Gả thiếp về vườn 1
MỘT THUỞ
XUÂN NHƯ Ý
Thầy giáo Ba Biền vốn có cái mặt đỏ bừng mỗi khi xúc động. Hễ
ngượng, giận, háo hức...thầy đỏ mặt đã đành, mỗi khi cười, mặt thầy cũng đỏ hừng
hực mới là kỳ cho chớ. Bởi đó thầy được chòm xóm âu yếm tặng cho cái hỗn danh
là thầy Ba Gà Lôi. Ông bà mình cho rằng người mà có khuôn mặt như vậy là người
bộc trực, lòng dạ thẳng bon và suông đuột như ống nứa ống tre, thấy sao nói vậy.
Vào thượng tuần tháng chạp, chợt nghe gió chướng thổi lao xao trên hàng cây
vông lá mướt hình trái tim, bông đơm đỏ thắm, thầy Ba Gà Lôi ngoắc chú Thường
Xuyên Bạch đang neo xuồng câu tôm bên mé rạch, bảo:
- Lật bật mà Tết sắp tới rồi. Thấy vông đồng trổ bông, nghe cu kêu trên cây là
mình lo phải sắm Tết.
Chú Thường Xuyên Bạch cười:
- Năm nay vùng mình trúng mùa, tui tin rằng nhà nào cũng sẽ ăn Tết lớn.
Thầy Ba Gà Lôi bảo:
- Ở xứ Nam kỳ mình, nhà nào dù nghèo mạt rệp thì trong bửa ăn vẫn có món canh,
món mặn, món xào. Sông rạch miền Hậu giang mình tôm cá ê hề, đất ruộng màu mỡ
nên dư lúa gạo để ăn, để sắm vàng. Dân Hậu giang mình chỉ ăn cá bự cỡ bắp tay sắp
lên chớ đuơng thèm rớ tới thứ cá lụn vụn như cá chốt, cá rói, cá linh... Ðất
tân bồi do phù sa đắp một khi xả hết chất phèn là trở nên phì nhiêu. Dân mình nếu
chí thú làm ăn sẽ giàu có mấy hồi.
Ðó là vào thập niên ba mươi thời tiền chiến. Gia đình thầy Ba Gà Lôi ở trong
căn nhà lợp ngói vùng Cầu Ðúc Cái Xình, gần chợ Hoả Lựu tỉnh Rạch Giá, cạnh con
kinh Vàm Xáng, hễ vào mùa xuân nước trong văn vắt.
Thầy Ba Gà Lôi sau cuộc nói chuyện tào lao với chú Thường Xuyên Bạch bèn trở
vào sân săm soi mấy chậu mồng gà, ớt kiểng, vạn thọ, kim quất...sắp lển nghển
trong vuông sân gạch tàu. Bây giờ kim quất mới trổ bông trắng, ớt kiểng cũng trổ
bông trắng. Còn vạn thọ và mồng gà mới cao chừng một tấc. Ðược cái đám cây vạn
thọ và mồng gà đều bén phân nên mập tốt sởn sơ. Thầy Ba Gà Lôi bằng lòng lắm,
liền xuống bếp nướng một con khô cá gộc, một khúc khô cá đường để làm món nhậu
với rượu thuốc mà thầy đã bổ ở tiệm thuốc bắc ông bang Xạch Ỵục (Thạch Ngọc)
cách đây nửa tháng.
Giữa lúc đó thím Ba Gà Lôi đi đánh bài về. Thím lén chồng đi vòng ngã sau để vô
nhà. Thầy Ba tinh ý, thính tai nên nghe được bước chân rón rén thận trọng của vợ
mình. Thầy liền xuống bếp để chận đầu vợ. Mặt thầy đỏ kè như ruột dưa hấu, hàng
ria mép rung rung, mắt thầy nẩy ánh sao. Thầy hét om sòm:
- Ði đánh tứ sắc hay đánh xá ỏ về vậy? Trời đất ơi, có ai bạc phước hơn tui
không? Vợ con người ta khôn ngoan, biết đạo lý, lo mần ăn, lo săn sóc cửa nhà.
Còn con đờn bà của tui là thứ hại chồng, đẻ lũ con ngu si học hành đội sổ trong
lớp. Bởi vướng nhằm thứ vợ con như vậy hèn chi mà tui cất đầu không nổi chổi đầu
không lên. Tết nầy tui bỏ nhà đi chơi mình ên, không thèm ăn Tết với lũ ngu si
heo ăn cám sú nầy.
Thím Ba chưa tới ba mươi tuổi, vóc dáng thon mảnh, da trắng trẻo,mặt trứng ngỗng,
nụ cười hơi lẵng, miệng chưa cười mà cặp mắt lá răm xinh xắn kia đã híp lại rồi.
Thấy chồng nổi tam bành, thím cười mơn:
- Ðừng có gầm, đừng có nạt em làm em sợ, tội nghiệp em lắm! Ai chơi bài hồi
nào? Con nào thèo lẻo học bậy với mình, mình hãy chỉ cho em biết để em vả nó trẹo
quai hàm cho mình coi. Em đi lại bà Bảy Khá hốt hụi để sắm sửa bánh trái, trà
rượu kẻo thiên hạ chê cười mình ăn Tết lôi thôi.
Thím vỗ vỗ vào cái túi bà ba căng phồng giấy bạc. Thiệt ra thím có hốt hụi
nhưng thím cũng vừa ăn bạc. Thím tự nghĩ rằng từ đây thím sẽ xa lánh sòng tứ sắc,
chiếu đánh xệp. Qua Tết, thím sẽ ngồi chợ Vàm Xáng bán mắm, bán ba khía, khô sặt,
khô cá sưởu, khô cá mặn...
Vẻ thịnh nộ của thầy Ba Gà Lôi bay biến đâu mất, nhưng màu đỏ phừng phừng vẫn
còn. Thầy bước vào nhà tiếp tục uống rượu và nhai khô cá gộc.
Thím Ba nguýt yêu chồng rồi dặn:
- Nè, đừng có cho cô Tư, cô Năm biết là nhà mình ăn Tết lớn nghe cha nội, nghe
tía non!
Cô Tư, cô Năm đây là em ruột của thầy Ba Gà Lôi. Cô Tư Cúc lấy chồng có trại
đóng xuồng lẫn trại đóng hòm ở đầu ngọn rạch Hóc Hoả. Cô Năm Lan thì mở tiệm
bán guốc, bán nón lá ngoài chợ Vàm Xáng, gần trường tiểu học. Năm rồi, cô Tư
Cúc bán lúa, bán dừa đều lỗ lã nên hôm qua khi bơi xuồng đến thăm chị dâu, mặt
mày cô bí xị. Cô than não nuột:
- Có ai xui xẻo hơn em không? Ðã bị giựt nợ, bị úp hụi còn buôn bán lỗ lã. Cái
tiệm hàng xén của em ế quá chị ơi! Năm Thìn mới có người ghé mua dầu lửa, năm Tị
mới có kẻ tới mua nước mắm...Năm cùng tháng tận rồi, em không thèm sắm sửa gì hết.
Ăn Tết làm chi cho mất công! Mai mốt em dẹp bàn thờ Thần Tài cho nó gọn. Ông thần
nầy chỉ ưa giúp đở mấy kẻ thù kẻ nghịch của em cùng mấy con đỉ ưa dòm hành chuyện
nhà em rồi nói hành nói tỏi em. Thờ ổng làm chi cho tốn nhang, tốn dầu đốt đèn,
tốn bông tốn trái, tốn bánh tốn chè!
Thiệt ra, tuy trong năm cô Tư Cúc có nhiều điều bực mình về tiền bạc, song chồng
cô vừa trúng mối vụ mua đi bán lại cây xẻ ván, tiệm hàng xén của cô đông khách.
Cô còn có vựa mắm và nhờ mua dưa gang nhiều để gài mắm nên bạn hàng tới mua tấp
nập. Chẳng những cô trang trải hết nợ nần mà còn dư dả chút ít để mua sắm vải lụa
may đồ Tết cho mẹ con cô. Chồng cô bỏ ra năm chục đồng mua sắm trà rượu, bánh mứt
và hai chục dưa hấu Cầu Ðúc Cái Xình nổi tiếng là ngon nhứt vùng. Từ lâu cô Tư
Cúc sợ thím Ba Gà Lôi mượn tiền của mình nên giả bộ than thở ỉ ôi rằng mình eo
nghèo ót ngọt, năm nào cũng thiếu trước hụt sau. Thứ đờn bà mà mê bài bạc như
chị dâu cô, hễ cô cho chị ta mượn tiền thì đời nào chị ta mới trả hết cho!
Thím Ba Gà Lôi cũng bởi miệng bòng chanh bóc chanh của mấy mụ ngồi lê đôi mách
mà mang tiếng là thứ đàn bà bạch tuột, ngày nào không xoè bài tứ sắc là phiền
muộn thiếu điều ngặt mình ngặt mẩy. Có kẻ ác khẩu còn đồn rằng thím là tay cờ
gian bạc lận, lâu lâu giở thói ăn vùa thua giựt. Thứ đờn bà như vậy, cô Tư Cúc
chẳng những không nên dây dưa thăm viếng mà cũng đừng nên cho vay cho mượn. Hể
cẩn tắc thì vô ưu, ông bà mình đã nói như vậy thì cô nên lấy đó làm câu kinh nhựt
tụng để đề phòng mụ chị dâu kia.
Còn cô Năm Lan, em kế cô Tư Cúc thì lấy chồng giàu. Chồng cô có nhiều ruộng đất
ở vịnh Chèo. Nhà cô ở chợ Vàm Xáng thiệt khang trang, ba căn hai chái thiệt rộng,
mái lợp ngói móc âm dương, vách bổ kho, sân lót gạch tàu. Cô lại có tiệm bán guốc,
bán nón lá bên hông chợ nên bề ăn xài của cô ngoả nguê lắm. Nhưng thầy Hương
thân Lộc, chồng cô Năm, từ ba năm nay nếu không mê sa nịch ái con mèo nầy thì
cũng bợ đít con mèo nọ, đeo dính miêu kia làm cô ốm o so bại vì ghen tương.
Vừa khi nhge tiếng chim tu hút hót trên cây vông mọc bên dòng kinh nước biếc,
cô xỉa ngón tay vô trán chồng:
- Thứ đồ dâm tặc! Thứ đồ dê xồm! Tết nầy tao hốt lũ con về nhà má tao, để mầy
ăn Tết ở đây với con chó vện. Tao đi luôn, nói cho mầy liệu mà tự xoay sở...Mầy
làm tao xất bất xang bang quá rồi! Tao đâu có dại gì nuôi mầy cho mập thây đặng
mầy đi đéo bậy, biết đâu mầy sẽ dến tiêm la, đau lậu, cù đinh, thiên pháo về
đây báo đời tao.
Cô Năm Lan có cùng khuôn mặt với cô Tư Cúc. Nhưng cô Tư Cúc trắng trẻo, mảnh
mai, điềm đạm hơn. Cô Tư tuy ưa cà khịa, ưa cằn nhằn cửi nhửi nhưng cô nói năng
rỉ rả chứ không quát tháo ầm ĩ như em. Khi giận dũ, cô Năm Lan giống mấy cô đào
hát bội đóng vai nữ tướng như Cao Long Ngà, Sáu Bê, Năm Sa Ðéc , mày ngài cô dựng
ngược, khoé hạnh tròn xỏ, mặt cô phừng phừng đổ lửa. Cô có tướng hơi cứng cỏi,
vai ngang nên mấy bà già trầu đều cho đó là tướng khổ sở vì chồng con.
Bà Hương sư Bách, mẹ của thầy Ba Gà Lôi thường than:
- Lũ con gái nhà tui, miệng đứa nào cũng có đinh, có gai. Còn lũ dâu tui đều có
nanh có vuốt cả. Con Hai thì có miệng củ ấu ưa nói hành thiên hạ, con Ba thì
cái miệng cá chim, cà khịa với bất cứ ai.
Con Hai đây tức là nàng dâu trưởng của bà, vợ thầy Hương quản Bưng.
Từ lâu, thím Ba Gà Lôi ác cảm với cô Năm Lan vì cô nầy ưa chê bai chỉ trích cái
tánh mê bài bạc và cái tật cả nhổng của thím. Cô Năm Lan đã rỉ tai với thím
Hương quản Bưng:
- Con mẹ đó tới cuối năm mà quần áo vẫn xập xệ thì mong gì mẻ có tiền sắm Tết với
người ta.
Ðược rồi, cô Năm Lan khinh thím, sẽ phải chống mắt coi thím ăn Tết. Thím cứ giả
đò thiếu trước hụt sau, để rồi tới mồng một, mồng hai, cô ta sẽ được thím mời tới
chứng kiến sự sung túc của thím. Thiệt ra, lâu lâu thím mới ngồi vô sòng bài
chiếu bạc. Thím chơi tứ sắc mỗi lệnh một xu chứ đâu có đánh lớn! Năm qua, thím
đã mua bao giàn mấy gánh hát, kiếm lời khá bộn. Nhưng thím cứ than lỗ lã để
đánh lừa anh chị em bên chồng, để chồng thím dễ bề bòn rút, xin xỏ tiền bà mẹ
chồng thím.
° ° °
Cằn nhằn, hăm he, chửi rủa, rên rỉ điếc tai ớn óc như vậy,
nhưng ai cũng như ai, nghĩ rằng năm nay mình xui xẻo, vận số hắc ám như cái quần
vải ú đen, như đít chảo đít nồi, nhưng biết đâu năm tới vận hạn mình sẽ hanh
thông hơn. Nếu năm nay mình hên một, biết đâu năm tới mình sẽ hên hai ba hoặc
hên mười!
Cô Năm Lan tuy chửi chồng giòn rụm, hăm he chồng ớn óc như vậy nhưng sau một
đêm được chồng yêu đương mặn nồng, liền thỏ thẻ:
- Em nuôi cặp gà mái tơ và mấy con vịt cà cuống để dành ăn Tết tới mồng mười.
Mình rành trà rượu, nhớ mua hai thứ đó cho thiệt bảnh, trước kính má, sau để
thưởng xuân. Mai em sẽ làm bánh mứt và đón ghe thương hồ mua dưa hấu, mua hồng
khô, chà là...
Cô Tư Cúc trong bữa cơm chiều có món canh đọt bợ nấu tôm, ỏn ẻn bảo chồng:
- Tết nầy em sẽ nấu canh bát tiên cho thiên hạ lé con mắt chơi. Ðể em mua bóng
da heo, kim châm, nấm mèo, tóc tiên, nấm đông cô, bào ngư...Ngoài món canh bát
tiên, em sẽ nấu vài món Tàu, đó là không kể món thịt cá kho chung, món khổ qua
dồn thịt, món tôm kho tàu nước gạch đỏ ối để ăn lai rai cho đến hạ nêu.
Ai cũng có dự định thưởng xuân qua món ngon, qua tiệc tùng. Ai cũng hy vọng năm
mới biến đổi hoàn cảnh đang hồi hắc ám củ mình. Cô Năm Lan không cần chuyện làm
ăn xuôi chèo mát mái, chỉ cầu cho gia đình mình hoà thuận, chồng cô chán chuyện
én oanh, ong bướm, hồi tâm nghĩ tới vợ nhà. Cô đã dùng thuốc Huyết Trung Bửu, Cửu
Long Hoàn, Nữ Kim Ðơn nên kinh nguyệt cô điều hoà, bớt ốm bớt ròm, lại có vèo đỏ
da thắm thịt ai cũng khen nên cô hy vọng chồng cô sẽ yêu thương say đắm cô hơn.
Cô Tư Cúc đẻ hai lượt đầu hai con tiểu tì nên cô hy vọng năm tới cô sẽ đẻ cho
chồng một thằng cốt đột kháu khỉnh. Riêng thím Ba Gà Lôi cũng hy vọng mình đã
đi chùa cúng dường rất hậu, mình đã thành tâm chiêm bái đức Phật Bà Quan Âm thì
hai đứa con mình sẽ học hành sáng dạ. Thím cũng mong bọn chòm xóm láng giềng đã
từng xung khắc với thím sẽ sáng mắt vì sự thành công trong chuyện làm ăn của
thím, sẽ cụp tai nhục nhã để lân la làm quen và tùng phục thím, chừng đó thím sẽ
tỏ ra khoan hồng đại lượng với họ.
Vợ chồng Hương quản Bưng vì là phận con trưởng nên phải ở chung với bà Hương sư
Bách. Thím Hương quản phục tùng mẹ chồng trước mặt nhưng ưa nói xấu bà sau
lưng. Thím không dám cầu cho bà chết sớm, nhưng mỗi khi thấy bà cầm chùm chìa
khoá mở tủ sắt ngắm giấy bạc buộc từng cuộn, vàng lá xếp từng bó, nữ trang bày
lổn ngổn thì thím ao ước một ngày nào đó bằng cách nầy hay cách khác, thím sẽ cầm
được chùm chìa khoá kia. Vì ngoài chìa khoá mở tủ sắt còn có chìa mở lẫm lúa,
chìa mở tủ đựng đồ cổ ngoạn, chìa mở tủ chè đựng toàn rượu quý, trà ngon, thức
ăn mắc tiền....
Bà Hương sư Bách mừng thầm đại gia đình lẫn đám con cái ra riêng, đứa nào cũng
có miếng ăn miếng để. Trong khi đó có vài gia đình tá điền bà túng hụt, phải
bán bớt số lúa để dành ăn trong năm để sắm Tết. Lại còn vài gia đình ngoài chợ
Vàm Xáng phải cầm đồ hoặc hốt hụi hay phải tièn vay bạc hỏi để tạo được cái Tết
tương đối tươm tất. Nhưng đó là những trường hợp rủi ro, bà hơi đâu nghĩ tới
cho mệt óc, mệt tim. Vào thời buổi sông trong biển lặng nầy, các gia đình trung
lưu ở xứ Nam kỳ nầy đều ăn Tết mười ngày, từ mồng một cho tới mồng mười, không
kể ngày dựng nêu và cúng rước ông bà tức ngày ba mươi tháng chạp.
Còn việc chuẩn bị Tết thì chị ruột bà Hương sư Bách là bà Cai tổng Hài đã chuẩn
bị từ đầu tháng chạp. Xời ơi, người ta giàu có danh giá nên người ta sợ tổ chức
đón Tết xập xệ thì trong trào ngoài quận, từ tổng tới làng sẽ xầm xì chê bai,
nói tỏi nói hành, trổ giọng chanh giọng khế. Mấy ông thương gia Ba Tàu ngoài chợ
Vàm Xáng cũng không dám ăn Tết nhỏ vì sợ nếu tổ chức đón Tết sơ sài thì bề buôn
bàn sẽ gặp trở ngại vì mấy ai chịu hùn hạp với kẻ coi bộ không được giàu có? Việc
ăn Tết lớn nhỏ đánh giá sự thạnh suy của mỗi gia cảnh con buôn. Bà Hương sư
Bách tuy chỉ là một địa chủ, bà chẳng cần ai đóan già đoán non sự thạnh suy của
mình, song bà muốn bày biện hực hỡ, nghi vệ rườm rà để con cháu vui chơi hầu
quên cảnh mưu sinh vất vả đè nặng suốt năm qua.
Từ đầu tháng chạp, lũ cu đất, cu cườm, tu hú kêu văng vẳng từ vườn sau ngõ trước.
Lũ ong bướm cũng dập dìu trên những luống cải sáng rực hoa vàng.
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Trông mau tới Tết dựng nêu ăn chè
Ở nhà sau, trên bộ ngựa gõ ngó ra sàn nước, bà Hương sư Bách cùng hai cô con
gái và hai nàng dâu ngồi ăn cơm nguội mắm sống. Mắm lóc thịt đỏ au au xé từng
miếng cỡ ngón tay út, thị ba chỉ xắt mỏng, tép muỗi xào mỡ xắt hột lựu, ớt
trái, dưa leo bổ dọc, cải thơm cay tươi non, rau thơm...Năm mẹ con hả hê ăn món
mắm đồng rau rẫy, mắt sáng quắc vì cay. Bà Hương sư Bách dặn dò:
- Tao muốn mồng hai Tết, tất cả con trai con gái, dâu rể, cháu nội cháu ngoại
phải tề tựu đông đủ dưới mái nhà nầy.
Thím Ba Gà Lôi nhỏ nhẹ:
- Thưa má, chồng con có cho trồng hai vồng cải tùa xại để làm dưa. Vậy má để
con bao thầu nồi thit cá đệm trứng luộc kho chung cùng hai hai món dưa cải dưa
giá.
Cô Tư Cúc nói:
- Con lo khoản đầu heo luộc, lòng heo cho. Con có nuôi hai con heo thiến mỗi
con nặng cỡ một tạ. Lối 29 tháng chạp nầy lò heo Chánh Hiệp sẽ tới bắt, họ kiếng
lại cho con hai cái thủ vĩ và hai bộ đồ lòng.
Cô Năm Lan hớn hở:
- Còn con có nuôi bầy gà, con sẽ lựa hai con gà mái tơ thiệt mập để má cúng hạ
nêu. Ngoài ra con cũng xí phần khoản bánh luộc như bánh tét, bánh ích, bánh dừa
và khoản bánh hấp như bánh bò, bánh da lợn, bánh qui, bánh thuẩn...
Ngoài vườn sau, trong khuôn viên bà Hương sư Bách, thầy Hương quản Bưng cùng em
là thầy Ba Gà Lôi đang săn sóc mấy luống cà, cà dái dê tím đậm và dài sọc, cà
dĩa trắng ngà, cà tô-mách tròn xinh thắm đỏ. Trời trong nắng tốt, hàng vông đồng
bên bờ rạch, bờ mương trổ hoa thắm màu huyết bồ câu. Ðó là thứ màu đỏ thuần một
sắc, không ửng vàng như hoa điệp tây, không ửng tim tím như màu ngọc lựu. Miền
Nam có mai vàng và vông đỏ để đón Tết. Nhưng mai có thể cắt nhánh rồi chưng
trong độc bình da rạn, còn hoa vông thì chỉ đẹp ngoài đất trời, nếu đem cắt
nhánh cắm vô bình thì hoa lẫn nhánh đề trơ trẽn vô duyên và mau héo rũ.
Thầy Ba Gà Lôi trồng mồng gà, vạn thọ, ớt kiểng, kim quất trong giỏ tre. Nhưng
thầy sang kim quất vô chậu sứ tráng men lam. Và khi qua Tết, mồng gà, vạn thọ
phải bứt bỏ đi, ớt kiểng thì trồng trên vuông đất trồng rau để lấy trái. Thầy
ghét loại vạn thọ màu hoả hoàng nên trồng toàn vạn thọ cúc màu huỳnh yến. Thầy
cũng không ưa mồng gà đuôi chồn màu vàng lẫn màu đỏ, bông hình tháp bút. Thầy
chỉ trồng mồng gà lưỡi búa như một cuộn nhung đỏ bẻ vặn. Còn ới kiểng thì thầy
trồng theo một loạt màu: vàng, đỏ, tím....
Cô Tư Cúc mua mấy chậu cúc lẫn vạn thọ cúc đặng tôn vinh cái tên mỹ miều của
cô. Mua được hai chậu cúc đại đóa màu tím lợt và hai chậu màu huỳnh yến, cô mừng
húm. Còn cô Năm Lan mua mồng gà, vạn thọ, kim quất, ớt kiểng, cúc nhưng cô còn
mua thêm hai chậu cẩm nhung. Ðây là loại cẩm chướng màu trắng sọc tím, mỗi đóa
lớn cỡ trái chanh gồm nhiều cánh có răng cưa khép lại. Cũng như lá cẫm chướng,
lá cẫm nhung thuộc loại lá cỏ màu túy lục phủ một lớp tuyết nhưng thiệt mỏng
thiệt mịn.
Năm nay thầy Hương quản Bưng trồng hoa qùy và hoa thược dược để ăn Tết. Hai anh
em thầy săm soi mấy chậu bông qùy màu vàng ấm, mấy chậu thược dược hường cánh
sen rực rỡ dưới anh nắn vàng tươi như hỗ phách. Thầy Hương quản bảo em:
- Có người gọi bông quỳ là hoa hướng dương, hoa thục quỳ, hoa nhật quỳ. Dân Nam
kỳ mình là bông quỳ trơn lu cho gọn.
Thầy Ba Gà Lôi nói:
- Năm nay anh trồng bông qùy tốt quá. Rồi đây mỗi bông sẽ nở bự cỡ cái dĩa đựng
nước mắm chớ không chơi. Còn thược dược màu hường thì thường quá, thược dược
màu huỳnh yến hoặc cánh trắng nhị vàng mới hiếm qúy.
Thầy Hương quản Bưng nói bọc xuôi:
- Sân mình rộng, trồng bông huê cần ê hề chớ không cần quí.
° ° °
Yên lòng về khoảng bông huê, thím Hương quản Bưng liền nghĩ tới
việc may áo Tết cho chồng con và cho mình. Thím biết vóc mình thím hơi mập
nhưng gọn, ngặt là nước da thím hơi đen nên dù thích màu hường cánh sen và màu
xanh đọt chuối, thìm vẫn không dám may mặc hai màu đó. Thôi thì thím may cái áo
dài lụa màu xám vảy cá thác lác và một cái bằng hàng màu cam lợt điểm bông trắng
là nhu nhã nhứt rồi. Con gái bà Cai tổng Hài cũng đen cỡ thím, bận áo màu xám,
màu cam coi được đến! Thím phải bắt chước cô ta trong việc may mặc vì khắp Vịnh
Chèo, dân nhà giàu đều khen cô ta ăn mặc đẹp.
Dân miệt vườn từ 20 tuổi đến 30 tuổi chỉ cần hai bộ quần áo bằng vải ú hay vải
xiêm để thay đổi hàng ngày là đủ. Hễ vào ngày Tết hay lễ lạc thì họ mới diện bộ
quần áo đặc biệt tùy theo túi tiền. Thầy Hương quản Bưng năm nay gần 40 tuổi, lại
là kẻ có chức phận trong hàng ngũ mười hai vị hương chức hội tề của làng nầy
thì phải mặc áo dài bằng tố đen, đầu bịt khăn đóng hoặc khăn be, chơn đi giày
hàm ếch. Nhưng thím muốn chồng mình năm nay diện áo gấm lam bông bạc để đi chúc
Tết mấy ông hương chức, đứng đầu là ông Hương cả Bỉnh, ông Hương chủ Thử, ông
Hương sư Hạt, ông Hương trưởng Bôn. Sau nữa, chồng thím sẽ chúc Tết thầy Cai tổng
Ban, ông Bang biện Tịnh, toàn là dân danh gíá trong tổng, trong làng.
Nhưng mỗi khi nhìn bàn chơn to phè của chồng, thím phát tức cười. Thầy Hương quản
Bưng cũng như bao dân miệt vườn khác, thích đi chơn đất. Hễ có việc họp hành tại
nhà làng thì thầy mới chịu xỏ chơn vô đôi guốc vông. Vậy còn đỡ hơn chú Tám Huỳnh
Lân, chồng cô Tư Cúc. Tuy có tiền nhưng chú không thích se sua, cứ đi chơn đất.
Tới tối, chú trèo lên giường phủi chơn sơ sịa rồi lăn đùng ra ngáy khò khò. Vào
mấy ngày Tết hoặc vào những dịp đi ăn giỗ, chú Tám Huỳnh Lân ôm kè kè đôi guốc
theo. Tới nhà gia chủ, chú liền bương bả ra sàn nước rửa chơn rồi mới xỏ guốc
vào. Còn thầy Hương thân Lộc, chồng cô Năm Lan, khi ở nhà thì đi chơn đất để bồi
líp, móc mương, nhưng hễ bước ra ngoài là thầy xỏ chơn vô guốc. Còn đôi giày
đánh xi-ra đen thì thầy chỉ mang một lần, đó là dịp thầy đi Vịnh Chèo ăn cưới
cô Hai Thiên Kim, con gái bà Cai tổng Hài. Sau đó thầy đem chưng giày trong tủ
kiếng, coi như thờ sống của báu vậy.
Cô Năm Lan bảo thím Hương quản Bưng và cô Tư Cúc:
- Năm nay em không thèm sắm guốc cho thằng dê ôn dịch đó đâu. Ðôi guốc em sắm
cho nó hồi tháng rồi vẫn còn mới, gót chưa mòn, quai còn tốt. Còn đôi giày tây
của nó hoạ may ba mươi năm sau mới chịu mòn một ly ở gót.
Cô Tư Cúc cười:
- Dượng Năm trắng trẻo bảnh trai, dẫu có ăn mặc xịch xạc mà vẫn đắt mèo nên dì
tức sôi bọt quáp rồi chửi chồng rùm beng. Chồng tui coi vậy chớ chỉ biết nghĩ tới
vợ nhà, không dây dưa chuyện mèo mỡ chim chuột. Năm nay tui nhứt định đưa ảnh
đi chợ Cần Thơ, sắm cho ảnh một đôi giày tây đánh xi-ra cho thiệt bóng.
Cô Năm Lan nguýt chị, xí một tiếng dài, Chồng chị tuy bảnh trai nhưng cù lần
thì đắt mèo sao được? Chồng tui đã khôi ngô, trắng trẻo, lại có duyên ngầm nên
lũ dâm phụ chạy theo rầm rầm nên gái lẵng lơ rủ nhau theo bám đít nó thì có gì
lạ đâu nà!
Cô Năm Lan không thuộc vào loại đờn bà nhà quê mà thuộc vào hạng phụ nữ trung
lưu miệt vườn. Cô không đi nhổ mạ, cấy lúa, gặt lúa. Cô chỉ làm công việc trong
nhà. Giờ con cô đã lớn và cô không còn chửa đẻ gì thêm nên cô xoay qua buôn bán
để có đồng ra đồng vô. Bởi đó, Tết năm nay cô sẽ diện đôi dỏn nhung thêu cườm
mà cô vừa mới sắm vì đi guốc hoài, dẫu là guốc sơn đen quai vẽ bông xanh đỏ đi
nữa, cũng làm thiên hạ nhàm mắt.
Bà Hương sư Bách, thím Hương quản Bưng, thím Ba Gà Lôi và cô Tư Cúc thì nghĩ rằng
loại guốc vông mà thường mang trong nhà nếu còn mang trong dịp Tết sẽ có vẻ dị
dị nừng nừng, cho nên họ sắm guốc sơn đen. Bà Hương sư đã sắm cái áo dài the La
cải, bộ quần áo xuyến trắng để mặc cặp lúc đi ra ngoài. Hai chị em dâu mua lãnh
tàu về để may quần. Chèn ơi, thứ lãnh trơn mà cặp lưng bằng nhiễu màu đọt chuối,
thứ lãnh đen dệt bông mà cặp lưng bằng nhiễu màu hường cánh sen thì đẹp quá cỡ!
Hễ bận quần lĩnh đen thì họ mặc áo nhiễu tím, áo xuyến trắng, áo lụa màu hường
cho cái Tết của mình thêm thắm thêm tươi. Còn thứ áo bà ba bằng vải in bông
xanh đỏ, dù còn mới đi nữa, cũng nên cất vô rương đợi ra giêng mặc lại.
Cô Tư Cúc vốn cưng chồng, nhưng cô không nghĩ đến việc sắm quần áo Tết cho anh
ta. Chú Tám Huỳnh Luông có một cái áo sơ-mi lụa trắng, một cái bằng vải ba-tít
màu trứng sáo, một quần dài bằng nỉ xám, một quần bằng vải ka-ki màu xanh
dương, một đôi giày xăng-đan. Nhưng chú ít có dịp diện đồ tây. Cô nói sẽ sắm
giày tây cho chồng là để hù hai mụ chị dâu và cô em gái mình chớ cô ngại ra tỉnh
Cần Thơ bằng đò máy lắm. Chồng cô không bảnh bao hào hoa như em rể cô, nhưng
chú ta lực lưỡng, khoẻ mạnh, mặt mũi hiền hậu, dễ thương.
Nhớ thuở nào, mỗi khi cô đi ngang qua xưởng mộc của ông Sáu Thiệt, có nghe anh
chàng thợ tập sự tên Tám Huỳnh Luông vừa bào khúc gỗ căm xe vừa hát:
Má ôi, con muốn lấy anh thợ bào
Khòm lưng ảnh đẩy cái nào cũng sâu
Bà Hương sư Bách sở dỉ chọn Tám Huỳnh Luông làm rể vì thấy anh ta chí thú làm
ăn. Từ chỗ làm mướn, nhờ chút ít của cải của vợ, anh ta đi học đóng xuồng, đóng
hòm và hiện nay làm chủ trại xuồng lẫn trại hòm, công cuộc làm ăn có vèo mở
mang thêm. Còn cái việc anh ta khòm lưng đẩy sâu đẩy cạn thì thiên hạ chỉ biết
từ khi cô Tư Cúc làm vợ anh ta rồi, cô ngoả nguê bơi lội trong hạnh phúc. Cô phốp
pháp và non nheo nhẻo. Cô ưa nhỏng nhẻo với chồng nhưng cũng săn sóc chồng từ
miếng ăn thức uống tới tấm áo manh quần.
Khoảng giữa tháng chạp, cô Tư Cúc rủ cô Năm Lan may áo bà ba, áo dài cho thiệt
xuê xoang. Ngoài chợ Cần Thơ có nhiều hàng lụa phổ thông. Nào là sa-teng trơn,
sa-teng dệt bông nổi lấp lánh. Thứ trơn để may quần, thứ dệt bông nổi may áo
thì đúng điệu quá rồi. Nào là sa-teng tây trơn láng mịn mát mà có người gọi là
sa-teng mình phấn vì nó phủ một lớp tuyết nhung thiệt mỏng thiệt nhẹ. Nào là
xá-xị hơi giống sa-teng có màu đen dùng để may quần. Lại có cẩm tự là thứ lụa
màu đen in bông chữ thọ dùnh để may quần. Cẩm tự có sắc gỗ mun chớ không có sắc
huyền ngọc như sa-teng. Cô Tư Cúc khi đặt chơn tới tiệm tơ lụa là cô kêu bà chủ
xé cho cô ba khúc sa-teng, cẩm tự, xá xị để cô may quần. Còn cô Năm Lan thì mua
cẩm nhung đen để may áo bà ba và quần dài. Ðể may áo dài, cô Tư Cúc chọn cẩm
châu trắng, cô Năm Lan chọn cẩm vân màu hoàng yến.
Vào thời Pháp thuộc, về tơ lụa, phụ nữ miền Nam dùng nhiều thứ cẩm. Trước hết, ở
miệt Tân Châu có sản xuất lụa cẩm châu (châu là Tân Châu) mềm và xốp. Còn cẩm
nhung mỏng hơn, mỗi khi căng trong ánh sáng xuyên qua, ta thấy có những vạch
sáng lấp lánh. Cẩm nhung màu trắng hay màu đen dùng để may quần, màu hoàng yến,
hồng phấn hay tím sen dùng để may áo dài. Cẩm vân là lụa dệt nổi bông tiền điếu
hay nét mây cuốn, chắc nhứt, vóc lụa còn thơm mùi tơ tằm. Cẩm trước là lụa dệt
nổi bông lá trúc. Cẩm sen là lụa dệt nổi hình bông sen. Cẩm quít là lụa dệt nổi
hình trái quít. Cẩm kim là lụa dệt nổi hình mũi kim.
Thầy Ba Gà Lôi vốn có học cọt quẹt vài ba chữ nho, nghe vợ và hai mụ em gái cứ
chót chét những tiếng "cẩm sen, cẩm quít, cẩm kim..." ngứa họng nạt
nhàu:
- Sao mấy người ưa dùng ba chữ nửa nạc nửa mỡ vậy? Lụa nổi hình bông sen tức là
cẩm liên, nổi hình trái quít là cẩm quất, nổi hình mũi kim thì gọi là cẩm châm.
Ai đời chữ đầu thì mấy người gọi bằng chữ Hán, chữ cuối thì gọi bằng chữ nôm
nghe sao thuốc chuột quá!
Thím Ba Gà Lôi không thèm cãi cọ với ông chồng nói chữ của mình. Thím nhứt định
gọi là cẩm sen, cẩm quít, cẩm kim, ai có kiện thì thím sẽ vác chiếu đi hầu.
Thím mà gọi cẩm liên, cẩm quất, cẩm châm thì ma nó hìểu!
Cô Tư Cúc chọn cẩm cúc màu vàng tươi, cẩm phù dung hường để may áo bà ba. Còn
cô Năm Lan chọn cẩm lan may thêm chiếc áo dài, còn dư một khúc lụa, cô may áo
túi. Ngoài ra, cô chọn cẩm phụng trắng để may quần. Cô ỏn ẻn bảo chồng:
- Mình thấy em bận chiếc quần cẩm phụng, chiếc áo cẩm lan trẻ hơn mấy tuổi?
Mình có nhớ hồi mình chưa cưới em, sáng sáng em mặc áo cẩm lan ra sân tưới mấy
líp bông huệ, mình đi ngang nhà, hát: Lan huệ sầu ai lan huệ héo. Lan huệ sầu
tình trong héo ngoài tươi.
Thầy Hương thân Lộc nói bọc xuôi:
- Ờ, anh nhớ hoài đó chớ. Hồi đó, có vài lần anh đi qua nhà mình, có nghe mình
hát câu: Trách ai đánh trống bỏ dùi. Dê tui cho được xô tui xuống bùn.
Cô Năm Lan sừng sộ:
- Ma bắt thằng cha nầy cho rồi! Tui đời nào thèm hát những câu xui xẻo đó? Ðó
là con ở của chị tui hát ru thằng con anh Hai tui ngủ. Thiệt rõ ràng hồi xưa thằng
cha ôn binh cốt đột nầy lượn qua nhà tía má tui cốt để ve vãn con Tí chới có
thèm ngó ngàng gì tới tui đâu nà. Phải mà, con Tí trắng da dài tóc, còn tui đen
thủi đen thui, đen thùi lùi cứt chuột mà...
Thầy Hương thân Lộc lật đật dọt lẹ, không dám ngồi nghe con vợ hoạn thơ tụng một
chầu kinh điếc con ráy.
Nhà thầy Ba Gà Lôi vốn sát bờ kinh Vàm Xáng, lại gần Cầu Ðúc Cái Xình là nơi
ghe thương hồ ưa tụ họp. Chợ Vàm Xáng hay các chợ quê khác thường bán vải nhiều
hơn bán hàng lụa. Vải trắng và vải đen hiệu Xe Lửa, hiệu Trái Ðào thạnh hành nhứt.
Ngoài ra còn có vải xiêm tẩm hồ bóng mượt, vải ta dệt to sợi, vải hộ giền dệt
thô tháp, có gút mắt nhỏ cở hột giền. Ở chốn quê mùa hẻo lánh, vào mùa nắng và
nhứt là vào lúc lúa đã gặt xong, thường có ghe trà vải len lỏi theo những dòng
nước để vào đến tận nơi. Thím Ba Gà Lôi đón mua vải in bông để may áo bà ba cho
hai cô con gái xí xọn của mình.
Ôi ghe trà vải! Có một anh thương hồ tên là Chín Tân Ngãi có giọng hò thiệt dễ
thương. Cứ sau ngày rằm tháng chạp, Chín ta chèo ghe qua lại kinh Vàm Xáng và rạch
Hóc Hoả để bán hàng. Chẳng những chàng bán trà vải mà còn bán kim hát máy, dĩa
hát máy và các tuồng cải lương được in thành những tập sác mỏng khổ nhỏ. Các cô
gái ở dọc theo sông thường bồi hồi xúc động khi nghe giọng hò ấm áp của chàng:
Hò.. ơ.. ớ... ơ
Cây da tróc gốc
Thợ mộc đem cưa
Gặp em đứng bóng ban trưa
Trách trời mau tối, phân chưa hết lời
Lụy nhỏ lúc biệt ly
Anh đi em ở
Rạng mặt đá vàng, xin chớ bỏ nhau...
Cô Út Ngọc Nhung, em ruột thím Ba Gà Lôi vốn nhạy cảm với bất cứ câu hò nào được
diễn tả bằng giọng đẹp và mùi. Từ bốn năm nay, kể từ khi má cô là bà Chín Lũ chết
đi thì cô ở chung với vợ chồng thầy Ba Gà Lôi. Hai chị em có cùng một khuôn mặt,
nhưng thím Ba thì vóc dáng thanh cảnh, tươi mát, còn cô thì thân mình phốp pháp
nồng nàn hơn. Mắt thím Ba ranh mãnh, linh hoa, còn mắt cô Út là thứ mắt mời, ướt
rượt và lẵng ngầm. Cô thường nói với mấy cô bạn chòm xóm rằng Chín Tân Ngãi bảnh
trai như kép Bảy Nhiêu của gánh Phước Cương, sáng láng như kép Từ anh của gánh
Trần Ðắc. Mỗi khi nghe Chín Tân Ngãi hò ở mút đầu dơi đất là cô liền bước ra bến
nước, đứng dưới gốc cây khế đơm đầy hoa tím, lòng man mác bâng khuâng.
Có lần cô hỏi thầy Ba Gà Lôi:
- Thưa anh Hai, em không hiểu tại sao mấy chủ ghe thương hồ, hễ bán trà thì họ
ưa bán cặp với vải.
Thầy Ba Gà Lôi vốn là tay uyên bác. Chuyện gì cũng được thầy cắt nghĩa có lớp
có lang, có gốc có ngọn ráo trọi:
- Một lẽ dể hiểu là họ tin rằng hương trà thấm vào vải làm cho mọt, gián không
léo hánh tới. Ðã vậy vải sồ, hàng lụa còn thơm mùi trà. Có người cho rằng hương
trà còn trừ được mùi ẩm mốc nữa.
Thầy Ba Gà Lôi cắt nghĩa vo vo, nhưng thầy không để ý cái hương vị ái tình
trong câu hát của anh chàng bán trà vải đã thấm sâu vào tâm hồn, đã ướp mềm
trái tim cô em vợ đa tình đa cảm của mình.
° ° °
Yên khoản may mặc, từ rằm tháng chạp, người nội trợ còn lo
khoản bánh mứt.
Vì nhà bà Hương sư Bách là một đại gia nên bắt đầu từ mồng mười tháng chạp,
thím Hương quản Bưng đã lo làm các món bánh phơi khô: bánh phồng, bánh tráng,
bánh tổ. Bánh phồng nếp, bánh tráng ngọt và bánh tổ mà làm bằng đường om thì
thơm phải biết! Ðây là thứ đường mật mía, đựng trong cái om đất, sột sệt màu
nâu đỏ. Ðường này thắng lỏng bỏ thêm gừng giã nát, chan lên tàu hũ bánh lọt hoặc
sương sa hột lựu thì ngon hơn đường cát thập bội.
Thím Ba Gà Lôi nhứt định chọn đường om để làm bánh tổ. Thứ bánh nầy không cần
ăn vào dịp Tết cho nên thím không cần làm gấp, đợi đón ghe thương hồ để mua cho
được đường om. Thím dặn cô Út Ngọc Nhung:
- Mầy nhớ đón ghe thương hồ nào có bán đường om cho tao.
Cô Út dạ dạ, mắt đã ướt giờ thêm sáng long lanh. Cô nhìn ra bến sau nhà đang
lúc nước dồn lai láng và trong văn vắt như mắt mèo. Ngày ngày cô bồn chồn, đêm
đêm cô khắc khoải mơ một bóng dáng, một giọng hò.
Nhưng một buổi sáng mát rười rượi, giữa lúc con chim chìa vôi hót lảnh lót trên
mái nhà, thì một giọng thân yêu, quen thuộc vang lồng lộng ngoài bến:
Mặt trời vừa lặn, mặt trăng vừa ló
Qưới nương em ơi, qua xin tỏ với nàng
Con gái ông Bang, con gái ông Phủ qua cũng không màng
Chỉ chuộng con bạn ngọc biết đá vàng thỉ chung.
Cô Út Ngọc Nhung kêu ghe thương hồ lại. Quả thiệt đây là ghe của Chín Tân Ngãi.
Cách mặt một năm, cô thấy Chính ta thêm lực lưỡng, mặt lúc nào cũng vui tươi, nụ
cười mắt liếc lúc nào cũng tình tứ. Cô hỏi mua một xấp vải in bông hường. Sau
đó cô bảo:
- Em muốn mua đường om để làm bánh tổ, bánh ích, bánh bò nhưng tìm hoài mà
không thấy. Anh Chín có biết ghe nào bán thứ đường đó xin nhắn họ ghé qua đây
giùm em.
Chín Tân Ngãi cười:
- Hôm qua tui có mua được hai om đường. Thôi thì tui xin kỉnh cô một om làm
duyên. Khi cô làm bánh xong, xin nhớ đến tui một chút cho ấm lòng kẻ sống đời gạo
chợ nước sông nầy.
Khi trao om đường cho cô gái, Chín Tân Ngãi miệng cười mắt liếc có vẻ gian tà dịch
vật lắm. Anh ta hò:
Nếm muỗng đường om, mùi thơm vị ngọt
Thức trót canh gà, tuôn giọt cảm hoài
Thân bậu như nhánh bông mai
Phận qua chim cú lạc loài đứng trông
Cô Út cười ngỏn ngoẻn
- Thằng cha mắc dịch nầy hò cái điệu gì tầm xàm tầm bậy vậy?
° ° °
Thím Hương quản Bưng vừa khi làm xong bánh phồng nếp và bánh
phồng khoai liền cho thím Ba Gà Lôi, cô Tư Cúc, cô Năm Lan một chục bánh mỗi thứ.
Thím khoe:
- Tui làm bánh phồng nếp bằng đường the, còn bánh phồng khoai bằng đường cá trắng
trộn sữa hộp đó đa.
Thím Ba Gà Lôi nhìn mặt bánh phồng khoai, miệng thì dạ dạ nhưng mắt liếc về hai
cô em chồng. Cô Tư Cúc lẫn cô Năm Lan trề môi sau lưng thím Hương quản, kẻ
nguýt ngưòi háy coi thiệt tức cười.
Hôm sau, cô Năm Lan đội khăn màu hột gà, che dù tía tới nhà cô Tư Cúc xầm xì to
nhỏ gì đó một hồi. Cô Tư liền quơ cái khăn màu hường quàng lên cổ, chụp cái nón
gò găng thêu chỉ ngũ sắc ở mặt trong lên đầu rồi rủ cô Năm đến nhà thím Ba Gà
Lôi, vẻ mặt cô nào cũng lộ vẻ tức tối.
Thím Ba Gà Lôi cười mơn:
- Cô Tư, cô Năm nghĩ sao? Bánh phồng nếp do chị Hai làm với đường thẻ hay đường
hũ vậy?
Cô Năm Lan cười lạt:
- Bánh phồng nếp đó mà làm bằng đường thẻ sao không thơm mùi mật mía? Chị ăn một
chút khi bánh chưa nướng chín thử coi. Ðây là chỉ làm bằng đường hũ, em mà nói
sai thì Thiên Lôi quánh em cháy thành than đi! Bánh làm đường thẻ thì làm sao tới
tay tụi mình?
Ðường hũ là thứ đường thốt nốt được đựng trong hũ bằng sành thô nặng, có mùi
chua mà không thơm bằng các loại đường mí như đường thẻ, đường cát vàng, đường
cát trắng, đường phổi...
Cô Tư Cúc cằn nhằn:
- Thiệt tình em chưa thấy ai xạo như chị Hai mình. Chỉ đổ hô bánh phồng khoai của
chỉ làm bằng đường cát trắng. Xời ơi, mặt bánh thì tối tăm như trời sắp chuyển
mưa. Ðiệu đó con mẻ làm bánh bằng đường cát vàng hay đường cát mỡ gà, mà hổng
chừng con mẻ còn trộn lộn thêm đường thẻ. Bánh làm bằng đường cát trắng thì mặt
bánh vàng tươi và sáng rỡ như trăng rằm. Mà cũng lạ, sao tui nếm bánh không cảm
thấy có mùi sữa hộp. Bánh nầy béo thì có béo, nhưng vị béo của nước cốt dừa
tươi.
Thím Ba Gà Lôi châm dầu vô lửa:
- Bánh phồng nếp làm bằng đường thẻ, bánh phồng khoai làm bằng đường cát trắng
trộn sữa hộp thì làm sao bọn nhà nghèo như tụi mình có phước phận được hưởng?
Bánh ngon bánh khéo, bánh thượng hảo hạng thì chị Hai dùng để biếu xén dì Cai tổng
hoặc bà Bang Biện, bà Hương cả, bà Hương chủ, bà Ðốc học...
Hôm đó, cô Năm Lan lẫn cô Tư Cúc được gia chủ mời ăn cháo gà. Bấy giờ họ mới để
ý cách chưng dọn nhà cửa để chuẩn bị ăn Tết của thím Ba Gà Lôi. Thím Ba mới mua
cặp liễn son, chữ mạ vàng để treo trên hai thân cột chỗ bàn thờ đức Quan Thánh
Ðế Quân, mua thêm một cái dĩa quả tử bằng sứ tráng me lam nét vẽ màu chàm, lớn
gần bằng cái sàng gạo, đặt trên cổ bồng. Ngoài sân bông kiểng đón xuân đang bắt
đầu đơm nụ. Trên thân cột ngoài hàng ba chưa chi đã dán liễn đỏ bằng giấy kim
tương, giấy hồng đơn rồi.
Khi rủ nhau ra về, cô Tư Cúc hỏi em:
- Chị Ba than túng trước hụt sau, vậy mà chưa chi chị ta trang hoàng nhà cửa lộng
lạc dường ấy.
Cô Năm Lan cũng thắc mắc:
- Mới nãy em có xuống nhà sau, thấy có con Út Ngọc Nhung đang ủi quần áo Tết.
Chèng ơi, chị Ba mới sắm cái áo the nhung màu hường. Còn con Út được chỉ sắm
cho chiếc áo lụa Bombay màu xanh da trời. Cả hai còn may quần sa-teng mình phấn
trắng, quần cẩm tự đen.
Cô Tư có vẻ bứt rứt:
- Ờ, tao cũng thấy dưa hấu chất đầy bộ ngựa nơi gần buồng ảnh chỉ. Thiệt tình
tao không dè chị Ba chuẩn bị ăn Tết lớn. Vậy mà ngoài miệng con mẻ cứ than
nghèo than túng, làm như tàn mạt tới nơi.. Thiệt khó mà lường được bụng dạ của
mụ chị dâu đó!
Tuy nhiên với bản tánh phù thạnh, cô Tư Cúc lẫn cô Năm Lan nghĩ tới việc biếu
xén quà cáp cho thím Ba Gà Lôi. Ðó cũng là cách chuộc lỗi vì từ lâu họ có vẻ
coi thường thím. Trưa hôm sau hai cô lựa dịp nhà thầy Ba tới giờ cơm đến tặng
quà. Cô Tư tặng một chai nước mắm nhỉ, một gói bánh phồng tôm và gói bánh phồng
cá. Cô Năm tặng nửa kí hạt dưa, một cân chà là, một chai rượu cỏ-nhác. Cả hai
được mời dùng cơm. Mâm cơm có món cá chẽm chưng tương, món cá bống tượng chưng
kim châm nấm mèo, món canh xà bần gồm củ cải muối nấu với sườn heo rắc ngò gai,
món tôm kho tàu nước gạch đỏ ối...Mâm cơm thiệt sang làm hai cô trầm trồ không
ngớt. Trước khi hai cô em chồng ra về, thím Ba Gà Lôi tặng mỗi cô một con khô
cá lăng sình, một gói tôm khô cỡ nửa kí. Thím khen cô Tư:
- Thiệt tui chưa thấy ai làm bánh phồng cá khéo như cô. Ý là cô dùng cá thác
lác mà bánh khi chiên không tanh, ăn vô tui có cảm tưởng như ăn bánh phồng tôm
vậy.
Và thím không quên nịnh cô Năm Lan:
- Chèng ơi, nhè chồng tui là dân quê mùa, cô tặng rượu qúy, ảnh không dám uống
đâu. Chắc ảnh phải chưng trên bàn thờ để....thờ luôn.
Cô Út Ngọc Nhung lãnh phần tráng bánh tráng giúp thím Ba Gà Lôi. Từ lúc canh
năm, cô thức dậy pha bột, pha đường và nhúm bếp. Bánh tráng ăn vào dịp Tết thường
có thứ bánh tráng rắc mè đen và bánh ngọt trộn đường om màu nâu đỏ rắc mè trắng.
Bánh béo lẫn bánh ngọt đều có trộn nước cốt dừa. Ngoài ra cô Út còn làm bánh
tráng trộn tôm khô cà nhuyễn và trộn nước cốt dừa, món ruột bên tía cô truyền lại.
Trong khi cô Út Ngọc Nhung tráng bánh tráng thì dưới sông, Chín Tân Ngãi vừa chèo
ghe vừa hát vọng cổ, khởi đầu bằng câu: "Một khi đã lậm với tình...".
Cô vừa tráng bánh không ngừng tay, vừa chớp mắt lia lịa nhìn ánh lửa đỏ hừng hực
trong lò. Cô cất giọng thiệt trong thiệt êm lên hò:
Tết nhứt tới nơi, em có đôi lời muốn nhắn
Ðược bột khoai rồi, quên bột sắn sao anh?
Tức thì ở dưới sông, Chín Tân Ngãi liền hò đáp lễ:
Ai ưa chè táo sọn?
Ai chuộng chè thưng?
Ai ưng chè mè đen chú Chệt?
Ai mê ai mệt chè bạch quả hột sen?
Qua xin thề trước ngọn đèn
Qua thích chè đậu trắng, thương con bạn hiền thỉ chung.
Cô Út Ngọc Nhung nhìn bóng tối còn dầy đặc ngoài trời, nụ cười cô thêm rạng rỡ,
đôi mắt cô càng ướt rượt. Thằng cha nầy hôm qua hát: "Chỉ chuộng con bạn
ngọc biết đá vàng thỉ chung", hôm nay nó lại hát "Qua thích chè đậu
trắng, thương con bạn hiền thỉ chung".
Bánh tráng phơi hai ba cữ nắng là khô mặt, nhưng tâm hồn cô Út Ngọc Nhung vẫn
thấm ướt âm vang dư vị giọng hò. Trong lúc phơi bánh tráng trên sân nắng, lâu
lâu cô đảo mắt ngóng chừng xuống kinh Vàm Xáng. Thỉnh thoảng Chín Tân Ngãi chèo
ghe lướt qua, khi thì giọng hò diệu vợi cất cao, lúc thì câu vọng cổ buồn như một
lời thề rải vào cơn gió chướng lao xao từng đợt âm ba ngát lịm. Cô Út chớp mắt
theo nhịp đập của trái tim, cứ cười chúm chím, má cô đỏ hồng hồng....
Thím Ba Gà Lôi vô tình nào biết chuyện gì xảy ra trong hai đêm 18, 19 tháng chạp.
Hễ gần đầu canh ba khi chuổi sao Bắc Ðẩu mọc ngang trời, đôi mắt cô Út cũng rạng
ngời như sao vì một câu hò:
Ngước nhìn nguyệt lặn sao mờ
Muốn qua thăm bậu, phải chờ canh ba
Cô Út Ngọc Nhung mở nhẹ cửa buồng rồi đi xuống mé sông. Cho đến sáng 22, thím
Ba Gà Lôi bước vô buồng em để kêu em đi chợ Vàm Xáng với thím thì giường cô Út
trống trơn, một bức thơ của cô đặt trên chiếc gối hình bán nguyệt nhún tai bèo.
Giữa lúc thím Ba Gà Lôi chết điếng thì cô Tư Cúc và cô Năm Lan làm bánh nướng
như bánh men, bánh phục linh, bánh gai, bánh con đuông để sắp vào quả sơn son.
Hồi còn son giá, hai cô được mẹ cho ra ở nhà bà Cai Tổng Hài để học môn bánh mứt.
Bắt đầu từ rằm tháng chạp, cả hai làm mứt bí, mứt đu đủ, mứt củ cải, mứt khổ
qua tỉa lộng bông hoặc cắt thành hình tròn, hình quả chám, tất cả đều viền răng
cưa. Mứt dừa có thể nhuộm phẩm đỏ, xanh, vàng, màu nào cũng lợt nhưng tươi. Mứt
gừng có ba loại: xắt mỏng rồi xên với đường, để nguyên củ xâm lỗ cho bớt cay rồi
rim cách nào mà mặt ngoài khô ráo nhưng khi cắn thì chất đường đặc sánh tươm ra
, và gừng xắt chỉ xên với đường làm mứt dẻo.
Món mứt khế và khổ qua của cô Tư Cúc có phần khéo hơn của cô Năm Lan nhờ ở chỗ
chơi trội màu sắc. Cô Tư nhuộm mứt với nước cỏ rồng chầu nên màu mứt xanh thắm
thiết như màu ngọc thạch. Riêng cô Năm có bí quyết làm mứt cà chua. Trái cà khi
chưa làm mứt chỉ đỏ có một, nhưng khi nằm trong chiếc chảo xên đường của cô rồi
thì nó đỏ tới hai ba, đỏ rực rỡ và tươi lộng lạc.
Vào ngày 23 tháng chạp đưa ông Táo về chầu trời, cô Tư Cúc và cô Năm Lan kẻ cắp
quả bánh, người mang quả mứt đến nhà vợ chồng thầy Ba Gà Lôi. Cả hai ngứa ngáy
về cái tin cô Út Ngọc Nhung mất tích từ khi Chín Tân Ngãi chèo ghe đi khỏi khúc
kinh Vàm Xáng chảy qua vùng nầy.
Thím Ba Gà Lôi mặt tỉnh rụi, giọng ráo rẻ bảo hai cô em chồng:
- Con em tui vưng lịnh vợ chồng tui về Cai Lậy tặng quà Tết cho bà con.
Cô Tư Cúc chưng hửng:
- Lâu nay chị thường than thở rằng từ khi hai bác thất lộc rồi thì ở Cai Lậy chị
không còn ai là bà con thân thích để thăm viếng.
Thím Ba Gà Lôi cười xí xoá:
- Ối, ở đó thiếu gì bạn bè của ba má tui. Lại có dì Tám Chiếu em con nhà chú của
má tui nữa chi! Dỉ đau bụng máu nên nhắn con Út về coi chừng coi đổi lũ con dùm
dỉ. Tui thấy suốt năm nay con Út làm lụng cực khổ cho nên tui khuyên nó đi....
đổi gió vậy mà.
Cô Nam Lan làm bộ nhớ ra:
- Mèn ơi, vậy mà con Tám cháu chị Hai Hương quản nhà mình nói nó có gặp con Út
ngồi xe thổ mộ đi chợ Vãng sắm Tết.
Thím Ba Gà Lôi vẫn giữ giọng phới phới và sắc mặt tươi rói, trả lời:
- Ối, người giống người là chuyện thường. Chị em tui đâu có ai quen biết ai ở
Tân Ngãi, Vĩnh Long thì mắc mớ chi con Út đặt chơn tới chỗ lạ hoắc lạ huơ đó!
Cô Tư Cúc và cô Năm Lan bợ ngợ nhìn nhau, không biết nói gì thêm. Mụ chị dâu của
họ vốn tráo trở, đã sắp đặt sẵn những câu trả lời để che đậy hành vi của em
mình và để đối phó một cách liệt liệt oanh oanh với những câu hỏi trặc trẹo của
kẻ tò mò tọc mạch.
Khi hai cô em chồng kiếu từ ra về, thím Ba Gà Lôi vừa đấm ngực vừa khóc với chồng:
- Con Út đem máu hoè trét lên mặt tui! Chị Hai Hương quản và con Tám cùn hai mụ
cô sắp nhỏ vốn độc miệng đi đồn tùm lum rằng con Út có chửa nên cuốn gói theo
trai luôn. Tui có nghe chị Bảy Hớn ở cuối xóm là chị bà con xa với thằng Chín Tân
Ngãi, đâu mình thử dọ hỏi tông tích thẳng coi, rồi cho hai đứa nó xáp cục cho rồi.
° ° °
Chị Bảy Hớn sai khi nghe vợ chồng thầy Ba Gà Lôi tỏ tường
trong đục ý định của họ, liền bảo:
- Tụi nó đâu có về Tân Ngãi làm chi! Hiện giờ tụi nó đi vịnh Trà Bay ở đậu nhà
thằng em tui. Nếu thầy thím cho tụi nó xáp cục với nhau thì chồng tui sẵn sàng
đi với thầy để kiếm tụi nó.
Thế là vào hăm tám tháng chạp, thầy Ba Gà Lôi đi vịnh Trà Bay. Thím Hương quản
Bưng cũng nóng lòng muốn biết chuyện cô Út Ngọc Nhung nên xách đít đến nhà thím
Ba Gà Lôi, giả bộ đem cho nem và bì gói. Thím Hương quản Bưng hỏi:
- Chú Ba đi đâu vậy thím?
- Ai mà biết! Có lẽ ảnh đi theo con đĩ nào ở miệt Hóc Hoả hoặc ảnh đi mướn thầy
pháp dùng bùa để ếm mấy con đĩ nhiều chuyện nỡ phao vu cho con em tui bỏ nhà
xách gói theo trai.
Mặt thím Hương quản Bưng từ màu tương tàu biến thành màu tro xám. Còn mặt thím
Ba Gà Lôi phừng phừng lửa giận. Thím Hương quản đau nhức tâm can vì Hóc Hoả là
nơi mà con Tám, cháu kêu thím bằng cô, đã lập nghiệp bốn năm nay.
Thím Ba Gà Lôi lo quét dọn nhà cửa, chưng bày bàn thờ và lo sắp đạt mâm cơm
cúng rước ông bà. Chiều ba mươi Tết, thầy Ba Gà Lôi trở về nhà với Chín Tân
Ngãi và cô Út. Chín ta cùng cô Út rẽ qua nhà chị Bảy Hớn. Tại đây, chị Bảy sắp
sẵn mâm trầu rượu để lát nữa, cặp Chín Tân Ngãi và Út Ngọc Nhung sẽ bưng qua tạ
lỗi vợ chồng thầy Ba và làm lễ ra mắt ông bà luôn.
Vừa về tới nhà, thầy Ba Gà Lôi bảo vợ:
- Thằng Chín không còn ai là họ hàng ruột thịt ở Tân Ngãi hết. Nó nói nó sẽ về
lập nghiệp ở vùng nầy. Nó vừa mua một miếng vườn hai mẫu ở Hóc Hoả để cất nhà.
Nó cũng có chút ít vốn để sắm ruộng. Vậy mình gả con Út cho nó cũng là việc tốt,
việc nên làm.
Thím Ba không biết nói sao, chỉ biết khóc ngon khóc ngọt. Con em tui đó, con Thị
Mầu, con Trác Văn Quân đầu thai, thấy trai là động lòng chồn dạ thỏ, theo thói
liễu ngõ huê tường, mê phường trôi sông lạc chợ. Xời ơi, mấy hôm rày tui phải mặt
dạn mày dày với mấy con lủng, con lành có cái miệng thọp thẹp ưa bươi móc chuyện
thiên hạ. Tui phải gom hết sức lực để gượng mặt làm mặt tỉnh tuồng, chớ tui
khóc mấy tĩn mấy vịm nước mắt vì nhục nhã để đâu cho hết.
Chín Tân Ngãi mặc áo dài bịt khăn be bưng khay trầu rượu đi trước, vợ chồng chị
Bảy Hớn và cô Út đi sau. Chị Bảy mặc áo dài xuyến trắng, chơn đi guốc vông, còn
cô Út mặc áo dài màu đọt chuối chơn đi guốc sơn đen, quai vẽ bông xanh đỏ. Hai
thằng con trai của chị cũng lẽo đẽo theo sau làm lũ trẻ lối xóm và con chó phèn
của chị cũng bắt chước vầy đoàn. Thầy Ba Gà Lôi đứng chờ sẵn ở cỗng. Thấy bên
"đàng trai" tới, thầy chỉ cho anh Bảy Hớn, Chín Tân Ngãi và cô Út Ngọc
Nhung vào sân rồi đóng cổng lại. Con chó cúp đuôi chui lỗ chó để vô sân làm thầy
hét toánh lên.
Khi đàng trai bước vô nhà thì đã thấy thím Ba Gà Lôi mặc áo dài tử tế ngồi vắt
vẻo trên chiếc divan chơn quì bằng cẩm lai. Chị Bảy Hớn cười ngỏn ngoẻn bảo
thím Ba bằng giọng văn vẻ:
- Thằng Chín và con Út không đợi lịnh thím giáo, nỡ đành tò tí lén lút rồi cuốn
gói đi tìm chỗ khác hú hí với nhau cho nên tụi nó ăn năn lung lắm. Nay thầy
giáo thím giáo tính chuyện xáp cục cho sen ấu chung bàu, mận đào kề cận, thiệt
may cho tụi nó lắm. Nay tui dắt tụi nó về xin lỗi thím giáo, xin thím ăn miếng
trầu héo, uống chung rượu lạt để chứng nhận cuộc lương duyên của tụi nó. Tuy là
tiền dâm hậu thú nhưng đôi xứng đôi, lứa xứng lứa, đào kia kép nọ hiệp thành một
cắp xinh tốt rồng phụng. Sau nữa, xin thím cho tụi nó lạy bàn thờ ông bà gọi là
ra mắt với kẻ ruột rà khuất mày khuất mặt.
Thím Ba nguýt con em trời đánh và thằng tặc tử dâm bôn rồi khóc thêm một chặp nữa.
Song thím cũng nhận lời chị Bảy Hớn uống ngụm rượu và ăn miếng trầu. Trong lúa
nhai trầu rau ráu, thím ngó cái bụng của cô Út coi nó có bự lùm lùm như cái mả
lạn chưa. Thiệt tình thím không biết con em thím đã vụng trộm với tên Chín Tân
Ngãi từ hồi nào.
Mâm cơm cúng rước ông bà ngoài món cháo vịt còn có mì xạ xào lòng gà và tôm đất
lột vỏ, món chả cá thác lác để thầy Ba Gà Lôi và Chín Tân Ngãi cụng ly với
nhau. Chén rượu thắt chặt tình anh em bạn cột chèo thắm thiết. Thầy Ba gọi Chín
ta bằng "dượng Út" và xưng "anh" ngọt xớt. Còn Chín ta gọi
thầy Ba bằng "anh Hai" và xưng "em" thiệt thân ái nhu mì.
Thịt vịt chấm nước mắm gừng, rượu nếp than hương nồng vị ngọt làm cho mặt thầy
Ba đỏ thôi phừng phừng, làm thím Ba nhớ tới cái thuở thầy mới trổ giọng dê thím
cũng với cái mặt đỏ cỡ mặt nầy. Vậy mà sao thuở đó thím vẫn thấy thầy có duyên.
Nghĩ tới đây, thím dịu bớt cơn thịnh nộ với con em út thuồng luồng hổ mang kia.
Thím cứ gắp thịt vịt bỏ vào chén Chín Tân Ngãi và chén củ chồng liền tay.
Sáng ngày mồng một, Kim Liên, Kim Huệ, con gái thầy Ba Gà Lôi, được dượng Út tụi
nó tặng cho mỗi đứa một cái lược đồi mồi và lì xì năm đồng bạc mới tinh (thuở
đó một tô cháo lòng giá 5 xu). Cô Út Ngọc Nhung đem mớ nữ trang mà Chín Tân
Ngãi định làm sính lễ đưa cho thím Ba Gà Lôi coi. Tất cả gồm có một cặp bông hột
xoàn bốn ly, một cây kiềng vàng, một cặp vòng vành chạm phụng giao đầu, một chiếc
vòng mã não xanh, một chiếc cà rá nhận mặt cẩm thạch vuông, một sợi giây chuyền
có miếng mề đai nhận hột ngọc điệp hình bầu dục. Thím Ba Gà Lôi trầm trồ:
- Thằng Chín chắc có quen với tụi chệt xẩm nên mới mua được thứ mã não xanh lặt
lìa như vầy. Còn ngọc điệp thì vừa trong vừa sáng ngời, lộng chấm đỏ, chấm
xanh, chấm vàng lóng lánh. Chị Bảy Hớn có nói mồng mười tới, mình làm lễ thú phạt
tiện lắm. Tao mà gả mầy càng sớm tao càng đỡ phập phồng, chừng đó tao mới được
nhẹ mình nhẹ mẩy...
Cô Út Ngọc Nhung năn nỉ:
- Thôi mà chị Hai. Tết nhứt xin chị nhẹ lời cho em út nhờ mà....
Mồng một, vợ chồng thầy Ba Gà Lôi ở nhà tiếp khách. Hễ gặp ai thầy cũng giới
thiệu Chín Tân Ngãi:
- Em bạn cột chèo của tui đó. Nó ở đây chơi, ra Tết nó mới sắm đồ đạc để chuẩn
bị cưới con em vợ tui.
Thím Ba Gà Lôi trọn đêm mồng một Tết cứ mài nanh vuốt để khi qua chúc Tết bà
Hương sư Bách sẽ cắn xé chị dâu và hai mụ em chồng của mình bằng những lời nói
xeo nói nạy độc địa.
Nhà bà Hương sư Bách chưng dọn hực hỡ. Ðồ đồng chưng trên bàn thờ đánh bóng
sáng choang. Ðèn năm ngọn treo trên trần nhả ánh sáng trắng xoá khắp trung đường.
Trên các bàn thờ, đèn nến như sao sa. Nhang trầm tuôn khói thơm ngát. Dĩa quả tử
trên mỗi bàn thờ chưng xoài, dừa xiêm, đu đủ, trái sung, bánh tét, bánh dừa,
bánh ích, bánh in, bánh đậu xanh, trà hộp. Còn rượu tây, rượu thuốc thì sắp
hàng dài dưới bàn thờ.
Ðây là dịp bà Hương sư Bách đem chưng bức màn thêu kim tuyến cùng tiền bàn, liễn
chấn thêu cườm, chỉ ngũ sắc để nhà cửa thêm chóang lộn.
Trai, gái, dâu, rể, cháu nội, cháu ngoại tề tựu đông đủ. Bà Hương sư Bách mặc
áo gấm màu hồng điều nổi bông tròn mặt nguyệt, ngồi trên chiếc đi-văng chơn qùi
để con cháu mừng tuổi và lì xì cho tuị nó.
Lũ trẻ ra sân đốt pháo lạch tạch đùng. Thím Ba Gà Lôi xuống bếp, mặt xám bệt bạc
nhưng nụ cười mở rộng toàng hoạc. Thím cất giọng the thé:
- Chèn ơi, con Út tui đi Cai Lậy được dì Tám tui đùn nó cho thằng Chín Tân Ngãi.
Thẳng mồ côi cha mẹ nên anh chị Bảy Hớn sẽ đứng làm chủ hôn, còn vợ chồng em của
chỉ là anh chị Tám Thiệt sẽ làm ông mai bà mai cho gọn. Hôm ba mươi, con Út dắt
thằng Chín về đây lạy vợ chồng tui để xin phép cho tụi nó làm một cái lễ đơn
sơ. Tuy vậy đồ sính lễ thì ê hề, vòng vàng, chuỗi hột, bông tai, cà rá tốt lộng
lạc. Hôm nào rãnh, xin mời chị Hai cùng cô Tư, cô Năm qua coi.
Thím Hương quản Bưng cùng cô Tư Cúc, cô Năm Lan nhìn nhau bợ ngợ. Cả ba cảm thấy
quai hàm mình cứng lại, không biết nói sao cho phải. Thím Ba Gà Lôi vẫn cười
tít toát nhưng giọng nói lúc rít, khi gầm, lúc nghiến, khi chói lói:
- Con em tui đoan trang, thùy mị, hạnh kiểm nó không có chỗ nào đáng chê trách
được hết. Bởi đó thằng Chín vừa thương yêu, vừa kính nể nó nên mới đi sính lễ hậu
hĩ như vậy. Vậy mà có kẻ thúi miệng tanh mồm vu oan phao phản nó lấy ai không
biết cho tới mang bầu, phải cuốn gói theo trai. Xời ơi, nói vậy mà không sợ mắc
khẩu nghiệp!
Thím quét cặp mắt ngùn ngụt nộ khí khắp ba người đờn bà lẽo lự kia. Cả ba cảm thấy
lúng túng như con cá mắc cạn. Ai cũng biết con sư tử cái có bờm nầy vừa hổn dữ
vừa liều lĩnh. Vào ngày Tết mà chọc nó thì nó sẽ làm rùm lên, suốt năm mình sẽ
xui xẻo chớ chẳng ích lợi gì. Cô Tư Cúc vốn mau mắn, liền nói xuôi:
- Vậy thì em mừng cho chị, cho con Út. Cuộc hôn nhơn của nó coi vậy mà xuôi
chèo mát mái. Chẳng bằng thuở trước, em phải làm trành làm tréo tía má em dữ lắm,
ổng bả sau rốt mới chịu gả em cho thằng cha Tám Huỳnh Luông đó.
Cô Năm Lan phụ hoạ:
- Ừ, con Út dễ tánh, hào hiệp nên cuộc đời nó không trục trặc gút mắc. Em xin
có lời mừng cho nó.
Thím Hương quản Bưng tránh cặp mắt chau quảu của mụ em dâu, cười cười dã lã:
- Ðể tui nói với chồng tui, ngày cúng tất hạ nêu nên mời thằng em rể thím tới
đây dùng cơm cho bà con mình biết nhau.
BÀ NĂM TƠ HỒNG
Tôi còn nhớ trong xóm tôi có bà Năm Tơ Hồng. Tên thật là bà
Năm Lương nhưng vì bà thích làm mai làm mối nên chòm xóm kêu bà là bà Năm Tơ Hồng.
Thuở đó, bà Năm Tơ Hồng đã năm mươi tuổi, nhưng bà trẻ dai, coi như khoảng ba
mươi ngoài. Bà ăn mặc tươm tất, áo lụa quần lãnh hoặc áo xuyến trắng quần xá xị,
quần sa-teng, quần lục soạn, coi khác hẳn mấy bà lam lũ trong xóm. Bà Năm Tơ Hồng
ưa đi chùa và có mặt thường xuyên ở các đám tiệc, đám giổ, cúng thôi
nôi...trong xóm hoặc các làng lân cận.
Bà Năm sống bằng nghề cho vay ăn lời rẻ và làm đầu thảo mấy chơn hụi. Bà có biệt
tài lựa kẻ chơi hụi nên không bị úp hụi bao giờ. Nhờ lui tới giao thiệp chỗ nầy
chỗ nọ, từ nơi giàu sang tới chốn hạ tiện trong tỉnh nên bà buôn bán cẩm thạch,
hột xoàn chút chút, gọi là để cầu vui. Qua câu chuyện, người mới đến xóm tưởng
đâu bà chỉ thuộc hạng trung lưu, đủ ăn đủ tiêu vậy thôi. Ai dè có đến nhà bà mới
thấy cảnh bài trí xuê xoang hực hỡ: tủ cẩn, đi-văng chân qùy, choé độc bình bằng
sứ lâu đời, lư hương, chân đèn bằng đồng, liễn son, liễn mun nỗi chữ thếp
vàng...Bà Năm cười khiêm nhượng:
- Tui có cái vỏ bề ngoài chớ cái ruột trống lốc hè. Bà con coi thấy bàn ghế tủ
thờ toàn bằng gổ nu, cẩm lai là bởi của ông bà để lại, "hù" láng giềng
lối xóm vậy mà!
Lâu lâu bà đeo nữ trang. Gặp kẻ chắc lưỡi hít hà, bà làm bộ nhũn nhặn:
- Ối, có gì đâu, của thiên hạ nhờ tui bán giùm kiếm chút huê hồng đó đa! Nè,
thím coi cái hột xoàn nầy đi. Năm ly hai, nước trắng tím, lại tra chiếc vỏ bạch
kim nên nó chiếu còn hơn sao Nam Tào Bắc Ðẩu nữa. Thím mua chiếc cà rá nầy đeo
vô là chú sắp nhỏ có mấy con vợ bé cũng bỏ tuốt để ở nhà hủ hỉ với thím. Ừa,
hay là thím để dành cưới vợ cho thằng con trai đầu lòng của thím, có bảnh hơn
không?
Thiệt tình, chẳng ai biết việc làm của bà có xuôi chèo mát mái hay không, nhưng
về chuyện làm mai thì hễ bà nhúng tay vào chỗ nào là chém chết ít lâu có chuyện
gả cưới ở chỗ đó.
Bà Năm Tơ Hồng thường tuyên bố:
- Tui mát tay làm mai lắm. Tui mà xe duyên cho đám nào thì họ ăn đời ở kiếp với
nhau, phu xướng phụ tùy. Gặp mấy thằng con trai thuộc hạng "đâm cha chém
chú, lắc vú chị dâu, cạo đầu bà thím" tui cũng ghép được với mấy con
"cắn cơm không bể, cắn tiền bể hai". Tuy hai đàng thuộc hạng trời ơi
đất hỡi vậy mà khi họ ăn ở với nhau rồi thì sắt cầm hảo hiệp, chí thú làm ăn,
nên cửa nên nhà.
Bà Năm quả có biệt tài làm mai lắm. Làng xóm ai cũng tin miệng lưỡi của bà. Bà
có óc quan sát, có cặp mắt nhắm tướng người. Một hôm bà gặp cô Sáu Ngọc Huệ cặp
rổ đi vào rẫy mua rau. Cô gái hơi mảnh khảnh nhưng da trắng mịn như cánh hoa ngọc
lan, đôi mắt đen láy nổi bật trên khuôn mặt trái soan.
- Nè Sáu, con được mấy tuổi?
Cô Sáu Ngọc Huệ nghiêng cây dù màu đỏ, sắc đỏ dưới nắng trải lên gò má mịn màng
của cô một màu hồng tươi đẹp. Cô nhỏ nhẹ:
- Thưa má Năm, năm nay con được mười bảy tuổi.
- Chèng ơi! Con nhỏ nầy trổ mã coi được đến! Sáu à, con chịu lấy chồng không
con? Ðể má Năm làm mai cho con nghen con?
Cô Sáu Ngọc Huệ mắc cỡ kiếu từ, đi một nước vô rẫy. Hôm sau, bà Năm Tơ Hồng tìm
cách lân la tới nhà ông bà giáo Hạt, song thân cô Sáu Ngọc Huệ. Nhà ông giáo Hạt
ở gần khúc quanh Long Hồ, giữa khu vườn trồng ổi xá-lỵ sum sê. Ông bà có cậu
trưởng nam tên Hai Hiếu, ăn học thành tài, hiện làm giáo sư toán. Nhưng năm cô
con gái kế trước kia làm ông bà lo lắm. May nhờ có bà Năm Tơ Hồng mà ông bà gả
trôi cô Ba Ngọc Lan cho một thương gia Minh hương, gả cô Tư Ngọc mai cho một thầy
giáo dạy lớp tiếp liên, gả phăng cô Năm Ngọc Cúc cho thầy giám thị trường công
lập tỉnh. Vừa khi cô Năm đi lấy chồng thì cô Sáu Ngọc Huệ cũng bắt đầu trổ mã.
Hôm đó cô Sáu Ngọc Huệ đi vào xóm thâu tiền hụi và mua bún, bánh hỏi để dọn bữa
trưa cho khách. Mỗi khi có bà Năm Tơ Hồng tới chơi, ông bà giáo Hạt mừng lắm,
nhứt là từ khi cô Sáu Ngọc Huệ và cô Bảy Ngọc Lựu ra vẻ thiếu nữ trong chiếc áo
dài màu xanh da trời. Hai cô mà luộc đầu heo, lỗ tai heo để ăn với bún, bánh hỏi,
rau sống, mắm nêm thì khỏi chê. Miếng thịt luộc vừa mềm vừa giòn, lại trắng
phau phau. Dĩ nhiên cái bí quyết luộc thịt đó do bà giáo Hạt truyền cho con gái
được giữ kín. Mỗi khi chị em cô luộc thịt thì cả hai lo đóng cửa trước, ngõ sau
cẩn thận, sợ có kẻ ăn cắp nghệ thuật luộc thịt gia truyền.
Bà Năm Tơ Hồng súc miệng bằng chén nước trà huế pha lợt, rồi cất giọng:
- Thầy giáo Cảnh năm nay được hai mươi bốn tuổi, người thiệt thà. Thẩy có được
rảnh rang là chúi đầu vô sách luyện thi tú tài toán chớ không sanh sứa cờ bạc,
rượu chè. Nếu chị với anh giáo bằng lòng thì tui dắt má thẩy lại. Má thẩy có một
sở vườn bốn mẫu trồng cây trái, huê lợi mỗi năm cũng khá, lại thêm mười mẫu ruộng
tốt ở miệt Lộc Hoà, cách chợ Vãng mười bảy cây số.
Bà giáo Hạt têm một miếng trầu đưa cho bà Năm Tơ Hồng:
- Ờ, con Huệ tui cũng như con của chị. Chị liệu coi chỗ nào tử tế gả nó dùm.
Nhưng mà....- Bà giáo Hạt thấp giọng- thầy giáo Cảnh vóc vạc cao lớn, cười có
lúm đồng tiền coi cũng có duyên. Có điều thiên hạ đồn rằng tía thẩy vốn lai Chà
Và Châu Giang. Bà nội củ thẩy trước kia xinh tốt như tiên nga, kén chồng dữ lắm.
Có thằng Chà Và Châu Giang giàu có muốn cưới bả, chẳng những bả không ưng mà
còn nhiếc mắng người ta. Thằng Chà Và bèn dùng bùa ngải mê hoặc, rù quến bả tới
nước bả có chửa, rồi đẻ ra ông già tía của thầy Cảnh. Chị Năm không thấy sao,
nước da thầy Cảnh đen hù, giống như da ông nội thẩy vậy.
Bà Năm Tơ Hồng nói:
- Ối, hơi nào nhắc gốc tích người nầy người nọ, chị giáo! Tía của thầy Cảnh tuy
lai Chà Và nhưng là người đàng hoàng, làm công chức ở Kho Bạc, chớ có thua sút
ai đâu!
Bà giáo Hạt nói xuôi:
- Ờ, chị nói cũng phải. Song tui cũng cần hỏi lại con Sáu coi nó có ưng không.
Thời buổi nầy tụi trẻ khó tánh lắm chị ơi. Lai nữa ông nhà tui thường nói
"ép dầu ép mỡ, ai nỡ ép duyên" đó chị Năm.
Bà Năm cười chúm chím:
- Ai mà thèm ép! Cứ nói phải quấy cho tụi nó nghe cũng đủ rồi. Chị để đó tui.
Lưỡi của tui đây nè, ngọt như mật, trơn như mỡ. Tui chỉ nói vài tiếng là đá
cũng phải mềm nữa là.
Mâm cơm dọn lên. Ông giáo Hạt cũng vừa ở ngoài vườn bước vào. Vừa thấy bà Năm,
ông vui vẻ:
- Ðêm qua có đom đóm vô nhà, tui biết thế nào cũng có điềm lành. Té ra bữa nay
chị Năm tới chơi.
Bà Năm Tơ Hồng cười hắc hắc:
- Chớ sao, tui tới đâu là đem chuyện vui tới đó. "Thứ nhứt đom đóm vô nhà,
thứ nhì chuột rúc, thứ ba hoa đèn" tức là ba điềm hên đó đa anh.
Hai vợ chồng ân cần mời bà Năm ngồi vào mâm. Bà giáo Hạt hỏi cô Sáu Ngọc Huệ:
- Con Bảy làm giống gì mà cứ lúc thúc trong buồng hoài vậy? Biểu nó ra đây chào
hỏi má Năm đi chớ.
Cô Sáu Ngọc Huệ trở vào buồng. Một lát, hai chị em cô bước ra. Cô Bảy Ngọc Lựu
tròn trịa, xinh xắn. Môi cô tươi, răng cô trắng, cườm tay cô no nưỡng, trắng
phau phau, đeo đôi vòng cẩm thạch màu xanh hoa lý.
Bà Năm Tơ Hồng hỏi:
- Con Bảy đây hả chị giáo? Năm nay nó được bao nhiêu tuổi vậy chị?
- Ờ, con Bảy Ngọc Lựu đó đa! Nó mười sáu tuổi rồi đó. Tui sanh năm một mà chị.
Bà Năm Tơ Hồng ngắm nghía cô gái, tấm tắc:
- Da trắng, tóc mịn, tay chân suông đuột, môi đỏ au...Chèng đéc ơi, con nhỏ nầy
có thua sút chị nó chỗ nào đâu! Mắt lại lá răm nữa. "Con mắt lá răm, chơn
mày lá liễu đáng trăm quan tiền". Ðể tui làm mai giùm chị, chị chịu không
chị giáo?
Bà giáo Hạt nói:
- Thì mình lo cho con Sáu xong rồi sẽ tính việc chung thân cho con Bảy.
Bà Năm Tơ Hồng ngon lành:
- Tui có thể làm mai một lượt một trăm đám. Nè, có thầy y tá tên Quỳnh, làm việc
ở nhà thương chợ tỉnh, mới có hai mươi lăm tuổi, mặt mày sáng sủa, tánh tình dễ
chịu, lại bặt thiệp nữa...Chị biết thẩy không? Thẩy ở dãy phố bà Thông Vịnh
đó...
Bà giáo Hạt cười nửa miệng, môi chỉ hé một nửa hàm răng hô:
- Tui cứ lúc thúc trong nhà lo việc bếp núc, đâu có đi ta bà mà biết hết dân tứ
xứ mới tới.
Cô Bảy Ngọc Lựu ngứa miệng:
- Con biết thẩy mà. Thẩy mập mạp, trắng như bạch chảng, coi ghê quá!
Bà Năm Tơ Hồng quở:
- Ê, đừng nói tầm bậy nà. Thời buổi nầy khó kiếm ông chồng trắng trẻo, bảnh
trai lắm nghe con. Mà từ da trắng muốn làm cho da đen dễ ợt hè. Con cứ bắt thẩy
trồng bông kiểng, trồng rau, phơi mình ngoài nắng chừng vài cữ là da thẩy sậm
sòi chớ gì.
Mặt cô Bảy vẫn phụng phịu:
- Trắng gì mà trắng như heo cạo. Dẫu thẩy có phơi một trăm cữ nắng thì da thẩy
bất quá đỏ thén như mồng gà lôi chớ làm sao mà sậm được!
Bà Năm Tơ Hồng:
- Má Năm cam đoan với con đó. Kỳ hè vừa rồi thẩy đi Vũng Tàu nghỉ mát, da thẩy
bắt nắng, coi cũng mặn mòi như ai....
Cô Bảy Ngọc Lựu chỉ cười tủm tỉm không cải nữa. Bà Năm Tơ Hồng hỏi cô Sáu Ngọc
Huệ:
- Nè Sáu, má Năm định làm mai con cho thầy giáo Cảnh. Con nghĩ sao đây?
Cô Sáu ngập ngừng:
- Thưa má Năm, thầy giáo Cảnh nào?
- Thầy Cảnh con ông Hát, trưởng kho bạc đó con.
- Có phải cái thầy đen như cột nhà cháy đó không?
- Thẩy đó đa. Thẩy tuy đen đúa nhưng tướng tá mạnh dạn, mặt mày khôi ngô.
Cô Sáu Ngọc Huệ vặn vẹo cái khăn mù-soa trong tay:
- Ý cha, lấy thẩy làm chồng, đố con khỏi bị tụi bạn nó chế nhạo là lấy nhằm ông
thần lọ nghẹ hoặc Uất Trì Cung, Hà Ô Lôi...
Bà Năm Tơ Hồng dễ gì chịu thụt lùi trước sụ vùng vằng của cô gái. Bà dỗ ngọt:
- Con nhỏ nầy sao mà dại! Trai đen đúa mới có duyên chớ bộ. Mầy khéo kén cá chọn
canh hoài đi, rủi hụt con cá lớn, sẩy con tôm bự thì chừng đó đừng có chắc lưỡi
mà tiếc nghe con! Chưa chi mà con chê người ta thiếu điều....muốn ngộp hơi tắt
thở vậy đó.
Dù có chê bai kẻ bà Năm Tơ Hồng định làm mai, nhưng đêm đó cả hai cô gái cứ rạo
rực, khó ngủ. Cô Sáu Ngọc Huệ từ chiều đã tắm rửa bằng xà-bông cô Ba thơm ngát.
Cô bận quần áo trắng lên trung đường đốt đèn, thắp nhang, thay nước trong mấy
bình bông sen, bông huệ. Cô lầm thầm khấn vái rất lâu trước bức tranh đức Quán
Thế Âm bồ tát. Vừa khi cô vào buồng thay quần áo ngủ thì cô Bảy Ngọc Lựu bận áo
tràng màu khói nhang đến bàn thờ Phật Bà. Cô triệt hạ dĩa quít, xuống bếp lấy mận
và ổi đơm vô dĩa khác để cúng Phật. Dù cây nhang bạch đàn mà chị cô vừa thắp
chưa lụn, cô vẫn đốt thêm cây nhang trầm hương. Cô khấn vái lâu hơn cô Sáu Ngọc
Huệ và lạy như tế sao.
Vừa về tới buồng, cô Bảy bắt gặp cô Sáu đang rọi kiếng. Cô Sáu Ngọc Huệ hết nặn
mụn tới xỉa răng, rồi chải đầu. Chải đầu xong, không biết làm gì hơn, cô Sáu
kéo hộc tủ lấy củ nghệ chấm lên mấy vết mụn vừa mới nặn.
Cô Bảy Ngọc Lựu đương thèm săn sóc tóc da. Da của cô thuộc loại mịn màng. Tóc
cô nhỏ sợi, thuộc loại tóc mật, bỏ xoã ngang lưng coi thiệt là thơ mộng.
Dù sao hai chị em cũng phải tính chuyện đi ngủ, vì khóm dạ lý bên hè bắt đầu toả
hương thơm ngát tức là gần nửa đêm rồi.
Cô Bảy Ngọc Lựu cứ than dài thở vắn. Cô Sáu Ngọc Huệ cứ ngó mông ngọn đèn. Rốt
cuộc cô chị lên tiếng trước:
- Con hà bá, bộ mầy ăn không tiêu hay sao mà cứ thở nghe bắt mệt vậy?
Cô em cười:
- Còn chị, bộ đau bụng máu hay sao mà cứ xăng văng hoài, không chịu đi ngủ cho
khoẻ?
Cô Sáu thu dọn gương lược vô cái hộp tròn:
- Nè Bảy, mầy thấy ...thầy Cảnh ra sao?
Cô Bảy Ngọc Lựu lúc nào cũng muốn chị mình lấy ai thì lấy phứt cho rồi, để ba
má cô tính tới phần cô. Cô nói:
- Ðờn ông đâu cần đẹp trai. Thầy Cảnh có sống mũi cao, lưng dài, vai rộng, vóc
vạc cân đối.. Thẩy có tương lai trước mặt, có quá khứ tốt lành sau lưng, ở đó
mà chê bai thẩy rồi đèo bòng nọ kia. Chị sao ưa thói thả mồi bắt bóng!
Sáu Ngọc Huệ vốn thích lấy chồng trắng trẻo, nho nhã. Nhưng mà cái thầy Quỳnh
trắng gì mà trắng lạnh trắng lùng, coi nhột mắt làm sao! Nghe giọng chua lè của
em, cô hăm he:
- Coi bộ ba má chíp cái thầy Quỳnh đó rồi đa! Thây kệ, Bảy à! Mặt mày thẩy dù
không có mặn mòi nhưng cũng hiền hậu. Duyên phận đã định rồi, mầy có chạy đàng
trời cũng không tránh khỏi. Chạy trời không khỏi nắng, Bảy ôi!
Cô Bảy Ngọc Lựu bứt rứt:
- Thầy Quỳnh đâu có tóc đen như người Việt mình. Tóc thẩy hoe hoe đỏ, chắc là
giống bạch chảng chứ gì!
Cô Sáu mở hộp thuốc tể, lấy một viên cỡ viên bi đen óng và bát ngát mùi mật
ong, nhai nhỏ rồi chiêu một ngụm nước trà. Thấy cô gầy gầy nên cô Ba Ngọc Lan bổ
cho cô một tể thuốc có tác dụng làm kinh nguyệt điều hoà. Kinh nguyệt của cô
Sáu khi trồi khi sụt như nước thủy triều nên thỉnh thoảng bà giáo Hạt làm món
gà ác tiềm sanh địa hay trái tim heo chưng với châu sa, thần sa cho cô ăn. Vậy
mà cô chẳng lên được kí-lô nào. Còn cô Bảy dẫu chỉ ăn một hột cơm vẫn không ốm
bớt một gờ-ram.
Cô Bảy Ngọc Lựu nhìn bóng trăng lồng ngoài khung cửa sổ, thở dài một cái sượt.
Cô Sáu Ngọc Huệ háy:
- Con nầy kỳ cục chưa? Lấy chồng mà nó làm như bị....xử bắn vậy!
Cô Bảy tức mình:
- Chồng con nỗi gì nà. Em chưa kịp lớn để lấy chồng, nay có má Năm a thần phù tới
bày chuyện mai mối! Bộ chị tưởng lấy chồng rồi mình nhắm mắt về nhà chồng hay
sao? Còn phải chuẩn bị tinh thần nữa chớ. Bô chị hổng lo hay sao, chị Sáu?
Cô Sáu trề môi:
- Ối, lo làm gì cho hao hơi tổn sức, Bảy! Tới đâu hay đó. Có khi mầy tính một
đàng, kết quả một nẻo.
Cô Bảy nhìn ngọn đèn lom lom:
- Cha chả, còn cái đêm tân hôn nữa! Chừng đó mình sẽ....tính cách nào đây?
Cô Sáu mắng:
- Ðồ khùng nà! Mầy khỏi cần tính, lúc đó thầy Quỳnh sẽ....tính cho mầy.
Cô Bảy "hứ" một tiếng ghét bỏ:
- Rủi thẩy...không chịu tính thì sao?
Cô Sáu cười ngất:
- Thì ...tới phiên mầy tính.
Cô Bảy cùn quằn:
- Thôi, em không thèm lấy chồng đâu. Hổng có tính toán gì ráo trọi á.
Cô Bảy thay một đồ mát bằng sa-teng xanh dịu rồi chui vô mùng. Cô xoay mặt về
khung cửa sổ, hỏi chị:
- Còn chị, trong đêm tân hôn, chị tính sao?
Cô Sáu cười:
- Tao hả? Tao sẽ....nhắm mắt.
- Nhắm mắt hả họng phải không?
- Ừa, tao sẽ nhắm mắt đưa chân, thử xem con Tạo xoay vần đến đâu.
- Rủi con Tạo không chịu xoay vần thì mới làm sao?
- Chừng đó sẽ hay. Mầy quên một điều là ở đời nầy đâu phải ai cũng nhút nhát
như mầy.
Cô Bảy hỏi gặng:
- Nếu...con Tạo không xoay vần thì chị phải tính chớ?
Cô Sáu Ngọc Huệ mắng:
- Cái con ôn dịch nầy sao mà ăn nói trặc trẹo quá! Ừa, chừng đó tao sẽ tính một
cái rụp.
Vốn có óc tò mò thiệt bự, nghe tới đây cô Bảy Ngọc Lựu lồm cồm ngồi dậy, hỏi dồn:
- Ðâu? Chị tính cách nào, nói em nghe chơi.
Cô Sáu Ngọc Huệ ngon lành:
- Chừng đó tao sẽ xách va-ly về nhà nầy.
Cô Bảy rít lên hai tiếng "Tưởng gì!" rồi nằm xuống. Chưa giập bả trầu
mà cô Bảy đã ngáy pho pho. Cô Sáu ngớ đăm đăm về phía em, lắc đầu nghĩ thầm:
"May mà nó lo mà nó còn ham ăn ham ngủ như vậy đó! Hèn chi ông bà mình nói
tụi nhỏ ăn chưa no lo chưa tới..."
° ° °
Ðời làm mai hễ càng gặp khó khăn là càng thích chí, vì có dịp
đem miệng lưỡi ra thuyết phục đôi bên trai gái. Bà Năm Tơ Hồng thường tuyên bố
như vậy. Bởi đó, bà cứ trau giồi miệng lưỡi của mình cho càng ngày càng tinh
vi, điêu luyện hơn.
Về phía thầy giáo Cảnh, thầy cho rằng cô Sáu Ngọc Huệ hơi gầy, hơi khô. Nhận
xét của thầy vừa thoát ra cửa miệng bị bà Năm Tơ Hồng chận liền:
- Con gái lúc chưa chồng thì nó ốm gầy. Chừng đẻ xong vài lượt, máu huyết thay
đổi, mình mẩy nó sẽ phốp pháp chớ gì. Cháu có thấy vợ thằng Tám Kéo không? Hồi
chưa chồng, nó ốm như cây tre miểu, mình mẩy chỉ có da bọc xương. Vậy mà khi đẻ
xong đứa con so, nó mập mạp tròn trịa, da trắng tóc dài, ai thấy cũng lấy làm lạ,
cũng khen om sòm.
Ba má thầy y tá Quỳnh sẵn sàng làm suôi với ông bà giáo Hạt vì hai bên đều môn
đăng hộ đối. Thầy Quỳnh thì chê cô Bảy Ngọc Lựu hơi mập. Bà Năm Tơ Hồng thuyết
phục:
- Ối, con gái mập mạp là tướng vượng phu ích tử đó đa cháu. Như con Bảy Ngọc Lựu,
vì là con út được tía má nó cưng chiều, chỉ ăn rồi lo việc thêu đan, sung sướng
lắm. Chừng nào nó về với cháu, nó phải lo bếp núc cùng trăm thứ việc nhà, có cực
khổ lo lắng là nó ốm bớt đi liền, cháu khéo lo!
Dầu đôi bên chê khen lẫn nhau, dẫu đàng trai và đàng gái không mấy hài lòng về
phương diện sắc vóc, bà Năm Tơ Hồng vẫn trổ tài thuyết phục để hai cái đám cưới
được cử hành vào tháng giêng năm sau. Thầy giáo Cảnh muôn đời giữ màu da đen,
cô Sáu Ngọc Huệ thì không mập thêm chút nào. Vậy mà họ yêu nhau rất mực. Cô Sáu
Ngọc Huệ thường nhìn chồng nói giỡn:
- Chắc hồi có chửa anh trong bụng, má anh uống thuốc bắc, ăn chè đậu đen hơi
nhiều nên da anh đen quá là đen.
Thầy giáo Cảnh vuốt ve vợ:
- Chắc lúc má em mang em trong bụng, bà ăn cá lòng tong nên em ốm nhom ốm
nhách. Phải chi bả ăn cá rô mề, ăn thịt gà thiến thì em sẽ mập mạp dễ thương
hơn.
Màu da thầy Cảnh đối với cô Sáu Ngọc Huệ không thành vấn đề từ sau tuần trăng mật.
Nó như đứng ngoài bờ rào nhân dạng đầy nam tính của chồng cô. Khi thầy bị sốt
rét, thiếu máu, nó trở thành màu mắm. Khi thầy phục sức, hồng hào nó trở nên
màu tương tàu. Cô không cần nhìn nó nữa. Cô chỉ thấy ở chồng mình một thân thể
dẻo dai, ngập tràn sức sống, óc khôi hài tế nhị, nụ cười cởi mở, bao dung.
Về phía thầy Cảnh, thầy chỉ thấy vợ mình tuy mảnh mai nhưng thân thể mềm mại.
Cái yếu ớt của cô đã gợi nơi thầy một sư che chở đầy âu yếm của đấng trượng
phu.
Bà Năm Tơ Hồng hài lòng lắm khi thấy cặp vợ chồng nầy yêu thương, hoà thuận. Hễ
mua được món quà nào đặc biệt, họ cũng kính biếu bà. Mùa xoài, mùa mận, mùa
quít, mùa vú sữa, mùa ốc gạo, mùa chim...Mùa nào thức đó, họ tặng bà đủ các món
quà quê hương.
Còn thầy Quỳnh và cô Bảy Ngọc Lựu thì sao? Mỗi xế chiều, thầy Quỳnh thích ra
sân vận động để dợt đá banh. Thầy chỉ mặc cái quần cụt nên nước da thầy tiếp
xúc với nắng nhiều, trở nên nâu hồng. Ðường banh của thầy khá điêu luyện, nhờ
đó hội banh của thầy đã từng thắng hội banh tỉnh Sa Ðéc một cách vẻ vang trong
kỳ so tài năm ngoái. Còn cô Bảy Ngọc Lựu vì sợ chồng chê nên không dám ăn uống
xô bồ xô bộn. Thân thể cô bớt mập, trở nên tròn lẵn.
Vợ chồng Quỳnh dọn về xóm Cầu Ðào, gần miểu Quan Thánh Ðế Quân. Cô Bảy Ngọc Lựu
tỏ ra một người nội trợ xuất sắc. Thầy Quỳnh có nhiều dịp thưởng thức món đầu
heo, lỗ tai heo luộc ăn với bánh hỏi rau sống mắm nêm do vợ làm. Nhiều lúc trong
cơn chăn gối mặn nồng, cô Bảy Ngọc Lựu nhìn màu da nâu hồng nắng táp của chồng,
thỏ thẻ:
- Hồi xưa, khi má Năm tính làm mai anh cho em, em lỡ dại chê anh trắng như con
heo cạo.
Thầy Quỳnh ve vuốt đôi vai tròn của vợ, nhìn tấm lưng thon của vợ, thú thiệt:
- Anh cũng vậy. Hồi đó anh chê em mập tròn như con cá bống mú.
Bà Năm Tơ Hồng vui lắm. Gặp chòm xóm láng giềng bà khoe inh ỏi:
- Bà con thấy chưa? Tui nói đâu là trúng đó. Cứ coi thầy Quỳnh và con Bảy Ngọc
Lựu... Thiệt xứng đôi vừa lứa. Hồi chưa lấy con Bảy, thẩy trắng ngó mà phát ớn,
còn con Bảy thì mập như trái xoài tượng. Bây giờ chồng thì mặn mòi, coi bảnh
trai hết sức. Còn vợ thì liễu yếu đào tơ, thiệt đúng là một cặp tiên đồng ngọc
nữ. Họ nồng nàn với nhau quá xá cỡ. Tui làm mai mát tay thiệt mà. Chắc kiếp trước
tui là đồ đệ của ông Tơ bà Nguyệt đó đa.
Và để chấm dứt sự khoe khoang rất chi là dễ thương của mình, bà chìa tấm ảnh cô
Hai Kim Tuyến con của ông bà Bang biện Thuận ra khoe:
- Cô nầy đang kén chồng đây. Cổ học trường Sư phạm ở Thầy gòn. Tui nhứt định
làm mai cổ cho thầy đốc công sở Trường tiền tên là Trương Anh Tuấn. Bà con coi
họ có xứng cặp với nhau hay không?
Trong ảnh, cô Hai Kim Tuyến đứng bên chậu thược dược, mặt nghiêng nghiêng, miệng
cười, mắt liếc có vẻ hớn hở lắm.. Bà Năm Tơ Hồng chắc lưỡi hít hà:
- Thiệt là dễ thương! Hèn chi hồi xưa có một ông thi sĩ nào đó vịnh một mỹ nhơn
khi cổ đi dạo vườn huê, xem bông kiểng: "Người ngọc bên hoa, hoa ửng sáng.
Hoa cười bên ngọc, ngọc thêm trong". Hai câu thơ nầy vịnh cô Hai Kim Tuyến
thiệt là không uổng cái hay, cái đẹp của thơ và nhứt là không phụ cái nhan sắc
mặn mòi của cổ.
° ° °
Thưa bà con độc giả xa gần. Trải qua bao lớp sóng phế hưng của
lịch sử, trải qua bao cuộc thăng trầm của tổ quốc, không ngờ mùa xuân năm ngoái
tôi có dịp gặp lại bà Năm Tơ Hồng tại chùa Khánh Anh trên đất Pháp. Năm nay bà
trên bảy chục tuổi, răng cỏ sệu sạo, tóc bạc như phết vôi, ấy vậy mà sắc mặt bà
sáng hồng, mắt đưa đẩy theo câu chuyện dù da mặt bà đã nhăn, vai bà co rút. Tôi
hỏi:
- Sao bà qua bên đây được? Ði chánh thức theo quốc tịch Pháp hay đi vượt biên?
Bà Năm Tơ Hồng cười hắc hắc:
- Tui đâu có phải là dân Tây. Tốn mười hai lượng vàng mới được ông chủ tàu đánh
cá ở Rạch Giá cho đi hùn đó. Tui đi với vợ chồng thằng Hứa. Cậu còn nhớ nó chớ?
Hứa là con trai độc nhứt của bà. Anh ta làm thợ bạc nổi tiếng về việc tra kim
cương vô vỏ bạch kim, mãi tới bốn mươi ngoài mới lấy vợ. Chòm xóm đồn rằng Hứa
đi hỏi đám nào là đàng gái chạy tét vì Hứa ăn nói vô duyên. Mẹ làm mai nên con
trai mất duyên! Sau cùng Hứa đi cưới cô Sâm vốn gái lỡ thời, ốm tong teo như
cây sậy, trái với thân hình mập núc của Hứa. Khi ăn ở với nhau, cô Sâm béo đẹp
ra, còn Hứa thì rắn chắc lại.. Cả hai cùng yêu đương, thuận thảo lắm. Bà Năm Tơ
Hồng làm mai đám nào cũng suôn sẻ, trơn tru, nhưng tới khi đi hỏi vợ cho con lại
phải trầy vi tróc vảy mới cưới được cô gái ế chồng, lạt nhách như cơm nguội cho
con.
Bà Năm Tơ Hồng khoe:
- Bây giờ tui mộ đạo lắm cậu à. Chúa nhựt nào tui cũng lên mấy chùa làm công quả.
Tui cũng làm áp phe chút chút. Cậu coi ai muốn mua cẩm thạch thì nhớ liên lạc với
tui nghe không?
Bà cho tôi số điện thoại rồi dặn:
- Thằng Hứa làm thợ bạc chắc cậu chưa quên. Ai có san hô, mã não, hổ phách, ngọc
lựu, ngọc miêu nhỡn, ngọc huyền...muốn tra vỏ bạc, vỏ vàng thì cũng cứ phone
theo số điện thoại đó.
Tôi hỏi bà còn tiếp tục làm mai nữa không, bà vỗ vai tôi, cười tít mắt, nói
ngon lành:
- Vẫn tiếp tục chớ cậu. Tui thương cho mấy cậu thanh niên, mấy cô gái bơ vơ xứ
người mà chưa có đôi bạn. Phải tìm cách "xe duyên chỉ thắm" cho họ để
họ đẻ con cho đông, một khi kéo về nước là tấn công tụi cộng sãn một cái rụp để
kéo tụi nó xuống địa ngục chầu thằng cha Bác Hồ của tụi nó.
Tràng cười dòn khấm khướu của bà chấm dứt câu nói. Trước khi chia tay bà còn dặn
tôi:
- Có rảnh lại tui chơi nghen cậu. Con cháu vợ của thằng Hứa đẹp như đào Thanh
Nga hiện cũng đang kén chồng. Cậu lại đàng tui chơi đi. Nó mà nấu canh chua cá
"đô-rát" cho cậu ăn là cậu mê liền...
GIẤC MỘNG
BÀ GIÀ TRẦU
Mèn ơi, dì Chín! Hèn lâu mới được thơ dì. Té ra kỳ hè nầy dì
đi nghỉ mát ở miền núi Anh-bờ (Alpes). Thiệt dì sung sướng quá, tiền già lãnh đều
đều, chơn cẳng còn dẻo để chạy áp-phe kiếm thêm tiền bạc phây phả, năm nào dì
cũng đi nghỉ mát, thiệt tình tui có lời mừng cho dì.
Tui khác dì ở chỗ, một khi ra hải ngoại rồi thì trời, biển, núi, rừng, thị trấn
nào cũng là những cái của người dị chủng. Ði đâu tui cũng có cảm tưởng lạc
lõng, bởi đó nên tưi ưa lúc thúc ở nhà, o bế lau chùi nhà cửa đồ đạc, mỗi ngày
hai khoá tụng kinh lai rai, tối tối trước khi đi ngủ tui tụng bảy biến chú Ðại
Bi để cái tâm từ bi chan hoà, kéo thần thức vô giấc ngủ suông sẻ.
Dì hỏi ở Troyes có gì lạ không. Hình như có lạ chút chút. Số là con út Quế Lan
của tui tuần trước thèm ăn canh chua bạc hà. Tui không biết thứ bạc hà bày bán ở
tiệm thực phẩm Á châu có phải là bạc hà thiệt thọ không, coi thì thấy bẹ lá
cũng giống như bẹ bạc hà nhưng màu đậm hơn, tui liền can gián nó:
- Tao coi bộ thứ bẹ bạc hà nầy hơi giống bẹ môn. Nếu gặp môn ngọt thì không
sao, lỡ ăn nhằm môn ngứa, có nước ngậm vôi ăn trầu cũng chưa hết ngứa.
Cỏn ỏn ẻn:
- Bạc hà thiệt đó má. Chèn ơi, bạc hà nầy mà nấu với cá đổ-rát (dorade) thế cá
lóc thì ngon nhức nhối chớ không chơi. Má để đó cho con. Ðêm qua con nằm chiêm
bao thấy mình ních một tô canh chua bự tổ chảng, sáng nay con không biến mộng
thành thiệt thì con ấm ách, khó chịu lắm.
Miệng nói, tay nó lượm bó bạc hà bỏ vào giỏ xách thì tui còn mồm miệng nào ngăn
cản nó nữa, hả dì?
Canh chua sắp dọn ra thì cỏn quay điện thoại mời thằng kép Bắc kỳ và hai con bạn
của nó tới ăn. Riêng tui, cũng bởi gởi mua được trầu, cau, vôi, thuốc nhờ bà bạn
đi Paris về nên tui nhai miếng trầu để nhớ cố hương. Tui nghiền ngẫm miếng trầu,
vị nồng của vôi, của trầu hoạ với vị chát của cau, vị cay của thuốc trở nên nồng
mặn, thơm tho khó tả. Tui nhai trầu thiệt chậm rãi, cảm thấy hơi thở mình trở
nên tinh khiết, máu chảy trong huyết quản mình ấm áp dị kỳ. Như dì biết, năm 58
tuổi tui mới bỏ nước ra đi, đã tập ăn trầu hơn hai năm cho mặn mòi bà già, cho
răng cỏ chặt chịa. Bởi đó mà tui ghiền trầu, khác hẵn mấy bà già tân thời ở
Sài-gòn. Trên đất khách không dễ gì mua được trầu cau nên tui đành nhịn. Nay gặp
được trầu tui dại gì mà không khỉa một miếng cho ấm áp cuộc đời, cho mình sống
lại ngày xưa, hén dì?
Miếng trầu coi vậy mà cứu khổ cứu nạn tui đó dì Chín.
Thằng kép độc của con gái tui cùng hai con đào lẵng bạn nó xúm xít quanh mâm
cơm, bắt đầu ca tụng canh chua miền Nam và công kích ông Vũ Bằng. Con Thanh Hoa
trề môi dài cả thước:
- Ông Vũ Bằng khi Món lạ miền Nam mà quên viết về canh chua. Tuy canh chua phổ
thông ở miền Nam nhưng em tin chắc nó là kỳ quan đối với người Bắc, đối với ổng.
Kép Tuấn Phương gốc Bắc kỳ, nói xuôi:
- Người Bắc có món riêu nấu với nhiều loại cá nhưng không phong phú bằng món
canh chua miền Nam.
Con Minh Nguyệt ỏn ẻn:
- Người Nam nấu canh chua bằng me nè, bằng lá giấm nè, bằng lá dang nè, bằng
cơm mẻ nè, bằng măng chua nè...Nấu với cá gì cũng được, với tôm cũng xong, với
thịt gà càng ngon nữa...
Tui nghe cái giọng kỳ thị Bắc Nam mà phát ghét, liền mắng:
- Tụi bây cứ ăn canh chua cho đã đời chê chán đi. Hơi đâu mà bây chỏ mỏ ngắt
véo người Bắc, xỉa xói ông Vũ Bằng? Người ta có công với văn học, bây mang ơn
không hết, có lý đâu đem ổng ra thượng mổ hạ xẻ ổng?
Tụi nó liền tẻn tò nín khe. Thế rồi mạnh thằng thằng chan, mạnh con con húp. Chừng
một tiếng đồng hồ sau, mặt ba con đào lẵng kia sưng húp và đỏ ké. Còn thằng kép
độc thì nổi mề-đay cùng mình, ngứa gãi thôi tưng bừng...Rốt cuộc tui phải điện
thoại kêu con Ba Quế Anh chở tụi nó tới bịnh viện gần tháp nước. Tui sợ điếng,
sợ tê dại. Mấy cỏn khóc rấm rứt. Con Minh Nguyệt tấm tức:
- Chu choa ơi, nghĩ tới cá màn rửa, súc ruột mà em mọc ốc cùng mình.
May một điều là bác sĩ trực chích thuốc rồi kê toa cho tụi nó mua thuốc trị cái
dị ứng do bạc hà thổ tả đó gây nên.
° ° °
Dì Chín, tui rất mừng là ba đứa con gái cưng của tui có tinh
thần dân tộc vững mạnh. Như con Út Quế Lan của tui đây đời nào mà thèm ăn cơm ở
căng-tin buổi trưa lúc đi làm! Mỗi sáng, tui phải dậy sớm nấu com canh, kho thịt
cá rồi xếp vô mấy ngăn gà-mên cho nó đem theo đến hãng xưởng. Con nầy chê tất cả
các món Tây, nó chỉ ăn món tây do tay nó nấu, tra thêm nhiều gia vị.
Tui coi bộ hồn quê ám ảnh nó hơi nhiều. Hồn quê thường thể hiện bằng món ăn. Cứ
vài hôm, nó lăng líu:
- Mèn ơi, hồi hôm tui nằm chiêm bao thấy ăn cá lóc kho tiêu có chan mỡ xắt hột
lựu.
Chiều đi làm về, nó lái xe đến tiệm thực phẩm Á châu mua cá lóc đông lạnh về
kho tộ. Bữa khá, nó véo von:
- Chèn ơi, tui nằm mộng thấy được về quê ăn canh chua dưa măng nấu với cá bông
lau.
Tuần lễ đó ở Troyes không có cá bông lau đông lạnh, nhưng nó vẫn mua dưa măng để
nấu với cá hồi.
Tới màn nó nằm mơ thấy ăn sầu riêng, là tui bắt đầu nhức đầu rồi đó dì Chín. Hồi
ở Việt Nam tui đã sợ thứ trái cây nầy. Hễ tập ăn là nhợn miệng, bợn dạ và
choáng váng mặt mày. Con Út Quế Lan vốn chủ trương biến mộng thành thực, đổi ảo
thành chơn nên cuối tuần nó lái xe đi Paris để mua sầu riêng cho bằng được. Khi
nó đem hai trái sầu riêng bự tổ chảng về thì con Hai Quế Hương, con Ba Quế Anh
từ Ba-suyt-ốp (Bar sur Aube) lái xe đến chực sẵn. Cả ba chị em nó pha cà-phê
thiệt ngoan rồi vừa ăn sầu riêng vừa nhấm nháp cà-phê, chót chét chuyện đời lảnh
lót. Tui phải rút lui về buồng, xức dầu Nhị thiên đường lên chót mũi để báng
mùi sầu riêng quái ác kia đi.
Như dì rõ đó, con Út tui chỉ thương nhớ cố quán, cố hương, cố quốc qua miếng
ăn. Sức mấy mà nó chịu giúp đõ hội Ái hữu Việt kiều trong cá cuộc tổ chức hội
chợ hoặc các buổi trình diễn văn nghệ giúp đồng bào vượt biển! Nhưng mà hễ có
đêm nhảy nhót nào do kiều bào tổ chức thì nó mừng húm, mua vé đi nhảy cho tới gần
sáng bét, sáng bạch mới chịu về nhà.
Chiêm bao, chiêm bố, chiênm bị! Mèn ơi, tui cũng gặp hoài những hình ảnh cố
hương trong chiêm bao như bao người Việt tị nạn khác. Tui thường thấy lại khung
cảnh Phú Giáo mà tui đã sống, những cảnh di dân lánh nạn Cộng sản khỏi vùng xôi
đậu, những trại định cư giữa các trại lính Ðịa phương quân và các đồn bót Nghĩa
quân. Tui cũng thấy lại quê ngoại tui ở vùng Lái Thiêu đẫm đầy bóng mát những
cây dâu miền dưới, cây chôm chôm, cây bòn bòn, cây măng cụt, cây mít tố nữ….
Có một đêm tui thấy một chiếc ghe đậu dưới bến chợ Lái Thiêu chở đầy chén dĩa,
tô tượng, vịm chậu bằng sành, cái thì tráng men ngà, cái thì tráng men xanh,
cái thì tráng men màu da lươn. Tới chừng tỉnh dậy tui bồi hồi xúc động không
tài nào dỗ giấc trở lại.
Tui quên kể cho dì biết căn nhà con Út tui thuê giá mỗi tháng 700 quan, nước
mưa hay thấm vô tường cho nên hễ mùa mưa là nhà âm ẩm hơi nước. Tui vốn bị
phong thấp, hễ mưa kéo dài hai ngày là tui đau nhức từng khớp, từng lóng xương,
mình mẫy tê mê. Một đêm nọ tui lại chiêm bao thấy mình đứng trước một tiệm thuốc
bắc gần ngôi chợ miệt vườn hồi chạy tản cư. Làng đìu hiu bên dòng sông nhỏ. Vào
lúc xế chiều, nhà lồng chợ trống trơn. Tiệm thuốc bắc có một chú chệt mập ú,
tóc thắt đuôi sam, tay nung núc mỡ, đeo chiếc vòng cẩm thạch màu xanh hoa lý, bụng
bự chang bang. Chú cởi trần trùng trục, cầm cái dầm khuấy vào chảo gang đựng mật
ong đang sôi sùng sục. Còn mụ vợ bó chân nhỏ xíu, đi lẩm đẩm tới quầy hàng, tay
gảy vào bàn toán lách cách. Ðó là những chú chệt, thím xẩm giàu có, thuở 1945
hãy còn tồn cổ…Vậy mà khi tỉnh dậy tui cảm hoài, cảm khái nghĩ ngợi lan man. Tuổi
già nơi đất khách sung sướng thì có, nhưng ấm áp thì còn hỏi lại. Tui vụt thèm
một căn bếp có nồi, trách, ơ bằng đất, có mẻ lửa than cháy đỏ. Dì ơi, kho cá bằng
trách, bằng ơ đất trên mẻ lửa than chắc chắn cá sẽ thấm tháp, mặn mòi hơn. Nướng
cá, nướng thịt trên mẻ lửa than, mỡ cá mỡ thịt nhỏ giọt xuống than, hơi mỡ cháy
sẽ ướp khứa cá, miếng thịt thơm hơn. Còn nói gì mình nấu cơm trong chiếc nồi đất!
Khi nước cơm cạn, mình phủ một miếng lá chuối trước khi đậy nắp vung lại, hột
cơm thấm mùi lá chuối, thơm phưng phức. Tui không thể cắt nghĩa tại sao cơm nấu
bằng nồi đất lại ngon hơn cơm nấu bằng nồi đồng, soong nhôm, nhưng sự thiệt là
vậy đó dì!
Cứ mỗi cơn đau nhức mình mẩy vào lúc trời mưa, tui lại đâm ra nhớ cảnh đốt hoả
lò để sắc thuốc bắc trong cái siêu bằng đất. Thuốc bắc uống thì đắng nhưng mùi
thuốc sắc thì ấm áp, thơm tho. Hồi tui còn son giá, sống trong sự tưng tiu, đùm
bọc của tía má tui, hễ khi tui ể mình, ấm đầu sổ mũi là má tui đưa tui tới ông
bang trưởng bang Phước Kiến vốn là chủ nhơn tiệm Hạnh Huê Ðường ở tỉnh nhà. Ổng
sau khi xem mạch hốt thuốc còn cho tui một trái táo tàu và một trái cà na khô,
gói chung vô gói thuốc. Má tui khi sắc thuốc xong, rót thuốc ra chiếc tô kiểu
tráng men lam đặt trên dĩa sứ trắng. Bên cạnh tô thuốc là trái táo tàu và trái
càn na khô tươm mật ướt trĩn. Dì ơi, tuổi già của chị em mình nơi xứ lạ quê người
cần có thuốc bắc mới ích khí bổ thần. Ngặt một nỗi trên các nước Âu Châu không
có tiệm thuốc bắc.
Thằng rể tui, chồng con Hai Quế Hương, kỳ hè năm ngoái đi viếng thủ đô Hoa Thịnh
Ðốn, khi về mua cho tui một mớ thuốc bắc gồm có thuốc xổ, thuốc trị nhức mỏi,
thuốc trị no hơi sình bụng và ba thang thuốc ích khí bổ thần. Tui nài được chiếc
siêu đất để sắc thuốc, nhưng sắc bằng lửa lò ga, không đúng điệu lắm. Nhưng mà
có còn hơn không, phải không dì?
Dì Chín ơi, chúng ta thiếu cái không khí xứ mình. Ở nhà tui cũng nấu phở, nấu
suông, nấu bún bò, đổ bánh bèo, tráng bánh cuốn, để cùng ăn với con, rể. Nhưng
thỉnh thoảng tụi tui rủ nhau đi Paris ăn tiệm ở quận 13, sau đó đi viếng thăm
các nơi để thấy chung quanh mình toàn là đồng hương, để hưởng vài giây phút cố
hương trong các tiệm bánh mì dồn thịt, trong tiệm sách báo và băng nhạc…Có nhiều
lúc tui nghĩ rằng ở khu Paris 13, nếu ông xã trưởng Tây cho phép ai đó đóng bàn
ghế bằng gỗ, mà phải là ghế đẩy rồi che mái tôn bán cà phê vào mùa hè, chắc là
cái quán cốc đó sẽ đắt khách lắm. Nếu có ai sắm được gióng, gánh để bán cháo
lòng, bì bùn, bánh canh, bún bò, bánh ướt, chè đậu thì chắc thực khách sẽ chiếu
cố nườm nượp. Và nếu ai đó sắm được xe đẩy có gắn mấy miếng kiếng vẽ sự tích
truyện Tam Quốc xanh đỏ loè loẹt để bán mì, hủ tiếu, hoành thánh…tui chắc khách
hàng sẽ chen lấn tới mua. Dì ơi, ăn hàng chưa đủ ngon, mà còn phải ăn cả hình ảnh
cố hương, có phải không?
Bởi đó bánh chưng, bánh tét gói bằng giấy bạc đâu có ngon thua bánh chưng, bánh
tét gói bằng lá chuối bao nhiêu, nhưng Tết nhứt mà bày những tấm bánh chưng, những
đòn bánh tét bằng giấy bạc coi sao trơ quá, dù trước khi gói, người ta có trộn
nước cốt lá dứa vào nếp cho có màu xanh và thơm tho như nếp thấm nước lá chuối
khi luộc. Cũng vậy, muốn treo các xâu nem trong bếp, ta vẫn thích nem gói bằng
lá chuối và khi bày nem ra dĩa, phải lót nem trên lớp lá vông hay lá chùm ruột
thì dĩa nem mới ngon mắt, đượm tình.
Mình già rồi, dì Chín à, cứ ưa sống trong kỷ niệm, bởi mình có biết làm gì hơn!
Tụi nhỏ hay tụi xồn xồn còn bay nhảy được nên tụi nó còn nguôì ngoai nỗi nhớ cố
hương để lo việc sắp tới, việc tương lai cho con cái. Nói nào ngay, ba đứa con
gái tui đều biết thương mẹ, nên hè rồi con Hai Quế Hương đề nghị:
- Hè nầy má đi tắm biển với tụi con đi. Hay là đi núi Vôi (Vosges) cũng gần đi
thôi. Tụi nầy sẽ thuê nhà gỗ để ở chung với má.
Tui lắc đầu lia lịa:
- Ðất nước nầy đâu phải đất nước của mình. Ði chơi chỗ khác hay là ở Troa
(Troyes) nầy thì cũng như xa nhà rồi. Tao đi chơi biển, chơi hồ đâu thể bận
may-ô hay bận đồ tắm hai mãnh như mấy mụ đầm già! Tới chỗ có nước, tao bất quá
thọc hai bàn chân xuống nước mà cũng gọi là tắm thì đi tắm biển kiểu đó uổng tiền
lắm! Còn đi chơi núi, tao đâu có hơi sức để leo núi nữa. Bây có thương tao thì
như mua trầu cau thường cho tao, mua truyện Tàu, tiểu thuyết cụ Hồ Biểu Chánh,
mướn phim tập cho tao coi là bây trả hiếu cho mẹ bây rồi. Mà bây có mướn phim tập
làm ơn tránh giùm tao loại phim chưởng có kẻ gian ác đánh kẻ hiền lương hộc ra
hai ba đấu máu. Tim tao yếu, thấy máu mủ là tao xây xẩm mặt mày.
° ° °
Dì chín, con Út tui cứ chiêm bao các món ăn lia lịa, nên tui
coi bộ nó lúc nầy bắt đầu tròn trịa rồi tròn hoay mấy hồi. Ðược cái, con gái
còn trẻ tuổi, còn son giá, dẫu nó ít nạc mỡ nhiều thì cái bụng nó cũng còn sát
rạt. Mỡ chỉ đắp lên mông nó chè bè. Vậy mà thằng kép nó khen nó sét-xi, nịnh
sao mà hỗn hào! Tui thấy thằng đó cũng được trai, ăn ở tử tế nên mừng thầm con
mình đã chọn mặt gởi vàng, rồi đây tôm cá sẽ lội chung bàu, vịt le sẽ đậu chung
bãi. Bởi đó tui ưa nấu món ngon vật lạ cho thằng kép nịnh gốc Bắc đó ăn.
Tui quên nói cho dì hay, gia đình thằng Tuấn Phương hiện giờ ở khu Nhà Thờ Xanh
Lục (La Chapelle Saint-Luc). Tía nó hồi xưa làm việc ỏ nhà bưu điện Sài gòn nên
dân ở đây kêu là cụ Phán giây thép. Cụ Phán bà khuấy bánh đúc ngon thần sầu. Ngặt
bả không ăn trầu nên mỗi khi khuấy bánh đúc là tới xin vôi của tui. Riết rồi
dân Bắc kỳ ở Troa trước khi khuấy bánh đúc là điện thoại cho tui để xin vôi.
Tui biết ý nên mua vôi mỗi lần hai ba kí, dự trữ trong nhà, hễ ai xin là tui
cho. Ðôi khi tui gởi bột gạo, đậu phọng, cùi dừa nhờ họ làm bánh đúc giùm. Mấy
bả sẵn lòng khuấy bánh đúc giùm tui, nhưng khi tui nhờ họ chỉ dạy cách làm thì
họ tìm cách quanh quẩn để từ chối. Họ làm giùm bánh thiệt ngon, cốt để khoe
tài, nhưng dấu cách làm như tui giữ hột xoàn, như thần tài giữ kho tàng trân bữu.
Tui chắc mẽm con Út Quế Lan của tui sẽ là vợ thằng Bắc kỳ Tuấn Phương nên tui
giao du với cụ Phán bà và kiều bào gốc Bắc thường lắm. Tui cho con gái út ít của
tui ăn bánh đúc chấm mắm tôm hà rầm, ăn bánh đúc chấm tương Cự Ðà lia lịa, để
tâm hồn nó thấm tháp phong vị Bắc kỳ, để mai sau nó yêu thương đắm đuối, mặn muối
cay gừng với tên kép nịnh kia.
Ai dè một hôm con út mập của tui vừa đi Ba-suyt-Xen (Bar-sur-Seine) về, rít
nghe ớn óc:
- Thôi rồi, con gặp thằng tiểu tặc Bắc kỳ đó sánh vai với con đầm ở chung cư gần
nhà bưu điện Sạt-trơ (Chartreux) đi câu cá. Má biết con đó mà, con đầm sến chiều
mát ưa đưa hai đứa con nó lại trước sân chung cư mình để chơi cầu tuột đó!
Tui giựt mình đồm độp. Thằng Tuấn Phương sanh sự lấy đầm? Ông bà ông vải ơi!
Trai Mít mà lấy mấy con Phiên nữ thì đúng là đuôi chuột vọc hũ mỡ! Con út tui
coi vậy chớ trai Pháp trai Việt xun xoe đeo đuổi nó hà rầm. Nhưng bởi nó mê
ngón đờn ghi-ta cùng giọng hát giống Chế Linh, Duy Khánh của thẳng nên nó cho
gie nhiều đám. Thẳng dám cho con gái tui đi tàu bay giấy lên chín từng mây xanh
rồi đá giò lái ngang xương cho nó té xuống đất, càng lên cao càng té đau là vậy.
Tuy vậy tui cũng tìm lời phải quấy khuyên can con Út:
- Thôi con. Ai làm quấy có đất trời chứng giám. Con mà bày đặt trả đủa nớ, nay
Lao Ái mai Tiết Ngao Tào, sớm đào tối mận thì làm nhơ danh đờn bà con nhà có đạo
lý.
Cỏn chui vô buồng, đóng cửa khóc rấm rứt suốt cái cuối tuần. Trọn tuần lễ sau,
nó lững đững lờ đờ, dật dờ hồn phách, oán trách kẻ bạc tình, bất bình duyên số.
Vào cuối tuần kế, hai thị đào lẵng Minh Nguyệt, Thanh Hoa có ghé nhà chơi. Tui
cũng mừng cho con gái tui có bạn an ủi, nói chuyện tầm ruồng để giải sầu. Tui lật
đật đi nấu suông đãi khách. Ðứng trong bếp quết nhuyễn tôm, tui lóng tai nghe tụi
nó đía dóc. Con Minh Nguyệt vo vảnh:
- Xời ơi, tao tưởng thằng Tuấn Phương của mầy quơ được con đầm nào sạch nước cản,
ai dè nó vướng vô con Bô-Lết (Paulette). Con đó hôi nách, quơ nó thà quơ con
chuột xạ còn sướng hơn.
Con Thanh Hoa cười:
- Nó hôi nách với mầy, với người khác, nhưng nó thơm tho với thằng Tuấn Phương
thì sao?
- Con đó mỗi tuần mới tắm một lần. Ít khi nó chịu súc miệng. Hễ hôi nách là nó
nã dầu thơm vô nách. Mỗi sáng, nó làm biếng súc miệng đánh răng nên cứ nhai
sơ-uynh-gôm để báng mùi hôi răng.
Con Út tui chua ngoa:
- Cứt có thúi mới rù quến được chó. Chuột chết sình mới nhử được kên kên, quà
quạ, diều hâu.
Tui bước ra, chỉnh tụi nó:
- Tụi bây còn nhỏ mà nói giọng phách, giọng cầu cao, không sợ giảm phước, không
sợ mắc khẩu nghiệp hay sao? Thằng kia không thương con Út nữa thì nó tháo lui
trước. Nó chưa đến cho con Út cái bụng chình ình là may phước rồi.
Tui nghĩ tui buồn lắm dì Chín à! Con Út tui vì mê thằng kép Bắc kỳ nên nó ăn
lìm lịm bánh đúc chấm mắm tôm, bún riêu, bún thang, bún bung, bánh cuốn… Khi rã
rời keo sơn với thẳng, nó vẫn mê các món Bắc kỳ dài dài. Còn tui ra công làm
món Nam, nào suông, nào chạo, nào bánh tầm bì chan nước cốt dừa…cho thẳng ăn, vậy
mà sao tâm hồn nó không thấm đậm tình ý Nam kỳ, không chịu cưới con gái tui cho
rồi! Ðẻ con gái là để dành gả cho kẻ xứng lứa vừa đôi, chớ tui không dám giữ
lâu, đố khỏi có ngày sanh giặc.
Tui cứ nằm chiêm bao thấy mình ngồi chễm chệ trên “đi-quăng” chơn qùy. Con Út
tui bận áo dài gấm, đầu đội khăn vành dây đứng bên thằng đực mặc áo dài gấm, đầu
chít khăn đóng, sắp sửa lạy tui trong ngày rước dâu. Tui sung sướng khóc rấm rứt
và tỉnh dậy, để rồi trằn trọc khoảng đêm còn lại.
Như dì đã rõ, tui hề chưa được diễm phước làm đám cưới cho con Hai Quế Hương và
cho con Ba Quế Lan. Tụi nầy, con chị kéo con em, con em đeo con chị, xách gói
êm ru bà rù về nhà trai. Rõ ràng là gái đâu có gái hỗn hào. Trai chưa làm rể,
gái vào làm dâu! Sau bốn lần cặp xách lung tung lang tang, hết thằng đực nội
hoá nầy tới thằng dâm tặc ngoại bang khác, con Hai Quế Hương may mắn được thằng
Bắc kỳ tuy có cù lần nhưng tử tế làm giá thú đàng hoàng. Ðứa con gái đầu lòng của
tui gìờ đây yên nơi yên chỗ, hư trước nên sau, thôi vậy tui cũng mừng. Còn con
Ba Quế Anh thì có xé rào lấy tên Pháp tặc hồi còn ở Lộc Ninh, nhưng dầu sao nó
vẫn một chồng một vợ, không có vụ buông rồng bắt rắn, đổi trắng thay đen.
Hai con gái lớn của tui biến tui thành bà ngoại quốc tế đó dì. Tui có cháu ngoại
Mỹ, cháu ngoại Pháp, cháu ngoại Việt…nhục nhã để đâu cho hết! Khi con Út tui tò
tí với thằng Bắc kỳ, tui cũng vái cho duyên nợ nó vuông tròn, như nước mắm hòn
pha nước mắm Phan Thiết. Ai dè tên kép nịnh thích mùi chuột xạ củ con đầm Bô-lết
nên giết tình đồng chủng với con gái tui. Cái hư bắt đầu từ con chị, từ con chim
đầu đàn có phải?
Ít tuần sau con Út vắng nhà hà rầm. Thiên hạ kiều bào ở khu Nhà Ðỏ xầm xì xụt xịt
chuyện cỏn dan díu với thằng Tây sửa ống nước có nhà ở gần ga xe lửa. Thôi rồi,
con nha đầu yêu lồi nầy muốn trả đủa thằng kép nịnh nên quơ đại tên Pháp tặc xuất
thân lao động kia. Bao phen tui gạn hỏi cỏn thì nó mồm năm miệng mười chối leo
lẻo: "Làm gì có! Ðâu mà có! Ðâu có chuyện kỳ cục như vậy! Má tin mấy con mụ
lẽo lự đó thì có nước bán lúa giống!"
° ° °
Bao nhiêu kỳ vọng nơi cô con gái út của tưi đã tan tành theo
mây khói rồi đó dì Chín. Bây giờ tui tìm an ủi nơi miếng trầu vào những đêm khó
ngủ. Nhai trầu để thấm thía cảnh sống tạm dụng hiện tại. Nhai trầu để nhớ lại
căn nhà quê quán ở tại xã Bố Lá, quận Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.
Như dì đã rõ, vào năm 1969, ông Tướng vùng III thấy xã nầy thuộc vùng xôi đậu
nên ra lịnh di dân về trại định cư Bến Cát. Chánh quyền quốc gia phái toán dân
sự vụ tiểu khu Bình Dương với Sư đoàn 5 Bộ binh tới lo vụ đó. Trước khi đưa dân
rút lui, họ giựt sập tất cả nhà cửa để Việt cộng không chỗ tá túc. Ngôi nhà
ngói ba căn hai chái của tui chỉ trong một giờ đồng hồ là thành đống gạch ngói
ngổn ngang.
Ba mẹ con tui sống ở trại định cư Bến Cát được hai tháng rồi tìm về Lộc Ninh,
nơi đó có con em tui sanh cơ lập nghiệp trên 20 năm qua. Với chút ít vốn liếng,
tui mở tiệm bán guốc dép Nhựt. Tui còn mua hai chiếc bàn bi-da để mở tiệm cho
hai đứa con gái lớn trông nom. Cuộc sống ba mẹ con khá sung túc, tui cũng mừng
thầm.
Dì Chín biết hôn? Tai hoạ bỗng dưng dến xuống gia đình tui một cái ình như trời
giáng. Có một gã kép hát đã giải nghệ về Lộc Ninh mởi tiệm bán giấy bút, sách
báo và cho mướn tiểu thuyết. Tuy đã giải nghệ mà giọng ca nó còn mùi tận mạng.
Rảnh rang là nó tới tiệm bi-da của tui chơi vài bàn.. Tối tối nó ôm cây đờn kìm
khảy lẳng tẳng rồi mùi sáu câu làm cặp mắt con Hai Quế Hương vốn đã lẵng lại
càng thêm ướt rượt. Một đêm nọ, đang lúc tui thao thức khó ngủ thì bỗng nghe
bên giường hai cỏn, con Hai Quế Hương cất giọng:
-Suối biếc dãy Nam Sơn cuốn trôi từng bông hoa rụng, như đánh dấu buổi phân ly
của Lương Sơn Bá, Chúc Anh ơ…ơ…Ðài…
Tui liền chạy lại, lớn tiếng la rầy:
- Hai, mầy làm cái gì kỳ cục vậy Hai? Nửa đêm thanh vắng mà mầy còn hát xướng,
không sợ hai bên hàng xóm người ta quở hay sao!
Con Hai Quế Hương mắt vẫn nhắm nghiền. Té ra nó đang mớ! Cũng sau đêm đó, tui mới
vỡ lẽ là tên kép giải nghệ kia tới đây thụt bi-da giữa thanh thiên bạch nhựt,
nhưng nó còn lén lút thụt cho con Hai không biết bao nhiêu hiệp mà cỏn mang bầu
ba tháng. Tui sợ tai tiếng, phải nói trớ là cỏn bị chứng đau máu, cần lên Sài
gòn châm cứu một thời gian. Lên tới đó, tui gửi nó cho con Hai Kim Khánh, chị
con nhà bác nó nuôi đẻ giùm, rồi gởi đứa nhỏ cho vú nuôi. Con Hai Quế Hương sau
khi đập bầu trở nên mướt rượt, xinh tốt, nếu không như Tạ Nguyệt Kiểu thì cũng
Phàn Phụng Cơ trong vở tuồng San Hậu. Nó đi bán sờ-nách-ba đâu chừng bảy tháng
thì ôm thêm cái bầu nữa. Úy mẹt mẻ ông bà ông vải đồng đinh tí sửu tiên nhơn tổ
đường ơi! Thằng Mỹ, tía cái thai trong bụng con Hai, cỡi máy bay về nước, không
hề hay biết mình gởi lại trong bụng nó một cục nợ oan gia, trét cứt gà lên mặt
con quỉ đó, bôi cứt chó trên mặt con mụ già nầy.
Rồi thời cuộc dập dồn, đẩy miền nam vô tay Cộng sản.. Từ lúc đến nhà con Hai
Kim Khánh tá túc cho đến lúc bán sờ-nách-ba, con Hai Quế Hương được vợ chồng
con nầy đùm bọc. Tình bà con đổi dần thành tình ruột thịt pha lẫn tình tri kỷ.
Sau ngày 30-4-75, thằng chồng con Hai Kim Khánh vì là đại úy nên phải đi học tập.
Hai cỏn cùng đùm bọc nhau, bán chợ trời nuôi lũ con. Dè đâu trước khi thằng chồng
con Hai Kim Khánh đăng ký học tập, nó còn ráng gởi lại trong bụng vợ cái thai
ba tháng. Vì quá lao lực, cỏn sảo thai, băng huyết và chết tại nhà thương Từ
Dũ. Trước khi chết, nó cầm tay con gái tui trối trăn:
- Em ráng nuôi hai đứa con của chị. Và nếu chồng chị về, em liệu cách mà an ủi ảnh.
Tội nghiệp con gái tui! Nó dãi dầu buôn bán để nuôi bốn đứa nhỏ: hai cháu, hai
con. Ðứa con gái lớn của Hai Kim Khánh tên là Kim Loan mới 13 tuổi, sớm hiểu biết
nên giữ hai đứa con của con Hai Quế Hương cho con Hai đi kiếm sống. Nhờ Phật độ,
nhờ hồn thiêng con Hai Kim Khánh phù hộ nên con Hai tui buôn bán chợ đen chợ đỏ
khá quá. Nó đi thăm nuôi thằng chồng con Hai Kim Khánh hai lần rồi vượt biên với
bốn đứa nhỏ.
° ° °
Trong lúc con Hai Quế Hương lên Sài gòn để đẻ thì con Ba Quế
Anh coi sóc tiệm bi-da.
Tui có tài đẻ con gái bóng sắc tuy chẳng chói sáng hơn ai, nhưng con nào cũng
có cặp mắt ướt rượt. Hễ gặp mấy thằng đực là con nào con nấy đưa đẩy cặp mắt,
liếc dọc liếc ngang, vàng tan đá lỏng.
Nhưng mà dì Chín à, con Ba Quế Anh tuy mê hoặc biết bao anh hùng hảo hớn, nhưng
nó lại không ưng ai. Chỉ có một tên đực té vô được cặp mắt ướt rượt của nó. Ðó
là thằng Tây thơ ký đồn điền cao su Lộc Ninh. Thiệt tình tui không sao hiểu nổi
nó. Có viên đại úy ban tiếp liệu chi khu xun xoe ve vãn nó mà nó không gật cũng
chẳng lắc, để tên kia tương tư nhừ tử. Còn cái thằng thơ ký dị chủng kia chiều
chiều lái xe ghé quán bà Tám Thẹo uống la-de xong rồi mới qua quán bi-da Tam Quế
của tui để thụt bi-da. Ðùng một cái, con Quế Anh thỏ thẻ với tui:
- Má à, thằng Mạc-xen La-ma (Marcel Lamarra) muốn cưới con. Con trót lỡ dại có
thai với nó rồi!
Ngộ hén! Tui chưa già cả và vẫn tưởng là mình giữ đám con gái khít khao, con ruồi
chui qua không lọt, con mọt khó tọt vô, vậy mà rồi thằng dâm tặc Phú-lang-sa thả
được lăng quăng vô bụng con Ba Quế Anh hồi nào không biết!
Tui đành sang tiệm bi-da, tiệm bán guốc dép cho chị bạn Phật tủ để thu xếp về
Sài gòn lánh nhục. Kể ra tui cũng may mắn lắm đó. Nếu tui chậm chừng nửa năm là
cơ nghiệp bị sa vào tay Việt cộng rồi, vì hồi năm 72, quận lỵ nầy bị tụi nó
tràn vô chiếm đóng. Thằng Mạc-xen lúc đó chưa đử vi kiếng để lập nghiệp ở Sài
gòn, nhưng vì thấy thời cuộc càng lúc càng găng nên quyết định đưa con Ba về
Sài gòn trước, tui và con Út lên sau. Nó giữ chơn cạo giấy cho hãng xuất nhập
cãng vỏ xe Michelin đó dì. Còn tui sang một quán bán tạp hoá ở chợ Bà Chiểu.
Con Ba Quế Anh ở trong cư xá đường Bà Huyện Thanh Quan, thỉnh thoảng dắt chồng
đi Bà Chiểu ăn bún thịt nướng và thăm mẹ. Nó làm áp-phe dữ lắm, nhưng kiếm chác
chẳng được bao nhiêu. Thời cuộc biến chuyển dồn dập, ít ai muốn mua sắm hay khuếch
trương cơ sở làm ăn.
Bày ra việc bán buôn, tui không dám mở quán nhậu hoặc quán cà-phê vốn là nơi
lui tới của đám đờn ông, bởi lúc nầy con Út Quế Lan mới mười lăm mà đã trổ mã.
Nó nhất định không thèm học chữ, quyết ghi tên vô lớp luyện ca tân nhạc của Lê
Minh Bằng, ghi lớp ca cổ nhạc của Út Trọng, của Ba Giáo…Nớ mơ trở thành cô Tài
Lương thứ hai, ca cổ nhạc đã ngọt, mà ca tân nhạc cũng có nét như ai. Chiều tối,
tiêm tạp hoá đóng cửa, con Út lên gác lửng, thả dài trên ghế lấy gân cổ rồi gò
giọng cho ngọt:
- Chè bột khoai ngọt ngon thanh mát, xin mời bà con cô bác hãy mua….ơ…ợ…ơ…giùm,
giúp em qua khỏi cảnh nguy cùng. Ðêm nay gió âm u, em đã lê chơn khắp phố phường
hoa lệ…
Tui nghe nó hát mà phát rầu! Tui nhớ tới cảnh con Hai Quế Hương chiêm bao ngủ mớ
hát mấy câu vọng cổ mà tui bồn chồn lo lắng, sợ con út tui chưa thành ca sĩ mà
đã ôm bầu do thầy luyện nhạc hoặc do bạn cùng lớp đúc nên.
Thời cuộc đẩy tới tấp miền Nam gần tầm tay cướp giựt của bọn Cộng sản. Thằng Mạt-xen
bỗng được tin tía nó bên Pháp qua đời, tiệm nước của ổng tại Troa không ai coi
sóc nên nó phải về Pháp coi sóc công việc. Chừng một tháng sau, ngày 30.4.75 tới,
làm tui ngơ ngác không biết tính sao.
° ° °
Con Ba Quế Anh rời Sài gòn năm 77. Con Hai Quế Hương đi chui
năm 78, mãi tới năm 80 mới được định cư ở Pháp. Con Ba chạy chọt làm giấy bảo
lãnh cho tui và con út qua Pháp năm 81.
Từ năm 82, ba mẹ con tui quây quần ở Troa. Con Hai Quế Hương nuôi con của con
Hai Kim Khánh cũng như con ruột của nó. Con Kim Loan, thằng Tường Phụng đều được
đi học. Lúc đó thằng Thanh Hùng (con của kép cải lương giải nghệ) được 13, con
Claudette (đứa lai Mỹ) lên 12, nhổ giò trông thấy. Con Kim Loan trở thành thiếu
nữ, xinh đẹp, ăn nói mềm mỏn, cư xử khéo léo. Nó là chị cả trong nhà, phụ giúp
con Hai Quế Hương, dạy dỗ hai đứa nhỏ. Cảnh nhà thật đầm ấm.
Nhận thấy hai đứa con nuôi khi tới tuổi thành niên thì con Hai sẽ mất một khoản
tiền cấp dưỡng đáng kể nên nó lo lắm. Rồi nó học đòi lũ đờn bà hư thân mất nết,
lười biếng, tính quơ bậy thằng đực cà lơ phơ phất nào để đúc cho mình một đứa
con, khi đẻ là có tiền trợ cấp. Nó lạng quạng quơ thằng Á Rập mà dân mình kêu
là Rệp đó dì Chín. Thằng Ali ăn ở với con Hai Quế Hương nhưng cặp mắt trắng dã
của nó cứ xốn xang ngó con Kim Loan, tìm dịp khều móc con nhỏ. Biết được tự sự,
con Hai tống cổ thằng Rệp ra khỏi nhà liền.
Mà nào đã hết chuyện, dì Chín? Thằng Rệp lưu manh xách va-ly rời tỉnh Troa còn
lén giấu theo sợi dây chuyền vàng của con gái tui. Con Hai thấy của không đáng
bao nhiêu nên không thưa gởi, vì nó biết nếu phanh phui ra thì xấu chàng hổ thiếp,
nghiệt là hổ thiếp thì nhiều chớ thằng kia mà xấu xa bao nhiêu!
Sau vụ đó, con Hai Quế Hương nào có tởn đâu! Nó xoay qua cặp xách với thằng gốc
Chí Lợi tị nạn chính trị, chừng năm sau là đẻ ra thằng con trai dễ thương lắm.
Nhưng rồi thằng Chí Lợi kia về nước, thơ từ thăm hỏi tới năm 84 là thưa dần rồi
dứt luôn. Nó vốn có vợ cái con cột bên nước nớ rồi! Thiệt tình số phận con Hai
thiệt truân chiên, bảy nổi ba chìm, thân như tờ giấy bạc hết chuyền tay người
này sang qua tay kẻ nọ. Bởi nó dám thiếm xực hết Rệp tới Chí nên đờn ông Việt ở
Troa dù có đói vợ cũng không dám cầu hôn nó.
Con Hai Quế Hương về sau đi may nửa chánh thứ nửa lậu mới có đủ tiền nuôi con.
Ðều đều, nó gởi tiền về má chồng con Hai Kim Khánh để bả thăm nuôi cha của con
Kim Loan. Sau hết, nó giúp tiền để thằng nọ vượt biên sau khi đuợc phóng thích.
Rồi dì biết sao không dì Chín? Khi tới Troa, thằng chồng con Hai Kim Khánh xin
cưới con Hai Quế Hương. Hai đàng có ân thâm nghĩa trọng với nhau nên cùng làm lại
cuộc đời, cố quên dĩ vãng hư hỏng, đau buồn. Vậy mà con gái tui hạnh phúc. Thằng
rể Bắc kỳ nầy nhận hết mấy đứa cháu ngoại tui làm con. Năm sau, con Hai đẻ cho
chồng một cặp trai song sinh. Con riêng của chồng, con riêng của vợ giờ đây
trên giấy tờ là anh em một mẹ một cha. Tụi nó cùng cưng yêu cặp hổ bôn hổ bịch
đó.
Nhìn cảnh nhà đầm ấm của con Hai Quế Hương mà tui hạnh phúc quá chừng chừng. Từ
khi lấy chồng, con Hai ăn chay một tháng mười ngày. Nó cưng chồng lại được chồng
cưng nên chí thú làm ăn. Ai mà dè con gái tui có cái hậu vận tốt dường ấy! Năm
nào vợ chồng nó cũng làm đám giỗ chay cho con Hai Kim Khánh rồi cả nhà kéo nhau
đi chùa dự lể cầu siêu cho cỏn. Ai không tin, chớ tui thì luôn nghĩ rằng con
Hai Kim Khánh luôn luôn phù hộ con gái tui. Thằng Bắc kỳ rửa mặt rửa mày cho
con gái tui. Dân Việt ở Troa lúc trước khinh khi thói đi ngang về tắt của con
Hai Quế Phương bao nhiêu thì sau nhờ thằng rể tui kể lể cách đối xử tử tế của
nó nên đâm ra có cảm tình với nó.
Còn con Ba Quế Anh thì tâm địa nhỏ mọn hẹp hòi. Hồi nó được thằng Mạt-xen bảo
lãnh, nó chạy xuôi chạy ngược làm giấy khai sanh cho hai đứa con người quen làm
con của vợ chồng nó, nhận luôn món quà là đôi vòng cẩn hột xoàn. Từ khi định cư
ở Troa thì tuy là nó cho hai đứa nhỏ đi học, nhưng hễ hai đứa nhỏ làm điều gì
không vừa ý là nó dùng roi mây áp đảo. Thằng chồng Tây của nó khuyên ngăn hoài
mà không được. Hễ đánh hai đứa nhỏ sau lưng chồng xong là nó hăm he:”Bây mà đi
học lại với chú Mạt-xen là tao giết hoặc tao bỏ bây vô viện mồ côi”. Hễ có món
ngon vật lạ là nó để dành ăn riêng với chồng nó và thằng con bốn tuổi. Thiệt
tình, chồng tui họ Ðào mà sao tui đẻ đứa con gái ác đức như mụ mẹ ghẻ Tào Thị
trong tuồng Phạm Công Cúc Hoa!
Cái thói khắc bạc, độc dữ của nó rồi cũng có ngày tiết lộ. Cô giáo trường mẫu
giáo một hôm khám phá ra lằn roi ngang dọc trên đít, trên lưng hai đứa nhỏ thì
gạn hỏi, nhưng tụi nó không dám hé răng. Thế rồi cổ thưa cò bót để điều tra.
Sau hết, con Ba Quế Anh bị ra toà đóng tiền phạt, và hai đứa nhỏ được giao cho
một cặp vợ chồng Pháp không con nhận nuôi. Bởi nhục nhã như vậy nên con Tào Thị
đó phải bỏ Troa dọn về Ba-suyt-ốp. Tui không biết sau vụ đó nó có tởn hay không
nhưng nó già đi trông thấy. Nó không hài lòng thằng con nó vì đứa nhỏ cứ ốm đau
quặt quẹo, học hành biếng nhá, trí khôn chậm lụt. Có lần nó than thở với tui:
- Phải chi con sanh thêm vài đứa. Chồng con yêu thương con lắm nhưng con lại
sanh cho nó thằng con như bún thiu, như mèo ướt thì còn nước non gì!
Nước mắt nó rưng rưng. Tui chẳng biết nó hối hận vì đã khắc bạc với hai đứa con
nuôi hay vì đường tử tức bất như ý nên tui làm thinh. Nó thở dài:
- Trong thâm tâm, con đâu có ác độc. Cũng bởi con thấy hai đứa kia xinh đẹp,
thông minh, còn con ruột mình thì yếu đuối, chậm lụt nên con đâm ra ghét số phận,
mới hành động hơi quá tay như vậy.
Ủa ngộ chưa? Oán ghét số phận sao lại đối xử tàn ác với hai đứa nhỏ vô tội? Tụi
nó có đại diện số phận đâu? Tuy bất bình, nhưng thấy nó thiểu não, tui không nỡ
dùng lời gay gắt, chỉ khuyên nó nên năng tụng kinh Phổ Môn, và nhứt là thành
tâm sám hối thì hoạ may…
Con Ba Quế Anh không nói gì. Kỳ lễ Phật Ðản vừa qua nó đi hành hương qua chùa
Tây Ðức thỉnh tượng A Di Ða Tam Tôn và một mớ kinh về. Bàn thờ Phật của nó
trang nghiêm, nhang thắp đều đều. Tui không hiểu nó có thiệt lòng ăn năn sám hối
hay không, nhưng mấy bà nào ở khu Nhà Ðỏ, nhờ Nhà Thờ Xanh Lục đập bầu tại nhà
thương, nó cũng chịu khó đến thăm, tặng quà châu đáo. Có điều là bạn bè lẫn bà
con bên chồng nó không còn giao du với nó nữa. Xã hội Tây Ðầm đã đóng chặt cửa
với nó từ khi vụ hành hạ con nuôi của nọ bị lôi ra toà, bị tường thuật trên
báo. Ðối với tui, mấy chuyện đó không đáng quan tâm lắm. Tui chỉ mừng là con
gái tui biết quay đầu về chính nghĩa, bớt ích kỷ, bớt tính toán nhỏ nhen, bớt
cay cú những người mà nó tiếp xúc.
Thằng Hăng-ri (Henri) cháu ngoại tui, nhờ đi châm cứu mà trở nên mập mạnh. Tuy
trí khôn còn chậm lụt nhưng nó hiền hậu ngoan ngoãn nên cả nhà ai cũng cưng.
Tui khuyên con Ba Quế Anh:
- Con nên tìm dịp thăm hai đứa con gái nuôi cũ của con. Bề gì nó cũng là con của
bạn con.
Con Ba đỏ mặt tía tai, lắc đầu:
- Con không có can đảm gặp tía má nuôi hiện giờ của tụi nó. Con cũng không mặt
mũi nào ngó tụi nó.
Tui nói:
- Nếu cái khó đó mà con làm được thì ác nghiệp con sẽ tiêu bớt được vài phần.
Con gái tui không nói không rằng. Tui nghĩ rằng không nên ép uổng nó quá. Nó
đâu có khí phách, hùng tâm để chuộc lại lỗi lầm, dù nó có ân hận, nhưng cái ân
hận đó chưa đủ sức giúp nó giáp mặt hai đứa con nuôi.
° ° °
Hôm đầu hè, con Kim Loan đi chơi hồ về ghé thăm tui. Tuy nó
chỉ có chút máu mủ với chồng tui, nhưng tui thương nó như cháu ngoại ruột. Cảnh
nhà con Hai Quế Hương nếu không có nó chăm sóc thì chưa chắc đã ấm êm. Nó báo
tin:
- Có một anh dược sĩ muốn cưới con, ngoại à.
Tui mừng lắm:
- Hễ con thương nó, nó thương con là được.
Kim Loan nói:
- Nhưng ảnh muốn dắt con ra khỏi tỉnh nầy. Con chỉ ngại chỗ đó.
Tui trổ giọng Khổng Mạnh ra:
- Làm gái, hễ xuất giá thì tùng phu, con quên rồi sao?
Kim Loan hơi bất mãn:
- Ảnh qua Pháp có một mình. Ở đây ảnh có thể kiếm một chân trong nhà thuốc Tây,
tại sao ảnh muốn đưa con đi chỗ khác? - Giọng nó như muốn khóc - Ngoại không hiểu
con đâu! Khi ba con đi học tập, con đã thấy hoang mang rồi. Khi má ruột con chết
đi, con tưởng nửa cuộc đời con theo bả xuống ba thước đất. May nhờ có má Hương
ra tay cưu mang. Năm má con đã từng vật lộn với nghèo đói, nguy cơ. Trên đường
vượt biên, trừ hai đứa nhỏ, má Hương và hai chị em con chia nhau từng chút nước.
Rồi khi định cư ở đây, nếu cả ba không nương tựa lẫn nhau thì chẳng biết sống
ra sao! Con thương anh chàng dược sĩ đó, nhưng con cũng không muốn xa má Hương
và mấy em con!
Tui bảo nó:
- Con nên mời thằng đó tới đây chơi, để ngoại liệu lời nói rõ chuyện của con
cho nó hiểu.
Rồi tui đem chuyện con Út Quế Lan ra than thở. Con Kim Loan như chợt nhớ, kể:
- À, tối hôm qua con có gặp chú Phương. Chú mời con đi uống cà-phê ở tiệm gần
ga xe lửa. Té ra dì Út với chú giận nhau nên trả thù nhau cho lợi gan. Rốt cuộc
cả hai đều cảm thấy khổ. Chú Tuấn Phương nói rằng dì Út giỏi tài hành hạ đờn
ông, nhưng thà chú thua cuộc chứ không muốn mất dì. Sáng nay dì Út gọi điện thoại
cho má Hương, báo tin rằng bồ cũ không rủ cũng tới . Má Hương nghe cũng bắt tức
cười và mắng dì Út cả dây cả nhợ.
Chèn ơi, tui nghe lời tiết lộ của con Kim Loan mà như trút được gánh nặng ngàn
cân ra khỏi ngực. Té ra con Út Quế Lan nhỏ người mà lớn nết, muốn trả đũa cho lợi
gan mình nên mới đùa với lữa mấy tuần nay. Nếu chàng Tuấn Phương không thông cảm,
không chịu thua thì chắc chắn là keo rã hồ tan, cỏn lang bang theo thằng Phiên
tặc, quen thói đi ngang về tắt, cầm sắt sẽ đảo điên.
Thôi vậy tui cũng mừng. Tui vừa nấu bánh canh gìò heo vừa chờ con hùm nhai sấp
táp đó về để nghe nó tỏ tường trong đục. Khi tui đang chặt giò heo thì chuông
điện thoại reo. Vừa cầm ống nghe thì bên kia đầu dây một giọng eo éo vang lên:
- Má đó hả? Con đây, Út đây! Chiều nay có anh Tuấn muốn tới thăm má. Ối, chuyện
tuổi trẻ có gì là lạ đâu! Rầu má quá! Anh Tuấn Phương con đi câu cá thì chỉ là
chuyện đi câu cá. Còn con đi coi hát với thằng Bờ-Noa (Benoit) thì chỉ là đi giải
trí bằng phim ảnh, xong rồi ai về nhà nấy. Con sống trên đất Pháp năm năm rồi,
đầu có sạn rồi, con đâu có ngu dại gì! Dạ, dạ má nói phải. Chị Hai con gặp nhiều
cảnh lỡ làng thì đời chỉ khác đời con chớ bộ. Nhưng giờ đây chị Hai con có tổ ấm
thiệt sự rồi. Thôi nghe, con cúp máy nghe má. Anh Tuấn Phương chở con đi lại trại
nuôi cá hương đây. Chiều nay má muốn làm món cá hương lăn bột chiên giòn hay
kho tương gì đó tùy ý.
Nước mắt hân hoan của tui trút từng đợt theo cuộc điện đàm với đứa con ương ngạnh
của mình. Khi gác ống nghe lên máy, tui cứ ngỡ là mình chiêm bao, dì à.
Ðồng thời tui nhớ tới con Kim Loan. Tui rất thông cảm, rất xúc động trước cái
tình quyến luyến của nó với con gái tui. Song như dì biết, tụi nhỏ sanh sống ở
đây cần phải hướng tới tương lai. Lòng dạ con Hai Quế Hương đâu có hẹp hòi. Nếu
nó thấy thằng dược sĩ kia muốn tìm cách tiến thân ở tỉnh khác, tui chắc nó còn
khuyến khích nữa là khác. Con Kim Loan vì thương mến mẹ nuôi mà cản ngăn bước
tiến thủ của chồng mình thì hơi quá đáng, phải không dì?
Tui đã hài lòng về ba đứa con gái tui rồi. Giờ đây, tui phải khuyên con cháu
ngoại không biết nhìn xa của tui. Nghĩ vậy, khi nhắc nồi bánh canh lên bếp, tui
quay điện thoại cho con Hai Quế Hương:
- Hương con, mai con có rảnh kéo rốc cả nhà lại đây ăn cơm. Má có chuyện muốn
nói với con. Ủa, con đã gặp thằng dược sĩ đó rồi hả? Ừ, nó nhỏ nhẹ, khiêm tốn
thì má mừng. Con tỏ ra thông cảm vậy là tốt. Thôi nghe, mai nhớ tới sớm phụ làm
bếp với má. Ðể má kêu điện thoại cho vợ chồng con Ba. Nhớ bồng hai thằng hổ bôn
hổ bịch tới để má hun cho mát mẻ tim gan.
TẾT NÀY
ANH TRỞ VỀ
Cô Hai Nguyện săm soi mớ dưa giá trắng phau phau trong chiếc
thau nhôm. Cọng giá mập mạp thấy thương hết sức! Ðiểm vào đó là những cọng hẹ
xanh biếc. Tui có biệt tài nấu bất cứ món rau cải nào cũng giữ được màu xanh.
Rau lang luộc, rau cải trời luộc, rau giền, mồng tơi, bồ ngót, cao kỷ nấu canh
xanh tươi ngăn ngắt. Còn tui mà xào cải bẹ với thịt gà thì màu cải khi chưa vô
chảo chỉ xanh có bảy, đến khi ra dĩa nó xanh tới mười, vừa xanh vừa trong, đẹp
dễ sợ!
Năm nay cô Hai Nguyện tính ăn Tết tươm tất hơn năm ngoái. Cô đã lựa con cá lóc
vừa bự vừa mập để kho chung với thịt bắp đùi, nước kho phải bằng nước dừa xiêm
tươi thì cô mới bằng bụng. Có nồi thit cá kho chung đệm trứng luộc để dành ăn với
bánh tét hoặc bánh chưng của cô Ký người Bắc thì phải điệu quá rồi, ăn lai rai,
ăn hoài hoài tới hạ nêu cũng không ngán. Bánh tét ăn với món kho phải đệm thêm
dưa giá, dưa cải hoặc củ kiệu, củ hành ngâm giấm thì mới nổi vị mà không ngán.
Bởi vậy cô Hai Nguyện cùng hai đứa con gái lớn, Trang và Hiền, làm đủ thứ dưa.
Trang trổ tài làm khéo, mua củ cải trắng, cà rốt, đu đủ xanh để tỉa bông huê,
chim bướm trước khi ngâm giấm, coi vừa đẹp lại vừa ngon!
Sáng ba mươi tháng chạp ta, cô Hai Nguyện thở một cái phào, khoan khoái hết sức.
Nồi cá thịt cùng trứng luộc kho chung đã xong. Cô còn làm thêm nồi giò heo hầm
với măng, nồi khổ qua dồn thịt bằm với bún tàu, nấm mèo nước trong leo lẻo,
niêu tôm kho tàu nước gạch đỏ ối…Chiều nay cô mới mổ gà nấu cháo kèm gỏi gà trộn
bắp chuối, rau răm để cúng rước ông bà.
Cô Hai Nguyện đã lau chùi, quét tước nhà cửa, bàn thờ ông bà. Lư hương, chân
đèn, mâm cổ bồng đã đánh sáng loáng. Trên vách, cô treo bộ tranh tứ quí màu sắc
tươi rói. Trên các cột hàng ba, cô dán liễn bằng giấy hồng đơn, chữ thảo mực
tàu đen lánh. Năm nay cô chỉ mua một cặp cúc vạn thọ màu hoàng yến, một cặp mồng
gà lưỡi búa đỏ để bày trong sân. Bánh phồng, bánh tráng, bánh tét thì đã có má
cô là bà Hương kiểm Thiện ở chợ Trường an cho ê hề. Còn mứt thì cô mua ở chợ
Vĩnh Long. Hai hộp mứt hình trái tim gói giấy trang kim lấp lánh cài cái nơ
sa-teng hường coi mê quá! Trong hộp, mứt củ cải và mứt bí như giồi phấn, mứt khổ
qua tươi nước cốt cỏ rồng chầu xanh như cẩm thạch, mứt cà-rốt màu gạch mới, mứt
cà-chua đỏ như son tàu, mứt nào cũng khéo ơi là khéo, bỏ tiền ra mua giá phải
chăng, tội gì mà làm cho mệt để lãnh cái thua sút, thô kém!
Dữ ác! Năm nay không hiểu ông ứng bà hành gì mà cô Hai Nguyện phấn khởi đón
xuân như vậy? Năm năm qua, thằng bảy Huỳnh Kim Báu, thằng chồng trời đánh thánh
đâm của cô đã bỏ nhà theo vợ bé, trôi nổi ở chơn trời góc biển nào rồi. Hễ cở
mười năm mà nó không về, hoặc cô không tìm được tung tích nó, thì cô đành lấy
cái ngày nó ra đi để làm đám giỗ. Thây kệ, ai quấy ai sai có trời cao đất dày,
có nước mây cây cỏ chứng giám. Thằng Bảy kia dù gì cũng là tía của lũ con cô.
Bên chồng cô kể từ khi biết nó ăn ở tệ bạc với cô, họ đâm ra thương mến cô. Bởi
đó tuy giận nó, cô vẫn không nỡ để lũ con cô quên nguồn cội, tổ tông.
Năm năm qua, một thân đàn bà yếu đuối, cô Hai Nguyện vẫn phải đảm đương mọi việc
mưu sinh. Cô mua lúa đem tới nhà máy chà gạo rồi đem gạo ra bán ngoài chợ. Con
Trang vừa học xong đệ lục phải bỏ học ngồi trước rạp hát bóng Lạc Thanh bán quà
vặt như cốc, ổi, xoài dầm chua, me ngào đường…Con Hiền thì ở nhà coi việc bếp
núc, dọn dẹp. Chỉ có thằng Ðức được đi học. Nhờ trời thương Phật độ, má con cô
lần hồi đủ ăn. Tối tối Trang đi xuống cầu Cái Cá học nghề luôn áo vắt sổ nơi cô
Tám Kim Chi, em kế ba nó. Tới năm ngoái, bà nội nó mua cho nó cái máy vắt sổ để
nó trả góp. Nhờ luôn áo khéo, vắt sổ tính giá phải chăng nên nó có khá nhiều
khách hàng.
Năm nay con Trang mười tám, sáng đẹp như trăng rằm. Con nầy lanh lợi, biết phải
quấy, ăn nói mực thước, lớp lang nên được lối xóm mến yêu, bạn bè trang lứa nể
nang. Còn con Hiền mười lăm tuổi mà khờ khạo lắm! Nước da nó trắng hơn con
Trang, vóc vạc thanh cảnh, thân hình đã bắt đầu dậy mẩy. Chiều chiều nó ưa mượn
cáo quần xăng-đầm của cô Hai Nguyện mặc vào rồi kéo quần lên tới ngực buộc chặt,
nhảy xuống cái đìa bên hông nhà tắm lội đùng đùng như cù dậy. Một hôm ngủ đêm
sáng dậy, nó thấy máu từ quần loang ra ướt mền, ướt chiếu, nó hoảng hồn gọi cô
Hai Nguyện, mếu máo kể lể:” Má ơi, con hay tắm đìa nên chắc đĩa chui vô người
con làm ổ, máu me nhểu tùm lum đây nè!” Cô Hai an ủi: “Hễ làm đờn bà con gái, tới
tuổi dậy thì là mỗi tháng máu tuôn ra rỉ rả như vậy đó, không sao đâu con”.
Nhìn hai đứa con gái, cô Hai Nguyện tự hào, nhủ thầm: “Tui không được đẹp nên
không giữ nổi thằng chồng mắc dịch, bị nó phụ bạc bỏ lăn bỏ lóc. Bù lại, tui được
bầy con hiếu hạnh, ngoan ngoãn. Con Trang sắc sảo, con Hiền đoan trang, thằng Ðức
siêng năng, tuy giống ông già nó như đúc nhưng thằng tía nó mặt mày dúc dắc, lẳng
lơ bao nhiêu thì thằng con nghiêm trang, đằm thắm bấy nhiêu.
° ° °
Từ ngoài đầu ngõ, Trang và Hiền la chói lói:
- Má ơi, ba dìa! Ba dìa má ơi!
Cô Hai Nguyện đang ngồi xắt su hào, vụt đứng dậy, mặt xanh dờn như đờn bà xảo
thai. Nhưng cô không nhúc nhích, chơn cẳng như chôn chặt trong đất. Thằng Ðức
tưởng má nó chưa nghe kịp, nhắc:
- Ba dìa má à. Ba dìa thiệt mà!
Cô Hai Nguyện vụt tỉnh cơn bàng hoàng, ngây ngất. Thằng chồng ôn dịch của tui về?
Nó còn dám vác cái bản mặt chai mày đá về đây làm gì? Tưởng nó chết bờ chết bụi,
không bỏ xương trong miệng cọp thì cũng gởi thịt trong bụng sấu rồi chớ! Ai dè
nó còn xách đít về đây để tui tức thiếu điều trào máu hoè ra khỏi họng. Cô rít
lên:
- Thây kệ mồ nó!
Cô ngoe nguẩy ra ngoài vườn, ngồi trên cây sung gie ra mặt ao. Hừ, thằng khốn nạn
Bảy Báu, thằng chồng oan gia của cô, năm năm nay đi theo con Tư Mỹ Huệ, chẳng
hiểu nó có phỉ chí trong thú yêư đương, hay bị con dâm nương kia hành thân hoại
thể? Hồi nó gây gổ, bỏ cô đi theo con Tư, cô hăm he:
- Mầy đành đoạn bỏ tao mà đi theo bợ đít mấy con thúi thây lầy cốt, mai sau mầy
vác mặt về đây là chổi nhúng đường mương, chổi dọn chuồng heo tao sẽ quét mầy
ra khỏi nhà, biết chưa?
Tên Huỳnh Kim Báu đã mặt trơ trán bóng, bảo:
Con cá buôi quạt đuôi ra biển Bắc,
Bơi dọc lộc ngang, không chắc trở về.
Ôi năm năm qua, ngày ngàyb cô làm lụng đầu tắt mặt tối để kiếm miếng ăn. Ðêm
đêm, càng nghĩ tới thằng chồng lòng lang dạ thú kia mà tay chân cô lạnh ngắt,
ngực cô nặng trĩu, châu lụy cô tuôn rơi đồm độp:
Cu kêu từng cặp trên cây
Tào khương nghĩa nặng, sao mầy bỏ tao?
Ngồi trên cành sung, cô Hai Nguyện lắng tai nghe tiếng lao xao từ trên nhà vọng
tới. Có lẽ chòm xóm tới chào hỏi thằng chồng đi hoang của cô đó mà. Xời ơi, họ
chỉ biết nó là thằng hàng xóm dễ thương chớ đâu thèm biết tới cái tánh bạc bẽo,
ưa thay đào đổi mận của nó! Còn lũ con cô đó, bởi sợi dây huyết thống thiêng
liêng, thấy tía nó về là mừng rối rít. Lá rụng về cội mà! Tụi nó quên tưốt luốt
cái thói vô trách nhiệm của tía tụi nó, quên lúc tên Bảy Báu bỏ nhà ra đi, bốn
mẹ con đổ mồ hôi hột ra vật lộn kiếm miếng ăn, chơn chạy không bén đất. Ðã bao
phen đi bán gạo về, thay vì nghỉ ngơi, cô hăng hái ra sở rẩy sau nhà để săn sóc
mười luống dưa gang. Tháng bảy âm lịch vừa rồi, cô trúng mùa dưa. Cô bán mớ dưa
chín mềm, còn kỳ dư loại dưa cứng cạy, cô bán cho các vựa mắm để họ gài mắm. Vốn
là dân làng Tân Ngãi nên cô rất mát tay trồng dưa:
Dưa Tân Ngãi, bự trái dầy cơm,
Dẫu mình không nợ, không duơn,
Tháng bảy, tháng tám mau chơn trở về
Té ra, Tết nầy chồng cô trở về! Cơn giận làm trái tim cô nhảy ạch đụi trong lồng
ngực. Thiệt tình cô Hai Nguyện không oán cô Tư Mỹ Huệ. Cô có bao giờ gặp mặt
con tình địch nầy đâu! Nhiều lần cô suy nghĩ, biết Bảy Báu là thứ tham thanh
chưộng lạ, hết đèo con nọ tới xọ con kia. Cô đã từng nhiều phen trách ai tham
giấy bỏ bìa; khi thương, thương vội, khi lìa, lìa xa.. Chồng của cô nếu không
dính con Tư Mỹ Huệ vốn là gái điếm chợ Lách, thì cũng rượn theo con Bảy Kim
Hoàng ở Cái Nhum, cũng lẹo tẹo với con Mít con Xoài, cũng mê say con Ổi con Lựu
nào đó…Trước con Tư Mỹ Huệ, Bảy Báu cũng đã từng cặp xách hết con ngựa bà nầy lại
du dương mùi mẫn với con đĩ chó khác. Cô Hai Nguyện đã từng ốm o so bại, mình mẩy
mỏng lét, da dẻ xanh chành vì ghen. Ngày tối cô đâu có làm ăn gì cho an ổn được!
Cô cứ rình rập để bắt gian phu. Cô hết ghịt tóc lột quần tình đình lại đè đầu
đè cổ chồng ngắt véo, đánh vả. Cô phung phí hơi sức chửi bới la rầy chồng tới mỏi
miệng rát cổ, ran ngực thốn tim. Chồng cô lúc nào cũng nhịn cô, mặt mày lấm la
lấm lét, mắt mũi dớn dác, lơ láo… Vậy mà đời nào nó chừa thói ngoại tình, bỏ tật
phong nguyệt cho cô nhờ! Mà cắc cớ thay, ông trời ổng sanh chi cho cô cái tánh
lạc lòng. Chồng cô mỗi khi chán mèo hoặc bị mèo đá đít là quay về với cô, dùng
giọng kèn tiếng quyển lung lạc khiếng cô xiêu lòng ăn ở với nó, để nó bơm cho
cô một cái bầu bự chình ình. Hễ cô vừa đẻ xong là nó đánh lừa đánh đảo cô để đi
ve vãn, tò tí mấy con khác rồi quất ngựa chuối bôn đào.
° ° °
Bảy Báu xách chiếc valise bự tổ chảng, tay kia bồng một thằng
nhỏ cỡ hơn một tuổi đứng tần ngần trước ngõ. Trang vồn vã:
- Ba vô nhà đi ba, kẻo nắng. Không sao đâu!
Bảy Báu gượng làm tỉnh:
- Ừ, có sao đâu! Nhưng ba nhờ tụi bây năn nỉ má tụi bây dùm ba một tiếng.
Hiền rụt rè hỏi:
- Con của ai đây ba?
Bảy Báu tỉnh tuồng:
- Em của bây đó đa. Ba đặt tên nó là thằng Phước. Má nó chết rồi. Ba vừa làm tuần
bách nhật cho cổ hôm qua.
Ðứa nhỏ thiệt dễ thương, mập mạp trắng trẻo. Nó giuơng cặp mắt đen huyền như
hai hột nhãn, nhìn hai cô gái rồi cười hịch hạc, thấy thương đứt rưột. Trang sốt
sắng:
- Ba đưa em cho con bồng. Vô nhà mau đi ba.
Khi bốn cha con vô nhà thì Hiền đòi bồng em lấy hên rồi hun thằng nhỏ chùn chụt.
Trang giằng lấy thằng nhỏ, hun ngay cái nọng của nó, đả đớt:
- Mèn ơi, cưng của chị “Chang” thơm “xữa” quá “chời” quá đất!
Hiền xía vô nựng đứa nhỏ, miệng tía lia:
- “Chắng” gì mà “chắng” như dừa nạo, như bông bưởi vậy nè “chời”!
Thằng Phước nhột quá cười sằng sặc. Chu choa ơi, hoàn cảnh côi cút của đứa nhỏ
cùng sợi giây huyết thống đã làm hai cô gái yêu thương đứa em khác mẹ của mình
tức thời. Hai cô gái giống mẹ ở chỗ ưa con nít. Ba mẹ con hễ rảnh rang là dạo
xóm, thấy con ai cũng bồng, cũng hun hít, cũng nựng nịu. Cô Hai Nguyện ưa làm
bánh chuối, kẹo chuối để kêu tụi con nít lối xóm lại ăn.
Thằng Ðức lỏn lẻn nhìn cha rồi nhìn thằng Phước. Vì nhút nhát, nó không dám tới
gần để rờ rẫm hun hít, nhưng nó nhìn em nó bằng cặp mắt sáng quắc vì thèm thuồng
coi thiệt tức cười. Bảy Báu buông valise ở góc nhà một cái xạch rồi dựa ngửa
người trên ghế, hỏi:
- Má tụi bây đâu rồi?
Ðức xớt trả lời:
- Nghe tin ba dìa, má bỏ ra vườn sau rồi. Má cứ bụm mặt khóc ào ào…
Bảy Báu nhìn đứa con trai, ứa nước mắt:
- Ðức lại đây!
Ðức ngoan ngoãn bước lại gần cha. Bảy Báu vuốt ve con trai, ngậm ngùi:
- Thiệt thằng con tui mau lớn quá! Năm nay con ngồi lớp mấy?
Ðức thỏ thẻ:
- Dạ con học lớp đệ thất rồi ba. Con thi nhảy lớp hồi năm ngoái, nghĩa là từ lớp
nhứt con thi thẳng một lèo vô đệ thất chớ không cần ngồi lớp tiếp liên.
Bảy Báu đỏ mặt vì ăn năn, hổ thẹn, nước mắt chảy ròng ròng. Sau cùng, anh ta
nói vắn tắt:
- Con học giỏi là ba mừng.
Vừa thấy Bảy Báu cà rà trước ngõ, bà Năm Thẹo ở gần bên, cách hàng rào xương rồng,
đã lập lờ lập lượn sau cánh cổng để nghe ngóng. Rồi kế đó bà chạy qua nhà thím
Năm Én, nhà cô Bảy Ơn rủ họ nhập bọn qua nhà cô Hai Nguyện. Liền sau đó, bà
Chín Ích ở đối diện nhà bà Năm Thẹo cũng lạch bạch bước qua, miệng ong óng:
- Bây chờ tao đi với chớ!
Bà Năm Thẹo tuôn vô nhà cô Hai Nguyện trước hết, cười ỏn ẻn:
- Nghe thằng Bảy mầy dìa nên tao rủ chị Chín với mấy con lủng, con lành qua
thăm.
Bà Chín Ích nhìn thằng Phước trầm trồ:
- Chèn ơi, thằng nhỏ giống cháu Bảy quá chừng chừng!
Cô Bảy Ơn nói:
- Thiệt tình, chị Bảy khi khổng khi không có thằng con dễ thương quá!
Thím Năm suýt soa:
- Tui nghĩ rằng ông trời thương chị Bảy nên Tết nầy ông lì xì cho chỉ đứa con
trai nầy. Con Trang, con Hiền, thằng Ðức đều thua nó màu da trắng.
Phút chốc chòm xóm bu tới, ồn ào bàn tán. Cô Hai Nguyện từ ngoài vườn bước vào,
mặt trắng bệch như sáp, mắt chau quảu ngút lửa. Cô hét:
- Ai vào đây làm giặc, nổi loạn đó vậy?
Bảy Báu làm tỉnh, đứng dậy:
- Qua đây, em Hai. Bảy Báu, chồng của em dìa ăn Tết với vợ con đây!
Cô Hai Nguyện xáng cho chồng một cái nhìn sấm sét:
- Báu nào? Báo đời, báo hại chớ quí báu gì nà! Mà thôi, nhà tui là nhà mần ăn,
không chứa cái phường mèo mả gà đồng, cái quân mèo đàng chó điếm, thầy nghe
chưa? Thầy làm ơn xách gói đi chỗ khác, chỗ nào có mấy con dâm phụ chuyên môn
cướp giựt chồng người. Thầy còn nấn ná chần chờ thì tui sẽ lấy chổi quét cứt
gà, chổi tẩm cứt heo quét thầy xuống đường mương cho thầy coi.
Bảy Báu nhăn nhó:
- Tội nghiệp qua lắm mình ôi. Mình hãy cho qua phân giải đôi lời.
Cô Hai Nguyện nhảy đong đỏng:
- Thầy đã phân giải nhiều lần rồi. Tui cũng đã lạt lòng nhiều quá rồi. Không
mình không đầu gì nữa hết! Thầy hãy cuốn gói cho lẹ để mẹ con tui ăn Tết.
Nói được những tiếng thô nhám như đá ong, cứng nặng như đá xanh đó, cơn giận cô
hạ xuống, rút biệt một cái rột như nước lọt qua miệng cống.
Bà Năm Thẹo tằng hắng can:
- Thôi cho tao can đi! Mầy cũng để cho thằng chồng mầy phân bua phải quấy đôi lời
chớ! Hễ nó vừa mở miệng là mầy nạt nhào thì còn non nước gì!
Thím Năm Én khuyên:
- Hai, em phải nghe lời bác Năm, bác Chín. Chị cũng can em. Bổn phận làm vợ là
phải nể nang, ngọt dịu với chồng. Nó dẫu ăn ở quấy với em thì có trời cao chứng
giám, có bà con láng giềng chê cười nó. Nhưng nếu em mà gay gắt với nó quá thì
té ra em cũng quấy theo nó hay sao? Gắt quá thì nó nổ đa em! Hễ mọi sự nổ tanh
banh tét bét thì mụ nội ai mà hàn gắn lành lặn như xưa?
Cô Hai Nguyện quét mắt qua khắp bà con hàng xóm láng giềng. Coi bộ ai cũng có ý
binh vực thằng chồng dâm bôn bạc bẽo của cô. Cô nhìn con Hiền bồng đứa nhỏ. Mèn
đéc ơi, thằng nhỏ coi giống hịt thằng Bảy Huỳnh Kim Báu quá trời quá đất! Nó
ngó cô, hả miệng chim dòng dọc ra cười hịch hạc, bày cái nướu màu hồng tươi vừa
nhú mấy cái răng sữa lùn tịt. Chèn ơi, nụ cười nó giống nụ cười tía nó quá chừng
chừng! Bởi nụ cười đó mà hồi mười tám năm về trước, cô lén ăn cắp tiền bạc vòng
vàng của tía má cô để đi theo tiếng gọi của trái tim. Trái tim cô lúc nào mà chẳng
dại dột! Nụ cười đó đã từng hóa giải tủi hờn, căm tức nơi cô mỗi khi thằng Bảy
Báu bị mèo đá xất bất xang bang bò về. Cô Hai Nguyện hét:
- Con cái ai đây?
Bảy Báu ấp úng:
- Thì…nó là con của…qua. Qua bồng nó về đây cho em nuôi làm phước.
- Ê, đùng có giỡn nghe cha nội! Cây không trồng, lòng không tiếc; con không đẻ,
mẹ ghẻ không thương
Cô Bảy Ơn khuyên lơn:
- Chị Bảy, em khuyên chị bớt nóng. Thiệt tình chị nóng cũng phải, chẳng ai dám
trách chị chút nào. Anh Bảy bậy quá, sái quấy lung lắm . Em mà ở vô hoàn cảnh
chị, em cũng giống như chị vậy, cũng tức bể ngực rồi hộc máu cả chậu cả vịm chớ
không vừa. Nhưng mà xin chị suy cho cùng, nghĩ cho cạn. Nếu chị nóng quá mất
khôn, làm cho gia cang xào xáo thì tụi nhỏ khốn đốn, gẫm có ích lợi gì đâu! Xin
chị cho ảnh ăn năn chuộc tội.
Cô Hai Nguyện rống lên khóc:
- Ðây đâu có phải lần đầu nó vác mặt mo mặt thớt về đâu? Tui nuôi nó lúc nó thất
cơ lỡ vận để rồi khi sung sức mập thây, nó xách đít đi đép bậy cho ốm o so bại,
thân tàn ma dại rồi mới trở về. Một lần, hai lần thì còn bỏ qua được, chớ lần nầy
thì nhứt quá cửu, quá thập rồi chớ đâu phải quá tam! Nó đội vàng cả thúng, hột
xoàn cả tráp về đây tui không ham nữa là!
Bà Chín Ích xía vô ỉ ôi:
- Con vợ thằng Bảy nè. Con phải nghe lời má Chín lần nầy. Chồng con trở về đây
tốt tươi phi mỹ chớ không te tua bèo nhèo, không rách rưới đói khát. Nó ăn bận
như thầy thông thầy ký ở đất thầy-gòn đó con. Nó về đây chắc có duyên cớ gì đó
chớ không phải mong nhờ hột cơm của con đâu! Vợ chồng bây có thể hiểu nhau, chớ
người ngoài làm sao tỏ tường trong đục! Vậy con gắng nuốt giận, nghe nó cạn
phân bày giải. Má Chín khuyên con đùng tỏ ra lấn lướt với kẻ lép vế, thất thế
hơn mình. Không nên đâu con!
Thấy chưa? Chỉ vừa thấy thằng nhỏ mà coi bộ bà con lối xóm đều ngã rạp về phía
tên Bảy Báu hết trọi. Họ thấy đứa nhỏ mồ côi mồ cút chớ họ làm sao thấy lúc cô
canh khuya trằn trọc, tủi phận bị chồng chán, chồng chê, não nề lo gánh mưu
sinh cho bầy con dại? Té ra tên Bảy ó đâm nầy sanh ra để được thương yêu dung
thứ. Còn cô sanh ra để làm nạn nhơn của nó cho tới tim bảy lỗ héo khô, gan bảy
lá héo hắt mà người ngoại cuộc đương thèm biết tới.
Bỗng đứa nhỏ bị con Hiền ôm chặt khóc ré lên. Thằng Ðức vụt chạy lại ôm tía nó,
khóc rống:
- Ba ơi, ba đừng đi đâu hết! Má ơi, má đừng để ba bồng em cho bà phước xóm đạo
nghe má! Em con dễ thương quá má à!
Mấy bà lối xóm cùng khóc ngon khóc ngọt theo thằng Ðức.
° ° °
Khi lối xóm về hết, cô Hai Nguyện xuống bếp bắt con cá lóc rọng
trong vịm rq cạo vẩy. Cô hỏi Trang:
- Tía mầy đâu rồi?
- Ông Năm Thẹo mời tía qua cụng ly bên bển rồi.
- Còn con Hiền đâu?
- Nó bồng thằng Phước qua nhà thím Năm Én mượn cái bình sữa và núm vú cao su.
Cô Hai Nguyện trề môi:
- Tía mầy là thứ đờn ông hư thúi. Vừa về tới nhà là liệng va-ly cái xạch nên
bình sữa mới bể hai bể ba như vầy….
Bảy Báu chỉ dám nhậu sương sương với ông Năm Thẹo rồi lật đật trở về nhà kẻo vợ
quở, vợ rầy. Cô Hai Nguyện và Trang lo nấu, dọn cơm trưa. Cô dặn cô trưởng nữ của
minh:
- Con lên nhà trên mời tía con rửa mặt, thay đồ mát đi. Cơm nước xong, con nhớ
gói bánh tét, bánh dừa để tối nay má luộc. Chút nữa má ra chợ Vãng mua bình sữa,
xà bông, khăn lau,thau chậu cho thằng Phước.
Hiền mượn được bình sữa, bồng em về nhà. Cơm canh chưa xong nhưng cô Hai Nguyện
đã dọn chén, bày bàn sẵn. Cô rửa tay sạch sẽ, bồng đứa nhỏ. Thằng nầy dễ thương
thiệt mà. Cô vừa bồng nó là nó rúc đầu vô ngực cô làm cô bồi hồi xúc động. Nó lại
cười tít toát, thấy ghét hết sức! Nhưng cô Hai Nguyện chưa hun nó liền đâu. Cô
tự hỏi mình có thể yêu thương nó thiệt tình không? Cô chưa biết mặt má nó lần
nào. Cô chỉ có thể hình dung má nó qua khuôn mặt của những tình địch khác: mắt
con nầy, mũi con kia, tóc tai con nọ, hình vóc con khác nữa…Mà lạ dữ! Thiệt
tình cô chẳng ghét con nào hết. Bao nhiêu việc oan trái cũng do cái tánh chuộng
trăng hoa, ưa đào đĩ của tên Bảy Báu mà ra. Nếu nó không có tâm địa uốn éo ruột
rồng, lòng vòng ruột rắn, lắn quắn ruột dê thì chẳng có con nào có thể nhảy vào
cuộc sống lứa đôi của cô để ăn mót hoặc cướp giựt hạnh phúc của cô được hết. Bởi
chồng cô già không bỏ, nhỏ không tha, tươi như hoa nó liền mê lú, xấu như ục cú
nó cũng say sưa…như vậy thì con đờn bà nào cũng có thể để nó dê, nó nịch ái ráo
trọi. Nhưng mà trời ơi, dù cô đã khóc cả thùng, cả thau, cả xô nước mắt vì sự bạc
bẽo của chồng, nhưng lòng cô vẫn sẵn sàng dọn một chỗ tha thứ đợi nhày nó trở về.
Trang làm bình sữa xong, đem lại mẹ. Cô Hai Nguyện cho thằng Phước bú. Và khi
bình sữa chưa cạn thì nó đã ngủ khò, miệng thỉnh thoảng mỉm cười. Cô Hai Nguyện
đặt nó lên vạt tre trải chiếu đậu, rồi đắp mền mỏng lên tận ngực nó. Thằng Ðức
cứ cà rà bên em ngắm nghía, lâu lâu hun lên đôi má măng sữa của nó.
Bảy Báu rửa mặt chải đầu, thay đồ mát xong. Biết là vợ bớt cơn thịnh nộ, anh ta
giả bộ ra sàn nước rủa chơn rồi mang guốc lóc cóc tới bên vợ nói nhỏ:
- Mình! Bảy Huỳnh Kim Báu, chồng mình dìa với mình đây nè, mình.
Cô Hai Nguyện quắc mắt khi thấy Bảy Báu chờn vờn muốn ôm mình:
- Anh chớ rớ tới tui. Anh mà xáp lại gần là tui tri hô anh muốn ám sát tui, nói
cho anh biết.
Bảy Báu tha thiết:
- Mình ôi, anh dìa đây là quyết lòng trụ luôn bên mình cho tới mãn đời suốt kiếp.
Anh đã chán ngán việc mèo đàng chó điếm rồi. Khi má thằng Phước lâm chung có dặn
anh quay về với mình vá bắt anh thề dứt bỏ chuyện én anh, ong bướm để tạo dựng
nghiệp nhà.
Cô Hai Nguyện trề môi:
- Nói dóc! Con Tư Mỹ Huệ đó mà kể số gì tới tui. Ðừng có xạo nghe cha nội! Con
này ăn cơm bảy phủ, dạo đủ khắp nơi, nó đâu có khờ như anh tưởng!
Bảy Báu giọt dài giọt vắn:
- Má thằng Phước không phải là cô Tư Mỹ Huệ đâu!
Cô Hai Nguyện chưng hững:
- Ủa! Vậy chớ con nào?
Bảy Báu kể vắn tắt:
- Khi qua đưa cô Tư Mỹ Huệ lên Tân Châu lập nghiệp thì cổ tình cờ gặp lại thằng
chồng cũ. Ông bà mình thường nói : “Vợ chồng cũ không rũ cũng tới” nên cổ đành
đoạn bỏ qua để về với thằng cha đó. Cả hai dắt nhau qua Hồng Ngự mần ăn. Riêng
qua thì dẫu gặp cảnh xất bất xang bang thì cũng không còn mặt mũi nào về với
mình. Qua nhờ nghề chích dạo kiếm ăn rồi gặp má thằng Phước tức cô Hai Lành con
gái thầy Hương quản Nên…Cổ làm cô mụ vường mát tay lắm, tiền kiếm bộn bàng
nhưng duyên số hẩm hiu nên mãi ba mươi ngoài mà cổ còn ở vá. Cùi mít trôi lên gặp
cùi thơm trôi xuống, cả hai gá nghĩaq bậy với nhau mà ăn nên làm ra. Bởi qua xử
tệ với mình nên trời không cho qua hưởng trọn cảnh êm ấm với cô Hai Lành cho tới
mãn kiếp. Ðẻ thằng Phước xong một tháng là cô Hai đau dây dưa gần một năm rồi
nhắm mắt qua đời…
Món canh chua cá lóc với bạc hà do Trang nấu ngon dễ sợ. Trong bữa cơm trưa hôm
đó, Bảy Báu hỏi han vợ con đủ thứ.
Hiền mặc cái áo lụa màu hoàng yến, đeo sợi giây chuyền bướm lóng lánh, dịu dàng
bảo mẹ:
- Má cứ ở nhà hủ hỉ với ba, con đón xe ngựa ra chợ Vãng mua sắm vật dụng cho thằng
Phước. Con có nấu nước bồ kết và hái chanh cho má gội đầu.
Cô Hai Nguyện ôn tồn:
- Con nhớ mua phấn trị sảy, xà bông thơm, rượu chổi cho em con. Về sữa, con nhớ
mua sữa hiệu Con chim chớ đừng mua hiệu khác. Nhớ mau về nghe con. Má cần đủ thứ
bộ vận để tắm rửa cho nó.
Khi thằng Phước thức dậy, thằng Ðức giành bồng em đi dạo xóm. Cô Hai dặn dò:
- Nhớ đừng bồng em ra chỗ nắng nôi, gíó máy mà nó ấm đầu sổ mũi nghe hôn con!
Rồi cô dặn Trang:
- Con Trang nhớ làm gà nấu cháo và trộn gỏi bắp chuối để ba con rước ông bà về
ăn Tết với con cháu. Tối nay con nhớ ủi quần áo cho cả nhà. Cúng tất, hạ nêu
xong, má sẽ đi chuộc bùa trừ tà tróc quái cho em con ăn chơi, mau lớn.
Tết nầy cô Hai Nguyện mua xấp lụa cẩm vân màu cánh sen, xấp lụa hồng đào để may
áo dài cho Trang. Cô mua xấp cẩm nhung màu hoàng yến và xấp nhiễu tím may áo
dài cho Hiền. Còn thằng Ðức, cô sắm cho nó chiếc quần tây bằng nỉ xám, áo sơ-mi
trắng bằng tít-so và đôi giày xăng-đan.
Sực thấy chồng cứ theo tò tò bên mình, cô hỏi:
- Còn ông tía non nầy, ông uống trà hay ưống cà-phê thì nói một tiếng cho tui
biết để tui làm?
Bảy Báu cười mơn:
- Mình cho gì thì uống nấy.
Cô Hai Nguyện nguýt chồng rồi lủi xuống bếp, lầu bầu lẩm bẩm:
- Cái thứ trời đánh thánh đâm như anh, uống nước cống, nước đường mương mới
đáng, ở đó mà uống cà phê, uống trà…
Nói vậy, nhưng cô vẫn pha một tách cà phê cho chồng và không quên pha thêm một
bình trà Xiểu Chủng.
Xế xế, cô Hai Nguyện gội đầu bằng nước bồ kết vàn nước cốt chanh tươi. Hôm nay
là ngày ba mươi tháng chạp, cô Hai Nguyện theo thường lệ, tắm rửa và gội đầu để
xả xui.
Bữa cơm chiều, vì để mừng ngày phu thê tái hiệp, cô Hai Nguyện làm thêm vài món
nhậu tươm tất cho chồng như nem cá cơm ăn với thịt phay, bún, rau sống; như gỏi
sứa tôm thịt…
Tối hôm đó, Trang và Hiền tình nguyện thức canh nồi bánh tét, bánh dừa cùng nồi
luộc đầu heo, lòng heo.
Vợ chồng lâu ngày tái hiệp, ân ái thiệt mặn nồng. Thằng Ðức nằm ngủ ở vạt tre
kê giáp tấm vách ngăn buồng cô Hai, nửa đêm thức giấc, nghe tiếng lào xào của
cha mẹ.
Tối hôm nay, cô Hai Nguyện mặc chiếc áo bà ba lụa tím, quần lãnh trơn cặp lưng
bằng nhiễu màu hường cánh sen, chơn đi guốc sơn đen. Khi cô ra ngoài trung đường
thắpnhang, cúng nước trở vào thì thấy Bảy Báu mở valise lôi ra một cái gói
vuông bọc mo cau. Anh ta mở gói, bày những phiến vàng lá, bảo vợ:
- Bốn chục lượng vàng đó. Xứ Tân Châu dễ làm ăn hơn ở đây nhiều. Qua tặng mình
hết để làm vốn, đặng cho hai đứa con gái mình rảnh rang kiếm cách học thêm.
Cô Hai Nguyện nhìn sững chồng rồi gói vàng lại, cẩn thận cất vô tủ. Cô nhỏ nhẹ:
- Mình cứ ngủ đi. Em sửa soạn cúng giao thừa đây.
Giao thừa tới. Pháo chuột, pháo tre hàng xóm nổ vang. Thằng Phước giật mình
khóc ré. Cô Hai Nguyện cúng kiếng xong, lại bồng nó, dỗ nó ngủ lại. Bảy Báu ăn
mặc chỉnh tề, bước ra phòng khách, bảo vợ:
- Mình kêu sắp nhỏ ăn mặc đàng hoàng để mừng tuổi vợ chồng mình.
Bảy Báu lì xì cho Trang chiếc kiềng chạm, cho Hiền chiếc kiềng trơn kèm chiếc
nhẫn nhận hột cẩm thạch hình hột dưa. Thằng Ðức thì được chiếc đồng hồ đeo tay.
Trước khi xuống bếp vớt bánh tét dừa đặt vào rổ cho ráo nước, Trang hỏi mẹ:
- Năm nay con gì ra đời vậy má?
Cô Hai Nguyện trầm ngâm:
- Má chẳng nghe con gì ra đời hết! À, lúc giao thừa, em con giựt mình khóc om
sòm. Vậy là con trống ra đời đó. Con trống nầy tên Phước, tức nhiên nó đem phước
tới cho nhà mình.
Khi trở về buồng, Bảy Báu ôm chặt vợ vào lòng. Anh ta thấy giờ đây vợ mình mặn
mòi quá cỡ, môi má đỏ au chớ không xanh xao như chầu xưa. Anh ta ứa nước mắt:
- Kiếp trước chắc anh tu kỹ nên kiếp nầu được trời ban thưởng cho một người vợ
hiền như mình.
Cô Hai Nguyện nguýt:
- Xạo vừa vừa chớ! Em đã bao phen bầm dập bởi lời ỏn thót của mình rồi. Mình về
đây được…
Cô toan nói rằng mình về đây được ngày nào là em mừng ngày đó, nhưng cô ngưng
ngang vì đó là câu nói gở, gây điềm xuì xẻo. Cô nằm bên chồng, cất giọng ngọt
lìm lịm:
- Ra giêng, mình nhớ đem hình má thằng Phước hoạ lớn để thờ. Em muốn vong linh
má nó theo phù hộ cho nó mạnh khoẻ, ăn chơi….
HÌNH ẢNH NGƯỜI MẸ
Má của Hạnh chết lúc Hạnh lên ba tuổi. Tới năm bảy tuổi Hạnh
không sao mường tượng nổi hình ảnh mẹ mình vì tấm di ảnh của mẹ trên bàn thờ
quá lu mờ. Hạnh sống với ba và ông Bảy Liệu, người tớ già trung thành của ba.
Ba vốn ít nói, ông Bảy Liệu lại càng ít nói hơn. Tuy cả hai chăm sóc Hạnh khá
châu đáo, nhưng ít khi bồng ẵm, nựng nịu Hạnh. Từ sáu tuổi, Hạnh được cắp sách
đến trường tiểu học Thiềng Ðức vốn là ngôi đình làng, ngay bên cạnh nhà.
Vì sống cô đơn bên cạnh hai người lầm lì, Hạnh cũng lây tánh ít nói. Hạnh hiền
lành nhưng hay nổi cộc. Lũ bạn không ưa Hạnh nhưng không đứa nào dám ăn hiếp Hạnh
vì Hạnh học giỏi, Hạnh trả đũa đích đáng đứa nào chọc phá Hạnh, do đó Hạnh
không có bạn. Sự cô đơn làm cho Hạnh càng thêm lầm lì, khắc khổ. Hạnh không biết
làm gì hơn là chúi mũi vào bài vở nhà trường.
Từ lúc Hạnh lên bảy tuổi, ba Hạnh cho Hạnh ở buồng riêng. Phòng của ba quét nước
vôi trộn a dao màu thiên thanh, rèm màn thêu đục lỗ màu trắng tinh khiết. Gương
lớn treo ở đầu giường và trên tấm vách áp chơn giường. Hễ ai nằm trong giường sẽ
thấy bóng mình hiện chập chờn trong hệ thống gương soi đối diện nhau.
Một đêm nọ ba đi chơi về trễ, Hạnh ngủ từ lúc 9 giờ tối như thường lệ. Nửa đêm,
Hạnh thức giấc vì có tiếng cười rúc rích ở buồng ba. Tiếng người đờn bà nhỏng
nhẻo :
- Ðồ quỉ gì đâu á! Hai tấm kiếng soi rõ cảnh hai đứa mình như coi hát bóng vậy!
Tiếng ba năn nỉ :
- Ðừng có giỡn hớt. Ðể cho thằng con anh ngủ.
Vậy là ở buồng ba có một người đờn bà lạ. Từ hồi hiểu biết cho tới giờ, Hạnh mới
thấy có một người đờn bà trong nhà. Ngôi nhà gồm ba thế hệ : một già, một tráng
niên, một đứa nhỏ ở ba căn buồng riêng biệt nhau. Buồng ba và buồng Hạnh ở từng
trệt, buồng ông Bảy Liệu ở trên gác. Buồng nào cũng tươm tất, sạch sẽ. Căn gác
rộng, cửa sổ lớn. Vì có bóng hai cây vú sữa che kín nóc nhà nên căn gác mát mẻ.
Dù vậy, căn nhà từ bao lâu nay dường như thiếu sinh khí. Cây cao bóng mát thâm
u, vách tường rào vây bọc kín đáo, lạnh lùng. Hàng ba cũng rợp bóng cây nhãn,
cây mận, cây sa-bô-chê. Ánh sáng ít khi lọt vào trung đường. Cái hoang vắng thê
lương của ngôi nhà lọt vào tâm hồn Hạnh quá sâu đậm, đóng băng luôn ở đó, cho
nên khi tiếp xúc với cái ồn ào của sân trường, lớp học, Hạnh cảm thấy mình
không thể hoà nhập. Vào giờ ra chơi, Hạnh lặng lẽ đứng ở góc sân trường hay ở
chỗ khuất lánh. Lũ bạn không chơi với Hạnh không phải vì tụi nó ghét Hạnh mà vì
chúng không tìm thấy ở Hạnh điểm nào hấp dẫn, lôi cuốn để chúng dây dưa tiếp
xúc.
Từ 10 tuổi, Hạnh đã bắt đầu đọc truyện cổ tích, đọc truyện thơ. Truyện Phạm Công
Cúc Hoa làm Hạnh bần thần dã dượi. Nhứt là ở đoạn hai đứa trẻ mồ côi là Nghi
Xuân, Tấn Lực bị bà dì ghẻ đuổi ra khỏi nhà, lang thang đi tìm cha là Phạm Công
đang trấn đóng ở một thị trấn xa. Tụi nó vào một đêm tối trời tới bên mộ mẹ, mệt
quá ngủ thiếp đi. Cúc Hoa hiện hồn về bắt chí cho Nghi Xuân, rửa mặt chải đầu
cho Tấn Lực, chỉ đường về nơi Phạm Công trấn đóng để cho cha con đoàn viên… Ðó
là một buổi tối, bên ngoài mưa gió đầy trời. Tại phòng khách, ánh đèn nê-ông rọi
sáng một cảnh sum họp tẻ ngắt. Ba ngồi tính toán sổ sách ở bàn làm việc. Hạnh
ngồi trên ghế xích đu đọc sách. Còn ông Bảy Liệu lo lau chùi chiếc xe đạp hiệu
Urago mới mua của ba cho thiệt bóng loáng.
Lúc đọc tới đoạn gà bắt đầu gáy sáng, Cúc Hoa từ giã hai con để về chốn Dạ Ðài,
Hạnh không nén được xúc động, ngọn trào lòng từ đáy tim, từ góc sâu thẳm của
tâm hồn Hạnh trào ra khiến Hạnh hực lên một tiếng khô khốc, rồi cơn khóc ào tới,
lay động toàn thân Hạnh, nước mắt tuôn như suối.
Ba sửng sốt buông viết chạy tới bên Hạnh. Thấy quyển Phạm Công Cúc Hoa nằm trên
nền gạch ba chợt hiểu, ôm chầm lấy Hạnh, vỗ về :
- Hạnh! Nín đi con|
Ðêm đó, Hạnh được ngủ chung với ba. Trong giấc ngủ chập chờn, lụn vụn, Hạnh mơ
màng thấy ba thỉnh thoảng đặt môi lên tóc, lên trán Hạnh. Ðó là đêm duy nhứt ba
tỏ ra thương yêu Hạnh. Nhưng ba chẳng nói câu nào ngọt ngào, thân ái để sưởi ấm
thêm tâm hồn con mình.
Và từ đó cho tới khi có sự xuất hiện của người đờn bà lạ trong nhà, Hạnh đã bao
lần muốn hỏi xin ba kể cho Hạnh nghe những chuyện thuộc về mẹ Hạnh. Nhưng nét mặt
lầm lì của ba làm Hạnh khiếp sợ, không dám thốt ra tiếng nào mỗi khi Hạnh đối
diện ba.
Bên kia buồng, tiếng người đờn bà lại cất lên :
- Hình thằng con anh đây hả? Chèn ơi, nó giống anh quá! Ðể em làm mẹ nó, săn
sóc nó cho tiện.
Tiếng ba vui vẻ :
- Cứ nói bậy đi! Con vợ anh hiện hồn về vặn cổ em cho coi.
Người đờn bà véo von : :
- Em hổng sợ đâu! Chị Ba đầu thai từ lâu rồi!
Giọng ngưòi đờn bà nhún nhẩy, linh hoạt, đượm âm sắc nhõng nhẽo nghe thiệt gợi
cảm. Nhưng còn nhỏ Hạnh không để ý lắm, thiếp dần trong giấc ngủ thoải mái cho
đến khi ánh ban mai trắng xoá lòn qua khe cửa lá sách.
Ngoài phòng sách có tiếng ba huýt sáo một điệu nhạc cũng nhún nhẩy và vui tươi
như tiếng cười của người đờn bà đêm qua. Hạnh bưóc xuống giường, rời phòng ngủ
đi xuống bàn ăn. Ở đó bữa ăn sáng gồm có cháo trắng, củ cải mặn, trứng muối, thịt
kho rim, cà phê đã dọn sẵn.
Khi ba kéo ghế ngồi vào bàn thì người đờn bà từ ngoài vườn bước vào, tay ôm một
bó bông lớn gồm có bông huệ, bông sao nhái, bông cẩm nhung. Chị ta nhìn cái độc
bình bằng sứ tráng men nâu vàng, miệng phóng thanh inh ỏi :
- Chèn ơi, hổng dè anh đã bày bình sẵn cho em. Nè, anh coi bó bông em hái trong
vườn : bông huệ còn búp dễ thương hông? Nè, bông cẩm nhung ở đây tốt thiệt,
cánh bông lớn, nhánh lá dài sọc thiệt đẹp! Ðể em bày một bình bông thiệt chiến,
thiệt bảnh cho anh thưởng thức.
Và chưa kịp cắm bông vào độc bình, chị ta nhìn qua Hạnh lăng líu :
- Thằng Hạnh đây hả anh Ba? Cặp mắt nó giống cặp mắt chị Ba quá chừng chừng! Mắt
nầy là mắt nhung đó đa. Thằng nầy giống tía nhiều hơn giống má. Cặp mắt nầy mai
sau luyện nhỡn kiếm, ngó cô nào là thấy hết những gì bị quần áo che kín.
Ba cười cúc cúc :
- Ăn nói tầm ruồng hoài!
Người đờn bà tới gần vuốt tóc Hạnh, kéo Hạnh sát vào người mình. Hạnh cứ để yên
cho chị ta bày tỏ niềm thương mến. Mùi dầu thơm, mùi son phấn của chị ta làm Hạnh
choáng ngợp. Chị ta có cái mũi hơi ngắn, cặp mắt hơi nhỏ, cái miệng cá chim
chúm chím nên cặp môi có vẻ nũng nịu. Chị mặc chiếc áo túi bằng lụa tím, phơi
hai cánh tay no nưỡng và trắng phau. Chiếc quần sa-teng lóng mướt càng làm cho
bàn chân chị thêm trắng, gót son quí phái của chị thêm phần xinh đẹp. Miệng chị
tía lia :
- Thằng nhỏ dễ thương quá, anh Ba! Anh cho em đi. Em cho nó học trường Tây. Hay
thôi, anh cưới em để em làm má nó cho gọn.
Bàn tay của chị đờn bà là bàn tay búp măng, ngón mũi viết suôn suôn, mu bàn tay
mềm mại, cườm tay thon và óng ả, móng tay chuốt khéo bôi vẹc-ni màu đỏ như huyết
bồ câu. Chị ta vuốt ve, mơn man vai Hạnh, tái diễn cử chỉ trìu mến của ba trong
đêm Hạnh đươc ngủ chung với ba. Niềm ấm áp như len lỏi vô mọi ngõ ngách trong
tim Hạnh, làm mắt Hạnh rưng rưng lệ. Ba nhìn sững Hạnh. Chắc ba không thể ngờ ẩn
trong vẻ lầm lì, lạnh lẽo của Hạnh là một trái tim nhạy và đa cảm. Ba không nói
gì, rút khăn mù-soa ra lau nước mắt cho Hạnh. Nhưng người đờn bà thì cười hăng
hắc, bảo Hạnh :
- Chắc con thấy cô, con nhớ má con chớ gì? Thôi, ngồi xuống đây ăn lót lòng đi,
rồi cô dắt con đi chợ, mua đồ chơi cho con.
Rồi chị ta chắc lưõi rên rỉ :
- Em đẻ lần thứ nhứt một con a huờn, lần thứ nhì một con tỉ tất, lần thứ ba một
con thị tì, rồi nín đẻ luôn. Em thèm con trai quá anh ơi! Chưa bốn mươi tuổi mà
em đã sượng ngắt!
Hạnh kêu người đờn bà đó là cô Lucie. Về sau Hạnh mới biết cô ta vốn là bạn lối
xóm của mẹ Hạnh. Vì cô chửa hoang nên bỏ xóm bỏ làng lên Sài gòn. Cô có ba đứa
con gái, mỗi đứa một cha. Ðứa con thứ ba là đầm lai vì cô hiện giờ làm vợ thằng
Tây chủ hãng la-de BGI già ngắt.
Cô Lucie hứa dẫn Hạnh đi chợ mua đồ chơi mà cô lại quên. Nhưng trong tuần lễ cô
ở chơi nhà Hạnh, cô trổ tài nấu nướng nhiều món lạ cho cha con Hạnh và ông Bảy
Liệu thưởng thức. Cô cười giỡn, đía dóc, giễu cợt huyên thuyên, nhưng khi vô buồng
ba Hạnh là cô im thin thít. Lúc đó là nhằm mùa bãi trường nên Hạnh được ở nhà
quanh quẩn theo cô Lucie. Bàn tay mềm mại của cô là bàn tay hay vuốt ve. Gặp
con mèo tam thể cô cũng ôm trên tay nựng nịu hồi lâu mới đuổi : “A lê, đi chỗ
khác chơi!”. Con gà con đi lẫm đẫm ngoài sân, cô cũng tóm cho được để ve vuốt
vài cái. Hễ thấy Hạnh đứng buồn hiu hiu bên gốc cây nhãn là cô kêu Hạnh lại,
tay cô sửa lại cổ áo cho Hạnh, sửa lại đường ngôi trên tóc Hạnh. Có bận cô
nhúng khăn lông vào nước mát rượi để lau mặt cho Hạnh, nhìn sâu vào mắt Hạnh,
cười:
- Con mà biết ăn nói bải buôi, mai sau con sẽ đắt mèo.
Và cô vuốt ve Hạnh thật lâu, miệng lẩm bẩm:
- Tội nghiệp quá! Con mà thiếu mẹ…
Cô bỏ lửng câu nói, cười che lấp xúc động.
Hạnh còn nhỏ nên khi thấy bà nào cô nào đeo nhiều nữ trang, ăn mặc màu mè hực hỡ,
tô son giồi phấn choáng lộn thì Hạnh nghĩ rằng đương sư đẹp đẽ mỹ miều. Cô
Lucie đối với Hạnh là một bà tiên từ trong cổ tích bay ra, chẳng những có dung
nhan thập phần kiều diễm mà còn có đôi bàn tay cho Hạnh tình mẫu tử nhiệm mầu.
Một tuần lễ có sự hiện diện của cô Lucie, căn nhà đầy ắp tiếng nói cười. Hạnh vốn
nhút nhát, dù thèm được cô Lucie âu yếm, tâng tiu nhưng Hạnh không biết diễn tả
niềm thương mến của mình đối với cô cách nào. Hạnh chỉ biết quanh quẩn theo cô.
Có hôm, trong lúc lau mặt chải đầu cho Hạnh, cô bảo ba:
- Thằng nầy giống anh ở tánh nhút nhát, anh có nhận thấy không? Cái hồi đó đó,
anh vừa đi coi mắt chị Ba xong, nhưng chính con Lucie nầy trổ phép thần thông
làm cho anh từ cậu trai tân biến thành đờn ông thành thạo.
Và cô cười hăng hắc. Mặt ba đỏ rần như miếng dưa hấu. Và ba chỉ biết mắng yêu:
- Mắc dịch gì đâu! Cứ ăn nói ẩu tả hoài!
Rồi một buổi sáng, khi thức dậy, Hạnh nhận thấy bên ngoài phòng ngủ của mình vắng
bặt tiếng cười nói của cô Lucie. Linh tánh báo cho Hạnh biết có chuyện chẳng
lành. Hạnh tuột xuống giường chạy ra phòng khách rồi vào phòng ăn. Ba đang ngồi
trước liễn cháo bốc khói, nhấm nháp cà phê. Không có cô Lucie ở đó. Hạnh run giọng
hỏi:
- Cô Lucie đâu ba?
Ba điềm nhiên:
- Cổ đã về Sài gòn hồi sáng sớm.
Và ba bước lại tủ buýp-phê, lấy con chó bằng len nhồi bông gòn ra đưa cho Hạnh:
- Cô Lucie gởi tặng con món quà nầy.
Hạnh ôm con chó bằng len vào lòng, khóc như mưa. Ba nhìn Hạnh rồi ôm chặt Hạnh
vào lòng, vỗ về:
- Ðùng khóc, Hạnh. Con khóc làm ba đau lòng lắm!
Phải có niềm cảm hoài thiệt sâu đậm, thấm thía ba mới có thể bày tỏ tình cảm của
mình. Ông ôm chặt Hạnh, vuốt tóc Hạnh và không nói thêm một lời nào nữa. Tối
hôm đó, ba cho phép Hạnh được ngủ chung. Hạnh cứ ôm chặt ba. Và nửa đêm, chợt
thức giấc, Hạnh nhớ cô Lucie, khóc tấm tức. Liên tiếp ba bốn ngày sau Hạnh mới
nguôi ngoai. Nhưng từ đó Hạnh thờ ơ uể oải. Ngôi nhà trước khi cô Lucie tới viếng
vốn đã tẻ lạnh, hoang vắng. Nhưng thà cô đừng đến! Giờ đây, khi cô bỏ đi, với Hạnh,
nó tẻ lạnh hoang vắng ba bốn lần hơn. Chiều chiều Hạnh đứng dưới gốc nhãn, tay ôm
con chó nhồi bông vuốt ve, tái diễn cái cử chỉ cô Lucie đã bày tỏ niềm âu yếm
thương yêu với Hạnh.
Ba thương yêu Hạnh, chỉ biết mua sắm quần áo, giày vớ, đồ chơi mắc tiền cho Hạnh.
Nhưng bởi cái nhút nhát tích lũy tiềm ẩn từ thuở nào, ba không bày tỏ được tình
phụ tử để đưa Hạnh vào thế giới ấm áp, nồng nàn hơn. Ông Bảy Liệu cũng thương
yêu Hạnh, nhưng ông chỉ biết săn sóc miếng ăn, tấm áo cho Hạnh. Tâm hồn ông đơn
giản quá mức, không thể hiểu được cái ngắt ngoéo trong nội tâm của một đứa trẻ
mồ côi. Ông không hề vuốt ve hay nói một câu ngọt bùi với Hạnh. Giọng ông dấm dẳn,
nói ra câu nào là như doạ dẫm, truyền lịnh câu đó. Thế nhưng mỗi khi Hạnh đau ốm,
ông túc trực bên giường bịnh của Hạnh sáng đêm, tận tụy lo lắng tuy nét mặt ông
trước sau vẫn như bọc một lớp thép mỏng nguội ngắt.
Thế rồi ba lại đem về phòng ngủ treo gương của ba một người đờn bà khác. Ba biểu
Hạnh gọi đương sự bằng dì Khánh, bởi vì dì là em bà con xa của má Hạnh. Sau nầy
Hạnh mới rõ dì là gái quê bị Tây ruồng bố, dấn thân vào cuộc đời làm gái bao
cho mấy tên Huê kiều, Pháp kiều. Về sau dì sống nghề mãi dâm bán chánh thức,
nghĩa là vừa làm chủ chứa, vừa rước khách tìm hoa.
Dì Khánh khi tới viếng nhà Hạnh không có vẻ gì là một gái buôn hương. Dì không
xài son phấn, chỉ tỉa cặp chơn mày cong vòng và mỏng lét. Dì mặc áo trắng, quần
trắng, đeo nữ trang kiểu rất thanh nhã. Dì ốm yếu, xanh xao, có vẻ trầm lặng.
Ngày đầu tiên dì Khánh tới nhà Hạnh, thoạt nhìn tấm ảnh phóng đại khổ 18 x 24 của
má trên bàn thờ, dì chắc lưỡi:
- Tấm hình nầy không giống chị Ba chút nào. Nước thuốc thì mờ như phủ bụi phủ
sương, lại tróc lem nhem. Chị Ba ở ngoài đâu có vậy!
Ba buồn rầu:
- Bao nhiêu hình ảnh của vợ tui cháy sạch hồi ở Lộc Hoà. Bả chết rồi, tui kiếm
lung tung mới được một tấm bốn sáu, đem chụp lại rồi rọi lớn ra.
Dì Khánh đăm đăm nhìn Hạnh, ứa nước mắt, rồi bảo ba:
- Anh cũng nên kiếm con nhà tử tế để chắp nối. Cháu Hạnh cần có bà mẹ chăm sóc.
Ba lắc đầu:
- Tui sợ con tui lâm cảnh mẹ ghẻ con chồng lắm dì Bảy à! Mấy đời bánh đúc có
xương dì ơi!
Dì Khánh vẫn thích vuốt ve Hạnh. Bàn tay dì không đẹp, tuy thon mảnh nhưng lòng
bàn tay như gừng khô. Dì ít nói, hễ nói ra là giọng chậm rãi, tiếng nói êm và
nhẹ. Dì Khánh không phải là người huyên náo như cô Lucie. Dì thâm trầm, ôn nhu,
cử động chậm rã, gượng nhẹ. Vậy mà trong những ngày tới viếng cha con Hạnh, dì
làm lụng, xếp đặt mọi việc trong ngoài không hở tay. Dì khuyên lơn Hạnh đủ điều,
giọng lúc nào cũng êm đềm thấm thía:
- Ba con thương yêu con lắm vì trên đời nầy chỉ có con là nguồn an ủi duy nhứt
của ảnh. Má con cũng vậy, trong những ngày nằm trên giường bịnh chờ chết, chỉ
không đành nhắm mắt, sợ bỏ con ở lại bơ vơ không ai săn sóc. Ba con đã hứa là sẽ
cố gắng nuôi con tới lúc nên người mới nghĩ tới chuyện làm lại cuộc đời với người
đờn bà khác. Con phải thương yêu ba con, phải siêng năng học hành để đừng phụ
lòng ba con lo lắng…
Hạnh ngần ngại hỏi:
- Má con có đẹp không dì?
Dì Khánh buồn rầu:
- Dì cũng chẳng rõ má con có đẹp không. Nhưng con cứ nghĩ rằng má con thương
yêu ba con và con như Cúc Hoa thương chồng thương con của bà ta vậy. Cặp mắt
con giống hệt cặp mắt của má con. Tội nghiệp lắm, lúc chỉ chết, dì vuốt mắt chỉ
mấy lần mà chỉ vẫn mở trừng trừng. Dì phải cầm tay con, lúc đó con mới ba tuổi,
đè lên mí mắt chỉ, mí mắt mới khép kín lại.
Dì mủi lòng quá ôm Hạnh, nước mắt ròng ròng. Hạnh làm sao nhớ nổi cảnh lâm
chung của mẹ mình, nhưng Hạnh vẫn khóc theo dì, cơn khóc thường có tính truyền
nhiễm. Tuy nhiên, lòng Hạnh ấm áp và tươi sáng hẵn lên vì qua lời kể của dì
Khánh, Hạnh có thể mường tượng đôi chút về mẹ mình. Trong trí tưởng tượng của Hạnh,
má là hình ảnh của một nữ thánh hay bà tiên tốt bụng trong cổ tích Tây phương,
đã giúp những đứa con côi thoát nạn do bọn phù thủy, chằn tinh hoặc mẹ ghẻ gây
ra.
Dì Khánh lại nói:
- Má con thương yêu ba con lắm. Hồi thời giặc năm 1948, ba con vô khu 8, má con
ở ngoài thành, nhịn ăn nhịn mặc để có tiền mua thuốc men và tiền gởi vô cho ba
con. Chỉ cứ ăn cá mòi, ba khía, mắm mốc với cơm gạo hẩm. Ít lâu sau chỉ bị phù
thũng, chơn cẵng sưng lên, đi tiểu ra máu. Dì phải đưa chỉ vô nhà thương điều
trị và mua thức ăn bổ dưỡng cùng thuốc men để bịnh chỉ mau thuyên giảm.
Dì Khánh lục lọi giày vớ, áo quần của Hạnh ra khâu vá, sửa chửa tươm tất. Vào một
buổi xế, trời mưa rả rích, Hạnh nằm chơi ở bộ ngựa gõ rồi ngủ quên, dì lấy tấm
mền len đáp cho Hạnh. Lúc áp mặt mình gần mặt Hạnh, dì mắng yêu:
- Thằng nầy làm biếng nhớt thây, không chịu vô giường mà ngủ.
Dì đặt đôi môi mềm mại và ấm áp lên trán Hạnh. Từ đó dì lộ vẻ buồn. Một hôm thấy
dì thả dài người trên ghế phô-tơi có vẻ nghĩ ngợi xa xôi, Hạnh e dè bước lại gần,
bặm gan nói nhỏ:
- Dì ơi, dì ở luôn đây đi dì.
Dì kéo Hạnh lại gần, nước mắt rưng rưng:
- Dì cũng muốn lắm, nhưng làm sao được? Lớn lên rồi con sẽ hiểu.
Rồi cái ngày dì từ giã ra đi cũng phải tới. Hạnh không thể khóc được. Vũ trụ
như sụp đổ dưới chân Hạnh. Nước mắt Hạnh như đã khô cạn từ cuộc sinh ly đầu
tiên với cô Lucie. Nhưng trong trái tim Hạnh, vết thương sâu đậm thêm. Khối
băng giá trong tâm hồn Hạnh lớn hơn, cứng chắc hơn.
° ° °
Tuổi thơ của Hạnh cô đơn quá! Thời mới lớn của Hạnh thêm sẫm
buồn và u uất bởi cái chết của ông Bảy Liệu. Ðã bao năm nay, dù ông hiện diện
trong đời Hạnh như cái bóng âm thầm tẻ ngắt, ông vẫn là điểm tựa vững chãi cho
Hạnh. Khi ông trút hơi thở cuối cùng, Hạnh vụt hiểu rằng cái thế giới tình cảm
của Hạnh có thêm một lỗ hổng lớn. Toàn thân Hạnh lạnh ngắt, Hạnh ôm chặt lấy ba
khóc như mưa. Bao nhiêu sự tận tụy của ông Bảy Liệu vụt hiện rõ trong ký ức Hạnh.
Năm đó Hạnh mới mười bốn tuổi. Ba chỉ ôm chặt Hạnh, không khóc. Hạnh hiểu rằng
chính ba cũng đang cảm thấy mất điểm tựa. Cái ôm chặt kia không phải là cử chỉ
che chở nữa. Nó là sự bấu víu của ba vào Hạnh dù Hạnh chỉ là cậu trai mới vừa bể
tiếng.
Thi thể ông Bảy Liệu được đặt ở bộ ván ngựa, cái mền xám trùm kín. Lúc đó mới
hai giờ sáng. Hạnh về buồng nằm khóc rấm rứt. Ba ngồi canh xác người lão bộc
trung thành. Thỉnh thoảng, ba giở tấm mền ra nhìn mặt người lão bộc. Và chỉ khi
tiếng khóc trong phòng Hạnh im bặt một lúc lâu, ba mới hực lên khóc và nói một
câu duy nhứt:
- Ông Bảy ơi, từ lâu tui đã coi ông như người cha thứ hai.
Phải đợi ông Bảy Liệu thành cái xác lạnh ngắt, ba mới dám nó lên tiếng nói
trung thực của lòng mình. Lúc ông Bảy còn sanh tiền, ba tỏ vẻ xa cách với ông.
Niềm thương mến của ba chỉ bộc lộ ở cách cư xử rộng rãi, ở sự tin cậy tuyệt đối
vào ông. Khi ông đau ốm, ba không hề tiếc tiền đưa ông lên nhà thương Thuận Kiều
ở Chợ Lớn. Giữa ba và ông Bảy Liệu có sự thông hiểu nhau sâu xa. Dù cả hai
không hề trao nhau một câu thân ái , nhưng trong im lặng, họ đọc được niềm
thương mến của nhau. Có vậy ông Bảy Liệu mới gởi thân suốt đời ở nhà Hạnh. Có vậy
ba mới dám giao tất cả chìa khóa cho ông.
Ông Bảy Liệu chết đi để lại cho Hạnh cặp vòng vàng chạm trổ tinh xảo và một số
tiền khá lớn, dặn ba để dành cho Hạnh cưới vợ. Từ trước tới giờ, ba trả lương
cho ông sòng phẳng, nhưng ông không tiêu xài gì nhiều.
Ba và Hạnh để tang cho ông Bảy Liệu suốt một năm trời với miếng vải đen ghim
trên áo trắng. Trong hai tháng đầu sau đám tang ông Bảy, cha con Hạnh phải xoay
trở khó khăn mới giữ được nếp nhà sạch sẽ tươm tất.
Sự hiện diện của ông Bảy Liệu trước kia dù khiêm tốn, mờ nhạt, nhưng ngoài nhu
cầu công việc săn sóc nhà cửa, đã giữ một vai trò tối quan trọng trong đời sống
tinh thần của cha con Hạnh. Dù rằng sau đó, y theo lời trối của ông Bảy Liệu,
ba Hạnh tìm xuống Tam Bình rước vợ chồng bà Tám Ðịnh, em gái ông Bảy, về coi
sóc việc nhà, nhưng ba vẫn thở vắn than dài, và Hạnh vẫn cảm thấy trống vắng,
thiếu thốn. Hạnh nhớ ánh đèn chong ở căn bếp vào lúc đêm khuya, trong ánh đèn ấy,
suốt cả đời ông Bảy mài miệt lau chùi quét dọn căn bếp hoặc sắc thuốc, chưng yến,
chưng ếch bắc thảo cho ba Hạnh. Sáng sáng vào đầu canh năm thức giấc, Hạnh đã
thấy ánh lửa ở căn bếp xuyên qua những kẽ hở của vách ván lòn vào buồng. Những
lúc đó, Hạnh lờ mờ cảm thấy sảng khoái an ổn. Không phải vì Hạnh nghĩ tới những
buổi điểm tâm ngon lành, những bữa ăn thịnh soạn do ông Bảy Liệu nấu nướng. Hạnh
chỉ cảm nhận ánh lửa đó sưởi ấm tâm hồn mình, mà ánh lửa đó là hiện thân của
ông Bảy. Cũng vậy, mỗi khi theo ba đi xem hát bóng về khuya, Hạnh luôn thấy ánh
lửa từ căn bếp đỏ rực xuyên qua mắt cáo, qua kẽ lá lăn tăn của cây táo tàu trồng
bên mái bếp như toả sáng tâm hồn Hạnh. Tuy ông Bảy Liệu không hay nói, nhưng
ánh lửa kia, cái bóng âm thầm, tận tụy, cần mẫn của ông đã nói tất cả sự đùm bọc
che chở của ông với cha con Hạnh. Khi ông qua đời, Hạnh mới nhận thấy ngày ông
còn sanh tiền, cuộc sống trong ngôi nhà nầy dù có tẻ lạnh, nhưng vững vàng và
an ổn biết bao? Tại sao Hạnh đòi hỏi ở ông những cử chỉ vuốt ve thân ái và gìọng
cười ấm áp nắng xuân của cô Lucie? Tại sao Hạnh đòi hỏi ở ông đôi mắt biết diễn
tả tình cảm, giọng thủ thỉ tâm tình rất thấm thía của dì Khánh? Ông là người dốt
nát, và qua lời kể của bà Tám Ðịnh thì vì từ nhỏ ông sớm chịu cảnh mồ côi, phải
đi ở đợ nên ông luôn luôn thủ thế, không dám bộc lộ tình cảm.
Trước khi về ở đợ với ông bà nội của Hạnh, ông Bảy Liệu đã chịu đòn vọt, chửi mắng
trong gia đình của vài người chủ khác. Và khi về ở với ông bà nội Hạnh, tuy ông
khỏi bị hành hạ nhưng vẫn phải nai lưng làm việc đầu tắt mặt tối. Ðời ông nào
có gì vui! Khi ở với cha con Hạnh, tuy vẫn làm lụng nhưng ông được định liệu, sắp
xếp mọi việc. Tâm hồn ông dù vậy vẫn còn bị bưng bít bởi tấm màn vô thức đen sẫm
nên ánh sáng lạc quan từ bên ngoài cuộc đời không thể lọt vào. Con chó khi mừng
biết vẫy đuôi, khi giận dữ biết sủa, khi đau ốm biết tru. Con mèo lúc sướng biết
rên rù rù, lúc đau biết la eo éo, lúc cô đơn đi tìm bạn biết meo meo. Còn ông Bảy
Liệu thì không. Càng nghĩ, Hạnh càng thương xót ông. Phải có một biến cố khốc
liệt nào đó mới khiến con người ông có vẻ hoá đá như vậy! Nhưng đó chỉ là mặt
ngoài. Trong tâm hồn ông còn có tấm lòng biết ơn đối với ba, còn có tình thương
mến đối với hai cha con Hạnh. Hạnh làm sao quên được những lúc Hạnh đau nặng,
ông Bảy Liệu luôn ngồi túc trực bên giường để khi thì lấy khăn chậm mồ hôi; khi
thì cho Hạnh uống thuốc; khi thì đút cơm, đút cháo…Vào những canh khuya chợt tỉnh
cơn mê sảng, Hạnh vẫn thấy ông ngồi canh bịnh, không ngủ mà cũng không hút thuốc,
mắt đăm đăm nhìn Hạnh. Hỡi ơi, đôi mắt sao mà vô hồn, dửng dưng, rất hoà hợp với
sắc mặt ông nguội ngắt! Tại sao đôi mắt ấy không là cửa sổ của tâm hồn? Tại sao
khuôn mặt ấy không là tấm gương của nội giới ông? Và chỉ đến lúc ông chết, Hạnh
mới cảm nhận qua một trực giác thâm sâu, tâm hồn ông vẫn phong phú nguồn suối
thương yêu, nội giới ông lúc nào cũng xán lạn niềm thiết tha gắn bó với gia
đình Hạnh.
Má chết lúc Hạnh còn nhỏ. Hạnh không làm sao mường tượng nổi chân dung má qua tấm
di ảnh chưng trên bàn thờ. Hạnh cũng không sao nhận định trọn vẹn tâm hồn và nếp
sống của má qua lời kể loáng thoáng sơ sài của dì Khánh. Nhưng giờ đây, Hạnh có
thể muờng tượng tấm lòng yêu thương tận tụy của má qua sự tận tụy gắn bó của
ông Bảy Liệu. Hạnh còn thấy má hiện hữu ở cử chỉ vuốt ve trìu mến và giọng cười
ấm áp của cô Lucie, ở đôi mắt cảm thông và giọng nói thiết tha của dì Khánh. Cả
hai cũng như ông Bảy Liệu đã gợi cho Hạnh đôi chút hình ảnh người mẹ, dù rằng
khi lớn lên Hạnh mới rõ cô Lucie đến viếng cha con Hạnh cốt để lén ông chồng
già ngoại tình với ba trên chiếc giường có lót gương ở hai đầu; dù rằng dì
Khánh tìm đến ba là để trốn nợ, trốn luôn mụ vợ lớn của lão tình nhân của dì
thường dắt toán nặc nô đến nhà dì làm dữ. Nhưng mà nhằm nhò chi! Con người họ
dù có sa đoạ cho thế mấy, thân thế họ dù có dữ dằn điếm nhục cho thế mấy, nhưng
khi bước vào ngưỡng cửa gia đình Hạnh, cả hai hiện thân trọn vẹn tâm hồn người
mẹ, thể hiện tròn nguyên tấm lòng mẫu tử. Cho đến khi trưởng thành, nghĩ về cô
Lucie, Hạnh cảm thấy tâm hồn mình ấm áp biết bao, và nghĩ về dì Khánh, Hạnh cảm
thấy trái tim mình mát rượi là dường nào!
Sau dì Khánh, thỉnh thoảng ba có đem về nhà một vài người đờn bà khác. Có kẻ ưa
giở chứng, có kẻ kỳ cục, có người hay cáu kỉnh, quạu quọ…Nhưng khi bước ra khỏi
nhà nầy, Hạnh quên tuốt hết. Hạnh chỉ giữ lại hình ảnh những người đờn bà nhu
mì, hiền dịu, tử tế. Họ đã thể hiện một vài nét lý tưởng của người mẹ để khi lớn
lên, Hạnh vẫn thích gợi lại để tìm chút niềm tin.
° ° °
Bà Tám Ðịnh, trái với ông anh lầm lì của mình, là một mẫu người
cởi mở, hời hợt, miệng tía lia không lành da non. Giọng cười của bà hăng hắc,
vì quá thân mật đâm ra suồng sã.
Vừa đặt chân vào nhà cha con Hạnh, bà quở liền:
- Nhà nầy toà cao lẫm lớn, hồn ma bóng quế ẩn núp đó đây. Phải mua bùa bát quái
và nhánh xương rồng treo trước cửa, phải trồng hai cây dâu tằm ăn để đuổi tà
ma. Thầy Ba để đó tui lo cho!
Bà dạo từ trên lầu xuống từng trệt, từ cổng trước đến cổng sau, từ cái ao bên
trái qua lẫm lúa bên mặt. Tới đâu bà phàn nàn đó:
- Gác mà để trống trải quá, ông bà mình kiêng cữ lắm. Ai lại thờ Phật ở trung
đường, chỉ nên thờ Quan Thánh Ðế Quân cởi ngựa Xích Thố, có Châu Xương cầm
thanh long đao, có Quan Bình cầm hộp ấn đứng hầu. Phật và Bồ tát thì ở xa, chỉ
có thánh linh như Ðế Quân mới chịu ở gần mình. Ở miệt tui, nhà nào cũng có
trang thờ Mẹ Sanh Mẹ Ðộ trên cao, trang thờ ông Ðịa, thờ Thần Tài ở dưới đất.
Còn ngoài vườn nên lập cái miễu nhỏ thờ Thổ Ðịa. Thầy Ba tin đi, hễ thầy nghe lời
tui thì đất đai viên trạch an vui, vững vàng; mà tía con thầy còn tấn tài tấn lợi,
khương ninh suốt đời.
Từ khi ông Bảy Liệu chết đi, ba muốn dời bàn thờ đức Di Ðà Tam Tôn lên gác cho
được yên tĩnh nên chấp thuận lời bà Tám Ðịnh. Ba cho bà thờ đức Quan Thánh Ðế
Quân ở trung đường. Bức tranh của Ðế Quân do ba mua ở Chợ Lớn về, màu mè vừa phải,
bàn thờ không bày chơn đèn, lư hương bằng đồng mà chỉ bày cái bồn cắm nhang bằng
đồng đen và chiếc đèn pha lê. Ba cương quyết không thờ Mẹ Sanh Mẹ Ðộ, Thần Tài ở
trong nhà; không thờ Thổ Ðịa ở ngoài vườn; không trồng dâu tằm ăn trong sân,
không treo bùa bát quái, nhánh xương rồng trước cửa. Sở dĩ ba chấp thuận việc
thờ đức Quan Thánh vì ba có làm ăn với bang Quảng Ðông ở tỉnh nhà nên muốn dùng
việc thờ phượng danh tướng nước Tàu để lấy lòng tin.
Bà Tám Ðịnh bảo ba:
- Cô Ba qua đời từ lâu, sao thầy Ba không chịu kiếm cô nào còn son trẻ để chấp
nối? Thôi để tui trổ tài làm mai cho. Ở xứ tui có cô Năm Mỹ Châu, cô Sáu Mỹ Ngọc
con ông Hội đồng Bá đẹp như tiên sa phụng lộn, làm bánh xuất sắc, may vá thêu
thùa khéo nhứt trần đời. Lạì còn có cô Hai Lài con ông Hương cả Huỡn cũng đẹp,
cũng nết na gia giáo. Thầy Ba mà ừ một tiếng là vợ chồng tui đưa thầy đi Tam
Bình liền.
Và bà liếc qua Hạnh:
- Còn cậu Hạnh nầy mai sau sẽ bảnh trai còn hơn kép Năm Châu đóng vai Lữ Bố, sẽ
khôi ngô nào kém kép Bảy Nhiêu đóng vai vua Tống Nhơn Tôn. Cậu mà ăn học thành
tài thì cưới tiểu thơ, quận chúa dễ ợt…
Ba và Hạnh từ hồi nào tới giờ không quen nghe lời cợt nhả ồn ào, chưa từng nghe
tiếng cười suồng sã huyên náo dưới mái nhà nầy, huống hồ là phải nghe những câu
có tính cách xâm phạm vô đời tư của mình. Mặt ba lúc đó cứng như đóng một lớp
nước đá, còn Hạnh thì bàng hoàng nhìn bà Tám Ðịnh như nhìn một quái vật.
Chồng bà Tám Ðịnh ăn nói chừng mực hơn. Ông ta giỏi làm vườn nên thường lúc
thúc ngoài vườn. Bà Tám Ðịnh từ hôm chạm phải phản ứng cứng rắn và lạt lẽo của
cha con Hạnh thì đâm ra nhột. Cái hứng của bà tắt tức tưởi. Tuy nhiên bà vẫn
siêng năng làm lụng việc nhà. Tài làm bếp của bà được hai cha con Hạnh chiếu cố
tận tình. Ba cho dọn căn chái bên mặt rất rộng để làm buồng ngủ cho hai vợ chồng
bà. Ba mua cho họ một cái radio, cho luôn họ chồng dĩa hát và giàn máy từ lâu
không xài để họ giải trí.
Bà Tám Ðịnh vốn không con, nay gặp Hạnh, tình mẫu tử tràn ngập lòng bà. Nhưng
giữa đôi bên chỉ là sự liên hệ chủ tớ, bà đâu dám xem Hạnh như con mình. Tuy
nhiên đó là sự nhắc nhở của lý trí. Trong tiềm thức bà, mỗi khi đứng trước mặt
Hạnh, tình thương mến không những chỉ bộc lộ ở cách săn sóc miếng ăn manh áo mà
còn ở những cử chỉ vồn vã quá đáng, những câu thăm hỏi vào chỗ ngoắt ngoéo
riêng tư của Hạnh khiến Hạnh bực mình. Từ bao lâu quen với sự ít nói của ba,
thái độ lầm lì của ông Bảy Liệu, Hạnh đâm ra có dị ứng với cử chỉ và thái độ
quá thân mật của một người đờn bà quê mùa mà khi vừa đặt chân vào ngưỡng cửa
nhà nầy, Hạnh đã nghe tiếng vọng trong đầu óc: “Ðây là đầy tớ! Ðây là mụ già
coi sóc việc nhà!” Bởi thành kiến đó, Hạnh không cho phép bà Tám Ðịnh đi xa hơn
cái vị trí tôi tớ trong nhà.
Mỗi tối nếu không có việc gì làm, bà Tám Ðịnh thường quanh quẩn ở trung đường để
xem Hạnh học bài , lóng nghe Hạnh đọc từng câu. Có những đêm Hạnh thức khuya,
thấy bà còn quanh quẩn ở trung đường, Hạnh phải nhắc nhở:
- Kìa bà Tám, khuya quá rồi, sao bà chưa trở về chái lá?
Bà cười hề hề:
- Ðược mà, tui thức coi cậu học cũng vui vậy! Cậu muốn ăn chè đậu hay cháo cá để
tui múc?
Thực tình Hạnh cảm động lắm, nhưng trong cái xúc động do tấm lòng biết ơn đó, Hạnh
vẫn bực tức ngấm ngầm. Từ bao lâu, Hạnh quen với sự hờ hững gần như bỏ rơi của
ba và ông Bảy Liệu. Nay bà Tám cứ chàng ràng bên cạnh làm Hạnh hơi ngượng và phải
cáu vì cảm thấy mình bị dò xét. Bà Tám dò xét để làm gì? Hạnh không nhận thức
rõ, nhưng thấy có người Hạnh không yêu mến chú ý đến nhứt cử nhứt động của Hạnh
thì Hạnh nhột nhạt khó chịu quá đi thôi! Có lần Hạnh nói như gắt:
- Khi tui học mà bà chàng ràng làm sao tui học được?
Nói xong câu đó, Hạnh hối hận lắm, nhưng không có can đảm đến xin lổi bà. Hạnh
đã thấy mặt bà tái đi, không phải giận dữ vì tự ái tổn thương mà là vì áy náy,
ân hận.
Tuy không còn chàng ràng ở trung đường để xem Hạnh học bài, nhưng bà Tám Ðịnh vẫn
tìm cách lắng nghe Hạnh đọc bài. Có nhiều câu bà hiểu được để đem khoe với chồng:
- Trái đất quay chung quanh mặt trời, mặt trăng quay chung quanh trái đất. Ngộ
thiệt! Dân thông thái thấy mọi chuyện trặc trẹo nên họ tìm được đủ thứ trặc trẹo
như đèn điện không có lửa mà vẫn sáng.
Trong khi thuật với chồng, bà vuốt ve hơi lâu và hơi kỹ chiếc áo của Hạnh mà bà
vừa ủi xon, chưa kịp xếp lại.
Hạnh từ nhỏ có tánh cẩn thận. Những đồ chơi cũ, Hạnh không vứt đi mà bỏ vào chiếc
rương cây khóa lại. Ðó là những đồng xu lá bài, những viên bi thủy tinh, chiếc
xe hơi bằng thiếc, những con gà bằng đất khoét đít có đệm lưỡi gà bằng thiếc thổi
toe toe, con rùa, con chim, con thỏ bằng sành tráng men, nạng giàn thun bắn
chim…Bà Tám Ðịnh sành soạn những món đồ chơi đó, lau chùi bụi bặm, những con gà
bằng đất được chồng bà Tám sơn phết màu tươi mới để xếp vô hai chiếc khay lớn,
đem chưng trong tủ kiếng ở nhà kho, lâu lâu bà lau chùi từng món, ấp ủ nó trong
lòng bàn tay khá lâu trước khi đặt trở lại vào khay. Bà không săn sóc nhiều những
món ngoạn khí mà ông Bảy đã mua sắm cho Hạnh lúc Hạnh mới lớn. Chỉ có đồ chơi của
Hạnh lúc còn ấu thơ mới làm mắt bà âu yếm mơ màng trong lúc vuốt ve vừa nhìn ngắm
tấm hình Hạnh hồi lên bốn lên năm.
Từ khi bà Tám Ðịnh không xà quần theo Hạnh, Hạnh mới tìm được một khoảng cách dễ
chịu, và khi nghĩ tới bà, Hạnh mới cảm thấy niềm thương mến dịu dàng, thân mật.
Bà không phải là mẫu người để Hạnh quấn quít như cô Lucie hay dì Khánh. Ðồng thời
Hạnh chưa tìm thấy ở bà Tám Ðịnh vai trò nào trong cuộc sống tình cảm của mình,
chưa gợi cho Hạnh hình ảnh một người mẹ.
° ° °
Từ khi ông Bảy Liệu chết đi, lúc Hạnh đau ốm đến độ mê sảng
thì chính ba túc trực bên giường Hạnh . Tuy chưa hoàn toàn trưởng thành nhưng Hạnh
đã biết nhột nhạt mắc cỡ khi có sự đụng chạm với người khác phái.
Dịp bãi trường năm đó, Hạnh trèo lên cây táo tàu hái trái lỡ xẩy chân té, bể
xương chậu và lọi chân trái. Chở lên bịnh viện Nguyễn văn Học Sài gòn thì Hạnh
đã mê man, thừa chết thiếu sống. Bọng đái Hạnh bị rách, phải nằm nhà thương suốt
hai tháng. Mông và đùi trái băng bột. Về nhà Hạnh nằm dưỡng thương thêm sáu
tháng nữa. Dĩ nhiên cơm nưóc, quần áo cho Hạnh là do bà Tám Ðịnh đảm nhiệm,
nhưng tắm rửa, lo việc tiêu tiểu cho Hạnh thì ông Tám và ba nhận lãnh. Ông Tám
vụng về, thường làm Hạnh đau nên ba phải lo hết. Ban ngày ba lo việc mưu sinh,
chiều về ba săn sóc cho Hạnh. Hai bàn tay ba cứng cáp gân guốc là vậy nhưng khi
cởi quần áo tắm rửa cho Hạnh, hai bàn tay đó gượng nhẹ, thận trọng âu yếm biết
bao! Lúc đó ánh mắt ba tràn ngập thương xót, nhưng miệng ba tươi cười. Ba kể
chuyện này chuyện nọ cho Hạnh nghe. Cái chết của ông Bảy Liệu và tai nạn xảy đến
cho Hạnh đã đưa ba lại gần Hạnh. Ba không hề rước người đờn bà nào về buồng
mình và đem dẹp hệ thống gương treo trên vách tường. Nhiều đêm thức giấc, Hạnh
nghĩ ngợi và khóc vì sung sướng. Ở ba, Hạnh đã tìm được một phần hình ảnh dịu
dàng tận tụy của người mẹ.
Bà Tám Ðịnh là mẫu người yêu chồng, chiều chuộng chồng. Bà thường than thở với
ba hoặc lối xóm:
- Chồng tui thương tui lắm. Ðáng lẻ gặp con vợ sượng ngắt, không chửa đẻ như
tui, ảnh bỏ từ lâu rồi. Ảnh cũng không hề chịu cưới vợ bé để kiếm chút con. Ảnh
nói với tui rằng dòng dõi ảnh là dòng kẻ thì đi ở đợ, người làm ruộng mướn, có
vẻ vang chi đó để ảnh kiếm con nối dõi tông đường.
Thỉnh thoảng bà Tám Ðịnh sắm sửa mâm rượu cho chồng. Nói là mâm rượu cho oai chớ
chỉ có một dĩa cốc, khế bổ từng miếng, một dĩa mắm ruốc giã tỏi ớt, một dĩa tép
muỗi xào với mỡ xắt hột lựu. Ðôi khi bà dọn thêm dĩa mít luộc xé tơi trộn rau
răm, đậu phọng. Không bao giờ bà lấy cá, thịt trong thức ăn hàng ngày của cha
con Hạnh làm món nhậu cho chồng. Nhưng mâm rượu đối với ông chồng cũng sang trọng
lắm rồi. Bà thường ngồi coi chồng nhậu nhẹt, lâu lâu vì nể chồng bà uống một ngụm
rượu đế, cắn một miếng khế xắt mỏng quệt mắm ruốc. Cả hai thường nhắc chuyện dưới
quê, nhứt là nhắc tới mấy đứa nhỏ trong xóm cũ của họ. Giọng nhắc có vẻ âu yếm
ngậm ngùi làm lòng Hạnh mềm đi khi Hạnh nghe lóm câu chuyện kể lể của cặp vợ chồng
đó. Và Hạnh không ngờ lòng thèm khát đứa con, tình mẫu tử không có đối tượng để
vung vãi của bà Tám dần dà đã làm cho Hạnh yêu mến bà.
Trong đời Hạnh có hai việc khiến Hạnh ân hận: một là không có dịp bày tỏ lòng
thương mến và biết ơn của mình với bà Tám Ðịnh khi Hạnh đã trưởng thành, đã đậu
tú tài. Hai là Hạnh chưa kịp đền ơn nuôi dưỡng cho ba. Cả hai qua đời sớm quá.
Hạnh còn nhớ sau khi xem kết quả kỳ thi vấn đáp ở Sài gòn, biết mình đậu hạng
bình, Hạnh không đánh điện tín cho ba vội. Hạnh đi xe đò về Vĩnh Long. Lúc đó
bà Tám Ðịnh đau dây dưa nhưng vẫn rán săn sóc việc nhà. Ðược tin mừng, bà chắp
tay lại ngước đầu lên cao:
- Tạ ơn Trời Phật. Trời Phật không phụ lòng thầy Ba nên cậu Hạnh có ngày làm vẻ
vang cho thầy như ngày hôm nay đây.
Hôm đó bà Tám cạo đầu. Ba rủ vợ chồng bà cùng Hạnh đi Bông-ga-lô ăn cơm Tây. Bà
lắc đầu:
- Tui đã vái hễ cậu Hạnh thi đậu tú tài là tui cạo đầu, ăn chay một tháng.
Khi về, ba mua một chục cam Cái Bè cho bà. Nhưng bà Tám không có dịp ăn chay.
Hôm sau bà nửa tỉnh nửa mê, nằm thiêm thiếp trên giường bịnh, chỉ húp nước
cháo. Ba đích thân đưa bà đi bác sĩ, mời các thầy đông y đến chẩn mạch và hốt
thuốc. Hạnh không còn lòng dạ nào ra khỏi nhà. Hạnh cạo gió, giác ống thông hơi
và đích thân sắc thuốc cho bà Tám. Ba không thể ngăn cản.. Một hôm thấy Hạnh giặt
một mớ khăn lông để ông chồng lau mình cho bà, ba Hạnh chỉ bảo nhỏ:
- Con phải trả ơn bà Tám ngay từ bây giờ. Bả không qua khỏi con trăng nầy đâu!
Ba quay lên nhà trên, không nhận thấy nước mắt Hạnh đã ướt đẫm má.
Một hôm, trời xế chiều. Bên ngoài cơn dông thổi qua. Dưới mái chái lá, bà Tám Ðịnh
bắt đầu mê sảng nó láp dáp:
- Tại ông ráo trọi! Ông không nghe lời tui cưới vợ bé hoặc xin con nuôi. Con vợ
bé ông thì cũng là con tui. Giờ đây tui chết, ai lắt nút áo cho tui, ai phò giá
triện, ai rinh quan tài tui đây? Tui nghĩ tới cảnh ông bơ vơ trên chốn dương trần
thì tui nhắm mắt sao đành!
Ông chồng khóc tối tăm mặt mũi. Ðầu canh hai, bà Tám Ðịnh chợt tỉnh. Ông chồng
kê tô thuốc gần miệng bà:
- Bà uống thuốc đi. Chiều nào cậu Hạnh cũng sắc thuốc cho bà đó. Bà rán mạnh giỏi
để thầy Ba và cậu Hạnh vui lòng.
Hạnh muốn nói với bà những lời thân thiết, nhưng vì nhút nhát và vì nghẹn ngào
nên Hạnh chỉ lấy quạt phe phẩy cho bà, dùng khăn lông chậm mồ hôi cho bà. Bà
Tám Ðịnh uống thuốc xong, bảo chồng:
- Thầy Ba và cậu Hạnh tử tế lắm. Khi tôi chết rồi, ông nên săn sóc thầy và cậu.
Ðược vậy vong linh anh Bảy tui cũng thoả mãn.
Bà lại mê đi. Ba và Hạnh không còn lòng dạ nào rời mái bếp. Ðến cuối canh ba,
bà Tám Ðịnh hấp hối. Trước khi chết, bà mở mắt ngước nhìn Hạnh, cặp mắt dại hẳn
đi. Bà kêu lớn:
- Con ơi!
Khi chôn cất xong bà Tám Ðịnh, chính ba và Hạnh phải săn sóc chồng bà. Ông thờ
thẫn như kẻ mất hồn, ngoan ngoãn như một đứa trẻ. Ông thường nhìn vào khoảng không
khóc thầm lặng hoặc cười vu vơ. Hạnh có linh cảm ông ta sẽ chết theo vợ vào một
ngày không xa. Quả vậy, ông chồng bà Tám Ðịnh không đau bịnh chi hết. Người ông
khô riết rồi chừng ba tháng sau ông nằm liệt, thỏm mỏm dần như ngọn đèn cạn dầu.
Từ khi bà Tám Ðịnh chết, Hạnh ở luôn tại Vĩnh Long để hủ hỉ với ba vì Hạnh yếu
phổi cần phải tịnh dưỡng. Hạnh săn sóc chồng bà Tám, dọn dẹp quét tước chái lá
cho ông. Lúc đó ba mướn hai mẹ con cô Hai Thời coi sóc việc nhà. Cô Hai là cháu
gọi ông Bảy Liệu bằng cậu, gọi bà Tám Ðịnh bằng dì. Cô Hai Thời trạc tuổi tứ tuần,
dáng người thon mảnh, nhặm lẹ, lúc nào cũng sạch sẽ, chải chuốt. Khuôn mặt cô
trẻ hơn số tuổi cô đang mang nhờ những nét cong mềm. Con gái cô tên là Kim Quế,
tuổi hai mươi, vóc cao lớn, mặt vuông, cằm cương quyết, trán cao. Bù lại, Kim
Quế có nụ cười rộng và tươi, mắt ướt, nét mày thanh. Mỗi khi nàng cười thì nụ
cười chẳng những tươi rạng mà còn bát ngát tình ý, sóng mắt nàng thêm ướt, thêm
tình tứ.
Cô Hai Thời hồi mười bảy tuổi ở đợ cho ông dược sĩ Huỳnh Thanh Cảnh. Ông ta dụ
dỗ cô, bơm cho cô một cái bầu. Bà vợ lớn biết được, đánh đập cô. Và cô phải bồng
con về Tam Bình nương náu. Tuy nhiên ông Cảnh vẫn lén lút cấp dưỡng cô. Cô
không lấy chồng nhưng tằng tịu với nhiều nhân vật thuộc giai cấp trung lưu. Kim
Quế được mẹ cho học tới bực trung học, ghi đậu bằng Brevet. Khi hai mẹ con cô
Hai Thời về ở với cha con Hạnh thì Kim Quế xin đi dạy trường Tân Giai cách nhà
hai cây số, ăn lương công nhựt.
Má con cô Hai Thời đã cùng Hạnh săn sóc ông chồng bà Tám Ðịnh rất chu đáo trong
những ngày cuối cùng của đời ông. Ông cũng được an táng trong miếng đất hương
hoả của gia đình Hạnh, nằm song song với mộ bà Tám Ðịnh và mộ ông Bảy Liệu giữa
vùng trồng trắc bách diệp.
Năm sau Hạnh thi đậu vào đại học Sư Phạm ban Hán Việt. Chàng phải rời nhà lên
Sài gòn lưu học. Trong hai tháng sau cùng còn ở tại quê nhà, Hạnh đã thấy cô
Hai Thời thường vào buồng ba ngủ đêm. Kim Quế như đã ngấm ngầm thoả thuận sự
dan díu đó nên tỏ ra thân mật với ba hơn.
Ngày Hạnh lên Sài gòn tiếp tục việc học thì ba bận việc không thể tiễn đưa Hạnh
tại bến xe đò. Chỉ có hai má con cô Hai Thời. Trong tiệm nước, cả ba ngồi ăn hủ
tiếu uống cà phê chờ giờ xe khởi hành. Hạnh bảo cô Hai Thời:
- Ba cháu hi sinh cho cháu quá nhiều. Cháu không có dịp săn sóc ba, nhưng cháu
rất mừng đã có cô. Xin cô thương yêu ba cháu, săn sóc ba nhiều hơn lúc cháu có
mặt ở nhà thì cháu đội ơn cô lắm.
Cô Hai Thời gật đầu, mặt và vành tai đỏ rần vì ngượng nhưng nụ cười cô thiệt rạng
rỡ.
° ° °
Bảy năm sau, Hạnh được thuyên chuyển về dạy học ở Vĩnh Long.
Ba đã qua đời truớc đó hơn một năm. Chàng đã cưới Kim Quế trước khi ra trường.
Cuộc hôn nhơn của Hạnh do ba sắp đặt. Bên nội lẫn bên ngoại chàng ồn ào phản đối.
Dưới mắt mọi người, rõ ràng cô Hai Thời, một thứ đờn bà hư hỏng, nhào vô gia
đình chàng để chiếm đoạt gia tài.
Hạnh rất thông cảm và biết ơn ba. Ba đã lựa Kim Quế cho chàng trước khi mời hai
mẹ con cô Hai Thời về sống chung. Ba đã biết sở thích, ẩn tình của cậu con trai
mình, đa cảm đa sầu, mong mỏi tìm một điểm tựa tinh thần và khao khát tìm một
người đàn bà phảng phất hình ảnh người mẹ. Trước đó, ngoài mái nhà của hai cha
con, ba đã gặp cô Hai Thời, đã tằng tịu với cô, đã có dịp tìm hiểu Kim Quế. Do
đó ba tìm cách mời hai mẹ con về nhà.
Cuộc hôn nhơn giũa Hạnh và Kim Quế do ba và cô Hai Thời sắp đặt. Về phần Kim Quế,
nàng đã yêu Hạnh từ lúc đặt chơn về nhà chàng. Riêng Hạnh, phải sau một năm
chung sống với vợ, chàng mới lần hồi tìm được ở vợ những điểm mà chàng khao
khát. Tình yêu dù đến với chàng sau cuộc hôn nhơn, nhưng thắm thiết dần, vững
chãi dần. Khi tạm thời lìa Vĩnh Long lên Sài gòn theo chồng, Kim Quế may thuê rồi
xin làm thơ ký cho một hãng xuất nhập cảng để có thêm tiền cung phụng cho
chàng. Nàng ham hoạt động như cái chong chóng và vững vàng như cái nền lót đá
hoa cương. Khi Hạnh lao vào lãnh vực viết văn viết báo thì nàng tìm cách giao
thiệp với văn giới và sưu tầm những bài vở nói tới văn tài của chàng. Chàng ham
đánh quần vợt thì nàng hăng hái cầm vợt. Nàng đóng đủ vai trò khi làm vợ Hạnh:
người mẹ, người vú em, người nữ y tá, người vợ, người tình…Sự vững vàng, tình
yêu thương của Kim Quế khiến Hạnh dần dần gột rửa được vẻ lầm lì, nhút nhát.
Chàng lạc quan hơn, tin yêu cuộc đòi hơn.
Cái chết của ba làm cô Hai Thời ngơ ngẩn, mất hồn suốt một thời gian dài. Chính
Kim Quế tận tình săn sóc mẹ. Hạnh nhận thấy vợ mình thật tràn trề sinh lực, dồi
dào cảm hứng. Cái sinh lực đó thúc đẩy nàng giúp đở chăm nom kẻ yếu đuối, bất hạnh.
Nàng yêu Hạnh cũng chính ở tính tình đa cảm, yếu đuối của chàng. Nhờ có Kim Quế,
Hạnh mới chợt nhận ra: không phải chỉ có kẻ yếu đuối mới cần nhờ tới kẻ mạnh,
mà chính nhờ những kẻ yếư đuối, người mạnh mới có cơ hội chứng tỏ tiềm năng quí
báu của mình.
Hạnh làm sao quên được lời trối trăn của ba trong lúc lâm chung:
- Khi con đã cưới vợ rồi ba mới nhẹ gánh lo nhứt đời ba. Ba đã gạt thành kiến của
người đời, đạp nhầu dư luận để cưới Kim Quế cho con. Mười cô con gái xuất thân
chốn nhà lành hoặc quyền môn nhập lại chưa chắc đã hơn vợ con. Nó là hình ảnh mẹ
con thuở trước đó.
GẢ THIẾP VỀ VƯỜN
Mẹ mong gả thiếp về vườn
Ăn bông bí luộc, dưa hường nấu canh
Ca dao
Bà Phán Hoành bảo con gái:
- Không phải má ép uổng con, nhưng má thấy thằng Ba Thoại hiền lành lại con nhà
khá giả, có của ăn của để nên má mới tính gả con cho nó.
Cô Hai Phụng Cơ e dè:
- Con không muốn cãi má, nhưng lấy chồng miệt đó con ngại lắm. Má ơi đừng gả
con xa, chim kêu vượn hú biết nhà má đâu! Nội nghe ba tiếng U Minh Thượng là
con rùng rợn rồi!
Ngọn đèn đặt trên chiếc bàn dài giữa cặp trường kỷ chạm nai, khỉ, chim, sóc, chùm
nho bỗng kêu một tiếng tách, tóe bông đèn rực rỡ như chùm pháo bông. Bà Ký Banh
trấn an:
- Cháu đừng lo, Ông bà Hội đồng Huờn, ba má thằng Toại giàu sụ, có toà cao lẫm
lớn, dãy dọc nhà ngang. Dinh cơ họ rộng minh mông, đầy cây cao bóng mát. Ổng bả
tuy ở miệt khi ho cò gáy nhưng biết cách ăn ở theo người tỉnh thành, nuôi nhiều
tôi trai tớ gái. Cháu mà về làm dâu nhà họ, cháu khỏi làm động tới móng tay, sẽ
có ba con tớ gái hầu hạ. Một đứa lo việc chải đầu rửa mặt, một đứa lo việc bếp
nước, một đứa để cháu sai vặt. Con vợ thằng Hai Tường sao thì cháu cũng được
như vậy.
Cô Hai Phụng Cơ liếc xéo bà Ký Banh. Bà nầy có tật ít xít ra nhiều. Vận sự nào
mà lọt qua miệng bả cũng được bả nhơn lên gấp rưỡi, gấp đôi sự thiệt. Ðó là vận
sự thường. Còn đối với việc làm mai làm mối, làm áp-phe để sanh lợi biết đâu bả
chẳng nhơn lên gấp ba gấp bốn, một nhúm gạo bả nấu thành nguyên nồi cháo, nghe
tiếng pháo bả sẽ hô tiếng pháo thần công cũng không chừng. Chèn ơi, lúc kể về
cái bề thế giàu sang quí phái của ông bà Hội đồng Huờn, mặt bà Ký Banh như mê
đi. Bà Phán Hoành ngồi giảo tai ra nghe, miệng nín khe nhưng cặp mắt long lanh
háo hức, coi không giống ai.
Cô Hai Phụng Cơ là bạn cô Tư Nguyệt Yếng, con gái của bà Ký Banh. Cô nầy có người
chị con nhà bác tên Hai Nguyệt Thanh lấy con trai lớn của ông bà Hội đồng Huờn
là Hai Tường. Song thân cô Hai Nguyệt Thanh là ông bà Phủ Bảnh chẳng những có
tước trọng quyền cao mà lại là bực đại điền chủ ở Vĩnh Long, có 200 mẫu ruộng tốt
ở miệt An Hương, Mỹ An. Khi cô Hai Nguyệt Thanh về làm dâu ông bà Hội đồng Huờn
thì ông bà Phủ Bảnh cho cô hai đứa tớ gái là con Xiêm, con Lài theo hầu.
Theo lẽ thường, khi sanh con đầu lòng, con gái phải về nhà cha mẹ, xổ bầu, tịnh
dưỡng cho tới khi cứng cáp mới về lại nhà chồng. Cô Hai Nguyệt Thanh vừa về tới
nhà tía má mình, véo von với lũ em liền:
- Chèn ơi, được về đây, tao tưởng chừng ở chín tầng địa ngục trồi lên dương
gian. Bởi tao lụy ảnh nên tao mới chịu về U Minh Thượng chớ xứ gì mà đầy rừng
tràm, nước đỏ au, đất phèn khô khao khô khốc, trồng chuối còn chưa được, nói
chi tới trồng cam, quít, ổi, mận... Hãy day qua bên nầy thì gặp rừng tràm; day
bên nọ thì gặp sóc Thổ; ngó về bên kia là đồng đầy cỏ lác, cỏ năng; ngước qua
đàng trước gặp đám điều lộn hột; ngoái lại đàng sau là thấy ao, bàu, lung, vũng,
đám sậy, rừng lau…
Về tới Vĩnh Long, cô Hai Nguyệt Thanh ăn hàng để báo thù những ngày thèm lạt ở
chốn khỉ ho cò gáy. Cô ăn quít đường, cam hồng mật, đu đủ, xoài, mận, ổi xá lỵ…Cô
ăn ốc gạo, thịt heo quay, thịt vịt quay…Nhưng hôm cô Hai Phụng Cơ theo cô Tư
Nguyệt Yếng tới thăm ông bà Phủ Bảnh, được mời ăn cơm, mới rõ được phần trù phú
của quê chồng cô Hai Nguyệt Thanh. Vừa ngồi vào mâm, cô Hai Nguyệt Thanh đã trề
môi nhún mỏ, ỏng ẹo chê bai :
- Xời ơi, con cá lóc xứ Vãng mình sao mà ốm o đèo đẹt! Tôm trứng cỡ ngón tay
thì nhiều mà tôm càng cỡ cườm tay thì ít nên mắc như vàng. Xứ sở của chồng tui
bị thiệt hại về trái cây nhưng được xôm về tôm cá. Tôm càng dưới đó rẻ rề, mỗi
lần ăn tôm, lấy gạch ra cầu cả chén. Cá lóc, cá bông bự bằng bắp chơn, trứng lớn
cả ngón trỏ…Còn loại cá lụn vụn như cá cốt, cá rói, cá linh ai mà thèm ăn! Thứ
đó chỉ dùng làm phân bón rẫy. Từ hôm về đây, bà con có thấy tui đi ăn cá nướng
trui, bún tôm nướng, chạo. suông bao giờ chưa? Mấy món đó, chị bếp của tía má
chồng tui làm hà rầm, ăn tới ngán ngược…
Cô Hai Nguyệt Thanh vừa sanh xong thì tuần lễ sau Hai Tường và Ba Thoại đi đò
máy rồi đi xe đò lên thăm ở chơi nhà ông bà Phủ Bảnh vài ngày. Cô Hai Phụng Cơ
tháp tùng cô Tư Nguyệt Yếng đến đó chơi nên cô lọt vào mắt xanh chàng công tử
miệt vườn Ba Thoại.
Hai Tường trắng trẻo, cao lớn, đẹp trai, ăn nói mềm mỏng duyên dáng, cô Hai
Nguyệt Thanh vui lòng về làm dâu chốn khỉ ho cò gáy cũng phải. Còn Ba Thoại tuy
cao lớn như anh, mặt mũi không có gì đáng chê trách, nhưng sắc diện lầm lì, cặp
mắt soi mói, nhìn ai là như muốn xoáy vào da thịt, tim gan đương sự. Vừa mới chạm
mặt chàng ta, cô Hai Phụng Cơ đã nghĩ thầm : «Cái thứ tẩm ngẩm tầm ngầm như tên
nầy dám làm chuyện động trời động đất lắm đa. Xời ơi, cái miệng thằng chả khi
cười coi sao mà nham nhở! Tui có giành trâu cướp ruộng hắn đâu mà hắn cứ nhìn
tui gườm gườm như muốn ăn tươi nuốt sống vậy cà! »
Ba Thoại muốn ăn tươi nuốt sống cô Hai Phụng Cơ thiệt. Chàng nhờ chị dâu mình cậy
bà Ký Banh làm mai cô Hai Phụng Cơ cho chàng sau khi viết thơ về tỏ tường trong
đục cho cha mẹ hay.
° ° °
Cô Hai Phụng Cơ lấy chồng mà lòng bất mãn lắm. Không phải cô
chê Ba Toại xấu trai hay dị dị, nhưng khi nghĩ đến cảnh đi làm dâu tại vùng cực
nam đất nước, chốn đĩa vắt muỗi mòng, trên có rừng cọp, dưới có sấu mà tay chơn
cô bủn rủn, hồn phác cô bàng hoàng.
Ðám cưới được tổ chức tại nhà hương hoả của ông bà Cai Tổng Viên, anh ruột của
bà Hội đồng Huờn, thuộc quận Cái Răng, tỉnh Cần Thơ. Cô dâu chú rể ở đó chơi một
tháng hoặc đi Sài gòn, Vũng Tàu tùy ý rồi mới trở về U Minh Thượng.
Trưóc ngày vu qui, cô Hai Phụng Cơ khóc với cô Tư Nguyệt Yếng :
- Tao lấy chồng mà lòng lạnh ngắt. Trời đất thánh thần ơi, rồi đây về U Minh
Thượng nếu tao không bị muỗi tha xác thì cũng bị đĩa hút hết máu, sống sao cho
nổi để về thăm mẹ cha, chòm xóm cùng bạn bè xứ Vãng nầy?
Bà Ký Banh bảo bà Phán Hoành :
- Rồi đây con Hai của chị sẽ ăn nên làm ra. Từ của cải ruộng đất của chồng, nó
sẽ làm ra cơ nghiệp đồ sộ cho chị coi. Hôm tui tới nhà chị làm mai thì thấy ngọn
đèn trổ bông chói loà. Ðiềm hên đó đa chị!
Cô Hai Nguyệt Thanh bảo cô Tư Nguyệt Yếng và cô Hai Phụng Cơ :
- Má chị có lần đi xuống U Minh Thượng dự đám tang của bà mợ dâu, có dịp viếng
nhà ông bà Hội đồng Huờn. Bả thấy gia cảnh của họ rỡ ràng nên muốn gả chị cho
anh Tường, không cậy ai mai mối. Khi trở về đất Vãng, bả rủ chị tới thăm cậu của
chị, rồi tổ chức cho anh Tường gặp chị. Vừa gặp chị, cả hai bị tiếng sét ái
tình long trời lở đất, dội ngực thốn tim. Bởi đó chị mới chịu về cái xứ quê mùa
hẻo lánh đó làm dâu.
Ai cũng nói vô thì cô Hai Phụng Cơ làm sao lộn nài bẻ ống tháo ra đây? Vào thập
niên 30, các cô gái đều phải chịu cảnh cha mẹ đặt đâu con ngồi đó. Vả lại Ba
Thoại chẳng những có ăn học mà còn dễ coi, vóc mình liền lạc, tay chơn cứng
cáp, phải thế trượng phu, cho nên cô đành ngâm hai câu :
Ra đi là sự đánh liều,
Mưa mai nào biết nắng chiều nào hay
Cô Hai Phụng Cơ đi lấy chồng thì cảnh nhà ông bà Phán Hoành lạnh ngắt. Bởi tánh
cô bãi buôi vui vẻ, ưa nói véo von, ưa cười giòn khấm khứu, ca hát lảnh lót nên
cảnh nhà ấm áp, vắng cô là vắng tất cả sinh động. Cây khế ngọt trổ bông tím
quanh năm ngoài bến nước từ đó vắng bóng cô chiều chiều ra hóng má hoặc thêu
thùa. Có chàng trai chiều chiều chèo tam bản dọc trên sông Long Hồ, khi qua đó
thường ngâm nga :
Trèo lên cây khế mà rung
Khế rớt đùng đùng không biết khế ai!
Khế củ ông Phán chẳng sai
Khế vừa có trái, cô Hai đi lấy chồng…
Hôm đám cưới, cô Hai Phụng Cơ mặt mày ủ ê bất mãn. Lũ chị em cô cậu, lũ chị em
bạn dì, lũ chị em chú bác với cô kẻ thì lấy chồng cùng tỉnh, người thi lấy chồng
Sài gòn, Mỹ Tho, Cần Thơ, Sa Ðéc…ai cũng được hưởng ánh sáng thị thành, ai cũng
có dịp khoe thú ăn chơi, những chuyện giao du của mình với xã hội…Riêng cô phải
lấy chồng xa mú tí tè. Ðã vậy khi xe nhà trai tới thì trời bắt đầu mưa lâm râm,
tới lúc ông bà mai lên cặp đèn sáp chạm rồng phụng thì bên ngoài mưa như cầm
tĩn mà đổ. Tuy nhiên hai ngọn đèn cháy đều, sáng phừng như hai búp sen bằng lửa.
Trên đường về Cái Răng qua bắc Cần Thơ, tới nhà ông bà Cai Tổng Viên, trời vẫn
mưa lai rai. Trước khi ra xe để về Vĩnh Long, bà Ký Banh vịn vai cô Hai Phụng
Cơ, cười ngỏn ngoẻn :
- Ðám cưới mà gặp mưa là điềm tốt đó đa cháu. Lại nữa, khi bác trai và bác lên
cặp đèn, thì ngọn đèn cháy đều và sáng quắc. Thêm một điềm tốt nữa, cháu có thấy
không?
Cô Hai Phụng Cơ miệng thì dạ dạ nhưng cặp mắt kín đáo liếc xéo bà mai, tại bà
thày lay mà tui xa xứ, tại bà ham đầu heo bự mà tui lìa quê.
Cô Hai Phụng Cơ hai tuần sau, từ Vũng Tàu gởi thơ cho cô Tư Nguyệt Yếng :
Ô Cấp, ngày….
Bớ con Nguyệt Yếng,
Chồng tao dắt tao đi Ô Cấp, ở khách sạn để hưởng tuần trăng mật. Sau đó ảnh sẽ
đưa tao qua Long Hải ở chơi thêm một tuần nữa. Tụi tao sẽ leo núi Bồng Lai, viếng
am cốc..
Giờ đây tụi tao tắm biển đã đời, ăn sò huyết, cua biển, ghẹ, nghêu, chem chép,
ăn đủ món cá…Tao thức thiệt khuya, dậy thiệt trể, đêm ngắm trăng biển, ngày
nghe nhạc phi lao. Tao phải nói rằng tao hạnh phúc. Chồng tao cưng tao lắm Yếng
à. Trung tuần tháng tới tao sẽ theo chồng về chốn U Minh Thượng xa lắc tí tè.
«Có chồng thiếp phải theo chồng. Nắng mưa thiếp chịu lạnh lùng thiếp cam ». Có
tình yêu của chồng, tao thấy cuộc đời nơi quê hương mới không còn ghê gớm như
tao đã nghĩ trước kia. Rồi đây mầy và tao mỗi người mỗi ngả, hướng rẽ càng dang
xa. Tao chỉ biết cầu cho mầy hạnh phúc viên mãn, cầu luon cho trăm năm sau, hạnh
phúc của tao vẫn tròn trịa như bây giờ, không sứt mẻ, không trầy trụa, Yếng à.
Tao tạm dừng bút. Hẹn khi về tới U Minh Thượng sẽ gởi thơ tiếp. Nhớ cầu Trời Phật
phò hộ cho hai đứa mình nghen mậy.
Bạn mầy,
Trần thị Phụng Cơ
Bà Ký Banh nhân một hôm đến nhà bà Phán Hoành ăn giỗ, cười bảo bạn :
- Con gái đứa nào cũng như đứa nấy, hễ đi lấy chồng xa là mặt mày ủ dột, oán
ghét ông bà mai cắc cớ trớ trêu xô tụi nó ra khỏi nhà cha mẹ. Ðó, chị coi đó,
con Hai bây giờ cơm ngon canh ngọt với chồng, nó viết thơ về tháo trút tâm sự với
con gái tui mà tâm sự nào cũng hân hoan ráo trọi.
° ° °
Cô Hai Phụng Cơ vừa đút đầu vô nhà chồng ở U Minh Thượng là gặp
cái không khí nghiêm trọng rồi. Ông bà Hội đồng Huờn mặt như tráng một lớp thép
mỏng nguội ngắt. Hai Tường tuy cười mà nụ cười kềm hãm không để lộ nguyên hàm
như hồi chàng đến thăm ông bà Phủ Bảnh. Còn cô Hai Nguyệt Thanh chưa chi đã đổi
gương mặt nhí nhảnh hồn nhiên thành vẻ mặt trịch thượng của bậc kẻ cả, thấy mà
ngứa gan.
Dinh cơ của ông bà Hội đồng Huờn cách chợ làng khoảng năm cây số. Chợ nầy có
nhiều gian hàng lợp lá của người Tàu, có tiệm mì, hủ tiếu, có tiệm chạp-phô tiệm
vải. Từ nhà họ, khác bộ hành có thể vượt qua đám điều lộn hột hoang dã, vượt
qua bãi lau sậy, qua cánh đồng cỏ năng để đến sóc Thổ của người Miên rồi đến
xóm Cây Da của người Việt dọc theo dòng kinh đào. Từ vàm kinh đào giáp với lòng
rạch song song với rừng tràm, du khách có thể vượt sáu cây số là tới chợ Chắc
Băng, nơi thị tứ sầm uất.
Nhà ông Hội đồng gồm ba căn hai chái, nóc lợp ngói âm dương, nền đá da qui cao
tới ngực, ở hàng ba thì lót gạch men trắng vẽ bông xanh, bên trong lót gạch trắng
chen gạch đỏ. Bên trái ngôi nhà từ ngoài ngó vô là sân lót gạch tàu, kế đó là lẫm
lúa gồm ba căn, vách bổ kho, mái lợp ngói móc. Lẫm lúa cũng có hai chái. Chái
bên trái dành để nông cụ, chái bên mặt để cối xay lúa và cối giã gạo. Trong sân
nhà có cây mù u tàn rậm, che bóng mát một vùng. Sân trước bày hòn non bộ, mấy
chậu cau kiểng, tóc tiên, kim quít. Phía sau nhà là cây da xà cũng để lấy bóng
mát. Trong vườn, ông Hội đồng Huờn cho trồng dừa Tam Quan, cau xiêm, mãng cầu
xiêm. Ông cũng đang thử trồng chuối nhưng vì đất còn nhiều phèn nên chuối còi cọc
lắm. Chung quanh khuôn viên nhà, ông cho đào mương, mỗi hướng có chiếc cầu tre
bắc qua bên kia đường đê của đám ruộng. Dọc theo mương, ông trồng làm hàng rào
bên ngoài, trồng cây xương rồng và cây độc trụ bọc bên trong.
Vợ chồng Hai Tường chiếm căn phòng ở chái bên trái, có cửa sổ trổ ra sân gạch
tàu và lẫm lúa. Vợ chồng Ba Thoại chiếm căn phòng ở chái bên mặt, có cửa sổ ngó
ra mương nước thả dây ấu xanh tươi,
Cô Hai Phụng Cơ từ nhỏ tới lớn chỉ lo ăn học. Tư tưởng tự do lãng mạn nơi mấy
cuốn tiểu thuyết từ năm nầy qua năm nọ chui vô óc cô rồi mắc kẹt luôn trong đó.
Song nó chưa có dịp ngo ngoe vẫy vùng. Bởi lẽ cô chưa va chạm với đời nhiều nên
cô còn nhút nhát. Bởi lẽ ba má cô giáo dục cô theo lối xưa nên cái tánh quật khởi
của cô chưa có dịp cháy phừng. Về nhà chồng, cô chẳng biết nấu nướng chi ngoài
các món cá kho, thịt kho, vài món canh, món xào thông thường. Trong khi đó, cô
Hai Nguyệt Thanh là con ông Phủ, địa vị bên cô ta trội hơn bên chồng nên cô được
thung dung tự tại, làm bếp hụ hợ, thêu may cầm chừng. Cô Hai Nguyệt Thanh ngoài
con Lài, con Xiêm là hai tớ gái cô mang theo, cô còn được bà má chồng cho thêm
con Kim Heng lai Miên để cô sai vặt. Trong khi đó, cô Hai Phụng Cơ chẳng mang
theo tớ gái nào, mà bà Hội đồng Huờn cũng chẳng nghĩ tới việc mướn cho cô một mụ
nào để phụ bếp, để coi sóc nhà cửa giúp cô. Từ khi cưới cô cho Ba Thoại, bà Hội
đồng Huờn cho mụ bếp Năm Cánh nghỉ việc. Con Lài, con Xiêm tuy có phụ cô việc bếp
núc, việc coi sóc nhà cửa, nhưng tụi nó không phải là đầy tớ của cô nên cô
không dám sai bảo tụi nó nhiều hay cằn nhằn rầy la chi cả.
Một hôm, cô Hai Phụng Cơ nấu cơm gạo mới. Cô vô ý đổ nhiều nước và đợi cơm sôi
ba dạo mới chắt nước. Cô Hai Nguyệt Thanh khi mở nắp vung ra liền cười bảo bà Hội
đồng Huờn :
- Mèn ơi, con tưởng đâu hôm nay thím Ba khuấy bánh đúc chớ!
Bà Hội đồng Huờn xáng cho cô Hai Phụng Cơ một cái nhìn nháng lửa :
- Xời ơi, ai coi con dâu út của tui! Nó nấu cơm chẹt nhẹt, nhão nhừ làm như ai
nhai cơm rồi nhổ phẹt vô nồi vậy!
Khoảng đời làm dâu ba năm của cô Hai Phụng Cơ tốn biết bao là nước mắt. Nhưng
trời bù đắp là Ba Thoại yêu thương cô rất mực, thường che chở cho cô nên cô
cũng nguôi ngoai phần nào. Lại nữa cô Hai Nguyệt Thanh chỉ đẻ một mụn con gái rồi
nán một thời gian dài. Còn cô Hai Phụng Cơ đẻ liên tiếp hai đứa con trai. Nhờ
sanh đẻ, máu huyết thay đổi, cô Hai Phụng Cơ phốp pháp và trắng phau phau.
Ít lâu sau, ông bà Hội đồng Huờn cất nhà cho vợ chồng Ba Thoại ở xóm Cây Da để
cả hai trông nom sở ruộng ba mươi mẫu, loại ruộng gò. Nhà của họ cũng ba căn
hai chái, vách bổ kho nhưng mái lợp ngói móc, nền lót gạch tàu. Chung quanh
khuôn viên là hàng rào đóng bằng cây tràm khô dầy bịt.
Ngay khi về nhà mới, cô Hai Phụng Cơ ỏn ẻn với chồng :
- Em thiệt không ngờ mình cưng em nên khi thì òn ỉ, khi thì làm trận làm thượng
với ba má để giờ đây vợ chồng mình có giang sơn một cõi. Có vậy em mới tìm lại
đời sống riêng cho em, cho anh…
Trong lúc bồng bột vì sung sướng, Ba Thoại ôm vợ hun trơ hun trất:
- Em càng ngày càng mơn mởn nuột nà, nhìn hoài không chán, nhìn suốt tháng cũng
chưa bưa. Hễ chỗ nào em vui là anh vui. Ba mươi mẫu ruộng nầy là của chú Tư anh
để lại cho anh chớ không phải của ba má anh đâu.
Về ở xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ sắm chiếc ghe hầu, mui sơn xanh da trời, mũi
ghe chạm trổ, khung cửa khoang cũng chạm trổ. Hễ buồn buồn, cô kêu bạn chèo ghe
đưa mẹ con cô ra chợ Chắc Băng ăn mì, cháo, hoành thánh, nem nướng đã đời. Ðôi
khi cô cùng chồng đi viếng các sở rẫy của người Triều Châu, mua bông bí đem về
luộc chấm nước cá kho hay chấm mắm nục, mắm nêm. Có lần đi ngang Cầu Ðúc Cái
Xình mua dưa hấu về ăn Tết, gặp trái ruột hường lợt, cô xắt ra để nấu canh tôm
thịt rồi rắc tiêu, hành, ngò gai. Rừng tràm bên kia dòng rạch đầy dây choại, hễ
khi ăn chay cô sai con Tím qua bên đó hái đọt choại nõn mềm về luộc. Khoai lang
ở đây rẻ rề, cô sai bà vú Dần mài khoai ra nhào với nước rồi vắt nước cốt lược qua
lớp vải the mỏng. Bột trong nước cốt lắng xuống, cô chỉ cần gạn bỏ nước trong rồi
đem bột ướt phơi khô. Thứ bột nầy khuấy nước sôi, trong văn vắt, có màu nâu tím
lợt, pha với đường phèn là trở thành một môn thuốc giải nhiệt thần sầu, chẳng
những ngon miệng mà còn trị được chứng mụn nhọt, đổ ghèn…
Cô Hai Phụng Cơ khi về xóm Cây Da, đẻ lần thứ ba con tiểu tỳ song sanh, ba năm
sau cô rặn thêm một con oắt tì nữ. Còn bên U Minh Thượng, cô Hai Nguyệt Thanh đẻ
thêm một đứa con gái đèo đẹt nữa rồi nín luôn.
Cô Hai Phụng Cơ biết địa vị của mình trong gia đình chồng đã vững lắm rồi. Cô
ngoả nguê trong hạnh phúc với người chồng lúc nào cũng một lòng một dạ yêu cô.
Nhưng cô vẫn còn vài điều bất mãn. Trước hết là cuộc đất ở xóm Cây Da khô khao,
đất chỉ có thể làm rẫy chớ không thể lập vườn. Ở đây chỉ có cây da, cây gừa, cầy
bình bát sống được. Nhìn quanh quất cô chỉ thấy rừng tràm dầy bịt, còn là đồng
chua, đất khô nứt, hoa đũa bếp nở rộ khi mùa mưa lướt thướt kéo về. Chợ Chắc
Băng thì xa, rồi đây hai đứa con trai cô phải rời xóm Cây Da ra ngoài học, sáng
đi chiều về bằng tam bản, thiệt không tiện chút nào. Thêm nữa, cái sóc Thổ gồm
toàn là người Miên khiến cô ngại lắm. Người Miên vốn giỏi bùa chú, thư ếm. Biết
đâu họ thấy vợ chồng cô giàu có sẽ thư ếm cho cả hai điên khùng hoặc đỏan mạng
để đoạt của.
Bà Hội đồng Huờn tuy thương yêu hai thằng cháu nội nhưng vẫn không hề thông cảm
với nàng dâu út. Bà tức ấm ách vì từ khi về xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ tìm
cách đuổi hết tôi trai tớ gái bà đưa đến. Từ chị bếp, cô tớ sai vặt, chị vú,
các anh lực điền đều là người quen biết của cô Hai Phụng Cơ, của bà Phán Hoành
đưa về. Bà Hội đồng Huờn ghim mối bất mãn trong bụng nên lâu lâu bà giả đò đến
xóm Cây Da để thanh tra và quan sát nếp sống của vợ chồng Ba Thoại. Bà lấy cớ ở
cuối xóm có ông thầy thuốc Miên giỏi tài trị phong thấp bằng ngải và lá thuốc cứu
nên lâu lâu bà cần đến xóm Cây Da vài ngày, truớc trị bịnh, sau để tiện đường
ra chợ Chắc Băn nhờ ông Bang Xạch Hui ở tiệm thuốc Khương Kiện Ðường coi mạch hốt
thuốc ích khí bổ thần cho bà.
Cứ mỗi lần bà Hội đồng Huờn cùng con ở tên Thia tới nhà là cô Hai Phụng Cơ như
cá mắc cạn. Cô quay mòng phục dịch mẹ chồng, không dám nhõng nhẽo với chồng. Bà
Hội đồng Huờn đụng đâu là chê đó:
- Nè vợ thằng Ba, đây là chỗ tạm, mầy sắm chi chén kiểu dĩa kiểu nhiều dữ vậy?
Còn đồ chứa nước mưa, mầy chỉ cần sắm hai chiếc mái dầm là đủ rồi, ai coi nó đã
sắm hai chiếc mái dầm rồi còn đến thêm lu bầu, rồi khạp, rồi bồn, rồi ảng…Nhà
ông Thiên Hộ, nhà ông Vạn Hộ chưa chắc xuê xoang bằng nhà nầy. Chèn ơi, cái sân
thì nhỏ, để dành phơi lúa chớ, sao mầy trưng bày bùm sụm, cau kiểng, mít kiểng
làm chi? Theo mép rào mà mầy không biết trồng bông đũa bếp là mầy quê lắm…Nhà nầy
sao mà không phép tắc gì hết! Tôi trai hễ rảnh là nhậu nhẹt, tớ gái bạ đâu nằm
đó, rồi tụm năm tụm bảy ngồi lê đôi mách, không thèm lý tới việc nhà…
Rồi vào một lần thăm viếng của bà Hội đồng Huờn, cô Hai Phụng Cơ bắt đầu phản
kháng. Cô thấy mẹ chồng cô cư xử vượt quá giới hạn hơi xa. Hễ tức nước vỡ bờ,
già néo thì đứt dây, cho nên cô đợi dịp trả đũa.
Trưa hôm đó, sau một chầu chỉnh lý nàng dâu, bà Hội đồng nằm trên võng đong đưa
thiu thiu dỗ giấc. Trong khi đó cô Hai Phụng Cơ ngồi trên chiếc divan cẩm lai,
cắt chiếc quần đáy giữa bằng cẩm nhung trắng. Cô liếc xéo về phía mẹ chồng. Xời
ơi, người gì mà khuôn mặt lưỡi cày, cặp môi củ ấu, đôi chơn mày xiên xiên, cái
bên mặt dấu sắc, cái bên phải dấu huyền. Mặt mày như vậy hèn gì tánh tình khó
khăn! Tui vốn nghiệp dầy đức mỏn, phước cạn nghiệp sâu nên mới nhào vô làm dâu
mụ mẹ chồng khó tánh hay chấp nhặt chấp thưa như bà thái hậu Ðịch Thiên Kim…Tui
phải làm sao cho bả từ đây nể mặt tui, lần lần tránh xa tui, để tui thở khoan
khoái, ợ ngáp tự do, duỗi co mặc ý…
Cô Hai Phụng Cơ vừa thấy thằng Khương đi ngang qua liền hét lên :
- Khương, tại sao bà nội mầy vừa ngủ mầy làm lộp cộp lạc cạc vậy? Ðồ bất hiếu,
không sợ trời đánh hay sao chớ?
Bà Hội đồng Huờn giật mình choàng dậy thì cô Hai Phụng Cơ bồi liền :
- Ðời nay con cháu gì kỳ quái! Bà nội tụi nó già cả giấc ngủ càng lúc càng ngắn,
bữa ăn càng lúc càng vơi, vậy mà khi bả mới dỗ giấc là tụi nó chạy rần rần,
khua động rầm rĩ thì bực già cả làm sao ngủ ngon được!
Bà Hội đồng Huờn thở dài, đưa võng qua lại, mắt khép mà miệng lầu bầu. Cô Hai
Phụng Cơ xuống bếp kiếm cái dĩa nhôm rồi trở lên chiếc divan cẩm lai. Vừa khi
nghe mẹ chồng ngáy se sẽ, cô lấy chiếc kép đập vô dĩa nhô, và dù không thấy thằng
Ninh ở đâu, cô cũng la oai oải :
- Thánh thần thiên địa ơi! Mầy làm giống gì vậy Ninh? Bà nội mầy vừa ngon giấc
kia cà, bộ mầy đui hay sao mà cứ làm ầm ầm loảng xoảng, bưng đầu nhức óc vậy
Ninh? Mầy gan quá mà, mầy không sợ lưỡi búa Thiên Lôi mà!
Bà Hội đồng Huờn choàng tỉnh dậy, giựt mình thảng thốt, cô Hai Phụng Cơ giả
nhơn giả nghĩa :
- Xin má cứ ngủ ngon giấc. Bởi hai thằng cháu khỉ khọn rắn mắt cứ chạỳ giỡn làm
đồ đạc rớt bể tùm lum không cho má ngủ suông sẻ nên con phải la rầy tụi nó.
Bà Hội đồng Huờn lại tiếp tục dỗ giấc. Vừa nghe bà ngáy như cưa cây, như thụt ống
bễ lò rèn, cô Hai Phụng Cơ ré lên :
- Tiên nhơn tổ đường ơi, diều tới kia cà! Bây đâu? Mau đuổi diều mau coi nào. Tụi
nó bay qua sân thế nào cũng xớt gà con ăn thịt. Ê! Ế! Diều! Diều! Ê! Ế! Bay chỗ
khác chơi!
Bà mẹ chồng lồm cồm ngồì dậy, nguýt nàng dâu một cái nháng lửa rồi đứng dậy phủi
đít bước ra hàng ba.
° ° °
Dòng lịch sử chảy qua biết bao khúc quanh biến động. Từ khi
ra riêng ở xóm Cây Da, cô Hai Phụng Cơ cứ òn ỉ chồng mua vé quốc trái và gởi tiền
vào Ðông Dương ngân hàng. Riêng cô, cô lo sắm vàng, sắm hột xoàn và gởi cho má
cô giữ.
Trước năm 1945, nào Nhựt đảo chánh Tây, nào giặc Ðàng Thổ dậy lên giết chóc người
Việt, nào bọn Việt Minh đêm bắt hào phú trong làng đem đi thủ tiêu...Riêng ở
xóm Cây Da, nhờ ngài lục cụ và mẹ sóc hiền đức, tu hành tinh tấn nên dân Ðàng
Thổ không nổi lên làm giặc. Tuy vậy cô Hai Phụng Cơ vẫn sợ lắm, cô òn ỉ chồng
bán ba chục mẫu ruộng cho ông bà Bang Biện Hanh rồi dọn về Vĩnh Long mở tiệm
bán đồ tạp hoá nhập cảng từ bên Tây.
Năm 1945 khi Việt Minh lên nắm chánh quyền, vợ chồng Ba Thoại bị bọn Quốc gia Tự
vệ cuộc bắt tống giam về tội giao du với Tây. May nhờ có Ba Tốt, chồng Tư Nguyệt
Yếng vốn có công trạng với Việt Minh, ra tay can thiệp nên cả hai chỉ bị cạo đầu
và giam hai tuần lễ rồi được thả ra.
Riêng ông Hội đồng Huờn thì bị bọn Việt Minh bắt đem thủ tiêu. May cho Hai Tường
nhờ theo ghe lúa đem bán cho chành ở Cái Răng nên thoát nạn. Cô Hai Nguyệt
Thanh tom góp của cải rồi cùng hai con chèo ghe than len lỏi đến chợ Vàm Xáng,
Hoả Lựu rồi đi đò máy về Cái Răng. Sau đó, vợ chồng Hai Tường lên Lèo làm ăn, mở
hãng xuất nhập cảng, công việc buôn bán càng lúc càng phát đạt.
Khi Tây trở lại, Ba Tốt phải bỏ nhà vào khu Tám. Ðể nhớ ơn cứu mạng, cô Hai Phụng
Cơ giúp vốn cho Tư Nguyệt Yếng mở một tiệm chạp phô bán đồ nhậu kèm với món
cháo cá giò heo đối diện với miễu Quốc Công.
Khương, Ninh vừa lớn thì tỉnh Vĩnh Long đã mở trường Cao Tiểu. Cả hai trúng tuyển
vào năm đệ nhứt. Cô Hai Nguyệt Thanh cũng cho hai đứa con gái mình là Nguyệt
Hiên, Nguyệt Phố về ở với ông bà Phủ Bảnh. Nguyệt Hiên học sau Khương, Ninh một
năm, còn Nguyệt Phố học chung trường Long Hồ với ba cô con gái của Ba Thoại là
Phụng Kiều, Phụng Các, Phụng Song.
Trước khi người Thổ dậy giặc khắp Hậu Giang thì bà Hội đồng Huờn bị té, mang chứng
bán thân bất toại. Chính cô Hai Phụng Cơ đến U Minh Thượng săn sóc mẹ chồng.
Chính cô huấn luyện con Thìn trong việc chăm nom bà trước khi cô trở về xóm Cây
Da. Sau khi bà chết đi, tình bạn giũa cô và cô Hai Nguyệt Thanh nẩy nở chơn
thành. Rồi đó, những cơn gia biến đã thắt chặt thâm tình của hai chị em bạn dâu
thêm chặt chẽ.
Thù giết tía chồng, thù bị sung công ruộng đất, thù bị cạo đầu xâm chàm vào tâm
khảm cô Hai Phụng Cơ. Tuy thương yêu, biết ơn cô Tư Nguyệt Yếng nhưng cô vẫn
không làm sao có cảm tình nổi với phe kháng chiến mà cô biết rằng cùng một phồn
một lũ với bọn Việt Minh cộng sản. Cô Tư Nguyệt Yếng từ chỗ có chồng vào bưng
kháng chiến, đâm ra có cảm tình với Việt Minh và chịu đứng ra truyền nọc cộng sản
khắp nơi. Chối tai gai mắt cho cô Hai Phụng Cơ biết bao khi cô thấy Ba Thế Phụng,
em trai cô, đi cưới Năm Huỳnh Mai, em gái Ba Tốt. Cả hai vợ chồng nầy hễ gặp Tư
Nguyệt Yếng là xúm vô nói xấu Tây, ngắt véo địa chủ, xỉa xói cái xa hoa của những
người giàu có như vợ chồng cô. Xời ơi, nói vậy mà nghe được! Nhà giàu sang cũng
có kẻ tốt người xấu, người nghèo hèn cũng có kẻ hiền lương người trật búa chớ bộ!
Cái bọn Việt Minh dưới mắt cô Hai Phụng Cơ là bọn ăn cướp cạn, vừa sát nhơn vừa
điêu ngôn xảo ngữ để tự phong thánh phong thần. Tía má chồng cô tuy nghiêm khắc
nhưng đối đãi với tá điền tá thổ vẫn có lòng nhơn đạo. Còn nhà nước Bảo Hộ theo
cô thấy chẳng có chỗ nào đáng chê trách hết. Thời họ, dân Nam kỳ dù nghèo mạt rệp
trên mâm cơm cũng có món canh, món mặn, món xào. Từ khi có vụ chống Pháp, bề
sinh sống bắt đầu khó khăn, mua gì cũng mắc. Cô Hai Phụng Cơ vốn không ưa chánh
trị nên cô không để ý gì đến thời sự. Cô nhìn những người ái quốc qua những tên
Việt Minh đã cạo đầu còn mắng nhiếc bêu xấu cô đủ điều. Tụi khốn nạn đó sẵn dao
bén còn cạo đôi chơn mày lá liễu của cô trụi lủi.
Hiện giờ cộng sản, Việt Minh ở đâu không thấy, cô chỉ thấy vợ chồng Ba Thể Phụng,
cô Tư Nguyệt Yếng và lũ bạn cô Tư xúm lại bàn tán mấy cuốn tiểu thuyết đề cao
kháng chiến của Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà, Liên Chớp, Dương Tử Giang, cô Hai Phụng
Cơ hầm lắm, đợi dịp chỉnh lý cái thứ ăn no rồi bày đặt ủng hộ bọn siêu mưu làm
loạn kia.
Hôm đó nhà ông bà Phủ Bảnh có đám giỗ. Vợ chồng cô Hai Phụng Cơ, Ba Thể Phụng
được mời tới dự tiệc. Cô Tư Nguyệt Yếng là con cháu trong nhà nên có mặt từ hôm
bữa giỗ tiên qua bữa giỗ chánh. Từ khi con gái út của bà Phủ Bảnh là cô Út Ngọc
Dung si tình một thanh niên khuynh cộng thì Tư Nguyệt Yếng thường theo vợ chồng
Ba Thể Phụng đến rủ rê cô mỗi tháng đóng nguyệt liễm cho trạm y tế của phe
kháng chiến ở Cái Ngang. Họ còn giới thiệu cô Út bọn công tác thành, bọn nội ứng
mà cô Tư Nguyệt Yếng gọi bằng cái tên mỹ miều dũng cảm: "Những kẻ chiến đấu
trong lòng địch" để cô Út mở rộng tầm hoạt động.
Sau bửa tiệc thịnh soạn, cô Út Ngọc Dung mời vợ chồng Ba Thể Phụng, cô Tư Nguyệt
Yếng và cá cô bạn đồng tâm đồng chí ra nhà mát, giáp mé sông Cái Cá để dùng trà
bánh. Cô Hai Phụng Cơ liếc xéo về phía họ rồi cất giọng rổn rảng hỏi bà Phủ Bảnh:
- Thưa bác, mấy năm nay bác có góp được lúa ở mấy sở ruộng miệt Tam Bình, chợ
Thầy Phó không?
Bà Phủ Bảnh xụ mặt:
- Có được hột nào đâu, cháu! Hồi năm 45, hai bác nhờ ông bà khuất mày khuất mặt
phò hộ nên trốn khỏi cuộc lùng bắt của bọn quỉ vương đó, kể là may lắm rồi. Giờ
đây mình vác thây vô vùng đó để góp lúa thì có khác nào dưng thây vào miệng cọp,
miệng chằn tinh cháu ơi!
Giọng cô Hai Phụng Cơ rổn rảng một thì giọng bà Phủ Bảnh rổn rảng mười. Giọng
bà rót vào tai đám thanh niên rõ mồn một. Bà Phủ Bảnh tuyệt nhiên chưa rõ sự kết
ước của cô gái út mình với chàng thanh niên khuynh cộng. Bà chỉ thấy cô trưởng
nữ mình là cô Hai Nguyệt Thanh đã bao phen bị trầy vi tróc vẩy vì bọn Việt
Minh, cùng sự điêu đứng của vợ chồng bà hồi năm 1945, cho nên bà hung hăng khạc
từng tràng từng lọn lời ác, lời thô:
- Ai sao kệ mồ tổ họ, chớ riêng bác, bác thích Tây ở xứ mình hoài. Tụi Tây mà
xuống tàu về nước, những kẻ chết trước là vợ chồng bác đó cháu. Hai bác làm sao
sống nổi với bọn đầu trâu mặt ngựa Việt Minh đó!
Cô Hai Phụng Cơ cười hăng hắc, ôm chầm lấy bà Phủ Bảnh:
- Thiệt tình, sao bác nói hạp ý cháu quá!
° ° °
Nhiều đêm nằm gác tay lên trán để suy nghĩ nỗi nọ đường kia,
cô Hai Phụng Cơ mới thấy dù đời sống thị thành hạp với óc cầu tiến và tánh ham
hoạt động của cô, nhưng tâm hồn cô đã mọc rễ vào vùng đất U Minh Thượng, xóm
Cây Da, chợ Chắc Băng khó mà bứt ra. Ðành rằng đất phèn khô khan, trồng lúa thì
được mà lập vườn phải đợi vài chục năm nữa, nhưng đó là cuộc đất hứa hẹn vì nhà
nước bắt đầu đào thêm rạch, khơi thêm ngòi mới. Chất phèn trong đất mỗi mùa
mưa, theo nước mưa trôi xuôi ra biển mỗi lúc một nhiều. Trong những chuyến đi
thăm bà con bên chồng ở miệt Hóc Hoả, Hoả Lựu, vịnh Chèo, vịnh Trà Bay, cô Hai
Phụng Cơ thấy đất cát vùng đó bắt đầu trồng được chuối, mãng cầu xiêm, dừa,
cau, khó ...Những vùng đó nào có xa xôi gì với quê chồng cô, vậy thì cái ngày U
Minh Thượng lập thành vườn chắc cũng không mấy lâu. Nhưng Việt Minh đã xô đẩy vợ
chồng cô Hai Nguyệt Thanh và vợ chồng cô khỏi cuộc đất hứa hẹn đó. Sau hiệp định
Genève, cô dò dẫm về thăm quê chồng thì nghe rằng trước khi tập kết ra bắc, Việt
Minh gài bọn nằm vùng rất đông. Chúng đã nửa đêm tới nhà bắt thầy Tư Thạnh con
ông Bang Biện Hanh đem di thủ tiêu. Chúng còn liệng lựu đạn vào đám tiệc của Xã
trưởng Thọ. Cảnh sát hương thôn yếu quá, không dám vô sâu trong lán trong bưng
nên bọn nằm vùng vẫn tiếp tục lộng hành.
Ðường về quê chồng đối với cô Hai Phụng Cơ kể như mất lối. Thuở ở xóm Cây Da
tuy cô siêng năng lo việc tề gia nội trợ nhưng không quá nô lệ vào thời giờ như
khi ra thị thành buôn bán. Ðối với cô, nó là thiên đường vì vợ chồng cô đã sống
đời tự lập, đã nếm mùi hạnh phúc lứa đôi ở đó. Hai thằng con cô không hề giữ lại
một chút gì về quãng đời thơ ấu của chúng nơi quê cũ. Thằng Khương thi đậu tú
tài liền ghi tên học Y khoa, còn thằng Ninh thì học Dược. Thằng anh đãi bôi:
- Con ráng kiếm tiền để về già chuộc lại ruộng vườn xưa, sửa lại mái nhà hương
hoả. Từ đây tới đó, tình hình thời cuộc sẽ đổi khác, má tin đi!
Thằng em cũng nói xạo:
- Hễ lúc nào đầu óc căng thẳng, con đọc truyện đồng quê của Phi Vân, Bình
Nguyên Lộc, Sơn Nam là đầu óc con mát rười rượi. Kiếm nhiều tiền, con sẽ mua vườn
ở ven đô hay vùng phụ cận tỉnh nhà, con sẽ nhường cho má sắp đặt khuôn viên giống
như nhà cửa, khuôn viên ở xóm Cây Da.
Ôi, tất cả còn là lời hứa, còn là dự định, bao giờ mới thực hiện được đây? Cô
Hai Phụng Cơ dẫu sao cũng bằng bụng lắm. Cô nghĩ con nhà tông không giống lông
cũng giống cánh. Cô chẳng có cái tài gì đặc biệt để cho các con giống, cô chỉ
có niềm yêu đất quê. Tụi nó mà biết noi theo chí hướng và tấm lòng tha thiết với
cố hương thì tụi nó sẽ tạo được một cơ nghiệp, một giang san cho con cháu sau nầy.
Con Phụng Kiều thi đậu xong trung học đệ nhứt cấp thì chọn học ban A. Nó thường
khoe với cả nhà:
- Chèn ơi, thầy Toản dạy toán lý hoá ăn nói đậm đà, có duyên ác!
Con Phụng Song chõ mỏ:
- Em biết mà, thẩy là người Bắc kỳ.
Con Phụng Kiều trợn mắt nhìn em, táp liền:
- Bắc kỳ rồi sao? Bộ Bắc kỳ không có quyền hát hay, nói giỏi hay sao? Tao thử hỏi
mầy: ca sĩ hát tân nhạc xứ mình, người Bắc nhiều hay người Nam nhiều? Trong mấy
cuộc họp, ai lên phát biểu ý kiến hay? Tao thấy người Nam mình hát vọng cổ thì
mùi, còn hát tân nhạc thì lạt nhách. Hễ vô hội họp thì người Nam mình ngồi thù
lù một đống, quan bảy cũng ừ, quan tư cũng gật...
Cô Hai Phụng Cơ hoảng kinh nhìn cô trưởng nữ. Coi vèo nầy, con nha đầu kia mê
trai Bắc kỳ rồi. Cái thứ Bắc kỳ vô đây ở nhờ mà luôn coi mình là khách. Họ ăn
vú sữa, xoài, tôm càng, cá chái mà miệng cứ luôn luôn ca tụng đào, mơ, mắm
rươi, cá chép...Cô nhứt định rồi, không cho nó kết hôn với kẻ khác xứ. Ai chê
cô kỳ thị Bắc Nam cô chịu, chớ cô nhứt định chọn rể nếu không là người sông Hậu
thì cũng là người sông Tiền, biết rành tập tục miền Nam, biết thưởng thức cải
lương, vọng cổ, biết nhậu rượu đế với thịt chuột, dơi, rắn, lươn...Nhưng rồi
con Phụng Kiều của cô tuy khen thầy Toản nói giỏi, hát tân nhạc hay mà nó lại
chọn thằng sinh viên Bắc kỳ học trường Nông lâm súc. Thằng nầy tuy khôi ngô
nhưng ít nói, giọng thùng thiếc bể nên hát tân nhạc rất dở. Cô Hai Phụng Cơ bực
mình lắm vì bọn Tư Nguyệt Yếng, Ba Thể Phụng cứ theo eo sèo chì chiết.
Sự chia rẽ Bắc Nam càng lúc càng phai lợt dần trong tâm tưởng hai bên, Bắc cũng
như Nam. Ðó là lúc vợ chồng cô ghiền nghe ngâm thơ Tao Ðàn, mê trà mạn sen, ưa
ăn bánh cuốn, phở, bánh tôm chiên, bánh cốm, bánh xu xê...Nhìn thằng rể Bắc kỳ
ăn thử một múi sầu riêng mà nhợn tới nhợn lui, cô Hai Phụng Cơ thông cảm:
- Cũng có nhiều người Nam không ăn được sầu riêng vì chê hôi, để má gọt xoài
cát, đu đủ cho con ăn.
Tía má chàng rể Bắc kỳ vốn hấp thụ nho phong nên cư xử đứng đắn, ăn nói mực thước
khiến trước mặt họ, cô Hai Phụng Cơ cảm thấy mình quê mùa kém cỏi. Dù họ không
có chỗ nào đáng chê trách, nhưng cô vẫn kiếm chuyện để hạ họ xuống ngang hàng
thì cô mới bằng bụng. Bởi đó, trong bức thư gởi cho vợ chồng Hai Tường, cô viết:
"Ông suôi bà suôi của tụi em mặt mày chim bỉm. Xời ơi, theo người Nam
mình, suôi gia gọi nhau bằng anh chị. Ðằng nầy họ gọi tụi em bằng ông bà..Xí,
cái thứ trôi sông lạc chợ vô tới quê người mà không chịu nhập giang tùy tục, cứ
ăn nói kiểu cách, nghi lể rườm rà thấy phát ghét!"
Con Phụng Kiều tuy được làm kỹ sư phu nhơn nhưng cô Hai Phụng Cơ coi con gái
mình như Chiêu Quân cống Hồ. Cô chỉ còn cậy trông vô sự hiểu biết của hai đứa kế.
Nhưng ông bà ông vải ơi, trái tim con người vốn dại dột. Nghe con Phụng Các mở
miệng ra là khoe dân Nam mình thế nầy, dân Nam mình thế nọ, ai có dè nó lên Sài
gòn gặp một thằng Bình Ðịnh là lậm liền. Nó ỏn ẻn khoe với con Phụng Song:
- Ảnh sanh trưởng tại làng Tây Sơn, quê hương của vua Quang Trung Nguyễn Huệ đó
đa. Ảnh còn biết võ nữa. Em còn nhớ câu: "Ai về Bình Ðịnh mà coi. Ðờn bà
cũng biết múa roi đi qườn" không?
Cô Hai Phụng Cơ sẳn lòng chiêm ngưỡng vua Quang Trung cùng chiến công hiển hách
của vị anh hùng ấy. Cô cũng rất ái mộ văn tài của nhà văn Võ Phiến. Nhưng nếu
hoàng đế Quang Trung có tái sanh, ông Võ Phiến có chưa vợ mà đi hỏi con Phụng
Các, chắc cô cũng hoang mang lắm. Làmsao cô ưa nổi cái quê hương nghèo nàn cùng
cách phát âm bù chả bù chẹt của một vùng trên dải đất Trung kỳ?
Phụng Các và gã sinh viên Bình Ðịnh kia vừa tốt nghiệp xong thì được bổ đi dạy ở
Bình Dương. Có thêm thằng rể không phải là dân Nam kỳ quốc, lại chỉ là nhà mô
phạm lương ba cọc ba đồng, cô Hai Phụng Cơ bất mãn ra mặt.
Trong chiến tranh, vùng kiểm soát của phe quốc gia sau chiến dịch Phụng Hoàng
càng lúc càng thu hẹp. Cô Hai Phụng Cơ hết mong lập vườn ở ven đô hay các vùng
phụ cận tỉnh Vĩnh Long vì vùng nào cũng có đánh nhau , có lộn xộn. Tuy bị cuốn
theo mệnh nước nổi trôi, cô Hai Phụng Cơ vẫn hy vọng mong manh, hy vọng vô căn
cứ. Nhiều đêm nhớ về U Minh Thượng, cô trằn trọc với nỗi u hoài khó hiểu trong
khi chồng cô, Ba Thoại, ngủ ngáy pheo pheo bên cạnh. Từ lâu sống ở đô thị, tiếp
xúc với thị dân miền Nam, với người Bắc trung lưu, nghe cách phát âm ráo rẻ của
người Sài gòn, cô Hai Phụng Cơ nhớ tha thiết giọng nói quê mùa đả đớt của dân Hậu
giang. Họ không phát âm đúng được những tiếng khởi đầu bằng chữ r và bằng chữ
kh. Ôi làm sao cô quên câu "con cá gô bỏ vô gổ nhảy nghe gột ghẹt" và
câu "phia phia ăn phai cho phẻ" của các anh nông dân, của các chị
thương hồ? Vậy mà khi ra đồng làm ruộng hoặc lúc chèo ghe nới sông rộng, họ
"mùi" sáu câu vọng cổ, vần và chữ được phát âm trúng phóc, nghe giống
Út Trà Ôn, Hữu Phước thất kinh. Ôi Hậu Giang! Ôi quê xưa xa lắc! Có nhiều lúc
cô tưởng chừng nó lọt ra ngoài giấc mộng qui khứ lai từ của cô khiến cô đau thắt
ruột gan.
° ° °
Sau 30.4.75, đứa con trai lớn của cô Hai Phụng Cơ đi học tập
năm năm rồi được thả về sống nhờ tiền cấp dưỡng của thằng cháu đích tôn của cô
gởi về. Thằng thứ nhì nhờ vợ có quốc tịch Pháp nên được qua Pháp theo chính
sách hồi hương. Con Phụng Song nhờ làm chiêu đãi viên hàng không nên bay qua đảo
Guam trước ngày 30.4.75. Vợ chồng con Phụng Kiều liều thân vượt biển, trên chuyến
hải hành phải thủy táng thằng con bốn tuổi vì thiếu nước. Sau đó gia đình nó định
cư bên Úc. Vợ chồng con Phụng Các may mắn vượt biên êm xuôi qua Nam Dương rồi lập
nghiệp ở Hoa kỳ. Con Phụng Song làm giấy tờ bảo lãnh cho cha mẹ qua Mỹ. Ba Thoại
bắt đầu lẩn thẩn, ưa moi đống rác, lượm chai lọ, đồ phế thải chất đầy góc nhà.
Còn cô Hai Phụng Cơ mạnh dạn mở tiệm bán sách báo, kèm thêm bánh mì nên sống rất
vững.
Phụng Song làm quen được một chàng bác sĩ, dắt về nhà giới thiệu với cha mẹ:
- Nam kỳ chánh cống đó ba má.
Cô Hai Phụng Cơ bằng bụng lắm, lòng phơi phới. Chàng rể nầy chào đời ở Ô Môn
thuộc Cần Thơ. Chàng có kiến thức sâu rộng về miền phù sa sông Cửu. Cô Hai Phụng
Cơ có nhiều dịp kể cho chàng ta nghe về quê hương của chồng mình. Từ đó chàng
lân la tới nhà cha mẹ vợ tương lai, chàng khuyến khích Ba Thoại viết hồi ký cho
nên chồng cô có việc làm để giải trí. Cô Hai Phụng Cơ tưởng như ông trời vừa lì
xì cho mình một đứa con mới, hồn quê lúc nào cũng sáng vằng vặc như bóng trăng
rằm trong tâm tưởng. Cô gọi điện thoại qua Washington DC để báo cho anh chồng
chị dâu, giọng háo hức:
- Anh chị ơi, con út của em tìm được thằng nầy thuộc gốc gác Nam kỳ để trao
thân gởi phận rồi. Nam kỳ muôn năm!
Cô gọi điện thoại qua Pháp để báo tin cho đứa con trai thứ nhì bằng giọng đắc
thắng:
- Con Phụng Song em con từ bấy lâu nay bưng rổ may đi nửa vòng trái đất mới tìm
được một chàng dõng tướng Nam kỳ. Con nên mừng cho em con!
Cô gọi cho Phụng Các ở Texas, cho Phụng Kiều ở Sydney, khoe bằng giọng sôi nổi
nồng nàn:
- Chèn ơi, Phật Trời nhận lời cầu xin của má nên mới lì xì cho má thằng rể bác
sĩ sản sanh ở Ô Môn, tâm hồn mát rượi như giòng sông Bassac. Ai dè con Phụng
Song có phước phận dường ấy. Biết đâu nay mai cộng sản bị tiêu diệt, nó sẽ về
làm dâu đất Ô Môn. Từ Ô Môn đi U Minh Thượng bằng đò máy chỉ chừng một ngày là
cùng.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét