Thứ Ba, 15 tháng 7, 2025

Cây gậy của lý Tước

Cây gậy của lý Tước

Hôm ấy, chiếc máy múc đang vươn cổ ngoạm từng gầu đất lớn để mở con đường hình trôn ốc  ngược  đỉnh Ngọc Môn theo hợp đồng với chủ thầu thì bỗng dưng ngắc ngứ như thể bị một bàn tay khổng lồ vô hình nắm chặt lấy. Máy bỗng nhiên tắt lịm. Gã thợ máy khởi động mấy lần cũng nổ. Gã liền nhảy xuống hiện trường kiểm tra. Thì ra, gầu máy bị mắc kẹt vào một rễ cây lớn. Gã lái máy vội gọi người đến giúp sức. 
Khi cái rễ cây được kéo lên, mọi người trông thấy đều hoảng hồn: Dưới hố đất màu đỏ như son, lộ ra một bộ hài cốt người chết được bao bọc bởi một màng mỏng trắng như sương. Màng sương trắng như sương ấy bị ánh nắng soi vào, tan ra, bay lên, để lộ một hộp sọ người trắng hếu, hai hố mắt trân trân nhìn lên, đầy vẻ tức giận. Bên cạnh bộ hài cốt có một cây gậy màu đen. Cây gậy làm bằng cây song rừng. Phần trên cây gậy uốn cong cong như đầu một con rồng đang phun lửa. Phần dưới, đường nét mềm mại, tao nhã. Người nghệ nhân xưa đã khéo léo tạo cái đuôi rồng là thân gậy, cổ rồng là tay cầm. Không biết cây gậy được ngâm tẩm bằng loại nhựa cây gì mà chôn vùi dưới đất đã non thế kỷ, màu sắc vẫn đen bóng, tưởng như mới vừa rời khỏi tay chủ nhân của nó. Người ta vội cho người gọi chủ thầu đến. Thằng Hùng, bạn tôi, lập tức có mặt. Ban đầu thì hắn hơi hoảng sợ, song, hình như có một sự sai khiến bí ẩn nào đó, hắn liền sai người tìm mua một  tiểu sành loại tốt, biện mâm lễ  thịnh soạn, nhờ người mời thầy mo mường đến cúng tế rất chu đáo, xong rồi đưa bộ hài cốt tái táng ở một vị trí khác. Có một linh cảm gì đó, hắn nhận thấy người quá cố không phải là bậc tầm thường. Thấy cây gậy đẹp, hắn giữ lại, không táng theo chủ nhân…
Tết năm ấy, làng mở hội cờ tướng tại sân đình. Hùng mặc bộ comple màu be, tay cầm cây gậy lấy trong ngôi mộ trên rừng Ngọc Môn, đội thêm cái mũ phớt cho ra dáng ông sếp đi du xuân. Tiết xuân năm ấy thuận lắm. Phía sau Ngọc Môn trập trùng núi biếc, xa tít tắp là một màu xanh non, tươi mơn mởn. Mưa bụi lắc rắc, lây phây, đất trời đằm thắm sắc xuân. Đến gần đình làng thì bất ngờ gặp cụ kiểm Cận từ trong ngõ hẹp bước ra. Trong làng, ngày ấy chỉ còn cụ kiểm Cận là người cao tuổi nhất. Gần trăm tuổi nhưng ánh mắt cụ vẫn tinh anh, dáng đi còn nhanh nhẹn. Hắn chưa kịp cất lời chúc thọ cụ nhân dịp đầu xuân mới thì cụ đã trông thấy cây gậy hắn cầm trên tay. Có một linh ứng gì đó phát ra, cụ cứ chằm chằm  nhìn vào cây gậy. Ánh mắt cụ như bị thôi miên, mặt nhiên biến sắc. Sau rồi cụ mới thì thầm bảo hắn cho cụ xem cây gậy. Cụ cầm cây gậy giơ lên ngang mặt ngắm nghía hồi lâu rồi kêu lên: “Trời ơi! Cây gậy này là của ông lý Tước! Anh lấy ở đâu ra?”
Thấy thái độ của cụ kiểm Cận như thế, Hùng cũng hoảng không kém. Hắn lập bập hỏi lại: “Ông lý Tước nào ạ? Cây gậy này cháu đào được trên đồi rừng thầu nhà cháu đấy chứ ạ!”
“Có phải anh đào được trong rừng Ngọc Môn không?”
“Sao cụ lại biết được ạ?”
“Trời đất ơi! Làm sao mà tôi lại không biết? Cây gây này đã theo ông lý Tước mấy chục năm cho đến khi ông ấy lên rừng Ngọc Môn rồi mất tích. Trời đất ơi!” Cụ kêu lên, giọng khụt khịt như chực khóc vì quá mừng và cảm động. Nói rồi cụ kéo hắn ra một chỗ khuất, hỏi nhỏ: “Chắc chắn anh đào đúng phần mộ của lý Tước rồi! Vậy hài cốt ông ấy ở đâu?”
“Dạ thưa cụ! Hôm ấy cháu thuê máy múc mở rộng Ngọc Môn, chẳng may đụng vào một ngôi mộ ông ấy. Khi bốc lên, cháu thấy cây gậy này đẹp thì giữ lại chơi thôi. Còn hài cốt ông ấy, cháu đưa an táng ở một chỗ khác rồi!”
“Chết nỗi! Khéo vạ đến nơi!” Cụ kiểm Cận dậm chân lạch bạch xuống đất, ngửa mặt lên trời, lầm bầm trong miệng như than thở: “Ông lý Tước ơi! Cuối cùng rồi cũng tìm được hài cốt của ông. Thật là mọi sự đều tuân theo mệnh trời!” Xong, cụ nói nhỏ với hắn: “Chuyện này hệ trọng lắm! Anh không hình dung được đâu! Tôi chưa thể tiết lộ với anh được! Tạm thời, anh cứ mang cây gậy về nhà cất kỹ, đừng cho ai biết và cũng đừng kể với ai. Lộ thiên cơ là toi đời đấy! Rồi một ngày không xa, sẽ có một người rất quan trọng đến gặp anh!”
Đêm ấy, hắn nằm, thấy tâm trạng cứ phấp phỏng, lo âu như đang chờ đợi một ai, ruột nóng như lửa đốt, không sao chợp mắt được. Hắn trở dậy, đi quanh quẩn sau nhà, ngóng lên đỉnh Ngọc Môn, cảm giác như một tai ương sắp giáng xuống. Trong ánh sáng mờ ảo như sương giăng, bỗng dưng hắn thấy hiện lên một ông già cao gầy, chòm râu bạc trắng, ánh mắt tinh anh, chỉ tay về phía hắn. Hoảng quá, hắn vội lao vào nhà, trùm chăn kín mít, vợ hỏi gì cũng không nói.
Phải mấy ngày sau, cụ kiểm Cận mới cho người gọi hắn xuống nhà, kể cho hắn nghe nguồn gốc về cây gậy: “Ngày ấy, cách đây cũng đã non thế kỷ, tôi với ông lý Tước là bạn thân. Ông Lý Tước thuộc hàng tiên chỉ của cái làng này. Ông ấy tên Tước, nhưng vì làm lý trưởng, nên dân làng gọi là lý Tước. Uy danh của Lý Tước khét tiếng trong vùng. Đến tri huyện, tri phủ phủ cũng phải kiêng nể. Khi ấy, tôi chỉ làm chức hương kiểm, tức là công việc kiểm kê tiền nong và ghi chép các khoản thu chi của làng, giống như làm kế toán hợp tác xã bây giờ ấy. Làng ta ngày ấy thuộc diện có diện rộng lớn nhất trong xã, lại là nơi sinh sống của hai dân tộc Kinh, Mường. Chính vì thế mà người đứng đầu vẫn gọi là lý trưởng chứ không gọi là lang mường như các làng thuần mường. Dưới cây gậy của lý Tước, trong làng có gần ngàn xuất đinh mà trật tự đâu vào đấy. Trong làng chia nhiều phe cánh lắm! Cánh đội Tần, cánh tư Thạo, cánh ông bát Tiếu…
Rồi đám lý Hào, trương tuần… toàn loại ương bướng, cứng đầu cứng cổ, chống đối lẫn nhau, vậy mà Lý Tước nói một câu, bọn họ đều nghe theo răm rắp. Họ kính nể lý Tước vì ông ấy là người thanh liêm. Quyền uy trong làng trong tổng như thế, nhưng lý Tước không tơ hào một đồng của dân, lại có xu hướng bài Pháp. Vì thế mà người Pháp không ưa, nhưng dân làng thì lại yêu kính ông lắm. Người Pháp đã mấy lần định thay ông ấy nhưng chưa tạo được cớ. Có nhiều chuyện tốt về ông ấy, thiên hạ còn truyền tụng đến bây giờ. Nhưng có chuyện này thì chỉ có tôi biết.” Nói đến đó, cụ kiểm Cận ghé vào tai hắn thì thầm như sợ có ai nghe thấy: “Ông lý Tước đã từng bao che cho hai người tù Cộng sản vượt ngục và nuôi họ trong nhà mấy tháng liền. Tôi đã gặp và nói chuyện với hai người ấy. Khi họ bắt được liên lạc với tổ chức Cộng sản, chính tôi đã đưa họ qua sông trên con thuyền độc mộc.
Thế rồi đến năm 1953 thì cải cách ruộng đất. Nông dân nổi lên đấu tố địa chủ. Khổ thân lý Tước, vì tính ngay thẳng cho nên bị nhiều kẻ ghen ghét, tố sai. Thành ra lý Tước bị đội cải cách ghép vào thành phần “địa chủ cường hào gian ác”, đưa vào danh sách xử tử đợt đầu. May mà trong đám gia nhân của lý Tước lúc đó, có người tốt, ngầm báo tin cho chủ. Lập tức, anh tư Đài, con trai thứ của lý Tước vội đưa cha chạy trốn lên vùng đồi rừng Ngọc Môn. Ngọc Môn ngày ấy còn là rừng nguyên sinh, đêm đêm dân mấy tổng còn nghe rõ tiếng hổ với lợn lòi đánh nhau. Kết cục bao giờ lợn lòi cũng thua. Tiếng kêu eng éc tuyệt vọng của nó vang động cả một vùng đồi rừng. Ngày ấy trong làng ta có một đội săn bắn, chọn toàn trai đinh tráng cực khỏe và dũng cảm. Có đêm, khiêng về nhà lý Tước cả một con hổ lớn. Tôi sống được đến bây giờ là nhờ uống cao hổ, săn được trong rừng Ngọc Môn đấy!
Năm sau, có lệnh sửa sai của chính phủ, Lý Tước được hạ thành phần, nhưng chả thấy ông ấy đâu, chỉ có thằng con trai từ rừng sâu Ngọc Môn mò về, người xanh mét, nhợt nhạt như cái thây ma nói, ông ấy bị sốt rét và đã chết trên rừng Ngọc Môn rồi! Chính tay anh ta moi đất dưới một cái rễ cây to, mai táng cha vào đấy. Do bị sốt rét ác tính, anh con trai cùng trốn theo cha lên cơn vài bận rồi cũng đi theo cha luôn. Thành ra sau này, những người con của lý Tước định cư ở Mỹ, mấy lần về nước, muốn tìm mộ cha đưa sang Mỹ để tiện bề trông nom hương khói cũng không tìm thấy phần mộ của ông ấy ở đâu. Họ đã bỏ ra bao nhiêu tiền thuê người tìm kiếm, nhờ cả thầy ngoại cảm, cũng chẳng tìm ra mộ Lý Tước ở đâu.  Mộ lý Tước vĩnh viễn bị “nuốt chửng” trong mênh mang rừng Ngọc Môn từ ngày ấy…”.
Hôm ấy, từ nhà cụ kiểm Cận trở về, trong lòng hắn chộn rộn bao nhiêu ý nghĩ trái chiều. Sau rồi hắn tặc lưỡi, thì mình cũng có làm gì trái đạo trời đâu? Chẳng qua là chuyện không may. Trời đất thánh thần cũng chả nỡ nào trách phạt người vô tình. Mà biết đâu, mình với ông lý Tước lại có duyên với nhau? Chẳng có duyên mà lại vô tình tìm được mộ của ông ấy, lại còn được sở hữu cây gậy uy quyền của ông ta?…
Bẵng đi hơn một tháng, từ cái ngày gặp cụ kiểm Cận, một buổi sáng, bỗng nhiên xuất hiện một chiếc xe sang trọng đỗ ngay đầu ngõ nhà hắn. Hùng nhìn ra, thấy cụ kiểm Cận đi cùng với một người dáng đạo mạo, thân người to cao, khuôn mặt đỏ hồng như quả cà chua chín. Nhìn qua vóc dáng, hắn biết, đó là người có quyền thế. Cụ kiểm Cận giới thiệu với hắn: “Đây là ông Trương Tần, con trai cả của lý Tước. Gia đình ông di cư vào Nam từ 1954. Một thời trong Nam, ông ấy buôn bán phát tài.  Đến năm 1975, ta giải phóng Sài Gòn, ông cùng vợ con vượt biên sang Mỹ rồi định cư luôn bên ấy.  Đã mấy lần ông về Ngọc Môn tìm kiếm mộ cha nhưng không có kết quả!”
Ông Trương Tần bắt tay hắn rất chặt. Ông nói bằng thứ giọng lơ lớ của những người Việt Nam sinh sống lâu năm ở nước ngoài: “Thưa ông Hùng! Tôi xa Việt Nam  đã gần nửa thế kỷ, mối quan hệ quan hệ của gia đình tôi với quê nhà chỉ còn cụ kiểm Cận, vừa là cộng sự, vừa là bạn thân của cha tôi từ thủa sinh thời. Mấy chục năm nay, từ bên Mỹ, tôi vẫn nhắn về cho ông kiểm Cận, bạn của cha tôi, thuê các nhà ngoại cảm tìm  phần mộ cha, đưa sang Mỹ cho gần con cháu, nhưng cụ kiểm Cận bất lực. Nỗi khao khát chờ mong đó, hôm nay nhờ có ông mà gia đình tôi mới được toại nguyện. Tôi xin thay mặt cả dòng Họ nhà tôi bên Mỹ, đội ơn ông. Ông có yêu cầu gì, xin cứ nói ra, đừng e ngại, gia đình tôi xin đáp ứng”.
Hắn lắp đắp đáp lễ ông Trương Tần: “Thưa ông Trương Tần! Đây không phải công của tôi, mà tình cờ khi mở con đường lên Ngọc Môn thì đụng phải phần mộ cụ thân sinh của ông. Đụng chạm và đánh thức giấc ngủ của người quá cố, đó là trọng tội! Chỉ xin vong linh hồn người quá cô và gia đình ông tha thứ, chứ tôi không dám nhận một đồng gọi là công nào!”  Nói xong rồi, hắn xắng xít dẫn ông Trương Tần lên Ngọc Môn, nơi tái táng hài cốt ông lý Tước. Sau khi bốc hài cốt cha, ông Trương Tần mừng lắm, nói với hắn trong nước mắt: “Cha tôi khi sống là một người liêm khiết. Tuy cụ làm lý trưởng, nhưng không tơ hào một đồng công quỹ, luôn đứng về phía dân nghèo. Ông thường răn dạy những người dưới quyền mình là, làm quan mà tham lam, ức hiếp dân lành, sớm hay muộn rồi cũng bị quả báo. Tiền của đất đai có nhiều bằng mấy đi nữa, thời thế thay đổi rồi cũng bằng con số không, nhưng tiếng xấu thì muôn đời không gột rửa được!”  Một lần nữa, ông Trương Tần có nhã ý tặng cho hắn một số tiền lớn để tạo dựng Ngọc Môn thành khu nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái theo ý tưởng của hắn nhưng hắn từ chối. Khi chia tay với ông trương Tần, không hiểu sao, hắn đã quên, không nói gì đến cây gậy đào được dưới huyệt mộ…
Từ ngày hài cốt ông lý Tước được người con trai cả chuyển đi khỏi ngọc Môn, hình như màu xanh cây lá của rừng có gì khang khác. Đêm đêm thường có tiếng cú rúc và tiếng chim lợn kêu éc éc như bị chọc tiết từ phía đỉnh đồi vọng xuống, nghe rất rùng rợn.  Còn hắn thì luôn cảm thấy trong lòng trống vắng, bất an. Những hôm như thế, sáng ra hắn lên thăm mạch nước Ngọc Môn. Nước vẫn phun trào thành dòng trong vắt như ngọc, nhưng khi vầng dương mọc, lẫn trong dòng chảy ấy, có tia nước đỏ ánh lên như màu máu. Một đêm, tự dưng thấy trong lòng nóng như lửa đốt, không sao chợp mắt được.
Gần sáng thì hắn nghe tiếng kẹt cửa, nhìn ra thì thấy một ông già quắc thước, tia mắt sắc lạnh, tinh anh, một tay vuốt chòm râu bạc, một tay chỉ vào mặt hắn mà rằng: “Ta chính là lý Tước đây! Ta ngự ở nơi rừng Ngọc Môn linh thiêng này đã non thế kỷ. Mọi sự diễn ra trong vùng này, sao qua được mắt ta? Ta biết nhà ngươi hiền lành, vô tâm, không nỡ trách phạt, nhưng tội của nhà ngươi to lắm! Ngươi không những phá nát nhà cửa của ta lại còn lấy đi cây gậy quý của ta, làm lộ thiên cơ. Nơi chốn Ngọc Môn linh thiêng bí hiểm hàng ngàn đời, há đâu phải chỗ các người san ủi, đào bứng, sửa sang, cải tạo? Các ngươi có biết làm như vậy là phá nát long mạch linh thiêng từ ngàn đời của ông cha không? Tội phá hoại phong thủy là tội lớn. Thiên địa bất dung! Còn cây gậy của ta, ngươi chớ giữ thêm một ngày nào nữa. Hãy mau mau trả lại cho ta!”. Hắn tỉnh dậy, thì ra là một giấc mơ. Người hắn ớn lạnh, đầm đìa mồ hôi. Hắn mới chột dạ, làm sao mà khi ông trương Tần đưa hài cốt cha sang Mỹ, mình lại không bàn giao cây gậy? Hèn chi mà ông lý Tước hiện về đòi hắn? Đợi trời sáng rõ, hắn vội lấy cuốc xẻng đào một hố đất ngay phía sau nhà rồi chôn cây gậy xuống đó…
Những ngày sau, rồi sau nữa, mưa cứ rơi tầm tã. Cả vùng đồi rừng Ngọc Môn mù mịt mây đen như từ thủ phủ đùn lên, đất rừng tràn ứ nước. Nửa đêm hôm ấy, hắn đang nằm thì bổng nghe có tiếng động liên tục dội lên từ lòng đất rất mạnh, sau đó là âm thanh ầm ầm ào ào như hàng vạn cỗ xe tăng đang lao tới. Sấm nổ rất dữ từ phía thượng nguồn, âm thanh nối liền nhau lan đến tận phía sau nhà hắn. Trời đất rung lên bần bật như báo ngày tận số. Hắn có cảm giác như bị dìm xuống một vực sâu thăm thẳm rồi lại được một lực vô hình nào đó nâng lên. Sáng ra, nhìn lên Ngọc Môn, hắn không còn nhận ra đâu với đâu nữa. Cả hai sườn đồi lớn nứt toác ra, đất đá đổ sụt xuống, trống hoác như quả dưa hấu khổng lồ bị bổ làm ba, phơi dưới bình minh, màu sắc đỏ lòm lòm, lấp kín thung lũng rồi tràn xuống ao đầm. Dòng nước đặc xịt bùn lẫn cây đổ, trườn ra tận đường Quốc lộ tạo thành bình địa. Tất cả mấy trăm héc ta rừng đang xanh tươi là thế, bỗng chốc bị tụt xuống, chìm ngập trong bùn đất. Riêng ngôi nhà hắn đang ở, nền đất được một lực bí hiểm siêu nhiên nào nâng cao lên, vì thế mà vợ chồng hắn không bị vùi dưới lớp bùn đất nhão nhoét ấy. Linh tính mách bảo cho hắn biết, chính nhờ cây gậy của ông lý Tước hắn chôn sau nhà, đã cứu sống vợ chồng hắn…
Sau khi vùng đồi rừng Ngọc Môn bị sụt lở, nghe nói con cháu nhà lý Tước bên Mỹ gặp nhiều xui xẻo. Mấy đứa cháu nội của ông bị nghi ngờ có tài trợ tiền cho một tổ chức khủng bố gì đó, bị nhà cầm quyền khám xét, bắt giam, niêm phong tài sản. Thiên hạ đồn rằng, tất cả mọi xui xẻo đó là do bị động mồ mả tổ tiên. Sau này có ông thầy địa lý đi qua, nói rằng, sở dĩ con cháu nhà lý Tước làm ăn phát đạt vì mộ lý Tước vô tình được táng đúng vào tâm điểm của Ngọc Môn, hội tụ đủ kim mộc thủy thổ hỏa, âm dương ngũ hành, huyệt mộ rất tốt, đất tơi và đỏ tươi như lòng đỏ trứng gà. Sau khi bị máy ủi mở rộng, đụng đến huyệt mộ linh thiêng , làm đứt long mạch nên gia cơ con cháu mới sa sút như vậy…
Phải lâu lắm, tôi mới có dịp về quê, lên thăm vợ chồng Hùng. Đến nơi, tôi không còn nhận ra khu đồi rừng Ngọc Môn ngày trước nữa. Cả thung lung lũng ngày xưa lấp loáng ao hồ, lóng lánh gương sen, nhuộm sắc mây trời, biếc xanh như ngọc, giờ đây đã bị cả một núi đất đá lấp đầy thành bình địa, um tùm lau lách.  Hỏi thăm người dân gần đó, họ bảo, vợ chồng hắn đã chuyển nhượng  cho một người bà con,  rời bỏ Ngọc Môn,  theo thằng con trai cả về sinh sống ở Thành phố từ lâu rồi…
27/4/2025
Trịnh Tuyên
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Thể thơ mới cho một đề tài mới Sự vận động không ngừng của cuộc sống đã giúp thơ ca, nghệ thuật tìm ra những hướng đi mới. Khi đại dịch Co...