Bãi gió cồn trăng 2
Chương 7
Cô Thiệt Nguyện buông chiếc lược sừng trâu xuống chiếc bàn
hình hột xoài, bảo cô Hai Túy Ngọc:
- Khuôn mặt em đúng là có hồng quang phát hiện. Em có tướng sang bẩm sinh. Trời
sanh em ra để em làm mạng phụ phu nhơn đó.
Cô Hai Túy Ngọc nhìn lom lom bóng mình trong kiến. Tóc cô chải bảy ba, đen bóng
như huyền giồi, mặt cô ửng hồng và sáng rỡ, môi cô mọng thắm, mắt ngời ngợi
sóng thu. Hôm nay cô Thiệt Nguyện dạy cô bới đầu lèo, cái búi tóc hình bánh
tiêu được bao lưới giắt trâm nhấp nháy.
Cách đây ba ngày, ông Huyện Khải cậy hai bác của mình là ông bà Hai Trưởng đứng
chủ hôn và vợ chồng thầy giÿo Thiệt làm mai đi coi mắt cô Hai Túy Ngọc. Bà Chín
Thẹo và cô Thiệt Nguyện lãnh phần lo trà rượu tiệc tùng. Đàng trai đưa cho đàng
gái hai trăm đồng lo lễ cưới. Sình lễ gồm đôi vòng cẩm thạch xanh nước lý mà
ông Huyện Khải đào được ở nền nhà cũ, một đôi bông hột xoàn cỡ năm ly rưỡi, một
chiếc kiềng vàng nặng một lượng, một chiếc trâm cẩn sáu hột xoàn hai ly, một
chiếc cà rá nhận hột ngọc lựu. Ngoài ra ông còn tặng cô dâu xấp gấm đỏ, xấp nhiễu
xanh da trời để may áo cặp, một xấp cẩm nhung trắng để may quần.
Cô Ba Túy Nguyệt được chị mình tặng những món nữ trang do ông bà Năm Tảo sắm
cho gồm chiếc vòng vàng chạm bát bửu, sợi dây chuyền có miếng mề đay cẩm thạch
tạc hình tượng Quan Âm. Cô rất mừng cho chị mình lấy được chồng sang.
Bà Bang biện Huỡn cùng hai cô con gái đi Tịnh Biên về, mặt mày cả ba đều hớn hở.
Thạch Eng và Cà Nựng đã dắt bà đến thầy của họ là Lâm Xâu để chuộc bùa, chuộc
niệc đeo cổ hầu chống lại sự báo oán của các oan hồn. Kỳ về nầy, bà mua nào là
lụa cẩm châu, lãnh tân châu, mắm thái, khô sặt, mắm cá trèn để dùng và biếu xén
những nơi quen biết.
Ông Huyện Khải cậy ông Năm Tảo sắm bàn ghế khi túp nhà lá gần bên đã sử chữa
xong. Ông cũng bỏ tiền ra mua chiếc divan cẩm lai đặt ngăn bên chái túp nhà.
Sau đó ông mới chở ông Bác vật Cảnh, người em họ nhà chú của ông về dưỡng bịnh.
Ông Năm Tảo có qua chẩn mạch, hốt thuốc cho người đờn ông bất hạnh kia để ngăn
bịnh cùi chậm phát tác và làm giảm đau. Ông khuyên đương sự:
- Bịnh chửa khỏi hay không chi do thấy thuốc có một, nhưng do số trời, do nghiệp
quả tới mười.. Ông Bác vật nên tụng thêm kinh Phổ Môn và kinh Dược sư Lưu ly
quang để nhờ tha lực của đức Đại bi Quán Thế Âm Bồ tát cùng đức Dược Sư độ trì.
Bác vật Cảnh làm thinh, không nói gì.. Ông Năm Tảo đi thăm thú khắp vườn sao
ngõ ngoài, chỗ ẳn cư mới của Bác vật Cảnh. Đâu đó được làm cỏ và quét tước sạch
sẽ. Buồng ngủ có tủ áo nạm kiếng hình hột xoài, divan cẩm lai. Phòng khách có bảy
bàn tròn và ghế bằng dây mây bện rất mỹ thuất. Bên chái là tủ kính đựng đầy
sách báo và những món ngoạn khí bằng sành, sứ, gỗ quang dầu bóng lộn. Ông Năm Tảo
mở gói giấy lấy hai tấm rèm màn bằng vải do cô Ba Túy Nguyệt may và thêu đục lỗ,
bảo ông Bác vật căng ở hai bên xửa sổ. Ông cũng không quên mở cần xé, lôi ra
nào ấm nhôm, hỏa lò, than cần đước, bộ đồ trà... và bảo:
- Ông chỉ phải sắc thuốc, pha trà, còn cơm nước thì ngày ba bữa, con gái tui sẽ
đem qua cho ông dùng:
Khi tiễn ông Năm Tảo ra ngõ, Bác vật Cảnh buồn rầu bảo:
- Ông Năm thiệt chu đáo trong việc sắp xếp chỗ ăn chỗ ở cho tôi. Ơn ông không
biết bao giời tôi mới trả nổi đây! - Và ông nhấn mạnh - Tôi không phải là kẻ
duy tâm nên không tin tưởng Trời Phật, song tôi vẫn hằng tâm niệm giữ tròn nhân
lễ nghĩa trí tin. Mắc bịnh ngặt nghèo nầy, tôi chỉ tin tưởng vào thuốc thang mà
thôi.
Cô Thiệt Nguyện vẫn đi doọc theo cồn bãi nắm trong lòng sông Cô Chiên để chửa bịnh
mắc đàng dưới cho phụ nữ. Cô lập đàn tràng cầu nguyện cho các oan hồn mà thân
thể đã chìm sâu đáy nước. Cô cũng ếm bùa ngăn bọn thủy quái lộng hành, phá
phách bá tánh cư ngụ ven sông.
Cậu Hai Kinh lý Luyện vẫn tiếp tục đo đất ở Mỹ An, Hòa Mỹ, An Hương. Cậu đang
nhắm vào cô Ba Hưởng, con gái chú Thường xuyên Hiếu ở Hòa Mỹ và cô Hai Thiều,
con gái Hương nhứt Điều ở An Hương.
Cô Ba Cẩm Tú ốm nghén được ba tháng. Chồng cô khám thai cho cô và bảo rắng cái
thai bình thường. Vì cẩn trọng, sợ lỡ trợt té mà sảo thai nên cô bắt chồng dời
phòng ngủ vốn lở lầu trên xuống từng trệt cho chắc ăn.
Cô Tư Cẩm Lệ theo chồng về Sài gòn sau khi từ Tịnh Biên về Vĩnh Long một tuần.
Vô cậy có bùa niệc trấn ếm nên vẫn giữ thói xéo xắt và hành hạ con ghẻ. Cô tìm
cách lên đất Hộ, tỉm mả cô Tư Thục, đem bốn cọc tre vó vẽ bùa cắm lút cán ở đầu,
chân và hai bên hông mộ. Cái thai cô lật bật đã được bốn tháng. Cô ăn được ngủ
được. Trong giấc chiêm bao, cô không hế thấy cô Tư Thực hiện hồn về đòi mạng nữa.
Còn ông Bang biện Hưỡn đã được Cai tuần Xướng dàn xếp để ăn nằm với vợ Cai tuần
Hạp. Ngặt vì bịnh cúm làm ông tối tăm mày mặt mãi nên ông chưa đưa vợ Cai tuần
đến tổ quỉ của mình ở cầu Kinh Cụt mà thôi.
Chú Cai tuần Hạp làm mướn hai dãu ruộng của ông Bang biện Hưỡn, mỗi năm phải
đóng cho chủ điền 300 giạ lúa, năm nào được mùa thì còn dư 150 giạ. Cách đây ba
năm, vì bà Chín Én, mẹ vợ của chú đau nặng, nên vợ chồng chú phải bán rẻ 50 giạ
lúa lấy tiền lo thuốc thang. Nhưng thuốc thang không qua số mạng. Khi bà Chín
Én chết đi, chú phải bán thêm 50 dạ lúa nữa để làm ma chay cho nhạc mẫu. Tới
chùng đóng thuế thân thì chú chới với vì số lúa còn dư không đủ cho hai vợi chồng
và bốn đứa con sống trọn năm. Bởi đó, vợ chú phải đem thân ở đợ cho gia đình
ông Bang biện để trừ số lúa vay của họ.
Hôm nay Cai tuần Xướng có dịp đi Cái Sơn Bé, ghé qua nhà Cai tuần Hạp. Nhà chú ở
cuối xóm, cách xa con liên tỉnh lộ cỡ 500 thước, cạnh một dòng rạch nhỏ iền cây
dừa nước rậm rạp. Nhà vách lợp lá xé, mái lợp lá chầm gồm một gian và một chái.
Cái chái sát gần bên ao đầy điên điển trổ hoa vàng. Rạch dừa nước thì ở phía
trước, cách hàng rào bông bụp khoảng năm thước. Song song với dòng rạch là con
đường đắp đát. Nhà nằm giữa bốn công đất nhỏ có trồng vài bụi chuối, vài cây ổi,
dăm cây khế. Trong nhà, ngoài bàn thờ bằng gỗ thao lao, còn có bộ ngựa gỗ tạp,
chiếc bàn dài bằng gỗ mù u và bốn chiếc ghế đẩu mỗi bên.
Cai tuần Hạp tuổi cỡ ba mươi ngoài, đen đúa, mặt mũi hiền lành, ở trần trùi trụi,
bận quần xà lỏn đen đã phai màu. Còn vợ Cai tuần Hạp tuổi gần ba mươi, dung
nghi nghiêm chỉnh, nước da khá mởn, ngặt vì đang chửa nên mặt mũi chao vao.
Trong nhà lúc đó còn có một người đờn bà trạc tuổi thím Cai nhưng mặt mũi sáng
sủa, nước da trắng trẻo. Cai tuần Hạp bảo Cai tuần Xướng:
- Ne anh Bảy, chắc anh cũng biết cô Thiệt Nguyện đây thường qua bên Cồn trị bịnh
mắc đàng dưới cho đờn bà đất Vãng mình.
Cai tuần Xướng gật đầu khen:
- Có, tui có nghe. Làm phước thì để đức cho con cháu.
Cô Thiệt Nguyện mỉa mai:
- Còn a tòng theo bọn cường hào bác ác bá để xúi phụ nữ đi vô đường quấy thì để
cái già cho con cháu đây?
Cai tuần Xướng trâng tráo:
- Ối, việc đời mà cô! Ai cũng có cái chỗ kẹt! Như tui đây là kẻ ăn cơm chúa nên
tui phải múc tối ngày. Đâu có ai muốn làm chuyện quấy để cho miệng đời dèm siểm!
Cô Thiệt Nguyện làm thinh, mặt mày chầm dầm. Thấy mình ngồi hoài coi trơ quá
nên Cai tuần Xướng đứng dậy kiếu từ. Trước khi bước ra khỏi nhà, hắn hăm he chú
Cai tuấn Hạp:
- Thầy Bang biện nhắc chú mày nhớ hai dãy ruộng, mầy cư xử sao cho vuông tròn
thì xử. Tao như thiên lôi, thầy sai đánh đâu tao đánh đó. Tội lỗi gì đối với Trời
Phật nhơn quả, tao không có chịu trách nhiệm đa!
Khi tên thiên lôi kia đã đi khuất mắt, thím Cai tuần Hạp từ trong buồn bước ra,
mặt mày bùng thụng bùng thiu:
- Cái thứ đi dụ dỗ đàn bà đó đời nào tui thèm tiếp! Nếu nó còn ở đây cù cưa cù
nhầy nói chuyện nhơn nghĩa bao đồng, tui sẽ lấy chổi tẩm cứt gà quét nó ra
ngoài sân cho mang xấu!
Cô Thiệt Nguyện cười hòa nhả:
- Thiệt tình chị giận cũng phải, nhưng nếu chị sanh sự vời nó thì mọi chuyện hư
hết! Bây giờ, chị cứ hẹn tuần sau tiếp thằng già dê tại đây. Mốt, anh chị hãy gố
gắng dọn dẹp hết bàn ghế đồ đạc chở qua nhà ông Năm Tảo, rồi hai bữa sau xuống
tàu đi Bạc Liêu. Xứ đó ruộng nhiều, nhơn công ít. Nếu anh chị chí thú làm ăn
thì dẫu không giàu cũng có của ăn của để.
Cô lấy một tờ giấy 20 đồng và một tờ 5 đồng:
- Ông bà Năm Tảo chịu mua bàn ghế của anh chị và nhờ tui đưa chị 20 đồng để hộ
thân, còn đây là 5 đồng của tui tặng anh chị làm lộ phí.
Cai tuần Hạp xúc động;
- Mấy thứ bán ghế gỗ tạp đấy giá đáng là bao mà ông bà Năm Tảo cho tụi tui tới
20 đồng.. Hôm qua, tui cũng đã bán hết lúa trong bồ được 30 đồng.
Cô Thiệt Nguyện đưa phong thơ cho Cai tuần Hạp, bảo:
- Ôi, bước đầu, tiền càng nhiều càng tốt chớ sao! Anh chị còn phải lo cất chòi ở
yên đợi tới mùa gặt. Chừng đó anh chị có thể kiếm chác thêm trước khi mướn ruộng.
Hãy đưa bức thư nầy cho người anh bạn dì tui là anh Hương hòa Hiệp, ảnh sẽ chỉ
dẫn anh chị đường đi nước bước. Ở xứ đó lo gì chết đói! Cá tôm có sẵn trong rạch
sông, ao bàu: lúa mót cũng đủ nuôi sống cả nhà anh chị nửa năm.
Vợ Cai tuần Hạp ứa nước mắt:
- Ơn cô lớn quá, vợ chồng tui biết lấy gì đền đáp dây!
Chị chấp tay toan xá cô Thiệt Nguyện nhưng cô xua tay:
- Chị đừng làm vậy khiến tui tổn thọ! Nếu chị nghĩ rằng từ đây về sau không có
dịp nào trả ơn tui thì trên đường đời, hễ gặp người hoan nạn, xin anh chị cứu
giúp họ, đó cũng là cách trả cho tui đó.
Vợ chồng xúc động khóc rấm rứt. Số là cÿch đây một tuần, có Thiệt Nguyện có dịp
đi xuống Cÿi Sơn chữa bịnh mắc đàng dưới cho con gái ông Hương kiểm Lợi, nghe
được vận sự về cô Út Thoại Huê bèn tìm xuống Cái Sơn Lớn để thăm má cô Út. Khi
cô đem bó nhang huyền đàn tới mả cô Út hì gặp một chị đàn bà ngồi trước mộ cô
Út vừa khấn vái vừa khóc lóc. Chị đờn bà đó chính lá vợ Cai tuần Hạp. Sau khi
biết khúc nôi nguồn ngọc, cô khẳng khái hứa giúp đỡ cho vợ chồng Cai tuần Hạp.
Cứ cách hai ngày, cô đến viếng thăm gia đình anh ta để bàn bạc.
Vậy là mọi việc đã trù tính xong xuôi. Cai tuần Hạp dù có tha thiết chốn chôn
nhau cắt rún mấy đi nữa, cũng phải tìm chốn dung thân mới, trước hết là để
tránh điều sỉ nhục, hai là lìa kiếp làm ruộng mướn chịu sự bóc lột suốt đời cha
qua đới con.
Trước khi ra về, cô Thiệt Nguyện nhờ vợ chồng Cai tuần Hạp đưa mình ra thăm mộ
cô Út Thoại Huê lần chót. Mưa cuối mùa dù có thưa hơn mưa ngâu tháng bảy, nhưng
vẫn làm cho đám cỏ tranh trên mộ thêm rậm thêm cao, vẫn làm đám dây choại, dây
bìm, dây săn thêm dài... Cô Thiệt Nguyện đánh diêm châm nén nhang bạch đàn thơm
ngát cắm trước mộ, khấn vái:
- Cô Út ôi, cô là nạn nhân của ba anh em cậu Hai Luyện, còn tui là nạn nhân của
cô Ba Cẩm Tú. Tui sống mà mang sầu chuốc não cũng như cô chết mà ngậm oán nuốt
hờn. Song nếu cô hiểu rằng oán chớ cưu mang còn ân phải tìm cách báo đáp thì
nên sớm giác ngộ để vong linh được siêu sanh...
Đang khấn vái, cô bỗng cảm thấy tối tăm mặt mũi như bị một tấm màn đen thẳm và
lạnh ngắt trùm kín. Trong cơn váng vất, cô thấy một người đờn bà mặt mày tiều tụy
xanh xao đến trước mặt mình, nghiến răng:
- Sát nhân thì giả tử, đó là lẽ thừng của luật nhơn quả trả vay, đó là chuyện
đương nhiên của tội phước báo ứng! Giờ đây là ban ngày, khí dương đang thạnh,
tui sẽ nương theo cô mà thanh toán mối cừu hận đây!
Vía cô Thiệt Nguện hỏi:
- Thưa cô cô là ai?
Người đàn bà dằn từng tiếng:
- Tui là Út Thoại Huê. Cám ơn cô đã tới đây hai lần đốt nhang cho ấm vong linh
tui. Nhưng xin cô đừng can thiệp vô chuyện của tui. Cô tu hành, cô lấy ơn báo
oán, nhưng đó là chuyện của cô, còn báo cừu rửa hận là chuyện củ tui. Lát nữa
đây cô sẽ rõ!
Tới đây cô Thiệt Nguyện vụt tỉnh. Trời đã quá ngọ, cô kiếu từ vợ chồng Cai tuần
Hạp để đi bộ về chùa Sơn Thắng nằm giữa Cái Sơn Lớn và Cái Sơn Bé, cách bến Bắc
Cỗ Chiên năm trăm thước. Chùa đang làm lễ cúng hạ nguơn nên dập dìu thiện nam
tín nữ. Khi cô men theo con đường đất rải ngói vụn từ liên tỉnh lộ đưa vào sát
chùa thì thấy cô Ba Cẩm Tú đang đứng hóng gió bên gốc dừa tam qua, nên cô đưa
tay vẫy.
Số la hôm nay cô Ba Cẩm Tú bưng quả bánh nướng gồm bánh gai, bánh con duông,
bánh hạnh nhơn đi dâng hươn g lạy Phật rồi ở chùa làm công quả. Cô đi chùa cầu
Phật Quan Âm phù hộ cho cô sanh con trai để chồng cô mừng. Sau khi dùng bữa ngọ
trưa xong, khách hành hương lục tục ra về. Cô còn đợi chồng đến rước nên cô đứng
dựa gốc dưa, trước là hứng gió, sau là nhìn ra con lộ coi xe chồng cô tới hay
chưa. Vừa lúc cô Thiệt Nguyện trờ tới đưa tay vẫy vẫy nhưng cô chỉ thấy cô Út
Thoại Huê, tay cầm roi cá đuối hươi lên sẵn sàng đánh cô. Trời ơi, làm sao cô lầm
được! Rõ ràng là cô Út Thoại Huê, mặt trẹt có nút ruồi duyên bên mép, mặc chiếc
áo bà ba bằng lụa cẩm cúc màu vàng, chiếc áo mà cô mặc hôm uống chén thuốc phá
thai sắc bằng cỏ càn ngươn! Kinh tâm táng đởm, cô Ba Cẩm Tú chạy trối chết vào
sân chùa, miệng la bài hải. Thình lình cô trượt té vì miếng vỏ dưa gang ai vừa
liệng trên lối đi...
Cô Thiệt Nguyện chạy lại đỡ cô lên:
- Sao em bỏ chạy vậy? Chị có làm gì em đâu?
Cô Ba Cẩm Tú vụt mở mắt:
- Ủa, chị là... Sao mới đây em thấy con Út Thoại Huê đến đây lấy roi cá đuối
đánh em?
Bầy giờ cô Thiệt Nguyện mới hiểu lời nói của cô Út Thoại Huê: "Lát nữa đây
cô sẽ rõ". Cô vừa an ủi vừa đỡ cô Ba Cẩm Tú dậy thì thấy máu loang đỏ ối từ
đũng chiếc quần sa teng tuyết nhung trắng của cô Ba. Vừa lúc đó thì bác sĩ Lê
Thanh Mậu lái xe tới, nhưng cô Ba đã chết giấc khi thấy máu tuôn ướt quần mình.
Cô Ba Cẩm Tú cầm được máu vì gần chùa có bà xẩm chuyên nghề châm cứu nhưng về
nhà, bụng cô cứ đau âm ỉ. Cũng hôm đó, cô đang nằm nghỉ trong phòng thì bên
ngoài trời nổi cơn mưa lớn, sấm sét rầm rĩ. Bỗng một cú sét đánh quát vào trung
đường, tiếp theo là tiếng nổ thiệt lớn khiến tai cô muốn điếc, đầu óc thiếu điều
rạn nứt. Sau đó con Hiệu, đứa tớ gái, từ ngoài chạy vào báo cáo:
- Thưa bà, cái trang thờ bùa bị sét đánh bể tan nát hết rồi!
Cô Ba Cẩm Tú rụng rời. Gói bùa gồm những củ ngải trong vuông lụa đỏ có vẽ hình
và chữ ngoằn ngoèo bằng kim nhũ lóng lánh cô vừa thỉnh từ Tịnh Biên về được đặt
trong một chiếc trang thờ, nời đó bóng đèn trứng vịt được tháp sáng cả ngày lẫn
đêm.
Khi cô Ba bước ra trung đường thì chiếc trang đã bị đánh rớt xuống bàn thờ ông
bà, mấy mảnh ván bằng gỗ thùng thông đè sập bức họa truyền thần tía má chồng
cô, làm kiếng bể tung tóe. Gói bùa bọc lụa đã cháy, bốc mùi khét nghẹt. Cô dập
tắt lửa, kinh hoảng thấy chẳng những lớp lụa bên ngoài cháy thành tro mà mấy củ
ngải bên trong cũng đã thành than đen!
Tuần lễ sau, cô Ba Cẩm Tú đau bụng kinh khủng, Bác sĩ Lê Thạnh Mậu vội đưa cô
vô nhà thưng tỉnh, hiệp cùng bác sĩ trực tháo máu ứ đọng trong tử cung cô. Và
đau khổ cho ông biết bao, cái thai cũng theo máu ra ngoài! Cô phải nằm nhà
thương mất một tuần. Chồng cô không dám tiết lộ chuyện sẩy thai cho cô biết.
Khi về nhà, bác sĩ Lê Thạnh Mậu lực lúc cô tỉnh táo minh mẫn, mới nói hệt tự sự
cho cô nghe. Cô khóc rấm rứt:
- Mình tuy chưa nói, em cũng đoán ra sự việc rồi, từ lúc sét đánh sập trang thờ
bùa.
Từ đó cô sầu não, ăn không ngon ngủ không yên. Rồi cô nghi cô Thiệt Nguyện dùng
bùa phép đội lốt đội hình cô Út Thoại Huê để nhát cô. Chẳng cần phải chạy trợt
té, nội cơn sợ khủng hiếp cũng đủ làm cô hư thai rồi! Cô tự hứa mình phải trở lại
Tịnh Biên để chuộc bùa đậu thai, luôn tiện chuộc luôn bùa ếm cô Thiệt Nguyện
cho cô nọ phải chết thảm thiết.
Ba Bang biện Hưỡn được con gái báo tin sẩy thai, song bà không khiếp sợ lậu. Bà
nghĩ rằng Thạch Eng tuy già tay ấn nhưng chưa phải thứ xuất chúng. Bà phải đem
hai cô con gái cưng xuống Tịnh Biên thêm lần nữa vì bà nghe tiếng phù thủy Kim
Ba ở gần bến chợ có tài làm đá hóa ra vàng, biết điều khiển âm binh giết kẻ thù
ở xa, các cả ngàn cây số. Cho nên bà vẫn tạo ác nghiệp đều đều, vẫn hành hạ tôi
tớ và thằng con riêng của chồng, vẫn đánh chửi con nợ, vẫn xéo xắt với tá điền
tá thổ.
Một hôm bà Bang biện Hưỡn gọi Cai tuần Xướng tới truyền lịnh:
- Nè Tuần, con vợ thằng Hai Hoạch ở gần đến Văn Thánh nợ tao bốn chục đồng từ hồi
đầu năm tới giờ chưa trả. Mày rình coi nhà nó có món chi đực giá thì cho tao
hay, để tao tới xiết mang về, chừng nào nó trả cà vốn lẫn lời, tao mới cho chuộc.
Cai tuần Xướng ra công rình rập nhà Hai Hoạch nhưng suốt tuần bà Bang biện vẫn
chưa thấy hắn báo cáo. Sáng hôm đó cô Ba Cẩm Tú từ Cầu Lầu qua Cầu Đào thăm tía
má mình. Bà Bang biện bày bánh khoai lang chiên ăn cặp với rau sống chấm nước mắm
giấm ớt. Cô Ba bảo mẹ:
- Con qua đây hỏi má định coi chừng nào má con mình đi Tịnh Biên?
- Con nên viết thư cho con Tư, rủ nó cùng đi. Cái bùa của thằng Thạch Eng coi bộ
hơi yếu, phải đổi bùa khác cho chắc ăn.
Giữa lúc đó Cai tuần Xướng mặt mày hí hửng từ ngoài cửa ngõ bước vào, chấp tay
xá xá má con bà Bang biện Hưỡn, Bà quở:
- Hổm rày mầy chui ngõ ngách nào mà biệt tăm biệt dạng vậy? Nhờ mầy có chút việc
mà mầy đánh lừa đánh đảo lánh mặt tao thì còn nước non gì?
Cai tuần Xướng gãi đầu:
- Xin bà chớ phán như vậy mà tội nghiệp tui. Tui ra sức rình rập nhà Hai Hoạch,
biết được nó có giàn máy hát và một chồng dĩa. Tối nào vợ chồng nó cũng mở máy
hát cho người trong nhà và lối xóm cùng nghe.
Ba Bang biện Hữn mừng rỡ, gọi thằng Xiêm, thằng Đực sắp đặt kế hoạch để tối nay
cùng ào vô nhà Hai Hoạch xiết nợ, Bà không quên thửng Cai tuấn Xướng hai nải chuối
sữa, một trái mảng cầu xiêm và dặn y ta ngầy mai rình nhá thím Bảy Ớt ở Cầu Dài
vì thím còn thiếu bà ba chục đồng mà cả bốn tháng nay chưa trả tiền lời chớ nói
gì tiền vốn.
- Thưa bà, thưa cô Ba, hỗng phả đêm nào anh Hai Hoạch cũng cho chạy dĩa hát máy
đâu! Nghe nói mốt đây ảnh làm đám giỗ cho ông nhạc, ảnh sẽ chạy dĩa hát trong
hai bữa giỗ tiên lẫn giỗ chánh cho xôm tụ, chừng đó bà tới xiết mới chắc ăn.
Vậy là hôm giỗ chánh tại nhà Hai Hoạch, thừa lúc gia chủ cho chạy dĩa hát thì
bà Bang biện Hưỡn cùng thằng Xiêm, thằng Đực xông vào. Trong khi bọn đờn ông kẻ
ôm chồng dĩa, người ôm giàn hát máy thì bà cất tiếng rổn rảng, chửi:
- Mồ tổ cha tụi bay, thiếu nợ tao cả năm không trả còn bày đặt làm đám giỗ rình
rang! Tao nói cho bây biết, mốt bây không đem 40 đồng bạc vốn, bốn đồng bạc lời
tới nhà tao thì giàn hát máy nầy và chồng dĩa kia thuộc về tao luôn!
Bà bước tới mâm cúng trên bàn thờ, cầm bát nhang còn cháy đỏ liệng ra ngoài sân
rồi hét bọn tùy tùng ra về.
Riêng cô Tư Cẩm Lệ, vừa được thơ chị mình, liền sắm sửa quà cáp chờ chồng lái
xe đưa mình ra bến tàu Nguyễn Văn Kiệu (Sau gọi là bến Bạch Đằng) để cô đáp tàu
thủy đi Vĩnh Long. Cái thai cô được năm tháng nên bụng cô đã đội áo, ngó lum
lúp như cái gò mả đã lạn. Cô đem về nhà cha mẹ mình toàn những món ngon đương
mùa, nào là cá chái kho sẵn đựng trong thố sành, náo sầu riêng, măng cụt, lôm
chôm, bòn bon...
Tối hôm đó, thừa lúc ông Bang biện Hưỡn và bác sĩ lê Thạnh Mậu đi nhậu, bà Bang
biện dặn con Lài nấu cho mẹ con bà nồi cháo thập cẩm và pha thêm một bình trà
thiệt ngon. Ba mẹ con trải chiếu bông trên bộ divan cẩm lai rồi bày gói thêu ra
vừa nằm vừa trò chuyện.
Cô Tư Cẩm Lệ trách mẹ:
- Má có thấy thầy Mười Khôi đoán điềm giải mộng hay thần sầu không? Vậy mà bữa
hổm má tỏ ra giận ghét thẩy!
Cô Ba Cẩm Lệ sực nhớ:
- À quên, con có nghe thầy Mười Khói quen nhiều tay thầy bùa, thầy lỗ ban ở
Long Xuyên, vậy má nên đật một mâm nhậu nho nhỏ để đãi thầy, luôn tiện nhờ thầy
chỉ đường đi nước bước để má con mình tìm thầy giải nạn trừ hung.
Ba Bang biện nói xuôi:
- Lời con nói nhằm lẽ lắm! Thiệt tình bữa hổm má có hơi nóng!
Bà kêu con Lý,, đưa nó hai đồng bạc, dặn nó sáng mai mua bốn ký tôm càng thiệt
ngon để dọn mâm rượu, phần thì trộn gỏi, phần làm chả huế, còn thì làm món tôm
bún. Bà cũng dặn nó mời thầy Mười Khói xế mai đến Cầu Đào dể nhậu nhẹt với chồng
bà.
Sau khi con Lý trở xuống bếp, cô Tư Cẩm Lệ lo lắng bảo mẹ và chị:
- Con cũng báo cho má với chị Ba hay, cái trang bùa của con bị sét đánh tan
tành hết trọi.
Hỏi ra thì cái trang thờ bùa của cô Tư chịu chung số phận với cái trang thờ bùa
của cô Ba cùng một ngày một giờ. Mặt mày ba mẹ con tái mét vì sợ. Cô Tư bồi
thâm một tin khủng khiếp nữa:
- Chưa hết đâu má! Sau đó ba hôm, hai đứ con ghẻ của don đi viếng mả mẹ tụi nó,
thấy sét đánh cách nào không biết mà ngôi mộ vẫn còn y nguyên, duy bốn cây cọc
vẽ bùa bị bạt tung lên, nằm ngổn ngang quanh mộ.
Bà Bang biện Hưỡn chết lặng một giây, song bà trấn tĩnh liền:
- Còn nước còn tát, khuyên con chớ quá kinh hãi mà động tới cái thai. Đẻ má xuất
tiền cho sư dô Trí Năng ở am Thường Tịnh làm chay và cầu siêu sanh cho con vợ
trước của chồng con, để nó siêu sanh nơi an bang tịnh độ, khỏi theo quanh quẩn
mà báo oán con hoài!
Thiệt tình bà Bang biện nói liều để an ủi hai cô con gái, nhưng nói xong bà chợt
thấy mình cao kiến. Tuy mẹ con bà không rành kinh kệ nhưng cả ba đều có nghe
đâu đó sự linh ứng của việc lập trai đàn cầu siêu. Cô Ba Cẩm Tú cũng an ủi em:
- Má nói phải đó Tư à! Chị nghe nói vong linh người chết được thân nhơn lập đàn
chay cầu siêu, thừng hiện hồn về cảm tạ trước khi được sanh vào nơi giàu sang
phú quí.
Hôm sau thầy Mười Khói xáchh dù đến Cầu Đào dự tiệc. Vì có cậu Hai Luyện về nghỉ
cuối tuần nên bà Bang biện cho làm thêm con vịt cà cuống để nấu cháo. Tới lúc
thực khách ngà ngà, bà Bang biện Hưỡn mới đem ý định của mình ra bày tỏ. Thầy
Mười Khói cười, nói:
- Ở chợ Ba Si làng phước Thạnh, tỉnh Trà Vinh có thầy Năm vốn là một địa tiên
chuyên làm thuốc cứu nhơn độ thế, làm bùa đối trị bùa ếm để giải nguy cho bá
tánh. Chẳng ai biết gốc gác thầy ở đâu, nhưng thầy về chợ Ba Si hồi năm Mậu Dần,
không có mang theo gia đình, bạn hữu gì ráo! Thầy xưng là thầy Năm Lê Thái
Sanh, tu theo pháp Mật Tông, tuy ăn chay nhưng chỉ ăn rau cỏ và trái cây chớ
không dùng ngũ cốc. Thầy thường tỏ ra cho những thân chủ hết lòng giúp đỡ thẩy
biết rằng thầy của thẩy là đức Đông Hoa đế quân, thường hiện xuống núi Tà Lơn
vào mỗi kỳ rằm nguyên tiêu, dạy thẩy tu theo phép hút lấy thần khí mùa xuân và
của cỏ cây, trước là làm cho mình mạnh khỏe, trẻ mãi không già, sau là để làm tiên
đơn thánh dược giúp đỡ người khác...
Ông Bang biện hỏi:
- Còn bùa đối trị bùa ếm thì thẩy học ai?
- Cũng do đưa Đông Hoa đế quân dạy chớ ai vô đó! Cái sứ mạng cứa nhơn độ thế của
thầy Năm là 24 năm. Sang năm Ất Dậu, gặp lúc thế gian chịu cảnh nắng lửa mưa dầu,
thầy sẽ qui tiên, giao sứ mạng cho người khác.
Cô Tư Cẩm Lệ mừng lắm, bảo mẹ:
- Nếu vậy thì hay lắm. Trà Vinh gần tỉnh mình, chồng con có cô em con nhà chú ở
chợ Ba Si, tiện chỗ cho ba má con mình tá túc vì nhà của cổ mát mẻ rộng rãi lắm.
Bà Bang biện Hưỡn liền tặng thầy Minh Khói một con gà mái dầu, một cân lạp xưởng,
một cân mì xạ, một chụa quít đường. Bà sai hai cô con gai làm bốn ngăn quả đựng
bánh hấp như bánh bò bông, bánh thuẩn, bánh bột lọc, bánh qui, bánh da lợn để
con Lý đem tới am Thường Tịnh. Kèm với bốn ngăn quả bánh, bà giao cho sư cô Trí
Năng năm chục đồng bạc để làm chay đàn cầu siêu cho cô Tư Thục, cố thê của thầy
kiện Trần Hảo Hiệp.
Ông Bang biện Hưỡn thấy mình phong phú sức khỏe, dào dạt sóng tình, hực hừng lửa
dục, bèn kêu Cai tuần Xướng:
- Mầy phải giao hẹn với vợ chồng thằng Cai tuần Hạp cho chắc. Tao không muốn tụi
nó trì hưỡn chuyện đó. Cái bụng cỏn chỉ chừng một thàng nữa là bự chang bang
như cái chảo úp thì... hư bột hư đường ráo trọi! Mầy nói với tụi nó là tao muốn
gặp con vợ nó tối mai.
Cai tuần Xướng liền tới nhà Cai tuần Hạp. Nhà cửa đóng im lìm. Ngoài hàng ba,
là rụng ngổn ngang. Lúc đó trời đã xế trưa, ánh nắng vàng vọt nhuộm buồn cảnh vật
chung quanh. Một con mèo muôn nằm gần áng nước, thấy có người lạ liền chậm rãi
bước về phía hàng rào xương rồng rồi chui qua lộ hổng ra ngoài. Cai tuần Xướng
lớn tiếng gọi:
- Có ai ờ nhà không?
Trong nhà có tiếng đờn bà vọng ra:
- Anh Bảy đó hỏa? Cửa không gài, mời anh vô.
Cai tuần Xướng đẩy cửa bước vào. Nhà trống trớn, chỉ còn trơ chiếc chõng tre trải
chiếu đậu. Một thép dầu mù u đặt ở đầu giường. Vợ Cai tuần Hạp mặc bộ đồ trắng
ngồi bên mép chõng, tóc tai dã dượi, bảo:
- Đồ đạc trong nhà đã bán hết để chồng tui lấy tiền đóng thuế thân. Ảnh đem sắp
nhỏ về viếng thăm bà dì của ảnh ở Lộc Hòa, nhà chỉ còn có mình tui. Vậy anh nên
về nói với ông Bang biện Hưỡn tối nay ổng tới đậy tiện hơn. Tôi cũng đã giặt sẵn
chiếu mùng đợi ổng.
Cai tuần Xướng tán thành:
- Tối nay có trăng, tiện lắm.
Rồi anh ta hỏi cho có chuyện:
- Thím có đau ốm gì không? Sao lại nằm dã dượi một mình trong căn nhà đóng cửa
tối mờ như vậy?
Vợ Cai tuần Hạp cười gượng:
- Tui có đau ốm chi đâu! Bởi vì thai hành nên tui cứ sật sừ sật sưỡng vậy mà!
Tui cũng mới vừa uống thang thuốc dưỡng thai do ông Năm Tảo hốt nên cũng thầy đỡ.
Rồi chị ta giục:
- Thôi, anh kíp về báo tin cho ông Bang biện mừng. Tui vừa sắm cục xà bông sả,
sẽ tắm gội cho da thịt thơm tho, để... tiếp ổng.
Giọng người đàn bà vừa lẳng lơ vừa se sắt làm Cai tuần Xướng rợn cả người,
nhưng biết chị ta bằng lòng tiếp ông Bang biện Hưỡn là anh ta đủ mừng rồi.
Xế đó, ông Bang biện Hưỡn sai con Lý, con Lài dọn ông một tiệc tượu nhỏ để ông
cùng Cai tuần Xướng cụng ly. Ông cao hứng bảo tên nha trảo tâm phúc:
- Xong cái vụ vợ thằng Cai tuần Hạp, mầy nên bắt tay lo vụ em gái anh Hương bộ
Lại cho tao.
Ông đặt vào tay Cai tuần Xướng một phong bao:
- Mầy cứ ăn nhậu cho đã đời đi. Còn tao, tao chỉ có thể nhậu sương sương thôi.
Tối nay nếu say li bì thì còn làm ăn giống gì được! Tao tặng mầy hai chục bạc này
để uống trà.
Ông lôi chai rượu thuốc ngâm xác con chim bìm bịp phơi khô ra nhâm nhi. Đó là
rượu tráng dương mà Cai tuần Xướng bổ cho ông hồi Tết vừa rồi. Trong tủ buýp-
phê của ông cũng đã có hủ rượu ngâm cắc kè bông, một thứ rượu dương khác.
Sau bữa tiệc, Cai tuần Xướng say hoắc cần câu, phải vịn vai thằng Đực để về
nhà. Còn ông Bang biện Hưỡn đánh một giấc thiệt đã. Khi ông thức dậy thì trời
đã chạng vạng. Mâm cơm chiều cọn lên, ông ăn thiệt ngon miệng vì có món canh cá
khoai nấu ngót mà ông rất ưa. Xong xuôi ông đi tắm, cạo râu, xịt dầu thơm và mặc
bộ đồ bà ba bằng lục soạn trắng.
Tay xách đèn tán chai, ông chậm rãi đến nhà Cai tuần Hạp. Lúc đó vầng trăng mười
ba khá tròn, rải ánh sáng khắp nơi. Vùng ngoại ô tỉnh lỵ dập dìu người đi chơi
trăng. Ông Bang biện Hưỡn đi sâu hướng xóm Đình Khao, bước qua cầu sát lót ván,
rẽ vô vùng thôn ổ tận rạp cây dâu miền dưới, bụi tre gai, khóm tầm vông.
Đây rồi! Nhà Cai tuần Hạp đây rồi! Mái lá lợp nhô khỏi chòm cây đen thẳm, bên
kia lối đi đắp đất lươn song song với dòng rạch lấp loáng ánh trăng. Cửa ngõ
không gài, ông đẩy cánh cửa bước vào lối đi ngắn và hẹp viền những cây kim quát
trổ bông thơm ngát để bước vào vuông sân ngổn ngang là vàng. Mái hiên tối mờ mờ,
nhưng có ánh đèn chong le lói qua mắt cáo. Ông Bang biện Hưỡn tằng hắng:
- Có ai trong nhà không?
Tiếng đờn bà lảnh lót vọng ra:
- Ông Bang biện đó phải không? Cửa không có gài chốt, mời ông vô kẻo lạnh.
Một trận gió lốc nổi lên, lá vàng bay thốc. Ông Bang biện đẩy cửa vô. Vợ Cai tuần
Hạp nhõng nhẽo:
- Sao trể vậy? chờ ông xốn xang tấc dạ vậy đó!
Ông Bang biện cười mơn:
- Qua đây cũng trông đứng trông ngồi, mong trời mau tối...
Ông ồm chầm lấy chị ta, vuốt ve cái bụng chửa lùm lùm của chị, hun hít. Mà ủa lạn,
sao mình mẩy chị ta lạnh ngắt. Ông hỏi:
- Sao mình mẩy em như ướp nước đá vậy?
Vợ Cai tuần Hạp háy ông bằng cặp mắt có đuôi:
- Thì em phải tắm rửa sạch sẽ để tiếp ông. Ngặt vì lóng rầy em yếu trong người,
gặp nước lạnh về chiều nên da thịt mới như vậy. Ông úm em một đỗi thì em ấm lại
liền!
Ông tiếp tục hun hít, ấp ủ người đàn bà. Quả nhiên da thịt chị ấm lại dần.
Nhưng khi ông muốn bóc hết lớp quần áo che thân chị thì chị đề nghị:
- Ngoài sau vườn em có một cây rơm, chỗ đó quanh năm suốt tháng chẳng ai lai
vãng. Đêm nay có trăng, tụi mình ra đó gẫm có thú vị hơn không?
Ông Bang biện Hưỡn khoái quá, gật gù khen ngợi:
- Thiệt qua không ngờ em... cao kiến như vầy, hiểu chuyện phong lưu tao nhã lắm.
Vậy thì mình cùng đi!
Cả hai sóng bước ra ngoài nhà sau. Quả thiệt có cây rơm bên cạnh cái ao. Ven ao
là cây gừa, Đom đóm bám vào từng chiếc là, ánh sáng chớp tắt liên hồi. Trăng
bây giờ lên cao, thu nhỏ lại, sáng như phiến gương làu làu nước thủy. Quanh ao
tiếng vạt sành kêu râm ran. Chốc chốc có tiếng cá ăn móng.
Ông Bang biện Hưỡn bước cạnh người đờn bà, chốc chốc lại quay qua nhìn chị cười
mơn. Bỗng ông lạnh mình. Ô hay! Người đàn bà đi cạnh ông rõ ràng là cô Út Thoại
Huê. Ông buốt miệng kêu: "Trời ơi!" rồi đưa tay dụi mắt. À thì ra ông
nhìn lầm, vợ Cai tuần Hạp chớ không ai khác. Người đờn bà gặng ông:
- Ủa, sao ông kêu trời vậy?
Ông Bang biện Hưỡn nói lảng:
- Không, có gì đâu! Tại qua thấy em đẹp nên buột miệng vậy mà!
Vợ Cai tuần nhìn ông đăm đăm như thôi miên:
- Thiệt không đó? Hay ông tưởng em là cô nào khác?
Ông Bang biện cười dã lã:
- Thôi mà em, em nói chi chuyện tầm phào cho mất vui!
Người đờn bà khi tới gốc cây rơm, nằm dài ra, giọng ỏn ẻn thẽo thợt:
- Mình ơi, em đây nè. Mình có chiên xào, kho nấu em cách nào, em cũng vui lòng
hết.
Chị lột hết quần áo ông, ôm sát vào người chị rồi bất ngờ siết thiệt chặt làm
ngực ông muốn vỡ vụn. Chị ta cười hăng hắc, sắc lạnh như từng gáo nước dội lên
mặt, lên sống lưng ông. Ông Bang biện sững sờ nhìn chị. Trời ơi, rõ ràng là Út
Thoại Huê đây mà! Quả nhiên người đờn bà the thé:
- Con quỉ dâm dục, con quỉ súc sanh từng làm nhơ các thai phụ để họ phải chịu
nhục nhã vì ô danh xủ tiết! Cả nhà Cai tuần Hạp đã vì mầy mà lìa quê lìa quán,
đem thân cầu thực xứ người! Bọn họ đi Bạc Liêu từ hai hôm rồi, tao phải giả dạng
chị vợ để răn dạy mầy!
Nói tới đây, cô Út Thoại Huê thổi một làn hơi lạnh buốt lên mặt ông bang biện
Hưỡn khiến ông lịm đi.
Sáng hôm sau, mấy người đờn bà hái rau dại trong xóm phát giác ông Bang biện Hưỡn
nằm im lìm bên mộ cô Út Thoại Huê, liền tri hô lên. Mấy lực điền xúm lại, lấy
chiếu đắp lên thân thể trần truồng của ông, rồi hơ lửa cạo gió, xức dầu... Chừng
nửa tiếng đồng hồ sau, ông bắt đầu thở thoi thóp.
Sau khi hỏi han gốc tích, họ đưa ông Bang biện Hưỡn ra bến sông Cổ Chiên, dùng
xuồng đưa ông về bến chùa Bảy Phủ và võng ông về Cầu Đào. Sau đó ông bị á khẩu,
câm luôn.. Ông còn bị bán thân bất toại, nằm ngồi một chỗ. Khi mắc tiêu tiểu,
ông phải lết tới cầu xí một cách khó nhọc.
Bà Bang biện Hưỡn khi đi chợ Ba Xi chuộc bùa về chẳng những không vui mà còn thấy
chồng bịnh hoạn như vầy thì vừa rầu vừa lo. Thầy Năm Lê Thái Sanh vừa khi diện
kiến mẹ con bà, đã bảo:
- Trị bịnh là chuyện nhỏ, còn trị được cái ác nghiệt hay không là một chuyện tỉ
như hột muối thả xuống dông, nước sông làm sao mặn cho được! Tui coi qua sắc diện
bà và hai cô đây từ ấn đường đã có vệt đen ửng ra rồi! Đây là ác quả hiện hành,
ác báo phát tác. Bà và hai cô nên tụng kinh niệm Phật cho siêng, làm việc bố
thí cho nhiều thì họa may mới cạy gỡ được phần nào móng vuốt của ác quả ác báo
đó.
Bà Bang biện dù lo dù rầu bởi lời nói của thầy Năm Lê Thái Sanh nhưng vẫn không
ngưng việc bòn tro đãi trấu, hành hạ xéo xắt kẻ dưới tay mình. Hễ việc làm ăn
không trôi chảy, bà kiếm chuyện đánh chửi Bửu, coi việc nuôi cậu trong nhà là
nuôi kẻ đem oan nghiệt và xui xẻo cho mình.
Một hôm, cô Tư Cẩm Lệ từ Sài gòn hớt hơ hớt hải báo tin:
- Nguy rồi má ơi, sáng hôm qua con đốt nhang trang thờ bùa thì thấy gián cắn lá
bùa lam nham. Làm sao đây má?
Ha mẹ con ngồi lo rầu không biết gỡ rối cách nào thì tới xế chiều, cô Ba Cẩm Tú
tay che dù, tay xách bóp từ Cầu Lầu qua thăm. Cô vừa khóc vừa thuật:
- Hổm rày, tối tối con nghe chuột kêu chít chít ở mấy bàn thờ nên mừng thầm vì
nghĩ đó là điềm hên. Ai mà dè sáng nay con ở của con chưng bông, cúng nước trên
trang thờ thì thấy gói bùa bị chuột cắn nát ráo trọi rồi!
Chương 8
Cứ mỗi ngày cô Ba Túy Nguyệt đem cơm cho Bác vật Cảnh. Lúc đầu
bà Năm Tảo sợ con mình vì tiếp xúc với kẻ phong hủi lâu ngầy chầy tháng sẽ bị
lây bịnh ngặt nghèo kia, nhưng ông Năm Tảo khuyên:
- Sanh lão bịnh tử đều có số mạng cả, má nó chớ lo. Con Ba nhà mình đem cơm cho
ông Bác vật chớ có tiếp xúc kề cận với ổng đâu mà má nó sợ lây bịnh.
Cô Ba Túy Nguyệt cũng trấn an mẹ:
- Thưa má, con mang cơm nước cho ổng con chỉ đứng đàng xa nói chuyện chớ không
chà lết, quết xảm lên bộ ván gõ của ổng, con cũng không uống nước, ăn bánh ổng
mời thì làm sao lây bịnh được. Ăn uống xong, ổng tự tay rửa gào- mên, phơi cho
ráo để bữa sau con tời lấy đem về.
Vậy là ngày ba bữa, dù nắng hay mưa, cô Ba cũng đem cơm qua túp nhà lá nơi ông
Bác vật Cảnh thuê. Tuy nhiên bà Năm tự nhủ để hưỡn hưỡn bà sẽ xúi ông Bác vật Cảnh
thuê một đứa trẻ trong xóm lo việc đem cơm nước cho ông.
Lần đầu chạm mặt ông Bác vật Cảnh, cô Ba Túy Nguyệt bàng hoàng khôn tả. Trừ làn
da đỏ thén vì bịnh, đường nét trên khuôn mặt ông thiệt khôi vĩ: Mũi dọc dừa, cầm
vuông, trán đứng thẳng vách thành, cặp môi đầy đặn và rõ nét.. Chèn ơi, mặt gì
mà thanh tú từng nét một! Đã vậy, vóc mình ông còn cân đối. Hôm đó ông mặc quần
đùi, sơ- mi màu cháo lòng có vá vài mảnh để tiện việc vun xới líp huệ bên hè và
mấy khóm bông tang, bông ngọc trâm trong sân. Cả hai chào nhau. Cô gái nhỏ nhẹ
thưa:
- Thưa ông bác vật, ba má em sai em đem cơm qua đây. Từ rày về sau, hễ ông muốn
ăn món chi xin cho em biết trước một ngày để em đi chợ mua sắm rồi nấu nướng
cho ông ăn sốt dẽo.
Ông Bác vật trả lời:
- Để rồi đêm đêm, tôi nằm gác tay lên trán coi mình thèm ăn món chi, sẽ nói cho
cô biết.
Cô Ba Túy Nguyệt đặt gào- mêm xuống bàn, lôi tùng ngăn ra để bày lên mâm. Bốn
ngăn, trừ một ngăn đựng đầy cơm gạo nanh chồn trắng như bông bưởi và thơm ngào
ngạt, ba ngăn kia gồm món canh rau cao kỷ nấu thịt, món sườn nướng thơm điếc
mũi, món lòng gà xào thuốc vừa sắc cùng hai trái xoài cát làm món tráng miệng.
Bác vật Cảnh xoa tay, trầm trồ:
- Cơm sốt canh nóng, chỉ ăn bằng mắt thôi tôi cũng đã biết ngon dở ra sao rồi.
Ai làm bếp vậy cô?
Cô Ba rụt rè:
- Thường thị chị Hai em cùng em làm bếp, nhưng hôm nay chỉ theo má em đi vô ngọn
rạch CÁ Trê thăm người quen nên em làm bếp mình em. Mong ông không chê món dở
mà chiếu cố cho em mừng.
Co rót thuốc vào chiếc tô sành, rồi bày trên chiếc dĩa sứ trái táo tàu và trái
cà na tẩm đường. Xong xuôi, cô xin phép ra về. Ông Bác vật Cảnh vừa ăn cơm vừa
hình dung lại nhân diện vóc dáng sô gái. Chu choa ơi, cô nầy là gái giữa chợ nửa
quê mà sao có tướng sang dường ấy! Khuôn mặt trái xoan, sóng mũi giọt mật, vàng
trán cao, mắt xếch thuộc loại phụng nhỡn sáng long lanh, cặp môi trái tim ửng
màu san hô, hàn răng ngọc trai dều đặn trắng bóng, mái tóc óng ả như mua nhuộm
huyền giồi! Đã vậy vóc mình cổ còn cao ráo, yểu điệu. Khi bước đi, tay cổ đánh
đàng xa dịu nhiễu. Giọng cổ còn ấm áp lảnh lót, phát âm ráo rẻ ra người ăn học.
Phải chi mình không mang bịnh nan y, mình sẽ cưới cổ, cất nhà lầu hai từng cho
cổ ở mới xứng đáng cái huê dung nguyệt mạo của cô.
Trưa hôm đó, cứ nghĩ tới cô Ba Túy Nguyệt, rồi nghĩ tới hoàn cảnh cay nghiệt của
mình, Bác vật Cảnh thêm thao thức, không tài nào ngủ trưa được. Theo trí lan
man, ông nghĩ hết chuyện nọ qua chuyện kia. Gia đình ông thanh bạch, tuy không theo
đạo nào nhưng thường tu nhơn tích đức, thờ cúng ông bà. Ông thì nhiễm Tây học,
tin khoa học chớ không tin một đấng tạo hóa nào. Sống trong buổi giao thời, nhận
thấy nước nhà không được khai hóa mở mang nên ông tích cực tham gia vào các hội
phước thiện, hội chống mù chữ, hội chống hủ tục, hội khuyến nông cùng các hoạt
động nâng cao dân trí. Vậy mà từ khi vướng bịnh nghiệt nầy, ông đành bỏ dở hết
mọi hoạt động, cam sống ẩn dật nơi thôn ổ tịch mịch.
Bên ngoài trời xáng một trận mưa, lúc đầu tầm tã rồi sau cứ rỉ rả dai nhách.
Mưa điệu nầy, làm sao ông ra ngoài sân để o bế bông kiểng và chăm bón vạt đất
trồng rau cho được! Bởi đó ông đốt rề- sô nấu nước, pha cho mình một bình trà.
Uống trà xong, ông lấy quyển Đường thi ra ngâm rồi thử dịch ra tiếng Việt. Bên
ngoài, thỉnh thoảng gió lùa vào bụi tre kêu rào rào hoặc khua mấy nhánh bằng
lăng, nhánh trúc bách diệp phần phật. Sau đó ông bỏ vào giường nằm gác tay lên
trán, mắt lim dim.
Bóng chiều xám tro kéo về. Mưa vẫn chưa ngớt. Ngoài mé ruộng sâm sấp nước, ngoài
ao bàu lũng vũng, tiếng ếch nhái, nhóc nhen, chàng hiu, bồ tọt cưa kêu nềnh
oang buôn sao mà buồn thúi ruột! Ông bèn chổi dậy đi rửa mấy ngăn gào- mên và
súc ấm. Xong, ông đem phơi trên vì tre cho ráo nước.
Bỗng ngoài sân có tiếng lăng líu:
- Xin thưa, có ông Bác vật trong nhà hay không?
Bác vật Cảnh đi thắp đèn và nói vang ra:
- Tôi ở trong nhà đây. Trời mưa ướt át, tôi có dám ra ngoài sân, ngoài hè,
ngoài vườn đâu!
Cô Ba Túy Nguyệt đem hai gào- mên kháÿc đựng cơm và thức ăn qua. Chiều nay cô đổ
bánh xèo. Món cơm nóng ăn với tôm kho tàu là đề ăn dặm thêm kẻo đêm dài ông sẽ
đói bụng. Cô lôi giỏ lấy bánh xèo và rau sống bọc trong lá chuối để bày ra mâm.
Cô mở nút chai đựng nước mắm giấm ớt rót ra chén nhỏ để ông chấm bánh xèo.
Bác vật Cảnh than:
- Trời chiều mưa gió, nằm đọc sách hoài nên tinh thần tôi trì trệ lắm. Sẵn bánh
xèo nóng hổi bù thổi bù ăn nầy, ăn xong chắc tinh thần tôi sẽ phấn chấn được
chút nào chăng!
Cô Ba chắc lưỡi:
- Chết chưa! Nằm mà đọc sách hoài thì đầu óc tránh sao khỏi loõng bõng, tinh thần
làm sao khỏi sa sút đây! Ông Bác vật nên tìm kinh kệ mà đọc có hơn không?
Bác vậy Cảnh cười cười::
- Ý gì cô khuyên tôi như vậy?
Cô Ba sắp mấy trái mận xanh, đỏ vào dĩa, nhoẻn nụ cười ranh mảnh:
- Thưa, em có ý gì đâu. Ông thử đọc vài phẩm kinh Đại Thừa thử coi có hạp với
nhu cầu tâm linh của ông hay không! Nếu hạp thì đọc tiếp, còn không thì ông cứ
đọc sách khác để mở mang trí thức.
Bác vật Cảnh ỡm ờ:
- Được rồi, tôi sẽ đọc kinh Phật cho cô vui.
Cô Ba nghiêm ngay sắc mặt, thái độ lạnh lùng nên Bác vật Cảnh không nói gì
thêm. Cô chồng những ngăn gào- mên, xỏ vào tay xách, còn chiếc ấm đất thì cô bỏ
vào giỏ mây. Bên ngoài mưa đã tạnh, trời nạm đầy sao đêm lấp lánh. Bóng trăng
tròn vành vạnh đã ló dạng ở phương đông. Bác vật Cảnh bảo:
- Chắc cô không rõ, tôi đã có lần thưa với bác Năm rằng tôi vốn không duy tâm
nên không tin đấng tạo hóa. Theo tôi, tôn giáo chỉ lập ra những lý thuyết khiến
con người cần an. thiếu ý chí tiến thân.
Cô Ba Túy Nguyệt lắc đầu:
- Đó chỉ là thành kiến. Nếu ông đọc kinh Phật, ông sẽ có những suy nghĩ khác.
Và cô vẫn giữ vẻ lạnh lùng:
- Thôi, xin chào ông. Đêm nay ông có suy nghĩ muốn ăn món chi thì sáng mai cho
em biết.
Cô bước ra ngoài, men theo lối nhỏ băng qua khoảng đất trống mọc đầy cỏ đuôi chồn,
cây ké, cây mua, cỏ mực để tiến vè phía hàng rào ngăn đôi khuôn viên nhà cô và
ngôi nhà thuê này, mở cửa rào bước vào khuôn viên nhà mình.
Hôm nay cả nhà ăn cơm trễ phải chờ cô Thiệt Nguyện đi An Hữu về. Cũng như thường
lệ, bàn ăn được cọn hai mâm. Mâm mặn dành cho cả nhà, mâm chay dọn riêng cho cô
Thiệt Nguyện. Món bánh xèo chay được đúc nhưn bằng giá, nấm mối, đậu hũ
chiên... Hôm nay lại có ông Đạo Chuối đến viếng, và cũng như thường lệ ông chỉ
ăn chuối chớ không ăn cơm. Bởi đó, bà Năm Tảo đãi ông bằng chuối cau vàng óng,
ngọt và thơm. Ngoài ra ông Năm Tảo còn pha cho ông một bình trà Ô Long thiệt
ngon.
Trong lúc dùng bữa, bà Năm Tảo mang ý định thuê trẻ mang cơm cho ông Bác vật Cảnh
ra tỏ với cả nhà. Cô Ba Túy Nguyệt lộ vẻ bất bình, bảo mẹ:
- Má nghĩ coi, nếu má sợ con lây bịnh rồi đi mướn một thằng nhỏ đem cơm cho ông
Bác vật thì té ra mình ỷ có tiền đưa nó vào chỗ hiểm nghèo hay sao? Gia đình
mình là Phật tử thuần thành, con đâu thể để má làm như vậy được. Vả lại con vốn
dè dặt kỹ lưỡng, gẫm chẳng hại chi. Còn bọn con nít lòng dạ hời hợt, ăn chưa no
lo chưa tới, khó mà gìn giữ kỹ, không sớm thì chầy tụi nó cũng bị lây bịnh.
Cô Hai Túy Ngọc biểu đồng tình:
- Em con nói phải đó má. Thôi, để con với nó thay phiên nhau đem cơm cho ổng.
Ông ta kể vai vế và thứ tự họ hàng là em chồng của con đó, chớ có phải người
dưng nước lã đâu!
Cô Thiệt Nguyện ngăn cản:
- Em lãnh phần đem cơm cho ổng sao tiện. Thôi để cho con Ba cũng được.
Cô Hai cười:
- Tiện hay không tiện là chuyện thị phi. Mình hơi nào để tâm tới miệng lằn lưỡi
mối cho mệt! Cứ làm theo lương tâm, theo lẽ phải. Hễ đức trọng thì quỷ thần
kinh.
Bà Năm Tảo làm thinh, không dám chêm vào một tiếng bàn ra nào nữa. Cơm nước
xong, cả nhà ra trung đường hầu chuyện ông Đạo Chuối.
Ông Đạo than phiền:
- Tui vừa đi An Hương về. Bịnh tình bà Mười Hai có mòi tái phát. Tui có dán mấy
đạo bùa ở cửa buồng bả, vậy mà đêm đêm yêu quái cứ chui vô buồng cưỡng dâm bả.
Tui biết ngay là con yêu nầy bản lĩnh cao cường trong khi tui còn non tay ấn.
Chồng bả cho tui hay bả lại lớn bụng thêm một lần nữa. Ồng khóc lóc xin tui cứu
mạng bả, cho nên ngày mai tui phải đi đò máy về Châu Đốc tìm sư huynh tui là
ông Đạo Xiêm để xin vài lá bùa. Sư huynh tui có học luyện bùa ngải và trừ tà tận
bên Xiêm.
Bà Năm Tảo thở dài bảo chồng:
- Ông coi đó, nếu vợ chồng bà Mười Hai từ trước biết tu nhơn tích đức thì đâu
phải lãnh cái ác bào như vầy Thừ khi ị yêu mà tà quái quấy nhiễu, bả đã phải bỏ
thành thị để về An Hương, vậy mà có thoát đâu!
Cô Thiệt Nguyện kể thêm:
- Thưa thím, cháu đi An Hương, nghe đâu xóm bên cạnh đình kể rằng trước đây bà
Mười Hai lâu lâu từ chợ Vãng về các làng quê lân cận dụ dỗ gái quê ra thành,
trước hết bắt họ làm đầy tớ, sau đó bà mua sắm quần hàng áo lụa cùng son phấn
vòng vàng cho họ, bắt họ tiếp khách. Ăn quen theo kiểu đó, bà dụ dỗ gái chú Thường
xuyên Lê Văn Hai ở An Hương khiến chú tức giận, vốn mang bịnh lao nặng nên chú
hộc máu tươi ra mà chết. Con trai chú sau đó bỏ nhà ra đi, thề sẽ trả thù. Ít
lâu sau, hắn lảng vảng ở xóm Lò Tương ngoài chợ Vãng là nơi bả mở động điếm. Hắn
tò tí với chị bếp bả, bỏ bùa vô thức ăn của bả sao đó nên bả phát điên. Chồng
con bả đưa bả về An Hương tịnh dưỡng. Sau đó công việc làm ăn thất bại, họ đành
bán nhà, bán động đĩ ở xóm Lò Tương về xóm cạnh đình làng An Hương. Càng lúc
cơn điên của bà Mười Hai càng nặng, bà thường đổ hô có yêu quái đêm đêm vô buồng
cưỡng dâm bà, nhưng chồng con bà thì nghĩ rằng bả điên chớ có yêu quái gì đâu!
Ông Đạo Chuối nhấn mạnh từng tiếng:
- Bà điên trước, sau đó yêu quái thừa lúc tâm thần bà dao động, nhập vô quấy
phá. Tiếc rằng tui chưa dò dẫm được tung tích con yêu đó mà thôi!
Cô Thiệt Nguyện bảo:
- Dạo sau nầy hễ nghe chó sủa là bả hoảng kinh hồn vía, tay chân run lẩy bẩy, sống
lưng bả đổ mồ hôi lạnh ngắt. Con chó nào sủa dai thì bả lăn đùng ra chết giấc.
Mưa lại kéo về. Câu chuyện xoay qua đề tài khác. Bà Năm Tảo lau bộ ván cẩm lai,
trải chiếu bông, bày mền nỉ, gối ống để dọn chỗ ngủ cho ông Đạo Chuối. Sau đó
ai nấy rút về buồng riêng. Bà Năm Tảo dặn hai cô con gái:
- Con Hai con Ba hãy đi ngủ sớm để đầu canh năm thức dậy bắt nước làm gà nấu
cháo. Bay cũng đừng quên nấu cháo chay cho chị Thiệt Nguyện bây dùng. Nhà có sẵn
nấm rơm, mì căn, tào hũ ky, đủ bộ vận hết...
Mưa bên ngoài không ngớt, hễ trận nầy vừa tạnh là đám khác kéo về. Sau đó mưa cứ
tuôn rỉ rả, trùn dế bên nhà tỉ tê từng loạt. Cô Ba Túy Nguyệt thay bộ quần áo rộng
rồi vào giường, buông mùng xuống. Ngọn đèn chong vẫn cháy sáng mà cô không buồn
vặn nhỏ. Thời tiết mát lạnh làm giấc ngủ mau tới.
Bỗng dưng cố Ba thấy mình đang đứng dưới mái hiên túp nhà lá mà Bác vật Cảnh vừa
thuê. Cô đang đứng gần lu nước có chiếc gáo dừa gác trên miệng lu. Kế lu nước
la khóm trang trổ bông đỏ như ráng chiều hè. Bỗng một người đàn bà mặc chiếc áo
dài trắng, có khoát khăn san the trắng, dáng đi thướt tha yểu điệu tới gần bên
cô. Tửng ai té ra cô Út Thoại Huê. Cô Ba Túy Nguyệt hoảng kinh toan chạy trốn
thì cô Út trấn an liền:
- Cháu đừng sợ. Dì tuy là hồn ma bóng quế nhưng là vong cô của cháu, thường
theo phù hộ cháu chớ có làm hại cháu bao giờ. Nè, hôm nay dì hiện hồn vào giấc
chiêm bao của cháu để báo cho cháu một điều: ông bác vật Cảnh là người có duyên
nợ với cháu đó. Cháu phải gắng mà săn sóc ổng.
Cô Ba Túy Nguyệt thắc mắc:
- Thưa dì, ổng đang mắc bệnh nan y, lẽ nào ba má cháu chịu gả cháu cho ổng?
Hồn cô Út cười:
- Việc đời biết ra sao mà lường! Rồi đây cháu sẽ rõ, thiên cơ bất khả lậu, cháu
ôi!! Dì chỉ muốn biết một điều: cháu có tình ý gì với ổng không?
Cô Ba Túy Nguyệt mắc cỡ:
- Dì hỏi trớ trêu quá, nhưng cháu cũng xin thưa cháu kính mến ổng vì ổng là người
ăn học, có dự phần vào xã hội tân tiến. Cháu lại còn thương xót ai hoài cho
thân phận ổng vì bịnh ngặt nghèo mà phải bỏ hết công việc, chí hướng để về chui
rúc nơi thôn ổ quạnh hiu như xóm Chuồng Gà nầy.
Hồn cô Út:
- Cháu là kẻ có lòng. Nội việc cháu không muốn mướn kẻ khác đem cơm nước cho ổng
đã có thể gieo nhơn lành cho cháu rồi. Vậy cháu hãy săn sóc ổng cho chu đáo, và
nhứt là phải thuyết phục ổng trọng Phật kính tăng, có vậy mới ngó lại cháu.
Nói xong cô Út Thoại Huê biến mất. Cũng vừa lúc đó, cô Ba Túy Nguyệt thức giấc.
Nằm ôn lại giấc chiêm bao, lòng cô ngổn ngang trăm mối. Câu của cô Út: "Việc
đời biết ra sao mà lường" lại đập vào tâm trí cô. Nếu vậy Bác vật Cảnh sẽ
có ngày hết bịnh? Nhưng hết bịnh bằng cách nào đây? Họa chăng nhờ phép lạ. Săn
sóc ông, cô Ba không quản ngại. Cô chỉ ngại mình không thể cảm hóa ổng tin tưởng
đạo Phật, trau giồi phương tiện tâm linh!
Thiệt tình, tù khi Bác vật Cảnh dọn về đây, cô Ba Túy Nguyệt không hề có cảm
tình gì đặc biệt với ông ta. Không phải tại cô chê ông vướng bịnh ngặt. Cô chỉ
nhận thấy giữa ông ta và cô, mỗi người có một thế giới khác, một xã hội khác, một
hoàn cảnh khác nên tâm tính, ý chí, tình cảm phải khác nhau. Nhưng từ sáng hôm
nay, giáp mặt ông, nói chuyện với ông, cô cảm thấy lòng mình bâng khoâng khó tả.
Lúc đầu cô cho rằng tại vì ông ta gợi ở cô lòng trắc ẩn, nhưng giờ đây cô mang
máng thấy rằng, sau tấm lòng trắc ẩn kia còn có một tình cảm khác nữa. Thôi thì
cô đành phó mặc cho nghiệp quả đẩy đưa, chớ làm sao cô lường được diễn biến sắp
tới! Quý hồ là cô giữ được tấm lòng trong sạch, ý chi kiên trinh và nương theo
Tam Bảo mà sống đời khiêm tốn nhưng sáng danh Phật tử. Có được như vậy thì dù
tai ương hoạn nạn bủa giăng, cô vẫn bình tâm trả quả, gây dựng nghiệp tốt, tấm
lòng tự tại sẽ lần lược sáng lòa như gương báu.
Cô Ba Túy Nguyệt nối lại giấc ngủ cho tới lúc chùa xóm bên gióng trống dóng
chuông làm lễ công phu. Cô cùng mẹ và chị nấu nước pha trà rồi cho vào chai
lít. Bà Năm Tảo lấy hai nải chuối sứ, chai lít đựng nước trà và hai bộ quần áo
vải xiêm vừa giặt sạch bỏ vào bao cà ròn, một loại bao đươn bằng lá bàng. Đây
là hành lý của ông Đạo Chuối.
Vào lúc bà Năm và hai cô con gái đốt đèn làm việc trong bếp thì ông Đạo Chuối
cùng ông Năm Tảo thức dậy. Uống xong tuần trà, ông Năm hối ông đạo đi ra bến
tàu. Chiều hôm trước, ông đã mua giấy tàu để sáng nay ông đạo đi Châu Đốc.
Từ xóm Chuồng Gà muốn đi tới bến tàu phải đi bộ ra giốc cầu Thiềng Đức, ở đó có
xe kéo, xe lôi, xe xích lô để qua bên kia khu chợ và đi một mạch tới bến tàu. Vừa
lúc đó, ông Chín Thẹo và cô Út Ngọc An từ bên kia hàng rào bước qua. Ông Chín
Thẹo nói với ông Đạo Chuối:
- Má bầy trẻ có thuê hai chiếc xe lôi để cùng đưa ông đạo ra bến tàu. Giờ nầy
chưa xe nào có mặt ở giốc cầu Thiêng Đức đâu!
Cô Út Ngọc tha thiết:
- Bạch ông Đạo, nếu nhờ tha lực của thập phương chư Phật cùng tài tróc quỉ trừ
yêu của ông mà dì Mười Hai con hết bịnh thì con sẽ thuyết phục dì con qui y Tam
Bảo và noi gương ông cùng chị Thiệt Nguyện để cứu nhơn độ thế.
Ông Đạo Chuối mở đãy bằng vải nâu, lấy ra ba quyển kinh đưa cho cô Ba Túy Nguyệt:
- Tặng cháu ba quyền kinh nầy, biết đâu sẽ có ích lợi cho cháu.
X
X X
Sáng hôm đó, khi đem liễn cháo gà cho Bác vật Cảnh, cô Ba mang theo ba quyển bửu
kinh mà ông Đạo Chuối vừa tặng cô đưa cho ông Bác vật. Cô chờ đợi phản ứng của
ông. Ông cầm quyển kinh Viên Giác lên lật vài trang, mặt không hề đổi sắc.
Chiều hôm sau, khi cô Ba xách cơm canh qua thì bắc gạp Bác vật Cảnh đang chăm
chú xem kinh Lăng Nghiêm. Vừa thấy cô, ông xếp sách lại. Cô vừa bày thức ăn ra
mâm, vừa hỏi:
- Quyển kinh ông đang xem đó, ông thấy ra sao?
Bác vật Cảnh trả lời:
- Ngay từ hai phần đầu, tôi đã bị quyển sách này lôi cuốn. Đẻ tôi đọc xong, sẽ
cho cô biết sau. Bây giờ, tôi có thể nói với cô điều nầy: Triết thuyết nhà Phật
không phải là tà thuyết mà là để giúp chúng sanh giải phóng tâm thức. Lâu nay
tôi đã lầm tưởng, thiệt bậy quá xá!
Từ đó tới suốt nửa tháng sau, Bác vật Cảnh ngoài thú làm vườn, thường đọc kinh
và tư duy. Ông có nhờ ông Năm Tảo mua cho ông bức tượng A Di Đà Tam Tôn và tượng
Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai. Đêm đêm ông tụng kinh Dược sư, nhưng đó là chuyện
về sau.
Sau khi tìm gặp ông Đạo Xiêm ở Tân Châu, ông Đạo Chuối đem bùa trừ tà tróc yêu
về đất Vãng. Ông Chín Thẹo sắm sửa ghe rồi cùng ông Đạo Chuối, cô Thiệt Nguyện
và cô Út Ngọc An đi An Hưng để trị bịnh cho bà Mười Hai.
Ông bà Mười Hai ở tong ngôi nhà lợp ngói âm dưng, vách vÿn bổ kho cách ngôi
đình làng một con rạch nhỏ, có chiếu cầu khỉ bằng tre bắc ngang. Xung quanh nhà
là ngôi vườn thập cẩm trồng nào chuối, ổi, mận, nho cam, xoài, chanh, bưởi...
Thấy khách chợ Vãng đến, ông Mười Hai mừng lắm, sai trưởng nam là cậu Hai Thanh
dọn hai căn buồng, một dành cho ông Đạo Chuối và ông Chín Thẹo, một dành cho cô
Thiệt Nguyện và cô Út Ngọc An. Ông cũng sai con gái là cô Ba Hồng bắt con vịt
cà cuống nấu cháo, cùng dọn cơm chay cho cô Thiệt Nguyện và cô út.
Ông Chín Thẹo hỏi người em cột chèo:
- Dì Mười Hai có đỡ chút nào chăng vậy dượng?
Ông Mười Hai buồn rầu:
- Từ mười bữa nay, má sắp nhỏ lại trở bịnh, cứ hô bị quái vật hãm hiếp rồi hát
lý tối ngày. Cả nhà phải giữ bả kẻo bả uống nước bùn sình mà bả cho rằng ngon
còn hơn cam lộ của Phật bà.
Bà Mười Hai nghe có khách tới liền từ trong buồng bước ra. Đó là người đờn bà
tuổi ngoài bốm mươi, da dẻ xanh chành, mình vóc gầy mòn khô héo, tóc rụng xơ
xác. Vừa thấy mặt ông Đạo Chuối là bà ré lên chửi:
- Tiên nhơn tổ đường cái quân tả đạo bàng môn nầy! Tao bị nó hành mà mầy còn dắt
phường đầu trâu mặt ngựa tới đây quấy rầy không cho tao tịnh dưỡng phải không?
Bà xốc lại ông Đạo Chuối toan hành hung, nhưng cậu Hai Thanh hiệp sức cùng ông
Mười Hai và ông Chín Thẹo xúm lại cản ngăn và dùng lời dịu ngọt an ủi bà. Bà
ngoe ngoảy bỏ vô buồng, miệng hát:
- Tay thiếp ôm chiếc gối vuông, mắt thiếp tuôn giọt ngọc. Buồng vắng chàng rồi,
bụi mốc nhện giăng...
Ông Mười Hai nói với ông Đạo Chuối:
- Vợ tui từ khi điên về đây tịnh dưỡng, úng thuốc bắc do thầy Năm Trợ gần đây hốt
như uống nước lã! Tối hôm đó, bả bèn chạy ra ngoài giữa cơn mưa lâm râm. Cả nhà
xách đèn tán chai đi kiếm, thì thấy bả ngồi trên mả con chó bẹc- giê của ông
Cai tổng Huyền...
Ông Chín Thẹo chận lại hỏi:
- Chó chết mà cũng có mả nữa sao?
Ông Mười Hai vừa vấn thuốc rê vừa đáp, vẻ mặt đăm chiêu:
- Số là ông Cai tổng Huyền có cậu trưởng nam tên là Hai Biểu. Củ được cha cho qua
Tây học, đậu bằng tú tải rồi trở về nước. Cẩu về vườn sống đời công tử. Sau khi
ông bà Cai tổng lần lượt qua đời, cẩu bán nhà, bán vườn, bán ruộng lên Lèo lập
nghiệp rồi cưới vợ ở luôn bên đó. Nhà ông Cai tổng trước đó bị thợ mộc ếm bùa Lỗ
Ban nên ai ở cũng mần ăn thất bại cho tới tán gia bại sản mới thôi. Cho nên nhà
đó bị bỏ hoang. Hồi còn ở đây, cậu Hai Biểu có nuôi một con chó tây, cưng nó lắm,
cho nó ăn toàn thịt bò, thịt heo. Khi nó chết, cẩu chôn nó sau vườn, bốn bên mả
có tấn đá ong.
Cậu Hai Thanh tiếp lời cha:
- Má cháu hôm đó trong cơn điên, đến ngồi trên mả con chó. Sau khi được đưa về
nhà, mỗi lần bả nghe chó sủa là bà nổi da gà, tay chân lạnh ngắt. Rồi từ đó đêm
đêm, bả đổ hô là có kẻ vô buồng hãm hiếp bả.
Ông Đạo Chuối ngồi im. Vận sự về bà Mười Hai, ông đã nghe nhiều rồi. Ông hỏi
ông Mười Hai lập đàn để ông làm phép trấn quỉ trừ ma. Cô Thiệt Nguyện thì lập
bàn thờ, bày tranh Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai rồi treo phấn lụa năm màu và đốt
49 ngọn đèn để tụng kinh Dược Sư.
Ông Đạo Chuối treo tấm lụa đỏ vẽ hình bát quái bằng kim nhũ lóng lánh ở đàn
tràng rồi vừa đốt mười đạo bùa thả mười phương vừa đọc thần chú. Đọc xong, ông
bước xuống đàn tràng thì cô Thiệt Nguyện cũng vừa tụng xong 49 biến Dược Sư Lưu
Ly Quang Dà La Ni. Cả hai tạm ngưng công việc, ngồi uống trà giải lao ở trung
đường với gia chủ.
Cậu Hai Thanh và cô Ba Hồng cúng đường hai nải chuối lá. Thứ chuối nầy tuy vỏ
có nhiều sớ nhưng thịt thì khá ngon, ngọt hơn chuối sứ, chỉ không thơm bằng chuối
cau mà thôi.
Sau đó cô Ba Hồng dọn cơm chay cho cô Thiệt Nguyện và cô Út Ngọc An, ngồi bồi
tiếp hai cô một chốc rồi mới xin phép dọn tiệc thịt vịt cho ông Chín Thẹo và cả
nhà.
Hôm sau, cô Thiệt Nguyện bắt đầu tụng nguyên bộ kinh Dược Sư, còn ông Đạo Chuối
lên đàn tràng tiếp tục trấn ếm yêu ma quỉ quái. Sau khi mọi việc xong xuôi, cô
Thiệt Nguyện tụng hết bộ kinh và ông Đạo Chuối đã cuốn lá bùa bát quái bỏ vào
đãy gấm, tất cả chủ khách đều tụ lại ở trung đường đàm đạo. Ông Đạo Chuối bảo:
- Tui đã biết tung tích con quỉ quấy nhiễu bà Mười Hai rồi. Tui chỉ có thể trấn
áp con quỉ đó, còn việc chữa bịnh điên của bả, phải nhờ tha lực của đức Dược Sư
cùng thập vị đại tướng Dược Xoa vậy.
Đem đó bà Mười Hai vẫn nói nhảm, lúc khóc lúc cười làm cả nhà không ai ngủ nổi.
Ông Mười Hai bảo ông Đạo Chuối:
- Lạ chưa, hổm rày cơn điên của bả hơi bớt thì bữa nay lại có mòi tăng thêm.
Ông đạo trấn an:
- Cơn mưa trước khi tạnh tuôn ào ào hơn lúc mới rớt hột, xin gia chủ an tâm:
Canh năm vừa mãn, cô Út Ngọc An, cô Thiệt Nguyện cùng cô Ba Hồng thức dậy xuống
bếp nấu cơm nếp và chuẩn bị bữa điểm tâm thì bà Mười Hai từ trong buồng bước
ra, miệng hát:
- Đêm khuya tim lụn dầu hao,
Chồng tui say rượu, anh vào chi đây?
Rồi bà khóc sướt mướt:
- Lại "nó" nữa! Nó cứ theo bóng tối đêm về để chui vô buồng hãm hiếp
tao. Tao già rồi, thịt da dai nhách mà nó không tha! Chèn ơi, mình mẩy nó đấy
lông lá khét nghẹt làm tao muốn nghẹt thở, bụng tao bào xào muốn mửa thốc mật
xanh mật vàng! Phen nầy chắc tao tự vận chết cho mát thân!
Ông Đạo Chuối đem bùa dán ở cửa buồng và trên bốn vách buồng. Tất cả gồm năm đạo
bùa. Đêm hốm đó, trong phòng bà Mười Hai có tiếng hét lẫn tiếng ạch đụi. Bà la
chói lói:
- Nó đó, nó hãm hiếp tui lại còn cắn tui nữa... Cứu tui bớ bà con! Cứu tui bớ lối
xóm!
Ông Đạo Chuối chỗi dậy hô lớn:
- Mau thắp đuốc lên! Đêm nay tui bứng con yêu tinh ra khỏi cuộc đất nầy!
Cậu Hai Thanh vội thắp đèn măng- sông treo giã nhà. Cậu cũng thắp cho ông Chín
Thẹo, ông mười Hai, ông Đạo Chuối và cho cậu mỗi người một cây đuốc. Cả bốn
cùng vào buồng bà Mười Hai thì thấy bà nằm lõa lồ trên giường, bất tỉnh hôn mê.
Ông mười Hai kéo tấm mềm nỉ xám trùm cho vợ. Còn ông Đạo Chuối cầm đuốc rọi cửa
buồng và bốn tấm vách thì thấy đạo bùa bị lột tróc hết, xác bùa bị xé tả tơi nằm
trên nên gạch.
Cậu Hai Thanh chắc lưỡi:
- Con yêu nầy phép thuật cao cường thiết! Bùa của ông đạo đây chẳng nhằm nhò gì
đối với nó!
Ông Đạo Chuối moi chiếc kiếng trong tay nải ra. Đây là một phiến gưng tròn đường
kính cỡ một tấc, sau lưng có dán đạo bùa vẽ chữ Phạn. Ông bảo:
- Cháu đừng tưởng năm đạo bùa không hiệu nghiệm Con yêu kia trước đây vô buồng
nầy khi rút lui không để lại dấu vết, nhưng năm đạo bùa nầy đã làm cho dấu chơn
nó tỏ lộ. Phải có cái kiếng chiếu yêu này mới thấy dấu chơn để theo về sáo huyệt
của nó.
Ông khuyên mọi người thủ sẵn xà beng, cuốc, búa và cây tre vó nhọn. Ông đốt đèn
cầy rồi áp gần kiếng chiếu yêu. Lùng ánh sáng phản chiếu soi rõ dấu chân chó từ
cửa buồng ra tới ngoài hè. Mọi người cùng theo ông dò dấu chân chó, vượt qua
hàng rào tre bao quanh khuôn viên, qua hai mương nước nhỏ, qua chiếc cầu khỉ, đến
khuôn viên ông Cai tổng Huyền và dừng lại bên mộ con chó bẹc- giê của cậu Hai
Biểu. Ông Đạo Chuối reo lên:
- Đây rồi, sào huyệt của con yêu tinh đây rồi!
Ông dán đạo bùa lên tấm mộ bia con chó, đoạn sai mọi người dùng xà beng nạy những
phiến đá ong tấn hai bên và đào mộ lên. Gần hai tiếng đồng hồ sau, chiếc hòm gỗ
huỳnh đàn bày ra.
Ông Đạo Chuối vẽ bùa Lỗ Ban trên nắm hòm rồi vỗ tay một cái, nóc hòm văng ra
xa, bày thi thể con chó. Thịt nó không hư vữa hôi thúi, chỉ rụng một ít lông mà
thôi. Nó nằm thở hoi hóp, bụng phập phồng. Ông Đạo Chuối lại đọc thần chú, rồi
cầm cây tre vót nhọn, dùng hết sức bình sanh đâm vào ngực con chó. Nó quằn quại
lên tru một tiếng dài. Máu từ ngực nó tuôn ra đỏ ối nhưng không có mùi tanh của
máu mà là mùi dầu lửa bốc nống nặc. Màu đỏ trong phút chốc biến thành màu xanh
như chàm rồi ngả thành màu đen như hắc in. Ông Đạo Chuối lấy dao moi bụng chó
thì chỉ thấy tóc cuộn từng lọn từng chàm chớ chẳng có ruột gan chi hết. Ông liền
đưa cây đuốc vô vũng máu yêu tinh, máu mà bén lửa còn hơn xăng, cháy phùng lên.
Mùi dầu hắc trộn mùi tóc cháy khét nghẹt. Đợi xác con yêu tinh thành tro, ông mới
bảo cậu Hai Thanh lấp mộ lại, rồi ông quay qua ông mười Hai:
- Thôi, xin mừng ông. Bà Mười Hai sẽ không bị con yêu tinh quấy rầy nữa.
Rồi ông dặn cô Thiệt Nguyện:
- Ngày mai tui về chợ Vãng với ông Chín và cô Út, còn cô cứ ở đây tụng thêm cho
đúng 98 biến kinh Dược Sư rồi hẵng về.
xxx
Khi về tới chợ Vãng, ông Đạo Chuối dùng đò ngang từ bến Dinh ông Chánh qua bên
kia cù lao An Thành. Còn ông Chín Thẹo và cô Út Ngọc An về xóm Chuồng Gà. Lối
xóm bu lại nhà ông bà Chín Thẹo để nghe hai cha con ông Chín kể rạch ròi tự sự.
Có người còn hiếu kỳ chèo ghe, bơi xuống tới An Hương để ngó tận mắt bà Mười
Hai và mả con chó quỷ.. Dân xóm nghe chuyện, kéo qua An Thành viếng Tịnh Liên
am, nơi ông Đạo Chuối cư ngụ. Họ cúng đường am rất hậu rồi hùn tiền may hai tấm
áo nhựt bình và hai chiếc quần vải cho ông Đạo Chuối.
Bà Năm Tảo và hai cô con gái càng giốc lòng ăn chay niệm Phật. Chừng hai tuần lễ
sau, cô Thiệt Nguyện trở về xóm Chuồng Gà báo tin:
- Thưa chú thím Năm, thưa ông bà Chín, giờ đây bà Mười Hai hết điên rồi. Bà hứa
sẽ tìm những cô gái mà bà dụ dỗ làm nghề buôn hương bán phấn để giúp đỡ họ hoàn
lương và tìm chỗ xứng đối vừa lứa gả họ. Dù có phải tốn ba phần tư gai sản, bà
cũng không nề hà.
Bà Chín Thẹo và cô Út Ngọc An chỉ biết chấp tay niệm Phật, không nói không rằng.
Riêng cô Ba Túy Nguyệt trong dịp đem cơm nước cho Bác vật Cảnh hôm đó, thuật lại
vận sự bà Mười Hai cho ông nghe. Cô nhấn mạnh:
- Tha lực của đức Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai khó mà lường được. Ông cứ trì
chí tụng kinh Dược Sư sẽ thấy ứng nghiệm.
Bác vật Cảnh thành thật:
- Sự hiểu biết của nhơn loại về khoa học nào có nhằm nhò chi với sự hiểu biết của
Phật. Cám ơn cô đã đem kinh lại cho tôi đọc. Lúc đầu vì chiều theo ý cô, vì tò
mò nữa, nên tôi rờ tới kinh Lăng Nghiêm. Nhưng có lẽ tôi có túc duyên với Phật
pháp hay sao đó mà chỉ mới đọc hai phần đầu là tôi say mê, trí óc thân nhiếp Phật
pháp không mấy khó khăn. Thiệt cô là một thiện tri thức của tôi vậy!
Cô Ba Túy Nguyệt cười:
- Kiến thức của em về Phật pháp nào có bao nhiêu! So với chị Thiệt Nguyện, ba
em và với các Phật tử thần thành thường làm công quả cho chùa Long Đức, em chỉ
là con đom đóm sánh với ngọn đèn. Giờ đây, nghe ông luận về kinh kệ, em chợt thấy
lợi căn của ông thù thắng là dường nào. Rồi đây biết đâu ông sẽ trở thành bực
đa văn. Với cái biện tài vô ngại kia, ông sẽ đi đây đó giảng kinh cho các Phật
tử nghe, làm lợi cho biết bao kẻ thành tâm cầu đạo.
Trước khi ra về, cô Ba hứa:
- Để em lên chùa Long Đức thỉnh kinh Diệu Pháp Liên Hoa cho ông xem. Trong quyển
đó có phẩm Phổ Môn nói về công đức của đức Quán Thế Âm Bồ Tát. Ông nên tụng phẩm
nầy để cầu xin đức đại từ đại bi đem nước cam lộ gội rửa trần cấu cho thân tâm
ông được khinh an và lành mạnh.
Chiều hôm đó, cô Ba đem cơm cho Bác vật Cảnh, không quên mang theo quyển kinh
Pháo Hoa.
Tối hôm đó, sau khi cơm nước xong, Bác vật Cảnh đi tắm rồi pha trà cúng Phật.
Trời đêm tạnh ráo. Vầng trăng bạc đã lên khỏi ngọn xoài ở cuối vườn. Ông cuốn lớp
chiếu trải trên divan cẩm lai để nằm chơi cho mát, dè đâu ông ngủ hồi nào không
hay.
Trong cơn chiêm bao, Bác vật Cảnh thấy một mụ già mặt mũi xấu xí đứng bên giường.
Ông hỏi:
- Bà ở đâu tới đây? Cửa nẻo đã gài chặt, sao bà vô đây được?
Bà già cười thân thiện:
- Tui ở trong nhà này chớ đâu! Cho ông rõ, tui vốn là con tinh cây cảm lai mà
thiên hạ xé gỗ đóng chiếc đi- quăng ông đang nằm đó. Hiềm vì trước đây ông mê
cái văn minh duy vật mà báng bổ trời thần, thóa mạ Phật pháp nên mang ác nghiệp.
Nay ông biết quy y Tam Bảo, tu dưỡng thân tâm thì rồi đây, nhờ tha lực của Phật,
ông sẽ thoát khỏi bịnh ngặt mà sánh duyên cùng trang thục nữ để rồi cả hai trợ
tu cho nhau, ăn cơm có canh, tu hành có bạn là vây đó!
Nói xong bà già xốc lại, xô Bác vật Cảnh té chúi nhủi. Vừa lúc đó ông cũng giật
mình tỉnh giấc. Bên tai ông, trống canh vừa điểm ba tiếng. Ông liền chỗi dậy mặc
áo tràng tử tế, chà răng súc miệng sạch sẽ, đốt nhang trên bàn thờ Phật và bắt
đầu tụng kinh Pháp Hoa từ phẩm đầu cho tới phẩm chót.
Vừa dứt quyển kinh thì bên ngoài trời đã sáng trắng. Cô Ba Túy Nguyệt đem các
món điểm tâm qua. Cô bày bánh canh bột gạo và bánh tầm bì ra mâm trong khi Bác
vật Cảnh nấu nước sôi để pha cà phê. Ông bảo:
- Từ canh ba tôi tụng kinh Pháp Hoa cho tới sáng trắng, chắc cô lạ lắm?
Cô Ba Túy Nguyệt cười thiệt tươi, sóng mắt ướt rượt nhưng cái nhìn thật nồng ấm.
Cô bảo:
- Đối với ai thì em lấy làm lạ, chớ đối với ông, em biết cơ duyên cầu đạo của
ông tới lúc chín mùi rồi!
Bác vật Cảnh nhìn sững cô gái. Đây có phải là trang thục nữ mà bà già trong
chiêm bao đã tiên đoán ông sẽ cưới làm vợ chăng?
Chương 9
Ông Huyện Khải, trong thời gian chờ đợi ngày đám cưới, thường
từ Tiểu Cần lên thăm cô Hai Túy Ngọc và ông Bác vật Cảnh. Cùng đi với ông có Đốc
học Hạnh, vốn là anh em chú bác của người vợ trước ông, cũng là cháu kêu ông
Bang biện Hưỡn bằng chú. Thiệt ra, ông Cai tổng Chất, tía cô Ba Kim Chưởng (vợ
trước ông Huyện Khải) và ông Chánh bái Chơn, tía ông Đốc học Hạnh, đều là anh một
cha khác mẹ với ông Bang biện Hưỡn. Ông nội của họ là phường mãi quốc cầu vinh,
tía và chú họ đều là cường hào ác bá, anh em con nhà chú nhà bác họ nếu không
là thứ đâm heo thuốc chó thì cũng là phường giá áo túi cơm.
Tuy nhiên cây đắng vẫn trổ trái ngọt. Ông Đốc học Hạnh từ nhỏ vốn bịnh hoạn èo
uột nên bà mẹ ông liền ký bán ông cho gia đình người chị con nhà cô của bà. Nhờ
sống trong gia đình hiền đức lẫn đạo hạnh của di họ mà ông nhiễm được hai đức
tánh cao quý đó. Ông càng lớn càng bất mãn cách ăn ở khắc bạc của thân tọc mình
đối với kẻ nghèo hèn cô thế nên ông ít đi lại với họ. Nội trong vòng bà con,
ông chỉ thấy cô Ba Kim Chưởng là hiền lành thùy mị nên ông có bụng thường yêu nể
vì. Sau đó cô Ba sánh duyên với ông Huyện Khải, ông cũng thường giao thiệp với
người em rể họ của mình. Nhận thấy ông Huyện thanh liêm, khiêm tốn, cách ăn nói
mềm mỏng nên ông mến thương ông Huyện còn hơn em ruột. Từ khi cô Ba Kim Chưởng
qua đời, ông Huyện Khải và ông Đốc học Hạnh vẫn giữ tình em rể anh vợ như cũ.
Ông Đốc học Hạnh hóa vợ hồi hai mươi lăm tuổi. Năm nay ông đã bốn mươi. Cậu con
trai độc nhất của ông năm nay mười tám tuổi, đã đậu bằng tú tài bán phần và hiện
học tại trường Chasseloup Laubat ở Sài gòn để chuẩn bị thi tú tài toàn phần.
Mỗi khi ông Huyện Khải đi thăm gia đình hôn thê của ông đều có ông Đốc học Hạnh
tháp tùng theo.
Cô Út Ngọc An từ khi hết bịnh đàng dưới cũng thường lui tới nhà ông Năm Tảo. Ai
dè cô lọt vào mắt xanh ông Đốc học Hạnh. Năm nay cô đã ba mươi hai tuổi, coi
như lỡ thời. Còn ông thì tuổi đã bốn mươi mốt. Song ông còn tươi, còn trẻ nhờ
năng vận động. Cô thì về sau nầy nhờ bầu tâm cảnh sáng làu làu nên mặt mày cô rạng
rỡ, vóc vạc uyển chuyển. Thiệt tình, thuở chưa bị nạn, cô không xấu gái. Hiềm
vì lòng cô không an ổn, tánh cô đầy sân hận nên mặt cô dữ dằn u ám. Giờ thì cô
sống thảnh thơi tự tại nên mặt cô trở nên hiền hậu dịu dàng, thần sắc cô sáng
như gương nga đêm rằm.
Khi nghe ông Đốc học Hạnh muốn cưới cô Út Ngọc An thì cả nhà ông Năm Tảo mừng rỡ
lắm. Bà Chín Thẹo cũng mừng, nhưng lại lo vì bà nghĩ rằng con gái mình lòng dạ
thưa thớt, sợ cô không rành lễ nghi phong cách để làm vợ một bực tân học.
Bà Năm Tảo trấn an:
- Con Út thông minh lắm. Khi nó về với ông Đốc học rồi thì nó sẽ thích ứng với ổng,
chị Chín chớ lo! Vả lại chắc chắn ổng sẽ chỉ vẽ cho nó cách ăn ở của dân tỉnh
thành tân tiến.
Cô Hai Túy Ngọc cười chúm chím:
- Bác Chín chưa biết đâu! Chị Út con giờ đây yểu điệu mỹ miều chớ đâu phải như
chầu xưa. Ông Đốc học cưới chỉ về, cưng chỉ không hết chớ lý đâu xét nét để chê
đè chỉ xuống!
Ông bà Bang biện Hưỡn được tin đó, tỏ ra bất mãn lắm. Bà vỏ vảnh cái miệng nói
với chồng:
- Thằng cháu ông có thể cưới hạng đờn bà có tiền của, có ăn học. Ai dè y ta lại
mê say đứa con gái hạ tiện, lỡ thời đó. Gia tộc ông có lẽ hết thời hay sao rồi nên
mới có người rước thứ cùng đinh mạt hạng đó về!
Ông Huyện Khải và ông Đốc Hạnh cứ mỗi tháng hai lần, lui tới xóm Chuồng Gà thăm
vị hôn thê. Vì ông Chánh bái Chơn đã qua đời, mà ông Đốc Hạnh trên không có anh
chị đứng làm chủ hôn nên ông phải nhờ dì dượng họ của mình. Dù sao hai ông bà nầy
cũng đã nuôi dưỡng ông lúc ông còn thơ dại. Ông cũng cậy vợ chồng người bác của
ông Huyện Khải đứng làm mai nhơn. Lễ hỏi được tổ chức trong vòng thân mật.. Ông
Đốc Hạnh có mời ông bà Bang biện Hưỡn, ông bà Bác sĩ lê Thạnh Mậu và cậu Hai
Kinh lý Luyện, nhưng họ kẻ kiếm cớ nầy, người kiếm cớ nọ, không đi.
Đàng trai đi sính lễ gồm một đôi bông hột xoàn năm ly, một cặp vòng chạm phụng
giao đầu, một cây kiềng vàng chạm nặng cỡ một lượng, một chiếc cà rá hột xoàn,
một sợi dây chuyền nạm tám hột xoàn, mỗi hột cỡ ba ly, một cặp cà rá vàng chạm
cửu khúc liên hườn. Nữ trang có kiểu xưa, có kiểu kim thời.
Bà Chín Thẹo hôm đám hỏi mời đủ mặt họ hàng bên bà lẫn bên ông trong lãnh thổ tỉnh
nhà. Xong xuôi, bà may sẵn cho cô dâu tương lai nột cái áo dài gầm đại hồng hoa
bạc hình mặt nguyệt, mốt áo dài nhiễu màu đọt chuối, một áo dài lụa mỏng trắng.
Ba chiếc áo đó để hôm đám cưới, cô dâu sẽ mặc áo cặp ba.
Bà Bang biện Hưỡn bảo cậu Hai Luyện:
- Ông anh con nhà bác con không chịu kiếm phấn giồi mặt cho bà con họ hàng đâu!
Nó kiếm máu hòe, bùn, cứt, để trây trét lên mặt cả dòng cả họ nhà mình đó đa
con!
Cũng vậy, từ hôm ông Huyên Khải đi coi mát cô Hai Túy Ngọc, bà Bang biện Hữn tỏ
ra lợt lạt với ông. Riết rồi khi ông tới viếng Cầu Đào, bà Bang biện bẹo hình
cho ông thấy rồi quày quả vào trong buồng để mặc ông chồng bán thân bất toại nằm
trên ghế trường kỷ tiếp khách.
Ông Huyện Khải than thở với ông Đốc Hạnh.
- Thím Bang biện có vẻ ghét bỏ tụi mình lắm, anh Đốc à. Cho nên từ rày sắp tới,
tui hết dám tới Cầu Đào.
Ông Đốc Hạnh hít một tiếng bất bình:
- Cầu cho bả ghét! Cái thứ bả càng lui tới thân mật với mình, càng làm mình bận
rộn thêm!
Cậu Hai Luyện cũng bắt chước tía má mình, tỏ vẻ lợt lạt với ông Huyện Khải và
ông Đốc Hạnh. Không hiểu cậu vì lo việc hay vì lười biếng mà cứ ở miết Mỹ An. Nếu
có rảnh thì cậu đi An Hương, đi Hòa Mỹ. Bà Bang biện Hưỡn bao phen nhắn nhe cậu
về thăm nhà mà cậu chỉ hứa hẹn cầm chừng. Thì ra cậu vừa chài bẩy được hai cô
thôn nữ. Cô thứ nhứt là Ba Hửng, con gái chú Thường Xuyên Hiếu, ỡ Hòa Mỹ. Cô thứ
hai là Hai Thiều, con chú Hương nhứt Điêu ỡ An Hương. Khéo làm sao hai cô cùng
có thai một lượt. Dì ruột cô Ba Hưởng là bà Tư Nghệ, một hôm đi Mỹ An tìm tới cậu
Hai báo tin.
- Cậu ôi,, cậu dụ con cháu tui cách nào không biết mà giờ đây nó mang bầu rồi!
Cậu Hai Luyện trợn mắt:
- Bà chớ nói xàm! Cháu của bà lấy ai mang bầu rồi bà đổ hô tui dụ dỗ! Cô cháu
bà là hạng người nào mà tui phải tò tí với cổ? Bà liệu hồn đi khuất mắt tui cho
sớm, nếu bà còn lảng vảng ở đây tui sẽ sai thầy Hương quản Mít còng đầu bà với
cô cháu gái bà đem ra nhà việc đóng trăn cho mang nhục! Tui là quan Kinh lý, ai
cho phép bà kêu tui bằng cậu?
Bà Tư Nghệ đành nuốt hận ra về. Cô Ba Hưởng buồn tủi nhục nhã liền bỏ làng xóm
đi lên chợ Vãng sanh con. Sau đó cô gặp chú Chệt Woòng Coóng bán tiệm chạp phô ở
Cầu Lầu. Y ta chịu cưới cô và nhận con cô làm con. Nhưng đó là chuyện về sau.
Riêng cô Hai Thiều, khi nghe đồn cậu Hai Luyện dùng oai quyền để chối phắt việc
làm tác tệ của mình với cô Ba Hưởng thì đành chịu nhịn, không dám tìm tới cậu.
Cô uống lọ xạ chồn hương để phá thai và bị băng huyết dầm dề. Khi ra khỏi nhà
thương, tóc cô rụng nhiều. Cô đành tìm đến Sơn Thắng thí phát quy y. Nhưng đó
cũng là chuyện về sau.
Chuyện bây giờ là công việc cậu Hai Kinh lý Luyện đo đất để đào con rạch Mỹ An.
Dài theo phần đất của ông Hương sư Chiêm cũng bị lọt vào trong vùng đất bị đào.
Cậu Hai Khiết, trưởng nam ông Hương sư Chiêm một hôm bưng mâm trà, bánh và rượu
đến nhà trọ cậu Hai Luyện, khúm núm thưa:
- - Bẩm quan Kinh lý, đây là phẩm vật của tía tui kính lên quan để quan dùng lấy
thảo. Tía tui là ông Hương sư Chiêm.
Cậu Hai Luyện cười::
- Tui có nghe ông Hương sư hiếu khách lắm nên cũng tính sẽ có ngày đến viếng ổng.
Dè đâu ổng lại sai chú tới đây tặng phẩm vật để mở đầu cuộc giao hảo. Vậy khi về
nhà, chú nhớ chuyển lời cám ơn của tui nghe!
Cậu Hai Khiết dạ dạ. Còn cậu Hai Luyện giở tấm vải hồng điều đậy trên mâm quà tặng
thì thấy hai chai rượu cỏ- nhác, một họp trái vải, một hộp bánh bích qui, hai hộp
trà Thiết quan âm, một chục trái cam tàu và một phong bao giấy hồng. Cậu liền hỏi
cậu Hai Khiết:
- Cái gì vậy chú.
Cậu Hai Khiết thưa:
- Bẩm quan Kinh lý, tía tui nhờ quan đo đất lấn qua ranh cuộc đất chú Xã Miễn
và cuộc đất thầy Hương hào Liệt để đào kinh. Có vậy phần đất của tía tui mới giữ
nguyên vẹn. Nếu được vậy, tía con tui đội ơn quan Kinh lý vô cùng. Sau vụ nầy,
tía tui sẽ đền ơn thêm cho quan lớn.
Cậu Hai Luyện cười hề hề:
- Được rồi, để tui tính. Chú cũng nên thưa với ổng, chiều mai tối sẽ đến nhà ổng
bàn bạc thêm.
Tối hôm đó, cậu Hai Luyện cứ loay hoay với tấm địa đồ. Cậu dùng biết chì đỏ vạch
lấn qua phần đất của Xã Miễn và Hương hào Liệt để đào kinh và quyết định chiều
mai sẽ đến nhà Hương sư Chiêm, kèo nài ông ta đưa thêm hai lượng nữa.
Mãi tới đầu canh ba, công việc xong, cậu trở về buồng và lên giường. Cậu thở
dài khoan khoái. Thấy chưa! Nhờ phá được trinh cô Ba Hưởng và cô Hai Thiều mà
tiền bạc tự dưng tới cậu. Hèn chi tụi phú thương Huê Kiều rất chuộng phá trinh
con gái để được ăn nên làm ra.
Đến giữa canh ba, cậu Hai Luyện mới ngủ được. Trong chiêm bao, cậu thấy một người
đờn ông da đen như da người Chà và, mặt đầy mụn, miệng rộng, răng lởm chởm. Y
ta mặc bộ đồ xám nổi vảy như vảy cá sấu. Y ta bảo:
- Kính chào quan Kinh lý. Tui là thần Hắc Giao đại vương nằm trong cuộc đất nầy.
Đầu tui ló gần tới ranh giữa đất của Xã Miễn và của Hương sư Chiêm. Nếu quan lớn
cho đào kinh y theo bản đồ đã vạch thì đầu tui không bị đứt, tui sẽ yên lòng tu
niệm để chừng năm mươi năm sau, tui thoát kiếp con sấu vảy đen mà biến thành
con xích long bay về Nam Hải. Nếu quan lớn ăn tiền hối lộ, đào kinh lấn qua phần
đất Xã Miễn thì đầu tui bị đứt còn đâu mà kể! Xin quan Kinh lý giữ đức hiếu
sanh, đứng để tui bị tán mạng bởi mấy lượng vàng do ông Hương sư Chiêm lo lót.
Khi tui tu thành chánh quả rồi, sẽ có ngày tui tìm được cách trả ơn quan lớn.
Vía cậu Hai Luyện hỏi:
- Đào kinh là việc của tui, mắc mớ gì tới ông? Có phải ông ăn hối lộ đồ cúng của
Xã Miễn rồi cản trở tui đó chăng?
Người đàn ông bảo:
- Đó là cuộc đất theo thế Hắc Giáo Vọng Hải, có nghĩa là con sấu đen ngóng ra
biển. Tuy là đất, nhưng nó là cái thịt xương, cái thể chất của một vị thần như
tui. Quan lớn khi đào kinh phá hỏng nó tức là giết một sanh mạng vậy.
Tới đây cậu Hai Luyện giựt mình tỉnh đạy. Cậu bần thần suy nghĩ:
- Mình mà giết thần sấu đen trong khi đào kinh tức là giết một kẻ không thù
không oán với mình. Nhưng bất quá đó cũng chỉ là thứ quỉ thứ ma, chẳng phải
tiên thánh gì đó. Mình đã lỡ nhận quà biếu và hai nén vàng của ông Hương sư
Chiêm rồi, không lẽ trả lại. gày mai mình tới nhà ông hương sư Chiêm, kèo nái ổng
đưa thêm sáu lượng nữa. Nếu ổng thuận thì mình cho đào qua phần đất Xã Miễn.
Nghĩ vậy cậu an lòng ngủ tiếp.
Sáng hôm sau, cậu Hai Luyện sai bạn chèo ghe trương buồm đưa mình về chợ tỉnh.
Ông Bang biện Hưỡn tuy nói được nhưng giọng ú ớ, cổ họng như bị trám nghẹt, cho
nên khi nói ông phải gồng cổ hét lớn, vậy mà tiếng nói cũng không vang lộng được
bao nhiêu. Ông vẫn nằm trong lòng ghế bành có thành dựa kê chiếc gối, mặt ông mệt
mỏi, mắt ông trõm lơ.
Bà Bang biện Hưỡn vừa thấy mặt cậu trưởng nam, quở:
- Con dựa vô chuyện nhà nước, đi hoang đàng chi địa suốt cả tháng nay, giờ mới
mò về nhà. Tía con giờ thành phế nhân rồi, việc nhà con không chịu coi sóc thì
bỏ cho ai đây? Nhà mình có tiền có ruộng, nếu con chăm chỉ mần ăn thì có thể sống
dư dả ngỏa nguê suốt đời. Má chỉ muốn con từ chức để ở nhà hú hí với tía má và
trông coi mọi việc trong ngoài. Con lớn rồi, cứ chạy theo mấy con lành thuộc
phường hạ lưu hạ tiện thì còn non nước gì?
Hôm đó cô Ba Cẩm Tú từ bến Xầu Lộ qua chi. Trời mưa sùi sụt. Khu vườn chung
quanh ướt loi ngoi lóp ngóp. Hàng chuối bên hông nhà đâm ra nhiều chồi chuối
con. Mấy bụi tre mạnh tông ở cuối vườn, mụt măng trỉ tua tủa. Cô Ba Cẩm Tú nhìn
hàng câu đu đủ trồng trên vồng đất cao gần sát hàng rào tre, nói:
- Mưa hoài mưa hủy, không khéo mấy cây đu đủ úng thủy thúi gốc cho mà coi.
- Cậu Hai Luyện bảo mẹ:
- Con về đây trước là thăm bệnh tình tía con, sau nữa là để nhờ thầy Mười Khói
tìm thầy ếm trấn mấy vong hồn đất đai trước khi cho đào kinh. Má biết đó, hễ
mình đào mương, đào ao, đào kinh là thế nào cũng phạm tới mạch thổ địa, mạch sấu,
mạch kỳ đà nằm trong đất. Bởi vậy con phải nhờ thầy pháp ếm trấn trước cho chắc
ăn.
Bà Bang khen ngợi:
- Con cẩn thận như vậy là tốt. Má đợ con về đây cũng là để bàn việc đó. Con nói
ra má mới yên bụng. Để má lo việc nầy cho.
Bà sai con Lý giết con gà mái dầu làm thịt để dọn cơm, sai con Lài pha trà, pha
cà phê và dọn mâm bánh nếp nhưn thịt để ba mẹ con bà điểm tâm.
Sau đó, cậu Hai Luyện xin phép mẹ ra chợ mua sắm. Đợi thằng con trai đi ra tới
ngõ, bà Bang biện Hữn mới cằn nhằn cô Ba Cẩm Tú:
- Tao nghe đồn lúc rày vợ chồng mầy tới thứ bãy nào cũng đắt nhau vô dinh quan
Chánh tham biện để nhảy đầm.
Cô Ba Cẩm Tú cười mơn:
- Con đi với ảnh, chớ có đi mình ên đâu mà má lo! Nếu ảnh không rủ rê thì con đời
nào dám vô mấy chỗ đó.
Ba Bang biện nguýt:
- Tao còn nghe mày ưa lui tới con mèo quan Chánh tham biện là con Ba Thuận và
con mèo của quan Cò mi là con Năm Định nữa. Trời ôi, thấy mặt hai con chơi bời
đó tao muốn thượng thổ hạ tả rồi chớ huống hố nói năng giao thiệp vời tụi nó!
Nghe nói quan Chánh tham biện và quan Cò mi thân nhau, mượn vợ đổi vợ với nhau
hà rầm. Chồng mầy mà bày đặt giao thiệp với hạng Phiên tặc Phiên tướng đó, có
ngày nhiễm thói hư tật xấu của họ cho mà coi.
Cô Ba Cẩm Tú cười hăng hắc:
- Má thiệt! Chồng con có sạn trong đầu có sỏi trong óc, đời nào ảnh làm chuyện
dại dột như vậy! Má cứ lo bao đồng nên má hao tâm tổn trí, ăn ngủ không ngon là
vây đó.
Bà ngó chăm bẳm con gái:
- Thời buồi nây đờn bà thiệt khó hiểu! Không chịu lấy chồng cùng gióng họ, dám
cặp xách với tụi ngoại bang dị chủng. Như quan Chánh tham biện kia râu rìa, mắt
ốc bươu, miệng cá chẽm, mũi mỏ két, lưng lớn như tấm đi- quăng, tướng tá ô dề cục
nịch, vậy mà có đứa nhà vô lấy cho được! Chắc là nó mê tiền tham dâm chớ gì?
Cô Ba Cẩm Tú đỏ mặt ú ớ toan nói điều gì nhưng lại thôi. Bà Bang biện Hữn sai
thằng Xiêm, thằng Đực đi đòi nợ. Thằng Xiêm ra Cầu Dài, đến nhà chị Tám Thiệt;
còn thằng Đực thì quẹo qua dãy phố Khương Hữu Phụng để tới nhà thím Bảy Định.
Bà nói vói:
- Bây dặn cái quân trây nợ đó, tháng nầy mà tụi nó không trả lời trả vốn cho
tao là tao cào nóc nhà, đạp nàm thờ tụi nó đó!
Bà kêu Bửu lại dặn:
- Mầy đến nhà thầy Mười Khói, nói với thẩy tối nay tới đây có việc cần. Đi xong
rồi về liền để giã cho tao hai cối gạo, đừng có đi một chút lút một ngày mà chết
với tao.
Bỗng có người phát thơ đến ngoài cổng, gọi ơi ới. Cô Ba Cẩm Tú lật đật chạy ra.
Người phát thơ chìa bức thơ ra:
- Thưa cô Ba, đây là thơ từ Sài gòn về.
Cô Ba Cẩm Tú nói "cám ơn" rồi bắt lỗi liền:
- Chú Năm à, sao chú thưa thớt vậy? Giờ tui là vợ ông quan thầy thuốc rồi, chớ
có còn son giá gì nữa đâu mà chú kêu tôi bằng cô Ba hoài vậy?
Cô nguýt dài rồi ngoe ngoảy vào nhà, bảo mẹ:
- Có thơ con Tư gửi về.
Bà Bang biện Hưỡn bảo:
- Con đọc cho má nghe đi. Không chừng nó đập bầu rồi viết thơ báo tin chớ gì!
Cô Ba Cẩm Tú xé phong bì, moi thơ ra đọc:
Sài gòn, ngày...
Kính thưa tía má,
Trước hết con xin vấn an tía có bớt bịnh hay không? Còn má có được xuôi chèo
mát mái trong việc làm ăn sanh lợi hay không?
Tới nay con cũng chưa đạp bầu. Không chừng con mắc chứng chửa trâu, nên con có
đến nhà lũ bạn xin mỗi đứa một nhúm gạo về nấu cháo ăn cho mau đẻ. Hễ con đập bầu
xong thì con sẽ nhờ chồng đánh gây thép về cho tía má mừng.
Sở dĩ con biên thơ này cốt là báo cho tía má rõ: thằng chồng khốn nạn của con
lóng rày ưa chà lết ở nhà tía má vợ trước của nó. Con cho người dò la biết rằng,
em con nhà chú của mụ Tư Thục là con Hai Tố Trinh mấy tháng nay từ Cái Răng lên
nhà hai bác nó là ông bà Huyện Tịnh ở trọ để học làm bánh và thêu đan. Nghe đâu
con nọ đã có bằng thành chung, lại có bóng sắc. Đằng ông bà Huyện Tịnh muốn câu
thằng chồng oan gia của con nên bắt con nọ nhởn nha quần hàng áo lụa, tô son
trét phấn để chưng bươm bướm trước mặt thằng chồng trâu tria rắn rít của con.
Giờ đây con mang bầu, vóc mình lệch lạc, sắc mặt chao vao, tướng đi ột ệt, chuyện
vợ chồng chẳng những không nồng mặn như xưa mà thằng khốn khiếp đó còn sanh sự
với con luôn. Thế nào mà bà Huyện Tịnh chẳng nói vô nói ra. Chưa hết đâu! Hễ má
chồng con có dịp về Sài gòn là ở miết bên bà Huyện Tịnh, tình nghĩa đôi bên ra
vẻ mặn nồng lắm. Bấy lâu nay, cái bà mẹ chồng ó đâm đó đời nào chịu xuống Vĩnh
Long thăm tía má? Càng nghĩ chừng nào, con càng buồn tủi, càng run sợ chừng nấy.
Biết đâu họ đang toa rập nhau hất con ra? Bấy lâu nay con muốn theo lẽ thường:
đờn bà hễ sanh con đầu lòng thì phải về nhà cha mẹ ruột. Song con cứ nơm nớp lo
sợ hễ con mà rời nhà rồi thì khó mà bồng con trở về lắm. Vậy má có kế chi giúp
con với. Giờ đây con bồi rồi, không biết tính toán lo liệu ra sao!
Cuối thơ con chúc tía má, anh Hai, chị Ba, anh Ba được an khương.
Kính thư
Tư Cẩm Lệ
Cô Ba Cẩm Tú sượng trân khi nghe mẹ mình xóc xỉa bon Tây tà. Thiệt ra cô không
ngoại tình tư ước với quan Chánh tham biện Jean Delarue. Cô hiện đang dan díu với
tên Thierre Lemur, chủ đè bô rượu Tây, nước ngọt, la- de, nước đá trong tỉnh.
Qua vài lần gặp gỡ và nhảy nhót với hắn nơi các buổi dạ hội trong dinh quan
Chánh tham biện, cô bị tên Pháp kiều nầy dụ dỗ vào con đường quấy. Lúc đầu cô
chê hắn là thứ ngoại bang dị chủng, tròng mắt xám như mắt đui, thân to lớn dềnh
dàng thô kệch. Vậy má hắn tán tỉnh cô ngọt ngào du dương quá, cọ quẹt cô sành
điệu quá nên cô động tình. Một phần cô buồn vì đường chửa nghén của cô kể như đứt
tuyệt sau lần xảo thai kia, một phần chồng cô lợt lạt với cô về chuyện hương lửa,
và một phần lớn do oan nghiệt đẩy đưa nên cô muốn tìm cách giải trí.
Giữa lúc cô Ba Cẩm Tú lén lút cắm sừng lên đầu chồng; giữa lúc cô Ba Cẩm Lệ phập
phồng lo sợ mình bị chồng bỏ; giữa lúc nhà ông Bang biện Hưỡn lung lay nền móng
thì gia đình ông Năm Tảo sống hòa thuận, được lân lý thương mến, các đạo hữu
tin cậy tới lui. Vì hốt thuốc coi mạch mát tay nên ông Năm Tảo có nhiều thân chủ,
tiền của vô nườm nượp, quà cáp biếu xén đến ông dập dìu.
Lật bật mà sắp tới rằm tháng bảy. Cô Hai Túy Ngọc bơi xuồng ra chợ mua đường, đậu,
nếp, bột nếp, bột gạo ê hề đem về làm xôi bánh. Bà Năm Tảo mở gói đừng cát trắng,
bảo cô trưởng nữ:
- Mình gói bánh ếch, đúc bánh bò chẳng cần đường cát trắng làm chi. Bánh ếch
ngon nhờ dẻo, bánh bò ngon nhờ xốp, con dùng đừng thẻ cũng đủ rồi. Nhưng má đã
thủ sẵn đường om thơm hơn. Cái om đất đựng đường má treo trên giàn bếp.
Cô Ba Túy Nguyệt nhắc nhở
- Còn phải chuẩn bị làm gà làm vịt để làm mâm cỗ cúng cô hồn các đẳng nữa. Ông
bà mình thường nói: Trời Phật ở xa, quỉ ma ở gần. Câu đó coi vậy chớ lẩm rẩm mà
đúng y chang.
Bà Năm Tảo liếc xéo cô thứ nữ:
- Ngày rằm tháng bảy, Diêm Vương xá tội vong nhơn, tất nhiên mình cũng phải
cúng cô hồn các đẳng. Nhưng mình là Phật tử thuần thành mà giết gà giết vịt để
cúng sao phải! Cúng họ bằng cháo trắng đựng trong các bồ đài mo cau là được rồi!
Bên bà Chín Thẹo thì làm bánh cúng rằm đơn giản hơn. Bà đặt chị Bảy Thia làm một
chục bánh bò đường đỏ, một chục bánh bò bông nõn nà để cúng đường cho chùa Long
Đức. Còn bà đợi trước rằm một ngày sẽ nấu một nồi chè đậu cùng một trả xôi nghệ
để cúng đất đai viên trạch.
Bởi rảnh rang, cố Út Ngọc An cùng hai cô Kim Liên và Kim Huệ, em bạn dì của cô,
qua bên bà Năm Tảo làm giúp. Từ sàng nước thoáng gió cho tới căn bếp rực hồng
ánh lửa, kẻ đãi đậu xanh cho sạch vỏ, người vút nếp cho hột nếp trong ngọc trắng
ngà, người khác nạo dừa vắt lấy nước cốt, người khác nữa nhồi bột gạo cho mịn
và nhồi nếp cho dẻo. Tiếng cưới nói vui vẻ, lạc quan...
Giữa lúc các cô khác đía dốc, lòng cô Bà Túy Nguyệt mang trăm mối ngổn ngang.
Lóng rày, Bác vật Cảnh không được vui, sắc mặt luôn luôn đăm chiêu, nụ cười gượng
gạo. Hai cánh tay, mu bàn tay ông thường dán thuốc dán. Có thể là bịnh cùi đang
phát tác, cho nên da thịt ông lở lói chăng? Mà đáng sợ thay, da mặt ông trở
thành dầy và sần sùi như vỏ trái cam sành, lại còn đỏ ửng như vỏ trái chuối cau
lửa. Mái tóc ông thưa thớt, đôi mày rậm và sắc như nét mực Long Tể cũng rụng bớt
đi nhiều.
Thật tình cô Ba Túy Nguyệt chẳng mấy tin tưởng lời báo mộng của dì Út Thoại Huê
cô về cuộc chung thân mai sau của mình. Biết đâu hồn ma tiên đoán lầm lạc. Bịnh
tình Bác vật Cảnh chẳng những không bớt mà còn có mòi phát tác mạnh. Những
thang thuốc do ông Năm Tảo sắc, Bác vật Cảnh uống như uống nước lã. Còn vàng lá
mà ông mài ra uống cũng không làm căn bịnh chai lì. Cái trớn lao tới của bịnh
sao mà mau lẹ khủng khiếp. Không khéo trong tương lai không mấy xa, các ngón
tay ngón chơn của ông rụng từng lóng chớ không chơi!
Có đêm trăng tròn cô Bà mở cửa rào qua bên khuôn viên ông để coi ông có đọc hay
tụng kinh không. Nhưng vừa tới bên hè, cô chợt nghe tiếng ông rên rỉ thống thiết.
Ông nói một mình:
- Trời ôi, tui sống không được mà chết cũng không được! Sao mà bịnh hành tui
quá quắt, thiệt khó kham khó nhẫn!
Trong giây phút đó, cô Ba Túy Nguyệt không dám đường đột gõ cửa vào thăm. Cô đứng
chết lặng bên hè nhà, mà ướt đẫm nước mắt. Nơi tấm lòng trắc ẩn của cô, tình
yêu đang mọc nảy mầm mà cô không hay. Cô không biết mình đã yêu Bác vật Cảnh mà
chỉ nghĩ rằng mình tiếc cho một nhân vật lỗi lạc, có chí hướng mà bị vướng bịnh
oan nghiệt.
Hôm nay là ba mươi tháng bảy âm lịch. Mấy khóm bông tang đỏ, trang trắng, trang
hường trổ thôi ê hề, từng chùm lún phún như pháo bông. Và dễ thường chưa, cây
diệp tơ bên hông nhà cũng đơm bông đỏ rực. Rồi mắc mớ chi không biết, lũ chim rẻ
quạt, chim chèo bẻo cùng bay về xẻo lá dừa nước kế nhà hót thôi véo von! Bông
trổ thạnh như vầy, chuyên về huyên náo như vậy, có phải đây là điềm đất phước
trổ bông, đất lành chim đậu đó chăng? Bỗng cô Ba thoáng bàng hoàng bởi ý nghĩ:
Trước khi mưa tạnh thường trút mạnh. Bịn ổng trước khi rút lui, phải hành thân
hoại thể ổng cho đã nư? Ừ, biết đâu đó! Không lẽ một người nhơn đức, biết tin
theo Phật pháp như ổng lại đoản mạng hỏi căn bịnh gớm ghiếc ấy?
Nghĩ tới đây, cô Ba Túy Nguyệt lau gào- mên múc canh, đơm cơm, đồ kho, đò xào
váo bốn ngăn. Cô cũng không quên đặt ấm thuốc vào chiếc giỏ mây, rồi tay xách
giỏ, tay xác gào- mên, cô xâm xâm đi về phía cổng rào. Cửa lúc nào cũng mở sẵn.
Cô men theo con đường rải vỏ hến bên hè nhà Bác vật Cảnh. Coi kìa, con chim
khách đậu trên cành cậy bông công chúa hót lăng líu một tràng dài. Vách trái của
căn nhà chỉ cách cô chừng năm thước. Sát bên hè là đống cây vụn mà ông Nam Tảo
chưa bê về nhà bửa hôm làm củi chụm. Bỗng, cô Túy Nguyệt rụng tời. Từ trong đống
cây, một con rắn dài cỡ một sải tay bò ra, mình lớn cỡ cườm tay cô, vảy nó màu
nâu chạy một vạch bạc lấp lánh và một vạch vàng rực rỡ như vàng diệp.
Người và rắn nhìn nhau. Côi như bị thôi miên, đứng tê liệt như trời trồng. Còn
rắn chong cặp mắt hung cữ dò xét. Nhưng sau đó, nó chui vào đống cây vụn kia. Một
chặp sau sô Ba mới hoàn hồn. Cô bước vào mái hiên, gọi:
- Thưa Bác vật, có em đem cơm qua đây
Bác vật Cảnh giọng yếu ớt:
- Tui đã dậy rồi, đang chờ cô đây.
Cô Ba Túy Nguyệt đặt gào- mên và chiếc giỏ mây xuống bàn, dịu dàng hỏi:
- Chẳng hay ông có được khỏe không?
Bác vật Cảnh sắc mặt sật sừ, uể oải bảo:
- Nhờ ông Năm cho uống thuốc an thần nên tui đỡ đau, nhưng thuốc đó làm tui bễ
nghễ trong người, tay chơn bải hoải.
Cô Ba Túy Nguyệt bày cơm canh ra mâm, rót thuốc ra tô như thường lệ. Nhìn vẻ mặt
ủ ê của ông, cô chạnh lòng, bảo:
- Để em nấu nước pha trà cho ông uống cho tỉnh người.
Cô xách chiếc ấm nhôm ra hiên mú c nước mưa rồi đốt rề- sô nấu nước. Cô bỏ trà
vô ấm, soạn khay chén và bảo:
- Ở trong đống cây vụn bên hè có con rắn, ông chớ nên ra đó đi tiểu. Để em về
nhà lấy rượu hùng hoàng phun vô đống cây cho con rắn bỏ đi.
Bác vật Cảnh uể oải ăn cơm như ăn sỏi sạn. Hơn lúc nào hết, ông bi quan tuyệt vọng.
Bịnh này khi thì hành đau nhức, khi thì hành ngứa ngáy. Lúc ngứa, ông lấy khăn
lông quấn quanh gậy hơ lên lủa than cho nóng rồi áp vô chổ ngứa. Nhưng lúc đau,
ông phải nhờ thuốc an thần. Thuốc nầy làm ông dịu được cơn đau đôi chút thì lại
làm tinh thần ông mệt mỏi, nỗi bi quan vọt lên cao. Những lúc đó ông chỉ đọc thần
chú Dược Sư Quán Đảnh chớ không thể tụng kinh tràng giang đại hải được.
Cô Ba Túy Nguyệt ra về, bảo cha:
- Có con rắn trong đống cây vụn bên nhà ông Bác vật Cảnh, xin cha cho con rượu
hùng hoàng để con phun vô đống cây đuổi rằn đi.
Ông Năm Tảo lật đật đi lấy hũ rượu. Cô Ba liền bưng hũ bương bả qua bên khôn
viên nhà Bÿc vật Cảnh. Cô bước lại đống cây, hớp từng ngụm rượu phun đều khắp.
Chưa yên tâm, cô còn phun rượu chung quanh nhà. Mùi rượu nồng ngát bay tới chỗ
Bác vật Cảnh uống trà. Ông than:
- Công ơn cô săn sóc tui như vậy, nếu tui không hết bịnh mà chết đi thì tui chỉ
nguyện kiếp sau đầu thai trả ơn cô.
Cô Ba Túy Nguyệt chỉ cười, nhưng cặp mắt cô sáng mọng nước mắt. Cô không thèm
lau, chỉ cuối xuống thu dọn bàn ăn rồi te tái đi một mạch ra khỏi nhà, không cất
tiếng giả từ ông như mọi khi.
Khi cô Ba đi rồi. Bác vật Cảnh nhìn theo, nước mắt chảy ròng ròng. Lúc ươn yếu
trong người, ông nhạy cảm hẳn lên, lòng mếm đi. Ông liền đánh răng súc miệng để
sửa soạn nghi thức tụng kinh Dước Sư. Bên ngoài, trang sáng vằng vặc. Dưới
sông, ghe thương hồ qua lại, tiếng đối đáp văng vẳng.
Khi ông tụng kinh xong, trăng đã tuột khỏi đỉnh ngọ, tà tà ngả về tây. Ông liền
tắt đèn đi ngủ. Song chén trà ông uống hồi chiều khá mạnh, khiến ông trằn trọc
mãi. Không lẽ cứ nằm lăn trở trên giường, ông liền chỗi dậy thắp nén nhang ngọc
quế trên bàn Phật và thắp ngọn đèn huê kỳ để đọc lại quyển kinh Viên Giác. Vào
thời khắc nầy, tư bề yên lặng. Ngoài kia trăng sáng mênh mông. Tiếng mõ ở điếm
canh chốc chốc nổi lên văng vẳng. Tiếng dơi ăn trái chín kêu chóe bên vườn.
Càng đọc kinh, Bác vật Cảnh càng sanh hứng, quên đi cơn đau âm ỉ ở thể xác. Con
đường tu của các bậc Bồ tát trong kinh mở cho tâm ông biết bao cánh cửa để ông
nhìn thấp thoáng vô số góc cạnh của chân giác ngộ. Thần trí ông lăng tăng. Ông
tạm xếp kinh lại, tìm cái ấm nhom đem ra hiên múc nước. Giây phút nầy mà uống một
tách cà phê thì ngon phải biết! Ngoài hiên gió từng đợt thổi qua, cuốn thốc một
mớ là vàng rồi hất vào hiên Ánh đèn huê kỳ từ trong hắt ra chỗ lu nước mưa. Và
trời đất quỉ thần ơi, dưới chơn lu, một con rắn vảy nâu có vạch hoàng kim và vạch
ngân bạch đang nghểnh cổ nhìn ông. Và không để ông phản ứng, nó phóng tới, cắn
vào trên mắt cá chơn ông làm ông đau điếng. Niềm kinh hoàng làm miệng lưỡi ông
tê liệt. Cơn xây xẩm làm ông suýt ngất đi. Ông cố gượng lê vào divan và ngã người
trên đó, thần trí chìm dần vào cơn hôm mê dầy đặc. Bỗng một bà già hiện ra, mặt
mày tuy vẫn xấu xí nhưng không hung ác. Bà ta cười:
- Cung hỉ ông Bác vật. ừ đây ông sẽ lần hồi lành bịnh, cũng tỉ như cây khô trổ
bông, rau héo gặp mưa vậy.
Vía Bác vật Cảnh bảo:
- Tui bị rắn cắn, chắc phải chết, lành bịnh mà chi?
Bà già vẫn tươi cười:
- Trong sách Đông y có viết rằng nọc độc của loại rằn Kim Ngân Hoa Xà có thể trị
được bịnh cùi. Bởi trước kia tuy ông có phỉ báng Trời Phật, nhưng ông biết làm
việc thiện, biết tụng kinh sấm hối, giốc lòng tin tưởng Trời Phật nên các đại
tướng Dược Xoa động tâm, sai con rắn Kim Ngân nầy cắn ông. Nọc rắn bắt đầu phát
tác để tiêu diệt các mầm mống phung hủi trong thân ông. Sáng mai rồi ông sẽ rõ:
Bác vật Cảnh chỉ biết chấp tay niệm Phật.
- Trong mấy tuần nay, ông bị bịnh hành dữ dội. Bịnh cùi đâu có phát mau dữ vậy.
Đây chỉ là cái quả báo hiện hành gấp rút để ông mau trả hết oan gia nghiệp chướng
đó thôi. Lại nữa, mới nãy đây rắn cắn ông, chưa chi mà ông đã xây xẩm hôn mê.
Đó là do tui dùng phép mọn để ông bất tỉnh nhơn sự, không thể kêu cứu. Nếu ông
tri hô kêu cứu, ông Năm Tảo cũng là tay giỏi trị rắn cắn, sẽ dùng thuốc hóa giải
hết nọc rắn thì làm sao có thứ dĩ độc trị độc để tiêu hủy mầm mống bịnh cùi kia
được!
Vía Bác vật Cảnh liền quỳ xuống tạ ơn bà già.
Bà già xua tay ngăn cản, rồi bảo:
- Thấy ông là kẻ hiền lương nên tui giốc lòng phù hộ ông. Việc tui làm thấu đến
đức Quán Thế Âm Bồ Tát nên lát nữa đây, tui sẽ thác sanh làm cây hoa quỳnh ở từng
trời Tứ Thiên Vương, mười năm trổ bông ngũ sắc một lần cho chư tiên cúng Phật.
Vậy tui xin từ giả ông. Bắt đầu từ đây, bộ đi- quăng ông nằm sẽ chỉ thứ gỗ tầm
thường, vô tri vô giác.
Bà già biến mất và Bác vật Cảnh cũng vừa tỉnh giấc chiêm bao. Trời bên ngoài đã
sáng lờ mờ. Ông chợt thấy niềm sảng khoái thấm nhuần châu thân nên vào nhà tắm,
tắm để tẩy đi mồ hôi nhớp nháp. Xong ông trở về phòng khách vừa hút thuốc vừa đọc
báo và chờ cô Ba Túy Nguyệt đem điểm tâm qua.
Chùng giập bã trầu, Cô Ba Túy Nguyệt đến, theo sau là cô Hai Túy Ngọc xách một
cái giỏ lớn.
Cô Hai bảo:
- Xế hôm qua, em tui đã mua đủ thứ cần dùng cho chú, vậy mà chiếu qua nó quên
đem.
Cô lôi ra nào là đường, cà phê, xà bông đá để giặt quần áo, xà bông thơm để rửa
mặt, hai gói trà tàu, hai bánh thuốc rê, xấp giấy quyến vấn thuốc, hai tờ nhật
báo, hai tờ nguyệt san... Cô ân cần hỏi han:
- Chú khỏe không? Đêm qua ngủ có ngon không?
Bác vật Cảnh đáp:
- Thưa chị, dù đêm qua ngủ ít nhưng tui an giấc và cảm thấy dễ chịu lắm.
Cô Hai Túy Ngọc sắp làm vợ ông Huyện Khải. Kể vai vế, cô đứng vào hàng chị ông
Bác vật Cảnh. Đây là lần thứ hai cô qua thăm ông. Cô dịu dàng bảo:
- Chú cần chi, muốn ăn món gì cứ nói con em tui biết. Ngày mốt, anh Huyện cùng
ông Đốc Hạnh sẽ tới chơi, để dự lễ cúng rầm Vu Lan.
Cô Ba đặt mâm điểm tâm xuống bàn, so đũa, ân cần mời:
- Mời ông dùng điểm tâm cho nóng.
Mâm cháo sáng thật tươm tất. Cháu trắng nấu bằng gạo nàng hương thơm phức. Hai
trứng vịt muối xẻ đôi bày trên chiếc dĩa màu trứng sáo. Một dĩa nhỏ đựng dưa mắm
trộn tỏi ớt. Một dĩa cá lóc muối mặn và chiên vàng. Một tô thịt nạc dăm và cá
lóc kho chung, nước kho đặc quánh sặc mùi tiêu hành Một dĩa bắp chuối luộc trộn
dấm ớt.
Cô Hai nhìn từ trong ra ngoài, khen:
- Ở đây từ trong ra ngoài đều ngăn nắp đẹp đẽ, chỉ thiếu mấy chậu bông cho vui
mắt. Để tui mua tặng chú cặp chậu bông ngọc nữ.
Cô quay qua em:
- Em ở đây hàn huyên với chú Bác vật, chị có việc phải ra ngoài Cầu Dài.
Và cô kiếu từ. Đợi chị mình đi khuất, cô Ba mới nhìn sững người đàn ông tân học,
bảo:
- Lạ dữ không, da mặt ông coi bộ bớt đỏ...
Bác vật Cảnh úp úp mở mở:
- Tui sẽ hết bịnh. Để rồi cô coi.
Cô Ba cười:
- Dĩ nhiên rồi. Em tin chắc như vậy.
Cô Ba nghiêm sắc mặt:
- Đêm hôm qua, em nằm chiêm bao thấy ông cùng em ngồi nói chuyện dưới mái lá nầy.
Tư dưng ông biến mất. Chỗ của ông ngồi là một nhánh cây nhỏ trồng trong chậu. Một
cơn gió hắt vào một làn sương mát, cây bỗng nãy lộc non, lá mới và trổ bông rườm
ra lắm.
Bác vật Cảnh nhìn sâu vào mắt cô gái:
- Cô chiêm bao thấy cây khô trổ bông thì chuyện vui ứng vào cô chớ sao lại ứng
vào tui?
Cô Ba đỏ mặt, ấp úng:
- Nhưng bấy lâu nay em tụng kinh Phổ Môn để cầu ông được lành bịnh. Cứ theo mộng
triệu mà suy thì điềm hên phải ứng vào ông mới phải.
Rồi không nói gì thêm, cô thu xếp gào- mên bỏ vào tay xách, bỏ ấm đất vô giỏ
mây rồi kiếu từ.
- Em phải đi chợ mua sắm lặt vạt.
Khi cô đi rồi, Bác vật Cảnh vẫn tiếp tục dùng điểm tâm. Hôm nay cô Ba mặc áo
nhiễu màu tím than, càng làm tôn sắc da trắng trẻo, hồng hào của cô lên bội phần.
Khi cô mắc cỡ, sượng sùng, má cô càng hồng tươi thắm đượm, càng rạo rực lộng lẫy.
Tim ông bỗng đập mạnh, miệng ông cười bâng khuâng...
Bên ông Năm Tảo, lễ cúng rằm được tổ chức thiệt lớn. Bà Năm ngoài chè bánh còn
làm một mâm cỗ chay thịnh soạn. Cô Ba bưng qua Bác vật Cảnh một mâm chay vĩ vèo
nào là chả giò, mắm thái, cà ri chay để ăn với bún, bánh tráng, rau sống. Mâm
chè bánh gồm các loại bánh luộc như bánh ú, bánh dừa, bánh qui; chè đậu trắng,
xôi nhuộm nước cốt lá cẩm màu tím tươi, xôi vị mau nâu mã não thơm mùi ngũ vị
hương ngào ngạt.
Ông Huyện Khải tháp tùng ông bà Năm Tảo, cô Thiệt Nguyện, hai cô Túy đi chùa
Long Đức và chùa Sơn Thắng. Kỳ rằm này bà Năm Tảo, ngoài mười ngăn quả đựng mười
thứ bánh, còn cúng đường mỗi chùa năm chục đồng, rất hậu hĩ.
Tiền cơm, tiền tiêu xài dành cho Bác vật Cảnh được người bác ông và ông Huyện
Khải cung cấp đều đặn. Và cũng đều đặn ngày ba lần, cô Ba Túy Nguyệt đem cơm nước
cho ông. Mỗi lần như vậy cô đều ngồi nán chừng nửa tiếng đồng hồ để trò chuyện.
Bác vật Cảnh vẫn trì tụng kinh Pháp Hoa và kinh Dược Sư đều đều. Chừng nửa
tháng sau, cô Ba chăm chăm nhìn ông, bảo:
- Lạ quá đi, da mặt ông sáng mịn hơn bao giờ!
Ông đưa tay xoa xoa lên má mình. Quả vậy, áp dưới lòng bàn tay, da mặt ông láng
như da trẻ thơ. Khi cô Ba ra về, ông soi gương và thấy lớp xù xì trên mặt không
còn nữa. Đôi mày lưa thưa của ông đã mọc rậm lại. Những vết lở lói ở tay ở cẳng
đã khô mặt dần.
Rồi đến một hôm, ông nấu lá thạch xương bồ đề tắm thì thấy mình đã hoàn toàn
bình thường. Tóc ông rập rạp xanh tốt trở lại, những vết lở lói biến mất không
để lại vết thẹo nào.
Chiều hôm đó ông Năm Tảo sau khi xem mạch cho Bác vật Cảnh, bảo:
- Bấy lâu theo dõi bịnh trạng ông, thấy bịnh lần lượt rút lui. Nay tóc, mày ông
đã mọc rậm trở lại, chứng tỏ ông đã hoàn toàn bình phục. Vậy ông hãy lên Sài
gòn khám bịnh coi có đúng như lời tui nói hay không.
Tới lúc đó Bác vật Cảnh mới thuật tỉ mỉ cho ông Năm nghe những lần con tinh cẩm
lai báo mộng, lần con Kim Ngân Hoa Xà cắn ông. Ông Năm chỉ biết chắp tay niệm
Phật.
Sau cùng, Bác vật Cảnh bảo:
- Thưa ông Năm, tiện đây tui cũng xin thưa với ông. Ông là danh y, đoán bịnh
khó mà trật được. Như vậy là tui đã lành bịnh rồi, không còn hồ nghi gì nữa.
Trong thời gian về đây dưỡng bịnh, tui được cô Ba săn sóc, an ủi. Cổ lại còn
khuyên tui tham khảo kinh điển và trì tụng kinh kệ. Ơn cổ lớn biết chừng nào! Tấm
lòng cổ đối với tui tận tụy tha thiết biết mấy! Cô vừa đẹp vừa hiền, lại có tấm
lòng vàng, nên tui muốn cưới cổ để đáp đền ơn cổ. Xin ông nhận lời tui, cho tui
được làm rể ông.
Ông Năm Tảo ngần ngại:
- Ông lành bịnh thì tui mừng, nhưng về việc cầu hôn thì xin ông suy nghĩ lại.
Bác vật Cảnh tha thiết:
- Đực làm rể người hiền đức như ông, được làm chồng cô gái ngọc diện băng tâm
như cô Ba, thì đó là tam sanh hữu hạnh cho tui vậy!
Ông Năm Tảo chau mày:
- Tui biết tánh ý con gái tui nhiều. Nếu vì mang ơn nó mà ông đòi cưới nó thì
nó không ưng đâu!
Nghe vậy Bác vật Cảnh cười xòa:
- Đó là cách nói thôi, chớ thiệt tình tui đã thương thầm nhớ trộm cổ từ những
ngày được gần gũi và trò chuyện với cô kia...
Chương 10
Bác sĩ Lê Thạnh Mậu tiễn Hai Dần, người anh bạn dì của mình
ra cửa, bảo:
- Phải bố trí các nào để bắt quả tang đôi gian phu dâm phụ kia, có trưởng tòa
làm biên bản. Có vậy tôi mới lôi cổ con vợ khốn nạn của tui ra tòa xin ly dị.
Từ hơn tháng nay, bác sĩ Lê Thạnh Mậu nghe đồn vợ mình tư tình với tên Thierry
Lemur, giám đốc đề- bô nước ngọt, la- de và rượu tây kiêm đề- bô nước đá. Ông
nhờ Hai Dần làm thám tử dò la xem tin đồn có đích xác hay không. Ông tặng quà
cáp, tiền bạc cho đương sự rất hậu hĩ. Hai Dần vốn bảnh trai, lanh lợi, quyền
biến. Anh ta đã cặp xách được với cô Sáu Bạch Huệ, người chứa chấp và dắt mối
cho cặp trai gái ngoại tình kia.
Thierry Lemur đã có vợ, một người đờn bà Pháp, cho nên y ta không thể dắt cô Ba
Cẩm Tú về nhà hú hí được. Cô Ba Cẩm Tú sực nhớ tới cô Sáu Bạch Huệ vốn thiếu nợ
cô một món tiền lớn, chạy tiền lời trả cô cũng hụt hơi huống chi trả vốn. Cô Ba
bèn đề nghị nếu cô Sáu chịu cho cô mượn nhà để cô hú hí với Thierry Lemur thì số
tiền nợ lẫn lời kể như bỏ. Trước hết, cô Ba Cẩm Tú xé giấy nợ cũ, làm giấy nợ mới,
coi như cô Sáu đã trả cho cô phân nửa. Phân nửa còn lại, cô Ba hứa sẽ tha luôn
nếu cô Sáu làm y theo lời cô.
Nhưng xui cho cô Ba Cẩm Tú. Ở đời, tiếng gọi của trái tim vẫn thường làm cho
con người lung lay thay đổi lập trường và đạo đức. VaÛ lại cô Ba chưa hề làm ơn
cho cô Sáu Bạch Huệ, nếu không nói là trước kia đã bóc lột cô Sáu qua lối cho
vay cắt cổ. Hai Dần biết được điều đó nên cứ dùng lời súc siểm, túc ráy cô Sáu.
Vậy là cô Sáu bằng lòng nhận hai trăm năm chục đồng của bác sĩ Mậu để gài bẩy
và bêu xấu cô Ba Cẩm Tú cùng tên Pháp kiều Thierry Lemur kia. Hai Dần nói:
- Xong vụ nầy, em trích ra một trăm đồng trả dứt nợ cô Ba Cẩm Tú, còn một trăm
năm chục đồng thì để dành làm vốn mở tiệm cơm tây với anh.
Nhận tiền rồi, cô Sáu Bạch Huệ cùng Hai Dần bố trí giăng lưới, đặt bẫy rình rập
chờ đón đôi gian phu dâm phụ. Cái xui xẻo, vận rủi ro thường không mấy khi đi một
mình có phải! Quan Chánh tham biện chơi thân với bác sĩ Lê Thạnh Mậu và không
ưa Thierry Lemur. Chắc chằn việc điếm nhục nầy có đổ bể ra, quan cũng sẽ không
bao che kẻ đồng hương đồng chủng với mình.
Khi Hai Dần đi rồi, bác sĩ Mậu vào giường làm một giấc trưa cho khỏe. Hôm nay
ông đóng cửa phòng mạch và nghỉ cuối năm như thường lệ. Từ sáng sớm cô Ba Cẩm
Tú đã lấy cớ đến nhà Agnès Thuận và Isabell Định, hai ả chơi bời nổi tiếng
trong tỉnh, để tìm, cách mua đi bán lại vài món nữ trang. Ông cũng không thèm hỏi
lui hỏi tới công việc củ a vợ nữa. Tình vợ chồng giữa ông và cô Ba trở nên lợt
lạt vì từ khi bị sảo thai, cô Ba Cẩm Tú xuống sắc thấy rõ. Mình mẩy cô tuy
không ốm o nhưng bắt đầu khô khan. Dung nhan cô lợt lạt nên cô đánh phấn dày
cui, trang điểm lòe loẹt, đeo nữ trang rườm rà, phúc sức choáng lộn. Tuy hết
yêu vợ nhưng ông vẫn ghen vì tự ái bị xúc phạm. Và để làm cho lợi gan, ông muốn
bứng vợ ra khỏi nhà, làm cho lớn chuyện để bên vợ phải ê mặt với dân trong tỉnh.
Thanh danh ông có trầy trụa chút đỉnh mà nhằm nhò chi! Cả hai chưa có con với
nhau thì lẽ nào ông cần phải nới tay cho con vợ lăng loàn kia!
Cốt nhứt là mình phải bình tĩnh, giả đò mắt đui tai điếc ở lớp đầu. Khi chim đã
sa lưới, cá đã vô nò, trong rọ, trong ó thì mình sẽ thẳng tay. Tuy nghĩ vậy
nhưng lòng ông sôi sục sục. Ông không thể nằm đây để nghiền ngẫm cơn hờn ghen
đang nung nấu tâm can ông. Ông liền chổi dậy gọi chị ở pha cho ông một tách cà
phê, còn ông thì đi tắm, chải đầu thiệt láng, xịt dầu thơm nực nồng và ăn mặc
thiệt bảnh bao. Ông dùng cà phê xong liền lái xe chạy rong thành phố. Trời buổi
xế nắng uôi uôi. Gió tạt vào xe làm ông cảm thấy nguôi dịu sự ray rứt đôi chút.
Bây giờ ông mới cảm thấy đói vì hồi trưa nầy mảng lo bàn bạc gài bẫy vợ với Hai
Dần, ông chỉ căn chấm chút bụng như no vì suy tính nọ kia. Ông sực nhớ tới quán
bà Bảy Thông cất ở giữa khoảng chợ cá và Bungalow, sàn quán gie ra sông. Bà Bảy
có món chả giò, bì bún, bì cuốn, gỏi cuốn, nem nướng, chạo, bánh cống ngon tuyệt
vời. Tuy nhiên hôm nay là ngày rằm, quán bà sẽ bán đồ chay. Nhưng đồ chay của
bà cũng nổi tiếng hàng đầu trong tỉnh.
Bác sĩ Mậu cho xe đậu trước dãy khách sạn gần bên chợ hàng bông, ngoắc đứa nhỏ
đứng sớ rớ gần đó, nhét vào tay nó năm xu, dặn cho coi chừng xe cho ông. Xong,
ông vượt qua đường, qua khu bán nước ngọt, chè tới quán bà Bảy Thông. Quán lúc
nào cũng đông khách. Ông chọn chiếc bàn đặt sâu bên trong, gần cửa sổ để ngó
xéo xéo ra sông Cổ Chiên và vùng cù lao An Thành. Bỗng ông ngập ngừng chùn bước.
Người đàn bà ngồi cạnh chiếc bàn ông chọn chẳng ai xa lạ mà chính là cô Võ thị
Tố Mai pháp danh Thiệt Nguyện, người yêu cũ của ông.
Hôm nay cô Thiệt Nguyện vẫn như thường lệ mặc chiếc áo dài trắng, quần trắng.
Nhưng áo dài bằng lụa cẩm nhung, còn quần thì bằng cẩm quất. Tai cô đeo đôi
bông nhận hột trân châu, cổ cô đeo giây chuyền vàng có miếng mề đay cẩm thạch tạc
tượng Quan Âm. Cô không son phấn, không tỉa chơn mày, nhưng da mặt cô trắng hồng,
môi cô mọng thắm, mày cô thanh thanh.
Bác sĩ Lê Thạnh Mậu nghĩ thầm: "Mèn ơi, sau sáu năm xa cách, cổ còn giưa y
nét trẻ trung. Hôm gặp lại ở chùa Sơn Thắng, vì mảng lo bịnh trạng con vợ mình
nên không có dịp quan sát cổ. Màu trắng của y phục làm cô kiều diễm thanh cao bội
phần. Đây là vẻ đẹp thiên chơn. Son phấn hực hỡ, nũ tang hòa nhoáng chỉ tổ làm
hư hoại bóng sắc đi".
Thiệt tình bởi trước kia ông hành xử quấy với cô Thiệt Nguyện nên gặp lại ông
hơi ngường ngượng. Tuy nhiên vì quen giao thiệp, lại thêm tánh tự tin bặt thiệp
nên ông ré lên liền:
- Tố Mai, mạnh giỏi hả em?
Cô Thiệt Nguyện vẫn giữ sắc điềm đạm:
- Em vẫn mạnh. Còn anh?
Bác sĩ Mậu hơi cau mày nhưng vẫn giữ vẻ tươi cười:
- Ờ thì cũng mạnh, nhưng hồi này anh có mấy việc không vui nên ít đi đâu.
Ông kéo ghế ngồi vào bàn rồi hỏi:
- Em cho phép anh ngồi với em không?
Cô Thiệt Nguyện cười:
- Thiệt ra em đợi mua đồ chay đem về nhà chớ không phải ngồi ăn ở đây. Đồ chay
lấy xong, em về liền.
Bác sĩ Mậu nhìn cô trân trối:
- Nghe nói dạo này em ở đàng nhà ông Năm Tảo, phải không? Anh muốn tới đó thăm
em, em nhắm coi có tiện không?
Cô Thiệt Nguyện vẫn cười:
- Anh phải hỏi con Ba Cẩm Tứ, chớ sao lại hỏi em? Mà anh tới thăm em làm chi?
Anh không sợ kẹt cho đôi bên hay sao?
Bác sĩ Mậu ngẫm nghĩ:
- Ờ, kẹt thiệt đó chớ. Nhưng mà... chu choa ơi, lóng rày sao em đẹp quá! Em làm
anh nhớ huở nào anh còn học trường Petrus Ký, còn em học trường Áo Tím.
Cô Thiệt Nguyện chỉ cười:
- Thì đó là hồi xưa. Xưa khác, nay khác. Hoàn cảnh của anh và của em thay đổi
nhiều rồi.
Bác sĩ Mậu bỗng xúc động:
- Tại anh ráo trọi! Nhưng trong thâm tâm anh nếu quá khứ là giấc mơ thì anh xin
giữ những giấc mơ đẹp.
Cô Thiệt Nguyện lắc đầu:
- Cám ơn anh. Nhưng mà quá khứ không phải là giấc mơ. Tuy nhiên nếu nó quả là
giấn mơ thì trong đó cũng có nhiêu cơn ác mộng mà em đã trải qua.
- Tại anh hết. Nhưng để ảnh thu xếp. Mốt đây anh sẽ đến xóm Chuồng Gà thăm em.
Cô Thiệt Nguyện xua tay:
- Thôi anh ạ. Em có phiền trách anh đâu! Việc gì cũng đều do nghiệp lực đưa đẩy.
Đừng có léo hánh tới em mà sanh nhiều tiếng thị phi.
Bác sĩ Mậu buồn so. Bà Bảy Thông đem năm ngăn gào- mên đựng thức ăn lại cho cô
Thiệt Nguyện kèm theo tiền thối. Cô cám ơn bà chủ quán rồi chào bác sĩ Mậu.
- Anh ở lại, em về.
Cô uyển chuyển xách gào- mên bước ra cửa, xuyên qua khu nước ngọt, đồ ngọt, bước
ra lề đường ngoắc chiếc xe lôi về xóm Chuồng Gà.
Bác sĩ Mậu kêu một ly nước dừa xiêm, một tô bún chả giò, ba cuốn bì. Ông cảm thấy
tim mình đập theo nhịp điệu lạ lẫm. Ngoài cửa sổ, con sông Cổ Chiên trải rộng tầm
nhìn từ vàm sông. Bên kia là cù lao An Thành với hàng cây xanh tươi. Một chiếc
ghe giương buồm trắng lướt qua. Sông gợn sóng bạc lấp lánh dưới ánh nắng bắt đầu
rạng rỡ. Màn mây mỏng che bầu trời bắt đầu tan rã vì cơn gió lao xao thổi mạnh,
trả lại màu xanh lam ngọc ửng sáng.
Riêng cô Thiệt Nguyện trên đường về, cảm thấy tâm hồn mình lay động khiến cô
quên phứt mình đang là một ưu bà di. Trái tim cô ấm áp với niềm rung động xưa
cũ. Ôi, đây là cảm giác 0trong những lúc cô nép mình trong vòng tay anh chàng Mậu
năm nào. Tới bây giờ cô vẫn yêu anh ta, một người tuy thông minh nhưng tâm địa
tầm thường, không chí hướng cao cả, không có đời sống tâm linh như cô hàng mong
mỏi. Nhưng cô biết làm sao hơn! Cô yêu đương sự qua một mối đam mê oan nghiệt,
theo một nghiệp lực tai ác đẩy đưa. Cho tới bây giờ mà ảnh còn nói tới mộng nầy
mơ nọ khi tuổi đã quá nửa chừng xuân. Hồi tám năm trước, cái miệng xạo đía những
mộng đó đã làm tui mê man đắm đuối. Khi bị ảnh lộng nài bẻ ống từ hôn, tui chỉ
nghĩ tới tựn tử để chạy trốn đớn đau nhục nhã...
Hôm nay là ngày rắm Trung Thu. Kỳ rằm này, gia đình ông Năm Tảo làm tiệc thưởng
trăng thiệt lớn. Một phần bởi ông Nam Tảo làm ăn phát đạt, nhưng phần lớn là tại
ông sắp có hai chàng rể chẳng những thuộc hàng tân học mà còn đứng vào giai cấp
thượng lưu trong xã hội. Các thân chủ của ông Năm biếu xén ông nhiều hộp bánh
trung thu thựng hạng, cho nên bà Năm chia bớt cho ông bà Chín Thẹo và ông Mười
Thiệp ăn lấy thảo.
Bà Năm Tảo sử soạn hai mâm tiệc. Mâm mặn dành cho ông Năm, ông Đốc Hạnh, ông
Huyện Khải, ông Bác vật Cảnh và hai cô Túy. Còn mâm chay dành cho cô Thiệt Nguyện
cô Út Ngọc An và bà.
Khi cô Thiệt Nguyện về tới nhà thì cô Hai Túy Ngọc đã quét dọn trung đường và sắp
đặt bàn ăn. Chén sứ, dĩa sứ, đũa mun được bày ra.
Vừa thấy cô Thiệt Nguyện, bà Năm Tảo cười:
- Không dè năm nay cháu ăn Tết Trung Thu với chú thím và hai con Túy.
Cô Thiệt Nguyện bày năm ngăn gào- mên, bảo:
- Cháu thấy quán bà Bảy Thông có món mắm thái chay, món kiểm và món mắm chưng
chay nên cháu mua về để hai thím cháu mình cùng em Út Ngọc An ăn cho vui.
Bà Năm mừng rỡ:
- Thím có nấu kiểm, nhưng không có làm hai món mắm chay kia.
Bà quay qua dặn cô Hai Túy Ngọc:
- Con có nấu nước thạch xương bồ phải không, nhớ nấu thêm cho má và chị Thiệt
Nguyện nữa.
Hai cô Túy đã gội đầu bằng nước bồ kết, nhưng phải đợi nấu nướng xong họ mới tắm
rửa. Trong căn bếp oi bức ánh lửa nầy, mồ hôi của họ cứ rịn mãi dưới lớp y phục
bằng vải xiêm.
Tuần rồi, đám hỏi cô Ba Túy Nguyệt được cử hành trong vòng thân mật. Đàng trai
đưa sính lễ gồm những món nữ trang y như những món ông Huyện Khải đi hỏi cô Túy
Ngọc, chỉ thiếu đôi vòng ngọc thạch. Bù lại, ông bác vật Cảnh tặng cô Ba Túy
Nguyệt một chiếc cẩm thạch huyết đỏ như trái cà chua giồi mắt bóng lộn, một chiếc
nhẫn vàng nạm ngọc kim sa nâu đỏ lấp lánh những hột vàng.
Cô Ba Túy Nguyệt soạn bộ ấm chén Vương Khải trân ngoạn để quí ông uống trà Xuân
Long Tỉnh. Riêng phần các bà, cô lôi trong tủ ra cái bình tích bằng sành lớn cỡ
nửa vòng ôm vẽ hình con đại cẩm kê cùng tám cái chén cũng bằng sành vẽ các món
bát bửu để các bà uống trà thường hiệu Con Cua Xanh cho khỏi mất ngủ.
Bà Năm Tảo dặn hai cô con gái:
- Mấy cái khạp chứa nước mưa năm ngoái để dành pha trà, sắc thuốc, chưng yến
thì cái chót dành để pha trà cho dem rằm Trung thu nầy đó đa. Bây xếp than Cần
đước vô hỏa lò sẵn, hễ khách vừa ngồi vào bàn là má con nình châm lửa đốt than
nấu nước liền.
Hai Cô Túy lo xem xét những măm trái cây và các dĩa bánh sắp sẵn trên chiếc bàn
dài đặt trước tủ chè. Măm chất đầy bánh trung thu, mâm chất đầy cam tàu, quít
núm, hồng tươi, bôm, nho, xá lỵ. Dĩa cốc, ổi dầm cam thảo. Dĩa đựng đầy thơm
tây xè từng miếng dài. Dĩa sâu lòng đựng đu đủ xắt từng miếng vuông, hễ khách
ăn tiệc xong là ướp nhưng phiến đá lụn vụn để khách tráng miệng. Ba chiếc dĩa
được đậy lòng bàn để tránh ruồi.
Cả hai cùng đi tắm bằng nước thạch xương bồ. Xong, cô Hai mặc chiếc áo bà ba
hàng lụa màu nguyệt bạch, chiếc quần đáy giữa bằng cẩm tự. Còn cô Ba mặc chiếc
áo bà ba bằng cẩm châu trắng, quần xá xị đen. Hai cô chải đầu thiệt láng, xức dầu
bông lài thiệt thơm, giắt chiếc trâm nạm hình trăng khuyết cẩn hột xoàn tấm nhấp
nhánh. Cô Hai đeo sợi dây chuyền vàng, mề đay cũng bằng vàng chạm hình chữ Phước.
Cô Ba đeo chiếc kiềng trơn. Họ cũng đeo bông đầm bằng vàng, vòng vàng, cà rá cẩm
thạch cắt hình hột dưa.
Cô Thiệt Nguyện tám gội xong, mặc quấn vải xiêm đen, áo nhựt bình màu khói
nhang. Bà Năm Tảo thì mặc bộ đồ bằng xuyến đen xâu chuổi hột vàng, đôi bông mù
u vàng và đôi neo quai chảo cũng bằng vàng. Riêng ông Năm từ sáng sớm đã mặc bộ
quần áo bằng lụa lèo cho ra vẻ phong lưu. Đoán chừng khách sắp đến, ông rửa mặt
cho tươi tỉnh và chải tóc cho láng, không một sợi nào bung ra.
Vừa tắt nắng, xe ông Huyện Khải tới. Tháp tùng có ông Đốc học Hạnh, không kể
anh tài xế. Nghe tiếng xe đậu trước cửa ngõ nhà ông Năm Tảo, Bác vật Cảnh vội xỏ
chơn vào đôi xăng- đan, đi về cửa rào ngăn đôi hai khu công viên để qua nhà ông
Năm. Lúc đó, cô Út Ngọc An cũng từ bên nhà mình bức qua. Cô mặc áo bà ba bằng vải
ba tít trắng thêu bông cúc tím, quần sa- teng tuyết nhung đen.
Ông Huyên Khải mặc âu phục bằng tít- so màu ngà, thắt cà- vạt đỏ sọc đen, đi
giày da vàng. Ông Đốc học Hạnh mặc áo bành tô bằng vải xi- mi- li trắng, quần đồng
thứ vải. Điểm nổ bậc trên áo là bộ nút bằng đồng chù bóng nhả ánh vàng diệp
lóng lánh. Vì là ngày đậc biệt, ông Năm Tảo ân cần mời anh tài xế cùng chung tiệc
thưởng trăng.
Mâm mặn ê hề món phổ thông: cháo gà và gỏi gà trộn rau răm, thịt vịt nấu cà ri
ăn với bún, tôm nướng trộn gỏi bồn bồn, chim vỏ vẻ, chim ốc cao rô ti với nước
dừa xiêm, cá đuối xào với cải rổ tưới tương hột. Mâm chay ngoài những món cô
Thiệt Nguyện mua ở quán bà Bảy Thông, còn có chả giò chay ăn với bún và rau sống,
món tàu hủ chiên kho với đậu ve, đậu đũa.
Lúc mọi người dùng tráng miệng với trái cây, vừng trăng rằm đã leo lên ngọn cây
sa kê ở hướng đông,, cao cỡ ba sào rồi. Tuy nhiên chưa tắt hẳn. Một chút ánh tà
dương bạc nhược còn nấn nuối ở phương tây tô lên nền trời màu xám biếc như thiếc
lạnh.
Ông Năm Tảo đốt đèn măng- sông, treo ở trung đường. Bây giờ mọi người đờn ông
đã ra ngoài trung đường. Còn đờn bà thì lo rửa chén và nấu nước pha trà. Đời
cho trăng dãi sáng sân thềm, các bà các cô xong xuôi mọi việc trong bếp, ông
Huyện Khải mới bảo người yêu:
- Sẵn đêm rằm Trung thu, cả nhà đoàn viên, em hãy đem tập thơ ra cho qua đọc
cùng để tía má và anh chị em đây thửng thức.
Cô Hai Túy Ngọc trở về buồng lấy tập thơ đưa cho ông Huyện Khải. Đọc tới bài
Đêm trăng thôn dã, ông kêu lên::
- Trời đất ơi, đây đúng là bài cô Trịnh Thị Minh Ngọc đã làm hồi 18 năm về trước,
chỉ khác có cái tựa mà thôi! Tựa thuở trước là Đêm rằm mông đẹp,
Và ông cất giọng ngâm:
Trăng nõn nà treo trên mái đình
Ngày mùa rơm lúa ngát thâu canh
Sáng khung cử ngõ, in phên liếp
Vàng lối vườn sau, loáng lá cành
Phiến trắng cũ soi tình tuổi dại
Vầng trong nay rực mộng ngày xanh
Sân ngoài trải chiếu nằm đâu mặt
Em chị hàn huyên chuyện chúng mình.
Ông sai anh tài xế ra xe lấy tập thơ của cô Trịnh Thị Minh Ngọc để so sánh với
tập thơ của Tần Thị Túy Ngọc. Thế rồi mọi người cùng chuyền nhau đọc qua hai tập
thơ. Hai tập đều có một tuồng chữ viết bằng mực tím. Dấu khoanh, dấu móc, nét
bung xuống đá lên y chang như nhau. Bác vật Cảnh lặng cả người, mới rõ rằng cái
tàng thức của mỗi cá nhơn kỳ diệu biết bao, nhiệm mầu biết mấy! Ông Huyện Khải
cảm xúc quá, cổ họng tắt nghẹn không đọc được nữa. Cô Hai Túy Ngọc cũng xúc động
lắm nhưng chỉ rươm rướm nước mắt chớ không khóc sướt mướt như hôm tái ngộ lần đầu
với người yêu.
Ông Đốc học Hạnh an ủi ông Huyện Khải:
- Hết ly tới hiệp, đó là điều đÿng mừng. Vậy qua xin các em hãy vui lên. Tình
duyên càng lận đận thì cuộc tái hiệp mới càng hạnh phước ê hề.
Bà Năm Tảo tán thành:
- Lời ông Đốc phân r ất phải. Vậy để tui châm trà bày bánh để mọi người cùng ăn
bánh thửng trăng, sau đó ai muốn tức cảnh mần thơ tui không dám cản đâu nghen!
Mọi người vỗ tay cười inh ỏi. Bây giờ bóng trăng rằm vắt vẻo lưng chừng trời
màu xanh nước biển, giữa muôn sao nhấp nháy. Trùn dế ngoài vườn kêu râm ran.
Hàng bụi bông lài bát ngát đưa hương. Ngoài đường cái, thiên hạ đi chơi trăng,
tiếng cười nói văng vẳng đưa tới bàn tiệc.
Trong giây phút nầy, cô Thiệt Nguyện nghĩ rất nhiều về bác sĩ Lê Thạnh Mậu cùng
buổi hội ngộ vào hồi xế. Trí tưởng của cô trôi xa vào cái thuở đầu mùa yêu
đương, vào thời kỳ say đắm cũ. Cô cứ để cho phút hồi tưởng lôi kéo cô chạy sa
đà vào những chặng đời say đắm hoan lạc có, khổ đau tuyệt vọng cũng có. Cô quên
phứt đi hoàn cảnh của một cận sư nữ hiện tại. Tất cả những gì đè nén từ đáy sâu
khảm cô vụt chổi dậy, lay động cô, réo gọi cô trở về cô Võ Thị Tố Mai của năm xửa
năm xưa...
x
x x
Cô Tư Cẩm Lệ sanh được đứa con trai tại nhà bảo sanh ở Bà Chiểu. Luật sư Trần Hảo
Hiệp đánh dây thép cho ông bà Bang biện Hưỡn báo tin. BÀ liền mướn xe lô- ca-
xông đi cho mau lên Sài gòn để thăm con gái. Vừa gặp mẹ, cô Tư Cẩm Lệ bảo:
- Đứa nhỏ chào đời hành hạ con đau đớn khủng khiếp. Con sanh nhau chằng mà bà mụ
không biết, sau cùng nhờ thầy thuốc gỡ nhau thì đứa nhỏ mới chui ra.
Rồi cô dặn mẹ:
- Trong thời gian má ở đây hủ hỉ với con, xin má đừng ở nhà chồng con để khỏi
gai mắt. Lóng rày hai đứa con ghẻ của con coi bộ lộng quyền!
Bởi đó bà Bang biện Hưỡn phải ở nhơ nhà ông Tư Khánh, người em con nhà chú của
bà tại Phú Nhuận. Mỗi khi vào nhà bảo sanh thăm con gái, bà cũng thường gặp mặt
chàng rể, nhưng Luật sư Hiệp có vẻ xa cách với bà và không có vẻ săn đón con,
dù đứa trẻ nặng tới ba ký lô, mặt mũi sáng sủa lắm.
Tuần lễ sau, bà Bang biện Hưỡn đi đò máy về Vĩnh Long. Trong lòng buồn bực, bà
linh cảm cô thứ nữa của mình rồi đây sẽ gặp nhiều trục trặc trong cuộc sống lứa
đôi. Trước khi từ giã con, bà dặn dò:
- Con đã sanh cho chồng con một chút trai để nối dõi tông đường nhà nó rồi, con
nên làm trành làm tréo cách nào để nó chịu làm hôn thú với con, và nhứt là phải
làm khai sanh cho đứa nhỏ.
Cô Tư Cẩm Lệ xụ mặt:
- Coi bộ khó rồi đa má! Bà mẹ chồng con coi ngày sanh thằng nhỏ, nói rằng nó
chào đời phạm giờ độc nên bà cản không cho làm khai sanh liền. Bà nói hãy chờ
nó tới giáp tuổi tôi mới có thể làm khai sanh sụt một tuổi để tránh xui. Đứa nhỏ
chưa được thằng khốn nạn đó nhìn là con, thì cái thân con đây cũng khó mà được
chính thức làm vợ nó trên mặt pháp lý.
Về tới nhà, gặp cảnh ông chồng tàn phế cứ ngồi lì một chỗ ngủ từng giấc lụn vụn,
bà Bang biện Hữn rầu thúi ruột. Cậu Hai Luyện đã đến nhà ông Hương sư Chiêm ăn
tiệc và nhận thêm phân nửa số vàng mà cậu đòi, hễ khi đào kinh xong thì ông
Hương sư sẽ trả dứt vạt số vàng còn lại. Sau đó, thầy Mười Khói được thỉnh đến
để trấn ếm quỉ ma khắp dải đất đào kinh, nhứt là để trấn ếm Hắc Giao đại vương.
Đang lúc bà Bang biện Hưỡn rầu về chuyện cô Ba Cẩm Tú tuyệt đường sanh nở, về
chuyện cô Tư Cẩm Lệ bị chồng lạnh nhạt, và nhứt là về chuyện ông chồng bán thân
bất toại, thì một sáng kia cậu Hai Luyện ngồi ghe lườn từ Mỹ An về thăm nhà. Dữ
ác! Nửa tháng nay chẳng hiểu thằng con trai ương ngạnh của bà mê sa con lủng
nào mà ở miết chốn quê mùa hẻo lánh kia, quên ông cha bịnh tật, quên bà mẹ thất
thẻo đợi chờ! Bà quở:
- Quỉ ơi, con còn nhớ nhà để về thăm, chắc là Phật Di Lạc sắp đản sanh rồi đó!
Cậu Hai báo tin:
- Con dọ hỏi người quen biết ỡ Mỹ An mới hay rằng Xã Miễn vì thất mấy vụ kiện hồi
năm ngoái, lại mần ăn lụi xụi nên muốn bán sở đất giáp với con kinh mà con đang
cho đào. Má thử xúng Mỹ An coi ra sao, rồi về bàn với ba mua rẻ sở đất cho con
đứng tên.
Nghe chuyện lợi lộc, bà Bang biện bớt cơn bất bình, kêu con Lý làm bữa cơm thịnh
soạn cho thằng con mình ăn. Đêm hôm đó, hai mẹ con bà Bang biện bàn bạc cho tới
giữa canh ba mới đi ngủ. Cậu cũng cho mẹ biết rằng cuộc đào kinh đã khởi đầu từ
mười hôm trước.
Sáng hôm sau, cậu Hai Luyện và mẹ ngồi ghe lườn, trương bườm xuôi một mạch đến
Mỹ An. Thầy Cai Nhậm vừa thấy cậu liền báo cáo:
- Bẩm quan kinh lý, hôm qua dân phu đào khúc kinh từ đầu cuộc đất Xã Miễn cho tới
cuộc đất thầy Hương Hào Liệt thì thấy máu từ trong mạch tuôn ra đỏ ối.
Cậu Hai Luyện lật đật tới chỗ đào thì thấy nước đỏ lênh láng trộn với bùn trở
thành màu nâu đỏ như đất miệt Hớn Quản, Lộc Ninh, Bù Đấp. Cậu cười ngất, giải
thích:
- Máu gì đâu! Đây là chất sắt trong đất đó thôi. Biết đâu hồi tạo thiên lập địa,
vùng Mỹ An nầy là vùng đất đỏ.
Nhưng khi nhìn những nhát xuổng, nhát cuốc cắm vô đất để vỡ đất, làm tuôn trào
chất nước đỏ như son, bốc lên mùi tanh tưởi, cậu cũng bắt đầu rùng mình mọc ốc.
Bỗng dưng mây từ đâu kéo về giăng kín bầu trời thành một màu xám xịt. Rồi cơn
mưa như thác trút xuống. Dông cuốn vùn vụt, gió thổi ào ào. Lẫn trong tiếng gió
có tiếng gầm thét, tiếng than khóc. Mọi người tạm gác công việc bỏ về nhà.
Mưa như cầm tĩn đổ từ xế cho tới chiếu tối. Thím giÿo Thạnh, vợ người chủ nhà,
dọn cơm mời mẹ con bà Bang biện Hưỡn dùng và khuyên bà hôm sau sẽ đến nhà ông
Xã Miễn cũng không muộn.
Sau khi cơm nước xong xuôi, cạu Hai Luyện cảm thấy ớn lạnh, trong người bễ nghễ.
Bà Bang biện khuyên con uống gói thuốc Cảm mạo Phát tán để ngừa cảm. Uống thuốc
xong, cậu liền vào giường, vì con sốt bắt đầu phát tác. Cậu lấy làm bực mình vì
ở ngoài trung đường, vợ chồng thầy giáo Thạnh cứ bàn ngang tán dọc, kể tới kể
lui với bà Bang biện Hưỡn về chuyện máu trào trong khúc kinh đào. Thím giáo cứ
niệm Phật liền liền, còn bà Bang biện thì kêu trời luôn miệng...
Rồi cậu Hai Luyện thiếp đi. Trong giấc chiêm bao cậu thấy một người đờn ông đen
đúa, đầu đã cụt, tay trái cầm cái thủ cấp của mình, tay mặt cầm cây gậy. Thủ cấp
trợn mắt hét lớn:
- Quân tham lam khốn nạn! Mầy đành đoạn ăn tám lượng vàng để làm tao thiệt mạng!
Mầy hãy chong mắt ra coi tao trả thù!
Tay mặt người cụt đầu cầm gậy phang vào hai đầu gối cậu Hai Luyện làm cậu đau
điếng. Cậu giựt mình thức giấc thì thấy hai đầu gối mình bầm tím và sưng vù.
Mưa gió hai ngày liên tiếp bủa giăng mịt mù. Cậu bèn giao việc điều khiển công
cuộc đào kinh cho hầy Cai nhậm và thầy Cai Ích. Đầu gối hành cậu đau quá thể
nhưng cậu không dám thuật lại giấc chiêm bao cho mẹ nghe. Cậu sai thằng Yêm đi
Hòa Mỹ rước thầy thuốc tàu Trương Gia Minh để bó thuốc lên hai chỗ sưng kia.
Hôm sau bà Bang biện Hưỡn nhờ thím giáo Thạnh đưa bà tới nhà ông Xả Miễn để bà
điều đình mua đứt miếng đất, nhưng chậm quá rồi. Xã Miễn đã tìm được người bán
nên bà đành bẽ bàng uể oải trở về Cầu Đào.
Về tới nhà, bà Bang biện Hưỡn đâm vực bội, nóng nảy, oán ghét vu vơ. Bà cần phải
xéo xắt, hành hạ, chửi bới ai đó để thần kinh bà bớt căng thẳng. Do đó mà lũ
tôi tớ và Bửu trở thành nạn nhân của bà.
Tối hôm nọ, cô Ba Cẩm Tú từ Cầu Lâu qua thăm, mang theo hai con cá chái. Cô bảo
mẹ:
- Con vừa mua được hai con cá chái thiệt tươi nầy để tía má kho mắm chan bún ăn
chơi. Sau nửa con muốn hỏi thăm anh Hai con có bớt đau đồi gối chưa?
Bà Bang biện tức tối:
- Từ hôm tao về tới nay có được tin tức gì của nó đâu! Cho nên chiều hôm qua,
tao sai thằng Xiêm chèo tam bản xuống Mỹ An hỏi thăm rồi.
Rồi ba ngó cô trưởng nữ, gườm gườm:
- Mầy cứ đánh đôi đánh đọ với hai con chơi bời húi thây lầy lụa Ba Thuận và Năm
Định mà bỏ bề chuyện nhà đi! Tao nghe nói thằng chồng mầy ưa chà lết nhà anh
Năm Tảo. Ngoài mấy đứa con ảnh còn có mấy con lủng bà con, làng xóm tới lui nữa.
Mầy liệu hồn mà giữ chồng. Con Bảy Tố Mai, con anh Hội đồng Quyền, cũng thường
đi đi về về nhà anh Năm hoài. Biết đâu nó chẳng bày mưu sâu kế độc để chiếm lại
thằng chồng mầy!
Cô Ba Cẩm Tú chỉ nói ba tiếng "Má kỳ ghê!" rồi cười lỏn lẻn. A di đà
Phật, thì ra bà già tui chưa hay biết gì về việc ngoại tình của tui! Sau đó cô
đến nhà mát để vấn an cha vì lúc sau nầy hễ gặp đêm oi bức, ông Bang biện thường
ra đó ngủ. Bà Bang biện
sắp vào giỏ con gái một chục quít đường và một chục cam hồng mật, một chai mật
ong. Bà dặn cong gái:
- Tối tối nhớ vắt cam trộn với mật ong cho chồng mầy giải lao. Cái thân mầy giờ
đây sượng ngắt không thể chửa đẻ gì nữa thì mấy phải rán chiều chuộng o bế chồng
cho nhiều mới được, kẻo không nó sẽ cho mầy ăn cơm nguội, uống nước lã, nằm ngủ
chèo queo sau bếp!
Cô Ba Cẩm Tú cười:
- Má cứ tưởng tượng chuyện dữ không hè!
Bên ngoài gió từng cơn khua cành cây lắc cắc. Cô Ban Cẩm Tú kiếu ừ ra về vì cô
sự mưa xáng một đám lớn và kéo dài tới khuya thì kẹt cho cô.
Khi cô Ba Cẩm Tú đi rồi, bà Bang biện bảo thằng con ghẻ:
- Bửa đâu rồi? Mau lấy chiếc dĩa quả từ trên bàn thờ bà nội mầy xuống lau chùi
cho thiệt sạch rồi đơm năm thứ trài để cúng nghe chưa?
- Bửu "dạ" một tiếng, bước lại bàn thờ lấy chiếc dĩa quả tử lớn cỡ
chiếc mâm đã đặt sẵn trên cổ bồng. Bỗng một tiếng "cảng" vang lên. Cậu
lõ mắt nhìn xúng đất, lòng bàng hoàng khủng khiếp. Thôi rồi, cậu lỡ chạm vào
chiếc khay đựng mấy chung trà nên cả khay và chung rớt xuống đất. Khay bằng cây
thì không sao hết, nhưng sáu cái chung đã bể nát.
Nghe tiếng rơi vỡ, bà Bang biện chong mắt hướng về chỗ Bửu. Thấy miểng chung
văng tung tóe, bà hét lớn:
- Thôi rồi, bộ chung quí của tui bị thằng chết đâm chết chém chết cháy chết
chìm nầy làm bể nát rồi! Trời ơi là trời! Trời cao đất dày có thấu không hử trời!...
Bà rút chổi lông gà, dùng cán chổi quất tới tấp vào Bửu, làm cổ, mặt, cánh tay
cậu bật máu. Bà vừa đánh vừa hét:
- Tao giết mầy chết, cho mầy theo con đĩ mẹ mầy.
Bửu vừa khóc vừa lạy van, nhưng bà Bang biện xót của, đời nào chịu tha. Bỗng
bên tai cậu có tiếng văng vẳng:
- Chạy ra ngoài vườn đi, kẻo không bả sẽ đánh con chết.
Bên ngoài mưa bắt đầu tầm tã. Bửa đau đớn rát bỏng khắp thân thể, không còn biết
tính sao hơn nên cứ lao ra ngoài hàng ba, rồi chạy vòng ra sau vườn. Bà Bang biện
Hưỡn bỏ guốc đuổi theo. Khi Bửu biến mất trong man đêm dày đặc, bà thở hồng hộc
quay trở về. Bỗng bà cảm thấy đau thốn nơi bàn chân. Ngó xuống,, trời đất ôi, một
cây đinh ở tấm ván cũ lòi lên đâm thấu trong gót chân bà. Bà hét lên. Tối tớ chạy
ra dìu bà vô nhà, nhổ cây đinh ra. Bà vừa khóc vừa nguyền rủa Bửu và kêu thằng
Xiêm, thằng Đực xách đèn tán chai đi kiếm Bửu về cho bà trị tội. Con lý nặn máu
bầm ở vết đâm cho bà, tồi giã nhỏ lá lưỡi cọp đắp lên. Đêm ấy bà Bang biện Hưỡn
đau nhức ở gót chân không tài nào ngủ được. Bà hết chửi Bửu lại xoay qua chửi
chồng và thóa mạ luôn vong hồn cô Hai Kim, mẹ ruột của Bửu.
Nói về Bửu, sau khi lao vào màn đêm đen đặc dưới cơn mưa tầm tã thì chẳng thấy
đường sá đâu. Bỗng cậu thấy một người đờn bà cầm đèn tán chai nói khe khẽ vừa đủ
cho cậu:
- Hãy theo má, đừng sợ!
Biết hồn ma của mẹ, Bửu liền lẽo đẽo theo sau. Người đàn bà cưa cậu ta ra cửa
vườn sau, tận con đường đắp đất lượn song song cái rạch Cầu Đào. Mưa vẫn tuôn
hoài tuôn hủy, tuy không rầm rồ như thác đỗ nữa, nhưng vẫn còn nặng hột. Giờ nầy
mới khoảng đầu canh hai, nhưng nhà nhà đã đóng cửa, ánh đèn lù mù lọt qua mắt
cáo. Khi cả hai ra tới con đường Lê Minh Thiệp thì điện bị cúp, hàng cột đèn tối
thui. Hồn ma cô Hai Kim bảo con:
- Má đưa con tới một nơi ngủ đỡ đêm nay. Sáng sớm mai sẽ đưa con qua bên cùa
lao An Thành, tìm đến Tịnh Liên am để gặp ông Đạo Chuối.. Ổng sẽ đích thân đưa
con đi Châu Đốc, rồi tìm đường lên núi Cô Tô trong dãy Thất Sơn gặp chú Chơn Huệ
con.
Hồn cô Hai Kim xách đền đi trước, cách Bửu năm thước. Dù cậu muốn đi mau để được
giÿp mặt mẹ nhưng không tài nào tới gần được. Hễ cậu đi mau, bóng ma đi mau; cậu
đi chậm, bóng ma đi chậm. Ánh đèn ma lù mù trong màn mưa cũng đủ cho cậu thấy
dáng đi thong dong uyển chuyển của mẹ. Qua chùa Bảy Phủ, quẹo qua cầu Thiềng Đức,
cả hai đã qua bên kia thành phố, cô Hai Kim rẽ về phía Cầu Lầu bắt qua kinh Huỳnh
Tá nối liền với rạch Cá Trê. Từ Cầu lầu, cả hai theo quốc lộ nối liền hai tỉnh
Vĩnh Long- Trà Vinh đến khúc quẹo Long hồ tức là vào vùng ngoai ô miền quê trù
mật.
Vong hồn cô Hai Kim sụt sịt bảo:
- Con ôi, như má đã nói, kiếp trước má con ta đã gây việc oan trái cho má lớn
con cùng ba con. Má đã trả hết nợ vay trước khi nhắm mắt lìa đời, điều đó chẳng
nói làm chi. Nhưng về phần con, con cũng đã trả hết nợ khi má lớn con đưa con về
chùa Long Đức. Ngặt vì bả tham lam tìm bắt con lại, để tròng trở lại cai con
cái ách tôi đòi nô lệ. Đó là bả vay thêm nợ oan khiên ở con. Nhưng mà con ôi,
má không muốn kiếp sau con đòi nợ bả nữa. Con người không bao giờ đòi nợ đủ, mà
vì tham lam họ cứ gây thêm cảnh oan oan tương báo từ kiếp nầy sang kiếp khác.
Con đừng tham luyến cõi trần uế trực nầy, hãy theo chú Chơn Huệ của con tu hành
để thoát khỏi vòng quả báo luân hồi, vay trả trả vay nghe con!
Tới một cái lò rèn đang đỏ rực ánh lửa, cô Hai Kim bảo Bửu:
- Con cứ đến đó xin ngủ qua đêm. Đầu canh tư má sẽ đến tìm con và bơi xuồng chở
con qua cù lao An Thành.
Căn lò rèn nầy đít giáp với khu vườn quay qua quốc lộ, mặt tiền hướng ra dòng
Long hồ. Bên kia sông, xóm Chuồng Gà chìm trong màu mưa lất phất.
Vào giờ nầy mà cả nhà người thợ rèn vẫn cắm cúi làm việc. Bà vợ thụt ống bể,
người chồng rèn và đập sắt chí chát. Còn đứa bé trai cỡ mười tuổi xẩn bẩn bên
cha để học nghề. Chị vợ nước da trắng trẻo, mặc chiếc áo túi màu hường lợt, quần
vải ú đen. Người chồng chỉ mặt chiếc quần đùi, ở trần trùng trục. Cả hai cỡ ba
mươi tuổi ngoài, mặt mũi hiền hậu.
Khi nghe Bửu xin được ngủ nhờ qua đêm, người đàn ông bảo đứa con trai:
- Con đưa chú đây vô buồng, biểu chú cởi hết quần áo để má con hơ cho mau khô.
Đứa bé dạ rồi đưa Bửu vào chiếc buồng gói chỉ có chiếc giường tre, một chiếp
nóp bày lên trên. Nó vặn lu ngọn đèn mù u chong đầu giường, đưa cho Bửu chiếc
khăn, bảo:
- Anh cởi hết quấn áo ướt, lau khô mình rồi chui vô nóp ngủ đi, để má em hơ quần
áo anh cho mau khô.
Nửu làm theo lời thằng bé, nhưng khi nằm trong nóp ấm áp, những vết roi hành hạ
cậu đau nhức khiến cậu không cầm được tiếng rên rỉ. Bên ngoài lò rèn, tiếng người
đàn ông có vẻ hoảng hốt:
- Chết chưa, quần áo sao dính máu vầy nè!
Tiếng người vợ::
- Chắc cậu em bị đánh đòn rách da tét thịt chớ gì! Tội nghiệp quá! Thôi đẻ tui
giặt quần áo nầy cho sạch, còn ba nó ra vườn sau hái là lưỡi cọp giã nát và mấy
trái lình lịch đem ngâm nước cho nứt vỏ lấy hột. Hai thứ nầy đem trộn, hòa với
nước miếng thằng con mình để đắp lên vết thương thì sẽ hết nhức và mau lành.
Người chồng gật đầu làm theo. Cỡ chừng nhai dập bã trầu có tiếng chày khua vào
cối đá lụp cụp lạc cạc, rồi đứa nhỏ bưng thếp đèn theo cha nó vào buồng. Người
đờn ông ngọt ngào bảo Bửu:
- Cậu chui ra khỏi nóp để tui xức thuốc cho.
Bửu cảm động ứa nước mắt:
- Ơn ông bà và cậu em, biết chừng nào tui trả được đây!
Cậu chui ra khỏi nóp, phơi thân thể lõa ồ đầy vết rướm máu chằng chịt. Người
đàn ông gọi vói ra ngoài, bảo vợ lấy khăn lông và thau nước ấm để ông ta rử sạch
máu vết thương.
Sau khi các viết thương được rửa ráy và xức thuốc, Bửu buồn ngủ rũ ra. Lúc đó
người vợ ở ngoài réo đứa nhỏ:
- Ty ơi, mau ra lấy áo quần cho chú đây mặc, má vừa hơ khô rồi.
Sau khi mặc quần áo xong, Bửu ngủ một giấc óng chuốt và thanh thản. Bỗng có tiếng
gọi bên tai:
- Bửu! dậy đi con!
Bửu giật mình tỉnh giấc. Trời vẫn chưa sáng. Nhìn kỹ lại, cậu thấy mình nằm ngủ
dưới gốc mù u. Lò rèn, buồng ngủ biến đâu mất. Cơn mưa đã tạnh. Bên phương tây,
vầng trăng hạ huyền treo lơ lững giữa muôn sao nhấp nháy trên nền trời màu xa cừ
lạnh lẽo.
Bửu chợt thấy mẹ đứng gần bến nước, tay vẫn cầm chiếc đèn chai. Cô Hai Kim gọi:
- Con mau xuống xuồng để má đưa con qua bên cù lao An Thành. Tới khi gà gáy hiệp
nhì là má không thể nấn ná ở cõi dương gian được nữa.
Bửu tiến lại bến nước, thấy chiếc xuồng buộc vào câu nhủi bằng sợi lòi tói sắt.
Cậu hỏi mẹ khi bước xuống xuồng:
- Lò rèn đâu rồi? Sao con nằm ngủ dưới gốc mù u?
Cô Hai Kim đặt chiếc đèn tán chai xuống giữa khoang xuồng, trả lời:
- Cái lò rèn mà con qua đêm chỉ là cảnh ma đó thôi. Hồi mười năm trước, vợ chồng
người thợ rèn và đứa con bị sét đánh thiệt mạng, xác chôn ở nền lò rèn cũ. Trải
bao năm, họ đâu nghĩ rằng họ đã qua đời nên đêm đêm cứ hiện lên tái diễn cảnh
sanh hoạt cũ. Tội nghiệp quá! Vậy khi về am chú con, con nên tụng cho họ 77 biến
kinh Địa Tạng và 77 biến kinh Cầu Siêu thì vong hồn họ mới siêu sanh.
Cô đọc tên tuổi và năm sanh của cả ba, rồi dặn:
- Khi tới Tịnh Liên am, con nên ghi tên tuổi và năm sanh của họ vào giấy để khỏi
quên. Đó cũng gọi là báo đáp ơn họ vậy.
Xuồng lướt vo vo trên dòng sông hiện lờ mờ dưới ánh trăng tà. Bửu thử rờ những
vết thương thì không thấy đau nữa. Cô Hai Kim bảo:
- Bấy lâu nay má không muốn đi đầu thai để ở lại giúp con thoát khỏi tay bà
đích mẫu độc dữ. Nhưng má không thể can thiệp vào luật nhơn quả. Má đau lòng để
con trả hết ác nghiệp, chỉ phù hộ con đủ sức nhẫn nhục thôi. Nay thì niềm mong
mỏi của má đã thỏa. Má có thể đi đầu thai được rồi. Đây là đêm chót má con ta gặp
nhau.
Bửu khóc thút thít, cô Hai Kim cũng khóc nhưng tay không ngừng bơi xuồng. Vượt
qua sông, cô Hai Kim cho xuồng rẽ vào con rạch nhỏ. Qua ba doi đất là tới một
ngôi nhà lợp ngói cất gần mé rạch. Cô Hai Kim bảo Bửu:
- Tới Tịnh Liên am rồi đó con. Thôi con cứ lên gõ cửa am. Mọi việc má đã sắp sẵn
rồi. Má là hồn ma, không thể vào am được vì có thần hộ pháp canh giữ am. Hồn mà
chỉ có thể đến cành già lam nghe kinh mà thôi.
Khi Bửu bước lên bờ thì hình bóng cô Hai Kim đã tan trong ánh trăng bàng bạc. Cậu
ngó lại chiếc xuồng thì thấy đó chỉ là mảnh ván nhỏ nổi dật dờ trên mặt nước. Cậu
gạt nước mắt, đếm am gõ cửa. Tiếng đờn ông vọng ra:
- Cháu Bửu đó hả?
Bửu dạ một tiếng. Cửa am liền mở rộng. Am chủ mời cậu vào, chánh diện thắp đèn
nến sáng lờ mờ. Am chủ chỉ một người đờn ông mặc áo nhựt bình màu dà và một cô
gái mặc áo xuyến đen, quần lãnh đen, bảo:
- Đây là ông Đạo Chuối. Hồn ma má cháu kỳ rằm Vu Lan vừa qua báo mộng, yêu cầu
ông Đạo đêm nay đưa cháu đến bến tàu để lối bốn giờ sáng đáp tàu đi Châu Đốc.
Còn đây là cô Thiệt Nguyện, kẻ đã lập đàn giải oan cho má cháu.
Đèn măng- sông được thắp sáng.. Ông Hương cả Hành tức am chủ, cầm xấp bạc trao
cho ông Đạo Chuối:
- Khi tới Châu Đốc, ông Đạo nên sắm sửa cho cháu Bửu quần áo và các thức cần
dùng trước khi qua Thất Sơn để lên núi Cô Tô.
Ông Đạo Chuối từ giã am chủ, giục Bửu đi theo ông, men theo con đường đắp đất
ra tận bến đò. Trăng trên trời vẫn sáng quạnh hiu. Bến đò tối lờ mờ. Ông Đạo
vác tay nải lên lưng, bảo Bửu ngồi vào thúng. Thúng tuy nhỏ nhưng khi cậu ngồi
vào thì nó lớn rộng ra. Ông Đạo đặt thúng xuống nước thổi một hơi dài. Thúng lướt
vo vo trên mặt nước. Bửu hé mắt nhìn thì thấy ông Đạo đứng trên cây gậy trúc,
lướt song song với chiếc thúng, đè sóng để vượt qua sông rộng mênh mông.
Khi qua sông, ông Đạo Chuối giải thích:
- Đây là thứ bùa Lỗ Bang của người tu theo pháp môn Mật Tông do ông Đạo Lập và
ông Thợ Đức ở vùng Hậu Giang truyền lại cho ta. Còn bùa Lỗ Bang của thợ mộc chỉ
để trị những kẻ bị hóc xương cá, giúp đờn bà chửa qua chứng đẻ ngược hoặc để ếm
đối nhà cửa lặt vặt thôi. Giớ thì cháu theo ta đến bến tàu. Cháu phải rời khỏi
đất nầy càng sớm càng tốt. Và cháu cũng phải nhớ ơn cô Thiệt Nguyện. Nhờ cô tụng
kinh Kim Quang Minh và nhiều thần chú Mật Tông mà má cháu mới hiện hồn được để
giúp cháu.
Chương 11
Từ hai tháng qua, cậu Hai Luyện thường nằm chiêm bao thấy thần
Hắc Giao đại vương hiện hồn về đòi mạng nên c ậu ăn ngủ không ngon, tâm thần hoảng
hốt. Đêm đêm cậu không dám tắt đèn. Riết rồi cậu xuống tinh thần thê thảm, phải
xin tạm nghỉ việc về Cầu Đào dưỡng bệnh.
Suốt một tuần bị hành nhức vì vết đâm của đinh nhọn, bà Bang biện Hưỡn càng tỏ
ra bực bội nóng nảy, chửi rủa tôi tớ ra rả suốt ngày. Bà bắt Cai tuần Xướng, thằng
Xiêm, thằng Đực, thằng Yêm đi dọ tung tích của Bửu để bắt cậu đem về cho bà trị
tội. Họ còn phải đi đòi nợ giùm bà, nếu được thì bà chẳng thèm thưởng công, bằng
nếu không được còn bị bà nhiếc móc, óc eo, chửi bới.
Rồi một sáng hôm nọ, ngủ dậy bà cảm thấy xương sống mình cứng đơ không thể chổi
dậy nổi. Bà cứ nằm lì trên giường, bảo con Lý mời bà Năm Đặng tới. Bà cầm tay
em, dặn:
- Dì coi sóc việc nhà giùm tui. Hôm nay tui đau đớn khắp mình mẩy, đầu nhức như
búa bổ. Dì mời ông Năm Tảo tới chẩn mạch hốt thuốc cho tui.
Nhưng hôm đó ông Năm Tảo đi Vũng Liêm thăm người bạn thân. Ông Bang biện Hưỡn
không nói được, lấy giấy viết: "Bà lôi thôi quá, kêu thằng rể đốc - tờ tới
điều trị cho bà có hơn không!". Nghiệt thay, hôm đó bác sĩ Lê Thạng Mậu
cũng đã đi An Hương thăm tía má mình. Tới trưa thì bà Bang biện đái ra máu, bất
tỉnh nhơn sự. Mỗi lúc lên cơn, lưng bà ểnh lên, răng cắn chặt vào nhau, miệng
méo xẹo, tay chơn co giật. Cô Ba Cẳm Tú từ Câu Lâu qua thăm, thấy vậy biết mẹ
mình bị phong đòn gánh nên vội hối thằng Xiêm, thằng Đực võng bà ra đường lộ
đá, kêu xe lôi đưa bà đi nhà thương.
Suốt bảy tiếng đồng hồ, bà Bang biện vật vã với con bịnh. Trong hôn mê, bà thấy
mình đứng giữa căn hầm chứa nước đá. Từng khối băng dài cỡ sải tay và lớn cỡ
vòng ôm tiết ra hơi lạnh nghi ngút. Bà cố sức bình sanh tìm cách thoát khỏi căn
hầm kia để tới chỗ ấm áp. Chung quanh bà lởn vởn những hình ma bóng quế. Tiếng
than van nổi lên từng chặp. Bỗng một kẻ hơ hải chạy đến báo tin: "Mấy người
hãy theo tui tới đàng kia, chẳng những có nắng ấm mà còn có cơm canh sốt dẻo nữa".
Theo sóng người lôi cuốn, bà Bang biện Hưỡn chạy tới một tòa nhà thắp đèn sáng
trưng. Nhưng khi cả bọn vừa bước vào nhà thì cánh cửa bằng sắt khép chặt lại. Một
cảnh tựng khủng khiếp bày ra. Lửa cháy khắp nơi. Lửa đốt cột đồng, lửa nung giường
sắt, lửa hầm trong lò gạch... Mỗi nơi đều có tội nhân chịu hành hình bởi lũ quỉ
đầu trâu mặt ngựa. Kẻ bị leo cột đồng cháy đỏ, người nằm dài triên giường sắt
nung lửa, kẻ khác bị hầm trong lò, kẻ khác nửa bị nuốt than nóng..., mùi thịt
da bị cháy bốc lên khét nghẹt.
Hôm an táng bà Bang biện Hưỡn, bác sĩ Lê Thạnh Mậu bảo luật sư Trần Hảo Hiệp:
- Bà nhạc tụi mình đạp đinh, vậy mà con vợ tui không nói gì với tui để tui khuyên
bả chích ngừa phong đòn gánh. Thứ đinh rỉ sét là ổ vi trùng của căn bịnh tán mạng
kia!
Mặt luật sư Trần Hảo Hiệp lạnh tanh như cái cối đá, không nói không rằng.
Bà Bang biện Hưỡn chết đi, cảnh nhà trở nên rối loạn. Tôi tớ không có người điều
khiển sanh ra biếng nhác. Cậu Hai Luyện liền mới ông bà Năm Đặng về ở chung. Ý
là hai ông bà không con nhưng vẫn âm mưu ăn chặn ăn xén, ăn cắp ăn trộm của anh
rể mình làm của riêng. Cậu Hai Luyện tuy tham lam của người, lại không quen
thói bòn tro đãi trấu nhưng lòng dạ thưa thớt, không làm sao bắt được việc làm
tác tệ của dì dựng mình. Còn cô Ba Cẩm Tú thì say mê chuyện tò tí với tên Pháp
kiều nên ít khi về thăm nhà.
Cô Tư Cẩm Lệ sau khi dự lễ an táng mẹ xong, cùng chồng trở về Sài gòn. Chị vú
báo tin:
- Hôm qua em nhỏ ấm đầu, ho khóc suốt đêm. Bà Phán (chỉ má chồng cô) có đứa em
bÿc sĩ. Em được chích thuốc nên bây giờ mới ngủ được.
Cô Tư vội vào buồng thăm con. Đứa bé say ngủ, nét mặt thanh thản. Cô đặt tay
vào trán con thấy mát rượi, yên lòng đi tắm gội.. Nhưng sao đứa nhỏ ngủ say
quá, tới chiều tối vẫn chưa thức. Cô vào buồng thăm con lần nữa, rờ tay vào
trán con thì thấy lạnh ngắt. Cô đặt tay lên ngực nó thì không thấy phập phồng.
Thánh thần thiên địa ơi, đứa hài nhi tắt thở tự bao giờ!
Sau cái chết của con, cô Tư Cẩm Lệ như kẻ mất hồn. Cậu Hai Luyện thương tình
xin phép thầy kiện Trần Hảo Hiệp đưa em gái mình về Cầu Đào dưỡng sức. Cô Tư
lúc đó không còn thiết gì nữa. Trong căn nhà của chồng, giữa lúc tình chăn gối
lạt lẽo, còn có kỷ niệm và bóng ma đứa nhỏ lảng vảng nên cô muốn đi xa, về nhà
cha mẹ để lấy lại sự thăng bằng của não cân, để cứu vãn tinh thần đang độ xuống
dốc. Bởi đó cô nghe lời anh, đáp tàu thủy về Vĩnh Long. Tuy nhiên khi về Cầu
Đào được một tuần lễ, cô bỗng linh cảm rằng lần ra khỏi nhà chồng đó cũng là lần
cô bước ra khỏi cuộc đời luật sư Tràn Hảo Hiệp. Và càng nghĩ sâu cô càng nhận
ra rằng cô đã ra khỏi cuộc đời chồng trước khi sanh con, từ khi có sự hiện diện
của cô Hai Tố Trinh ở nhà bà Huyện Tịnh.
Riêng cô Ba Cẩm Tú thừ thuở còn là nữ sinh trường Áo Rím, cô đã mê hát bóng, cải
lương. Tuy nhiên chưa cô bao giờ nghĩ là mình có thể ăn nằm với một tên Tây tà
ngoại chủng. Loại kép vóc voạc vừa tầm, mắt xanh như ve chai còn có thể được cô
ưa chuộng, đằng nầy mắt tên Thierry Lemur kia xám xịt, thân mình hộ pháp, tướng
tá ô đề, lọt ra khỏi vòng mơ mộng hoài bảo của cô xa lơ xa lắc. Vậy mà không hiểu
do oan nghiệt gì xui khiến để cô sa ngã vào vòng tay nó, để nó vầy vọc tấm thân
cô. Và chu choa ơi, nó vầy vọc cô khéo quá, tuyệt vời quá nên cô đâm ra say mê
nó, phó mặc cho thanh danh vùi chôn xuống bùn, thây kệ cho tiết hạnh lấm lem giữa
bụi.
Sáng hôm sau, sau khi đi chợ về, Cô Ba Cẩm Tú thay đồ mát bằng lụa soạn trắng,
nằm trên ghế xích đu buồn dàu dàu và nhớ tên Pháp tặc kia thất thẻo. Đang lúc cô
Ba nghĩ ngợi lan man thì cô Sáu Bạch Huệ tới chơi. Chèn ơi, bộ con nầy trúng số
độc đắc hay sao mà nó ăn diện choáng lộn nhức mắt: nào áo rằn ri xanh đỏ, nào
vòng vàng chuỗi hột rườm rà, nào son phấn diêm dúa... Cô Ba Cẩm Tú quở:
- Có tin tức gì về thằng mọi rợ phiên tặc đó không? Sao cả tuần nay mầy không
cho tao biết ất giáp gì hết vậy?
Cô Sáu Bạch Huệ ỏn ẻn:
- Cả tuần nay không có tin, giờ có tin nên em tới cho chị hay nè, vậy chị có vừa
bụng chăng? Không lẽ em xách đít tới đây để bàn với chị chuyện đạo giáo, đạo đức?
– Rồi cô Sáu nheo mắt nhìn cô Ba – Đang nhớ thằng dâm tặc đó phải không? Mặt
mũi chị sao mà ủ dột như trời chuyển mưa! Vui lên chị! Sáng hôm nay tên Thierry
có sai anh loong toong tới nhà em cho biết xế nay cỡ 2 giờ hắn rảnh, muốn gặp chị
ở nhà. Chẳng hay chị có rảnh không?
Cô Ba Cẩm Tú nguýt:
- Tao... tự do như gió như mây. Dẫu có bận việc thế mấy, nhưng một khi cao hứng,
tao cũng gác việc qua một bên.
Rồi cô mở bóp đầm lấy ra hai tờ giấy năm đồng cưa cho cô Sáu Bạch Huệ, dặn:
- Nhớ làm bữa ăn dậm cho nó.
Khi cô Sáu Bạch Huệ ra về, cô Ba Cẩm Tú hối con Xinh, đứa tớ gái của cô, nấu
cơm để cô ăn cho sớm. Rồi đó, sau bữa ăn trưa, cô đi tắm bằng thứ xà bông đặc
chế bằng mật ong trước khi trang điểm.
Còn cô Sáu Bạch Huệ bưng bả về tới nhà đã thấy Hai Dần ngồi chờ. Cô trách móc:
- Anh thiệt là... ương ngạnh, không chịu nghe lời em! Trong thời gian mụ Ba Cẩm
Tú léo hánh tới đây, anh cứ chừng mặt tò tí công khai với em, đố sao mủ khỏi
nghi nan chuyện âm mưu đưa mụ vào bẫy của tụi mình!
Hai Dần cười mơn:
- Nhớ em thắt thẻo tim đỏ gan vàng nên qua mạo mụi tới đây, mong em xá tội cho
qua nhờ. Qua chỉ mong xế nay là buổi chót mủ tới đây bày trò tư thông với tên
Pháp tặc rậm râu kia!
Cô Sáu cười:
- Em cũng mong vậy. Thôi, anh về nói cho ông thầy thuốc Mậu rõ tự sự và dặn ổng
cỡ hai giờ trưa nay nhớ dắt ông trưởng tòa cùng mấy chú mã tà tới quán nước trước
hẻm nhà em nghe chưa! Hể em cho thằng ở của em ra mời là họ phải tới lập tức đặng
tông cửa buồng bắt quả tang tụi nó.
Cô Sáu Bạch Huệ cùng tình nhơn kéo nhau ra quán ăn bánh mì. Xong xuôi, Hai Dần
cỡi xe đạp đi tìm bác sĩ Lê Thạnh Mậu, còn cô Sáu đi mua sắm bánh trái, la ve,
nước ngọt...
Lối 1 giờ trưa, cô Ba Cẩm Tú đến nhà cô Sÿu bạch bạch Huệ. Nhìn mâm bánh trái ê
hề bày bàn ăn, cô Ba quở:
- Chèn ơi,, mâm bánh ăn dặm sao mà ê hề như vậy? Thằng Thierry và tao ăn sao hết!!
Hay là mầy dùng để cúng cô hồn?
Cô Sáu háy thiệt lẳng:
- Nó với chị ăn không hết thì để cho em và mấy tay đánh xá ỏ, đánh tứ sắc ăn
ké.
Cô Ba ngoe ngoảy bỏ vào buồng dành cho cô. Nơi đây nệm drap trắng tinh, thoảng
mùi long não. Cô cởi áo dài máng lên móc rồi vào giừng nằm nghỉ. Cô tính nằm
chơi, ai dè ngủ hồi nào không hay. Bỗng một chiếc cằm lám nhám gốc râu chạm vào
đôi má mịn màng của cô, rồi cặp môi ấm áp đè lên cặp môi cô. Cô mở mắt ra thì
thấy Thierry đang nằm bên cô, thân thể không mảnh vải che. Cô siết chặt tấm
thân hắn, làm bội hỏi:
- Ai? Ai vậy?
Tên Pháp kiều rên rỉ:
- Kiếm được dịp tốt để đến đây khó quá! Anh nhớ em lắm!
Hắn hun hít cô, rồi cả hai nhẩn nha vuốt ve nhau cho đến lúc tên gian phu không
chịu nổi lửa dục nữa, bắt đầu giao hoan với cô. Cô nhắm nghiền mắt hửng ứng,
quên phứt đi tấm vách có một lỗ nhỏ để cặp mắt cô Sáu Bạch Huệ theo dõi, chờ
lúc họ mê man nhục dục sẽ ra tay.
Khi cô vẫy tay ra hiệu thì năm người đàn ông tiến tới cửa buồng trong khi cặp
trai gái ngoại tình đang ái ân nồng đượm, quên luôn trời đất, quên cả thời
gian. Rầm! Một tiếng đạp long trời đất vang lên. Bác sĩ Lê Thạnh Mậu, Trưởng
Tòa Hiệp, Hai Dần và hai người lính mã tà ào vào. Thieery vừa ngóc đầu dậy thì
Hai Dần nhảy tới đánh vào ngực, vào hạ bộ hắn chết giấc. Bác sĩ Mậy chụp lấy
tóc cô Ba Cẩm Tú ghịt xuống, tay kia vả vào mặt cô làm cô là chói lói. Rồi bản
năng sinh tồn trổi dậy, cô ba cắn mạnh vào tay chồng, hai tay bóp ghịt cục thịt
giữa hai đùi chồng làm ông ngã ra trợn trắng. Cô Ba hằn học ngó cô Sáu Bạch Huệ,
nghiến răng hỏi:
- Có phải mầy gài bẫy tao không, hả Sáu?
Cô Sáu đỏ tía tai gục đầu không nói được lời nào.. Cô Ba Cẩm Tú mặc quần áo
vào, vẽ mặt kiêu hãnh và lạnh như tiền. Nhìn chồng nằm thở dốc, mặt trắng bệch
bạc, cô khinh bỉ phun nước miếng vô mặt ông, chửi:
- Đồ khốn nạn! Có vợ mà không biết o bế tưng tiu, để cho nó cắm sừng lên đầu mà
không biết nhục!
Hai viên mã tà còng tay cô và tìm cách cứu tỉnh tên Thierry Lemur. Trưởng tòa
Hiệp tiếp tục làm biên bản. Nhục quá hóa liều và đâm ra trơ, cô Ba Cẩm Tú chửi
chồng tắt bếp, không từ nan một ngôn từ tục tĩu, lỗ mãng nào.
Từ bót mã tà bước theo anh mình bảo lãnh ra về, cô Ba Cẩm Tú đực chồng cho phép
về nhà lấy quần áo và tư tang để về Cầu Đào. Còn bác sĩ Lê Thạnh Mậu tuy đắc thằng
vẻ vang như ý, nhưng trong bữa ăn chiều ông cảm thấy rõ ràng sự đắng cay chua
chát, cuốn sạch hết kỷ niệm đẹp sau năm năm chung sống với cô vợ. Ông ta ăn cơm
như ăn sỏi sạn, húp canh như húp thuốc bắc.
Đêm hôm đó bác sĩ Lê Thạnh Mậu vào giường rất sớm. nhưng mãi tới canh tư ông mối
ngủ được. Sáng hôm sau ông dậy trễ, sai con Xinh mua cho ông một tô hoành thánh
và ly cà phê sữa. Điểm tâm xong, ông chải đầu láng, diện sơ- mi cụt tay bàng vải
ba- tít màu trứng sáo, quần vải ga- bạc- din xanh đậm, thắt nơ bướm ở cổ và
mang giày tây đen đánh xi- ra bóng loáng. Nhìn bóng mình trong kiếng, ông thầm
nghĩ: "Đờn ông bốn mươi tuổi vẫn còn làm lại cuộc đời một ách ngon lành,
huống chi mình mới băm ba tuổi!"
Từ khi vợ chồng bác sĩ lê Thạnh Mậu gặp cảnh đồng sàng dị mộng thì nhà cửa ông
như bao bọc một làn không khí lạnh lẽo. Cô Ba Cẩm Tú săn sóc nhà cửa lấy lệ nên
bàn ghế không được lau chùi kỹ lưỡng, đồ đạt bày biện thiếu mỹ thuật, kém ngăn
nắp; ngoài sân, các chậu cây kiểng không được tỉa lá, bông trồng trong bồn thiếu
nước héo queo, và ngoài xa nữa, hàng rào cây trà tươi không được cắt bàng. Ông
phải tiến hành cuộc li dị với cô Ba Cẩm Tú càng mau càng tốt, càng sớm càng thuận
lợi cho ông. Rồi ông sẽ tìm một cô gái nết na, có học thức về làm vợ, để ngôi
nhà nầy có người chủ phụ coi sóc trong ngoài.
Suy nghĩ miên mang đưa ông về người đẹp năm xưa có cái tên Võ Thị Tố Mai, người
thiếu nữ đã cho ông tình yêu đầu đời mà vì yêu ngôn quỉ kế của cô Ba Cẩm Tú đã
khiến ông hồi hôn đưng sự, làm đương sự lao đao suốt năm măm trời! Ờ! tại sao
hôm nay ông không đến xóm Chuồng Gà tìm cô, coi cô có nhà ông Năm Tảo hay
không? Nếu cô bằng lòng kết hôn cùng ông thì ông sẽ có cơ hội săn sóc yêu thưng
cô, để ông chuộc lỗi lầm thuở trước. Mường tượng tới khuôn mặt bầu bĩnh của cô
với đôi mắt lá râm, đôi mày vòng nguyệt, sống mũi dọc dừa, cặp môi thanh tú mà
tim ông đập khoan khoái. Ôi cặp mắt cô tuy không lớn nhưng cái nhìn bao la vòi
vọi. Sắc mặt cô tươi sáng thấm nhuần vẻ hiền hậu dịu dàng. Năm năm qua mà cô vẫn
giữ được nét trẻ trung trên khuôn mặt và vóc mình thanh cảnh tươi mát.
Bác sĩ Lê Thạnh Mậu ra tiệm Hảo Xướng mua một hộp trà Ô Long, hai phong bánh in
hiệu Huê Phong, hai chai rượu chát hiệu con bò, một kí nho tươi rồi lái xe tới
nhà ông bà Năm Tảo. May phước, hôm đó hai ông bà và cô Thiệt Nguyện đều có ở
nhà.
Bác sĩ Mậu ngập ngừng bảo ông Năm Tảo:
- Hôm nay tui tới đây trước thăm ông bà, sau có chút việc muốn bày tỏ cùng với
cô Bảy Tố Mai, vốn là vợ chưa cưới cũ của tôi. Gia đạo tui đang rối rắm, tui với
vợ tui sắp ra tòa li dị nên tui muốn cùng em Bảy tính chuyện chung thân về sau.
Ông Năm Tảo cho gọi cô Thiệt Nguyện đang lúc thúc ở nhà sau. Chỉ chừng dập bã
trầu, cô bưng khay trà ra chào khách. Cô cũng vừa rửa mặt cho tươi tỉnh. Hôm
nay cô mặc chiếc áo xuyến trắng bó eo, chiếc quần đáy giữa bằng lãnh trơn, tóc
chải láng, cái bí bo được bọc lưới. Cô cũng đeo một xâu chuỗi ngọc trai,, đôi
bông tai cẩm thạch và giắt chiếc trâm kết hột cẩm thạch lớn cỡ trái trứng cá
trên búi tóc.
Cô Thiệt Nguyện vui vẻ bắt chuyện với khách, không cay đắng, không bợ ngợ. Dung
quang cô sáng rỡ như trăng rằm, nụ cười cô nở tộng bày hàm răng đều đặn và khít
khao, sóng mặt cô ướt rượt. Tuy nhiên, mắt cô sáng mà dịu hiền, nụ cười cô điềm
đạm đoan trang, sóng mắt cô chỉ có vẻ âu yếm mà không lẳng lơ. Ông Năm Tảo bảo:
- Quan thầy thuốc hôm nay tới đây có chút việc muốn nói với cháu, vậy để chú ra
ngoài vườn o bế mấy cây cau xiêm vừa trồng để cho cả hai đàm đạo thoải mái.
Rồi ông ngó qua bác sĩ Mậu:
- Quan thầy thuốc đã tới chơi, xin ở lại dùng cơm trưa với vợ chồng tui và cháu
Thiệt Nguyện đây.
Biết rằng câu chuyện mình sắp bàn với người yêu cũ còn dài nên bác sĩ Mậu nhận
lời và chắp tay cảm ơn ông Năm. Sau khi ông năm đi khỏi, ông nhìn trân trối cô
Thiệt Nguyện, ngập ngừng:
- Qua đến đây không ngoài mục đích kể hết gia đạo của qua cho em rõ. Nếu em
không còn hờn qua, và nếu em còn yêu thương qua như chầu xưa thì qua sẽ cưới em
sau khi ra tòa xé hôn thú với con vợ cũ.
Cô Thiệt Nguyện kinh hoảng:
- Anh muốn thôi vợ để cưới em hả? Sao lại có chuyện ác đức vậy?
Bác Sĩ Lê Thạnh Mậu liền kể khúc nôi vụ vợ ngoại tình và vụ bắt ghen quả tang
cho cô Thiệt Nguyện nghe. Cô lặng yên nghe với ánh mắt cảm thông, chia sẻ.
Nhưng khi thấy ông nước mắt đoanh tròng thì cô cũng khóc theo. Biết cô Thiện
Nguyện vẫn còn yêu thương mình, bác sĩ Mậu mũi lòng khóc nhiều hơn. Nước mắt
làm ông quên mối hờn ghen con vợ lăng loàn cũ, khiến ông phấn khởi khi nghĩ tới
việc làm lại cuộc đời trong những ngày sắp tới.
Cô Thiệt Nguyện thở dài:
- Việc tác tệ xảy ra như vậy anh thử nghĩ lại mà coi, con Ba Cẩm Tú có lỗi đã
đành, mà anh cũng có lỗi nữa. Anh đã lợt lạt lửa hương với nó, anh đã dắt nó
vào chốn ăn chơi để nó tiếp xúc với phồn tham dâm háo sắc. Nay đôi bên không
còn thương yêu nhau nữa thì xa nhau cũng là giải pháp hay. Còn việc anh muốn cầu
hôn em, xin hãy đợi công việc li dị giữa anh và con Ba dứt khoát đã.
Cô đứng dậy xin phép ông vào trong. Ông Năm Tảo từ vườn bước vào với trái đu đủ
hườm chín trên tay. Ông đặt trái lên dĩa quả tử rồi gọi thêm bình trà mới để
ông ngồi tiếp chuyện bác sĩ Lê Thạnh Mậu.
Bà Năm Tảo bước ra, mời khách:
- Bây giờ cũng đã trưa trờ trưa trật rồi, xin mời quan thầy thuốc dùng cơm.
Mâm cơm dọn trên chiếc bàn tròn ở phòng ăn, giáp với căn bếp. Trên bàn chỉ bày
có ba chiếc chén và ba đôi đũa. Bác sĩ Mậu và ông Năm Tảo vừa ngồi vào mâm thì
bác vật Cảnh cũng vửa tới. Qua ông Năm, hai đàng bắt tay chào nhau. Bác sĩ Mậu
hỏi:
- Sao không mời cô ra đây ăn luôn thể?
Bà Năm Tảo vui vẻ:
- Tui và cháu Thiệt Nguyện ăn chay. Hai con Túy ăn ở dưới bếp cho thoải mái.
Thôi kệ tụi nó!
Mâm cơm tươm tất. Một tô canh chua cá lóc nấu bông súng. Một dĩa gỏi ngó sen trộn
tôm thịt rắc rau răm xắt nhuyễn. Một dĩa sườn nướng thơm phức. Một dĩa cá bống tượng
chưng kim châm nấm mèo.
Dưới nhà bếp, cô Thiệt Nguyện thuật lại chuyện gia đạo bác sĩ Mậu cho hai cô
Túy nghe. Rồi cô than thở:
- Hồi đó khi chị lên Tri Tôn toan cắt tóc quy y thì sư phụ chị không cho, bảo rằng
mai sau nếu tánh sân hận của chị được tiêu trừ thì tình chủng của chị vẫn còn
nguyên gốc rễ. Bởi đó nên huề thượng chỉ cho chị thọ giới cận sư nữ. Lời phán dạy
ấy nay sắp thành sự thật. Chị mắc nợ bác sĩ Mậu về cuộc vợ chồng. Oan gia nghiệp
chướng trong sáu năm qua đã trả dứt, nhưng vòng tình nghĩa ái ân trong tương
lai không mấy xa xôi sẽ hủy hết năm năm tu hành của chị.
Cô Hai Túy Ngọc:
- Ai nói với chị khi lấy chồng rồi sẽ không có pháp môn nào để tu? Còn có pháp
môn Tịnh Độ vốn dành cho mọi thiện nam tín nữ vì nó dễ tu, chỉ cần niệm hồng
danh đức A Di Đà Phật cho tới nhứt tâm bắt loạn là đủ.
Cô Thiệt Nguyện thở dài:
- Đường tu vốn lắt léo, đâu có dễ như em tưởng. Trong một triệu người, họa may
mới có một người niệm nhứt tâm bất loạn!
x
x x
Năm tháng chưa dài xa lâu lắc gì mà bao nhiêu biến cố bi thảm cứ dồn dập xảy tới
gia đình ông Bang biện Hưỡn. Ông Bang biện bị bán thân bất toại. BÀ Bang biện
đã chết vì phong đòn gánh. Cô Ba Cẩm Tú bị chồng xua ra khỏi nhà vì tội ngoại
tình và đang chờ ra tòa để nhận án ly hôn. Cô Tư Cẩm Lệ thì buồn vì mất đứa con
đầu lòng khi còn trứng nước.
Sau khi về Cầu Đào chừng hai tuần, cô Tư nhận được thư của chồng cho biết ông
đã bán nhà và dọn về ở chung với ông bà Huyện Tịnh. Ông nhắn cô nên lấy những đồ
đạc mà cô chưa mang về Cầu Đào. Nhưng khi cô lên Phú Nhuận thì luật sư Trần Hảo
Hiệp lánh mặt, chỉ có bà Huyện Tịnh tiếp cô mà thôi. Bà Huyện cho biết luật sư
Hiệp đã kết hôn vơi cô Hai Tố Trinh. Bà còn giả nhơn giả nghĩa khuyên cô nên kiếm
chồng khác làm ăn. Sau cùng bà lôi hai chiếc va ly ra, bảo:
- Đây là quần áo của cháu. Riêng hộp nữ trang thì cháu đã mang theo khi về Cầu
Đào rồi.
Cô Tư Cẩm Lệ vì tức tối, nói nhiều câu hằn học vô lễ với bà Huyện Tịnh nên bà
hét lên:
- Cô là thứ đàn bà vô giáo dục. Cô tức giận rể tui rồi giở giọng hàng tôm hàng
cá với tui sao được! Tui đuổi cô ra ngoài cho cô coi!
Bà liệng hai cái va- ly ra ngoài rồi thét đầy tớ tống cô ra khỏi cổng.
Cậu Hai Luyện thấy tình cảnh hai cô em như vậy thì cứ rầy rà luôn, đưa đến cãi
cọ nhưng rồi cậu lại tha thứ, cưu mang họ. Sau vụ ly dị, cô Ba Cẩm Tú được cô
Agnès Thuận giới thiệu với quan chánh tham biện Tây mới đổi về, còn Isabell Định
thì tiến cử cô Tư Cẩm Lệ với gã biện lý Tây tên Jean Beauregard. Hai chị em chẳng
khác nào người mang dép đi trên con đường bùn sình, lúc đầu còn thận trọng bước
sợ dính bùn, nhưng khi đã dính bùn rồi thì họ đi càn, mặc kệ sình bùn bao nhiêu
lớp cũng không thèm đếm xỉa nữa.
Một tối nọ, sau khi nằm trò chuyện với cô Ba Cẩm Tú trên chiếc divan bằng gỗ
giáng hương, cô Tư Cẩm Lệ thiếp ngủ. Bỗng cô thấy cô Tư Thục từ ngoài bước vào,
điểm mặt cô, mắng:
- Đứa con ranh của mầy mới chết, nó đợi mầy dan díu với bất cứ thằng đàn ông
nào là nó chui vô bụng mầy thành bào thai, đúng chín lần rồi mới đoạt mạng mầy,
nghe chưa con sát nhơn!
Cô Tư Cẩm Lệ giận quá hóa khùng, trả treo lại:
- Chị đừng có nói đỏng! Tui sẽ tìm thầy bùa, thầy pháp cao tay ấn để nhốt đứa
con ranh con lộn đó trong tĩn rồi đem chôn trong hầm chứa máu chó và phân heo,
nói cho chị biết!
Cô Tư Thục vả vào mặt cô Tư Cẩm Lệ:
- Đừng có nói điên! Chừng mười năm nữa rồi mầy sẽ rõ!
Rồi cô xô cô Tư Cẩm Lệ té nhủi. Cô Tư la lên một tiếng, giựt mình tỉnh dậy. Cô
Ba sau khi nghe em thuật lại giấc chiêm bao, trầm ngâm:
- Còn nước còn tát! Thế gian này thiếu gì thầy pháp, thầy bùa giỏi.
Từ khi cặp xách với ngoại kiều, hai cô có tiền nhiều nhưng vì nghe lời anh nên
hai cô không dọn ra riêng. Họ xuất tiền sửa sang vườn tược, kho lẫm.
Từ khi có hai cô cháu gái về coi sóc việc nhà, bà Năm Đặng không dám ăn xén ăn
bớt lộ liễu nữa. Bà nịnh bợ hai cô cháu, chỉ họ cách nịch ái những gã đàn ông
đi lại với hai cô:
- Muốn cho đàn ông say sưa mê đắm mình, hai cháu nên để dì đi mua cá bông, ca
lóc nuôi trong vịm đựng nước pha máu kinh nguyệt của hai cháu. Rồi hai cháu
dùng thứ cá đó làm món ăn cho tụi nó thì tụi nó sẽ càng mê hai cháu hơn nữa.
Lụi hụi mà đã tới đám cưới của cô Hai Túy Ngọc. Đám cưới của cô Út Ngọc An và của
cô Ba Túy Nguyệt cũng diễn tiến tốt đẹp. Cô Hai và cô Út cùng theo chồng về Tiểu
Cần, trong khi đó Bác vật Cảnh vì còn nghỉ dững sức cho nên cô Ba Túy Nguyệt
không buồn vì phải xa nhà.
Việc ly dị của bác sĩ Lê Thạnh Mậu và cô Ba Cẩm Tú kết thúc tốt đẹp. Cô được
tòa bắt chồng cô cấp dưỡng mỗi tháng bốn chục đồng, trong khi số tiền lương của
một thầy giáo lớp nhứt chỉ được sáu chục đồng.
Đám cưới của cô Thiệt Nguyện tổ chức long trọng nhứt. Gia đình cô vốn giàu có lớn
ở An Hương. Hai người chị của cô lấy chồng giàu, bốn người anh của cô cũng nên
danh phận, cậu em kế cô thì đang học dược bên Pháp. Cũng như cô Út Ngọc An, lấy
chồng rồi cô vẫn ăn chay, nhưng khác với cô Út ưa ăn mặc lòe loẹt, Cô Thiệt
Nguyện luôn ăn mặc nhã đạm, không son phấn, không tỉa chơn mày hay chải đầu
phùng theo kiểu chín lượn mười mồng của thời trung thập niên 30.
Dù sao hai cô Cẩm cũng còn chút an ủi là tuy mất danh giá nhưng họ kiếm được
nhiều tiền. Tiền do tình nhân cung cấp, tiền do họ chạy áp phe. Họ quyết lòng nịch
ái hai tên ngoại kiều mà họ đang dan díu. Món cá lóc do bà Năm Đặng nuôi được họ
chiên vàng rồi phết bơ Bretel vẫn là món lạ miệng được tên Chánh tham biện
Henri và tên Biện lý Jean chiếu cố tận tình.
Nhưng mà, cô Ba Cẩm Tú mỗi khi soi kiếng để tô son dồi phấn chợt thấy mặt mũi
mình càng lúc càng chao vao. Coi kìa, lững quyền cô nhô cao, ánh mắt cô lộ vẻ mệt
mỏi, nụ cười cô không sao giấu được vẻ chua chát. Cũng vậy, cô Tư Cẩm Lệ nhận
thấy vóc mình cô lệch lạc, khô khan; dung nhan cô mờ ố, thần sắc cô lu câm. Ái
tình của hai kẻ Pháp kiều đối với họ cũng chẳng nồng đượm gì hơn. Trước sau, tụi
nó chỉ coi họ là món đồ chơi chứ không hề đặt họ lên vị trí người tình, nói gì
là hạng già nhơn nghĩa non vợ chồng! Trong khi đó, tại tỉnh thấp thoÿng mấy cô
chơi bời mới đầy đủ màu xinh vẻ lịch cùng các món phong lưu.
Phần cậu Hai Luyện, từ khi về Cầu Đào, cậu thường đến tiệm cô Bảy Cẩm Thạch để
tái diễn cuộc dán díu với cô. Chẳng hiểu do duyên nợ gì ràng buộc mà cô Bảy vẫn
còn say mê cậu. Cô Tám Cẩm Vân thường lựa lời khuyên chị:
- Như chị em mình đây sa lầy trong nghiệp dâm đã là cái tội rồi, còn thằng cha
Luyện bủn xỉn nổi tiếng bạc tình kia vốn xuất thân từ một gia đình ác đức, gây
nghiệp xấu từ ba bốn đời nay, chị mà cứ cặp xách với hắn hoài, đố khỏi ngày
cháy vạ lây.
Cô Bảy mắng em:
- Con đĩ mãng xà nầy ngày tối cứ rình dịp để cắn mổ anh Kinh lý Luyện hoài! Chắc
kiếp trước ảnh có gây việc oan trái đảo điên chi đó với mầy nên kiếp nầy mầy mới
thù ghét ảnh thái thậm như vậy!
Cô Bảy cứ xách đít đến tổ quỉ của cậu Hai Luyện đều đều. Cô dùng đủ ngón nghề để
chiều chuộng cậu, cốt làm cho cậu say tình, cảm nghĩa mà cưới cô. Nhưng nghiệt
thay, cậu Hai Luyện là mẫu người chỉ tìm được hứng khởi khi tốn công tốn sức để
được ăn nằm với cô nào đó. Giao hoan với hạng gái dễ dãi như cô Bảy Cẩm Thạch
làm sao cậu hào hứng cho được! Cậu lại nghĩ tới thím Bảy Bảnh. Ái ân với đàn bà
có chồng bất hạnh kia, điêu đó làm cậu như được dấn thân vào cuộc phiêu lưu mạo
hiểm đầy thú vị. Do đó mà thằng Yêm cứ phải làm môi giới đưa thím Bảy Bảnh lên
tổ quỉ của cậu ở cầu Kinh Cụt. Nhưng nếu cậu Hai tạm hài lòng vui thú với vợ
người ở tổ quỉ thì tai họa đâu tới nỗi giáng xuống đầu cậu như một cú sét. Một
hôm cậu ngỏ ý với thím Bảy Bảnh:
- Tui ăn nằm với mình ở đây tuy có sướng thiệt, nhưng tui vẫn ao ước ân ái với
mình tại nhà mình kìa!
Thím Bảy Bảnh ngạc nhiên:
- Sao lạ vậy? Đường bằng phẳng mà mình không chịu đi, lại chọn đường đầy dẫy
chông gai hầm hố làm chi không biết!
Cậu Hai Luyện cười trơ trẽn:
- Tánh tui kỳ lạ lắm! Hễ gặp chuyện dễ ột tui không nhớ dai. Phải giặp chuyện
khó khăn, đòi hỏi lao tâm tổn trí, phải đem mưu mẹo ra đối phó thì tui mới nhớ
đời đời. Mình có thiệt bụng yêu thương tui thì nên dàn xếp các nào để tui được
hú hí với mình trên cái giường của mình thì tui mới có hứng.
Nói xong, cậu giúi vào tay tình nhơn một xáp lụa cẩm phụng trắng. Thìm Bảy Bính
nhìn cậu thở dài. Thím chỉ nghĩ cậu hơi khật khùng chứ làm sao rõ được tâm trạng
bất lương phức tạp của cậu!
Thế rồi thím Bảy Bảnh và thằng Yêm cố công dàn xếp để đưa cậu Hai Luyện về nhà
vợ chồng thím ở Cái Sơn. Ở đời, ai mà lấy thúng úp voi được! Cây kim giấu trong
bọc cũng có ngày lòi ra! Dân chúng ở xóm Đình Khao, dài theo ngọn rạch Cái Sơn
Bé bắt đầu xì xào bàn tán, nói tỏi nói hành mụ đờn bà lẳng lơ trắc nết kia..
Chú Bảy Bảnh vốn ngu độn và chập chạp, lại cả tin vợ nhà, cho nên ai nói bóng
gió về thím Bảy chú cũng không hiểu được. Anh ruột chú là chú Sáu Tốt hét vô mặt
chú, vạch bày cho chú biết việc làm tác tệ của vợ chú, nhưng chú vẫn không tin.
Tuy nhiên, một đêm nọ trong lúc đầu gối tay ấp với vợ, chú nhẹ nhàng bảo:
- Người ta nói với tui rằng mình đang tò tí với cậu Hai Luyện!
Thím Bảy liền ré lên chửi:
- Mồ tổ cha quân đặt điều! Tiên nhơn tổ đường thứ ăn môn ngứa miệng! Mình phải
chỉ cho tui biết đứa nào dám bêu xấu tui để tui tròng quần máu hòe lên đầu nó!
Còn mình, sao mình để người ta nói xấu vợ mình mà mình im re, không dám bửa đầu
họ? Thiệt tình bởi tui nghiệp dày đức mỏng cho nên mới lấy nhằm thằng chồng ngu
si đần độn như vầy!
Rồi thím bù lu bù loa, làm trận làm thượng đủ trò, khóc lóc quằng quại thảm
thê, báo hại chú Bảy Bảnh phải gãy lưỡi tốn nước miếng năn nỉ thím, thím mới chịu
bỏ qua.
Riêng cô Bảy Cẩm Thạch vì ở ngoài chợ tỉnh nên không nghe tiếng đồn ở làng Cái
Sơn Bé. Lâu lâu cậu Hai Luyện ghé thăm, rủ cô tới tổ quỉ của cậu thì cô nhận lời,
chấp nhận hoàn cảnh làm tình nhơn tạm bợ của cậu chớ không dám đèo bòng hoàn cảnh
sáng sủa hơn.
Hôm đó đang lúc cô Bảy kho tô cá bống kèo trong bếp thì cô Tám Cẩm Vân đi chợ về,
miệng véo von như con chim chèo bẻo:
- Mèn ơi, hồi nãy em xẹt lại tịm Đồng Hính ăn mì, gặp tên Kinh lý ninh Hai Luyện
ở đó. Lóng rày sắc diện hắn u ám xanh xao như mặt đờn bà bị huyết trắng, chỗ ấn
đừng hắn có một bớt đen. Thứ nầy không bao lâu nữa sẽ gặp tai ương, nếu không
tán nạng thì cũng sút càng gãy gọng chớ không chơi!
Co Tám Cẩm Thạch tối hôm trước vừa ở tổ quỉ hú hí với cậu Hai Luyện thâu đêm suốt
sáng, giờ mệt mỏi nên cô nổi quạu. Cô trợn mắt nhìn em, mắng:
- Con đĩ tinh ma yêu quái, con đĩ khỉ cái mắc kinh phong! Mầy nên lo cho thân
mày, chớ việc gì mà mầy cứ xét nét rồi trù ẻo toàn chuyện dữ cho cẩu vậy? Coi
chừng mắc khẩu nghiệp đa!
Nói về chú Sáu tốt, bởi thằng em chú dại dột ngu đần nên chú tức ấm ách, không
biết cách nào trừ khử cặp gian phu dâm phụ cho đã nư chú. Đã vậy, nhà chú chỉ
cách tiệm hàng xén của chú Bảy Bảnh một cái hàng rào tre xịch xạc, có dây bìm
bìm leo kín lớp tre đan; mỗi ngày gặp lúc vắng khách, thím Bảy Bảnh từ tiệm chõ
miệng qua chửi xỏ chửi xiên xoáy vào tâm não chú, làm chú nhức rêm cả mình mẩy,
tức ngực lói hông.
Một bữa nọ, chú nằm chơi trên chiếc chõng tre rồi ngủ quên hồi nào không hay. Bỗng
có tiếng thanh tao của một người đờn bà:
- Xin đại vương chớ ngại, bùa ém dù sao cũng phải bứng cho xong. Chú Sáu đây
cũng là một tay giỏi bùa ém.
Tiếp theo đó, một người đờn bà nhan sắc xinh lịch, dáng dấp yểu điệu xăm xăm đi
về phía chú. Y thị dắt một người đàn ông mặc áo đen, hai tay ôm cần cổ đẫm máu.
Người đờn ông nói:
- Tui là thần Hắc Giao đại vương, nằm trong cuộc đất của Xã Miễn ở Mỹ An, giáp
ranh với đất của Hương sư Chiêm. Khi quan Kinh lý Luyện đo đất đào kinh, có nhận
của hối lộ của Hương sư Chiêm, đào lấn qua đất Xã Miễn nên thế đất Hắc Giao vọng
hải bị phá hỏng, tui bị đứt đầu. Tui muốn báo thù, ngặt vì trước đó nó mướn thầy
Mười Khói ở Cần Đào trấn ém tui nên thần lực tui bị giảm hết bảy phần mười. Nay
tui đến đây nhờ chú giúp tui rửa thù. Đêm mốt đây, chú hãy rủ em chú đi Long Hồ
câu tôm. Thế nào con đờn bà đó cũng rước tên dâm dật kia về nhà hú hí. Thừa lúc
nửa đêm chú cùng về với chú Bảy, hiệp với thầy Hương quản Dần, mấy chú cai tuần,
mấy chú thường xuyên ào vào nhà hô hoán lên ăn trộm, bớ người ta ăn trộm! Thế
nào mụ em dâu chú cũng mở cửa sau cho nó thoát ra. Chừng đó có một người rình sẵn,
y ta cứ lấy gậy mà đập vô cẳng nó. Nó té quỵ rồi, chừng đó chú muốn xử sự sao
đó tùy ý.
Người đờn bà nói:
- Còn tui là Út Thoại Huê, em con nhà chú của bà Năm Tảo. Tui bị thằng khốn nạn
đó dụ dỗ tới mang bầu, gạt tui uống thuốc phá thai để băng huyết mà vong mạng.
Nay tui sẽ nhơn cơ hội này mà báo thù rử hận. Nó bị đập vào cẳng đâu có gì làm
trượng, nhưng đây là lúc báo hiện hành, nó sẽ lãnh đủ thứ rùng rợn lắm, để rồi
chú coi!
Chú Sáu Tốt gật đầu, bảo Hắc Giao đại vương:
- Sau vụ nầy, tui sẽ xuống mỹ An nhổ hết bùa ếm cho ông.
Thế là thím Bảy Bỉnh sáng hôm sau được chồng cho biết:
- Xế mai mình nấu cơm cho sớm, ăn uống xong tui sẽ theo anh Sáu bơi xuồng vô
sông Long Hồ câu tôm, sáng mốt mới về.
Thím Bảy Bảnh nghe nói, mừng rơn trong bụng. Thím cho người nhắn thằng Yêm tới,
dặn đêm sau hãy đưa cậu Hai Luyện tới thím. Xong, thím đi chợ mua một con mắm
lóc và một ký tôm càng thiệt tươi. Xế hôm sau, thím nấu cơm và chưng mắm lóc để
dọn bữa cho chồng. Còn tôm càng, mớ thì thím lăn bột chiên, mới thì trộn gỏi bồn
bồn. Xong, thím cất lên giàn bếp. Đến khi chồng thím theo chú Sáu Tối đi rồi,
thím mới bày hai món kia lên bàn, lấy thêm chai rượu thuốc trong tủ thờ ra.
Trời tối mịt, cậu Hai Luyện mới cỡi xe đạp chạy tới. Thím đóng chặt cửa ngõ rồi
mới cậu uống rượu cho giãn gân cốt và ấp áp huyết mạch. Trong khi cậu ăn nhậu
thì thím đi tắm rồi xức dầu bông lài trên tó. Khi thím tươi mát bước lại châm
rượu thì cậu đã ngà ngà say. Thím liền bưng mâm xuống bếp rồi bước tới tình
nhơn ỏn ẻn:
- Nhớ mình em muốn ngật người ngật mẩy. Vậy mà chẳng biết mình co nhớ em không
đây? Hay là mê man tàng tịch con lủng nào rồi?
Cạu Hai Luyện cười, hun tình nương chùn chụt:
- Có con lủng nào ngoài con lủng ưa xức dầu bông lài này?
Hai người cười giỡn nói trây thêm một chập nữa rồi mới cùng nhau vô buồng. Quần
thảo hiệp đầu xong thì trống mới điểm canh một. Thím Bảy muốn cậu ra về, Cậu
nói:
- Ái ân chưa toại dạ phỉ lòng, lẽ đâu qua về gấp! Để qua cưng mình thêm một keo
nữa, đợi tới đầu canh tư rồi qua về Cầu Đào cũng không muộn. Mà mình sao có vẻ
bất an vậy?
Thím Bảy Bảnh nhõng nhẽo:
- Không hiểu sao bụng dạ em cứ bào xào hoài, khó chịu quá!
Cậu Hai Luyện cười khì:
- Em cứ giở cái mửng đó hoài.. Thôi, lại đây để qua cưng.
Cậu kéo thím lại gần vuốt ve. Rồi cả hai vùi dập nhau tưng bừng. Bỗng ngoài cổng
có tiếng la hét. Ánh đuốc đỏ rực như đám cháy. Tiếng động cổng ngõ ầm ầm. Thím
Bảy hoang kinh bảo tình nhơn:
- Chết cha! Có chuyện gì rồi! Mình nên bận quần áo le lẹ rồi chui ngã sau, đi về
hướng chuồng heo ông bà Bảy Võng cho mau!
Cả hai vừa run lập cập vừa mặc quần áo. Có tiếng chú Bảy Bảnh gọi cửa ngoài
hàng ba:
- Mình ơi, mau mở cửa! Có ăn trộm rình nhà!
Thím Bảy Bảnh mở cửa sau cho cậu Hai Luyện đào thoát xong, liền bưng thếp đèn
ra nhà trước, mắng vãi chồng:
- Đồ khùng! Ăn trộm ở đâu mà nói ẩu nói càn! Tui còn thức đơm khuy kết nút chiếc
áo dài của tui trong buồng đây mà, có thấy động tịnh gì đâu!
Thím mở cửa. Bọn người tràn vào. Thím tiếp tục mắng như tát nước:
- Mấy người túc ráy chồng tui điều gì mà chưa tới nửa đêm nó lộn trở về ăn nói
quàng xiên? Bộ mấy người điên rồi sao?
Chú Sáu Tốt sau khi cầm đuốc rọi khắp nhà trên nhà dưới, buồng trong buồng
ngoài, liền chỉ chiếc xe đạp, hỏi:
- Chiếc xe đạp nầy của ai vậy?
Thím Bảy lanh trí, nói lẻo nói lụ ngay:
- Của cậu Kinh lý đó đa. Hồi chiều cẩu tới đây mua hộp diêm quẹt gởi xe lại để
đi bộ vô ngọn rạch. Sáng mai cẩu sẽ ghé lại đây lấy xe để về Cầu Đào.
Mọi người tản mát rút lui. Thím Bảy Bảnh chửi chồng tắt bếp thêm một chặp nữa rồi
mới chịu ngủ.
Nói về cậu Hai Luyện chui ra ngã sau để nương theo ánh trăng hạ huyền đi về hướng
chuồng heo của ông bà Bảy Võng. Vừa tới ngã ba đường đất thì có tiếng hét:
- Ăn trộm! Ăn trộm đó bà con ơi!
Một người trờ tới dùng gậy quất tới tấp vào chơn cậu làm cậu sụm xuống. Cậu
toan la lên nhưng một cú đấm như trời giáng tống vào quai hàm khiến cậu chết giấc!
Sáng hôm sau, những người đi chợ sớm thấy cậu nằm gục bên đống phân heo, thở
thoi thóp, mắt nhắm nghiền. Họ xúm lại hơ lửa cho cậu, cởi quần áo dính cứt heo
của cậu đem gột sạch rồi đưa cậu về Cầu Đào. Hai cô Cẩm hỏi han nguồn cơn thì cậu
chỉ nói mình té rào chứ không nói gì thêm.
Vết thương từ hai đầu gối cậu trở xuống tuy được rửa ráy sạch sẽ nhưng ba hôm
sau vẫn sưng phồng khủng khiếp làm cậu đau nhức dữ tợn. Túng thế, hai cô Cẩm phải
chở cậu đi nhà thường. Cậu bị chứng gangrène, phải cưa hết hai chơn. Bác sĩ Lê
Thạnh Mậu biết tin, vô nhà thương thăm cậu. Ông trách hai cô Cẩm:
- Sau tai nạn, đáng lẽ em và dì Tư phải đưa anh Hai vô nhà thương liền thì đâu
đến nỗi!
Cô Tư khóc ngất:
- Tụi em có khuyên ảnh nên đi nhà thương nhưng ảnh không chịu, nói rằng không hề
gì.
Riêng cậu Hai Luyện lúc chụp thuốc mê trên bàn giải phẩu thì thấy cô Út Thoại
Huê hiện về. Cô chỉ mặt cậu, hét:
- Quân sở khanh khốn kiếp! Giờ đây mầy đã thành phế nhơn thì hồn tao mới hết uất
ức, có thể đi đầu thai được. Nhưng hai con em mầy còn đó, tao phải theo trù ẻo
cho tụi nó điêu đứng thì tao mới bằng bụng!
Tin dữ bay tới tiệm cô Bảy Cẩm Thạch. Cô khóc rống lên thảm thiết. Cô Tám Cẩm
Vân cũng chạnh lòng, hỏi:
- Chị có định đi thăm cậu Hai Kinh lý không?
Cô Bảy tức tưởi:
- Không. Nếu chị thấy thân thể tàn phế của cẩu, thì hình ảnh hào hoa phong nhã
của cẩu trong tâm tưởng chị sẽ bị bôi xóa hết.
Cô Tám khuyên:
- Bấy lâu nay cẩu cứ chàng ràng bên chị nên chị không chịu lấy chồng. Vậy từ giờ
trở đi, chị nên tính phần chị đi chớ. Chị có cơ sở làm ăn, lại còn trẻ đẹp, nếu
chị tằng hắng một tiếng thì thiếu gì người tới cầu hôn chị!
Cô Bảy không nói không rằng, vịn vai em khóc thêm một hồi nữa.
Còn thím Bảy Bảnh chẳng hiểu túc ráy chồng cách nào mà hai tháng sau, hai vợ chồng
dọn về Mỹ An. Chồng trồng khoai mỡ, khoai từ, khoai sọ, khoai tím, vợ mở tiệm
bán hàng xén.
Ông Bang biện Hưỡn từ khi được tin con bị cưa hai cẳng thì ông chết điếng. Đêm
đó ông cứ lục đục hoài trong buồng. Sáng hôm sau thằng Xiêm bưng thau nước ấm
cho ông rửa mặt thì thấy ông nằm gục trên bàn kê gần cửa sổ, cánh tay mặt ông
buông xuôi, máu từ cườm tay rót đọng vũng trên nền gạch bông. Ông đã tự tử chết
bằng cách lấy dao cạo cắt đứt mạch máu ở cườm tay.
Từ nhà thương về, nghe tin sét đánh ấy, cậu Hai Luyện khóc như mưa. Lần đầu
tiên cậu chấp tay niệm Phật và ôm chầm lấy hai cô em gái. Cả ba gục đầu cùng
khóc với nhau, họ bám chặt vào vai nhau....
Chương 12
Thời gian vẫn dằng dặc tiếp nối. Máy tạo hóa luôn cần mẫn
xoay vần. Lớp sóng phế hưng cứ tái diễn không ngừng nghỉ. Thăm thoắt mà tám năm
trời trôi qua.
Ông Năm Tảo vẫn tiếp tục nghề xem mạch hốt thuốc. Bà Năm Tảo ngoài việc nội trợ,
thương viếng thăm hai cô con gái và hai chàng rể để có dịp hủ hỉ với lũ cháu
ngoại. Ông Chín Thẹo qua đời. Bà Chín Thẹo tuy có buồn đôi chút nhưng rất hãnh
diện vì lũ con trai mình ăn nên làm ra, còn cô con gái út của bà được làm vợ một
bực ăn học, trở nên ngươi đàn bà trung lưu có tư cách. Bà Mười Thiệp và ông bà
Mười Hai cất am bên bờ rạch Tân Giai tu hành, ra công giúp đỡ người trong làng,
trong xóm.
Cô Út Ngọc An sanh cho chồng một trai hai gái. Cô càng sanh đẻ, máu huyết càng
thay đổi, càng lồ lộ vẻ tươi mát nuột nà. Ông Đốc học Hạnh xoay qua viết biên
khảo về kinh điển Phương Đẳng Đại thừa. Cô Hai Túy Ngọc sanh cho chồng ba cậu
con trai. Vóc vó cô vẫn thanh cảnh, thần thái cô vẫn giữa vẻ xán lạn tươi tỉnh.
Ông Huyện Khải vẫn trẻ trung và dẻo dai. Ông giữ vẹn nếp thanh liêm cho nên
lương bổng ông không đủ trang trải những nghi thức hào nhoáng cần thiết. Mấy
năm sau này, song song với việc làm quan, hễ rảnh rang là ông viết tiểu thuyết
loại nghiêng về giải trí, rất ăn khách, riết rồi cô Hai Túy Nguyệt coi sóc luôn
việc xuất bản sách cho chồng. Ông bác vật Cảnh dắt vợ lên Sài gòn cư ngụ, lập
trường tư thục Kiến Thiết, chủ trương tờ Khuyến Nông nguyệt báo nhắm mục đích
khuyến khích nông nghiệp và cổ võ việc canh tân nếp sống mới cho dân quê. Cô Ba
Túy Nguyệt sanh cho chồng một trai hai gái. Cô được người chồng cô truyền dạy
các món môn bánh xưa, nghệ thuật thêu xưa. Rồi cô còn được dì phước Marie vốn
là chị con nhà bác bên chồng dạy các Ôn thêu đan kiểu Tây và các món bánh nay.
Sau đó cô mở nữ công học hiệu để dạy các lương gia nữ tử các món nữ công phụ xảo.
Cô cũng xin bà Mười Thiệp cho hai cô Kim Liên và Kim Huệ lên Sài gòn theo học
trường cô để rồi sau này hai cô trở thành giáo sư nữ công trẻ tuổi, được hai thầy
giáo lớp nhứt tiểu học Cầu Kho cầu hôn.
Cô Thiệt Nguyện từ khi làm vợ bác sĩ Lê Thạnh Mậu rồi thì được chồng cưng như
trứng mỏng. Cô tận tụy săn sóc chồng, coi sóc mọi việc trong nhà châu đáo. Hễ
có thời giờ rảnh rang là cô đi săn sóc trẻ em mồ côi, đi làm công quả cho chùa,
lo việc đúc tượng in kinh. Cô sanh cho chồng hai cô con gái xinh như mộng, đẹp
như tranh.
Hai cô Agnès Thuận và Isabelle Định thỉnh thoảng có về thăm cô Ba Cẩm Tú và cô
Tư Cẩm Lệ. Họ đã đứng tuổi, tuy chưa phấn lạt hương phai nhưng họ sớm lo liệu
trước. Cô Agnès Thuận làm vợ kế một thương gia Huê Kiều ở Tân An, đối xử với lũ
con chồng tử tế nên chiếm được cảm tình của họ. Còn cô Isabelle Định lấy thầy
giáo góa vợ dạy lớp nhứt cở Gò Đen. Cô sanh cho chồng một cậu con trai xinh đẹp.
Hai Dần cưới cô Sáu Bạch Huệ, cọn về chợ Phú Quới cách chợ tỉnh sáu cây số. Cô
sanh cho chồng cặp hổ bôn hổ bịch kháu khỉnh.
Đã liếc qua gia đạo kẻ hiền lương hoặc bình thường, thì chúng ta nên ghé mắt
nhìn qua gia đạo những kẻ vì vô minh mà gây ác nghiệp... cho công bình.
Cậu Hai Luyện tuy trở thành phế nhơn nhưng không vì vậy mà trách trời oán đất
và giận ghét người đời. Hồi tưởng lại bao chặng đời dĩ vảng, cùng ngắm nhìn
thói tham lam tán ác của gia đình mình, cậu giựt mình kính sợ cho lẽ thiện ác
đáo đầu chung hữu báo, cho nên cậu ăn năn lung lắm. Cậu tìm kiếm cô Ba Hưởng,
giúp đỡ đứa con rơi của cậu ăn học. Cậu cũng tìm cô Hai Thiều, cất am cho cô ở
gần nhà tía má cô để cô có kẻ săn sóc. Cậu ăn chay trường, làm nhiều công quả
và Phật sự cho các chùa chiền. Cậu cộng tác với cô Thiệt Nuyện giúp đỡ trẻ mồ
côi, đóng góp tiền cho trường mù, cho nhà thương cùi ở cù lao Rồng, Mỹ Tho. Đều
đều cậu tụng kinh cầu siêu cho vong linh cha mẹ sớm thác sanh vào cõi An bang Tịnh
độ.
Hơn lúc nào hết, ba anh em cậu Hai Luyện sát cánh nương tựa nhau sau bao tai biến.
Trong năm đầu chịu tàn phế, cậu Hai Luyện có cho người dò la tin tức Bửu. Mãi tới
ba năm sau cậu mới nhận được tin tức về người em cùng cha khác mẹ kia. Bửu tu
hành trên núi Cô Tô, dưới mái hảo am của pháp sư Chơn Huệ, bên Điện kín, pháp
danh Thiệt Tánh. Trong thư viết cho cậu Hai, sư Thiệt Tánh cho biết năm tới sư
sẽ đi Anh Quốc để diễn thuyết tại các cơ sở và các trung tâm Phật giáo cùng với
Paul Carlson, một ký giả người Anh rất am tường Phật pháp.
Cậu Hai Luyện bảo hai cô Cẩm:
- Dòng họ mình chỉ có ba người đáng kể. Đó là pháp sư Chơn Huệ, anh Đốc học Hạnh
và sư Thiệt Tánh.
Cô Ba Cẩm Tú và cô Tư Cẩm Lệ nhìn nhau dửng dưng. Thiệt tình hai cô cũng sợ quả
báo, nhưng không vì lẽ đó mà họ thích chuyện tu tâm dưỡng tính, bởi nghiệp tham
dục của họ còn nặng lắm. Tuy thương yêu anh mình, sát cánh với đương sự để chống
chỏi với hoạn nạn tai ương, nhưng làm sao họ bỏ được chuyện làm giàu cùng thú
vui nhục dục! Năm nay cô Ba Cẩm Tú đã ba mươi lăm tuổi, còn cô Tư Cẩm Lệ đã ba
mươi bốn. Cô Ba chuyền từ tay ông Chánh tham biện Leblond qua ông Cò mi
Carrière khi ông Chánh tham biện về Pháp. Còn cô Tư ăn ở với ông Biện lý
Beauregard được bốn đứa con, đứa nào cũng chưa đầy ba tuổi là vong mạng.
Mỗi khi cấn thai, cô đi xin bùa phép trừ tà ếm quỉ để đứa con trong bụng cô
không phải là con ranh, nhưng làm sao cô cải được cái ác nghiệp hiện hành! Khi
đứa con thứ hai chết đi, trước khi chôn, cô thử lấy mực đỏ vẽ một vết nhỏ cỡ hột
đậu ở háng nó. Đứa con thứ ba vừa chui ra khỏi bụng mẹ đã có vết son đó. Rồi
khi đứa con thứ ba từ trần, cô vẽ thêm một chữ thập nhỏ bằng mực đen trên mông
nó. Thế là đứa con thứ tư chẳng những mang vết son ở háng mà còn mang chữ thập
đen trên mông. Rõ ràng đây là đứa con ranh đầu thai qua năm kiếp.
Đau đớn vì trải qua năm lần chửa đẻ con ranh con lộn nên lần có chửa thứ sáu,
cô Tư Cẩm Lệ đi phá thai trong căn nhà một mụ xẩm già có nhà đâu đít với trường
học Huê kiều, giáp với miễu Quốc công. Mụ dùng chiếc đũa sắt bọc dây thun ở đầu,
bôi lên đầu một chút dầu cho trơn rồi thọc sâu vào tử cung cô. Dây thun quấn
vào bào thai vừa tượng hình trong bụng mẹ, bị rút ra khỏi cơ thể của mẹ nó. Cuộc
phá thai không quá đau đớn như cô tưởng. Cô thầm mong rằng từ đây về sau, bởi
trận phá thai kia cô sẽ bặt luôn đường chửa đẻ. Nhưng hai ngày sau, trong cơn
chiêm bao cô thấy Cô Tư Thục hiện về, mắng:
- Đồ khốn nạn! Mầy tưởng đâu phá thai là hết chuyện sao! Thai nhi dù có chết đi
thì cũng kể như mầy đã sanh lần thứ sáu rồi vậy. Còn thêm ba lần sanh nữa là đủ
chín lần, đứa con ranh con lộn kia sẽ vật mầy chết tươi. Khi nó vừa ra đời là mầy
sẽ bị băng huyết sối xả, đố ai cứu được!!
Cô Tư Cẩm Lệ sầu não lắm, thường cùng chị thì thầm than thở rồi khóc sụt sùi. Cậu
Hai Luyện khuyên dứt cô em út:
- Nấu mầy sợ sanh đẻ thì cữ kiêng việc chung chạ với chồng. Mầy đã gây ác nghiệp
thì chi bằng lo tụng kinh sám hối, dứt chuyện tham dục, bình tĩnh mà trả quả.
Có lý đâu mầy cứ huê kia nguyệt nọ hà rầm, lo chạy áp phe chơn không bén đất. Mầy
cũng đã trải qua hai tên bạn chăn gối, thôi thì dứt hết nợ phong tình nguyệt
trái đi cho khỏe thân...
Và cậu quay qua trách cô Ba Cẩm Tú:
- Còn em, em đã dùng đủ mưu đen chước đỏ đẻ kiếm được người chồng thuộc hạng
thượng lưu trong xã hội, vậy mà em không chịu giữ vững hạnh phúc, để rồi giờ trở
thành thứ vợ ngày vợ bữa cho bọn ngoại kiều! Em cứ coi cặp chơn cụt của anh đây
mà hành xử sao cho khỏi vướng vào vòng tai kia họa nọ.
Cô Ba khóc lóc:
- Ai cũng muốn đẹp mặt nở mày chớ ai có muốn làm bia cho miệng đời chê cười sỉ
nhục đâu! Bởi em dại dột, nên giờ có muốn kiếm một ông chồng tử tế cũng như mò
kim đáy biển mà thôi!
Cô Tư Cẩm Lệ tuy đồng ý với anh mình, nhưng cô đang độ trẻ trung sung sức, lẽ
nào cô chịu cảnh cám treo để heo nhịn đói cho được! Bởi đó phá thai chưa trót
năm mà cô đã có chửa lần thứ bảy. Cô sợ quá, thỉnh kinh Từ Bi Thũy Sám và Lưng Hoàng
Sám Pháp về tụng ra rả.
Một sáng kia, cô Ba Cẩm Tú và cô Tư Cẩm Lệ, kẻ từ nhà ông Cò mi, người từ nhà
ông Biện lý, không hẹn mà cùng về Câu Đào để thăm anh. Bà Năm Đặng dọn lên bàn
bữa đểm tâm ê hề, nào bánh canh giò heo, nào bánh đúc tôm khô, nào cà phê sữa,
nào khoai luộc, bắp luộc.
Giũa lúc đó, một tăng sĩ mặt mũi thanh tú, dáng dấp oai nghi, từ ngoài cửa
thung dung bước vào. Ba anh em chưng hửng, ngờ ngợ là ai rồi. Tăng sĩ chiếu cặp
mắt sáng như sao nhìn họ, sang sảng bảo:
- Chắc anh chị không nhận ra em. Bửu đây mà. Bây giờ em là Đại đức Thiệt Tánh rồi.
Cậu Hai Luyện cảm động:
- Mừng thầy về thăm nhà sau tám năm tầm sư học đạo.
Cô Ba Cẩm Tú cảm xúc quá, vừa khóc vừa bệu bạo:
- Thầy ôi, gia đình mình tai nạn cứ tới dập dồn. Thầy về đây thăm nhà và ở chơi
được bao lâu?
Sư Thiệt Tánh nén xúc động:
- Em ở chơi được hai tháng. Anh ký giả Paul Carlson hiện đang ở bên Tịnh Liên
am với ông Đạo Chuối. Tuần tới ổng sẽ cùng em lên Sài gòn để lo giấy tờ và mua
vé tàu qua Hồng Kông, từ đó mới đáp tàu đi Luân Đôn.
Cô Tư Cẩm Lệ cũng giọt vắn giọt dài nhưng cô nén được ngọn trào lòng sớm hơn
anh và chị mình. Cô xuống bếp đốc thúc con Lài, con Lý dọn mâm chay cho Bửu.
Ông bà Năm Đặng và tôi tớ trong nhà cùng kéo ra chào sư Thiệt Tánh, mừng mừng tủi
tủi dạt dào.
Sư Thiệt Tánh nói:
- Em sẽ lập đàn cầu siêu cho ba, má lớn, má ruột của em cùng là những kẻ quen
biết có bài vị đặt tại Tịnh Liên am.
Đêm đó, quanh bàn tròn, bốn anh em kể lể đủ mọi chuyện tai biên trong gia đình.
Cô tư Cẩm Lệ than thở:
- Thầy ôi, cứ theo cái vèo nầy, tui đẻ thêm ba đứa nữa thì còn gi tánh mạng
tui? Xin thầy nghĩ tình chị em, cứu vớt tui với!
Sư Thiệt Tánh nhìn anh chị mình thong thả và êm ái bảo:
- Em về đây biết được anh chị có ý định cải ác tùng thiện thì điều đó còn quí
hơn là cảnh nhà con đàn cháu đống, tiền của dư muôn. Em sẻ giúp anh và hai chị
thoát khỏi tai họa rình rập để an lòng qui y Tam Bảo. Vậy anh Hai cần cầu siêu
thêm những ai, xin biên tên cho em. Người sống nào cần ban bùa tặng niệc, xin
cũng cho em biết luôn.
Khi tiễn sư Thiệt Hạnh ra ngủ ở nhà thủy tạ và cắt đặt thằng Đực túc trực để lo
cho sự xong, cậu Hai Luyện về buồn riêng, chong đèn ngồi nhìn bóng mình in trên
vách. Ngoài song cửa sổ đêm mùa hè oi bức và đen như nhuộm mực. Trên nền trời,
sao sáng hiện như rải gạo rắc tấm. Đêm ngoại ô chưa tới giữa canh hai mà bắt đầu
yên lặng. Bên hàng xóm có tiếng xay lúa rào rào. Ngoài xa nữa là tiếng giã gạo
cắc cum. Ngoài ra không có tiếng nào khác, họa chăng là tiếng dế rỉ rả khóc
sương.
Rồi vầng trăng hạ huyền méo xẹo như miệng con cá lưỡi trâu hiện lên phía trên mấy
ngọn cau hòn dừa lửa, in trên nền trời chàm đậm. Ngọn đèn lạnh ở trong này,
bóng tà nguyệt ngoài kia làm cho tâm trí cậu Hai Luyện bát ngát bao cảm khái về
cuộc đồi dâu bể, về thế sự mị thường.
Khi Sáu Tốt gở các lá bùa trấn ếm xong, thần Hắc Giao đại vương vào buổi chiều
hôm sau, nổi cơn lốc lớn, xoáy một vực không khí lớn cỡ cái gò đất kéo từ vàm rạch
tạt qua nhà ông Hương sư Chiêm, cuốn hết nóc nhà, rui kèo. Con lốc kéo dài 3
phút, cũng đủ cho lối xóm thấy trên thinh không, chỗ con lốc đương lộng hành, một
con sấu đen bay lượn, miệng há tác hoác, đuôi vùng vẫy đùng đùng như sấm nổ.
Khi con lốc ngưng thì ngôi nhà hương hỏa một căn hai chái của ông Hương sư
Chiêm sụp đỗ tan hoang, còn ông bị cây đè nằm chết nhăn răng.
Riêng thầy Mười Khói, một đêm nọ thầy nằm chiêm bao thấy một con quỉ cụt đầu, một
tay bưng thủ cấp, một tay chỉ vào mặt thầy hét lớn:
- Mầy dùng bùa trấn ếm tao. Để rồi mầy coi, con cháu tao sẽ báo thù thay cho
tao!
Tỉnh dậy thầy kinh sợ lắm, lền cùng đứa con chèo ghe lườn từ sông Long Hồ ra
sông Cổ Chiên để đi Mỹ An. Thầy tính phen nầy sẽ dùng thứ bùa mạnh hơn để trấn ếm
thần sấu đen kia. Khi ghe gần đến An Hương thì thầy thấy có khúc cây vỏ xủ xì
xám mốc nổi lập lờ bên hông ghe. Thầy liền ngưng chèo, thò tay toan vớt. Ai dè
đó là con sấu. Nó lẹ như chớp, quãy đuôi há miệng táp cụt hai bàn tay thầy. Máu
ra quá nhiều nên giữa đường, thầy trút linh hồn.
Chú Bảy Bảnh từ khi thiên cư về Mỹ An thì được sự chiều chuộng ngọt bùi. Năm
sau chú bị bịnh bạo, được vợ săn sóc châu đáo cho tới ngày từ trần. Thím Bảy có
lên Cầu Đào thăm cậu Hai Luyện, yêu cầu cậu nối lại duyên xưa nhưng cậu dùng lời
trong kinh kệ để cảm hóa thím, được thím nghe lời, tìm đến am Huệ Tịnh làm kẻ
trợ tu cho sư cô Diệu Trí.
Cô Ba Hưởng từ khi lấy chồng khách trú thì được chồng cưng lắm. Cô sanh cho chồng
hai trai ba gái. Còn thằng con đầu lòng của cô, cũng là con cậu Hai Luyện, vẫn
được tía ghẻ nó coi như trưởng nam. Anh chàng khách trú về sau thấy cậu Hai
thành tâm cải hối nên cho đứa nhỏ tới lui với cậu, làm cho cậu được an ủi nhiều.
Thịnh, tên đứa nhỏ, tỏ ra hiếu hạnh với cha ruột lẫn cha nuôi, nên lối xóm khen
ngợi lắm.
Hai đứa con ông Mười Hai là cậu Hai Thanh và cô Ba Hồng về sau ăn nên làm ra,
có gia đình hạnh phúc. Cả hai vâng lời mẹ, tìm kiếm những cô gái trước kia bị
bà Mười Hai dụ dỗ làm nghề buôn hương bán phấn, giúp họ làm lại cuộc đời. Đó
cũng là cách báo hiếu để ác nghiệp của đấng sinh thành ra họ mỗi ngày một mỏng,
và phúc quả của họ càng lúc càng tròn đầy.
Cai tuần Xướng, thằng Yêm, thằng Xiêm, thằng Đực, con Lý, con Lài vẫn ở với cậu
Hai, được cậu trả công xứng đáng. Vợ Cai tuần Xướng qua đời, anh xin cưới con
Lài. Thằng Đực thì cưới con Lý. Thằng Yêm và thằng Xiêm vì mê cậu Hai thuyết
pháp nên xin cùng tu với cậu, không chịu cưới vợ để bận bịu tấm thân.
Ông bà Năm Đặng từ khi thấy cậu Hai bị tai nạn thì lòng tràn ngập thương xót. Rồi
khi thấy cậu Hai tu hành tinh tấn, họ noi gương thằng Xiêm, thằng Đực, sanh
lòng mộ đạo nên không chịu nuôi thứ cá bằng máu kinh nguyệt cho hai cô Cẩm nữa.
Họ cũng không ăn cắp tiền bạc của cháu mình mà còn để dành, giúp đỡ người cùng
khó.
Còn hai chị em cô Bảy Cẩm Thạch thì sao? Dù có thương cậu Hai Luyện cách mấy,
cô Bảy vẫn không thể vì đó mà hy sinh làm vợ hay làm người tình cậu được. Cho
nên năm sau cô kết hôn với thầy thông ngôn Lương Phùng Xuân hóa vợ mà không
con. Cô sanh cho thầy một con trai kháu khỉnh. Niềm vui duyên mới cùng tấm tình
chơn thật của chồng đã giúp cô bứng hết gốc rể kỷ niệm những ngày tò tí với cậu
Hai. Còn cô Tám Cẩm Vân thì làm bé ông Quận Dần.
Ngồi ôn qua bao nhiêu chuyện của những người trong tỉnh lỵ nầy, cậu Hai nhớ lại
thầy kiện Trần Hảo Hiệp. Thầy ta đã tái hôn với cô Hai Tú Trinh, đã cho hai cô
gái lớn xuất dương du học bên Pháp, nhưng cô Hai cứ son sẻ hoài, không chịu đẻ
cho thầy một cậu con trai để nối dõi tôn đường. Nghe nói cô Hai hiền quá hóa ra
trơ, không biết thủ đoạn nào để nịch ái chồng nên thầy mèo mỡ tùm lum.
Riêng vợ chồng Cai tuần Hạp đi tha phương cầu thực ở Bạc Liêu vậy mà nhờ đất lạ
đãi người dưng, họ thoát khỏi cảnh eo nghèo ót ngọt, lìa phận tá điền tá thổ để
làm chủ tám chục mẫu đất. Cai tuần Hạp dùng tiền mua chức gương thân. Chị vợ
khéo tay làm thêm đủ thứ mắm, thứ khô để đếm cho các ghe thương hồ nên kiếm được
khá tiền. Họ vẫn còn nhớ ơn cô Thiệt Nguyện nên thường viết thơ hỏi thăm cô.
Hôm được tin cô sanh con trai, họ lặn lội về Vĩnh Long để dự tiệc ăn mừng. Họ
còn mừng cho mẹ con cô Thiệt Nguyện chiếc khánh vàng và cho riêng đứa nhỏ chiếc
lắc vàng cỡ nửa lượng để khi lớn sẽ đeo.
Cái thành tâm tu hành của cậu Hai Luyện lẩm rẩm vậy mà chinh phục được nhiều
người. Cô Bảy Cẩm Thạch và cô Tám Cẩm Vân thường đến thăm cậu, hỏi ý kiến cậu
lúc hai cô gặp chuyện trặc trẹo nan giải. Cô Thiệt Nguyện cũng thường đàm đạo với
cậu trong những công việc trùng tu chùa am trong vùng hay đúc chuông, tạc tượng,
in kinh.
x
x x
Sư Thiệt Tánh có đưa ký giả Paul Carlson lại thăm anh mình. Anh ta độ bốn mươi
ngoài, mặt mũi khôi ngô hiền hậu, thái độ điềm đạm, cử chỉ thong dong. Paul nói
được tiếng Pháp nên có thể đàm đạo với cậu Hai Luyện về Phật pháp, về đất nước
Hậu Giang, về vùng Năm Non Bảy Núi, và nhứt là về các ông đạo gốc giáo phái Bửu
Sơn Kỳ Hương hay gốc Hòa Hảo tu theo Mật Tông.
Paul Carlson bảo:
- Con sông Vàm Cỏ ở miền đông và con sông Cửu Long chảy qua miền tây xứ Nam kỳ
là hai con sông thiêng. Nhánh Vòm Cỏ Đông và Vàm Cỏ Tây chảy tới đâu thì đạo
Cao Đài lưu hành tơi đó. Rất đỗi một con kinh ráp vào nhánh Vàm Cỏ Tây là kinh
Bà Bèo khi đâm qua vùng Cai Lậy thuộc tỉnh Mỹ Tho mà cũng có giáo dân Cao Đài
cư ngụ. Còn sông Cửu Long bắt nguồn từ dãy Tuyết Sơn thuộc Tây Tạng nên hai bên
lưu vực nó có biết bao tu sĩ tu theo Mật Tông. Khi sông chảy qua Miến Điện, Lào
Cao Miên, khí thiêng mang từ nguồn không phát tác, không hiện hành. Phải đợi
khi nó chảy qua vùng Năm Non Bảy Núi, khí thiêng nó mới hiện hành bành trướng.
Tôi tu ở Tây Tạng bốn năm, thầy tôi là một vị lạt ma áo đỏ. Khi ông viên tịch
có dặn tôi đi hành đạo theo sông Cửu Long về vùng Thất Sơn và sẽ gặp người điểm
đạo cho tôi. Từ nguồn men theo sông ra cửa biển, tôi tốn mất mười năm để rồi
sau hết gặp pháp sư Chơn Huệ. Ông là vị thầy thứ hai của tôi, truyền ấn chứng
và pháp môn cho tôi. Tôi có pháp danh là Thiệt pháp.
Sư Thiệt Tánh nói với cậu Hai Luyện:
- Gần ngày rằm tháng bảy, em sẽ cho lập đàn tràng ở Tịnh Liên Am để cầu siêu
cho người chết và cầu an cho người sống. Xin anh Hai hiệp cùng cô Thiệt Nguyện
lo giùm cho.
Sư đi viếng mộ cô Hai Kim. Trước đây bốn năm. cậu Hai Luyện đã bốc mộ và cải
táng cô trong cuộc đất của dòng họ cậu. Sư thắp nhang cho mộ mẹ, mộ cha và mộ
bà đích mẫu, nước mắt đoanh tròng, nhớ lại tuổi thơ mà nếu chép lại chắc phải
dùng nước mắt pha mực mới nói hết tinh ý. Sư cũng đi viếng bà con họ hàng, dùng
chánh pháp để khuyên họ ăn hiền ở lành. Sau đó sư cùng ký giả Paul Carlson đi
Sài gòn lo giấy tờ.
Khi trở về Vĩnh Long, sư Thiệt Tánh bảo anh mình lập một bàn hương án chưng ngũ
hoa ngũ quả và thắp đèn bảy ngọn. Sư cũng bảo hai cô Cẩm tắm rửa sạch sẽ, tụng
cho xong hai bộ kinh Lương Hoàng Sám và Từ Bi Thủy Sám cùng chú tâm phát nguyện.
Cô Ba Cẩm Tú khấn vái:
- Lạy thập phương chư Phật. Xin phù hộ cho con thành tâm mến đạo, chí thành tìm
về ánh đạo vàng. Con sẽ đem tiền của giúp đỡ kẻ cô thế, lo làm Phật sự, săn sóc
anh con cho tới ngày anh nhắm mắt từ biệt cõi đời.
Cô Tư Cẩm Lệ cũng nguyện:
- Lạy thập phương chư Phật, lạy chư Bồ tát, lạy chư hiền thánh tăng, cho con đủ
sức kham nhẫn trả ác quả. Xin Đức Quan Thế Âm Bồ tát ban cho con tấm lòng vô
úy, con sẽ tu tại gia.
Hôm sau nữa, sư Thiệt Tánh đặt lên hương án tấm kiếng mà sư đã chú nguyện 108
biến Chuẩn Đề Phật Mẫu Đà La Ni bên cạnh hai chén nước mưa. Sư thắp nhang rồi bảo
hai chị em mình quì trước bàn thờ. Sư đọc thần chú Mật Tông một hồi rồi bảo mỗi
người bưng một chén nước uống cạn.
Cô Ba Cẩm Tú sau đó cảm thấy ruột gan mình như được gọt rửa Những tham dục
trong cuộc sống dật lạc như lắng xuống dần. Cùng với ý hướng hoàn lương đang
manh nha, chén nước như giúp có thần lực làm lại cuộc đới sau mọi đổ vỡ. Ngày
xưa khi còn học ở trường Áo Tím, cô cũng đã từng suy nghĩ về huyền hoại một con
phụng hoàng tái sanh từ tro than của hài cốt nó. bây giờ, nhờ tha lực của thần
chú Mật Tông, cô cảm thấy mình sẵn sàng làm theo thiên lương với niềm phấn khởi
kỳ diệu. Thì đó, hai hôm sau, cò mi Maurice Carrière cho cô biết hắn sẽ đổi lên
Hà Tiên. Vậy mà cô vẫn dửng dưng khi thấy hắn không rủ cô theo, không cảm thấy
hờn giận tủi thân trước thói ăn ở bạc bẽo của hắn.
Cô Tư Cẩm Lệ cũng vậy. Chén nước đã làm ngọn lửa thân xác cô tắt rụi. Cô chợt
thấy hơn lúc nào hết. cuộc sống thế tục đầy bon chen sao mà vô nghĩa quá. Đồng
thời sự hướng thượng bừng sáng mạnh mẽ trong cõi tâm linh cô. Tuần lễ sau, cô cảm
thấy đau bụng. Từ cửa mình cô, huyết từng cục, từng lọng thoát ra làm cái bụng
chửa bảy tháng của cô xẹp hẳn đi. Lấy làm lạ, cô hỏi sư Thiệt Tánh.
- Bộ thầy trộn thuốc phá thai trong chén nước hay sao? Bây giờ cái thai hóa huyết
chui ra, vậy kể như tui đã sanh lần thứ bảy rồi.
Sư Thiệt Tánh mĩm cười:
- Làm gì có chuyện sát nhơn đó! Thai của chị là quái thai. Em đã đọc thần chú
khuyến dứt nó thoát khỏi vòng oan oan tương báo. Em chỉ hỏi gặng nó, nếu nó bằng
lòng làm con chị thì để cho chị sanh nó bình thường và nuôi nó tới ngày khôn lớn.
Còn nếu nó không chịu thì nên hóa huyết mà chui ra ngoài và vĩnh viễn không
theo chị báo oán nữa. Việc hóa huyết là do nó chọn lựa đó thôi.
Lật bật mà ngày rằm đã tới. Cô Thiệt Nguyện, ông Đốc Hạnh, sư cô Diệu Trí, hiệp
với ông Hương cả Hành lập đàn tràng, tổ chức lễ Vu Lan trọng thể tại Tịnh Liên
am. Vợ chồng ông Đốc Hạnh, vợ chồng ông Huyện Khải từ Tiểu Cần sang, vợ chồng
ông Bác vật Cảnh từ Sài gòn về. Bác sĩ Lê Thạnh Mẫu bỏ ra một số tiền lớn để
nhà trù dọn tiệc chay đãi thiện nam tín nữ đến dưng hương. Các bà các cô bận rộn
lo việc bánh trái, cỗ bàn túi bụi.
Chiều ngày mười bốn là lễ tụng kinh Vu Lan và kinh Địa Tạng. Tối đến là lễ huê
đang. Thiện nam tín nữ đi dưng hương thả xuống rạch quanh am những búp đèn hoa
sen. Sáng ngày rằm, lễ phóng sanh chim cá, lễ tụng kinh cầu an và kinh cầu siêu
bắt đầu. Sau đó là lễ thí thực. Dùng cơm trưa xong, các Phật tử dự buổi thuyết
pháp do sư Thiệt Tánh đảm nhiệm.
Tới ba giờ chiều, mọi lễ lạc chấm dứt. Các Phật tử lần lượt ra về. Sư Thiệt
Tánh mời anh và hai chị em mình ở lại am đêm nay để xem chuyện lạ.
Khoảng 5 giở chiều, trai tráng thu dọn đàn tràng xong xuôi, ai về nhà nấy. Các
bà các cô rửa chén dĩa nồi niêu và lau chùi căn bếp xong cũng rút lui hết. Cô
Ba Cẩm Tú nấu một nồi cháo chay để mọi người giải lao. Trong am giờ đây chỉ còn
ông bà Hương cả Hành, ông Đạo Chuối, sự Thiệt Pháp, sự Thiệt Tánh cùng anh em cậu
Hai Luyện. Sư Thiệt Tánh lại đặt bàn hương án ở giữa am, bày hương đăng trà quả.
Sau đó sư bước vào trung đường bảo mọi người:
- Hôm nay tôi sẽ cùng sư Thiệt Pháp triệu thỉnh những vong hồn có bài vị thờ tại
am về đây luận việc tội phước báo ứng cùng việc nhơn quả trả vay. Xin quí vị chớ
có kinh hãi khi thấy điều lạ.
Rồi đó sư Thiệt Pháp và sư Thiệt Tánh bắt đầu làm lễ chiêu hồn, triệu thỉnh âm
binh. Trên nền trời màu xanh nước biển, trăng tròn và sáng vàng vặc. Trong
khuôn viên của am, bốn bề quạnh quẽ, tàn cây, khóm chuối tô những khối bóng bí
mật trong biển trăng. Gió lúc đầu reo từng đợt phơi phới. Nhưng rồi câu thần
chú, lời kinh, tiếng hú đầy âm vang rờn tợn làm cho ánh trăng trở nên lạnh lẽo,
tiếng gió hóa ra thê thiết và cảnh vật chung quanh như huyền ảo và rờn rợn bóng
âm hồn...
Khi cuộc chiêu hồn chấm dứt, nhị vị pháp sư trở về bàn tròn với mọi người. Ông
Đạo Chuối tắt ngọn đèn măng- sông trong chánh điện, rồi cùng mọi người chong mắt
ngó ra sân, chỗ đạt bàn hương án.
Một trận gió tanh nồng mùi máu thổi tới, một người mặc áo đen cụt đầu, tay xách
thủ cấp mình, hổn hển nói:
- Tôi là thần Hắc Giao đại vương. Bởi ông Kinh lý Luyện tham vàng nên tôi bị cụt
đầu. Nay nhờ nhị vị pháp sư cầu siêu nên tôi sẽ được đầu thai làm con Nam Hải
Long Vương.
Ông ta ráp đầu vào cổ rồi biến đi. Một người đàn bòa mặc áo trắng, mặt mày xanh
chành, theo gió hiện đến, bảo:
- Tui là Đỗ thị Thoại Huê, vì uống lầm thuốc phá thai của ba người con ông Bang
biện Hưỡn mà vong mạng. Nhờ pháp sư Thiệt Tánh khuyên dứt nên tui dẹp bỏ oán
thù, sẽ theo đức Thiên Hậu chùa Minh Hương cứu nhơn độ thế để mai sau thác sanh
vào cảnh giới tốt lành.
Hình bóng chị mờ dần để thay vào là một người đờn bà trạc ba mươi tuổi, dáng dấp
yêu kiều. Bà ta thở khò khè một cách khó nhọc:
- Tui tên Nguyễn Trinh Thục, con gái ông Huyện Tịnh ở Phú Nhuận. Chồng tôi là
thầy kiện Trần Hảo Hiệp. Bởi con vợ bé của chồng tui là con Tư Cẩm Lệ ghen ngược,
mướn Thạch Lọn thu da trâu vô bụng tui nên tui chết tức tưởi. Suốt tám năm nay
tui a tòng với đứa ma ranh báo oán nó. May nhờ có nhị vị pháp sư soi rõ, tui mới
vỡ lẽ rằng hồi kiếp trước tui đã ác độc dùng bột tì sương đầu độc con Tư nên kiếp
này nó hại mạng tui để báo thù. Vậy để chấm dứt chuyện oan oan tương báo, tui
xin tìm nẻo đầu thai, chớ làm oan hồn thì thường chịu đói khát, lãnh lẽo.
Hồn cô Tư Thục vừa biến mất thì gió lốc nổi lên, một áng sương như khói đặc thoảng
qua mang theo tiếng khóc tỉ tê. Rồi khi sương tan thì một cặp vợ chồng trung
niên hiện ra. Ông chồng nói:
- Tui là Bang biện Vương Văn Hưỡn, vợ tui là Trịnh Thị Thiệt. Bởi vợ chồng tui
ăn ở ác đức nên bị sa địa ngục, chịu khổ hình qua một tiểu kiếp rồi mới đi đầu
thai được. May nhờ có thằng con trưởng tui cải tà qui chánh, thường tụng kinh
Vu Lam và kinh Địa Tạng cho cha mẹ nó. Lại nữa thằng con út tôi xuất gia, thường
tụng thần chú Mật Tông cho vợ chồng tui nên nghiệp ác của tụi tui tiêu bớt khá
nhiều. Tụi tui chỉ phải chịu khổ hình chừng 5 năm nữa rồi sẽ được đầu thai.
Ông bà Bang biện Hưỡn biến mất. Trăng sáng vằng vặc bỗng chiếu xuống sân một luồng
như dải lụa bạch. Một người đàn bà mặc áo trắng, sắc diện phúc hậu đoan trang
hiện ra, kể lể:
- Tui là Phùng thị Kim, nàng hầu ông Bang biện Hưỡn và là mẹ của pháp sư Thiệt
Tánh. Sau khi phù hộ con tui lên núi Cô Tô tu hành, đáng lẽ tui được đầu thai
vào gia đình lương thiện, nhưng đức Cứu Thiên Huyền Nữ cảm thương thói nhẫn nhục
của tui, cho tui làm thị nữ hầu hạ ngài để rồi kiếp sau tôi sẽ thác sanh vào quốc
độ tốt lành hơn cõi uế độ hồng trần nầy.
Luồng sáng mờ dần để từ bóng tối bước ra một người đàn ông mặt thỏn, râu ngạnh
trê. Đương sự khai:
- Tui tên Bùi Văn Khói tức Mười Khói, chuyên làm bùa chú. Bởi tôi ếm trấn Hắc
Giao Đại Vương nên ổng sai con sấu ở sông Cổ Chiên táp cụt tay tui khiến tui mất
máu chết. Hồn tui không thể đi đầu thai được mà phải luẩn quẩn theo phò con sấu
đó. May nhờ nhị vị pháp sư lập đàn giải oan nên đêm nay tui sẽ tới quán cháo lú
của Mạnh Bà bên cầu Nại Hà ăn cháo xong mới đi đầu thai.
Thầy Mười Khói vừa biên mất thì một luồng gió tanh tưởi thổi đến. Mặt trăng bị
cụm mây đen án ngữ nên cảnh vật tối sầm lại. Khi cụm mây trôi đi thì một người
mập mạp, mình mây ướt sũng hiện ra, nói:
- Tui là con cá nược đực thành tinh, thường gây chứng bịnh mắc đàng dưới cho
các bà các cô bên lưu vực sông Bà Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên, trong
đó có cô Út Ngọc An nữa. Vì ông bà Chín thỉnh ông Đạo Chuối và cô Thiệt Nguyện
tụng kinh Dược Sư nên tui bị các tướng Dược Xoa đánh đuổi rồi bị Nam Hải Long
Vương đánh chết, hồn sa vào địa ngục A Tì.. May nhờ tui đã từng cứu vớt ông Đạo
Chuối và sư Thiệt Tánh hồi kiếp trước khỏi chết chìm trên sông nước nên họ tụng
kinh cho tui thường xuyên. Giờ tui đã thoát khỏi địa ngục A Tỳ chỉ còn ở ngục
phanh thây chừng mười năm nữa sẽ được đi đầu thai.
Hồn con thủy quái biến đi thì một người đàn ông ở trần, tay và ngực đầy lông lá
khét nghẹt hiện đến, buồn rầu nói:
- Tui là con chó ngao thành tinh, đêm đêm lén vô phòng cưỡng dâm bà Bành Thị Mười
Hai, nhưng rồi bị ông Đạo Chuối đào mả khiến tui phải chết luôn. Hồn tui bị đọa
địa ngục phân dơ, đàm nhớt tanh hôi. May nhờ được nghe kinh nên tui đã thoát khỏi
địa ngục, sẽ đầu thai làm chó nhà nghèo hai kiếp, kiếp thứ ba làm chó nhà giàu
cho sung sướng tấm thân.
Gió càng lúc càng mạnh, cuốn lá vàng trên sân lào xào, xua tan mùi hôi hám,
tánh tưởi của các thú vật thành tinh kia đi. Trăng đã ngả về tây, sáng long
lanh ánh nước. Rồi một cụm tường vân đẹp như ren thêu ôm quanh mặt trăng. Một
mùi hương lạ sực nức khắp khuôn viên am. Một mỹ nhân áo trắng vàng đeo ngọc khảm
chấp chới, hương xông xạ ướp ngạt ngào, tay cầm bình ngọc xanh hiện ra:
- Tui trước kia là con tinh cây cẩm lai, có làm một vài việc thiện nên tui được
thác sanh lên cõi trời Tứ Thiên Vương làm cây quỳnh trổ bông ngũ sắc cho chư
tiên cúng Phật. Giờ, tui hiện về đây để chúc mừng các con ông Bang biện Hưỡn đã
quyết tâm phá mê trừ khổ.
Mỹ nhơn kê miệng vào bình ngọc uống một ngụm nước rồi phun thành một áng sương
thơm mát càng lúc càng tỏa rộng. Khi sương tan thì đương sự cũng biến mất. Trên
không trung văng vẳng tiếng nói trong trẻo và vang lộng như chuông ngân:
- Ngày mai các huê kiểng trong khuôn viên này sẽ thạnh phóng, báo hiệu Phật
pháp nơi vùng đất Vãng được lưu hành xa rộng dài lâu.
Khi tiếng nói im thì pháp sư Thiệt Tánh hỏi vọng ra:
- Còn ai nữa không? Xin mời ra hội kiến!
Một giọng nói non ớt trổi lên:
- Có tui đây!
Một đứa nhỏ cỡ bốn, năm tuổi hiện ra, nhìn về phía cô Tư Cẩm Lệ:
- Có một kiếp nọ tui là con cô Tư đây. Tía tui vừa chết, cổ tái giá với một tên
hào phú kia. Ga này không thích vợ có con riêng nên cô Tư trấn nước cho tui chết.
Bởi đó nên tui theo báo oán cổ hoài. Giờ đây, cô Tư đã quyết tâm cải tà qui
chánh nên tui cởi bỏ oán hận, hóa huyết chui ra, kết thúc mối thù truyền kiếp
cho xong.
Nói xong đứa trẻ vói tay cười khanh khách rồi biến mất. Lúc đó gà trong xóm bắt
đầu lác đát gáy hiệp nhứt. Trên trời sao sáng vẫn nhấp nháy. Mặt trăng sáng quạnh
hiu treo lơ lửng ở phương tây. Mùi bông lài vẫn thơm sực nức bên thềm.
Bỗng một cặp vợ chồng tuổi trạc ba mươi ngoài, dắt một đứa nhỏ cỡ mười tuổi, mặt
mày tươi rói. Người chồng bảo:
- Tụi tui là gia đình người thợ rèn ở gần Cầu Lầu bị sét đánh chết. Bởi tui có
làm chút ơn với sư Thiệt Tánh nên sư thường giải kinh Thập Nhị Nhơn Duyên cho tụi
tui nghe, giờ tụi tui sắp thác sanh lên cung trời Đao Lợi để hưởng ngũ dục cùng
dân quốc độ ấy.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét