Thứ Ba, 15 tháng 7, 2025

Người Ấn

Người Ấn

Sau từng ấy năm trời sống với người Ấn Độ, giờ thì ở bất cứ một phòng chờ sân bay nào tôi cũng nhận ra họ ngay, cho dù trong phòng chờ là cả một hỗn hợp các màu da và sắc tộc. Họ đấy, hẳn cả một gia đình phu thê phụ tử, nước da xám chì gần như ngả sang màu đen cũng có, hồng hào màu lúa mì cũng có, mà trắng tinh gien trội dòng giống Aryan cũng có.
Cả một gia đình đi với nhau là thành riêng một thế giới, chuyện trò cười đùa huyên náo và suồng sã, như thể xung quanh thế giới của họ là một sa mạc không sự sống. Nhưng nếu đi chỉ có một mình thì một mình họ là cả một vũ trụ đang cần tự thám hiểm và họ chẳng muốn mất công tản mạn ra ngoài để bắt quen hoặc gây cảm tình với những sinh vật đang nhốn nháo đứng ngồi trong phòng chờ.
Tôi đã phát hiện ra một vũ trụ đơn độc như thế. Chàng trai rõ ràng là đi một mình, ngồi một ghế dường như chưa đủ, anh ta còn đặt chiếc ba lô để chiếm nốt chiếc ghế bên cạnh. Tôi tiến lại, chứng tỏ cái thâm niên Ấn Độ của mình bằng chính ngôn ngữ mẹ đẻ của anh ta để bắt chuyện. Chẳng mặn mà cho lắm, anh ta nhấc chiếc ba lô sọc đen sọc trắng hình chiếc thập tự cách điệu để nhường chỗ cho tôi. Chiếc ba lô không được đặt xuống nền nhà sạch sẽ và sáng bóng như tôi tưởng. Anh chàng đặt nó lên đùi mình, như đó là một người thân cũng cần có một chỗ ngồi đàng hoàng. Hai cánh tay vòng qua ôm gọn cái túi, anh ta có lẽ đã quên phắt rằng người ngoại quốc ngồi cạnh có thể trò chuyện bằng ngôn ngữ của anh. Thế là chính chiếc ba lô lại trở thành một thế giới bí ẩn, thậm chí cái không khí bí ẩn lẫn lộn hồ nghi cứ mỗi lúc một đậm đặc bao quanh nó khiến tôi bất chợt nghĩ rằng anh chàng có món hàng mà hải quan nước nào cũng phát rồ lên vì sướng nếu như phát hiện được.
Rốt cuộc thì anh ta không giữ được nguyên tắc của mình là cách ly với tôi như với bất cứ một kẻ xa lạ nào. Có lẽ là nhờ việc chuyến bay Bangkok – Delhi bị chậm mất sáu giờ đồng hồ vì lý do kỹ thuật đột xuất. Thêm sáu giờ nữa trong tình cảnh đã phải ngồi chờ những bốn giờ rồi. Thế là tôi được nghe chuyện của anh chàng, cái câu chuyện mà tôi phải cảm ơn sự chậm trễ của hãng hàng không và nhờ đó mới giải tỏa được sự ngờ vực của tôi về chiếc ba lô nọ.
Tôi gặp nàng lần đầu ở trước một ngôi đền Hindu giáo. Dù cho nàng có mặc sari như mọi phụ nữ Ấn Độ, dù cho nàng hơi bé nhỏ và lọt thỏm giữa những người đàn bà Ấn Độ to béo xung quanh thì tôi vẫn phát hiện ra nàng từ xa, ngay từ khi nàng ở dưới những bậc đá bên bờ sông Hằng đi lên. Dạo ấy tôi làm nghề hướng dẫn du lịch đã được dăm năm, phản ứng nghề nghiệp trước một người khách ngoại quốc đã gần đạt tới trình độ của một người đi săn đánh hơi được con mồi béo. Ngay lập tức tôi tiếp cận nàng, kịp thời xác lập chủ quyền trước những đồng nghiệp đang lảng vảng xung quanh. Nàng xem ra không cần đến tôi mà cứ chứng tỏ rằng mình không phải là khách ở đây bằng cách xăm xăm đến trước cổng đền, tuột vội đôi dép cao gót ở chỗ gửi giày dép, rồi xăm xăm định bước vào bên trong. Tôi ngăn nàng lại. Kịp trước khi người coi giày dép và gác cửa có một phản ứng mà người ngoại quốc thường cho là lỗ mãng. Người nước ngoài không được phép vào đây, mà nàng theo tôi hiểu là một người phương Tây chính cống. Vì sao, nàng có vẻ rất sửng sốt, nàng đã đi thăm rất nhiều đền đài Hindu trong cái thị trấn này, thậm chí nàng còn vừa nhúng chân xuống nước thánh sông Hằng trong khi hàng trăm người hành hương đang hì hụp tắm rửa cho sạch tội lỗi, có ai ngăn cấm nàng đâu? Thế mà có đấy, cái giáo phái Hindu khắc kỷ xây nên ngôi đền này ghê sợ tất cả những gì ô uế mang nhãn hiệu ngoại quốc. Nàng trót sinh ra là một sinh vật không trong sạch loại ấy thì nên đi đi thôi, xung quanh đây còn nhiều đền đài mà nàng được phép vào. Vậy là nàng đã chính thức chấp nhận tôi là hướng dẫn viên, và khoản tiền thù lao chắc chắn sẽ hậu hĩ hơn số tiền của người Ấn keo xỉn rất nhiều.
Tôi đưa nàng đi thăm ba ngôi đền khác. Cả ba nơi này vẫn không làm cho nàng quên được cái ngôi đền cấm vào kia, chính vì bị cấm mà nàng rất muốn vào xem trong đó có gì, nếu không thì hôm nay nàng không sao yên tâm trở về nhà. Tôi bắt đầu dao động. Kể ra đang mặc bộ sari, nàng chỉ cần kéo vạt sari trùm lên mái tóc vàng và che nửa mặt thì tôi có thể khoác tay nàng đi vào đền như một cặp vợ chồng Ấn Độ đi hành hương.
Chúng tôi đi lẫn vào những toán người ùn ùn kéo đến và lọt qua cửa một cách êm thấm, vào tận chính điện dự một cuộc hành lễ trong ánh lửa bập bùng đốt bằng bơ tinh khiết. Tâm thần nàng dường như cũng phiêu diêu lơ lửng đâu đó trên cao theo những câu kinh mantra bí ẩn mà vị giáo sĩ đang ngân nga. Cô nàng ngoại quốc cái gì cũng hỏi tại sao này đang cố hiểu cho được những âm thanh kỳ lạ nọ, những cách thức cúng tế cũng lạ lùng không kém nọ.
Mái tóc của nàng đã làm hỏng tất cả. Đột ngột tấm sari trùm đầu tuột xuống, mái tóc vàng sáng bừng lên trong chính điện mê muội khói hương, mê muội đèn nến và hơi mồ hôi hầm hập. Tất cả chết lặng đi, tê tái trước một sự xúc phạm khủng khiếp chưa từng thấy, cứng đờ vì cái mục tiêu trơ trọi cứ tênh hênh bày ra đấy như sẵn sàng chờ đón hỏa lực từ mọi phía.
Heram, trời ơi, quân dị giáo! Ông giáo sĩ là người đầu tiên nấc lên được mấy tiếng khàn khàn như người ngạt hơi. Heram! Tôi tỉnh ra, kéo mạnh tấm sari, chụp lên đầu nàng rồi lôi nàng sục bừa vào đám người đứng sau, lao ra phía cửa. Heram! Heram! Đám đông lúc này mới đủ thời gian bị kích động, xô nhau chạy hỗn loạn. Có người đuổi thì có người chạy. Có người chạy tức là có thủ phạm. Khi tất cả cùng gào thét và đuổi bắt thì chẳng mấy chốc chẳng còn biết đâu là thủ phạm nữa.
Chúng tôi thoát được ra phố, nhảy lên một chiếc xe lam, chỉ chốc lát đã ra đến ngoại ô. Giờ mới biết vợ chồng nàng là những người mới đến thuê ngôi biệt thự ở đầu làng tôi được nửa tháng nay. Chồng nàng là một nhà khảo cổ danh tiếng của xứ Ănglê, lần này sang Ấn Độ chỉ đạo khai quật một di chỉ thuộc nền văn hóa sông Hằng cách làng tôi khoảng ba mươi dặm. Ngày nào ông cũng sáng đi tối về. Nàng không biết gì về khảo cổ nên chẳng theo chồng ra phơi nắng để mà xem những di vật sứt sẹo vô nghĩa. Nàng cũng không biết gì về Ấn Độ, nên mới nảy ra ý định Ấn Độ hóa bằng một tấm sari và tha thẩn thâm nhập đây đó.
Về đến nơi, nàng mời tôi vào nhà bằng được để thưởng thức một cốc sirô táo nàng mang từ London sang. Dù sao tôi cũng là người cứu nạn cho nàng, thêm nữa bây giờ lại là người cùng làng. Cậu tên là gì? Navin. Navin nghĩa là gì? Một cái tên vậy thôi. Còn tôi là Katherine Robson, nhưng cứ gọi tôi là Kitty, cũng chỉ là một cái tên vậy thôi.
Kitty giở mấy pho tượng nhỏ bằng đá mua được trong nửa tháng qua để khoe. Nàng chìa cho tôi pho tượng Ganesh bụng phệ căng rốn, đang ngồi tĩnh tọa an nhàn, dáng ngồi ấy là của một người sung sướng, thế mà lại phải mang một cái đầu voi và cái vòi thả trước bụng. Uẩn khúc gì đây, éo le gì đây? Ông ta là con của thần Shiva và Parvati, khi Shiva rời nhà ra đi thì Ganesh còn rất nhỏ. Sau một thời gian dài trở lại, đập vào mắt Shiva không phải là cảnh người vợ đang mòn mỏi chờ chồng mà nàng đang vui vẻ chuyện trò với một chàng trai tuấn tú. Shiva tuốt gươm chém bay đầu chàng trai nọ. Trời ơi, chàng không nhận ra Ganesh hay sao, con trai chúng mình đấy mà. Người vợ khóc đòi Shiva phải làm cho Ganesh sống lại. Shiva bèn thề rằng sẽ thay đầu con trai bằng bất cứ ai là kẻ đầu tiên xuất hiện trước mắt ông. Vừa mới nói xong thì một con voi từ trong rừng rẽ lá đi ra.
Kitty lắc đầu khó hiểu. Khủng khiếp quá cái ông Shiva ấy, chỉ là ngồi chuyện trò như tôi và cậu thế này mà cũng chém mất một cái đầu. Đến lượt tôi rờn rợn vì sự vận vào cảnh huống cụ thể của mình. Dường như Kitty cũng đoán được ý nghĩ của tôi, nàng bật cười khanh khách. Đừng lo, chồng tôi, cái ông già Brian ấy lành lắm, miễn là đừng động vào những cái vòng đồng vòng sắt và những cái xác ướp mà ông ấy đào được. Nàng bỗng xích lại gần ôm hôn tôi như tiện mà hôn thế thôi. Anh biết không, Navin, anh giống như cái ngôi đền nọ, trông thì đẹp lắm, đáng yêu lắm, nhưng khó hiểu lắm. Mà tại sao người ta lại không cho phép tôi được vào nhỉ? Cái ôm hôn hơi lâu, mà cũng chỉ để nói mỗi một điều là người Ấn khó hiểu, khó vào. Chẳng lẽ người Ấn cứ phải trắng tinh cả ra, tóc cứ vàng rực sáng bừng cả lên, tâm can cứ lồ lộ như lũ cá phơi bụng trong những tấm lưới cất lên từ dưới sông Hằng?
Tôi gỡ được nàng ra một cách khôn khéo. Người mẹ quá cố đã dạy tôi tương đối chu đáo về thân phận mình. Cuộc sống trong làng chằng chịt đẳng cấp đã dạy tôi chính xác đâu là vị trí của mình. Nàng cười phá lên, tiếng cười rõ ràng và sáng bóng lên khiến tôi thấy không còn lý do gì để mà ngượng ngùng như lúc nãy. Nàng muốn tôi dạy nàng cách nấu một số món ăn Ấn Độ. Tôi bằng lòng ngay, về nhà mang ngay sang cho nàng một số dụng cụ làm bánh chapati cùng gia vị làm món gà tanduri.
Kể từ đó tôi bỏ cái nghề hướng dẫn du lịch thu nhập thất thường để làm đầu bếp cho gia đình Kitty. Bữa đầu tiên, ông Brian vui mừng thực sự vì cuối cùng thì Kitty cũng đã làm quen được với một người Ấn Độ chính cống trong nhà mình, vì thế nàng có thể tiếp tục ở lại đây cho tới khi ông hoàn tất công việc. Mừng nữa vì những món ăn Ấn Độ nấu tại nhà không dậy mùi gay gắt như ở các quán ăn và ông có thể thưởng thức được. Tôi tiếp thu rất nhanh cách nấu món ăn Âu mà Kitty dạy. Rồi tôi làm được các kiểu bánh, làm kem và pudding tráng miệng. Tóm lại là vợ chồng Brian đều rất hài lòng, họ không thiếu những món ăn quen thuộc ngay ở một làng quê nhiệt đới rất xa châu Âu này. Mỗi ngày một vài giờ, vào những lúc rỗi rãi, Kitty bổ túc cho cái tiếng Anh trường huyện của tôi. Buổi chiều, khi Brian trở về, ngồi uống trà bên một chiếc bàn mây giữa khu vườn, Kitty đưa cho ông xem quyển vở bài tập của tôi để khoe rằng tôi là một anh chàng sáng dạ. Brian đọc, cười tủm tỉm thú vị, rồi đưa trả quyển vở cho Kitty. Có vài cái lỗi chính tả, không quan trọng. Lỗi chính tả mà không quan trọng ư? Anh chàng này còn phải sửa nhiều, sửa từ cái nhỏ thì mới tránh được cái sai lớn. Nhìn vợ hăm hở đặt bút dò từng câu rồi gạch xóa, Brian cười độ lượng. Mục đích cao nhất của ngôn ngữ là để con người hiểu nhau, hiểu được nhau rồi thì lỗi chính tả chỉ là vài sợi cỏ mắc dưới gót giày. Đến thế Kitty vẫn không chịu, lại còn quay ra quyết tâm sẽ sửa bằng được lối phát âm đặc sệt Ấn Độ của tôi với chữ erờ quá lộ trong những từ park, fair. Nàng bảo có như vậy thì nay mai khi vợ chồng nàng đem theo tôi về London, tôi sẽ có thể đàng hoàng hòa nhập mà không sợ bị chê cười. Tôi chỉ biết cảm ơn mà nói ngay rằng mặc dù rất muốn xuất dương, tôi cũng không thể rời bỏ nơi này ra đi được, tôi đã hứa với người mẹ quá cố sẽ không khi nào bỏ bà mà đi xa.
Mẹ tôi chết thảm vì một lần duy nhất tôi phạm sai lầm, một lần duy nhất tôi không ở bên cạnh để bảo vệ bà. Cho nên trên đường sang thế giới bên kia, cơn hãi hùng bị bỏ một mình cô độc chống chọi với mười mấy con thú lốt người vẫn đeo đẳng theo bà, bà đòi tôi phải hứa sẽ không bao giờ bỏ người mẹ lại một mình. Cha tôi mất khi tôi còn bé lắm, để lại mẹ tôi một mình nuôi con. Sống để nuôi con cũng chưa đủ là một lý do để mẹ tôi được kính trọng trong làng. Người đàn bà đức hạnh là phải lén lút lên giàn hỏa táng để mà chết theo chồng cơ, như thế mới đáng trọng. Chúng tôi không theo đạo Hindu, không thực hành cái hủ tục đã bị luật pháp cấm này, vì thế trước lệ làng mẹ tôi bị khinh rẻ. Khinh rẻ mà từ xã trưởng cho tới cảnh sát trưởng và lão cho vay nợ lãi đều lúng liếng nhòm ngó, có dịp là thò tay bốc bải sờ soạng. Miếng nguội không được, miếng sốt chẳng xong, chúng quay ra đặt điều nói xấu mẹ tôi và bôi nhọ lẫn nhau. Rồi một khi tất cả những kình địch đều bị khinh bỉ cự tuyệt thì chúng lại tìm đến nhau, hợp sức để đạp đổ. Tôi khi ấy đã lớn, sức vóc căng đầy trong cơ bắp, lúc nào cũng có vũ khí và bao giờ cũng kè kè bên mẹ những lúc tối trời. Chỉ có một buổi tối sơ suất, không kịp đón mẹ đi qua cánh đồng hoa cải trở về làng mà tai họa khủng khiếp đã xảy ra. Chắc chắn là chỉ mười mấy con quỷ ác dâm đó thôi, nhưng trời tối quá và trước pháp luật tôi không có bằng chứng và nhân chứng. Tôi đắp cho mẹ một nấm mộ trong nghĩa địa bên làng và thầm hứa sẽ không bao giờ tái phạm lỗi lầm bỏ người một mình đơn độc. Một đêm sau đó dinh cơ của xã trưởng cháy trụi, người ta không tìm được nguyên nhân nào hơn là bị chập điện. Chắc chỉ có mẹ mới biết được vì sao và đã ngậm cười.
Tôi không quên lời hứa hẹn của vợ chồng Kitty, nhưng cũng tương đối dễ dàng tôi coi như điều đó là không có, và tiếp tục cần mẫn như trước. Ai cũng có thể đoán được điều gì sẽ xảy ra giữa một cô chủ chồng vắng nhà suốt ngày, và suốt ngày ra vào quấn quít với một chàng đầu bếp trẻ. Tôi còn là trai tân mà cũng lờ mờ đoán biết cái sự việc sẽ xảy đến bất cứ lúc nào và xin thú thực là tôi vừa sợ vừa thèm vừa mong. Vậy nên khi nó đến, tôi cứ để mặc cho nàng cuồng nhiệt bày tỏ rằng chỉ trong vòng một tháng nữa tất cả chúng tôi sẽ cùng trở về London. Tôi sẽ tiếp tục nấu ăn cho cả nhà và nâng cao tiếng Anh, nếu muốn thì sẽ đi học để giật lấy một mảnh bằng và một chỗ đứng trong xã hội hoặc trở thành đầu bếp trong quán ăn Ấn của một khách sạn danh tiếng nào đó, tất cả tùy thuộc ở tôi. Quả là tôi bị kích động mạnh. Một cái gì đó như sự ham muốn, như là sự hàm ơn và muốn được mau chóng đền ơn, trộn lẫn với một thứ tình cảm mờ ảo không sao nắm bắt được. Đã nhiều lần tôi cảm ơn cái ý thức đẳng cấp mấy nghìn năm của Ấn Độ đã giúp tôi không đi quá xa trong quan hệ với cô chủ. Lần này thì tôi quên hết. Cảm ơn chủ trương bình đẳng giai cấp và giải phóng đẳng cấp của nước cộng hòa Ấn Độ.
Kitty đã thay đổi được con người tôi nhanh chóng không ngờ. Chỉ mới trước đấy tôi khăng khăng với nàng rằng tôi không thể ra đi, cho dù rất muốn, bởi nơi này còn phần mộ của mẹ tôi, cho dù mẹ tôi qua đời đã được năm năm. Thế mà chỉ lát sau, kẻ mới thành đàn ông là tôi đột nhiên phát hiện ra sức mạnh của mình, tràn trề hạnh phúc, dư thừa kiêu hãnh và đầy ắp tự tin. Một người đàn ông bỗng chốc đã được thay đổi cả cách nghĩ như vậy thì mọi cái không thể đều hóa thành có thể. Tôi không thể theo nàng đi London, vì lẽ gì, có phải vì lúc qua đời người mẹ khốn khổ đã nắm tay tôi mà dặn rằng đừng bao giờ lìa bỏ bà hay không? Rất có thể tôi vẫn ra đi được, mà vẫn giữ được lời hứa với mẹ, có thể lắm chứ.
Và tôi đã nghĩ ra. Ý nghĩ đột ngột bắn tóe lên, lung linh chói lói, rồi đổ ập xuống như một cột nước sông Hằng dưới ánh trời. Nó đến vừa vặn mười ngày trước khi ông Brian đi đặt vé máy bay về London, và tôi phải khẳng định lần cuối cùng. Đêm ấy, cả một đêm vừa đủ để tôi lặng lẽ bốc mộ cho mẹ, làm lại một cái mộ như cũ và dùng rượu rửa sạch từng khúc xương. Tôi mua một cái ba lô thật đẹp, chính là cái ba lô sọc đen sọc trắng này, và từ nay tôi có thể bỏ hẳn cái làng ô nhiễm sặc sụa ấy mà ra đi, đến bất cứ một nơi nào ở châu Âu. Trong phòng chờ sân bay, kể cả lúc đi mua cà phê cho vợ chồng Brian, tôi vẫn không bỏ cái ba lô lại nhờ họ trông, cứ thản nhiên mang trên vai như thế mà đi qua đi lại, khiến cả hai người luôn chỉ trỏ chọc tôi về cái chỗ của nả bất khả ly thân.
Về đến London là Brian lăn ra ốm. Vi trùng thương hàn ngủ yên mấy nghìn năm trong những di tích cổ đã thức dậy quật ông lăn lóc. Ngày nào tôi và Kitty cũng phải tới bệnh viện St. Thomas thăm ông một lần. Có khi tôi mang thêm cho ông mấy cuốn sách, ít băng nhạc, và phải đi một mình, theo đường Victoria mà qua cầu Westminter trên dòng sông Thames sương mù ẩm ướt. Cái xứ cũng lạ kỳ, cứ mù mờ trôi nổi sương khói, cứ thâm trầm đanh lạnh tính người, thế mà trần trần cả ra đến tận những cái hôn và ham muốn sắc dục có thể đọc rõ trong cái nháy mắt của một người không quen biết.
Tôi tự hành mình rằng Brian ốm vật vã như thế là bởi sự cả tin và độ lượng của ông đã bị tôi phản bội. Bất cứ lúc nào khỏi bệnh và trở về nhà ông cũng sẽ thấy cái cảnh mà thần Shiva đã thấy: vợ mình đang lơi lả chuyện trò với gã trai đầu bếp. Cho nên trong những ngày ấy, tôi chỉ để cho sự thể dừng lại ở mức đối đáp đầu mày cuối mắt mà thôi. Kitty phát khùng lên mà lặp lại cái điệp khúc rằng nàng không sao hiểu nổi người Ấn Độ ngay cả khi tưởng như đã hiểu. Chỉ đến hôm cả hai mới từ bệnh viện trở về, sung sướng quá vì Brian đã trở dậy được và được phép ra ngồi trên ghế đá trong vườn hoa bệnh viện, chúng tôi đã đuổi nhau chạy khắp biệt thự, tung tăng qua bãi cỏ ra tận hồ nước. Rồi lại hổn hển ướt át như thế vờn vã nhau về tận phòng tôi. Tôi để cho nàng đánh ngã như một đô vật hạng ruồi kiệt sức nằm ngửa trên xới vật rồi thả lỏng người thụ động tận hưởng sự dâng hiến từ phía nàng. Cứ chờn vờn chênh chao mù mờ hỗn độn như thế mãi, tưởng như mọi việc đã đến hồi kết thúc được rồi, mà hóa ra nó lại đập cánh ly lạc xa lắc xa lơ. Cả hai chúng tôi đều bắt đầu hết kiên nhẫn. Tôi hoang mang điều gì nhỉ? Rõ ràng không phải bị ám ảnh bởi chuyện lưỡi gươm đang lơ lửng trên đầu thần Ganesh và sắp bổ xuống. Giờ này Brian chỉ đủ sức đi như dò dẫm từng bước trên lối đi trong vườn hoa bệnh viện mà thôi. Vậy cái gì đang đau đáu trách móc, đang chằm chằm hổ thẹn gờn gợn quanh tôi?
Tôi đột ngột bừng tỉnh. Đột ngột thét lên một tiếng như bị phát giác. Một tay kéo vội cái chăn phủ lên người Kitty, tay kia giật vội tấm vải trải giường, quấn quanh người mình. Tùm hum như vậy trong tấm vải, tôi lao về phía góc nhà, trên đường đi vơ vội chiếc khăn tắm to tướng. Tôi đến trước chiếc ba lô, cúi xuống một cách cẩn trọng, dùng chiếc khăn to phủ trùm lên đấy, như kéo một tấm màn gió ngăn cách khoảng không gian chật hẹp ấy với giường ngủ.
Kitty đã ngồi dậy, theo dõi từng động tác của tôi, ánh mắt lạ lùng như muốn hỏi. Tôi kéo nàng nằm xuống và trận cuồng hoan giờ mới được ào ạt gọi về. Đó là câu trả lời của tôi. Đó lại là câu hỏi càng lớn dần lên của Kitty. Đàn bà thật lạ lùng, gì cũng thắc mắc, gì cũng thóc mách và khi không kiềm chế nổi, họ đi đến tận cùng của sự muốn biết và tai họa xảy ra.
Hễ lần nào tôi quên kéo tấm màn gió che giữa giường ngủ và chiếc ba lô thì sự lê thê rã rời đến mức tưởng thất bại đến nơi sẽ làm cho tôi sực nhớ. Một lần, sau khi tôi đã thiu thiu ngủ, Kitty nhẹ nhàng bò dậy, lục cục trong phòng. Một tiếng rú sắc nhọn rồi nghẹn tắc như của người bị bóp cổ. Tôi kịp vùng dậy để đỡ lấy nàng trần trụi và tái nhợt toàn thân. Nàng vừa lén lút mở chiếc ba lô ra và nhìn thấy những gì tôi che đậy lâu nay.
Phải mất một thời gian tôi mới làm cho nàng thực sự tin rằng tôi không phải là một kẻ gây án mạng và đem giấu hài cốt của nạn nhân trong phòng mình. Từ đó nàng tránh vào phòng tôi, địa điểm được chuyển đến là chiếc xa lông phòng khách. Nhưng những việc như thế không phải bạ chỗ nào cũng thích hợp. Nàng lại chỉ thích cái phòng ngủ hẹp và ấm cúng của tôi. Kitty thuyết phục tôi đưa mẹ ra bãi cỏ ven hồ trong dinh cơ nhà nàng. Không được, mẹ tôi không nằm ở đất lạ quê người, tôi cũng không thể để mẹ bơ vơ ngoài tầm mắt tôi được. Không làm sao thuyết phục được tôi, Kitty chỉ còn biết thở dài ấm ức không thỏa mãn trên chiếc xô pha.
Một buổi, trong khi dọn phòng, tôi nhấc chiếc ba lô lên và thót người thấy nó nhẹ bỗng. Mở tung ra thì thấy bên trong rỗng không. Làm sao mà trong cơn kinh hoàng tôi lại hiểu ra nhanh như thế. Tôi lồng lộn gào thét đuổi theo Kitty từ tầng dưới lên tầng trên, lên tới tầng ba thì tôi tóm được nàng. Tôi bóp chặt đôi vai nàng đau chảy nước mắt. Tôi giũ nàng tơi tả như giũ một cái túi bông. Không chịu nổi sự tra tấn điên cuồng, nàng ú ớ chỉ tay ra phía hồ nước.
Tôi sục xuống một góc hồ nông choèn, vớt lên từng mẩu từng khúc xương bị Kitty đổ xuống. Rồi tôi bày cả bộ xương trên bãi cỏ mà đếm đếm ghép ghép. Mọi thứ được tìm thấy rất nhanh, chỉ riêng đôi bàn tay bị thiếu mất mấy đốt. Sùng sục vầy vò trong bùn nước suốt một buổi vẫn không tìm thấy. Điên cả người, tôi lao về nhà, một lần nữa lại chộp được Kitty. Lần này thì đôi bàn tay tôi siết chặt cổ nàng trong một phút hầu như không còn tri giác. Kitty run giật, giãy giụa, ằng ặc như đang cười, ằng ặc như mỗi lần ở trên giường chúng tôi đến với nhau vậy. Cái âm thanh phát ra từ cổ họng đang bị bóp ngật ra ấy đã cứu nàng. Tôi choàng tỉnh, xô bắn nàng ra.
Ánh mắt người mẹ đã mất mà vẫn bị đối xử tàn tệ lúc nào cũng hiển hiện như trách cứ. Mỗi lần nhìn thấy chiếc ba lô, tôi lại thấy mẹ tôi với đôi bàn tay sứt sẹo thiếu ngón như tay người hủi. Hết thảy những cái đó khiến tôi, dù có bình tâm lại theo thời gian, dù đã được Kitty van nài, xin tha thứ, tôi vẫn trở nên lầm lì lạnh lẽo như dòng sông Thames trong những tháng sương mù. Kể cũng có vài ba lần chúng tôi gặp nhau trên tấm thảm Kashmir trong phòng khách, nhưng hễ tôi động vào người Kitty là nàng lại cười nấc lên, sằng sặc như mọi lần, và tai họa là nó sằng sặc như khi nàng bị tôi bóp cổ mà bộ xương vẫn đang được lắp ghép dở dang ở bãi cỏ ngoài kia.
Tôi không sao tiếp tục được nữa.
Cái kết cục phải đến đã đến. Ba lô khoác vai, tôi từ giã nàng, nhận một trận hôn nồng nàn khắp trên gương mặt. Kitty những tưởng tôi sẽ gắn bó với căn nhà này mãi mãi, còn nếu như tôi quyết chí ra đi thì nàng cũng sẵn sàng quyết định trong một phút và tay trắng ra đi cùng tôi. Tôi phải chật vật lắm mới làm cho nàng hiểu rằng vấn đề không phải ở ngôi nhà, mà là ở chính nàng kia, và do vậy dù nàng có thể bỏ hết mà theo tôi thì sự thể cũng chẳng khá hơn chút nào. Kitty trầm ngâm hồi lâu, rồi lùi lại, đăm đắm nhìn tôi từ phía sau, như đã đăm đắm nhìn cái ngôi đền Hindu của giáo phái khắc kỷ nọ. Nàng cũng muốn lẻn vào cho biết mà không thể nào vào được, cũng chẳng làm sao biết được, nhưng dù cho không biết cái gì bí ẩn trong ấy thì ngôi đền vẫn cứ đẹp, vẫn cứ quyến rũ như thường. Tôi cũng ghé lại bệnh viện để chào Brian nhưng lại mang vẻ hối lỗi như với một người cha làm ông rất ngạc nhiên. Brian chỉ quen với những di vật và những xác ướp không hề biết hối lỗi.
Sau đó, nhờ những người đồng hương, tôi xin được chân đầu bếp trong một quán ăn Ấn Độ ở London. Rồi tôi sang Bangkok nấu ăn cho khách sạn. Có một nhóm chiêu đãi viên hàng không châu Âu thường xuyên nghỉ lại khách sạn mỗi chuyến bay đến muộn. Một cô trong đó còn lần ra được phòng tôi, tình nguyện làm khách trọ tạm bợ qua đêm. Cô ta khen đàn ông Ấn Độ đậm đà và quyến rũ, không trắng nhợt nhạt nhẽo như người Âu. Nhưng sau bước dan díu, cô ta tự cho mình cái quyền được biết tất cả về tôi, được lục soát những gì tôi có, lục soát cả chiếc ba lô mà tôi đã ý tứ cất trong tủ. Mở toang ra. Cô ta hoảng hồn, nói mãi không ra hơi. Đến khi tôi chủ động bảo rằng tôi còn mấy chiếc ba lô như thế nữa trong phòng này, mỗi chiếc ba lô là một người bạn tình tạm bợ cho qua đêm như cô, thì cô ta đã nhấc được chân lên, cũng không quên vồ lấy chiếc ví đầm của mình trên mặt bàn, rồi bỏ chạy vĩnh viễn.
Máy bay đến Delhi lúc mờ sáng. Tôi lấy được hành lý và đi qua các cửa khá nhanh. Nhưng Navin thì mãi vẫn không thấy ra, có lẽ anh ta bị mắc lại ở khu vực hải quan. Cái cảnh nhốn nháo trước và sau mỗi chuyến bay đã khiến cho chúng tôi không kịp chào nhau lần cuối. Chắc là chúng tôi không bao giờ gặp lại, ở những con đường hiển hiện trên mặt đất còn khó gặp, nữa là những tuyến đường vô hình chằng chịt trên không.
Sáng hôm sau, tôi bắt được một mẩu tin vắn trên tờ Thời báo Ấn Độ: “Hải quan sân bay trong khi kiểm tra ba lô của một hành khách đã phát hiện ra… một bộ xương người. Hành khách tên là Navin cho biết đây là hài cốt của người mẹ và anh ta là người thân duy nhất còn lại trong gia đình. Lần này Navin về thăm lại quê hương, trước khi tiếp tục đi làm ăn ở vùng Vịnh và sẽ còn đi nhiều nơi nữa. Navin nói bao giờ có ý định định cư chắc chắn ở một nơi nào thì khi đó anh ta mới đem chôn cố định bộ hài cốt này”.
15/4/1993
Hồ Anh Thái
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác

Nguyễn Huy Thiệp và một chiến lược kể chuyện khác Trong cơn gió văn chương lan theo chiều rộng thì truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp là một lốc...