Sống cùng thời với văn chương
“Sống cùng thời với văn chương” của Lý Hoài Thu đã tìm ra được chìa khóa, giải mã sinh thể tiểu thuyết của Bùi Việt Thắng về phương diện lý thuyết và khảo sát các hiện tượng một cách chặt chẽ, chính kiến rõ ràng.
Thể loại, nhân vật chính của câu chuyện văn chương luôn có một
ý nghĩa quan trọng/ quyết định đối với sự nghiệp người cầm bút. Dù là người
sáng tác hay nghiên cứu, phê bình, sự lựa chọn thể loại không chỉ là sở trường
mà còn làm nên “bản mệnh” của một đời văn. Từ hệ qui chiếu lý thuyết này, rất dễ
dàng nhận thấy sự gắn bó dài lâu, tâm huyết của Bùi Việt Thắng với tiểu thuyết
– một thể loại được mệnh danh là “hình thái chủ yếu của nghệ thuật ngôn từ”
ngay từ thế kỷ XIX, trải qua nhiều chặng đường vận động và phát triển, bảo lưu
và tiếp biến, “cỗ máy cái” vẫn là “mặt tiền” của mọi thời đại và luôn đứng ở vị
trí then chốt trong đời sống văn học nhân loại. Mang tâm thế cộng cảm, chọn tiểu
thuyết như một thứ “sinh ngữ trẻ”, một hình thái tư duy gắn với “thì hiện tại
chưa hoàn kết”, sau Bàn về tiểu thuyết (Nxb Văn hóa -Thông tin
2000), Tiểu thuyết đương đại (Nxb Quân đội nhân dân 2005), Thi
pháp tiểu thuyết hiện đại là sự tiếp nối mạch chuyên sâu lập nên “thương
hiệu”, thi pháp phê bình, phản ánh tầm nhìn sâu sắc, đa chiều của một chuyên
gia qua từng bước song hành cùng diễn trình tiểu thuyết Việt Nam hiện đại và
đương đại.
Từ nhãn quan thi pháp, nhằm diễn giải thực thể tiểu thuyết Việt Nam hiện đại qua hệ thống ký hiệu mang dấu ấn đặc trưng, nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã triển khai nội dung cuốn sách thành 3 phần theo logic từ lý thuyết đến thực tiễn, từ tổng thể đến cụ thể, từ những vấn đề mang tính khái quát chung đến sự đặc tả các chân dung, trường hợp, hiện tượng sinh động… Bao hàm: Phần thứ nhất: Cảnh quan và vấn đề của tiểu thuyết đương đại. Phần thứ hai: Tiểu thuyết và những cách đọc. Phần thứ ba: Tác phẩm và dư luận. Chính từ sự phối kết các điểm nhìn, các góc tiếp cận đa dạng đó, bức tranh tiểu thuyết đương đại Việt Nam đã hiển thị rõ nét trong tính toàn cảnh và nhiều màu của nó.
Về phương diện lý thuyết, bằng những trải nghiệm khoa học
chín chắn, sắc sảo, Bùi Việt Thắng đã tìm đến hai tên tuổi lớn trong lĩnh vực
nghiên cứu tiểu thuyết đó là nhà thi pháp học người Nga M – Bakhtin và nhà tiểu
thuyết/ tiểu thuyết học người Pháp gốc Séc M – Kundera. Trong phối cảnh đan xen
nhiều trường phái lý luận mới được du nhập vào Việt Nam thì đây là hai chân
dung khoa học đặc sắc, có sức ảnh hưởng lớn đến cộng đồng tiểu thuyết đương đại,
bao gồm cả giới nghiên cứu và sáng tác.Với M – Bakhtin, Bùi Việt Thắng đã có sự
tiếp nhận đồng bộ từ tư duy nghệ thuật đến thế giới hình tượng mà biểu trưng là
nhân vật – con người số phận, từ cách kiến tạo văn bản đến tính phức điệu, đa
thanh, tính đối thoại, nhiều bè của cơ chế ngôn ngữ tự sự. Với M – Kundera, về
nội dung cảm hứng, anh đặc biệt quan tâm đến tính nhân văn khi nhà nghiên cứu
thông thái gắn sứ mệnh của tiểu thuyết với phạm trù đạo đức và coi hành vi viết
là nhằm bảo vệ cuộc sống và xa hơn là chống lại sự lãng quên con người. Về nghệ
thuật biểu đạt, lối viết, anh nhấn mạnh đến nghệ thuật kết cấu và phép tính lược,
mô hình tiểu thuyết ngắn và hình thức kết cấu đa âm như là một “liên kết”, hòa
trộn giữa tiểu thuyết và âm nhạc, đến “tiếng gọi của trò chơi”, “tiếng gọi của
giấc mơ”, “tiếng gọi của thời gian”… như là những đặc tính tiêu biểu của thể loại.
Thâm nhập, nghiền ngẫm những tư tưởng, triết lý được gửi gắm trong các công
trình nổi tiếng như Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Mấy vấn đề thi
pháp Đôxtôiépxki – M. Bakhtin; Nghệ thuật tiểu thuyết, Những di
chúc bị phản bội – M Kundera…, Bùi Việt Thắng đã đúc kết vấn đề bằng
một so sánh chí lý, thú vị: “Nếu như M – Bakhtin có cái phẩm tính vừa hàn lâm vừa
nghệ sĩ trong cách thể hiện những tư tưởng khoa học của mình thì M – Kundera
nghiêng hẳn về phía người nghệ sĩ”… Từ phát hiện đó, anh đã tìm ra được một
cách ứng dụng khả thi, phù hợp với “tầm đón đợi” của cộng đồng diễn giải đương
thời ở Việt Nam: “… điều đó khiến cho sự tiếp nhận của chúng ta hết sức phóng
khoáng, nhưng không vì thế mà thiếu đi sự uyên thâm uyên bác trong cách đề xuất
và kiến giải các luận điểm khoa học mới mẻ về văn học nói chung, tiểu thuyết
nói riêng” (tr. 26).
Dựa vào kinh nghiệm nghiên cứu tiểu thuyết dầy dặn, kết hợp với
sự tiếp đón các xu hướng lý thuyết mới của thời kỳ hội nhập, giao lưu, soi rọi
vào sinh thể tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Bùi Việt Thắng với cảm quan văn
chương nhạy bén, khoa học, đã khái quát được một số vấn đề cơ bản của đặc
trưng/ thi pháp thể loại: từ quan niệm về tiểu thuyết đến cách thức kiến tạo thế
giới nghệ thuật, từ sự dịch chuyển của hệ thống đề tài đến sự mờ nhòe của lằn
ranh thể loại, từ kết cấu đến ngôn ngữ… Trong tương quan lịch đại và đồng đại,
cảnh quan tiểu thuyết Việt Nam được phác dựng, nhìn nhận, đánh giá trước hết là
ở tinh thần đổi mới tư duy tiểu thuyết. Nghĩa là việc lý giải những dấu hiệu
cách tân về thi pháp thể loại trong ngữ cảnh mới đều có nguồn gốc sâu xa từ
trong ý thức sáng tạo, quan điểm sáng tác. Khi sự cởi mở trong nhận thức của
các chủ thể tiểu thuyết được gặp gỡ với những tư tưởng lớn như M – Bakhtin, M –
Kundera, thực thể tiểu thuyết Việt Nam được tiếp sức bởi một nguồn năng lượng mới
và khởi sắc. Bên cạnh các yếu tố bảo lưu như một “mã di truyền” thể loại, tiểu
thuyết Việt Nam hôm nay xuất hiện những phiên bản mới theo chiều hướng hiện đại
hóa. Đó là sự biến đổi trong cấu trúc thể loại dẫn đến lối viết giản lược nhân
vật và cốt truyện và sự ra đời của mô hình tiểu thuyết ngắn, nhằm thỏa hiệp với
“góc độ kinh tế và cơ chế đọc mới”, là sự trở lại của đề tài chiến
tranh và đề tài lịch sử song tồn cùng dòng tiểu thuyết “thân xác” và tiểu thuyết
tư liệu về chiến tranh, tiểu thuyết tâm linh v.v… Tất cả hợp lưu thành một dòng
chảy chưa thể và không thể gọi là đã định hình nhưng sự linh hoạt trong các góc
tiếp cận và độ tin cậy trong luận giải giúp chúng ta hình dung được diện mạo tổng
thể của tiểu thuyết Việt Nam cuối thế kỷ XX đầu XXI.
Nhằm phóng chiếu tầm nhìn tổng quan với những vấn đề lý thuyết
được khai mở trong phần thứ nhất, phần thứ hai của tập sách mang tên Tiểu
thuyết và những cách đọc là các góc quan sát ở cự ly gần thông qua việc lựa
chọn/ định vị điểm rơi tác giả và tác phẩm. Nếu như ở khung lý luận chung, nhà
nghiên cứu Bùi Việt Thắng viết bằng phong thái ngẫm suy, trầm tĩnh thì ở phần
khảo sát các hiện tượng, trường hợp cụ thể này, ngòi bút của anh trở nên linh
hoạt, uyển chuyển, có sự biến hóa và sáng tạo. Sự mở rộng trường nhìn tỏ ra hữu
hiệu trong việc kiến tạo/ gia tăng các kênh giao tiếp. Tuy nhiên vấn đề không nằm
ở số nhiều, ở biên độ rộng rãi của mạng lưới tiếp xúc mà quan trọng nhất vẫn là
tìm ra những cách đọc, cách giải mã sinh thể tiểu thuyết. Một đội ngũ đông đảo
các cây bút tiểu thuyết hiện đại/ đương đại đã được qui tụ, phát hiện tạo thành
một “liên chủ thể” có cùng hành vi sáng tạo trên cơ sở mẫu số chung là tư duy
thể loại. Dù muốn dù không, đằng sau những thông tin đơn giản về thành phần, giới
tính nhà văn (già trẻ, gái trai), “đọc chậm” hơn, chúng ta lại cảm nhận được ý
thức “sắp đặt”, “quy hoạch” nhóm, phái của Bùi Việt Thắng. Rõ ràng, đó là cách
thức hữu hiệu giúp nhà nghiên cứu thông qua bản thể nhà văn để minh định bản chất
văn chương. Với loại hình tác giả “văn nhân quân đội”, bên cạnh việc tái khẳng
định nguyên lý “chiến tranh là siêu đề tài”, “người lính là siêu nhân vật”, ở mỗi
trường hợp cụ thể, anh đều có lối tiếp cận và cách “thông diễn” riêng. Nếu điểm
nhấn trong Lính trận của Trung Trung Đỉnh là sự trở lại của “nhân vật
đám đông” vốn được coi là sở hữu của văn học chiến tranh cách mạng nhưng lại được
nhà văn khắc họa bằng một cảm thức phản tỉnh mới nhằm tỏ rõ sự bất bình trước
thói vô cảm, thậm chí là thui chột cảm xúc về tình “đồng loại, đồng đội”, đồng
chí… thì Mưa đỏ của Chu Lai là “một dấu mốc sáng tác” trên hành trình
tiểu thuyết của một nhà văn có “bút lực dồi dào” và “cá tính văn chương mạnh mẽ”
lại nổi bật ở tính nhân văn và tinh thần hòa hợp dân tộc. Nếu nhìn lại sự nghiệp
văn học, đóng góp của Lê Lựu vào nền văn chương nước nhà là thuộc về tiểu thuyết
và được nhà nghiên cứu bình chọn (vote) là 1 trong 5 nhà văn xuôi tiêu biểu
trong giai đoạn chuyển giao cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI thì Khuất Quang Thụy
vẫn rất sung sức và mới đây vừa tiếp tục chinh phục bạn đọc với Đỉnh cao
hoang vắng – một tác phẩm viết về chiến tranh bằng trải nghiệm văn hóa có
gốc rễ sâu bền trong tâm thức Việt: “Chiến thắng cuối cùng vẫn thuộc về nhân
dân, về đất nước… Đó là xác tín của nhà văn lúc đặt bút viết Đỉnh cao
hoang vắng. Nhưng với tư cách là một độc giả, tôi nghĩ, đó là chiến thắng của
văn hóa Việt Nam trong chiến tranh gian khổ và ác liệt” (tr. 349). Tương tự là
một số tác giả cùng “châu tuần” quanh đề tài chiến tranh cũng đã được anh viết
bằng nhiều suy tư xen cảm xúc như Những giọt nước mắt đỏ trong tiểu
thuyết của Trần Huy Quang, Quyền uy của tư liệu nhìn từ hiện tượng“Biên bản
chiến tranh 1, 2, 3, 4, 75” của Trần Mai Hạnh, Máu người không phải là nước
lã (đọc Dòng sông mang lửa của Hồ Sỹ Hậu), Ký ức lương
thiện (đọc Thư về quá khứ của Nguyễn Trọng Tân), Người
đi từ trong rừng ra viết văn (đọc Rừng đói của Nguyễn Trọng
Luân), Một cách nhìn chiến tranh (đọc Cát trọc đầu của Nguyễn
Quang Vinh)… Từ điểm nhìn và cảm quan đương đại, các bài viết của Bùi Việt Thắng
về đề tài này đã có dáng dấp của một kiểu diễn ngôn phê bình thời hậu chiến, những
vấn đề của chiến tranh được đặt trong bối cảnh sinh thái xã hội rộng lớn và thấm
đượm tính nhân văn.
Trong cơ cấu loại hình của tiểu thuyết Việt Nam đương đại,
Bùi Việt Thắng còn quan tâm sâu sắc đến các kiểu/ loại tác giả viết về đề tài lịch
sử, đề tài thế sự, đề tài tình yêu, đề tài trinh thám…, và tương ứng với mỗi
khuynh hướng, hiện tượng anh đều thiết lập được cách đọc, lối thâm nhập mang lại
hiệu ứng thẩm mỹ tích cực. Nếu dòng tiểu thuyết lịch sử được hình thành, vận động
và phát triển trên tinh thần “ôn cố tri tân”, lấy quá khứ để giải đáp hiện tại
qua Tiếp cận tiểu thuyết Nguyễn Xuân Khánh từ phương diện kết cấu thể loại, Tiểu
thuyết lịch sử của Nguyễn Thế Quang, Giải mã những bí ẩn của lịch sử (đọc
Phùng Vương của Phùng Văn Khai), Tiểu thuyết“Mỹ nhân với đồng cỏ” của Lê
Hoài Nam, Tiểu thuyết“Trong vô tận”của Vĩnh Quyền,… thì mảng tiểu thuyết
viết về đề tài thế sự mang tính chất luận đề là cách giải minh thực tại phồn tạp,
xô bồ bằng cái nhìn trực diện gồm Làm người là khó (đọc Người thợ mộc
và tấm ván thiên của Ma văn Kháng), Bi kịch lạc quan (đọc Gã
tép riu của Nguyễn Bắc Sơn), Phát lộ Đặng Vương Hưng (đọc Những
kẻ giời hành của Đặng Vương Hưng), Chuyện tử tế (đọc Lạc
giữa cõi người của Phạm Quang Long), Sống mà nhớ lấy (đọc Kiếp
người của Hữu Ước), Đi tìm thời gian đã mất (đọc Ranh giới
đỏ của Trương Đức Giáp), Cái nhìn lập thể đời sống (đọc Con
chim Joong bay từ A đến Z của Đỗ Tiến Thụy), Tiểu thuyết “Hơn
cả tình yêu”của Nguyễn Trường, Thức ăn tinh thần cho con người là bao
nhiêu (đọc Mùa khát của Nguyễn Việt Chiến), Xã hội Ba đào ký mới (đọc Kim
Kổ Kỳ Kuặc Ký của Trần Nhương)… Ngoài ra, lọt vào “con mắt xanh”
của nhà nghiên cứu còn là gương mặt khả ái một số cây bút nữ đã tạo được dấu ấn
riêng trong lối viết, trừ trường hợp khả kính Đạm Phương Nữ Sử – một đại diện
tiên phong/ tân tiến của dòng văn học nữ lưu đầu thế kỷ XX ở Việt Nam được rút
ngắn khoảng cách bằng việc vận dụng thuật ngữ “ca nông” trong phương thức đọc;còn
lại đa phần là các tác giả xuất hiện gần đây trên diễn đàn tiểu thuyết. Tiếp cận
văn chương phái đẹp, anh đã cảm nhận tinh tế sắc hương và cá tính, sở trường của
từng ngòi bút bằng các tiểu luận Theo vết chân trần trong tiểu thuyết
Thùy Dương, Phố Thúy (nghĩ về Cửa hiệu giặt là của Đỗ
Bích Thúy), Huyết ngọc và dòng văn học trinh thám (đọc Huyết ngọc của
Tống Ngọc Hân), Tiểu thuyết trinh thám Việt Nam – Trường hợp Di Li và
“Trại hoa đỏ”. Cổ tích tình yêu thời hiện đại (đọc truyện dài/
tiểu thuyết của Meggie Phạm), Ngoài trời còn có trời (đọc Đáy giếng của
Phạm Thị Bích Thủy), Nguyễn Thị Anh Thư từ truyện ngắn đến tiểu thuyết…
Về lối dựng chân dung, có thể kể đến Sức vóc Nguyễn Hiếu qua tiểu
thuyết, Bùi Việt Sỹ: “Đời văn của tôi thành công nhờ/với tiểu thuyết”vv và vv… Liên
kết các mảnh ghép lớn ấy vào một màn hình tổng thể, “cấu trúc động” của tiểu
thuyết Việt Nam đã được khám phá trên nhiều bình diện, từ bề rộng, chiều sâu đến
từng phong cách, cá tính riêng, vừa có tầm vóc, vừa sống động.
Phần thứ ba: Tác phẩm và dư luận là hồi âm từ hai bài viết của
đồng nghiệp được “tinh tuyển” một cách khiêm tốn như những sẻ chia về kinh nghiệm
nghiên cứu – phê bình, đồng thời là tiếng nói khách quan, khẳng định tâm sức,
tài năng và những cống hiến của Bùi Việt Thắng với tư cách là một chuyên gia về
lý luận tiểu thuyết.
So với các chuyên luận về tiểu thuyết trước đây, Thi
pháp tiểu thuyết hiện đại có sự chuyển hướng đồng bộ, khá mới mẻ và cuốn
hút hơn cả trong tư duy nghiên cứu, cảm hứng phê bình lẫn nghệ thuật viết. Bên
cạnh các tiểu luận phê bình còn có sự tham góp của các bản tham luận khoa học,
các bài phỏng vấn, đàm đạo, tranh luận – đối thoại, thư ngỏ… Tuy vẫn nhất quán
trong hệ thống lý thuyết kinh điển, hàn lâm nhưng đã có nhiều góc mở trong tiếp
nhận các xu hướng lý luận hiện đại và vận dụng nó một cách nhuần nhuyễn vào việc
kiến giải cấu trúc nội tại của tiểu thuyết Việt Nam. Nhiều “tít” bài của Bùi Việt
Thắng vừa gợi cảm, vừa hàm ẩn. Nhiều nhận định, xác quyết của anh rất có trọng
lực. Chẳng hạn: “Nhưng sẽ là ngây thơ và dễ dãi nếu cho rằng bước chuyển của
văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng đã là hoàn tất khi chuyển dịch từ phản
ánh “tập thể” đến “cá thể”. Tiểu thuyết thế kỷ XXI cho thấy, từ “cá thể” đến “bản
thể” mới là bước chuyển quan trọng, vì ở đó con người mới được khám phá toàn diện
hơn, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn. Định đề “văn học là nhân học” đã có lúc chúng ta
nghĩ là cũ kỹ bỗng chốc lại phát sáng, soi rọi nhiều bí ẩn cuộc đời” (tr.94).
Lý thuyết liên văn bản được anh khai thác như một tiềm năng để tiếp cận Truyện
Kiều và chủ thể Nguyễn Du thật hợp lẽ: “Truyện Kiều là một văn bản mở,
hậu thế có thể đọc nó từ nhiều phía (chính trị, kinh tế, xã hội, tâm lý, đạo đức,
phong tục tập quán, triều chính, binh đao, tình dục…). Nguyễn Du là một con người
đa nhân cách với ý nghĩa là một nhân vật văn học chính yếu trong tác phẩm cùng
tên” (tr.255). Vai giao tiếp, điểm nhìn của nhà nghiên cứu luôn có sự xê dịch,
chuyển đổi, cự ly trần thuật đã được rút ngắn/ hòa nhập để tạo nên sự thấu cảm,
đồng điệu: “Có người thích cái cách nhà văn viết về những “thâm cung bí sử” của
ngành Công an (trường hợp Hữu Ước). Tôi và những độc giả công tâm nhất quyết
không nghĩ hạn hẹp theo lối này vì nếu như thế thì tác phẩm dễ rơi vào cái gọi
là “tiểu khí văn chương”. Ở đây cao hơn là những nỗi đau, những bể dâu, những
đoạn trường mà nhân vật chính (và có thể là chúng ta, gọi chung là “kiếp người”)
đã trải qua” (tr.333). Chính cách viết biến hóa, linh hoạt đó đã hóa giải sự
khô khan của hệ thống lý thuyết, tạo nên sự hài hòa, hô ứng giữa “luận” và “cảm”
trong phê bình, là yếu tố tạo độ hấp dẫn và góp phần không nhỏ vào việc “làm đầy”
giá trị cuốn sách.
Đồng hành với văn chương cùng thời, sống và viết bằng nhiệt
tâm vì sự phát triển của nền tiểu thuyết nước nhà, Bùi Việt Thắng đã mang đến
cho diễn đàn lý luận hôm nay một tập tiểu luận phê bình giàu ý nghĩa khoa học
và thực tiễn: bài bản trong lập thuyết nhưng năng động, sáng tạo trong luận
bình, kiến giải; mực thước mà không bảo thủ; khoan hòa mà không dễ dãi; đổi mới
mà không thách thức, gây hấn… Những phẩm chất cần thiết đó luôn được điều phối
để tạo nên sức cảm hóa của tập sách và tính chuyên nghiệp trong phong cách
nghiên cứu, phê bình của một trong những chuyên gia hàng đầu về tiểu thuyết nói
riêng và văn xuôi Việt Nam hiện đại nói chung.
Nếu cần một lưu ý với tác giả, tôi nghĩ anh nên quan tâm hơn đến sự cân đối giữa các phần bố cục và giá như anh vận dụng “phép tỉnh lược” của M. Kundera vào việc căn chỉnh, dàn dựng nội dung thì tập sách sẽ gọn gàng, thanh thoát và phù hợp hơn với cơ chế tiếp nhận đương thời. Song đây chỉ là cảm tưởng chủ quan của một người đọc luôn hướng đến sự hoàn mỹ, cầu toàn.
14/5/2022
Lý Hoài Thu
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét