Thứ Năm, 8 tháng 6, 2017

Đoàn Hoài Trung và tiểu thuyết "Ngọt ngào vị đắng"

Đoàn Hoài Trung và tiểu thuyết 
"Ngọt ngào vị đắng"
Lời BBT: Chúng ta sắp cùng với nhân dân Cộng hòa Séc kỷ niệm 93 năm Ngày Quốc khánh của nước bạn. Nhân dịp này, Ban Biên tập Trang tin “hoivietsec.org.vn” của Hội Hữu nghị Việt Nam - Séc xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc cuốn tiểu thuyết “Ngọt ngào vị đắng” của đại tá Đoàn Hoài Trung, đã được Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản năm 2005 và vừa nhận được Giải thưởng của Nhà xuất bản Thanh niên và Báo Văn nghệ. Tiểu thuyết không chỉ kể về một chuyện tình sâu sắc, cảm động nhưng nhiều trắc trở và không thành giữa anh Văn-một lưu học sinh Việt Nam xuất sắc, với một cô gái Tiệp Khắc xinh đẹp, thông minh, đáng yêu và yêu hết lòng chàng trai Việt, mà còn là những trang viết đẹp về tình cảm quốc tế trong sáng, giản dị của những người dân Tiệp Khắc và nước bạn Lào đối với đất nước và con người Việt Nam cũng như về lịch sử anh hùng, thiên nhiên tươi đẹp của hai đất nước bạn. Có thể nói, tác phẩm là tấm lòng của tác giả đối với đất nước mà cuộc đời anh đã có rất nhiều gắn bó, yêu thương. Hình ảnh cô gái Séc Maruska ở đầu và cuối câu chuyện như một sự kết nối đầy tính nhân văn giữa quá khứ và hiện tại của mối tình đẹp mà không trọn vẹn của Văn - Alena và rất có ý nghĩa khi nó được gắn với một công trình sắp triển khai của hợp tác kinh tế Việt Nam - Séc. Chúng tôi sẽ đăng tải trong nhiều kỳ, mời bạn đọc theo dõi.
Lời giới thiệu:
Viết văn, làm thơ, đối với Đoàn Hoài Trung như một "cuộc chơi" ngoạn mục, như một sự thử sức bằng nỗi đam mê của người thích xông vào cuộc. Thế nhưng để có những vần thơ, những câu văn đầy tâm trạng, đầy trăn trở, đầy nỗi đau không phải là điều đơn giản đối với người mới cầm bút. 
Và anh đã như thế.Viết như chính tâm trạng của mình đang thổn thức, đang tuôn trào. Chỉ trong vài năm cầm bút, anh đã khẳng định mình qua các phần thưởng giá trị: Tặng thưởng của cuộc thi sáng tác văn học tuổi trẻ lần 2 (NXB Thanh Niên và Báo văn nghệ), Giải C thơ của Bộ quốc phòng, Giải C Văn học Cuộc vận động sáng tác Quân chủng Phòng không-Không quân, Huy chương bạc Liên hoan phim phóng sự toàn quốc năm 2005, Giải C Cuộc thi phóng sự Báo chí về đề tài Quốc phòng toàn dân và lực lượng vũ trang nhân dân, Giải tư bút ký của Tạp chí Văn nghệ Quân đội… 
Không dừng lại ở lĩnh vực của người cầm bút, Đoàn Hoài Trung còn gặt hái ở lĩnh vực nhiếp ảnh: 
1- Tác phẩm “NỎ THẦN NGÀY NAY” Giải Khuyến khích Triển lãm ảnh Nghệ thuật Toàn quốc lần thứ 24, năm 2006; 
2- Tác phẩm “DK1-CỘT MỐC CHỦ QUYỀN VÙNG BIỂN TÂY NAM” giải Nhì Cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật, ảnh báo chí về Đề tài Quốc phòng toàn dân và Lực lượng vũ trang nhân dân (2006-2009); 
3- Tác phẩm “BAY TRONG BÌNH MINH“ giải Khuyến khích Cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật, ảnh báo chí về đề tài Quốc phòng toàn dân và Lực lượng vũ trang nhân dân (2006-2009);
4- Tác phẩm “BỘ ĐỘI TIỂU ĐOÀN 1 LONG AN TẬP BẮN” trưng bày triển lãm Cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật, ảnh báo chí về đề tài Quốc phòng toàn dân và Lực lượng vũ trang nhân dân (2006-2009);
5- Tác phẩm “ĐẠI TƯỚNG PHÙNG QUANG THANH VỚI CHIẾN SĨ” trưng bày triển lãm Cuộc thi và triển lãm ảnh nghệ thuật, ảnh báo chí về đề tài Quốc phòng toàn dân và Lực lượng vũ trang nhân dân (2006-2009);
6- Tác phẩm “CÙNG XÂY MÁI ẤM NGƯỜI NGHÈO” trưng bày triển lãm Cuộc thi ảnh nghệ thuật vì Biên cương Tổ quốc;
7- Giải nhì Phóng sự ảnh Hội Nhà báo Thành phố Hồ Chí Minh… 
Đoàn Hoài Trung xuất thân từ một kỹ sư vô tuyến điện Hàng không. Anh đã miệt mài với chuyên ngành này ở Tiệp Khắc từ năm 1978 – 1984 tại Học viện quân sự VAAZ Brno Tiệp Khắc. Để rồi như một bù đắp xứng đáng, Đoàn Hoài Trung đã tốt nghiệp với kết quả xuất sắc tuyệt đối. Sau 20 năm phục vụ ngành Thông tin không quân, Đoàn Hoài Trung lại rẽ ngang sang ngành báo chí. Mặc dù Đoàn Hoài Trung đã công tác qua các đơn vị: Sư đoàn Không quân 370 tại sân bay Đà Nẵng, Phan Rang, Tân Sơn Nhất, Campuchia…, nhưng "viết lách" vẫn là động lực luôn thôi thúc anh. 
Sau khi có bằng cử nhân báo chí, Đoàn Hoài Trung đã chuyển hẳn sang làm biên tập viên báo và truyền hình Phòng không - Không quân (2002), phóng viên báo Quân đội nhân dân (tháng 10-2005), và hiện nay anh là Đại tá, Trưởng đại diện Trung tâm Phát Thanh-Truyền hình Quân đội tại Thành phố Hồ Chí Minh. Từ đó, công việc "viết lách" như đã ngấm sâu và tỏa sáng trong Đoàn Hoài Trung. Anh viết với nỗi niềm sâu thẳm ở tận đáy lòng mình và cả nỗi đau, niềm vui, niềm hạnh phúc của người đời, người bên cạnh. Người đọc sẽ dễ dàng tìm thấy điều này qua các tác phẩm của anh: Thơ tình người lính - NXB Thanh Niên (2000); Hoa tuyết - NXB Văn học năm 2001 (truyện vừa); Tình yêu người lính - NXB Thanh Niên - năm 2002; Bay trong chớp lửa - NXB Quân đội Nhân dân - 2003 (Truyện ký); Điện Biên trong tôi –NXB Thanh niên 2004 (ký sự), Về nguồn - NXB Thanh Niên - năm 2004 (ký sự), Về lại Điện Biên –NXB Thanh Niên –năm 2009 (ký sự) … Đặc biệt nhất vẫn là tiểu thuyết "Ngọt ngào vị đắng" được Giải thưởng của Nhà xuất bản Thanh Niên và Báo Văn nghệ. 
"Ngọt ngào vị đắng" như một câu chuyện mà Đoàn Hoài Trung đã bắt gặp, đã chứng kiến và đã trải qua trong đời mình. Nội dung câu chuyện luôn luôn thể hiện một nỗi đau mất mát trong tình yêu, khát vọng trong tình yêu, đấu tranh vì tình yêu. Dẫu biết rằng, tình yêu là đề tài muôn thuở trong văn chương, thi ca và những tác phẩm nghệ thuật khác, nhưng ở "Ngọt ngào vị đắng" lại là một cái nhìn ở một góc độ khác, góc độ của người xa xứ được yêu và khi đã mất tình yêu. Ý tứ và bối cảnh câu chuyện như đang diễn ra trong những ngày tháng Đoàn Hoài Trung du học ở Tiệp Khắc. Vì cuốn tiểu thuyết sẽ được đăng trong nhiều kỳ, chúng tôi xin giới thiệu vắn tắt nội dung từng chương một để bạn đọc tiện theo dõi: 

Chương một: Đoàn Hoài Trung bắt đầu từ việc Văn - nhân vật chính của tiểu thuyết - tình cờ gặp Maruska, một cô gái Tiệp Khắc còn rất trẻ đến Việt Nam trong đoàn CH Séc sang chuẩn bị triển khai một dự án liên doanh Việt-Séc. Cuộc tương ngộ đã làm Văn đau đớn nhớ đến mối tình đã mất với Alena, cô bạn sinh viên cùng học khi Văn còn du học ở Tiệp Khắc. Từ sự mở đầu câu chuyện như thế, Đoàn Hoài Trung đã dẫn dắt người đọc qua từng "đoạn tình" đầy bão táp của Văn ở xứ sở Tiệp Khắc. Văn mơ hồ có cảm giác cô gái trẻ kia chính là giọt máu của mình.
Chương hai: Văn một lần đi giúp phiên dịch cho Đoàn thiếu nhi Việt Nam tại trại hè thiếu nhi quốc tế và đã gặp Sao Mi, một cô gái Lào từng sống ở Việt Nam. Hai cô gái trong hai hoàn cảnh, Văn sẽ rung động với ai? Một Alena xinh đẹp. Một Sao Mi dễ thương. 
Chương ba: Văn thăm gia đình Alena; những kỷ niệm chung đầu tiên và tình yêu đang nẩy nở dần trong Văn và Alena. 
Chương bốn: Thông qua những câu chuyện kể về cuộc kháng chiến chống phát xít của nhân dân Tiệp Khắc và nhân vật anh hùng nổi tiếng J.Fuxich, Văn muốn thiếu nhi Việt Nam và Sao Mi hiểu hơn về nhân dân và đất nước Tiệp Khắc xã hội chủ nghĩa. Tình cảm của Sao Mi với Văn nẩy nở. Sao Mi xuất hiện cũng làm xuất hiện sự ngờ vực trong Alena, nhưng tình yêu của Văn vẫn chỉ dành cho Alena. 
Chương năm: Văn tìm đến nhà Alena, nhưng Alena đã đi Bratislava để khuây khỏa. Văn lập tức đến đó tìm cô, nhưng tất cả chỉ là sự mù mịt, vô vọng. Tại đây, Văn gặp Dana - một cô gái nhảy. Trong buồn chán, cô đơn, Văn đã đến với cô ấy như để khỏa lấp sự trống vắng. Một sự tình cờ, Văn, Dana, Alena cùng gặp nhau trong quán nhảy. Văn phải trả giá đắt với Dana và với những anh chàng đeo đuổi Alena, nhưng một tình huống đặc biệt đã đưa Alena và Văn trở lại với nhau. 
Chương sáu: Tình yêu mặn nồng trở lại. Alena đưa Văn về ra mắt gia đình mình, cha mẹ cô rất vui mừng. Đang lúc ngập tràn tình yêu, hạnh phúc, Văn nhận được thư của mẹ. Bà cấm anh tuyệt đối không được lấy vợ "ngoại quốc". Thương mẹ, người đàn bà đã chịu nhiều thiệt thòi trong chiến tranh, Văn không thể không vâng lời mẹ mình. Anh chia tay với Alena. Nhưng chỉ sau vài giờ xa cách, tình yêu đã chiến thắng và họ lại đến với nhau. 
Chương bảy: Văn đi Plzen thực tập tốt nghiệp, Alena tìm đến. Tình yêu càng sâu nặng, hai người như không thể rời nhau. Nhưng lại một sự cảnh báo mới đe dọa tình yêu. Gặp Ivo Vasilijev, nhà Việt Nam học nổi tiếng và biết thêm những trắc trở đang chờ họ. Thương Alena quá! Một cô gái xinh đẹp, hiền thục và giàu lòng nhân ái như vậy, lại không được yêu, không được mãn nguyện trong tình yêu. Dù Văn vẫn đền đáp tấm lòng cô gái ấy bằng tình yêu chân thành và rất sâu sắc, nhưng trong Văn, nỗi đau bất hiếu với mẹ còn mãnh liệt  hơn. 
Chương tám: Họ yêu nhau, mãnh liệt, dâng hiến và say đắm. 
Chương chín: Văn tốt nghiệp loại ưu tuyệt đối. Mẹ ốm nặng; cuộc gặp với Tham tán Đại sứ quán đã đưa Văn đến quyết định chia tay với người con gái đang hết mực yêu thương mình, sẵn sàng hy sinh vì anh để trở về Tổ quốc, để lại nỗi tuyệt vọng và cả sự uất hận vô bờ cho Alena.
Chương mười: Văn về nước và cưới Sao Mi. Văn vẫn đau đớn một nỗi buồn nhớ Alena. Nhưng Sao Mi lại là một người vợ khá mẫu mực và vẹn toàn, nên dần dần anh đã tìm thấy hạnh phúc của cuộc sống gia đình. Mối tình ngày xưa đã lùi sâu vào quá khứ. Hạnh phúc ngày thêm tràn đầy, khi Sao Mi mang thai. Nhưng tất cả không như Văn tưởng. Anh vừa chôn đi nỗi đau cũ, nỗi tuyệt vọng mới lại đến. Sao Mi đã sinh ra đứa con tật nguyền do di chứng của chiến tranh. Thằng bé nhiễm chất độc da cam đã đưa Sao Mi đến đường cùng. Cô điên loạn và sau đó chết vì bệnh ung thư máu.
Câu chuyện về một quãng đời của Văn kết thúc ở Chương mười. Có thể, người đọc sẽ thấy tác giả quá tàn nhẫn với các nhân vật của mình. Những nhân vật nữ đáng yêu đều phải chịu nỗi đau chia lìa, một sự mất mát mà lẽ ra phẩm hạnh và nhan sắc của họ không phải có. Cái hay ở Đoàn Hoài Trung là anh tạo ra nhiều kịch tính trong tác phẩm. Anh đã đưa người đọc đi từ bất ngờ này đến bất ngờ khác. Dẫu đó là những tình huống buồn, nhưng lại rất hợp lý và không gượng ép. Dù biết rằng đây là một chuyện tình nơi đất khách quê người, nhưng tác giả đã tạo nên một nhân vật nữ đáng yêu, dễ gần gũi như Alena. Điều này không phải dễ dàng đối với bất cứ nhà văn nào. Trong cuốn tiểu thuyết cũng có rất nhiều hình ảnh đẹp về đất nước Tiệp Khắc, nơi mà tác giả luôn coi đó là quê hương thứ hai của mình.
Chương 3:
Những ngày hè ở trại trôi đi quá mau. Tất cả đều tốt đẹp và thành công như dự kiến. Nhân một tối nhàn rỗi, Văn quyết định tìm đến nhà Alena. Đứng trước cửa nhà, Văn cảm thấy hơi ngần ngại. Ngôi nhà hai tầng xinh xắn, trước cửa nở đầy hoa hồng. Đây là một thị trấn nhỏ nên nhà ai cũng rộng rãi thoải mái, kết cấu theo kiểu biệt thự. Người Tiệp rất chú ý xây dựng nhà ở, họ coi đó là một việc quan trọng trong cuộc đời. Những căn nhà có khi được xây dựng hàng năm trời. Do đặc điểm mùa đông lạnh lẽo, nhất là vùng núi cao, nên nhà bao giờ cũng phải chắn chắn, tường dày, nhiểu lớp cửa, hệ thống lò sưởi bằng nước nóng, bếp đun bằng hơi, có nhà để xe…
Thật tình, những ngày qua, Văn quá bận công việc. Những khi rãnh rỗi, anh tự bảo mình phải dành thì giờ tới thăm Alena. Chắc hẳn nàng đang mong anh tới… Sau khi tiếng chuông dứt, Văn đã phải ngỡ ngàng khi cánh cửa mỡ và Alena với bộ đồ lễ trắng tinh hiện ra. Nàng rực rỡ như một công chúa trong chuyện cổ tích. Nhận ra Văn, Alena reo lên sung sướng:
- Anh Văn! Vào đây đi anh! không hiểu sao lúc ấy Văn cảm thấy lúng túng. Sau này, mỗi khi nhớ lại, Văn cũng không hiểu tại sao ngày thường Văn dạn dĩ là thế mà lúc ấy Văn như không tìm ra lời để nói. Câu đầu tiên sau những ngày không gặp nhau lại là một câu chiếu lệ, sáo rỗng:
- Alena đang chuẩn bị đi đâu mà mặc đẹp thế?
- Alena sắp đi dạ hội đây, Văn có đi cùng không?
Rồi không chờ chàng trả lời, Alena kéo tay Văn vào nhà. Văn ngạc nhiên trước sự bài trí của phòng khách. Nền nhà được trải thảm màu tro nhạt, một chiếc bàn hình ô van lớn xung quanh có những chiếc ghế được bao bọc nhung xanh, trên tường treo rất nhiều đầu hươu với những chiếc sừng đồ sộ. Mẹ và em trai của Alena đang ở trong phòng khách. Bà mẹ vui vẻ trước khách quí của con gái:
- Em nó cứ đợi anh mãi, đi chơi đâu cũng sợ anh đến mà không có nhà. Cũng may tối nay nó còn dùng dằng son phấn nên chưa đi đấy. Thế anh ở đây chơi lâu không?
Văn vui vẻ:
- Thưa bác, cháu chỉ ở đây đến 10 giờ rồi phải quay lai Poprad.
Alena đang bưng tách cà phê trong bếp ra nghe vậy, cô kêu lên:
- Anh làm gì mà phải ở Poprad, đến đây thì phải chơi ở đây chứ, ai cho anh về.
Văn giải thích:
- Alena ạ, Văn đang làm phiên dịch cho đoàn thiếu nhi Việt Nam tham dự trại hè quốc tế, bận lắm chưa thể ở chơi đây được.
Alena quay đi, nuốt tiếng thở dài. Bỗng có tiếng chuông reo ngoài cửa, các bạn của cô tới:
- Alena, sao đằng ấy chậm thế? Chúng tớ đợi mãi, đi mau kẻo muộn rồi.

- Tôi là Văn. Rất vinh dự được làm quen với các bạn!
Một cô gái tinh nghịch cười, nhắc lại:
- Văn à? Tên dễ thương quá! Thế anh Văn có đi dự tiệc dạ hội cùng bọn này không?
- Xin lỗi, hôm nay tôi bận nên không đi được.
- Thôi các bạn đi đi, tối nay mình không đi được.
Một cô bạn dẩu môi:
- Biết ngay mà! Đi thế nào được!
Văn thấy khó xử. Và không muốn vì mình mà Alena mất lòng bạn bè, anh nói:
- Alena đừng ngại, Alena cứ đi dự dạ hội đi. Tôi sẽ nói chuyện với bác và Pavel. Lúc khác chúng mình sẽ nói chuyện với nhau.
Một cô bạn khẽ thì thào với Alena:
- Đằng ấy không đi thì khối chàng trai phải thất vọng.
Đôi hàng mi cong của Alena khẽ nhướn lên:
- Anh Văn không đi thì mình cũng không đi.
Khi các bạn đã đi hết, Văn quay sang nói chuyện với mẹ Alena:
- Thưa bác, bác trai đi đâu mà không thấy có nhà ạ?
- Ông ấy đi làm mãi ở Kosice, tuần mới về một lần. 
Bà xởi lởi kể hết chuyện nhà, chuyện cửa cho Văn nghe. Không giấu điều gì, cứ như Văn là con cái trong nhà, vừa đi xa về. Alena hết nhìn mẹ lại nhìn Văn, thỉnh thoảng xen vào một câu cho có lệ.
Một lúc sau, Alena xin phép mẹ dẫn Văn vào xem phòng của mình. Lúc đầu, Văn hơi ngần ngại. Alena phải kéo tay anh đi. Bàn tay nhỏ nhắn, ấm nóng truyền sang Văn một cảm giác là lạ. Vừa gần gũi, vừa tin cậy. Và thế là Văn bước theo Alena.
Căn phòng không lớn lắm, nhưng được trưng bày đẹp đẽ, từ chú gấu đen đến cô búp bê trong tủ kính đều như tô thêm vẻ đẹp lộng lẫy của cô chủ. Mùi thơm phảng phất trong phòng khiến Văn không biết từ đâu. Họ ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn con. Văn thấy Alena thật đẹp, nàng kỳ diệu hơn cả những điều anh từng tưởng tượng về nàng. Chiếc mũi cao thanh tú. Hai hàng mi cong vút. Đôi môi lúc nào cũng đỏ như son. Suối tóc vàng rực. Đôi mắt nàng xanh ngắt như mặt nước hồ thu. Văn muốn nhìn thật lâu để khám phá hết những bí mật ẩn chứa trong tâm hồn người con gái ấy. Anh tự mâu thuẫn với mình: muốn ngắm thật kỹ Alena và muốn giữ phép lịch sự trước người con gái. Tự anh phải giải trong tích tắc bài toán có hai ẩn số này. Và Văn chỉ có thể chọn một trong hai. Cuối cùng, anh phá tan bầu không khí im lặng:
- Alena làm gì trong mấy ngày qua…?
Giọng Alena buồn xa xăm:
- Chằng làm gì cả. Những ngày hè thật đẹp, nhưng buồn Văn ạ.
Văn vô tình:
- Việc gì mà “công chúa tóc vàng” phải buồn?
Không hiểu vì sao lúc đó Văn lại gọi Alena là công chúa tóc vàng, điều mà Văn không bao giờ gọi. Alena cảm thấy êm ái trong lòng:
- Alena nghĩ Văn không nên hỏi điều đó mới phải chứ. Văn phải biết có những đêm Alena không ngủ trọn giấc. Alena thích một ngôi sao hạnh phúc đến với mình trong giấc mơ. Người ta bảo Alena là hoa hồng có gai, nhưng tấm lòng của Alena cũng như tấm lòng của những người con gái khác thôi. Alena cũng như bao con người bình thường khác muốn đi khắp các nẻo đường, chờ đợi một hạnh phúc đến với mình. 
Văn chợt hiểu, anh đã mơ hồ linh cảm rằng giữa anh và Alena đã có một điều gì đó rất mơ hồ, rất mong manh nhưng lại là mầm móng của một điều có thật. Anh như muốn kêu lên: “Alena, em đừng nói nữa, anh hiểu em muốn nói gì rồi”. Song anh vẫn im lặng. Một sự im lặng lừa dối chính mình. Thâm tâm, anh muốn nói với Alena thì quá ngây thơ, cứ tưởng điều mình nói vẫn xa vời với Văn. Nàng tiếp lời:
- Cuộc đời thật trớ trêu, người này theo đuổi hình bóng của người khác, trong khi chính người kia cũng đang nuôi trong lòng một hình ảnh.
Văn giật mình khi anh thấy tay Alena đã nằm trong tay mình lúc nào. Cử chỉ ấy diễn ra một cách tự nhiên, như một sự sắp đặt. Như hai dòng máu chảy vào nhau, như hai dòng nước hòa vào nhau, Văn thấy như một liều thuốc mê đang ngấm dần. Anh để yên bàn tay mềm mại ấy trong tay mình, không dám động cựa, sợ giây phút hạnh phúc ấy biến tan đi. Alena hơi cúi đầu, tóc xõa che khuất khuôn mặt bầu bĩnh. Không gian như đông lại. Hai người nghe được tiếng tim của nhau đang đập rộn ràng. Một lúc sau, Văn nâng bàn tay Alena ngang tầm mắt mình và nhận ra tay nàng có đeo một chiếc nhẫn. Văn:
- Ôi, Alena mới có nhẫn của ai tặng mà đẹp thế?
Alena đáp lời:
- Của một người bạn tặng đấy.
Văn vờ ngây thơ:
- Sao Alena không đeo vào ngón tay trỏ.
Alena cũng không kém:
- Alena chờ bao giờ Văn tặng thì sẽ đeo vào đó. Văn có thích vậy không?
Văn bước ra phía cửa sổ chỉ lên bầu trời, mơ màng như một thi sĩ:
- Văn sẽ lấy ngôi sao của trời kết lại thành chiếc nhẫn cho Alena đeo nhé. Để Alena mỗi lần đưa tay lên, ánh sáng trong mát lại soi tỏa đường Alena đi.
Alena mỉm cưởi:
- Sao Văn mơ mộng thế. Văn hơn Alena gần 6 tuổi mà Văn lúc nào cũng hài hước được. Nhớ lần sinh nhật trước của Alena, Văn có bảo Alena đẹp như trăng rằm, mắt của Alena như dòng sông xanh nhưng ít người dám mạo hiểm đến bơi trong đó. Không biết Văn nói có thật không, chứ Alena thấy chẳng đúng tý nào.
Văn:
- Alena không thấy nụ cười của Alena như bông hoa hồng sao? Nhưng Alena ạ, tâm hồn Văn khô cằn lắm, Văn không có tuổi thơ, chỉ có tuổi thơ lo nghĩ thôi, và nhiều năm tháng gian khổ với những mất mát đau thương trong cuộc chiến tranh vệ quốc nữa. Người ta bảo cuộc đời là một cuốn tiểu thuyết, có phải vậy không?
Alena tò mò:
- Chẳng lẽ trong tình yêu Văn cũng chỉ có nước mắt sao? Alena không tin điều đó.
Đôi mắt Văn trờ nên xa vời, anh đang nhớ lại kỷ niệm những ngày xa xưa. Hồi lâu Văn nói:
- Alena, với em tình yêu còn là cái gì đó cao xa, mơ mộng. Nó đến thật mãnh liệt, dữ dội, nhưng lúc đi thì cũng thật vội vã, đau thương. Tình yêu không phải toàn mộng ảo như người ta nghĩ, mà ngược lại nó chứa nhiều cay đắng. Văn không đủ sức nói đến hai chữ ấy, khi mà đã một lần trái tim Văn rung lên. Quá xa rồi những ngày tuổi hoa ấy…
Alena khẽ thở dài. Nàng nhìn Văn với đôi mắt thật thông cảm. Nàng rót hai ly rượu vang đỏ, đặt lên bàn:
- Chúng mình sẽ uống vì tình bạn thân thiết. Mong Văn sẽ hiểu Alena hơn. Và mong Văn sẽ quên đi những kỷ niệm buồn.
Bên ngoài bỗng trời đổ cơn mưa. Những giọt nước tí tách bắn lên cửa sổ. Alena tiến về chiếc đàn piano để ở góc phòng, bàn tay thon thả của nàng lướt khẽ trên những phím ngà.
- Alena sẽ đánh cho Văn nghe một bản nhạc buồn trong đêm mưa. “Thư gửi Êli” của nhạc sĩ Bê-tô-ven. Bản nhạc mà trong giây phút xúc động nhất của tình yêu, nhạc sĩ đã gửi tâm hồn mình cho nàng Êli trên những cung trầm.
Tiếng đàn rộn lên, thánh thót, dìu dặt, làm căn phòng ấm hẳn lên. Điệu nhạc như tiếng lòng của Alena đang đến với Văn. Văn lặng người, dõi theo những ngón tay thon của Alena. Thỉnh thoảng, nàng lại đưa mắt nhìn Văn, như thì thầm: “Anh đã hết buồn chưa?” Alena muốn gửi vào tiếng đàn những điều nàng chưa nói được với Văn. Nàng tin anh sẽ nhận ra điều đó. Alena chợt nghĩ một cách thiển cận: phải chăng lúc này mình là Bê-tô-ven, còn Văn là Êli?
Lòng Văn cũng xao động không kém. Một người con gái kiều diễm bên chiếc đàn trong căn phòng ấm cúng lúc này gây cho anh một niềm yêu thương tràn ngập. Anh muốn ngắm nhìn mãi bờ vai phủ những lớp tóc vàng của nàng. Bản nhạc chấm dứt đã lâu, Alena quay đầu lại, nàng thấy đôi mắt Văn vẫn nóng bỏng nhìn mình. Nhạc sĩ Be-tô-ven có biết bản nhạc của ông có một sức mạnh huyền bí, đã làm men say cho một mối tình thơ mộng?
- Alena đánh dở quá phải không Văn?
- Không, trái lại, hay tuyệt vời. Có lẽ trong đời Văn lần này là lần thứ hai được nghe một bản nhạc có hồn như vậy.
Rồi anh đứng dậy:
- Văn cũng sẽ đánh một bài cho Alena nghe: Bản Tình ca du mục.
Alena thật ngạc nhiên, nàng mới chỉ nghe nói Văn đánh đàn hay, hát giỏi thôi.
Nhưng khi tiếng đàn vút lên, thì Alena thấy rõ bầu trời rộng mở, những vì sao lấp lánh… Nàng buồn trong âm hưởng ngọt ngào, lòng rung lên cùng những nốt nhạc. Còn Văn, tiếng đàn êm dịu rót vào lòng như những đợt sóng của biển xanh quê anh. Hà Nội - Thủ đô yêu dấu làm sao anh quên được. Nơi những ngày anh cắp sách đến trường, hoa phượng rơi đầy trên vai học trò. Rồi những lúc đứng trên bờ biển Đồ Sơn, anh mê mải ngắm nhìn bình minh trên mặt biển. Song trong hương vị ngọt ngào của tuổi nhỏ, anh vẫn không thể quên những nỗi đau đớn của cuộc chiến tranh ác liệt. Bố anh, một nhạc sĩ gục ngã bên cây đàn của mình trên chiến trường. Bỏ lại người vợ với đứa con thơ dại. Mẹ anh là một nhà giáo hết lòng vì chồng con. Học xong lớp 10, Văn đã quyết định làm đơn vào bộ đội. Những dòng suy tưởng cứ tiếp nối mãi đến khi bản nhạc đã hết, Văn mới thấy bên vai anh một hơi thở nồng nàn.
- Anh Văn!
- Alena!
Hai làn môi sát dần nhau, một nhịp cầu sắp nối giữa hai trái tim, song bỗng Văn đứng dậy:
- Văn phải về, 10 giờ rồi.
Alena khẽ hỏi:
- Văn ghét Alena sao mà bỏ đi sớm thế?
Văn vội thanh minh:
- Không, chưa bao giờ Văn ghét Alena cả. Nhưng Alena hiểu là Văn còn công việc ở Poprad mà.
Lúc hai người chia tay, Alena cúi xuống ven đường ngắt một bông hoa hồng mới nở đưa cho Văn.
- Anh cầm lấy bông hoa này và hãy nghĩ đến người con gái đang muốn trao trái tim mình cho anh.
Rồi Alena hỏi:
- Tối mai Văn có bận gì không?
- Chắc không phải làm gì Alena ạ.
Alena đề nghị:
- Tám giờ tối mai Alena chờ Văn trước nhà ga Poprad, Alena sẽ dẫn Văn đi xem thành phố đêm. Rồi Văn sẽ thấy những ánh đèn lấp lánh như những vì sao của Poprad.
Họ chia tay nhau bằng cảm giác lâng lâng của đêm hè ngập hương hoa hồng.
Theo kế hoạch, sáng hôm ấy cả trại khởi hành đến Strbské Pleso (Hồ Bạc) cách Poprad chừng vài chục cây. Văn cũng vui lây với niềm vui của các em thiếu niên trước phong cảnh thiên niên hùng vĩ. Các em nói với Văn:
- Đất nước mình cũng có nhiều cảnh đẹp như thế này anh Văn nhỉ.
Khi thấy hồ, các em trai hăng hái đòi được chèo thuyền. Văn bảo Dũng ở lại hồ cùng một tốp các em trai. Anh muốn dẫn các em gái đi dạo chơi lên núi vì các em không thích chèo thuyền.
- Anh Văn chờ em cùng đi với.
Văn ngoảnh lại thấy Sao Mi và Fu Say, anh phiên dịch Lào mới đến tối hôm qua, đang dẫn các em thiếu niên đi tới. Sao Mi trong bộ váy sẫm màu với những hoa văn trang nhã, nom cô thật tươi trẻ:
- Thế các bạn không cho các em đi thuyền à?
- Sóng to quá, em thấy sợ.
Fu Say cũng bảo Văn:
- Tôi cũng muốn cùng các em lên đỉnh núi có cái nhà cao vút trên kia. Không biết họ xây làm gì mà cao vậy nhỉ?
Văn giải thích:
- Đó là cái cầu trượt tuyết.
Mọi người đều hớn hở leo lên. Trên đường đi Sao Mi bỗng kêu lên:
Văn ngạc nhiên:
- Sao kia?
- Anh học giỏi mà anh cứ bảo anh học dốt toàn bị điểm một, làm em cứ nghĩ người như anh mà học kém thì không tin được.
Văn mỉm cười:
- Thì anh đã cho Sao Mi xem sổ điểm rồi còn gì, toàn chống gậy suốt, đi mưa không sợ ngã.
Sao Mi phá lên cười:
- Điểm một là điểm cao nhất, phải không Fu Say?
Fu Say gật đầu. Họ đi một lúc tới khán đài cho người ngồi xem. Các em thiếu niên ao ước:
- Giá có tuyết rơi bây giờ thì đẹp lắm.
Lúc ấy trời bỗng đầy mây như báo hiệu một cơn mưa bão sắp đến. Fu Say bảo mọi người:
- Hay chúng ta dẫn các em xuống núi, đứng đây cũng nhìn rõ cầu trượt rồi, các em cũng mỏi chân, mà nếu lên đó mưa xuống không biết trú vào đâu.
Sao Mi muốn lên đó để được nhìn xuống thị trấn và cảnh vật xung quanh. Văn thấy các em mồ hôi đã nhễ nhại, anh bèn bảo Fu Say:
- Fu Say đưa các em xuống xe cho mình luôn. Mình dẫn Sao Mi lên trên đó cho cô ấy thỏa tính tò mò. Cả đời mới có dịp đi thế này.
Họ nhất trí với nhau như vậy. Khi Sao Mi và Văn lên tới nơi, Sao Mi rất xúc động khi nhìn xuống chân núi. Cô khẽ bảo:

- Đẹp quá, nó gợi cho em nhớ mảnh đất Lào nơi quê hương em cũng có rất nhiều núi đồi.
Văn cũng lặng đi:
- Xóm nhỏ ở chân núi ven hồ kia sao có gì đó thật thân thiết với anh.
Lúc đó cơn mưa đang tới gần, bầu trời xám xịt, gió ào ào nổi lên từng cơn. Văn vội giục Sao Mi:
- Chúng mình xuống núi nhanh, không mưa đến thì ướt hết.
Dưới chân núi có một thị trấn nhỏ, ở đó khách du lịch rất đông. Văn và Sao Mi vừa tới nơi thì trời đổ mưa. Hai người chạy tới bên thềm một ngôi nhà ven đường đứng trú ở đó, Sao Mi nói:
- Mưa nặng hạt thế này, chỉ một lúc là tạnh thôi
Văn:
- Nhìn mưa rơi, lòng anh nhớ đến bản Cok Phô năm nào. Sao Mi biết không, ở đó Văn có một người mẹ và một người chị đã cứu sống anh khỏi cái chết vì kiệt sức trong rừng già. Bao ân tình ơn nghĩa của đất nước Lào ắp đầy trong tim anh…
Sao Mi lùi lại, nhìn Văn như một người chưa từng quen biết. Cô lắc đầu rồi gõ nhẹ những ngón tay lên trán, như muốn khẳng định điều gì. Cô đề nghị anh:
- Anh kể chuyện về mẹ và chị người Lào cho em nghe đi.
Mắt Văn như mờ đi. Anh nhớ về ngôi nhà sàn mỏng manh bên sườn núi, nơi đã cứu mạng anh mấy tháng trời. Căn nhà làm bằng tre nứa và gỗ lợp bằng tranh với hai mái chính và hai mái phụ. Các cột nhà từ dưới đất lên bằng gỗ đẽo tròn, rui, mè bằng tre. Nhà có hai cầu thang, một chiếc trước nhà, một chiếc trước sàn bếp đi ra. Mẹ Nàng Pheng đã thương và coi anh như con. Hình ảnh mẹ và chị chăm sóc anh từ lúc mê man đến lúc lành vết thương anh không thể quên được. Anh nhớ mùi cơm nếp Lào được nấu cách thủy. Cơm rất thơm và dẻo, đặc biệt không dính tay, ở Lào mọi người đều ăn bốc. Mẹ chiều anh thường làm cơm nếp nướng gọi là Khậu Lam. Chị Nàng Phan vào rừng chặt các ông nứa. Mẹ trộn gạo nếp với thịt băm đổ vào ống nứa cùng nước dừa. Chị Nàng Phan cho vào lửa nướng chín và hơi sém. Sau khi cơm chín chị chẻ nứa chung quanh và vỏ lụa của nứa ôm lấy cơm nướng thành một thỏi cơm tròn và dài. Cả nhà quây quần bên bếp lửa với món bình rượu cần, chấm cơm nếp với món Cheo-pa-đec (Dăm bẩy quả ớt nướng giã với muối, vài quả cà chua nướng trộn với mấy con mắm cá) ấm cúng biết bao. Sau khi vết thương đã đỡ có thể đi tập tễnh được, Văn nóng lòng trở về đơn vị. Anh xin phép mẹ và chị lên đường. Đêm chia tay thật cảm động, mọi người mời anh ra ngôi chùa giữa làng. Trước cửa chùa là chiếc sân rộng. Bản Cok Phô có khoảng ba chục mái nhà, đàn ông đi theo bộ đội Pathet Lào chỉ còn phụ nữ, trẻ em và các ông già bà cả, nhưng mọi người rất yêu ca múa. Đêm ấy trăng sáng, tiếng khèn trầm bổng của già làng cất lên. Trong ánh lửa bập bùng mọi người nắm tay nhau thành vòng tròn múa điệu Lăm vông. Rồi tiếng hát theo điệu Lăm Nhao của Chị Nàng Phan cất lên:
Lào – Việt Nam
Nhà chung mái
Rẫy chung núi
Ruộng chung đồng
Tắm một bến sông
Thuyền về một bến
Đôi ta tuy có xa
Không xa bằng tiếng hú
Không xa bằng đường tên
Sáng sớm mặt trời chưa ló
Đi vo gạo thấy mặt nhau
Tiếng xa quay nghe rõ
Tiếng khèn bè nghe rõ
Núi cao xanh đứng đó
Ấp ủ những đường mòn
Thầm thì kể chuyện kiếp xưa làm nô lệ
Cách mạng như nước chảy
Lào-Việt uống chung lòng
Tiếng “ai noọng” ngọt lòng
Gặp nhau chào “Xá bai”
Lào – Việt là anh em
Kết nghĩa bạn sống chết
Núi sông bao giờ quên
Người đồng chí Việt Nam tình nguyện…
Mẹ Nàng Pheng cũng hát tặng anh những lời hát đầy ân tình:
Sáng sớm mẹ lên nương
Thấy sương trắng trên núi
Lần theo vết chân
Mưa đầu hôm đã xóa
Con đi rồi – đứa con Việt Nam tình nguyện
Mong con gặp điều lành – Mẹ khấn
Đi không vấp đá
Qua đường không gặp nhánh nè
Vào rừng không dẫm gai tre
Uống ba chum rượu không say không té
Bao giờ con trở lại
Ép xôi nóng
Bát măng chua
Đường chưa quen mẹ bảo
Trời đêm hôm có tối
Đưa “cà boong” con thắp
Lửa hồng đây con sưởi
Con cụ Hồ là con mẹ
Bụng cụ Hồ là bụng mẹ
Đôi bạn nghèo
Hạt gạo cắn chia đôi.
Mẹ hát xong, anh ôm mẹ khóc trong tiếng khèn trầm ấm thiết tha. Chia tay anh, mẹ tặng anh chiếc vòng bằng bạc trắng, mà theo mẹ khi đeo vào con ma ốm không dám bắt nạt. Còn chị Nàng Phan tặng anh chiếc khăn Phạ phe, chiếc khăn ấy dài khoảng 1,6 mét, rộng 0,8 m dệt bằng sợi, vải kẻ ô đen trắng. Chị chỉ cách dùng khăn cho anh: “Ở nhà hoặc trong lao động em quấn ngoài quần cộc, thay xà lùng. Đi đường khi trời nắng em quấn lên đầu che nắng. Nhảy xuống sông tắm em dùng Phạ phe thay quần lót. Cần nằm nghĩ bên rừng em dùng Phạ the trải nằm. Phạ the còn dùng gói quần áo, gói thức ăn đi đường hoặc các loại rau, nấm, măng…”. Những lời của mẹ, của chị giản đơn, bình dị và gần gũi như con sông, con suối của người Lào…
Nghe Văn kể những điều ấy, Sao Mi nhận ra Văn chính là người mà mẹ cô muốn cô tìm gặp trước giờ phút lâm chung. Cuộc gặp gỡ thú vị này như một định mệnh, như là một sự sắp xếp của tạo hóa. Và để khẳng định thêm một lần nữa người đứng trước mặt mình có đúng là anh chàng Văn năm ấy không, cô hỏi:
- Có phải anh là Trịnh Thành Văn không?
- Đúng, anh là Trịnh Thành Văn…!
Văn chưa dứt lời đã thấy Sao Mi gục đầu vào vai anh khóc:
- Trời ơi! Anh Văn! Mẹ và chị mà anh vừa kể đó chính là mẹ và chị của em.
Văn ngạc nhiên:
- Thật vậy sao? Mẹ có cho anh biết bố là bộ đội Pathét Lào có mang một người con gái theo cùng. Lúc gặp em, anh cũng có cảm giác ngờ ngợ… Không ngờ em là em gái chưa biết mặt của anh.
Sao Mi nức nở:
- Mẹ mất rồi anh ạ.
Văn thảng thốt:
- Trời ơi! Mẹ mất thật rồi ư?...
Sao Mi nói trong nước mắt:
- Em chưa nói anh rõ, cha em là chiến sĩ cách mạng Lào. Năm đó em còn nhỏ lắm, em theo cha vào rừng. Trong một trận B52 rải thảm trúng cứ, cha lấy thân mình che cho em. Một mảnh bom phạt ngang lưng, máu của cha tưới đẫm người em. Các chú đã chôn cha trong rừng và đưa em sang Hà Nội học. Em ở Hà Nội hơn chục năm. Ngày em về bản Cok Phô thì mẹ em đã đau bệnh qua đời, em không được nhìn mặt mẹ lần cuối. chị Nàng Phan có bảo em còn có người anh Việt Nam mà mẹ muốn em tìm gặp anh ấy, nhắn mẹ vẫn thương nhớ anh nhiều. Anh biết không, bức thêu em treo trong trại chính là bức thêu của chị Nàng Phang tặng em đấy.
Những giọt nước mắt chảy ướt vai anh khiến anh thấy bàng hoàng. Không ngờ trên đất nước Tiệp Khắc xa xôi này anh gặp lại Sao Mi. Niềm vui chưa bắt đầu thì nỗi buồn đã đến, thế là mẹ nuôi của anh không còn nữa.
- Sao Mi, em đừng khóc nữa.
Chung quanh Văn, mọi vật như nhòa đi. Những kỷ niệm cũ ùa về. Văn ôm Sao Mi vào lòng, nước mắt bỗng trào ra. Anh muốn nói với cô ngàn lời an ủi nhưng miệng anh đắng nghẹn. Trong lúc ấy, anh không biết có một cô gái đang lặng lẽ nhìn họ. Cô gái ấy quay người vội vã bỏ đi mặc mưa rơi ướt đẫm mái tóc vàng. 
Chương 4:
Tối ấy, Văn về Poprad thì được biết có cuộc chiêu đãi phim, anh không thể rời bỏ công việc phiên dịch của mình để đi chơi đêm với Alena được. Anh đến ga Poprad khi màn đêm đã buông. Thành phố đang lên đèn. Trong ga Poprad hành khách lên xuống tấp nập. Anh dõi mắt tìm thấy Alena đứng thẫn thờ bên một gốc cây. Gió thổi mái tóc vàng của nàng bay bay. Văn vội vã đến bên:
- Alena, thật tiếc tối nay anh lại bận rồi.
Alena chua chát nói:
- Văn chắc lại bận xem phim với…
- Đúng đấy, Văn phải dịch cho các em thiếu niên mà.
Alena cười đau khổ:
- Thôi anh khỏi thanh minh nữa, anh về đi, vĩnh biệt!
Văn gặng hỏi:
- Tạm biệt chứ, sao lại vĩnh biệt, Alena?
Văn chỉ vừa kịp nhận ra một nét buồn in đọng trên gương mặt Alena, thì Alena đã khuất sau phố nhỏ. Có điều gì đó đã đến với Alena? Song anh cũng không còn thì giờ để nghĩ thêm nữa.
… Những ngày sau đấy, công việc bận rộn. Nhờ Văn mà các em thiếu nhi được hiểu thêm nhiều truyền thống tốt đẹp của nhân dân Tiệp Khắc, đặc biệt câu chuyện về người anh hùng Giu-li-út Phu-xích. Văn rất thích tác phẩm “Viết dưới giá treo cổ” của ông nên anh kể say sưa, truyền cảm về cuộc đời người anh hùng cho các em nghe:
“Trái tim châu Âu” là cái tên trìu mến người ta đặt cho đất nước Tiệp Khắc tươi đẹp nằm ở giữa lục địa châu Âu. Nhưng Tiệp Khắc còn được gọi bằng cái tên rất đỗi tự hào “Đất nước của Giu-li-ut Phu-xích”. Giu-li-ut Phu-xích, người anh hùng dân tộc của nhân dân Tiệp Khắc, đã từ lâu được nhân dân thế giới trân trọng và cảm phục. Phu-xích sinh ra ở khu phố Xmi-khôp, thuộc thủ đô Praha vào ngày 23 tháng 2 năm 1903. Mẹ là thợ may, còn bố là thợ tiện kim khí. Lớn lên, vào năm 1921, Phu-xích thi đậu vào trường Đại học Văn Triết ở Praha. Ngoài giờ học anh sinh viên khi thì làm nghề thuê cho một sở thống kê, khi thì lao động trên công trường, khi thì đẩy xe hàng hoặc viết báo để kiếm sống. Chính những tháng năm này người thanh niên Phu-xích đã tham gia hoạt động cách mạng trong phong trào thanh niên và sinh viên. Mặc dù còn trẻ, Phu-xích đã trờ nên nổi tiếng khắp trong nước với những bài báo viết về văn hóa và những bài phê bình văn học của ông. Chẳng bao lâu ông trở thành chủ bút của tạp chí Thân cây, và dưới sự chỉ đạo của ông, tạp chí này trở thành tạp chí xuất sắc nhất của Tiệp Khắc thời bấy giờ. Năm 1930-1931 Phu-xích bí mật sang Liên Xô với tư cách phóng viên thường trú báo Đảng. Sau khi công tác ở Liên Xô về, Phu-xích được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Tiệp Khắc và làm chủ bút báo Quyền lợi đỏ. Năm 1938 phát xít Đức xâm chiếm Tiệp Khắc. Báo Quyền lợi đỏ phải đi vào hoạt động bí mật. Phu-xích đã dùng ngòi bút của mình chiến đấu không mệt mỏi với bè lũ phát xít và tuyên truyền cho cách mạng. Mỗi câu mỗi chữ Phu-xích viết ra đều thắm đượm tình cảm của ông với Tổ quốc, với nhân dân. Bọn phát xít đương nhiên rất sợ hãi và ngày đêm chúng tung mật thám tìm bắt ông. Ông đã bị chúng bắt vào một đêm tối trời tại một địa điểm thuộc ngoại ô Praha. Ngay từ khi lọt vào tay bọn đao phủ, Phu-xích đã biết trước cái chết sẽ đến với ông. Ông phải đương đầu với cảnh tra tấn dã man kiểu trung cổ của bọn quốc xã và những cuộc đối chất vô cùng xảo quyệt của chúng. Nhưng cung cảnh đó không làm người anh hùng lùi bước. Ngược lại ông càng sống càng hiên ngang. Nhờ người coi ngục biết lẽ phải mà Phu-xích đã hoàn tất thiên phóng sự “Viết dưới giá treo cổ”. Sau giải phóng, vợ ông đã cho xuất bản tác phẩm này vào mùa thu năm 1945. “Viết dưới giá treo cổ” lập tức gây tiếng vang đặc biệt trong đất nước Tiệp Khắc và trên toàn thế giới. Nó đã được dịch ra hầu hết các thứ tiếng trên thế giới và được tái bản mấy trăm lần ở khắp các nước.

Ngày nay mỗi khi đọc lại “Viết dưới giá treo cổ” có lẽ mỗi người trong chúng ta vẫn không thể không xúc động. Thật khó mà tưởng tượng được rằng một tác phẩm vĩ đại như thế, thu hút người đọc như thế mà lại được viết trong hoàn cảnh ngục tù thiếu ánh sáng, thiếu giấy mực, trong hoàn cảnh chỉ có tiếng thét và sự đánh đập của quân phát xít, trong hoàn cảnh phải “chạy đua từng giờ từng phút với cái chết”
“Đâu có phải vì mất đầu mà con người trở nên nhỏ bé!” Câu nói của Phu-xích thật là giản dị nhưng nó có sức hút kỳ lạ với người đọc, vì nó chính là con người của ông. Ông không bao giờ chết. Tư thế hiên ngang của ông: ngẩng cao đầu và hát bài Quốc tế ca khi bước ra pháp trường ngày mùng 8 tháng 9 năm 1943 mãi mãi in sâu trong ký ức nhân loại…
Câu chuyện của Văn kể làm các em liên tưởng đến hình ảnh anh hùng Nguyễn Văn Trỗi bước ra pháp trường. Các em ghi tỉ mỉ câu chuyện vào trang nhật ký để về kể cho bà con nghe. Đêm đốt lửa trại chia tay thật cảm động, đoàn thiếu niên các nước vui sát cánh bên nhau hát hò thâu đêm. Sao Mi cảm thấy niềm vui tràn đầy. Cô luôn thấy cuộc đời đẹp đẽ. Văn coi Sao Mi như em gái mình vậy. Trong ánh lửa bập bùng của miền rừng núi hàn đới Sao Mi đã múa điệu Lăm Vông cùng các cháu thiếu nhi Lào. Tiếng hát Khắp Lăm của cô nghe nghẹn ngào:
Em nhớ anh mỗi ngày ba bữa
Bữa thứ nhất, lúc thấy trâu về
Bữa thứ hai khi nhóm nồi cơm nấu tối
Bữa thứ ba là lúc em quay xa, cuộn sợi
Lòng em như tơ rối, nhớ anh mãi khôn nguôi…
Múa hát xong cô lại ngồi thừ ra. Khi cô ngước nhìn anh:
- Poprad đêm nay làm em nhớ đến Hà Nội quá. Em không phải là người Hà Nội nhưng tuổi thơ của em đã trôi qua đẹp đẽ bên những hàng sấu mà mỗi trưa hè ve kêu rả rích. Em đã bao lần mong muốn được trở lại Hồ Tây với đường Thanh Niên xanh mướt những hàng liễu rủ. Anh biết không, trở về Lào mà lòng em còn nặng nỗi niềm với đất Hà thành yêu dấu. Em yêu quê hương em, đất nước của triệu voi, của những điệu múa Lăm Vông. Với em, Việt Nam là quê hương thứ hai. Em sẽ xin sang công tác tại Sứ quán Lào tại Hà Nội…
Văn cũng cảm động không kém:
- Sẽ có ngày anh trở về bản Cok Phô thăm em. Ngày nay ba dân tộc anh em Việt Nam – Lào – Căm-pu-chia gần gũi không có gì ngăn được. Anh sẽ đến khi mùa chăm-pa nở trắng khắp rừng núi Savanakhet. Anh sẽ mang tặng em những cánh phượng hồng.
Bỗng Sao Mi hỏi anh:
- Anh Văn đã có ai chờ đợi chưa?
Văn cười:
- Anh chưa dám nghĩ đến chuyện đấy, tất cả cho học tập đã.
Sao Mi muốn nói tiếp một điều gì sâu sắc hơn, nhưng rồi cô lại lặng im.
Rồi ngày chia tay đến, trên sân bay Poprad một buổi sáng mùa hè, từng đoàn thiếu niên các dân tộc chen nhau lên máy bay. Các em còn ngoảnh lại nhìn lần cuối miền đất xa lạ đẹp đẽ và mến khách này. Dũng nắm tay Văn:
- Tạm biệt Văn, hẹn ngày gặp lại Văn ở Việt Nam.
Các em thiếu niên quây lại bên anh.
- Bao giờ anh Văn về nhớ đến nhà em chơi.
Lệ, em gái Côn Đảo nói với anh:
- Ở nhà em, anh sẽ thấy đẹp hơn ở đây nhiều. Em sẽ dẫn anh đi cùng các bạn thăm nghĩa trang Hàng Dương.
Văn vui vẻ dặn dò các em:
- Về nhà các em nhớ kể lại cho bà con nghe những điều hay, những cảnh đẹp mà các em đã được thấy, được nghe ở đây nhé.
Sao Mi đến bên Văn. Giọng cô thoảng qua như hơi thở:
- Anh Văn cầm lấy bức thêu và chiếc túi này. Em muốn nói với anh nhiều lắm, nhưng lúc này em cảm thấy không làm được điều đó. Sao Mi sẽ viết thư cho anh…
Văn cầm lấy những kỷ vật mà lòng bâng khuâng. Anh nắm chặt bàn tay của Sao Mi trong tay mình, rồi đeo lên cổ tay Sao Mi một chiếc đồng hồ:
- Anh Em mình sắp xa nhau, còn lâu mới được gặp lại. Nhưng em hãy coi anh như người anh trai. Luôn ở bên cạnh em, động viên em trong mọi công việc. Anh sẽ nghĩ nhiều đến em
Văn nhìn thấy mắt Sao Mi ngấn lệ.
- Đừng khóc, Sao Mi …
Cô khẽ gật đầu:
- Em là một cô gái đa cảm lắm anh à. Ở bên anh, em cảm thấy hạnh phúc, lúc xa rồi chắc nhớ nhiều. Em sẽ đếm ngày chờ đợi gặp anh. Anh chưa hiểu được lòng em đâu…
Sao Mi rụt tay khỏi tay Văn, chạy như bay đến chỗ các em thiếu nhi Lào. Những chiếc khăn tay màu hồng tung lên. Chia tay, chia tay, Văn lưu luyến trước phút giây tiễn biệt. 
Chương 5:
Rời sân bay Văn muốn đến nhà Alena trước khi về Brno. Khi ngôi nhà quen thuộc hiện ra, cảm giác xôn xao dâng lên trong lòng Văn. Nhà Alena như một lâu đài ngập trong sắc hồng của các loài hoa. Ven đường dẫn vào nhà, một bên nở đầy hoa hồng bạch, một bên đỏ rực màu cẩm chướng. Văn gặp bà Marta ngay đầu ngõ. Bà đang chăm sóc một khóm thược dược.
- Chào bác, Alena có nhà không hả bác?
Bà dừng tay ngẩng lên thấy Văn:
- Cháu vào nhà chơi đã. Alena đi từ ba ngày trước rồi. Con bé có để lại bức thư gửi anh đây.
Văn lạnh người, theo bà Marta vào nhà, lòng nghĩ vẩn vơ. Sao Alena không chờ mình nhỉ. Đến lúc giở bức thư Văn mới hiểu:
“Văn!
Alena viết những dòng này khi lòng Alena đã nguội lạnh tất cả. Nhưng dẫu sao Alena cũng thú thực là đã có lúc Alena yêu Văn mãnh liệt. Tình yêu ấy trong trắng chân thành, nhưng thật tiếc chỉ có một phía. Alena cứ tưởng đến một lúc nào đó Văn sẽ hiểu cho lòng Alena. Nhưng sự đời thật đau xót. Văn chưa bao giờ yêu Alena cả…
Alena không chờ Văn đến được, Alena sẽ đến Bratislava tìm một mùa hè mới ở miền xa. Chúc Văn tất cả mọi sự tốt lành.
Alena” 
Từ biệt bà Marta, Văn quyết định đi Bratislava. Bức thư đã gây ấn tượng buồn bã trong lòng anh. Văn thấy cần phải tìm gặp Alena. Trên suốt chuyến tàu, không lúc nào anh không nghĩ đến Alena và những lời nói dịu dàng êm ái của nàng.
Đến Bratislava, Văn tìm gặp một người bạn cùng lớp hỏi thăm tin tức xem Alena hiện ở đâu. Người bạn khuyên Văn:
- Mình không biết, nhưng cậu muốn tìm thì nên đến những buổi disco hoặc những vũ hội sẽ thấy thôi.
Nghe lời người bạn, đêm ấy Văn tìm đến một tiệm nhảy khá lớn ở trung tâm thành phố. Bước vào tiệm Văn đã để ý khắp nơi, nhưng anh chỉ thấy những cặp trai gái choàng tay lên vai nhau dập dìu trong tiếng nhạt. Văn tìm một chiếc bàn khuất góc, chàng gọi người bồi bàn:
- Mang cho tôi một chai rượu nho và hai chiếc cốc!
Văn thầm nghĩ: nếu giờ Alena đến đây thì tuyệt vời biết bao. Tiếng nhạc xập xình không làm cho chàng thấy đam mê. Văn cứ lặng im bên chai rượu và chờ đợi. Bỗng Văn có cảm giác như ai đó đang nhìn mình. Văn ngoảnh lại và thấy gần bàn quả nhiên có một cô gái rất trẻ đang chăm chú nhìn anh. Nàng khẽ mỉm cười, đôi môi hồng hình trái tim mới gợi cảm làm sao. Hàng mi kẻ công phu, cong vút lên, những hạt kim tuyến trên mí mắt lấp lánh. Văn quay đi nơi khác nhưng anh vẫn cảm thấy ánh mắt của người đẹp đang nhẹ nhàng lướt trên khuôn mặt thanh tú của anh. Mải suy tư, Văn giật mình khi có một giọng dịu dàng bên tai:
- Anh cho tôi hỏi, chỗ này có ai ngồi chưa?
Văn ngẩng đầu lên, anh chỉ kịp đáp: “Chưa ai ngồi cả” thì đã thấy người đẹp ngồi cạnh anh.
- Hình như anh đang chờ một người nào đến đây?
Văn lắc đầu:
- Không, tôi không hẹn hò ai hôm nay cả.
Cô gái thắc mắc:
- Tại sao anh phải rót rượu ra cả hai cốc?
Văn cười xòa:
- Những người đàn ông cô độc như tôi thì thích viễn tưởng một người bạn gái trong mộng. Người bạn gái ấy nghe trọn niềm tâm sự của tôi như cốc rượu tràn đầy vậy. Còn cô không phải ngẫu nhiên mà dừng chân ở đây.
Cô gái:
- Ôi, nếu thế thì em cũng muốn được nghe tiếng nói của lòng anh. Chỉ tiếc là em không có trí tưởng tượng nghĩ đến một hoàng tử trong mơ.
Văn lịch sự đứng dậy:
- Tôi thật sung sướng làm quen với cô. Chúng ta nâng cốc chúc mừng cho sự tao ngộ này.
Cô gái giới thiệu tên là Dana, họ vui vẻ nói chuyện với nhau vế thành phố Bratislava. Qua câu chuyện, Văn biết Dana bán hàng ở bách hóa tổng hợp của thành phố. Dana vừa mới vào nghề một thời gian, biết Văn trải qua năm tháng ở bộ đội rồi mới đi học, cô cảm phục lắm. Nhất là khi nghe những câu chuyện trong quân ngũ, những lúc ở rừng cả tuần thiếu cơm, những ngày đêm hành quân không nghỉ. Cô cũng tâm sự ước mơ vào đại học của mình như thế nào, nhưng gia đình không muốn con gái học lên cao. Bố mẹ cô cũng muốn con có nghề nghiệp không phải quá vất vả. Dana nói đùa với Văn:
- Nghe anh kể chuyện học hành vất vả em cứ nghĩ anh không có thời gian đến những nơi như thế này chứ. Anh thạo làm toán hơn thạo nhảy phải không?
Lúc ấy trong tiệm nổi lên một điệu van quen thuộc, Văn cười bảo Dana:
- Nhất định rồi, nhưng nếu Dana muốn chúng mình sẽ nhảy một bài.
Dana gật đầu. Cô khoác tay Văn. Hai người bước bên nhau:
- Dana có biết bài này không? Văn không thuộc lời Tiệp, nhưng nội dung nói đến một thảo nguyên hoang vắng, mênh mông tận chân trời, và nơi ấy hoa thơm nở khắp cánh đồng. Người con trai tìm người yêu mình khắp chốn, nhưng hoài công vô ích. Người con trai gọi tên người con gái. Chàng nhắn theo gió theo chim tình yêu cháy bỏng không phút giây nào nguôi với người mình yêu. Tình yêu ấy dù cho năm tháng trôi qua, dù cho gió tuyết mưa rơi, sương sa, bão nổi vẫn xanh như cây mùa xuân. Lời bài hát rất đẹp, nhưng Văn không đủ trình độ dịch hết.
Tiếng nhạc êm đềm tràn ngập dưới ánh đèn mờ ảo, những đôi trai gái, những cặp vợ chồng sánh bước bên nhau say sưa trong niềm hạnh phúc của tình yêu. Nhưng với Văn tiếng nhạc quen thuộc chỉ gợi dậy trong lòng anh những kỷ niệm, những buổi đi vũ hội ở Brno với Alena. Alena nhảy thật đẹp, nàng có đôi chân thon thả, có tấm thân mềm mại. Dù điệu valcik, polka, tăng gô hay các kiểu hiện đại, ở đâu nàng cũng thể hiện một nét sống động đến ngây ngất. Cũng chính Alena đã làm “cô giáo” dạy Văn nghệ thuật của vũ hội, để anh có thể thấy được cái hay cái đẹp của nền văn hóa Tiệp Khắc. Song thời gian trôi qua, Văn luôn giữ được tình bạn đúng mực, bởi vì anh chỉ muốn dồn sức lúc này cho học tập. Tiếng gọi của quê hương đã làm Văn hững hờ đối với Alena. Nhưng thật ra con tim Văn đã đập rộn rã mỗi khi nói chuyện với nàng. Lòng anh đã cảm thấy rạo rực bồi hồi khi đặt tay lên vai nàng bước trong tiếng nhạc. Giờ đây tay anh đang đặt lên vai một người con gái khác mà lòng vẫn nhớ nhung đến hàng mi đen nhánh và ánh mắt nàng. Dana vẫn thì thầm bên tai anh. Rồi một điệu tango nổi lên, Văn có cảm giác như trong vòng tay mình là Alena. Chàng nhảy mãnh liệt xúc động, đến nỗi Dana kêu lên:
- Anh Văn nhảy nhanh quá làm em theo không kịp. Thế này thì em phải đính chính lại lời ban nãy. Anh là hoàng tử của vũ hội mới đúng.
Cuộc nhảy còn tiếp tục đến khoảng 11 giờ, họ chia tay nhau. Dana lưu luyến:
- Mai anh lại tới nhảy nữa nhé!
Ba tối liền Văn đều có mặt ở tiệm “Con ngỗng vàng”. Anh và Dana đã trở thành đôi bạn nhảy tâm đắc. Văn cố tìm gặp Alena, nhưng không thấy bóng dáng nàng đâu. Không thể ở lâu hơn khi túi đã sắp cạn, tối thứ ba đến quán gặp Dana, Văn bảo:
- Ngày mai tôi về Brno, tạm chia tay Dana nhé.
Dana ngạc nhiên:
- Anh Văn nói gì lạ vậy, ngày hè còn dài, hay anh không muốn nhảy với Dana nữa?
Văn thanh minh:
- Thực ra tôi muốn đi tìm một người bạn, mà không gặp được. Tôi còn rất nhiều việc phải làm ở Brno.
Dana nhìn Văn mạnh dạn:
- Tối nay, anh em mình không nhảy nữa. Em muốn đưa anh đi tham quan Bratislava, đây là Thủ đô của nước cộng hòa Xlo-va-kia trong Liên bang cộng hòa xã hội chủ nghĩa Tiệp Khắc.
Văn vui vẻ:
- Nếu được thì hay quá. Tôi rất muốn ngắm thành phố đêm.
Họ rời tiệm nhảy đi dọc sông Dunaj êm đềm. Đây là con sông dài thứ hai châu Âu, tới 2.750 kilomet, chỉ sau sông Volga (3.700km). Con sông này chảy từ Tây sang Đông Âu, đi qua tám nước: Đức, Áo, Tiệp, Hung, Nam-tư, Rumani, Bulgari và Liên Xô. Đoạn chảy qua Tiệp Khắc dài tới 160 kilomet. Dòng sông như một dải lụa êm đềm quấn quanh kinh thành Bratislava cổ kính có vết tích hàng ngàn năm trước công nguyên. Đêm mùa hè châu Âu thật đẹp. Những vì sao lung linh gắn trên tấm thảm đèn bao la. Mặt sông như một tấm gương sinh động in hình những ngôi nhà cao tầng và cầu Bratin hùng vĩ. Ở Tiệp Khắc có rất nhiều núi và sông nhưng không có một tấc bờ biển, cho nên việc vận chuyển lớn chỉ bằng tầu hỏa và tầu sông. Tiệp Khắc muốn chuyển hàng qua các đại dương phải nhờ cảng của Liên Xô để làm nơi đỗ tầu. Dana chỉ cho Văn xem cảng sông Bratislava phía xa xa. Trong đêm, cả một khu vực sáng ánh đèn, những chiếc cần cẩu khổng lồ với ra ngoài sông chuyển từng container lên hàng chục chiếc tầu to, nhỏ đậu dọc cảng. Ba chiếc cầu đồ sộ vắt ngang qua sông nối liền đôi nửa thành phố. Một bên là Bratislava cổ kính với những gác chuông thánh đường và các lâu đài nguy nga tráng lệ kiến trúc kiểu Gôtích, một bên là những công trình hiện đại như khách sạn quốc tế Manéti, Viện Hàn lâm Ixtropôlita, cung văn hóa, đài phát thanh…
Người Bratislava rất tự hào về cây cầu mới xây. Đây là một công trình vĩ đại được xây dựng trong bảy năm. Hai trụ cầu như hai cánh tay chàng khổng lồ đỡ cho chiếc cầu nặng hàng ngàn tấn. Hai cánh tay ấy như cao vút lên nâng trụ đỡ đài truyền hình lên tầng mây. Dana kéo Văn đến thang máy của trụ cầu:
- Lên đây anh Văn, em sẽ chỉ cho anh toàn cảnh kinh thành Bratislava diễm lệ.
Dana mua hai vé vào thang máy, mỗi vé 3 curon. Văn đòi trả tiền, nhưng cô không chịu:
- Để hôm nay em chiêu đãi anh, mai đi xa anh còn nhớ đến Bratislava với sông Dunaj xanh.
Chiếc thang máy đưa hai người lên quán rượu lửng lơ giữa tầng cao cách mặt đất tương đương cao ốc 29 tầng. Quả nhiên trên cao Văn như lạc vào vũ trụ đầy sao. Sao trên trời lung linh, dưới đất muôn ngàn bóng đèn cũng tạo thành một biển sao trần gian lấp lánh. Dana kéo tay anh tới sát bên tường kính chỉ cho anh thấy đài kỷ niệm Hồng quân cao 72 mét trên đồi Slavin. Giọng cô xúc động:
- Anh có biết không? 18.000 chiến sĩ Hồng quân Xô Viết đã hy sinh cùng nhân dân Tiệp Khắc để giải phóng cho nước cộng hòa Xlo-va-kia này. Trên đài tưởng niệm lúc nào cũng có những bó hoa tươi thắm của khách bốn phương. Bố em cũng từng là du kích tham gia giải phóng Bratislava. Nên tuần nào ông cũng lên đấy để tưởng nhớ những người bạn của ông.
Văn thầm nghĩ đến Trường Sơn, đến những ngày chiến dịch Đường 9-Nam Lào năm xưa. Biết bao nhiêu đồng đội của anh đã nằm xuống, biết bao nhiêu nấm mồ vô danh trong những cánh rừng đại ngàn. Rồi đây chắc chắn sẽ có một tượng đài cao vút tại Trường Sơn để tưởng nhớ những con người đã hy sinh cho độc lập, tự do.
Dana cũng chỉ cho Văn tháp truyền hình cao vút trên một ngọn đồi mâm xôi, như một cây nến lớn sáng giữa trời. Kiến trúc tương đối độc đáo, hình dáng của nó như một chiếc tháp lật ngược đặt trên một khối bê tông cốt thép với độ cao bằng tòa nhà 15 tầng. Xa hơn nữa là chung cư Petresenka của hàng chục ngàn công nhân viên chức với những tiện nghi hiện đại. Bratislava có số dân khoảng 40 vạn người, được chia làm 4 quận. Dana cho anh biết, nếu ban ngày trời trong xanh có thể nhìn thấy biên giới nước Áo. Đứng trên cao nhìn dòng sông hiền hòa chảy quanh thành phố, không dừng được Văn khẽ hát bản “Danube blue – sông Dunaj xanh”. Bản nhạc nổi tiếng mà anh đã được nghe từ thuở ấu thơ. Bản nhạc đã đi vào thi ca và âm nhạc thế giới. Dana nhìn Văn với ánh mắt trìu mến:
- Em không ngờ anh lại thuộc bài hát này. Em nghe như thấy tiếng sóng lao xao dìu dặt dưới chân.
Rồi cô cất tiếng hát bài “sông Dunaj xanh” bằng tiếng Sloven. Văn mời Dana ngồi xuống, rồi kêu hai cốc rượu vang đỏ Hungari. Văn lấy ra một chuỗi ốc thật đẹp:
- Trước khi uống ly tạm biệt, anh có một món quà cho em. Đây là vòng ốc từ quê hương Việt Nam có hơn ba ngàn kilomet bờ biển. Em coi đây là kỷ niệm của một người bạn mới quen, mà đã phải chia tay.
Dana cầm lấy vòng ốc ngắm nghía, rồi cô đeo lên cổ:
- Em sẽ đeo vòng ốc này cho đến lúc gặp anh lần sau. Anh về Brno nhớ viết thư cho em nhé. Có dịp em lên thăm anh được không?
Văn cười:
- Brno với Bratislava có gì xa cách đâu, chỉ vài tiếng đồng hồ là gặp được. Anh sẽ viết thư cho em.
Dana nhìn quanh, rồi cô rút chiếc nhẫn đang đeo trên tay:
- Gấp quá em chẳng có gì kỷ niệm anh. Xin tặng anh chiếc nhẫn này để nhớ tới người con gái Bratislava. Chiếc nhẫn này của bố em cho lúc sinh nhật lần thứ 20.
Văn vội từ chối:
- Anh không dám nhận đâu. Đây là kỷ niệm của bố em, em hãy đeo nó kẻo cụ buồn.
Dana thật lòng:
- Anh đừng lo, em sẽ nói với cụ là đã tặng cho bộ đội Việt Nam, chắc chắn cụ sẽ rất vui. Cụ luôn luôn khâm phục tinh thần đấu tranh bất khuất kiên cường của dân tộc Việt Nam.
Cuối cùng Văn đành đeo nhẫn vào ngón út của mình…
Ngày hôm sau, Văn vào chơi với bè bạn học nghề, mải bù khú chuyện trò lúc đến ga đã chín giờ tối. Văn vội mua vé, tức tốc chạy ra sân ga lên tàu. Anh kiếm một chỗ ngồi và ngắm nghĩ cảnh vật chung quanh, thầm nghĩ: thôi từ biệt nhé, từ biệt những ước mong thầm kín.
Văn bỗng nhận ra trong những người hành khách lên tàu có người bạn cùng lớp với mình. Anh gọi:
- Peter! Lại đây!
Peter cũng nhận ra Văn, cậu vui vẻ lên toa tìm đến chỗ Văn:
- Sao bây giờ Văn mới về Brno?
Văn cười:
- Ừ! Bây giờ tớ mới về, chán quá tìm gặp nàng mà không ăn thua, còn cậu đi đâu đấy.
Peter kêu lên:
- Trời, mình tưởng Văn gặp được Alena rồi chứ, sáng nay mình thấy Alena mà. Cô bé đi chơi rừng gần một tuần về. Lúc mình bảo Văn có đến tìm thì nàng sửng sốt. Mình cứ nghĩ Văn về Brno lâu rồi cơ. Ai ngờ vẫn trụ lại đây.
Văn gặng hỏi:
- Thế Peter có biết giờ Alena ở đâu không?
- Mình chỉ biết là ở chỗ đằng một bà con gì đó. Nhưng Alena có bảo tối nay nàng sẽ đến dạ hội tổ chức ở tiệm “Con ngỗng vàng”
Không kịp hỏi gì thêm, Văn vội chạy xuống tàu, lúc ấy đã 9h15. Đoàn tàu rùng mình chuyển bánh, Peter nói với theo:
- Chúc cậu gặp may!
Văn tự trách mình sao vội quay về, chút nữa thì vùi chôn hy vọng gặp nàng trong dịp hè này. Khi Văn bước vào tiệm, trái tim anh đã phải rung lên khi thấy Alena lộng lẫy như một công chúa, nổi bật trong đám bạn bè ngồi giữa tiệm. Văn không bước tới bên nàng, vì nhận ra xung quanh Alena còn có ba thanh niên khác. Anh tìm một chiếc bàn cách bàn Alena khá xa. Cũng như mọi lần, Văn gọi hai cốc rượu hồng. Anh không còn thời gian quan sát xung quanh, mọi suy nghĩ và đôi mắt anh lúc này hướng về nàng. Anh không ngờ trong quán, bên góc tường một người con gái khác cũng đang hướng về anh. Lúc đó hết thời gian giải lao, nhạc nổi lên, từng đôi bước ra quấn quýt bên nhau theo một điệu van. Văn nhận ra ba chàng trai cùng muốn nhảy với Alena. Nhưng nàng lắc đầu từ chối. Trước sự nồng nhiệt của bạn, Alena thấy khó xử, nàng không biết sẽ phải nhảy với ai. Cuối cùng nàng cầm bao diêm trên bàn và bảo:
- Nếu ai hất cho bao diêm này đứng thì Alena sẽ nhảy với người đó:
Ba chàng trai đồng ý. Lúc đó Văn đã đứng dậy, chàng đến bên bàn của Alena:
- Tôi cũng xin tham gia với mọi người.
Bốn người ngẩng đầu lên. Với ba chàng trai Văn là người quá xa lạ. Còn Alena đã nhận ra Văn, nàng muốn kêu lên, nhưng nàng lại im lặng, một sự im lặng kìm nén đầy trách móc. Nàng tránh ánh mắt của Văn, quay mặt nhìn đi nơi khác. Các bạn Alena kêu lên:
- Anh bạn làm gì có lượt ở đây cơ chứ!
Song Alena lại nói:
- Không sao, cứ để anh ta cùng chơi. Tôi chấp nhận điều đó.
Ba chàng trai lần lượt búng bao diêm, nhưng trớ trêu thay bao diêm toàm bị úp xuống. Đến lượt Văn, anh cảm thấy hồi hộp. Cả Alena cũng vậy. Khi chiếc bao diêm đã đứng im trên bàn, Alena kêu lên:
- Có thế chứ.
Rồi nàng khoác tay Văn bước ra như những ngày nào hai người còn ở Brno. Các chàng trai nhìn theo hậm hực. Nhưng Văn đã không để ý xung quanh, chàng cùng Alena lướt nhẹ trên tấm thảm. Văn thì thầm:
- Anh tìm em khắp nơi!
Alena giận dỗi:
- Tìm em làm gì? Em có gì đáng tìm đâu?
- Em đừng nói vậy!
Alena:
- Em nghĩ chúng ta chẳng bao giờ có những phút như thế này nữa.
Văn:
- Em đừng giận anh.
- Anh có bao nhiêu cô gái khác, hấp dẫn hơn em, xinh đẹp hơn em.
- Không, trong mộng, trong đời, em là người đẹp nhất của anh.
Alena dừng lại, nhìn chằm chằm vào mắt Văn:
- Đừng có nịnh em!
Văn:
- Không, anh nói thật.
Alena:
- Hứa đi! Anh không được phép bỏ rơi em lần nữa.
Văn thầm thì:
- Anh hứa…!
Sau những phút làm lành chóng vánh, họ chỉ còn biết chìm trong yêu thương ngọt ngào. Văn khẽ hỏi:
- Công chúa đã tìm được niềm vui ở miền xa chưa?
Alena cũng không kém:
- Vui lắm Văn ạ, vui tràn đầy như dòng sông Bratislava vậy. Còn Văn chắc đã sống những ngày hạnh phúc bên người yêu mình ở trại hè nhỉ?
Văn lắc đầu:
- Alena nhầm rồi. Ở trại hè Văn làm gì có người yêu nào, Văn chỉ có một người em gái ở đất Lào thôi. Alena nghĩ rằng Alena hiểu hết Văn, nhưng thật sự Alena chưa biết được lòng Văn đâu.
Tâm hồn Alena bỗng như bừng dậy. Nàng run lên trong cánh tay rắn chắc của Văn. Nàng muốn gục đầu vào vai chàng. Từ khi viết bức thư để lại cho Văn ra đi đến nay, lòng Alena lại càng thương thầm nhớ trộm người bạn trai đất Việt. Nàng muốn tới Bratislava tìm nguồn vui mới, nhưng ngày lại ngày trôi qua, nỗi buồn cứ kết đọng lại thành chuỗi tương tư. Tiếng Văn văng vẳng bên tai Alena:
- Alena đẹp quá! Ánh mắt em nhìn sáng như màu nắng. Môi em cười như hoa nở đầu xuân.
Alena nói như trong mơ:
- Nghĩ đến tình yêu em cảm thấy sợ hãi, đã có biết bao nhiêu chàng trai quanh em mà trái tim em không hề rung động. Anh đến như tảng đá ném vào mặt hồ phẳng lặng, để lòng em nổi sóng. Em là một cô gái kiêu kỳ, thấy anh hững hờ em bỏ đi tìm nguốn vui mới. Có ngờ đâu càng đi càng nhớ anh nhiều hơn.
Lúc ấy hết một bài nhảy, Văn dẫn Alena về chỗ mình ngồi. Khi đi qua chỗ các bạn trai, Alena kêu lên:
- Mình đến đằng này ngồi một lát nhé!
Ba chàng trai tức giận, hằm hằm nhìn theo.
Văn ngồi bên Alena, lòng lẫn lộn buồn vui. Văn khẽ vuốt bàn tay mềm mại, thon thả của Alena:
- Chúng mình nâng cốc mừng buổi gặp mặt..!
Vừa lúc ấy, có một cô gái xầm xầm bước đến bàn của hai người:
- Văn, anh là đồ lừa dối.
Hai người giật mình quay sang, Văn nhận ra Dana. Văn chưa kịp nói thêm lời nào Dana đã tiếp lời:
- Tôi cứ tưởng anh là con người không đến nỗi nào, ai ngờ chỉ đi lợi dụng lòng tin của người con gái khác thôi.
Cô giật mạnh chuỗi dây ốc đang đeo trên cổ, vứt vào mặt Văn:
- Đồ hèn! Cầm lấy mà lừa dối đứa khác…!
Dây ốc bị đứt làm văng những hạt ốc li ti ra sàn nhà. Đôi mắt của Dana vẫn ngầu lửa:
- Anh cũng trả ngay tôi cái nhẫn. Còn chị, chơi với ngữ ấy phải cẩn thận!
Văn kêu lên:
- Dana, Dana hiểu nhầm rồi!
Nhưng lúc ấy Alena đứng phắt dậy, ôm mặt khóc, giọng mếu máo:
- Văn, Văn xúc phạm tôi quá!
Rồi nàng chạy về bàn ba bạn trai, gục xuống.
Dana cầm chiếc nhẫn vừa nhận lại của mình, ném vào mặt Văn cái nhìn khinh bỉ:
- Thôi, vĩnh biệt…!
Sự việc diễn ra trong phút chốc khiến anh không biết phải làm thế nào nữa. Văn định gọi Dana, nhưng cô đã đi ra cửa tiệm. Văn đứng dậy, muốn đến bên Alena giải thích cho cô rõ, nhưng lúc ấy hai người bạn của Alena đã đến bên Văn.
- Vì danh dự của người con gái, chúng tao đến đây. Mày, nếu là một thằng đàn ông thực sự thì hãy nhận lời thách đấu của chúng tao.
Văn không ngờ câu chuyện lại dẫn đến kết cục như thế. Song anh không muốn giải thích thêm. Anh bặm môi:
- Giữa chúng ta không có thù hằn gì. Còn câu chuyện tôi với Alena chỉ là sự hiểu lầm.
Chàng thanh niên đứng bên xắn tay áo, cười gằn:
- Chả nhẽ mày sợ…?
Văn:
- Chúng ta đánh nhau ở đây không lợi.
Anh lẳng lặng ra ngoài quán, nhìn lại vẫn thấy Alena ngồi gục xuống bàn. Hai chàng trai ra theo. Họ tới một công viên, lúc đó trời đã khuya, đường phố vắng người. Trong công viên cây cối um tùm che lấp những ánh sáng từ đường hất vào. Văn hỏi:
- Một đấu một chứ?
Chàng thanh niên có mái tóc dài chấm vai bước tới:
- Hãy nhìn đây!
Hắn đá một cú như trời giáng về phía Văn. Là lính trinh sát, Văn cũng biết đôi chút võ nghệ, anh né người, đá lại một phát trúng hông của gã kia. Bạn hắn thấy thế kêu lên:
- Pavel, chú ý, hắn ta biết võ đấy!
Lúc đó Văn đã tiến sát người Pavel, nhân quả đấm của đối thủ, anh tóm tay vặn chéo lên:
- Tao tha mày lần này, lần sau tao vặn gãy tay!
Văn vừa thả ra thì Pavel và bạn hắn đã lao bổ đến Văn. Lần này thì Văn không đủ sức để chống lại hai đứa. Chúng tóm được anh, hai cú đấm như trời giáng vào mặt làm Văn lảo đảo. Song anh cũng đá vào ngực Pavel, làm hắn bổ nhào ra. Thằng bạn của Pavel tóm được tay Văn, hắn nện vào mặt Văn như nện dùi vào mặt trống. Quả đấm vào sườn làm Văn gục ngã, lịm đi. Thằng kia sợ quá, mặc Văn nằm thiếp trong công viên, kéo thằng bạn chạy:
- Có lẽ hắn ta chết mất, tẩu thoát mau!
Chúng chạy vào tiệm. Lúc đó Alena đang ngơ ngác:
- Mọi người đâu cả rồi, Lubor?
- Họ đi trả thù danh dự cho Alena rồi.
Lúc đó bọn Pavel chạy tới, kêu lên:
- Chạy mau, thằng nhóc bị trận đòn may ra sáng mai mới tỉnh dậy.
Lubor tỏ vẻ sung sướng:
- Có thế chứ, chắc cậu đấu tay đôi với hắn?
- Đâu có. Nó có võ. Bọn mình bị nó nện cho một trận, may nó nhân đạo tha mình, nên bọn mình hợp lực lại nên cho nó một trận nên thân. Không khéo nó tỏi rồi ấy chứ.
Alena hốt hoảng kêu lên:
- Trời ơi, Văn chết rồi sao…?
Nàng tái mặt chạy ra cửa. Pavel muốn cản lại, nhưng hai đứa bạn vội bảo:
- Mau đi khỏi đây, không con bé mà làm ầm lên, bọn công an đến thì phiền.
Trong lúc đó, Alena tức tưởi chạy về phía công viên. Nàng đã nghe thấy tiếng rên trong bụi cây. Khi Alena tới gần, nàng thấy Văn nằm sóng soài, mặt sưng vù, chàng kêu khe khẽ. Alena đau đớn gục xuống Văn:
- Anh Văn! Anh Văn! Tại em tất cả.
Nàng khẽ vuốt lên khuôn mặt yêu dấu, những giọt máu rỉ ra bên mép Văn khiến lòng Alena thắt lại. Nàng cảm thấy như nỗi đau đó là của chính mình. Văn khẽ mở mắt, chàng đã thấy một bóng áo trắng bên mình:
- Em đấy ư? Trời ơi, em!
Alena khẽ gật đầu, nàng cúi xuống cho đôi môi thơm mùi hoa hồng đồng nội gắn chặt vào đôi môi máu đang trào ra của Văn. Trên bầu trời những ngôi sao lấp lánh như đang mỉm cười với họ…
Ở Bratislava vài ba hôm, họ chia tay nhau. Văn đã viết bức thư dài cho Dana để cô hiểu câu chuyện. Alena về Poprad với mẹ nghỉ nốt những ngày hè, còn Văn trở lại Brno. Ngồi trên tàu hỏa ngắm nhìn cảnh đẹp qua ô cửa sổ, lòng Văn bồi hồi, xao xuyến. Nắng vàng đang nhuộm trên những rừng sồi, rừng bạch dương, rừng lipa. Những cánh đồng lúa mạch bao la, xanh rì reo trong gió. Ở Tiệp Khắc người ta tổ chức các nông trang tập thể, nên không có bờ vùng bờ thửa ngăn các ruộng như ở Việt Nam. Những chiếc máy cày, máy gặt thỏa sức tung hoành trên các cánh đồng, không có cảnh con trâu đi trước cái cày đi sau. Tầu hỏa của nước bạn ngăn từng phòng ngồi 6 người, hết sức rộng rãi thoải mái. Trong từng khoang trang trí rèm cửa và treo các bức tranh về đất nước Tiệp Khắc, các ghế ngồi bọc nệm tạo không khí ấm cúng. Theo nhịp đung đưa của tầu, Văn như say trong men tình yêu. Nụ hôn của Alena còn đọng trên môi, hương thơm của mái tóc vàng còn thoang thoảng đâu đây. Thế mà đã 5 năm trôi qua, anh gắn bó biết bao kỷ niệm với mảnh đất này, Tiệp Khắc đã trở thành quê hương thứ hai của anh, nơi anh đã trải qua những năm tháng êm đềm trong cảnh thanh bình của đất nước xã hội chủ nghĩa. Brno, thành phố nơi anh ở là thành phố lớn nhất vùng trung Tiệp, là trung tâm công nghiệp của xứ Mo-ra-va. Nơi đây có rất nhiều sản phẩm công nghiệp được sản xuất bán đi khắp nơi trên thế giới như máy cày Zetor, súng thể thao Zbrojovka hay pha lê Bohemia… Brno còn là thành phố hội trợ quốc tế. Hàng năm, hàng chục nước trên thế giới mang hàng hóa mới nhất đến đây triển lãm và chào bán. Có những ngày nghỉ Văn đã đi lang thang trong hội trợ để ngắm nhìn những sản phẩm của ngành công nghiệp hiện đại và giao tiếp với bạn bè khắp nơi…
Văn về đến ký túc xá thì nhận được thư của mẹ. Những lời động viên, những lời nhắc nhở nghiêm khắc làm anh hơi lo lắng khi nghĩ mối tình chớm nở với Alena. Trước khi lên đường sang Tiệp Khắc, mẹ đã tâm sự rất nhiều với anh. Điều bà luôn trăn trở là cuộc sống đầy đủ sung túc sẽ làm anh quên quê hương đang khó khăn. Một điều bà rất e ngại là chuyện yêu đương của tuổi trẻ, bà căn dặn:
- Con ạ, ra nước ngoài học tập con phải cố gắng hết sức. Mẹ hy vọng con sẽ thành tài mang bằng đỏ về đây cho mẹ là mẹ vui lòng. Con hãy gác chuyện yêu đương lại. Chờ đến khi về nước ổn định công việc, lúc đó tính chuyện gia đình cũng chưa muộn. Mẹ nghe bảo con gái Tiệp Khắc đẹp lắm…
Thấy mẹ lo lắng, Văn làm bài thơ tặng mẹ trước khi lên đường:
… Mẹ ơi mẹ! Xin mẹ đừng khóc
Xin mẹ yên tâm đừng bận bịu trong lòng
Con không ngã, không bao giờ bị ngã
Trong dòng sông nhơ bẩn xấu xa
Con không chết trong xa hoa phù phiếm
Con không run trước mãnh lực đồng tiền
Không ủy mị những mối tình si…
Thế mà giờ đây anh đang yêu một người con gái Tiệp Khắc đẹp như một đóa hoa hồng trong sương mai; xa cô mới có mấy ngày mà anh thẫn thờ ngẩn ngơ. Văn khẽ thở dài. Anh quyết định đi làm thêm kiếm ít tiền mua quà cho mẹ. Nhờ mấy người bạn cùng trường chỉ, anh tìm xuống nông trang tập thể ở Blansko cách Brno chừng 40 kilomet. Mùa này, dưới nông trang có rất nhiều loại hoa quả chín, nên họ rất cần lao động hái quả. Rất nhiều sinh viên trong trường đã xuống lao động từ đầu vụ hè. Khi Văn xuống, nông trang tiếp nhận ngay, họ đang thiếu người hái quả. Buổi sáng nông trang tổ chức cho sinh viên đi lao động ăn sáng trong nhà ăn tập thể gồm bánh mì, bơ, pho mát và uống chè đường. Cả nhà ăn buổi sáng đông nghẹt, từng tốp ngồi quanh bàn ăn vội vàng. Các sinh viên ăn mặc như những nông trang viên, quần áo bảo hộ lao động màu xanh nước biển. Ăn xong, mọi người tản ra theo các xe nông trang vào vườn hái quả. Trên đường đi họ cười đùa, trêu ghẹo nhau có khi hứng lên cùng nhau ca hát. Đến vườn mận mọi người tản ra, mỗi người chọn một cây để hái. Nhiệm vụ của họ hái đâu sạch đấy, hái hết cây này mới sang cây khác, không được để quả dập. Tiền công được tính theo năng suất hái. Mỗi thùng mận nông trang trả 3 curon.
Những cây mận to cao chi chít quả nom thật thích mắt. Quả mận Tiệp nhỏ như mận ở Việt Nam, không tròn mà thuôn dài như quả trám, mầu tím sẫm. Lúc đầu Văn bứt từng chùm cho vào miệng nhai ngấu nghiến để hưởng hương vị ngọt thơm của nó, nhưng đến chiều thì anh đã thấy ngán tận cổ. Các bạn sinh viên quanh anh chăm chỉ cần mẫn hái quả cho vào thùng, họ ục ịch nên việc leo trèo hết sức khó khăn. Những cành mận xa họ phải dùng thang chữ A đặt chắc chắn rồi mới leo lên vít hái. Riêng Văn thì leo trèo từ bé nên anh làm rất nhanh, những cành cao anh cũng leo lên vắt vẻo ngồi hái. Các bạn Tiệp đi qua lắc đầu lè lưỡi. Mấy ngày đầu anh làm bình quân hơn 20 thùng, sau rồi anh cải tiến làm chiếc sào để hái quả xa nên có ngày hái hơn 30 thùng quả. Trong khi các bạn sinh viên Tiệp làm chỉ độ hơn chục thùng là nhiều. Ở nông trang mọi người rất quí anh. Đặc biệt cô phục vụ nhà ăn tỏ ra mến anh ngay từ đầu. Cô luôn chăm sóc anh hơn những người khác, miếng thịt cho anh cũng dầy hơn. Bạn bè Tiệp và bản thân anh cũng ngạc nhiên. Cô có mái tóc màu hung, đôi mắt tròn to, hai bím tóc hai bên lúc nào cũng ngúng nguẩy nom rất tinh nghịch. Cô ăn mặc giản dị, nhưng vẻ tươi trẻ luôn toát ra qua nụ cười như bông hoa cúc trên đồng cỏ. Nhiều chàng trai đến tán tỉnh, bị cô bốp chát, ngán ngẩm bỏ đi. Đến một buổi chiều, Văn về ăn muộn, chỉ còn anh với cô, cô đến ngồi bên:
- Lin-da đang có tâm sự buồn.
Văn ngạc nhiên:
- Tôi trông Lin-đa vui vẻ phấn khởi lắm, tưởng như đời không có gì cản được cô?
Lin-đa lắc đầu:
- Thế mà tôi đang là kẻ thất tình đấy?
Văn tò mò:
- Tôi tưởng người ta thất tình vì cô chứ? Chẳng nhẽ có kẻ không rung động trước sắc đẹp của cô? Hay có kẻ nào phụ bạc cô?
Lin-đa trả lời:
- Anh ngac nhiên là phải. Tính tôi lúc nào cũng thích bông đùa, nên cứ cười cợt để che nỗi đau của mình thôi. Gặp người khác hay suy nghĩ thì chắc sẽ sầu héo. Tôi yêu say đắm một người, người ta cũng yêu tôi tha thiết, nhưng chúng tôi phải chia tay nhau. Người con trai ấy cũng là sinh viên Việt Nam như anh đấy.
Văn tự nhiên hơi đỏ mặt lên, Lin-đa không chú ý đến điều đó. Giọng cô trở nên xa xăm:
- Chúng tôi yêu nhau cũng được vài ba năm rồi. Tôi là sinh viên trường máy Brno, còn anh ấy hơn tôi hai khóa, là học viên học viện kỹ thuật quân sự VAAZ Brno. Tình yêu chúng tôi đầy mộng mơ. Chúng tôi đã cùng nhau đi khắp đất Tiệp, từ thành phố điện ảnh Karlovy Vary đến thành phố than bụi Ostrava, từ miền Nam đầy hoa thơm cỏ lạ lên miền Bắc với những đỉnh núi cao như Jasenhik, Vysoka Tatra quanh năm tuyết phủ. Chúng tôi yêu nhau từ mùa đông băng giá, sang mùa xuân ấm áp, đến mùa hè rực rỡ, qua mùa thu lá vàng bay bay để rồi quay lại mùa đông giá lạnh. Cuối cùng lại phải chia tay nhau. Anh có biết sao không?
Văn im lặng, nhưng anh cũng nóng lòng muốn nghe câu chuyện của Lin-đa. Lin-đa khẽ thỡ dài:
- Chỉ vì anh ấy là bộ đội. Anh ấy không được phép yêu người nước ngoài. Anh ấy phải trở về để phục vụ đất nước, phục vụ quân đội, phục vụ lý tưởng của anh ấy.
Văn hỏi:
- Anh ấy về nước lâu chưa?
Lin-đa buồn bã:
- Cũng được vài ba tháng rồi. Lúc đầu tôi giận anh ấy lắm, nhưng bây giờ thì lại thấy thương anh ấy nhiều hơn. Lòng tôi vẫn chưa thể nguôi ngoai để đi tìm tình yêu mới. Thế còn anh, anh có người yêu chưa?
Văn thật thà:
- Tôi cũng có bạn gái, cô ấy cùng học lớp với tôi.
Lin-đa giơ tay, nắm chặt tay Văn với tình cảm chân thanh:
- Anh cố giữ gìn nhé! Tôi không được may mắn như bạn anh…
Làm ở nông trang hơn mười ngày, Văn đã tương đối thạo việc. Anh trở thành nông trang viên thực thụ. Hôm thì đi hái mận, hôm thì đi hái đào, hôm thì đi làm cỏ dại cho cỏ ba lá. Ở nông trang có những cánh đồng cỏ ba lá mênh mông được trồng để chăn nuôi bò sữa. Loại cỏ này cũng rất sợ cỏ dại, nên người ta phải thường xuyên làm cỏ cho chúng. Một buổi sáng, Văn đang hái đào thì nghe tiếng gọi thoang thoảng trong gió:
- Văn, Văn, anh ở đâu?
Tim anh như nhảy dựng lên. Đúng Alena rồi. Vứt cả giỏ đào, Văn bụm miệng gào lớn:
- Anh đây, lại đây, Alena!

Alena lao ào đến như một cơn lốc. Hai người ôm chặt lấy nhau. Hai đôi môi gắn chặt vào nhau. Hai vòng tay xoắn suýt sau bờ vai. Xung quanh họ như không có ai, chim ngừng hót, gió ngừng thổi, mây ngừng bay để nhường cho hai trái tim thổn thức. Chỉ có một người im lặng nhìn đau đớn, dường như không chịu nổi, anh ta quay người lê gót đi. Sau một hồi ôm chặt nhau, họ buông ra rồi phá lên cười:
- Anh hạnh phúc qua! Em xuất hiện bất ngờ như một nàng tiên giáng trần vậy. Lam sao em biết anh ở đây mà tìm?
Alena sung sướng:
- Em nhớ anh. Chưa hết hè em đã đòi mẹ lên Brno. Về trường thì gặp Victor, cậu ấy bảo anh đi lao động. Cậu ấy tình nguyện dẫn em xuống đây. À quên mất, cậu ta đâu rồi nhỉ?
Văn và Alena nhìn quanh, nhưng Victor đã đau khổ bỏ đi rồi. Văn cúi xuống giỏ đào chọn một quả to đưa cho Alena:
- Em ăn đi, cho đỡ khát.
Alena lúc này mới chú ý đến vườn đào. Cô nhìn quanh thấy những cây xum xê xanh mướt, trên cành những quả đào mũm mĩm đung đưa trong gió. Cô cầm quả đào ửng đỏ cho lên môi:
- Ôi thích quá Văn ơi! Em chưa bao giờ thấy vườn đào nào sai quả như vậy. Anh cho em ở lại đây hái đào cùng anh nhé.
Văn âu yếm:
- Thế thì tuyệt quá! Chỉ sợ em làm mấy hôm chân tay xước xác, da lại đen như con gái châu Phi thôi.
Alena quả quyết:
- Anh làm được thì em cũng làm được. Miễn là được bên anh, dù gian khổ mấy em cũng chịu được.
… Alena ở lại nông trang cùng Văn lao động cho đến cuối hè. Trước khi về trường hai người rủ nhau đến thạch động Maxokha cách Brno khoảng 30 kilomet. Đây là điểm thăm quan nổi tiếng ở châu Âu. Giữa những dãy núi đá vôi điệp trùng, thiên nhiên đã ban tạo trong lòng đất những hang đá với thạch nhũ tuyệt vời. Cơn mưa đêm đã làm cho không khí mát dịu, những giọt nước đọng trên lá lóng lánh dưới ánh nắng mặt trời. Đôi tình nhân dắt nhau đi trong tiếng reo ca của con suối Maxokha. Trên bầu trời xanh hiện ra cầu vồng bảy sắc, Alena thầm thì:
- Văn nhìn lên trời kìa! Chiếc cầu vồng tình yêu đang nối đôi bờ hai con tim. Ước gì em được cùng anh bay lên đó, ta sẽ đi trên đó tới bến bờ hạnh phúc.
Văn siết chặt tay Alena:
- Cần gì đi đâu xa, chúng mình chẳng đang trên con đường hạnh phúc đó sao, nếu có thể được anh đổi trái tim anh cho em. Anh muốn trái tim em đập trong lồng ngực anh để hát mãi bài ca tình yêu.
Họ tới cửa động Maxokha, muốn vào bên trong phải đi thuyền trên con suối chảy ra từ lòng núi. Hai người theo đoàn tham quan lên thuyền. Tiếng mái chèo khua nước ì oạp. Văn lại nhớ đến chùa Hương quê nhà, nhớ con suối Yến chảy qua dãy núi trăm voi thơ mộng với bến Đục, chùa Trình, Thiên Trù…đã đi vào huyền thoại. Thuyền đi trong động lúc sáng, lúc tối, khí lạnh bốc lên mờ ảo, Alena ngả đầu bên vai Văn, nàng khẽ hát một bản dân ca. Có lúc nàng thò tay xuống nhúng nước rồi đưa lên vuốt má Văn:
- Em muốn mùa đông trên má, mùa hè trong tim anh.
Vào trong động Maxokha, hai người ngây ngất trước các nhũ thạch được tạo bởi thiên nhiên, nhưng nhờ bàn tay con người mà nó đẹp lên lạ lùng. Các giọt nước tí tách chảy từ các khe đá tí tách suốt ngày đêm. Những cặn đá hàng ngàn năm tạo thành các thạch nhũ. Người ta đã đưa điện vào hang, với những ngọn đèn sáng tối, chiếu các góc cạnh đã tạo ra các màu sắc khác nhau làm tăng vẻ kỳ bí của thạch động. Rất nhiều câu chuyện truyền thuyết được thêu dệt, ở mỗi điểm tham quan, người hướng dẫn lại kể cho mọi người nghe. Cảm động nhất là câu chuyện truyền thuyết ở động Caterina. Chuyện kể rằng: “Ngày xửa ngày xưa đã lâu lắm rồi có một ông góa vợ có một cô con gái nhỏ bé xinh xắn tên là Caterina. Ông rất thương con. Khi ông đi bước nữa, tình thương ấy không hề thay đổi. Mụ dì ghẻ không thể chịu được sự san sẻ tình cảm của ông dành cho con gái. Trong một lần ông vắng nhà, bà đã đưa cô lên thạch động này bỏ cô ta vào đó. Ngày ấy thạch động âm u, vào rồi thì khó lòng ra được vì nó có rất nhiều mỏm, ngách đá tạo thành ma trận. cô bé chết vì đói, nhưng bà gì ghẻ cũng bị trời trừng phạt”.
Trong động, Alena chỉ cho Văn thấy bà gì ghẻ. Đó là một táng đá lớn, rất giống hình bà già có chiếc mũi khoằm. Ánh đèn xanh lét ở dưới hắt lên nom bà như một mụ phù thủy. Đôi mắt của mụ ánh lên màu đỏ hung tợn như bản chất tàn ác của mụ. Cách đó không xa, cô bé Caterina nhỏ nhắn trong ánh sáng bàng bạc của các thiên thần. Sự trong trắng ngây thơ của cô bé 13 tuổi ấy đã làm sáng hẳn động. Alena bảo Văn:
- Cảnh gì ghẻ con chồng khổ ghê anh nhỉ. Nếu sau này chúng mình có con, em chết thì anh có ở vậy nuôi con hay là lại tìm niềm vui mới?
Văn lấy tay bịt miệng Alena lại:
- Em đừng nói gở ở nơi linh thiêng này. Bây giờ đâu có phải thời xưa, để người ta hành hạ nhau. Nhất định cuộc sống của chúng ta sẽ tươi đẹp.
Alena ôm lấy bàn tay phải của Văn đưa lên miệng cắn nhẹ vào ngón tay út:
- Em nói đùa đấy, ở bên anh, em cảm thấy vui sướng lắm. Em tin rằng bàn tay này sẽ đưa em vượt mọi khó khăn để tới bến bờ hạnh phúc.
Chương 6:
Trời đã bắt đầu vào thu. Mùa thu Tiệp Khắc thật lãng mạn. Trời xanh và cao, không khí mát dịu, những chiếc lá bắt đầu ngả vàng. Ai đó tinh nghịch treo lên gốc cây chiếc biển nhỏ: “Xin đừng đụng vào cây, mùa lá rụng!” Nhưng ai ngăn được thiên nhiên. Lá vàng đã phủ kín gốc cây, dành chút hơi ấm cuối cùng sưởi ấm mảnh đất nuôi cây sẽ chịu băng giá suốt mùa đông. Trên hè phố, mỗi khi cơn gió qua lại cuộn những lớp lá xào xạc. Các sinh viên sau kỳ nghỉ hè đã trở lại trường. Họ khoe nhau những làn da đỏ như bồ quân mà phải rất công phu mới tạo được nhờ tắm nắng. Tình yêu của Văn và Alena đã trải qua những ngày hè ấm áp. Năm nay là năm cuối cùng, các sinh viên đăng ký đề tài làm luận văn tốt nghiệp. Văn đã chọn đề tài: “Vị đắng bia Plzen”. Alena hỏi Văn:
- Tại sao Văn lại chọn đề tài này, lúc đi thực tập sẽ phải đi xa, cực lắm đấy.
Văn cười:

- Có lẽ tại đời mình nhiều cay đắng. Tưởng không ai thèm đoái hoài, ai ngờ có công chúa kiêu kỳ lại để mắt đến. Cũng như bia vậy, tại sao vị đắng thế mà hàng triệu con người mê say nó. Anh muốn đi tìm cội nguồn của men đắng đó.
Alena vẹo má anh:
- Anh thì lúc nào cũng lý luận. Nhưng anh thích đề tài đó thì em cũng sẽ nghiên cứu đề tài như anh để luôn được bên anh.
Tình yêu đã làm cho đôi bạn trẻ hăng say trong công việc. Họ cùng nhau vào thư viện tìm tài liệu, cùng nhau nghiên cứu những công thức hóa học. Những ngày nghỉ, hai người dắt nhau vào rừng để nhìn lá rơi, để tâm tình về tương lai hạnh phúc.Văn đã kể cho Alena về người mẹ yêu quý của mình:
- Mẹ là người phụ nữ, mà theo anh là tuyệt vời nhất trên cõi đời này. Anh không nhớ được mặt cha vì ông đi chiến đấu rồi hy sinh trên chiến trường. Bao vất vả gian khó mẹ đã vượt qua. Vừa là cô giáo dạy giỏi hết lòng vì học sinh, vừa là người mẹ đầu tắt mặt tối bươn chải nuôi anh nên người. Giờ đây chỉ còn mẹ ở nhà một mình, vừa rồi mẹ viết thư sang có nói Sao Mi đã đến chơi thăm mẹ.
Alena tinh nghịch:
- Có phải cô gái đã ôm anh khóc ở Poprad không, em thấy cô ta có vẻ yêu anh lắm đấy. Khéo mẹ lại thương mà muốn anh cho cô ấy thì sao?
Văn nghiêm mặt:
- Em đừng đùa thế. Anh coi Sao Mi như em gái thôi. Anh nghĩ Sao Mi cũng quý anh như anh trai. Hơn nữa gia đình Sao Mi còn là ân nhân của anh. Mẹ viết thư đã nhận Sao Mi làm con nuôi rồi. Có Sao Mi mẹ cũng đỡ buồn hơn trong những ngày anh đi xa.
Alena ôm chầm lấy anh thủ thỉ:
- Em chỉ nói đùa vậy thôi. Nhưng em cũng mừng là mẹ có chị Sao Mi ở bên chắc cũng đỡ lo lúc ốm đau. Chỉ còn mấy tháng nữa chúng mình ra trường. Anh cố gắng xin ở lại Tiệp Khắc với em. Hai chúng mình sẽ cưới nhau, sẽ xin vào làm một nhà máy nào đó và sẽ sinh con.
Điều Alena đặt ra không phải là lần đầu. Văn rối bời trong tâm tưởng. Một bên quê hương nơi người mẹ ngày đêm ngóng đợi. Một bên tình yêu bỏng cháy…Năm năm trước, khi sang Tiệp Khắc chưa bao giờ Văn nghĩ đến việc xin ở lại mảnh đất này. Lòng anh lúc nào cũng nhớ khôn nguôi đến quê hương, đến con đường Láng rợp bóng xà cừ, đến Ngã Tư Sở với tiếng tàu điện leng keng. Nhất là khi Tết đến, ngoài cửa sổ tuyết rơi rơi, các con đường vắng vẻ, một mình cô đơn trong ký túc xá anh lại nhớ đến mùi bánh chưng thơm với tiếng cười rộn vang đêm giao thừa. Anh là lớp thanh niên lớn lên trong chiến tranh với những cảnh sơ tán, đêm đêm chui hầm tránh bom Mỹ. Càng trong gian khổ bao nhiêu, càng nhiều kỷ niệm không thể nào quên được. Giờ đây Văn đang yêu Alena, không nhẽ lại đưa cô ấy về Việt Nam? Làm sao cô ấy chịu nổi cơm độn bobo, khoai sắn? Alena đã nhiều lần thúc giục anh:
- Nghe em đi, ở lại đây với em. Đất nước Tiệp Khắc cũng cùng chế độ xã hội chủ nghĩa như nước Việt Nam vậy. Ở đây, kinh tế phát triển, đầy đủ điều kiện cho anh phát huy tài năng. Anh học giỏi vậy chỉ mấy năm nữa là trở thành tiến sĩ. Nếu nhớ mẹ thì thỉnh thoảng mình về thăm mẹ. Bây giờ Việt Nam đã hòa bình rồi, nền kinh tế sẽ ngày một khá lên, việc đi lại lúc đó chắc chắn sẽ dễ dàng hơn nhiều. Nếu mẹ thích thì chúng mình có thể đón mẹ sang đây.
Văn ái ngại nhìn Alena:
- Alena ơi! Em nghĩ đơn giản quá. Tuy là hai đất nước cùng chế độ xã hội chủ nghĩa, nhưng việc anh ở lại với em chắc chắn sẽ gặp phải rất nhiều khó khăn. Mọi người sẽ coi anh như kẻ phản bội. Nhất là mẹ anh sẽ không đồng ý đâu.
Alena giận dữ:
- Chúng mình là trai chưa vợ gái chưa chồng có quyền yêu nhau chứ, tại sao lại phân biệt như vậy? Hay là anh quanh co vì anh đã có vợ ở nhà rồi?
Văn thanh minh:
- Không có, nhưng mẹ rất nghiêm khắc về việc yêu đương…
Alena tự tin:
- Đấy là mẹ chưa biết về em là ai thôi. Em sẽ đi chụp ảnh, để anh viết thư về cho mẹ biết và xin ý kiến mẹ.
Rồi cô say sưa:
- Anh biết không ở Tiệp khắc, những cặp vợ chồng mới cưới được tạo điều kiện thuận lợi bằng cách được vay. Khoản được vay này tối đa là 30.000 curon. Khi sinh con đầu lòng, Nhà nước cho xóa nợ 2.000 curon trong số tiền vay đó, khi sinh con thứ hai được xóa nợ 4.000 curon. Chắc chắn bố mẹ em sẽ hỗ trợ thêm để chúng mình có căn nhà ở Brno này.
Trước sự thúc giục của Alena, Văn đành viết thư gửi mẹ:
“ Mẹ ơi…!
… Con đã yêu một cô gái Tiệp Khắc. Cô ấy học cùng con, rất ngoan, xinh đẹp và giỏi giang. Nếu như vì tình yêu, con xin phép mẹ ở lại Tiệp Khắc thì ý mẹ như thế nào? Con gửi ảnh cô ấy để mẹ xem…”
Alena trực tiếp cầm thư ra bưu điện gửi nhanh về Việt Nam. Chờ thư mẹ gửi sang, Alena vui vẻ vẽ ra viển cảnh tương lai. Cô mơ ước sau này sẽ được sống cùng Văn ở Brno. Bố mẹ của cô rất thương con gái. Họ bắt Alena phải đưa Văn về ra mắt. Nhân ngày nghỉ Alena cùng Văn đi tàu về Poprad. Trên tàu cô luôn miệng:
- Mẹ thì biết anh rồi và quý lắm. Nhưng còn bố rất nghiêm khắc, ông là kiến trúc sư trưởng ở thành phố Kosice nên ít khi về nhà. Nay nghe tin con gái có người yêu, ông mới bố trí về xem mặt đấy.
Văn cười
- Được rồi, anh sẽ làm bộ hiền như thóc…
Alena vò đầu bứt tai:
- Ấy chết, anh mà làm vậy thì cụ ghét lắm. Cụ ghét những thằng đàn ông yếu đuối…
… Về đến nhà, bà Marta, mẹ của Alena chờ ở cổng:
- Các con vào nhà đi, bố đang đợi ở phòng khách. Anh thấy một người đàn ông có râu quai nón, ngồi bệ vệ trên xalông, đang đọc cuốn tạp chí tiếng Anh, Alena kêu lên:
- Bố, bố về lâu chưa?
Ông ngửng lên :
- Ờ, bố mới về hôm qua. Bạn con đây hả?
Ông đưa mắt nhìn sang Văn. Văn chào:
- Chào bác, nghe tin bác được nhận giải thưởng “Kiến trúc làng thể thao”, cháu xin chúc mừng bác.
Ông tròn mắt ngạc nhiên nhìn sang Alena, Alena cũng ngạc nhiên không kém vì chính cô cũng không biết chuyện ấy. Ông hất hàm:
- Ngồi xuống đi cháu, nghe nói cháu học rất giỏi phải không? Thế bố mẹ cháu ở Việt Nam làm gì?
Văn ngồi xuống ghế xalông đối điện với ông Rakhat. Alena ngồi sát bố, quàng tay qua ông:
- Mẹ cháu là giáo viên, bố cháu là bộ đội đã hy sinh trên chiến trường.
Ông thông cảm:
- Chiến tranh thật tàn khốc, lớp trẻ con như con Alena nhà này thì biết gì là súng đạn nữa.
Alena khoe bố:
- Anh Văn cũng từng đi bộ đội đấy bố ạ, từng chiến đấu ở chiến trường Lào.
Ông Rakhat nhìn Văn thiện chí:
- Trải qua bộ đội có khác, cậu trông rắn rỏi chứ không bấy bấy như mấy đứa sinh viên khác.
Rồi ông khoát tay Alena:
- Lấy cho bố chai Slivovice để bố uống với anh Văn vài ly.
Alena sung sướng vô cùng vì thấy ngay từ đầu bố đã mến Văn. Cô chạy lăng xăng lấy ly cho hai người nhắm nhí. Chiều đó Văn xin phép nấu cơm. Cả nhà đều ngạc nhiên vì người Tiệp hầu như không khái niệm được cơm thế nào là sống là chín. Họ chỉ đổ nước nấu theo công thức hướng dẫn cho nên có khi cơm nhão nhẹt mà sống, rồi họ chan sữa vào cơm ăn. Văn có mang theo ít bánh đa nem, anh trổ tài làm nem rán, giới thiệu đặc sản món ăn Việt Nam. Bên đĩa nem vàng ươm và nồi cơm thơm lừng, cả nhà vui vẻ ngồi nghe Văn kể chuyện. Anh kể về cây lúa, về thu hoạch thóc, từ hạt thóc ra hạt gạo như thế nào. Điều đó hoàn toàn mới mẻ với người Tiệp vì ở Tiệp Khắc chỉ có lúa mì, gạo nhập vào đã được làm sạch sẽ trong bao bì. Bà Marta luôn khen món nem rán và cách pha chế nước chấm sốt cà chua của Văn.
Sau bữa ăn, ông Rakhat mời Văn đánh cờ quốc tế. Rất may ở nhà Văn đã đánh cờ tướng giỏi nên khi sang Tiệp anh đã học được cờ quốc tế vào loại khá. Nhưng trước ông Rakhat, một người say mê cờ thì anh chỉ là một chú thỏ non. Văn thua liểng xiểng. Tuy vậy, ông Rakhat cũng nhận ra được nhiều nước cờ thông minh của Văn, ông dạy Văn:
- Anh phải chú ý nghiên cứu chiến thuật xuất quân theo từng thế một. Chịu khó đọc sách học cho thuộc vì đó là những kinh nghiệm hàng trăm năm các cao thủ cờ tổng kết lại. Đừng bao giờ bỏ trung lộ, anh nhớ nghiên cứu thêm về cờ tàn cuộc. Thế anh đã biết đánh cờ lâu chưa?
Văn thưa:
- Cháu mới biết đánh cờ quốc tế khi sang học ở Tiệp Khắc. Thời gian quá ít nên cũng chưa có điều kiện nghiên cứu sâu.
Ông Rakhat khen:
- Mới biết đánh thế là giỏi rồi, ở Việt Nam nghe nói cũng có loại cờ rất hay. Có giống cờ quốc tế không?
Văn đáp:
- Môn cờ đó ở phương Đông gọi là cờ tướng, có rất nhiều điểm giống cờ quốc tế nhưng tư tưởng phong kiến thể hiện hơi nặng. Các con tướng, sĩ, tượng chỉ ở trong khung cấm, không vượt sông tấn công được. Còn con tốt khi xuống hết nước thì không còn giá trị, ngược lại ở cờ quốc tế thì con tốt xuống hết nước có thể trở thành con hoàng hậu.
Sau mấy ván cờ mà phần lớn là Văn thua, ông Rakhat đứng dậy:
- Ta dừng ở đây. Alena, đàn một bài cho bố và anh Văn nghe đi con. Lâu lắm rồi bố không được nghe con đàn.
Alena nũng nịu:
- Bố bảo anh Văn đàn cho nghe, anh ấy đàn còn hay hơn con đấy.
Ông Rakhat tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Anh mà cũng biết đàn cơ à?
Văn khiêm tốn:
- Dạ, bố cháu là nhạc sĩ quân đội nên hồi nhỏ mẹ cháu bắt phải học đàn để có thể nối gót theo cha. Nhưng cuộc chiến tranh đã làm cho những thanh niên chúng cháu không có điều kiện ngồi đàn. Cháu đã xung phong vào bộ đội từ năm 1971. Bỏ lâu quá giờ đàn chắc cũng không hay...
Ông Rakhat vui mừng:
- Tôi rất thích nghe đàn, nên bắt con Alena học đàn để đánh cho tôi nghe, chứ tôi có biết đàn sáo gì đâu. Cậu đàn một bản nhạc Việt Nam để tôi thử nghe giai điệu xem sao.
Văn quyết định chọn bài Tiểu đoàn 307. Anh giải thích cho mọi người nghe nội dung bài hát:
- Đây là một bài hát truyền thống mà chúng cháu rất yêu thích, viết về Tiểu đoàn 307 anh hùng trong kháng chiến chống Pháp. Khi ở chiến trường chúng cháu hay hát bài này để động viên nhau hăng hái vào trận.
Văn vứa hát vừa đàn theo. Bà Marta và cậu em trai Alena cũng chạy ra phòng khách lắng nghe. Tiếng nhạc rộn ràng hùng tráng đã làm ông Rakhat vỗ tay dậm chân theo. Bài hát vừa chấm dứt, ông Rakhat chạy lại bên Văn ôm chầm lấy anh:
- Đúng là một hồi kèn xông trận, chú đã biết vì sao Việt Nam lại thắng Mỹ rồi. Alena lại đây đàn cho bố hát bài Quanh vườn nhỏ.
Alena vội chạy lại bên đàn dạo, ông Rakhat cất giọng ồm ồm say sưa hát.
“Okolo Hradce, v malé zahradce, rostou tam tři růže... Jedna je červená, druhá je bílá, třetí květe modře...
(Quanh vườn nhỏ, ở một góc có ba bông hồng, một bông màu đỏ, bông thứ hai màu trắng, bông thứ ba nở màu xanh biển...)
Cả nhà cùng hát theo, Văn cũng hát theo. Rồi họ nắm tay nhau nhảy múa. Một hồi, ông Rakhat khoát tay:
- Bây giờ bà với con Alena ở nhà để bố con tôi đi nhậu. Tôi phải giới thiệu thằng con rể này cho mấy ông bạn mới được.
Alena cũng phải ngạc nhiên vì cách xưng hô của bố cô. Ông khoác vai Văn như bè bạn vào quán bia trong thị trấn. Vừa đến nơi ông đã kêu ầm lên:
- Mời các ông lại đây uống bia với tôi!
Ông Rakhat là người thành đạt trong thị trấn. Đặc biệt là ông đã thiết kế rất nhiều ngôi nhà cao đẹp ở thị trấn này nên dân trong vùng rất quý mến ông. Trong quán đang có rất nhiều vị chức sắc trong vùng. Thấy ông, họ mừng rỡ chạy tới bắt tay. Ông Thị trưởng cũng có mặt trong quán, ôm chầm lấy ông:
- Có phải bác Rakhat hôm nay chiêu đãi giải thưởng “Kiến trúc sư thể thao Olempic” phải không? Hôm rồi báo chí viết, chúng tôi mừng quá. Ông làm rạng danh cho xứ Poprad này đấy.
Ông Rakhat xua tay:
- Không, tôi muốn giới thiệu với các anh chàng rể tương lai cơ!
Tất cả cặp mắt tò mò dồn về phía chàng thanh niên Việt Nam, bởi ai cũng biết Alena là cô gái đẹp nhưng rất kiêu kỳ. Ông Rakhat nói oang oang:
- Đây là bạn trai của Alena đấy, sinh viên nhưng từng là bộ đội của dân tộc Việt Nam anh hùng. Cậu ta học giỏi và là người có bản lĩnh.
Thế là mọi người ào đến. Người bắt tay. Người vỗ vai. Người nâng ly. Cả quán nhậu tưng bừng hẳn lên. Cũng may tửu lượng của Văn không đến nỗi nào.
Hôm sau chia tay, bà Marta bùi ngùi:
- Các con thỉnh thoảng về chơi nhé.
Ông gạt phắt:
- Để cho chúng nó học! Bây giờ là năm cuối phải phấn đấu cái bằng đỏ con ạ. Sau này chúng mày thích ở Brno bố sẽ mua nhà ở trên đó cho ở. Để mẹ mày lúc nào thích lên tỉnh chơi thì lên đó mà ở.
Cậu em trai của Alena thì mê Văn như điếu đổ, vì anh truyền cho cậu ta vài ngón tiểu xảo chơi bài. Cậu cứ nài nỉ:
- Anh cố gắng về sớm dạy cho em nốt mấy ngón tráo bài để em đi biểu diễn cho chúng xem…
Tình cảm nồng ấm của gia đình làm đôi bạn trẻ trở nên hạnh phúc vô cùng. Alena thầm thì:
- Bây giờ em mới hết lo. Hôm nọ, mẹ bảo bố về làm ầm lên: “Con trai Tiệp đi đâu hết mà nó đâm đầu yêu thằng nước ngoài cơ chứ”. Mà làm sao anh biết bố được giải thưởng kiến trúc?
Văn cười xòa:
- Đấy là nhờ anh hay đọc báo và xem tin tức. Nên khi em giới thiệu bố em là kiến trúc sư trưởng thành phố Kosice, anh nhớ ngay đến bài viết mới tuần rồi.
Alena cười:
- Thế mà bố em kín tiếng, chẳng nói cho nhà biết gì. Bố mẹ đều khen anh đấy. Em chờ mong tin mẹ anh nữa, được mẹ đồng ý thì hạnh phúc quá anh nhỉ.
Văn và Alena trở về ký túc xá thì nhận được thư từ Việt Nam. Cả hai cùng hồi hộp, Alena reo lên:
- Để em bóc thư xem mẹ nghĩ gì về em nào.
Văn đọc ngấu nghiến thư của mẹ, mặt anh tái dần. Anh nặng nề gieo phịch xuống ghế. Alena lo lắng:
- Mẹ viết gì vậy anh. Mẹ không đồng ý phải không?
“... Nhận thư của con mà mẹ tưởng trời đất sụp xuống. Mấy hôm nay mẹ bị tái phát bệnh tim, may mà có em Sao Mi bên cạnh chăm sóc. Mẹ không ngờ con lại đổ đốn đến thế. Máu của cha con đã chảy và bao vất vả lo toan của mẹ để mong con nên người. Mẹ những tưởng có ngày vinh quy bái tổ làm rạng rỡ cho gia đình ta. Ai có ngờ con định làm kẻ phản bội, bỏ Tổ Quốc, bỏ gia đình để phụng sự cho tình yêu mù quáng. Nếu như con muốn ở lại thì mẹ coi như không có con trên đời này. Con hãy tỉnh lại đi. Cô bạn con rất đẹp, rất giỏi nhưng con không thể nào lấy được đâu. Đó chỉ là thứ hoa hồng trong tủ kính. Việc chia tay có thể con sẽ đau khổ nhưng mẹ tin con sẽ vượt qua được...”
Văn dịch cho Alena nghe. Có nhiều đoạn anh không dám dịch đúng sự thật. Nghe xong, Alena khóc nức nở:
- Anh Văn, mẹ chẳng hiểu gì em cả, mẹ phong kiến cổ hủ quá.
Văn sửng cồ với Alena:
- Cô im đi! Tôi cấm cô nói xấu mẹ.
Alena gào lên:
- Anh thì lúc nào cũng mẹ. Hoặc là em hoặc là mẹ, anh chọn đi.
Rồi cô chạy ào ra khỏi phòng Văn.
Bên ngoài trời đã tối. Những cành cây khô đã rụng hết lá, khẳng khiu như những cánh tay gầy chìa ra trong gió lạnh, như báo hiệu những ngày đông giá sắp đến.
Alena ngồi lặng im trong phòng. Bên ngoài những cơn gió lạnh đã tràn về. Những bông tuyết đầu mùa trắng nhẹ như bông rơi hồn nhiên bên cửa sổ làm lòng cô thêm tan nát. Alena không dám nhìn ra ngoài. Nàng sợ. Lời của mẹ Văn trong thư cứ vang lên: “Đó là thứ hoa hồng trong tủ kính...” Alena thấy lòng thắt lại. Tại sao bà ấy lại coi thường mình đến thế? Giấc mộng về tình yêu, về một mái ấm gia đình bỗng thành mộng ảo và đột ngột tan thành mây khói. Một căn nhà, một công việc ổn định bên người mình yêu tưởng đơn giản thế mà quá xa vời. Hôm nọ sau chuyến đi về thăm gia đình, nàng đã vui mừng biết bao khi bố hứa sẵn sàng mua nhà cho hai đứa ở Brno. Nhưng giờ đây trước ý kiến của mẹ Văn, rồi áp lực phía Việt Nam làm cho nàng rối bời. Bao nhiêu người bạn Tiệp đã đến và muốn cầu xin tình yêu nhưng nàng đã thờ ơ lạnh nhạt, mù quáng chạy theo tiếng gọi trái tim của người con trai xứ lạ. Những câu chuyện Văn kể về Việt Nam khiến nàng tưởng tượng ra một vùng đất hoang sơ nhưng đầy cảnh đẹp huyền bí. Nàng biết nhân dân Việt Nam vừa trải qua của chiến tranh tàn khốc nên đời sống rất khổ cực. Alena mong mình sẽ làm điểm tựa để cuộc sống của Văn sẽ khá hơn, không phải chịu đau khổ và tương lai của anh sẽ rất tươi sáng nếu có điều kiện nghiên cứu tại Tiệp Khắc. Nhưng lá thư của mẹ Văn kéo cô về với thực tại. Văn không thể ở lại đây được. Anh còn bị ràng buộc quá nhiều bởi gia đình, bởi quê hương. Hôm qua, trước khi đi thực tập ở Plzen, Văn đã gặp nàng và gửi lại lá thư chia tay:
“Alena rất yêu dấu của anh!
Anh không đủ can đảm nói lời vĩnh biệt em. Song anh phải làm như vậy... Hãy quên anh đi Alena. Anh không xứng đáng với tình yêu của em. Anh không đủ dũng cảm để ở lại mãnh đất này, anh còn quê hương, còn mẹ...”. Có tiếng gõ cửa phòng. Alena ra mở cửa. Victor, người bạn trai cùng lớp luôn luôn theo đuổi cô bước vào, trên mình cậu ta khoác chiếc áo da đen, đi đôi ủng vàng rất mốt, giọng suồng sã:
- Tối thứ bảy mà cậu không đi chơi đâu à. Này, tối nay ở vũ trường Hoàng Tử có ban nhạc chơi hay lắm, mình mời cậu đến đó nhảy được không?
Alena buồn bã:
- Mình không thích đi đâu cả, cậu cứ đi đi!
Victor:
- Thất tình rồi phải không? Tớ bảo cậu rồi, đừng yêu người Việt Nam. Ho không thể ở với cậu được đâu. Đất nước họ tốn tiền cho ăn học để về làm việc, dễ gì người ta cho ở lại. Đất nước họ rất cực khổ nên nếu cho phép ở lại thì nhiều người sẽ chẳng muốn về nước đâu. Cậu thấy bao nhiêu đôi ở trường này đều phải chia tay trong đắng cay đó thôi. Bây giờ chính sách họ có thoáng hơn, trước đây mà yêu đương là người ta đuổi về nước đấy.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Alena:
- Victor này, mình muốn sang Việt Nam với Văn được không?
Victor kêu lên:

- Cậu điên vì tình rồi! Cậu có biết Việt Nam là thế nào không? Là nơi hàng chục năm bị chiến tranh tàn phá, không điện, không thức ăn. Chỉ có muỗi, sốt rét rừng với những sinh hoạt sơ đẳng nhất. Một thiếu nữ xinh đẹp trắng trẻo như cậu thế này sang đấy chắc nước da sẽ đen xì và tóc sẽ bị nắng thiêu cháy. Rồi những hủ tục sẽ hành hạ một cô gái ưa tự do như cậu. Tại sao cậu lại tự đầy đọa mình như thế? Cậu biết có bao nhiêu người mong ước được cậu đoái hoài đến không?
Victor khẽ thở dài, nhìn Alena với đôi mắt như van lơn, như cầu xin. Bất ngờ Victor rút trong túi ra một chiếc đồng hồ nữ màu trắng nhỏ nhắn:
- Alena ơi! Mình muốn tặng cậu chiếc đồng hồ này để cậu luôn hiểu lòng mình thương yêu cậu biết dường nào. Chỉ cần sự đồng ý của cậu là mình sẽ đưa cậu đến bên bờ hạnh phúc.
Alena biết Victor thầm mong trộm nhớ mình đã lâu nhưng hôm nay cậu ta liều lĩnh đến thế. Nàng từ chối khéo:
- Cậu cầm lấy đồng hồ này để tặng cho cô bé nào yêu thương cậu. Còn mình giờ chỉ muốn sang Việt Nam thôi. Trái tim của mình đã dành cho Văn rồi.
Victor dúi đồng hồ vào tay Alena:
- Cậu cứ cầm lấy đi dù cậu không yêu mình thì mình vẫn là bạn tốt của nhau cơ mà. Cậu thích sang Việt Nam, mình sẽ giúp cậu. Nhưng cậu muốn sang đấy thì phải học những phong tục của họ, học tiếng của họ. Mình tin họ sẽ rất vui mừng được đón cậu. Bởi bỗng dưng bỏ tiền cho đi học một người lại về được hai người. Cậu có biết ở Nhật Bản người ta còn động viên Âu hóa để nòi giống ngày một cao lên. Bây giờ có ai gọi là Nhật lùn nữa đâu.
Alena cầm chiếc đồng hồ:
- Cảm ơn chiếc đồng hồ, nhất là cảm ơn lời khuyên của cậu. Mình phải sống có nghị lực hơn. Chẳng nhẽ bao nhiêu người Việt chịu đựng gian khổ được mà mình không chịu được sao? Mình sẽ đến Plzen tìm Văn để nói cho anh ấy nghe quyết định mới của mình. Cậu ủng hộ mình nhé. Cậu sẽ là người bạn tốt của mình phải không nào?
Victor giọng buồn thiu:
- Tớ luôn luôn chờ đón những cơ hội cậu dành cho tớ. Nhưng tớ cũng sẽ hết lòng ủng hộ cậu trước mọi quyết định. 
Chương 7:  
Văn đến Plzen vào một ngày đầu đông. Những bông tuyết bắt đầu rơi rơi trên những con đường cổ kính của thành phố. Plzen không ồn ào, náo nhiệt như ở Brno. Điều người dân Plzen tự hào nhất là họ sản xuất được bia ngon nhất thế giới. Thương hiệu bia “Pisner Urquell” đã đi khắp Châu Âu từ hàng trăm năm nay. Nếu ai đã từng uống bia Plzen thì khi sang vùng khác hoặc nước khác mới cảm thấy vị đăng đắng của bia Plzen. Vị đắng ấy vào miệng, lan tỏa thành vị ngọt trong cuống họng người uống làm cho họ thèm uống nữa, uống mãi. Bia ở Tiệp như một thứ nước giải khát dành cho thanh niên, ông già, phụ nữ. Bình quân dân Tiệp một năm chia đều từ già đến trẻ tiêu thụ hết 150 lít bia. Khi học tổng hợp, Văn đã cố gắng đi sâu nghiên cứu sản xuất bia, đặc biệt nghiên cứu hương liệu hublông. Đất đai và khí hậu Tiệp Khắc thích hợp với các loại cây trồng như lúa mì đen, lúa mì trắng, kiểu mạch, củ cải đường và đặc biệt là cây hublông. Hoa hublông là nguyên liệu để nấu bia. Anh tìm được một số công thức cơ bản sản xuất men, nhưng anh biết mỗi một nghề đều có bí mật. Anh muốn tới Plzen để tìm hiểu điều gì đã làm bia Plzen trở nên nổi tiếng. Đến đây rồi Văn mới biết không phải chỉ cần lúa mạch và hoa bia tốt mà nguồn nước làm bia cũng rất quan trọng. Men bia Plzen có thể cung cấp cho các nhà máy khác trên đất Tiệp Khắc nhưng nguồn nước thiên nhiên ngon ngọt chảy vô tận từ những vỉa đá núi Plzen thì không đâu có được. Chính nguồn nước trong mát này cũng là một xúc tác làm nên vị đắng diệu kì của bia Plzen.
Văn trốn chạy cuộc tình với Alena vì anh biết sẽ không đi đến đâu. Nhiều lúc anh nhớ nàng đến ngẩn ngơ. Nhớ đôi mắt xanh như nước hồ thu cứ ánh lên trong những đêm đông giá lạnh. Có những lúc anh cắn chặt ngón tay để cố quên nụ hôn ngọt ngào trong hương tóc vàng dìu dịu. Anh tự nhủ: phải quên thôi, mình không thể để cô ấy khổ được. Đừng để người ta hy vọng quá rồi lại thất vọng tràn đầy. Mẹ nói đúng, nếu mình ở lại là mất tất cả. Mất gia đình, bạn bè, Tổ quốc. Đổi được là tình yêu đôi lứa. Nhưng rồi năm tháng đi qua, tình yêu ấy sẽ phai nhạt. Lúc đó mình chẳng còn gì nữa, chỉ là chiếc bóng vô nghĩa trên cõi đời này mà thôi.
Nghĩ vậy, Văn lao vào công việc thực tập tại nhà máy bia Plzen. Anh làm như một công nhân thực thụ. Các bạn Tiệp khâm phục tính cần mẫn, chăm chỉ của người bạn Việt Nam. Anh đã được họ cho thử bia non, xem các quy trình sản xuất bia, và tham quan hầm ủ bia được cải tạo từ hầm đất thiên nhiên có độ dài đến 25km. Bia ở đây được nấu từ lúa mạch rất đặc biệt so với các nơi khác ở châu Âu. Anh cũng nhìn thấy hàng dãy thùng khổng lồ được đóng bằng gỗ để ủ bia. Nhiệt độ trong hầm ủ luôn được giữ lạnh khoảng 70C. Thời gian ủ bia hơn 30 ngày, sau đó người ta lọc, xử lý kỹ thuật để đưa vào đóng chai.
Sắp đến Noen, tuyết rơi nhiều hơn. Ngoài đường bọn trẻ con vui thích dồn tuyết lại thành đống, đắp thành ông già Noen. Mọi người hối hả tìm mua quà, sắm sửa mọi thứ cho Tết năm mới. Ở Tiệp Khắc cũng như các nước Châu Âu thường nghỉ đông từ Noen đến hết Tết dương lịch. Văn rất sợ những ngày này. Giờ đây anh không còn Alena nữa, chỉ còn ông việc. Thế mà ngày nghỉ đông dài như vậy thì biết làm gì đây? Hơn nữa ngoài đường những ngày này vô cùng buồn tẻ. Ở Việt Nam, lễ tết người ta sẽ ra đường, đến thăm nhau để bù khú. Còn ở Tiệp Khắc, ngày Noen là họ thường sinh hoạt ở trong nhà. Hầu như không ai thăm nhau trong những ngày này. Có chăng thì chỉ con cái đi làm xa về với bố mẹ. Thậm chí các phương tiện giao thông cũng ngừng lại,chỉ còn một hai chuyến đi các tỉnh.
Trong nhà máy có bác công nhân già rất quí Văn. Thấy Văn cứ lầm lũi đi về như vậy, ông rất ái ngại:
- Này, hay Noen này đến nhà bác chơi, chứ mình chú ở khu tập thể thì buồn chết.
Văn rất cảm động trước tấm lòng của bác Chapek. Quả thật, khi mấy người bạn Tiệp ở khu tập thể chuẩn bị về nhà anh đã thấy lo lo. Nỗi buồn, nỗi cô đơn đang xâm chiếm tâm hồn anh, nó cứ dầy lên như lớp tuyết ngoài trời. Anh nhớ ánh mắt lấp lánh của Alena, nhớ mái tóc vàng bồng bềnh mơ màng và đôi môi nồng nàn của nàng. Ở lại Tiệp Khắc anh sẽ có: tiền tài, danh vọng và tình yêu; nhưng ở lại Tiệp Khắc anh cũng sẽ mất: Tổ quốc, mẹ hiền và người thân. Trong con người anh giằng xé hai con đường, và mùa đông buốt giá làm máu trong trái tim anh có lúc như đông đặc. Anh ngẩn ngơ như một kẻ thất tình. Anh tìm đến nhà ông Chapek đêm Noen để né tránh sự cô độc trong tòa nhà tập thể không một bóng người.

Ngoài đường vắng tanh, chỉ có tuyết rơi bám lên các cành cây khô, lên các mái nhà rêu phong tạo một màu trắng tinh khiết sáng mờ mờ trong đêm. Bên ngoài lạnh lẽo bao nhiêu, thì trong các ngôi nhà lại ấm cúng bấy nhiêu. Nhà ông Chapek ở trong một phố nhỏ. Khi Văn bấm chuông, một người phụ nữ trạc hơn 50 tuổi, dáng cao mập mạp ra mở cửa và nói như reo:
- Vào đây! Cậu bé dễ thương, cả nhà đang đợi cậu đấy. Cậu là khách quí của chúng tôi hôm nay.
Văn ngượng ngập trước thái độ chân tình của vợ ông Chapek. Bà Chapek giúp anh cởi áo bành tô rồi rũ tuyết trên áo anh. Rồi bà kéo anh vào phòng khách. Ánh sáng chan hòa, nhờ hệ thống lò sưởi nên nhiệt độ trong phòng khoảng 220C. Lúc nãy đi ngoài đường mũi anh cóng lạnh như ướp trong tủ lạnh. Giờ đây chỉ chiếc áo len mỏng, Văn vẫn cảm thấy ấm áp. Ông Chapek ục ịch trong bộ vét xám, tay cầm chai Slivovice bên bộ xa lông nhung vàng. Cạnh ông là vợ chồng cậu con trai với cháu gái chừng 6 tuổi. Thấy Văn vào cả nhà rạng rỡ với những tiếng chào và những lời chúc tụng buổi tối. Ông Chapek cười khà khà:
- Rượu ngon đang chờ dũng sĩ đây. Dọn tiệc lên đi em yêu!
Bà Chapek nhìn ông âu yếm:
- Ông làm gì mà cứ xồn xồn lên vậy. Uống vừa thôi không lại tăng huyết áp, khổ thân già này.
Ông Chapek vừa rót rượu vừa tuyên bố:
- Huyết áp làm sao được, bà phải cho tôi một bữa say với cháu và khách quí. Một năm chỉ có một đêm Noen thôi đấy bà ạ.
Bà Chapek lườm yêu ông rồi đi vào phòng ăn chuẩn bị. Văn ngồi nói chuyện với vợ chồng anh Henry. Ông bà Chapek chỉ có một cậu con trai, anh là kỹ sư xây dựng ở Praha, chị thì làm giáo viên. Vợ chồng anh có nhà riêng ở thủ đô. Chỉ dịp Noen này mới đưa con về thăm ông bà.
Cháu Mila con anh chị thật dễ thương. Cô bé chỉ chăm chú nhìn đống quà dưới gốc cây thông Noen. Ông Chapek từ mấy ngày trước đã kiếm cành thông to, xanh mướt đặt giữa nhà. Trên cây ông trang trí các quả bóng bằng thủy tinh đủ màu sắc. Những dải kim tuyến óng ánh trên cùng các bưu thiếp của bạn bè gửi đền nom rất vui mắt. Song cô bé chỉ chăm chú nhìn những gói quà của bà, cha mẹ cho bé ở dưới gốc cây. Thỉnh thoảng bé lại thì thào hỏi mẹ bao giờ mới được mở quà.
Bà Chapek bước ra:
- Nào mời tất cả vào khai tiệc.
Phòng ăn của nhà ông Chapek rộng rãi, rèm cửa màu xanh rất mát mắt. Cửa sổ phía vườn ông làm bằng kính dày nên nhìn ra thấy những bông tuyết đang rơi đầy trên các cây tùng non, trông như các cành hoa tuyết. Ông Chapek đã đắp một ông già tuyết rất to trong vườn. Ông để một tay ông già tuyết cầm chai rượu lớn, một tay ôm gói quà to. Mila vừa vào phòng ăn nhìn ra vườn đã kêu lên:
- Mẹ ơi! Ông Noen say rồi kìa, chốc nữa làm sao ông mang quà cho con được.
Cả nhà nhìn ra thì thấy ông già tuyết bị gió thổi nghiêng nghiêng như muốn ngã, tuyết rơi trên đầu ông làm xù lên như tóc rối. Mọi người cùng phá lên cười. Bà Chapek ôm cháu vào lòng:
- Cháu đừng lo, ông không đến được thì bà sẽ có quà cho cháu.
Cô bé tự nhiên nức nở:
- Không, cháu thích cả quà của ông Noen cơ, mẹ cháu hứa rồi mà.
Mẹ cô bé vội dỗ dành:
- Con yên tâm đi, ông say rồi ông lại tỉnh, nhất định ông sẽ đem quà cho con.
Ông Chapek lôi chai sâm panh, cả nhà chăm chú chờ tiếng nổ của sâm panh. Một tiếng bật nổ vang, sâm panh trào ra sàn. Cả nhà vỗ tay vui mừng. Ông Chapek rót vào từng ly:
- Chúc mừng đêm giáng sinh, chúc một năm mới thành đạt.
Trên bàn tiệc rất nhiều món ngon như: thịt sườn tẩm bột rán, salat, ngỗng quay, thị nguội, xúc xích,... nhưng có một món không thể thiếu được trong ngày này là món cá chép rán. Từ mấy hôm trước cá chép đã bày bán khắp đường phố. Những con cá chép đen nặng vài ba ký bơi tung tăng trong các chậu to. Người Tiệp Khắc tin rằng ăn cá chép trong Noen sẽ đem lại may mắn cho gia đình. Văn nhớ đến quê nhà với ngày 23 tháng chạp bao giời cũng có cá chép để cúng ông Táo về trời. Đây cũng chính là một điểm gần gũi giữa đất nước Việt Nam và đất nước Tiệp Khắc.
Trong bữa tiệc, mọi người quan tâm hỏi các phong tục lễ tết Việt Nam. Anh kể cho họ nghe những điều khác biệt giữa hai đất nước trong cách đón năm mới. Ông Chapek liên tục rót cho con trai và cho anh, “nào cạn ly”. Ông có vẻ rất vui, năm nay ông Chapek đã 58 tuổi, ông đã làm ở nhà máy bia Plzen ba mươi tám năm. Ông là một công nhân chăm chỉ, cần mẫn, đã nhiều năm là lao động tiên tiến của nhà máy. Bà Chapek thì ngồi sát cô con dâu để hỏi chuyện sinh hoạt của các con trên thủ đô. Gần nửa đêm có tiếng chuông reo, ông Chapek lầu bầu:
- Ai mà đến giờ này vậy?
Còn bé Mila reo lên:
- Ông già Noen đến!
Thế là cô bé chạy ào ra, xăng xái cùng mẹ mở cửa.
Quả thật một ông già với bộ quần áo đỏ và bộ râu trắng muốt bước vào, ông đeo kính trắng, đội chiếc mũ đỏ với quả cầu bông trắng. Trên áo ông còn dính đầy tuyết. Ông cất tiếng ồm ồm:
- Có phải nhà cháu Mila không?
Cô bé Mila núp vào mẹ, ngước mắt nhìn ông:
- Dạ phải ạ!
Ông xoa đầu
- Thế cháu học có giỏi không?
Cô bé sung sướng:
- Cháu có nhiều điểm 1 lắm ạ!
Ông gật gù:
- Cháu ngoan lắm, ông tặng quà cho cháu nhé.
Ông già Noen lấy trong bao tải mang theo một gói quà to đưa cô bé. Mila nhanh nhảu:
- Cháu cảm ơn ông nhiều.
Thấy Văn ngạc nhiên, bà Chapek giải thích:
- À, mẹ nó nhờ bên dịch vụ đóng giả ông già Noen để mang quà cho cháu đấy!
Ông Noen đi rồi, mọi người kéo ra phòng khách bắt đầu mở quà.
Cô bé Mila được nhiều quà nhất, ông già Noen cho năm quyển truyện tranh với hàng loạt đồ chơi, ông bà cho một con búp bê Nga biết khóc, bố mẹ cho bé bao nhiêu quần áo đẹp. Bố mẹ của bé cũng có quà của ông bà là một chiếc đài quay đĩa. Còn ông bà cũng có quà của bố mẹ Mila, ông thì một chai rượu Witky Scotlen, còn bà được tặng một chiếc máy rửa bát. Cô bé Mila tặng cho ông bà, cha mẹ, mỗi người một bức tranh mà cô bé vẽ từ mấy tuần trước. Nhìn tranh của bé, mọi người bật cười: ông thì đứng cạnh nồi nấu bia to bự, bụng ông bự cũng không kém, bà đang lúi húi trong bếp, bố thì đứng tít trên tầng thượng một tòa nhà cao vút với một dàn cần cẩu, còn mẹ bé thì đang đứng cạnh bảng đen với một bầy trẻ. Ông Chapek bế cô bé lên, cọ hàng râu vào má cháu:
- Cháu ông thông minh quá, cháu ông ngoan lắm.
Còn gói quà cuối cùng bà Chapek đưa cho Văn:
- Đây là quà của cháu! 
Văn cảm động, anh không ngờ ông bà Chapek lại chuẩn bị chu đáo cho việc tới thăm của anh đến thế. Văn giở gói quà ra thì đó là một chiếc áo khoác đông và một đôi giày đông. Anh nhớ ra mấy bữa trước ông Chapek đã hỏi anh cỡ giày và ông có vẻ không hài lòng thấy anh ăn mặc phong phanh.
Đêm đó, ông bà bố trí cho anh một phòng riêng với nệm, chăn đều mới. Anh nằm mà miên man suy nghĩ và không tài nào ngủ được. Anh nhớ đến Alena, nhớ đến viễn cảnh mà nàng đã vẽ cho anh. Đất nước Tiệp Khắc rất tôn trọng học vị, chắc chắn khi ra trường anh sẽ có việc làm ngay. Bố mẹ Alena đã hứa mua cho anh một căn nhà ở Brno. Anh sẽ có vợ đẹp, có cuộc sống sung sướng, sẽ có một tổ ấm mặc cho bên ngoài đông giá. Rồi hình ảnh quê hương lại ào đến, người mẹ với mái tóc bạc đứng tựa cửa ngóng chờ con trai về. Hình ảnh đồng đội năm xưa trong rừng Trường Sơn bị trúng bom Mỹ, họ hy sinh mà vẫn mong một ngày đất nước Việt Nam thống nhất, giàu mạnh. Trong con người anh giờ đây có hai nửa, một nửa muốn chạy theo tình yêu buông xuôi cuộc đời, một nửa lý trí muốn anh trở về đất nước góp sức nhỏ bé vào xây dựng quê hương, báo hiếu cho mẹ cha. Anh thiếp đi với ánh mắt van lơn của Alena: “Hãy ở lại với em!” và tiếng gọi của quê hương “Hãy trở về”!
Một buổi chiều tan tầm, vừa ra khỏi cổng nhà máy, Văn bổng nghe ai gọi bằng tiếng Việt lơ lớ:
- Anh Văn yêu của em!
Anh ngạc nhiên nhìn sang đường thấy một thiếu nữ đầu đội mũ len hồng, khoác chiếc áo măng tô hồng đang vẫy gọi anh. Văn bước vội qua đường. Anh khựng lại khi nhận ra đó là Alena. Alena thấy Văn sửng sốt thì thích thú:
- Có phải anh tin là Alena đến tìm anh phải không?
Văn chợt tỉnh:
- Em đến hồi nào vậy? Em học tiếng Việt ở đâu mà giỏi quá.
Alena cười sung sướng:
- Lại đây, hôn em đi, mọi chuyện em nói cho anh sau.
Rồi chính nàng ào đến ôm chắt lấy Văn, hôn tới tấp lên môi, lên má anh:
- Anh quên em rồi phải không? Đừng giận em nữa nhé!
Một nguồn cảm xúc dâng trào trong anh. Văn quên hết lời mẹ dặn, quên giữa anh và Alena đã có những rạn nứt, anh quên tất cả... ghì chặt Alena trong lòng và hôn lên môi nàng như nghiến nát đôi môi nhỏ xinh cho bõ nỗi nhớ cháy lòng:
- Anh nhớ em quá, Alena nhỏ bé của anh!
Hai người quấn quýt bên nhau, tưởng xa nhau đã hàng thế kỷ, mặc cho người qua đường nhìn họ, măc cho những bông tuyết rơi. Alena thì thầm:
- Đêm qua em mơ một giấc mơ thật đẹp. Em thấy mình bị chết trên một bãi cát trắng phau và hóa thành một con bướm lớn. Anh đi tìm em, những bước chân của anh lầm lũi trên cát mà không tìm được mộ em. Em bay đến đưa đường cho anh đến bên xác em bị vùi trong cát trắng. Anh nằm trên nấm mộ và khóc mãi. Nước mắt của anh đã làm trôi những dòng cát, làm em hồi sinh và chúng mình lại quấn quýt bên nhau. Bừng tỉnh, em cứ tiếc mãi giấc mơ. Giá như giấc mơ là thực, em không biết chúng mình sẽ làm gì. Sáng ra trường thấy đề tên em đi Plzen thực tập. Em vội tức tốc ra mua vé tàu đến tìm anh. Em chỉ lo anh biến mất trên cõi đời này.
Văn cười:
- Em khờ quá! Anh có thể đi đâu được ngoài em và công việc. Tối nay anh mời em đến quán bia đen “Ông già má đỏ” để thưởng thức món ăn Plzen. À mà ai dạy em tiếng Việt vậy?
Hai người khoác vai nhau đi bộ dọc phố, vừa đi Alena vừa khoe:
- Em nhờ mấy bạn người Việt Nam dạy cho mấy câu thôi. Kỳ này anh phải dạy cho em nghiêm túc. Anh sẽ là thầy giáo tiếng Việt cho em. Làm sao trong một tháng em phải biết đọc, biết viết tiếng Việt.
Mải nói chuyện họ tới quán “Ông già má đỏ” cuối phố lúc nào không hay. Tuyết dưới chân họ đã dày hơn, những cành cây tuyết phủ đầy trắng xóa. Quán được làm bằng gỗ sồi già, ánh đèn vàng trong quán hắt ra với tiếng ồn ào nhộn nhịp của dân nhậu làm không khí ấm áp hẳn lên. Người ta qua đường trong đông giá chỉ muốn sà vào làm ngụm bia cho tỉnh táo.
Hai người bước vào quán thấy một chiếc ảnh lớn ông già đội mũ phớt với hàng ria mép quý tộc đang cầm cốc bia hấp háy nhìn họ. Bên cạnh chiếc ảnh là những chiếc sừng hươu và đầu các chú dê cụ. Rất nhiều cặp mắt nhìn đôi bạn trẻ. Văn kéo Alena vào góc quán, nơi có chiếc bàn bằng gốc cây lớn và ghế là những mẫu thông cây được tiện khéo léo, phẳng lỳ. Alena thầm thì:
- Mọi người nhìn mình ghê quá.
Văn mỉm cưởi:
- Họ thấy em của anh quá xinh thì họ nhìn thôi. Họ không ngờ một chàng trai xấu xí như anh lại có được công chúa tóc vàng như em.
Alena mặt đỏ ửng :
- Anh chỉ khéo nịnh thôi.
Văn kêu món thịt colet tẩm bột rán với hai cốc bia đen. Phụ nữ Tiệp Khắc rất thích uống bia đen, một thứ bia sánh như mật màu đen, thơm ngọt khoảng 10 độ. Bia làm cho má Alena hồng lên, mắt long lanh. Cô nói thật nhiều:
- Em đã nghĩ kỹ rồi. Anh không ở lại đây được với em, thì em sẽ về với anh. Anh đã từng nói: Thuyền theo lái, gái theo chồng. Tại sao em lại không theo anh được. Em đã nghe anh nói nhiều gian khổ nơi quê hương Việt Nam, nhưng gia đình anh và anh chịu đựng được thì chẳng nhẽ em lại không chịu được sao? Con người ta đâu phải sống vì vật chất, mà người ta sung xướng hay không chính là tinh thần. Em sẽ giúp anh được nhiều việc. Em sẽ dạy tiếng Tiệp cho các học sinh Việt Nam. Rồi mẹ sẽ hiểu và thương em...
Điều Alena nói ra thật bất ngờ. Anh đã thấy bao chàng trai si mê trước sắc đẹp của Alena mà nàng không màng đến. Vậy mà nàng sẵn sàng từ bỏ gia đình, cuộc sống nhung lụa để đi cùng anh đến chân trời góc bể, để cùng chịu đựng mọi gian khổ. Một niềm hạnh phúc dâng trào trong lòng Văn. Anh nắm chặt bàn tay mềm mại của Alena:
- Em thật can đảm. Anh chỉ sợ không xứng đáng với tình yêu của em.
- Can đảm lên anh! Cuộc tình của chúng mình sẽ có rất nhiều ngọt ngào trong tương lai. Anh muốn em nhảy xuống sông hay vào lửa em cũng sẵn lòng, chỉ cần bày tỏ tình yêu mãnh liệt của em cho anh hiểu là em hạnh phúc lắm rồi.
Hai người ngồi trong quán đến tận khuya và có lẽ họ là người rời quán sau cùng.
Những ngày ở Plzen thật đẹp. Mùa đông không còn lạnh lẽo trong tâm hồn Văn nữa mà nó sáng lên trong màu bàng bạc của tuyết, ấm nồng trong vòng tay của Alena. Họ cùng nhau đi trượt tuyết, vào rừng cùng bạn bè hát hò quanh những đống lửa thâu đêm. Tháng tư, ở Tiệp Khắc có lễ Phục sinh. Lúc này mùa xuân đã đến bên cửa. Các cô gái đua nhau mặc đẹp và họ chuẩn bị các quả trứng vịt đã rút hết lòng bên trong. Họ lấy bút dùng sơn vẽ đủ màu sắc lên quả trứng rồi phơi cho khô. Mỗi một quả trứng như một tác phẩm nghệ thuật, trong đó tha hồ các cô gái tưởng tượng, từ hình ảnh một khuôn mặt hề, từ một con suối hay từ một đám mây ngũ sắc. Còn các chàng trai thì tết những chiếc roi xinh xinh bằng các sợi lạt màu. Xong mỗi chiếc roi họ lại mỉm cười khi nghĩ tới chiếc roi được đánh vào bạn gái hoặc người mình yêu để lấy những quả trứng của các cô. Buổi tối Văn sang phòng ở của Alena, anh vừa gõ cửa thì nghe tiếng bên trong:
- Mời anh vào!
Văn đẩy cửa vào, tay lăm lăm cầm bó roi nhưng anh nhìn quanh không thấy Alena đâu. Văn ngó nghiêng tìm thì một tiếng òa sau lưng, hóa ra cô nấp sau rèm cửa. Anh giật mình chưa kịp định hình thì cô đã ào tới bó roi trên tay chạy ra xe:
- Lêu lêu, chàng trai ơi! Mất roi rồi đánh ai đây.
Văn lúng túng trước trò tinh nghịch của cô. Nhưng thật may, chiếc roi đẹp nhất anh định tặng Alena vẫn đang dắt trong người vì anh sợ gặp các cô gái khác dọc đường họ xin mất. Nên anh tự tin tiến lại gần rồi bất ngờ quật liên tiếp vào lưng Alena:
- Nào đẻ trứng đi, nào đẻ trứng đi!
Alena bị bất ngờ, nàng vừa cười vừa nói:
- Chịu anh rồi đấy, em sẽ có trứng đẹp cho anh đây.
Rồi cô cũng lôi ra hai quả trứng mà cô giấu dưới một đống trứng màu, chắc cô cũng sợ các bạn mình đến lấy mất quả trứng đẹp. Văn cầm hai quả trứng ngắm nghía: một quả vẽ khuôn mặt một cậu bé có đôi mắt sáng màu đen với mái tóc vàng ươm, còn một quả vẽ một cô bé có hai bím tóc đen nhánh với đôi mắt to tròn màu xanh như nước hồ thu. Văn vờ hỏi:
- Ai thế này?
Alena tinh nghịch:
- Anh tặng em roi thì em tặng anh hai đứa trẻ. Em thích mỗi đứa đều mang nét đẹp của anh và của em.
Văn vười:
- Em phải trở thành nghệ sĩ mất, anh chưa nhìn thấy ai có tóc vàng mà mắt màu đen đâu nhé.
Alena bướng bỉnh:
- Em thích vậy cơ.
Rồi cô lại thừ ra:
- Ừ thì chúng nó thế nào cũng được miễn là con mang dòng máu của anh và của em.
Văn ôm lấy Alena hôn lên mái tóc vàng của cô:
- Em yêu anh nhiều đến vậy sao? Thôi bây giờ chúng mình đến nhà bác Chapek đi. Anh muốn té nước cho gia đình bác được may mắn.
Đôi bạn trẻ dắt tay nhau tung tăng ra đường. Họ đến nhà ông bà Chapek bấm chuông ầm ĩ. Cả hai ông bà ra mở cửa. Vừa thấy hai ông bà, Văn và Alena té nước từ hai chiếc lọ mang theo làm ướt sũng hai người:
- Chúc hai bác sống lâu, hạnh phúc.
Ông Chapek vui mừng, dù người ướt sũng:
- Vào đây hai cháu. Chúng mày định bao giờ cho chúng ta uống rượu đây. Bây giờ thì vào đây làm một ly đã nào.
Bà Chapek mắng át đi:
- Ông thì lúc nào cũng rượu bia. Phải cho chúng nó ăn món bánh mì hấp sườn nướng của tôi đã.
Cả nhà cười xòa kéo nhau vào phòng ăn.....
Hết đợt thực tập Văn trở về Brno. Vừa đến trường, văn phòng khoa gọi anh lên gặp gấp. Bước vào phòng trưởng khoa anh đã thấy hơi nhồn nhột. Một người đàn ông lạ hoắc với đôi mắt sắc như dao cạo trên chiếc mũi khoằm nhìn anh chăm chú. Ông trưởng khoa đầu hói có đôi mắt hiền tự giới thiệu:
- Đây là anh Văn, sinh viên xuất sắc nhất của chúng tôi. Trong những năm qua luôn đạt sinh viên gương mẫu, năm nay sẽ tốt nghiệp khả năng bằng đỏ tuyệt đối....
Người đàn ông tiếp lời ông trưởng khoa.
- Cậu Văn ngồi xuống đi, những điều thầy Trưởng khoa giới thiệu chúng tôi đã biết. Bây giờ chúng tôi muốn nghe chuyện tình yêu của cậu với Alenna.
Văn hơi ngạc nhiên, giọng bất bình:
- Ông là ai mà lại quan tâm đến đời tư của tôi vậy?
Người đàn ông dướn mày:
- Chính vì thương cậu nên chúng tôi mới quan tâm đến cậu và cũng vì tiếc công học tập của cậu bao lâu nay. Cậu biết là Nhà nước của cậu cấm yêu đương như thế nào. Sứ quán biết chuyện chắc chắn cậu sẽ bị kỷ luật và người ta sẽ cho cậu về nước khi tốt nghiệp. Chúng tôi biết rất nhiều chuyện của cậu nên mới có lời răn trước như vậy.
Văn tái mặt. Không ngờ ông ta nói toạc những điều mà bao lâu nay Văn bứt rứt. Ông trưởng khoa rất yêu quý cậu sinh viên Việt Nam, xoa dịu:
- Chuyện yêu đương của tuổi trẻ không có gì xấu cả. Chỉ có điều phía Việt Nam rất nghiêm khắc trong chuyện này. An ninh chúng tôi cảnh báo vậy thì cậu cũng nên sắp xếp chia tay đi mà còn tập trung học tập. Chỉ còn mấy tháng nữa là ra trường rồi. Có chuyện gì thì uổng phí cả năm năm học.
.... Rời phòng trưởng khoa về ký túc xá, Văn đi như người mất hồn. Những lời răn đe từ phía nhà trường, phía an ninh Tiệp Khắc làm đầu óc anh như muốn nổ tung. Alena đã đợi anh trước của phòng, lo lắng hỏi:
- Anh bị ốm hay sao mà mặt tái nhợt vậy?

Văn không biết nói gì, kéo Alena vào phòng rồi ngồi phịch xuống ghế. Cô vội lấy nước lọc cho anh:
- Hay có chuyện gì ở trường? Tại sao họ lại gọi anh lên?
Giọng Văn buồn bã:
- Anh mệt quá. Vừa rồi an ninh và trưởng khoa gặp anh về chuyện chúng mình. Họ khuyên anh nên chấm dứt quan hệ với em, nếu không phải chịu kỷ luật về nước.
Alena kêu lên:
- Họ có quyền gì mà dọa nạt? Trai chưa vợ gái chưa chồng, yêu nhau có làm gì phạm pháp mà họ phải làm ầm ĩ lên thế.
Văn giải thích:
- Đó là họ khuyến cáo mình thôi, em biết không. Trước đây, thời kỳ những năm sáu mươi, sinh viên Viêt Nam ra nước ngoài phải chịu kỷ luật rất nghiêm ngặt. Không được đi chơi một mình, đi đâu phải đi ba người. Không được xem phim tư bản, không được mặc quần áo bò, không được quan hệ với người nước ngoài.....
Alena bịt tai:
- Thôi anh đừng nói nữa, những chuyện đó em biết cả rồi. Chẳng nhẽ những điều ấy anh không đủ can đảm để giữ tình yêu chân chính hay sao?
Thấy Văn thở dài thườn thượt, Alena động viên:
- Điều quan trọng là cả anh và em cùng yêu nhau, chúng ta có thể sống trên dư luận kia mà. Em có ông chú họ ở Praha là tiến sĩ ngôn ngữ, ông cũng là viện sĩ Viện Hàn lâm Tiệp Khắc. Ông đã từng sống ở Việt Nam, chúng mình lên nhờ ông can thiệp giúp xem sao.
Văn hỏi:
- Có phải tiến sĩ Ivo Vasiliép không?
Alena ngạc nhiên:
- Đúng đấy, sao anh biết?
- Tất cả lưu học sinh các anh đều biết ông Vasiliép. Ông rất có tình cảm với Việt Nam. Đặc biệt ông rất giỏi tiếng Việt, nói chuyện như người Việt vậy. Ông thuộc rất nhiều ca dao tục ngữ Việt Nam. Vừa rồi nói chuyện với anh em lao động Việt Nam ông còn dẫn chứng “Con sâu làm rầu nồi canh” để ám chỉ một số việc làm xấu của anh em làm tổn thương quan hệ giữa hai nước.
Alena vui mừng:
- Thế thì cuối tuần nay anh em mình lên Praha, vừa thăm thành phố cổ Hradchany vừa thăm chú em nhé. Em cũng muốn hỏi xem cách học tiếng Việt thế nào nhanh nhất.
Văn tạm gác nỗi buồn sang một bên, cùng Alena ra phố.

Họ ngồi trong nhà của viện sĩ Ivo Vasiliép trên tầng 10 chung cư hiện đại Praha. Căn hộ tương đối rộng rãi và thoáng mát. Tiến sĩ Vasiliép là một người đàn ông tầm thước, trán cao, đầu lơ thơ vài sợi tóc, đôi mắt tinh anh, nhanh nhẹn. Ông trạc năm mươi tuổi. Ông biết thông thạo mười thứ tiếng, hiện ông phụ trách vấn đề phương Đông trong Viện Hàn lâm khoa học Tiệp Khắc. Trong nhà ông chỗ nào cũng có giá đựng sách, đủ loại, từ tiếng Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,... đến các nước Tây Ban Nha, Liên Xô...Thấy đôi bạn trẻ, ông tỏ ra vui mừng, ôm vai Văn kéo vào phòng khách:
- Chú đã nghe Alena nói chuyện hai đứa, hôm nay mới được gặp cháu. Thật là đôi trai tài gái sắc. Hai cháu làm chú nhớ lại chuyện của chính mình hai lăm năm về trước, khi chú còn học ở Việt Nam.
Văn ngạc nhiên:
- Chẳng nhẽ chú cũng từng yêu một cô gái Việt Nam?
Ông gật đầu, đôi mắt trở nên xa xăm. Hồi lâu, ông kể:
- Hồi đó chú là sinh viên trường Tổng hợp Karlova nghiên cứu tiếng Việt. Chú được sang Việt Nam thực tập hai năm cuối tại trường Tổng hợp Hà Nội. Chú yêu Việt Nam tự bao giờ chẳng rõ, chú cảm giác như quê hương thứ hai của mình. Rồi tình yêu đôi lứa đã đến với chú. Cô bạn gái của chú lúc ấy cũng là sinh viên trường Tổng hợp, nghiên cứu tiếng Tiệp. Chú và cô ấy làm quen với nhau. Cô ấy là giáo viên tiếng Việt cho chú, còn chú là giáo viên tiếng Tiệp cho cô ấy. Lúc đầu chỉ là tình bạn. Nhưng khoảng cách giữa tình bạn và tình yêu mong manh quá. Càng ngày, tình cảm giữa hai người càng gắn bó. Chú và cô ấy giấu tình cảm đi nhưng mà làm sao giấu được! Câu chuyện yêu đương của chú lan ra toàn trường. Mọi người nhìn chú với con mắt giễu cợt pha chút khinh bỉ. Có lần chú đến thăm ba mẹ cô ấy thì bị gia đình xua đuổi như gặp phải tà ma. Có những tối chú và cô hẹn nhau ra Hồ Gươm nói chuyện thì bị bọn trẻ ném đất đá. Việc yêu đương của chú như là làm chuyện gì tội lỗi lắm. Không chịu nổi cách đối xử tàn tệ như vậy, tình yêu của chú tan vỡ. Nhưng hình ảnh cô ấy đã theo chú cả cuộc đời. Cô ấy là Thu, nhà ở phố Hàng Bài...
Alena ngồi bên chú, chăm chú lắng nghe:
- Thế từ đó chú có trở lại Việt Nam lần nào nữa không? Có gặp được cô ấy không? Cô ấy đã đi lấy chồng chưa?
Ông Vasiliép vẫn miên man trong kỉ niêm:
- Có chứ. Nhưng những lần sau này chú trong đoàn ngoại giao nên cũng không dám đi lại lung tung. Chú chỉ nghe kể cô ấy đã có chồng. Đối với Việt Nam, chú có rất nhiều kỷ niệm đẹp. Nhất là lần phiên dịch cho đoàn Chính phủ Tiệp Khắc gặp Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong buổi chiêu đãi trọng thể tại nhà khách Chính phủ Việt Nam, chú e ngại ngồi ở cuối bàn. Chú thấy Bác Hồ cầm một quả cam đi xuống phía dưới tận nơi chú ngồi. Chú nhìn quanh không biết có vị quan chức nào mà Bác phải đi tới. Khi Bác đến bên, chú vô cùng xúc động. Bác cười và khen: ”Cháu dịch tiếng Việt tốt lắm! Bác thưởng cho cháu quả cam này”. Bao nhiêu đôi mắt đổ dồn nhìn chú. Trong cuộc đời sau này, chú nhận không biết bao nhiêu phần thưởng khác giá trị, nhưng quả cam mà Bác Hồ cho chú chính là phần thưởng hạnh phúc nhất. Sự quan tâm của vị lãnh tụ với một người phiên dịch bình thường làm cho chú càng hiểu thêm lòng nhân ái bao la của Bác Hồ. Điều đó không chỉ tạo nên sức mạnh đoàn kết của nhân dân Việt Nam quanh Bác mà còn làm cho bạn bè quốc tế cảm phục hết lòng vì Việt Nam. Chính bản thân chú lúc nào cũng mong muốn được làm nhiều điều có ích cho Việt Nam.
Alena nũng nịu:
- Chú ơi! Ngày xưa cô Thu và chú không lấy nhau được, do lúc đó tình hình Việt Nam còn chiến tranh. Bây giờ Việt Nam đã thống nhất, kinh tế ngày một khá lên. Cháu cũng mong muốn như chú được sang đấy cùng anh Văn góp sức làm nhiều điều tốt cho quê hương anh ấy.
Ông Vasiliép mỉm cười, nhìn đôi bạn trẻ:

- Chú ủng hộ tuyệt đối. Nhưng khó đấy. Có rất nhiều người như các cháu, nhưng cuối cùng cũng phải chấp nhận thực tế là chia tay. Trước đây chú tưởng không thể nào tan vỡ được mối tình đầu ấy, nhưng rồi thời gian qua đi những vết thương lòng được hàn gắn. Cô Thu cũng đã có gia đình, chú giờ đây cũng rất hạnh phúc bên cô Ana với những đứa con xinh xắn. Mọi điều tưởng không thể ấy trở thành một kỷ niệm đẹp trong đời mà thôi. Giớ đây nếu được trở về những ngày ấy chú cũng không dám vượt qua đâu.
Alena bướng bỉnh:
- Cháu sẽ học giỏi tiếng Việt, cần thì cháu nhuộm tóc màu đen cho giống con gái Việt Nam. Cháu đang tập làm món ăn Việt như nấu cơm, làm nem. Cháu tin là sẽ rất thú vị khi sang Việt Nam. Cứ tưởng tượng được ở trong căn nhà toàn là lá dừa là cháu thích rồi. Cháu sẽ cùng anh Văn đi ra biển bắt cá. Lúc đầu mọi người sẽ khó chịu vì phải sống với cô mắt xanh mũi lõ, nhưng họ sẽ quen dần và lại quí trọng một cô giáo nước ngoài mà biết chịu kham khổ.
Ông Vasiliép xua tay:
- Cháu ơi! Đừng vẽ mộng ảo nhiều quá. Chú sợ thực tế không đơn giản như cháu nghĩ đâu.
Văn tiếp lời:
- Theo chú thì chúng cháu phải làm gì bây giờ? Phải lo những thủ tục gì?
Ông Vasiliép khoát tay:
- Bây giờ hai cháu tiếp tục suy nghĩ thật kỹ quyết định của mình. Tập trung làm luận án tốt nghiệp cho tốt. Phải hoàn thành việc học tập trước đã. Đừng làm điều gì ngoài việc học lúc này. Các cháu mà đề nghị việc Alena về Việt Nam bây giờ lên Sứ quán là có khi không được mà Văn lại bị về nước trước khi tốt nghiệp thì mất cả chì lẫn chài. Sau khi tốt nghiệp xong cháu còn được thực tập phải không?
- Dạ, chúng cháu sẽ được thực tập sáu tháng nữa.
- Tốt lắm, lúc đó các cháu lên đây, chú sẽ bày cách phải thế nào. Nhưng cũng không đơn giản đâu. 
Chương 8: 
Chia tay ông Vasiliép, Alena rủ Văn:
- Mình còn mấy ngày nghỉ nữa mới phải vào trường. Em muốn chúng mình chẳng quẳng nỗi lo, đi tìm một nới yên tĩnh để thưởng thức vị ngọt của tình yêu. Anh muốn đi đâu em cũng chiều.
Văn âu yếu nhìn Alena:
- Anh muốn đi tham quan danh lam, thắng cảnh Praha.
Alena vui mừng:
- Được rồi, em sẽ đưa anh đến thành phố cổ Hradchany. Anh có biết không? Đã từ lâu người ta thường mệnh danh đất nước Tiệp Khắc là “trái tim châu Âu”. Ngay từ năm 1592, người ta đã vẽ bản đồ tượng trưng của châu Âu giống như một phụ nữ quí tộc. Vương quốc Tiệp Khắc được tô màu đỏ đậm, biểu tượng trái tim người phụ nữ.
Văn và Alena khoác tay nhau đi bộ dọc sông Vơ-lơ -ta-va. Trên các triền đồi nhấp nhô như bát úp xung quanh thủ đô, hoa táo, hoa lê, hoa anh đào đua nhau khoe sắc trắng và phơn phớt hồng rực rỡ. Thủ đô Praha như được một tấm áo thiên nhiên đầy màu sắc của các loại hoa xuân bao phủ. Băng đã tan từ lâu, nước ấm hơn, các chú vịt trời, hải âu lại tíu tít tranh ăn với đàn chim thiên nga trắng muốt, dịu hiền, độ lượng. Alena thích thú bẻ bành mì vứt xuống sông. Nhiều con chim còn táo tợn đến giật bánh trên tay nàng. Khung cảnh thật thanh bình, bộ váy trắng của nàng hòa cùng màu trắng của bầy thiên nga tỏa ánh sáng dìu dịu. Khuôn mặt của nàng ửng hồng, đôi mắt long lanh. Không dừng đươc Văn thầm thì:
- Em đẹp như một nàng cộng chúa vậy, Alena!
Họ dắt nhau vào thành cổ với lối kiến trúc Gô- tích thành quách hùng vĩ. Văn say sưa nghe truyền thuyết về vị vua anh minh Caren IV:
“Caren IV vua nước Tiệp, hoàng đế của đế quốc La Mã là một ngôi sao sáng chói, một con ngời vĩ đại trong lịch sử phong kiến các nước Đông Âu thế kỷ XIV. Caren IV sinh ngày 14 tháng 5 năm 1316. Ông rất nổi tiếng không chỉ ở trí tuệ tuyệt vời mà còn ở tài năng xuất chúng trong suốt cuộc đời sôi động của mình. Ngay từ khi còn là một hoàng tử, ông đã bộc lộ mọi tố chất thông minh, linh lợi với một thân hình cân đối, khỏe mạnh với bản lĩnh kiên quyết và táo bạo. Cả triều đình phong kiến Tiệp đã coi vị hoàng tử trẻ tuổi với cái tên thánh là Va- xlap như một biểu tượng của tương lai sáng lạn và niềm hy vọng lớn lao cho vinh quang xứ sở. Ngay sau khi nối ngôi vua cha, Caren IV đã thực hiện nhiều chính sách để củng cố triều đại Lúc-xăm-bua. Ông dựa hẳn vào giáo hội và ban cho họ nhiều đặc ân. Nhà thờ lớn được xây dựng ở nhiều nơi. Giáo hoàng La Mã rất ủng hộ Caren IV. Giáo hoàng Ca-lơ-men VI đã giúp Caren IV rất tận tụy, và đã làm lễ lên ngôi Hoàng đế La Mã cho Caren (1346). Ánh hào quang trên vương miện của vị Hoàng đế trẻ tuổi đã rực sáng trong suốt 32 năm. Đây cũng chính là thời hoàng kim của lịch sử phong kiến các vương quốc Xla- vơ Đông Âu. Thành thị và công thương nghiệp phát triển, thị dân ngày càng giàu có và họ là chỗ dựa thứ ba sau tăng lữ và quý tộc cho Hoàng đế Vương quốc Tiệp nằm ở vị trí trung tâm của các con đường buôn bán Bắc-Nam và Đông-Tây ở châu Âu, do vậy mà thị dân ở đây có điều kiện thuận lợi để phát triển công thương mại. Praha đã trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa lớn nhất Trung Âu: Đón nhận Hoàng tử từ Bennat (Bắc Ý) lên, từ Hà Lan, Bắc Đức xuống. Praha lúc này đã là thành phố lớn nhất của vương quốc Tiệp và của cả đế quốc La Mã. Sau khi trường Đại học Tổng Hợp Hoàng Gia được thiết lập thì Praha còn là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của Trung-Âu. Người ta coi Praha là “Trái tim châu Âu” thời kỳ này.
Caren IV rất chú ý đến thị dân Tiệp. Ngay từ khi chưa chính thức lên ngôi vua Tiệp, với tư cách là quận công Mô-ra-va, Caren đã bắt đầu một kế hoạch xây dựng kinh thành Praha. Thành phố được mở rộng. Hàng loạt các nhà thờ, tu viện lớn nhỏ được tu bổ, xây dựng thêm. Lối kiến trúc Gô- tích, lối kiến trúc cao thanh thoát, thường có vòm trên mái các thánh đường để làm tăng sự cộng hưởng của âm thanh và làm tăng vẻ uy nghi, thiêng liêng của nhà thờ rất được thịnh hành ở giai đoạn này. Caren IV cho mở rộng Praha với việc xây thêm khu “Thành phố mới” với những đường phố, quảng trường, chợ búa rất đông vui, sầm uất. Lúc này Praha đã rộng đến 360 hecta với 40.000 dân. Caren cho phép thương nhân, thợ thủ công từ các vùng lân cận ngoại thành, hoặc cả khu “Thành cổ” (tức là khu thành thị trước năm 1348) có thể đến khu phố mới xây dựng để sinh cơ lập nghiệp.

Tất cả các thị dân mới di cư đến đều được miễn sưu dịch và các đảm phụ trong suốt 12 năm đầu. Các loại hàng xuất nhập cảnh đều chịu thuế rất nhẹ. Cầu Caren được xây dựng vắt ngang sông Vơ-lơ-ta-va. Chính hoàng đế Caren IV là người đặt viên đá đầu tiên cho việc khởi công xây dựng cầu. Các thương nhân, sứ giả ở Ý đến cung đình để bàn kế hoạch mỡ rộng quan hệ buôn bán giữa Ý và Tiệp và với Bắc Âu. Nói chung, Caren IV đã thành công trong việc tạo cho vương triều mình một cơ sở kinh tế phồn thịnh, một tầng lớp thị dân, quý tộc và tăng lữ trung thành. Với sự ủng hộ của lực lượng xã hội này, với tài năng thiên bẩm riêng biệt trên chiến trường, Caren IV đã thực hiện những chính sách đem lại sự vinh quang cho cá nhân mình, cho hoàng tộc Lúc-xam-bua kiêu hãnh. Caren IV đã góp phần quan trọng để viết nên những trang sử đẹp đẻ, đáng tự hào cho lịch sử các dân tộc Tiệp Khắc và sáng lập nên cả một giai đoạn hoàng kim rực rỡ cho các dân tộc Xla-vơ Đông Âu trong đế quốc La Mã. Nền tảng cho một tư tưởng chính trị của Caren IV là xây dựng đế quốc La Mã thần thánh hùng cường với truyền thống các dân tộc Giecman và truyền thống Morava và Praha là trái tim của cả đế quốc. Và do vậy từ thời kì trị vì của Caren IV, Praha đã bắt đầu trở thành biểu tượng rực rỡ của xứ Bô-hêm. Phố xá, quảng trường, chợ búa, cung điện, nhà thờ, nhà hát,… được mọc lên san sát với nhiều ngọn tháp cao vút. Praha từ đó còn được gọi là “Thành phố trăm tháp”. Kinh thánh được dịch ra tiếng Tiệp và được công bố rộng rãi.
Ngày 7-4-1348, Giáo hoàng Cơ-lê-men VI cho phép Caren IV xây dựng trường Đại học tổng hợp ở Praha. Trường được xây dựng theo khuôn mẫu của trường Tổng hợp Pari. Các giáo sư phần lớn là các tăng lữ có trình độ học vấn cao. Đây là trung tâm văn hóa lớn nhất của đế quốc La Mã, bao gồm đầy đủ các khoa học thần học, sử học, y học, văn học, sư phạm, âm nhạc,…(trường này mang tên trường Tổng hợp hoàng gia Caren, hay còn gọi là trường Đại học tổng hợp Sác-lơ). Năm 1349, nhà trường đã làm lễ phong học vị đầu tiên cho các sinh viên tốt nghiệp. Năm 1366, đã có những ký túc xá cho sinh viên. Năm 1400 đã tiếp nhận nhiều sinh viên ngoại quốc đến du học. Vào giai đoạn này, Gian Hut, nhà cải cách nổi tiếng là Chủ nhiệm Khoa Thần học, về sau ông được bầu làm Hiệu trưởng của trường. Bộ luật cũng được xuất hiện vào năm 1351. Đó là hiến pháp cai trị mà Caren IV đã kết hợp những luật lệ cũ và những tư tưởng mới để thực hiện.
Chính sách đối nội và đối ngoại của Caren IV nói chung ôn hòa, mềm dẻo. hoặc là ngoại giao khôn khéo, hoặc bằng quan hệ hôn nhân mà Caren IV đã giữ vững được sự ổn định, thái bình. Đời tư Caren IV cũng đầy những thiên tình sử mà mỗi cuộc hôn nhân đều vì mục đích chính trị. Hoàng tử Vaxlap, khi tròn một tuổi đã hứa hôn với nữ bá tước Xvitka, 11 tuổi và là người thừa kế vùng Xlêt-xkô, sát biên giới đế quốc. Nhưng rồi Thái tử chết và Thái hậu cũng từ trần vì đau buồn. Caren IV cưới bà vợ thứ hai nhưng không có con trai. Hoàng hậu thứ hai cũng qua đời. Bấy giờ nữ bá tước Xvitka mới 13 tuổi. Với tư cách là hoàng đế La Mã, Caren đã ngỏ lời cầu hôn với nữ bá tước Xvitka, người mà trước đây đã hứa hôn với con trai mình. Một năm sau, hôn lễ được cử hành khi Caren IV đã 46 tuổi còn nữ bá tước xinh đẹp Xvitka mới 14 tuổi. Và vùng Xlet-xkô về tay Caren IV. Biên giới vương quốc Tiệp thời Caren IV được mở rộng gồm cả xứ Bô-hem, Môrava-Xlet-xkô thượng và hạ, Lurixe…, còn lãnh thổ đế quốc La Mã thì mênh mông gồm Tiệp, Bắc Ý, Áo, Hung, Bỉ, Hà Lan và Đức.
Năm 1378, Caren IV mất. Từ đây lịch sử Bô-hêm nói riêng và đế quốc La Mã nói chung bước vào thời kỳ phức tạp đầy những biến động. Thời kỳ hoàng kim của chế độ phong kiến Đông Âu đã chấm dứt.
Bằng cả cuộc đời, bằng ý chí, tài năng và nghị lực phi thường, Ca-ren IV đã đóng góp rất lớn cho sự phát triển kinh tế, văn hóa, chính trị khắp Trung Đông Âu. Đây là giai đoạn thái bình thịnh trị mà trong đó các dân tộc Xla-vơ đã đạt được những thành tựu lớn lao trong mọi lãnh vực ; tên tuổi, sự nghiệp của Ca-ren IV gắn liền với lịch sử của các dân tộc Xla-vơ Trung Đông Âu. Do vậy nửa đầu thế kỉ thứ XIV thường được các sử gia gọi “Thời đại Ca-ren IV’ để tưởng nhớ và ghi nhận công lao vĩ đại của một vị Hoàng đế kiệt xuất.
Rời thành cổ Hradchany, Văn và Alena xuống thăm cầu Ca-ren với hàng chục pho tượng đầy vẻ huyền bí trên hai thành cầu. Bên kia cầu Ca-ren có một tòa nhà lớn đường bệ. Đó chính là trụ sở của trường Đại học Tổng hợp Hoàng gia mang tên vị hoàng đế vĩ đại Ca-ren IV. Văn và Alena chìm đắm trong truyền thuyết về trường đại học tổng hợp đầu tiên này:
“Chế độ phong kiến của vương quốc Tiệp và của đế quốc La Mã thời Ca-ren IV đã phát triển đến giai đoạn toàn thịnh. Pra-ha đã trở thành trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của cả đế quốc La Mã. Do vậy, việc thành lập một trường đại học ở kinh thành Praha ngày càng trở thành một nhu cầu cấp thiết đối với thị dân và quí tộc. Ngay sau khi lên ngôi Hoàng đế, Ca-ren IV đã nhiệt thành đề nghị với Giáo hoàng Ca-lê-men VI cho phép xây dựng trường Đại học. Bấy giờ nền văn hóa, giáo dục ở vương quốc đã khá phát triển…Khắp các địa phương đã có các trường trung học. Ở Praha đã có 15 trường tiểu học và trung học. Trong khi đó ở Viên (Thủ đô nước Áo) chỉ có 4, ở Ca-ra-lốp (Thủ đô tiểu Ba Lan) có 5, ở Nu-rem-bec (Trung tâm kinh tế lớn của Vương quốc Đức) cũng chỉ có 4. Bấy giờ chỉ có vài trường Đại học ở các vương quốc phong kiến lớn ở Tây Âu, như trường Tổng hợp Pa-ri (Pháp), Oc-phót (Anh). Hằng năm con em các gia định quý tộc hoặc thị dân giàu có thường được gởi tới đấy theo học. Đầu thế kỉ XIV, vương quốc Tiệp có tới 30 sinh viên du học ở các trường đại học này.
Rồi vào môt ngày đầu xuân ấm áp (1-4-1348) trong cuộc hợp mặt thường kỳ của Thượng viện vương quốc Bô-hêm tại thành Hơ-rat, Hoàng đế Ca-ren IV đã long trọng tuyên bố Giáo hoàng đã chuẩn y việc thành lập trường Đai học Hoàng gia. Sắc lệnh này được nhanh chóng tuyên bố trước công chúng. Quí tộc và thị dân Praha rất vui mừng. Trường Tổng hợp Hoàng gia ra đời sẽ làm tăng niềm kiêu hãnh cho quê hương xứ sở. Mọi việc tổ chức xây dựng trường sở, rước mời các giáo sư và các danh nhân nổi tiếng từ khắp các nơi về Praha được tiến hành rất khẩn trương. Triều đình Luc-xem-bua (Hoàng đế Ca-ren IV họ Luc-xem-bua), theo đề nghị của Hoàng đế đã hào hiệp tặng cho trường một tòa lâu đại đồ sộ 5 tầng nằm cách hoàng thành 1 km, bên bờ sông Vơ-lơ-ta-va xinh đẹp. Tòa nhà này được chọn làm trụ sở chính của trường.
Sau đó hàng loạt các nhà thờ, tu viện lớn ở kinh thành được chọn làm giảng đường, được chọn làm nơi ăn chốn ở của các giảng viên và sinh viên. Chẳng hạn nhà thờ thánh Vi-ta ở Ma-lô-xtơ-ran-xca, nhà thờ Ma-ri-a….Đến đầu tháng 4-1349, bốn khoa của trường được chính thức thành lập. Khoa Thần học, khoa Luật, khoa Y và khoa Nghệ Thuật. Hồi bấy giờ, theo quan niệm chung của xã hội thì khoa Thần học là khoa danh giá nhất. Sinh viên của khoa này thường là con em quý tộc, tăng lữ và chức sắc cao cấp của Giáo hội…. Khoa nghệ thuật thì gồm rất nhiều ngành đa dạnh: ngữ ngôn, sử học, sư phạm,âm nhạc, nghệ thuật…tất cả những giảng viên của trường đều là những tri thức có học hàm, học vị như giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ: những danh hiệu này gắn liền với tên tuổi và sự nghiệp của mỗi người, truyền thống này vẫn được gìn giữ mãi đến nay (ở châu Âu người ta thường viết học vị, học hàm cùng với họ tên của mỗi cán bộ trong tất cả các văn bản,giấy tờ). Giáo hoàng Cơ-lê-men VI ban chỉ dụ làm lễ khai trường vào ngày 15-1-1349. Mấy tháng trước, Hoàng đế Ca-ren IV đã cho sứ thần dâng danh thiếp mời các vị giáo sư, bác sĩ danh tiếng từ khắp mọi nơi: Pháp, Hà Lan, Đức, Ý. Ngày cắt băng khánh thành đã đến, trời lạnh 25 độ dưới 0 nhưng trong cung Ca-rô-lin không khí vẫn ấm áp, náo nhiệt. Những chùm đèn lồng sang trọng, rực rỡ tỏa sáng. Bản thánh ca quen thuộc du dương trầm bổng. Những chiếc bàn dài phủ khăn theo trắng muốt. Các đại thần trong triều đình, các tăng lữ, giáo sư được mời đến dự lễ đang lục đục kéo về đây. Tất cả trong lể phục sang trọng, áo thụng dài đen, mũ và giày ủng màu đen. Có tới 200 các quan khách, các bậc danh nhân được mời đến. Khi bản thánh ca vừa dứt, Tổng giám mục Praha trang trọng trong chiếc áo thụng đỏ, đại diện cho Đức Giáo hoàng Cơ-lê-men VI trịnh trọng tuyên bố trước các quan khách: trường Đại học Tổng hợp xứ Bô-hêm được thành lập và mang tên Hoàng đế Ca-ren vĩ đại! Đám quý tộc và tri thức Bô-hêm không giấu nổi xúc động và niềm kiêu hãnh trên nét mặt, sau đó Hoàng triều mở tiệc mời tất cả quan khách. Người ta tụ tập nhau thành từng nhóm sôi nổi bàn luận. Đám cận thần ra sức tán dương công sức của Hoàng đế Ca-ren IV; các học giả danh tiếng được mời đến thì say sưa bàn luận về những học thuyết và định luật nào đó. Các thị nữ xinh đẹp bưng ra những đĩa hoa quả quý của xứ Bô-hêm như táo, lê, mận. Các loại hoa quả này được cất giữ dưới hầm sâu nên hương vị vẫn còn ngào ngạt. Rồi các loại rượu ngon được đem mời khách. Năm 1349, lần đầu tiên nhà trường làm lễ phong học hàm, học vị cho các học viên của trường đại học tại lâu đài Ca-rô-lin. Từ đó đến nay lâu đài này đã trở thành nơi truyền thống mà Nhà nước Tiệp Khắc tổ chức các buổi lễ phong học hàm, học vị cho các cán bộ khoa học và các sinh viên tốt nghiệp. Các buổi “Prô-mô-xe” này cho tới nay vẫn được tiến hành theo nghi thức có cả các học viên, các học giả danh tiếng trang trọng trong áo thụng đen và được mời lên ghế danh dự. Tất cả những người được phong đều mặc quần áo đại lễ, hoặc com-lê đen, hoặc xiêm áo dài sát đất rất sang trọng. Các bà, các bô còn trang sức lộng lẫy như các bà hoàng thời cổ. Thân nhân và bè bạn tới dự, ai cũng ăn mặc thật đẹp và trang trong. Họ thường đem theo hoa tươi hoặc các tặng phẩm để tặng những người thân của mình. Đứng giữa lễ đài, một vị giáo sư lớn tuổi mặc áo thụng đỏ, tay cầm chiếc gậy bịt đồng lấp lánh, tượng trưng cho hình ảnh Đức giáo hoàng. Những người được tặng chứng chỉ của mình…Sau đó cũng theo thứ tự, từng người một kính cẩn đặt bàn tay phải của mình lên đầu chiếc gậy trong giây lát. Nghi thức này được coi như là biểu tượng truyền thống, nói lên lòng quyết tâm phấn đấu mãi mãi cho sự nghiệp vinh quang. Bản thánh ca nào đó cất lên du dương trầm bổng mà trang nghiêm từ trên lầu vọng xuống như để chúc mừng và ca ngợi thành tích của mỗi người. Những người được nhận ống quyển nét mặt rạng rỡ, xúc động tiến về phía người thân của mình. Những bó hoa tươi thắm, những cái bắt tay thân thiết, những cái hôn nóng bỏng…Máy ảnh chớp lia lịa. Rồi từng tốp rủ nhau vào quán cà phê hoặc hàng ăn đâu đó cùng ăn uống mừng ngày vui của cuộc đời. Ngay sau khi nhận bằng đại học, người ta sẽ gọi họ rất trọng vọng là các ông, các bà. Xã hội Tiệp Khắc rất coi trọng học vị.

Sinh viên từ khắp nơi được gửi đến đây theo học. Họ từ Phổ, Lít-va, Áo, Ba Lan, Đức, Hà Lan và cả từ Pháp, Anh tới. Nói chung các giáo sư người Đức thường giữ những cương vị lãnh đạo trong nhà trường và ở các bộ môn. Sinh viên Đức ở đây học tập rất đông và họ được ưu ái. Các giảng viên, sinh viên của Tiệp thường bị coi thường và chèn ép. Do vậy đầu thế kỷ XIV, phong trào đấu tranh đòi quyền bình đẳng của các giáo sư và sinh viên Tiệp Khắc trong trường bùng nổ rất mạnh. Nhà trường đóng một vai trò lớn trong việc phát triển văn hóa giáo dục. Đến năm 1378, trường đã đào tạo được 8.000 sinh viên tốt nghiệp, một đội ngũ trí thức đáng kể cho đế quốc La Mã và một vài nước Tây Âu nữa. Hoạt động văn hóa của trường rất phong phú. Những tư tưởng mới tiến bộ về con người, về thế giới được bàn luận sôi nổi trong các cuộc thuyết trình và hội thảo của các giáo viên, sinh viên trong trường. Ngoài việc giảng dạy, các giáo sư còn có đóng góp quan trọng việc sáng tác thơ, văn, âm nhạc và dịch thuật. Nhiều tác phẩm văn học, sử học có giá trị đã xuất hiện. Chẳng hạn Cuộc đời của Giáo hoàng, Cuộc đời của Giê-su, Niềm vui của Đức Bà Ma-ri-a…Nói chung trong các tác phẩm này, cuộc đời của các thánh thần, từ Giê-su đến Đức Mẹ đồng trinh, từ Giáo hoàng cho đến các tăng lữ đều được “trần tục hóa”, phóng khoáng và gần gũi với con người trần thế. Dù thánh nhân hay kẻ tu hành đều có những tình cảm buồn vui, đau khổ hay sung sướng của đời người. Phơ-răng-ti-sec (František) đã viết được bộ biên niên sử có giá trị về thời Ca-ren IV. Các học giả về ngôn ngữ của trường đã có những đóng góp lớn để làm phong phú,trong sáng và hoàn thiện ngôn ngữ dân tộc. “Trường phái Praha” đã xuất hiện từ thời kỳ này. Các bài thánh ca cổ kính trang nghiêm được các nhạc sĩ cải biên nên rất gần gũi ,êm dịu, phù hợp với tập quán của người dân Bô-hêm. Cho đến ngày nay, các bản thánh ca vẫn được vang lên du dương trầm bổng mà ấm áp trong các buổi cầu nguyện hoặc các ngày lễ thánh ở các giáo đường.
Thời đại Ca-ren, thời kỳ hoàng kim chói lọi của chế độ phong kiến Bô-hêm và các nước Trung Đông Âu đã tạo nên một cơ sở vững chắc về kinh tế, chính trị cho một nền văn hóa tinh thần đơm hoa kết trái ngọt ngào. Sự thành lập trường Đại học Tổng hợp Hoàng gia Ca-ren là biểu tượng đẹp đẽ để đánh dấu giai đoạn toàn thịnh của vương quốc phong kiến Tiệp Bô-hêm”.
Chiều tối, Văn và Alena đến quán bia U Fleku ở phố Kremencova, quận 1 Praha. Đây là quán bia lâu đời nổi tiếng ở Tiệp Khắc, khai trương từ năm 1499, nghĩa là nó đã gần 500 tuổi. Nhà hàng này chỉ phục vụ bia đen. Alena cũng như rất nhiều phụ nữ Tiệp Khắc rất thích uống bia đen, vì họ cho rằng bia đen làm cho phụ nữ đẹp lên. Khi họ đến quán, trời đã mờ tối, trong quán không khí ồn ào náo nhiệt bởi đủ loại khách, đặc biệt rất nhiều khách du lịch. Hầu như ai đến Praha cũng cố đến thưởng thức bia đen ở đây mà không nơi nào trên thế giới có được. Bia đen được nấu bằng đại mạch rang cháy. Kỹ thuật rang chỉ có người Tiệp Khắc có nghề mới biết cách sao tẩm các hương vị. Alena kéo tay Văn qua các bàn ngồi kín chỗ, tới một cánh của gỗ cổ kính có biển để: “Bảo tàng U Fleku”. Mở cánh cửa gỗ, hai người theo bậc thang xuống một hầm sâu. Sau khúc cầu thang hóa ra một căn phòng mênh mông chứa được hàng trăm khách. Ánh đèn vàng với cách bài trí cổ kính tạo một không khí ấm cúng lạ thường. Alena chọn một chỗ ngồi kín đáo:
- Hôm nay chúng mình phải thưởng thức các loại bia đen.
Văn hơi ngạc nhiên:
- Anh mới chỉ thấy một loại bia đen với nồng độ khác nhau.
Alena vui vẻ:
- Đúng rồi, anh đi các nơi khác chỉ có một loại, còn ở đây có ba loại tất cả. Loại nhẹ gọi là bia tốt, nước đùng đục như màu khói. Loại nặng hơn là bia đen, hương vị nó đậm và thơm nồng, màu như cô ca cô la. Còn loại nữa gọi là “bia con chó”, bia đặc sánh như nước mật ong. Loại này chỉ dùng cho đàn ông vì độ cồn tương đối cao.
- Anh nghiên cứu về bia mà bây giờ mới biết điều đó. Em thích loại bia gì?
Alena hào hứng:
- Tất nhiên là em thích uống bia đen rồi, bởi uống bia đen sẽ làm da em đẹp ra, bộ ngực sẽ phát triển để anh yêu em mãi. Còn anh nên uống bia con chó, loại đó sẽ cho anh lòng can đảm của người tráng sĩ để đưa em đến bến bờ của hạnh phúc.
Văn không biết nói gì hơn, chỉ còn biết nắm bàn tay mềm mại của Alena và nhìn say đắm vào đôi mắt long lanh…
…Tham quan hết danh lam thắng cảnh Praha, Alena lại rủ Văn đi thăm cảnh đẹp thiên nhiên. Họ tìm đến hồ Lipno, nơi người Tiệp gọi là biển của Tiệp Khắc. Một điều người dân Tiệp Khắc luôn luôn khao khát là được ra biển. Nước Tiệp Khắc nằm ở trung tâm châu Âu, xung quanh họ là Nga, Đức, Ba Lan, Áo, Hungari. Muốn đến được biển phải qua nước khác. Bù lại thiên nhiên ban tặng cho hồ Lipnô rộng mênh mông. Đây cũng là một trong những hồ lớn nhất thế giới. Xung quanh hồ là những rừng thông, những triền đồi thoai thoải. Tiết trời lúc đó đã sang xuân, cỏ cây đang nhú mầm xanh khắp nơi. Những khu rừng hôm qua còn là những cành cây khẳng khiu khô cằn mùa đông tuyết phủ thì hôm nay đã đầy lộc. Xung quanh hồ người ta dựng những ngôi nhà gỗ nhỏ cho các gia đình đến đây nghỉ cuối tuần. Họ thuê một ngôi nhà ngay sát mép nước, xung quanh có nhiều cây cao xanh. Mùa này khí trời vẫn còn lạnh nên người ta chưa đến đây nghỉ nhiều. Không gian hoàn toàn yên tĩnh, chỉ có đôi tình nhân đang say men tình yêu. Văn khoác vai Alena đi dọc bờ hồ, những cơn gió xuân làm tung mái tóc vàng của nàng. Văn mặc chiếc áo khoác màu ghi dài đến đầu gối. Alena mặc chiếc váy màu hồng nhạt hai dây khoe đôi vai trần trắng muốt. Đến một thảm cỏ cô đột ngột giựt tay Văn ra, nói như reo:
- Đố anh đuổi được em……!
Chiếc váy của nàng tung lên khoe đôi chân thon, dài. Văn đuổi kịp Alena, cả hai cùng ngã trên thảm cỏ. Họ như quên hết mọi lo lắng trên đời, nằm với nhau trên bãi cỏ, mắt nhìn mắt, tay nắm tay, suối tình trào dâng. Giữa hai nụ hôn, Alena khẽ hỏi:
- Anh có yêu em nhiều không?
Văn gật đầu. Alena thầm thì:
- Em hạnh phúc quá! Anh chính là nguồn sống của em.
Văn siết chặt vòng tay:
- Nhắm mặt lại em!
Alena ngoan ngoãn nhắm mắt như chờ đón một nụ hôn dài sâu. Văn lấy trong túi một hộp nhung mầu đỏ trong đựng chiếc vòng cẩm thạch, kỷ vật của mẹ cho anh trước khi lên đường:
- Nào công chúa mở mắt ra!
Alena mở mắt, reo lên:
- Trời ơi, anh có chiếc vòng ở đâu đẹp vậy!
Cô cầm lấy, ngồi dậy ngắm nghía.Trong ráng chiều, những tia nắng làm chiếc vòng lung linh sắc màu ngọc bích. Văn âu yếm:
- Đây chính là kỷ vật của mẹ trao cho anh. Mẹ có dặn nó sẽ theo anh suốt cuộc đời. Nếu có tặng ai thì chỉ tặng người mà sau này là vợ của anh. Hôm nay anh muốn tặng em chiếc vòng này, như một điều khẳng định tình yêu bất diệt mà anh dành cho em.
Alena sung sướng:
- Cảm ơn anh nhiều! Chiếc vòng như trái tim anh sẽ ở bên em mãi mãi.
Cô quan sát chiếc vòng rồi thốt lên:
- Anh Văn, trên chiếc vòng có hai vân đỏ tựa như hai giọt máu vậy.
Văn bồi hồi:
- Chiếc vòng này anh nghe kể đã có rất lâu đời, từ cụ tổ nhà anh. Cụ là người thợ kim hoàn tài ba. Cụ bà mất sớm, cụ đau lòng đi lên núi tìm được hòn đá cẩm thạch. Cụ đã gọt giũa làm nên chiếc vòng này, hai giọt máu chính là máu từ tim, từ tình yêu của cụ. Cha anh đã tặng chiếc vòng cho mẹ của anh trong đêm tân hôn. Chiếc vòng đã đi cùng mẹ theo năm tháng. Khi cha anh hy sinh, mẹ kể mẹ đã linh tính khi nhìn thấy chiếc vòng tự nhiên trở nên đùng đục và hai giọt máu đỏ thắm này như mới từ tim ai chảy xuống….
Alena cầm tay Văn đứng dậy:
- Chúng mình về nhà nghỉ đi, em có quà cho anh.
Hai người chạy tung tăng trong những tia nắng nhạt dần trên đồng cỏ. Mặt nước ánh lên những ánh bạc. Vào phòng, Alena lấy trong túi ra một dây chuyền bạc trắng, ở giữa có chiếc khánh nhỏ hình tim. Văn mở chiếc hộp ra đã thấy hình Alena một bên và hình Văn một bên:
- Em muốn tặng anh chiếc khánh bạc này để em được theo anh suốt cuộc đời. Bây giờ chúng mình làm lễ ăn thề được không anh?
Không chờ Văn đồng ý, Alena lấy ra một chai rượu Ông già má đỏ và một con dao nhọn. Bóng chiều nhập nhoạng, Alena châm ngọn nến, ánh sáng leo lét trong căn phòng. Cô lấy một chiếc ly đặt lên bàn rót rượu vào. Văn ngạc nhiên:
- Em làm gì vây?
Gương mặt của nàng nghiêm nghị:
- Em muốn được thề nguyện cùng anh và thành hôn với anh đêm nay.
Rồi cô cầm lấy con dao gí vào tay Văn:
- Cứa tay em đi!
Văn ngần ngại, Alena cầm tay Văn gí dao vào cổ tay trái cứa mạnh. Một dòng máu chảy ra,cô cầm lấy ly rượu hứng vào. Alena cầm tay phải của Văn cứa mạnh cho dòng máu của Văn cùng chảy. Nửa ly rượu trắng giờ đây đã chuyển sang màu đỏ tươi. Cô cầm lấy ly rượu thề:
- Alena sẽ yêu Văn suốt đời! Văn cũng sẽ yêu Alena suốt đời, nếu một ai phản bội thì người đó sẽ bị trời tru đất diệt!
Văn cũng thề như Alena rồi uống một nửa. Alena cầm nữa ly còn lại uống nốt.
- Thế là từ nay trong em có máu của anh và trong anh có máu của em. Chúng mình tuy hai mà một, mãi mãi bên nhau anh nhé.
Cả hai cùng băng tay cho nhau, nỗi đau vết thương không làm niềm hạnh phúc bớt đi. Alena vụt như con sáo:
- Em muốn đêm nay là đêm tân hôn của chúng mình!
Văn gật đầu cúi xuống hôn lên bờ môi thơm ngọt của Alena. Nàng nhắm mắt lại tận hưởng hương vị đầu mùa của tình yêu. Mái tóc của nàng mềm mại như tơ, vàng óng trong đêm. Đôi mắt của nàng xanh thăm thẳm nhìn Văn đắm say. Văn và Alena đã yêu nhau một thời gian dài và đó là tình yêu trong trắng. Trước đây họ chỉ trao yêu đương trong ánh mắt, trong những nụ hôn dài. Hay họ ngồi bên nhau hàng giờ trong công viên hay rừng cây trò chuyện. Mỗi ngày không gặp nhau họ lại cồn cào trong nỗi nhớ. Nhưng cả hai muốn giữ gìn tình yêu thật đẹp, muốn những điều thiêng liêng giành cho đêm tân hôn. Song đêm nay trong niềm cảm xúc dâng trào, Alena muốn hiến dâng tất cả cho Văn để từ nay có thể cùng anh đi trên con đường chông gai của cuộc sống. Họ yêu nhau, cây cỏ thì thầm, dòng nước reo vang. Mùa xuân đang tỏa hương thơm của đất trời cho đôi tình nhân. 
Chương 9: 
Nhận được thư Văn, bà Hương đứng ngồi không yên. Bà không ngờ con trai của mình lại lú lẫn trong tình yêu đến như vậy. Lần trước nó viết thư về xin ở lại, bà đã quá giận, viết thư cho nó cương quyết bắt phải nghĩ lại. Tưởng là nó sẽ hiểu ra, ai ngờ giờ đây nó lại bảo sẽ đưa con bé người Tiệp Khắc về. Không được! Bà phải ngăn chặn ngay, nếu không bằng bôi tro, trát trấu vào mặt gia đình. Bà thấy mấy đứa lấy Tây về đều chẳng ra gì cả. Được mấy hôm tốt đẹp rồi sau đó không hợp cách sống nó lại bỏ về nước. Bà chỉ có mình Văn, là hòn máu duy nhất, là nguồn vui duy nhất cho bà kể từ khi chồng mất đi. Nếu nó có mệnh hệ gì thì bà làm sao sống được đây? Bà đứng hàng giờ bên bàn thờ chồng khóc, miệng lẩm bẩm:
- Ông ơi! Ông có linh thiêng thì về đây giúp cho con thoát khỏi bùa mê, thuốc lú…
Có tiếng gõ cửa. Bà Hương ra mở. Sao Mi bước vào:
- Mẹ, sao mẹ khóc?
Bà Hương kéo Sao Mi về phía mình:
- Con ạ, thằng Văn vừa viết thư về. Lại những chuyện yêu đương mù quáng của nó.
Sao Mi tròn mắt:
- Sao lúc trước mẹ bảo anh ấy đã nghe lời mẹ, không xin ở lại nữa?
- Mẹ đâu có ngờ. Nó không xin ở lại nhưng nó lại âm mưu đưa con bé người Tiệp về đây sống chung. Con nghĩ, làm sao có thể hợp nhau được. Một đứa thì đời sống cao, ăn chơi quen rồi. Một đứa thì sinh ra từ lam lũ. Về đây làm sao con bé có thể chịu được cái nắng như thiêu như đốt, những bữa ăn còn kham khổ... Lúc đó nó sẽ bỏ con mình, thiên hạ còn coi nhà mình ra cái thể thống gì nữa đây. Con cũng phải viết thư khuyên bảo nó đi…
Sao Mi đáp:
- Con có viết thư cho anh ấy nói xa gần, anh phải về chăm sóc mẹ. Anh ấy lại viết cho con nhờ cậy con chăm sóc mẹ và động viên mẹ.
Bà Hương tái mặt, Sao Mi nhìn, thảng thốt:
- Trời ơi! Mặt mẹ sao tái xanh vậy? Mẹ bị ốm rồi!
Bà Hương buồn rầu.
- Vì chuyện thằng Văn mà mấy hôm nay mẹ không ngủ được. Bệnh tim của mẹ bị tái phát. Mẹ không biết có qua nổi những cơn đau tới không?
Sao Mi an ủi:
- Mẹ phải giữ gìn sức khoẻ. Con tin là anh Văn sẽ đủ tỉnh táo để quyết định mọi việc. À con nghe nói chú Thành bạn chiến đấu của bố sắp sang công tác bên đó.
Đôi mắt bà Hương sáng lên:
- Được rồi, để mẹ viết thư khuyên bảo ngọn ngành cho nó. Nhân thể nhờ mấy chú Sứ quán can thiệp giúp.
Sao Mi ôm lấy bà Hương:
- Mẹ ơi, mẹ yếu lắm. Mẹ cho phép con ở lại đây chăm sóc mẹ, mẹ nhé!
Bà Hương khẽ gật đầu, đôi mắt rơm rớm.
Lại một mùa hè nữa đến với Brno. Văn đã bảo vệ luận án tốt nghiệp xuất sắc. Tất cả các môn thi trong năm năm anh đều được điểm một, điểm xuất sắc của Tiệp Khắc. Anh được bằng đỏ tuyệt đối. Đây thực sự là vinh dự lớn cho anh. Những học sinh được bằng đỏ tuyệt đối sẽ được chụp ảnh, ghi tên vào phòng truyền thống của trường. Ngày nhận bằng, Văn được nhận đầu tiên với những nghi lễ hết sức trang trọng. Dàn nhạc của trường chơi bài quốc ca Việt Nam. Ông trưởng khoa lên trao bằng và tặng anh một chiếc đồng hồ mạ vàng Pôn-zốt. Văn ngập tràn trong hạnh phúc, trong những bó hoa tươi của bạn bè. Alena cũng đạt được bằng đỏ, nhưng so với Văn kết quả có khiêm tốn hơn. Nhất là thời gian cuối cô có phần xao nhãng. Cô luôn thúc giụa Văn làm đơn xin cho cô về Việt Nam. Văn nóng lòng chờ thư mẹ. Anh hi vọng trong thời gian thực tập sẽ làm thủ tục cho Alena cũng chưa muộn.
Một buổi sáng có chiếc xe Vonga đen của Sứ quán ghé vào ký túc xá tìm Văn, Văn ngạc nhiên khi chú Thành, Tham tán Sứ quán biết rất rõ về mình. Chú kéo Văn ngồi xuống và vào đề ngay:
- Chú là bạn chiến đấu của bố cháu. Chú mới được cử sang công tác tại Sứ quán. Mẹ cháu có gửi thư cho cháu, cháu đọc ngay đi. Sau đó chú cháu mình sẽ nói chuyện.
Văn run run mở lá thư:
“Văn con!
Mẹ ốm nặng, bệnh đau tim tái phát, mẹ phải đi nằm viện. May sao có Sao Mi chăm sóc mẹ. Mẹ ốm cũng vì suy nghĩ chuyện của con. Con bồng bột nhất thời mà yêu đương mù quáng. Mẹ không phải là người cổ hủ nhưng con thử tưởng tượng xem khi dắt một “cô đầm” về làm vợ thì xã hội Việt Nam có chấp nhận hay không? Sự nghiệp của con như thế là chấm dứt. Bao năm qua mẹ đã vất vả nuôi con, mong con sẽ làm mát mặt cha nơi suối vàng. Ai ngờ con báo hiếu cha mẹ bằng sự tủi nhục này. Chỉ cần con đưa cô ta về đây mẹ sẽ đập đầu vào cột chết luôn để con tha hồ vui sướng. Con chọn lựa đi: mẹ, quê hương hoặc là tình yêu mù quáng của con. Rất may có chú Thành là bạn chiến đấu của ba con sang công tác tại Sứ quán. Con phải nghe lời chú, mau chóng về với mẹ…”

Đọc thư của mẹ, Văn lặng người đi một lúc. Chú Thành giục:
- Cháu nghĩ thế nào về những lời của mẹ?
Văn ngước nhìn chú:
- Cháu sẽ phải làm sao đây? Bên tình, bên hiếu, bên nào cũng nặng cả. Cháu và Alena đã yêu thương nhau như vợ chồng. Cô ấy là người tốt, có nghị lực. Nhưng quả thật áp lực quá nặng nề với cháu.
Chú Thành vỗ vai Văn, thông cảm:
- Chú rất hiểu cháu. Cháu là người chung tình. Nhưng cháu phải dùng lý trí để suy xét. Vì tình yêu mà cháu trở thành bất hiếu với mẹ, với vong hồn cha, thì có nên không. Làm trai phải biết gạt tình sang một bên để lo sự nghiệp. Cháu hãy nói thẳng với cô ta cháu không thể cưới cô ấy được. Rồi thời gian sẽ xoá nhoà tất cả.
Văn giọng yếu ớt:
- Alena khác hẳn những người con gái khác mà cháu đã gặp. Cô ấy dịu dàng, trẻ trung như con gái đất Việt, nhưng cũng hết sức can đảm và nghị lực. Cô ấy thực sự quyết tâm muốn cùng cháu về Việt Nam. Dù gian khổ thế nào cô ấy cũng chịu đựng được.
Chú Thành ngắt lời Văn:
- Cháu nghĩ còn đơn giản lắm. Con gái châu Âu có ý thức tự do rất mạnh, nên họ sẵn sàng làm theo ý mình. Cháu đã vẽ nên một đất nước Việt Nam đẹp đẽ trong đầu cô ấy. Một phần vì tò mò, phần thì chưa thấy hết sự thật nên cô ấy mong được về cùng cháu. Nhưng đối mặt với những khó khăn, có thể cô ấy sẵn sàng bỏ đi. Tình yêu rất đẹp, rất mạnh mẽ nhưng cũng rất mỏng manh, có thể tan vỡ trong phút chốc. Chú khuyên cháu thà phụ tình một người còn hơn phụ tình mẹ cha, bè bạn, quê hương. Chú đã báo cáo với các chú ở Sứ quán việc mẹ cháu ốm nặng, ưu tiên cho cháu không đi thực tập nữa mà về ngay để lo cho mẹ. Chú đã lo vé cho cháu ngày mai lên đường…
Văn bàng hoàng. Trước mắt anh tất cả như sụp đổ. Không ngờ mọi việc đã được sắp đặt. Biết làm sao bây giờ? Alena kêu gọi anh can đảm để bảo vệ tình yêu đến cùng. Mẹ và chú Thành cũng yêu cầu anh can đảm gạt tình riêng để hướng tới tương lai. Lời khuyên của chú Thành: “thà phụ tình một người còn hơn phụ tình mẹ cha, bạn bè, quê hương” cứ ong lên trong đầu Văn. Thư mẹ lần này viết rất kiên quyết. Anh biết tính mẹ, đã nói là làm. Giờ đây mẹ đang ốm liệt giường vì anh, lòng anh mất đi ngọn lửa chiến đấu cho tình yêu. Phụ bạc Alena, phụ bạc lại lời thề không biết nàng chịu nổi không? Văn ôm đầu, bứt tóc. Có tiếng mở cửa. Alena ùa vào trong phòng như cơn lốc:
- Anh Văn, em có tin vui cho anh…
Cô khựng lại khi nhìn thấy trong phòng có người đàn ông lạ ngồi. Văn lúng túng:
- Alena, em ngồi xuống. Anh đang có chuyện muốn nói với em đây!
Alena nhìn chú Thành như dò hỏi. Văn giới thiệu:
- Đây là chú Thành trên Sứ quán. Chú ấy mang thư của mẹ đến. Mẹ đang bị ốm nặng lắm…
Alena cầm bức thư. Chú Thành tế nhị:
- Hai cháu cứ nói chuyện, chú ra ngoài dạo một chút.
Chỉ còn hai người trong phòng. Văn nhìn thẳng Alena:
- Anh phải xin lỗi em rất nhiều. Anh không đủ can đảm để cùng em đi tiếp chặng đường đầy chông gai này. Chúng mình phải chia tay, nếu không mẹ anh sẽ chết mất.
Alena ngơ ngác:
- Chia tay? Tại sao vậy? Em có làm gì nên tội mà mẹ anh phải vật vã vậy? Còn lời thề của chúng ta? Phải chăng chỉ là trò đùa?
Văn đau đớn:
- Em hãy tha thứ cho anh. Hoặc là anh phụ tình em hoặc là anh phụ tình gia đình, đất nước. Anh không thể làm khác được.
Alena hét lên:
- Anh là thằng hèn, đến người yêu mình anh cũng không bảo vệ được…!
Văn đau khổ:
- Em cứ mắng anh đi. Nhưng anh đã quyết rồi, mình chia tay từ đây. Hãy quên anh! Anh không xứng đáng với em, anh chỉ là kẻ tồi tàn… 
Chương 10: 
Quê hương đây rồi! Sáu năm xa cách, phút trở về lòng Văn bồi hồi. Trên máy bay anh đã nhìn thấy những dãy núi mờ xa, những ruộng lúa ô ngang, ô dọc, xanh ngắt. Những con sông uốn lượn như những dải lụa trắng trên nền vải xanh. Những con trâu cày nhỏ xíu như hạt đỗ và người nông dân trên đồng nón trắng lấm tấm dưới cánh máy bay. Mắt Văn nhòa lệ. Trong lòng anh ngổn ngang bao điều. Một tình yêu đẹp đẽ mà anh hèn nhát trốn chạy. Anh biết Alena rất đau khổ. Nhưng sự ra đi đột ngột với khoảng cách ngàn trùng cây số chắc rồi nàng cũng sẽ quên đi. Đã bao lần anh thầm thì như muốn gửi lời tâm sự của mình cho Alena:

“Anh yêu em vô cùng Alena ạ. Nhưng anh không đủ can đảm để bỏ tất cả người thân đi theo em. Anh cũng không thể đưa em về Việt Nam như anh đã hứa hẹn vì giữa chúng mình có một khoảng cách quá lớn bởi hoàn cảnh xã hội, tập tục…”.
Văn tự giày vò mình, tự xỉ vả mình. Anh chỉ mong đất mẹ rộng lòng ôm anh vào lòng, xoa dịu tất cả những đau thương đang giằng xé. Văn xách vali bước ra ngoài, nhìn quanh, hi vọng mẹ anh đã lành bệnh ra đón anh như năm nào đã đưa tiễn anh lên đường. Bỗng anh nghe tiếng gọi:
- Anh Văn, anh Văn!
Một thiếu nữ mặc áo dài hồng chạy lại với bó hoa hồng tươi thắm trên tay. Văn ngỡ ngàng:
- Sao Mi!
Sao Mi dúi hoa vào tay anh rồi ôm choàng lấy Văn nức nở:
- Anh Văn, anh đã về! Mẹ và em mong anh quá, mẹ vẫn nằm viện.
Văn lo lắng:
- Bệnh của mẹ đã đỡ chưa?
Sao Mi gật đầu:
- Mẹ đã đỡ nhiều rồi, nhất là khi nghe tin anh sắp trở về. Nhưng bác sĩ bảo mẹ nằm viện thêm ít ngày nữa để theo dõi, tránh những xúc động, lo nghĩ. Em có mượn xe của Sứ quán Lào. Bây giờ em đưa anh về nhà nghỉ ngơi đã nhé.
Văn vuốt tóc Sao Mi:
- Em gái lo anh chu đáo quá. Anh muốn đến thăm mẹ ngay và anh sẽ tặng mẹ bó hồng này.
Ngồi trên xe ô tô, Sao Mi thấy Văn có vẻ buồn. Cô nói luôn miệng, cốt để Văn vui:
- Sau khi đi trại hè Tiệp Khắc về, em đã tìm đến nhà anh. Thấy mẹ sống một mình em thương quá. Em xin mẹ cho em được làm con nuôi giống như năm xưa anh đã làm con nuôi mẹ em. Mẹ vì nhớ thương anh nên bệnh tật luôn. Bệnh tim của mẹ ngày một nặng hơn. Gần đây em thấy mẹ yếu, em xin phép Sứ quán được đến ở với mẹ để chăm sóc. Cũng may các chú hiểu hoàn cảnh và sự gắn bó của anh với gia đình em, còn động viên em phải chăm sóc mẹ cho tốt. Vừa rồi mẹ bị ngất phải đi cấp cứu, bây giờ đã đỡ nhiều rồi…

Nghe chuyện Sao Mi, Văn thấy buồn hơn. Không ngờ mẹ lại khổ đau, lo nghĩ nhiều như vậy. Tự nhiên, Văn thấy mình là người có lỗi. Và trong phút chốc, anh tạm gác nỗi đau tình ái, cố gắng giữ trọn đạo làm con:
- Anh rất cám ơn Sao Mi đã chăm sóc mẹ thay anh những ngày qua. Không biết lấy gì đền đáp tấm lòng em đây.
Sao Mi cười:
- Mẹ của anh cũng như mẹ của em. Anh đừng nói chuyện ơn nghĩa với em. Chỉ mong anh nghe lời mẹ, đừng để mẹ buồn.
Văn đến Bệnh viện Bạch Mai, chạy như bay vào phòng mẹ nằm. Anh quỳ xuống bên giường để những giọt nước mắt hối lỗi chảy trên má mẹ. Mẹ xoa đầu anh, âu yếm:
- Thế là cuối cùng con cũng trở về với mẹ. Con đã làm cho mẹ đứt từng khúc ruột. Bây giờ thì mẹ vui lắm rồi. Mẹ rất mừng nghe con học giỏi. Mẹ luôn cầu cho con can đảm để vượt qua cám dỗ và trở về với mẹ. Con về được đến đây là mẹ khỏe ra ngay.
Văn ôm mẹ, dụi đầu vào lòng mẹ, nghẹn ngào:
- Con là đứa con bất hiếu. Không chăm sóc được mẹ lại còn làm cho mẹ khổ tâm. Từ giờ trở đi con sẽ nghe lời mẹ. Mẹ ơi, mẹ tha lỗi cho con…
Mẹ chỉ vào Sao Mi:
- Những ngày ốm đau vừa qua may có em Sao Mi chăm sóc mẹ. Nếu không, mẹ cũng không biết như thế nào. Mẹ đã mời Sao Mi về nhà mình ở. Hai anh em phải quan tâm chăm sóc nhau. Vài bữa nữa khỏe mẹ sẽ về.
Sao Mi vội nói:
- Mẹ cứ yên tâm nghỉ ngơi. Anh Văn về đây rồi chắc chắn mẹ sẽ khỏe lên. Còn con xin phép mẹ về Sứ quán ở, cho tiện…
Văn về Việt Nam mà lòng vẫn không nguôi nhớ Alena. Nhiều lúc anh định cầm bút viết thư cho nàng, nhưng viết vài chữ lại xé đi. Biết viết gì đây? Nói gì đây? Lời cô mắng anh văng vẳng bên tai: “Đồ hèn…”. Văn tự dằn vặt mình rồi lại tự bào chữa cho mình: “Anh phản bội em nhưng không thể phản bội mọi người được Alena…”. Một người bạn cùng trường về nước sau Văn vài ba tháng đến chơi nói chuyện cho anh hay. Sau khi Văn về Việt Nam một tuần thì Alena bước lên xe hoa. Chồng của Alena chính là Victor, bạn học cùng lớp, người đằng đẵng theo đuổi nàng năm năm trời. Văn nghe mà lòng tê tái. Lời chú Thành nói chẳng sai: “Phụ nữ châu Âu yêu rất mãnh liệt nhưng cũng rất mau đổi thay”. Văn đâu có quyền gì ghen tuông nữa. Lỗi chính tại anh không dám bảo vệ tình yêu của mình. Anh thấy tim mình như rớm máu. Một nỗi đau đến khôn cùng. Trời ơi, lẽ nào nàng đã bước lên xe hoa?
Từ khi biết tin Alena lấy chồng, lòng Văn bỗng trở nên trống rỗng. Anh như cũng bớt nhớ thương nàng. Những kỷ niệm yêu đương tự nó trở nên mờ nhạt. Không có lý do gì mà nhớ mà thương nữa. Anh buồn bã thẫn thờ đi bộ dọc phố phường và không biết tự lúc nào anh dừng lại ga Hàng Cỏ, nơi hơn sáu năm về trước anh đã lên đường sang nước Tiệp. Mọi hình ảnh của ngày chia tay với Lệ Hằng, mối tình đầu, lại tràn về.
…. Một buổi tối mùa hè 1977 trên sân ga Hàng Cỏ, từng toán người túm tụm trò chuyện râm ran, chia sẻ tình cảm kẻ ở người đi. 23 giờ đoàn tàu liên vận sẽ đưa 200 học sinh ra nước ngoài học. Mỗi người đi lại có cha mẹ, họ hàng, bạn bè đưa tiễn. Cạnh cột đèn sân ga, Văn cũng bị bạn bè líu ríu quanh mình:
- Này, đi nhớ viết thư về cho bọn mình nhé, đừng quên.
- Có chuyện gì hay phải kể đấy.
Văn chừng như cảm động không thốt nên lời. Mẹ nhìn anh âu yếm:
- Đi sang đấy con giữ gìn sức khỏe nhé. Đừng ham chơi quên chuyện học hành…
- Mẹ yên tâm con sẽ làm theo lời mẹ dặn.
Bỗng một người bạn reo lên:
- Hằng đến rồi kìa! Văn hết sốt ruột chưa?
Văn đỏ mặt, nhưng quả thật đã nóng lòng lắm rồi. Hằng vẫn như mọi hôm, vẫn quần lụa đen và chiếc áo hoa đã sờn. Hằng khẽ chào:
- Chào bác và các anh.
Mọi người biết ý quay sang nói chuyện với nhau nhường cho đôi bạn trẻ tâm sự. Hằng khẽ khàng:
- Thế là anh sắp ra đi, chắc chắn bên đó sẽ nhiều chuyện vui lắm nhỉ. Những kinh thành hoa lệ, cuộc sống đầy đủ vật chất lúc đó anh có còn nhớ đến em, một cô công nhân tay đã chai sạn không?
Văn cười giòn:
- Chính em mới nhiều chuyện đáng nói, chuyện trong nhà máy, chuyện trong công xưởng. Khoảng xa cách sẽ thổi bùng lên mối tình đẹp đẽ chung thủy. Hãy chờ đợi anh, anh sẽ về với em. Sáu năm, một khoảng cách thời gian cũng ngắn thôi em à. Nhớ viết thư nhiều cho anh. Thiếu thư của em anh sẽ không chịu nổi đâu.
Họ lại im lặng, bao nhiêu điều muốn nói, nhưng ngại ngùng không thốt nên lời. Xung quanh tiếng dặn dò của các bà mẹ, tiếng hứa hẹn của bè bạn cũng không làm Văn để ý. Bỗng có tiếng loa:
- Đoàn tàu sắp chuyển bánh, xin mời tất cả hành khách lên tàu.
Cả sân ga náo động hẳn lên. Tiếng gọi, tiếng nói, tiếng khóc vang lên khắp nơi. Văn vội lên tàu. Khi đoàn tàu bắt đầu chuyển bánh, những cánh tay dưới sân ga giơ lên vẫy vẫy như muốn níu lấy không cho tàu chạy. Trong ánh mắt nhòa lệ, những cô gái cố thò tay để được cầm lần cuối bàn tay người mẹ, người cha và cả những người bạn thân. Văn cảm thấy như có luồng điện chạy trong người, nao nao, bâng khuâng. Anh đưa mắt nhìn về những người thân yêu. Người mẹ hiền đang nước mắt vòng quanh gọi con sau những tiếng nấc nghẹn ngào. Và Hằng kia, dáng người mảnh khảnh với đôi mắt to tròn luôn chứa một biển buồn, mái tóc dài xõa bay trong gió. Hằng chạy lại chen vào dòng người, giơ bàn tay bé nhỏ và một chiếc khăn hồng bay phấp phới.
- Anh đi nhé, em sẽ đợi!
Đoàn tàu vẫn từ từ chạy. Bàn tay Văn và bàn tay Hằng ấp vào nhau, dường như trao cho nhau những tình cảm không bao giờ phai mờ. Chiếc khăn tay hồng thêu một hàng chữ: “Tặng anh yêu ngày chia tay, đừng quên em!” từ tay Hằng truyền sang tay Văn. Cả bầu trời hôm ấy đầy sao, ngôi sao Bắc Đẩu lấp lánh chứng kiến giây phút cảm động nhất của cuộc chia ly. Hai ánh mắt nhìn nhau lưu luyến. Trong khoảng khắc họ dường như quên tất cả những người đứng xung quanh và quên cả đoàn tàu đang chuyển bánh. Hai ánh mắt hòa vào nhau tạo thành một dòng sông trong vắt, một vũ trụ huyền diệu với muôn ngàn vì tinh tú. Nhưng rồi sự thật phũ phàng cắt đứt giây phút đẹp đẽ ấy, đoàn tàu đưa Văn đi xa dần, có ngờ đâu đó cũng là lần chia tay của tình yêu đầu đời…

Giờ đây Lệ Hằng cũng đã hai con, vì Hằng không tin vào sức mạnh của tình yêu, không tin vào sự đợi chờ sẽ vượt qua khoảng cách thời gian, cô đã đi lấy chồng để yên tâm trao thân gửi phận theo dòng đời. Còn Alena mối tình đẹp nhất của anh đã lên xe hoa, bởi vì chính anh cũng không vượt qua được sự thật phũ phàng của sự cách biệt. Mọi lời thề của tình yêu mỏng manh như sợi tơ mành. Tất cả với anh giờ đây chỉ còn công việc…
Được nhận vào làm kỹ thuật tại một nhà máy bia, anh đã dồn tâm trí nghiên cứu nâng cao chất lượng bia. Điều Văn vẫn băn khoăn là làm sao bia Việt Nam cũng sẽ ngon như bia Tiệp.
Văn ngại tiếp xúc với phụ nữ. Trái tim anh giờ đây thành băng giá. Mẹ thở dài mỗi khi thấy anh tư lự hàng giờ trong phòng. Từ ngày Văn về nước, Sao Mi về lại cơ quan ở. Cô vẫn thường xuyên đến nhà Văn chơi. Là một cô gái Lào xinh đẹp, rất nhiều người tìm đến cô nhưng trái tim cô chưa thuộc về ai. Thâm tâm, cô nghĩ rất nhiều về Văn. Cô kín đáo chăm sóc anh, từ đơm một chiếc cúc hay mua cho anh một chiếc khăn quàng cổ khi gió mùa về. Mẹ thương Sao Mi lắm, Bà biết tình cảm của Sao Mi dành cho Văn rất nhiều. Văn vẫn thờ ơ, coi Sao Mi như em gái mình.
Có một lần trong bữa cơm, mẹ bảo Văn:
- Mẹ thấy em Sao Mi ngoan, giỏi việc bếp núc, lại giỏi việc cơ quan…
Văn như không nghe thấy:
- Thế hở mẹ?
Mẹ nhìn Văn:
- Thế con không biết nó thương con lắm sao?
Văn gật đầu:
- Thì con vẫn coi Sao Mi như em gái mình đó thôi.
Mẹ lắc đầu:
- Con nhầm rồi. Sao Mi rất yêu con. Giữa con và Sao Mi có một duyên số. Năm xưa con đi bộ đội bên Lào, mẹ Sao Mi đã cứu con thoát khỏi cõi chết. Em Sao Mi là người chung tình. Nó yêu con ngay từ khi gặp con ở Tiệp Khắc, chỉ có điều con ngờ nghệch không nhận biết tình cảm của nó. Nó biết tất cả mọi chuyện yêu đương của con bên Tiệp Khắc. Nhưng nó vẫn sẵn sàng bỏ qua và mong được làm dịu những cơn đau cho con. Đã năm năm rời đất Tiệp Khắc mà con vẫn chưa quên chuyện cũ sao. Người ta đã lấy chồng chỉ sau một tuần chia tay với con, còn con thì cứ sầu héo, khiến mẹ não cả lòng.
Văn kêu lên:
- Mẹ để cho con thời gian…
Mẹ giận dữ:
- Thôi được tùy anh, nhưng năm sau phải có cháu cho tôi bế.
Tưởng còn thời gian suy nghĩ nhưng nào ngờ vài ngày sau căn bệnh tim của mẹ tái phát. Văn đưa mẹ vào cấp cứu, trong lúc mê mẹ luôn gọi Văn và Sao Mi. Bác sĩ rất lo lắng cho bệnh tình của bà lần này. Hình như mẹ cũng linh tính sắp ra đi. Bà gọi Văn và Sao Mi đến bên giường:
- Những tưởng mẹ sẽ còn được ở với các con lâu. Nhưng mẹ biết mẹ như ngọn nến sắp tắt. Mẹ có nguyện vọng hai con phải thành thân với nhau.
Văn:
- Mẹ cứ yên tâm trị bệnh, nhất định mẹ sẽ khỏe lại.
Giọng bà trở nên cương quyết:
- Con phải nghe lời mẹ, đừng quanh co nữa. Hai con nên vợ nên chồng thì mẹ mới yên lòng ra đi…
Sao Mi ôm tay mẹ nói như khóc:
- Mẹ ơi! Con thương anh Văn nhưng tình duyên của con không đến được với anh ấy. Con xin mẹ cho con trở về đất Lào với chị Nàng Phan. Con sẽ suốt đời không lấy chồng.
Trong lòng Văn thật sự bối rối. Anh biết, anh không yêu Sao Mi nhưng anh rất thương cô. Vẫn biết tình cảm của Sao Mi từ bấy lâu nay với mẹ con anh, nhưng anh không ngờ tình cảm của cô lại hết sức mãnh liệt. Cô không e ngại nói lên tấm lòng mình với anh. Trong trái tim Sao Mi chỉ có Văn, cô sẵn sàng ở vậy nếu như anh không đồng ý. Văn cầm tay Sao Mi:
- Anh thương em nhiều lắm! Chỉ sợ anh không xứng với em thôi. Nay biết lòng em vậy chúng mình quỳ xuống xin mẹ cho nên vợ nên chồng.
Sao Mi òa khóc gục đầu vào vai Văn:
- Anh đừng nói vậy. Được anh thương là em hạnh phúc lắm. Em sẽ theo anh suốt đời.
Bà Hương vui hẳn lên, gương mặt nhăn nheo nở một nụ cười:
- Hai con lại đây, mẹ tiếc là không đủ sức để bế cháu cho hai con…
Văn cưới Sao Mi được hai tháng thì mẹ qua đời. Bà ra đi thanh thản, nhẹ nhàng vì con trai bà đã trở về và làm theo ý bà. Rồi các con bà sẽ sinh con đẻ cái. Hòn máu của chúng chính là mối tình hữu nghị Việt – Lào.
Vào dịp Tết năm mới của Lào (Bun pi mày) Văn đưa Sao Mi về thăm bản Cok Phô, thăm chị Nàng Phan. Năm mới của Lào không bắt đầu từ tháng giêng như Việt Nam mà lại bắt đầu từ hạ tuần trăng tháng 5 Lào (khoảng tháng tư dương lịch). Vào thời điểm đó của năm thiên văn Lào là kết thúc mùa nắng chuyển sang mùa mưa, mở đầu vụ cày cấy của Lào trong năm mới. Vì vậy, ý nghĩa của ngày Tết năm mới của Lào đồng thời là Tết té nước mà Lào gọi là Bun hốt nạm để cầu mưa cho vụ mùa. Nữ thần Kirini Montha xuất hiện với một tư thế uy phong để điều khiển mưa gió thuận hòa cho mùa màng tươi tốt, cho nhân dân hạnh phúc yên vui…
Văn và Sao Mi về bản Cok phô, không chỉ chị Nàng Phan vui mà cả bản vui. Chị Nàng Phan đã lấy chồng. Anh Phu Tha là bộ đội Pathet Lào. Anh chị đã có 2 con, một trai một gái. Văn xúc động trước căn nhà sàn mà ngày nào mẹ Nàng Theng đã chăm sóc cho anh. Ở bậc xuống cầu thang phía trước, vẫn chiếc kệ mẹ để năm nào trên có vò nước uống và chiếc gáo. Hồi đó có đêm khát nước sợ làm mẹ mất ngủ, anh bò ra sàn với nước uống, vết thương chưa lành nên bị té xuống cầu thang. Mẹ sợ phải đóng chiếc kệ thấp xuống cho vừa tầm tay với… Dưới gầm sàn vẫn khung dệt vải, cối giã gạo, chuồng vịt, củi đóm và đàn lợn ủn ỉn. Anh chị Phu-Tha đã dựng thêm một nhà để thóc riêng. Chị Nàng Phan vui vẻ khoe với anh:
- Cô chú cũng mừng cho anh chị là năm nào thóc cũng đầy bồ, gà vịt đầy sân. Cô chú cứ ở đây với anh chị một năm cũng không hết gạo nếp.
Lần đầu tiên Văn được chứng kiến cái Tết năm mới của Lào trong cảnh đất nước thanh bình phồn thịnh. Tết Lào thường diễn ra trong 3, 4 ngày và có khi kéo dài đến cả một tuần lễ, tùy theo từng địa phương nhưng chủ yếu là những ngày sau đây: ngày thứ nhất gọi là Sang khan pay có nghĩa là thần năm cũ ra đi. Vào ngày đó, tất cả các chùa chiền, công sở, bản làng, nhà cửa, tư riêng đều lau chùi, cọ rửa, làm vệ sinh.. để tống tiễn những cái xấu xa xui xẻo và hung thần năm cũ và chuẩn bị đón thần năm mới trong một quang cảnh sạch sẽ, sáng sủa, mát lành…

Ngày thứ hai được gọi là Mư nâu có nghĩa là ngày xen kẽ giữa năm cũ và năm mới. Thường là một ngày và có khi là hai ngày theo cách tính toán của các vị chiêm tinh. Mư nâu là ngày nghỉ ngơi không làm gì cả. Trong thực tế là ngày chuẩn bị bánh trái, bông hoa, cơm rượu và những công việc cần thiết cho ngày hôm sau lễ chính ở chùa chiền và khắp nơi trong bản mường. Ở Viêng Chăn, từ năm 1941 trở đi, ngày Mư nâu thành ngày Tết cho thiếu nhi tổ chức lễ đón thần năm mới (Phankha Sang khan). Thần năm mới được hóa trang, đứng ra căn dặn, khuyên bảo các cháu thiếu nhi những điều tốt lành rồi phân phát bánh kẹo, đồ chơi cho các trẻ. Tiếp theo đó là cuộc vui chơi thiếu nhi. Ngày thứ ba là ngày chính năm mới, ngày Sang khan khựn, thần năm mới về. Từ sáng sớm, sau tiếng trống coong xau (trống sáng), toàn thể nhân dân nô nức đến chùa với những bộ quần áo, xiêm y rực rỡ. Họ mang theo hoa lá, quả cây và lễ vật. Buổi lễ được long trọng tổ chức tại nhà lễ đường chính trong chùa. Trong lúc đó các cô gái nét mặt vui tươi, với những đôi “khú” nhỏ (thùng gánh nước nhỏ đan bằng tre) xuống sông hoặc suối gánh nước lên chùa để chuẩn bị làm lễ vảy nước. Với những cử chỉ và lời khẩn cầu vô cùng thành kính, đầu tiên họ vẩy nước lên các tượng Phật với hi vọng sẽ có một năm mới tràn đầy hạnh phúc. Tiếp theo sau các tượng Phật là vẩy nước cho các vị sư sãi, các vị quan chức, các vị bô lão… Người nào cũng được các con cháu, các tín đồ tưới một vài gáo nước vào người với những lời chúc mừng đẹp đẽ. Tiếp sau buổi lễ ở chùa là cuộc té nước đại trà cho tất cả già trẻ trai gái, là dịp vui của toàn dân tộc Lào, kể cả các dân tộc khác trên đất Lào không theo đạo Phật. Té nước là một dịp cầu mưa sau những tháng tư, tháng năm nắng nóng, cầu cho một năm mới mưa thuận gió hòa, chuẩn bị cho một vụ mùa thắng lợi. Té nước là đem đến cho nhau một sự trong sạch, thanh khiết, sự mát mẻ yên lành cho cây cối tốt tươi, cho bản làng phồn vinh… Có lẽ đây là điểm mốc cao nhất của những cuộc vui chơi. Bất cứ già trẻ trai gái, từ những quan chức cho đến người bình dân, kể cả những người khó tính nhất cũng đều hiền hòa nhận lấy những gáo nước mát lành được báo trước hay bị đột kích. Những quan chức lịch sự đi trên những chiếc xe bóng lộn cũng được những tốp thanh niên nam nữ ra hiệu dừng xe lại và cho họ tưới những gáo nước cầu phúc vào những bộ quần áo lịch lãm. Những người khách vui vẻ bước xuống và nhận lấy sự mát mẻ một cách hoàn toàn tự nguyện. Và các cô gái cũng không quên xin những người khách những gáo nước cầu phúc trở lại.
Văn và Sao Mi trong ngày hội té nước là khách quý của bản, hai người là mục tiêu cho những chàng trai cô gái trong bản. Hết bộ quần áo đẹp này đến bộ quần áo đẹp khác, trông họ ướt sủng đến thảm hại, nhưng nụ cười luôn nở trên môi Văn. Anh như được trở về với cội nguồn, trở về với yêu thương. Trên các bờ, bến sông, giữa bãi cát trắng chạy dài, người ta thấy nổi lên muôn màu sắc xiêm áo, các cô gái chàng trai tranh nhau xuống múc nước cho kịp những cuộc “phục thù” đang còn dang dở.
Trong lúc những cô gái chàng trai nô nức chơi đùa bên ngoài thì các vị bô lão, những người trung niên đi thăm viếng lẫn nhau. Họ làm lễ Baci ở từng nhà, buộc chỉ cổ tay cầu phúc lành cho nhau, là một dịp tốt để hòa giải những vướng mắc còn đọng lại trong năm qua. Tối đến, cả làng tập trung tại sân chùa, rồi tiếng trống bập bùng mở đầu cho điệu múa lăm vông của trai gái trong làng, lôi kéo theo cả những người đứng tuổi cùng hòa nhập đón mừng ngày hội năm mới. Rồi tiếng hát của chị Nàng Phan cất lên theo điệu Lăm nhao:
Cách mạng như nước chảy
Lào – Việt uống chung dòng
Tiếng “ai noọng” ngọt lòng
Gặp nhau chào “Xá bai”
Lào – Việt là anh em
Kết nghĩa bạn sống chết
Núi sông bao giờ quên
Người đồng chí Việt Nam tình nguyện….
Rồi Sao Mi cũng cất lên tiếng hát ngọt ngào da diết như muốn gửi tâm tình chân thành, mộc mạc cho anh:
Em đây vừa muốn chết biến thành ếch
để ở cùng chung ruộng với anh
Chết thành cá để được ở chung đàn
Chết thành tằm để được nằm chung ổ
(Noong ni pho dạc tài cợt pên cốp pay dù huôm naat de
Tai pên pa pay dù huôm cọng,
Noọng dạt tài pên mon pay xon huôm hăng).
Những lời hát đầy ân tình làm cho trái tim Văn rung lên. Anh cảm thấy mình có lỗi với Sao Mi, với tình yêu đơn phương mà cô đã dành cho anh đằng đẵng bao năm qua. Anh đã quá thờ ơ, quá ích kỷ mà không nhận ra được tình yêu vượt biên giới của một tâm hồn trong trắng…
Ngày cuối cùng, mọi người đi lấy cát trên sông về sân chùa, đắp thành những đống cát hình tháp hoặc đắp ngay trên bãi cát bên sông gần làng. Họ cắm trên đỉnh tháp những ngọn cờ đuôi nheo nhiều màu sắc, căng thành những băng giấy có hình vẽ các con thú. Tăng lữ và dân làng tập trung quanh các ngọn tháp cát, tụng niệm và cầu khẩn cho một năm mới thịnh vượng, yên lành, mọi người đều sống lâu, thóc lúa, lợn, gà, trâu, bò và con cháu đầy đàn như những hạt cát của các ngọn tháp.
… Trở về Việt Nam, Sao Mi mới biết mình đã có thai, Văn mừng lắm. Từ tình thương Văn đã chuyển sang tình yêu dành cho Sao Mi từ lúc nào không biết nữa. Hết giờ làm việc anh vội vã về giúp đỡ việc nhà cho Sao Mi.
Lúc đó vào tiết trời mùa đông. Gió bấc lành lạnh. Ngoài đường những cây sấu khẳng khiu trụi lá. Hai vợ chồng Văn vẫn ở căn nhà ba gian của bố mẹ để lại trong làng Khương Thượng. Nhà tuy không lớn nhưng có mảnh vườn nhỏ để trồng hoa, trồng rau. Mùa nào thức nấy, rau xà lách, rau muống, súp lơ, bắp cải cùng các loại hoa hồng, thảo dược, đồng tiền thay nhau nở. Sáng nào Sao Mi cũng ra vườn hái vài bông đặt lên bàn thờ cha mẹ. Ảnh cha mẹ được Văn phóng to lồng vào trong khung kính. Anh còn cho người vẽ lại ảnh cha mẹ Sao Mi theo bức ảnh cũ mà cô còn giữ được.
Một buổi sáng Sao Mi ra vườn hái hoa bỗng thấy lâm râm đau bụng, cô vội gọi:
- Anh Văn ơi! Chắc em sắp sinh rồi.
Văn vội gọi xích lô đưa Sao Mi đến bệnh viện. Trước khi đi anh không quên thắp nén nhang xin cha mẹ hai bên phù hộ cho mẹ tròn con vuông. Vừa lo lắng vừa mừng vui Văn luôn mồm giục bác xích lô.
Thời gian trôi đi chậm chạp, anh mọng nghe thấy một tiếng khóc oe oe từ phòng hộ sinh. Nhưng rồi một tiếng la lớn gần như thất thanh: “Trời ơi! Con tôi”. Văn hốt hoảng, bất chấp cả nội quy bệnh viện, anh lao vào như cơn lốc. Các bác sỹ lặng im. Một không khí trang nghiêm, lạnh lùng như có một điều gì đó rất hệ trọng đang xảy ra. Cô y tá định ngăn Văn lại, nhưng bác sĩ trưởng khoát tay. Văn thấy vợ mình ngất đi trên bàn mổ bên cạnh là một cục thịt đỏ hỏn không tay không chân. Văn gào lên:

- Con tôi đâu?
Bác sĩ trưởng lại gần, giọng trầm buồn:
- Anh Văn, chúng tôi chia buồn với anh chị. Mong anh hãy bình tĩnh chấp nhận sự thật. Chị đã bị nhiễm chất độc màu da cam. Thai nhi bị ảnh hưởng nên thành dị dạng.
Văn òa khóc như đứa trẻ bên Sao Mi. Mọi người dìu anh ra và hồi sức cho Sao Mi. Tự nhiên, Văn cảm thấy sây sẩm. Trước mắt anh là hình ảnh một chiếc máy bay Mỹ đang thả khói vàng xuống cách rừng. Hình ảnh những đàn cá chết nổi trên suối. Người và gia súc chết ven đồi. Những cánh rừng trụi lá, hoang vu đến rợn người. Nỗi đau ấy làm Văn không chịu nổi, anh ngất đi…
Sau cú sốc ấy, Sao Mi bị tâm thần. Nàng luôn mồm gọi con, lúc khóc lúc cười. Văn thương vợ đưa đi mọi nơi chạy chữa. Nhưng người ta phát hiện chất độc màu da cam đã ngấm vào cơ thể nàng và biến chứng thành căn bệnh ung thư máu. Trong giây phút sắp lìa đời, Sao Mi nắm chặt lấy tay Văn:
- Khi em chết đi, anh nhớ chôn em cạnh mẹ và con để em được chăm sóc mẹ. Anh hãy đi lấy vợ khác đi. Em không hoàn thành nhiệm vụ của mẹ giao. Những ngày bên anh là những ngày hạnh phúc nhất của đời em.
Văn khóc, thương Sao Mi vô cùng. Anh làm theo ý nguyện của Sao Mi. Ba nấm mồ chôn cạnh nhau. Văn đến thắp nhang, anh ngồi hàng giờ nhìn những người thân yêu. Không chịu nổi đau đớn, Văn gửi nhà lại cho bà cô và lên đường vào Nam tìm nguồn vui trong công việc. Điều đốt cháy tâm can anh là tìm nguồn nước thật tốt để làm bia ngon. Anh đã lang thang khắp miền cao nguyên và cuối cùng tìm được dòng suối Tiên. Dự án xây dựng nhà máy bia liên doanh đã được các bạn Tiệp Khắc ủng hộ, góp vốn và đầu tư kỹ thuật. Nào ngờ lại có cuộc gặp kỳ lạ này sau mười sáu năm xa cách…
….Maruska nhìn Văn đang trầm ngân bên dòng suối Tiên, lòng cô lúc này cũng ngổn ngang bao điều:
Maruska chính là kết quả mối tình dang dở của Alena và Văn. Ngày mẹ cô mang tin vui cho bố cô biết là mẹ đã có thai, thì cũng là ngày bố cô quyết định chia tay. Niềm vui chưa kịp đến thì bất hạnh đã liền sau. “Phụ một người hơn phụ nhiều người”. Câu nói của bố đã theo suốt cuộc đời mẹ. Thất vọng quá lớn làm mẹ không kịp bình tĩnh suy xét. mẹ đã căm thù bố vô cùng, để trả thù và để chứng tỏ lòng kiêu hãnh, mẹ đã nhận lời lấy Victor, người kiên trì theo đuổi mẹ suốt 5 năm. Nhưng rồi tình duyên hai người cũng không thể nào hạnh phúc như mẹ cô tưởng. Mẹ không thể nào yêu được người khác khi trái tim và trong dòng máu đã ngập tràn hình ảnh của bố, Victor say mê sắc đẹp của mẹ, vì thế trong lúc chới với tình cảm anh ta đã tìm mọi cách giành giật mẹ. Nhưng khi đã đạt được điều đó thì anh ta chợt nhận ra mình mới chiếm được thân xác, còn tâm hồn Alena mãi mãi theo Văn. Victor ghen lồng với giấc mơ của mẹ, nhất là từ khi cô sinh ra trên đời, cô đã trỡ thành cái gai trước mắt anh ta. Anh ta hằn học, hành hạ Maruska. Cô không bao giờ quên những cái tát mà cha dượng cô đã đánh cô và những lời cay độc còn văng vẳng bên tai:
“Mày không phải con tao, tại sao tao phải nuôi mày, đồ con hoang”.
Không chịu nổi cảnh một người chồng suốt ngày ghen tuông, mẹ cô đã ly dị với Victor. Mẹ đã dồn tất cả sức lực, tinh thần để chăm sóc Maruska, tình yêu của mẹ như đóng băng trong niềm sâu thẳm. Trong tình yêu thương của mẹ, Maruska vẫn cảm thấy thiếu vắng tình thương của người cha. Nhất là khi nhìn quanh, các bạn sống trong hoàn cảnh gia đình ấm cúng, thì trong cô sự tủi hờn tăng thêm. Có lúc cô đã thèm gặp được người cha để sà vào vòng tay yêu dấu của người, nhưng có lúc cô cảm thấy căm ghét sự bội bạc vô trách nhiệm của ông. 16 năm trôi qua, không ngờ cô có dịp đến Việt Nam. Những tảng băng trong lòng mẹ như sắp tan ra. Trước khi cô sang Việt Nam, mẹ đã kể cho cô nghe tất cả những kỷ niệm của một thời. Mẹ nói:
- Việt Nam chính là quê hương của con. Có thể con sẽ tìm gặp được bố. Nhưng với mẹ, con người ấy đã chết 16 năm rồi.
Khi gặp Văn, cô đã cảm nhận dòng máu huyết thống, cô đã giật mình khi mọi người cho cô biết tên của ông: Trịnh Thành Văn! Cô đã tự tìm hiểu và biết giám đốc Văn đã không còn vợ con trên cõi đời này. Lòng cô xót xa, cô tin rằng Văn chưa thể nào biết được, ông có một cô con gái trên cõi đời này. Chỉ có điều sự linh cảm đang làm tâm trạng ông giằng xé, đau đớn. Qua những phút giây kỷ niệm tràn về, ông ngước mắt nhìn cô:
- Cháu có biết chú Victor không?
Cô gật đầu:
- Ông ấy là cha dượng của cháu, nhưng mẹ cháu đã chia tay ông ấy lâu rồi.
Lòng Văn nhen lên một tia hi vọng, anh hỏi:
- Cháu không phải là con chú Victor?
Maruska lắc đầu:
- Không phải.
Văn chăm chú nhìn Maruska như van lơn:
- Maruska!...
Maruska bỗng giật cánh tay phải của Văn. Cô nhìn thấy một vết sẹo màu sẫm dài chạy ngang trên cườm tay như vết sẹo của mẹ cô. Cô như muốn kêu lên: “Bố! Con của bố đây!”. Nhưng rồi hình ảnh của mẹ cô những đêm đông giá ngồi bên cửa sổ thẫn thờ nhìn về phương Nam, rồi những tháng ngày tủi nhục của tuổi thơ tràn về. Cô đẩy mạnh cánh tay ông, thét lên:
- Không, ông không phải!
Cô không thể nói hết nỗi giận dữ trong lòng mình. Cô không thể phủ nhận hoàn toàn nhưng lòng cô cũng không thể chấp nhận sự thật xót xa ấy.
Rồi cô quay đầu bỏ chạy. Văn ngẩn ngơ nhìn theo. Chiếc vòng cẩm thạch lấp loáng dưới bóng cây sầu riêng. Mái tóc đen nhánh của Maruska đang nhuộm trong nắng vàng nhòa đi trước mắt Văn. Tiếng ầm ì của dòng thác xa xa như tiếng thở dài không dứt của đất trời...
Đoàn Hoài Trung 
Theo http://www.hoivietsec.org.vn/



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nhật Bản duy tân 30 năm 2

Nhật Bản duy tân 30 năm 2 Chương VI. TRÊN ĐƯỜNG CHÍNH TRỊ Đừng thấy hạng dân vô quyền nằm dưới ở trong một xã hội mà cho là thường! Hạng...