Một số nhận định sai lầm về tác phẩm
của Vũ Trọng Phụng và
Nam Cao
Tôi đã rất đắn đo trước khi viết bài này, đơn giản vì
sẽ phải lên tiếng phê bình một người bạn cùng nghề phê bình nghiên cứu mà tôi
đã và đang có những liên hệ trao đổi khá mật thiết trong việc tìm tòi tư liệu
sách báo nghiên cứu. Tôi muốn nói đến nhà phê bình nghiên cứu văn học Thụy
Khuê, hiện cư trú tại Pháp.
Chị Khuê cùng trạc tuổi tôi, nay đã ngoại thất tuần; vậy mà
sau nhiều cuốn sách đã công bố, lại vẫn đang tiếp tục thực hiện những đề tài về
lịch sử, văn học sử Việt Nam, gần đây nhất là chuyên đề nghiên cứu Tự Lực
văn đoàn, văn học và cách mạng, đang đăng tải trên một vài trang báo mạng.
Ai đã xem qua các phần của chuyên đề này sẽ thấy một lượng tư
liệu lớn được tập hợp vào đây. Thiết nghĩ, chuyên đề này sẽ là tài liệu bổ ích
cho những ai muốn tìm hiểu hoạt động của một tổ chức báo chí xuất bản đã từng
có đóng góp đáng kể vào sự hình thành diện mạo nền văn học Việt Nam thời hiện đại,
nếu các tài liệu sử dụng tại đây được kiểm định kỹ lưỡng, nếu các loại nhận định
về các hiện tượng văn học tại đây được đề xuất một cách cẩn trọng, thỏa đáng.
Tôi sẽ chỉ đề cập một phạm vi rất nhỏ, khi thấy tác giả
chuyên đề đưa ra những nhận định mà theo tôi là rất sai trái về các nhà văn Vũ
Trọng Phụng và Nam Cao. Tôi đã làm trên dưới chục cuốn sách về Vũ Trọng Phụng,
nên không thể không lên tiếng!
Đó là ở kỳ đăng thứ 39 của công trình kể trên, khi nhà phê bình Thụy Khuê đề cập đến những nhà văn cộng tác với Tự Lực văn đoàn, như Nguyên Hồng, Trần Tiêu, Bùi Hiển.
Ở trường hợp Nguyên Hồng, nhà nghiên cứu lần lượt điểm những
tác phẩm mà Nguyên Hồng đưa in trên báo Ngày Nay của Tự Lực Văn đoàn (TLVĐ),
tính từ sau khi nhận giải thưởng của văn đoàn này cho tiểu thuyết đầu tay Bỉ
vỏ (1937). Thụy Khuê nhận định: “Nguyên Hồng là một khám phá độc đáo
của Tự Lực văn đoàn. Hiện thực xã hội ở Nguyên Hồng, sâu sắc và có nghệ
thuật hơn tất cả những ngòi bút hiện thực khác như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố,
Tô Hoài…” (Ai đã đọc hồi ức Nhà thơ ở ngõ Nghè của Nguyên Hồng, sẽ rõ: khám phá
này chỉ thuộc Thế Lữ: do hai bà mẹ có họ hàng xa thế nào đó, cậu Hồng mới dám
tìm đến khi Thế Lữ từ Hà Nội về Hải Phòng thăm nhà, được Thế Lữ chỉ dẫn và đưa
dần vào văn đàn. Các thành viên TLVĐ khác cố nhiên cũng được chút thơm lây!)
Và như để làm sâu thêm nhận định trên, Thụy Khuê đem văn
chương trước 1945 của Nguyên Hồng so sánh với văn chương cùng thời ấy của Vũ Trọng
Phụng và Nam Cao.
Về Vũ Trọng Phụng, Thụy Khuê nói đã từng đã từng nhìn lầm, từng
viết nhiều bài khen, nay đã rút khỏi trang web riêng (thuykhue.free.fr), và
nhân đây nhận định lại:
“Vũ Trọng Phụng nổi trội trong hai địa hạt: phóng sự và tiểu
thuyết. Về phóng sự, trong chương Ngày Nay phóng sự tôi đã chứng minh: Phóng sự
của Tam Lang và Vũ Trọng Phụng, dù viết rất sống động, lôi cuốn, nhưng hoàn
toàn tưởng tượng (nói nôm na là bịa), nên không thể có giá trị như phóng sự điều
tra thực thụ của Trọng Lang. Kết quả, những phóng sự này, vì tưởng tượng, nên sự
tố cáo của nó cũng trở thành vô dụng: không ai tố cáo cái điều mình bịa ra”
(bài đã dẫn, kỳ 39)
Tôi cho rằng nhận định kiểu này là một sai lầm nghiêm trọng về
mặt nhận thức lý thuyết chung quanh bản chất các thể loại ký, trong và ngoài
văn học, sẽ nói rõ hơn ở phần cuối bài này.
Về tiểu thuyết Số đỏ, Thụy Khuê đưa ra một nhận định
nước đôi:
“[Nhưng] tư tưởng của tiểu thuyết Số đỏ là con dao
hai lưỡi: Nếu chủ đề của nó chống lại xã hội lai căng thời Pháp thuộc, qua nhân
vật chính Xuân tóc đỏ, ma cà bông, nhờ phong trào bình dân hô hào thể thao, may
quần áo mốt, mà trở thành vô địch quần vợt và anh hùng dân tộc, thì Số đỏ còn
có một phần giá trị. Nhưng Số đỏ cũng đem những chủ trương canh tân của Tự
Lực văn đoàn ra làm trò cười, thì lại khác: Vũ Trọng Phụng cổ vũ con đường
bảo thủ, chống lại tất cả những hình thức tiến bộ mà văn đoàn này đề ra” (bài
đã dẫn, kỳ 39).
Tôi chỉ nhắc bạn đọc và bạn nghiên cứu nhớ rằng, Số đỏ đăng
báo từ tháng 10.1936, in thành sách riêng từ đầu năm 1938; thế nhưng trong thời
gian dài, sự đọc-hiểu nó của giới học giả người Việt vẫn còn rất… lơ mơ. Vũ Ngọc
Phan (trong Nhà văn hiện đại, Hà Nội, 1942-1943) cho rằng khôi hài trong Số
đỏ là “lối khôi hài nông nổi, nhạo đời nhưng không căn cứ”; ông chỉ thấy
khả dĩ mấy đoạn mà ông xem là “những xen tả chân triệt để”. Phạm Thế Ngũ (trong
Việt Nam văn học sử giản ước tân biên, Sài Gòn, 1961-1965), cũng nhận xét gần
như thế, nhấn mạnh nét “tả chân” ở văn chương Vũ Trọng Phụng, xem thường Số
đỏ, chỉ thấy nó là tác phẩm “châm biếm, khôi hài, ngả sang lối khôi hài quá lố
của sân khấu hay màn ảnh” mà thôi!
Thế nhưng trong điếu văn đưa tiễn Vũ Trọng Phụng về nơi an
nghỉ cuối cùng (tại Hà Nội, ngày 10.9.1939), Lưu Trọng Lư đã bày tỏ nỗi bùi
ngùi bi thương lúc đứng trong “một dúm nhà văn buồn bã đi theo quan tài một bạn
đồng nghiệp xấu số mà những tác phẩm đã làm vinh dự cho văn học nước nhà”. Còn
những nhà văn hoạt động văn học vào loại năng sản hồi những năm 1940 như Vũ Bằng,
Nam Cao, lúc tình cờ gặp lại nhau hồi đầu kháng chiến (1948), trong câu chuyện
bù khú về đời và văn, lại để lộ cái mơ ước viết được một cái gì ngang với Số
đỏ! Hồi những năm đầu 1990, Nguyễn Khải cũng có ý tương tự Lưu Trọng Lư, rằng một
cuốn như Số đỏ có thể làm vinh dự cho bất cứ nền văn học nào!
Giới học giả người Việt đến những năm 1990, ví dụ Hoàng Ngọc
Hiến, mới bắt đầu nhận ra, tác giả Số đỏ đã tạo ra cả một xã hội hài
hước, nhất cử nhất động của bất cứ nhân vật nào đều khôi hài, lố bịch; hoặc
Hoàng Thiếu Sơn nhận thấy Số đỏ là tiểu thuyết bợm nghịch (novela
picaresco) và theo ông, có một dòng truyện bợm nghịch thế giới ở thế kỷ XIX-XX
với với Các di văn của câu lạc bộ Pickwick (1839) của Dickens ở
Anh, Những linh hồn chết (1842) của N. Gogol ở Nga, A.Q. chính truyện (1921)
của Lỗ Tấn ở Tàu, Số đỏ (1936) của Vũ Trọng Phụng ở Việt Nam! Còn Đỗ
Đức Hiểu thì thấy “Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn: nhại một
xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hóa. Nó nhại một trào lưu văn
hóa, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Nó nhại một ngôn
ngữ đang hình thành, hổ lốn, tạp nham, lổn nhổn, khấp khếnh, xiêu vẹo, tạp pí
lù”.
Đấy là chỉ kể đôi nhận định của những tên tuổi có uy tín
tương đối lớn. Cho nên muốn hạ giá Số đỏ có lẽ chỉ có một cách rất…
cùn, là “tôi không thấy hay, tôi không thích”! – Thị hiếu cá nhân là điều cần
tôn trọng, nhưng nó vị tất có thể làm suy suyển một ý hướng vinh danh của những
tiếng nói tầm cỡ hơn!
Lập luận như Thụy Khuê rằng “nếu như” Số đỏ châm biếm
cái xã hội lai căng thời Pháp thuộc thì tác phẩm “ít nhiều có giá trị”, còn “nếu
như” Số đỏ chế diễu TLVĐ thì thế là “bảo thủ”, nghĩa là không giá trị!
Chỗ kỳ quặc của lập luận là thái độ đối với TLVĐ lại trở thành thước đo “giá trị/vô
giá trị”? Mà có phải Số đỏ chống TLVĐ không? Cửa hiệu “Âu hóa” với
các mốt cho phụ nữ tân thời, sân quần vợt cho phụ nữ, v.v. – đó có thể là những
biểu trưng văn học của sự chế diễu nhắm vào TLVĐ. Nhưng Vũ Trọng Phụng có chống
TLVĐ tận trong nguyên tắc, trong thực chất không? Tôi ngờ rằng chưa chắc! Các
nhà Việt học nước ngoài như Christophe Goscha, Peter Zinoman gần đây đã nêu một
nhận định: có một số lớn nhà văn, nhà báo Việt Nam thời 1930-1945, trong đó có
Vũ Trọng Phụng, hướng về lý tưởng “chủ nghĩa cộng hòa” (républicanism), tức là
hướng về các chuẩn mực “Liberté, Egalité, Fraternité” (tự do, bình đẳng, huynh
đệ) của Đại cách mạng Pháp, chứ không tán thành nền quân chủ lập hiến hay chế độ
“trực trị”. Các tác gia chủ trì TLVĐ đứng trong hay đứng ngoài cái lý tưởng
chính trị républicanism kia, nếu công việc của họ là “Âu hóa”, đổi mới “theo
Tây” tức là vận động xã hội sang hiện đại? Xin đọc cho kỹ! Nếu nhà văn họ Vũ chống
lại cái lý tưởng tiến bộ mà TLVĐ cũng mặc nhiên hướng tới, thì không thể thấy
nhà văn đặt câu này vào trong trí nghĩ của “cụ cố Hồng” về đứa con du học trở về
là ông Văn Minh:
“Ngoài ra cụ lại còn kính thờ con cụ ở chỗ con cụ là một nhà
cách mệnh trong vòng pháp luật, vì làm như Văn Minh đương làm, chính là cải
cách xã hội một cách tha thiết mà có công hiệu, mà lại không sợ tù tội hay mất
đầu như những đảng viên cộng sản hay Việt Nam Quốc dân đảng, những người ngu dại
mưu hạnh phúc cho đồng bào mà chẳng làm cho đồng bào được biết cái gì là nhảy đầm,
cái gì là y phục tối tân”! (Số đỏ, VI).
Dòng ngôn từ pha phách diễu nhại đùa cợt làm nhòe đi một tư
tưởng chính luận, hay một tư tưởng chính luận bị đưa ra diễn trò?
So sánh tiểu thuyết Bỉ vỏ với tiểu thuyết Giông
tố, nhà phê bình Thụy Khuê cho rằng: “nghệ thuật của Nguyên Hồng cao hơn
Vũ Trọng Phụng rất nhiều”!
Cao hơn ra sao? Thụy Khuê cắt nghĩa:
“Sự thăng trầm của Bính, người đàn bà bị hiếp dâm, trở thành
con ăn cắp trong Bỉ vỏ, bám chặt tâm ta, bởi vì Bính rất thật, bởi vì Tám
Bính sống lại những khổ đau bầm vập của cậu bé Nguyễn Nguyên Hồng từ những ngày
thơ ấu” (bài đã dẫn)
Ta nghe được ở đây một lập luận: tác giả từng trải cuộc sống
đau khổ bầm dập nên viết ra được một nhân vật chân thật! Lý lẽ này nghe như ta
đang ở giữa thời dân nghèo tố khổ! Lý lẽ này cũng đoan quyết: tiểu sử nhà văn –
chứ không phải năng lực, tài năng của anh ta – quyết định sự thành công của xây
dựng nhân vật! Người Pháp nghe theo lý lẽ này hẳn sẽ không sao cắt nghĩa nổi vì
đâu ông Victor Hugo sang trọng nhường kia lại vẽ ra được một nàng Cosette khổ cực
đáng thương đến vậy?
“Còn sự thăng trầm của Thị Mịch, cũng bị hiếp dâm trong Giông
tố, khó tin ngay từ đầu”!
Khó tin ra sao? Thụy Khuê viện lý:
“Tại sao Nghị Hách, tối đó, trên đường về nhà, có mười một
nàng hầu trẻ đẹp đang chờ, mà lại đi hiếp dâm Thị Mịch, cô gái gánh rạ bên đường?
Hách bị bệnh cuồng dâm chăng, nên mới không “nhịn” được? Tại sao bệnh này không
thấy tái phát lần nào nữa?”
Tôi dám nói, những người Việt sống trong xã hội Việt, sẽ cảm
thấy người phát ngôn mấy câu viện lý trên này hoặc quá ngây thơ, hoặc quá ngây
ngô! Là phụ nữ mà hiểu đàn ông Việt thế này, thật quả có hơi nguy hiểm! Ngay xã
hội Âu Mỹ thời nay cũng đâu chỉ gồm toàn những đàn ông đứng đắn? Người ta vẫn
thấy biết bao chuyện, thực có, hư có, nói về những kiểu đàn ông thị hiếu bệnh
hoạn, tìm cách chiếm đoạt, giết hại phụ nữ? Ngược về những năm 1930s thì tôi nhớ,
Phan Khôi vào Sài Gòn viết bảo, đã nhận ra: phong hóa Nam Kỳ tốt hơn Bắc Kỳ, ví
dụ trong này không hề có thói xấu bóp vú con gái vốn khá phổ biến ở làng xã Bắc
Kỳ; thói xấu này, thời tôi lớn lên, tức những năm 1960 vẫn còn nghe nói; mà
Nguyễn Huy Thiệp cũng đã đưa hiện tượng xâm hại phụ nữ ở các đám hát vào truyện Những
bài học nông thôn (1992) đó thôi! Vậy mà nhà phê bình Thụy Khuê vẫn khăng
khăng: “Nhân vật Nghị Hách xa rời thực tế, vì Việt Nam không có “loại” người
nào như thế”! Và giải thích thêm:
“Miền Bắc (thời ấy) chỉ có một ông tỷ phú Bạch Thái Bưởi, được
mọi người kính trọng. Còn các nghị viên chỉ làm bù nhìn, báo Phong hóa, Ngày
nay chế giễu suốt, vì họ không có quyền thế gì cả” (?)
Tôi và chị Khuê ra đời muộn chừng 10-20 năm so với câu chuyện Giông
tố, nếu muốn hiểu ngược về cái xã hội thời xảy ra câu chuyện (giả định) nghị
Hách, chắc chắn chỉ có thể là hiểu biết gián tiếp, thông qua sách báo. Tôi nhớ,
qua đọc báo cũ, tôi được biết, thời Giông tố ra đời, một nhà báo là
ông Tạ Đình Bính bảo rằng chỉ đọc qua chương đầu, ông đã đoan chắc kẻ được đặt
cho cái tên hư cấu Tạ Đình Hách ấy là ai! Một nhà báo đương thời thì cảm nhận
được như thế (về nguyên mẫu của tiểu thuyết), còn một người sinh sau đó 15-20
năm lại cả quyết kiểu người như thế không hề có! Vậy làm sao mà tranh luận được?
Lẽ ra phải tiếp tục so sánh hai cô gái cùng bị cưỡng hiếp, dưới
tay bút hai nhà văn, sẽ tiến triển khác biệt nhau ra sao (để thấy Nguyên Hồng
giỏi, Vũ Trọng Phụng kém!), thì nhà phê bình Thụy Khuê lại bỏ lửng ở đấy, quay
sang nhận xét nhân vật nghị Hách “tính cách ly kỳ quá đáng và hành động đầy sơ
hở”, “nhiều chỗ rất hề”, “tác giả dùng quy luật huyết thống (cổ hủ)”, v.v. và
nhấn mạnh: tất cả xấu xa chỉ đánh vào đầu nghị Hách, còn các quan cai trị người
Pháp thì lại được Vũ Trọng Phụng “thầm kín khen ngợi”.
Cái việc trong Giông tố có những lời “khen quan
công sứ Pháp”, vào những năm 1958-1980 ở miền Bắc đã từng bị chỉ trích nặng nề;
nhưng vào những năm 2010 này, khi độc giả Việt được đọc bản dịch hồi ký “Xứ
Đông Dương” của cố Tổng thống Pháp, cựu Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer
(1857-1932), thì đã hơi khó để xúi độc giả tiếp tục chê bôi nhà văn họ Vũ rồi đấy!
Còn trở lại khuôn khổ tiểu thuyết Giông tố thì chỉ
có cảnh (chương IV) buổi tối nghị Hách viếng thăm nhà riêng viên Công sứ và nhà
riêng viên Tổng đốc rồi trở về trang ấp của mình để chỉ huy bọn tay chân đem
“truyền đơn, cờ đỏ” ném vào làng Quỳnh Thôn! Trong tiến triển của truyện, đấy
là việc nhà điền chủ vừa lấy lòng kẻ quyền thế lại vừa tiếp tục mưu hại các nạn
nhân. Mấy viên quan kia, trong đó viên Công sứ được mô tả tại tư gia trong vẻ
giản dị đôn hậu; nhưng một điền chủ trong hạt cai trị của ông ta vẫn tác oai
tác quái thế kia, cho thấy dụng ý của tác giả là gì? Đây là trong văn tiểu thuyết,
đâu phải văn chính luận?
Tiếp theo, Thụy Khuê so sánh Nguyên Hồng với Nam Cao. Tác phẩm
mà nhà phê bình muốn xô đổ là Chí Phèo, bởi vì “Trong bao nhiêu năm ở Pháp, mỗi
lần có bạn văn trong nước sang Paris, tôi đều hỏi chuyện văn chương, sự trả lời
hầu như bất biến: Chí Phèo của Nam Cao là đỉnh cao” (bài đã dẫn)
Thụy Khuê lược lại truyện Chí Phèo rồi nhận định:
“Màn Chí Phèo giết Bá Kiến trên đây là một màn sát nhân vô cố,
khác hẳn màn Năm Sài Gòn giết Ba Bay trong Bỉ vỏ của Nguyên Hồng [….] Còn bá Kiến
– dù có làm những việc ám muội – đối với Chí Phèo, vẫn là “ân nhân”. Không có
chi tiết nào chứng tỏ bá Kiến đáng tội chết, và cũng không có bằng chứng nào
cho thấy Chí Phèo bị bóc lột tàn nhẫn.
So sánh với Bỉ vỏ của Nguyện Hồng, riêng việc sát
nhân thôi, Chí Phèo cũng không thể bằng Năm Sài Gòn: Năm giết người có lý do,
còn Chí Phèo giết người không có lý do. Và làm sao so sánh Chí Phèo với Tám
Bính được? Sự khác biệt là như thế: Tám Bính có lòng nhân ái, là nạn nhân của một
gia đình độc ác, một xã hội mù loà, rơi vào tay bọn côn đồ, nhưng vẫn luôn luôn
muốn ngoi lên để trở về với cuộc đời lương thiện.
Cho nên, nếu coi Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho những người
cùng đinh bị bóc lột là lầm”…
15/12/2021
Lại Nguyên Ân
Theo https://vanvn.vn/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét