Thứ Ba, 15 tháng 7, 2025

Mảnh vỡ của đàn ông

Mảnh vỡ của đàn ông

Nghe nói rằng mẹ tôi khi ấy là cô gái đẹp nhất làng Yên. Mỗi lần chải tóc, cô gái phải đứng trên một chiếc ghế thì đuôi tóc mới chấm đến nền nhà. Cô đến đâu thì hương bưởi hương chanh kín đáo vương lại.
Gần làng có một sân bay chiến đấu, và bởi vì nó là mục tiêu đánh phá của máy bay Mỹ, nguy cơ bị hủy diệt cũng có thể đến với làng Yên bất cứ lúc nào. Dân làng đều hiểu vậy, nhưng nhiều người vẫn chần chừ, không muốn rời làng đi sơ tán. Trách nhiệm vận động dân thuộc về người đẹp của làng – cô Tĩnh – phó chủ tịch xã, kiêm khẩu đội trưởng pháo tầm thấp của dân quân. Để tăng sức thuyết phục, ban lãnh đạo xã quyết định cử Tĩnh đến liên hệ với chi đoàn không quân, mời một đại diện thanh niên đến nói chuyện thời sự và vận động dân làng.
Tĩnh đến nơi, thấy ba bốn chàng phi công đang xúm vào, lôi xềnh xệch một cậu trẻ măng đến trước tấm bảng thông báo của nhà ăn để cậu ta nhìn cho rõ hôm nay nhà ăn có thịt trâu hay là thịt châu. Tĩnh lên tiếng hỏi, đám con trai tản đi hết, để trơ lại cậu kia đầu tóc rối bù, áo quần xộc xệch sau một cuộc giằng co. Anh ta sửa sang lại quân dung, bẽn lẽn đáp: “Em là Châu đây ạ”.
Họ quen nhau rất nhanh, cũng dễ chuyện trò vì Châu mới có hăm lăm, kém Tĩnh những năm tuổi. Được sự đồng ý của chỉ huy, Châu đi cùng Tĩnh sang làng Yên. Con đường dài hơn ba cây số, chạy giữa đồng trống, rải rác bên đường những chiếc hầm chữ A và hố trú ẩn cá nhân. Thình lình máy bay Mỹ ào tới, quần đi đảo lại đến nửa giờ đồng hồ. Châu và Tĩnh lao vào một chiếc hầm chữ A, bám chặt lấy nhau trong cơn rung giật đùng đùng của căn hầm và lòng đất. Búi tóc nặng trên đầu Tĩnh đổ xuống, thành một suối tóc ôm trùm lên tất cả. Thốt nhiên, không ai nghe thấy bom rơi đạn nổ nữa, chỉ còn một dòng suối chảy thao thiết, có hoa thơm cỏ lạ và ngào ngạt hương. Chàng trai khô khát ngập chìm trong dòng suối tóc như người chưa hề biết biển lần đầu tiên đắm mình giữa đại dương.
Hai người còn đi với nhau thêm mấy lần nữa trên con đường giữa đồng trống và ẩn mình trong căn hầm của số phận, trôi thả trong suối tóc của người đẹp làng Yên.
Rồi cũng đến lúc Tĩnh phải thú nhận tất cả với ban lãnh đạo xã. Người ta bàn bạc hình thức kỷ luật cô. Tĩnh đến tìm Châu đúng vào thời kỳ anh đang trực chiến căng thẳng. “Chị Tĩnh có điều gì lo lắng thế?” Nghe Tĩnh kể xong, Châu cười sung sướng chạy vụt ra hành lang, vồ lấy một chàng phi công vừa đi qua, quay tít mấy vòng: “Tớ sắp lấy vợ đấy”. “Lấy ai?”. “Chị Tĩnh kia kìa”. Châu vẫn chưa kịp đổi cách xưng hô.
Tĩnh cùng Châu quay về gặp ban lãnh đạo xã, thông báo quyết định sẽ làm lễ thành hôn. Tuy vậy việc cưới xin không thể là một sự cứu vãn, kỷ luật vẫn là kỷ luật, phẩm chất đạo đức của cán bộ không cho phép một cô gái mang thai trước khi lấy chồng. Đùng một cái, thân phận chính trị của Tĩnh chẳng còn gì: bị khai trừ, bị cách chức phó chủ tịch và khẩu đội trưởng dân quân.
Tĩnh phải bỏ làng, được Châu đưa về Hà Nội ở với người mẹ góa bụa của mình. Bà mẹ ngơ ngẩn như bị ăn cướp. Trong bữa cơm, Tĩnh gắp vào bát mẹ chồng miếng thịt gà, bà gắp trả vào đĩa mà nói trong nước mắt: “Tôi van chị, chị buông tha cho con tôi”. Gia đình còn một căn nhà nhỏ với vườn rộng ở ngoại ô, Châu đành mang vợ bụng mang dạ chửa ra đấy. Ít tháng sau, một thằng bé ra đời.
Người mẹ trẻ vẫn đau đớn âm thầm vì chỉ trong thoáng chốc bị mất sạch, phải lìa bỏ quê hương, không còn chỗ bám như một cái cây bị giật đứt gốc. Không được cả mẹ chồng chấp nhận, nhưng chị vẫn tự an ủi rằng những gì quý giá nhất đối với người đàn bà là chồng con, do đó không thể coi là mình đã mất tất cả. Rốt cuộc, chồng và con là tài sản duy nhất của mẹ tôi.
Sau năm 1973, những tưởng được yên tâm phần nào về bố tôi, vì từ nay không còn những trận giáng trả bọn cướp trời nữa, thì bỗng đâu có tin sét đánh: chiếc máy bay có bố tôi và một số sĩ quan khác đã mất tích ở vùng biên giới. Việc tìm kiếm hơn một tháng trời không có kết quả. Nhưng một hôm mẹ tôi vừa thắp lên ba nén hương, chắp tay trước bàn thờ bố, thì một bà hàng xóm sồn sồn bước vào: “Thôi, dụi hương đi, cúng vái gì. Máy bay đã bay sang Thái Lan, họ đang ăn chơi nhảy múa ở bên ấy. Chuẩn bị mà nhận hàng của chồng gửi về”. Tin đồn này lan khắp nơi, hàng tháng trời làm thân nhân những người mất tích nửa tin nửa ngờ. Có người đã dỡ bỏ bàn thờ. Nhưng bố tôi không bao giờ trở về nữa.
Mỗi lần có tiếng máy bay trên trời, là một lần mẹ tôi rùng mình, không dám ngẩng đầu lên. Tôi lại khác, với một thằng bé, cái chấm nhỏ giữa trời xanh là niềm ao ước khôn cùng. Miệng bắt chước tiếng ầm ì của máy bay, tôi ngửa mặt chạy theo nó cho đến khi vấp ngã, đâm đầu vào một bụi cây trong vườn.
Mẹ đỡ tôi dậy. “Muốn chạy cho xa, người ta không nhìn trời, mà nhìn xuống đất, con ạ”.
Đấy chỉ là lời dạy đối với các bậc vĩ nhân thời niên thiếu. Còn tôi, một đứa con trai bình thường, một số phận chắc cũng rất bình thường, nếu ngay từ bé chỉ biết nhìn xuống đất thì đến tuổi trưởng thành tâm hồn sẽ như quả bóng bay bị neo buộc, chỉ còn cách chờ đến khi tự nổ vỡ mà không một lần được bay lên. Bây giờ tôi mới nghĩ được như vậy. Nhưng khi ấy, tôi là một đứa con dễ bảo, tôi nghe lời mẹ, cẩn thận nhìn đường khi đi đứng. Cũng từ đó, tôi cảm nhận được nỗi đau đớn của cỏ cây bị bàn chân mình giẫm lên, và khóc mãi vì đã vô tình giẫm chết một con dế trên đường.
Mẹ không muốn tôi nhìn lên trời, mơ tưởng đến những vật bay, lặp lại số phận của cha tôi. Mẹ muốn giữ tôi bên cạnh, không muốn mất tôi cho một cái gì cao xa, cho một ai khác.
Nhưng một đứa con trai hiếu động không làm sao quanh quẩn mãi bên mẹ và trong vườn nhà. Tôi đã mò sang các nhà hàng xóm, sang nhà chị Thạch. “Đấy là một con rắn độc”. Một bà hàng xóm nói với mẹ tôi về chị. Tôi nhớ có lần mẹ sai đi mua thuốc cảm. Chị Thạch đứng bán thuốc, trước một tủ kính có chữ Thuốc độc bảng A, vẽ hình một con rắn đang nhả nọc vào cốc. Chắc hẳn vì thế mà bà kia gọi chị là rắn độc. Một đêm có tiếng chị Thạch kêu khóc ầm ĩ. Hàng xóm đổ sang thì chồng chị đã chết. Người ta bảo anh chồng bị cảm gió. “Cảm đâu mà cảm, chết khi đang ngủ đấy. Ngày xưa con gái về nhà chồng mang theo một cái trâm, không phải chỉ để cài đầu mà thôi đâu”. Bà hàng xóm lại nhỏ to như vậy với mẹ tôi. Theo lời bà thì chị Thạch là một con dâm phụ có tướng sát chồng. Nhưng với tôi, chị rất mực dịu dàng. Hai mươi chín tuổi, chưa con cái đã góa chồng, chị bỏ hiệu thuốc, đi buôn tem phiếu, rồi đi buôn chuyến. Mỗi lần đi xa về, chị đều gọi tôi vào nhà, cho ăn hết phần quà dành riêng cho tôi. Khi thì mận hậu, lúc thì cam Vinh, hoặc bánh đậu xanh Rồng Vàng… Đáp lại, tôi đọc sách cho chị nghe, những cuốn sách rách nát chẳng rõ chị cất giữ từ thời nảo thời nào.
Năm ấy tôi mười sáu tuổi, ngộc nghệch đánh chiếc quần đùi, ngồi dạng chân đọc Đồi thông hai mộ cho chị Thạch nghe. Chị ghé lại gần, nhìn đôi cẳng chân lông lá của tôi mà bảo: “Phải biết chọn bạn mà chơi”. Tôi ngừng đọc, nhìn chị như hỏi. “Đừng chơi với những thằng không có lông chân”. Tôi càng ngơ ngác. “Bọn ấy, rặt một lũ hèn”. Rồi chị thở dài, mắt nhìn xa xăm: “Nói trộm vía, chồng tôi ngày trước cũng vậy”.
Đúng lúc ấy mẹ tôi hớt hải chạy sang, thấy tôi ngồi cạnh chị Thạch, dáng ngồi hớ hênh với chiếc quần đùi rộng thùng thình. “Bảo, về ngay”, “Mẹ cho con đọc nốt…”, “Không, không, đi về”. Mẹ vặt cuốn sách tã như mớ dưa khỏi tay tôi, vứt trả chị Thạch, rồi lôi tuột tôi về. Như thể chỉ chậm một chút thôi là mẹ đã bị người ta lừa, lấy sạch sành sanh.
Những cuốn sách đồng nát của chị Thạch đã trở nên chán ngắt. Nhưng tôi vẫn giấu mẹ, thỉnh thoảng sang nhà chị xem ti vi. Chị Thạch mới mua được một chiếc ti vi đen trắng, nước mắt chan hòa mỗi khi xem cải lương. Xem ca nhạc, hễ thấy mặt ca sĩ Thạch Lan nốt ruồi to tướng và Lệ Duyên uốn éo làm duyên đến mức méo mồm, chị lại bảo: “Tôi mà giàu thì tôi đập tan cái ti vi ra”. Tôi hỏi lại: “Chị không giàu à?”, “Giàu có gì tôi, khổ nhục lắm, cậu chẳng biết đâu”. Một lần trên ti vi có vở kịch chống tiêu cực, một nhân vật sang sảng mắng: “Bọn con buôn chúng mày…” Chị Thạch điên lên: “Hứ, con buôn. Phải gọi là ông buôn, bà buôn. Buôn bán được mà dễ à”.
Mẹ tôi dồn tiền mua một chiếc ti vi cũ, nhưng còn tốt. Mẹ muốn giữ chân tôi ở nhà, tránh cho xa con rắn độc kia. Nhưng không lâu sau, chị Thạch mang về nhà một chiếc ti vi màu có thể điều khiển từ xa. Đến mức ấy, mẹ tôi đành bỏ cuộc, không sao chạy đua tiếp được nữa. Mẹ phải dùng đến biện pháp nghiêm cấm thẳng thừng, lý do: phải tập trung học thi.
Tôi tốt nghiệp phổ thông, không đỗ đại học, và thích đi làm. Một người quen xin cho vào làm việc ở một nhà máy dệt. Nhà máy nhận, nhưng ra điều kiện: phải hoàn thành nghĩa vụ quân sự đã. Người ta không muốn biên chế bị xáo trộn một khi anh đang làm việc lại bị gọi nhập ngũ. Mẹ tôi sợ nhất cái nghề súng ống và tàu bò tàu bay. Lại cũng chính người quen kia nhắc cho mẹ nhớ rằng sư trưởng nọ là bạn cũ của bố tôi, gửi tôi vào tay ông thì rất bảo đảm, sẽ không hề vất vả, đi hết ba năm rồi về. Thế là tôi thuộc số quân của xí nghiệp nhập ngũ đợt ấy, nhưng được nhấc riêng về sư của bác Đắc, làm nhân viên quân lực, đảm bảo không phải lên biên giới.
Bác Đắc là một người nghiêm khắc, yêu tôi nhất mực vì thấy ở tôi bóng dáng người bạn trẻ ngày nào của mình. Nhờ bác thảng hoặc tạt qua kể lại vài kỷ niệm mà tôi biết chuyện tình duyên của bố mẹ thuở trước. Bác còn kể rằng năm 1972, lúc tôi lên sáu, mẹ mang tôi lên đơn vị thăm bố, hy vọng kiếm thêm đứa con nữa. Chờ ở nhà khách mấy ngày mà bố đi công tác chưa về, mẹ con đành thu xếp về Hà Nội. Ô tô đơn vị chở mẹ con tôi ra ga, đi được một đoạn thì gặp xe bố về. Bác Đắc giữ tôi ngồi cùng trong cabin, xua tay đuổi cặp vợ chồng vừa gặp lại: “Cô cậu ra sau thùng xe mà tâm sự, bác cháu tôi ngồi đây được rồi”. Tôi giẫy lên: “Cho cháu ngồi với bố mẹ cháu”. Bác phát vào mông tôi một cái: “Ngoan nào, rồi bác cho đi máy bay”. Đoạn đường còn lại đến nhà ga, bác bảo anh lái xe đi chậm để kéo dài chút thời gian ân ái của cặp vợ chồng lính. “Nếu lần ấy mẹ cháu không sẩy thai, thì bây giờ em cháu đã mười hai tuổi rồi”.
Ba năm quân ngũ sắp trôi qua xuôi xẻ. Tôi sẽ trở về làm việc ở nhà máy, một cái nghề bình thường, không có thời gian cho tôi nhìn lên trời mà mơ tưởng đến những chuyến bay. Đó là điều mẹ tôi mong muốn, và mẹ cảm thấy yên lòng bởi ngày ra quân của tôi sắp đến. Nhưng rồi xảy ra một chuyện làm đảo lộn tất cả. Lỗi ở cha mẹ đã sinh ra tôi là một đứa con trai đa cảm và thương người.
Thân là một chiến sĩ thuộc đơn vị trinh sát, đã nhiều lần bỏ trốn về nhà, hoặc tự ý kéo dài thời gian nghỉ phép. Cũng nhiều lần bộ phận quân pháp phải cho người đi bắt cậu ta về, tống vào trại phạt giam. Lần này, Thân được nghỉ tranh thủ bảy ngày, nhưng kéo dài đến hơn mười ngày. Người ta chỉ chờ cậu ta ló mặt đến đơn vị là làm thủ tục tước quân tịch, đuổi về địa phương. Ngày thứ mười hai, Thân mới đến và người đầu tiên cậu ta tìm gặp là tôi. Trong tờ giấy cho phép nghỉ tranh thủ, Thân đã tẩy xóa thời hạn trả phép là ngày 14-3, chữa thành 19-3. Tôi là người viết tất cả các loại giấy phép như vậy cho thủ trưởng ký. Thân cầu cứu tôi, tôi hãy nhận là đã viết nhầm để tránh cho cậu ta cái họa bị đuổi về địa phương tiếp tục cải tạo. Ở quê Thân đang vào lúc đói, mấy đứa em đi học cứ tựa lưng vào tường mà xỉu xuống. Cậu ta nấn ná ở lại nhà cũng là để kiếm thêm cho gia đình chút gạo.
Dù biết Thân không phải người thật thà, tôi vẫn bị xúc động vì câu chuyện cậu ta kể. Tôi nhận lỗi về mình, sẵn sàng chịu phạt giam, bụng bảo dạ rằng đi an dưỡng trong núi khoảng một tuần, rồi quay về làm thủ tục ra quân là vừa. Người ta hỏi ý kiến bác Đắc. “Phải giữ gìn kỷ luật quân đội”. Bác nói dứt khoát, cũng nghĩ một cách đơn giản rằng bảy ngày phạt giam sẽ trôi qua một cách êm đẹp.
Thế là tôi ngồi đây vào lúc cuối chiều, hầu như kiệt sức sau một ngày dùng xẻng và cuốc chim mở rộng con đường chạy qua phố núi. Tôi ngồi phệt bên một gốc cây gạo, há miệng thở và ngửa cổ nhìn ngôi sao Hôm vò võ một mình. Ngắm sao và đếm sao là việc của trẻ con, cũng là điều mẹ không muốn cho tôi làm. Nhưng hãy ở vào vị trí của tôi, được hoàn toàn thả lỏng sau khi chân tay đã rã rời, cũng không hút thuốc và tham gia vào những cuộc chuyện trò tục tĩu của lũ phạm bên cạnh, hỏi còn biết làm gì hơn là ngửa cổ nhìn sao?
Sẩm tối ngày thứ hai, lúc còi báo nghỉ rúc lên và tôi vứt xẻng, buông phịch người xuống bên cạnh gốc cây gạo, chưa kịp ngửa mặt nhìn trời, thì có ai đó dúi vào tay mấy quả mận. Bóng một cô gái tập tễnh bước qua, nhập vào toán mấy người đàn bà rồi khuất nhanh sau làn sương mù. Có lẽ đó là hình ảnh mà tôi nhớ mãi về cái phố núi què quặt có vài ba chục nóc nhà và dăm bảy cái quán nước này: những con người bàng bạc trong sương, không rõ rệt một gương mặt nào ra gương mặt nào.
Gần phố núi có một đơn vị công binh thuộc sư đoàn. Sáng sáng dân bán quán phải cử người đứng gác ở đầu đường. Khi nào người này hô: “Bộ đội đến rồi”, thì những người bán hàng cuống cuồng bê thúng bê mẹt chạy rầm rập, xô vào nấp trong những căn nhà ven đường. Các quán nước sập cửa, im lìm như chưa dọn quán bán hàng. Đám lính công binh quần áo lao động rách rưới, lộn xộn kéo qua, xẻng cuốc rê siết trên mặt đường đá sỏi. Dạo đơn vị này mới đến, dân phố chưa biết, cứ mở cửa bán hàng bình thường. Ào một cái, có đến cả tiểu đội vào quán, bóc bánh ăn, tự động mở thẩu lấy kẹo lạc uống nước chè. Cũng ào một cái, kéo nhau ra hết. Bà chủ quán túm được mảnh áo anh chàng đi sau cùng: “Trả tiền đã”. Chiếc áo vốn đã rách, bị toạc rộng hơn. Anh nọ trừng mắt: “Bắt đền đi. Quân với dân như cá với thớt thế à?”
Không chỉ là sự chơi chữ theo kiểu lính tráng. Đơn vị ở xa, lương thực và nhu yếu phẩm qua nhiều đợt vận chuyển bị bớt xén, xuống được đến đơn vị thì chỉ còn đủ cho lính ăn đói mặc rét. “Cuốc xẻng phân từ dưới lên, đường sữa phân từ trên xuống”. Đám lính công binh chán chường nói rằng cả hai chiều phân phối ấy, cái mà người đứng cuối hàng nhận được là số không. Làm bậy thì bị kỷ luật ư? Cũng chỉ đến mức an dưỡng mấy ngày trong trại giam.
Có buổi, người ta đang ôm thúng mủng chạy thì bỗng có người tinh mắt nhận ra: “Không phải bộ đội, phạm thôi”. Ai nấy trở lại vị trí cũ, bày hàng ra bán. Lũ phạm đầu trọc lốc, giữ vẻ mặt hiền lành vô hại, chỉnh đốn trong hai hàng quân. Chúng không dám vào quán, một khi không có tiền. Thèm thuốc quá, cũng chỉ dám nhặt những đầu mẩu thuốc lá vương vãi trước quán, chúng gọi là tóp, châm lửa và rít nốt chỗ thừa. Ai cũng tỏ vẻ dễ bảo để nhanh chóng được trả lại đơn vị, nhập vào cái đơn vị hung hăng kia, để rồi sau đó vi phạm kỷ luật, quay vòng trở lại làm phạm.
Sáng hôm ấy, dừng chân trước mấy quán hàng, một thằng trong bọn nêu sáng kiến cử người đi nhặt tóp, rồi xé ra, thu góp lấy chỗ thuốc, sau đó dùng giấy cuốn thành điếu thuốc hẳn hoi. Tôi không hút thuốc, nhưng cũng bị kéo vào cuộc rút thăm, và rút phải cái que ngắn. Tôi đành cầm chiếc mũ pho chạy vào quán nước trước mặt, ngó đầu xuống dưới những chiếc ghế băng đầy chân người. Cái nhìn xiên xóc qua những cặp chân người. Tay khéo léo luồn lách qua những bàn chân nứt nẻ, nhặt những đầu mẩu thuốc lá.
Thốt nhiên, giữa những bàn chân chai sạn và đầy phiền muộn trong cuộc mưu sinh của cả đàn ông và đàn bà, ánh mắt tôi chạm phải một bàn chân trắng trẻo con gái. Nhưng cái mà tôi nhìn thấy ngay sau đấy làm tôi rùng mình: một bàn chân teo tóp sánh đôi với nó. Hai bàn chân khập khiễng như một bảy một mười. Một là chiếc cành tơ đầy căng nhựa sống, một là cành khô. Một là của cô gái đôi mươi mười tám, một là của bà già cạn kiệt lục tuần.
Mắt tôi như bị gắn vào đôi chân đang hướng thẳng vào mình. Ở vị trí ấy, đôi chân là của cô gái bán hàng. Tôi từ từ đứng dậy, cái nhìn nâng từ lưng lên vai của những người khách uống nước, và hầu như mờ đi, hoa lên, khi chạm phải gương mặt cô gái. Chưa bao giờ tôi thấy một gương mặt đẹp như thế, thùy mỵ như thế, ở những vùng quê hẻo lánh. Gương mặt ấy và bàn chân ấy, một bông hoa trong huyền thoại, một trăm năm mới ra hoa một lần, nhưng nở trên cành khô.
“Mời anh vào xơi nước”. Cô gái như nhận ra người quen, nhẹ nhàng mời tôi, mời một thằng phạm. Tôi sững sờ, đứng chôn chân một lát, rồi ôm cái mũ chứa đầy tóp, quay lưng chạy. Đến lúc ấy tôi mới hiểu ra rằng đó chính là cô gái đã dúi cho mình mấy quả mận hôm trước.
Buổi tối, cơm nước xong, anh chàng Vĩnh bị phạt giam chờ ngày xét xử vì tội dùng vũ lực cưỡng ép phụ nữ lại tiếp tục chương trình kể chuyện đêm khuya với mấy đứa bạn. “Tớ không cưỡng hiếp nó. Quen nhau đã khá lâu, nó tình nguyện hẳn hoi. Thế mà xong việc rồi, nó ngồi trong bụi khóc hu hu. Người ta đi qua, xông vào bắt”.
Tôi xin phép quản giáo, đi ra ngoài có chút việc. Kỷ luật của trại rất nghiêm, nhưng tất cả đều nể tôi, một nhân viên quân lực của sư đoàn và nghe đâu là cháu của sư trưởng. Tôi cắm đầu chạy hơn hai cây số, trong màn đêm đầy sương, nhưng đôi lúc cũng thấy những vì sao lấp ló trên đầu. Quán hàng đã đóng cửa. Ánh đèn le lói qua những khe hở. “Tôi đến mua thuốc lá”. Tôi đáp lời cô gái từ trong nhà hỏi vọng ra. Cửa hé mở, gương mặt cô gái nhuộm hồng ánh đèn tỏa ra từ ngọn đèn bão cầm tay. “Anh đấy à? Ôi, ban ngày thì em có thể mời anh vào nhà được”. Nàng hình như bị lây vẻ lúng túng của tôi. “Tại sao không phải là bây giờ?”, “Mẹ em cấm”, “Cả gia đình em mà sợ một mình anh hay sao?”, “Không, mẹ em sống ở cuối đường cơ. Em chỉ có một mình”. Nàng thú nhận một câu dại dột, nhưng dại dột với một người như tôi thì chắc không nguy hại gì. “Mà đứng nói chuyện thế này cũng không tiện. Thôi, anh vào nhà đi”. Tôi bỏ hết số tiền ít ỏi để mua thuốc lá, chỉ tiếc không có nhiều tiền hơn để mua, dù sau đó đem vứt đi cũng được. Để cho tự nhiên, tôi châm một điếu thuốc, chỉ rít một hơi mà ho mãi, ho mãi. Nàng lo sợ đưa chén nước cho tôi uống. “Hút thuốc chẳng tốt đâu anh ạ”, “Thì thôi, anh sẽ cai hẳn, ngay bây giờ”, “Vậy em lấy lại chỗ thuốc này nhé?”, “Không để anh mang về cho lũ bạn”.
Ngay lúc ấy có tiếng trẻ con gọi cửa: “Chị Duyên ơi”. Nàng hoảng hốt hạ giọng. “Em gái em nó sang đấy. Thôi, anh đi đi, khi nào rỗi anh lại đến chơi nhé”. Duyên mở cửa sau, thì thầm chỉ lối cho tôi ra. Ở trong nhà, để giảm bớt cái tật ở chân, nàng kín đáo bám lấy thành ghế, cánh cửa, hoặc vịn tường. Nhưng có việc phải ra đường thì biết bám vào đâu?
Tối nào tôi cũng đến chơi và ra về trước khi xuất hiện đứa em gái mật thám, em cùng mẹ khác cha, được mẹ cử sang ngủ cùng để giám sát Duyên. Rồi cũng đến một buổi tối tôi bế nàng lên giường. Bàn tay tôi sung sướng bao nhiêu khi đặt lên cái chân lành lặn của nàng, thì hoảng sợ và chua xót bấy nhiêu lúc chạm sang cái chân tật nguyền. Duyên kể, sau một trận ốm vào năm lên tám, cái chân ấy đã trở nên teo tóp như vậy. Tôi tự cho mình cái trách nhiệm phải đền bù mọi nỗi thiệt thòi của nàng. “Em sẽ không khóc chứ?” Tôi không khỏi có chút lo ngại, nhớ đến chuyện của anh chàng Vĩnh. Nàng trả lời: “Có anh thì chẳng bao giờ em khóc”.
Chúng tôi nằm thiêm thiếp hồi lâu cho đến lúc có tiếng gọi quen thuộc của đứa em gái. Đêm nay là của riêng chúng tôi, không ai có quyền chia sẻ một phần cái đêm như thế. Duyên nói vọng ra: “Về đi. Chị tắt đèn và đi ngủ rồi”, “Ứ ừ, em sợ lắm”. Nó đã thu hết can đảm cầm đèn đi dọc dãy phố để đến đây, tưởng sẽ được vào nhà ngay. “Không đi nhanh thì ma nó ra nó vồ đấy”. Yên ắng hẳn. Chắc con bé vừa chạy vừa khóc. Số phận của những kẻ làm mật thám thường còn bi thảm hơn nhiều.
Mẹ Duyên may mắn lấy được người chồng tháo vát và đẹp trai nhất vùng, nhưng không may phải làm dâu một bà già cuối đời đốc chứng nanh ác. Mỗi ngày một trận nghe chửi, mà không chỉ riêng mình phải nghe. Bà mẹ chồng thường ra trước cửa chửi, cho hàng xóm láng giềng cùng biết bà đang chửi con dâu. Bố Duyên theo người đi lấy trầm hương tận Quảng Bình, bị hổ vồ. Ngày giỗ trở thành ngày mẹ chồng chửi “cái con sát chồng”. Duyên lên mười, mẹ đi bước nữa, bị bà chửi: “Chưa đoạn tang chồng đã vội theo giai”. Mẹ Duyên cho rằng bà mẹ chồng ác khẩu và lắm điều như vậy, một phần cũng bởi chú em chồng đưa chuyện khích bác. Tự thấy mình là người bất hạnh, bà trút nỗi căm tức vào việc trả thù chú em. Bà nội mất rồi. Duyên sống một mình trong căn nhà có bàn thờ họ. Mẹ nắm được ý đồ của ông chú là tìm gả chồng sơm sớm cho Duyên, cho cô ít tiền về nhà chồng, rồi độc chiếm căn nhà. Mẹ lồng lên: “Hai chục tuổi ranh, dại gì mà vội mang gông đeo cổ. Xấu như tôi mà còn lấy được chồng nữa là”. Ông chú có một cơ ngơi khang trang ở gần nhà Duyên, nhưng không hề để mắt trông coi đứa cháu, thầm mong càng có nhiều con trai đến tán tỉnh càng tốt, họa may nhỡ với đứa nào thì cho Duyên lấy đứa ấy. Mẹ chửi: “Chú cũng như cha, mà vô trách nhiệm. Dạo tôi mới về làm dâu, ban đêm cái thằng ấy đi đái sợ ma phải nhờ tôi dẫn đi, nước đái khai khiếp lên được, thật đúng là đồ ăn hại”. Quyết phá tan ý đồ trục lợi của ông chú, bà sai đứa em gái theo sát Duyên, hằng ngày báo cho mẹ biết những ai hay đến chơi, hoặc ngồi lâu ở quán nước. Thà rằng con gái bà ở vậy mà giữ được cơ ngơi, mà làm cho ông chú uất đến chết, thì vẫn hơn.
Vô tình bà mẹ là trở lực lớn nhất đối với việc tôi muốn cưới Duyên và đưa nàng về Hà Nội. “Em sẵn sàng đi khắp nơi cùng anh, anh đi đâu thì em đi đấy”. Duyên nói thế. Thời hạn phạt giam của tôi đã hết. Vĩnh thì được nạn nhân trong vụ cưỡng ép phụ nữ và gia đình cô ta làm đơn xin tha, vì thực ra họ yêu nhau. Chúng tôi đi cùng một đoạn đường. Vĩnh bảo: “Làm cho tớ phải vào tù, nay hóa ra là nó yêu tớ. Nhưng thôi, dù sao thì cũng lấy được vợ”. Tôi ghen với sự dễ dàng của cậu ta.
Về đến đơn vị, tôi gặp bác Đắc: “Cháu sắp cưới vợ. Bác chứng nhận vào hồ sơ này cho cháu”, “Cháu đùa đấy hả, hai mươi mốt tuổi ranh, mà mẹ cháu đã đồng ý chưa?”, “Mẹ cháu khó mà bằng lòng ngay được, vì thế cháu chỉ trông cậy vào bác”. Tôi không có vẻ gì là nông nổi và đùa cợt. Bác Đắc nhíu mày: “Để bác nghiên cứu đã”. Buổi tối hai ngày sau, bác gọi tôi lên: “Bác đã cho người bí mật điều tra. Gia đình nó bình thường, chẳng phải là địa chủ Việt gian gì”. Bác đưa trả hồ sơ đã chứng nhận, nắm chặt tay tôi, trầm giọng: “Chỉ thương cho chúng mày. Chân tay như thế làm ăn gì được. Rồi mẹ cháu sẽ nguyền rủa bác suốt đời”.
Tôi trở lại tìm Duyên. Anh cán bộ ủy ban thị trấn rất mến Duyên, đành chiều theo chúng tôi, làm thủ tục đăng ký kết hôn rồi trao cho chúng tôi một tờ giấy chứng nhận. Anh cũng hứa là sẽ giữ kín việc này cho đến khi chúng tôi làm lễ cưới. Tôi và Duyên quyết định kết hôn vì chỉ lo sẽ có nhiều điều bất thường trong thời gian thuyết phục gia đình. Giờ thì chúng tôi đã yên tâm. Buổi tối hôm ấy, như mọi tối, con đường không một bóng người. Ra khỏi trụ sở ủy ban, không đành lòng để cho Duyên bước thấp bước cao đi bên cạnh, tôi xốc nàng lên, bế nàng đi suốt con đường qua phố núi.
Về đến nhà, tôi vào đề luôn: “Mẹ ơi, con sắp lấy vợ”. Mẹ cười: “Nào có ai nói sao, lấy dăm ba vợ cũng được”. Tôi nghiêm trang đưa cho mẹ xem tấm ảnh Duyên, một gương mặt xinh đẹp, dịu dàng đến nao lòng. “Không”. Mẹ kêu thất thanh như thể nhận ra trong ảnh là một tội phạm đang bị truy nã. “Không”. Mẹ ôm đầu, đổ vật xuống giường, chưa hề được chuẩn bị để tiếp nhận một cái tin như thế. Trước đó, mẹ chỉ có duy nhất niềm vui là tôi đã trở về, trở lại làm đứa con nhỏ như ngày xưa, con có mẹ và mẹ có con. Không ngờ đứa con ấy chẳng còn trọn vẹn là của riêng mẹ nữa. Bắt đầu những vết nứt rạn có nguy cơ làm tan vỡ vĩnh viễn một vật báu.
Lần đầu tiên tôi biết rằng người ta có thể ốm chỉ vì choáng váng và đau khổ. Mẹ nằm sốt li bì mất mấy ngày. Không một lời hỏi han về cô gái trong ảnh nọ, tên tuổi ra sao, gia cảnh thế nào. Dù xấu hay tốt, nhưng chiếm mất đứa con duy nhất của mẹ thì không thể chấp nhận được. Khi bắt đầu bình phục, mẹ đến trước bàn thờ bố tôi, thắp hương khấn vái, tay cầm chiếc lược nhỏ làm bằng mảnh máy bay Mỹ. Tự tay bố tôi làm hai chiếc lược giống hệt nhau, khắc lên đấy hai chữ Tĩnh – Châu, đưa tặng mẹ một chiếc, còn một chiếc bố giữ ở túi áo trong, luôn mang theo người. Chiếc lược là mảnh đời sót lại của người chồng đã mất, mẹ đặt trên bàn thờ, không ngày nào mẹ quên lau sạch bụi.
Tôi nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa. Ở nơi phố núi hẻo lánh kia Duyên đang mong ngóng từng giờ. Liệu nàng có một chút ngờ vực tôi đã cao chạy xa bay hay không. Tôi không thể quanh quẩn mãi ở nhà mà không đạt được kết quả gì.
Tôi lang thang như một kẻ mất hồn, chân đưa đến cửa nhà chị Thạch mà chẳng hay. Từ hôm về, tôi đã thoáng thấy một gã điển trai thì thụt ra vào nhà chị. Một lần gã đứng rửa chân ở máy nước trước cổng. Chân gã đầy lông.
Chị Thạch một mình lặng lẽ ngồi uống rượu với mấy con mực nướng. Cái lặng lẽ thật là hiếm hoi ở một người đàn bà như chị. Nước mắt chứa chan. Chị xé chị dứt những con mực bằng đôi tay của người đang muốn trả thù. Tôi uống ực một hơi chén rượu chị đưa cho, nhận thấy trong nhà chị đã có đầu video. Tiện tay, tôi bật tiếp cái băng hình đang nằm trong máy. Một bộ phim kinh khủng. Những con heo đang hướng dẫn cách giao cấu. Tôi tắt ngay, không phải vì không muốn xem, mà vì xem trước mắt chị Thạch không tiện. “Cậu còn nhỏ, xem phim này không tốt”, “Không nhỏ đâu. Em sắp lấy vợ đấy”. Tôi thuật lại tỉ mỉ tình cảnh của mình. “Sao cậu không bảo tôi ngay?”, “Nói với chị để làm gì”, “Trời ơi, thế là cậu chưa hiểu tôi. Bao giờ thì đi đón cô ấy? Sáng mai có muộn quá không?”
Sáng hôm sau, chúng tôi mang hai bao tải nặng ra ga, theo tàu ngược lên phố núi, có cả gã lông chân đi cùng. Tôi phải nói dối mẹ là quay lại đơn vị, xin sửa chỗ viết nhầm trong giấy chứng nhận xuất ngũ. Toa tàu chợ chật ních hàng hóa, người nằm người ngồi lộn xộn. Một người đàn bà buôn chuyến bước qua mặt, giẫm cho tôi một cái đau điếng, và nhận ra chị Thạch: “Chị đi với ai đấy?”, “À, có hai cậu em”, “Thế à, em cũng đi cùng với cậu em đây, nhưng chỉ có một thôi”. Chị ta cười dễ dãi ra ý hiểu, rồi dắt tay cậu em khoảng mười tám tuổi, đến góc toa tàu, trải tấm ny lông ngồi. Đêm xuống dần. Tôi thấy người đàn bà nọ và gã trai đang kín đáo quằn quại trong một tấm chăn chiên. Có lẽ nhiều người biết, nhưng ai cũng vờ như đã lơ mơ ngủ.
Theo sự cắt đặt của chị Thạch, trước tiên chúng tôi đến gặp bác Đắc. “Việc hệ trọng như thế, sao mẹ cháu không đi?” Chị Thạch đỡ lời: “Mẹ cháu khó ở, vả lại cũng cần có người ở nhà sửa soạn đón dâu về. Em là dì họ của cháu, em xin gánh việc này”. Bác Đắc ngạc nhiên: “Thế thì cần tôi làm gì nữa?”, “Sao bác lại nói thế, bác cũng như cha của cháu Bảo. Bác đến ngồi cho có cái uy, không phải làm gì cả, mọi việc em lo tất”.
Trong gia đình Duyên, việc chúng tôi đăng ký kết hôn đã vỡ lở. Chẳng là trước đó mấy ngày, ông chú đòi họp gia đình, mời cả bà chị dâu đã đi bước nữa, để thông báo việc ông đã tìm được một mối cho Duyên. Theo ông thì Duyên đã hai mươi tuổi, tốt thì có tốt, nhan sắc cũng có, nhưng cũng có cả tật, phải tỉnh táo biết mình biết người, phải sớm lấy chồng trước khi quá muộn. “Cháu chưa muốn lấy chồng”. Duyên đáp ngay. Bà mẹ hùa vào: “Phải đấy, nồi nào sẽ có vung ấy, lo gì”. Ông chú vặn lại: “Chị muốn con gái chết già xó cửa hay sao?” Bà mẹ cười nhạt: “Thà rằng ở vậy nuôi thân béo mầm. Tôi trót dại lấy chồng hai lần, tôi biết”. Cuộc tranh cãi nảy lửa, bà mẹ có nguy cơ bị đẩy vào thế cô lập, cho nên Duyên đành thú nhận: “Cháu đã có chồng rồi”. Nàng đưa cho mọi người xem tờ giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. “Văn Ngọc Bảo là ai, mặt mũi ra làm sao”. “Anh ấy tốt lắm. Dạo trước anh ấy là phạm, cải tạo lao động ở đây”. Mẹ ôm mặt kêu trời. Ông chú nói sau một chút trầm ngâm: “Phạm nhưng mà tốt. Cũng được”. Ông tuyên bố sẽ cho Duyên hai lạng vàng để đi lấy chồng. Số lượng tài sản ấy chứng tỏ ông chẳng phải là người không biết điều. Nhưng mẹ Duyên vẫn giậm chân bành bạch: “Lòng tham làm chú mê muội rồi”. Mấy ngày chẳng thấy động tĩnh, chẳng thấy bóng dáng tôi đâu, mẹ Duyên bắt đầu cho rằng tôi đã mất hút. Như thế cũng có phần hay, hay hơn nữa nếu Duyên có con, cô sẽ yên tâm mà ở lại nhà, chẳng màng đến một tấm chồng nào nữa.
Bà mẹ Duyên hoàn toàn mất bình tĩnh lúc một chiếc commăngca đỗ trước cửa nhà, và một ông sư trưởng đường bệ bước xuống. Ông chú được gọi sang, cùng với bố dượng Duyên tiếp chuyện bác Đắc. Chị Thạch không để phí thời gian, lấy bánh kẹo và đồ chơi phân phát cho trẻ con trong nhà và lũ trẻ hàng xóm. Quà cho mọi người thì có lụa và vải xoa cho phụ nữ, đèn pin và thuốc lá cho đàn ông. Chiếc máy Sony mang theo, chị mở băng cải lương vang nhà. Đang tíu tít chuyện trò, nghe lao xao ngã giá ở đằng sau, chị Thạch nhìn ra, thấy gã lông chân đang giở tung hàng từ trong một chiếc bao tải, chào mời mấy người hàng xóm. Chị vẫy anh chàng ra một góc: “Đánh đĩ mười phương cũng phải để một phương lấy chồng. Đồ rởm đem bán thì không được bán ở đây, nghe chưa”. Chị le te chạy ra, bảo anh chàng cất cái bao tải đi, rồi đem tặng mấy người hàng xóm người bao thuốc, người cái khăn. Ai nấy đều hài lòng, tấm tắc quay ra khen chú rể hết lời.
Không cần thiếp mời, chỉ cần một câu đánh tiếng là người trong phố núi kéo tới đủ, không thiếu một ai. Bánh kẹo đem ra mời, thành luôn đám cưới đời sống mới. Buổi tối, khách khứa về hết, tôi chạy đi tìm thì thấy chị Thạch và mẹ Duyên đóng cửa ngồi uống rượu trong buồng. Duyên nói mỗi khi ngồi uống rượu một mình, mẹ vẫn có thói quen gọi con chó vàng đến, đặt bàn chân trần lên lưng nó lăn qua lăn lại. Còn lúc này, chân bà giậm lên lưng con chó như thể muốn đè bẹp, muốn giẫm nát những gì đã làm cho mình bất hạnh. Hai người đàn bà đầm đìa nước mắt. Bà mẹ cầm lấy tay chị Thạch mà rền rĩ: “Chỉ có dì mới hiểu tôi”.
Sáng hôm sau, cả gia đình lưu luyến tiễn đưa chúng tôi. Mẹ Duyên nói với theo chị Thạch: “Rồi tôi sẽ thu xếp về thăm dì, thăm các cháu”. Tôi bế Duyên lên xe, nhắc lại câu hỏi hôm nào: “Em không khóc chứ?” Nàng trả lời: “Đi cùng anh thì không bao giờ em khóc”.
Ngang qua sư đoàn, bác Đắc xuống, cho xe tiếp tục chở chúng tôi về Hà Nội.
Tôi về nhà. Luôn mấy ngày trời căng thẳng. Duyên thì phải ở tạm bên nhà chị Thạch, chờ cho đến khi tôi lựa lời nói được với mẹ. Nhưng cả hai mẹ con đều như đang thủ thế. Mẹ rất sợ cái phút tôi nhắc lại rằng tôi sẽ lấy cô gái nào đó trong tấm ảnh. Còn tôi sợ phải nói với mẹ rằng tôi đã lấy vợ, và sẽ bị mẹ khăng khăng phản đối. Tôi luôn kiếm cớ đi khỏi nhà, dấm dúi sang nhà chị Thạch, ở biệt luôn bên ấy cho đến tận khuya. Chị Thạch thì bận làm ăn, thường vắng nhà luôn. Về đến Hà Nội, Duyên mới biết chị Thạch và tôi không có quan hệ dì cháu. Nàng vẫn tỏ ý biết ơn chị, nhưng bắt đầu có vẻ đề phòng. Nàng cũng cảm thấy có một trở ngại nào đó nên tôi không đưa nàng thẳng về nhà ngay. Tôi hiểu điều này vì thấy nàng luôn hỏi về “nhà mình”, về mẹ.
Rồi cũng đến lúc mẹ nghiêm nghị hỏi: “Con vẫn hay sang nhà cái Thạch phải không?” Tôi lắc đầu như cái máy. Mẹ dằn giọng: “Không được nói dối, nó vắng nhà, sao con dám tự nhiên ra vào như vậy?” Tôi run sợ ngồi im.
“Sáng nay mẹ thấy một con bé, trông cũng ngoan, nhưng chân bị tật, ở bên ấy. Ai thế?” Tôi không dám nói dối. Vả lại câu hỏi của mẹ cũng chỉ là để thử xem tôi có thành thật hay không. Mẹ đã biết mặt Duyên qua ảnh. “Thưa mẹ, đấy là vợ con”. Mẹ lặng đi, mãi mới nói được: “Thành vợ chồng rồi ư?”, “Thưa mẹ, được một tuần rồi. Cô ấy vẫn ở bên nhà chị Thạch”. Tên chị Thạch làm mẹ giật bắn mình, sự sắc sảo bừng dậy, át cả nỗi đau khổ mê muội. “Không, không được ở bên ấy. Con đưa nó về đây ngay”. Mọi sự diễn ra ào ào như gió lốc trong nửa ngày. Tôi đưa Duyên về giới thiệu với mẹ. Mấy mẹ con dọn dẹp nhà cửa, kê thêm một chiếc giường lâu nay vẫn xếp trong góc nhà. Lòng thương xót một cô gái thiệt thòi bắt đầu lặp lại số phận của mẹ đã lấn át cả nỗi tủi giận, mẹ đỡ Duyên đi khắp nhà, xuống bếp, chỉ cặn kẽ đâu là chỗ để xoong chảo, đâu là nơi để mắm muối gia vị. Xong bằng ấy việc, mẹ lăn ra ốm ngay, một cơn sốt nhẹ nhưng dai dẳng. Ông bác sĩ hàng xóm sang khám cho mẹ rất cẩn thận, rồi bảo mẹ không có bệnh gì, chỉ vì quá suy nhược.
Tôi thầm hiểu sự suy nhược ấy là do mẹ quá đau khổ.
Đến bây giờ tôi mới hiểu rằng kể từ khi nhận con dâu về, cả quãng thời gian sống chung sau đó, mẹ đã bắt đầu chấp nhận sự mất mát hoàn toàn của mình. Con trai của chúng tôi ra đời, một thằng bé nặng bốn cân rưỡi, ai nhìn cũng phải tấm tắc xuýt xoa. Mẹ vui, nhưng là cái vui được nhìn báu vật của người khác, không phải của mình. Một thời gian sau, tôi mua về một chiếc máy khâu, và đưa Duyên đi học cắt may. Thằng bé thì để nhà cho mẹ trông. Bỗng nhiên người ta chạy đến, bảo mẹ đưa cháu ra dự cuộc thi bé khỏe của quận, dám chắc là thằng bé sẽ đoạt giải nhất. Mẹ cũng đồng ý rằng đứa cháu có thể sẽ đứng đầu bảng, nhưng không thể mang cháu đi được. Lý do là mẹ chưa hỏi ý kiến của vợ chồng tôi, chẳng hiểu chúng tôi có đồng ý hay không. Buổi chiều, tôi và Duyên về đến nhà thì cuộc thi đã kết thúc, giải thưởng đã được trao cho một thằng bé không thể sánh được với con trai mình. Tôi lờ mờ cảm thấy một điều đáng sợ. Mẹ thấy rằng mình không có quyền hạn gì trong căn nhà này nữa. Tôi là nguồn sở hữu cuối cùng của mẹ mà nay cũng không còn của riêng mẹ nữa thì đứa cháu chỉ là báu vật người ta giao cho mẹ trông giữ mà thôi.
Chúng tôi hoàn toàn khờ dại, chưa có kinh nghiệm sống, không biết phải làm gì để thay đổi cách nghĩ cho mẹ. Dạo này mẹ bắt đầu hay đi tha thẩn trong vườn, ánh mắt lần qua những gốc cây bụi cỏ như tìm kiếm. Một hôm tôi kín đáo theo dõi, thấy mẹ len lén đi ra vườn, tìm kiếm rất kỹ lưỡng mọi chỗ. Đưa tay lật từng đám lá, gạt từng viên gạch hòn đất quanh những gốc cây, cuối cùng mẹ đã tìm được vật cần tìm. Đó là chiếc lược làm từ mảnh máy bay có khắc tên bố mẹ. Ánh mắt mẹ sáng rạng. Một niềm hạnh phúc vô bờ tràn ngập gương mặt sầu muộn. Như thể mẹ đã tìm thấy chiếc lược bố thường mang theo người. Niềm vui sướng của cơn mộng du, những bước chân trong cơn mộng du, mẹ nâng niu chiếc lược trong tay, lần vào nhà, đến bên bàn thờ. Mẹ đặt chiếc lược lên đấy, hy vọng sẽ thấy có một chiếc lược giống hệt như thế, chiếc lược của mẹ, đã nằm sẵn trên bàn thờ.
Chuyện thần tiên không xảy ra. Chiếc lược trong tay mẹ mới hôm qua tôi còn thấy ở trên bàn thờ. Chắc mẹ đã bỏ nó ra vườn, để rồi sau đấy đi tìm kiếm. Khi mẹ nhận ra điều này, cơn mộng du chấm dứt, và mẹ lại chìm vào một cơn mê sảng dai dẳng.
Những tháng ngày sau đó, mẹ không còn minh mẫn như trước nữa. Bắt đầu nảy sinh tính thu nhặt những thứ lặt vặt. Mẹ lang thang trong khu vườn rộng, nhặt về từ cuộn dây đồng, những chiếc đinh ốc, những mẩu sắt vụn. Rồi loay hoay giở ra đếm. Rồi tìm cách chắp nối. Tôi đau khổ âm thầm. Chỉ đến khi biết mình đã trở nên trắng tay, người ta mới bỏ công đi tìm lại những thứ đã mất, và tìm cách hàn gắn lại. Thế có nghĩa là mẹ coi như đã mất tôi, mà chỉ còn hy vọng tìm thấy chiếc máy bay đã mất tích. Không ai nói cha tôi đã mất. Ông chỉ mất tích cùng chiếc máy bay.
Chúng tôi tuyệt vọng thấy sức lực của mẹ cạn kiệt dần, dù đã được tăng cường bằng nhiều thứ thuốc bổ. Một hôm mẹ nói: “Hôm qua mẹ mơ thấy ông chủ tịch xã. Ông ấy mời mẹ về làng họp, phục hồi tất cả cho mẹ”. Ông chủ tịch này đã chết từ lâu. Tôi cho đó chỉ là một giấc mơ của người ốm. Đâu ngờ hai ngày sau, mẹ lặng lẽ ra đi.
Bây giờ thì tôi tin người ta có thể chết không phải vì bệnh tật, mà vì đau khổ héo hon, vì tiếc những tài sản đã mất.
Người đàn bà góa là mảnh vỡ của người đàn ông đã mất. Người thì cam chịu số kiếp của một mảnh vỡ, âm thầm ở nơi riêng khuất, dù vẫn dai dẳng một ước mong tìm được những mảnh vỡ khác để gắn hàn lại. Người thì làm mảnh vỡ lăn lê ra đường đi lối lại mà đâm mà cứa vào những bàn chân may mắn, trả thù cho số phận hẩm hiu của mình.
Mẹ không thích cho tôi ngửa mặt nhìn trời, và đếm sao cũng là việc của trẻ con, nhưng đêm nay thui thủi một mình trong góc vườn, tôi ngẩng lên nhìn trời sao chi chít. Một ngôi sao băng rạch một vết thương trên nền trời. Tôi hiểu thế là trên mặt đất lại có thêm một mảnh vỡ.
Mẹ mất rồi, có những buổi chiều sau giờ làm việc, tôi ghé vào quán nước, định bụng chỉ uống một chén nước chè, loay hoay thế nào mà hóa ra uống rượu. Dạo trước, nhiều khi không khí gia đình nặng nề, không dám lộ rõ tình cảm đối với Duyên trước mặt mẹ, có lúc tôi thầm nghĩ nếu như không có mẹ thì có lẽ tình cảm của tôi đối với Duyên sẽ trọn vẹn hơn. Nghĩ lại mới thấy tôi là kẻ bất hiếu. Và mẹ mất rồi, không phải tình cảm của tôi đối với vợ đầy đủ hơn, mà nó cũng hao hụt. Phần tình cảm của tôi dành cho mẹ, mẹ đã mang đi vĩnh viễn.
Chẳng biết có ai dẫn lối đưa đường mà tôi đã bước vào nhà chị Thạch. “Cậu uống đi”. Chị rót thêm cho tôi một chén rượu, rồi đứng dậy thắp hương, thì thầm khấn vái. Rồi chị quay lại cùng uống với tôi. “Bác nhà ra đi sớm quá. Tôi liệm cho bác, gương mặt trẻ và tươi cứ như người đang ngủ”. Chị bật khóc. “Dạo trước bác nói đúng, tôi là loại đàn bà bỏ đi”. Trong trạng thái lơ mơ, tôi vẫn hơi hoảng sợ vì sự thể xoay ra như vậy. Một lát, chị lau nước mắt bảo: “Cậu xem phim nhé?” Tôi rùng mình, lắc đầu. “Không, không phải loại phim ấy. Đây là phim tình yêu, vui lắm, yêu được bao giờ cũng vui”. Tình yêu lý tưởng đến như thế thì vui thật. Từ đầu đến cuối, người ta chỉ yêu trên mây trên gió, yêu một cách thanh cao. Còn chị Thạch và tôi thì thực hiện cái khía cạnh trần tục mà trong phim không có.
Ngày qua ngày, không phải lúc nào nỗi đau mất mẹ cũng nguôi được. Thế rồi bỗng nhiên người ta báo đã tìm thấy chiếc máy bay mất tích dưới vực sâu của một cánh rừng nguyên thủy không dấu chân người. Cái tin đến quá muộn, còn mẹ tôi ra đi quá sớm. Tôi được nhận lại chiếc lược bố vẫn từng mang theo người. Cả hai chiếc lược cuối cùng đã đoàn tụ, nhưng là cuộc đoàn tụ ở trên bàn thờ.
Luôn mấy tháng trời, nhà chị Thạch đóng cửa im ỉm. Chẳng biết chị đi đâu.
Một hôm, tôi tình cờ thấy gã điển trai dạo nọ cặp kè với chị Thạch. Anh ta ngồi chống chân trên một chiếc Cub 70 màu ớt chín, như đang chờ ai đó bên lề đường. Tôi đến gần, chào anh ta và hỏi: “Anh có biết chị Thạch đi đâu không?” Anh ta phủi ngay: “Thạch nào, quen biết gì, vớ vẩn”. Tôi sững sờ, bỏ đi, nhưng quay lại ngay, nói dứt khoát: “Anh phải nói cho tôi biết, không thì tôi không đi”. Anh ta ngẫm nghĩ một lúc, lấm lét nhìn quanh, rồi hạ giọng: “Vào nhà đá rồi. Thôi biến đi. Không dây dưa gì với nhau đâu nhé”. Tôi không đi ngay. Tôi đứng nhìn cặp đùi no nê của gã lộ ra dưới ống quần soóc. Chân gã đầy lông.
Tôi mua ít đồ hộp và hoa quả, đến thăm chị Thạch. Chúng tôi ngồi nhìn nhau qua một chiếc bàn rộng. Chị không ngờ có người đến thăm mình, càng không ngờ người đó là tôi. Chị thút thít khóc: “Tôi nay thực là loại người bỏ đi rồi”. Lúc tôi sắp sửa đứng dậy, chị nói: “Bây giờ tôi không tin ở đời có người tốt”. Tôi lặng đi, chẳng biết an ủi chị thế nào. “Ông trời cũng vậy. Nếu tốt thì ông ấy đã xe duyên cho cậu và tôi”.
Tôi về đến nhà, Duyên loay hoay trước cửa, bị vấp một cái, không đau lắm. Nhưng để đền bù, tôi bế nàng lên, đưa vào nhà. Càng thấy rằng tôi đã có lý khi đến với nàng trước hết bằng lòng thương. Chỉ bằng tình yêu đơn thuần thì có lúc tình yêu sẽ cạn. Chỉ có bằng tình thương và cái nghĩa vợ chồng, tôi mới có thể mãi mãi ở bên nàng, dù có lúc tôi không chung thủy với nàng, nhưng không bao giờ dám nghĩ đến việc chia ly. Nghĩ được như vậy, tôi chỉ muốn bán nhà, rồi lẳng lặng đưa vợ con ra đi, chuyển đến một nơi thật xa, giấu biệt địa chỉ mới, để bảo đảm yên ấm cho cái gia đình nho nhỏ của mình. Dùng dằng mãi, không quyết định được, tôi hỏi ý kiến Duyên. Nàng bảo: “Còn đâu hơn được nơi đây nữa, đi làm gì hả anh?”
Thế mà tôi vẫn canh cánh không yên, lo đến ngày chị Thạch trở về.
23/1/1991
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thể thơ mới cho một đề tài mới

Thể thơ mới cho một đề tài mới Sự vận động không ngừng của cuộc sống đã giúp thơ ca, nghệ thuật tìm ra những hướng đi mới. Khi đại dịch Co...