*Quốc hiệu Việt Nam lần đầu xuất hiện là vào năm 1804 thời
vua Gia Long. Thế nhưng, một số tài liệu cho rằng tên gọi Việt Nam đã xuất hiện
rất lâu trước đó. Xin quý báo nói rõ về vấn đề này. (Hoàng Anh, Sơn Trà, Đà Nẵng)
- Về quốc hiệu Việt Nam, trong bài viết “Ai đặt quốc hiệu Việt
Nam đầu tiên?” đăng ngày 3-14-2003 trên website của Đại sứ quán Cộng hòa XHCN
Việt Nam tại Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ (http://viet.vietnamembassy.us), nhà nghiên
cứu Nguyễn Phúc Giác Hải kể rằng, ông có lần tình cờ đọc được một ý kiến đăng
trên báo hỏi về quốc hiệu Việt Nam có từ bao giờ. Câu hỏi tưởng chừng rất đơn
giản nhưng ông dám chắc rằng phần lớn học sinh trung học, thậm chí đại học
không trả lời được, vì đại đa số các sách giáo khoa của chúng ta không đề cập vấn
đề này.
Ngay cuốn Lịch sử Việt Nam do Ủy ban Khoa học xã hội xuất bản
năm 1976 cũng không hề nói tới điều này, ông Hải cho biết. Còn cuốn Bách khoa
toàn thư Anh (1992) thì cho nhận định, hai tiếng Việt Nam bắt đầu từ thời Nguyễn
do việc nhà Thanh bên Trung Hoa năm 1804 đã đảo ngược hai chữ Nam Việt mà Gia
Long đề nghị sắc phong năm 1802. Trong cuốn chính sử nhà Nguyễn Đại Nam thực lục
chính biên - Đệ nhất kỷ có ghi lại sự kiện này.
Đó là nói về quốc hiệu Việt Nam. Nhưng tên gọi Việt Nam thì
có thể đã xuất hiện sớm hơn.
Theo bài đã dẫn, năm 1974, khi công tác ở Viện Khoa học Việt
Nam, ông Hải được đọc tập sách dự báo Sấm Trạng Trình, được coi là của Trạng
Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585). Khi nghiên cứu tập sấm này, đến bản AB
444 trong kho sách của Viện Hán Nôm, ông bất đồ tìm thấy hai chữ Việt Nam ngay
trong những dòng đầu tiên: Việt Nam khởi tổ xây nền.
Quốc hiệu Việt Nam chính thức xuất hiện năm 1804, và hai chữ
Việt Nam xuất hiện trước đó trên 200 năm trong một tác phẩm của cụ Nguyễn Bỉnh
Khiêm.
Sau khi đọc được bản gốc Sấm Trạng Trình, ông Hải đã khẳng định
hai tiếng Việt Nam đã được sử dụng từ thế kỷ XV. Song bản sấm này được truyền lại
qua những bản chép tay, cũng không ai dám chắc tác giả là cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm.
Ông tra cứu thơ văn của cụ để so sánh. Thật bất ngờ, hai tiếng Việt Nam được cụ
nhắc tới bốn lần trong tập thơ Sơn hà hải động thường vịnh (Vịnh về núi non
sông biển). Rõ hơn, trong các bài thơ gửi trạng nguyên Giáp Hải (1515 - 1585),
cụ có viết: “Tuệ tinh cộng ngưỡng quang mang tại/ Tiền hậu quang huy chiếu Việt
Nam”; và trong bài gửi trạng Nguyễn Thuyến: “Tiền đồ vĩ đại quân tu ký/ Thùy thị
công danh trọng Việt Nam”.
Để rõ hơn, nhờ một số nhà khoa học Viện Hán Nôm, ông Hải tìm
thêm cứ liệu trong bi ký (bài ký trên bia đá). Trong bia trùng tu chùa Phúc
Thánh (Quế Võ, Bắc Ninh) năm 1664, phần bài Minh có câu “Việt Nam cảnh giới,
Kinh Bắc thừa tuyên”. Bia trùng tu chùa Bảo Lâm (Chí Linh, Hải Dương) năm 1558:
“Việt Nam đại danh lam bất tri kỳ cơ”. Bia chùa Cam Lộ (Hà Tây), năm 1590:
“Chân Việt Nam chi đệ nhất”.
Tuy nhiên, phát hiện quan trọng nhất là tấm bia Thủy Môn Đình
ở biên giới Lạng Sơn do trấn thủ Lạng Sơn Nguyễn Đình Lộc soạn năm Cảnh Trị thứ
tám (1670), có câu: “Việt Nam hầu thiệt trấn bắc ải quan” (Cửa ải phía Bắc Việt
Nam). Đây là tấm bia có niên đại muộn hơn song lại có danh tính người soạn, hơn
nữa đây là một mệnh quan triều đình, là phát ngôn chính thức.
Tóm lại, tên gọi Việt Nam đã xuất hiện khá lâu trước quốc hiệu
Việt Nam. Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Phúc Giác Hải, có thể coi Nguyễn Bỉnh
Khiêm là người đầu tiên sử dụng Việt Nam như là quốc hiệu. Bởi lẽ, thế kỷ XV,
nhà Mạc cướp ngôi nhà Lê ở nước ta, nhà Minh bên Trung Quốc lấy cớ đem quân can
thiệp. Nhà Mạc đầu hàng, Đại Việt lúc đó bị biến thành một quận của Trung Quốc,
không còn quốc hiệu. Mạc Đăng Dung được nhà Minh phong làm An Nam đô sứ ty.
Trên thực tế Mạc Đăng Dung vẫn là vua một nước, để vừa đối phó với triều đình
phương Bắc, vừa an dân, tên nước được gọi là Việt Nam. Lúc ấy, Nguyễn Bỉnh
Khiêm là học giả đứng đầu cả nước, nên nhiều khả năng ông đặt ra cách gọi này.



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét