"Vượt sóng", những
trầm tư sống động về viết
Linda Lê sinh năm 1963 tại Đà Lạt, lớn lên ở Sài Gòn.
Năm 14 tuổi theo mẹ sang Pháp, sống ở thành phố Le Havre. Năm 1981, bà chuyển đến
Paris. Bà viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp nhưng các tác phẩm phần lớn đều được
dịch sang tiếng Anh, Hà Lan, Bồ Đào Nha và cả tiếng Việt. Linda Lê quay lại với
độc giả quê nhà bằng cuốn Vu khống (2009), Sóng ngầm (2012), Thư
chết (2014), Vượt sóng (2020). Nhà văn Linda Lê từng nói: “Viết,
là tự lưu đày bản thân”.
Linda Lê vừa mất ngày 9.5.2022, ở tuổi 59. Nhà phê bình Hoài Nam xem Vượt sóng như một chốc lát ngoái nhìn điểm khởi đầu của một hành trình văn nghiệp mang tên Linda Lê. Tưởng nhớ bà, Vanvn.vn xin trân trọng giới thiệu bài viết đến bạn đọc.
Nói đến các tác giả nữ của văn xuôi Việt Nam đương đại, với một
cái nhìn cởi mở và vượt thoát khỏi biên giới lãnh thổ quốc gia, người ta hay nhắc
đến những cái tên như: Lê Minh Hà, Đoàn Minh Phượng, Thuận, Lê Ngọc Mai, Phạm Hải
Anh, Mc Ammond Nguyen Thi Tu, Phan Việt, Hiệu Constant v.v… và có khi, cả Linda
Lê (sinh năm 1963). Những nữ tác giả này đều là người gốc Việt, hiện đang sống
và viết ở nhiều quốc gia ngoài Việt Nam. Nhưng trong số nhà văn vừa kể trên,
Linda Lê là một khác biệt. Bà định cư ở Pháp từ năm 14 tuổi, viết bằng tiếng
Pháp, và chỉ bằng tiếng Pháp mà thôi. Linda Lê từng trả lời phỏng vấn “Tạp chí
Sông Hương”, năm 2010: “Tôi có một tình yêu sâu sắc với Pháp ngữ. Đó là bến đậu
duy nhất của tôi”. Một không gian sinh tồn đặc định, và quan trọng hơn, một sự
lựa chọn dứt khoát về ngôn ngữ sáng tác như vậy, có lẽ đã đủ để đặt Linda Lê nằm
ngoài tập hợp “Văn chương Việt Nam ở hải ngoại”: Bà là nhà văn Pháp gốc Việt,
và tác phẩm của bà thuộc về nền văn chương Pháp ngữ. (Tương tự như Lan Cao, Kim
Thuy, Viet Thanh Nguyen…, những nhà văn gốc Việt sống ở Mỹ và chỉ viết bằng tiếng
Anh). Đây là điều rất đáng lưu ý mỗi khi ta chạm tới những vấn đề có liên quan
xa gần đến Việt Nam trong các tác phẩm của bà.
Tính cho đến nay, Linda Lê đã xuất bản gần ba mươi đầu sách,
gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch, tiểu luận, và được xem như một trong những
hiện tượng sáng chói của văn chương di dân viết bằng tiếng Pháp. Sáu tác phẩm của
bà đã được dịch và xuất bản ở Việt Nam, gồm: tập truyện ngắn “Lại chơi với lửa”,
các tiểu thuyết “Vu khống”, “Thư chết”, “Tiếng nói”, “Sóng ngầm”, và “Vượt sóng”.
Hai tác phẩm sau ra mắt độc giả tiếng Việt gần như cùng lúc, năm 2018, khi mà “Sóng
ngầm” (Hồ Thanh Vân – Bùi Thu Thủy dịch, Công ty Nhã Nam & NXB Hội Nhà văn)
đã được nhuộm hào quang của một trong bốn tiểu thuyết vào đến chung kết giải
Goncourt danh giá năm 2012. Nhưng tôi muốn quan tâm nhiều hơn tới “Vượt sóng”
(Phạm Duy Thiện dịch, Công ty Tao Đàn & NXB Hội Nhà văn). Bởi đây là tiểu
thuyết mà tác giả đã chất chứa rất nhiều những trầm tư sống động của một nhà
văn về công việc/ hành vi viết, mục đích và ý nghĩa của nó, thậm chí cả sự vô
nghĩa vĩ đại của nó nữa, cái công việc/ hành vi viết ấy.
“Vượt sóng” là câu chuyện của một người kể chuyện xưng Tôi, một
nhà báo trẻ chuyên trị mảng văn hóa nghệ thuật, kể về quá trình anh truy tìm những
dấu vết để phục dựng diện mạo tinh thần đầy đủ và chân xác của nhà văn Antoine
Sorel, người đã nhảy lầu tự tử vào đúng ngày anh đặt chân đến thành phố cảng Le
Havre. Công cuộc truy tìm có lẽ đã không diễn ra nếu trước đó, cùng ngày, Tôi
không đọc một tiểu thuyết của Antoine Sorel và bị choáng ngợp bởi một “sáng tạo
gia khác thường”. Niềm vui của Tôi là “niềm vui khi phát hiện ra một nhà văn
thuộc loại hiếm đang tuyệt chủng, một nhà văn kế thừa tư tưởng của những nhà
luân lý học thế kỷ 17, một nhà văn không hề là kẻ thù của nhân loại nhưng biết
cách đặt người đọc vào tình thế không dễ chịu của một kẻ mộng mơ tỉnh táo không
có khả năng chấp nhận cuộc chơi”. Tôi nhận thấy ở tác phẩm của Antoine Sorel thứ
văn chương “được viết với một sự cấp bách từ nội tâm, giống như người viết đang
bị ác quỷ đuổi bắt”, và rằng tác giả là người “luôn quan tâm đến những đầm lầy
nơi mỗi chúng ta đang lún chìm”. Niềm vui phát hiện ấy dẫn đến sự sững sờ trước
tin dữ, dẫn đến nỗi đau buồn như thể vừa mất một người thân, dẫn đến vô số nghi
vấn nảy sinh và đòi phải được giải đáp, dẫn đến nhu cầu tìm biết tất cả về
Antoine Sorel, từ tác phẩm đến cuộc đời thực, dẫn đến khao khát viết một cuốn
sách về nhà văn vắn số đặng phục sinh một con phượng hoàng từ chính đống tro
tàn của nó. Tôi đã dần tìm cách liên lạc và trò chuyện với tất cả những người
thân trong gia đình của Antoine Sorel (bố và em trai anh), bạn học tiểu học và
trung học của anh, vợ và những người đàn bà từng đến từng đi trong cuộc tại thế
bốn mươi lăm năm của anh. Và dĩ nhiên, như những người điều tra thận trọng nhất
vẫn làm.
Tôi đọc bằng hết những cuốn sách mà Antoine Sorel đã in, cả
những bản thảo mà anh chưa bao giờ công bố lúc sinh thời. Từ các nguồn thông
tin phong nhiêu ấy – có thể nói, từ các diễn giải đa chiều về Antoine Sorel quá
cố, như thể anh là một văn bản mở vậy – Tôi đã có cho mình một Antoine Sorel cực
kỳ phức tạp, với đầy những mâu thuẫn trái ngược. Với nhóm này, Antoine Sorel là
con người dịu dàng đáng mến, đáng trân trọng, thậm chí đáng được xem là một thần
tượng. Với nhóm kia, Antoine Sorel chỉ là kẻ vô tích sự, gã nghiện rượu vứt đi,
tên văn sỹ ăn bám ích kỷ, con ký sinh trùng luôn sẵn sàng hút máu bất kỳ ai đến
gần và rủ lòng thương với nó. Antoine Sorel nhút nhát, khép mình, nhưng lại
luôn hòa đồng với những kẻ du thủ du thực vô gia cư, có thể uống với họ cả đêm,
trả tiền rượu cho họ, lặng im nghe họ nói và rồi chia tay mà không nhớ nổi mình
đã uống với ai. Antoine Sorel là kẻ thù của các trật tự đã được thiết lập, kẻ
luôn cảm thấy bất mãn trong bầu khí đời sống gia đình êm ấm, nhưng lại là người
tình rất đỗi mê đắm và cuồng nhiệt, thậm chí trở thành kẻ khủng bố tinh thần những
người đàn bà anh yêu bằng chính sự mê đắm và cuồng nhiệt ấy. Antoine Sorel xa lạ
và cô độc trong lòng xã hội đương đại như một kẻ bên lề tuyệt đối, nhưng anh
cũng vô cùng mong manh dễ vỡ, vô cùng cần đến những nâng đỡ tinh thần hào hiệp
và chân thành. Với tư cách nhà văn, anh thuộc số những nhà văn bí hiểm, “những
tác giả nếu muốn đọc ta phải có trong tay một danh mục những từ hiếm”, thế
nhưng văn chương của anh lại có phương diện mang tính cách dấn thân tranh đấu
mãnh liệt: “Cuốn Đắm chìm là một chuỗi độc thoại dữ dội chưa từng thấy của một
người tìm cách phá đi những nền tảng của cái thứ làm chúng ta theo đuổi những ảo
vọng và bóp vụn cái điều chúng ta tưởng chừng là cốt tử, cái điều buộc chúng ta
nghĩ ra những kịch bản về vị trí quan trọng phải có được trong thế giới của
chúng ta, cái điều khiến chúng ta thức dậy mỗi buổi sáng: niềm tin một ngày nào
đó sẽ là người chiến thắng trong cuộc đua xã hội”. Diễn giải nào về “văn bản
Antoine Sorel” cũng có cơ sở hợp lý: Anh là “thế này” cùng lúc với anh là “thế
kia”, tất cả đều có trong một.
Và viết. Qua lời kể của Tôi – được kể lại từ hồi ức của những
người khác – người ta hoàn toàn có thể tin rằng Antoine Sorel thuộc kiểu nhà
văn được/ bị Thượng đế bắt phải trở thành nhà văn ngay từ khi còn nằm trong bụng
mẹ. Anh viết, không hề quan tâm đến tiền bạc, địa vị, danh tiếng, sự tung hô của
người đời, những đòi hỏi của “hiện thực xã hội” hay lời kêu gọi của một ý thức
hệ bất kỳ nào. Sự chấn động mà tác phẩm của Antoine Sorel có thể tạo nên trên một
số rất ít độc giả, thật ra là hệ quả kèm theo. Vì anh viết chỉ để cho mình, viết
để lấp đầy nỗi cô đơn bản thể trong mình, viết như một hành vi cắt nghĩa cho việc
anh tồn tại trên đời. Jean, em trai Antoine Sorel kể: “Anh đã sống cả một thập
niên mà thậm chí không có gì để bỏ bụng và anh đã viết sách vào những lúc có lẽ
anh nên bắn một phát vào đầu thay vì sống lay lắt như vậy”. Còn Marianne, người
tình trẻ từng sống chung với Antoine Sorel suốt chín tháng và là một độc giả
trung thành của anh, thì xác quyết: “Sách của anh giúp anh tồn tại, bởi vì khi
anh viết, anh đấu tranh chống chọi để không bị tiêu tan… Cứ giả thiết rằng anh
giữ những trang sách viết của anh trong hộc tủ và không một nhà xuất bản nào muốn
phát hành chúng, tôi chắc chắn rằng anh sẽ tiếp tục viết sách như anh đã viết,
không sai một dấu chấm dấu phẩy”. Như chính nhà văn Linda Lê từng tuyên bố về
việc mình viết: “Viết, là tự lưu đày bản thân”, nhân vật của bà, Antoine Sorel
đã phải viết để tự thực hiện cuộc lưu đày định mệnh của bản thân mình. Anh viết
không phải để tìm kiếm bình yên, mà để tìm kiếm và hưởng thụ trọn vẹn cuồng nộ
bão tố từ ngôn ngữ của chính mình, khi viết. Đến một lúc nào đó, khi nhu cầu
tìm kiếm ấy tắt thì cái án lưu đày tiên nghiệm kia cũng mất hiệu lực, nhà văn
ngừng viết, và sự bình yên sẽ đến, cùng với cái chết. Chính điều này, chứ không
phải sự cạn kiệt sức lực hay nỗi đau đớn cùng cực vì cái chết của Claude, người
em trai kế Antoine Sorel, mới là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc anh tự kết liễu
cuộc đời mình, ở tuổi bốn mươi lăm.
Trong lần trả lời phỏng vấn Alexandra Kurmann, năm 2010,
Linda Lê chia sẻ: “Những gì còn lại từ phương Đông trong tôi, đó là sự gắn bó với
những người quá cố, cảm nhận rằng những người quá cố vẫn tiếp tục sống trong
ta. Dù tôi không khép mình vào những nghi lễ, như tục thờ cúng tổ tiên v.v…,
tôi vẫn luôn cảm thấy những người đã mất vẫn tiếp tục sống một cách mạnh mẽ, và
họ đang dẫn dắt tôi. Tôi mong muốn tưởng niệm họ, bằng cách này hay cách khác”
(Dẫn theo Phạm Văn Quang, “Về kinh nghiệm hư vô như là khả thể hiện hữu khác
trong văn chương của Linda Lê”, Tạp chí Nghiên cứu văn học, số 8/ 2019). Có lẽ,
cái “căn tính phương Đông” này là cái có liên quan trực tiếp đến những nội dung
mang tinh thần hậu thuộc địa trong văn chương của Linda Lê, như nhiều người đã
nhận thấy. Nó thể hiện đậm đặc trong “Sóng ngầm”, qua dòng tự sự của các nhân vật,
như một trộn lẫn giữa ký ức cá nhân của tác giả với những hư cấu được dựng lên
từ sự đan bện nhằng nhịt của quan hệ Việt – Pháp trong lịch sử. Còn ở “Vượt
sóng”, nó dẫn nhân vật Tôi đến tiểu sử của Antoine Sorel và làm phát lộ một
chuyện buồn trong quá khứ, đồng thời là một vấn đề “nhạy cảm” trong hiện tại, với
cả Pháp lẫn Việt Nam: Antoine Sorel, tên khai sinh là Antoine Trần, có ông nội
là một trong số những thanh niên Bắc Việt thuộc đội quân lính thợ hàng nghìn
người bị bắt sang Pháp vào cuối những năm 1930. Ông, và những lính thợ Việt Nam
khác, đã phải lao động khổ sai trong các xưởng quân khí của Pháp, đã phải chịu
bao tủi nhục của thân phận lưu vong cho đến lúc tàn đời. Ngay cả khi Pháp thua
trận ở Việt Nam năm 1954, họ cũng không thể về nước được, vì họ sẽ khổ sở vô
cùng, sống không bằng chết trên chính quê hương mình, bởi những nghi kỵ liên
quan đến Đệ tứ quốc tế và những ngờ vực về “gián điệp của địch cài vào”. Bốn
năm trước khi vĩnh quyết, Antoine Sorel đã đến Việt Nam, tìm về quê của ông nội
và cảm nhận tận độ sự tàn nhẫn của một sự thật: Không ai quan tâm đến những
lính thợ ấy nữa. Họ đã bị lịch sử tảng lờ. Số phận khốn nạn của họ chẳng có ý
nghĩa gì trước những nhu cầu đời sống thực dụng và cấp thiết của con người ngày
hôm nay.
Nhưng chưa hết. Cái nhánh tiểu sử này của Antoine Sorel còn dẫn
Tôi đối mặt với một vấn đề chưa bao giờ thôi nhức nhối trong lòng xã hội phương
Tây kể từ thời chủ nghĩa thực dân đến nay: Sự kỳ thị đối với những người nhập
cư gốc Á – Phi, những khoảng cách và đối kháng văn hóa mà người nhập cư phải giải
quyết để có cuộc hòa đồng với cư dân bản địa. (Chủ đề này được Linda Lê tiếp cận
theo một cách khá “nghiêm ngắn”, khác hẳn với cách của một tác giả cùng thời,
nhà văn Thuận: Suồng sã hóa, đầy hài hước theo tinh thần hậu hiện đại). Tôi gặp
ông Martin Trần, bố của Antoine Sorel, con trai của một lính thợ Việt Nam với một
người phụ nữ công nông gốc Normandie, và nhận thấy ở đây một trường hợp nghịch
đảo kỳ lạ: Martin Trần suy nghĩ và cư xử như thể mình là người Pháp chính quốc,
ông ta xấu hổ và không thừa nhận bố mình, ông ta luôn miệng chửi rủa “bọn da
màu”, ông ta phàn nàn về một nước Pháp “đã không còn là quốc gia hùng mạnh vì
quá bỏ mặc cho những kẻ không biết từ đâu đến chiếm đóng”. Như Edward Wadie
Said từng phân tích trong “Đông phương luận”: Chủ nghĩa thực dân, với những học
giả và nhà văn ưu tú nhất của nó, đã nỗ lực không ngừng để dựng lên một ý niệm/
hình ảnh về phương Đông thuộc địa sao cho có lợi nhất cho mình. Người phương
Tây và người phương Đông đều diễn giải phương Đông theo ý niệm/ hình ảnh này,
và cái huyền thoại về sự ưu việt phương Tây từ đó ngày càng được củng cố vững
chắc. Martin Trần, có thể nói, là một trường hợp bị cái huyền thoại về sự ưu việt
phương Tây đồng hóa. Và điều đó, đặt trong bối cảnh một thế giới phi trung tâm
hóa về văn hóa, đáng chú ý hơn nhiều so với việc ông ta khinh bỉ sâu sắc đứa
con trai vô tích sự, kẻ không chịu tuân theo bảng các giá trị xã hội đã được thừa
nhận, cái sự “thuộc về thiểu số” của anh, với ông ta, chỉ nói lên rằng anh là kẻ
thất bại: “Nếu có giá trị thì sách của nó đã được mọi người tranh nhau mua, đằng
này lại không bán được”.
Những câu chuyện về Antoine Sorel mà nhân vật Tôi thu thập được, hầu như đều diễn ra trong bối cảnh không gian của Le Havre, thành phố cảng nhỏ bé nằm ở phía Tây Bắc nước Pháp, cách Paris khoảng 200 km, nơi Linda Lê cùng mẹ và các chị em gái đã sống suốt bốn năm khi bà từ Việt Nam sang Pháp (1977-1981). Có lẽ, nhà văn đã viết tác phẩm này như một hình thức để tưởng nhớ nơi mình đặt chân lên đất Pháp lần đầu tiên. “Vượt sóng”, đó là tiểu thuyết về nỗi cô đơn, về cuộc chiến để bảo vệ tính vẹn toàn của cá nhân đơn trị, về sự tìm kiếm cội nguồn. “Vượt sóng”, đó còn là tiểu thuyết mang dấu vết thời thanh xuân tươi đẹp của Linda Lê, khi bà được “đắm chìm vào những bữa tiệc đọc say sưa”, được thả hồn theo những suy tưởng về nữ văn sỹ Nga Marina Tsvetaeva, người đã từng đến Le Havre trong quãng thời gian 14 năm sống lưu vong trên đất Pháp, trước khi trở lại cố quốc và thắt cổ tự tử trong một căn nhà tranh lụp xụp. Theo ý nghĩa đó, có thể xem “Vượt sóng” như một chốc lát ngoái nhìn điểm khởi đầu của một hành trình văn nghiệp mang tên Linda Lê.
12/5/2022
Hoài Nam
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét