Hoài Anh - Người chở đò thời đại đã ra đi
12g30
ngày 24-3-2011, Triệu Xuân ra sân bay Tân Sơn Nhất - theo chương
trình định sẵn từ trước- để đi Hà Nội 2 tuần, ngày 05-4 mới về lại Sài Gòn.
Trước khi đi, tôi cùng anh Trần Ngọc còn kịp chuyển số tiền tài trợ cho cháu
Vũ; trong lòng không yên vì linh cảm anh Hoài Anh sẽ không còn mấy ngày nữa!
Vào lúc 19g45 giờ cùng ngày, trên xe ô tô từ sân bay Nội Bài về nhà, nhận được
phone của Trần Hoài Vũ: Chú TX ơi, bố cháu đang tụt huyết áp, bác sỹ Tâm và các
bác sỹ đang cứu chữa, nếu sau 30 phút nữa không qua khỏi là hết! Vũ vừa nói vừa
khóc. Tôi chỉ biết động viên cháu: Vũ ơi, ráng bình tĩnh, cứng cỏi lên, hãy nói
với bố là chú TX chào bố, các anh chị em đồng nghiệp và Nhóm Văn chương Hồn
Việt luôn nhớ thương bố!
Khoảng
20 giờ 15 phút, tôi sốt ruột gọi lại Vũ thì… Nhà văn Hoài Anh- Người
chở đò Thời đại (tên một tác phẩm của ông) đã trút hơi thở cuối cùng!
Tôi
lặng người, cố nén cơn xúc động vì bản thân mình cũng đang bị huyết áp cao…
Tôi
lập tức phone báo tin nhà thơ Hữu Thỉnh, nhà thơ Lê Quang Trang, Nhà văn Nguyễn
Quang Sáng, nhà văn Trần Ngọc và anh chị em Nhóm VCHV: Dương Ngọc Khánh, Ngô
Thanh Hương, Thanh Nga…
Đúng
như linh cảm, tôi không có mặt bên người anh thân thương phút lâm chung!
Tang
lễ nhà văn Hoài Anh tôi cũng ở xa chưa về… Tôi chỉ còn biết nhờ anh chị em
trong Nhóm Văn chương Hồn Việt làm những việc như kế hoạch chúng tôi đã bàn kỹ
trước khi đi công tác.
Vô
cùng thương tiếc nhà văn Hoài Anh. Cầu chúc cho hương hồn anh thanh thản nơi
chín suối, siêu sinh tịnh độ!
Mãi
mãi nhớ thương nhà văn Hoài Anh- Người chở đò Thời đại, người có tài, có tâm,
sống an nhiên suốt một đời trong nghèo khó và chịu nhiều thiệt thòi!
Anh
là tấm gương sáng về lương tâm, trách nhiệm người cầm bút, là người hết lòng
yêu nước, thương người nghèo khổ và hiến dâng trọn đời cho nền văn học nghệ
thuật nước nhà.
Vĩnh
biệt nhà văn Hoài Anh!
I- Lần đầu tiên, Nhà
xuất bản Văn học tuyển chọn để xuất bản một lúc mười sáu cuốn tiểu thuyết và
truyện về đề tài lịch sử của một tác giả. Đó là mười sáu tác phẩm của nhà văn
Hoài Anh.
Hoài
Anh là nhà văn đa tài, tự học mà có nguồn tri thức uyên thâm, cả đời lặng lẽ
sống và viết. Ông viết nhiều thể loại: thơ, kịch, truyện ngắn, tiểu thuyết,
khảo cứu, phê bình văn học… Ở thể loại nào ông cũng có những thành tựu. Tên
khai sinh là Trần Trung Phương, ông sinh ngày 8-7-1938, tại Bình Lục, Hà Nam.
Ông là con trai trưởng trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước.
Lên tám tuổi, cha mẹ xích mích, cha đi làm Việt Minh, dắt ông theo. Bởi thế ông
giúp việc cho cách mạng từ khi còn nhỏ, có lẽ là sớm nhất trong các nhà văn là
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam! Kháng chiến chống Pháp, ông làm việc tại Văn
phòng huyện đội Bình Lục, rồi Ban Chính trị Tỉnh đội Hà Nam, Ban Địch vận trung
đoàn 254 thuộc Bộ tư lệnh Liên khu 3. Hòa bình lập lại, ông về tiếp quản Hà
Nội, mới mười sáu tuổi! Ông công tác tại Phòng Văn nghệ và Nhà sáng tác Sở
Văn hóa Hà Nội, biên tập viên Hội Văn nghệ Hà Nội.
Hoài
Anh được học chữ Hán và tiếng Pháp từ rất nhỏ. Tại Hà Nội, ông tiếp tục tự học
để hoàn thiện Hán văn, nâng cao tiếng Pháp và tiếng Anh. Cũng trong thời gian
này ông viết nhiều thơ, kịch, truyện. Ông có nhiều bài thơ hay được tuyển vào
các tuyển tập. Ông viết nhiều vở kịch, nhưng phần lớn phải ký tên người khác
mới được dựng (thời ấy mới có chuyện kỳ cục như thế!). Đất nước hòa bình thống
nhất, ba mươi tám tuổi đời, ông bôn ba vào sống ở Sài Gòn với quyết tâm viết
cho được những tiểu thuyết và truyện lịch sử về những danh nhân quê gốc Nam Bộ.
Ông làm biên tập ở Xưởng phim Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh, rồi Biên tập viên
tuần báo Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam
từ năm 1978, Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam. Cả đời lao động sáng tạo
nghệ thuật không mệt mỏi, ông chỉ đi bộ, và đặc biệt là ông chưa bao giờ được
nhận một chức sắc nào trong guồng máy Nhà nước!
Tập
thơ đầu tay của ông được xuất bản in chung với hai người khác mang tên Gió
vào trận bão (Nxb Văn học, 1967), Kế đó là Ngựa ông đã về (Truyện,
Nxb. Kim Đồng, 1978); Đuốc lá dừa (truyện, Nxb Măng non - Nxb
Trẻ, 1981, 1994, 1995; Nxb Kim Đồng, 2002); Đầu gió (truyện,
Nxb Trẻ, 1986); Rồng đá chuyển mình (truyện, Nxb
Đồng Nai, 1987; Nxb Kim Đồng 2002); Từ hương đến mật (thơ, Nxb
Văn Nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 1987); Dạ lan (thơ, Nxb Tác phẩm
mới, 1989); Chim gọi nắng (truyện, Nxb Tiền Giang, 1989); Chuyện
tình Dương Vân Nga (truyện, Nxb Thanh niên, 1990); Hương thơm
và nọc độc (truyện, Nxb Long An, 1990); Chúa Chổm
ba mươi sáu tàn vàng (tiểu thuyết, Nxb Tp Hồ Chí Minh,
1990); Sứ mệnh phù Lê (tiểu thuyết, Nxb Lao động,
1991); 99 ngọn (thơ, Nxb Văn học,1991); Trường ca Điện
Biên, Tổ khúc Hà Nội (thơ, Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 1995); Bùi
Hữu Nghĩa, mối duyên vàng đá (truyện, Nxb Văn
học, 1998; Nxb Kim Đồng, 2003); Có công mài sắt (truyện, Nxb
Trẻ, 1996, 1998); Ỷ Lan phu nhân (truyện, Nxb Văn
học, 1996; Nxb Kim Đồng, 2002); Nguyễn Thông- Vọng Mai Đình (truyện,
Nxb Văn nghệ Tp Hồ Chí Minh, 2000); Tầng ngày (thơ, Nxb Văn
nghệ Tp. Hồ Chí Minh, 2001); Thư - Thơ (thơ, Nxb Trẻ, 2001); Chân
dung văn học (tiểu luận- phê bình, Nxb Hội Nhà văn, 2001); Chân
dung thơ (tiểu luận – phê bình, Nxb Hội Nhà văn, 2001); Tìm
hoa quá bước (tiểu luận- phê bình, Nxb Văn học, 2001); Một
trăm bài thơ Đường (dịch, Nxb Đồng Nai, 2001); 7
thế kỷ thơ tình Pháp (dịch, Nxb Đồng Nai, 2001); Tác
gia kịch nói và kịch thơ (nghiên cứu- phê bình, Nxb Sân khấu, 2003); Gia
Định tam gia (biên dịch chú giải, Nxb Đồng Nai, 2003).
Năm
1961, Hoài Anh được nhận Giải thưởng của Hội Nghệ sỹ sân khấu Việt Nam cho tác
phẩm kịch Xe pháo mã. Giải thưởng Văn học Thiếu nhi
1981-1983 của Hội nhà văn Việt Nam cho truyện lịch sử Đuốc lá dừa.
Tặng thưởng lý luận phê bình 2002-2003 của Hội nhà văn Việt Nam cho tác phẩm Chân
dung văn học (hơn 1000 trang). Giải A về nghiên cứu phê
bình 2003 của Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam cho tác phẩm Tác gia kịch
nói và kịch thơ.
Tôi
đọc thơ Hoài Anh in trong tập Gió vào trận bão thấy tứ thơ của
ông lạ, ngôn từ giàu hình ảnh nhưng bình dị, cách diễn đạt - cho dù về những
vấn đề hiện đại- vẫn mang âm hưởng dân gian. Ông viết về những người trai Hà
Nội bỏ lại tất cả để đi kháng chiến, lao vào đạn bom khói lửa, quyết tử cho Tổ
quốc quyết sinh, mà nhẹ tựa lông hồng:
Ra phố mua một bao thuốc lá
Chín năm sau anh mới trở về nhà…
Ta mang ba mươi sáu phố phường đi chiến đấu
Chín năm rừng lòng vẫn Thủ đô
Nhớ
ngày Thủ đô kháng chiến
Hoài
Anh yêu Hà nội, suốt đời hướng về Hà Nội. Ông nói hộ khát vọng của biết bao
nhiêu người muốn vươn tới những tầm cao, vươn tới hạnh phúc:
Làn mây trắng nhắc cánh buồm lồng lộng
Một con tem cũng gợi cả chân trời
Ôi bóng dừa và tiếng sóng
Lòng như tàu muốn vượt cạn ra khơi
Thơ
tình của Hoài Anh có nét riêng, khá đặc sắc. Ông cảm xúc trước cảnh hai người
yêu nhau tâm sự ở đâu đó trong vườn hoa, người không thấy, chỉ thấy hai chiếc
xe đạp dựa vào nhau:
Tiếng gì sột soạt trong khe lá
Ước mơ vỗ cánh bay trên đầu…
Nắng ôm lưng cây nhảy giữa vườn hoa
Gió khoác tay lá dạo trên mặt đất
Không biết người ngồi đâu khuất…
Tình
ca
Càng
lớn tuổi, thơ tình của Hoài Anh càng đằm thắm, da diết:
Hồn xin làm đóa dạ lan
Lặng thầm dấu mặt trong làn hương bay
Dạ
lan
Bài Cầu
thang, Hoài Anh viết:
Cầu thang nhà em
Lên rất khó, xuống rất dễ
Nhưng với anh
Lên rất dễ, xuống rất khó
Lên: Lồng ngực lao về phía trước
Xuống: Trái tim rớt lại đằng sau.
Viết
về tình yêu, sự si mê, về nỗi đau mất mát như thế thì thật ngộ nghĩnh, độc đáo
và sâu sắc! Cầu thang của Hoài Anh viết từ những năm đất nước
còn chìm đắm trong nỗi khốn khó tứ bề của cơ chế hành chính quan liêu bao cấp.
Giữa Sài Gòn hòn ngọc Viễn đông mà thiếu gạo ăn, nhà văn viết
trong ánh đèn dầu! Các chung cư cao tầng bị cúp điện, thang máy ngưng hoạt
động, người ta phải leo thang bộ mà lên, khi gặp người yêu, trái tim đập gấp
như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực! Đọc Cầu thang, hình ảnh lồng ngực
lao lên phía trước, trái tim rớt lại đằng sau… tôi chợt nhớ đến bài thơ thất
tình, mà tôi nghĩ là hay nhất trong các bài thơ thất tình, của Chế Lan Viên:
Người mang lại ái tình không ở cùng tôi nữa
Nhưng hương em còn quấn mỗi câu thơ
Trời xanh của sông Hàn nay đã vỡ
Mỗi câu thơ là một mảnh trời xưa!
II- Hoài Anh nói: “Thể
loại mà tôi thích nhất là thơ… Thể loại tôi thích thứ hai là tiểu thuyết và
truyện Lịch sử”. Từ năm 2004 trở về trước, Hoài Anh sống cô độc trong căn phòng
ở tít lầu 6, chung cư 190 Nam Kỳ Khởi nghĩa. Ông ăn uống kham khổ, được chăng
hay chớ. Ông quá say mê viết lách cho nên nơi ở khá luộm thuộm, sách vở, tài
liệu chồng chất… Một lần đến chơi, tôi hỏi ông về cuốn Đuốc
lá dừa. Đây là tác phẩm ông viết tại nhà tôi. Lúc đó tôi có một mình, được
cấp hai phòng gần sáu chục mét vuông ở lầu 8, chung cư 727 Trần Hưng Đạo (trước
1975 gọi là President), Quận 5. Năm 1980, khi vợ chồng ông cơm không lành
canh không ngọt, ông phải ôm máy đánh chữ (Hoài Anh chỉ viết bằng máy chữ,
đến nay vẫn không biết dùng computer) chạy lên President tá túc tại nhà bạn bè.
Ông lên đó được vài ngày thì chuyển sang trụ lại ở nhà tôi gần một tháng. Ban
ngày tôi đi làm, ông ở nhà gõ máy chữ. Chiều, tôi về, ông bắt đầu nói. Ông
không có nhu cầu gì ngoài việc được nói và lắng nghe ông nói! Ông cứ nói trong
khi tôi vừa nấu cơm, giặt giũ, lau nhà… Lúc ăn, ông nói hăng hơn. Thậm chí, khi
tôi vào toilet, ông đứng ngoài nói chõ vào qua cánh cửa. Với Hoài Anh, nói tức
là đang sáng tác. Ông nói từ chương đầu tiên đến chương cuối cùng là gần một
tháng. Kém một ngày là một tháng. Hôm ông đánh vô máy xong trang bản thảo cuối
cùng của Đuốc lá dừa, đưa cho tôi đọc, giọng rưng rưng: Tôi
vừa làm xong cái việc ghi lại những điều đã thôi thúc trong tim, cũng là những
điều đã nói cho ông nghe suốt bốn tuần qua!
Về Đuốc
lá dừa, Hoài Anh kể rằng năm 1981, sau khi viết xong ở
President, ông đưa cho người của một nhà xuất bản. Mấy tháng sau, anh ta trả
lời là không may bị kẻ cắp lấy mất túi xách, trong đó có bản thảo Đuốc
lá dừa! Hoài Anh chết lặng, vì không còn bản lưu. Thời đó giấy hiếm lắm.
Đánh máy mà Hoài Anh không có tiền mua giấy, chỉ đánh có một bản. Thế là đành
phải viết lại. May mà ông có trí nhớ hơi bị siêu phàm, cho nên
chỉ trong hai tuần lễ, ông đánh máy xong tiểu thuyết Đuốc lá dừa,
để rồi được Nxb Măng Non và sau là Nxb Trẻ in nhiều lần: 1981, 1994, 1995;
Nxb Kim Đồng in năm 2002. Đuốc lá dừa được Hội Nhà văn Việt
Nam trao Giải thưởng văn học viết cho thiếu nhi 1981-1983. Tác phẩm cũng long
đong y hệt như tác giả, nhưng may mà… tiền hung hậu cát!
Tôi
hỏi ông đã viết bao nhiêu tác phẩm về đề tài lịch sử? Hoài Anh chỉ vào đống bản
thảo đầy bụi ở gầm giường. Tôi moi ra hơn hai chục bản thảo, có cái in nhiều
lần, và nhiều bản thảo viết lâu rồi, giấy đánh máy đã ố vàng nhưng chưa hề xuất
bản. Tôi ngỏ ý tuyển chọn để xuất bản Truyển tập truyện lịch sử. Ông vui vẻ
nói: Thế là Châu về Hợp phố rồi!
Ngoại
trừ nhu cầu được nói trước khi đánh máy bản thảo, Hoài Anh là
người sống khiêm nhường và lặng thầm! Trong cuộc đời lao động đầy gian truân,
khổ ải, ông luôn có ý thức không bao giờ lặp lại, luôn tự làm mới mình, một
cách lặng lẽ, y hệt như ông đã và đang lặng lẽ đi bộ mỗi khi cần di chuyển. Đời
sống hàng ngày thì thế, nhưng văn chương của ông, số phận những nhân vật trong
tiểu thuyết và truyện lịch sử của ông thì không lặng lẽ chút nào! Nó năng động,
hiển hiện cứ y như là cuộc đời thực trong lịch sử đầy bão táp, lửa đạn máu và nước
mắt của dân tộc!
Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh gồm mười sáu tựa sách, trong đó có
ba tập truyện, còn lại là tiểu thuyết1:
1-
MÊ LINH TỤ NGHĨA
Tác
giả miêu tả cuộc đời đầy ngang trái éo le của những phụ nữ tài sắc, không chịu
khuất phục trước quân xâm lược nhà Hán, đã tụ nghĩa ở Mê Linh, rửa
thù nhà đền nợ nước. Hoài Anh tái hiện hiện thực và thế thái nhân tình những
năm đầu thế kỷ thứ Nhất của nước ta. Tác giả khắc họa thân phận những người phụ
nữ như Phương Dung, Thiều Hoa, Thiên Thanh (sau là Thánh Thiên), Thục Nương
(sau là Bát Nàn), Lê Chân, Đào Kỳ, Đông Bảng… cùng các nghĩa sỹ khác, dưới ách
đô hộ nhà Hán trước khi đến Mê Linh tụ nghĩa với nàng Chắc. Nàng Chắc và em là
nàng Nhì, có cha là Hùng Định, lạc tướng Mê Linh. Hùng Định bị tên thái thú
Tích Quang ép buộc phải bắt dân Lạc Việt tuân theo phong tục, thể chế nhà Hán.
Hùng Định không chịu, cuối cùng sinh bệnh, qua đời. Chồng nàng Chắc là Thi
Sách, lạc tướng Chu Diên, khuyên thái thú Tô Định không nên áp bức bóc lột nặng
nề dân Lạc Việt. Thi Sách bị Tô Định giết. Thù nhà, nợ nước, nàng Chắc, nàng
Nhì phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh, được nghĩa sỹ và dân chúng bốn phương hưởng
ứng đã lật đổ chế độ đô hộ của nhà Hán, giành lại nền tự chủ cho đất nước.
Viết
về Hai Bà Trưng, Hoài Anh không tùy tiện hư cấu mà dựa vào thần tích các làng
thờ Hai Bà Trưng, các nữ tướng của Hai Bà. Trên cơ sở đó tái hiện bộ mặt lịch
sử thời kỳ đầu Công nguyên. Tác giả nghiên cứu, đối chiếu lịch sử Việt Nam,
lịch sử Trung Quốc và những thành tựu khảo cổ học về thời kỳ Hùng Vương. Ông
còn tham khảo công trình nghiên cứu sử học VN của học giả Mỹ: Stephen O’
Harrow. Hoài Anh tung ra những chi tiết sinh động về sinh hoạt, phong tục, tập
quán tín ngưỡng tinh thần thời Hai Bà Trưng, nêu bật sự đối tỷ giữa văn minh
Lạc Việt/ văn minh Hán. Tác giả lên án mưu đồ đồng hóa dân tộc Lạc Việt để mở
đường bành trướng xuống các nước phương Nam của đế chế nhà Hán, tiêu biểu là
nhân vật Hán Quang Vũ.
Núi
Nghĩa Lĩnh, nơi có đền thờ và mộ Vua Hùng. Theo truyền thuyết, có 99 con voi
quay đầu về phương Nam, chỉ có một con quay về phương Bắc. Vua Hùng rút gươm
chém đầu con voi bất nghĩa đó. Di tích là ngọn Bất Nghĩa Sơn bị sạt mất một
góc. Nhân dân ta đời đời trung thành với đất nước, kẻ nào phản bội Tổ quốc sẽ
bị trừng trị đích đáng. Về nghệ thuật, tác giả học tập lối vìết truyện của
Walter Scott (Anh), Alexandre Dumas cha (Pháp) và Kim Dung (Trung Quốc) để tăng
thêm tính hấp dẫn cho tiểu thuyết lịch sử. Tác giả tránh dùng những chi tiết
huyền hoặc, phi lý, tôn trọng cứ liệu lịch sử.
Dương
Vân Nga là cháu, gọi Dương Như Ngọc - vợ Ngô Quyền bằng cô ruột, được Ngô Quyền
nuôi ở trong cung. Ngô Quyền mất, em vợ là Dương Tam Kha cướp ngôi của cháu là
Xương Ngập. Ngô Xương Văn trừ được Dương Tam Kha, lên ngôi vua là Nam Tấn
Vương. Nam Tấn Vương đem quân đi đánh Đinh Bộ Lĩnh. Thấy Bộ Lĩnh là người có
chính nghĩa, vì dân vì nước, DươngVân Nga ủng hộ Đinh Bộ Lĩnh nên bị Nam Tấn
Vương giam vào lãnh cung. Đinh Bộ Lĩnh dẹp xong các sứ quân, thống nhất đất
nước, lên làm vua, lập Dương Vân Nga làm hoàng hậu. Nhà Tống chỉ phong Đinh Bộ
Lĩnh là Giao Chỉ Quận vương. Dương Vân Nga đã vận động dân chúng may tấm long
bào cho Đinh Bộ Lĩnh bằng tơ lụa dệt trong nước. Khi Đinh Bộ Lĩnh bị giết, con
nhỏ là Đinh Tuệ lên nối ngôi. Quân Tống sang xâm lược nước ta. Biết Thập đạo
tướng quân Lê Hoàn là người có đủ tài lãnh đạo cuộc kháng chiến chống xâm lược,
Dương Vân Nga đã khoác tấm long bào lên mình Lê Hoàn để ông ra chiến trướng
đánh giặc cứu nước.
Tác
giả khéo tay khi viết về Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn, đã thông qua nhân
vật xuyên suốt lịch sử thời đại này là Thái hậu Dương Vân Nga. Bà Thái hậu hiểu
được tình thế mất cịn của dn tộc, nguyện vọng dn chng cần một người tài năng,
trí tuệ hơn người để lnh đạo cuộc kháng chiến. Vì thế bà đã chủ động khoác áo
long bào (áo rồng), biểu tượng của nhà vua, lên mình Lê Hoàn. Bào rồng cũng là
áo trận. Dương Vân Nga đã thay mặt toàn dân trao sứ mệnh chống giặc cứu nước
cho người hiền tài.
Tác
phẩm góp phần minh định về nhân vật Nguyễn Bặc không hề dính líu gì đến quân
xâm lược Tống. Nguyễn Bặc chỉ vì trung nghĩa với triều Đinh nên chống lại Lê
Hoàn. Đây chỉ là mâu thuẫn nội bộ, không phải là mâu thuẫn ta-địch. Lê Hoàn
đánh dẹp Nguyễn Bặc nhưng vẫn dùng con trai Bặc là Nguyễn Đê làm tướng. Sau,
Nguyễn Đê trở thành một vị tướng quan trọng ngang với Lý Công Uẩn.
Ỷ
Lan là một thôn nữ hái dâu, được vua Thần Vũ, tức Lý Thánh Tông đưa về cung,
phong làm Nguyên Phi. Nàng đã dốc lòng trị nước an dân. Vua Thần Vũ mất, con là
Càn Đức lên nối ngôi còn nhỏ dại. Hoàng hậu Thượng Dương được Thái
sư Lý Đạo Thành ủng hộ, tôn làm Nhiếp chính. Thượng Dương nghe lời xúi giục của
bọn tay sai gián điệp nhà Tống, sai người dâng biểu xin thần phục nhà Tống. Phò
mã Thân Cảnh Phúc, chồng của công chúa Động Thiên, trấn ở biên giới, bắt được
người mang biểu sang nhà Tống, đem nộp cho Lý Thường Kiệt. Lý Thường Kiệt cùng
các đại thần tâu vua. Vua bắt Thượng Dương giam lại, giáng chức Lý Đạo Thành,
đầy đi Nghệ An; tôn Ỷ Lan lên làm Nhiếp chính, tức Linh Nhân Hoàng thái hậu. Lý
Thường Kiệt dẹp bỏ hiềm riêng, đã xin Linh Nhân cho đón Lý Đạo Thành về kinh lo
việc nội trị cho ông yên lòng đi đánh quân Tống xâm lược. Sau khi chiến thắng
ngoại xâm, âm mưu của Thượng Dương vu cáo hãm hại Ỷ Lan được công chúa Động
Thiên tố giác. Mọi chuyện mờ ám xung quanh cái chết của vua Thần Vũ được sáng
tỏ.
Hoài
Anh xây dựng thành công nhân vật Lý Thường Kiệt, anh hùng dân tộc. Xuất phát từ
tư tưởng Tam giáo đồng tôn, Lý Thường Kiệt chủ trương đoàn kết toàn dân để tạo
sức mạnh chống ngoại xâm. Lý Thường Kiệt sử dụng những người có chính kiến khác
như Lý Đạo Thành và trọng dụng con trai Lý Đạo Thành là Lý Kế Nguyên. Hình ảnh
Ỷ Lan thật đẹp. Như Nguyệt tượng trưng cho tấm lòng của Ỷ Lan với Lý Thánh
Tông. Đây là sự sắt son chung thủy, nhưng không tiêu cực như chuyện cũ trong
thơ Đường xưa:
Tự quân chi xuất hỹ
Bất phục lí tàn ki
Tư quân như
nguyệt mãn
Dạ dạ giảm thanh huy
Thơ
của Trương Cửu Linh, đời Đường
Từ chàng cất bước ra đi
Việc canh cửi chẳng thiết gì mó tay
Nhớ chàng như mặt trăng đầy
Đêm đêm vầng sáng hao gầy đêm đêm
Sau
khi Lý Thánh Tông băng, Ỷ Lan vẫn lo đảm đương việc nước như khi chồng còn
sống. Như Nguyệt cũng là tên con sông, phòng tuyến chống quân
Tống. Bài Nam quốc sơn hà Nam đế cư của Lý Thường Kiệt đã được
ông từ coi đền thờ Trương Hống, Trương Hát ngâm lên trong đêm để động viên quân
sỹ. Thời đó, mọi người tin là thơ của thần linh, ý chí của thần linh! Từ đó
tăng thêm lòng tin tưởng, dốc lòng dốc sức tiêu diệt quân thù.
4-
HƯNG ĐẠO VƯƠNG VÀ NHỮNG TRUYỆN KHÁC
Quân
Nguyên sang đánh nước ta lần thứ hai, thấy thế địch mạnh, Hưng Đạo Vương rút
quân về Vạn Kiếp củng cố lực lượng. Giặc tiến đánh Vạn Kiếp, Hưng Đạo Vương lại
đưa Thái Thượng hoàng và vua Trùng Hưng (tức Nhân Tông) rút về Thanh Hoa. Tại
Thanh Hoa, Hưng Đạo Vương đứng hầu hai vua thường mang cây gậy đầu bịt mũi sắt
nhọn để tiện leo núi. Thấy có người nghi ngờ là Hưng Đạo Vương có thể hại vua
để trả mối thù của cha là Trần Liễu, giành lại ngôi vua về tay ngành trưởng,
Hưng Đạo Vương đã rút mũi sắt nhọn để dẹp mối nghi ngờ. Việc làm đó cổ vũ mọi
người, dồn tất cả ý chí và sức lực vào tiêu diệt quân giặc. Hưng Đạo Vương tổ
chức phản công giải phóng kinh đô Thăng Long, đuổi sạch quân xâm lược, non sông
vững tựa âu vàng.
Sau
truyện Hưng Đạo Vương là các truyện khác, khắc họa sinh động những anh hùng dân
tộc, danh nhân đất Việt: Phùng Hưng, Nguyễn Thuyên, Thái Thuận, Lê Thánh Tông,
Đào Duy Từ, Nguyễn Hữu Cầu, Lê Hữu Trác, Nguyễn Du, Hoàng Diệu, Cao Thắng, Quản
Hớn, Đội Nhân (Hà Thành đầu độc)… Cuối cùng là truyện Phố Sử viết
về 12 ngày đêm chiến thắng B 52 của đế quốc Mỹ trên bầu trời Hà Nội. Hoài Anh
tỏ ra rất lành nghề khi viết tiểu thuyết, sắc sảo khi làm truyện ngắn. Tác giả
khắc họa tính cách của từng nhân vật tập trung vào những khoảnh khắc của lịch
sử mà nhân vật phải lựa chọn cách suy nghĩ, hành động để trở thành người chính
nghĩa, hữu ích cho dân tộc, có công với dân với nước. Ông khai triển chất liệu
sử thi, chất thơ, chất triết lý. Hình ảnh dòng sông Lục Đầu đầy nghĩa biểu trưng.
Sáu con sông gặp nhau tại Vạn Kiếp, thái ấp của Trần Hưng Đạo, là nơi đầu
gió, đương đầu với sức mạnh của quân xâm lược từ phương Bắc tràn tới. Như
câu tục ngữ: Có cứng mới đứng đầu gió. Trong tập này có một số tấm
gương phấn đấu, tìm tòi phát minh như Cao Thắng chế vũ khí chống Pháp, có
công mài sắt có ngày nên kim.
Thời
Trần là thời đại oanh liệt của lịch sử nước ta. Vì sao Hoài Anh không viết tiểu
thuyết về đời Trần? Đời Trần, người trong họ lấy lẫn nhau, nay tái hiện thời
ấy, ắt không thể né tránh vấn đề luân lý! Tác giả cho rằng rất khó thể hiện
trong tiểu thuyết những nhân vật như: Trần Thị Dung là chị con nhà bác lấy em
là Trần Thủ Độ. Trần Hưng Đạo lấy Thiên Thành công chúa là cháu lấy cô ruột.
Trinh quận chúa con gái Trần Hưng Đạo lấy Trần Nhân Tông là chị con nhà bác lấy
em. Trần Thủ Độ bắt Trần Cảnh phải lấy Thuận Thiên công chúa khi đó đã có mang
với Trần Liễu, đẻ ra con là Trần Quốc Khang, nhưng sau đó lại không được lập
làm vua mà lập con ruột là Trần Hoảng (tức Trần Thánh Tông). Sau này con Trần
Quốc Khang là Trần Kiện đã theo giặc Nguyên. Trần Ích Tắc, con thứ tư Trần Cảnh
cũng đi theo giặc Nguyên (có lẽ vì tranh giành ngôi vua). Mẹ Trần Hưng Đạo là
ai, chính sử cũng không chép! Trong khi đó nhà Trần không sử dụng Nguyễn Phi
Khanh chỉ vì Phi Khanh lấy con gái hoàng tộc, con gái Trần Nguyên Đán. Hồ Quý
Ly lập Hồ Hán Thương mà không lập Hồ Nguyên Trừng chỉ vì Hồ Hán Thương là cháu
ngoại của vua Trần… Những chuyện thật của lịch sử như thế đều rất khó viết. Bởi
khi viết tiểu thuyết lịch sử, dù có hư cấu thế nào chăng nữa thì cũng phải
trung thành với sự thật lịch sử chứ không thể xuyên tạc lịch sử!
5-
NGỰA ÔNG ĐÃ VỀ
Tác
phẩm rất hấp dẫn, gồm những mẩu truyện về Lê Lợi từ khi khởi nghĩa ở Lam Sơn,
tạm rút về Chí Linh, cho đến khi phát triển vào Nghệ An rồi đem quân ra Bắc,
dựng trại ở bến Bồ Đề, đánh thành Đông Quan, được nhân dân hưởng ứng. “ Nhong
nhong ngựa Ông đã về. Cắt cỏ Bồ Đề cho ngựa Ông ăn”. Nhờ Nguyễn Trãi giúp mưu,
đánh vào lòng người, và chặn đánh viện binh của giặc kéo sang, cuối cùng giải
phóng Đông Quan (Thăng Long): “Non sông muôn dặm lấy lại, Chợ búa Đông Đô chẳng
thay”, đuổi quân Minh về nước, “rửa sạch nỗi hổ thẹn nghìn thu. Mang lại nền
thái bình muôn thuở”. Cũng giống như Hưng Đạo Vương, đưa Lê Lợi vào tiểu thuyết
sẽ gặp rất nhiều vấn đề lịch sử rất khó xử lý! Còn nhớ sau khi tác phẩm Ngựa
Ông đã về ra đời, năm 1979 có người chê Hoài Anh: Tại sao nhân vật Lê
Lợi hay như vậy, thời Khởi nghĩa Lam Sơn hào hùng như vậy mà không viết tiểu
thuyết, lại đi viết mẩu chuyện ngắn? Chê như thế là chưa hiểu hết nghề viết
tiểu thuyết, là chưa cận nhân tình! Lê Lợi là anh hùng dân tộc, là nhân vật
lịch sử quá nổi tiếng, không thể tùy tiện hư cấu. Ông có những mối quan hệ phức
tạp. Thí dụ như mối quan hệ của ông với ba bà vợ, với hai con Tư Tề và Nguyên
Long, không chỉ phức tạp mà nhiều khi mang màu sắc huyền thoại: Việc bà Phạm
Thị Trần bị ném xuống sông dâng cho Thần Sông. Mối quan hệ của Lê Lợi với những
người khai quốc công thần như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, đầy
bi kịch, cũng không dễ giải thích và tái hiện. Hoài Anh thật khôn ngoan chọn
phương thức viết những mẩu chuyện xung quanh nhân vật Lê Lợi. Theo cách này,
ông có dư đất dụng võ! Mỗi chuyện trong Ngựa Ông đã về giống
như một truyện ngắn mini, có thể độc lập, nhưng đứng kế tiếp nhau thì thành một
tập truyện liên hoàn. Xưa, M.Gorki viết Những mẩu chuyện nước Ý cũng
theo phương cách này.
Công
cuộc trung hưng nhà Lê được thể hiện qua hình ảnh tượng trưng: Đất thang mộc.
Nghĩa đen là đất tắm gội của vua khi tế trời đất, thần linh, xã tắc và tổ tiên.
Nghĩa bóng là nơi phát tích của một triều đại. Đất phát tích của nhà Lê là Lam
Sơn, của Chúa Trịnh: Sóc Sơn, của Chúa Nguyễn: Gia Miêu, đều thuộc tỉnh Thanh
Hóa. Thanh Hóa được coi là đất Thang mộc, cũng là hậu bị chiến lược của quân
đội ta. Tiểu thuyết Đất Thang Mộc chia làm hai phần:
Phần
I, viết về Chúa Chổm, tức vua Lê Trang Tông. Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê.
Trung thần nhà Lê là Hữu điện tiền đô chỉ huy sứ An Thành hầu Nguyễn Kim lánh
sang Ai Lao dấy binh khôi phục nhà Lê. Ông tìm con cháu nhà Lê là Lê Ninh, tức
Chúa Chổm, con vua Chiêu Tông, về lập làm vua, tức vua Nguyên Hòa, sau là Lê
Trang Tông. Nguyễn Kim tiến hành công cuộc diệt Mạc phù Lê, nêu rõ chính thống.
Được Trịnh Kiểm, Vũ Sư Thước và các tướng giúp đỡ, Nguyễn Kim đem quân về đóng
ở Thanh Hoa, đánh nhau với quân Mạc. Khi tiến quân ra Yên Mô (nay thuộc Ninh
Bình), Nguyễn Kim bị hàng tướng Mạc là Dương Chấp Nhất đánh thuốc độc chết. Dù
bị Trịnh Kiểm nghi ngờ, chèn ép, Vũ Sư Thước vẫn ủng hộ Trịnh Kiểm lên làm
người đứng đầu quân đội, đồng lòng phù Lê diệt Mạc.
7-
ĐẤT THANG MỘC II: SỨ MỆNH PHÙ LÊ
Phần
II của Đất thang mộc mang tên: Sứ mệnh phù Lê. Sau
khi Nguyễn Kim, Lê Trang Tông qua đời, những người còn lại vẫn kiên trì sự
nghiệp diệt Mạc phù Lê, trung hưng nhà Lê. Vua Nguyên Hòa mất, con lên nối ngôi
là vua Thuận Bình, sau là Lê Trung Tông. Thuận Bình mất sớm, Trịnh Kiểm lập Duy
Bang, dòng dõi Lê Trừ, anh Lê Thái Tổ lên làm vua, tức là vua Chính Trị, sau là
Lê Anh Tông. Trịnh Kiểm mất, con là Trịnh Tùng lên thay, lại giết vua Chính
Trị, lập vua Gia Thái lên ngôi, sau là Lê Thế Tông. Trịnh Tùng mang quân về
Thăng Long diệt được nhà Mạc. Vũ Sư Thước hy sinh nhưng con là Vũ Trần Phúc vẫn
đi tiếp con đường của cha hoàn thành sự nghiệp phù Lê. Mẹ Vũ Trần Phúc là công
chúa Ngọc Lan, con gái Mạc Đăng Doanh, vì cứu Vũ Sư Thước nên bị vua Mạc khoét
mắt, phải đi làm nghề hát rong nuôi thân, cuối cùng vào núi Yên Tử trút xác. Vũ
Trần Phúc có ý định theo Nguyễn Hoàng vào mở mang vùng đất mới phía Nam…
Những
tác phẩm viết theo đề tài phế lập trong văn học ta đã xuất hiện từ những năm
đầu thế kỷ trước. Thế nhưng những tác phẩm thời đó theo kết cấu chương hồi,
thuật chuyện là chính, tâm trạng nhân vật thường rất sơ lược, tác giả tùy tiện
khi hư cấu, khi sử dụng sử liệu. Đọc tiểu thuyết Đất Thang mộc mới
thấy Hoài Anh rất tài hoa trong việc miêu tả và xử lý những tình huống, sự kiện
lịch sử.
Thời
kỳ vua Lê chúa Trịnh có lẽ là thời bi hài nhất trong lịch sử
phong kiến Việt Nam buổi thoái trào. Họ Trịnh chuyên quyền ngày càng hiếp
bức vua Lê. Vua Lê chỉ còn là bù nhìn. Đến đời Trịnh Giang, lại càng lộng hành,
bỏ vua này lập vua khác. Trịnh Giang già tay bóc lột nhân dân, ăn chơi xa xỉ,
xây cất nhiều cung quán chùa chiền phủ đệ khắp nơi, bắt dân chúng phục dịch vất
vả. Hoàng tử Lê Duy Mật, con vua Dụ Tông đứng lên phát động cuộc khởi nghĩa
nông dân ở Sơn Tây, sau đó rút về Thanh Hoa, lập căn cứ ở Trấn Ninh chống nhau
với Trịnh ròng rã suốt ba mươi năm. Cuối cùng, bị con rể là Lại Thế Thiều phản
bội, mở cửa cho quân Trịnh lọt vào thành, nghĩa quân tan vỡ. Lê Duy Mật nhảy
vào lửa tự thiêu để vẹn lời thề với dân với nước.
Trấn
Ninh cũng là căn cứ đầu tiên của Nguyễn Kim khi khởi nghĩa diệt Mạc phù Lê.
Trấn Ninh giáp Lào. Những nghĩa sỹ Việt Nam đã được nhân dân Lào ủng hộ.
Tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước Lào Việt có từ lâu đời. Hoài Anh đã nhấn
mạnh tính nhân dân trong cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Mật. Duy Mật không chỉ
vì quyền lợi hoàng tộc mà còn cứu vớt nhân dân khỏi sự áp bức bóc lột
tàn bạo của chính quyền Trịnh Giang.
9-
MƯU SĨ CỦA QUANG TRUNG: TRẦN VĂN KỶ
Tiểu
thuyết có nhân vật chính là Trần Văn Kỷ, nhưng tác phẩm đã làm
sống lại cả một thời đại lẫy lừng trong lịch sử dân tộc: Thời đại Quang Trung.
Kỷ là nho sĩ ở Thuận Hóa, từ chối không ra thi với chúa Nguyễn. Khi chúa Trịnh
mang quân vào đánh Thuận Hóa, Kỷ cho rằng chúa Trịnh khá hơn chúa Nguyễn nên ra
thi với chúa Trịnh, đỗ Giải nguyên. Khi ra Thăng Long chuẩn bị dự kỳ thi Hội,
Kỷ mới hiểu ra chúa Trịnh cũng áp bức bóc lột dân chẳng khác gì chúa Nguyễn nên
đã hưởng ứng phong trào nghĩa quân Tây Sơn diệt cả Nguyễn và Trịnh. Nguyễn Huệ
phong Kỷ làm Trung thư phụng chính Kỷ thiện hầu. Kỷ đã tiến cử cho Nguyễn Huệ
những nhân tài Bắc Hà như: Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Thiếp… Sau đó lại giúp mưu cho
Quang Trung đánh quân Thanh xâm lược. Sau ngày đại thắng, Trần Văn Kỷ, Ngô Thì
Nhậm… đã giúp Quang Trung trong việc xây dựng lại đất nước như lời chiếu: “ Nay
Trẫm cùng dân đổi mới, đưa trăm họ lên đài xuân”…
Cũng
như Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, nhân vật Nguyễn Huệ rất khó đưa vào tiểu thuyết lịch
sử bởi nhiều mối quan hệ phức tạp: Quan hệ của Nguyễn Huệ với Nguyễn Nhạc khi
vợ Nguyễn Huệ bị Nhạc thông dâm, để rồi anh em ruột mang quân đánh giết nhau!
Mối quan hệ của Nguyễn Huệ với Bùi Đắc Tuyên là em trai bà vợ cả họ Phạm, mẹ
của Nguyễn Quang Toản. Mối quan hệ của ông với Nguyễn Quang Thùy, con bà vợ lẽ,
không được lập làm Thái tử mặc dù lớn tuổi hơn Toản và có tài hơn. Mối quan hệ
với Ngọc Hân và các con bà; Hay là việc ông cầu hôn công chúa con vua Càn Long…
Có phải tác giả né tránh những chuyện phức tạp, uẩn khúc trong cuộc đời thật
của các danh nhân để giữ vẻ đẹp muôn đời cho các anh hùng dân tộc đã trở thành
thần tượng chăng?
Tác
giả thông minh khi chọn một sỹ phu Nam hà là Trần Văn Kỷ làm nhân vật chính.
Trần Văn Kỷ có quan hệ với các sỹ phu Bắc hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích,
Đoàn Nguyễn Tuấn, Ninh Tốn, Nguyễn Thiếp… Qua đó Hoài Anh thể hiện sự anh minh,
biết dùng nhân tài của Nguyễn Huệ, cũng như kế hoạch hành binh thần tốc của
ông. Tác phẩm khắc họa thành công nhiều gương mặt không phải ai cũng đã biết là
những tướng lĩnh quê Đàng trong, đặc biệt là đất võ Bình Định.
10-
VUA MINH MẠNG
Có
một thời kỳ, khi viết sử và giảng sử, chúng ta đánh giá về Nhà Nguyễn chưa công
bằng, chưa khách quan, khoa học. Hoài Anh trong tác phẩm này đề cao vua
Minh Mạng là người tư chất thông minh, hiếu học, ham hiểu biết. Nhà vua rất
quan tâm học hành, khoa cử, tuyển chọn nhân tài. Trong việc dùng người, Minh
Mạng đặc biệt chú ý đến học thức. Ngay sau khi lên ngôi, nhà vua củng cố và
hoàn thiện bộ máy quản lý đất nước. Năm Tân Mão, 1831, Minh Mạng tiến hành cải
cách hành chính trên quy mô lớn, chia cả nước làm ba mươi mốt tỉnh. Từ đây,
tỉnh là đơn vị hành chính thống nhất trong cả nước, có cương vực và địa hình
khá hợp lý.
Minh
Mạng thiết lập được chế độ trung ương tập quyền ở Việt Nam, hạn chế quyền hành
các thế lực địa phương. Thời Minh Mạng, đất nước ta rộng nhất. Các nước Ai Lao,
Chân Lạp đều quy phục. Người Xiêm cũng không dám gây hấn. Các thể chế luật
pháp, được xây dựng quy mô. Có thể gọi Minh Mạng là kiến trúc sư của nước Đại
Nam, tượng trưng cho chủ quyền dân tộc và sự toàn vẹn lãnh thổ. Hoài Anh dựng
hình tượng Cửu đỉnh để nói lên thế vững mạnh của nước ta thời đó. Tác phẩm thể
hiện xung khắc giữa tư tưởng pháp trị và tư tưởng nhân đạo; ca ngợi những nhân
vật ủng hộ đường lối chính sách của Minh Mạng như Trịnh Hoài Đức, Nguyễn Công
Trứ, Nguyễn Tri Phương; phê phán những nhân vật chống lại chính sách đó như Lê
Chất… Riêng với Lê Văn Duyệt, tác giả có sự đánh giá đúng mức, sức thuyết phục
cao.
Tiểu
thuyết Vua Minh Mạng vạch rõ âm mưu của vua Louis XVIII, De
Richelieu… sử dụng Chaigneau và các thừa sai, linh mục Gia tô giáo làm tay
trong để xâm lược nước ta. Tác giả khai thác những tư liệu của Pháp
để làm chất liệu tiểu thuyết. Có không ít người xưa nay đổ lỗi cho Minh Mạng vì
chủ trương bế quan tỏa cảng và cấm đạo, cho nên Pháp đánh Việt Nam! Không thể
đổ lỗi như vậy. Minh Mạng vâng theo lời vua Gia Long, cảnh giác với
âm mưu xâm lược của Pháp, cảnh giác với những kẻ đội lốt tôn giáo, chứ không
chống tất cả các nước ngoài muốn giao thương, giao hảo. Bằng chứng là Minh Mạng
đã từng đồng ý tiếp sứ thần Hoa Kỳ. Thế nhưng do sứ thần Mỹ chưa theo đúng thể
thức ngoại giao của ta nên cuộc đàm phán giao thương không thành. Lần thứ hai
tàu của sứ thần Hoa Kỳ vừa cập bến, chưa kịp mở hội nghị giao thương thì sứ
thần đột ngột lâm bệnh rồi chết. Vì thế hiệp ước thông thương với Mỹ đã không
được ký kết. Đó là một trớ trêu của lịch sử!
11-
ĐUỐC LÁ DỪA
Tiểu
thuyết Đuốc lá dừa viết về Nguyễn Đình Chiểu. Qua tiểu thuyết
này Hoài Anh ca ngợi tâm hồn, nghĩa khí của người dân Nam Bộ đối diện với bọn
xâm lược Pháp. Tiểu thuyết rất thành công với những trang miêu tả về thiên
nhiên và con người miệt vườn. Nguyễn Đình Chiểu sinh ở làng Tân Thới huyện Bình
Dương phủ Tân Bình tỉnh Gia Định. Năm 1843, đỗ tú tài ở Gia Định. 25 tuổi, ông
ra Huế học tập chờ khoa thi Hội. Nhưng chưa kịp thi thì được tin mẹ mất. Trên
đường trở về chịu tang mẹ, vì khóc thương và vì thời tiết nóng bức, ông bị mù. Năm
1859, Gia Định bị giặc Pháp chiếm, nhà thơ phải về Cần Giuộc. Năm 1861, Pháp
đánh chiếm Cần Giuộc, ông phải tị địa sang Ba Tri tỉnh Bến Tre. Ông mở trường
dạy học và làm thuốc, làm thơ văn kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Các tác
phẩm hừng hực tinh thần chống Pháp của ông như: Chạy Tây, Văn tế nghĩa
sĩ Cần Giuộc, văn tế và thơ điếu Trương Định, thơ điếu Phan Tòng, Văn
tế nghĩa sĩ trận vong lục tỉnh… Thực dân Pháp và tay sai tìm
mọi cách mua chuộc dụ dỗ nhưng ông dứt khoát từ chối. Năm 1888, đau buồn vì
cảnh Huế thất thủ, vua Hàm Nghi bị bắt, ông lâm bệnh trầm trọng, qua đời ở Ba
Tri. Thông qua hình tượng Nguyễn Đình Chiểu, Hoài Anh khái quát phong trào
chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ. Cây dừa và hình ảnh ngọn đuốc lá dừa từ Trương
Định được truyền sang tay Võ Duy Dương, Nguyễn Tấn Kiều… tượng trưng cho tinh
thần xả thân chống Pháp vì độc lập Tổ quốc.
12-
CHIẾN LŨY THÁP MƯỜI
Ngọn
đuốc lá dừa truyền từ tay Trương Định qua Thiên Hộ Võ Duy Dương, Đốc Binh Kiều,
rồi đến Nguyễn Trung Trực, Nguyễn Hữu Huân, Trương Quyền, Phan Tôn, Phan Liêm,
Lê Tấn Kế rồi Phan Văn Hớn… Triều đình Huế đầu hàng giặc nhưng nhân dân Nam Kỳ
đồng lòng bất khuất. Thiên Hộ Dương lập chiến khu ở Đồng Tháp Mười,
đánh cho giặc Pháp nhiều trận thất điên bát đảo. Sau khi tên phản bội Phạm Công
Khanh dẫn đường cho Pháp đánh đồn Tiền, nghĩa quân phải tạm rút lui. Thiên hộ
Dương giao binh quyền cho đốc binh Nguyễn Tấn Kiều, tung tin là ông ra Huế xin
quân cứu viện, nhưng kỳ thực là ông đi liên lạc với các đám nghĩa quân ở khắp
nơi, huấn luyện những hàng binh Âu Phi, trong đó có người Pháp Linguet và những
người lính Tagals gồm người Angiêri, Marốc, Tuynidi… Cuối cùng ông mang đội
quân chí nguyện đó phối hợp cùng đại quân thình lình xuất hiện, đánh đồn giặc ở
Cần Lố, tiêu diệt quân Pháp và bọn tay sai phản bội, mở thông con đường tiếp tế
lương thực vũ khí cho căn cứ trung tâm Đồng Tháp. Hoài Anh là người rất yêu
thiên nhiên và con người Nam Bộ. Tiểu thuyết Chiến lũy Tháp Mười chứng
tỏ điều đó.
13-
RỒNG ĐÁ CHUYỂN MÌNH
Tiểu
thuyết Rồng đá chuyển mình là thiên hùng ca về cuộc chiến đấu
của nhân dân Hà Nội kháng Pháp dưới sự lãnh đạo của Nguyễn Tri Phương. Đề tài
Hà Nội, như Hoài Anh tâm sự là đề tài ông thích nhất. Viết tiểu thuyết lịch sử
về Hà Nội, Hoài Anh như muốn lấy cái hào hùng của quá khứ để tiếp thêm lửa cho
người đọc. Thống đốc quân vụ Nguyễn Tri Phương là người đi đầu đánh Pháp khi
tàu giặc vào đánh cửa Đà Nẵng. Pháp đánh chiếm Gia Định, ông đã lập phòng tuyến
Chí Hòa chống Pháp. Sau ông được điều ra Hà Nội làm kinh lược Bắc Kỳ.
Quân Pháp đánh thành Hà Nội, ông chỉ huy cuộc phản công mãnh liệt gây cho Pháp nhiều thiệt hại nặng nề. Ông bị thương, bị giặc bắt, ông xé bông băng, tuyệt thực, rồi moi ruột tự tử mà chết. Cái chết anh hùng của ông kích thích lòng căm thù giặc tột độ của quân dân ta, trong trận Cầu Giấy, đã giết chết tên đại úy Pháp Francis Garnier. Thông qua hình tượng nhân vật Nguyễn Tri Phương, tác giả tái hiện khí thế chống Pháp của nhân dân Hà Nội và Bắc Kỳ. Hình tượng con rồng đá ở điện Kính Thiên tượng trưng truyền thống vẻ vang của dân tộc. Rồng đá đã bay lên trong khí thế chống Pháp của nhân dân Hà Nội.
Quân Pháp đánh thành Hà Nội, ông chỉ huy cuộc phản công mãnh liệt gây cho Pháp nhiều thiệt hại nặng nề. Ông bị thương, bị giặc bắt, ông xé bông băng, tuyệt thực, rồi moi ruột tự tử mà chết. Cái chết anh hùng của ông kích thích lòng căm thù giặc tột độ của quân dân ta, trong trận Cầu Giấy, đã giết chết tên đại úy Pháp Francis Garnier. Thông qua hình tượng nhân vật Nguyễn Tri Phương, tác giả tái hiện khí thế chống Pháp của nhân dân Hà Nội và Bắc Kỳ. Hình tượng con rồng đá ở điện Kính Thiên tượng trưng truyền thống vẻ vang của dân tộc. Rồng đá đã bay lên trong khí thế chống Pháp của nhân dân Hà Nội.
14-
BÙI HỮU NGHĨA MỐI DUYÊN VÀNG ĐÁ
Tiểu
thuyết Bùi Hữu Nghĩa mối duyên vàng đá là tấm lòng của nhà văn Hoài Anh với đất
và người Nam Bộ. Bùi Hữu Nghĩa con nhà dân chài ở Cần Thơ, sau lên Biên Hòa trọ
học trong nhà ông Nguyễn Văn Lý. Cô Nguyễn Thị Tồn, con gái ông Lý yêu Nghĩa.
Nghĩa bị bệnh phong, cô hết lòng thuốc thang chăm sóc cho Nghĩa khỏi bệnh...
Nghĩa làm tri huyện Trà Vang, bảo vệ dân người Việt gốc Miên ở vùng rạch Láng
Thé, bị bọn quan lại tỉnh Vĩnh Long bắt giam vào ngục, lại đút lót cho Thượng
thư bộ Hình ở Kinh để khép Nghĩa vào tội tử hình. Bà Tồn đã lên Kinh tỏ nỗi oan
cho chồng. Nghĩa được tha tội chết nhưng được cử đi làm Thủ ngữ đồn Vĩnh Thông
để chống dân Miên nổi loạn. Nghĩa chủ trương không tàn sát dân Miên nên khi đồn
Vĩnh Thông vỡ, Nghĩa bị dân Miên bắt, họ tha cho Nghĩa trở về quê hương.
Khi
Nghĩa ở Bình Thủy thì quân Pháp chiếm thành Vĩnh Long. Nghĩa đã cùng Phan Văn
Trị dùng thơ văn kêu gọi nhân dân đứng lên chống Pháp. Nghĩa bị Pháp bắt giam ở
Khám Lớn Sài Gòn. Sau đó chúng cho Đỗ Hữu Phương lãnh về giam lỏng ở nhà y.
Thấy không thuyết phục, mua chuộc nổi Nghĩa, chúng buộc phải trả tự do cho ông.
Nghĩa lại đi khắp nơi cổ vũ mọi người đứng lên chống Pháp, giúp mưu cho nghĩa
quân rút về vùng Bảy Núi làm căn cứ chống giặc lâu dài. Tái hiện nhân vật Bùi
Hữu Nghĩa, Hoài Anh ca ngợi tầng lớp sỹ phu Nam Kỳ đã đi đầu chống Pháp, khẳng
định rằng những ai mang danh sỹ phu mà theo giặc thì nhân dân đời đời căm ghét,
nguyền rủa. Những sỹ phu yêu nước thì sống mãi trong lòng dân. Trong tác phẩm
này, nhân vật Trương Vĩnh Ký được tác giả nhìn nhận, đánh giá đúng mức.
15-
NGUYỄN THÔNG VỌNG MAI ĐÌNH
Nguyễn
Thông quê Vàm Cỏ, Tân An, đậu cử nhân năm 1849 và làm Huấn đạo huyện Phú Phong,
An Giang. Khi Pháp đánh chiếm Gia Định, ông đang làm việc tại Huế, xin tòng
quân và trở lại Nam Kỳ làm việc dưới quyền của thống đốc Tôn Thất Hiệp. Ba tỉnh
miền Đông Nam kỳ bị mất, ông ra khỏi quân đội triều đình và tị địa ở miền Tây. Tại
đây, ông được cử giữ chức Đốc học Vĩnh Long. Ba tỉnh này bị mất, ông ra Bình
Thuận tị địa, lập Đồng Châu Xã, giúp những người Nam Kỳ ở Bình Thuận và các
tỉnh cực Nam Trung Kỳ làm ăn sinh sống. Năm 1870, Nguyễn Thông làm Biện lý bộ
Hình rồi Bố chánh Quảng Ngãi.
Ở đây, ông vận động nhân dân làm thủy lợi, trồng cây… Thấy ông làm được nhiều việc có ích cho dân, bọn quan lại địa phương dèm pha, có kẻ vu cáo ông nên ông bị cách chức, bị giam và xử đòn. Nhân dân địa phương thương mến, đứng ra kêu oan cho ông nên ông được tha. Năm 1873, Nguyễn Thông bị bệnh, xin về nghỉ ở một trại núi Bình Thuận, lập Thi xã cùng bạn bè ngâm vịnh. Năm 1876, ông trở lại Huế làm Tu nghiệp Quốc tử giám. Sau đó ông đổi về Bình Thuận giữ chức Phó sứ điển nông, kiêm Đốc học. Nguyễn Thông dựng một ngôi nhà nhỏ trên bờ sông Phan Thiết đặt tên là Ngọa Du sào. Ông tiếp tục con đường canh tân đất nước do Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện đề xướng. Ông lập lò vôi sò, làm đồ gốm, tổ chức đánh cá bằng lưới rùng, buôn bán với đồng bào dân tộc ít người, xây dựng một ngôi nhà gọi là nhà Ngư chứa dụng cụ đánh cá và làm kho chứa cá làm mắm. Ông đang tính mở công ty buôn Liên Thành1 và mở trường Dục Thanh để mở mang dân trí thì lâm bệnh, qua đời. Chí nguyện của ông đã được các con và đồng chí của ông thực hiện. Viết về Nguyễn Thông, Hoài Anh khẳng định tinh thần yêu nước và xu hướng đổi mới của sỹ phu ba miền Bắc Trung Nam ngay từ thời đó. Nhờ sáng kiến của Nguyễn Thông mà Hội buôn Liên Thành và trường Dục Thanh ra đời. Cũng trong tiểu thuyết này, nhân vật Phan Thanh Giản được tái hiện rất có tình có lý.
Ở đây, ông vận động nhân dân làm thủy lợi, trồng cây… Thấy ông làm được nhiều việc có ích cho dân, bọn quan lại địa phương dèm pha, có kẻ vu cáo ông nên ông bị cách chức, bị giam và xử đòn. Nhân dân địa phương thương mến, đứng ra kêu oan cho ông nên ông được tha. Năm 1873, Nguyễn Thông bị bệnh, xin về nghỉ ở một trại núi Bình Thuận, lập Thi xã cùng bạn bè ngâm vịnh. Năm 1876, ông trở lại Huế làm Tu nghiệp Quốc tử giám. Sau đó ông đổi về Bình Thuận giữ chức Phó sứ điển nông, kiêm Đốc học. Nguyễn Thông dựng một ngôi nhà nhỏ trên bờ sông Phan Thiết đặt tên là Ngọa Du sào. Ông tiếp tục con đường canh tân đất nước do Phạm Phú Thứ, Đặng Huy Trứ, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện đề xướng. Ông lập lò vôi sò, làm đồ gốm, tổ chức đánh cá bằng lưới rùng, buôn bán với đồng bào dân tộc ít người, xây dựng một ngôi nhà gọi là nhà Ngư chứa dụng cụ đánh cá và làm kho chứa cá làm mắm. Ông đang tính mở công ty buôn Liên Thành1 và mở trường Dục Thanh để mở mang dân trí thì lâm bệnh, qua đời. Chí nguyện của ông đã được các con và đồng chí của ông thực hiện. Viết về Nguyễn Thông, Hoài Anh khẳng định tinh thần yêu nước và xu hướng đổi mới của sỹ phu ba miền Bắc Trung Nam ngay từ thời đó. Nhờ sáng kiến của Nguyễn Thông mà Hội buôn Liên Thành và trường Dục Thanh ra đời. Cũng trong tiểu thuyết này, nhân vật Phan Thanh Giản được tái hiện rất có tình có lý.
16-
CHIM GỌI NẮNG
Tập
này gồm nhiều truyện. Chim gọi nắng viết về bà Nguyễn Thị Minh
Khai. Minh Khai quê gốc Từ Liêm, Hà Nội, theo gia đình vào sống ở thành Vinh,
Nghệ An. (Do vậy bà đã từng mang tên là Vịnh; Vịnh là tên cũ của thành Vinh).
Năm 1930, Minh Khai trở thành đảng viên Cộng sản Đông Dương, được cử ra nước
ngoài hoạt động. Bà công tác ở văn phòng Chi nhánh Bộ Phương Đông của Quốc tế
Cộng sản tại Hương Cảng. Nguyễn Thị Minh Khai được Nguyễn Ái Quốc trực tiếp dìu
dắt, giáo dục, bồi dưỡng. Cuối năm 1934, Nguyễn Thị Minh Khai tham gia đoàn đại
biểu của đảng ta do Lê Hồng Phong làm trưởng đoàn đi dự Đại hội Quốc tế cộng
sản lần thứ Bảy tại Moscow. Trong dịp này hai anh chị đã thành hôn. Năm 1935 về
nước, được chỉ định làm Bí thư thành ủy Sài Gòn. Nguyễn Thị Minh Khai ra sức
hoạt động đẩy nhanh phong trào cách mạng cùng với cả nước đấu tranh đòi tự do
dân chủ, cải thiện đời sống, giải phóng phụ nữ, chống phản động thuộc địa và
các loại tay sai, chống phát xít và chiến tranh; chống bọn Trôtxkít xuyên tạc
đường lối của Đảng.
Khi
đang họat động thành lập Mặt trận phản đế và chuẩn bị cho cuộc khởi nghĩa Nam
Kỳ, tháng 7-1940, vì bị một tên phản bội chỉ điểm, Nguyễn Thị Minh Khai bị địch
bắt. Pháp dùng mọi thủ đoạn dã man tra tấn để khai thác tài liệu, tin tức bí
mật của Đảng, nhưng Nguyễn Thị Minh Khai vẫn trung kiên bất khuất. Địch thất
bại, chúng tuyên án tử hình người nữ đảng viên cộng sản. Ngày 28-8-1941, Nguyễn
Thị Minh Khai đã anh dũng hy sinh ở Hóc Môn cùng một số đồng chí khác. Hoài Anh
tạo dựng hai nhân vật lịch sử Nguyễn Thị Minh Khai và Lê Hồng Phong với tất cả
tấm lòng ngưỡng mộ và yêu thương các bậc cách mạng tiền bối. Tác giả kể lại
phong trào đấu tranh chống Pháp do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Trên cái nền ấy, tác
giả tái hiện hình ảnh các chiến sỹ cộng sản như Nguyễn Văn Cừ, Hà Huy tập, Phan
Đăng Lưu, Võ Văn Tần, Lê Duẩn, Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Thị Quang Thái (người vợ
đầu của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã hy sinh…).
Một số nhân vật chính diện như Nguyễn Thị Ngọc Tốt (tức Nguyễn Thị Thập), Nguyễn Văn Tiến (người vẽ cờ Tổ quốc)… Tác giả viết về những nhân vật có chính kiến khác như Tạ Thu Thâu… ca ngợi lòng yêu nước của họ, phân tích hoàn cảnh lịch sử, đánh giá, nhìn nhận họ có lý có tình.
Một số nhân vật chính diện như Nguyễn Thị Ngọc Tốt (tức Nguyễn Thị Thập), Nguyễn Văn Tiến (người vẽ cờ Tổ quốc)… Tác giả viết về những nhân vật có chính kiến khác như Tạ Thu Thâu… ca ngợi lòng yêu nước của họ, phân tích hoàn cảnh lịch sử, đánh giá, nhìn nhận họ có lý có tình.
III-
Từ khi loài người có văn tự, văn xuôi lịch sử sớm xuất hiện. Nhưng cả một thời
gian dài, văn và sử là một, chưa tách rời nhau.
Từ
thế kỷ thứ V trước công nguyên, tại Hy Lạp đã xuất hiện những tác phẩm văn xuôi
lịch sử. Trung Hoa xuất hiện văn xuôi lịch sử từ thời Xuân Thu, nhưng đỉnh cao
là Sử ký của Tư Mã Thiên, tác phẩm vĩ đại viết về ba ngàn năm
lịch sử thượng cổ đến đầu đời Hán, ảnh hưởng sâu rộng đến sử học, văn học nghệ
thuật Trung Quốc và thế giới mãi cho đến ngày nay.
Thời
Phục hưng ở châu Âu, lịch sử với văn học mới được phân biệt. Cuối thế kỷ 18 đầu
thế kỷ 19, xuất hiện nhiều tác phẩm nổi tiếng của V. Huygô, A. Đuyma. Trong văn
học Anh, Xcốt (Walter Scott, 1771 – 1832), với tiểu thuyết Aivanhô (1820) viết
về nước Anh thời vua Risa I, thực sự là người sáng tạo ra tiểu
thuyết lịch sử. Ở Mỹ có nhà văn Cupơ (James Fenimore Cooper, 1789 – 1851). H.
Ban zắc viết trong Lời nóiđầu cho bộ Tấn trò đời: Xcốt
đã nâng tiểu thuyết lên cấp độ triết học của lịch sử. Còn Ăngghen đánh giá Tấn
trò đời… cấp cho ta cái lịch sử hiện thực tuyệt vời của xã hội Pháp từ 1816 đến
1848. Thể loại tiểu thuyết lịch sử có tác động rất lớn với sự phát
triển của văn học và được đánh giá rất cao. Thế nhưng phải chờ đến
khi Chiến tranh và hòa bình của nhà văn Nga, bá tước L.
Tônxtôi xuất hiện, người ta mới thấy giá trị vô cùng lớn lao của tiểu thuyết
lịch sử. Tônxtôi là bậc thầy về tiểu thuyết lịch sử. Dưới ngòi bút của ông,
nhân vật lịch sử và nhân vật hư cấu đều thấm đậm tính lịch sử, tính lãng mạn và
tính hiện thực. Tâm lý nhân vật được miêu tả, phân tích vô cùng tài hoa.
Tại
phương Đông, tiểu thuyết lịch sử phát triển mạnh tại Trung Quốc thời Minh,
Thanh. Nổi nhất là Tam quốc diễn nghĩa của La Quán
Trung, Thủy hử truyện của Thi Nại Am, hai pho này đã trở thành
kinh điển của loại truyện chương hồi, là niềm say mê của cả nhân loại, ảnh
hưởng rất sâu rộng đến các loại hình nghệ thuật khác cho đến tận ngày
nay.
Ở
Việt Nam, văn xuôi lịch sử viết bằng chữ Hán có Đại Việt sử ký toàn thư,
1479, của Ngô Sỹ Liên là chính sử của nước Việt. Kế đó phải kể đến Hoàng
Lê nhất thống chí của Ngô gia văn phái. Đầu thế kỷ XX, Văn xuôi lịch
sử viết bằng quốc ngữ có nhiều tác giả như Tân Dân Tử, Phạm Minh Kiên, Đinh Gia
Thuyết, Nguyễn Tử Siêu… vẫn viết theo kết cấu chương hồi, chủ yếu là thuật
truyện kiểu truyện Tàu, ít đi sâu phân tích tâm lý nhân vật. Cuối
những năm Ba mươi, nhà văn không còn viết theo lối chương hồi nữa. Từ
điển Văn học bộ mới liệt kê những tác giả và tác phẩm: Phan Trần Chúc
với Vua Hàm Nghi 1935, Hồi chuông Thiên Mu 1940, Dưới
lũy Trường Dục 1942. Lan Khai với Chiếc ngai vàng 1935, Cái
hột mận 1937, Ai lên phố Cát 1937, Gái thời
loạn 1938, Đỉnh non thần 1940, Treo bức chiến bào 1942. Trong
cơn binh lửa 1942… Nguyễn Triệu Luật với Hòm đựng người 1938, Bà
Chúa che 1938, Loạn kiêu binh 1939, Ngược
đường trường thi 1939, Chúa Trịnh Khải 1940… Chu
Thiên với Lê Thái Tổ 1941, Thoát cung vua Mạc 1941, Bà
Quận Mỹ 1942, Cháy cung Chương võ 1942. Nguyễn Huy
Tưởng với Đêm hội Long Trì 1942, An Tư 1944…
Nguyễn Triệu Luật là nhà văn chắc tay hơn cả trong thể loại này.
Sau
cách mạng tháng Tám, có Sống mãi với thủ đô của Nguyễn Huy
Tưởng, Bóng nước hồ Gươm của Chu Thiên, Người Thăng
Long của Hà Ân, Núi rừng Yên Thế của Nguyên Hồng, Cờ
nghĩa Ba Đình của Thái Vũ, Sông Côn mùa lũ của Nguyễn
Mộng Giác (California 1991. NXB Văn học,1998, 2005. Hoàng Lại Giang với Lê
Văn Duyệt từ nấm mồ oan khuất đến Lăng Ông 1999, và Trương
vĩnh Ký Bi kịch muôn đời, 2001. Hồ Quý Ly của
Nguyễn Xuân Khánh, 2000. Tại Pháp, nhờ cụ Hoàng Xuân Hãn tư vấn, nữ văn sĩ Pháp
Éveline Féray viết Vạn Xuân (NXB Văn học, 2002). Vạn Xuân ca
ngợi Nguyễn Trãi và cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Rất tiếc là về phong tục tập quán
Việt Nam, bà E. Féray không hiểu kỹ, cho nên có nhiều điều nhầm lẫn đáng tiếc.
Ví dụ khi vợ chết, Nguyễn Phi Khanh cho người ra Côn Sơn Kiếp Bạc báo tin cho
bố vợ là Trần Nguyên Đán, thì tác giả cho vợ chồng Trần Nguyên Đán đội nón rơm,
thắt khăn tang, mặc áo xô trắng đi dép cỏ làm lễ tang, y như con cái làm lễ
tang cho cha mẹ vậy!
Trong
vòng một trăm năm qua, Việt Nam có khá nhiều nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử.
Hoài Anh là một trong số ấy và ông đã gặt hái nhiều thành công. Cảm nhận rõ
nhất trong các tiểu thuyết lịch sử của Hoài Anh là ông rất tôn trọng sự kiện
lịch sử, rất kỹ tính khi xử lý các chi tiết lịch sử và rất chu toàn khi hư cấu,
văn chương hóa, nghệ thuật hóa các danh nhân lịch sử. Vai trò của đám đông, của
quần chúng nhân dân trong tiểu thuyết và truyện lịch sử của Hoài Anh rất được
trân trọng. Quan điểm của tác giả là: Chỉ có hợp lòng dân, vì dân, các nhân vật
mới làm nên lịch sử! Khoảng trời bao la của trí tưởng tượng trong Hoài Anh đôi
khi như bị kìm nén lại bởi ông bao giờ cũng trân trọng sự thật lịch sử. Nhà văn
có quyền hư cấu, nhưng không bao giờ được ngông nghênh phủ nhận lịch sử, thậm
chí có kẻ còn chà đạp sự thật lịch sử, bóp méo lịch sử. Ông nói như thế khi
chúng tôi trao đổi về một số truyện ngắn, tiểu thuyết viết về lịch sử mà một số
người hè nhau bơm thổi lên quá mức. Theo Hoài Anh, khi đụng tới lịch sử, cái
tâm của người viết phải trong sáng. Một pho sử chỉ có giá trị khi ghi đầy đủ
công và tội của nhân vật lịch sử. Nhưng một tiểu thuyết hay truyện ngắn lịch sử,
giá trị thẩm mỹ là mục tiêu cuối cùng, thì việc dùng chất liệu này, không xài
chất liệu lịch sử kia là cả một vấn đề thể hiện tài và tâm tác giả.
Sông Côn mùa lũ (SCML)
là một ví dụ. Khi viết về cuộc đời Nguyễn Huệ, một nhân vật có nhiều mối quan
hệ vô cùng phức tạp, Nguyễn Mộng Giác không chú tâm miêu tả những trận đánh,
những cuộc hành binh, những mối quan hệ rắc rối, đầy bi kịch trong đại gia đình
ba anh em Tây Sơn, mà chỉ xoáy vào những chi tiết đời thường, nhằm cắt nghĩa
cội nguồn tạo nên danh nhân. Tác phẩm nhờ thế mà thành công. Trong chuyến du
khảo Hoa Kỳ từ đầu tháng Ba đến cuối tháng Tư năm 2000, tôi được nhà văn Nguyễn
Mộng Giác mời đến nhà chơi. Ông Giác cho tôi coi tập bản thảo SCML viết tay
sạch sẽ, chữ rất đẹp, đúng là chữ của một nhà giáo. Tập bản thảo này do vợ ông
mang từ Thị Nghè Sài Gòn sang Mỹ khi bà cùng con đi định cư chính thức, còn tác
giả của nó thì ra đi bằng thuyền ngay sau khi viết xong SCML! Sông Côn
mùa lũ được ông Giác viết vào ban đêm vì ban ngày phải đi làm mướn cho
một tổ hợp mì sợi ở Chợ Lớn. Ông viết từ năm 1978 đến đầu năm 1981 thì hoàn
thành, in lần đầu ở California 1991. NXB Văn học và Trung tâm Quốc học xuất bản
ở Việt Nam năm 1998, tái bản 2005. Nay, ông Giác đã ủy quyền cho nhà văn Triệu
Xuân tái bản lần thứ ba (2006). Đồng thời, hãng TFS đài Truyền hình thành phố
Hồ Chí Minh vừa mua bản quyền của ông để chuyển SCML thành phim truyền hình.
Một người làm viên chức cho chế độ Sài Gòn cũ, sau năm 1975 đi học tập
cải tạo, học về rồi, lại phải đi tiếp một đợt nữa chỉ vì ông đã viết tác
phẩm khảo cứu văn chương chưởng của Kim Dung. Lúc đó Sài Gòn đang “đấu tranh
chống nọc độc của văn hóa đồi trụy và tàn dư của văn hóa thực dân mới” mà! Cuộc
đời phút chốc rớt xuống dưới đáy, vậy mà Nguyễn Mộng Giác vẫn tỉnh táo phân
biệt được cái gì là vĩnh hằng, cái gì chỉ là nhất thời, cái gì là trọng, cái gì
chỉ là nhỏ nhặt. Ông giữ được sự thanh thản, tâm hồn trong trẻo khi viết SCML.
Lòng yêu nước, tình cảm thiết tha với dân tộc luôn bừng cháy trong lòng nhà
giáo, nhà văn Nguyễn Mộng Giác, cho nên không khó khăn, oan khổ nào có thể
khiến ngòi bút của ông phủ nhận lịch sử. Ông viết về Nguyễn Huệ mà
như có hơi thở, như có nhịp đập của chính trái tim mình, như là ông đã gửi vào
đó biết bao niềm tin yêu và khát vọng của ông, của cả nhân dân, đất nước ông!
Nhà
văn Hoài Anh nói rằng những anh em từng bị “treo bút” nhiều năm như
Nguyễn Xuân Khánh (tác giả tiểu thuyết Hồ Quý Ly), những người vì hoàn cảnh,
phải sống xa Tổ quốc như Nguyễn Mộng Giác, mà cái tâm sáng như thế, cớ gì
có những người sống ngay trên Tổ quốc mình lại không trân trọng lịch sử? Đáng
trách hay đáng thương? Sáu mươi chín tuổi rồi, Hoài Anh vẫn còn đang viết không
ngưng nghỉ. Ngọn lửa sáng tạo trong ông hầu như còn mãnh liệt lắm, bởi vì ông
sống lặng lẽ, chỉ ham sáng tạo, không màng danh lợi. Ông chân thật với bạn bè,
ưu ái người viết trẻ, và rất chịu đọc văn của những người khác. Văn chương ông
trong sáng, giàu hình ảnh, giàu vốn sống; ngôn ngữ trong tác phẩm của ông
chứng tỏ ông rất chịu đi, chịu học ngôn ngữ từng địa phương. Có nhiều người hỏi
tôi: Cái ông Hoài Anh lủ khủ lù khù thế mà sao viết khỏe, viết dữ dội vậy? Tôi
đáp: Ông viết được như thế là nhờ tình yêu! Ông yêu đời, yêu nghề như yêu chính
cuộc đời mình. Ông có trí nhớ tuyệt vời, do bẩm sinh, tất nhiên, nhưng tôi cho
rằng chủ yếu cũng là nhờ tình yêu nghề. Ông chưa bao giờ ăn xổi ở thì trong
nghề viết! Những ai đã thấy ông ghi chép, làm việc, dịch thuật, sáng tác, đọc ở
thư viện, đọc ở nhà và những ai đã từng nghe ông nói trước khi ngồi vào bàn
đánh máy chữ, thì mới hiểu được Hoài Anh. Ông xứng đáng được tặng Huân chương
lao động hạng nhất, và những giải thưởng cao quý khác!
Thế
mà cả đời, ít nhất là cho đến nay, sáu mươi chín tuổi rồi, ngoài cái Huân
chương chống Mỹ, ông vẫn chưa hề được tặng Huân chương dành cho người lao động
chân chính! Giải thưởng Nhà nước về Văn học Nghệ thuật đợt này cũng không có
tên ông! Tại quán nhậu cực bình dân 81 Trần Quốc Thảo, nhân
lúc mọi người bàn chuyện năm tới, ông Hoài Anh bảy mươi tuổi, tôi đã tổng kết
về ông với bảy cái không: Không thích nói về mình, không xe cộ (suốt đời cuốc
bộ), không bao giờ ăn mặc bảnh bao, không nhà đất, không danh hiệu, chức vị,
không xu nịnh, cơ hội, không chung chiếu với những kẻ phi nhân
cách! Tôi từng nghe Thu Bồn thốt lên: “Ông Hoài Anh ơi! Ông tài, nhưng kín đáo
quá xá! Về tôi, thơ phú thế nào, tiểu thuyết ra sao, bạn bè, bồ bịch nhiều ít,
cái gì ông cũng biết. Vậy mà, về đời tư của ông, tôi mù tịt, cạy răng ông cũng
không nói”! Hoài Anh không thích nói về mình, nhưng ông đã nói về, viết về ít
nhất hơn một ngàn nhà văn, và viết khá kỹ khoảng hai trăm nhà văn! Làm được
điều đó, ông đã đọc rất nhiều tác phẩm của đồng nghiệp. Không phải nhà văn nào
cũng đọc nhiều như thế!
Nhà
văn bảy không nặng tai đã hai năm nay. Độ rày ông bị điếc hẳn,
không nghe được điện thoại nữa. Người cao tuổi, điếc cũng có cái hay! Nghe
nhiều chuyện không đẹp, không vui, những chuyện nhố nhăng… chả để làm gì, chỉ
thêm buồn. Bảy không nhưng ông lại có rất nhiều thứ: Sự trân
trọng, quý mến của bạn bè, những tác phẩm văn học nhiều người nhắc đến… Đó phải
chăng mới thực là gia tài vô giá của một nhà văn?
Nguồn:
Lời tựa cho Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Triệu Xuân
sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.
1 Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh lẽ ra được
in thành 2 tập khổ lớn: 16 x 24 cm, mỗi tập 1000 trang. Nhưng, để phù hợp túi
tiền của bạn đọc, nhất là giới trẻ, chúng tôi in thành 16 quyển, mỗi quyển đều
in Lời tựa có tóm tắt nội dung của những tác phẩm trong toàn
tập. Bạn đọc có thể mua một vài quyển hoặc mua trọn bộ, tùy ý.
Tp HCMinh, 8/2006
Triệu Xuân



















Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét