Yên Tử, di tích quốc gia đặc biệt
và dòng thiền phái Trúc Lâm
Chùa Đồng Yên Tử
Cách trung tâm Thành phố Uông Bí khoảng 14 km về phía Tây Bắc đưa
ta đến với khu di tích danh thắng Yên Tử. Ðây là ngọn núi thiêng trong tâm thức
người Việt Nam và là đất Tổ của Thiền phái Trúc Lâm- một dòng thiền mang đậm bản
sắc văn hóa, tín ngưỡng dân tộc, thể hiện rõ rệt nhất tư tưởng, tâm hồn người
Việt.
Từ xa xưa, Yên Tử đã nổi tiếng là một vùng núi cao, cảnh đẹp của nước
Nam ta. Sử sách đã ghi lại rằng: Yên Tử được coi là "phúc địa thứ
tư của Giao Châu".
“Tân Kỳ chóp núi nâu vài nụ
Yểu điệu hình khe trổ một cành
Tiên cưỡi loan qua ngồi cảnh tịnh
Người xem rồng xuống giỡn đầu xanh”.
Nhiều tài liệu cũ đều thống nhất ghi nhận "Năm Tự Ðức
thứ ba, núi Yên Tử được liệt vào hàng danh sơn”. Với độ cao 1068m, Yên Tử
vút cao lên trong mây giữa những cánh cung trùng điệp của khu Đông Bắc mênh
mông, bốn mùa sương giăng mây phủ, mang chứa trong mình vô vàn những câu chuyện
huyền thoại kỳ bí hàng năm. “Yên Tử” có tên là “núi Voi”, tên chữ là “Tượng
Sơn” (có lẽ bởi hình dáng núi giống như một con voi khổng lồ). Sử sách cũ lại gọi
Yên Tử là “Bạch Vân Sơn” nghĩa là núi mây trắng. Phải chăng, chính sự linh
thiêng huyền bí ấy mà từ xưa các tín đồ đạo phật Việt Nam đã đến Yên Tử dựng am
cỏ cầu kinh niệm Phật. Tục truyền rằng, vào đời Tần Thủy Hoàng (cuối thế kỉ thứ
III TCN), bên Trung Hoa có vị đạo sỹ tên là An Kỳ Sinh (Yên Kỳ Sinh) đã đến đây
tu luyện và tìm thuốc trường sinh bất tử cho nhà vua, rồi hóa thành tượng đá,
hai tay chắp trước ngực, đứng lặng lẽ khấn nguyện tận cổng trời. Từ đó, núi
mang tên là “Yên Tử”.
Từ thời Trần, Yên Tử đã được đầu tư xây dựng thành khu quần thể kiến
trúc chùa tháp có qui mô lớn. Khởi đầu là vua Trần Thái Tông đến Yên Tử tháng 4
năm Bính Thân (1236). Sau đó, Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông - ông vua anh
hùng của hai cuộc kháng chiến đại thắng quân Nguyên - Mông (1285-1288), vào lúc
triều đại đang hưng thịnh vẫn nhường ngôi cho con tìm đến Yên Tử tu hành. Bằng
học vấn uyên thâm và kinh nghiệm từng trải, Trần Nhân Tông lĩnh hội thành tựu của
các vị cao tăng đi trước, tiếp nhận những yếu tố tích cực của Phật giáo là từ
bi, bác ái, khoan dung, hướng thiện, loại bỏ yếm thế…sáng lập nên phái Thiền
Trúc Lâm- giáo phái bản địa hóa đầu tiên ở Việt Nam, mang bản sắc riêng của Việt
Nam.
Lấy pháp hiệu là Điều Ngự, Trần Nhân Tông cùng hai nhà sư Pháp Loa
và Huyền Quang và các môn đệ khác đã dịch, soạn thảo kinh sách, quy tụ, tập hợp
tín đồ truyền bá giáo lý tại Yên Tử. Với tư tưởng “nhập thế” và “ tu tại tâm”,
Tam Tổ đã khẳng định: Đạo không tách biệt đời, đạo phải thể nghiệm trong cuộc sống.
Mầm giác ngộ, Đức Phật tính, vốn có sẵn trong mỗi người, chỉ cần khơi dậy, tự
rèn luyện, hoàn thiện bản thân. Yên Tử đã trở thành trung tâm Phật giáo Việt
Nam thời kỳ đó. Không những thế, đây còn là một thắng cảnh từng in dấu
chân biết bao tao nhân mặc khách đến thăm, mở lòng mình giao hòa với thiên
nhiên, tìm thi hứng để viết nên những thiên tuyệt bút.
Ảnh tại Lễ đón nhận bằng di tích Quốc gia đặc biệt
Vào mùa xuân, khi tiết trời dịu mát, rừng Yên Tử nảy lộc đơm hoa,
khách thập phương thuộc nhiều lứa tuổi, trong nước và ngoài nước rộn ràng đổ về
Yên Tử trẩy hội, nhắm đỉnh núi mờ sương hăm hở bước tới. Về với núi
thiêng, hồn ta như lạc vào cõi “bồng lai tiên cảnh”, rừng già đại ngàn,
núi non trùng điệp, có thác đổ, suối reo, mây giăng sương phủ, sống trong không
gian tâm linh bay bổng, thanh thản vô cùng. Đến với Yên Tử, không chỉ có hàng
nghìn tăng ni và Phật tử, đạo hữu mà còn có rất nhiều đoàn đại biểu của các tổ
chức chính trị trong và ngoài nước, nhiều nhà lãnh đạo cao cấp của Trung ương
đã đặt chân lên đỉnh cao nhất của non thiêng Yên Tử, bồi hồi tượng niệm đức vua
Trần - Người đã từ chốn phồn hoa và tước vị cao sang nên non xanh xuống tóc tu
hành, trở thành đức Phật Thích Ca Mâu Ni của Việt Nam. Cây bồ đề do Chủ tịch nước
Trần Đức Lương trồng nay đã xanh tươi. Những món quà hảo tâm đã được trao. Những
nguồn kinh phí trùng tu tôn tạo đã, đang và sẽ được các Phật tử trong nước phát
tâm công đức. Những công trình như đường xá, cầu cống, dự án cáp treo đã dược
triển khai, xây dựng chốn Tổ xứng đáng với niềm ngưỡng vọng của muôn dân.
Trên dọc đường dài từ chân núi đi lên, ngót vài chục công trình Phật
giáo lớn nhỏ đã được xây dựng, hấp dẫn khách tham quan. Đó là: chùa Lân (Thiền
Viện Trúc Lâm), chùa Giải Oan, chùa Hoa Yên, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu, chùa
Một Mái…Đó là các am, các viện: am Rèn, am Thiền Định, am Diêm, am Dược, viện
Phù Đồ…Đó là hàng trăm tháp, mộ các thiền sư, hàng nghìn di vật cổ quý giá cùng
các bia ký, hoành phi, câu đối… phản ánh thời đại hào hùng nhất trong toàn bộ
quá khứ lịch sử dân tộc. Trên đỉnh non thiêng, trước cảnh hùng vĩ mà thơ mộng ấy,
ta mới thấy được cái tinh tế của Nguyễn Trãi khi vịnh Yên Tử:
“Trên
non Yên Tử chòm cao nhất
Trời mới canh năm đã sáng tinh
Trời mới canh năm đã sáng tinh
Vũ
trụ mắt đưa ngoài biển cả
Nói, cười - người ở giữa mây xanh
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ màn
Nói, cười - người ở giữa mây xanh
Muôn hàng giáo ngọc tre gài cửa
Bao dải tua châu đá rủ màn
Di
tích Nhân Tông còn lưu đấy
Trùng đồng thấy giữa ánh quang minh.”
1. Quá trình hình thành, phát triển của cõi thiêng Yên Tử
Xưa kia, Yên Tử chỉ là khu rừng rậm hoang sơ, chưa có công trình kiến
trúc nhân tạo nào, chỉ có các cảnh quan thiên tạo: Bãi đá chùa Đồng, Cổng Trời,
tượng đá An Kỳ Sinh, thác Vàng, thác Bạc, rừng đại ngàn và hang động.
1.1. Thời Lý
Từ thời sau vua Lý Huệ Tông, thiền sư Hiện Quang đã lên Yên Tử kết
am tranh mà ở. Khi mất, ngài được các môn nhân an táng trong hang núi vì lúc đó
chưa có chùa tháp như các đời sau. Cũng có ý kiến cho rằng, từ thời Lý, Yên Tử
đã có chùa thờ Phật, tuy nhiên chưa có kết luận chính thức từ phía các nhà
nghiên cứu.
1.2. Thời Trần
Các kiến trúc chùa, am, tháp có quy mô to lớn, đẹp đẽ trên các vị
trí như ngày nay:
“Tháp biếc trăm tầng cao chất ngất
Lầu son mấy nóc rộng thênh thênh.”
Công trình kiến trúc được xây dựng trước khi Thượng Hoàng Trần Nhân
Tông về tu hành là am Dược để luyện và bào chế thuốc. Ngoài ra, các vị tu hành
mới sử dụng hang động làm am thất tu hành: am Ngọa Vân, am Ly Trần, am Thiền Định..
Sau khi Điều Ngự Giác Hoàng Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông viên tịch, đến
thời Pháp Loa, ngài cho xây dựng các chùa: Vân Yên (Hoa Yên), Vân Tiêu, Giải
Oan, Long Động, lăng Quy Đức với tháp Huệ Quang. Đây là thời kỳ xây dựng nhiều
công trình kiến trúc với quy mô lớn.
Cuối thời Trần, triều chính suy vi, Nho giáo độc tôn, lấn át vị trí
của đạo Phật, thêm vào đó, giặc Minh xâm lược nước ta, thực hiện chính sách đồng
hóa dân tộc, hàng loạt công trình kiến trúc nguy nga lộng lẫy của Yên Tử bị phá
bỏ hoàn toàn. Mắt Rồng (ngay sau Tháp Tổ) cũng bị phá một bên, tháp Tổ cũng bị
phá ( được trùng tu lại sau khi Lê Thái Tổ dẹp tan giặc Minh- thế kỷ XV).
Đất nước độc lập, Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử được phục hồi, tiếp tục
phát triển, đặc biệt vào thế kỉ XVIII, thời Lê- Trịnh, chùa chiền được trùng
tu. Thời Lê Thánh Tông, chùa tháp Yên Tử khang trang, đẹp đẽ. Thiền Phái Trúc
Lâm Tế ở Trung Quốc qua giao lưu có ảnh hưởng phần nào đến Yên Tử, chứng tích
là tháp đá cổ khắc chữ: “Lâm Tế chân truyền phù lãng phái”. Hầu hết, các chùa,
am , tháp Yên Tử được trùng tu vào thời Lê.
Suốt gần 600 năm lịch sử, chùa chiền đổ nát, dấu vết trùng tu xây dựng
của thời Lê không còn nhiều song chúng ta vẫn nhận thấy qua các tháp đá, tháp gạch,
qua khảo cổ học dấu vết di tích thời Trần, Lê.
1.4. Thời Nguyễn
Vào thời Nguyễn, thiền phái Trúc Lâm suy vi, các công trình được đầu
tư tôn tạo vào thời Lê đổ nát; việc tôn tạo nhỏ lẻ, chủ yếu do các nhà hảo tâm
công đức.
1.5. Từ Hội nghị Khoa học Yên Tử (ngày 28-30/1/1981 đến nay)
Hội nghị Khoa Học lần thứ nhất đã khẳng định giá trị to lớn của Yên
Tử, định hướng cho việc quản lý, đầu tư, tôn tạo, khai thác tại Yên Tử.
Sau hội nghị, việc trùng tu, tôn tạo Yên Tử được các cấp, các
ngành, tăng ni, phật tử trong và ngoài nước quan tâm.
Đặc biệt, cuối năm 1992, khi Ban Quản Lý di tích - danh thắng Yên Tử
(nay là Trung Tâm quản lý di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử) được thành lập
và quản lý khu di tích đến nay, Yên Tử đã được tôn tạo, hồi sinh và phát triển.
Dự án Yên Tử được triển khai với mục tiêu: “Xây dựng Yên Tử xứng đáng là một kỳ
quan, một trung tâm Phật giáo của nước nhà, là điểm đến của du khách, phật tử
trong nước và bạn bè năm châu”. Khu di tích Yên Tử không chỉ được trùng tu, tôn
tạo về kiến trúc chùa am, tháp mà còn được đầu tư lớn về các dịch vụ khác. Năm
2002, hệ thống cabin cáp treo hiện đại được đưa vào phục vụ du khách, thuận tiện
cho việc ngắm cảnh quan hùng vĩ của núi thiêng, phù hợp với công tác bảo vệ,
tôn tạo, phát huy mọi giá trị của di tích danh thắng trong thời kỳ hội nhập quốc
tế.
2. Hành hương về đất Phật
Từ Hà Nội có thể đi xe ô tô vượt quãng đường 115km, qua Thành phố
Uông Bí thì rẽ vào đường Vàng Danh, đi tiếp khoảng 9km thì rẽ trái theo con đường
dẫn vào khu vực thắng cảnh Yên Tử.
Xưa kia, đường lên núi Yên Tử, lên đỉnh Phù Vân huyền thoại, chỉ có
một cách duy nhất là theo đường đi bộ, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn
cây cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông. Còn bây giờ, du khách có thêm một sự lựa
chọn: theo đường cáp treo hiện đại vượt quãng đường trên 1km để có thể ngắm cảnh
núi rừng Yên Tử từ trên cao, sau đó lại tiếp tục đi bộ đến thăm các điểm khác
trong khu vực thắng cảnh. Tuy thế, rất nhiều người vẫn chọn con đường du lịch
truyền thống để thăm toàn tuyến du lịch vì họ có thể chậm rãi thăm thú tất cả
những gì mà thiên nhiên đất trời tạo lập nơi đây. Đó là con đường dài trên 6km
đã được gia cố bởi hàng nghìn bậc đá xếp, rất chắc chắn và rất thuận tiện cho
dù độ dốc khá lớn.
Trước hết, khi tới chân núi theo một lối mòn, rẽ tay phải, đang còn
trong cảnh rậm rạp ta đã nghe thấy tiếng nước chảy róc rách. Đó là suối Giải
Oan trong veo chảy ngoằn ngoèo trên nền đá cuội và sỏi trắng. Nối hai bên
bờ suối là cây cầu đá xanh, dài 10m, có kiến trúc không cầu kỳ nhưng lại toát
lên vẻ cổ kính, vững chãi. Chính ở dòng suối này, lòng ta trào dâng niềm thương
cảm, câu chuyện bi thương về 100 cung nữ đã quyên sinh tại đây vì không được
theo vua. Tục truyền rằng, xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật. Vua
Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên ông trở về cung gấm
nhưng không được nên đã gieo mình xuống suối tự vẫn. Để giải oan cho
linh hồn của họ, vua Trần Nhân Tông đã lập chùa hợp cúng. Ngôi chùa và con suối
từ đó, mang tên là “Giải Oan”. Dưới ân đức cao dày và lòng từ bi, bồ tát của
vua Trần Nhân Tông, những cung nữ còn sống sót đã được làm nhà, cấp
ruộng cấy cày dưới chân núi, lấy chồng sinh con, lập thành làng Nương, nàng Mụ,
tức xã Thượng Yên Công (Uông Bí) ngày nay.
Ảnh: Suối Giải Oan
Theo chuyện xưa, chùa Giải Oan không chỉ là nơi lập đàn
tràng giải oan cho các cung nữ mà còn là nơi Đệ Tam Tổ Huyền Quang giải nỗi oan
khuất của mình với nàng Điểm Bích, trước khi về kinh đô làm lễ sám hối cho triều
đình. (Thời vua Trần Minh Tông).
Ngày xưa khi đi qua đây, danh sỹ Nguyễn Thượng Huyền thương cảm trước
vong hồn của họ nên đã viết:
“Giải kết nỗi lòng oan với Chúa
Oan theo dòng nước sạch cùng vua.”
Ngay sau chùa Giải Oan, đi lên chừng 400m, rẽ trái khoảng
50m, đến am Lò Rèn. Tương truyền từ thời Phật hoàng Trần Nhân Tông về
Yên Tử, ngài dựng am để rèn dụng cụ lao động cho các chùa và nhân dân quanh
vùng. Qua am Lò Rèn, là khu tháp Tổ đồ sộ tức Huệ Quang Kim
tháp, ở độ cao 700m, lưu giữ xá lợi của đức Tổ thứ nhất Trần Nhân Tông sau
khi viên tịch.
Ảnh Vườn tháp Huệ Quang
Ngài tịch tại am Ngọa Vân, vị tổ thứ hai là sư Pháp Loa đem xác nhà
vua hỏa thiêu và chôn nơi đây. Con đường lên tháp Tổ xếp bậc đá dẫn thẳng đến
trước cửa khu tháp dưới bóng một cây thông già gần ngàn tuổi, cây thẳng
đứng, thân to tròn ba người ôm không xuể, cành đan vào nhau tạo nên cái tán
hình tròn xương xẩu đứng cách xa chân núi hàng chục kilômét cũng nhìn thấy.
Chính giữa khu tháp là lăng Quy Đức- nơi đặt mộ vua Trần Nhân Tông.
Lăng Quy Đức được xây bằng gạch to, dày, nung, chín già; trét bùn đất, vôi trộn
mật đường, bột giấy, gió và cát; lợp ngói mũi hài kép. Đây là một di tích thời
Trần còn lại hầu như nguyên vẹn. Ở giữa lăng nổi lên một ngọn tháp lớn, là bông
hoa thắm nhất trong rừng tháp Yên Tử. Tháp 6 tầng, cao 10m, bốn mặt tháp có tường
vây, mỗi tầng là một khối đá xanh vuông vức. Từ dáng thu tầng độc đáo của ngọn
tháp, từ các hoa văn sóng nước, hình ngọn núi được chạm ở bệ tháp, hoa văn dây
lá cuốn trong cánh sen, cách ghép đá bằng những lỗ cá đổ chì, đặc biệt là pho
tượng Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông, chất liệu bằng đá trắng, dáng ngồi khoan thai,
áo cà sa khoác chéo, lộ trần cánh tay phải với các hoa văn dây lá trên các nẹp
áo đều là những tư liệu quý cho việc nghiên cứu kiến trúc và nghệ thuật thời Trần.
Quây quần quanh tháp Tổ là 97 ngọn tháp khác nhau của các nhà tu hành thời Trần
và thời Lê, đã trọn đời hóa thân vào cõi Phật.
“Tháp cổ rêu phong lăng mộ Tổ
Mơ màng chiêm ngưỡng cảnh sườn Nam
Ở cuối hồi chùa cây sung cổ
Chùm đỏ, chùm xanh, dưới nắng vàng”.
(Tháp cổ - Hoàng Quang Thuận)
Con đường từ khu tháp Tổ lên chùa Hoa Yên lát loại gạch vuông lớn
in hình hoa cúc phổ biến thời Trần (ngày nay còn được 84 viên). Đáng lưu ý là gạch
hoa cúc thời Trần chỉ có ở các di tích của triều đình hay hoàng tộc nhà Trần,
điều đó mách bảo vị trí trang trọng của khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử.
Gạch hoa cúc làm bằng đất nung để lát nền hoặc ốp tường, không dùng để xây,
hình vuông, có cấu trúc hoa văn trên bề mặt, phản ánh ý nghĩa triết lý sâu sắc.
Hình vuông lớn- biểu trưng cho đất (chứa đựng âm khí); bốn góc của hình vuông
có bốn bông hoa cúc, biểu tượng của tứ tượng ( khí, thủy, hỏa, thổ); hình tròn
lớn trong lòng viên gạch tượng trưng cho trời (chứa đựng dương khí); có 8 bông
hoa cúc thể hiện bát quái. Hình tròn nhỏ ở giữa có hai bông hoa cúc nhỏ, thể hiện
sự kết hợp của âm dương; xung quanh viên gạch theo hình vuông là các tinh tú.
Qua hoa văn họa tiết trên gạch hoa cúc thời Trần, ta thấy rằng: Ngay từ thời xa
xưa, người Dân Đại Việt đã biết kết hợp thuyết Âm Dương: thái cực (Âm Dương)
sinh lưỡng nghi (trời đất), lưỡng nghi sinh tứ tượng, tứ tượng sinh bát quái,
thiên biến vạn hóa ra mọi vật trong xã hội.
Qua 136 bậc đá, lên chùa Chùa Hoa Yên, nằm ở độ cao 535m
so với mực nước biển. Dọc hai bên đường, cúc vạn thọ sum suê, hoa chen hoa
vàng rực sườn núi, cây đại 700 tuổi vỏ sù sì, cành cong veo đứng chênh vênh bên
tường đá nổi bật lên chùm hoa trắng dịu, chân tường đá là hàng rong lá tía, hoa
đỏ rực như những ngọn lửa nhỏ khiến cho cảnh vật trước cửa chùa thêm ấm áp.
Chùa Hoa Yên vốn có tên là “Vân Yên” (mây khói), đặt với hàm ý: chùa trên tận
núi cao, quanh năm mây sương phủ, mây lững lờ trôi, trắng nhẹ như khói bay trên
núi. Từ khi vua Lê Thánh Tông lên vãn cảnh, thấy sắc hoa tươi đẹp nên đổi tên
chùa là Hoa Yên.
Ảnh: Chùa Hoa Yên
Chùa Hoa Yên và các chùa xung quanh tạo nên quần thể kiến trúc
chính của khu Yên Tử. Chính vì chùa có quy mô lớn nhất và đẹp nhất cho nên còn
goi là chùa Cả. Trên 700 năm trước, chùa chỉ là một thảo am để Trần Nhân
Tông giảng đạo. Chùa được xây dựng khang trang bắt đầu từ thời Đệ Nhị Tổ Pháp
Loa. Sách xưa ghi lại: Chùa Hoa Yên ngoài tiền đường, thượng điện để thờ Phật,
tả hữu còn có Viện Phù Đồ, có lầu trống, lầu chuông, nhà dưỡng tăng, nhà khách
nghỉ tạo nên một quần thể kiến trúc to lớn. Chùa Hoa Yên xưa quả là một kỳ
quan:
“Tháp biếc trăm tầng cao chất ngất
Lầu son mấy nóc rộng thênh thênh.”
Nhìn theo thế núi, chùa Hoa Yên tọa lạc nơi đầu rồng, núi nhô ra
như trán, mũi, hàm rồng. Đôi mắt rồng ở ngôi tháp Tổ, hai dãy núi Tây Đông vươn
về Nam ôm lấy con đường hành hương dưới chân núi Giải Oan như đôi cánh tay rồng.
Xét về mặt tâm linh, chùa Hoa Yên là nơi giao hội của trục linh ( trục tung) và
trục tú (trục hoành), hai bên tả hữu vươn ra (tả thanh long, hữu bạch hổ) theo
thuật phong thủy, đây là vị trí đất quý hiếm.
Trải qua hơn 700 năm, biết bao các vị hoàng đế, vương hầu, các danh
nhân về thăm Yên Tử đã đề thơ ngợi ca chùa Hoa Yên.
“Cảnh tốt hoa lành
Đồ tựa vẽ tranh
Chốn thấy trời thiêng mở khéo
Nhà kia vua bụt tu hành
Hồ sen trương tán lục
Suối trúc bím đàn tranh.”
(Vịnh
Chùa Hoa Yên- Huyền Quang)
Đệ Tam Tổ Huyền Quang đã từng trụ trì ở đây. Câu chuyện oan
tình của ông với nàng Điểm Bích (1313) cũng xảy ra ở chốn Hoa Yên này.
Ngày nay, mặt bằng chùa có lầu chuông, lầu trống, am Thiền định,
nhà dưỡng tăng, nhà khách nay không còn. Cuối năm 2002, chùa Hoa Yên đã được
tôn tạo lại, cấu trúc gần giống hình chữ “Quốc” kiểu chùa gọi là “ nội công;
ngoại quốc”, có nghĩa là trong hình có chữ “công” còn bên ngoài có khung bao
quanh như chữ “quốc”.Chùa được xây dựng trên dải đất hình cánh sen bao quanh sườn
núi gồm hai phần: tiền sảnh và hậu cung rộng khoảng 150 m² thờ hàng chục pho tượng
lớn toàn bằng đồng, lớn nhất là tượng Trần Nhân Tông đặt ở chính giữa hậu cung,
ngồi xếp bằng trên đài sen, vẻ mặt không gợn chút trần tục. Gian bên trái chùa,
trước tiền sảnh treo một quả chuông lớn đúc thời Minh Mệnh thứ 14, ghi lại bài
Minh do Diên Chính Nguyễn Siêu Phàm soạn, ngợi ca về Trần Nhân Tông và Yên Tử.
Có đoạn viết:
“Từng nghe, tiếng chuông khánh có ích lợi làm tỉnh giấc mê, tiếng
chuông gióng giả ngân lên vang vọng chốn xa xăm, ấy là tiếng thanh đại pháp nơi
cửa thiền. Chùa ở núi này, từ ngày Đức Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông nhường
ngôi vua đi tu hành đạo đến nay, lửa thiền truyền còn lưu rực rỡ, vẫn là chùa
núi nổi tiếng bậc nhất của nước Việt…”( Dịch nghĩa chữ Hán).
Đến chùa Hoa Yên vào buổi chiều tà, du khách đã qua nửa chặng đường
leo núi Yên Tử, được mời nghỉ chân qua đêm tại chùa để lấy lại sức sáng hôm sau
tiếp tục cuộc hành trình. Đêm ở chùa thật kỳ ảo, trong không gian mênh mông,
văng vẳng tiếng suối róc rách, tiếng trúc rì rào, tiếng tắc kè thảng thốt, đâu
đây thoang thoảng mùi hương phong lan, mộc miên, trứng gà, hoa dẻ...
Bên phải chùa Hoa Yên là thác Ngự Dội (nơi vua tắm), một
đoạn của thác Vàng chảy ngầm trong núi đến đây vọt ra thành một đường cong lắp
lánh ánh bạc. Sách xưa kể lại rằng: đây là nơi mà Phật Hoàng Trần Nhân Tông thường
tắm rửa trước khi nhập định, tham thiền tại am Thiền Định. Nguồn nước của thác
Ngự Dội như là trí tuệ của Phật Tổ gột rửa hết tam độc (tham, sân, si), lục tặc
( nhân tặc, nhĩ tặc, thiệt tặc, thân tặc, tỵ tặc, ý tặc) để tu thành chính quả.
Thác Ngự Dội còn có tên khác là Long Khê (khe Rồng), nước từ trên núi
cao đổ xuống ầm ầm, toé lên trắng xóa như những hạt lưu ly, tạo ra một luồng
gió mạnh mang theo bụi nước mờ mờ như sương, du khách thấy mình xiết bao nhẹ
nhõm, thoải mái với cái cảm giác mơn man, tươi mát này.
Kề sát thác Ngự Dội là am Thiền Định- nơi Điều Ngự Giác Hoàng
Trần Nhân Tông ngồi nhập định, tham thiền. Am Thiền Định ở xa tuyến hành hương
tĩnh lặng phù hợp với việc thiền định. Cách đó khoảng 300m, đến thác Vàng,
nước chảy từ chùa Đồng (1068m), như dải lụa chảy xuống thành suối vàng, lúc ồn
ào, lúc trầm tư.
Người lên Yên Tử càng lên cao càng ngỡ mình đi lạc vào chốn mộng
mơ, huyền ảo. Cảnh núi non sương khói như đưa người vào cõi tiên xa cách chốn
trần gian. Dòng người càng lên cao, con đường càng gập ghềnh, những tảng đá
chai mòn như lưu lại quá khứ hành hương đến nghìn năm của chốn thiện tâm. Những
rừng trúc xanh tươi rì rào trong gió ngàn như kể chuyện Tam Tổ đã lập lên Thiền
Phái Trúc Lâm hay hát lên những lời ca cảm thán đất nước mình. Như có một sức mạnh
thần bí nâng bổng con người vượt núi tới đây. Đó là vẻ đẹp linh thiêng của trời
đất và lòng người hòa hợp.
Ảnh: Con đường hành hương lên Yên Tử.
Cách chùa Hoa Yên khoảng 200m, là chùa Một Mái hay
còn gọi là chùa Bồ Đà, am Ly Trần, chùa Bán Mái, Thanh Long động (động Rồng
xanh). Chùa chênh vênh trong vách núi, nửa nhô ra bên ngoài, nửa bám vào vách
đá. Xưa chưa có chùa, nơi đây là am Ly Trần. Cảnh am tĩnh lặng, thanh thoát,
cách xa trần tục. Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông và các môn sinh, đệ tử từ
Hoa Yên thường sang đây đọc sách, soạn kinh. Sau khi Ngài hiển Phật, người đời
sau dựng chùa tại đây. Chùa hình chữ “nhất”, gồm 4 gian, chiều ngang hẹp, tượng
và đồ thờ đều bằng đá trắng. Chùa Một Mái xưa là nơi lưu trữ các văn từ, thư tịch.
Trong vách hang có mạch nước ngầm nhỏ dẫn từng giọt trên một núm đá suốt bốn
mùa như dòng sữa mẹ không bao giờ cạn. Sư trụ trì lấy nước tinh khiết này để tắm
quả và lễ Phật. Du khách tới đây, ai cũng muốn uống một ly để lấy phúc. Dân
gian tin rằng, lấy nước ở đây và nước giếng ở chùa Đồng về thắp hương gia tiên
rất linh thiêng. Vì lẽ đó, mà rất nhiều phật tử đến chùa thắp hương xin nước về
để cúng lễ quanh năm tại gia. Rời chùa Một Mái, men theo con đường vắt qua sườn
núi sẽ đến am Ngọa Vân (am trong mây), trước mặt là thác Tử từ
trên lèn đá cao 10m đổ xuống, sôi réo trong các khe đá rồi tràn qua mặt đường,
lao xuống vực. Am Ngọa Vân tựa vào sườn núi, dưới tán hai cây tùng lớn, hơi nước
từ biển Đông theo gió bay vào Yên Tử gặp khí lạnh của núi biến thành màn mây mỏng
bàng bạc như khói, lùa vào am vương vấn trên tán tùng, bồng bềnh trong rừng
trúc, cảnh núi rừng hòa tan trong làn mây mỏng nhẹ rồi lại từ từ hiện ra từng mảng
đậm nhạt, chỗ xanh, chỗ trắng như một bức tranh thủy mặc kỳ diệu. Trước cửa am
Ngọa Vân phía trước sườn núi có am Thung (am giã thuốc) và am Dược (am
chế thuốc). Theo truyền thuyết, am Dược là nơi An Kỳ Sinh luyện thuốc, đến thời
vua Trần Nhân Tông về Yên Tử tu hành, ngài đã cho xây dựng am dược thành một xưởng
bào chế thuốc. Các loại thảo dược quý của Yên Sơn và các vùng lân cận được chăm
sóc thu hái, mang về điều chế thành thuốc “Hồng Ngọc Sương”. Những viên thuốc
quý này dùng để chữa bệnh cho tăng sỹ, nhân dân, đặc biệt là những người nghèo
khó, không có tiền mua thuốc. Đứng ở đây, khách hành hương có thể hướng tầm mắt
ra biển, thấy thấp thoáng Hạ Long và những dải mây trắng bồng bềnh quấn quanh
người mát lạnh, tâm hồn thanh thản lạ thường. Leo lên một đoạn dốc thẳng đứng,
du khách được thưởng ngoại cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp. Cả rừng trúc xanh bạt
ngàn biếc mắt, khi một làn gió nhẹ đưa mây trắng phủ kín. Tạo nên một khung cảnh
nên thơ và một gam màu đầy sống động cho bức tranh Yên Tử.
Từ am Ngọa Vân đi lên con đường gần như dựng đứng. Sen đất mọc
thành bồn trong những kẽ đá ven đường, lá hoe vàng, ram rám và tròn xoe, hoa
năm cánh, hồng tươi và mỏng, tỏa mùi hương dịu nhẹ, lan trắng, lan tía mọc chen
trong khóm trúc, hoa loa kèn nở rộ, phong lan buông từng chùm vàng hay trắng, dọc
đường trên mỗi quãng ngắn có một cây vạn tuế lá xanh thắm bốn mùa. Nằm ở vị trí
cheo leo, cao 724m so với mặt nước biển, tựa vào vách đá cao chót vót hiện
ra chùa Bảo Sái. Thời kỳ Thượng Hoàng Trần Nhân Tông tu hành nơi đây chỉ
có một am trong động, tên là Ngộ Ngữ Viện. Đại đệ tử thân tín nhất của Đệ Nhất
Tổ là Bảo Sái đã tu hành ở đây. Bảo Sái được Trần Nhân Tông giao cho việc biên
tập và ấn tống tất cả các kinh sách của Thiền phái Trúc Lâm rồi chuyển đến các
chùa để truyền giảng Thiền tông cho tín đồ, phật tử trong cả nước.
Sau khi thiền sư Bảo Sái viên tịch, Ngộ Ngữ Viện tiếp tục được mở rộng, đời sau
lấy tên ngài đăt tên là chùa Bảo Sái. Chùa có ba pho tượng Tam Tổ Trúc Lâm bằng
đồng khá lớn, cùng ngồi xếp bằng trên bệ sen đồng được sơn son thiếp vàng. Chùa
Bảo Sái vừa là tên chùa, vừa là tên đại đệ tử của Đức Phật Trúc Lâm. “Bảo Sái”
tức là “những giọt nước chảy thành tua”, nghĩa đạo là sự thấm nhuần mưa của Đạo
Phật nhiệm màu với chúng sinh. Chùa Bảo Sái là một biểu tượng của sự thấm nhuần
rễ đạo của phật tử.
Cạnh am là giếng Thiêng nước trong vắt và cây giội cổ thụ,
bị móng vuốt hổ cào, trải qua bao năm tháng vẫn còn in vết như một huyền thoại.
Dưới gốc cây là ông Hổ Đá quỳ hai chân trước nhìn vào am chăm chú như
đang nghe kinh. Chuyện xưa kể rằng: Đã lâu lắm rồi, có một con hổ ở đâu về
chùa, cứ mỗi lần sư chùa tụng kinh, gõ mõ là hổ lại đến bên gốc giổi nghe kinh
kệ. Ngày tháng qua đi, hổ và nhà sư luôn sống gần nhau. Bỗng một ngày kia, sư
chùa lâm bệnh rồi viên tịch. Vắng bóng nhà sư, không còn tiếng tụng kinh, gõ
mõ, hổ đau đớn, thét gầm, ôm chặt thân cây giổi cào xé. Sau ngày đó, hổ biệt
tăm. Để ghi lại sự tích này, đời sau đã tạc tượng hổ bên giếng thiêng và khắc
vào vách đá 4 chữ “Hổ bao niết linh”, tức “dấu vết ôm cây của hổ thiêng”. Du
khách đến chùa thường ra thắp hương cho ông hổ, chỉ cho nhau xem dấu vết móng
vuốt hổ còn in đậm nơi này.
Cách chùa Bảo Sái vài trăm mét là chùa Vân Tiêu (chùa
trên mây), tọa lạc trên gò núi cao, từ dưới nhìn lên có cảm giác như công trình
kiến trúc này được nổi hẳn lên giữa trời mây bát ngát. Có lẽ, địa thế chênh
vênh như vậy, mà vua Trần Anh Tông đã đến chùa và đề thơ:
Kim tiên vô khuyết cung phàm trần”.
Dịch:
“Một
tòa nhà sừng sững
như chiếc lọng cao chạm mây
như chiếc lọng cao chạm mây
Cung điện thần tiên không chút thần tục.”
Xưa, thì chùa chỉ là một am thất nhỏ. Sau khi Đệ Nhất Tổ hiển Phật,
thì nơi đây mới được xây dựng thành chùa. Trải qua mấy trăm năm, ngôi chùa đã
được nhiều lần trùng tu. Vào thời Lê, đích thân Chúa Trịnh đã đứng lên làm chủ
việc sửa chữa, tôn tạo lại chùa. Bia đá còn ghi lại sự kiện “Lê triều - Đại
nguyên soái Thống Quốc Chính”. Chùa đã bị cháy từ cuối thế kỷ trước, nay chỉ còn
nền gạch và bàn thờ Chúa Đại Ngàn, Năm 1992, ở đây đã xây dựng một ngôi thờ Tam
Tổ Trúc Lâm hình chữ “nhất”, lợp ngói vảy rồng. Phía trước chùa là năm ngọn
tháp trước vươn lên dưới mấy gốc tùng cháy. Khu tháp này được gọi là Vọng
Tiên Cung, Tháp cao nhất 7m hình bát giác với 9 tầng cân đối là một trong những
tháp độc đáo nhất của khu Yên Tử. Tục truyền, Quốc sư Trúc Lâm Đại Sa Môn Đạo
Viên đã hóa thân hiển Phật ở đây. Trong hàng trăm ngôi tháp ở Yên Tử thì tháp
“Vọng Tiên Cung” có kiểu kiến trúc riêng, độc đáo, phản ánh kiến trúc lăng tháp
điển hình của thời Nguyễn. Bằng sự công đức của các phật tử thập phương, chùa
Vân Tiêu được xây dựng lại năm 2001, có quy mô rộng lớn hơn, có cấu trúc hình
chữ “đinh”, gồm bái đường và hậu cung, đón khách thập phương về thăm quan lễ Phật.
Bên phải chùa Vân Tiêu là suối Hàm Long, khúc thượng lưu của suối Vàng,
dòng nước trong veo, lưu lượng lớn, đều đặn, bốn mùa không thay đổi, tục truyền
rằng du khách nào dừng chân tắm suối này thì da sẽ mịn hơn, người sẽ khỏe thêm.
Từ chùa Giải Oan đến chùa Bảo Sái là đường rừng, trúc, mai, giang bạt
ngàn, mọc ken dày, thẳng tắp, mái lá rậm rạp, mượt mà phủ quanh các mái chùa, đỉnh
tháp và rủ xuống hai bên lối đi. Ở đây ngoài nhiều loại trúc thường thấy có loại trúc
hóa rồng thân vàng đậm, đốt chỗ thưa chỗ mau, gốc trồi lên mặt đất uốn
cong với bộ rễ dày và xoăn tựa đầu rồng. Về mùa xuân, dưới những cơn mưa bụi,
các loại măng bật lên từ lớp đất ẩm ướt phủ đầy lá mục: măng giang mập mạp,
măng trúc vàng ánh, măng mai mảnh dẻ, tất cả đều mọc thẳng, nhọn hoắt làm cho rừng
Yên Tử trẻ lại, đầy sức sống sau mùa khô hanh lạnh lẽo. Rừng trúc là sản phẩm
vô tận của Yên Tử, tượng trưng cho sinh lực dẻo dai và vẻ đẹp thanh bạch của
thiên nhiên, có lẽ vì vậy Trần Nhân Tông đã lấy tên Trúc Lâm đặt tên
cho phái thiền do ông sáng lập. Làm bạn với trúc, mai, giang là
các loài chim. Chiều chiều khi hoàng hôn xuống, vô vàn cu xanh, cu đất, chào
mào, cà cưỡng,cò lửa, chích chòe... bay về ngủ, đậu rợp rừng trúc, kêu chao
chác, inh ỏi.
Nằm ở độ cao 900m, cách chùa Vân Tiêu 569m, trên một vùng đất phẳng
và rộng, một nhà sư mặc áo thâm hai tay chắp trước ngực đứng lặng lẽ nhìn ra lối
đi như đang cầu nguyện. Đó là một tảng đá cao 3,5m tương truyền là An Kỳ Sinh
tu hành đắc đạo và hóa thành Phật đã nhập vào mảng đá này. Pho tượng An Kỳ
Sinh độc đáo, vừa như một khối đá tự nhiên, vừa như có bàn tay con người tạo
dựng, sừng sững trên núi cao, tạo một không khí thần tiên cho không gian nơi
này. Chuyện xưa kể rằng, vào thời Tần Thủy Hoàng, ở làng Phù Hương, đất Lạng
Giang có người tên là An Kỳ Sinh thường đi chữa bệnh cho dân nghèo ở vùng biển.
Khi Tần Thủy Hoàng đi đông du có mời ông đến nói chuyện y thuật và cho tặng phẩm.
Ông mang những vật phẩm đó vào đình làng rồi đi tìm thuốc trường sinh bất tử
cho nhà vua. Đi mãi đến Bạch Vân Sơn, thấy cảnh vật hữu tình, đắc ý ở lại, hái
lá cây, luyện đan làm thuốc cứu đời. Khi mới đến Yên Tử, ông dựng am thuốc bào
chế tại am Dược, sau chuyển lên khu vực dựng tượng đá ngày nay rồi mất.
Ảnh: Tượng đá An Kỳ Sinh Yên Tử.
“An” (yên) nghĩa gốc là “an định”(yên lặng); “Kỳ”- nghĩa gốc
lá cờ, kỳ đài (định giới hạn); “Sinh” nghĩa là sự sinh sôi, nảy nở. Hợp nghĩa
ba chữ “An Kỳ Sinh” là sự khởi sinh nơi tĩnh lặng, trường tồn. Một tượng đá hóa
người hay chính người hóa đá, gửi lại đây một hào khí sâu xa, về sự đắc đạo hài
hòa giữa con người và tạo vật. Một tấm đá từ thủa hoang sơ nào trời đất tự dựng
bia đã trở thành bia Phật giữa lòng người. Bàn tay gia công của nghệ nhân đã gắn
linh hồn cho một phiến đá tự nhiên nhưng tài tình đến mức còn nguyên dáng dấp của
một phiến đá trời sinh. Người tu hành đắc đạo đã trường tồn với trời đất, đi
vào cõi vĩnh hằng. Tượng đá An Kỳ Sinh như là sự khởi đầu bước vào ranh giới
cõi thiêng liêng nhất trên non thiêng Yên Tử.
“Ngày
xưa đạo sỹ An Kỳ Sinh
Tìm đến núi Yên luyện đan linh
Ngang qua mắt ngọc rồng rực sáng
Ông nhận ra đây chốn địa linh”.
(Tượng đá An Kỳ Sinh - Hoàng Quang Thuận)
Từ An Kỳ Sinh lên chùa Đồng phải qua Cổng Trời. Cổng trời là
nơi con đường luồn qua giữa hai vách đá vuông vức, tạo thành cổng tự nhiên, chắn
hai bên, như để đi vào thiên đình của Tiên Giới. Thấp hơn cổng trời, ở dưới
là Bia Phật. Đó là phiến đá tự nhiên mỏng, hình lá bồ đề, cao 5m. Cổ
nhân xưa khắc trên đá chữ “A Di Đà Phật”. Ở hàng dọc nay còn rõ chữ “Phật”,
hàng ngang còn rõ bốn chữ “Tứ tự hồng danh” (bốn chữ trên son). Bia Phật là biểu
tượng thiêng liêng của Phật. Đất sinh ra đá, trời dựng bia, người khắc bia để
lưu danh là sự kết hợp hài hòa giữa trời, đất và người tạo thành thắng tích
trên Yên Tử. Gần đó, có một phiến đá rộng phẳng phiu, đó là Bàn cờ tiên.
Xưa kia, có các quân cờ bằng đá, được khắc rất tinh xảo, nay không còn. Tục
truyền rằng, đó là nơi các tiên ông thường xuống đánh cờ, bàn thế cuộc. Nơi đây
cũng là nơi du khách dừng chân chuẩn bị sính lễ để dâng cúng phật tại chùa Đồng.
Điều kỳ lạ làm cho ta sửng sốt khi đặt chân lên sàn đá khổng lồ của vùng chóp
núi ấy là sự hiện diện của một rừng sú lộng nguyên sinh và những khối đá in ngấn
sóng, lác đác trong một số hốc đá có vỏ hà, vỏ sò. Như thế là ở độ cao chóp núi
chon von ta lại gặp hình ảnh của biển cả! Rừng sú lộng chiếm trên 2/3 bề mặt của
sàn đá với diện tích hàng ngàn mét vuông. Sú ở đây cũng giống loại sú mọc
ven bãi biển, nhưng là sú cổ thụ cao chừng 2m gốc to tròn, sụn xuống, ngọn thắt
lại, cong queo, cành sần sùi, lưa thưa vài chiếc lá cứng nhỏ, chim vẹt mỏ đỏ đuôi
xanh từ trong rừng sú bay vút ra kêu cheo chét. Cạnh mép rừng sú dọc theo lối
lên chùa có nhiều khối đá lạ, vuông vức như được ghè đẽo, xếp nối tiếp cạnh
nhau. Ở các khối đá này đều có những đường lõm nông, rộng, nhẵn thẳng tắp và đều
cách mặt trên một quãng bằng nhau, đó là những ngấn sóng. Ngấn sóng trên các khối
đá và rừng sú lộng ở trên chóp núi Yên Tử cho thấy rằng cách đây hàng trăm triệu
năm nơi này còn là mặt bằng ven biển.
Ở độ cao 1068m, điểm dừng chân cuối cùng của Yên Tử là chùa Đồng. Đây
được coi là "đóa sen" trên đỉnh thiêng Yên Tử, nơi chỉ "cách trời
ba thước". Hai bên lối đi, những khóm mẫu đơn đơm đầy hoa trắng, hoa
đỏ, từng đàn bướm rừng to bằng bàn tay mang sắc cầu vồng loang loáng trên cánh,
vờn quanh.
Đại lễ khánh thành Bảo tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông
Chùa Đồng (còn gọi là chùa Thiên Trúc- mang tên đất
nước của Phật Tổ Như Lai) vốn là một ngôi chùa hình trụ nhỏ bằng đồng. Trong
chùa thờ tượng Quan Thế Âm Bồ Tát, chuông và đồ thờ đều bằng đồng, sau thất lạc.
Năm 1930, chùa được đúc lại bằng đồng đặc, nhưng quy mô vẫn nhỏ, sau đó chiến
tranh chống Mỹ khiến cho chùa bị rơi xuống vách núi phía Bắc. Cũng trong thời
gian này, phật tử thập phương công đức xây lại chùa bằng bê tông cốt thép. Năm
2006, ban quản lý Dự án chùa Đồng, bằng công đức của thập phương trong và ngoài
nước đã khởi lễ đúc chùa Đồng. Chùa được khánh thành vào ngày 30/1/2007 tọa lạc
trên đỉnh non thiêng, ở vị trí giữa hai ngôi chùa được xây dựng. Chùa Đồng hiện
nay là một công trình độc đáo nhất Đông Nam Á, trọng lượng 70 tấn, chiều dài
4,6m, chiều rộng 3,6m, cao 3,35m, mỗi viên ngói nặng khoảng 4 kg, 4 cột chùa, mỗi
cột nặng 1 tấn. Chùa mang vóc dáng một đài sen nở. Trong chùa thờ Phật Thích Ca
Mâu Ni và Tam Tổ Trúc Lâm Yên Tử.
Theo nhận thức của con người, chùa Đồng- Yên Tử là nơi con người có
thể cầu viện được “sinh lực của vũ trụ” cho mọi mặt của cuộc đời. Chùa Đồng nơi
mà tín đồ, phật tử đặt niềm tin vào sự linh ứng mỗi lần đến thăm viếng để được
nhập vào nguồn sinh khí vô biên đó. Đến chùa Đồng lễ Phật, uống nước tiên là niềm
ao ước của khách thập phương khi về Yên Tử.
Ngay trước mặt ta là những đám mây trắng bồng bềnh như suối vờn
quanh, hơi nước ngưng lại trên da, tóc thành những giọt sương trong mát lạnh.
Không khí trong lành làm cho du khách cảm thấy tiêu tan mọi mệt nhọc, nhẹ
nhàng, và thanh thản, khó diễn tả được thành lời, sau quãng đường đầy gian nan,
hành bộ tìm đến nơi này. Đứng ở chùa Đồng là đứng trong biển mây, trời thoắt
nắng, thoắt râm, ngọn sú, mái chùa, bia Phật chợt hiện ra lờ mờ, chợt lại biến
mất. Lúc gió ngừng thổi, mây đột ngột buông xuống vây quanh chóp núi trắng xóa.
Lúc trời quang mây, đứng ở chùa Đồng, tầm mắt có thể bao quát cả không gian bao
la hùng vĩ của vùng Đông Bắc Tổ quốc. Phía Đông là vịnh Hạ Long mênh mông với
hàng ngàn đảo đá xúm xít như chuỗi ngọc, phía Đông Nam là Thành phố - cảng Hải
Phòng chạy dài bên bờ sông Cấm, ngày đêm tấp nập tàu thuyền. Phía Nam và Tây
Nam bát ngát những cánh đồng lúa, rau, tiếp mùa thay nhanh áo mới. Phía Bắc là
cánh rừng bạt ngàn, xa xa những ngọn đồi đất nâu sẫm nhấp nhô in trên nền xanh
lam của những rặng núi đá trùng điệp.
Với thời gian trung bình 3 giờ leo núi vất vả mới có thể đến được
chùa Ðồng, đường lên đỉnh Yên Tử là một cuộc thử thách đức tính kiên trì, kiểm
chứng lòng thành tâm với Phật. Lên đỉnh Yên Sơn, ta không phân biệt được đâu là
trời, đâu là đất, đâu là người ở nơi hòa hợp giữa trời đất và người ( thiên, địa,
nhân). Đến đây, du khách được thưởng thức danh lam thắng cảnh, được lễ Phật và
nghe giảng kinh, được thanh thản tâm hồn sau những ngày lao động vất vả. Những
tín đồ của Phật có cảm giác mãn nguyện như đến được cội nguồn cõi Phật. Dường
như nơi đây là chốn đào viên để Tiên, Phật đánh cờ, luận đàm kinh kệ, truyền
cho các bậc hiền triết của trần gian. Ai nấy đều mãn nguyện khi đã tự mình
lên tới đỉnh non thiêng, cái cảm giác người trẻ khỏe ra, già trẻ lại đã ứng vào
tâm từng người. Ca dao xưa có câu:
"Trăm năm tích đức tu hành
Chưa đi Yên Tử, chưa thành quả tu".
4. Hội xuân Yên Tử
Hội xuân Yên Tử là một trong những lễ hội lớn nhất Việt Nam vào mùa
xuân ở nước ta với cả quy mô và thời gian trẩy hội. Lễ hội Yên Tử được tổ chức
trong 3 tháng xuân, bắt đầu từ mùng 10 tháng giêng. Những năm gần đây, Yên
Tử đang thu hút khách hành hương từ khắp mọi miền đất nước và du khách quốc tế.
Không chỉ riêng vào mùa lễ hội, mà trong thời gian suốt cả năm, Yên Tử luôn là
điểm đến lý tưởng của du khách, ngoài là một khu di tích nổi tiếng nơi đây còn
là một vùng sinh thái lý tưởng đối với con người.
Không biết lễ hội Yên Tử được hình thành từ bao giờ, chỉ biết rằng,
từ thế kỷ XVII- XVIII, trên đỉnh Yên Tử, ở độ cao 1.068m đã hiện diện một ngôi
chùa (Thiên Trúc Tự) mái lợp ngói đồng, trong chùa có 2 tượng đồng, cạnh chùa
là một phiến đá lớn bằng phẳng được gọi là “Bàn cờ Tiên” cùng với một chữ “Phật”
lớn khắc vào vách đá...Tất cả đều nói lên sự linh thiêng, huyền bí và sức cuốn
hút kỳ diệu của Yên Tử.
* Các hoạt động văn hóa tâm linh trong năm ở Yên Tử là các ngày:
- Lễ
khai hội Yên Tử mồng mười tháng giêng.
- Lễ Phật
Đản ngày 15/4 âm lịch.
- Giỗ đệ
Nhất Tổ Trúc Lâm ngày mồng 1 tháng 11 (âm lịch).
- Giỗ đệ
Tam Tổ Huyền Quang ngày 23 tháng Giêng.
- Giỗ
Thiền sư Chân Nguyên ngày 28 tháng 10 (âm lịch).
Các ngày lễ, ngày giỗ Tổ hàng năm đều được trung tâm quản lý di
tích lịch sử và danh thắng Yên Tử, Ban Trị sự Phật giáo, các vị chức sắc trụ
trì tại các chùa kết hợp tổ chức, long trọng và trang nghiêm, đón tín đồ Phật tử
từ mọi miền về lễ Phật, lễ Tổ.
Sau phần nghi lễ long trọng dưới chân núi là cuộc hành hương của
hàng vạn người đến với đỉnh cao nhất của Yên Tử- chùa Ðồng. Rải đều trên các
cung bậc của hành trình hội xuân Yên Tử là những cụm kiến trúc chùa, bia, am,
tháp...Lúc náu mình trong rừng cổ nguyên sinh, khi phô bày giữa không gian
thoáng đãng, nhiều lúc ẩn hiện trong mây, huyền ảo như trong chuyện cổ tích, vừa
quyến rũ du khách, vừa khích lệ tinh thần chinh phục. Mỗi bước đi lên, khách
hành hương tự nâng đôi chân của mình nên một tầng cao mới. Phật dạy: “Khắc đi,
khắc đến”; “Hãy thắp đuốc mà đi tìm chân lý”. Đạo Phật đề cao tinh thần tự lực,
đường dẫn tới sự giác ngộ của con người. Ðường lên đỉnh Yên Tử uốn lượn, gập ghềnh,
khó khăn, luồn dưới những bóng cây đại thụ, xuyên qua những vạt rừng thông,
trúc...nhưng đi rồi sẽ đến, khi đến đỉnh Yên Tử du khách có cảm giác như lên tới
cổng trời cưỡi mây nhìn xuống hạ giới. Tất cả gợi lên niềm phấn khích tự hào,
lâng lâng trong niềm vui chiến thắng và chinh phục. Đường lên chùa Đồng rất thực
giữa đời thường và trở thành biểu tượng của con đường tu hành theo Phật đạo.
Mùa xuân năm ngoái, khi chúng tôi lên chùa Đồng thấy có khá nhiều cụ
già tuổi trên 60 mà nếu nhìn qua thì khó nghĩ các cụ có thể lên được đây. Với sự
tò mò, chúng tôi đã bắt chuyện với một số cụ trong đó để tìm hiểu. Nét mặt tươi
cười hết sức mãn nguyện và sung sướng, hai bà cụ nói với chúng tôi rằng: Lúc mới
trèo lên, các cụ cũng không biết mình có thể lên tới nơi hay không, nhưng không
hiểu sao càng đi càng thấy mình dẻo dai như có người nâng bước, và các cụ cho
đó là Phật phù hộ, Phật giúp sức. Sự sung sướng thể hiện trên nét mặt họ thật
khó có lời nào tả hết được. Vấn đề ở đây không phải là phép thần thông biến hoá
gì của tôn giáo, mà là mặt tâm lý của con người khi tiếp xúc với những tín ngưỡng
tôn giáo. Đức Phật Thích Ca từng nói: “Hạnh phúc chính là sự thanh thản của
tâm hồn”. Về với Yên Tử, con người ta cảm nhận được sự thanh thản và giải
toả rất nhiều lo lắng, bức xúc trong cuộc sống. Đó chính là tiềm năng to lớn nhất
mà lễ hội Yên Tử có thể đem lại cho con người hiện đại hôm nay. Đặc biệt, trong
tình hình xã hội hiện đại như bây giờ, con người đang chịu không biết bao áp lực
do cuộc sống đem lại như cường độ công việc, nỗi lo lắng của công ăn việc làm,
ô nhiễm môi trường, những bất trắc của cuộc sống…
Một điểm chú ý khác đó là xu thế du lịch hành hương đang ngày càng
phát triển ở nước ta. Cuộc sống ngày càng phát triển, con người có nhiều điều
kiện kinh tế cho phép đi lại, thăm thú nhiều nơi hơn. Bên cạnh những niềm tin
tôn giáo thì giá trị lịch sử của khu di tích Yên Tử như một bài học lịch sử đối
với tất cả người Việt Nam ở trong nước và nước ngoài. Đến đây, du khách được thấy
tận mắt những bằng chứng sống của một giai đoạn quá khứ oai hùng của dân tộc,
hơn thế là những giai thoại và câu chuyện gắn liền với các hiện vật còn lại ở
đó, như vậy bài học lịch sử càng sâu sắc thêm.
Cơ sở hạ tầng những việc tu bổ di tích cũng đóng góp vào sự tấp nập
của lễ hội Yên Tử. Đó là dự án nâng cấp mở rộng tuyến quốc lộ 18 đã được hoàn
thành. Bãi đỗ xe rộng có thể chứa được vài trăm xe khách cỡ lớn tạo điều kiện
cho du khách đến thăm. Hệ thống cáp treo lên gần Hoa Yên được xây dựng năm 2002
và hệ thống cáp treo tiếp theo mới khánh thành năm 2008, đã giúp những khách
hành hương không có thời gian lưu lại lâu tại lễ hội rất thuận tiện cho việc
thăm viếng. Đặc biệt là sự kiện khánh thành chùa Đồng mới được đúc lại bằng 60
tấn đồng nguyên chất cao 3,35m, rộng 3,6m vào năm 2007 làm cho Phật tử cả nước
vô cùng hân hoan, phấn khởi. Cùng với chùa Đồng, các di tích và thắng cảnh của
quần thể chùa này đang dần dần được tu bổ, tôn tạo ngày một khang trang hơn để
đáp ứng được lòng mong mỏi của du khách. Nhân dịp sự kiện “700 năm ngày giỗ của
Phật hoàng Trần Nhân Tông” (1/11/1308- 1/11/2008) đã cho dựng tượng Trần Nhân
Tông trên đỉnh non thiêng Yên Tử; tôn tạo Chùa Suối Tắm, chùa Bảo Sái; hoàn
thành việc lập dự án phát triển mở rộng Yên Tử trình Chính Phủ phê duyệt.
Môi trường sinh thái Yên Tử còn là tiềm năng làm cho lễ hội này duy
trì và phát triển. Đương nhiên, mỗi lễ hội hay danh lam thắng cảnh đều có tiềm
năng riêng của nó. Song, ở yên Tử quy mô của nó khác hẳn ở chỗ đây không chỉ đẹp
về cảnh quan, mà hấp dẫn bởi mội trường sinh thái với trúc lâm (rừng trúc), với
những rừng thông, những cây tùng cổ thụ xen kẽ trong các di tích tôn giáo…. Tất
cả những cái đó tạo nên sự u tịch, tĩnh lặng và trong lành, vừa thiêng liêng vừa
hoang sơ làm nao lòng các du khách. Cây trúc là một đặc sản lâm nghiệp nổi tiếng
ở Yên Tử, Đệ Tam Tổ Huyền Quang đã có thơ:
“Trúc Lâm đa túc điểu
Quá bán, bạn nhàn tăng”.
Nghĩa là:
“Rừng trúc nhiều chim ngủ
Quá nửa là bạn nhà sư”.
Trúc tự nhiên và trúc trồng dọc đường hành hương lên đỉnh Yên Sơn
mang ý nghĩa tượng trưng cho người quân tử ngay thẳng trung thực. Sự đông đúc
quần tụ của rừng trúc được ví như sự hợp quần của tín đồ, phật tử. Trúc là loại
có nhiều đốt như chiếc thang lên trời trong ước vọng tâm linh. Với đạo Phật, do
lòng rỗng, trúc (tre) tượng trưng cho “tâm không” dẫn phật tử, dẫn người ta về
với bản thể chân như, để thấy “phật tâm”. Rừng tre trúc ở đây có nhiều loài, đặc
biệt là loài trúc hóa long (hóa rồng), chân ngắn, màu vàng đậm, đốt có chỗ
thưa, chỗ mau, gốc trồi lên mặt đất uốn cong lên với bộ rễ dày, xoắn tựa râu rồng,
đó là loài cây quý. Có lẽ vì vậy mà Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đặt tên
cho thiền phái mà Ngài sáng lập. Ngoài ra, cây tùng, đại, bồ đề, sung, đa, mít,
si, cây thuốc nam…cũng là những loài cây quý ở đây. Nguyên Chủ Tịch nước Trần Đức
Lương trong chuyến thăm Yên Tử ngày 17-18 tháng 2 năm 1999 đã nhắc nhở: “Ở Yên
Tử, những cây đại, cây tùng, rừng trúc quý vô giá. Một ngôi chùa lớn chỉ cần
xây vài tháng là xong, còn cây đại, cây tùng cổ thụ thì phải 700 năm mới có…”.Rừng
nguyên sinh Yên Tử kết hợp với nhiều loại cây mang ý nghĩa tôn giáo, được các
thiền sư, các nhà quản lý, tín đồ, phật tử trồng một cách có ý thức tại các điểm
di tích, hòa cùng kiến thức của các chùa, tạo thành một tổng thể, góp phần tôn
vinh vẻ thâm nghiêm, huyền bí của Yên Tử sơn. Đến đây người ta như trút được tất
cả để thả hồn trong rừng cây, con suối… để lấy lại sức lực cho những thách thức
mới đang đợi họ phía trước. Sự thanh thản ấy sẽ là một liều thuốc vô cùng quý
giá. Ấy là chưa kể đến sự hỗ trợ về tâm linh lại càng tăng thêm sự tự tin và sức
mạnh trong mỗi con người.
Những tiềm năng văn hóa khác như các nghi lễ và sinh hoạt văn hoá
cũng đang dần dần được khôi phục và phát triển. Năm 2008, ngày khai hội đã vang
lên tiếng nhạc Long âm cùng tiếng trống khai hội vang vọng khắp núi rừng cùng Lễ
dâng hương, lễ cầu quốc thái dân an, lễ đóng dấu thiêng lưu niệm chùa Đồng. Đặc
biệt hơn nữa, “để tạo thêm sắc thái mới, Ban tổ chức đã mang đến cho du khách một
tiết mục rất đặc sắc, đó là “múa bài bông” - một điệu múa cổ tương truyền có từ
thời Trần, thường được trình diễn tại các đại lễ của triều đình.
Năm nay, hội xuân Yên Tử có nhiều nét mới như: công trình
trùng tu, tôn tạo chùa Suối Tắm đã hoàn thiện. Dự án điện chiếu sáng Yên Tử đã
hoàn thành, chiếu sáng toàn bộ tuyến đường hành hương từ chùa Giải Oan qua các
điểm chùa lên đến chùa Đồng. Ngoài ra, hệ thống cáp treo của Công ty cổ phần
phát triển Tùng Lâm cũng đã được nâng cao công suất và số lượng cabin, đảm bảo
vận chuyển khách an toàn, nhanh, thuận tiện. Theo thống kê của ban tổ chức, từ
ngày mồng 1 tết đến ngày mồng 10 tết Nguyên đán có tới hơn 30 vạn lượt du khách
đã đến với Yên Tử. Du khách đến với chốn linh sơn có nhiều lý do: Có những
người đến Yên Tử để ngưỡng cảm ý chí thông tuệ và đức độ thanh cao của các bậc
cha ông. Có người về Yên Tử để du xuân, vãn cảnh, thưởng ngoạn không khí thanh
bình. Nam nữ thanh niên đi Yên Tử để khám phá, chinh phục. Nhiều Việt kiều về
nước tìm đến Yên Tử đắm mình trong những giá trị nhân văn, tinh hoa dân tộc. Rất
nhiều khách nước ngoài đã biết đến Yên Tử như một điểm hấp dẫn du lịch tôn
giáo, lịch sử, văn hóa và sinh thái. Nhưng khi trở về, tất cả mọi người đều
mang trong mình sự thanh thản của tâm hồn và mong mỏi về một điều linh thiêng
mà mình nguyện cầu trên Yên Tử sơn sẽ thành hiện thực.
YÊN TỬ - NƠI SÁNG NGHIỆP CỦA DÒNG
THIỀN PHÁI TRÚC LÂM
Tam tổ Trúc Lâm Yên Tử
1. Đệ Nhất Tổ Điều Ngự Giác Hoàng
Trần Nhân Tông (1258- 1308).
Trần Nhân Tông là vị vua anh minh, nhà lãnh đạo kinh luân, nhà ngoại
giao tài ba, thiền sư lỗi lạc, nhà văn hóa uyên bác và nhà thơ xuất sắc của dân
tộc. Ở bình diện nào, người ta cũng phát hiện những điều thú vị, kì lạ ở danh
nhân kiệt xuất này. Nói như nhà nghiên cứu văn học Trần Thị Băng Thanh, Trần
Nhân Tông “là một con người đa dạng. Trong ông có bản lĩnh quả quyết, vững
vàng của một người làm tướng, có cái sắc bén, bình tĩnh, ung dung của một nhà
chính trị, ngoại giao, có sự sâu sắc thâm trầm của một nhà thiền học và quán
xuyến tất cả là lòng nhân ái, hồn hậu, yêu nước nồng nàn… của con người Việt
Nam cùng với một tâm hồn thơ giàu cảm xúc, tinh tế”.
Trần Nhân Tông là con vua Trần Thánh Tông, cháu vua Trần Thái Tông,
là đời vua thứ ba của vương triều Trần, tên húy là Trần Khâm, sinh ngày 11
tháng 11 năm Mậu Ngọ ( 1258). Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” chép về
Ngài: "... được tinh anh thánh nhân, thuần túy đạo mạo, sắc thái như
vàng, thế chất hoàn hảo, thần khí tươi sáng...” .Thân sắc Ngài vàng
ánh, tựa hoàng kim, nên vua cha gọi là “Kim phật”. Lớn lên, năm 16 tuổi
(1274), Ngài được lập làm Đông cung Thái tử và cùng năm Ngài kết duyên cùng
công chúa Quyên Thánh, trưởng nữ Hưng Đạo Đại Vương. Vua Trần Thánh Tông
đã mời các bậc lão thông Nho giáo, Tứ thư, Ngũ kinh để dạy cho Ngài như Lê Phụ
Trần, Nguyễn Thánh Huấn, Nguyễn Sĩ Cố v.v… tất cả đều hết lòng dạy dỗ. Chính
vua cha cũng đã soạn “Di hậu lục” để dạy dỗ cho Thái tử cách xử thế, chuẩn bị nối
nghiệp sau này. Ngài: “Học thông tam giáo và hiểu sâu Phật điển, ngay cả
thiên văn, lý số, binh pháp, y thuật, âm luật, không thứ gì mà không mau chóng
nắm được sâu sắc. Những khi nhàn rỗi, Ngài mời các Thiền khách bàn giải về
Tâm tông (thiền) tham học thiền với Thượng Sĩ Tuệ Trung, thâm đắc đến chỗ “Thiền
tủy”. Đối với Thượng Sĩ, Ngài kính lễ làm thầy. Ngài thường tới lui chùa
Tư Phúc trong kinh thành để tụng kinh, tọa thiền, lễ bái Tam bảo.
Năm 1279, tròn 21 tuổi, Ngài được vua cha truyền ngôi, lấy hiệu là
Nhân Tông. “Vua nhân từ, hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng
sáng ngời thuở trước thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song, để tâm nơi kinh
Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh
nhân" (Đại Việt sử ký toàn thư). Dưới sự trị vì của Ngài, triều
Trần tiếp tục hưng thịnh. Ngài chủ trương dùng “đức trị”, dùng “tâm”, đoàn kết
toàn dân, quy tụ lòng người. Bản thân Ngài là tấm gương sáng về nhân hiếu, tôn
người hiền, trọng kẻ sỹ. Thấm nhuần giáo lý Phật từ nhỏ, lại được Tuệ Trung Thượng
Sỹ dạy dỗ nên khi làm thái tử, làm vua, lúc cầm gươm, cầm bút, ở cương vị nào
Ngài cũng mang phong cách của Thiền gia.
Trước thảm họa ngoại xâm, quân Nguyên- Mông chuẩn bị xâm chiếm nước
Nam (1258- 1288), năm 1282, Trần Nhân Tông chủ trì Hội nghị
Bình Than để lấy ý kiến toàn dân trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Năm
1284, trước khi cuộc chiến tranh diễn ra, Ngài tiếp tục chủ trì Hội nghị Diên Hồng,
lấy ý kiến các vị Bô lão, những người đứng đầu các Bộ lạc. Toàn thể hội nghị
già trẻ, gái trai đều một lòng tung hô quyết chiến. Cùng Hưng Đạo Vương Trần
Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông đã lãnh đạo quân dân đánh bại
quân giặc. Ngài là ngọn cờ tiêu biểu của dân tộc, "cố kết nhân
tâm", lãnh đạo quân dân cả nước vượt qua mọi gian khổ hy sinh làm nên chiến
thắng huy hoàng. Vào giai đoạn đầu cuộc kháng chiến năm 1285, khi quân giặc ồ ạt
tiến công, Trần Nhân Tông đã viết lên đuôi thuyền chiến hai câu thơ đầy hào khí
và lòng tin vào sức mạnh tiềm tàng của quân dân ta sẽ làm nên chiến thắng:
"Cối Kê cựu sự quân tu ký
Hoan Diễn do tồn thập vạn binh"
Dịch:
"Cối Kê chuyện cũ người nên nhớ
Hoan Diễn còn kia chục vạn quân”.
Hai câu thơ đó, đã đi vào lịch sử như một giá trị bất diệt
trong sự nghiệp đánh giặc Nguyên Mông. Sự nghiệp hiển hách nhất của Trần
Nhân Tông cũng đồng thời là sự nghiệp hiển hách nhất của lịch sử Việt Nam trung
đại, đúng như ngài đã viết trong ngày làm lễ hiến tiệp trước lăng mộ của ông nội
Trần Thái Tông:
“Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã
Sơn hà thiên cổ điện kim âu.”
Dịch là:
“Xã tắc hai phen chồn ngựa đá
Non sông nghìn thủa vững âu vàng.”
Sau khi làm vua 14 năm, năm 1293, Trần Nhân Tông nhường ngôi
cho con là Trần Anh Tông để có thì giờ tu học. Sau đó, Ngài lùi về phủ
Thiên Trường (Nam Định) chuyên tâm nghiên cứu kinh sách Phật. Tuy
nhiên, vua chưa xuất gia liền, vì muốn có một thời gian đứng sau lưng con,
để tập sự cho khá giỏi, vững chãi thì mình mới đi tu. Đồng thời cũng để giúp
vua có nhiều thì giờ và điều kiện để học tập kinh điển, để tham vấn với các vị
thiện đức và để tu tập ngay ở trong trụ sở của vua.
Sử có chép: Một hôm từ phủ Thiên Trường tới, Thượng Hoàng Nhân Tông
không thấy vua Anh Tông ở đâu cả. Đi tìm cung này sang cung khác cũng không thấy
nhà vua trẻ đâu hết. Hỏi các cung nữ, các cung nữ nói rằng Hoàng Thượng đang ngủ
ở trong Tẩm Điện, vì hồi trưa uống rượu nhiều quá! Vua uống loại rượu rất thơm,
rất ngon gọi là rượu Xương Bồ.
Thượng Hoàng không bằng lòng, ngài trở về chỗ tu học của mình và ra
lệnh cho các quan trong triều đến đó để bàn bạc và hội nghị với ngài.
Lúc vua Anh Tông thức dậy, hỏi thăm và biết rằng Thượng Hoàng có tới
thăm, tìm mình không ra, đã không bằng lòng, bỏ về cung Thiên Trường, và triệu
tập các quan vào đó để hội nghị, cho nên vua rất sợ! Mình làm vua, mình say rượu
nằm ngủ cho đến đỗi Thượng Hoàng tới thăm mà mình không có mặt để tiếp đón. Đó
là một cái lỗi rất lớn!
Vua Anh Tông không biết làm sao, các quan thì đi hết rồi! Đi quanh
đi quẩn, đi qua chùa Thiên Quốc thì gặp một anh chàng thư sinh đang ngồi đọc
sách ở trước sân chùa. Anh chàng đó tên là Đoàn Nhử Hài. Nhà vua mới nói rằng:
“Này khanh, khanh ngồi xuống viết cho trẫm một cái thơ sám hối, một tờ biểu
tạ tội với Thượng Hoàng”.
Rồi hai vua tôi ngồi đó, vua nói ý, còn anh chàng sinh viên Đoàn Nhử
Hài viết xuống một tờ biểu để tạ tội. Xong, hai người lấy thuyền chèo về phủ
Thiên Trường. Hai người vào sân phủ, vua quỳ trước sân và đội tờ biểu để dâng
lên, anh chàng sinh viên quỳ phía sau lưng. Lúc đó trời mưa. Ở trong cung nhìn
ra mọi người đều thấy.
Để vua quỳ như vậy một lúc thì Thượng Hoàng mới ra lệnh cho vào. Đọc
xong tờ biểu tạ tội thì Thượng Hoàng mới quở rằng: “Ta đang còn sống mà
con còn làm như vậy huống hồ sau này ta chết thì con sẽ làm như thế nào nữa!”. Ngài
chỉ la một câu rồi sau đó thì tha tội cho vua.
Từ giây phút đó về sau, vua Anh Tông không uống một giọt rượu nào nữa.
Không những rượu Xương Bồ mà bất cứ rượu nào cũng không uống một giọt! Ngài đã
học được một bài học rất đích đáng.
Trong thời gian này, Thượng Hoàng Trần Nhân Tông vẫn phải lo việc
“quốc gia đại sự”. Ngài thân chinh cầm quân chống Ai Lao, dẹp yên biên giới
phía Tây Nam Đại Việt (1294), tiếp sứ bộ nhà Nguyên do Nguyên Thánh Tông cử
sang thông báo về việc bãi binh (1295). Cũng vào năm đó, Ngài tập xuất gia ở
hành cung Vũ Lâm (Ninh Bình) 4 năm. Tháng 10 năm 1299, xét thấy Anh Tông có đủ
tài đủ sức đảm đang nổi việc nước, Ngài chính thức xuất gia.
Ảnh Bảo tượng Phật hoàng Trần Nhân Tông tại Yên Tử
Theo gương các thiền sư: Hiện Quang, Đao Viên, Đại Đăng, Tiêu Dao,
Huệ Tuệ đã từng tu hành, đắc đạo tại Yên Tử, Ngài về Yên Tử tu hành, lấy pháp
danh Hương Vân Đại Đầu Đà, đạo hiệu là Trúc Lâm Đại Sỹ, mặc áo nâu, đi hài cỏ,
dựng am tranh để đọc sách Phật, tọa thiền. Người đời gọi Ngài là Điều Giác Ngự
Hoàng (vua giác ngộ đạo Phật). Nói về mục đích xuất gia lên núi Yên Tử đi
tu của Trần Nhân Tông, trong sách “Trúc Lâm tông chỉ nguyên hanh” của
danh sĩ Ngô Thì Nhậm (1746-1802) đã luận giải rất xác đáng: "Mọi người
thấy Đức Điều Ngự (tức Trần Nhân Tông) là tổ thứ nhất khi ra ở chùa Yên Hoa thì
cho ngay là Ngài xuất gia. Nhưng có biết đâu, đương lúc bấy giờ, Đức tổ biết lấy
thiên hạ làm chung, gặp buổi nước nhà yên ổn song nước láng giềng ở ngay bên cạnh
rất mạnh nên chưa được yên tâm, mà việc đó không thể nói ra, sợ lòng người dao
động. Nhân thấy Yên Tử là ngọn núi cao phía đông nhòm mặt được tính Yên, tỉnh
Quảng, phía bắc có thể trông tới Lạng Sơn, Lạng Giang, nên mới dựng tu viện,
thường qua lại xem động tĩnh, khiến quân giặc ở ngoài không thể gây những việc
đáng lo ngại. Đó mới thật là vô lượng, lực đại thế chí Bồ Tát..."
Từ khi xuất gia về Yên Tử, Ngài tập trung lo việc đạo, xây dựng
hàng trăm công trình lớn nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh,
giảng đạo, và đi khắp nơi giảng giải cho chúng sinh hiểu và làm theo “thập
thiện”.
Ngài mở pháp hội vô lượng ở chùa Phổ Minh (Nam Định), mở hội thuyết
giảng ở Sùng Nghiêm, Kỳ Lân Viện (Chí Linh- Hải Dương), Quỳnh Lâm (Đông Triều-
Quảng Ninh), Báo Ân (Gia Lâm- Hà Nội), Vĩnh Nghiêm (Bắc Giang) và chủ yếu tại
Yên Tử. Ngài bố thí chẩn cấp cho người nghèo, thuyết giảng giúp dân khai mở tâm
tính. Ngài khuyên phật tử có thể giác ngộ ngay trong đời sống thường ngày,
không nhất thiết phải tìm lên núi mới mộ đạo. Trong “Khóa hư lục”, Ngài
nói rất rõ về quan điểm nhân sinh “tâm” và “đạo”. Chỉ cần đọc thơ của Điều Ngự
Giác Hoàng Trần Nhân Tông là hiểu ngay, đạo Phật không ảo mà thiết thực đến mức
“cư trần lạc đạo”- sống giữa đời vẫn thành Phật.
Là người anh hùng, là triết gia, Trần Nhân Tông còn là một thi sĩ
có tâm hồn rộng lớn, phóng khoáng và có cái nhìn tinh tế, thanh tao. Thơ trần
Nhân Tông phảng phất phong vị Thiền, gợi mở cho người đọc thấy thế giới tinh thần
cao khiết. Ngài chủ trương dùng chữ Nôm thay thế chữ Hán thể hiện tinh thần
dân tộc của nền văn hóa Đại Việt. Trần Nhân Tông là tác giả của những sáng tác
như: “Thiền Lâm thiết chủy ngữ lục”, “Trúc Lâm hậu lục”, “Thạch Thất mị ngữ”,
“Tăng già toái sự”, “Thượng sỹ hành trang”, “Đắc thú lâm tuyền thành đạo ca”,
“Cư trần lạc đạo phú”. Trong bài “Sơn phòng mạn hứng” tức “Tức khởi hứng
nơi phòng trên núi”, Ngài viết:
“Thị phi niệm trục triệu hoa lạc
Danh lợi tâm tuy dạ vũ hàn
Hoa tận vũ tình sơn tịch tịch
Nhất thành đề điểu hựu xuân tàn.”
Dịch nghĩa:
“Phải
quấy niệm rơi theo hoa sớm
Lợi
danh tâm lạnh với mưa đêm
Hoa sạch, mưa dừng non vắng lặng
Chim kêu một tiếng lại xuân tàn.”
Với Đại Đầu Đà Trúc Lâm, sau khi xuất gia, Ngài hứng khởi trước cảnh
lặng lẽ, im vắng, tình đời khó đến được. Tâm lợi danh nay cũng đã lạnh đi cùng
với trận mưa đêm, hết còn nóng bỏng, khởi động. Và cuối cùng thì hoa rơi sạch,
mưa dừng tạnh, chỉ còn lại một cảnh núi non vắng lặng, tình đời khó đến được.
Chợt một tiếng chim kêu vang lên, và mùa xuân đã tàn. Trong cảnh lặng lẽ im vắng
đó, một tiếng chim bỗng kêu vang lên, ai nghe được “tiếng kêu ấy”? Hay là cũng
tầm thường tàn theo mùa xuân kia? Đó là chỗ niệm phải quấy, tâm lợi danh đều dứt
bặt.
Mùa xuân năm 1308, tại chùa Siêu Loại, Ngài long trọng tổ chức truyền
đăng trao y bát cho Thiền sư Pháp Loa.
Chuyện kể rằng, trước khi hóa Phật, Trần Nhân Tông cho gọi đệ tử Bảo
Sái lên am Ngọa Vân. Bảo Sái ở dưới liền trông thấy một đám mây đen từ am Ngọa
Vân bay ngang núi, đến ngang suối thì nước dâng cao mấy trượng, rồi lại phẳng lặng
như thường. Rồi lại có con rồng, đầu to, cũng nhảy bổ cao đến một trượng, hai mắt
sáng như sao một chốc rồi biến mất. Trời đất bỗng tối om, mưa gió dữ dội, khỉ
vượn chạy quanh am, chim chóc kêu thê thảm. Vua hỏi Bảo Sái: “Giờ này là
giờ gì?”. Bảo Sái thưa: “Bây giờ là giờ Tý”. Vua đẩy cánh cửa sổ
mà nói: “Đây là giờ của Phật”. Nói xong, vua liền nằm như sư tử ngủ
thiếp đi. Nhất Tổ Trúc Lâm Yên Tử Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông hiển Phật
vào giờ Tý ngày 1/11 năm Mậu Thân (1308) tại am Ngọa Vân (An Sinh- Đông Triều-
Quảng Ninh.)
Trần Nhân Tông- một vị vua Đại Việt có khả năng ứng dụng trí tuệ của
đức Phật để hoàn thành sứ mệnh của một vị thánh vương trong lúc làm vua; hoàn
thành sứ mệnh của bậc chuyển pháp luân trong thời kỳ xuất gia và đã biết cái gọi
là chết để trở thành vô lượng quang, vô lượng thọ, mãi mãi xuất hiện mọi nơi để
hô trì cho thế giới cần đến ánh sáng của chư Phật, ánh sáng đạo đức và trí tuệ.
Ngài là tấm gương sáng ứng dụng trí tuệ Phật mà tất cả những người có động cơ
làm người đứng đắn đều phải suy nghĩ học theo, nhất là các phật tử.
Xét từ nhiều góc độ, Trần Nhân Tông là một nhân vật lịch sử vĩ đại.
Do vậy, việc một lần nữa đánh giá về Ngài trên các phương diện lãnh tụ đất nước,
anh hùng dân tộc, Phật hoàng, nhà cải cách tôn giáo hay nhà triết học… là không
hề đơn giản. Dưới mỗi một lăng kính, Trần Nhân Tông hiện ra với một uy thế khiến
chúng ta khâm phục. Nhưng, cái đáng quý là ở chỗ, tất cả những tư thế đó, giá
trị đó, thành tựu đó lại được tựu trung vào một con người - Phật hoàng Trần
Nhân Tông.
“Giáo hội Trúc Lâm- Vua giáo chủ
Thịnh cường Đại Việt- sáng trời Nam
Yên Tử linh sơn thành đất Phật
Nhất Tổ Trúc Lâm hóa mây vàng.”
(Vua
giáo chủ- Hoàng Quang Thuận)
2. Đệ Nhị Tổ Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330)
Đệ Nhị Tổ thế danh là Đồng Kiên Cương, sinh ngày 7/5 năm Thiệu Bảo
thứ 6 (1284), người thôn Đồng Hóa hương Cửu La (nay là xã Ái Quốc, huyện Nam
Sách, tỉnh Hải Dương). Thân phụ là Đồng Thuần Mậu, thân mẫu là Vũ Thị Sinh.
Chuyện kể rằng, sau 8 lần sinh đều là gái, nên gia đình bà rất mong
có cậu con trai để nối dõi tông đường. Một đêm, bà nằm mơ thấy di nhân trao cho
thanh kiếm báu, bà vui vẻ nhận, ôm vào lòng rồi về mang thai. Vì lại lo sinh
con gái, bà tìm mọi cách, mọi phương thuốc để trục thai, song thai nhi vẫn
không hề suy chuyển. Để ghi lại bản lĩnh kiên cường của con ngay từ khi còn nằm
trong bụng mẹ, ông bà đặt tên con là Đồng Kiên Cương.
Khi Ngài sinh, hương thơm tỏa đầy nhà hàng tháng trời không hết.
Ngài thông minh xuất chúng, từ nhỏ đã thích theo mẹ lên chùa nghe giảng kinh kệ
và thắp hương lễ Phật.
Năm 1299, Điều Ngự Giác Hoàng từ hành cung Vũ Lâm về Yên Tử , trên
đường gặp Đồng Kiên Cương, Đồng Kiên Cương quỳ lạy xin theo làm thị giả. Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông tổ chức giới đàn thụ giới tỳ kheo cho Thiên Lai
và ban hiệu là Thiên Lai.
Năm Hưng Long thứ 13 (1305), Điều Ngự Giác Hoàng làm chủ lễ, tổ chức
giới đàn thụ giới tỳ kheo cho Thiên Lai và ban hiệu là Pháp Loa. Kể từ ngày đó,
Thiền Sư Pháp Loa được gần gũi Đệ Nhất Tổ, có điều kiện học đạo, rèn tâm.
Huyền Quang được Trần Nhân Tông rất yêu mến, cho ở luôn bên mình để
kèm cặp và giao cho soạn một số sách về Phật học như “Chư phẩm kinh”, “Công
văn tập”, “Thích khoa giáo”, “Thạch thất mị ngữ”. Trần Nhân Tông
từng thốt lên khen: "Phàm các sách đã qua tay Huyền Quang biên soạn
thì không thể thêm hay bớt chữ nào". Dưới sự đào tạo của Trần Nhân
Tông, Huyền Quang trở thành một trí thức uyên bác của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử,
chứng nhập sâu xa đạo pháp và là một bậc thầy tâm huyết trong giảng dạy Thiền học,
có hàng ngàn môn sinh.
Năm 1306, Ngài được Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông lập làm giảng
sư ở chùa Siêu Loại để đào tạo tăng tài.
Ngày 1 tháng Giêng năm 1308, tại chùa Siêu Loại, trước sự chứng kiến
của vua Trần Anh Tông cùng đông đảo triều thần, tăng sỹ và Phật Tử, Đệ Nhất Tổ
Trần Nhân Tông lập lễ đàn trang trọng truyền đăng cho Thiền sư Pháp Loa. Từ
đây, Thiền sư Pháp Loa trở thành Đệ Nhị Tổ Thiền Phái Trúc Lâm Yên Tử, về trụ
trì chùa Báo Ân để lo công việc.
Sau khi Đệ Nhất Tổ Trúc Lâm hiển Phật, Ngài trở thành giáo chủ Phật
giáo Đại Việt- khi vừa bước sáng tuổi 24. Ngài về Yên Tử xây chùa Vân Yên ( Hoa
Yên), chùa Long Động (chùa Lân)…
Năm 1309, Ngài cùng môn nhân xây bảo tháp để quàn xá lợi của Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông trong lăng Quy Đức, trước chùa Hoa Yên.
Trong 19 năm tu hành, Ngài đã cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp
lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa
nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều Côn Sơn, Thanh
Mai, Hồ Thiên... Pháp Loa là người có công lớn trong việc quảng bá giáo lý
của Thiền phái Trúc Lâm. Thời ngài làm giáo chủ, Thiền phái Trúc Lâm phát triển
rộng khắp và cực thịnh nhất.
Tháng 2 năm Khai Hựu thứ 2 (1330) tại tăng viện Quỳnh Lâm( Đông Triều)
trước sự chứng kiến của Thượng Hoàng Trần Minh Tông cùng các quần thần và đông
đảo chúng tăng, Ngài phong cử Huyền Quang Tôn Giả làm Tổ truyền đăng kế tiếp của
Thiền Phái Trúc Lâm.
Pháp Loa Đồng Kiên Cương viên tịch vào đêm mồng 1 tháng 3 năm 1330.
Thể theo di chúc của Ngài, các đệ tử an táng Ngài trong bảo tháp Viên Thông
chùa Thanh Mai (Chí Linh- Hải Dương).
Ngày nay, hầu hết các chùa tại Yên Tử đều tạc tượng thờ Ngài bên
trái tượng thờ Đệ Nhất Tổ Trần Nhân Tông. Từ khi làm giáo chủ, Ngài đã tập
trung bổ sung hoàn thiện giáo lý, giới luật của Thiền phái Trúc Lâm, biên soạn
hàng loạt sách kinh điển như: “Kim cương đạo trường”, “Bát nhã tâm kinh”, “Tán
pháp khoa kinh khóa sớ”,” Phát nguyên văn”…
Sau 46 năm tại thế, di bút cuối cùng để lại cho hậu thế của Ngài
là:
“Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhân
Tứ thập dư niên mộng ảo gian
Trân trọng chủ nhân lưu tá vấn
Ma biên phong nguyệt cánh mai khoan.”
Dịch:
“Muôn duyên cắt bỏ được thân nhàn
Hơn bốn chục năm mộng ảo gian
Nhắn nhủ mọi người đừng viếng hỏi
Bên này trăng gió cũng mênh mang.”
3. Đệ Tam Tổ Huyền Quang Tôn Giả Lý Đạo Tái (1254-1334).
Đệ Tam Tổ thế danh là Lý Đạo Tái, sinh năm Giáp Dần (1254) ở làng Vạn
Tỵ huyện Gia Định lộ Bắc Giang ( nay là thôn Vạn Tỵ, xã Cao Đức Tỵ, huyện Lương
Tài, tỉnh Bắc Ninh).
Thân phụ là Tuệ Tổ thuộc dòng dõi quan liêu, bản thân Ngài không
thích công danh, chỉ ưa ngao du sơn thủy. Thân mẫu họ Lê, là người có tiếng
nhân đức.
Chuyện xưa kể rằng, nhà sư chùa Ngọc Hoàng gần đó nằm mộng thấy
trên chùa đèn đuốc sáng rực rỡ, chư Phật tụ hội. Phật chỉ Tôn Giả A Nan bảo: “Người
thác minh pháp khí cõi Đông”. Đến đây, chợt có người gõ cửa, nhà sư tỉnh giấc
liền làm bài kệ:
“Người mà vì đạo chớ tìm đâu
Phật vốn tâm mình, tâm Phật sâu
Mộng thấy điều lành là ảnh hưởng
Thủa nhỏ, Ngài có dung nhan kỳ dị, khác người, sớm bộc lộ tư chất
thông minh, hiếu học, kim cổ đều thông tuệ. Hai mươi tuổi đỗ đầu kỳ thi hương;
thi đỗ Trạng Nguyên năm 21 tuổi. Khi sứ thần phương Bắc sang, tất cả các văn từ
qua lại triều Trần đều giao cho Ngài soạn thảo. Ngài làm quan triều Trần khoảng
30 năm, vua Trần định đem công chúa Liễu Nữ- cháu của An Sinh Vương gả cho
nhưng Ngài một mực từ chối. Năm 1305, nhân theo vua đến huyện Phượng Nhỡn nghe
Pháp Loa giảng kinh tại chùa Vĩnh Nghiêm, khi trở về ngài xin xuất gia, được
vua Trần ưng chuẩn.
Ngài xuất gia thụ giới tại Vĩnh Nghiêm, theo làm thị giả Điều Ngự
Giác Hoàng Trần Nhân Tông, pháp hiệu là Huyền Quang.
Năm 1330, được Đệ Nhị Tổ Trúc Lâm Pháp Loa Đồng Kiên Cương truyền
đăng, Ngài trở thành Tổ thứ ba ( Đệ Tam Tổ) của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử và
là giáo chủ của Tăng đoàn Trúc Lâm khi ở tuổi 77. Ngoài việc tổ chức lãnh đạo
Tăng đoàn, Ngài nghiên cứu xây dựng phép Thiền Hoa ( ngồi thiền bên hoa) được
thê hiện qua các bài kệ. Phép Thiền Hoa là dùng tâm thanh để thưởng thức hoa đến
mức hóa đạo. Sau này, người Nhật đã phát triển phép Thiền Hoa của Ngài thành
môn Hoa Đạo để dùng cho thiền năng chữa bệnh (ngồi thiền bên hoa để thưởng thức
tinh hương của từng thời khắc dẫn vào đan điền và chuyển đi các đường kinh lạc
trong cơ thể).
Huyền Quang Tôn Giả là một Nho gia uyên bác đồng thời cũng là một
thi nhân với thi phẩm: “Ngọc liên tập” và các bài thơ chép trong các
thi tập. Lịch sử văn học Việt Nam cũng ghi nhận Huyền Quang là một nhà thơ
lớn thời Trần, để lại cho đời những bài thơ câu thơ đẹp vào bậc nhất thơ ca Việt
Nam xưa. Trong đó có bài phú “Vịnh chùa Hoa Yên” bất hủ, viết về vùng
phúc địa Yên Tử. Thơ của Ngài rất tình tứ, thường phản ánh những vẻ đẹp đặc
sắc, thanh tân, mang sức sống trẻ trung, tươi mát. Cảnh trong thơ thực mà tĩnh
nhưng luôn mang những nét truyền thống.
“Dục hướng thương thương vấn sở tầng
Lẫn nhiên cô tri tuyết sơn trung
Chiết lai bất vị giả thanh nhàn
Nguyên tá xuân tư ủy bệnh ông.”
Dịch:
“Muốn hỏi trời xanh hoa từ đâu?
Một mình gội tuyết chốn non sâu
Bẻ về nào muốn lừa tri kỷ
Mượn vẻ xuân tươi giải bệnh sầu.”
Ngài viên tịch ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất (1334) tại Côn
Sơn sau 81 năm tại thế.
4. Đôi điều về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Từ khi giành lại được độc lập sau nghìn năm Bắc thuộc, đất Việt ta
từ triều Đinh đến Tiền Lê đều rất coi trọng Phật giáo, đặc biệt là triều Lý và
Trần đều lấy Phật giáo làm quốc giáo, tạo nên cục diện “vua và sư cùng trị
thiên hạ” (đế dữ tăng cộng thiên hạ). Song, các tông phái Phật giáo ở thời
kỳ này đều được sáng lập bởi người nước ngoài, như Tì Ni Đa Lưu Chi (? - 594)
là người Nam Thiên Trúc (Ấn Độ), sáng lập thiền phái “Tì Ni Đa Lưu Chi”; Vô
Ngôn Thông (759? - 826), nhà sư đời Đường Trung Quốc, thành lập phái thiền “Vô
Ngôn Thông”; Thảo Đường, cũng là nhà sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông,
thành lập ra phái “Thảo Đường”. Việc ra đời Thiền phái Trúc
Lâm đã kết thúc thời kỳ các tông phái Phật giáo Việt Nam do người nước
ngoài sáng lập, chứng minh Phật giáo đã thực sự bắt rễ tại Việt Nam, thực sự được
người Việt đương thời tiếp thu và phát triển. Trải qua sự chuẩn bị từ Trần
Thái Tông, Trần Thánh Tông phải đến Trần Nhân Tông mới hội đủ điều kiện để định
hình Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử nội sinh trong nền văn hóa và Phật giáo dân tộc, hoàn
tất quá trình Việt Nam hóa Phật giáo.
Phật giáo là giáo lý giác ngộ chân thật, đó là một lẽ thật bình đẳng
không phân chia ranh giới: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính.” Song Phật giáo
truyền vào mỗi nước, thì mỗi nước có tính dân tộc riêng, có ngôn ngữ, có nếp
sinh hoạt, nếp suy nghĩ theo cá tính dân tộc, do đó Phật giáo cũng phải hòa nhập
vào mỗi dân tộc để có được sự tiếp thu dễ dàng thích ứng. Chính vì vậy nên mới
có Phật Giáo Việt Nam, Phật Giáo Ấn Độ, Phật Giáo Trung Hoa…Vậy đã gọi là Phật
Giáo Việt Nam thì nó phải có những nét gì đặc sắc của Việt Nam khiến người nhìn
vào, đánh giá được đó là Phật Giáo Việt Nam. Ðặt trong tương quan giữa Phật
giáo và văn hóa dân tộc, dòng Thiền Trúc Lâm Yên Tử có một vị trí đặc biệt. Thiền
phái Trúc Lâm Yên Tử quả thực đã làm nổi bật lên những nét chấm phá của Phật
Giáo Việt Nam. Nguyễn Lang, trong “Việt Nam Phật Giáo Sử Luận” đã viết: “Phật
Giáo Trúc Lâm là một nền Phật Giáo độc lập, uy tín tinh thần của nó là uy tín
tinh thần quốc gia Đại Việt. Nó là xương sống của một nền văn hóa Việt Nam độc lập.
Nền Phật giáo này tuy có tiếp nhận những ảnh hưởng của Phật giáo Trung Hoa, Ấn
Độ và Tây Tạng nhưng vẫn giữ cá tính đặc biệt của mình.”
Cách đây hơn 700 năm, Trần Nhân Tông đã xây dựng nên dòng thiền
Trúc Lâm bằng cả một hệ thống lý thuyết và hành động gắn đạo với đời. Với việc
học tập, lĩnh hội những tinh hoa của các bâc cao tăng đi trước, vua Trần Nhân
Tông đã sáng lập nên Thiền phái Trúc Lâm. Đó là nơi hội nhập của ba dòng Thiền:
Vô Ngôn Thông; Tỳ Ni Đa Lưu Chi; Thảo Đường. Tuy nhiên, cần phải chú ý rằng:
đến thời đại của Trần Nhân Tông, sau hơn mười thế kỷ phát triển ở Việt Nam, Phật
giáo đã thấm nhuần vào trong đời sống xã hội cũng như sinh hoạt lý luận đương
thời. Tư tưởng thiền học của Trần Nhân Tông không phải xuất phát trực tiếp từ
thiền học Trung Quốc, mà gốc là từ các dòng thiền được nảy sinh tại Việt Nam và
được nuôi dưỡng bởi các thiền sư Việt Nam. Nói cách khác, Trần Nhân Tông
đã tập hợp thành tư tưởng thiền học của một số thiền sư Việt Nam trước đó, sáng
tạo nên Thiền phái Trúc Lâm. Ngài được coi là vị Sư Tổ thứ nhất của Phật
phái Trúc Lâm mang Phật danh Ðiều Ngự Giác Hoàng. Kế tục sự nghiệp của Ngài là
Sư Tổ Pháp Loa và Huyền Quang Tôn Giả. Cả ba vị được gọi chung là Trúc Lâm Tam
Tổ. Từ đó, Yên Tử trở thành kinh đô tư tưởng của Phật phái Trúc Lâm, đánh dấu sự
phát triển triết học và tư tưởng của dân tộc Việt Nam trong các thế kỷ XII-
XIV.
“Thiền”- tiếng Trung Hoa dịch âm là “Thiền – Na”, đó là chiêm nghiệm
trong tĩnh lặng. Thiền định là phương pháp tu bao gồm cả định và “tuệ”, nghĩa
là tập trung suy nghĩ. Thiền Trúc Lâm Yên Tử thuộc phái Thiền Tông. Câu niệm
chú hàng ngày là “Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật”. Tu thiền là phương pháp
tập trung trí não để suy nghĩ, chiêm ngẫm trong tĩnh lặng để tìm ra chân lý.
Thiền phái Trúc Lâm không thần thánh hóa Phật Tổ như một đấng cứu
thế, không cầu xin ban phước lộc, danh vọng. Coi đức Phật là người thầy tối cao
dẫn đường chúng sinh thoát khỏi cảnh vô minh, lầm lạc. Không phải đến lúc chết
mới về Tây Phương cực lạc mà ngay từ khi đang sống phải lo xây dựng cõi Tây
Phương tại thế gian này.
“Tịnh độ là lòng trong sạch, chớ còn ngờ hỏi đến Tây phương
Di Đà là tính sáng soi, mựa phải nhọc tìm về Cực lạc”
(Cư
trần lạc đạo- Hội thứ năm)
Thiền Trúc Lâm Yên Tử hướng phật tử vào việc tu dưỡng “tâm” minh
sáng suốt, thanh tịnh, giác ngộ được chữ “Tâm” là thành Phật. Lấy tông chỉ Thiền
Tông: “Trực Chỉ Nhân Tâm, Kiến Tính Thành Phật” (Chỉ thẳng tâm người, thấy
tính thành Phật). Không quan tâm tới tiền bạc, không yêu cầu phật tử phải
bỏ ra tiền cầu phúc, tài lộc mà khuyên con người luôn phải hướng thiện bằng nhiều
việc làm tốt đẹp. Người ta thường nói: “Ở đâu mà người ta trọng hình
thức, lễ nghi hoành tráng, ồn ào đại ngôn thì cái nội dung có giá trị đích thực
sẽ len lén cắp nón ra đi...". “Phật tại Tâm” đơn giản là như vậy, đâu
cần phải sắp mâm cao cỗ đầy, tiền công đức hậu hĩ và lễ nghi long trọng, hoành
tráng. Quan trọng là tâm tính, là bản chất hướng thiện của mình được thể
hiện trong cuộc đời. Người trí thức hành động không hề cách biệt với cuộc
đời mà hòa đồng trong cuộc đời như một con người trần thế. Và chính trong cuộc
đời trần tục ấy mà giác ngộ được thì giá trị càng được nâng lên. Sống có đạo đức,
có nhân nghĩa và biết yêu thương người khác như chính bản thân mình thì tất cả
đều là Phật:
“Tích nhân nghì, tu đạo đức
Ai hay này chẳng Thích Ca
Cầm giới hạnh, đoạn xan tham
Chỉn thực ấy là Di Lặc”
(Cư trần lạc đạo phú - Hội thứ sáu)
Bản thân vua Trần Nhân Tông thường vân du trong nhân gian, cấp
vàng bạc tiền lụa cho dân nghèo, khuyên chúng sinh không trộm cắp, không
tà dâm, khơi gợi nhân tâm diệt trừ tam độc, dựng lên tâm Phật trong lòng người
dân Việt. Trần Nhân Tông đã từng nói với đệ tử như sau: “Lỗ mũi thẳng xuống
cửa mặt, lông mày vắt ngang hố mắt, há dễ tìm thấy được đâu? Nên hãy đi tìm cái
đạo không thấy. Ba ngàn pháp môn cùng về tấc dạ. Hà sa diệu dụng thảy tại nguồn
tâm. Cái gọi là giới môn, định môn, tuệ môn, các người không thiếu. Nên trở về
mà tự nghĩ suy. Phàm những tiếng ho hắng, mày dương mắt nháy, tay cầm chân bước,
đó là tính gì? Biết được tính đó là tâm gì, tâm tính rõ thông, thì cái gì đúng,
cái gì là không đúng. Pháp tức là tính, Phật tức là tâm. Tính nào chẳng phải là
pháp? Tính nào chẳng phải là Phật. Tức tâm tức Phật, tức tâm tức pháp, pháp vốn
chẳng pháp. Tức pháp tức tâm, tâm vốn chẳng tâm, tức tâm tức Phật”. Có thể
nói, “tính” và “pháp” ở đây chính là chỉ sự vật và quy luật của nó. Ngài phát
huy tác dụng của tâm đến vô hạn, cho rằng mọi sự vật đều giống như ý thức chủ
quan của con người. Chính vì vậy, “Phật” không phải nằm ở một nơi xa xăm nào
đó, mà là ở ngay trong tâm của mỗi con người. “Kinh Pháp cú” cũng nói: "Chỉ
có tự mình gây nên điều xấu, tự mình làm nhơ uế mình. Tự mình hủy bỏ điều xấu,
tự mình làm mình thanh tịnh. Thanh tịnh hay nhơ uế đều tùy thuộc mình. Không
ai làm ai thanh tịnh được". Nguyên nhân của Khổ là do con người chạy
theo những ảo ảnh của vật chất chỉ là do tâm chủ quan gán cho. Nếu tâm không
giác ngộ, thì dù cho suốt đời niệm kinh thờ Phật cũng không thể thành chính quả.
Như vậy, đối với Trần Nhân Tông, con đường hiện thực để thành Phật chính là sự
giác ngộ của “bản tính” trong mỗi một con người, nhấn mạnh đến truy cầu nội tại
từ trong tâm. Ngài đã khẳng định:
“Cư trần lạc đạo thả tùy duyên,
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích,
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền”.
(Cư
trần lạc đạo- Hội thứ mười)
Dịch:
Ở
đời vui đạo hãy tùy duyên,
Đói
đến thì ăn, mệt ngủ liền.
Trong
nhà có báu thôi tìm kiếm,
Đối
cảnh vô tâm chớ hỏi thiền.
Tâm thiền sáng ngời thể hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày, không
phải tìm kiếm đâu xa. Đói ăn mệt ngủ nơi mọi sinh hoạt hàng ngày ăn, mặc, ngủ,
nghỉ mà làm với tâm hồn nhiên, trong sáng, không sinh tâm theo duyên, theo cảnh:
ăn không sinh tâm ăn, mặc không sinh tâm mặc. Hay nói cách khác, đứng trước thế
giới khách quan nhưng tâm không” động”, luôn trong trạng thái hư vô, tĩnh mịch,
trống rỗng thì chính đó là ánh sáng “cảnh giới Thiền”, là đạt đạo, là giác ngộ.
Đấy là của báu ngay trong nhà mình, đâu phải tìm nơi khác. Quốc sư Trúc Đạo
Viên tóm tắt về Thiền Trúc Lâm qua lời khuyên của vua Trần Thái Tông khi Ngài tỏ
ý muốn về Yên Tử cầu làm Phật: “ Sơn bản vô Phật duy tồn hồ tâm, tâm tịch
nhị tri, thị danh chân Phật” (Thiền Tông Chỉ Nam Tự) nghĩa là: “Núi vốn
không có Phật, Phật chỉ ở trong tâm. Tâm lặng lẽ mà biết, thì đó là
Phật đấy.” Tâm lặng là tâm đã cởi bỏ hết phiền não “tham”, “sân”, “si”, nhờ
vậy mà giác ngộ và giải thoát. Có lẽ không một tư tưởng nào tôn vinh con người
ngang hàng với Phật như Thiền phái Trúc Lâm.
Muốn thoát khỏi khổ thì phải tiêu diệt mầm mống sinh ra nỗi khổ bằng
cách phải tu “tâm”, diệt dục để tìm ra bản thể, cốt cách con người thực của
mình khi chưa bị nhiễm tam độc. Muốn thế phải tập thiền, phải tam quy, ngũ giới,
thực hành thập thiện, sám hối lục căn để trừ lục tặc. Tu theo Thiền phái Trúc
Lâm còn tùy thuộc trình độ mà tu tập theo các bậc khác nhau.
Đối với giới tu hành, tu tập theo pháp môn nghiêm ngặt. Đối với phật
tử thì tu “tâm”, thực hành “tam quy” (quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng),
“ngũ giới” (5 điều cấm kỵ: cấm sát sinh, cấm trộm cắp, cấm tà dâm, cấm ngoa
ngôn, vọng ngữ, cấm uống rượu). Thực hành “thập thiện” (10 điều: không sát
sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói ác, không nói chia
rẽ, không nói vô nghĩa, không tham lam, không hận thù, không say mê đắm dục).
Pháp tu căn bản là “lục thời sám hối” (mỗi ngày chia ra 6 thời khắc).
Mỗi thời khắc sám hối một căn, vì có lục căn (6 căn): “mắt”, “tai”, “mũi”, “lưỡi”,
“thân”, “ý” gây tội lỗi nên phải sám hối:
- Sáng sớm sám hối căn mắt
- Buổi trưa sám hối căn tai
- Buổi chiều sám hối căn mũi
- Chập tối sám hối căn lưỡi
- Nửa đêm sám hối căn thân
Nhiều người thắc mắc rằng Phật giáo đời Trần với các vị vua như Trần
Thái Tông và nhất là Trần Nhân Tông đã trực tiếp lãnh đạo tướng sĩ, quân dân thời
đó đánh tan quân xâm lược Nguyên - Mông, máu giặc nhiều trận nhuộm đỏ nước sông
Bạch Đằng, xác giặc trôi ngổn ngang trong dòng, phơi đầy ngoài biên ải, như thế
xét về mặt giáo lý của nhà Phật, thì các vị vua ấy có phạm tội sát sinh hay
không? Để trả lời, hòa thượng Thích Thanh Từ - người khởi xướng và chủ
trương khôi phục Phật giáo đời Trần hiện nay đã nói: “Tu theo Phật giáo là trau
dồi đạo đức rèn luyện tâm linh đó là việc riêng của mỗi người phật tử, tức là
lĩnh vực của tôn giáo. Giặc ngoại bang xâm lăng Tổ quốc, toàn dân đứng lên chống
giặc, người lãnh đạo cổ động lòng yêu nước của dân và đứng ra chỉ huy đánh giặc
là lĩnh vực chính trị. Phân rành lĩnh vực tôn giáo, lĩnh vực chính trị là vấn đề
rất thiết yếu. Người phật tử thọ tam quy trì ngũ giới, nếu phạm giới sát sinh
là có tội, đó là phần tu hành riêng của phật tử, thuộc lĩnh vực tôn giáo. Đất
nước bị xâm lăng, toàn dân đứng lên chống giặc là trách nhiệm của mỗi công dân,
thuộc lĩnh vực chính trị. Dù trong cuộc chiến có nhiều phật tử giết nhiều sinh
mạng kẻ thù, song không thể mang tội sát sinh đặt vào chỗ này được”.
Theo thuyết Phong thủy, Yên Tử có địa thế long chầu, hổ phục, là đất
linh cực kỳ quý hiếm. Đó là nơi tập thiền rất lý tưởng, có đầy đủ điều kiện để
tu thiền. Các nhà triết gia cho rằng, những nơi núi già như Yên Tử có trường địa
từ rất mạnh, có khả năng tác động đến trường nhận diện của con người, hỗ trợ đắc
lực cho việc tu thiền nhanh chóng đạt kết quả cuối cùng của “pháp tu thiền định”.
Chính vì thế, Yên Tử mới được vua Trần Nhân Tông chon làm nơi tu hành và đắc đạo.
Trong một bối cảnh đất nước độc lập, tự chủ trên mọi lĩnh vực với
hào khí Đông A, Thiền phái Trúc Lâm ra đời là một quy luật tất yếu của lịch sử
Phật giáo nói riêng và trong dòng chảy lịch sử dân tộc Việt Nam nói chung. Nói
cách khác, Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đã kề vai sát cánh cùng dân tộc đi đến sự
thống nhất đất nước, nhất là góp phần phục hưng mọi giá trị tinh thần văn hóa
truyền thống của dân tộc. Đây chính là sức mạnh nội tại để Phật giáo Việt Nam
cùng với dân tộc Việt Nam phát triển song hành trong việc tiếp nối mọi giá trị
truyền thống, hiện thực hóa trong hiện tại và định hướng cho tương lai trong sự
nghiệp giữ nước và dựng nước ở mọi thời đại.
Đứng trên cây cầu đá xanh bắc qua suối Giải Oan- cây cầu nối giữa
hai thế kỉ, kết nối nhân tâm của hàng triệu con người, đưa chân du khách từ cõi
trần ai vào cõi Phật, tôi nghe đâu đây có âm hưởng nào vọng lại từ xa. Đấy là
âm hưởng của đại ngàn hay tiếng vọng thiêng liêng phát ra từ lòng người. Mỗi
người về đất Phật Tổ này đều linh nghiệm chính lòng mình. Hơn 700 năm qua, muôn
dân phát nguyện hồi hương về Yên Tử với niềm thành kính và biết ơn sâu sắc. Trần
Nhân Tông là Phật Tổ của Việt Nam ta, là niềm tự hào về tinh thần dân tộc mà hậu
thế được vinh hưởng. Đó cũng là đặc trưng vị thuốc nam đã cắm sâu vào lòng đất
mẹ, tinh lọc đắng cay và thơm thảo tự bao đời. Đảng Bộ và chính quyền, nhân dân
các dân tộc Thành phố Uông Bí vô cùng vinh hạnh và tự hào về Yên Tử, trân trọng
cảm ơn những tấm lòng vàng của các tổ chức kinh tế xã hội, các bậc tôn đức, hòa
thượng, thượng tọa, đại đức, tăng ni phật tử, các đạo hữu, du khách gần xa đã
phát tâm công đức về Yên Tử, xây dựng chốn Tổ xứng đáng với niềm ngưỡng vọng của
muôn phương.
Yên Tử, Một không gian tâm linh, chứa đựng những tâm lý siêu việt của
dân tộc ta từ hơn bảy thế kỉ trước. Cảm ơn đất trời và lòng người đã tạo dựng
lên một tam thế vững chắc cho Việt Nam, mãi mãi trường tồn.
Quang Tứ






























Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét