành hạ cực độ. Và như thế, chúng
tôi ngồi im lìm, hóa đá, như những chiếc cột cẩm thạch bị vùi lấp dưới cát của
một cơn động đất. Người này không muốn nghe người kia vì mạch tim mỗi người đã
trở nên quá mong manh nên ngay cả hô hấp cũng sẽ làm chúng đứt đọan.
Tới nửa đêm, chúng tôi có thể thấy vầng trăng lưỡi liềm nhô
lên đằng sau núi Sunnin. Và ở giữa sao trời, nó trông như thể bộ mặt của một
xác chết đang nằm trong áo quan, vây quanh là ánh sáng chập chờn của các ngọn nến.
Và Li-băng cũng trông như thể một ông lão lưng còng theo tuổi tác với hai con mắt
là nơi cư ngụ của chứng mất ngủ, đang ngồi canh bóng tối và ngóng trông rạng
sáng, hoặc giống một vì vua ngự trên tro than của ngai vàng mình giữa vôi gạch
đổ nát của cung điện.
Núi non, cỏ cây và các dòng sông thay đổi diện mạo của chúng
theo những thăng trầm của thời đại và mùa tiết, còn con người thay đổi theo trải
nghiệm và cảm xúc. Cây bạch dương kiêu sa như cô dâu ban ngày sẽ trông giống cột
khói khi trời tối. Tảng đá lớn sừng sững ban trưa sẽ xuất hiện như kẻ khốn khó
ngủ giữa trời đêm với đất làm giường và trời làm mùng chiếu. Trong nắng mai,
chúng ta thấy con lạch nhỏ lấp lánh trước mắt và nghe nó hát khúc ca Vĩnh cửu,
tới buổi tối, sẽ biến thành dòng nước mắt khóc than như người mẹ bị lấy mất đứa
con. Và Li-băng rất phẩm cách một tuần trước đây khi trăng tròn và tinh thần của
chúng tôi hạnh phúc, nhưng đêm nay trông cực kỳ khổ não và hiu quạnh.
Selma và tôi đứng lên chào từ biệt nhau nhưng tình yêu và tuyệt
vọng xen vào giữa chúng tôi như hai bóng ma trong đó có một con đang dang cánh
với những ngón tay lên cuống họng của chúng tôi. Con này đang khóc và con kia
phá lên cười gớm ghiếc.
Khi tôi cầm bàn tay của Selma, nâng lên môi mình, nàng bước tới
sát người tôi, đặt lên trán tôi chiếc hôn thật lâu, rồi buông mình xuống băng
ghế gỗ. Selma khép đôi mắt và thầm thì dịu dàng:
"Ôi Chúa ơi, xin thương xót con, xin cứu chữa đôi cánh
gãy của con!"
Khi để lại Selma trong hoa viên, tôi cảm thấy mọi giác quan của
mình đang phủ một lớp mạng mỏng như chiếc hồ bị sương mù che kín mặt nước.
Vẻ đẹp của cỏ cây, ánh trăng, tịch lặng thẳm sâu, mọi sự
chung quanh tôi đều trông xấu xí và hãi hùng. Ánh sáng chân chính đã cho tôi thấy
vẻ đẹp và diệu kỳ của vũ trụ nay hóa thành ngọn lửa khổâng lồ làm khô héo tâm hồn
tôi. Và âm nhạc Vĩnh cửu tôi thường nghe nay trở thành tiếng kêu thét, làm run
rẩy hơn cả tiếng hống của sư tử.
Tôi về tới phòng mình. Như con chim chấn thương bị người đi
săn bắn trúng, tôi rơi xuống giường, và lặp lại lời của Selma:
"Ôi Chúa ơi, xin thương xót con, xin cứu chữa đôi cánh
gãy của con!"
7/ Trước ngai Thần chết
Thuở đó, hôn nhân là một phỉ báng, nằm trong bàn tay xử lý của
thanh niên và bậc cha mẹ. Tại hầu hết các xứ sở, người chiến thắng là thanh
niên và kẻ thua cuộc là cha mẹ. Thiếu nữ bị nhìn như một món hàng, được mua và
giao từ nhà này sang nhà khác. Phải thực hiện đúng thời điểm vì một khi sắc đẹp
tàn phai, nàng trở thành một thứ đồ đạc đã cũ, bị bỏ xó trong một góc nhà tối
tăm.
Văn minh hiện đại khiến phụ nữ khôn ngoan hơn một chút nhưng
nó tăng thêm đau khổ cho nàng vì lòng thèm muốn của đàn ông. Đàn bà hôm qua là
người vợ hạnh phúc nhưng đàn bà hôm nay là người tình khốn khổ. Thời trước,
nàng bước đi mù lòa trong ánh sáng còn giờ đây nàng mắt mở nhưng bước đi trong
bóng tối.
Phụ nữ trước kia xinh đẹp trong mông muội, đức hạnh trong chất
phác và mạnh mẽ trong yếu đuối của mình. Ngày nay, về mặt thông minh và óc sáng
tạo, nàng càng càng ngày xấu xí và về mặt am hiểu nàng càng lúc càng nông cạn
và vô tâm. Bao giờ sẽ đến ngày nhan sắc và kiến thức, tài hoa và đức hạnh, yếu
đuối thể xác và mạnh mẽ tinh thần hiệp làm một trong người nữ?
Tôi là một trong những kẻ tin rằng tiến bộ tinh thần là qui
luật của sự sống con người, nhưng quá trình tiến đến sự toàn mãn ấy thì chậm và
đau đớn. Nếu người nữ tiến bộ ở khía cạnh này và chậm tiến ở khía cạnh khác chẳng
qua vì lối đi gập ghềnh dẫn lên đỉnh núi bị vướng mắc các ổ mai phục của bọn thảo
khấu và nhiều hang ổ lang sói.
Thế hệ lạ lùng hôm nay hiện hữu giữa đang ngủ và đang thức.
Nó nắm trong lòng tay đất của quá khứ và hạt mầm của tương lai. Tuy thế, trong
mỗi thành phố, chúng ta có thể tìm thấy một phụ nữ tiêu biểu cho tương lai.
Tại thành phố Beirut này, Selma Karamy là một biểu tượng cho
phụ nữ phương Đông tương lai. Nhưng giống với nhiều người đi trước thời đại,
nàng trở thành nạn nhân của hiện tại. Và giống với đóa hoa bị ngắt lìa cuống rồi
nước sông cuốn trôi, nàng bước đi trong cuộc diễu hành khốn khổ của những kẻ bại
trận.
Thiếu gia Bey Galib và Selma cử hành hôn lễ và sống với nhau
trong một biệt thự xinh đẹp ở Ras Beyrouth, khu gia cư của những kẻ thế giá và
giàu có. Ông cụ Farris Effandi Karamy bị bỏ lại lủi thủi trong ngôi nhà ở đơn độc
giữa hoa viên và vườn cây ăn quả, như kẻ chăn bầy đứng hiu quạnh giữa bầy súc vật
của mình.
Những ngày và những đêm hân hoan hôn lễ qua đi nhưng tuần
trăng mật để lại hồi ức về những lần khổ não đắng cay, như chiến tranh để lại
xương và sọ người trên trận địa. Phẩm cách hôn lễ phương Đông tạo cảm hứng cho
tâm hồn của đôi tân hôn nhưng tới khi kết thúc, họ bị thả như cục đá cối xay rớt
xuống đáy biển. Cơn hồ hởi của họ giống các dấu chân trên cát chỉ tồn tại cho tới
khi sóng triều xóa sạch.
Mùa xuân ra đi và rồi mùa hạ với mùa thu cũng lần lượt ra đi
nhưng tình yêu của tôi dành cho Selma tăng thêm không ngừng cho tới khi nó trở
thành một loại tôn thờ câm nín như cảm giác của đứa con côi cút đối với linh hồn
mẹ nó đang ở trên trời. Cơn khao khát ấy hóa thành khổ não mù lòa tới độ tôi chỉ
còn trông thấy một mình nó. Nỗi niềm đam mê từng làm tôi ứa nước mắt được thay
thế bằng tâm trạng bối rối tới độ hút kiệt máu tim tôi. Và những tiếng thở dài
đầy thương cảm của tôi trở thành lời nguyện cầu triền miên cho Selma với chồng
của nàng được hạnh phúc và thân phụ của nàng được bình an.
Những hi vọng và nguyện cầu ấy của tôi đều không tác dụng, vì
khốn khổ của Selma là tâm bệnh, một căn bệnh đau tận trong lòng mà chỉ có cái
chết mới cứu chữa nổi.
Thiếu gia Bey Galib là người đàn ông có được mọi xa hoa của
cuộc sống, chẳng chút nhọc công, nhưng dù thế y vẫn chưa hài lòng và rất tham
lam. Sau khi thành hôn với Selma, y bỏ mặc thân phụ nàng sống trong quạnh quẽ
và cầu nguyện cho ông cụ sớm qua đời để y có thể thừa hưởng tất cả gia tài còn
lại.
Cá tính của Bey Galib tương tự của ông chú y. Khác biệt duy
nhất giữa hai người là Giám mục lấy mọi thứ ông muốn một cách kín đáo, dưới sự
bao che của tấm áo chùng thâm giáo sĩ và chiếc thánh giá bằng vàng ông đeo trước
ngực trong khi cháu của ông làm mọi chuyện một cách công khai. Buổi sáng, Giám
mục tới thánh đường và suốt ngày còn lại ông ăn cắp vặt của các quả phụ, trẻ mồ
côi và người tâm trí đơn giản. Còn Thiếu gia bỏ ra hết ngày này qua ngày khác
đuổi theo cơn thỏa mãn nhục dục. Ngày Chủ nhật, Giám mục rao giảng Phúc âm của
ông nhưng rồi suốt tuần lễ, ông không bao giờ thực hành lời giảng của mình. Đầu
óc ông bận rộn với những mưu đồ chính trị trong địa phận. Và nhờ vào thế giá
cùng ảnh hưởng của ông chú ấy, Thiếu gia Bey xúc tiến công việc làm ăn bằng
cách bảo đảm món lại quả chính trị rất hời cho kẻ nào có thể cống hiến của đút
lót thỏa đáng.
Giám mục Bulos là tên trộm cắp ẩn mình trong sự che chở của bóng
tối ban đêm trong khi cháu của ông, Thiếu gia Bey, là kẻ lừa đảo kiêu hãnh bước
đi trong ánh sáng ban ngày. Tuy thế, dân chúng tại các quốc gia phương Đông lại
đặt niềm tin vào loại người như thế, những con sói và những tên đồ tể hủy hoại
xứ sở của họ bằng lòng tham và bóp nát người bên cạnh họ bằng bàn tay sắt.
Tại sao tôi lại để những lời về các kẻ phản bội quốc gia
nghèo khó choán chỗ trên trang giấy này thay vì giữ hết mọi chỗ ở đây cho câu
chuyện về một phụ nữ khốn khổ với trái tim đang rạn vỡ? Tại sao tôi chảy nước mắt
cho các dân tộc bị áp bức thay vì dành tất cả nước mắt của mình cho hồi ức về một
phụ nữ yếu đuối bị cuộc đời cắn chặt trong hàm răng của sự chết?
Thế nhưng, các độc giả thân mến của tôi ơi, các bạn có nghĩ rằng
phụ nữ ấy giống với một quốc gia bị bức bách bởi các linh mục và bị đàn áp bởi
các nhà cai trị? Các bạn có nghĩ rằng tình yêu bị ngăn trở đưa dẫn người nữ ấy
tới huyệt mộ giống với nỗi niềm tuyệt vọng đang xâm nhập dân chúng trên khắp quả
đất này? Phụ nữ đối với dân tộc thì giống như ánh sáng đối với ngọn đèn, liệu
ánh sáng có sẽ le lói nếu dầu trong ngọn đèn đang cạn?
Mùa thu qua đi. Gió thổi lá vàng rời cây, dọn đường cho mùa
đông tới với tiếng hú và tiếng gào thét. Tôi vẫn ở trong thành phố Beirut không
người bầu bạn ngoài các giấc mộng nâng tinh thần tôi lên tới trời cao và rồi
chôn nó rất sâu dưới lòng đất.
Tinh thần khổ não tìm thấy nguôi ngoai trong trạng thái cô
đơn. Nó ghét cay ghét đắng người đời, như con hươu bị thương, lìa xa bầy đàn, sống
một mình trong hang cho tới khi lành vết thương hoặc chết.
Ngày nọ, tôi nghe tin Farris Effandi lâm bệnh. Rời nơi trú ẩn
cô độc của mình, tôi đi bộ tới nhà ông, theo một lộ trình mới, một lối đi vắng
vẻ giữa các cây ô-liu, để tránh tiếng bánh xe ngựa nghiến rộn ràng.
Tới nhà của ông cụ, tôi đi vào, thấy Farris Effandi nằm trong
giường, yếu ớt và xanh xao. Hai mắt ông trủng xuống như hai thung lũng sâu hoắm
đầy bóng tối và bị ám bởi những hồn ma sầu khổ. Nụ cười vốn luôn luôn làm sinh
động khuôn mặt ông lúc này tắt nghẻn vì phiền muộn và đau đớn. Xương bàn tay mềm
mại của ông trông giống những cành khô không lá run rẩy trước cơn bão. Khi tôi
tới gần và vấn an, ông cụ đưa bộ mặt tái nhợt về phía tôi. Trên đôi môi run run
xuất hiện một nụ cười, và ông nói với giọng yếu ớt:
"Con trai ơi, hãy qua phòng bên an ủi Selma và đem nó
sang đây ngồi bên cạnh ta."
Tôi đi vào căn phòng kế cận và thấy Selma đang nằm sấp
trên đi-văng, hai tay ôm đầu, mặt vùi sâu trong gối để cha không nghe ra tiếng
sụt sùi của nàng. Chầm chậm tới gần, tôi thì thầm kêu tên nàng với giọng nhẹ
hơn tiếng thở dài. Selma sợ hãi trở mình như bị làm gián đọan một giấc mộng hãi
hùng. Nàng ngồi dậy, đưa mắt đờ đẫn nhìn tôi với vẻ ngờ vực không biết tôi là
bóng ma hay người đang sống.
Sau khi được không khí im lặng sâu xa mang trở lại trên đôi
cánh hồi tưởng những giờ phút chúng tôi cùng nhau ngây ngất men rượu tình yêu,
Salma lau khô nước mắt và nói:
"Anh xem, thời gian đã làm chúng ta thay đổi biết bao!
Thời gian đã biến đổi dòng chảy cuộc đời của chúng ta và để lại cho chúng ta những
tàn phá này! Tại chỗ này, mùa xuân từng hiệp nhất chúng ta trong sợi dây tình
yêu, và cũng tại chỗ này, chúng ta được mang tới bên nhau trước ngai của tử thần.
Mùa xuân ấy quá đổi tươi đẹp và mùa đông này cực độ kinh hoàng!"
Nói xong những lời ấy, Selma đưa tay lên ôm mặt như thể che
cho mắt mình khỏi thấy bóng ma của quá khứ đang đứng trước mặt. Đặt nhẹ bàn tay
lên đầu nàng, tôi nói:
"Nào, Selma, tỉnh lại. Chúng ta hãy như những ngọn tháp
vững vàng trước bão tố. Chúng ta hãy đứng như hai chiến binh dũng cảm trước kẻ
thù, đối mặt với vũ khí của chúng. Nếu bị giết, chúng ta sẽ chết như người tuẩn
tiết; nếu chiến thắng, chúng ta sẽ sống như kẻ anh hùng. Đương đầu với chướng
ngại và sống với gian khổ thì cao nhã hơn im lặng rút lui. Con bướm lượn quanh
cây đèn cho tới chết thì đáng kính phục hơn loài chuột nhũi sống trong ống cống
tối tăm.
"Nào, Selma, chúng ta hãy bước trang trọng trên con đường
gập ghềnh này, với đôi mắt hướng tới mặt trời để sẽ không thấy sọ người cùng lũ
rắn đang nằm giữa đá và gai. Nếu để cho sợ hãi chận lại giữa đường, chúng ta sẽ
chỉ còn nghe tiếng chế nhạo từ những giọng nói của ban đêm, nhưng nếu can trường
lên tới đỉnh núi, chúng ta sẽ hiệp đoàn với các tinh thần trên trời cao trong
khúc hát khải hoàn và hân hoan.
"Vui lên Selma! Hãy lau sạch nước mắt và xua tan khổ não
trên mặt mình. Hãy đứng dậy, chúng ta sẽ sang ngồi bên giường của cha em
và chỉ có nụ cười của em mới cứu chữa được ông ấy."
Ân cần và đầy thương cảm, Selma nhìn tôi và nói:
"Có phải anh đang yêu cầu em phải nhẫn nại trong khi bản
thân anh đang cần tới nó? Liệu một người đói có đem khúc bánh mì của mình cho một
người khác đang đói? Hoặc một người bệnh sẽ cho người khác thuốc điều trị mà y
đang rất cần?"
Nói xong, nàng đứng lên, đầu hơi chúi tới trước. Chúng tôi đi
sang phòng của ông cụ và cùng ngồi bên giường ông. Selma gượng nở nụ cười, giả
vờ nhẫn nại. Thân phụ nàng cũng cố làm cho con gái tin rằng ông đang cảm thấy
khá hơn và trong người khỏe hơn, nhưng cả hai cha con đều biết tường tận cơn khổ
não của nhau và cùng nghe rõ hơi thở dài không thành tiếng của nhau. Họ giống
như hai sức lực ngang nhau và đang trong thinh lặng mất dần nhau.
Trái tim người cha tan chảy vì tình cảnh của con gái. Họ là
hai linh hồn thuần khiết, linh hồn này đang ra đi và và linh hồn kia thống khổ
với đau thương, đang ấp ủ trong tình yêu và sự chết. Và tôi ở giữa cả hai với
tâm hồn tán loạn của mình. Nơi đây, ba người chúng tôi quây quần và bị bàn tay
định mệnh bóp nát. Một người cao niên như ngôi nhà đang điêu tàn vì lũ lụt; một
thiếu nữ với biểu tượng như đóa hoa bị cạnh sắc của cây liềm bứt lìa cành, và một
thanh niên như cây non ẻo lả cong mình dưới tuyết rơi, cả ba chúng tôi là trò
chơi trong bàn tay của số phận.
Farris Effandi cử động chầm chậm. Ông chìa tay cho Selma và
nói với giọng dịu dàng, đầy thương yêu:
"Con thương yêu ơi, hãy nắm tay cha."
Selma cầm tay cha. Kế đó ông nói:
"Cha dã sống đủ lâu, và cha đã thưởng thức hoa trái các
mùa của cuộc đời. Cha đã kinh qua những giai đọan thăng trầm của nó với lòng
thanh thản. Cha mất mẹ con khi con ba tuổi và mẹ con để lại con trên lòng của
cha như một kho tàng quí báu. Cha trông chừng con, ngắm khuôn mặt con tái hiện
vẻ mặt mẹ mình như các ngôi sao được phản chiếu trên nước mặt hồ yên tĩnh. Cá
tính, trí thông minh và sắc đẹp của con là của mẹ con, thậm chí cách nói và điệu
bộ của con. Trong cuộc đời này, con là nguồn an ủi duy nhất của cha vì con là
hình ảnh của mẹ con trong mọi cử chỉ, mọi lời nói.
"Giờ đây, cha già rồi. Nơi an nghỉ duy nhất của cha là
giữa những chiếc cánh êm đềm của sự chết. Con gái của cha ơi, đừng nặng lòng,
vì cha đã sống đủ lâu để thấy con thành một phụ nữ. Con hãy hạnh phúc vì cha sẽ
sống trong con sau cái chết của cha. Cha ra đi hôm nay hay ngày mai ngày mốt
cũng thế thôi vì ngày đời của cha đang tàn rụng như lá mùa thu. Giờ chết của
cha đang lẹ làng tới gần và linh hồn cha khao khát được đoàn tụ với linh hồn của
mẹ con."
Trong khi nói những lời ấy một cách dịu ngọt và đầy thương
yêu, mặt Farris Effandi bừng sáng. Kế đó ông cụ thò tay xuống dưới gối, lấy ra
một bức hình lồng trong khung bằng vàng. Đưa mắt ngắm rất lâu người trong ảnh,
ông nói:
"Nào, Selma, tới đây nhìn mẹ của con trong bức hình
này."
Selma vội lau khô nước mắt. Sau khi nhìn chằm chặp bức hình,
nàng hôn lên nó nhiều lần và kêu lớn:
"Ôi mẹ, mẹ thương yêu của con! Mẹ ơi!"
Rồi nàng áp đôi môi run rẩy lên bức hình như thể muốn
trút linh hồn vào người trong ảnh.
Tiếng tuyệt diệu nhất trên cửa miệng loài người là tiếng
"Mẹ", và tiếng gọi tuyệt trần nhất là "Mẹ ơi". Đó là tiếng
chan chứa hi vọng và tình yêu, lời ngọt ngào và ân cần nhất đến từ những chốn
sâu thẳm của trái tim. Mẹ là mọi sự - mẹ là niềm an ủi của ta khi khốn khổ, là
sức mạnh của ta khi yếu đuối. Mẹ là nguồn cội của tình yêu, lòng thương xót,
thiện cảm và tha thứ. Kẻ mất mẹ là mất một linh hồn thuần khiết triền miên ban
ân sủng và canh giữ mình.
Vạn vật trong thiên nhiên nói cho biết về người mẹ. Mặt
trời là mẹ của quả đất, cho đất sức nóng làm dưỡng chất; nó chỉ rời vũ trụ lúc
đêm tới sau khi đã đưa quả đất vào giấc ngủ với khúc ca của biển, điệu hát của
đàn chim và các con suối. Quả đất này là mẹ của cây cối và hoa; nó sản sinh
chúng, nuôi sống và không thôi cho bú mớm. Cây cối và hoa trở nên những người mẹ
nhân từ của quả và hạt mầm tuyệt vời. Và người mẹ, nguyên mẫu của toàn bộ hiện
hữu, là tinh thần vĩnh cửu, đầy cái đẹp và tình yêu.
Selma không bao giờ biết tới mẹ mình vì bà qua đời lúc nàng gần
như chưa biết gì, nhưng Selma bật khóc khi nhìn thấy hình ảnh mẹ và kêu lên:
"Ôi mẹ ơi!" Tiếng mẹ ẩn mật trong trái tim con người, trên môi chúng
ta trong giờ phút đau thương hoặc hạnh phúc, như hương thơm từ tâm điểm đoá hoa
hồng quyện với không khí quang đãng hoặc mờ mây.
Selma tiếp tục nhìn chằm chặp hình ảnh mẹ và hôn liên tục bức
hình cho tới khi gục xuống bên giường của cha nàng.
Ông cụ đặt cả hai bàn tay lên đầu con gái và nói:
"Con yêu thương của cha, cha đã cho con thấy hình ảnh của
mẹ con trên giấy. Bây giờ, con hãy lắng nghe cha. Cha sẽ kể cho con nghe những
lời mẹ con nói."
Selma ngườc mặt lên như chim non trong tổ vừa nghe tiếng vỗ
cánh của chim mẹ, và nàng nhìn cha chăm chú.
Farris Effandi mở miệng và nói:
"Trong khi nuôi dưỡng con, mẹ con bị mất thân phụ của bà
ấy. Bà khóc lóc gào la khi ông ngoại của con ra đi, nhưng mẹ con là người khôn
ngoan và chịu đựng. Sau khi xong tang lễ, bà ngồi bên cha, ngay trong phòng
này, cầm tay cha và nói: 'Farris ơi, lúc này cha của em đã chết và anh là nguồn
an ủi duy nhất của em trên thế gian này'. Tình cảm của con tim bị chia thành từng
nhánh như các cành của cây tuyết tùng. Nếu bị mất một cành mạnh mẽ, cây sẽ đau
đớn nhưng không chết. Nó sẽ dồn tất cả sức sống vào cành kế đó để cành ấy lớn mạnh,
điền vào chỗ khuyết'. Đó là những gì mẹ con nói với cha khi ông ngoại của con từ
trần, và con cũng nên nói giống y như thế khi cái chết đem thể xác cha tới nơi
an nghỉ của nó và mang linh hồn cha tới nơi chăm sóc của Thượng đế."
Selma trả lời cha với dòng nước mắt chảy và trái tim tan tác:
"Khi mẹ con mất ông ngoại, có cha thay vào chỗ đó, nhưng
ai sẽ thay vào chỗ của cha khi cha đã ra đi? Mẹ con được để lại trong sự chăm
sóc của một người chồng đầy yêu thương và đáng tin cậy. Mẹ tìm được nguồn an ủi
trong đứa con gái bé bỏng, và ai sẽ là nguồn an ủi cho con khi cha qua đời? Cha
là cha, là mẹ và là bạn tri kỷ của con suốt tuổi thanh xuân."
Nói xong lời ấy, Selma quay qua nhìn tôi, nắm một bên áo tôi
và nói:
"Đây là người bạn duy nhất con có sau khi cha ra đi mãi
mãi, nhưng làm sao anh có thể an ủi con khi bản thân anh ấy cũng đang đau khổ?
Làm sao một tâm hồn tan vỡ có thể tìm thấy ủi an nơi một linh hồn tuyệt vọng?
Người đàn bà khổ não không thể được an ủi bởi cơn khổ não của người bên cạnh
mình, cũng như chim không thể bay với đôi cánh gãy.
"Anh là bạn của linh hồn con nhưng con đã đặt gánh đau
khổ rất nặng lên trên anh ấy, nước mắt của con đã làm mờ mắt anh, tới độ anh
không còn có thể thấy gì ngoài bóng tối. Anh là người anh em con tha thiết
thương yêu nhưng anh ấy giống như mọi anh em đang chia sẻ khổ não của con và
giúp con chảy những giọt nước mắt làm tăng thêm cay đắng của con và đốt cháy
trái tim con."
Những lời của Selam đâm thấu trái tim tôi và tôi cảm thấy
mình chẳng thể nào chịu đựng thêm nữa. Ông cụ lắng nghe với tinh thần phiền muộn,
run rẩy như ngọn đèn trước gió. Rồi ông dang hai tay ra và nói:
"Con của cha ơi, con hãy để cha ra đi bình an. Cha đã bẻ
gãy những chấn song cuối cùng của chiếc lồng. Hãy để cha bay đi và đừng ngăn
cha lại, vì mẹ của con đang gọi cha. Bầu trời quang đãng, biển lặng và thuyền
đã sẵn sàng dong buồm, đừng trì hoản chuyến du hành. Hãy để thể xác cha
an nghỉ với những kẻ đang an nghỉ. Hãy để giấc mộng của cha kết thúc và linh hồn
cha thức dậy với bình minh.
"Con hãy để cho linh hồn con ôm ấp linh hồn cha và hãy
cho cha một nụ hôn hy vọng. Đừng để khổ đau và cay đắng nhỏ từng giọt lên thân
thể cha kẻo hoa cỏ không chịu tiếp nhận các thành tố thể xác cha làm dưỡng chất
của chúng. Đừng chảy những giọt nước mắt khốn khổ lên bàn tay cha vì chúng có
thể nuôi lớn những cây gai trên mồ cha. Đừng vạch thống khổ thành nét lên trán
cha vì gió có thế lướt ngang và đọc chúng rồi không chịu mang tro bụi cùng
xương cốt của cha tới các đồng cỏ xanh.
"Con gái của cha, cha đã yêu thương con khi cha còn sống,
cha còn yêu thương con khi cha đã chết và linh hồn cha sẽ luôn luôn canh chừng
và bảo vệ con."
Kế đó, Farris Effandi nhìn tôi với ánh mắt hé mở và nói:
"Con trai của ta, con hãy là người anh em chân chính của
Selma như thân phụ của con đối với ta. Con hãy giúp đỡ nó và là người bạn thật
sự khi nó cần tới. Chớ để nó than khóc vì khóc than thương tiếc người chết là một
lỗi lầm. Con hãy lặp lại với nó những câu chuyện thú vị và hãy hát cho nó nghe
những khúc ca cuộc sống để nó có thể lãng quên khổ não. Khi gặp lại cha của
con, hãy nhắc đến tên ta; con hãy yêu cầu ông ấy kể cho con nghe những câu chuyện
thời trai trẻ của cả hai, và nói với cha con rằng ta yêu thương ông trong con
người con trai ông cho tới giờ cuối của cuộc đời ta."
Im lặng lan toả. Tôi có thể thấy vẻ xanh xao tái nhợt của sự
chết trên khuôn mặt ông cụ. Rồi ông đảo mắt nhìn chúng tôi và thì thầm:
"Đừng gọi bác sĩ vì ông ấy có thể kéo dài bản án của ta
trong nhà tù này bằng thuốc men. Năm tháng nô lệ đã chấm dứt và linh hồn ta
đang tìm kiếm sự tự do trên các tầng trời. Và đừng gọi linh mục tới bên giường
ta vì những lời kinh cứu rỗi của ông ấy không cứu được ta nếu ta là kẻ tội lỗi,
cũng không làm ta chóng lên Thiên đàng hơn nếu ta là người vô tội. Ý muốn của
loài người không thể làm thay đổi ý muốn của Thượng đế, giống với một nhà chiêm
tinh không thể thay đổi đường đi của các ngôi sao. Nhưng sau khi ta chết, hãy để
các bác sĩ và các linh mục lằm những gì họ thích làm vì thuyền của ta tiếp tục
dong buồm cho tới khi nó tới điểm đến của nó."
Tới nửa đêm, Farris Effandi mở đôi mắt mệt lữ của mình
lần cuối và tập trung ánh mắt vào Selma lúc này đang quì bên giường. Ông cụ cố
gắng cất tiếng nói nhưng không thể vì thần chết đã làm nghẻn giọng của ông; cuối
cùng ông cũng rán sức thốt lên:
"Đêm đang qua... Ôi Selma... Ôi, ôi, Selma..."
Rồi ông gục xuống. Khuôn mặt ông ra trắng bệch. Và tôi có thể
thấy nụ cười trên môi khi ông thở hơi cuối cùng.
Selma sờ bàn tay cha. Nó lạnh. Và nàng ngước lên nhìn khuôn mặt
ông. Nó bị phủ tấm mạng của sự chết. Selma nghẹn ngào tới độ không ứa nước
mắt, không thở dài, và thậm chí không nhúc nhích. Trong một chốc, nàng nhìn cha
với đôi mắt bất động như hai mắt một pho tượng. Rồi nàng chúi mình xuống cho tới
khi trán chạm sàn nhà, và kêu lên:
"Ôi Chúa ơi, xin thương xót và cứu chữa đôi cánh gãy của
chúng con."
Farris Effandy Katamy qua đời. Linh hồn ông được Vĩnh cửu ôm ấp
và thể xác ông trở về đất. Thiếu gia Bey Galib tiếp nhận quyền sở hữu tài sản của
ông, và Selma trở thành người tù của cuộc đời - một cuộc đời phiền muộn và khốn
khổ.
Tôi thất lạc trong khổ não và mộng mị. Ngày ngày đêm đêm săn
bắt tôi như chim ưng rúc rỉa nạn nhân của nó. Nhiều khi tôi cố quên bất hạnh của
mình bằng cách vùi đầu vào sách vở và thánh thư của các thời đại quá khứ, nhưng
nó như thể dập tắt lửa bằng cách tưới thêm dầu. Và tôi không thể thấy gì trong
cuộc diễu hành của quá khứ ngoài thảm kịch, và không thể nghe gì ngoài tiếng
khóc than thương tiếc.
Cuốn Sách Gióp làm say mê tôi hơn Thánh vịnh, và tôi thích Ai
ca của ngôn sứ Giêrêmia hơn Nhã ca của vua Salomon. Hamlet gần gũi tôi trái tim
tôi hơn hết thảy những vở kịch của các nhà văn phương Tây. Như thế, tuyệt vọng
làm suy yếu tầm nhìn của tôi và khép kín đôi tai tôi. Tôi không thể thấy gì
ngoài những bóng ma đọa đày và chỉ có thể nghe tiếng đập của con tim đang bồi hồi
của mình.
8/ Giữa Đức Kitô và Ishtar
Ở giữa những hoa viên và các ngọn đồi nối liền thành phố
Beirut với Li-băng, có một ngôi đền nhỏ, rất cổ, được đục trong đá trắng, vây
quanh là các hàng dương liễu, ô liu và hạnh nhân. Dù ngôi đền ấy chỉ nằm cách
xa lộ chính nửa dặm nhưng vào lúc xảy ra câu chuyện này, rất ít người quan tâm
tới các di tích và tàn tích cổ đại chịu bỏ công thăm viếng nó. Nó là một trong
nhiều địa điểm đáng chú ý, kín đáo và bị quên lãng tại Li-băng. Vì sự khuất lấp
ấy, ngôi đền thành nơi nương náu của những kẻ thờ phượng và đền thờ cho những
người tình cô đơn.
Khi vào trong ngôi đền, ta sẽ thấy trên vách mé đông có một bức
phù điêu cổ Phoenicia tạc trong đá, mô tả Ishtar, nữ thần của tình yêu và cái đẹp,
ngồi trên ngai của nàng, vây quanh là bảy trinh nữ khỏa thân đứng theo các tư
thế khác nhau. Trinh nữ thứ nhất cầm đuốc; cô thứ hai cây đàn; cô thứ ba lư
hương trầm; cô thứ tư choé rượu; cô thứ năm cành hoa hồng; cô thứ sáu vòng nguyệt
quế; và cô thứ bảy cây cung và mũi tên. Cả bảy cô đều đưa mắt kính ngưỡng nhìn
lên Ishtar.
Trên bức tường thứ hai có một bức phù điêu khác, thời điểm
sau bức thứ nhất, diễn đạt theo cách tượng trưng Đức Kitô bị đóng đinh trên giá
chữ thập. Bên cạnh ngài đứng mẹ của ngài đầy sầu bi, cùng Mary Magdalena và hai
phụ nữ đang khóc. Bức khắc nổi kiểu Bizantine này cho thấy nó được chạm vào thế
kỷ 17 hoặc 16.
Trên bức tường mé đông có hai ngách hình vòng cung theo đó
ánh mặt trời chiếu vào ngôi đền, hắt lên các bức phù điêu ấy và làm chúng như
thể được tô bằng kim nhủ. Ở chính giữa ngôi đền có một tảng cẩm thạch vuông mỗi
mé có một bức điêu khắc cổ. Một vài bức khó nhận ra vì trên mặt có những cục máu
hóa thạch chứng tỏ người cổ đại đã tế lễ cùng đổ trầm hương, rượu và dầu lên
trên bệ đá này.
Không còn gì khác trong ngôi đền ngoài sự tịch lặng thẳm sâu,
vén lộ cho người đang sống những bí mật của các thần nữ, và qua vô ngôn, nói tới
những thời đại đã qua cùng cuộc tiến hóa của các tôn giáo. Cảnh tượng ấy mang
thi sĩ tới một thế giới xa rất xa thế giới y đang nương náu và khiến các triết
gia tin rằng con người bẩm sinh mang tính tôn giáo; loài người cảm thấy có nhu
cầu đáp ứng cái họ không thể trông thấy và vẽ thành biểu tượng ý nghĩa của những
cái thố lộ các bi mật ẩn giấu và các khát vọng của họ trong cuộc sống và cái chết.
Trong ngôi đền không tên đó, tôi gặp gỡ Selma mỗi tháng một lần
và ở bên nàng trong nhiều giờ, ngắm các bức tranh lạ thường ấy, ngẫm nghĩ về Đức
Kitô chịu đóng đinh và trầm tưởng tới những thanh niên Phoenicia cùng những phụ
nữ đã sống, đã yêu và thờ phượng cái đẹp trong con người của Ishtar bằng cách đốt
trầm hương trước tượng của nàng, rưới nước hoa lên bệ thờ nàng, những kẻ không
lưu lại gì để nói tới ngoài một cái tên được nhắc lại bởi cuộc diễu hành của thời
gian trước bộ mặt của Vĩnh cửu.
Thật khó có thể ghi thành hồi ký những giờ tôi gặp gỡ Selma -
những giờ tuyệt trần, chan chứa đau đớn và ngập tràn hạnh phúc, khổ não, hi vọng
và khốn khổ.
Chúng tôi thầm lén gặp nhau trong ngôi đền cổ ấy, ôn lại những
ngày cũ, thảo luận về hiện tại của mình, sợ hãi tương lai và dần dần làm lộ rõ
các bí mật ẩn giấu trong những chốn sâu thẳm của linh hồn chúng tôi, ra sức ủi
an nhau bằng những hi vọng tưởng tượng và những giấc mộng tiếc nuối.
Thỉnh thoảng lòng chúng tôi lắng đọng, lau khô nước mắt và bắt
đầu mỉm cười, lãng quên mọi sự, chỉ còn biết đến Tình yêu. Chúng tôi ấp ủ nhau
cho tới khi trái tim tan chảy. Kế đó Selma in dấu một nụ hôn thuần khiết lên
trán tôi khiến tâm hồn tôi chan chứa ngất ngây. Tôi đáp trả chiếc hôn ấy lúc
nàng nghiêng cổ màu ngà xuống với đôi má ửng hồng và mịn màng trông như tia nắng
mai đầu tiên trên trán các ngọn đồi. Chúng tôi lặng im nhìn chân trời xa xa nơi
các đám mây nhuộm tia nắng màu da cam thành ráng chiều mặt trời lặn.
Những chuyện vãn của chúng tôi không giới hạn trong tình yêu.
Thông trường chúng tôi lan man trên các vấn đề đang xảy ra và trao đổi ý kiến.
Xuôi theo dòng chuyện trò, Selma nói tới địa vị của phụ nữ trong xã hội, vết hằn
các thời đại đã qua để lại trên cá tính của người nữ, mối quan hệ giữa chồng và
vợ, các bệnh hoạn tinh thần và sự băng hoại đe dọa cuộc sống hôn nhân. Tôi nhớ
lời nàng từng nói:
"Các nhà thơ và nhà văn cố tìm cách thấu hiểu thực tại của
người đàn bà nhưng cho tới nay, họ vẫn không hiểu những bí mật ẩu giấu trong
tâm hồn nàng vì họ nhìn đàn bà từ đằng sau tấm mạng tính dục và chỉ thấy vẻ bên
ngoài của nàng. Họ nhìn người nữ qua chiếc kính oán hờn phóng đại và chẳng tìm
thấy gì ngoài yếu ớt và vâng phục."
Vào một dịp khác, Selma đưa tay lên chỉ tới các bức phù điêu
trên vách ngôi đền và nói:
"Trong lòng của đá này có hai biểu tượng mô tả cái cốt tủy
trong khát vọng của phụ nữ và vén lộ những bí mật ẩn giấu của linh hồn đàn bà,
đó là chuyển động giữa tình yêu và khổ não, giữa thương cảm và hi sinh, giữa
Ishtar đang ngồi trên ngai và Đức mẹ Maria đang đứng bên cây thánh giá. Người
nam mua vinh quang và danh tiếng nhưng người nữ trả giá."
Không ai biết những cuộc gặp mặt kín đáo của chúng tôi ngoài
Thượng đế và lũ chim lượn vòng trên ngôi đền. Selma thường dùng cổ xe ngựa của
nàng đến một chỗ có tên là Công viên Pasha. Từ chỗ đó, nàng đi bộ tới ngôi đền
và tìm thấy tôi đang khắc khoải ngóng từng giây.
Chúng tôi không sợ con mắt quan sát của người đời, cũng không
sợ lương tâm của cả hai chúng tôi. Tinh thần được thanh tẩy bằng lửa và rửa sạch
bằng nước mắt thì cao hơn cái người đời gọi là hổ thẹn hay ô nhục. Nó được giải
phóng khỏi các lề luật nô lệ và những phong tục lỗi thời ngược với tình cảm của
tâm hồn con người. Tinh thần ấy có thể kiêu hãnh đứng không chút xấu hổ trước
ngai của Thượng đế.
Xã hội loài người trong suốt bảy mươi thế kỷ đã đầu hàng những
luật lệ băng hoại tới độ ngày nay nó không thể hiểu luật lệ tối thượng và vĩnh
cửu. Con mắt loài người đã ngày càng quen thuộc với ánh sáng le lói của ngọn nến
và không thể nhìn ánh sáng của mặt trời. Bệnh tật tinh thần đã trở nên thành phần
của người đời khiến họ nhìn nó không phải là bệnh tật mà như một tặng phẩm tự
nhiên được Thượng đế ban cho A-đam. Nếu thấy có ai đó thoát khỏi các mầm mống của
bệnh tật ấy, họ sẽ nghĩ về y với sự hỗ thẹn và ô nhục.
Những kẻ nào nghĩ xấu về Selma Karamy vì nàng rời nhà chồng đến
gặp tôi trong ngôi đền là kẻ bệnh hoạn và là một loại tâm trí bạc nhược, một kẻ
nhìn người lành mạnh và tráng kiện như một tên nổi loạn. Những kẻ ấy giống như
côn trùng bò trong bóng tối vì sợ người qua đường dẫm lên mình.
Tù nhân bị áp bức nào có thể phá vỡ ngục tù của mình mà không
làm, đều là kẻ hèn nhát. Selma, một tù nhân vô tội và bị áp bức, không có khả
năng giải thoát mình khỏi cảnh nô lệ. Nàng có đáng trách vì đã qua cửa sổ nhà
tù, nhìn cánh đồng xanh và bầu trời bao la? Người đời có xem Selma là không
chung thủy với chồng vì nàng từ nhà mình tới đây để ngồi bên tôi giữa Đức Kitô
và nữ thần Ishtar?
Cứ để người đời nói điều họ thích nói, Selma đã vượt qua những
đầm lầy nhận chìm các tinh thần khác và đã đặt chân lên đất liền trong một thế
giới không bị tiếng hú của lang sói và tiếng rì rào của rắn với tới. Người đời
có thể nói điều họ muốn nói về tôi vì một tinh thần từng thấy bóng ma của sự chết
thì không thể bị bộ mặt của kẻ cắp hăm dọa. Người lính nào từng thấy thanh gươm
lấp lánh trên đầu và suối máu dưới chân thì không thèm đếm xỉa những viên đá trẻ
con trên đường phố ném tới.
9/ Hy sinh
Một ngày vào hạ tuần tháng sáu khi dân chúng rời thành thị
lên núi tránh cái nóng mùa hạ, tôi như thường lệ tới ngôi đền để gặp mặt Selma,
mang theo bên mình cuốn sách nhỏ gồm các bài thơ xứ Andalusia.
Tới ngôi đền, trong khi ngồi đó trông ngóng Selma, lâu lâu
tôi lại nhìn vào vài trang sách, ngâm những câu thơ làm tâm hồn mình chứa chan
ngây ngất và mang tới cho linh hồn mình những hồi ức về các vua, thi sĩ, hiệp
sĩ đã chào từ biệt để đi Granada với lệ trong mắt, khổ não trong lòng và để lại
đằng sau các dinh thự, cơ quan cùng niềm hy vọng.
Một giờ sau, tôi thấy Selma đang đi giữa các hoa viên, tới gần
ngôi đền, lệch người dưới chiếc dù che nắng như thể đang mang hết thảy những âu
lo của thế giới trên vai. Khi nàng bước vào ngôi đền và ngồi bên tôi, tôi để ý
có cái gì đó thay đổi trong mắt nàng, và tôi khắc khoải muốn dò hỏi cho ra.
Cảm nhận được những gì đang diễn ra trong tâm trí tôi, Selma
đặt bàn tay lên đầu tôi và nói:
"Nào, người thương yêu của em, hãy xích lại gần em để em
làm anh nguôi cơn khát vì sắp đến giờ chúng ta chia tay nhau."
Tôi thảng thốt hỏi nàng:
"Có phải chồng em đã biết chuyện chúng ta gặp gỡ nhau ở
đây?"
Nàng điềm tĩnh trả lời:
"Chồng em chẳng bao giờ quan tâm tới em. Ông ấy cũng
không biết em sử dụng thời gian như thế nào vì ông suốt ngày bận rộn với các cô
gái khốn khổ bị cảnh nghèo túng xô đẩy vào các ngôi nhà nổi tiếng bệnh hoạn, phải
bán thân xác để có loại bánh mì bột nhào với máu và nước mắt."
Tôi thắc mắc tiếp:
"Cái gì ngăn không cho em tới ngôi đền này và cẩn trọng
ngồi bên anh trước Thượng đế. Có phải linh hồn em đang đòi hỏi chúng ta phải
chia tay nhau?"
Nàng trả lời, long lanh nước mắt:
"Không, người thương yêu của em, tinh thần của em không
đòi hỏi phải chia lìa nhau vì anh là thành phần của em. Đôi mắt em không bao giờ
thấm mệt khi nhìn anh vì anh là ánh sáng của chúng. Nhưng nếu số phận ra lệnh
cho em phải đi trên đường gập ghềnh của một cuộc đời chất nặng xiềng xích thì
liệu em có bằng lòng không nếu số phận của anh cũng sẽ giống như của em?"
Kế đó, nàng nói thêm:
"Em không thể nói tất cả vì lưỡi em thắt lại với đau đớn
và không nói được, môi em hằn kín vì khốn khổ và không chuyển động được. Tất cả
những gì em có thể nói với anh là em đang sợ anh có thể bị rơi vào chiếc bẫy
như em đang mắc."
Nghe vậy, tôi hỏi:
"Selma ạ, em có ý nói gì vậy, và ai là kẻ đang làm em sợ?"
Nàng đưa hai tay lên che mặt và đáp:
"Giám mục đã phát hiện rằng mỗi tháng một lần em ra khỏi
nấm mồ mà ông ấy chôn em trong đó."
Tôi thắc mắc:
"Có phải Giám mục đã biết được việc chúng ta gặp
nhau ở đây?"
Nàng trả lời:
"Nếu ông ấy đã biết, anh sẽ không thấy em ở đây và
đang ngồi bên anh. Nhưng ông ấy có lòng nghi ngờ. Ông thông báo cho hết thảy
người làm của ông phải canh chừng em thật kỹ. Em có cảm giác trong ngôi nhà em
sống và trên con đường em đi đều có các cặp mắt theo dõi em, những ngón tay chỉ
thẳng vào em và những đôi tai nghe ngóng tiếng thì thầm của ý nghĩ em."
Selma im lặng một lúc rồi nàng nói thêm, hai má đẫm nước mắt:
"Em không sợ Giám mục vì đã ướt sủng thì không còn e ngại
bị chìm đắm, Nhưng em sợ anh có thể rơi vào chiếc bẫy và trở thành con mồi của
ông. Anh còn trẻ và tự do như ánh nắng. Em không sợ cái số phận đã bắn tất cả
mũi tên của nó vào lồng ngực em nhưng em sợ con rắn có thể cắn bàn chân anh, cản
trở không cho anh leo lên đỉnh núi nơi tương lai đang chờ anh với hân hoan và
vinh quang của nó."
Tôi nói:
"Kẻ chưa bị con rắn của ánh sáng cắn và con sói của bóng
tối táp, sẽ luôn luôn bị lừa dối suốt ngày suốt đêm. Nhưng hãy lắng nghe,
Selma, hãy lắng nghe thật kỹ, có phải chia tay là phương cách duy nhất để tránh
những độc dữ và đê tiện của người đời? Có phải con đường của tình yêu và tự do
bị đóng lại và không lưu lại gì ngoài sự đầu hàng ý muốn của những kẻ nô lệ sự
chết?"
Nàng đáp:
"Không có gì để lại ngoài sự chia xa và nói lời chào từ
giã nhau."
Với tinh thần nổi loạn, tôi cầm tay Selma và nói bằng giọng
khích động:
"Suốt một thời gian dài, chúng ta đã đầu hàng ý muốn của
người đời. Kể từ lúc chúng ta gặp nhau cho tới giờ này, chúng ta bị người mù hướng
dẫn và cùng với họ, chúng ta bái lạy trước các ngẫu tượng của họ. Kể từ lúc
chúng ta gặp nhau, chúng ta đã ở trong bàn tay của Giám mục như hai trái banh bị
ông liệng qua ném lại tùy thích. Có phải chúng ta sắp sửa đầu hàng ý muốn của
ông cho tới khi cái chết mang chúng ta đi mãi mãi?
"Có phải Thượng đế đã hà hơi sự sống cho chúng ta
để rồi đặt nó dưới bàn chân của sự chết? Có phải ngài đã ban cho chúng ta sự tự
do để chúng ta biến nó thành một hình bóng của nô lệ? Kẻ dập tắt ngọn lửa tinh
thần mình bằng chính bàn tay của mình, tức là tên vô đạo trong mắt của Trời vì
Trời bày ra lửa để bùng cháy trong tinh thần của chúng ta. Kẻ không nổi loạn chống
áp bức tức là đang đối xử bất công với chính mình.
"Anh yêu em, Selma, và em cũng yêu anh. Tình yêu là kho
tàng quí báu, là tặng phẩm của Thượng đế ban cho các tinh thần nhạy cảm và vĩ đại.
Chúng ta có sẽ vứt bỏ kho tàng ấy, để cho lũ lợn húc nó tán loạn và dẫm đạp lên
nó? Thế giới này tràn đầy kỳ diệu và vẻ đẹp. Tại sao chúng ta lại sống trong đường
hầm chật hẹp mà Giám mục và những kẻ tiếp tay ông đã đào sẵn cho chúng ta? Cuộc
đời chan chứa hạnh phúc và tự do, tại sao chúng ta không cởi bỏ chiếc ách nặng
nề khỏi hai vai, bẻ gãy xiềng xích đang trói hai chân, để bước đi tự do, tới
hòa bình?
"Hãy đứng lên và chúng ta hãy rời ngôi đền nhỏ bé này để
tới ngôi đền rộng lớn của Thượng đế. Chúng ta hãy rời xứ sở này với tất cả tình
trạng nô lệ và mê muội của nó để đi tới một xứ sở khác, xa rất xa, mà bàn tay của
lũ trộm cắp không với tới. Chúng ta hãy ra bờ biển, dưới sự che chở của bóng
đêm, lên con tàu sẽ mang chúng ta băng ngang các đại dương để tới nơi có thể
tìm thấy một cuộc sống mới tràn đầy hạnh phúc và am hiểu.
"Selma ơi, đừng ngần ngại, vì những phút này đối với
chúng ta quí báu hơn vương miện các đức vua và tuyệt vời hơn ngai các thiên thần.
Chúng ta hãy bước theo cột ánh sáng dẫn mình đi từ sa mạc khô cằn tới các đồng
cỏ xanh mọc đầy hoa và trầm hương."
Selma lắc đầu. Nàng nhìn đăm đăm cái gì đó vô hình bên trên
vòm điện, với nụ cười đau đớn xuất hiện trên môi. Kế đó, nàng nói:
"Không, không, người thương yêu của em. Trời đã đặt
vào bàn tay em chiếc ly đầy dấm và mật đắng. Em buộc lòng phải uống cạn để biết
trọn vẹn mùi vị cay đắng ấy cho tới khi đáy ly chỉ đọng lại vài giọt cho em
kiên nhẫn uống tiếp. Em không xứng đáng sống một cuộc đời mới chan chứa tình
yêu và bình an. Em không đủ mạnh để có hoan lạc và ngọt ngào của cuộc sống vì
con chim gãy cánh không thể bay giữa bầu trời bao la. Những con mắt đã quen với
ánh sáng leo lét của ngọn nến không đủ mạnh để nhìn thẳng mặt trời.
"Anh đừng nói với em về hạnh phúc; chỉ việc nhớ tới nó
cũng đủ làm em đau khổ. Anh đừng đề cập tới bình an với em; chiếc bóng của nó làm
em run sợ. Nhưng đây này, anh hãy nhìn em, em sẽ cho anh thấy ngọn đuốc thiêng
trời đã thắp sáng trong tro tàn của tâm hồn em. Anh biết rằng em thương yêu anh
chẳng kém tình thương của người mẹ đối với đứa con độc nhất của mình, và Tình
yêu ấy dạy em bảo vệ anh cho dẫu có phải rời xa anh.
"Chính Tình yêu được thanh tẩy bằng lửa đã ngăn không
cho em đi theo anh tới miền đất xa xôi nhất. Tình yêu ấy giết chết mọi khát vọng
của em để anh có thể sống tự do và đức hạnh. Tình yêu hữu hạn đòi hỏi sở hữu
người mình yêu nhưng tình yêu vô biên chỉ đòi hỏi chính nó thôi. Tình yêu, xuất
hiện giữa hồn nhiên mộc mạc và sự thức dậy của tuổi trẻ, tự làm nó toại nguyện
bằng hành động sở hữu và ôm ấp, còn tình yêu ra đời giữa vòm trời lồng lộng và
giáng hạ theo những bí ẩn của đêm thì không toại nguyện với bất cứ cái gì,
ngoài Vĩnh cửu và bất tử; nó chỉ đứng với lòng đầy cung kính trước thần linh chứ
không trước bất cứ cái nào khác.
"Khi em biết rằng Giám mục muốn ngăn không cho em rời
ngôi nhà của cháu ông và tước mất niềm hoan lạc duy nhất của em, em đứng trước
cửa sổ phòng mình, nhìn ra biển, nghĩ tới những xứ sở bao la bên kia biển, tới
sự tự do chân chính và độc lập mà em có thể tìm thấy ở đó. Em cảm thấy mình
đang sống gần anh, được bao phủ bởi chiếc bóng của tinh thần anh, được chìm đắm
trong đại dương chan chứa tình thương của anh.
"Nhưng hết thảy những ý nghĩ ấy - vốn soi sáng trái tim
phụ nữ khiến nàng nổi loạn chống lại phong tục cổ hủ để sống trong chiếc bóng của
tự do và công lý - đã làm cho em tin rằng em yếu đuối và tình yêu hữu hạn mỏng
manh của chúng ta không có khả năng đứng vững trước vầng mặt trời. Lúc đó em
khóc như một đức vua bị cướp mất vương quốc và lấy sạch các kho tàng, nhưng rồi
em thấy khuôn mặt anh trong những dòng nước mắt ấy, và mắt anh đăm đăm nhìn em
làm em nhớ lại những lời anh có lần nói với em rằng:
"Nào, Selma, tỉnh lại. Chúng ta hãy như những ngọn tháp
vững vàng trước bão tố. Chúng ta hãy đứng như hai chiến binh dũng cảm trước kẻ
thù, đối mặt với vũ khí của chúng. Nếu bị giết, chúng ta sẽ chết như người tuẩn
tiết; nếu chiến thắng, chúng ta sẽ sống như kẻ anh hùng. Đương đầu với chướng
ngại và sống với gian khổ thì cao nhã hơn im lặng rút lui.
"Người thương yêu của em, những lời ấy anh nói ra khi
đôi cánh của thần chết lơ lửng quanh giường của cha em. Em lấy lại sức lực và cảm
thấy trong bóng tối của nhà ngục em có một loại tự do nào đó đang làm dịu các
khó khăn của chúng ta và làm giảm các khổ não của chúng ta.
"Em khám phá ra rằng tình yêu của chúng ta sâu thẳm như
đại dương, vời vợi như các ngôi sao và mênh mông như bầu trời. Em tới đây để gặp
anh, và trong tinh thần yếu đuối của em có một sức mạnh mới. Sức mạnh này là khả
năng hi sinh cái cao cả để sở đắc cái cao cả hơn. Đó là hi sinh hạnh phúc của
em để anh có thể bảo tồn đức hạnh và danh dự trong mắt người đời và hoàn toàn
không bị sự bội bạc cũng như ngược đãi của họ chạm tới.
"Trước đây, trong những lần tới ngôi đền này, em cảm thấy
như thể những xiềng xích nặng nề đang lôi em xuống, nhưng hôm nay em đến đây với
một quyết tâm mới, rằng em sẽ cười vào những gông cùm ấy và sẽ thâu ngắn con đường
ấy.
"Em đã thường đến ngôi đền này như một bóng ma sợ hãi
nhưng hôm nay em đến như một phụ nữ dũng cảm, kẻ cảm thấy mình cần phải hi sinh
ngay lập tức và kẻ biết giá trị của đau khổ; một phụ nữ thích bảo vệ kẻ mình
yêu thoát khỏi sự mông muội của người đời và tinh thần đói khát của mình. Em đã
thường ngồi bên anh như chiếc bóng run rẩy nhưng hôm nay, em đến đây để bộc lộ
với anh cái tôi đích thực của em trước nữ thần Ishtar và Đức
Kitô.
"Em là cây lớn lên trong bóng tối, hôm nay em vươn cành
ra, run rẩy một lúc trong ánh sáng ban ngày. Em đến đây để nói lời từ biệt anh,
người thương yêu của em. Và em hi vọng rằng cuộc chia tay của chúng ta sẽ cao cả
và đáng sợ như tình yêu của chúng ta. Hãy để cho cuộc giã biệt này giống như lửa
đốt chảy vàng nhờ thế vàng trở nên huy hoàng lộng lẫy hơn."
Selma không để cho tôi phát biểu hay phản đối mà nhìn tôi với
đôi mắt long lanh. Khuôn mặt nàng vẫn giữ trọn phẩm cách, trông như một thiên
thần đáng kính trọng và giữ thinh lặng. Kế đó, với một cử chỉ trước đây chưa từng
làm, nàng vươn mình tới ôm lấy tôi với đôi cánh tay mềm mại. Selma đặt lên môi
tôi một nụ hôn nóng bỏng, rất sâu và rất dài.
Khi mặt trời đi xuống để thu hồi tia nắng của nó từ các hoa
viên và vườn cây ăn quả, Selma nhấc mình tới đứng chính giữa ngôi đền, nhìn thật
lâu các bức vách và mọi góc đền như muốn trút ánh sáng từ đôi mắt mình lên các
bức phù điêu và các biểu tượng. Kế đó, nàng bước tới và cung kính quì trước bức
tranh Đức Kitô, cẩn trọng hôn chân ngài và thì thầm:
"Ôi Đức Kitô, con đã chọn Thánh giá của ngài và rời bỏ
thế giới hoan lạc hạnh phúc của Ishtar. Con đội vòng gai và vứt bỏ vòng nguyệt
quế, và con rửa tay mình bằng máu và nước mắt thay vì bằng hoa và hương thơm.
Con uống dấm và mật đắng từ chiếc ly dành cho rượu và mật hoa. Chúa ơi, xin hãy
chấp nhận con vào trong số những kẻ đi theo ngài. Xin hãy dẫn con tới Galilee với
những môn đệ đã được ngài chọn, những kẻ bằng lòng với các đau khổ của mình và
hài lòng với các khổ não của mình."
Kế đó, Selma đứng lên nhìn tôi và nói:
"Giờ đây em sẽ hạnh phúc quay về cái hang tối tăm của
mình, nơi cư trú những bóng ma khủng khiếp. Người em yêu thương ơi, đừng tỏ lòng
thương cảm em, cũng đừng cảm thấy xót xa cho em, vì linh hồn từng có lần thấy
chiếc bóng của Thượng đế thì sau đó sẽ không bao giờ run sợ những chiếc bóng của
cái ác. Và con mắt từng có lần thấy Thiên đàng sẽ không bao giờ khép lại vì những
đớn đau của trần thế."
Nói xong những lời ấy, Selma rời khỏi nơi thờ phượng. Còn tôi
ở lại đó, thất lạc mình trong đại dương sâu thẳm các ý nghĩ và mê mải mình
trong thế giới mặc khải, ở đó Thượng đế ngự trên ngai, các thiên thần ghi chép
hành động của con người, các linh hồn kể lại tấn thảm kịch cuộc đời, và các
tiên nga Houri của Thiên đàng hát những khúc ca tình yêu, khổ não và bất tử.
Đêm xuống từ lâu khi tôi tỉnh giấc mê thiếp để thấy mình
hoang mang giữa các hoa viên, lặp lại âm vọng từng lời Selma đã nói và nhớ lại
sự im lặng của nàng, các hành vi cử chỉ của nàng, vẻ mặt của nàng và cái chạm
vào của đôi cánh tay nàng, cho tới khi tôi nhận ra ý nghĩa của cuộc chia tay và
nỗi đau đớn trong trạng thái cô đơn. Tôi ưu phiền và tim vỡ nát.
Tôi khám phá ra thực tế đầu tiên rằng dẫu được sinh ra trong
tự do loài người sẽ vẫn còn làm nô lệ cho những luật lệ khắc nghiệt do cha ông
họ ban hành, và rằng bầu trời mà chúng ta tưởng như không thay đổi chính là sự
đầu hàng của hôm nay trước ý muốn của ngày mai và sự đầu hàng của hôm qua trước
ý muốn của hôm nay.
Từ đêm đó, có nhiều lần tôi nghĩ tới luật lệ của tinh thần,
và có nhiều lần tôi làm cuộc so sánh giữa cao thượng của hi sinh với hạnh phúc
của nổi loạn, để khám phá cho ra cái nào cao thương hơn và đẹp đẽ hơn cái nào.
Nhưng cho tới lúc này, từ toàn bộ sự việc đó, tôi chỉ rút ra được một chân lý,
và chân lý đó là sự chân thành, cái làm cho mọi hành vi cử chỉ của chúng ta trở
nên đẹp đẽ và có danh dự. Và sự chân thành ấy có trong Selma Karamy.
10/ Kẻ giải cứu
Năm năm hôn nhân của Selma đi qua, không mang về một đứa con
nào để thắt chặt các mối dây tinh thần giữa nàng với chồng và buộc hai linh hồn
tương khắc vào nhau.
Ở khắp nơi, người đàn bà cằn cỗi bị người đời nhìn với thái độ
khinh thị vì hầu hết đàn ông đều khao khát được làm cho mình tồn tại mãi mãi
qua con cháu.
Người đàn ông có tài sản thường xem bà vợ vô sinh của hắn như
kẻ thù. Hắn ghét cay ghét đắng và bỏ rơi nàng, thậm chí ao ước sao cho nàng
chóng chết. Thiếu gia Bey Galib thuộc loại đàn ông đó. Về mặt vật chất, y giống
như đất, cứng như thép và tham lam như huyệt mộ. Khát vọng có một đứa con mang
tên họ và danh tiếng của y khiến y oán hận Selma, bất chấp nhan sắc và tính nết
dịu dàng của nàng.
Cây mọc trong hang không sinh quả. Và Selma, kẻ sống trong
bóng tối cuộc đời không thể cưu mang con cái...
Chim sơn ca không làm tổ trong lồng kẻo số phận của chim non
sẽ là nô lệ... Selma là người tù của khốn khổ, và do bởi ý muốn của Trời, nàng
sẽ không có thêm một người tù nữa để chung chia cuộc sống của mình. Hoa trong đồng
nội là con cái tình thương cảm của mặt trời và tình thương yêu của thiên nhiên,
và con cái của loài người là hoa của tình yêu và lòng trắc ẩn...
Trong toà nhà xinh đẹp của Selma tại Ras Beyrouth, tinh thần
của tình yêu và lòng trắc ẩn không bao giờ thắng thế cho dẫu nàng hằng đêm quì
gối trước Trời, cầu xin Thượng đế ban cho một đứa con để nàng có thể tìm thấy
trong đứa bé nguồn khuây khỏa và an ủi... Nàng triền miên cầu nguyện cho tới
khi Trời đáp ứng lời nguyện cầu của nàng...
Cuối cùng, cây trong hang trổ lộc để ươm quả. Chim sơn ca
trong lồng bắt đầu xây tổ bằng chính lông và cánh của nó.
Selma ngữa đôi tay quấn xiềng xích lên Trời để tiếp nhận tặng
phẩm quí báu của Thượng đế, và trên thế gian này, chẳng có gì khác có thể làm
nàng hạnh phúc hơn việc trở nên người sắp làm mẹ...
Nàng bồn chồn chờ đợi, đếm từng ngày, trông ngóng thời điểm
khúc nhạc dịu ngọt nhất của Trời, tiếng nói của đứa con, rung lên trong đôi tai
người mẹ...
Qua những giọt nước mắt của mình, Selma bắt đầu thấy hừng
đông của một tương lai sáng sủa hơn.
Tới tháng Nisan, Selma chuyển mình trên chiếc giường lâm bồn
đau đớn, nơi sự sống và cái chết vật lộn nhau. Bác sĩ và nữ hộ sinh đã sẵn sàng
để chuyển giao cho thế giới một vị khách mới.
Đến quá nửa đêm, Selma bắt đầu gào thét không dứt. Tiếng kêu
la của sự sống tách ra từ sự sống. Tiếng kêu la của sự tiếp nối trong bầu trời
hư không... Tiếng kêu la của sức lực yếu ớt trước sự sống vững chải của các sức
lực lớn lao... Tiếng kêu la của một Selma khốn khổ đang nằm xuống trong tuyệt vọng
dưới chân của sự sống và cái chết.
Tới rạng sáng Selma cho ra đời một bé trai. Khi mở được đôi mắt,
nàng thấy khắp gian phòng những khuôn mặt đang mỉm cười. Rồi nàng nhìn thêm lần
nữa và thấy sự sống cùng cái chết vẫn đang vật lộn bên giường mình. Selma nhắm
mắt lại và khóc, thốt lên lần đầu tiên, "Ôi, con trai của tôi." Người
nữ hộ sinh bọc hài nhi trong tả lụa, đặt nó bên cạnh mẹ, nhưng bác sĩ vẫn tiếp
tục nhìn Selma và đau đớn lắc đầu.
Những giọng nói hoan hỉ đánh thức hàng xóm. Láng giềng vội
vàng kéo nhau chạy tới biệt thự để chúc mừng người cha có kẻ nối dõi vừa chào đời,
nhưng bác sĩ vẫn đăm đăm nhìn Selma cùng trẻ sơ sinh và lắc đầu.
Người giúp việc đua nhau chạy đi loan tin mừng cho Thiếu gia
Bey nhưng bác sĩ ngó chằm chặp Selma với hài nhi con nàng với vẻ thất vọng trên
mặt ông.
Khi mặt trời bắt đầu mọc, Selma đưa đứa con mới sinh lên sát
bầu ngực mình. Nó mở mắt lần đầu nhìn mẹ. Rồi rùng mình nó khép mắt lại lần cuối.
Bác sĩ lấy đứa bé ra khỏi vòng tay ôm của Selma; trên má ông chảy dài những giọt
nước mắt. Rồi ông thì thầm với mình:
"Vị khách đi rồi."
Đứa bé từ trần trong lúc các láng giềng đang ăn mừng với người
cha trong đại sảnh đường của biệt thự, nâng ly chúc sức khoẻ cho kẻ thừa kế ấy.
Selma nhìn bác sĩ, van nài:
"Xin đưa con tôi cho tôi để tôi ôm ấp nó."
Đứa bé dù đã chết nhưng tiếng ly cụng vào nhau càng lúc càng
rôm rả thêm trong sảnh đường...
Nó chào đời lúc rạng sáng và từ trần lúc mặt trời mọc...
Nó ra đời như một ý nghĩ, chết như một tiếng thở dài và biến
mất như chiếc bóng...
Nó không sống để ủi an và làm khuây khỏa mẹ nó.
Cuộc đời của nó bắt đầu vào lúc kết thúc một đêm và kết thúc
vào lúc bắt đầu một ngày, như giọt sương chảy ra từ những con mắt của bóng tối
và khô khi ánh sáng chạm tới.
Một hạt trai sóng biển mang vào bờ và rồi thủy triều đưa trở lại
đáy sâu đại dương.
Một đóa huệ chỉ mới kết nụ từ chồi của sự sống và bị dẫm nát
dưới bàn chân của sự chết.
Một vị khách thân thiết với sự xuất hiện làm rạng rỡ tâm hồn
Selma và sự ra đi giết chết linh hồn nàng.
Đây là cuộc sống của loài người, cuộc sống của các quốc gia,
cuộc sống của các mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao.
Tập trung tia mắt của mình vào bác sĩ, Selma gào lớn:
"Đưa con của tôi cho tôi để tôi ôm ấp nó. Đưa đứa bé cho
tôi để tôi cho nó bú."
Lúc đó, bác sĩ chúi đầu xuống và nói với giọng nghẹn trong cổ
họng:
"Thưa bà, cháu bé của bà không còn nữa, xin bà chịu
khó."
Vừa nghe lời tuyên bố đó của bác sĩ, Selma thét lên một tiếng
kinh hoàng. Rồi nàng lặng xuống trong một chốc và kế đó mỉm cười sung sướng.
Khuôn mặt nàng bừng sáng như vừa khám phá ra điều gì đó. Và Selma nói điềm đạm:
"Xin hãy đưa đứa bé cho tôi. Mang nó tới gần tôi để tôi
nhìn nó chết."
Bác sĩ bồng đứa bé đã chết tới cho Selma và đặt nó trong vòng
tay ôm của nàng. Selma ấp ủ con, rồi quay mặt vào vách, nàng thì thầm với hài
nhi đã chết rằng:
"Con của mẹ, con tới đây để mang mẹ ra đi. Con đến để chỉ
cho mẹ thấy con đường dẫn tới bờ biển. Con của mẹ ơi, đây mẹ đây... Con cứ dẫn
mẹ đi, và chúng ta hãy rời cái hang tối tăm này."
Và trong một phút, tia nắng mặt trời xuyên qua các bức màn cửa
sổ, chiếu lên hai thi thể tĩnh lặng đang nằm yên trong giường, được canh giữ bởi
phẩm cách sâu xa của tịch lặng và được phủ bóng bởi đôi cánh của thần chết.
Với đôi mắt đầm lệ, bác sĩ rời căn phòng. Khi ông tới khách sảnh,
tiệc mừng biến thành đám tang, nhưng Thiếu gia Bey Galib không hề thốt ra một lời
hay nhỏ một giọt nước mắt. Y tiếp tục đứng bất động như pho tượng, bàn tay phải
vẫn cầm ly rượu.
Hôm sau, Selma được khâm liệm trong chiếc áo cưới màu trắng của
nàng và đặt vào áo quan. Khăn liệm của đứa bé là tả quấn của nó. Áo quan của nó
là vòng tay người mẹ. Huyệt mộ của nó là bầu ngực êm đềm của mẹ mình. Hai thi
thể được mang đi trong một linh cửu. Và tôi cung kính bước đi với đám đông, tống
tiễn Selma và hài nhi con nàng tới nơi an nghỉ của hai mẹ con.
Sau khi tới nghĩa trang, Giám mục Bulos Galib bắt đầu hát lễ
trong khi các linh mục khác đọc kinh. Trên khuôn mặt họ xuất hiện tấm mạng vô
minh và trống rỗng.
Khi quan tài hạ huyệt, một trong những người đang đứng xem
thì thầm:
"Đây là lần đầu tiên trong đời tôi thấy hai thi hài
trong một áo quan."
Một người khác nói:
"Dường như đứa con tới để giải cứu mẹ nó thoát khỏi người
chồng nhẫn tâm."
Người thứ ba nói:
"Nhìn Thiếu gia Bey Galib kìa! Hắn đang ngó lên trời như
thể hai con mắt làm bằng thủy tinh. Hắn trông chẳng giống kẻ mất vợ mất con
trong cùng một ngày."
Người thư tư châm thêm:
"Chú của hắn, Giám mục, ngày mai sẽ cưới cho hắn một phụ
nữ giàu có hơn và mạnh khoẻ hơn."
Giám mục cùng các linh mục tiếp tục hát lễ và đọc kinh cho tới
khi phu đào huyệt lấp xong đất. Kế đó, người đời, từng người một, tới gần Giám
mục và cháu của ông, bày tỏ lòng tôn kính bằng những lời nói ngọt ngào và thiện
cảm. Còn tôi, tôi đứng cô đơn một bên; không một linh hồn nào an ủi tôi, như thể
Selma và đứa con của nàng chẳng có chút ý nghĩa nào đối với tôi.
Người đưa tiễn rời nghĩa trang. Phu đào huyệt đứng bên nấm mộ
mới với chiếc thuổng trong tay.
Tôi bước tới gần ông ta và dò hỏi:
"Bác có nhớ Farris Effandi chôn ở đâu không?"
Ông nhìn tôi một chốc rồi chỉ nấm mộ của Selma và nói:
"Ngay chỗ này. Tôi đặt con gái của ông ấy lên trên ông ấy,
và trên lồng ngực của con gái ông ấy an nghỉ đứa bé con của cô ấy, và trên tất
cả, tôi lấp đất trở lại với chiếc thuổng này."
Liền đó, tôi nói:
"Trong lòng huyệt này, bác đã chôn luôn trái tim của
tôi."
Khi phu đào huyệt biến mất đằng sau rặng bạch dương, tôi
không còn kềm nổi nước mắt. Tôi quị xuống trên nấm mồ của Selma, và khóc.
Broken Wings, 1912
Kahlil Gibran
Nguyễn Ước dịch





















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét