Liên ký hiệu trong
tiểu thuyết Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái là một trong số những nhà tiểu thuyết có ý thức trong việc tạo ra những chùm tác phẩm cùng một đề tài nhưng không cùng một thủ pháp. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” qua một hệ thống ký hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên ký hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mỹ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản…
Dẫu ký hiệu học hiện đại “đang trải qua giai đoạn buộc phải
xét lại một số khái niệm cơ bản” (Lotman, 2015, 88), nhưng hiện nay, lý thuyết
về ký hiệu học đã trở thành phổ biến và được vận dụng như một khung tri thức để
tham chiếu, giải mã văn bản nghệ thuật. Các khái niệm liên quan đến ký hiệu học
đã được đối thoại, giới thuyết, xác lập trong hầu hết các công trình về ký hiệu
học văn học/văn hóa (lý thuyết lẫn ứng dụng). Riêng về khái niệm liên ký hiệu,
cho đến nay vẫn còn là một thuật ngữ chưa thông dụng và chưa có một định nghĩa
thật xác thực. Iu. M. Lotman, một trong những nhà ký hiệu học hàng đầu của thế
kỷ XX, đồng thời cũng là người đặt nền tảng cho lý thuyết ký hiệu học văn hóa,
khẳng định: “Không một cơ chế ký hiệu học nào có thể hoạt động như một hệ thống
biệt lập, trong môi trường chân không. Điều kiện hoạt động chủ yếu của nó là đầm
mình vào ký hiệu quyển – vào không gian ký hiệu học” (Lotman, 2015, 89). Sự gắn
kết, tương hỗ giữa các ký hiệu (có tính lặp lại), làm nên “khí hậu quyển” của
văn bản nghệ thuật. Tính lặp lại các ký hiệu này có khả năng tạo nghĩa và các lớp
nghĩa phái sinh. “Nói liên ký hiệu thực chất là nói đến khả năng tạo nghĩa của
ký hiệu trên cơ sở các quan hệ tương tác” (Lotman, 2015, 89).
Từ góc nhìn ký hiệu học, nếu xem tác phẩm văn học là một “ký
hiệu đa văn hóa” thì trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái đa/ liên văn hóa gắn liền với
liên ký hiệu. Mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái đều có sự va đập các ký hiệu thẩm mỹ.
Sự liên kết chuỗi ký hiệu nằm trong chiến lược trần thuật của nhà văn.
1- Liên ký hiệu – một mô thức kiến tạo văn bản
Với chủ trương lấy văn bản làm trung tâm, trong công
trình Ký hiệu học văn hóa, Iu. M. Lotman khẳng định: “Văn bản mới bao giờ
cũng gắn với các văn bản cũ bằng những quan hệ đối thoại, nó bảo tồn các văn bản
ấy trong ký ức của mình”; “Các ký hiệu tạo thành văn bản, các văn bản tạo thành
văn hóa, các văn bản tạo thành ký hiệu quyển” (Lotman, 2015, 59). Theo nghĩa
đó, ký hiệu tồn tại trong tác phẩm văn học như một công cụ kiến tạo văn bản nghệ
thuật. Mô thức kiến tạo này rõ nét trong một kiểu tác giả mà tiêu biểu là Hồ
Anh Thái. Tạo mã với các chuỗi ký hiệu đặc thù (lặp lại trong một và nhiều tiểu
thuyết) chính là một chiến lược trần thuật của Hồ Anh Thái, với lối tự sự đa
thanh, nhiều gợi mở. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái tính liên ký hiệu biểu hiện ở
hai mối quan hệ. Một là, sự tương tác giữa các ký hiệu trong một văn bản tiểu
thuyết. Hai là, chuỗi ký hiệu xuyên suốt nhiều tiểu thuyết với các nghĩa phái
sinh.
Trường hợp thứ nhất, trong mỗi tác phẩm của Hồ Anh Thái luôn
có một hệ thống ký hiệu chằng chịt, mỗi ký hiệu thẩm mỹ đều có sự tương tác với
các ký hiệu khác để tạo nghĩa mới. Trong tiểu thuyết Tranh Van Gogh mua để
đốt sự tương hỗ giữa các ký hiệu đã làm nên một “tổ hợp ký hiệu” mở rộng nội
dung tác phẩm. Hồ Anh Thái luôn tạo lực hút từ nhan đề. Xâu chuỗi toàn bộ tiểu
thuyết của nhà văn, nhan đề chính là những mã văn hóa, hình thành từ sự liên kết
các ký hiệu. Tên cuốn tiểu thuyết như một ký hiệu phản đề, Tranh Van
Gogh/mua/để đốt. Tranh nào giữa những bức tranh tuyệt mỹ phần lớn được vẽ trong
những cơn điên vật vã của danh họa Hà Lan? Tranh nào trong những bức tranh vô
giá đã từng chịu số phận hẩm hiu, thậm chí có bức tranh còn được dùng để che chắn
chuồng gà. Ai mua? Tại sao đốt? Ai đã phạm tội hủy diệt văn hóa nhân loại? Mã
nhan đề gợi dẫn nhiều chủ điểm trong tác phẩm; đó là bi kịch người trí thức nghệ
sĩ tài năng, là bi hài kịch hội họa (thời đại Van Gogh và rộng hơn là trong đời
sống đương đại). Ngoài tính chất gợi dẫn của nhan đề, chuỗi ký hiệu liên kết,
phái sinh là Lửa (đốt/hủy) và Trắng (sương mù/vô minh). Phái sinh từ bức Chân
dung bác sĩ Gachet của Van Gogh là vô vàn những bức tranh trắng (“Trắng
tinh. Trắng xóa. Trắng bạch. Trắng muốt. Trắng hếu. Trắng nhởn. Trắng mù như
sương. Trắng nhờ nhờ như khoảng sáng trước bình minh…”; “Nhiều trắng quá. Giả sử
mở một cuộc triển lãm, tên triển lãm sẽ là Trắng. Một chữ thôi. Trắng”). Những
bức trắng lại phái sinh vô số những cái tên (“… tuôn ra những là Tảng băng
trôi với Hôn lễ trắng, Góa phụ trắng, Hai bàn tay trắng. Thêm Giao
hưởng trắng, Khói trắng, Những cuộc tình màu trắng. Nhiều trắng quá”). Từ một bức
tranh nhân bội lên nhiều bức tranh. Trắng hiện diện xuyên khắp, như một ký hiệu
đa bội, gắn kết các mảnh, các mã văn hóa. Trắng là một ảnh tượng siêu hình về ý
nghĩa cuộc đời; là phi lý, ngụy tín trong văn học nghệ thuật và những hệ lụy của
nó trong đời sống con người.
Trường hợp thứ hai, nhìn một cách hệ thống, có thể thấy tính
lặp lại trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái qua chuỗi ký hiệu xuyên văn bản. Tác phẩm
phái sinh có mối quan hệ với tác phẩm gốc, có khi trùng một mẫu đề, có lúc
trùng lặp một phần, một chương, một nhân vật… của tác phẩm gốc. Nói cách khác,
cuốn tiểu thuyết này dung chứa một phần của tiểu thuyết kia qua sự trùng lặp ký
hiệu, hoặc tái hiện nguyên văn như một dụng ý nghệ thuật của tác giả. Tính phái
sinh rõ nhất là ở hai tác phẩm Đức Phật, nàng Savitri và tôi và Tranh
Van Gogh mua để đốt. Cả hai tiểu thuyết đều gây ấn tượng ngay từ nhan đề với sự
liên kết ký hiệu. Đức Phật, nàng Savitri và tôi là dụng ý lạ hóa với
cách sắp xếp đồng đẳng, ngang phè giữa thiêng và phàm, huyền thoại và giải huyền
thoại, cổ đại và đương đại. Mở đầu tác phẩm, nhà văn/Tôi/người kể chuyện giới
thiệu một Kumari – Nữ Thần Đồng Trinh gắn liền với tập quán cổ xưa ở Nepal:
“Người ta bảo cô là một Kumari.
Kumari chỉ có nghĩa là đồng trinh. Nhưng không ai gọi bất cứ
một bé gái nào trước tuổi dậy thì là kumari. Đã được gọi là Kumari thì chỉ có
thể hiểu đó là Nữ Thần Đồng Trinh. Chỉ có một. Không ai hiểu khác”.
(Đức Phật, nàng Savitri và tôi)
Trong tác phẩm sau, Tranh Van Gogh mua để đốt, việc lặp
lại một chương của tiểu thuyết trước chính là chiến lược trần thuật xuyên văn bản.
Những trang sách gốc được ghi lại ở văn bản sau với ký hiệu Thánh Nữ Đồng Trinh
biểu hiện những suy ngẫm về nhân sinh – “Người ta bảo cô là một Kumari…” [2
trang nguyên văn]. Tuy vậy, ở văn bản sau, lớp cấu trúc ký hiệu Thánh nữ Đồng
Trinh xuất hiện không nguyên phiến mà mang ý nghĩa phái sinh. Cô gái nửa H’Mông
nửa Kinh (không tên, không lời nói, lai lịch mù mờ, từ chỗ thấy chữ là choáng
váng đến chỗ đọc vanh vách những quyển sách toàn là giấy trắng) chính là phiên
bản của Thánh nữ Đồng Trinh Kumari/Savitri kiếp sau. Giữa nhốn nháo cõi người,
giữa giả trá vây bủa, chỉ có cô gái là tinh khiết trong trẻo. Đến nỗi Tôi bật
thốt: “Liệu cô có phải là một Nữ Thần Đồng Trinh nữa, không phải bên Ấn Độ bên
Nepal, mà ở ngay giữa xứ này”. Đối chiếu giữa hai văn bản, nếu nàng Savitri Nữ
Thần Đồng Trinh có khả năng nhìn xuyên qua đêm tối và xuyên qua sương mù (trong
“cái tăm tối mù lòa ngu dốt. Cả thế gian cùng lúc chìm trong vô minh”, “cái vô
minh quay tròn bao bọc”), thì cô gái H’Mông, giữa cõi vô minh duy nhất chỉ cô
là sáng. Cô gái H’Mông là thánh nữ giữa chốn xô bồ giả dối, là điểm sáng giữa
cõi người đen tối. Cũng vậy, liên ký hiệu này cũng phái sinh trong một số tiểu
thuyết khác của Hồ Anh Thái. Ở tác phẩm Cõi người rung chuông tận thế, Mai
Trừng như Thánh Nữ Đồng Trinh, không chảy máu, mang sứ mệnh tiêu diệt cái ác đầy
rẫy trong cõi người. Khi Mai Trừng “chảy máu”, là lúc cô được về lại cuộc đời đầy
biến động nhưng cũng lắm yêu thương. “Ở một nước Nam Á, người ta có tục tôn những
bé gái lên làm nữ thần sống, làm nữ thần đồng trinh. Nữ thần cũng sẽ bị phế truất
khi nào đến tuổi dậy thì, hoặc bị tai nạn xước da chảy máu”(Cõi người rung
chuông tận thế). Trong Đức Phật, nàng Savitri và tôi, khi Savitri “đúng tuổi
trở thành thiếu nữ, đúng tuổi dậy thì, chính xác là đúng ngày đầu có kinh nguyệt,
Nữ Thần Đồng Trinh sẽ chấm dứt trị vì trên ngôi. Nữ Thần Sống được trở về với đời
thường”; “Nữ Thần Sống sẽ thôi là nữ thần khi nào bị chảy máu”. Những giọt máu
trinh nữ đã đưa Kurami trở lại đời thường đầy dục lạc. Những giọt máu từ lòng
thù hận dai dẳng đã đưa Mai Trừng về lại cõi người và “em sung sướng được làm một
người bình thường”. Cũng qua biểu tượng Thánh Nữ Đồng Trinh, triết lý nhân sinh
về nỗi đau truyền kiếp, về hận thù, cởi buộc, về thiện ác được nhà văn làm rõ
hơn trong Dấu về gió xóa: “Giống như bên Nepal, Vua và Hoàng gia không phải
quỳ lạy trước bất cứ ai, chỉ trừ duy nhất Nữ thần Đồng Trinh, một cô bé tuổi
nhi đồng được phong lên”.
2- Huyền thoại, biểu tượng và sự truyền dẫn
Theo kết quả nghiên cứu của Trịnh Bá Đĩnh, có quan niệm đồng
nhất ký hiệu với biểu tượng (tiêu biểu là E. Cassirer, Ch. Pierce); có quan niệm
coi biểu tượng như một dạng ký hiệu đặc biệt (Lotman, Todorov, Freud, Jung); có
quan niệm xem biểu tượng là “một hiện tượng thiêng liêng thần bí, một thông điệp
của đấng tối cao gửi đến con người”(Trinh, 2017, 25). Từ góc nhìn ký hiệu học
văn hóa, tính ký hiệu trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái thống hợp các quan niệm
trên. Sự tĩnh lược đối thoại, để cho biểu tượng lên tiếng là đặc điểm của tiểu
thuyết Hồ Anh Thái. Biểu tượng vốn mang trong bản thân nó những “kinh nghiệm
văn hóa cộng đồng”, qua nghệ thuật sáng tạo, dụng ngôn của nhà văn, càng phái
sinh nhiều ý nghĩa. Qua hệ thống huyền thoại, biểu tượng, các motif… lặp lại
theo dụng ý nghệ thuật, tác giả đã tạo các mã văn học/văn hóa. Tiếng nói bên
trong văn bản nằm ở sự tương hỗ, va đập giữa huyền thoại, cổ mẫu, biểu tượng.
Mã huyền thoại về trinh nữ
Theo Roland Barthes, “là ngôn từ, nên tất cả đều có thể là
huyền thoại, nó liên quan đến diễn ngôn. Huyền thoại không xác định bởi đối tượng
thông điệp của nó, mà bởi cách nó phát ra thông điệp ấy: có những giới hạn về
hình thức đối với huyền thoại, chứ không có những giới hạn về thực thể”
(Barthes, 2008, 289). Chính huyền thoại đã mở ra nhiều tầng nghĩa qua những
liên tưởng phong phú. Một trong những huyền thoại lặp đi lặp lại trong văn bản
tiểu thuyết Hồ Anh Thái là câu chuyện về trinh nữ với nhiều nghĩa tiềm ẩn. Dẫu
không muốn đặt ra vấn đề nữ quyền, thậm chí có lúc giễu nhại những giáo điều của
nữ quyền luận, tuy vậy, có thể xem Hồ Anh Thái là một trong những nhà văn sớm
quan tâm đến số phận những người phụ nữ từ cái nhìn văn hóa nhân văn. Trong hệ
thống biểu tượng trùng phức, trinh tiết biểu đạt đến cùng thân phận đàn
bà. Người đàn bà trên đảo (1985) là cuốn tiểu thuyết sớm đề cập phận
đời của những cô gái trong và sau chiến tranh – một chủ đề được văn học hậu chiến
quan tâm. Bằng biểu tượng về dương vật (“một măng hai mít, đó là hàm ý cái
dương vật, thưa chủ tướng”), nhà văn làm nổi bật ham muốn dục lạc và bản năng
làm mẹ của những cô trinh-nữ-luống-tuổi trên hòn đảo gần như hoàn toàn vắng
bóng đàn ông. Xoay quanh câu chuyện đã thành huyền thoại về rừng mít “quả sum
suê, hương đậm đặc, ngốt ngát” và rừng vầu “măng non đâm tua tủa, sức sinh sôi
nảy nở của chúng hóa thành một mãnh lực, không gì có thể kìm hãm được” là dục vọng
đàn ông và khao khát đàn bà. Kìm nén và bung xả, bản năng và lý trí, ba mươi
tám cô gái trên đảo chỉ thực sự là đàn bà khi tìm cách mở lối đến thung lũng Bò
Vàng, ở đó có một thanh niên hai mươi bốn tuổi, buồn chán, tuyệt vọng, đêm đêm
tìm về bãi cát, nơi “những người đàn bà luống tuổi vẫn đợi ở đấy”. Mang tội chửa
hoang, những người đàn bà nhân danh trinh tiết cất lên tiếng nói quyền uy: “Tôi
giữ thân cho ai nữa, trinh tiết cho ai, khi mà chỉ có một mình cô đơn”. Những
người phụ nữ như Miền, như Luyến, như Thắm… luôn lẫn lộn, giày vò giữa một bên
là “mặc cảm ô nhục, tội lỗi” và một bên là “niềm mong chờ hạnh phúc”. Tiếng nói
đòi quyền sống (đồng nghĩa với dục lạc) sớm được khẳng định trong giai đoạn văn
học vẫn còn nối dài cảm hứng sử thi.
Trở lại vấn đề đã nêu, trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, các mã
huyền thoại về trinh nữ phái sinh từ cổ mẫu Thánh Nữ Đồng Trinh. Từ mẫu hình
trong huyền thoại, trong tập tục đến những phái sinh, nhà văn đã tạo mã về dục
vọng đàn bà, vấn đề không phải là không còn sức gợi. Trong Dấu về gió xóa,
câu chuyện về Đảo Xanh gắn liền với chính trị, ngoại giao, văn hóa, tôn giáo…
trở nên đa dạng nhờ đan xen chuỗi huyền thoại về trinh nữ. Là hủ tục ở vùng hồ
Núi Lửa, mỗi năm phải nộp cho Thần Nước một mạng trinh nữ, “người con gái khỏa
thân ướp trong hoa hồng, bị bỏ trong miếu thờ Thần Nước”. Ở đó “cô sẽ gieo mình
xuống nước tư thế một con chim trắng”. Là truyền thuyết về Hòn Guốc (mảnh vỡ của
huyền thoại về vũ trụ), Xóm Chửa Hoang, là hang cá voi “càng vào sâu trong lòng
cá voi càng rạo rực như gặp người tình”, giấc mơ ân ái với cá voi là “… niềm
hoan lạc mãnh liệt đủ dự trữ cho họ cả một đời”. Và những đứa Con Trai Cá ông
ra đời, được để tang cha, được tổng thống nghiêng mình cúi chào trong đám tang.
Là vô thức tập thể, huyền thoại tồn tại trong tâm thức cộng đồng, đến lượt
mình, nhà văn vừa dẫn huyền thoại vừa tái cấu trúc, giải huyền thoại khiến câu
chuyện cổ xưa không còn nguyên phiến mà mang chứa nhiều ý nghĩa. Huyền thoại
công chúa Draupadi làm vợ chung của năm anh em nhà Pandava trong sử thi Mahabharata được
tái cấu trúc, lấp đầy những khoảng trống, những ý nghĩa khác “bị bỏ sót”, “bị ẩn
giấu” trong sử thi. Nhà văn như vừa chép lại huyền thoại vừa “tiếp tục sáng tạo
ra huyền thoại”. Huyền thoại quần hôn được ghép thêm những mảnh ghép của năm
đêm tân hôn êm ái dịu dàng ê chề rã rời hoan lạc. Mượn huyền thoại nhà văn thấu
cảm nỗi đau giày vò thân xác của phụ nữ từ khoái lạc đàn ông. Từ đó, chuỗi huyền
thoại trong tác phẩm Hồ Anh Thái không chỉ thuộc về cổ xưa mà là những huyền
thoại về cái hiện tại, của ngày hôm nay.
Chiêm bao – một chuỗi ký hiệu đa nghĩa
Về mặt lý thuyết, chiêm bao được xem là vấn đề cốt lõi của
phân tâm học. Nghiên cứu nhiều về chiêm bao, Sigmund Freud xem giấc mơ là tiếng
nói của vô thức, để giải mã phải thông qua hệ ký hiệu/ngôn ngữ của giấc mơ
(Freud, 2018). Carl Jung cũng chú ý đến tính biểu tượng của giấc mơ khi cho rằng
“chiêm mộng là sự tự thể hiện một cách tự phát và tượng trưng cái thực trạng của
vô thức” (Chevalier & Gheerbrant, 2002, 164). Theo cách nói của Frédéric
Gaussen, giấc mơ/chiêm mộng là “biểu tượng của một cuộc phiêu lưu cá thể, được
cất sâu trong tâm khảm đến nỗi nó vượt ra khỏi vòng cương tỏa của người sáng tạo
ra nó; chiêm mộng hiện ra với chúng ta như là biểu hiện bí mật nhất và trơ
trẽn nhất của chính chúng ta” (Chevalier & Gheerbrant, 2002, 164).
Xem chiêm bao là cửa sổ ký hiệu học, I. Lotman cho rằng: “Đặc điểm của
chiêm bao là tính đa ngữ: nó không đặt chúng ta vào những không gian riêng rẽ,
mà nhấn chìm chúng ta vào sự hòa quyện của không gian thị giác, ngôn từ, âm nhạc
và những không gian khác giống như thật”; “Chiêm bao là tấm gương ký hiệu học,
mỗi người nhìn thấy ở đó hình ảnh ngôn ngữ của mình” (Lotman, 2015, 193). Trong
tiểu thuyết Hồ Anh Thái, hai dạng giấc mơ xuất hiện xuyên văn bản là giấc mơ
tính dục và cơn ác mộng về “ác giả ác báo”. Giấc mơ là “ký hiệu của ham muốn”,
“giọng nói của ẩn ức tính dục” (Freud). Nhân vật tiểu thuyết Hồ Anh Thái thường
có đời sống tính dục phong phú. Ở những hoàn cảnh đặc biệt, họ thường rơi vào
trạng huống kìm nén bản năng và để lộ ra phần bí mật nhất và trơ trẽn nhất trong
những cơn mơ phóng đãng với một chuỗi ảo ảnh ma quái. Sống ở nông trại gần như
thiếu vắng bóng đàn bà, “cách dăm ngày, Hòa lại cảm thấy một cái đầu quay cuồng,
vật vã trên ngực mình…” (Người đàn bà trên đảo). Những giấc mơ tính dục của
công chúa Savitri là tiếng nói của dục vọng giữa bể khổ trần gian. Trong giấc
mơ của Savitri – người đàn bà tuổi hồi xuân, người tình Yasa hiện về, “vẻ quằn
quại vật vã. Mười mấy năm theo Phật, ám ảnh dục lạc tưởng như đã dẹp bỏ, nay lại
thức dậy quay cuồng” (Đức Phật, nàng Savitri và tôi). Những giấc mơ dục lạc, những
thao tác, hành vi tính dục thừa mứa, đôi khi quá ngưỡng lại mang chứa quan niệm
bể khổ đời người. Giấc mơ của những người đàn bà ở Xóm Chửa Hoang thấy mình ngủ
với cá voi (biểu tượng đàn ông mạnh mẽ; tiếng nói của những cơn khát và hưng phấn
tính dục) – “Một thứ hương đê mê. Gió dồi sóng dập. Trời đất quay cuồng đảo ngược.
Núi đá vặn mình tung tóe nước non” (Dấu về gió xóa). Giấc mơ về tội ác và trừng
phạt cũng lặp lại nhiều lần, là một mã văn hóa xuyên văn bản. Thiện ác là quy
luật tự nhiên. G. Bataille, nhà triết học người Pháp, người ủng hộ cho văn học
viết về cái ác, cho rằng: “Văn học là cơ sở của tồn tại hoặc không là gì cả. Nó
là hình thức thể hiện rõ nét của cái Ác, một cái Ác theo tôi nghĩ, có một giá
trị tối thượng. Quan điểm này không đòi hỏi sự thiếu vắng đạo đức, nó yêu cầu một
“siêu đạo đức” (Bataille, 2016). Trong văn học Việt Nam đương đại, Hồ Anh Thái
là một trong những nhà văn sớm viết về cái ác. Trong nhiều tiểu thuyết Hồ Anh
Thái, cái ác chiếm lĩnh, bầy đàn, đông đúc, dai dẳng. Cái ác muôn hình vạn trạng
dưới mọi hình thức tàn độc. Cái ác hủy hoại nhân tính. Trong ký hiệu quyển đó,
có những giấc mơ thoáng qua, như những “ký hiệu vô bổ” (chữ dùng của A.
Compagnon)[1] chìm khuất giữa các sự kiện xảy ra dồn dập nhưng chính là tiếng
nói chất vấn của lương tri con người. Những giấc mơ thiêng hóa giải lời nguyền,
hướng thiện trong cõi ác; những giấc mơ nhân quả (Mười lẻ một đêm, Cõi người
rung chuông tận thế, Năm lá quốc thư). Khi Hồ Anh Thái viết về nhân quả,
cái chết, nghiệp báo, cứu chuộc, motif tội lỗi – trừng phạt trở thành chủ đề đạo
đức xuyên văn bản, cảnh báo về cái ác ngự trị dẫn đến sự suy thoái đạo đức nhân
văn, đạo đức sinh thái. Quan niệm nhân quả của nhà văn dung hợp giáo lý Phật
giáo, Thiên Chúa giáo lẫn tín ngưỡng dân gian. Ở hiền gặp lành, ở ác đền tội
(dân gian); “do cái này sanh, cái kia sanh”; “do cái này diệt, cái kia diệt”;
gieo nhân nào thì gặt quả ấy (Phật giáo); “Vì chúng nó đã gieo gió và sẽ gặt
bão lốc”, “Tất cả những ai cầm gươm sẽ chết vì gươm” (Sách Khải huyền). Gắn
liền với tín ngưỡng dân gian, làm ác và hành thiện đều gắn với những thế lực
siêu nhiên. Tuy vậy, những yếu tố siêu nhiên trong sáng tạo của Hồ Anh Thái
“không quá xúc phạm tới lý trí” (Todorov). Nó là phương tiện, là ký hiệu để nhà
văn biểu đạt hiện thực thậm phồn, với các chiều kích tâm linh. Mẫu đề cõi người-cõi
tạm-bể khổ lặp lại nhiều lần qua biểu tượng cái chết, hoặc những sát na vô thường. Cõi người
rung chuông tận thế là tác phẩm thể hiện rõ quan niệm đời là cõi tạm, đời
là bể khổ của Phật giáo. Làm ác, hận thù, truy đuổi, báo oán là một chuỗi khổ ải
trầm luân. Nạn nhân của cái ác tồn tại dai dẳng là em bé với môi hôn của thiên
thần, chết đúng vào lễ sinh nhật lần thứ hai, “đôi mắt mở to nhìn đi xa hút.
Trên môi đọng một cái cười nhếch mép. Ở khóe mép là một nếp nhăn hằn sâu của
người già. Cái cười và nếp nhăn của người đã ngộ, đã thành chính quả, đã hiểu hết
và thấu suốt tất cả”; “Đến thăm cõi đời này, nó nhìn xoáy như muốn lột vỏ con
người. Giã biệt cõi đời này, nó nhìn xuyên thấu và nhếch mép cười mọi trò trẻ
con nhăng nhố”. Và trong giấc mơ, nhân vật Đông thấy con gái hiện về trong
“dáng vẻ của một thiếu phụ, tay cầm một bó hoa hồng tua tủa gai”. Trong Tranh
Van Gogh mua để đốt, cô thiếu nữ H’Mông trinh nguyên, mang dáng dấp của Nữ Thần
Sống, trong một khoảnh khoắc mà như sống qua hai kiếp. Khi cô gái đọc những cuốn
sách trắng cô bỗng như trải qua nhiều kiếp khổ. Những tri thức cổ kim đông tây
mà cô “khai quật lên từ những trang giấy trắng mù thì không một đứa con gái hồn
nhiên vô tư nào có thể mang nặng trên vai”. Trong khoảnh khắc ấy “trên gương mặt
cô vẻ già sọm của một bà cụ. Cô gái đã hóa thành bà lão”; “Đấy là vẻ của một
người tóc bạc trắng chỉ sau một đêm vì đau thương”. Tiểu thuyết Hồ Anh Thái
giàu chất triết lý. Có lúc nhà văn diễn giải dài qua lời trần thuật, nhưng phần
lớn những suy tư chiêm nghiệm toát lên từ các chuỗi ký hiệu xuyên văn bản,
thành nét chủ đạo trong lối viết của nhà văn.
Liên ký hiệu biểu đạt hiệu quả tính liên văn hóa/liên tôn
giáo
Nhà triết học người Áo, Ludwig Josef Johann Wittgenstein –
người được xem là có đóng góp lớn đối với sự ra đời của triết học liên văn hóa,
chủ trương “dung hòa chủ nghĩa tương đối văn hóa với chủ nghĩa
phổ quát văn hóa và cố gắng tìm ra tính thống nhất trong sự đa dạng của
các nền văn hóa, các thế giới quan và các phương thức sống khác nhau” (Nguyen,
2019). Từ góc nhìn liên văn hóa, dẫu tác phẩm Hồ Anh Thái đa dạng về đề tài,
các kiểu nhân vật cũng như nghệ thuật tự sự, nhưng điểm thống nhất trong tiểu
thuyết của ông là luôn có sự đối thoại và thống hợp các nền văn hóa của các dân
tộc có căn tính, bản sắc khác nhau. Ngay cả những tiểu thuyết về chuyện đời xô
bồ nhốn nháo dục lạc và cái ác cũng đan xen những mảnh ghép giàu trữ lượng liên
văn hóa. Trong các văn bản, chuỗi ký hiệu với chất kết dính của nó đã kiến tạo
một thế giới nghệ thuật mang tầm khái quát cao. Đặc biệt, trong số các nhà văn
chuyên viết về tôn giáo, Hồ Anh Thái là người thể hiện nhất quán quan niệm liên
tôn. Nhà văn nhìn thấy sự hòa hợp giữa các tôn giáo trên nền tảng riêng của từng
giáo phái. Điểm gặp gỡ giữa các tôn giáo Đông Tây là tinh thần vì con người, hướng
về cuộc sống hài hòa, ổn định của con người. Dẫu Đức tin có khác nhau, nhưng
các tôn giáo lớn đều hướng đến khổ nạn kiếp người; mong mỏi cuộc sống an
yên cho muôn loài.
Erich Fromm đã chỉ ra điểm chung giữa các tôn giáo với quan
niệm: “Vấn đề tôn giáo không phải là vấn đề thượng đế mà là vấn đề con người; sự
hình thành các tôn giáo và những biểu tượng tôn giáo là những nỗ lực nhằm diễn
đạt một số dạng trải nghiệm của con người” (Fromm, 2012, 166). Xoay quanh vấn đề
Con Người – Thiện Ác, Hồ Anh Thái cho rằng, tôn giáo “như một cái phanh hãm, nó
có thể phanh thắng con người dừng lại bên bờ vực tội lỗi, trước vùng ranh giới
thiện-ác, bóng tối-ánh sáng” (Dấu về gió xóa). Tư duy liên tôn giáo thể hiện một
cách nhìn, một lối suy nghiệm đa chiều về thế giới và con người. Vốn tri thức
phong phú từ việc tiếp nhận các luồng tư tưởng Đông Tây cộng với những thực chứng
từ nhiều vùng đất thánh nhà văn đã sống, qua hệ thống liên ký hiệu đã chuyển
hóa thành những khái quát mang tầm triết lý nhân sinh. Cõi người rung
chuông tận thế đan xen những quan niệm, nghi thức của tín ngưỡng dân gian,
Phật giáo và Thiên chúa giáo. Đức Phật, nàng Savitri và tôi không đơn
thuần là Phật sử. Năm lá quốc thư chủ yếu viết về căn tính của người
Việt nhưng bên cạnh đó là những mảnh ghép về Hồi giáo. Quan niệm liên tôn giáo
có khi được biểu đạt qua hình thức liên văn bản (Kinh Phật, Thánh kinh, lời của
Hindu giáo, Hồi giáo…) hoặc qua diễn ngôn người kể chuyện; có lúc qua chuỗi ký
hiệu/biểu tượng về tính thiêng. Từ quan niệm liên tôn, tiếng chuông trong tiểu
thuyết Hồ Anh Thái là “tiếng nói” của nhiều tôn giáo. Dấu về gió xóa là
tác phẩm luận bàn nhiều về các tôn giáo. Nhà văn nhìn ra điểm chung của các tôn
giáo là đều hướng con người đến thiện lành. Vì vậy, ở Đảo Xanh có một ngôi đền Đa
giáo, Hợp chủng giáo; có tiếng chuông dành cho mọi tín đồ: “Chuông nhà thờ đánh
suốt ngày, ban đầu là đánh chuông cho người Tin Lành người Thiên Chúa giáo. Sau
rung chuông cho người Hindu, người Hồi giáo người Hỏa giáo, sau thỉnh chuông
cho Phật giáo”. Trong Cõi người rung chuông tận thế, từ tiếng chuông chùa,
một biểu tượng thiêng của Phật giáo, kết thúc câu chuyện về cái ác là thông điệp
mang tinh thần Thuyết mạt thế của Thiên chúa giáo. “Bất đồ chuông
chùa rung thảng thốt… Sư cụ đã bị cướp mất bình yên. Chuông giận dữ đổ ập
vào không gian… Cả cõi người bị nhấn chìm trong một trận hồng thủy ngập
tràn kim loại”. Trong âm thanh tiếng chuông chùa hoảng loạn là “sấm ngôn”
về “thời giờ đã gần đến”, về “một điều gì đó sắp phải xảy ra”, trong đó có mặc
khải tận thế (Kinh Thánh). Hồng thủy kim loại, biển lửa… là những ký hiệu thẩm
mỹ mang tính cảnh báo về tình trạng phi nhân dẫn đến tận diệt. Nếu Lửa
trong Cõi người rung chuông tận thế là lời cảnh báo về hủy diệt sinh
thái trước cái Ác thì thông điệp này cũng xuất hiện ở những tiểu thuyết sau –
“Cả thành phố như đang chìm trong lửa… Cơn giận dữ của Đức Chúa đang ở trên
thành phố”; “Cả một biển lửa đang trùm lên khắp thành phố, khói làm
dân chúng ngạt thở, người ta ngất đi hoặc lao vào lửa vì đã hóa điên…” (Dấu về
gió xóa).
3- Kết luận:
Hồ Anh Thái là một trong số những nhà tiểu thuyết có ý thức trong việc tạo ra những chùm tác phẩm cùng một đề tài nhưng không cùng một thủ pháp. Trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái, lượng thông tin về các miền văn hóa, các cộng đồng văn hóa “phì đại” qua một hệ thống ký hiệu liên kết chặt chẽ. Tính chất liên ký hiệu khiến tác phẩm trở thành những mã thẩm mỹ, dung chứa nhiều vấn đề trong mạch ngầm văn bản. Điều này khiến các tác phẩm của Hồ Anh Thái không chỉ là những văn bản độc lập, có đời sống riêng mà còn là những văn bản luôn được phái sinh cùng với các văn bản khác. Kiến tạo văn bản từ các chuỗi ký hiệu, hàm lượng thông tin, hàm lượng văn hóa trong tiểu thuyết Hồ Anh Thái được bung nở đa chiều kích. Vừa thống nhất, vừa lạ hóa trong lối viết, qua hệ thống liên ký hiệu, có thể xem tiểu thuyết Hồ Anh Thái là “những cuốn tiểu thuyết biết suy nghĩ” (Kundera).
Tài liệu tham khảo:
Barthes, R. (2008). Những huyền thoại (V. T. Phung,
Trans.). Tri thức.
Bataille, G. (2016). Văn học và cái ác (N. Xuyen,
Trans.). Thế giới.
Chevalier, J., & Gheerbrant, A. (2002). Từ điển biểu
tượng văn hóa thế giới: Huyền thoại, chiêm mộng, phong tục, cử chỉ, dạng thể,
các hình, màu sắc, con số. Đà Nẵng.
Compagnon, A. (2006). Bản mệnh của lý thuyết – Văn
chương và cảm nghĩ thông thường (H. S. Le, & A. D. Dang, Trans.). Đại
học Sư phạm.
Eliade, M. (2018). Bàn về nguồn gốc các tôn giáo (V.
C. Doan, & L. T. Do, Trans.). Khoa học xã hội.
Freud, S. (2018). Về giấc mơ & diễn giải giấc mơ (H.
T. Nguy, Trans.). Thanh niên.
Fromm, E. (2012). Phân tâm học và Tôn giáo (V. H.
Luu, Trans.). Từ điển Bách khoa.
La, N. (2018). Phê bình ký hiệu học. Phụ nữ.
Le, H. B. (2018). Ký hiệu và liên ký hiệu. Tổng hợp.
Lotman, I. M. (2015). Ký hiệu học văn hóa (N. La,
H. P. Do, & D. S. Tran, Trans.). Đại học Quốc gia Hà Nội.
Nguyen, V. H. (2019). Giao tiếp liên văn hóa trong bối cảnh
toàn cầu hóa: Một số vấn đề triết học. Chúng ta.
https://www.chungta.com/nd/tu-lieu-tra-cuu/
giao_tiep_lien_van_hoa_trong_boi_canh_toan_cau_hoa-2.html
Todorov, T., Le, H. S., & Dang, A. D. (2008). Dẫn luận
về văn chương kỳ ảo. Đại học Sư phạm.
Trinh, B. D. (2017). Từ ký hiệu đến biểu tượng. Khoa học
xã hội.
Zohar, I. E. (2014). Lý thuyết đa hệ thống trong nghiên
cứu văn hóa, văn chương (H. Y. Tran, & D. N. Nguyen, Trans.). Thế giới.
[1] Trong Bản mệnh của lý thuyết (Compagnon, 2006), Compagnon nêu khái niệm “ký hiệu vô bổ” và giải thích đó là những chi tiết “thừa”, quấy rầy bởi nó hoàn toàn vô thưởng vô phạt, không đáng kể, chẳng có chức năng gì từ điểm nhìn của phân tích cấu trúc truyện kể.
Đà Nẵng, 8/6/2021
Lê Thị Hường
Nguồn:
Theo https://vanhocsaigon.com/
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét