"Nghe mùa thay lá" và cảm thức hiện
sinh trong thơ Hoàng Thân
1. Không phải ngẫu nhiên trong tập thơ Nghe mùa thay lá (Nxb.
Hội Nhà văn, 2026), Hoàng Thân lại chọn thi phẩm “Bể dâu” mang ý nghĩa mở đầu
như một “tuyên ngôn sống” của thi nhân về cảm nhận trước sự vận chuyển của
không - thời gian trong vũ trụ mông mênh và phận số con người giữa cõi vô thường
ở chốn nhân gian. Bởi, nếu không có sự nghiệm sinh từ những được mất của của
mình trong cuộc đời, thi nhân không dễ gì viết được những câu thơ giàu mỹ cảm
triết luận nhân sinh mà khi đọc lên, ta không khỏi thấy nao lòng khi những ngữ
ngôn thi ca chạm vào tâm cảm: “Lá về/ theo gió cuốn đi/ Cành còn ở lại/ nuối
gì chuyển xoay/ Thời gian khắc tự an bày/ Dòng đời luôn chảy, chẳng ngoài riêng
ai” (Dâu bể)
Rồi, cứ thế, thi cảm này trôi mãi như một tâm thức hiện sinh
trong thơ Hoàng Thân, là mạch nguồn làm nên những dự phóng sáng tạo kết tinh từ
những trải nghiệm của thân phận nhà thơ như một hiện hữu chứ không phải tồn tại.
Và đây là căn tố tạo nên những dằn vặt, ưu tư trong thơ Hoàng Thân như anh đã tự
vấn: “Đời người tựa áng mây bay/ Cõng mưa đong nắng đêm ngày về đâu/ Rốt rồi
tàn cuộc bể dâu/ Niềm tin có đủ cho nhau đi về/ Ân tình chớ đổi lợi danh/
Nghĩa nhân vun đắp chớ đành đoạn nhau/ Phù hoa há mãi còn sau/ Niềm tin đánh mất
bàn tay được gì” (Có đủ cho nhau). Để rồi, từ những nghĩ suy, trăn trở, ưu lo về
phận người giữa cõi đời vô định nhuốm màu hiện sinh này, thi nhân đã nói lên những
được mất vô thường trong cuộc sống như một sự tự vấn về ý nghĩa của hiện hữu từ
cuộc đời chuyển hóa vào thơ: “Chừng như sau một lần đau/ Người càng thấu hiểu
vì nhau vậy mà” (Chở nặng thời gian). Và, sự tồn sinh trong vũ trụ cũng chỉ là
sự vận hành tất yếu của những quy luật biện chứng: “Chồi non cần nắng lên xanh/
Lá kia chẳng đậu bởi cành đà khô/ Đâu vì con nước đẩy xô/ Mà so rộng hẹp biển -
hồ được sao” (Tịnh). Hiểu được phép biện chứng mang tính tất yếu từ những quy
luật của đời sống trong sự vận hành của vũ trụ, con người sẽ thấy mình cần cái
gì, mong cái gì, gìn giữ cái gì, mơ ước cái gì để cuộc sống của mình mỗi ngày sẽ
không trôi đi trong vô vọng, vô ích, vô vị và vô nghĩa. Và, mỗi ngày sống là mỗi
ngày tự chiêm nghiệm về cuộc đởi, về sự tồn sinh của thân phận. Đây là một
trong những nhân tố làm nên cảm thức hiện sinh trong thơ Hoàng Thân.
2. Thơ Hoàng Thân, vì thế là thơ của những ý niệm mang màu sắc
hiện sinh hòa quyện trong những ưu tư vô thường của Phật giáo và vô vi của Lão
giáo. Những ý niệm, suy tưởng này trong thơ Hoàng Thân không phải là mới, vì
đây là điều mà nhiều văn nhân, thi sĩ cũng luận bàn trong sáng tác của mình và
mỗi người có cách nói riêng theo mỹ cảm nghệ thuật của họ. Tuy nhiên không phải
văn thi sĩ nào cũng nói về những ý niệm tư tưởng này một cách sâu sắc, để có thể
chạm đến những ưu lo của người đọc. Rất may, thơ Hoàng Thân đã có những bài, những
câu thơ, tuy không nhiều, khi luận về những điều ấy đã chạm được tâm cảm người
đọc và tạo nên những thanh âm đồng vọng trong tâm hồn con người. Đó
là những bài thơ trĩu nặng ưu tư về kiếp nhân sinh mà ngay tiêu đề bài thơ cũng
gợi trong tâm thức người đọc những trở trăn về cuộc đời, về thân phận
như: Dâu bể; Có đủ cho nhau, Chở nặng thời gian, Nghe mùa thay lá, Tịnh,
Biết có an bằng, Khúc giao mùa, Nhân sinh... Và trong những bài thơ này, có lẽ Nhân
sinh là bài thơ thể hiện rõ nhất cảm thức của sự kết hợp hài hòa giữa những
suy tưởng mang màu sắc triết luận Đông - Tây: “Nắng mưa mấy độ đã từng/ Không
không có có cũng chừng ấy thôi/ Tôi về nhặt lấy đời tôi/ Tự nhiên như đã, mặc
trôi phận người/ Nhân sinh kẻ khóc người cười/ Kẻ thành kẻ bại, dăm mười lạ
quen/ Đếm đong chi / những sang hèn /Ta bà/ cát bụi/ vĩnh hằng được đâu/ Phàm
thì/ thế cuộc bể dâu/ Lòng người thâm hiểm/ nông sâu khó lường/ Vậy nên đừng
cố tỏ tường/ Vì trong sự thật vốn thường đắng cay/ Khi người đã quyết rũ tay/
Là khi đã hết, chớ quay lại vì/ Đã không tôn trọng, rời đi/ Đã không có chỗ,
níu ghì cũng không”. (Nhân sinh)
Trong suy niệm của chủ nghĩa hiện
sinh sự hiện hữu (Existence) của thân phận con người giữa cuộc đời luôn gắn với tâm thức
lưu đày. Đây là một khái niệm được Albert Camus dùng như một ý niệm có tính
siêu hình để nói về thân phận con người khi “bị ném vào thế giới” (Heidegger).
Bởi, theo Albert Camus, lưu đày là một thảm trạng khi con người trải nghiệm
tình cảm phi lý và chợt nhận ra sự hiện hữu của mình như bị đày ở một nơi xa lạ
mà thế giới chung quanh chỉ là những “sa mạc hoang tàn”. Thơ Hoàng Thân, xét về
một phương diện nào đó cũng thể hiện dấu chỉ của tâm thức lưu đày trong nỗi
phiêu bạt của cuộc đời mỗi con người, trong đó có cuộc sống thi nhân: “Chân
kiêu bạt/ đứng ngang chiều lữ thứ/ Biết về đâu/ những nỗi nhớ khôn nguôi/ Căn
gác trọ/ giấu nỗi buồn phong kín/ Câm nín nằm nghe/ từng tiếng mưa bay” (Kỷ
niệm xô lòng). Thế nên, ý nghĩa của hiện hữu trong cái nhìn của chủ nghĩa hiện
sinh không bao giờ là một quá trình trọn vẹn, viên mãn mà chỉ là những khoảnh
khắc, ở đó con người được tự do sống là chính mình. Có hiểu được điều này chúng
ta mới trân quí những gì cuộc sống đã đem đến cho ta.
Vì thế, một biểu hiện khác của ý niệm hiện sinh trong thơ
Hoàng Thân mà chúng ta có thể cảm nhận được chính là sự cảm nghiệm về lẽ tuần
hoàn của vũ trụ biểu hiện qua sự chuyển động của không - thời gian gắn với cuộc
sống và phận người. Đó là điều, thơ Hoàng Thân có thể chạm đến chân tâm người đọc.
Những cảm nghiệm này trong thơ anh tuy không mới, cũng không xa lạ với thi pháp
thơ truyền thống khi luận về sự chuyển dịch của không - thời gian trong thơ
nhưng đó là điều cần thiết của người làm thơ và là một trong những yếu tính kiến
tạo nên tư duy thơ của người nghệ sĩ: “Thời gian vun vút bóng câu/ Sông
quê nước chảy về đâu tháng ngày/ Dòng xanh, xanh biếc một màu/ Sóng xô dẫu chậm
dẫu mau vẫn hoài. (Lời quê). Vậy đó, thời gian vẫn trôi, dòng sông vẫn chảy như
chẳng bao giờ đứng yên và con người vẫn cứ trôi theo giòng đời. Sự vận chuyển của
không - thời gian trong vũ trụ cũng là sự vận chuyển của không - thời gian
trong thân phận con người, nên từng khoảnh khắc qua đi trong mỗi ngày, ta không
còn là ta của hiện hữu. Bởi thế, triết gia nổi tiếng của Hy Lạp cổ đại Heraclitus
mới xác quyết: “Không ai tắm hai lần trên cùng một dòng sông”. Chính vì vậy,
cuộc đời con người mới mãi chuyển lưu theo sự chuyển lưu của vũ trụ mà nhiều
khi chúng ta không thể định đoạt được phận số của mình. Thơ Hoàng Thân đã suy
ngẫm về điều này khá sâu sắc: “Mình đã hẹn mùa xuân này về lại/ Bao năm rồi
còn mải miết tha hương/ Trời đất rộng biết cánh chiều có mỏi/ Thời gian trôi
dâu bể cuộc vô thường” (Hẹn). Bởi lẽ: “Thị thành/ xê dịch mãi tìm/ Chợt hay
ngoảnh lại/ nỗi niềm chân quê/ Đà bao năm tháng bộn bề/ Bỏ quên thềm cũ bên lề
bể dâu” (Chở nặng thời gian). Để rồi, tất cả chỉ còn là hoài niệm, là nuối tiếc,
là nhớ mong khi mọi sự đã trôi đi và dấu tích để lại chỉ là những hình bóng mờ
xa trong những khoảng lặng dư âm của không - thời gian vô định: “Vai gầy chải
tóc ra hong/ Nghe mùa thay lá bên lòng còn xanh/ Nghe con sóng vỗ đầu gành/ Chợt
thương màu nước quẩn quanh bến chiều” (Nghe mùa thay lá) và: “Người về/ nằng nặng
sầu vương/ Bờ xưa bến cũ/ niềm thương vơi đầy/ Hoàng hôn lùa nắng qua tay/ Môi
thơm vừa chạm đã say cuộc trần” (Đã thuộc về nhau). Thơ Hoàng Thân luôn có những
liên tưởng bất ngờ tạo nên những hình ảnh thơ lạ, “găm” được vào tâm hồn người
đọc. Phải chăng, đây là những cố gắng của anh trong việc chọn lựa chất liệu ngữ
ngôn để tạo nên những hình ảnh thơ sinh động: “Hoàng hôn lùa nắng qua tay/ Môi
thơm vừa chạm đã say cuộc trần” (Đã thuộc về nhau)
Thế nên, sự vận chuyển của thời gian, của tạo vật trong thơ
Hoàng Thân cũng chính là sự vận chuyển của phận người trong cõi nhân sinh mà
nhiều khi chúng ta không thể nào quyết định được sự hiện hữu của mình. Bởi, đời
người là một cuộc phiêu linh giữa chốn vô thường: “Người ngồi đếm tiếng
mưa tan/ Cơn mưa đến sớm lá vàng chơ vơ/ Ta ngồi ghép nốt vần thơ/ Hình như lỗi
vận nên ngờ nghệch câu/ Gió mưa rồi sẽ về đâu/ Hợp tan, tan hợp, bể dâu vô thường” (Khúc
giao mùa). Có thể nói, các câu thơ trên đã chuyên chở ý niệm về cảm thức hiện
sinh trong thơ Hoàng Thân nên mang sắc màu suy tưởng.
3. Như đã nói, trong ý niệm của chủ nghĩa hiện sinh, sự
hiện hữu của mọi sinh thể, trong đó có con người chỉ là những khoảnh khắc với một
tương lai bất định. Nhận thức được qui luật biến dịch này nên trong thơ Hoàng
Thân thường hướng về những hoài niệm, những ký ức đã neo lại trong tâm thức thi
nhân ở từng phút giây kỷ niệm của đời mình. Đây cũng là một phương diện thể hiện
cảm thức hiện sinh không chỉ trong Nghe mùa thay lá mà gần như hiện
diện ở hầu hết các tập thơ khác của Hoàng Thân suốt hành trình sáng tác
như: Nguyên màu thời gian (2016), Miên khúc (2018), Dòng
lữ thứ (2019), Trầm tích (2020). Những cảm thức hoài niệm đó đã
dệt nên những nuối tiếc, nhớ thương chất ngất trong tâm hồn thi nhân làm nên những
“trầm tích”của ký ức thơ: “Nuối gì qua mấy bão giông/ Mấy mùa nước lũ lòng sông
vẫn hoài/ Thời gian nào thể ngược xoay/ Đành trầm tích lại tháng ngày riêng
mang” (Trầm tích). Còn trong Nghe mùa thay lá, cảm thức luyến lưu về những
hoài niệm như một hành trình sống mà thi nhân đã “chỡ nặng” theo từng khoảnh khắc
trong không - thời gian và kết tinh thành thi tứ đầy ám ảnh: “Người về/ vốc nước
bến xưa/ Sông quê mát rượi /thỏa vừa khát khao/ Bao nhiêu kỷ niệm ngọt ngào/
Len vào ký ức dạt dào con tim” (Chỡ nặng theo thời gian).
Và, cảm thức hoài niệm đó như một ám ảnh hiện sinh làm nên những
dự phóng sáng tạo, nên nguồn thi hứng trong Nghe mùa thay lá, thể hiện khá
tinh tế ở các thi phẩm như: “Con về quê mẹ”, “Con thèm tiếng mẹ ru”, “Về đây”,
“Hạ nhớ”, “Đã thuộc về nhau”, “Tóc thơm”, “Gởi lại mùa thư”, “Bão lòng”, “Nước
soi bến lở”, “Kỷ niệm xô lòng” ... tạo nên những mỹ cảm riêng có của tập thơ
còn đọng lại trong tâm cảm người đọc khi tiếp nhận tập thơ này. Bởi, khi chạm đến
những ký ức thơ, người đọc không chỉ cảm nhận về sự hoài niệm của thi nhân mà
còn thấy cả những ký ức của mình trong những vần thơ đó. Đó là những ký ức đẹp
về tuổi thơ qua tình cảm người Mẹ gắn kết trong tình yêu quê hương với những
hình ảnh thơ bình dị, chân mộc mà ẩn chứa trong đó những nghĩa tình sâu nặng của
tình mẫu tử mà nếu không có sự yêu kính sâu sắc đối với bậc sinh thành, khó viết
được những vần thơ lắng sâu như vậy: “Con về quê Mẹ chiều nay/ Để nghe hơi ấm
vòng tay Mẹ gầy/ Tuổi thơ ùa chảy về đây/ Nghe thương, nghe nhớ trải đầy lối
xưa” (Con về quê Mẹ); Hay thê thiết, cảm động hơn như: “Chạn buồn/ thương cả nồi
niêu/ Bếp buồn/ thương cả khói chiều/ vào không/ Thu còn chưa chạm triền đông
/Mà cay mắt mẹ, chạnh lòng chái quê/ Ngạch buồn/ mong bước con về/ Ngõ hờ chẳng
khép/ mưa rê nỗi sầu (Con thèm tiếng mẹ ru nôi). Không có một tình yêu đủ
lớn và nồng nàn với quê hương, với người Mẹ yêu kính của mình, không thể viết
nên những vần thơ sáng đẹp và tha thiết như vậy. Bởi thế, thi sĩ Đỗ Trung Quân
trong thi phẩm “Bài học đầu cho con”, được nhạc sĩ Giáp Văn Thạch phổ nhạc
thành ca khúc “Quê hương” nỗi tiếng, đã xác quyết: “Quê hương là gì hở mẹ/ Mà
cô giáo dạy phải yêu/ Quê hương là gì hở mẹ/ Ai đi xa cũng nhớ nhiều (...) Quê
hương mỗi người chỉ một/ Như là chỉ một mẹ thôi/ Quê hương nếu ai không nhớ...”
(Bài học đầu cho con)
Vâng! “Quê hương nếu ai không nhớ...”, một câu hỏi tu
từ đặt ra như một dấu chỉ của tình yêu quê hương, khiến mỗi người chúng ta khi
chạm đến những ngữ ngôn trong bài thơ, không khỏi thấy chạnh lòng khi nghĩ về
quê mẹ của mình, nhất là những người, vì một hoàn cảnh nào đó phải sống ly
hương. Những hoài niệm về mẹ, về quê hương trong thơ Hoàng Thân cũng không nằm
ngoài quy luật tình cảm này vì thế, nó chạm đến trái tim người đọc...
Một điều không thể không nói đến khi luận về cảm thức
hiện sinh trong thơ Hoàng Thân, khi anh gợi thức về những hoài niệm, những ký ức
từ những trải nghiệm của thi nhân, đó là những nhớ mong về tình yêu trong trắng
của tuổi mộng mơ khi còn cắp sách mà mỗi bước đi của thời gian được tính bằng
những mùa phượng vĩ thắm đỏ sân trường, nơi thi nhân đã dệt bao mơ ước: “Niềm
mơ nhuộm đỏ bên thềm/ Phượng thêm mấy hạ càng thêm ngọc ngà/ Sân trường ve vẫn
thiết tha/ Dõi người xưa cũ phương xa trở về” (Hạ nhớ). Thế nên, sự mong ước trở
về với “kỷ niệm” để gặp lại dấu chân xưa, con đường cũ, nơi mùa thu qua đi
trong mơ màng bên dòng sông trăng, bên bến nước... luôn là điều day dứt trong
tâm cảm thi nhân: “Về đây/ Đếm bước thu tàn/ Đường xưa lá đổ/ ngỡ ngàng dấu
chân/ Đã từng xao xuyến bâng khuâng/ Dòng sông, bến nước, trăng ngần nhớ ai” (Về
đây). Và, hình như, trong cảm thức của Hoàng Thân, những hoài niệm này không chỉ
là những ký ức khó mờ phai mà đó còn là một món nợ ân tình ám ảnh tâm cảm thi
nhân suốt cuộc đời. Phải chăng, vì vậy, ở tập thơ nào của Hoàng Thân cảm hứng về
tình yêu vẫn luôn hiện hữu như một tâm thức hiện sinh: “Tình còn/ nợ một vòng
tay/ Bến khao khát nhớ/ sóng lay vỗ bờ/ Nhỡ mai/ mây trắng hững hờ/ Lòng ta
nắng hạ/ đợi chờ mưa qua/ Người về/ người lại cách xa/ Thuyền vui biển rộng/
mơ hoa thuở nào/ Mộng đành/ trả lại trăng sao/ Dù soi bóng nước/ dạt dào mỗi
khi” (Nợ một vòng tay). Chẳng biết, cảm hứng này chỉ là những khoảnh khắc bất
chợt, hay đó là những ám ảnh luôn dày vò tâm cảm thi nhân? Câu trả lời chắc còn
bỏ ngõ vì đây chưa phải là tập thơ sau cùng của anh!? Và, nếu còn duyên nợ
với thơ, chắc những cảm hứng này cũng luôn dệt nên những mộng ước trong thơ
Hoàng Thân, để anh mãi đi tìm, cho dẫu là đi tìm cái không còn hiện hữu, cái đã
biến thành ảo ảnh: “Biết chiều nay nín gió/ Ai dìu mây lên cao?/ Miền em qua
không nắng/ Ta muôn trùng nao nao” (Lời tình si). Bởi, nói như Huỳnh Phan Anh:
“Thơ là mộng ước. Trong mộng ước không còn cái hữu hạn. Mộng ước là cơ hội để
con người mơ màng vô hạn”.[1] Và đây chính là những nhân tố làm
nên phẩm tính trong hành trình sáng tạo thi ca.
4. Nghe mùa thay lá, tập thơ thứ 5 của Hoàng Thân
xuất hiện trên thi đàn lần này đã xác tín niềm đam mê thi ca của Hoàng Thân, một
thầy thuốc mà thực tiễn của y nghiệp vốn xa lạ với sự lãng mạn của thi ca.
Nhưng đọc thơ Hoàng Thân, ta thấy phẩm tính thi ca đến với anh một cách tự
nhiên như một phần không thể thiếu của đời anh. Phải chăng, sự chọn lựa thi ca
như một cuộc đời khác, bổ sung hoàn thiện cuộc đời thầy thuốc của anh. Đó là một
sự lựa chọn mang cảm thức hiện sinh mà nếu thiếu nó chắc hẳn đời anh sẽ thiếu
đi một phần sắc hương của cuộc sống tâm hồn vốn mang nhiều cảm xúc trước con
người và tạo vật, điều đã làm nên tính nhân bản trong thơ Hoàng Thân, nhằm hướng
đến sự hoàn thiện phẩm cách của anh: một Thi nhân – Thầy thuốc. Nói như P.
Reverdy: “Nhà thơ gần như chỉ sống bằng cảm giác, hướng lên ý tưởng, và rốt cuộc,
chỉ bày tỏ những tâm tình”[2]. Và, đây cũng là điều được anh chia sẻ
khá thành thực trong thơ của mình: “Đà sinh/ cốt cách hình hài/ Đã soi Nhật
Nguyệt /há nài bể dâu/ Sông kia càng tịnh càng sâu/ Nước trong là bởi đủ lâu lắng
lòng” (Bể dâu).
Chia sẻ về “Cảm thức hiện sinh” trong Nghe mùa
thay lá của Hoàng Thân, tập thơ đã thể hiện khá rõ những cố gắng của anh về
khát vọng làm mới thơ mình. Nhưng có lẽ, để có sự hoàn thiện trong thi pháp thơ
của mình, thi nhân cần phải có thêm “độ chín của tư duy và chiều sâu tâm hồn”
trong việc tinh lọc ngữ ngôn, ảnh hình thơ, cũng như việc chọn lựa, tứ thơ, thể
thơ, kết cấu cho từng bài thơ phù hợp với sở trường của mình. Có thể nói, điểm
mạnh của thơ Hoàng Thân là thơ trữ tình và thể thơ phù hợp với anh là thơ lục
bát. Tuy nhiên, thể thơ lục bát dễ làm nhưng khó thành công, cần có sự phá cách
để hiện đại hóa thể thơ truyền thống này. Rất may ở tập thơ Nghe mùa thay
lá Hoàng Thân đã có những thể nghiệm bước đầu, có thể xem là thành công,
thể hiện trong việc ngắt nhịp để tạo nhạc tính cho thơ, cũng như việc chọn lựa
ngôn từ để kiến tạo hình ảnh thơ mà những câu thơ viện dẫn trong bài, có thể
minh chứng cho điều đó. Đây cũng là điều khả dĩ tạo nên dấu ấn thơ Hoàng Thân
trong lòng người đọc, còn các thể thơ khác, viết theo lối chính luận, không phù
hợp với giọng thơ của anh, vốn thiên về trữ tình. Bởi, theo Léopardi: “Thơ trữ
tình có thể coi như tổng hợp hết cả thơ, là tuyệt đỉnh của thơ, cũng như thơ là
tuyệt đỉnh tiếng nói của loài người”.[3] Vì vậy, để có những câu thơ hay, những
bài thơ hay đọng lại trong tâm cảm người đọc, nhà thơ cần phải để cho cảm xúc
mình lắng sâu, chín dần theo suy tưởng của tư duy sáng tạo, mới mong chạm được
tới trái tim người đọc. Nói như Friedrich Schiller: “Tiềm thức hợp với suy tưởng,
tạo thành nhà thơ”.[4] Còn Alain thì cho rằng: “Một bài thơ
hay, nẩy nở dần dần như một trái chín”.[5]
Tôi và người đọc kỳ vọng sẽ còn tìm thấy những trái chín tỏa hương trong thơ Hoàng Thân sau tập thơ Nghe mùa thay lá, nếu anh còn say mê với thơ và còn khát vọng dấn thân trên con đường sáng tạo thi ca lắm khổ đau nhưng cũng ngập tràn thi vị và quyến rũ giữa chốn nhân gian đầy những bất an này. Bởi, theo Huỳnh Phan Anh: “Thơ bộc lộ để không bộc lộ gì hết. Nó bộc lộ để giấu ẩn (…) Thơ ở giữa có và không, thực hữu và hư vô, mời gọi và từ chối”.[6] Và, trong những khoảng lặng và khoảng trắng của những suy tưởng giàu mỹ cảm vốn là yếu tính của thi ca, hy vọng, thơ Hoàng Thân sẽ là lời “mời gọi” đối với độc giả yêu thơ ca...
Chú thích:
[1] Huỳnh Phan Anh, “Tại sao những
bài thơ tình đó”, Văn, số 91 ra ngày 1/10/1967, tr.93
[2] Đoàn Thêm (trích dịch), Quan niệm
và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.201
[3] Léopardi) (Đoàn Thêm (trích dịch), Quan
niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.194
[4] Đoàn Thêm (trích dịch), Quan
niệm và sáng tác thơ, Viện Đại học Huế Xb., 1962, tr.189
[5] Trần Hoài Anh, Thơ - Quan
niệm và cảm nhận, Nxb. Thanh niên, H, 2010, tr.292
[6] Huỳnh Phan Anh, Văn chương
và kinh nghiệm hư vô, Nxb. Hoàng Phương Đông, Sài Gòn,1968, tr.104
Xóm Đình An Nhơn - Gò Vấp, 7/5/2026
Trần Hoài Anh
Theo https://vanchuongthanhphohochiminh.vn/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét