Gả thiếp về vườn 2
QUÊ CHỒNG CHỢ TỈNH
Câu chuyện này xảy ra vào thập niên 30.
Cô Hai Phụng là gái miệt vườn. Tía cô là ông hương cúng Nguyễn văn Bàu ở xóm
Ðình, làng An Hương, cách tỉnh Vĩnh Long lối 12 cây số. Thiệt tình cái chức
hương cúng trong làng chẳng lấy gì làm vinh dự, bởi nó không được phần trong
ban hương chức hội tề. Hương cúng chỉ lo việc cúng giỗ các sắc thần trong đình
làng. Hễ vào lễ kỳ yên hoặc lễ tế thần thì ông hương cúng Bàu lo việc mua heo,
mổ heo cùng việc cắt đặt dân làng nấu nướng cỗ cúng.
Cô Hai Phụng lớn lên trong căn nhà mái lợp ngói bắc cầu do ông bà nội cô để lại.
Mẹ cô, bà hương cúng Bàu mở gian hàng xén bán gạo củi, nước mắm, dầu lửa, bánh
kẹo, kim chỉ... cho dân làng. Còn cô làm nghề hàng xáo, mua lúa về xay, giã
thành gạo trắng cho cha đem ra chợ tỉnh bán nên gia đình cô tương đối sung túc.
Cô Hai Phụng vóc mình dong dỏng, nước da ngăm đen nhưng tóc cô mềm và nhuyễn, dợn
sóng trước trán, mắt cô ướt rượt, nụ cười cô có duyên phô hàm răng trắng muốt
như hột dưa leo. Cô mặn mòi xinh đẹp lắm. Hễ cô liếc tên trai làng nào thì tên
đó bủn rủn mới có một, nhưng khi cô cười thì hắn bàng hoàng tới mười. Ý là cô
chỉ mới biết đọc biết viết, cô lại không biết đọc tiểu thuyết, không mấy khi được
coi hát bội, hát cải lương, nhưng cách nói chuyện của cô vừa nhõng nhẽo vừa mơn
trớn làm tự ái đờn ông được vuốt ve. Rốt cuộc hắn sương rên cả người, hồn phách
tâm trí hắn bị cô hớp hết vô cái miệng xạo đía của cô.
Nạn nhơn số một của cô Hai Phụng là thầy giáo Thưởng dạy lớp ba trường làng. Bà
hương cúng mừng thầm trong bụng, đợi từng ngày thầy tới nhà bà xin làm đám hỏi.
Bà bắt cô Ba Loan, em kế cô Hai Phụng và thằng Năm Bé là cháu kêu bà bằng cô lo
việc xay lúa giã gạo. Bà không ngại tốn kém sắm cho cô trưởng nữ của mình quần
sa-teng tây, quần xá xị, quần lãnh, áo hàng cẩm nhung, cẩm vân rồi để cô đứng
coi hàng, bán quán. Từ đó, cô Hai Phụng tối ngày diện quần áo đẹp, chơn đi guốc
sơn đen quai vẽ bông xanh đỏ, tóc xức dầu bông lài láng mướt, tai đeo bông cẩm
thạch, cườm tay đeo đôi vòng đồng chạm bánh ú.
Cô Năm Hảo, con ông hương quản Kiểm, một đối thủ của cô Hai Phụng, cứ theo dõi
sự thay đổi của cô Hai rồi nhún trề, nguýt háy với mẹ:
- Má coi đó, con Hai Phụng mà bận quần áo tốt thì áo đi đàng áo, người đi đàng
người! Nước da đen hù của nó hoạ may có ông trời từ thiên đình xuống chế
xà-bông mới có thể giúp con đó tắm cho trắng da, sáng rỡ mặt mày.
Bà hương quản Kiểm nhìn con gái, lòng buồn bực. Nước da cô Năm Hảo mởn hơn nước
da cô Hai Phụng nhiều. Ngặt nổi cô bán hàng trên sông rạch, quanh năm bơi xuồng
dưới trời nắng chang chang nên khó có cơ hội để trắng. Cô Năm lại không biết ăn
nói, tối ngày cứ lầm lì, im ỉm, mà hễ cô cất tiếng thì giọng nói lúc rổn rảng,
khi rít róng. Tuy nhiên cô Năm Hảo có nhiều nét thanh tú trên khuôn mặt, vóc
mình.
Nhưng ở đời ai mà học được chữ ngờ, nhứt là dân Xóm Ðình. Ðang lúc thày giáo
Thưởng ve vãn cô Hai Phụng và cô Hai Phụng trổ hết màu mè ra mê hoặc thầy thì
đùng một cái, một chàng trai trên tỉnh xưống tận Xóm Ðình coi mắt cô Năm Hảo.
Cuộc hôn nhơn của cô Năm tiến hành rùm rụp, xuôi chèo mát mái ngon lành. Ðám hỏi
tổ chức vào tháng năm âm lịch và sẽ rước dâu vào tháng bảy cùng năm. Nghe nói
chú rể tên Luông, làm tới chức đội lính khố đỏ, năm đó ba mươi tuổi ngoài, lớn
hơn cô Năm 14 tuổi nhưng mặt mũi thẩy khôi ngô, vóc dáng điệu bộ thiệt đáng bực
hảo hớn.
Cô Hai Phụng cay đắng bảo mẹ:
- Thằng chồng con Năm Hảo đã trải qua hai đời vợ rồi đó! Ai mà ngó y ta cũng biết
y ta có tướng sát thê. Con đương thèm chịu thứ chồng lớn hơn mình năm sáu tuổi,
đàng nầy cái tên khố đỏ đó lớn hơn con Năm tới 14 tuổi, già ngắt, cứ coi tác,
ai cũng nói hắn đáng làm chú, làm tía con Năm.
Giọng mềm mỏng ngọt ngào của cô Hai Phụng không còn nữa. Sự ghen tị, thù hằn đã
biến giọng của cô thành giọng cô Năm Hảo.
Tối hôm đó, thừa lúc bà hương cúng Bàu lui cui nướng bánh lá dứa trên mẻ lửa
than cháy đỏ, cô Hai Phụng lén lấy thẻ nhang huyền đàn, chiếc hộp quẹt và cây hồng
lạp rồi men theo con đường viền câu mãng cầu dai, cây ổi cửu ngoạt, cây lựu bạch,
lựu hường đưa tới miễu thổ địa ở cuối vườn. Trời nổi gíó lao xao, đêm giăng màn
nhung đen khắp bốn phương tám hướng. Vì gió nên khi cô bật hộp quẹt máy để thắp
đèn nhang thì ngọn lửa cứ bị dập tắt hoài. Cô đành mò ba cục đất sắp trước miễu,
vái:
- Lạy thổ địa, xin ngài chứng cho lời cầu xin của con. Xin ngài xui thầy giáo
Thưởng mê lậm mê lú con, dỗ ngọt dỗ mặn tía má thẩy cầm trầu cau đi cưới con
cho thẩy. Bấy lâu nay con lỡ lên mặt với con Năm Hảo vì con rù quến được một thầy
giáo gốc tỉnh thành. Nay, bỗng dưng nó được kẻ miệt chợ đi coi mắt nên nó dúc dắc
với con. Con mà không lấy được thầy giáo Thưởng chắc con đội quần thiên hạ. Con
kính trọng thờ phượng ngài, xin ngài đừng để cho con đội quần trong khi nó đội
khăn the màu hường, khăn lụa màu hột gà, đội nón gò găng, che dù lụa tía. Con
mà lấy được thầy giáo Thưởng, con sẽ tu bổ miễu của ngài, mua ngói Cần Thơ về lợp
mái, mua vôi trộn a dao quét tường, mỗi ngày con thắp nhang bạch đàn, nhang trầm
hương thơm phức, còn thứ nhang huyền đàn lạt nhách kia con chỉ dành đốt cho thần
tài, ông địa thờ trong nhà...
Khi cô Hai Phụng vô nhà thì con Chín Kim anh, con chú hương kiểm Bạch có nhà
bên kia cầu lót ván qua chơi. Con nầy cũng trắng trẻo nhưng mặt lanh lợi, miệng
thọp thẹp nói không lành da non. Ban ngày nó ăn mặc xập xệ để làm công chuyện
nhà và lo săn sóc gà heo. Chiều chiều nó ưa bận quần vải xiêm đen, áo vải in
bông rồi đứng bẹo hình bẹo dạng bên cầu để mấy chàng trai thương hồ chở đồ gốm,
chở lúa trẩy ngang qua. Ðôi lúc nó còn hát vài câu huê tình, giọng lảnh lót.
Vừa thấy cô Hai Phụng, Chín Kim Anh tía lia liền:
- Chèn ơi, thầy đội Luông bảnh trai quá xá. Ai cũng khen mắt thẩy tình tứ như mắt
kép Bửu Ngọc của gánh Rương Vàng. Ai cũng trầm trồ cái miệng thẩy có duyên như
miệng kép Minh Châu của gánh Bầu Ðen. Uổng quá, chị bị máu xâm nên không đi dự
đám hỏi. Ðàng trai đem vòng vàng đỏ au, hột xoàn chớp lia chớp lịa làm sính lễ.
Chị Năm Hảo bưng trà ra chào khách thì bận chiếc áo lụa Duy Xuyên màu huỳnh
anh, đeo bông mù u, neo quai chảo, kiềng chạm, cà rá cửu khúc liên huờn, vòng
bát bửu...Chèn ơi, chỉ coi xinh tốt như tiên giáng thế. Hai bác hương Kiểm đãi
đàng trai món nem cá cơm, món mắm cá linh ăn với thịt phay, rau sống, bún...Ba
má thầy đội rớ tới món nào là khen món nấy...
Rồi đó, đang lúc bông điệp tây nở đỏ sân đình, đang lúc xoài voi, xoài cát, mận
hồng đào đơm đầy cành thì đám cưới thầy đội Luông và cô Năm Hảo được cử hành.
Cô Hai Phụng giả bộ nhức đầu nên không đến nhà ông bà hương Kiểm để dọn đám.
Buổi sáng hôm nhà trai rước dâu, cô Hai Phụng đang săm soi cặp mai tứ quí trồng
trong chậu sứ trắng men lam, liếc thấy chú rể mặc áo gấm xanh bông bạc, chơn
mang giày tây da vàng, bước đi vững vàng, thân mình cao lớn, mặt mũi sáng sủa,
cô tức mình, tủi phận bỏ vô buồng, đóng cửa nằm khóc.
Ðã vậy, khi cô vừa nguôi ngoai tính xuống bếp nấu cơm kho cá thì con Chín Kim
Anh mắc dịch từ bên kia cầu ván chạy qua, miệng chót chét:
- Chèn ơi, chị Năm Hảo hôm nay xinh tốt như tiên nga. Chỉ đeo bông hột xoàn
sáng ngời ngời, đeo chuyền bướm, vòng tay chạm phụng giao đầu, cà rá cẩm thạch.
Chiếc áo gấm đỏ của chỉ chói loà loà, thiệt hạp nước da chỉ. Khi cô dâu chú rể
lạy trước bàn thờ, ai cũng trầm trồ họ tốt đôi xứng lứa!
Ông trời ngó xuống mà coi con Chín! Từ lâu nó ganh ghét cô Hai Phụng vì cô được
thầy giáo Thưởng xun xoe ve vãn. Nay được dịp, nó mặc sức mà nói xốc hông cô.
Lúc nói, nó gằn giọng ở chỗ nầy, ỏn ẻn mơn trớn ở chỗ kia để cào sướt tự ái cô,
để nhen nhúm ngọn lửa hờn ghen thiêu đốt gan ruột cô. Cô mở cặp mắt chau quảu
nhìn nó thiếu điều ăn tươi nuốt sống. Ðúng là thứ đâm bị thóc thọc bị gạo mà! Nữ
trang con Năm Hảo đeo hôm đám hỏi gồm bông mù u, neo quai chảo, kiềng chạm,
vòng bát bửu, cà rá cửu khúc liên huờn, bây giờ lại đổi thành chuyền bướm, vòng
chạm phụng giao đầu, cà rá cẩm thạch. Dóc tổ! Cái con Chín khốn nạn đặt dóc cho
tui chết vì uất ức đây mà!
Sau đám cưới cô Năm Hảo, cô Hai Phụng làm ra vẻ màu mè cao thượng. Cô viếng
thăm bà Hương quản Kiểm, tỏ ra vui sướng cho cái may mắn của cô Năm Hảo. Tự hồi
nào tới bây giờ, cô nổi tiếng ăn nói mềm mỏng nên cô không có nhiều kẻ thù. Giờ
đây cô còn tỏ ra ân cần, vồn vã với mọi người nên cô càng được mọi người có cảm
tình hơn. Lối xóm ca tụng, nói tốt cho cô nên khi lời đồn có lợi cho cô tới tai
gia đình thầy giáo Thưởng thì qua tháng giêng năm sau, cô leo lên chức thím
giáo một cái rột. Sau khi cưới vợ xong, thầy giáo Thưởng xin được thuyên chuyển
về dạy trường Thiềng Ðức ném về làng Long Ðức Ðông, chỉ bước qua cây cầu sắt
lót ván là tới thành phố của tỉnh.
Lối 28 tháng tám năm sau, vợ chồng cô Năm Hảo về thăm nhà vì thầy đội Luông được
nghỉ phép thường niên. Cô trở nên mập tốt, trắng trẻo hơn. Dường như cái hạnh
phúc của cuộc sống lứa đôi, niềm yêu đời đã gột rửa vẻ cau có, dữ tợn trên
khuôn mặt cô làm cô tươi mát, thoải mái hơn. Ðường nét trên khuôn mặt cô vốn
hài hoà, cô chỉ có làn da hơi khô, cặp má hơi thỏm và nhứt là vẻ nhăn nhó, khổ
sở làm cho khuôn mặt cô tối sầm. Hôn nhơn đã thắp sáng khuôn mặt cô, da dẻ cô lần
đổi ra mịn màng hơn.
Khi về nhà, tuy cô Năm Hảo không mặc áo dài nhưng mỗi ngày cô thay hai lần áo
bà ba, thứ nào thứ nấy nếu không là hàng, là lụa thì cũng là vân, xuyến, màu sắc
tươi thắm trẻ trung. Trưa nào cô cũng quàng khăn san màu hường, che dù màu tía
đi dạo xóm. Cô đợi chiều tối mới xên mứt, làm bánh gai, bánh đuông để dành đi
đám giỗ. Chiều tối, khách viếng thăm hầu như không có ai, nhưng khi xên mứt,
làm bánh, cô vẫn biểu lũ em trai canh cửa, hễ có khách đàn bà tới thì báo cáo để
cô đề phòng lúc cân bột, cân đường hay lúc cô đang đảo cặp đũa bếp trong chảo mứt
xên. Cô không muốn ai học lóm nghề khéo của mình.
Lối xóm xầm xì rồi chắc lưỡi hít hà về tài khéo của cô. Bà Mười Chiểu thành thạo:
- Con Năm Hảo khi theo chồng ra chợ Vãng, được mẹ chồng truyền nghề bếp núc,
bánh trái, thêu thùa. Giờ đây nó khéo nhứt xứ. Con dâu bà Phủ, con dâu bà Huyện
chưa chắc qua mặt được nó.
Thím Bảy Liệu trầm trồ:
- Mèn ơi, nó làm bánh men lớn cỡ trái chanh cắt đôi, rồi bắt bông nổi đủ màu
xanh đỏ trắng vàng...Tui có hỏi nó bông nổi làm bằng gì thì nó bắt lảng qua
chuyện khác.
Chị Năm Thàng cười:
- Chắc nó giấu nghề. Nó còn khoe biết làm bánh men không cần nướng nữa đó bà
con.
Gái quê lấy chồng tỉnh đã là danh giá, mà ông chồng lại ở cấp bực trung sĩ khi
tuổi chỉ mới ba mươi hai. Rồi đây theo cái vèo nầy, thầy đội Luông lên chức đội
nhứt (trung sĩ nhứt), ách (thượng sĩ) rồi ách nhứt (thượng sĩ nhứt) mấy hồi!
Thím đội đã quần lụa áo hàng, vàng đeo bạc khảm sáng chói, còn biết làm bánh
làm trái xuất sắc nên dân làng trên xóm dưới đồn đãi tùm lum.
Hôm tháng tám năm đó, thầy Hương hào Kình làm đám giỗ cho mẹ, có mời vợ chồng
thầy đội Luông tới dự. Thím đội mặc chiếc áo bà ba bằng lụa tím, quần lãnh bông
chữ thọ cạp lưng bằng nhiễu hường cánh sen, che dù máu tía. Thầy đội mặc áo
bành tô bằng vải xi-mi-li trắng tinh, nút bằng hổ phách coi sang thiệt là sang!
Quần của thầy mặc dù bằng vải ka-ki trắng nhưng được hồ cứng và ủi sắc lẻm. Ðôi
giày tây da vàng của thầy cũng được đánh nẩy sao. Thầy học đòi thói nịnh đầm, tự
tay ôm quả bánh cho vợ.
Khi thầy đội tới nhà thầy Hương hào Kình thì đã có mặt vài ba ông hương chức hội
tề đang cùng đàm đạo bên nhạo rượu thuốc, có vài ba dĩa mồi nhắm: cốc, khế xắt
miếng chấm mắm ruốc trộn tỏi ớt, thịt phay chấm mắm nêm, dế cơm độn đậu phọng
và muối hột rồi lăn bột chiên giòn.
Còn thím đội Luông nhũ danh là cô Năm Hảo khi tới nhà thầy Hương hào Kình thì
chững chạc bưóc vào trung đường chào gia chủ và khách khứa, nói ba điều bốn
chuyện rồi mới ôm quả bánh xuống bếp chào thím Hương hào Kình cùng các bà các
cô tới dọn đám. Thím Hương hào Kình mở nắp chiếc quả sơn son ra. Phe phụ nữ xúm
lại ngắm nghía bánh phục linh trắng như dồi phấn có hình bông hường, bông mai,
hình miếng chả chạy nét hoa văn được xếp ở ngăn quả trên. Còn bánh men bắt bông
nổi thì được xếp ở ngăn quả dưới. Ai cũng hết lời khen ngợi và đồng ý rằng bánh
nầy nên để chưng hơn là để ăn vì bánh đẹp quá!
Cô Năm Hảo giờ đây thay đổi nhiều. Cô nói lời ngọt dịu như Cam Cái Bè, như quít
chợ Lách. Tuy giọng cô không được êm, giọng cao thì rít róng, giọng thấp thì
gay gắt, tiếng cười cô the thé, nhưng đôi lúc cô cũng biết buông lơi bỏ nhỏ giọng
nói của mình để cho người nghe có cảm giác dễ chịu hơn. Cô Năm Hảo tuyên bố:
- Thưa các bác, các dì, các cô cùng mấy chị em, tui còn biết làm thứ bánh men
không cần nướng. Bữa nào rảnh, tui sẽ trổ tài cho quí bà con cô bác coi chơi.
° ° °
Con Chín Kim Anh nhờ cái miệng phèng la, cái họng ống loa quảng
cáo không công về tài khéo của cô Năm Hảo, nào là bánh nướng bánh chiên của cô
Năm giòn rụm, bánh hấp của cô Năm vừa dẻo vừa mềm; nào là hễ cô Năm vẫy tay một
cái là cỗ bàn cỡ mười món sắp lên bày ra ê hề...nên được cô Năm Hảo thưởng cho
một đôi guốc sơn đen với quai nhựa trong vắt, chiếc lược giắt tóc bằng đồi mồi,
cái khăn mu-soa bằng lụa bạch thêu bông hường. Cô ra công tỉa cặp chơn mày của
mó mỏng và cong như chiếc móng trời, dạy nó bới tóc vén khéo, chỉ biểu nó rửa mặt
bằng nước cơm vo cho da mặt mịn màng, xông khói trà cho da mặt hồng hào như màu
bồng lồng đèn, bông bụp. Nó đợi cô dạy nó làm một món bánh, một món ăn nhưng cô
bền lòng chặt dạ quyết giữ kín nghề khéo của mình.
Nhưng cô Năm Hảo đã không uổng công dạy dỗ cách làm đẹp cho con Chín Kim Anh.
Nó cũng không uổng công chiều chiều đứng bên cầu lót ván để bẹo hình bẹo dạng với
trai thương hồ. Có chàng trẻ tuổi chuyên nghề mua lá dừa nước rồi ủ chín đỏ để
bán cho các trại lá chầm, một hôm nó chèo ghe ngang cầu ván, thấy con Chín Kim
Anh bận chiếc quần lãnh tàu, chiếc áo bà ba bằng vải đen in bông đỏ liền gọi lớn:
- Qua tên Võ Tòng đây em! Võ Tòng, anh hùng sát hổ ở Cảnh Dương cương đây em!
Con Chín Kim Anh hò liền:
Anh hùng hà xứ anh hùng lai?
Ðể tui liều mạng đối trai anh hùng.
Anh hùng bảnh lắm anh hùng ôi,
Ðể tui liều mạng đái trôi anh hùng.
Vậy mà chàng trai tên Võ văn Tòng kia lại cảm lăn cảm lóc con Chín Kim Anh mới
là kỳ! Nhà chàng ở Cầu Dài, cách chợ tỉnh Vĩnh Long con rạch Long Hồ, hễ bước
xuống đò ngang thì năm phút sau là tới bến chợ cá của trung tâm thành phố. Má
chàng Võ văn Tòng có lập trại lá chầm thiệt lớn ở Cầu Dài. Kể ra thì chàng cũng
là dân thành thị đó chớ!
Ðám hỏi tiến hành rùm rụp. Con Chín Kim Anh dầu không được cô Năm Hảo chỉ dạy
cách làm món ngon, làm bánh làm trái nhưng nó vẫn mang ơn cô vì nhờ cô mà nó biết
chải chuốt áo quần, biết làm cho dung nhan mình rạng rỡ hơn để lọt được vào mắt
xanh của cái anh chàng mà nó đòi đái trôi. Cho nên cô Hai Phụng vẫn là đối thủ
của con Chín Kim Anh vì dẫu Võ văn Tòng không làm mướn ở đợ, và dẫu chàng là
dân thị thành nhưng đâu có văn hay chữ tốt nhu thầy giáo Thưởng kia.
Tháng sáu, vì còn đang lúc bãi trường, thầy giáo Trần Xuân Thưởng dắt vợ về chợ
An Hương để hứng gió sông, thở không khí đồng nội. Thầy giáo Thưởng không có gì
thay đổi, lúc nào cũng chải tóc thấm nước, mặc sơ-mi cụt tay, quần tây vải ga-bạc-đin,
chơn đi giày xăng-đan để dạo xóm. Riêng thím giáo Thưởng nhũ danh là cô Hai Phụng
thì đeo nhiều nữ trang hơn, ăn nói văn chương huê mỹ hơn, nước da mởn hơn. Thím
chẳng những tỉa cặp chơn mày nhỏ rí và cong vòng như cái cầu vồng, thím còn cạo
lông mặt như mấy bà xẩm. Trưa trưa thím nằm trên võng treo tòn teng ngoài hàng
ba để đọc tiểu thuyết.
Thiệt ra các cô thôn nữ, các mụ bành miệt vườn, các bà già trầu cũng ưa săm soi
các kiểu nữ trang của cô Hai Phụng. Nhưng cô Năm Hảo cũng đâu có thua kém cô
Hai về chuyện vi cánh đó. Mấy cô gái con ông Hương cả Tiếu, con ông Hương chánh
Bân cũng biết lên tiệm vàng Võ Văn Hưng ở chợ Vãng để sắm nữ trang kim thời.
Với thôn dân, cái hình ảnh người đờn bà tỉa chơn mày, nằm tòn teng đưa võng ở
chỗ bán lộ thiên là ngoài hàng ba để đọc tiểu thuyết là một hình ảnh xốn mắt.
Ðã vậy, lâu lâu cô Hai Phụng còn ré lên hát vài câu vọng cổ rồi xướng nhạc inh ỏi
coi thiệt không giống ai:
Từ phu tướng,
Bửu kiếm sắc phong lên đường
Vào ra luống trông tin chàng
Ðêm năm canh mơ màng
Hò lìu xang xê cống
Líu cổng, líu cổng xê xàng...
Con Chín Kim Anh trề nhún với đám con gái ông Hương ân:
- Thứ đồ làm phách! Cái thứ cà xốc chó gì đâu á! Nó ra tỉnh nấu cơm tháng cho mấy
đứa học trò, lại còn nuôi heo nên cực bù đầu, mặt mũi lem luốc, tóc tai chơm
bơm. Vậy mà về đây làm bộ khoe giàu, ra điều phong lưu nhàn hạ thấy mà ứa gan!
Và trưa trưa nó chõ mỏ qua hàng rào cây xương rồng hát xỉa xói cô Hai Phụng:
Hò lìu xang xê cống
Líu cổng nuốt trộng tôm càng
Hò lìu xang xê cống
Líu cổng chổng khu la làng...
Từ lúc về thăm nhà, cô Năm Hảo không thèm dạo gót sen qua thăm ông bà Hương
cúng Bàu. Bởi đó cô Hai Phụng đương thèm dời gót ngọc đến viếng ông bà Hương quản
Kiểm. Tiếng đồn về tài khéo cô Năm cứ dồn dập đến tai cô Hai Phụng, làm cô bứt
rứt xốn xang. Tới hôm nghe tin cô Năm Hảo sắp trổ tài làm bánh men không cần nướng,
cô Hai Phụng vì óc tò mò quá mạnh nên mới xách đít qua nhà ông bà Hương quản Kiểm
coi hư thực ra sao.
Khi cô Hai Phụng tới nơi thì thấy các bà các cô tề tựu đông đảo. Cô Năm Hảo
lăng líu chào hỏi cô Hai Phụng. Cô Hai Phụng véo von đía dóc với cô Năm Hảo.
Ðôi bên tỏ ra thân mật, nồng nàn như đôi tri kỷ. Cô Năm Hảo mời:
- Chị Hai ngồi chơi, vừa ăn mứt uống trà vừa coi tui trổ tài khéo. Mà nếu không
khéo thì xin chị mởi lòng từ bi hỉ xả giùm nghen!
Cô Hai Phụng miệng thì cười mà mắt thì nguýt háy đối thủ. Thứ gì giả dối! Có
chút tài mọn mà đã kiêu căng. Phải chi nó trổi giọng phách lối thì tui còn đở tức,
đằng nầy nó giả nhơn giả nghĩa ăn nói mềm như bông gòn, ngọt như đu đủ chín, dịu
nhẹ như gió thoảng làm tui ứa gan quá chừng chừng!
Cô Năm Hảo vô buồng lấy một cái tô sành đựng chất gì trắng trắng bột không phải
bột, bọt xà bông cũng chẳng phải bột xà bông. Nó đặc như sửa hộp, trĩn trĩn như
nhớt mồng tơi. Chị Năm Xứng hỏi:
- Cái thứ trắng trắng nầy làm bằng gì vậy?
Cô Năm Hảo cười bí mật:
- Thì cũng bột, cũng đường, cũng trứng gà, men nổi...chớ có giống gì ngoài bốn
cái thứ đó! Bà con để tui nắn bánh coi chơi.
Cô lấy giấy dầu làm cái quặng, bỏ chất trắng trắng đó vào rồi lấy kéo cắt ở đầu
nhọng làm miệng quặng. Cô bóp nhẹ quặng. Từ miệng quặng, một vòi trắng lòi ra.
Cô Năm Hảo xịt chất trắng lên dĩa bàn, nắn thành từng cục tròn tròn. Cục tròn
khô cứng tuy hơi chậm nhưng láng mặt. Cô Năm Hảo mời mọi người ăn thử. Bà Mười
Chiểu gật gù:
- Tuy giống bánh men nhưng không xốp, không thơm.
Chị Năm Thàng nói:
- Bánh nầy chắc tại không nướng nên có mùi tanh của lòng trắng trứng gà.
Dù vậy mọi người vẫn trầm trồ khen cô Năm Hảo ở chỗ làm bánh men không cần nướng.
Cô Hai Phụng cười gượng gạo rồi ngoe nguẩy xách đít ra về, dã dượi bần thần như
muốn nhuốm bịnh. Ðã vậy, con Chín Kim Anh mắc dịch mắc toi kia mỗi khi giả đò tới
thăm cô, cứ đem cái tài cái khéo của cô Năm Hảo ra khen làm cô thêm đau lòng.
° ° °
Ngày hôm sau, cô Hai Phụng ăn cơm trưa xong, bước ra võng đưa
tòn teng qua lại. Nhưng cô không đọc tiểu thuyết, không trổi giọng du dương hò
lìu xang xê cống nữa. Cô nằm lim dim, thức không ra thức, ngủ không ra ngủ.
Ngay chiều hôm đó, cô đích thân bơi xuồng tới nhà thầy Thôn Cường mua ba chai
rượu thuốc. Cô về pha thêm một lít rượu đế. Thầy Thôn Cường ngâm rượu thuốc bằng
thục địa, hoài sơn, cam thảo như mọi người bán rượu thuốc khác. Nhưng đặc biệt
là thầy còn ngâm thêm rễ cây nhàu nên màu nâu của rượu sóng sánh ánh vàng, vị
rượu đằm hơn. Cô Hai Phụng còn mua mít nướng cho thơm lừng rồi ngâm vô rượu.
Xong xả, cô trộn vào đó gói bột hoa-ni (vanille). Ðây là thứ bột thơm mà thầy
giáo Thưởng mua ở Sài gòn đem về tặng cô để cô làm bánh bò, bánh da lợn. Ðây là
thứ bột thơm từ bên Tây nhập cảng qua, nhưng các bà nội trợ ở lục tỉnh Nam kỳ
ít ai biết, huống hồ gì các bà các cô miệt vườn!
Pha rượu xong, cô Hai Phụng trèo lên võng đưa tòn teng qua lại rồi cô hát chót
chét mấy câu vọng cổ. Sắc diện cô phơi phới, thỉnh thoảng cô nở một nụ cười đắc
chí. Xời ơi, cái con đĩ "bạch chảng" đó (cô ám chỉ cô Năm Hảo) khi
làm mấy thứ bánh hấp như bánh bò, bánh da lợn, bánh thuẫn, nó xịt dầu chuối
thơm gay gắt, thơm hỗn hào. Bột hoa-ni của tui mà bỏ vô bánh hấp, bánh nướng
như bánh phục linh, bánh con đuông...thì thơm thoang thoảng, thơm dịu nhẹ mà bền
bỉ, đằm thắm, thấy thương quá trời quá đất!
Thế là hôm đám giỗ ông Bồi bái Hùng (tức là ông nội cô Hai), ông Hương cúng Bàu
bưng ra một cái mâm có ba nhạo rượu và một mớ chén chung. Mâm thau chùi sáng
bóng, nhạo rượu bằng sứ tráng men trắng vẽ bông lá màu chàm đậm, nét vẽ rối
rít, tỉ mỉ, vô cùng ngoạn mục. Còn chung thì màu trắng mỏng tay, nét vẽ mặt
võng thêu bông cũng màu chàm đậm. Chưa biết rượu ngon dở ra sao, nội thấy mâm,
nhạo, chén, chung choáng lộn như vầy, ai mà chẳng rộn lên niềm háo hức?
Ông Hương cúng Bàu thưa với khách:
- Thưa bà con, đây là rượu khai vị cốt giúp cho bà con ngon cơm . Tuy nói là
khai vị nhưng đây cũng là thứ ích khí bổ thần. Thưa bà con, đây là mỹ tửu mà
cũng là dược tửu do con gái tui bào chế. Trước hết, bà con uống sương sương mỗi
người một chung cho ngon miệng, cho phơi phới tinh thần, rồi mình cùng nhậu rượu
đế tới hoắc cần câu luôn...
Ông Hương cúng Bàu rót rượu ra chung. Tuy rượu có màu lợt hơn rượu thuốc nhưng
mùi mít nướng quyện mùi hoa-ni bốc lên thoang thoảng và lạ lẫm là mọi người
không đoán rõ là mùi gì. Khi nhắm nháp qua "thứ mỹ tửu lẫn dược tửu"
kia thì khắp bàn tiệc lời khen ngợi xôn xao, tiếng chắt lưỡi hít hà sôi nổi.
Ở bên trong, cô Hai Phụng lóng tai nghe động tĩnh bên ngoài. Tới chừng nghe tiếng
chắc lưỡi hít hà khen hương vị của rượu do cô pha chế, cô nghĩ mình nên chường
mặt ra chỗ bàn tiệc để hưởng cái vinh diệu mà cô từng khao khát sau bữa coi cô
Năm Hảo làm bánh men không cần nướng.
Cô Hai Phụng vội vã chải đầu thiệt kỹ, giắt chiếc trâm hình trăng khuyết có cẩn
những chấm hột xoàn tấm lóng lánh. Cô đeo vô cổ, vô cườm tay, ngón tay, trái
tai những món trang sức mà cô cắc ca cắc củm mang theo. Nữ trang bằng vàng thiệt
chen vàng giả miễn sao nó hợp sức cùng hào quang trên chiếc áo lụa màu ngân bạch
nổi bông tiền điếu màu vàng để gây nhức mắt mọi người. Cô giành bồi tiệc cho
các ông. Cô lăng líu như chim chèo bẻo, véo von như chim chìa vôi làm thầy giáo
Thưởng mặt khờ ra vì sung sướng đã cưới được một cô vợ bãi buôi, bắt thiệp.
Cô Hai Phụng đặt dóc về các dược thảo ngâm trong rượu khá dài giòng lâu lắc.
Sau cùng cô bảo:
- Thưa các bác, các chú, các cậu, các dượng, các anh. Rượu nầy là rượu gia truyền.
Hễ ai bị chứng no hơi sình bụng kinh niên chỉ uống chừng ba tháng là dứt tuyệt,
hơi thở thơm tho, lưõi sạch đỏ au. Còn ai bị chứng phong thấp thì chỉ cần điều
trị bằng rượu nầy chừng một năm là bớt dần dần. Bị bại xuội cũng nhờ rượu nầy
mà đi đứng nhậm lẹ còn hồi chưa mang tật nữa.
Rồi cô ỏn ẻn liếc qua chồng:
- Mình, em nói có đúng hôn mình?
Thầy giáo Thưởng đang nhai cái phao câu con vịt sau khi vừa ực hớp rượu Sâm
Nhung Huyết Tửu bào chế ở hãng rượu Bình Tây. Rượu nầy khá nặng tuy có tên đẹp
đẽ quý giá nhưng chỉ ngâm bằng loại dược thảo rẻ tiền. Hơi rượu làm thầy bàng
hoàng, hụt hẫng, tâm trí ngây ngất...Nghe vợ hỏi thình lình, thầy rụng rời như
bị chém hụt vì thầy có để ý nghe vợ nói trời, nói trăng những gì. Thầy trả lời
liều mạng cho qua:
- Ðúng, đúng lắm! Sâm Nhung Huyết Tửu ở hãng Bình Tây bổ nhứt xứ!
Mọi người cười rân vì câu trả lời ăn trớt của thầy.
Ai ai cũng biết cô Hai Phụng ưa xạo đía. Và cũng chẳng ai lạ gì cái thói khoác
lác của cha cô. Rượu vừa trôi khỏi cổ, ông Hương cúng Bàu bắt đầu mở máy đía
vang rân:
- Con gái tui nhờ quen mấy bà lớn trên tỉnh nên nó mua được một thứ bột thơm nhập
cảng từ bên Tây. Thưa bà con, số là trong vườn ngự uyển của ông vua xứ Lang-sa
có một cây bông quỳnh trổ bông ngũ sắc, thơm bay ngàn dặm. Bà hoàng hậu hôm đó
dạo vườn ngắm kiểng vật, gặp lúc tiết xuân nên bông quỳnh trổ ê hế. Bả thấy đủ
loại ong như ong bầu, ong mật, ong nghệ cứ bu theo loài bông quý hút nhụy nên bả
truyền cho cung nga thái giám hái bông về cà nhuyễn để làm bột thơm. Khi đầu bếp
làm bánh, bà hoàng hậu truyền cho họ rắc bột thơm vô. Khi bánh chín, bà hoàng hậu
biểu dưng bánh lên cho bà mẹ vua "ngự". Gặp lúc đó, bà mẹ vua ể mình,
chê súp, chê sữa, chê phô-mai...Vừa hưởi bánh thơm, bà mẹ vua ních một lèo hết ổ
bánh, bịnh hết bảy còn ba. Bả bèn truyền cho cung nga pha bột vô rượu để dành uống
lai rai. Ðức vua thấy bông lạ nên truyền cho toán coi sóc ngự uyển trồng thêm
cây quỳnh quý báu kia vì bông của nó vừa đẹp vừa có dược tánh.
Cô Hai Phụng cảm thấy mát gan mát ruột như sương sâm, sương sáo, sương sa được
ướp nước đá. Cô ỏn ẻn cười mơn rồi liếc qua cái mặt chim bỉm và nặng nề như cái
cối xay của ông Hương quản Kiểm một cách đắc thắng. Hôm nay là ngày mà tên tuổi
cô được các ông ở trung đường nhắc nhở, khen ngợi quá nhiều cho nên khi xuống bếp,
nghe các bà phụ dọn cổ bàn suýt soa khen tài làm bánh của cô Năm Hảo, cô không
thèm đếm xỉa tới, không làm mặt quạu như cách đây một tuần.
Ðám giỗ rộn ràng trôi qua. Bà Hương cúng Bàu chèo xuồng ra chợ Vãng mua một hơi
hai chục lít rượu và tới tiệm thuốc bắc bổ các dược phẩm như hoài sơn, cam thảo,
thục địa...
Khi rượu được chiết ra từng chai và được đậy nút cẩn thận, cô Hai Phụng ra hàng
ba nằm trên võng đưa tòn teng qua lại. Cô chõ miệng qua bên nhà con Chín Kim
Anh, cất giọng rổn rảng:
- Tui là con nhà ăn chắc mặt dầy, tui đấm thèm ba cái thứ bánh khéo. Rượu thuốc
của tui có nhiều công dụng trị bá chứng để giúp đời, gây âm đức cho con cháu về
sau. Thử hỏi bánh nào sánh kịp tới gót chơn nó chưa? Vậy mà có con đĩ chó ăn
cơm nhà làm chuyện tào lao, đi quảng cáo không công cho ba cái thứ bánh đẹp thì
có đẹp, ăn vô thì dở ẹt, cứt heo hổng chừng còn ngon hơn. Cứt heo lỡ dính gót
chơn tui, tui mua xà bông sả về rửa. Còn thứ bánh đó hễ chui vô miệng má con,
dì cháu, chị em nhà nó thì miệng cả phồn cả lũ nó thúi hoắc như miệng cá vồ...
Con Chín Kim Anh nghe hết. Nó liền xẹt qua nhà ông bà Hương quản Kiểm, thuật lại
những câu đon ren của cô Hai Phụng, rồi thỏ thẻ
- Con Hai Quạ (ám chỉ cô Hai Phụng có màu da đen như lông chim quạ) xỏ xiên chị
đó! Chớ em đây thấp kém, nó đấm thèm chửi em. Nó chửi lông bông cho em nghe,
nhưng kỳ thiệt là nó ám chỉ chị.
Từ đó cô Hai Phụng và cô Năm Hảo tránh mặt nhau. Riêng thầy đội Luông và thầy
giáo Thưởng thì có dịp gặp nhau luôn trong các đám cưới, đám giỗ được tổ chức
trong xóm trong làng. Cả hai vẫn chào hỏi nhau, chuyện vãn, cụng ly với nhau hà
rầm. Nếu có ai nhắc chuyện hiềm khích giữa hai bà vợ thì thầy đội Luông chắc lưỡi:
- Ối, chuyện đờn bà với nhau, hơi nào tui lý tới? Tuy vậy, con đờn bà của tui vốn
tốt bụng. Tui tin ít lâu nó sẽ cầu huề chị giáo.
Thầy giáo Thưởng phụ hoạ:
- Nhà tui dễ nóng nhưng mau quên. Tui cũng tin rằng nay mai chị đội và nhà tui
sẽ trở lại tình bạn lối xóm.
Nói dứt lời, thầy rót rượu cho thầy đợi, cả hai cụng ly lanh canh rồi ngửa cổ uống
một cái ực cạn ly. Mặt người nào cũng đỏ gay như mặt trời mới moc, miệng cười
toàng hoạc, giọng cười hề hề.
Cầu huề? Hàn gắn trong nay mai? Làm gì có chuyện đó! Cô Hai Phụng làm sao nguôi
ngoai nổi khi thấy ai đi đám cưới đều đặt bánh ở nhà ông Hương quản Kiểm. Cô
Năm Hảo truyền nghề khéo cho hai con em mình là Sáu Mỹ và Bảy Lành. Dù cô Năm ở
trên tỉnh nhưng tên tuổi cô vẫn được nhắc nhở đều đều qua bánh mứt do hai em cô
làm ra. Tuy nhiên thiên hạ cũng ưa đến nhà ông bà Hương cúng Bàu để mua rượu
thuốc do cô Hai Phụng truyền lại bí quyết ngâm rượu của cô cho cha mẹ. Mỗi khi
dắt cô Sáu Mỹ hay Bảy Lành ra chợ tỉnh thăm vợ chồng cô Năm Hảo, bà Hương quản
Kiểm tỉ tê kể lại sự mến chuộng của thôn dân đối với rượu thuốc ấy cho cô Năm
nghe. Cô Năm cảm thấy mình khó mà giao thiệp với con "Hai Quạ" đó.
° ° °
Trường tiểu học An Hương có một cô giáo mới đổi về dạy lớp
nhì. Cô nầy tính tình bãi buôi, ưa thích giao thiệp với mọi người. Cô khéo léo
các món bánh mứt, lại tốt bụng, sẵn lòng chỉ dạy các cô gái trong xóm. Cô giáo
cho biết bánh men nướng bắt bông nổi của cô Năm Hảo là thứ bánh men bắt bông đường.
Ðường cát trắng trộn lòng trắng trứng gà rồi nhuộm phẩm xanh phẩm đỏ để vẽ lên
mặt bánh men. Và rồi mấy cô gái làng cũng lần lần khám phá ra bánh men không cần
nướng của cô Năm Hảo chỉ làm bằng đường trộn với lòng trắng trứng gà đánh cho nổi
mà thôi, chẳng có pha thêm bột thêm men gì ráo trọi.
Lần hồi, vài cô gái trong làng làm được bánh bông lang bắt bông đường diêm dúa
loè loẹt nếu họ khéo tay. Họ còn biết bỏ bột hoa-ni vào bánh nướng lẫn bánh hấp.
Ðiều đáng nói thêm, từ khi cô giáo Hiền đem bột hoa-ni giới thiệu với các cô
gái ưa học làm khéo thì mùi thơm trong rượu thuốc do cô Hai Phụng pha chế bị
khám phá ra. Cô Kiều Tiên, con gái ông Hương sư Bình, cất giọng nhọn hoắc:
- Té ra đó là bột hoa-ni. Ngoài chợ tỉnh, các tiệm ba-da bán thiếu gì!
Cô Nguyệt Nga, con gái ông Hương chủ Khánh, trề môi:
- Con Hai Phụng và con Năm Hảo tuy kình địch nhau nhưng thiệt ra cùng một thứ xạo
đía, cùng một phồn gạt người.
Từ đó, mỗi khi về thăm nhà, cô Năm Hảo không dám trưa trưa đội khăn san màu hường,
che dù màu tía đi dạo xóm nữa. Còn cô Hai Phụng thì khi bột hoa-ni bị khám phá,
cô được thôn dân âu yếm tặng cho cái hỗn danh là cô Hai Quạ. Mỗi trưa, sau khi
ăn xong, cô vào buồng đánh giấc trưa thiệt say sưa, hết dám nằm đong đưa trên
võng treo ngoài hàng ba để đọc tiểu thuyết và chửi đổng nữa.
Ngoài tỉnh Vĩnh Long, nhà thầy giáo Thưởng ở tại dãy phố lầu, gần miễu Quốc
công. Còn nhà thầy đội Luông ở xóm Khương Hữu Phụng. Sáng sáng cô Hai Phụng
xách giỏ đi chợ Cầu Lầu thường gặp vợ chồng cô Năm Hảo ngồi điểm tâm trong tiệm
nước chệt Lìn luôn. Cô Năm ăn sáng no cành hông rồi mới chịu xách giỏ đi mua thức
ăn nên cả hai ít có dịp chạm mặt nhau. Nếu rủi có đụng mặt nhau thì cả hai cúi
gằm mặt bương bả đi chỗ khác. Nhưng mà cả hai đã cảm thấy giữa đối thủ và mình
chẳng còn gì để ganh đua, để loè bịp thôn dân xóm Ðình, làng An Hương nữa.
Cô Năm Hảo sanh được một trai kháu khỉnh. Còn cô Hai Phụng lấy chồng đã hai năm
mà chưa có điềm chửa nghén gì nên cô bứt rứt lắm.
Tháng bảy, mưa gió sụt sùi, trời đất mịt mờ, khí âm huyền độc địa. Cô Hai Phụng
bỗng ngã bịnh, cơm cháo nuốt vô là cô ói mửa lai láng. Cô liền kêu xe kéo đến
nhà ông Bộ Công để chẩn mạch hốt thuốc. Ông cho biết cô chẳng có bịnh chi hết
mà chỉ bị thai hành. Lời tiết lộ đó làm cho cô Hai Phụng mừng quính. Vừa lúc
đó, cô Năm Hảo bồng đứa con trai bước vô, nước mắt chan hoà. Ðứa nhỏ mặt mày đỏ
ửng, mắt nhắm thiêm thiếp. Cô Hai Phụng đang mong có con, thấy thằng nhỏ đau ốm
chi chưa biết mà có vẻ thừa chết thiếu sống nên tâm can cô thốn động, xốn xang.
Cô quên mối thù hiềm cũ, hỏi:
- Cháu đau sao đó, chị Năm?
Cô Năm Hảo bệu bạo:
- Nó nóng rồi làm kinh. Hai đêm, ba ngày qua tui không dám ngủ.
Cô Hai Phụng không chịu ra về liền, cô đợi ông Bộ Công chẩn mạch đứa nhỏ để biết
nguồn cơn bịnh hoạn nó ra sao. Ông Bộ Công bắt mạch nó xong, an ủi cô Năm Hảo:
- Thằng nhỏ nầy đau ban trắng. Ban bắt đầu phát nên không hề gì.
Ông pha thuốc tán cho nó uống hạ hoả trước khi hốt cho nó một thang thuốc. Khi
cô Năm Hảo sửa soạn bồng con ra về thì cô Hai Phụng nói
- Coi chị đừ rồi đó! Ðể tui tháp tùng chị đưa cháu về nhà.
Cô Hai Phụng kêu xe xích lô cho bạn. Khi cả hai cùng đứa nhỏ lên xe thì cô Hai
giương dù ra che cho mẹ con cô Năm. Xe tới nhà cô Năm Hảo, cô Hai giành trả tiền
xe rồi theo bạn vào nhà. Ðứa nhỏ nhờ thấm hiệp thuốc tán nên không còn thiêm
thiếp nữa. Nó giương mắt có thần nhìn mẹ và khách. Cô Năm Hảo pha trà mời bạn rồi
hỏi thăm đủ thứ, từ việc nhà ở An Hương tới đại gia đình thầy Thưởng...Lúc đầu
cả hai trò chuyện còn bợ ngợ, ngập ngừng nhưng rồi bản tánh hồn nhiên, bặt thiệp,
cả hai ngon trớn bắt chuyện trơn tru, thỉnh thoảng chêm từng chuỗi cười giòn khấm
khứu.
Bỗng ngoài cửa có tiếng léo xéo:
- Chị Năm của em đâu rồi? Con em Chín của chị tới thăm chị đây nè. Mai nó về An
Hương, chị có gởi gì về hai bác Hương quản thì giao cho em.
Cô Năm Hảo bảo nhỏ cô Hai Phụng:
- Con Chín Kim Anh đó. Từ khi nó lấy thằng Hai Tòng, nó được má chồng dựng cho
nó cái chái lá xéo xéo chùa Bà Thiên Hậu. Nó mở tiệm bán nem nướng phát đạt thất
kinh.
Chín Kim Anh õng ẹo bước vô, áo dài màu hoàng yến thướt tha theo nhịp bước đi
nhún nhảy. Chèn ơi, giờ đây ả đẹp đẽ, mượt mà thêm ra. Ðôi bông hột xoàn trên
tai ả chớp lia chớp lịa mỗi khi ả ngúc ngoắc đầu õng ẹo làm điệu. Vừa thấy cô
Hai Phụng, mặt ả hơi tái nhưng rồi ả gượng làm tỉnh, bô lô ba la liền:
- Mèn ơi, chị Hai! Hèn lâu em mới gặp chị. Lóng rày coi bộ chị đỏ da thắm thịt,
đẹp nhức nhối! Nè, mai em về thăm nhà, chị có muốn gởi trà bánh cho bác Hương
cúng thì em đem về giùm cho.
Cô Hai Phụng cuời:
- Tuần tới tui về nhà dự đám giỗ bà nội tui. Thôi, tui không dám làm nhọc lòng
Chín, nhưng dầu sao tui cũng cảm ơn lòng sốt sắng của Chín.
Chín Kim Anh đía:
- Em về An Hương để dự đám coi mắt đứa con gái lớn của chị Hai em. Chèn ơi, em
mua đủ thứ thập vật tặng tía má em: nào là trái vải đóng hộp, nào trà Thiết
quan âm, nào bôm, nho, xá-lỵ, khô cá sưởu, lạp xưởng...
Trong lúc ả Chín chót chét khoe khoang, cô Năm lẫn cô Hai nhìn nhau. Lại thêm một
nhân vật nữa lấy chồng tỉnh về làng thăm quê,, mặc tình mà nói trời nói đất, mặc
sức khoe khoang chuyện bá láp tầm phào. Cô Hai thì nhớ tới bột vanille, cô Năm
thì nhớ tới thứ bánh men không cần nướng. Mặt cả hai đỏ thén nhưng mắt họ sáng
rạo rực, nụ cười họ chúm chím nở trên môi.
BÀ GIÀ TRẦU
CẢM-KHÁI
Mèn ơi, lẩm rẩm tui ở Xóm Gà được ba năm rồi đó chị Tám. Thời
buổi giặc giã, dân quê kéo nhau ra thành phố mỗi lúc một đông. Xóm Gà bởi đó mà
nhà cửa mọc thêm nhiều.
Thú thiệt với chị Tám, cũng bởi tui thương hai đứa cháu nên tui đành đoạn bỏ
nhà bỏ cửa đi theo tụi nó. Ở đây, đêm đêm tui nhớ xóm quê, vườn nhà, nhớ mấy
cây cau Bà Ðiểm, mấy nọc trầu vàng mà ứa nước mắt. Thiệt tình, trầu cau do mình
chăm nom, bón gốc, tưới mát hằng ngày mình ăn mới ngon. Ðằng nầy cứ mỗi tuần,
tui lặn lội ra chợ Bà Chiểu để mua trầu cau vôi thuốc. Tui mất cái thú đêm nằm
trong buồng lắng chừng mùi hương cau từ cửa sổ lọt vào tận lá mùng. Tui hết còn
dịp tự tay ra sân hái lá trầu xếp từng ốp vào khay, tui đâu còn được bổ cau từng
miếng bày trong những cái sàng rồi đợi nắng tốt đem phơi hoặc vào những ngày
mưa dầm, quạt than cho đỏ sấy cau, để dành ăn lai rai.
Như chị biết, thằng con trai tui năm 45 bỏ nhà theo Việt Minh, rồi tới năm 53
nó đành đoạn theo "mấy ổng" đi tập kết. Con dâu tui nổi sùng giao hai
đứa con nó cho tui rồi bỏ lên Lèo lấy chồng khác. Tui lo làm vườn, làm rẫy nuôi
hai con cháu còn cha mẹ đầy đủ mà hoá ra côi cút kia. Nhờ trời thương Phật độ,
tụi nó mạnh cùi cụi, lớn mau như thổi.
Con chị Ngọc Hạnh thôi học sớm để đi làm sở Mỹ. Chỉ có con em Ngọc Hiền thì còn
đi học năm thứ nhứt đại học Sư phạm. Chèn ơi, Mỹ đang rục rịch muốn rút về nước
nên con Ngọc Hạnh lo lắm. Nó lo kiếm thằng chồng Mỹ để nương dựa. Nó nói:
- Thằng Ðít (Dick) muốn cưới con. Con qua Mỹ rồi sẽ lo giấy tờ rước nội và con
Hiền qua luôn.
Mẹt mẻ ông bà ông vải, tiên nhơn tổ đường ơi! Mỗi tiếng nói của nó là một phát
súng cà nông nã vào đầu tui làm tui xây xẩm tối tăm mặt mũi. Chị nghĩ coi, hồi
nó mới đẻ, má nó đi buôn bán giao nó cho tui. Tui nuôi cháu bằng sữa Con Chim,
sữa bột chớ tui đâu có nuôi nó bằng máu hoè mà nó ngu dại đòi lấy cái thứ râu
rìa, mắt mèo, mũi lõ đó! Tui rống lên khóc. Con Ngọc Hiền cũng khóc theo. Xời
ơi, con Ngọc Hạnh mọc lông mọc cánh rồi, đủ vi đủ kỳ rồi nên nó muốn bay bổng,
lội xa ra mái nhà của nội nó. Tui biết lỗ tai nó điếc rồi, đâu có để lời than
van khóc lóc của tui lọt vô...
Vậy mà rồi tui cũng đến nhà thờ Tin Lành để dự đám cưới con cháu nội bất hiếu của
tui. Tên thằng cháu rể Phiên bang Rít-sa (Richard) gì đó, vậy mà sao bạn bè
cùng con vợ nó lại Ðít hổng biết! Con Ngọc Hạnh cũng đổi tên MỹOăn-đa (Wanda)
nghe kỳ hết sức.
Con Oăn-đa Ngọc Hạnh tùng phu về xứ Huê kỳ để lại cho bà nội nó 20 lượng vàng
làm vốn nuôi em. Tui nai lưng bán sinh tố, lưng mỏi, mình rêm mà nào dám bỏ phế
việc bán buôn.
Con Ngọc Hiền lớn lên coi bộ có duyên và mướt hơn con chị của nó. Nó lên năm thứ
ba rồi sanh sứa theo bọn sinh viên phản chiến trong trường, nay đi họp mai đi
quay truyền đơn biểu ngữ, có khi gần tới giờ giới nghiêm mới chịu về nhà. Tui
lui cui hâm cơm canh cho nó ăn rồi rút vô bưồng, cứ nghĩ tới đường kia nỗi nọ
mà ứa nước mắt.
Con Ngọc Hiền coi bộ nghiêm trang, cười không hở răng vậy mà có cặp mắt mời
trai chị Tám à! Chòm xóm nói nó trinh không ra trinh, dâm không ra dâm, chém chết
cung mạng nó không có sao Ðào Hoa thì cũng có sao Hồng Loan chiếu chi đây nên
tui lo lắm chị Tám! Lo nó giống như con Ngọc Hạnh, lấy một tên Phiên tặc to lớn
dình dàng thì chết tui.
Nhắc tới con Ngọc Hạnh tui càng thêm thương, thêm buồn không cầm được nước mắt.
Dẫu cỏn nỡ bỏ bà nội và em để theo thằng chồng Phiên tặc về nước, dẫu nó chê
tên cha mẹ đặt cho, lấy tên Mỹ mẽo chăng nữa, nhưng nó gởi tiền, gởi quà về cho
tui đều đều. Chèn ơi, mỗi bức thơ gởi về Xóm Gà là nó than thở nhớ nhà, nó rống
nó kêu chỗ nó ở nào là mùa đông tuyết ngập tới gối, mùa hè thì nóng như cái lò
bát quái luyện linh đơn và ẩm ướt làm cho da thịt nó nhơn nhớt như bôi keo. Nó
chụp hình màu gởi về. Tui dụi mắt mấy lượt, vái trời mình thấy lộn, để khi nhìn
lại sẽ thấy con cháu nội cưng của mình bận áo dài. Nhưng mà không. Con nầy đâu
còn là Ngọc Hạnh nữa, nó là Oăn-đa rồi mà.
° ° °
Chị Tám, tui coi bộ thời cuộc găng dữ đa chị. Ỏ ngoại ô thì
bom đạm tơi bời, pháo kích ầm ĩ; ở thành thị thì biểu tình tùm lum. Ðó đây,
truyền đơn bươm bướm phơi xác đầy đường, lâu lâu đạn cay ứ nghẹt từng góc phố
góc đường. Con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui già cả, quê mùa bù trất chuyện thời
cuộc nên cứ lo thủ phận mần ăn.
Một buổi chiều nọ, con Ngọc Hiền thỏ thẻ:
- Nội à, có một anh sinh viên trường quân y để ý thương con. Mai sau, ảnh ra
làm bác sĩ, vinh diệu vô cùng..
Tui mừng quýnh, nghĩ rằng nhờ phước đức ông bà, nhờ mồ mả tổ tiên nên có người
đàng hoàng tử tế đòi cưới nó. Thằng sinh viên trường quân y kia là dân Bắc kỳ
di cư, mặt mày coi phải thế thanh niên, ăn nói mềm mỏng, nhỏ nhẹ, hễ mở miệng
ra là thưa cụ, đóng miệng lại là kính cụ, thấy thương hết sức! Tui mới hỏi con
cháu nội:
- Mầy gặp nó ở đâu? Dịp nào?
Con Ngọc Hiền cười chúm chím, cặp mắt ướt rượt coi giống mấy con đào thủ vai
Phàn Lê Huê, Mộc Quế Anh, Ðoàn Hồng Ngọc...thứ gái được vua chúa, cha mẹ, bà thầy
thánh mẫu nuôi cho nên vai nên vóc rồi trở mặt phủi ơn để theo trai nước cừu địch...Sao
tui ghét mấy con lủng đó quá trời!
Gạn hỏi hoài tui mới rõ con cháu nội tui trời biển lắm đó chị Tám! Té ra phản
chiến gì nó! Họp hành, xuống đường, dự đêm không ngủ là nó cốt tìm dịp kiếm chồng.
Con nầy khôn trật đời! Tuy tui có bần dùn về kiểu kiếm chồng dị hụ đó, nhưng
nghĩ tới thằng cháu rể mai sau làm bác sĩ quân y là tui mát dạ mát gan. Rồi tui
đâm ra hối hận. Trước kia, khi thấy cỏn cùng lũ bạn gái dượt mấy bản phản chiến
là tui tức mình tức mẩy, nóng phổi, ngứa gan. Có lần tụi nó xúm lại đờn địch rầm
rĩ rồi cất giọng eo éo:
Máu ai đây?
Xác của ai?
Giòng máu này là bạn?
Thây ma nào là thù?
Ô hay chỉ là người,
Cùng tiếng nói Việt Nam...
Chu choa ơi, tụi nó hát tới hát lui, dượt đi dượt lại làm mụ già trầu nầy bắt
thuộc lòng. Tui ghét quá, phang mạnh: "Máu của con nào thì con đó biết. Mỗi
tháng bây biết đều đều, khéo làm bộ hỏi nhau rằng máu ai đây?" khiến tụi
nó mắc cỡ, xẻn lẻn giải tán...
Thôi từ đây tui cũng nhẹ thở. Rồi đây con Ngọc Hiền sẽ làm bác sĩ phu nhơn. Tui
ra sức o bế thằng hổ bôn tiểu tặc Bắc kỳ. Tui nấu suông đặc ngừ tôm quết nhuyễn
đỏ ối. Tui đổ bánh xèo, nhưn bánh đầy tôm thịt, nấm rơm. Tui nấu canh chua cá
bông lau với khóm, tui lựa cá rô mề để kho tộ, tui nấu cơm gạo nanh chồn, thơm
ngát xóm trên lừng xóm dưới...Tiểu tướng Bắc kỳ chắc lưỡi hít hà khen ngợi làm
tui mát bụng, lá gan nở bự như cái quạt, xả thân mẹo dậu kho nấu chiên xào cho
thẳng.
Sau đám hỏi, con Ngọc Hiền chí thú học hành nên tốt nghiệp đại học Sư phạm, đi
dạy tại một trường trung học bên Phú Lâm. Có nghề nghiệp trong tay, được một ý
trung nhơn tốt mã, con cháu nội tui yêu đời lắm nên cứ chót chét véo von tối
ngày. Sáng sáng nó theo bài hát mở đầu chương trình gia binh phát thanh, rống
lên: "Mừng cho đôi uyên ương, sống vui vầy trăm năm hạnh phúc..." Hay
quá! Chẳng những con Ngọc Hiền hát ra tiếng mà tui đây cũng hát thầm để chúc
cho con Oăn-đa Ngọc Hạnh lỡ lấy thằng Ðít thì lấy luôn, đừng lạng quạng mà gặp
cảnh ba chìm bảy nổi; cho con Ngọc Hiền sẽ được thằng chồng Bắc kỳ tưng tiu,
không ép vợ ăn rau muống, không mời vợ xực mắm tôm mà chỉ khuyên vợ chơi năm ba
chân hụi. Có vậy nếp nhà mới không bại xuội, vợ chồng mới thuận thảo đề huề.
Vậy mà gần tới ngày đám cưới, không hiểu mắc mớ gì mà con Ngọc Hiền cứ ong ỏng
ca: "Giờ thì cũng yêu mà yêu với chồng..." hoặc "Thôi hết rồi,
em đã về vui với người, ta xa nhau rồi" khiến tui phải la:
- Con nhà tử tế thì phải hát bản vui tươi, lời nhạc có đạo lý, lẽ đâu tối ngày
mầy lại nghêu ngao mấy bài ôn dịch nghe mà xuội bại tứ chi, bủn rủn tâm trí đó!
Rồi đó tui nhận được thơ của con Oăn-đa than thở kêu nhớ nhà, chung quanh không
có kẻ đồng chủng. Linh tính của tui sao mà nhạy, coi vèo con quỉ đó hết mê Ðít
mê Khu rồi chị ơi! Nó muốn nhảy lăng ba vi bộ gì đây!
Thơ trước vừa nằm trong ngăn tủ kéo chưa đầy một tháng thì thơ sau tới, con
Oăn-đa báo tin nó vừa kết hôn với thằng Mỹ khác, lớn tuổi hơn thằng Ðít nhưng
là bác sĩ có phòng mạch. Thì ra, khi viết thơ trước, cỏn đã lôi thằng Ðít ra
toà xé giấy hôn thú từ bốn tháng trước. Thằng chồng mới của nó tên là Uy-li-âm
mà nó biểu kêu là Biêu cho gọn. Thiệt tui xẩu mình con cháu lớn nầy quá trời
quá đất. Nó hết dại nầy sang dại khác. A thần phù lấy Mỹ là đã trét tro trét bùn
lên mặt tui. Lỡ lấy rồi còn không chịu ăn đời ở kiếp với chồng lại ôm cầm sang
thuyền khác làm tui thêm nhục.
Tấm hình chụp hôm con Oăn-đa Ngọc Hạnh tái hôn ngó mà ớn óc. Nó bận áo voan, ôm
bó bông hường liếc qua thằng chồng mới tóc vàng như rơm khô, mắt xanh lè như mắt
mèo. Chèn ơi, bởi cặp mắt với nụ cười đó mà đờn ông chịu khiếp phục để nó vo
tròn bóp mép đó đa!
Hồi trước, khi thằng con trai tui dắt con vợ nó ôm bụng chửa chình ình về trình
diện tui, thấy cặp mắt con đó là tui bủn rủn, bàng hoàng rồi. Gái mà có cặp mắt
đó đâu có đợi đàng trai cầm trầu cầm cau cười hỏi. Nó thấy trai là xáp vô bày
bát quái trận hoặc mê hồn trận để chim trai. Nó vác bụng chửa về nhà chồng dẫu
không cưới hỏi mà không hề ngại ngùng, hỗ thẹn. Con Ngọc Hạnh với con Ngọc Hiền
lựa nét lẵng của mẹ tụi nó mà giống. Con Ngọc Hạnh lựa hai, giống má nó cả cặp
mắt lẫn nụ cười; con Ngọc Hiền đỡ hơn, chỉ giống má nó ở cặp mắt. Thiệt tình,
con chị đi trước nêu toàn gương xấu nên tui chỉ còn kỳ vọng ở con em.
° ° °
Chị Tám, chèn đét ơi, ai mà dè chị em mình có ngày sống trên
đất Mỹ rộng minh mông nầy? Chị ở Tây Nam, tui theo lũ cháu ở Ðông Bắc. Tui đâu
có dè tụi Cộng sản nuốt trộng miền Nam rùm rụp vậy! Vợ chồng con Ngọc Hiền bắt
đủ mọi đường dây để lánh nạn quỉ đỏ, đuơng thèm lo lắng cho tui. Bửa 30 tháng
4, tui ra bến tàu kiếm tụi nó, lòng chết điếng. Rồi tui bị lớp sóng người đẩy
văng tuốt lên cầu tàu. Tui la, tui khóc, muốn tháo lộn trở lại mà không được.
Tàu rời bến, tui hét lên chết giấc.
Khi tới đảo Gam (Guam), tui bật ngửa ra, gặp con Ngọc Hiền có mặt ở đó trong lớp
người di tản. Thì ra trong lúc quính quáng, nó chợt nhớ tới thằng mèo cũ vốn là
sĩ quan hải quân làm trong phòng tâm lý chiến ở căn cứ Bạch Ðằng, nên xin tháp
tùng theo, nỡ bỏ chồng lại.
Nó ỏn ẻn hứa hẹn:
- Qua Mỹ, con sẽ cố sức vận động để đem chồng con qua.
Miệng nói nhỏ nhẹ mà cặp mắt ướt rượt của nó rà qua thằng hải quân! Thằng nầy
cao lớn, trắng trẻo mắt sáng mày thanh, ria mép tỉa mỏn, coi bộ sáng hơn thằng
cháu rể Bắc kỳ của tui. Chị Tám ơi, cặp mắt ướt rượt kia đã dắt con mẹ tụi nó
đi xa, qua tuốt bên Lèo, đẩy con Ngọc Hạnh mới chưa đầy bốn năm từ vòng tay thằng
Ðít tới thằng Biêu. Rồi cũng cặp mắt đó theo thời cuộc, đẩy con Ngọc Hiền vào cảnh
thay chồng, quên nghĩa tào khang.
Trời ơi, ngay trên đảo, con Ngọc Hiền đã bỏ bê tui, đánh đôi đánh đọ với đủ thứ
đàn ông, vầy cuộc đờn ca hát xướng. Con cháu nội tui đó, tuy giọng nó không
chát không chua nhưng lên cao thì tét, xuống trầm thì nghẹt, vậy mà mơ làm ca
sĩ. Nó hăm he hễ đặt chơn tới Mỹ là đi tìm thầy luyện giọng. Cũng trong thời
gian hai bà cháu ở đảo, con Ngọc Hạnh lo làm giấy để rước bà nội và em về thủ
đô Hoa Thịnh Ðốn.
Thiệt tình tui tưởng dù có đánh đôi đánh đọ hát xướng với bọn đờn ông, con Ngọc
Hiền vẫn là của riêng của thằng hải quân nọ. Ai dè một bữa nọ, nó đem một tên mập
mạp rậm râu sâu mắt tới giới thiệu:
- Thưa nội, anh Hát đây trước kia là giám đốc trung tâm băng nhạc Sơn Ca và
cũng là nhạc sĩ. Ảnh muốn cưới con...
Tui bợ ngợ:
- Còn thằng chồng mầy kẹt bên nhà thì sao?
Nó cười gằn, mắt đổ hung quang:
- Hôm nay con xin thú thiệt với nội. Thằng chồng Bắc kỳ của con, trước ngày mất
nước một tuần nó đã tò vè được con ông chủ tàu đánh cá ở Phú Quốc. Thằng con
trai ổng cũng là sĩ quan hải quân tại đó. Chồng con chịu đi theo gia đình ông
ta, bỏ con ở lại.
Nó trình cho tui coi bức thư tạ lỗi vợ của thằng cháu nội rể trời đánh kia.
Khi tên rậm râu sâu mắt đi khỏi, tôi mới hỏi:
- Còn ông quan ba hải quân thì sao đây?
Ngọc Hiền cười cười:
- Thì vẫn là bạn bè. Ảnh có vợ rồi. Vợ ảnh quốc tịch Pháp. Từ hai năm rồi bả
qua Pháp để trị bịnh suy nhược thần kinh. Bả có viết thơ nói sẽ làm giấy bảo
lãnh ảnh qua Pháp.
Hứ! bạn bè gì kỳ cục vậy? Từ hôm qua đảo tới lúc dẫn tên cựu giám đốc trung tâm
băng nhạc tới trình diện tui, con Ngọc Hiền ở miết trong lều tên đại úy hải
quân. À, thì ra nó đền ơn đáp nghĩa ân nhân và trả đũa thằng chồng bạc bẽo của
nó bằng cách đó! Tui khờ khạo lắm chị Tám à. Thời cuộc dồn dập xảy tới tui trở
tay không kịp. Trên đảo thiếu thốn tiện nghi, vừa nhớ nước nhớ nhà lại vừa khốn
đốn thói đi ngang về tắt của con cháu đàng điếm khiến tui tê điếng, không biết
tính sao nữa. Những ngày đầu tui thèm trầu cau muốn khóc, riết rồi cũng quen.
Ðêm đêm dưới mái lều, tui trằn trọc. Ðời bà già đã gần 70 bỏ xứ ra đi, còn hy vọng
gì? Bỏ làng quê một lần, bỏ xứ thêm một lần nữa, tấm lòng đã hao hớt hơn phân nửa.
Chong mắt nhìn hai con cháu ăn ở trái luân thường đạo lý, tui không hiểu mình
còn dựa điều gì mà sống đây? Ánh trăng mờ sương bên ngoài lọt kẽ lều đến chỗ
tui nằm, đưa tui vào giấc chiêm bao có những cây cau phơi bẹ xạm nắng, những nọc
trầu lá ửng lấp lánh dưới trăng. Từ vườn cau, vườn trầu, tui gặp lại biết bao
nhiêu khuôn mặt bà con chòm xóm ở quê nhà. Tui thấy lại những chiếc lu, khạp bể
liệng dưới gốc cây da che mát miếu thổ địa. Tui thấy cảnh chợ quê, duới bến chợ
ghe lúa, ghe khoai, ghe mắm đậu lển nghển. Ðặc biệt nhứt là chiếc ghe chở đồ gốm
như lu hũ, cà ràng, hoả lò, nồi ơ, chén dĩa...
° ° °
Con Ngọc Hạnh bảo lãnh bà nội và em về thủ đô Hoa Thạnh Ðốn.
Nó dọn cho tụi tui một căn ở dưới từng trệt, lúc đầu tui cứ gọi là tầng địa huyệt.
Từng đó cũng đầy đủ tiện nghi, có cầu tiêu nhà tắm, có chỗ phơi quần áo. Nó còn
mua cho tui ba cái lồng chim, mỗi lồng nhốt bốn con cùng giống, véo von cho vui
nhà.
Tui quên cho chị hay, bữa đón tui và con Ngọc Hiền ở sân bay, con Ngọc Hạnh có
mang theo hai thằng cả chồng mới lẫn chồng cũ. Ðít, Biêu có vẻ thuận thảo lắm.
Con Ngọc Hạnh đứng giữa hai thằng Mỹ, vóc nó nhỏ thó khác nào con gà tre đứng
giữa hai con gà cồ. Con quỉ sống nầy bày cảnh gia đình ông Táo sao chớ! Thằng
Ðít cứ xà quần theo con Ngọc Hiền, còn cỏn thì như nhồng lột lưỡi, nói thôi tía
lia.
Mỗi ngày con Ngọc Hiền và tui lụm cụm leo ba bực thang để lên nhà bếp nấu ăn
cho vợ chồng thằng Biêu. Nhưng tui phải làm theo chỉ thị của con Ngọc Hạnh là không
được kho thịt cá vì mùi nước mắm sẽ thấm vào thảm, vào màn cửa. Thằng Biêu mê
chả giò, tôm lăn bột chiên, gỏi gà, cà ri...Nó kêu tui bằng "gờ-răng-ni"
(granny) coi bộ cũng tử tế. Tui tuy 68 tuổi rồi nhưng nhờ vận động nhiều nên
tay chơn cứng cáp, làm bếp còn sõi lắm. Qua xứ nầy, coi bộ con Ngọc Hiền khó
làm bà, bởi đó tui khuyên nó tập làm bếp. Nó nhún vai, mắt ngó lên tấm hình con
ca sĩ Mỹ tóc chải như lông nhím mà cặp mắt ướt rượt. Tui sợ quá chị Tám ơi! Cái
thằng cựu giám đốc hãng băng nhạc ở Cali cứ gọi điện thoại cho con Ngọc Hiền đều
đều. Tui sợ con nầy bỏ chị bỏ bà qua Cali để làm ca sĩ hết sức.
Quên, tui chưa kể với chị, từ hôm có con Ngọc Hiền, thằng Ðít mỗi tuần đều lái
xe cả 50 mai (miles) đến thăm con em vợ cũ. Cỏn coi bộ cũng ưa thằng cựu anh rể.
Con Ngọc Hạnh thì không nói không rằng nhưng có vẻ khuyến khích hai đứa. Do đó
mà con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui lo quá, cứ than thở hoài. Con Ngọc Hạnh
cười:
- Kệ nó nội ơi! Nó lớn rồi. Ở cái xứ nầy, con cái trưởng thành là tự chọn bạn
chọn bồ, chọn chồng, chọn vợ. Thằng Ðít coi cũng xứng với con Hiền. Nó tử tế, dễ
thương. Nó mà cưới con Hiền thì con mừng lắm.
Tui trợn mắt:
- Nó tử tế, vậy sao mầy lộn nài bẻ ống bỏ nớ?
Nó có vẻ buồn buồn:
- Tại vì con không làm tròn bổn phận chăn gối với nó. Chuyện gối chăn lắt léo lắm.
Con đành trả tự do cho nó. Con vẫn thương yêu nó như thương yêu thằng Biêu, có
điều là thằng Biêu dịu dàng, kiên nhẫn, hạp với con hơn. Lại nữa...
Thôi, thôi, nó càng nói tui càng hổng hiểu gì ráo! Tui già cả đầu óc đã mù mịt,
giờ càng đen đậm đen đặc như đêm ba mươi. Chuyện gối chăn giữa vợ chồng với
nhau mà con nầy cũng đem ra nói. Chồng mình không ưng bụng về chuyện đó thì phải
tìm cách làm đẹp lòng chồng, có lý đâu lại bỏ chồng để lấy chồng khác? Chị Hai
tui hồi xưa, sau hai lần sanh nở khó khăn, liền cưới vợ bé cho chồng. Thời buổi
nầy, đờn ông lấy vợ bé thì kỳ cục lắm nhưng nếu mình không làm đẹp lòng chồng
là mình phạm lỗi rồi. Bỏ chồng để lấy chồng khác thì chỉ có mấy con Hạ Cơ,
Tuyên Khương, Võ Chiếu mới làm nổi chuyện đó.
Nằm đêm nghĩ lại, tui thấy mình tuy vậy cũng còn có phước hơn mấy ông già bà cả
di tản qua đây bị con cái bỏ bê không thèm ngó ngàng tới lui hoặc bị bỏ vô nhà
dưỡng lão. Hai con Ngọc của tui sớm xa cha mẹ nên đeo dính bà nội từ nhỏ. Qua
đây tụi nó có bè có lũ riêng nên không đeo theo tui như chầu xưa nữa nhưng vẫn
chịu khó đưa tui đi mua trầu, mua cau, mua dầu cù-là Trung cộng, thuốc Bắc loại
cao đơn huờn tán; chở tui đi giao thiệp với ông già bà cả người mình trong viện
dưỡng lão. Duy có điều con Hạnh không cho tui kho cá kho thịt hay chưng mắm.
Tại nhà dưỡng lão, tui gặp một bà người Huế nói tiếng Nam sành sỏi. Nghe đâu bả
là cháu nội của quan đại thần hồi trào vua Ðồng Khánh. Chồng trước của bả là
hoàng thân, vốn là thày dạy của thái tử Bảo Long. Ông hoàng chết, bả tái giá với
ông nhạc sĩ dòng dõi quan quyền gì đó ngoài Bắc. Hồi xưa bả là ca sĩ nổi tiếng
tên là Minh Loan, sau đó nghe đâu bị suyễn nên mất giọng và chức đệ nhứt nữ
danh ca của bả mới chuyền qua cô ca sĩ được thiên hạ kêu là "tiếng hát trường
cữu". Giờ đây bả tuy già mà lưng thẳng như cây cau, dáng dấp thon mảnh, đi
nhẹ nhàng và vùn vụt như gió. Gặp bả, tui thẹn phận mình quê mùa, chữ trét chưa
đầu lá mít vậy mà bả chịu khó nghe tui kể chuyện cà kê dê ngỗng, cười từng chập.
Bả kêu tui bằng chị, xưng em. Rồi đó mỗi tuần bả tự lái xe tới thăm tui, chở
tui đi mua đồ, đi chơi. Nhận thấy bả thành thiệt, không làm phách, tui mến bả,
làm món ngon mời bả.
Bà Minh Loan có tám đứa con, đứa nào cũng ca hay đờn giỏi nhưng không ai theo
nghề ca hát hết, chỉ lo làm ăn bồi đắp gia đình. Còn con Ngọc Hiền của tui thì
giọng hát ngang ngang mà sanh sứa mơ làm ca sĩ, hễ ban tổ chức buổi trình diễn
văn nghệ nào mời là nó nhảy lên sân khấu liền một khi làm tui khổ tâm hết sức!
Con Ngọc Hiền đi tới đâu là có thằng Ðít phò tá tới đó. Nó săn đón kỹ quá, riết
rồi con Ngọc Hiền ở miết nhà anh rể cũ. Tuy có buồn bực, tui cũng vái trời cho
nó lấy thằng Ðít phứt cho rồi. Lấy Ðít là nó còn ở đây, đôi ba bữa tui còn thấy
mặt nó, làm món ngon vật lạ cho nó ăn.
Ðều đều bà Minh Loan vẫn lui tới thăm viếng, an ủi tui. Bả nói tụi trẻ thời nay
không giống tụi mình, thôi cứ để tụi nó sống theo ý, dẫu có vấp ngã thì tụi nó
lại đứng dậy, làm lại cuộc đời dễ dàng. Mà cũng lạ, tại sao bả với tui, người học
thức, kẻ quê dốt mà lại hạp nhau? Bả chở tui về nhà cậu con trai bả, đãi tui một
bữa cơm có cá lụn vụn kho tiêu và canh cải nấu tôm khô ngon thần sầu. Tụi Mỹ đời
nào chịu húp canh nấu tôm khô, bởi đó ở nhà con Ngọc Hạnh, tui đâu được ăn món
nầy.
Chiều thứ sáu tuần đó, vợ chồng con Ngọc Hạnh đi nghỉ mát ở xa, hẹn tối chúa nhật
mới về. Một bà trong viện dưỡng lão có cho tui một nửa hũ mắm sặt. Bà Minh Loan
bèn đưa tui ra chợ Việt Nam mua rau thơm, giá sống, cà tím, nấm, cá hồi, tôm
đông lạnh về làm món mắm và rau. Hai chị em cùng hai bà bạn già khác thưởng thức
món ăn quê nhà vô cùng hả hê, khoái lạc.
Ai dè sau bữa ăn đó tui gặp nạn. Thằng Biêu vừa vô nhà là la rùm lên. Con Ngọc
Hạnh hơ hải hỏi:
- Có phải nội kho mắm không? Thằng Biêu nó nói có con chuột hay con gì đó chết
sình nên mùi thúi bay tùm lum đây nè....
Nghe qua tự sự, thằngBiêu đem quần áo ra ở khách sạn. Tui và con Ngọc Hạnh xịt
đủ thứ dầu chanh, dầu cam, dầu sả mà mùi mắm quái ác vẫn lẩn quần trong nhà.
Túng thế, tui điện thoại gọi bà Minh Loan. Bả bảo:
- Chị cứ lấy nhang thơm của chà và đốt vài nén là tẩy hết mùi. Thôi được, em có
nén nhang bạch đàn đây, để em đem lại.
Mùi mắm bay đi, thằng Biêu trở về. Bà Minh Loan có gặp thằng Phiên tặc đó để giải
thích. Nó đặt tay lên vai tui xin lỗi nhưng từ đó tui hết dám nghĩ tới mắm kho,
mắm chưng, hết dám mơ tưởng tới thịt kho, cá kho gì nữa.
Bà Minh Loan mê bài bạc nên bả leo lên máy bay đi Cali ở với cô con gái út để
lãnh tiền cấp dưỡng gấp đôi. Ở đó người Việt đông, bả sẽ mở lớp dạy ca sĩ, luyện
giọng, làm một cái gì có ích hơn là đánh bạc. Hôm tiễn bả ra phi trường, mấy
tay đánh bạc và tui khóc mùi. Bả hứa sẽ trở về nhưng tui biết bả về là cũng chỉ
về thăm thôi rồi trở lại Cali. Nghĩ vậy mà tui ôm bả khóc ngất.
Cái ngày tui lo sợ con Ngọc Hiền bỏ bà nội đi Cali đã tới rồi, chị Tám! ThằngÐít
đi trước, nó đi sau, cách nhau một tháng. Tui lấy làm lạ hỏi con Ngọc Hạnh:
- Em mầy qua bển làm vợ thằng Hát hay làm vợ thằng Ðít?
- Nó có định làm vợ ai đâu? Thằng nào cũng là bạn nó thôi nội à!
- Bạn cách nào? Tao thấy...
Ngọc Hạnh nhăn nhó
- Ối, chuyện tụi trẻ...khó nói lắm. Nội để ý làm gì cho mệt! Ít tháng nữa nội
có cháu cố, xin nội cưng nó như đã từng cưng tụi con.
Cỏn có bầu rồi chị Tám à. Cái bụng nó tròn như trái dưa hấu xẻ đôi úp lên. Nghĩ
tới lúc được bồng cháu cố mà tui sướng run.
° ° °
Giấc mơ ca sĩ của con Ngọc Hiền lẩm rẩm vậy mà thành đó chị
Tám! Nó gửi hình, gởi tấm chương trình về cho tui và cho chị nó hà rầm. Trong
hình nó nhuộm tóc vàng như trét cà-ri rồi không biết nó thoa vuốt cách nào mà từng
tép tóc nó chĩa ra như lông nhím. Nó còn thoa son môi màu tím như màu cà dái
dê, đánh phông mắt đỏ hoét, đeo vòng chuỗi nặng cả ký lô, mặc áo hở ngực hở vai
...coi lạ hoắc. Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa! Nó biểu hát nhạc trẻ thì phải có
tên Tây tà mới hạp.
Con Ngọc Hiền có vẻ yêu đời. Nó ở chung với thằng Ðít nhưng đi lưu diễn với thằng
Hát, nghe đâu được hoan nghinh lắm. Mới đây nó theo phái đoàn lưu diễn của thằng
Hát trở về Hoa Thạnh Ðốn trình diễn, nghe đâu là chương trình nhạc trẻ một trăm
phần trăm, tụi nhỏ ưa lắm. Tui dẫu già cả, quê dốt nhưng cũng mua giấy để coi
con Giên tui hát hỏng ra sao.
Chèn ơi, chị Tám! Không hiểu mồ mả ông nội của hai con Ngọc có bị trâu dẫm, bò
đạp, heo chó phóng uế hay không mà mả bị động khiến lũ cháu gái mất nết hư
thân. Con Giên tuy không dám loã thể trên sân khấu nhưng nó chế ra cái áo giống
như cái áo lá, để chừa một khoảng bụng lòi cái lỗ rún thật sâu đựng cỡ một muổng
cà phê nước mắm. Cái quần của nó thiệt lạ đời: xì-líp không ra xì-líp, quần cụt
không ra quần cụt. Quần bằng nhung đen, thêu con dơi bằng kim tuyến ngay chỗ giữa
cặp đùi. Quên nữa, cái áo hở bụng của nó cũng bằng nhung đen, ôm tròn cặp vú,
thêu từng vòng tròn ở chỗ lồi của vú. Mèn ơi, áo quần mà thêu kiểu đó có khác
nào réo gọi khán giả rằng: "Mấy người hãy coi đây!". Ngộ hén! Ca sĩ
trình diễn là để mời khán giả thưởng thức giọng hát chớ có lý đâu mời họ nhìn
và tưởng tượng mấy thứ bửu bối của đờn bà nằm dưới con dơi và những vòng tròn
thêu kim tuyến đó!
Con Giên vừa ỏng ẹo bước ra, lũ choai choai thôi huýt sáo, rít tu hít từng
tràng dài. Tui nhục nhã biết để đâu cho hết, chị Tám! Khi hát nó ưa xoay lưng lắc
lắc cái mông thiếu điều dện vô mặt khán giả. Rồi khi quay mặt lại là nó nẩy người
lên, chàng hảng chê hê coi thiệt là tục tĩu, vô phép tắc. Vậy mà lũ trẻ coi bộ thích
lắm, hoan nghinh như sấm. Tui và bà bạn già bỏ ra về, ở coi cho hết chương
trình càng thêm nhục! Tới chỗ bán băng nhạc, tui tò mò nhìn vô. Tui bị quáng mắt
hay thông manh đó chăng? Cái băng nhạc có cái nhãn in hình cô nữ ca sĩ trần truồng
nguyên con là ai vậy? Ðầu óc tui đảo lộn, tui ngã quị xuống như cây chuối bị đốn.
Có tiếng nói văng vẳng:
- Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa bà con. Cổ là cháu nội bà Năm Xóm Gà chớ ai!
CÙNG TRÊN
MẢNH ĐẤT ẤY
Gần sân vận động tỉnh Vĩnh Long, cách một con lộ tráng nhựa
là nhà máy đèn vào đầu thập niên còn chạy bằng than đá. Cũng theo con lộ đưa về
một cái gò cao có trồng một cây da trên đỉnh gò. Dưới bóng rậm rịt của cây da,
người ta xây một cái miễu mái ngói tráng men đỏ lẫn men mày thúy lục, mặt tiền
sơn son thếp vàng. Trong miễu, nhang thắp suốt ngày. Người ta gọi cái miễu đó
là miễu Cây Da Cửa Hữu. Ở đây gần Thánh Thất Cao Ðài, chủng viện đạo Gia Tô,
trường tiểu học Vĩnh Long, bịnh viện Thánh Minh. Xa hơn nữa, ném về miệt
Công-xi Heo, là lò heo và đất thánh An nam.
Khoảng giữa nhà máy đèn và miễu Cây Da Cửa Hữu có một ngôi Niệm Phật Ðường. Ðó
là một căn nhà ba gian hai chái, tường đúc, hàng rào bông bụp vây quanh, lại
còn bọc thêm một lớp hàng rào xương rồng vòng ngoài. Chỗ đó trang nghiêm khuất
tịch, do vợ một thương gia Hoa kiều lập ra để tu niệm...
Ðối diện với Niệm Phật Ðường là một cái quán mái lá, bàn gỗ, ghế đẫu. Một chiếc
sạp ván đặt bên trái quán, từ cửa ngó vào. Trên sạp bày đầy các keo lọ thủy
tinh, cái đựng dưa kiệu, cái đựng dưa chuột, cái đựng nước mắm, cái đựng tương ớt...Kế
bên mớ keo lọ đó là rổ rau, rổ bún. Bên sạp ván có hai chiếc hỏa lò luôn rực lửa.
Một chiếc đặt chảo mỡ, chiếc kia đặt cái nồi đất để nấu trà huế. Chảo, nồi đều
đóng khói đen ngòm. Ðây là giang san của bà Hai Ách. Bà bán bún chả giò, bún
nem, bún bì, bánh cống, gỏi cuốn, bì cuốn, nem cuốn...Từ xà nhà, phía trên vạt
tre, bà treo tòn ten những xâu nem bì, nem chua, những nải chuối già. Dưới vạt
tre là thùng nước đá phủ mạt cưa, các két nước xá xị, nước cam, bạc hà,
li-mô-nát, la de...
Cách đây hai năm, chú Tư Nghinh, em ruột của bà Hai Ách bảo bà:
- Chị mà bày bán thêm đồ nhậu và rượư thì thể nào cũng kiếm thêm mỗi ngày trên
trăm bạc chớ không chơi.
Từ đó trên sạp ván bày thêm mớ khô cá đường, khô mực và thúng hột vịt lộn lẫn hột
vịt ung luộc chín vùi vào trong trấu để giữ hơi nóng.
Bà Hai Ách bán quán nhậu nầy từ hồi trào Tây đến năm 1954 là chẵn mười năm. Bà
thường nhắc nhở với các bà khách từ xa tới:
- Hồi trào Tây, cái Niệm Phật Ðường kia là....
Bà hạ thấp giọng, kề miệng sát tai bà khách. Ánh mắt họ rực lên thích thú, mặt
họ tái nhợt vì bị kích thích.
Bà Hai Ách từ "hồi trào Tây" đã biết cái quá khứ, cái tiền thân của
Niệm Phật Ðường kia. Vì rằng trước kia, hồi Tây cai trị xứ mình, chồng bà làm tới
chức "ách" trong đội lính khố xanh. Ðến thời bình minh của nền Ðệ Nhứt
Cộng Hoà thì ông Ách giải ngũ. Thiên hạ không có dịp kêu ông là ông thượng sĩ
Trần văn Cảnh mà vẫn tiếp tục kêu ông Hai Ách, bà Hai Ách như xưa tuy rất ít
người hiểu căn nguyên của nó.
Ông Hai Ách tuổi tuy đã 60 nhưng khí huyết hãy còn phương cường lắm nên ông tò
tí với bà Tám Rớt nhỏ hơn ông tới mười tuổi. Bà Hai Ách tuy mới 56 mà đã chê việc
ăn nằm với chồng. Tuy vậy bà cũng biết đau, biết ghen khi thấy chồng cưng vợ bé
quá là cưng. Bà thường cùng hội bắt ghen lên tận nhà bà Tám Rớt để làm dữ. Sau
cùng, ông Hai Ách điều đình với vợ, xin nộp nguyên vẹn tiền hưu trí mỗi tháng để
ông được tự do hú hí với bà Tám Rớt. Ông mở phòng coi chỉ tay, quẻ diệc, nham độn
và bàn xâm (gồm cả xâm Ông tức đức Quan Thế Ðế Quân và xâm Bà tức đức Thiên Hậu)
kiếm ăn lai rai. Bà Tám Rớt thì bán cá ngoài chợ Vãng. Bà nầy về sau lân la tới
vợ lớn của chồng mình, tỏ ra mềm mỏng dễ thương. Mỗi lần thăm viếng bà đều tặng
cho bà Hai Ách khi thì bánh trái, lúc thì gà vịt. Bà Hai Ách bị khớp miệng và
tê liệt tay chơn bởi cách xử sự của mụ vợ bé chồng mình, nên thay vì chửi đánh
tình địch, bà kêu "dì nó" ngọt xớt, tay rót nước trà mời "dì nó
uống cho thấm giọng" một cách ân cần.
Bà Hai Ách nhờ việc bán quán cốc nên đỡ buồn về chồng san sẻ tình nghĩa với người
đờn bà khác. Bà có cặp lỗ tai rất thính, trí nhớ rất dẻo dai... Ðám thực khách
đờn bà của bà lui tới quán có sẵn cả chục câu chuyện ngồi lê đôi mách để làm
quà cho nhau. Mỗi câu chuyện một khi lọt qua tai bà thì nó được trí óc bà ghi
nhận kỹ. Tuy nhiên, vì tuổi tác càng ngày càng chồng chất nên sự ghi nhận của
ký ức bà giảm dần đôi phần chính xác. Nhưng không lo! Chỗ nào quên hoặc nhớ mù
mờ thì bà tưởng tượng thêm vài tình tiết lý thú để trám vô chỗ thiếu thốn, hở
hang đó.
Cái Niệm Phật Ðường đối diện quán cốc, bà Hai Ách biết rất rõ, từ lúc nó chỉ là
bãi đất trống mọc đầy cỏ mần chầu và cỏ đuôi chồn, tới lúc ông thầu khoán Thái
văn Bảnh mướn xe cam nhông chở vật liệu xây cất về để dựng lên một toà nhà bánh
ếch kiểu Tây, và cho tới lúc bà bang trưởng Phúc Kiến bỏ tiền ra mua lại, thỉnh
tượng A Di Ðà Tam Tôn về thờ ở căn giữa.
Gặp khách ở xa ghé qua quán ăn bì, ăn chả giò, bà Hai Ách thường chỉ ngôi Niệm
Phật Ðường, bảo:
- Cái Niệm Phật Ðường Bê Em Xê (BMC) đó đó hồi bốn năm về trước...
Các bà khách vừa ăn vừa giảo lỗ tai lắng nghe bà chủ quán sành đời. Bà Hai Ách
có lối kể thập phần hấp dẫn vì bà biết thêm thắt câu chuyện, biết nhấn giọng hoặc
bào mỏng giọng cho câu chuyện thêm phần ly kỳ. Các bà thực khách cười ré lên từng
chặp khoái trá, rồi làm ra màu mắc cỡ:
- À, té ra là vậy. Thiệt tình, tụi nầy đâu có dè...
Nhưng họ chỉ được nghe bà Hai Ách kể cho nghe chuyện năm xưa chớ không hề giải
nghĩa ba tiếng "Bê Em Xê" là cái gì. Nhưng chính vì chỗ không hiểu rõ
đó mà óc tưởng tượng của họ hoạt động nhiều hơn, cảm thấy chúng có nhiều ý
nghĩa lý thú lắm!
° ° °
Bà Phủ Long là một nhà giàu nổi tiếng ở cầu Cái Cá. Nhà bà
cách chợ Vãng chừng hai cây số. Bà cũng nổi tiếng là một Phật tử thuần thành, một
lòng quy y tam bảo, cố gắng giữ vẹn ngũ giới.
Vào kỳ rằm hạ nguơn năm đó, bà cùng cô con gái cưng là Năm Phụng Kiều xách dù đến
quán bà Hai Ách. Hôm đó bà Hai bán đồ chay. Món chả giò chay, bì bún chay và
món kiểm chay của bà thì trong trào ngoài quận ai cũng trầm trồ, ai cũng hít hà
chắt lưỡi.
Năm nay tóc bà Phủ Long đã bạc như phết vôi, song sắc mặt bà hồng hào, cái nhìn
của bà hãy còn sắc sảo, tròng mắt bà đưa đẩy rất mau. Bà mặc chiếc áo gấm màu
dưa cải, tai đeo bông hột xoàn năm ly bự trưu trứu, cổ đeo dây chuyền mặt mề
đai cẩn hột xoàn chấp chới. Cô Năm Phụng Kiều khuôn mặt phúc hậu, nước da trắng
ăn phấn. Cô mặc chiếc áo nhiễu tím, quần sa-teng đen, đeo nữ trang khiêm tốn
hơn mẹ: một chiếc kiềng trơn, một đôi bông tai cẩm thạch, một chiếc đồng hồ Thụy
sĩ, một chiếc nhẫn hột xoàn....
Bà Phủ Long gọi sáu cuốn bì chay và sáu cuốn chả giò chay cùng bún, rau thơm, cải
xà-lách, dưa leo xắt mỏng. Bà tằng hắng, bảo bà Hai Ách:
- Nè thím Hai Ách, tui nghe thiên hạ đồn thím bán đồ chay thiệt ngon, giá phải
chăng nên tui hâm mộ lắm lắm. Bữa nay má con tui tới đây, trước là để thưởng thức
món khéo của thím, sau nữa là để nói với thím một điều.
Bà Hai Ách hớn hở:
- Xin thỉnh bà Phủ ngồi chơi, rồi ăn uống cho đã đời, chê chán. Bà Phủ là bực
giàu sang, danh giá ở tỉnh Vĩnh Long nầy, trong trào ngoài quận ai mà không biết!
Bà Phủ Long cuốn chả giò trong lá cải xà-lách đệm bún, rau thơm, dưa leo, chấm
vào nước tương điểm ớt rồi nhai ngau ngáu. Bà nhìn qua Niệm Phật Ðường hỏi:
- Cái Niệm Phật Ðường kia do ai lập vậy?
Bà Hai Ách nói:
- Dạ, đó là do bà Bang Hậu lập ra. Chồng bả là bang trưởng bang Phước Kiến ở tỉnh
nhà. Ổng có tiệm thuốc bắc gần Cầu Lầu. Tuy là chệt, nhưng ổng cũng là bực
Ưu-bà-tắc, tu pháp môn Tịnh Ðộ tại nhà. Còn bả là người Việt, từ bốn năm nay đã
xuống tóc làm vãi, làm ni, lập ngôi đạo tràng nầy để dễ bề tu hành tinh tấn.
Bà Phủ Long trợn mắt:
- Bộ Niệm Phật Ðường nầy không có tên hay sao mà thím cứ kêu là Niệm Phật Ðường
Bê Em Xê rồi xúi thiên hạ kêu theo? Mà thím biết nghĩa Bê Em Xê là gì không?
Bà Hai Ách xẻn lẻn:
- Dạ thưa bà Phủ, Niệm Phật Ðường nầy không có tên, tui cứ y chang tên toà nhà
cũ để kêu cho tiện.
Bà Phủ Long liếc xéo:
- Cho tiện hả? Tiện đâu tui chưa thấy, tui chỉ thấy thím bị mắc khẩu nghiệp, chừng
chết sẽ sa xưống địa ngục A tỳ, bị qủy ngưu đầu mã diện cắt lưỡi.
Bà Hai Ách tái mặt:
- Kính trình bà lớn, phận tui dốt nát. Hồi xưa ở đây là nhà thổ, nhà đĩ của
lính Tây có trương bảng đề chữ BMC. Tui không hiểu BMC là gì, nhưng thấy không
có gì thô tục, không có phỉ báng Trời Phật thánh thần nên tui kêu đỡ vậy mà.
Bà Phủ Long hứ một cái:
- BMC tuy không phải là tiếng thô tục nhưng nó ác ôn lắm thím Ách à! - Bà quay
qua cô con gái - Nè Năm, con nên giảng cho thím Hai đẫy rõ cái nghĩa BMC coi
nào.
Cô Năm Phụng Kiều đỏ mặt sượng sùng:
- Thưa thím Hai, BMC là chữ viết tắt của Bordel Militaire Contrôlé, nghĩa là
nhà thổ đỉ của binh sĩ, có đóng thuế cho chính phủ nhà nước bảo hộ Lang Sa. Mấy
cô buôn hương bán phấn được bộ y tế của nhà nước kiểm soát kỹ để tránh bịnh...phong
tình.
Cô Năm đặt tay lên ngực trái vì quả tim cô đập mạnh trong lúc giải nghĩa ba chữ
BMC trời ơi đất hỡi kia. Chữ thì không tục không thanh, nhưng sự việc nằm trong
chữ nghĩa đó quả thật là động trời, làm sao cô không sượng điếng cho được.
Tới phiên bà Hai Ách đổ mồ hôi hột. Mặt bà xanh dờn như bị xảo thai. Bấy lâu
nay, bà cứ tưởng BMC là tên cái nhãn hiệu nào đó của Tây, cũng như BGI là tên của
hãng la-de hiệu trái thơm vậy. Bà mếu máo:
- Thôi rồi, tui mắc khẩu nghiệp rồi! Dạ bẩm bà lớn, bà đừng chấp nhứt kẻ ngu si
như tui đây, tội nghiệp! Ai mà dè tụi nó kêu tên tắt điên điên đảo đảo như vầy!
Bẩm bà lớn, thưa cô Năm, tui vốn u mê ám chướng nhưng tui tu kỹ lắm. Trời ơi,
công tui ăn chay một tháng mười ngày kể như đổ sông đổ biển rồi! Tui hùn tiền
in kinh, đúc chuông kể như tiêu tùng rồi! Bà lớn ơi, xin bà thương tình vợ thằng
Ách nầy, nhờ bà chỉ biểu coi tui phải làm sao hết tội bây giờ?
Bà Phủ Long cười:
- Thím làm như tui có đủ quyền thưởng phạt thiên hạ vậy. Thiệt ra tui cũng là
người phàm phu như thím, dẫu tui có kim văn ngọc kệ lão thông cũng chỉ có thể
làm bực thiện tri thức cho thím, chỉ biểu thím lánh đưòng cong nẻo lạc, để thẳng
theo con đường Phật đã đi.
Cô Năm Phụng Kiều an ủi:
- Thôi thím chớ quá lo buồn. Chuyện đâu còn có đó. Lát nữa, má con tui qua bên
Niệm Phật Ðường, nói phải quấy với am chủ, khuyên bả đặt cho cái cảnh già lam
kia một cái tên rồi dựng bảng lên để thiên hạ khỏi kêu bậy kêu bạ nữa.
Bà Hai Ách nói xuôi:
- Trăm sự xin nhờ bà lớn và cô Năm.
Bà Phủ Long khuyên:
- Thím nên ăn năn sám hối, làm phước làm van thì may ra hoán cải nghiệp dữ
thành nghiệp lành, biến ác khẩu thành tịnh khẩu.
Bà Phủ Long kêu thêm cho mẹ con bà mỗi người một tô bún chan với kiểm. Ngay từ
giờ phút nầy bà Hai Ách coi bà Phủ Long và cô Năm Phụng Kiều là bực thiện tri
thức của mình rồi. Bà bốc rau xắt ghém bỏ vào tô, trải bún rồi chan kiểm lên.
Món kiểm nầy đủ bộ vận nào khoai lang, bầu, bí rợ, mướp xắt miếng cỡ ngón cẵng
cái, rồi thì đậu đũa, đậu ve cắt khúc. Tất ca được nấu chín mềm trong nước cốt
dừa. Hôm nay gặp bực thiện tri thức, bà Hai múc vào tô thiệt nhiều khoai lang,
bí rợ và đậu trướckhi rải trên mặt tô một nhúm đậu phọng giã nhỏ.
Bà Hai Ách nhìn má con bà Phủ Long, ngẫm nghĩ. Cách đây mười năm, bà Phủ chuyên
cho vay ăn lời cắt cổ, tánh tình ke re cắc rắc. Khi cất cái nhà bánh ếch ở cầu
Cái Cân, bà cả gan đem kho mắm con dê chết để cho thợ mộc ăn. Có người thèo lẻo
học lại, bọn thợ mộc đem bùa Lỗ Ban ra trù ếm bà. Từ đó, mấy đứa con trai bà học
hành lận đận, đâm ra chơi bời phá phách. Chỉ có cô Năm Phụng Kiều là hiền lành
thùy mị.
Ít lâu, bà Phủ Long bị tai nạn xe cộ. Khi chở tới nhà thương, bà được cứu sống.
Trong cơn hôn mê suốt một tuần lễ, bà Phủ Long thấy lại hết quãng đời ác đức của
mình, chứng kiến những hành vi bòn tro đãi trấu chẳng kể nhơn nghĩa, tội phước
của mình. Khi bình phục, bà phát hùng tâm, xé bớt một mớ giấy nợ của lũ con nợ
nghèo sặc máu. Dần dà bà xa lánh nghề cho vay ăn lời cắt cổ theo kiểu
"xanh xít đít đui".
Cô Năm Phụng Kiều là con gái độc nhất của ông bà Phủ Long. Cô có tiền của riêng
do bà dì của cô để lại. Cô cũng có bóng sắc mà cô không kiêu căng, hống hách.
Càng lớn tuổi, bà Hai Ách càng ưa chuyện mai mối. Bà kiếm khắp tỉnh một trang
văn nhơn hảo hớn để làm mai cho cô mà tìm hoài chưa gặp.
° ° °
Từ bên dãy nhà lá, gần Niệm Phật Ðường, bỗng có tiếng the thé
cất lên:
- Nè con đĩ Ba Lỷ, con đĩ mười thành, chín huyện, bảy phủ...Hồi trào Tây, mầy ỷ
thế cậy thần thằng cò-mi Bù-rầy nên mầy tác quái tác yêu, tác oai tác phước. Giờ
đây, mầy mà đỏng đảnh, hỗn hào là chết với tao. Tao sẽ xé tét mầy ra từng manh
từng mún từng sợi để trộn gỏi bắp cải, gỏi đu đủ nghe chưa!
Người chửi là mụ đờn bà tuổi ngoài bốn mươi, mặc quần bô áo vải đen, từ căn nhà
mái lợp tôn xẹt ra. Chị ta đứng dưới mái hiên, gần cái lu nước có cái gáo cán
dài gác trên miệng lu. Mặt chị ta cùng hung cực ác, mắt long mày trợn, miệng
mím chặt làm cho sát khí, nộ khí bừng bừng hiện ra như lửa cháy.
Bà Hai Ách than với hai mẹ con bà Phủ Long:
- Con Chín Sa-teng và con Ba Lỷ cứ sanh giặc, cứ hỗn chiến với nhau hoài nên
lân lý ở đây bị náo động luôn luôn.
Một mụ thực khách, vốn là dân trong xóm, tay chỉ chỏ, miệng ré lên:
- Kìa, chị Ba Lỷ ra kia kìa.
Ba Lỷ từ căn nhà kế bên, có tấm tôn che phía trước mái hiên bước ra. Mặt chị ta
xám như chì, môi thâm, vai rút. Rõ ràng đây là bợm ghiền á phiện, đệ tử của
nàng tiên nâu. Ba Lỷ xáng cho địch thủ cái nhìn sấm sét, cất giọng kháp kháp
như giọng vịt xiêm để trả đủa:
- Con đĩ điếm cỏ cầu sương, con đĩ chết ương chết sình, con đĩ chằng tinh gấu
ngựa, con đĩ ma dựa quỷ ốp kia! Giờ đây mầy làm bà gì mà mầy hống hách lớn lối
với tao? Tao ghiền, tao đau yếu, mầy đừng tưởng tao không đủ sức đốt nhà mầy. Mầy
mà chọc tao là mầy lãnh thẹo, nghe chưa?
Trước đây, Ba Lỷ có nhan sắc nên nổi danh là bực huê khôi trong giới gái chơi bời
ở tỉnh Vĩnh Long nầy. Ba Lỷ là tiếng kêu trại của cái tên Marie. Tên nầy do Tây
đặt cho chị, chớ thiệt ra chị tên là Bảy Ðán. Lối xóm, láng giềng chị hầu hết
là dân thợ, dân mua thúng bán bưng không quen bẻ miệng gọi chị là Marie nên đọc
trại là Ba Lỷ cho gọn, cho nó tiện. Cũng vậy, thằng con trai Ba Lỷ tên là
Pascal cũng được họ gọi là thằng Bánh Canh, còn con Hélène được gọi là con Ốc
Len. Ðôi lúc Ốc Len nghĩ mình còn may mắn lắm mới được gọi trại như vậy, chớ nếu
bà con cô bác trong xóm gọi nó là con Heo Lang thì nó cũng phải ráng mà chịu.
Ba Lỷ thường khoe:
- Ba tụi nó tên là Paul Brugeille, vậy mà tụi cùng đinh trong xóm cứ gọi là ông
cò-mi Bốn Bù-rầy hoài. Ðáng lẽ con tui phải có tên là Pascal Brugeille và
Hélène Brugeille mới phải. Ngặt vì ổng còn kẹt bà vợ bên Tây nên không dám nhìn
tụi nó. Cái con mụ ó đâm đó bị lao nặng, chích thuốc trụ sinh như chích nước
lã. Chừng nào nó chết rồi thì ổng sẽ rước mẹ con tui về bên Tây. Tui sẽ cai á
phiện, o bế bóng sắc lại cho ổng cưng.
Bởi Ba Lỷ chót chét, xảnh xẹ quá nên ai cũng ghét. Chín Sa-teng ở sát vách với
chị ta, cứ bị chị ta chê rằng Chín ta mặc sa-teng đen, đẹp đẽ đâu không thấy,
chỉ thấy Chín ta láng mướt giống như con cá trê.
Sáng hôm nay, sau bốn điếu thuốc sái, Ba Lỷ mơ màng sống lại cái thời mình còn
bóng sắc chói chan, cái thưở chưa xảy ra cuộc chiến tranh Ðông Dương. Chị thiệt
ra là gái bao. Chị gặp ông Bù-rầy vào năm 1934, hồi chị còn đang dan díu với
ông bác vật canh nông Trần Hữu Cảnh ở Mỹ Tho. Ông nầy là đại điền chủ. Cái bằng
kỹ sư tuy không giúp ông hành nghề nhưng vẫn tô điểm hoa lá cành cho thân thế
ông, cho gia tộc ông.
Sống ở chốn Cái Thia hẻo lánh quê mùa, bên cạnh tình nhơn già, chị đâm ra buồn
nên xin qua Vĩnh Long thăm người em gái có chồng làm thư ký toà Bố. Tại đây chị
gặp ông Bù-Rầy. Ông ta là bạn quần vợt với em rể Ba Lỷ nên tới nhà anh ta luôn.
Ông cò-mi Bù rầy cường tráng, hét ra lửa lại hào huê phong nhã khiến Ba Lỷ quên
cảnh Cái Thia mà khi mới về ăn ở với ông bác vật Cảnh, chị ta đã trầm trồ là cảnh
thơ cảnh mộng, quên luôn người tình già mà chị hằng ca ngợi là "người quân
tử".
Ông cò-mi Bù-rầy mua cho Ba Lỷ cái nhà bánh ếch ở gần dãy phố bà Thông Vịnh.
Ngôi nhà nằm trong mảnh vườn trồng cây ăn trái hai mẫu. Nhà có bộ sa-lông bằng
gỗ cẩm lai, tủ thờ bằng cây nu khảm xà-cừ, có tủ kiếng soi mặt bằng gỗ huỳnh
đàn, có hai cái divan bằng gỗ giáng hương. Còn trong tủ chè, ngoài chén dĩa, độc
bình xưa, chị còn dám mua sắm thêm đồ sứ nhập cảng từ bên Pháp. Lại nữa, Ba Lỷ
cũng là một trong năm tay sắm radio đầu tiên trong tỉnh. Chị cũng đã có giàn
máy hát, xe mui trần. Chiều chiều, chị trang điểm phấn son lộng lẫy, diện quần
áo hực hỡ, đeo hột xoàn lấp loá rồi ngồi xe mui trần để dạo mát trước khi tới
Bông-ga-lô (Bungalow) giải khát. Ðây là nhà hàng khách sạn sang trọng mà chỉ có
mấy ông Tây bà Ðầm và dân Việt có quốc tịch Pháp lui tới.
Lúc gặp thời, Ba Lỷ kiêu căng với bọn gái làng chơi trong tỉnh. Chị ta đã từng
đía những câu kiêu căng giảm phước như sau:
- Làm đĩ cũng có năm bảy hạng chứ! Con điếm đứng đường, con đượi ở Bộc-đền
(Bordel) làm sao sánh được với Trà Hoa Nữ đã từng ăn nằm với các công tước, bá
tước...Bọn công chức ở toà Bố, ở sở Trường Tiền, ở bộ Thanh tra Giáo dục, bọn
thầy giáo, thầy ký, thầy thông...lương tháng của họ không đủ để trả tiền xăng
nhớt cho chiếc xe Citroen của tui, có đâu để trả tiền Bông-ga-lô, tiền son phấn,
dầu thơm cho tui nữa?
Bởi chị ta đía quá, phách lối quá nên dân trong tỉnh nói hành nói tỏi:
- Nó là con đĩ Bù-rầy, con đĩ bù-chét, con đĩ bù mắt đó bây ơi!
Khi tên cò-mi về nước, Ba Lỷ cặp với gã chệt Trương Chấn, chủ tiệm tạp hoá Hồng
kông. Tên này cũng giàu có, cũng dám chi cho chị thật sộp. Nhưng tai hoạ lại đến.
Ba Lỷ bị đụng xe trên đường từ Vĩnh Long qua Cần Thơ. Trương Chấn vừa chở tới
nhà thương đã tắt thở. Còn Ba Lỷ thì được chở lên nhà thương Ðồn Ðất, giải phẩu
nhiều lượt. Ðể làm dịu cơn đau cho chị, họ chích thuốc có chất morphine.
Sau nầy, khi Ba Lỷ về nhà, mỗi khi trở trời trái gió hay mưa lạnh, các vết
thương lại rỉ rả hành hạ chị, làm chị đau nhức khủng khiếp. Rồi có người bày chị
khi đau nhức, nếu hút vài điếu á phiện là hết ngay. Bịnh ghiền "cơm
đen" bắt đầu từ đó. Xe mui trần, radio hiệu Philips, giàn hát máy hiệu
Columbia di tản trước, rủ theo các món ngoạn khí, rồi tới bàn ghế tủ thờ. Sau
cùng, Ba Lỷ bán vườn, bán nhà và dọn về ở gần nhà thổ đĩ BMC, lúc đó đã biến
thành Niệm Phật Ðường. Thằng Bánh Canh đi học đóng giày, làm bóp da. Con Ốc Len
thì sớm chiều đi bán hột vịt lộn ở khu quán nhậu gần chợ cá hoặc trước rạp hát
bóng Lạc Thanh. Còn Ba Lỷ đôi khi gặp ngày rằm, ngày vía, chị bưng thúng xôi
nhuộm màu tím lá cẩm đi bán dạo trong xóm, tiếng rao khàn đặc như sắp đứt hơi,
nghe buồn vô hạn.
Dù cái ngày bà Bù-rầy từ giã cõi đòi còn xa, nhưng Ba Lỷ vẫn cứ hy vọng. Và dù
bóng sắc của chị như chiều nghiêng bóng xế, như trời đã cuối thu sửa soạn sang
đông, chị vẫn cứ mơ cơn bỉ cực rồi sẽ qua, thời thới lai sẽ đến bằng sự bao che
của ông Bù-rầy.
Từ sáng tinh sương cho tới bây giờ, Ba Lỷ cảm thấy mình như sống lại thời oanh
liệt cũ. Dư huởng thuốc phiện lảng vảng ở khứu giác, ở tế bào, ở óc não chị từng
thoáng sảng khoái kỳ diệu. Chị cất giọng the thé hát một vài bản Tây mà hồi xưa
ông Bù-rầy yêu qưí của chị đã dạy chị rồi xổ một tràng tiếng Tây giòn khấm khứu.
Chín Sa-teng bấy lâu nay vốn đã ghét Ba Lỷ từ hồi chị ta mới dọn về. Bạn láng
giềng đâu không thấy, chỉ thấy đây là oan gia gặp oan gia, oán tằng hội khảo.
Chiều hôm qua, con khô cá sưởu Chín Sa-teng treo ở xà bếp, vậy mà khi Ba Lỷ bước
qua xin trái khế về ăn mắm chưng thì con khô không cánh mà bay mất. Chó treo
mèo đậy. Con khô kia treo tòn teng, thử hỏi con mèo nào phóng tới nổi? Con chó
nào đủ phép thần thông từ dưới đất chồm lên ngậm con khô tha đi chỗ khác? Ðây
chắc là con Ba Lỷ, con mèo cũ của ông Bù-rầy chớ ai trồng khoai đất nầy? Bởi vậy
vừa khi nghe Ba Lỷ độc thoại bằng tiếng Tây, Chín Sa-teng ré lên:
- Con đĩ chó! Mầy chửi tao đó hả?
Ba Lỷ đang mơ tới lớp ông Bù-rầy đón chị ở phi trường. Chị ngã vào vòng tay
ông, úp mặt lên ngực ông vừa bệu bạo khóc vừa kể lể ân tình, bỗng chị nghe tiếng
chửi. Tất cả những điều mường tượng kỳ thú đều tan theo khói , biến theo sương.
Ba Lỷ dụi mắt thấy mình nằm trên vạt tre. Chiếc mùng cháo lòng phủ quanh giường
có vài mụn vá. Bóng đèn trứng vịt đặt trên chiếc bàn gần lu gạo rọi một khoảng
sáng, tuy nhỏ nhưng cũng đủ soi cả một hiện tại lam lũ và chán chường. Chị ta
rít lên:
- Chín Sa-teng à, mầy điên vừa vừa chớ! Tao ca hát, tao nhắc lại những câu ân
tình của chồng tao, tại sao mầy đổ hô tao chửi mầy? Cái thứ mầy tao coi như dế
như trùn, có ra cái gì đâu để tao chửi? Thay vì chửi mầy, tao dành miệng để đọc
kinh đọc kệ, để nói lời ngọt bùi với hai đứa con tao, để nói những câu mặn mòi
ân nghĩa với chòm xóm có hơn không?
Chín Sa-teng hầm hừ:
- Con đĩ ngựa! Phải rồi, mầy đâu thèm chửi tao! Mầy để miệng ăn món ngon vật lạ
mà! Mầy để miệng đặng ăn khô cá sưởu xé nhỏ trộn khế, dưa leo, rau răm mà...
Thế là cuộc chửi lộn bắt đầu, phừng phừng lửa dậy, sùng sục nước sôi. Cả hai
cùng chạy ra hàng ba, chửi nhau muốn xé họng rách phổi, cốt cho lối xóm nghe ké
nghe hùn.
Quả nhiên bên quán, bà Phủ Long, bà Hai Ách, cô Năm Phụng Kiều cùng các bà thực
khách bước ra. Bên nầy hai đối thủ bắt đầu bêu xấu lẫn nhau, tàn sát nhau bằng
ngôn ngữ. Luôn luôn họ khởi đầu bằng ba tiếng "hồi trào Tây" để lấy
trớn bươi móc cái quá khứ mà đối thủ mình kiên trì che đậy.
Chín Sa-teng giọng chua như giấm tiều, giấm xủ:
- Hồi trào Tây, mầy bảnh quá mà ! Ối bất quá cũng là thứ me Tây, thứ bán trôn
cho bọn Phiên tặc, Phiên tướng, Phiên lang nên mới có cái tên Ma Ly, Mê Ly, Ba
Lỷ đó đó... Mầy cậy thế cậy thần thằng Bù-rầy, bù chét, bù mắc, bù hung, úp cái
hụi của bà Sáu Ngọc Lầu ở cầu Bà Ðiều, ai mà không biết!
Ba Lỷ cong cớn:
- Tao không bảnh hơn ai, nhưng bảnh hơn con Chín mặt rổ hoa mè, tóc rễ tre, miệng
củ ấu, ưa bận đồ sa-teng láng mướt như con cá trê. Hồi trào Tây, chồng con đĩ
thúi thây lầy lụa đó đi lính Partisan đóng ở bót Ô-nam bị Việt Minh bắn nát óc.
Con đĩ đó tay dắt đứa con gái tám tuổi, tay bồng thằng con trai hai tháng trồi
đầu về thành. Con đĩ đó bán mình cho thằng Ma-rốc cốc-keng tên là...
Ba Lỷ vụt quên tên chàng lính Bắc Phi nên khựng lại, cố tìm trong đáy thẳm của
trí nhớ cái tên người tình cũ của Chín Sa-teng. Chín ta ngứa miệng, ré lên :
- Tên là Du-xép (Youself) nghe chưa con đĩ Long vương, con đĩ Hà bá, con đĩ Thủy
quan! Tao bán mình nuôi con, tao không xấu hổ với vong hồn chồng tao. Tao là
con đĩ cao thượng, biết chưa?
Ðau khổ cho Chín Sa-teng chưa! Cái thời kỳ đó là khoảng thời gian đen tối nhứt
đời chị. Một thân góa bụa , chị dắt con gái, bồng con trai về thành phố, trong
túi chỉ có vỏn vẹn năm đồng bạc. Chị phải năn nỉ bà chủ chứa để mẹ con chị được
ở đậu trong căn nhà kho gần cầu tiêu. May mà chị gặp thằng Youself Kouari, người
lính viễn chinh Maroc có lòng thương xót, cho chị chút ít tiền, trước để chị chữa
dứt bịnh sốt rét kinh niên, sau để chị mua sữa hộp cho đứa con hãy còn trứng nước.
Youself là trai mới lớn, mê lăn mê lóc thứ đờn bà đã có kinh nghiệm trong chuyện
gối chăn. Khi đổi đi nơi khác, hắn giới thiệu Chín Sa-teng cho bạn bè mới đổi về.
Tên nào dính vô Chín ta cũng đều mê man đắm đuối.
Khi góp nhóp được ít tiền làm vốn, Chín ta thôi nghề bán dâm cho khách ngoại kiều.
Thời đen tối rồi cũng qua. Chị bày gánh cháo đậu bán ở trước sở Trường Tiền. Chị
nấu cháo bằng gạo huyết rồng với đậu đỏ, khi chan nước cốt dừa thì ngon ơi là
ngon, béo ơi là béo! Gạo huyết rồng là thứ gạo lức giã chưa sạch cám, nếu nấu dở
thì nhai xảm cả lưỡi, cả miệng. Ðằng nầy Chín Sa-teng nấu cách nào không biết
mà hột gạo thiệt mềm, thiệt nhừ, bỏ vô miệng là nó muốn tan ngay. Những món ăn
với cháo Chín ta kho nấu cũng khéo ác ôn: dưa mắm trộn tỏi ớt dòn tan, cá bống
trứng kho tiêu thấm tháp mặn mòi. Mỗi khi không có cá bống trứng để kho, chị
kho cá cơm khô thay thế. Và trước khi nhắc tộ cá cơm kho khỏi bếp, Chín ta bỏ
vào vài muỗng mỡ xắt hột lựu trước khi rắc tiêu cay. Nhưng khéo nhứt là món bắp
chuối luộc, xé tơi trộn giấm ớt để ăn kèm với món mặn kia. Chi gia giảm giấm ớt
vừa phải, trộn thêm đậu phọng, mè rang giả nhỏ, rắc thêm rau răm xắc nhuyển nên
mới ngó qua, ai cũng tưởng món gỏi bắp chuối của chị là gỏi gà xé phay.
Gánh cháo đậu của Chín Sa-teng được các thực khách chiếu cố nồng nhiệt. Một tô
cháo đậu rẻ hơn một tô bánh canh giò heo, dĩa cơm tấm bì, tô bún bò...Nó cũng
không quá mắc hơn gói xôi, gói bắp nấu, gói bánh sùng bao nhiêu, rất vừa túi tiền
của các chị mua gánh bán bưng, của các thợ thuyền trong hãng xưởng. Nhờ gánh
cháo đậu mà Chín ta giã từ vĩnh viễn nghề bán phấn buôn hương, cho đứa con gái
lớn vào học trường Cao Tiểu Vĩnh Long, cho đứa con trai theo người cậu họ vốn
là linh mục học ở trường Thầy Dòng.
Cũng thời trào Tây, kẻ thì sung sướng hả hê khi nhắc tới, người thì trào nước mắt
khi nghe ba tiếng quái ác kia.
Hai mụ háo chiến đào mồ cuốc mả tổ tiên nhau qua hai cái miệng tục tĩu, dữ dằn.
Ba Lỷ hét:
- Ðồ con đĩ lanh miệng! Lanh ăn bánh canh không chừa cặn, ăn cá mặn không chừa
xương, ăn lươn không chừa đầu, ăn mãn cầu không chừa vỏ, ăn c. lõ không chừa
lông!
Chín Sa-teng không chịu thua:
- Sao mầy dám đem cái thứ c. lõ dơ dáy vô đây? Cái thứ đớ để chú mầy nhai, anh
hai mầy gặm, cặm đầu cha mầy!
Sau đó cảm thấy chửi tục chưa đã nư giận, hai mụ lại chôn sống danh dự nhau bằng
cách quật mồ dĩ vãng, bươi móc rác rến trong các góc kẹt tối tăm của quá khứ.
Bên Niệm Phật Ðường, tiếng tụng kinh Phổ Môn không sao át nổi câu chửi, lời
thoá mạ.
Bà Hai Ách bên kia quán mơ màng như đứng trước một khung cảnh hồi bảy, tám năm
về trước. Thuở đó, ngày nào tụi lính Lê Dương cũng ra vào tấp nập, nhứt là vào
mỗi chiều thứ bảy. Bọn điếm lưu động có đóng thuế thì tới đây một thời gian ngắn,
lớp nầy thay lớp khác. Ðó là thứ gái buôn hương bán phấn hạng xoàng, hạng bét,
điểm tô son phấn lòe loẹt, xức dầu thơm rẻ tiền nồng nặc. Tụi nầy giỡn hớt, đú
đởn với khách tìm hoa bất kể trời đất, quân thần. Lũ trẻ nít đứng ngoài vòng
rào chỉ trỏ, cười nói theo họ rần rần như ong vỡ ổ, đôi lúc khiến mụ chủ chứa bực
mình, phải lấy chổi chà rượt đuổi tụi nó đi chỗ khác.
Bà Hai Ách tỉnh giấc mơ về dĩ vãng để trở về thực tại có hai mụ cựu kỹ nữ đang
chửi qua rủa lại làm náo động xóm làng. Xời ơi, giờ đây Tây tà đã về nước rồi,
cuộc đất ô trọc nầy đã đổi thành nơi tôn nghiêm thì con Chín Sa-teng dữ tợn
kia, con Ba Lỷ hỗn hào nọ phải quên quá khứ ô uế của nhau, để nơi nầy giữ trọn
ý nghĩa thanh cao, siêu thoát mới là phải chớ.
Bà Hai Ách hét lớn:
- Thôi cho tao can! Không có ai là đĩ hết! Con nào nếu không là tiểu thơ, mạng
phụ thì cũng là công chúa , quận nương hoặc vương phi, hoàng hậu ráo trọi. Mảnh
gương trinh con nầy hãy còn trong ngọc trắng ngà thì tiết hạnh con kia như băng
thanh ngọc khiết. Cả hai cùng toàn vẹn, chói rạng như nhau. Tao nói vậy, bây vừa
lòng chưa?
Cô Năm Phụng Kiều ngã đầu lên vai mẹ cười hăng hắc. Bà Hai Ách nói:
- Hôm nay có bà Phủ và cô Năm không kể nắng nôi gió máy, chịu khó dời gót ngọc
tới đây để thưởng thức món chay của tao, thôi thì tụi bây vị tình tao mà hưu
chiến phứt cho rồi! Qua đây! Con Ba lẫn con Chín, qua đây hầu chuyện bà lớn và
cô Năm, nghe bà lớn luận về kim văn ngọc kệ.
Thằng Bánh Canh từ trong nhà bước ra, măt sật sừ ngái ngủ. Thằng nầy lai nhưng
chất Tây chiếm hết 80% nên coi nó bảnh trai và khôi vĩ lắm. Bánh Canh chắc lưỡi
bảo bà Hai Ách :
- Rầu quá bà Hai à! Ðã là chòm xóm với nhau mà dì Chín và má con cứ ganh nhau từng
cái ngáp, ghét nhau từng tiếng ho.
Minh Nguyệt, đứa con gái của Chín Sa-teng từ trong hẻm sâu bước ra, cặp mắt đỏ
chạch vì khóc nãy giờ, từ đầu cuộc gấu ó giữa hai mụ đờn bà. Cô nữ sinh nầy trắng
trẻo, tóc xoã vai như gái Huế, trông thiệt là đoan trang thùy mị. Minh Nguyệt
năn nỉ Ba Lỷ :
- Xin dì Ba bớt giận! Bởi má con mất con khô cá sưởu nên đêm qua ngủ không
ngon, sáng sớm dể nổi quạu.
Bánh Canh liếc qua Minh Ngưyệt, cặp môi đỏ của nó cười chúm chím, cặp mắt trong
xanh híp lại. Ðang rầu rĩ, Minh Nguyệt cũng không bỏ lỡ cơ hội, liếc truyền ý,
tuy miệng không cười hở răng nhưng cái nhếch mép làm cho sóng mắt nó ướt rượt,
tình tứ. Cô Năm Phụng Kiều thấy hết, nghĩ thầm : « Hai bà mẹ hung hăng, lại
sanh mấy đứa con ăn nói mềm mỏng. Ðã vậy mặt mày tụi nó rạng rỡ như kiếng soi,
như trăng rằm. Hai đứa nầy xứng cặp với nhau quá chớ! »
Bánh Canh quay lại Chín Sa-teng :
- Xin dì Chín vuốt giận làm lành. Chỗ chòm xóm với nhau, mình phải nghĩ tới lúc
trái gió trở trời, hoặc tới khi tắt đèn tối lửa mới là phải cho chớ.
Minh Nguyệt vỗ về mẹ :
- Má có chứng tức ngực lói hông, dẹp chưyện phiền não có hơn không? Má chớ quên
hồi năm ngoái con đau ban cua, dì Ba nấu súp lê-ghim đem qua cho con ăn hoài
đó.
Bà Hai Ách biểu đồng tình, mắng vãi hai đối thủ :
- Tụi bây có nghe hai đứa nhỏ nói không, bớ hai con đĩ chó? Thôi thì dầu bây có
giận nhau chín xe mười giàn thì bây cũng nên bỏ qua, nên quên phứt là hơn. Hôm
nay là ngày rằm, miệng mình nên ăn chay, niệm Phật, tụng kinh chớ đâu phải để
chửi nhau! Cái trào Tây là cái trào xa lắc tí tè rồi! Hơi đâu mà bây bươi xấu lẫn
nhau cái cái dở, cái thúi thuở đó! Qua đây! Qua đây, hai con đĩ ngựa. Tao đãi
cho mỗi đứa một tô bún chả giò chay vun vĩ vèo để bây ăn cho thấm giọng rồi
cùng nghe bà lớn và cô Năm đây luận chuyện nhơn nghĩa, thủy chung có phải hơn
không?
Bà Phủ Long hớn hở :
- Thím Hai tính vậy cũng phải. Ngày rằm ngày vía mà mấy người cứ sân hận hoài
thì sau nầy chết đi, mấy người sẽ thác sanh vô đường A-tu-la cho coi! Cũng bởi
mấy nguời gọi Niệm Phật Ðường là Bê Em Xê nên cuộc đất nầy mới sanh ra đủ chuyện
rắc rối tréo hèo như vầy.
Cô Năm Phụng Kiều nói với mẹ :
- Cái tỉnh Vĩnh Long mình nhỏ như cái chén chung. Tưởng ai đâu xa lạ, em Nguyệt
và cậu Nghĩa (chỉ thằng Bánh Canh) nầy học chung lớp Anh văn với con do ông bà
giáo sĩ đạo Tin Lành dạy đó má.
Bà Phủ Long niềm nở :
- Biểu hai đúa nhỏ qua đây ăn luôn, má bao hết cho.
Hai bà mẹ cùng Minh Nguyệt và Bánh Canh xẻn lẻn bước vô quán. Bánh Canh cứ tống
tình Minh Nguyệt hoài. Phụng Kiều nghĩ thầm : "Nếu hai đứa nầy mà thành vợ
chồng với nhau chắc hai bà mẹ bớt rầy lộn và hoà nhã với nhau hơn".
° ° °
Nhờ bà Phủ Long can thiệp mà Niệm Phật Ðường gần Cây Da cửa Hữu
tỉnh Vĩnh Long có cái tên mới : Niệm Phật Ðường Giác Ngộ. Phải lắm, có giác ngộ
thì tâm phiền não, tâm phàm phu sẽ thành tâm Phật, tâm Bồ Ðề, còn cõi uế độ,
cõi địa ngục thành cõi cực lạc, cõi niết bàn. Hồi trào Tây, nơi đây là kỹ viện,
dâm phòng. Con người có giác ngộ mới biến chốn yên hoa thành nơi đạo tràng, tịnh
xá, cảnh già lam. Mà đã là cảnh già lam thì phải tước bỏ ba tiếng BMC đi mới phải
chớ.
Nhờ chí thú học tiếng Anh mà Bánh Canh và Ốc Len, sáu năm sau được đi làm sở Mỹ.
Sau đó, khi vào quân đội, Bánh Canh trở thành thông dịch viên với cấp bậc trung
sĩ đồng hoá, được biệt phái về ban cố vấn Mỹ ở tiểu khu Vĩnh Long. Bánh Canh
không thích cái tên Bánh Canh do lối xóm gọi hay tên Pascal Brugeille ở cửa miệng
mẹ mình. Chàng thích được là trung sĩ Trần Háo Nghĩa có quốc tịch Việt Nam, kết
hôn với cô giáo trường tiểu học cộng đồng Long Hồ tên là Ðỗ thị Minh Nguyệt.
Ốc Len trong khai sanh tên là Trần thị Ái Lan, cũng là kêu trại tiếng Hélène
nhưng nghe văn chương huê mỹ hơn cái tên Ốc Len dị dị nừng nừng nhiều. Ái Lan kết
hôn với viên kỹ sư Mỹ đúng tuổi nhưng bảnh trai tên Cary Smith. Do đó trong giấy
tờ, nàng có cái tên Helen Cary Smith thay vì Hélène Brugeille như mẹ con nàng từng
ao ước.
Ba mẹ con Ba Lỷ cố quên cái ông cựu cò-mi Brugeille hồi trào Tây. Bà vợ ổng dù
có chết vị bịnh lao phổi nhưng ông không thèm ngó ngàng tới Ba Lỷ và hai giọt
máu rơi của mình. Ông Bù-rầy tục huyền với một quả phụ đồng chủng, xô gẫy nhịp
cầu vốn đã mong manh nối liền giữa ông và Ba Lỷ từ bao năm qua.
Ba Lỷ và Chín Sa-teng càng lớn tuổi càng thân thiết nhau để lo săn sóc lũ cháu.
Thỉnh thoảng cả hai thì thầm với nhau cả buổi và bắt đầu bằng : « Hồi trào Tây
đó đó… » nhưng trào Tây đã không còn nhóm chút lưu luyến, kích thích nào với họ
nữa. Giờ đây ở Niệm Phật Ðường, lời giảng kinh của pháp sư, lời cầu kinh của bổn
đạo, tiếng chuông mõ lóc cóc leng keng dần dà đem lại sự thanh tịnh trong bầu
tâm cảnh của hai mụ đối thủ thuở trước.
Ba Lỷ thường khoe với bà Hai Ách :
- Con Ốc Len của tui nếu trong khai sanh nó không được làm con của ông Paul
Brugeille thì trong giấy hôn thú, nó được làm vợ của ông Cary Smith.
Bà Hai Ách ngạc nhiên :
- Cà-ri Xơ-mít hả? Ðời thuở nào mà xơ-mít đem nấu cà-ri bao giờ! Cái tên gì kỳ
cục quá!
Ba Lỷ cười hề hề :
- Nghe nói Cary cũng là kêu tắt. Hai đứa con trai của con Ốc Len, đứa lớn tên
Tom, đứa nhỏ tên Tab.
Bà Hai Ách chận ngang :
- Chắc Tôm hay Tép gì cũng là kêu tắt chớ gì? Cái con Ốc Len đặt tên cho con
cũng ngộ quá! Mẹ tên Ốc Len, con tên Tôm, tên Tép, toàn là thứ ao hồ sông rạch
dùng làm món nhậu không hà!
Cả hai cùng cười giòn khấm khứu…
NGÔI NHÀ
CỦA NGƯỜI VỢ
Cặp vợ chồng Hoa và Hiền dưới mắt bà con họ hàng, dưới mắt
hàng xóm láng giềng, không hể gọi là giai ngẫu được. Hôm lễ rước dâu, dì Út của
Hoa nới với họ hàng :
- Chú rể không xấu trai, nhưng con người y sao mà lạt lẽo như cơm nguội! Cặp
mày y ta rậm mà vàng vàng như dính đất sét, tóc y ta cũng vàng, dơ dơ lem luốc.
Da y trắng bủng trắng beo như da bụng con thằn lằn, như da con cá cơm, cá khoai
vậy!
Khi cô dâu về nhà chồng, lũ em chồng cùng mấy đứa em bà con cũng tùng tam tụ
ngũ để nói hành nói tỏi :
- Ðờn bà gì mà hàm vuông, cằm vuông, miệng rộng! Con mẻ mà hả miệng ngáp, con
cá bông bự bằng cườm tay phóng vô cũng lọt tuốt.
- Chị dâu tui tuy cao lớn, nhưng tui biết đâu là thứ đờn bà xuơng nhiều thịt
ít. Mí mắt mụ nặng nề như mui xe đề-ca-bô-táp.
- Tướng cô dâu cứng ngắc cứng còng. Ðã vậy mà tiếng nói còn khao khao, kháp
kháp như tiếng vịt xiêm…
Ðám cưới của Hoa và Hiền cử hành vào thời chiến nên hai bên đàng trai đàng gái
cố làm đơn giản tối đa. Chàng là đại úy cảnh sát, nhà ở tận Lộc Ninh. Còn ngôi
nhà từ đường của nàng ở tận làng Tân Ngãi thuộc tỉnh Vĩnh Long. Hiền làm việc tại
ty cảnh sát Phú Lâm, còn Kim Hoa thì dạy học tại trường tư thục Xóm Gà. Hôm đám
cưới, ông bà suôi gái từ Tân Ngãi lên Xóm Gà. Còn phần Hiền thì cha mẹ đã qua đời
từ lâu nên người chú họ chàng đứng ra chủ hôn. Hiền mãi bốn năm sau mới về thăm
ngôi nhà từ đường bên vợ. Còn Kim Hoa kể như chưa về thăm nhà chồng lần nào.
Mãi cho tới ngày định bỏ Việt Nam vượt biên, nàng mới theo chồng về thăm Lộc
Ninh, nhưng nhà đã bị dội bom sập nát, chỉ còn cái nền đất cỏ mọc rậm rịt, kèo
cột đã được em gái Hiền giỡ đi.
Dù là không phải giai ngẫu, nhưng ai cấm vợ chồng Hiền yêu nhau rất mực? Hồi
còn là học sinh trường Cao Tiểu Vĩnh Long, dù không ưa xi-nê, ca kịch nhưng Hiền
chiều ý lũ bạn đi xem phim Giai nhơn và Ác quỷ (La Belle et La Bête) do Jean
Couteau đạo diễn. Chàng hoàng tử bị mụ phù thủy trù rủa nên biến thành ác quỉ
mình người mặt nửa cọp nửa sư tử. Mụ phù thủy cho biết, nếu có cô gái nào yêu
chàng ta hết lòng hết dạ thì chàng ta sẽ trở lại hình người như xưa. Và quả vậy,
về sau khi chàng được một cô gái đẹp, hiếu thảo, hảo tâm thương yêu, chàng đã
trút bỏ đuợc lớp dung mạo xấu xí kia.
Cuốn phim đã làm Hiền suy nghĩ nhiều. Nó mang một ẩn dụ sâu sắc. Hễ mình thương
yêu ai thì người đó dù xấu xí gớm ghiếc thế nào đi nữa, cũng trở thành xinh đẹp
dưới mắt mình. Cái đẹp thật sự không hẳn ở nét tạo hình mà còn do sự chiêu cảm
của người ngắm. Xấu với người, đẹp với ta mà lại! Bởi vậy ông bà mình mới có
câu : Ra đường lượm cánh hoa rơi, hai tay nưng lấy cũ người mới ta.
Sau ngày cưới, Kim hoa rủa thầm mấy con em họ, mụ dì Út của nàng một cách tức tối.
Chồng « người ta » như vậy mà họ chê lạt chê trơ. Thử đem ba, bốn tên kép hát
bóng mà đổi coi nàng có thèm không! Trong đêm tân hôn, Kim Hoa đã được ngắm một
tấm thân mảnh dẻ nhưng săn chắc và những điều quyến rũ mà chỉ riêng mình nàng
thầm biết khiến nàng quên đi cặp chưn mày vàng vàng cùng màu tóc dơ dơ, luốc luốc
của chàng.
Còn Hiền dù biết vợ mình nhiều xương ít thịt, cứng ngắc cứng còng, nhưng chàng
hơn thiên hạ ở chỗ được áp lên tấm thân đó để tận hưởng làn da mát rượi của
nàng. Chàng cũng như bao nhiêu người khác, thường nghe Kim Hoa cà khịa với lũ bạn
đồng nghiệp, cằn nhằn bà láng giềng thiếu nợ nàng đã lâu mà không chịu trả, mắng
mỏ con tới gái ăn ở bầy hầy. Ừ, giọng nàng khao khao kháp kháp thiệt đó, nhưng
trong lúc đầu ấp tay gối, giọng nói ấy sao mà mềm dịu, ấm áp lạ lùng, làm cho
chàng đôi lúc ứa nước mắt vì cảm xúc.
Thiệt ra, trước ngày đám cưới, Hiền và Kim Hoa chỉ mới chuyện vãn với nhau đôi
ba lần. Kim Hoa năm đó 27 tuổi, lứa tuổi mà các cô gái cảm thấy mình bắt đầu lỡ
thời. Còn Hiền vì ít nói, và nói ra lời gì cũng đều lạt lẽo nên bị gái chê.
Chàng để ý tới ai cũng bị kẻ đó lạnh lạt, chàng đi dạm hỏi đám nào cũng không
xong. Nếu không có thằng bạn chí thân của chàng vốn là anh chú bác Kim Hoa trổ
tài làm mai thì chắc Hiền còn lâu mới kiếm được vợ.
Ăn ở với nhau được một mụn con gái đầu lòng sau hai năm lễ cưới. Kim Hoa đã khám
phá thêm một điều kỳ diệu ở chồng. Ðâu phải Hiền ăn nói vô duyên! Chỉ tại chàng
nhút nhát, có mặc cảm mình vụng về. Bởi đó chàng ưa ngậm miệng hến, khép miệng
sò và ưa nói vắn tắt tiếng một, ngắn gọn đến mức cộc lốc. Nhưng với Kim Hoa, Hiền
hết lòng tin cậy nên chàng không nhút nhát. Chàng còn có thể diễn tả những gì
chàng suy nghĩ một cách thoải mái , trơn tru. Cái nheo mắt của chàng mới tếu và
có duyên làm sao! Cái nụ cười hóm hỉnh của chàng mới dễ thương nhức nhối, tươi
rạng thần sầu!
Một bận, có cô chị bạn dì và cô em của Kim Hoa lên Sài gòn mua sắm. Dĩ nhiên là
Kim Hoa mời họ về nhà ở cho tới lúc họ khăn gói quả mướp trở về Vĩnh Long.
Trong bửa cơm đầu tiên, Hiền hỏi Ngọc Thanh, cô chị bạn dì của vợ :
- Nghe nói ở miệt chị có chim quay, ốc gạo, xoài cát, ổi xá lỵ ngon lắm?
Ngọc Thanh vốn nghe đồn tên quan ba cảnh sát nầy ít nói, nay nghe hắn hỏi, nàng
trả lời thôi liên tu bất tận. Thỉnh thoảng nàng quay qua hỏi Kim Lan, em ruột
Kim Hoa để cô ả có dịp góp chuyện cho vui. Hiền yên lặng ngồi nghe, cặp mắt trơ
trơ, không hưởng ứng mà cũng không tỏ vẻ thờ ơ, chán ngán. Sau cùng, Hiền bảo :
- Tôi vốn quen sống ở vùng miền Ðông đất đỏ nên không thích chốn đồng bằng lầy
lội, làng nầy qua làng kia bằng tam bản, xuồng ghe…
Lời kể của khách thì hăng hái, tràn ngập hứng thú, nhưng chủ lại kết một câu
chát ngắt, mặn lè, như một cái xô thô bạo làm người kể té ngửa. Câu nói của Hiền
chẳng những làm Ngọc Thanh và Kim Lan cụt hứng mà còn vét nạo hết mớ tình cảm vốn
ít oi, phơi phới của họ đối với chàng.
Khi không có mặt Hiền, Kim Lan mè nheo chị :
- Ðấng trượng phu của chị ăn nói có duyên quá nên không đủ tiền mà thưởng. Ai
coi…
Chu choa ơi! Con mén Kim Lan tuổi tuy còn nhỏ, nó khờ chuyện gì không biết chớ
về chuyện buộc tội kẻ khác, nó hay thần sầu.
Ngọc Thanh bảo Kim Hoa :
- Thằng đực của mầy nên đọc tiểu thuyết cho nhiều, đi coi hát bóng, cải lương
cho thường để tập ăn, tập nói, tập cư xử với đời.
Cũng một hôm, hai ả nằm ườn xác trên gác ngủ trưa. Hiền từ Phú Lâm lái xe về,
than ể mình.. Kim Hoa lấy thuốc cảm cho chồng uống. Không ngờ Ngọc Thanh, Kim
Lan ở trên gác, Hiền kể cho vợ nghe đủ thứ chuyện. Chàng khen Ngọc Thanh có kiến
thức rộng ở chỗ cận nhơn tình chớ không phải chỉ là thứ kiến thức thu thập ở
sách vở. Hiền còn bày tỏ quan niệm sống của mình : « Ậy, ở đời mà em! Cao nhơn
tắc hữu cao nhơn trị! Nhưng tới lúc cao nhơn bậc chót không còn cao nhơn nào
hơn nữa thì tới phiên tiểu nhơn trị cao nhơn bậc chót đó. Con voi sợ con chuột
là do lẽ đó. Còn con rít tối độc mà nhè lại sợ con gà. Gà trống gáy là nó chết
đứng. Gà mái cục tác là nó bại liệt chưn cẳng hết bòn nổi… » Hoặc «Ðời mà em! Kẻ
thích ăn mì, người thích ăn hủ tiếu. Có người ăn đủ món ngon vật lạ, lại quay
qua thèm mắm nêm, mắm ruốc, ba khía, cá mòi… »
Khi Hiền lái xe trở lại sở thì Ngọc Thanh và Kim Lan tuột xuống gác. Ngọc Thanh
tấm tắc :
- Mèn ơi, ai mà dè thằng đực của con quỉ nầy gáy lảnh lót, mà gáy hay nữa. Nãy
giờ tui ở trên gác mắc tiểu cứng bọng đái mà tui đâu dám tuột xuống đi tiểu, sợ
làm nó cụt hứng nên tui rán nhịn, mệt muốn xỉu vậy đó.
Kim Lan trầm trồ :
- Mới nãy ảnh có nói tới cái áo dài bằng soie Pháp màu cam của em. Ảnh khen nó
hợp với màu da nâu hồng ánh nắng của em.
Ngọc Thanh nguýt :
- Bộ nó chê tao hay sao? Nó khen tao lịch duyệt, cận nhơn tình thế thái, khen đủ
thứ, có con vợ nó làm chứng. Mèn ơi, ai mà dè nó ăn nói ngọt như bưởi Biên Hoà,
như mía Gò Mây, như quít chợ Lách vậy chớ!
Ðó rồi Ngọc Thanh lẫn Kim lan xúm lại ca tụng Hiền. Kim Lan chót chét :
- Ảnh độ rày o bế tóc tai nên tóc ảnh dầu luốc luốc vàng vàn mà vóc lại mịn
bóng. Tóc nhỏ sợi chỉ cần bóng lên một chút là đẹp ngay.
Ngọc Thanh lại véo von :
- Da thằng Hiền bắt nắng coi nâu hồng ấm áp chớ đâu có trắng bủng trắng beo như
dì Út thường chê.
Kim Hoa đắc chí lắm. Nàng biết nàng có tật hay xạo đía, nói ra lời gì cũng chẳng
ai thèm tin nên hôm nay, tình cờ mà nàng có cơ hội chứng tỏ rằng chồng mình có
kiến thức, hoạt bát, biết ăn nói. Nàng biết thế nào khi về Vĩnh Long, hai ả Ngọc
Thanh và Kim Lan sẽ đồn rùm chuyện tốt đẹp cho chồng nàng. Bởi đó, nàng thết món
ngon vật lạ cho cả hai : nào là cá lóc nướng, tôm càng nướng cuộn rau sống bánh
tráng, nào cá ngừ kho ớt bột ăn với bún, rau sống, nào là cá thu Phan Thiết ăn
với bún, thịt luộc…
Quả thiệt, khi Ngọc Thanh và Kim Lan về Vĩnh Long chừng mười bữa là Lân, em
trai Kim Hoa, gởi thơ lên Sài gòn cho biết : « Bà Ngọc Thanh lẫn mụ Kim Lan kẻ
thì nổi danh đạo chê, người vốn hà tiền lời khen, kỳ nầy đi Sài gòn về khen anh
Hiền đủ thứ làm má tụi mình mát lòng hởi dạ, lá gan nở bằng cái vịm, mũi nở lớn
cỡ trái mận hồng đào. Họ còn khen chị lúc nầy mập đẹp, tướng tá mềm mại cao
sang như mệnh phụ, đúng là tướng vượng phu ích tử. Nay mai anh Hiền lê lon, chị
sẽ làm bà quan tư rồi nếu khép giao thiệp, ảnh sẽ được làm trưởng ty cảnh sát,
vẻ vang vô cùng… »
Kim Hoa nhờ uống dầu gan cá thu và mỗi tuần nàng đều khỉa rượu có pha huyết gà
trống đều đều nên bớt ốm, bớt khô khan. Hễ mập ra một chút là da nàng mởn ra,
tươi mát hơn lên.
° ° °
Trong năm đầu tiên, Hiền me vợ ở cách ăn nói. Chàng cũng nhận
thấy vợ mình có đôi mắt bụp quá, như sưng sưng và mí mắt lại dầy. Nàng đẻ một lứa
con, cặp mắt đó đã hết bụp nhưng mí mắt trở nên nặng nề. Cặp mắt đó lúc nào
cũng dửng dưng với mọi người. Vậy mà khi nghe chàng nói chuyện, cặp mắt đó hưởng
ứng say mê nhiệt thành, sáng kỳ dị lại ươn ướt vì cảm xúc. Lúc đó, cặp mắt Kim
Hoa trở nên đẹp vô ngần, nhưng khi rời chàng ra, cặp mắt đó trở về vẻ buồn ngủ
thờ ơ cố hữu. Ngay trong đêm tân hôn, dưới ánh đèn có cái chụp màu ngà trên bàn
đêm, cặp mắt đó sáng ngời ngợi, đắm đuối kỳ dị. Chính chúng giúp Hiền thêm can
đảm để không cần phải giấu giếm chút gì trên thân thể mình trước mắt vợ. Chúng
còn giúp chàng yêu tất cả mọi khuyết điểm trên thân thể vợ. Nhưng mà ngẩm cho
cùng, thân thể nàng chỉ hơi cứng trong chiếc áo dài may không được khéo, chứ nó
có nhiều ưu điểm mà chỉ riêng chàng biết : cặp đùi thon chắc, khúc eo thật nhỏ,
bộ ngực vừa phải và xinh xắn, đôi mông tròn trĩnh. Và khuôn mặt nàng trong phút
đam mê chất ngất sao mà đẹp! Nét gãy ở lưỡng quyền như bị xoá đi bởi màu hồng
chói lọi trên da mặt, khuôn mặt nàng như mềm xuống, dịu dàng…
Nhưng Hiền vẫn biết vợ mình đía và xạo. Cái miệng nàng chót chét, véo von không
lành da non. Trước hết, nàng khoe ông nội nàng là đốc phủ sứ, có ruộng cò bay
thẳng cánh ở vùng Lộc Hoà, Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long. Nàng tả ngôi nhà từ đường
nào là cột kèo bằng gỗ căm-xe có chạm trổ tuyệt khéo, nào là nền nhà đúc bằng
đá da qui cao tới ngực và nền nhà lót gạch bông.
Bằng một giọng sôi nổi, Kim Hoa bảo :
- Ông nội em đời nào sắm bàn ghế, đi-văng bằng gổ bằng-lăng, cẩm lai, huỳnh
đàn, giáng hương…Ván gổ thì kê ở dưới bếp cho tôi tớ ngủ. Bàn tủ, đi-văng ở
trung đường toàn là gỗ nu nổi vân tuyệt đẹp. Còn tủ thờ nạm xa-cừ sự tích Bát
Tiên Quá Hải, Tiên Nữ Tán Hoa, Hằng Nga Ly Nguyệt Ðiện. Hồi xưa, ông nội em
nuôi thợ khảm, thợ chạm hằng năm trong nhà, cắt tôi tớ phục dịch họ, coi việc
cơm bưng nước rót, giũ chiếu giăng mùng cho họ…
Mắt nàng lim dim khi tả đồ cổ ngoạn :
- Xời ơi, em chưa thấy ở Sài gòn có nhà bá hộ, thiên hộ, vạn hộ nào nhiều đồ cổ
ngoạn như nhà ông nội em. Ổng có cái tô thời Nam Tống màu thúy lục da rạn đẹp
tuyệt vời. Nhà khảo cổ Viễn Ðông đòi mua bạc triệu mà ba em đương thèm bán.
Nàng đổi giọng trầm thống :
- Khi ông nội em sắp chết, ổng có trối với ba em và mấy cô mấy chú của em, phải
bảo trì đồ gia bảo, đừng cho thất lạc tẩu tán mà ở suối vàng ổng xót dạ đau
lòng. Ba em nhứt nhứt tuân theo lời phụ huấn.
Ôi, niềm yêu mến mái nhà từ đường khiến Kim Hoa tả tỉ mỉ nơi chôn nhau cắt rún
của mình. Nàng tả vườn sau sân trước. Nàng tả trung đường, các phòng ốc, căn bếp,
thậm chí đến hàng lu khạp, hũ chóe, bồn ảng ở sân giữa. Hiền nghe vợ tả mà mê.
Chàng vốn yêu đồ cổ, thích nếp nhà xưa. Kim Hoa tả hăng hái, sôi nổi đến nước mắt
ràn rụa. Nàng nhắc tới cặp chậu sứ Giang Tây trồng mai chiếu thủy mà ba nàng
mua hôm má nàng sinh ra nàng. Cặp mai đó đặt gần hòn non bộ ở sân trước.
Một hôm, Kim Hoa đòi chồng đưa nàng đi Lái Thiêu để thăm nhà một cô bạn gái.
Nhà cô ta ở xã Hưng Ðịnh, gần Lò Chèn Chòm Sao. Trước sân nhà đặt những chậu
mai tứ quý đơm bông vàng đài đỏ thắm, cánh hoa ôm cái hột đen huyền. Nhưng khi
vào sân giữa, Hiền lấy làm lạ. Hàng lu khạp, hũ chóe, bồn ảng ở đây sao mà giống
hàng lu khạp mà Kim Hoa đã tả ở ngôi nhà xã Tân Ngãi của nàng. Kim Hoa điềm
nhiên giải thích :
- Mấy ông nhà giàu xưa đều có cách sống, các trang hoàng giống nhau.
Anh hai Kim Hoa có vợ là dân có quốc tịch Pháp, được bên vợ cho đi Tây du học.
Trước khi đi, anh ta để lại cho Kim Hoa hai rương sách nhưng Hiền không hề rớ đến.
Chỉ có Kim Hoa khi buồn hay mở rương tìm sách đọc, phần nhiều là loại tiểu thuyết.
Một hôm nhơn ngày chúa nhật rảnh rang, Kim Hoa nhờ Hiền mở rương kiểm điểm coi
có mối mọt gì xâm phạm sách vở hay không. Hiền kiểm điểm từng cuốn, thấy sách
còn mới, bát ngát muì long não. Chàng bỗng thấy tận đáy rương có một quyển sách
nói về đồ cổ ngoạn Tàu, có hình màu minh hoạ. Mèn ơi, đọc sách chàng mới biết
cái tô Nam Tống, chiếc dĩa Càn Lon, cái độc bình Khang Hy trong sách y chang những
thứ Kim Hoa đã tả trong ngôi nhà từ đường của nàng. Tuy ngờ vực nhưng Hiền
không tỉện hỏi. Hơn nữa, chàng tự nhủ chẳng có gì cần thiết để biết rõ gia đình
bên vợ.
Có điều làm chàng hơi bực mình là Kim Hoa từ trước có bảo hàng rào nhà nàng làm
bằng cây sơn xanh, cổng trồng hai cây bằng lăng hoa tím hai bên. Vậy mà, một
hôm hai vợ chồng đến chơi nhà thằng bạn chàng ở miệt cầu Băng-ky, Kim Hoa nhìn
say mê cây bông giấy trổ hoa tím hồng uốn thành hình vòng cung trước cỗng. Nàng
reo lên :
- Anh coi cổng bằng cây bông giấy có đẹp hay không? Cổng nhà hương hoả ba em
cũng bện cây bông giấy như vậy. Nhưng xen với bông giấy, ông nội em còn trồng
thêm cây huỳnh anh bông vàng. Cổng bằng cây tươi bện khung, bện vòm mới hoà
hơp5 với cái đẹp của hàng rào trà xanh có thả dây tơ hồng màu vàng như mì sợi
trên mặt rào cắt bằng.
Hiền mỉm cười :
- Sao trước đây em nói cổng và hàng rào nhà em bằng cây sơn xanh?
Kim Hoa quắc mắt :
- Ðời nào em nói vậy? Nhà ông nội em là nhà giàu xưa. Ðời nào ông nội em thèm sắm
cái cổng và cái hàng rào như anh nói. Ký ức của anh lóng rày coi bộ lộn xộn rồi
đa…
Hiền vốn làm biếng cải lẫy nên cũng bỏ qua. Nhưng dù muốn dù không, chàng cũng
nhận thấy cây cối trong sân, trong vườn và đồ đạc trong ngôi nhà đó thường bị
Kim Hoa biến đổi luôn. Hồi nào nàng bảo trong sân có cây điệp ta, nay nàng quả
quyết trong sân có một cây mộc lan hoa trắng và cây thông thiên hoa vàng. Mới bữa
trước nàng nói nhà nàng có một cái tủ đứng bằng cây cẩm lai, giờ nàng đổ hô là
nhà nàng có hai tủ lót gương soi hình hột xoài.
Sự vật thì vậy. Còn nhân vật cũng bị vợ chàng thay đổi luôn.. Người em kế của
cha vợ chàng hồi nào Kim Hoa bảo là hiệu trưởng trường tiểu học, giờ nàng bảo
là y sĩ tốt nghiệp đại học Y khoa Hà nội mà thiên hạ gọi là y sĩ Ðông Dương. Hồi
nào nàng chê dì út nàng da đen như bánh ích đường hũ, nay nàng ca tụng màu da
trắng như bông bưởi của dì. Thiệt tình, hôm đám cưới, Hiền đâu chú ý tới ai, chỉ
biết rằng hôm Ngọc Thanh và Kim Lan đi Sài gòn, dì có gởi tặng Kim Hoa một bức
tranh Nam Hải Quan Âm để nàng thờ. Kèm theo bức tranh là giỏ ổi xá lỵ, giỏ ốc gạo
và một chục nem chua.
Hiền dần dà biết vợ mình hình như có cái gì trục trặc trong đầu óc, trong ngôn
ngữ đây. Nhưng mà nhằm nhò chi. Nàng yêu chồng thắm thiết, đẻ cho chàng hai đứa
con gái xinh đẹp. Nàng thôi dạy học tư để làm sở Mỹ. Khi sở dẹp tiệm, nàng có đủ
vốn để chạy áp-phe. Nàng hoạt động, vui tươi, dù cực nhọc cách mấy vẫn không hề
nhăn nhó, ủ dột trước mặt chồng. Nàng trông coi việc tề gia nội trợ, sắp đặt
đâu đó có khuôn nếp, nhà cửa sạch bóng. Nàng luôn luôn giấu giếm nỗi cực nhọc,
chuyện bực mình với chồng. Nhưng Hiền biết hết. Chàng khuyên vợ nên bớt việc
thì nàng cười :
- Ối, má em làm gấp năm gấp bảy em mà bả vẫn khoẻ mạnh như thường.
° ° °
Rốt cuộc Hiền cũng biết được ngôi nhà từ đường bên vợ ở xã
Tân Ngãi, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Ðó là dịp đàm tang bà nội vợ của
chàng. Kim Hoa phải đem chồng và các con về quê chịu tang. Bà nội nàng đã già
khú đế, năm năm qua cứ nằm một chỗ ỉa trây đái dầm. Giờ đây, cái chết là điều
giải thoát cho bà và cất đi một gánh nặng cho cả nhà. Từ thơ dại, Kim Hoa cũng
chẳng mấy yêu mến bà cụ độc tài, đã từng đối xử với mẹ và thím nàng quá khắc
nghiệt.
Trên chiếc xe nhà do Hiền lái, Kim Hoa kể liên tu bất tận về thời thơ ấu và mới
lớn của nàng dưới mái nhà từ đường. Nàng ứa nước mắt :
- Chắc là em sẽ khóc khi nhìn lại cảnh xưa. Em sẽ thao thức khi ngủ dưới mái
nhà ấy để ôn lại kỷ niệm. Thuở nhỏ nơi quê nhà, em như một nàng tiên sống hạnh
phúc trong nội cỏ thiên đường. Khi em mười sáu, ai cũng trầm trồ em xinh đẹp gấp
ba gấp bốn nữ tài tử Romy Schneider trong phim Sissi. Có anh chàng học sinh lớp
đệ tam trường Long Hồ bỏ nhà đi tu vì gởi thư tỏ tình cho em mà em không đọc và
gởi trả lại. Lại còn có thầy dạy Pháp văn đẹp như Alain Delon nhờ mai mối tới
ba em. Nhưng khi ba em nhờ thầy tử vi so đôi tuổi thì thầy bảo hai tuổi xung khắc,
vợ chồng không thể ăn ở bền lâu, chưa nát chiếc chiếu là én bắc nhạn nam hoặc
sanh ly tử biệt. Anh coi, nhắc tới thuở còn ở quê nhà, em khóc đây nè! Làm sao
em quên được thuở đó! Nhà trường có tổ chức đêm văn nghệ cuối niên học, em được
chọn đóng vai Huyền Trân công chúa cho vở kịch nòng cốt. Em hát bài Nhắn người
phương xa của Phạm Duy có nét giống Thái Thanh. Chắc anh không tin em hát có
nét ca sĩ nhà nghề? Cũng tại em bị bịnh suyển nên giọng em mới hết trong, hết ấm…
Nàng nhắm mắt thả hồn về dĩ vãng và nói trơn như mỡ. Khi mở mắt ra, bắt gặp ánh
mắt tinh quái và nụ cười hóm hỉnh của chồng, nàng háy dài :
- Em đang mềm lòng, tim em nức nở khi nhắc lại kỷ niệm đẹp cũ cho anh nghe, anh
không thèm chia sẻ nỗi cảm hoài của em, còn đành đoạn tỏ ra giễu cợt em nữa.
Thiệt tình căn đày kiếp đọa em mới gặp người chồng thiếu thơ mộng, trái tim dần
dần hoá thành gỗ đá thì còn nước non gì!
Khi tới Tân Ngãi, vợ chồng con cái dắt díu nhau đi trên con đường đất. Gần bên
ngôi đình núp bóng dưới tàn cây phượng vĩ trổ hoa đỏ ối, Hiền đứng lại trước
chiếc cỗng bện bằng bông giấy hoa tím lẫn cây huỳnh anh màu vàng. Chàng nhìn
vào sân. Ðúng rồi, đây đúng là nhà từ đường bên vợ chàng rồi, trong sân có trồng
cây mộc lan và cây thông thiên. Kim Hoa kêu lớn :
- Ðâu phải nhà mình. Nhà mình đang có đám ma, lẽ nào vắng ngắt như vậy! Anh sao
quê quá!
Hiền bảo :
- Sao hồi trước em nói cỗng nhà có bện cây bông giấy và cây huỳnh anh? Coi kìa,
trong sân còn có cây mộc lan và cây thông thiên đúng lời em tả.
Kim Hoa đỏ mặt, nhưng nàng lại sừng sộ :
- Em nói như vậy hồi nào? Em ăn cơm trắng cá tươi, lẽ nào nói chuyện nước lã
khuấy nên hồ như vậy! Anh sao hay đề án tử cho em hoài hà.
Hiền không cãi. Chàng nhì qua ngôi nhà có cổng và hàng rào bằng gỗ sơn xanh.
Trong sân vẫn lặng ngắt. Dĩ nhiên đây cũng không phải là ngôi nhà từ đường của
bên vợ chàng.
Kim Hoa đưa Hiền đến một ngôi nhà lợp ngói âm dương, vách bổ kho. Cổng trước bằng
gỗ tạp, hàng rào bằng dây kẽm gai, sân trước tráng xi-măng. Tuy nhiên, khuôn
viên khá rộng. Nhà năm căn, mái thấp lè tè. Nơi đó, kẻ ra người vào tấp nập.
Kim Hoa bảo :
- Vào đi. Nhà mình đó đa.
° ° °
Qua bốn ngày ma chay, cả gia đình Hiền trở về Sài gòn. Hiền
không thấy hàng lu khạp, hũ choé, bồn ảng và cái sân giữa như lời vợ tả. Chàng
không thấy đồ cổ ngoạn với tô Nam Tống, dĩa Càn Long, độc bình Khang Hy…Chàng
cũng chẳng thấy bàn ghế bằng gỗ nu, gỗ cẩm lai, gỗ giáng hương, gỗ huỳnh đàn…
Trong dịp Hiền về thăm quê vợ thì ông Huyện Ðăng, hàng xóm của gia đình vợ
chàng, có mời chàng đến chơi. Nhà ông chính là ngôi nhà có cổng kết bằng cây
bông giấy và cây huỳnh anh. Nơi đó, chàng tìm được loại bàn ghế bằng đủ loại
danh mộc mà Kim Hoa đã tả. Cũng trong dịp này, Hiền có gặp cô cháu nội ông Huyện
Ðăng trước kia học chung với Kim Hoa. Cô nầy được nhà trường chọn đón vai Huyền
Trân công chúa trong khi Kim Hoa đóng vai thị nữ Bích Liễu. Chàng còn khám phá
ra Kim Hoa có một cô bạn khác hát thật truyền cảm, nhái giọng Thái Thanh hát
bài Nhắn người phương xa hay thần sầu. Hôm đám ma, cô ta cũng có tới phúng điếu.
Thôi rồi, Hiền cưới nhằm con vợ láo thiên láo địa, láo từ Bà Rịa láo qua, láo từ
Cà Mau láo tới.
Cũng dưới mái nhà bên vợ với các bộ ngựa bằng ván gõ, tủ kệ đóng bằng gỗ thao
lao, Hiền được cha mẹ vợ và họ hàng bên vợ tiếp đãi ân cần. Họ đều là những người
ân cần hiếu khách, chất phác khiến chàng yêu mến ngay. Ông nội vợ chàng xưa kia
làm nghề thương hồ, về già dừng bước ở đây lập vườn, sắm ruộng. Kim Hoa lớn lên
được cha cho đi học. Nàng đọc tiểu thuyết nhiều và mơ có ngày trở thành văn sĩ.
Nàng vốn chê nếp nhà mình cổ lổ, quê mùa, chê cách sống quá lu mờ nơi sàn dã,
cho nên vừa đậu tú tài là nàng dông lên Sài gòn, dạy Việt văn cho trường tư thục
ở Xóm Gà.
Kim Hoa không thoả mãn nếp sống ở quê nhà. Nàng lấy hình ảnh ngôi nhà ông Huyện
Ðăng để dựng nên ngôi nhà trong giấc mơ củ mình . Nàng khoắng hình ảnh cái sân
giữa và hàng ba khạp hũ chóe ảng bồn của nhà cô bạn ở Lái Thiêu để ráp vào căn
nhà đó. Chưa hết! Nàng còn chưng bàn ghế bằng đủ loại danh mộc nhái theo bàn ghế
nhà ông Huyện. Nàng còn thuổng luôn hình ảnh đồ cổ ngoạn trong quyển sách cất
dưới đáy rương để bày biện trang hoàng cho ngôi nhà thêm sang, thêm đẹp. Nhưng
mà cái tôi của nàng vốn nhan sắc tầm thường, vóc mình cứng còng cứng ngắc, giọng
nói kháp kháp như giọng vịt xiêm mà đặt vô ngôi nhà mộng tưởng đó thì đâu có xứng,
có hạp! Bởi đó, nàng dựng lên một cô Kim Hoa thuở mới lớn mỹ miều như Romy
Schneider qua hình ảnh cô cháu nội ông Huyện Ðăng, hát hay như Thái Thanh qua
cô bạn gái hát bài Nhắn người phương xa
Hiền hồi tưởng lại căn nhà mộng tưởng lúc ban đầu của Kim Hoa với hàng rào và cổng
bằng cây sơn xanh. Ðó là nhà ông giáo Võ Hữu Trí, gần sát nhà ông Huyện Ðăng.
Có lẽ lúc đầu vợ chàng không dám mơ cao, chỉ ước được ngôi nhà cỡ nhà ông giáo
Trí mà thôi. Ngôi nhà đó không có hai cây bằng lăng trước ngõ nên coi hơi trơ
trẽn. Con người của Kim Hoa một khi đã rơi vào mơ ước rồi thì tội gì nàng không
trồng thêm hai cây bằng lăng nữa cho thêm màu sắc rực rỡ?
Có một điều Hiền biết rằng mình không nên đem điều khám phá về ngôi nhà thừa tự
để chế giễu hay mè nheo vợ. Nàng như vậy đó, một mythomane chẳng làm chết con
muỗi, con rệp nào. Nàng làm áp-phe mà vẫn làm vui lòng những kẻ hùn hạp, đổi
chác. Không ai rên siết nàng về tiền bạc. Không ai tròng vào đầu nàng tội lường
công. Hiền còn biết thêm một điều : nếu không được gặp ai để xạo đía, nói dóc,
Kim Hoa sẽ ủ rủ như ngặt mình ngặt mẩy. Nàng ngáp lớn, ngáp dài như không xua
đuổi nổi cơn phiền muộn ùn ùn chất nặng xuống tâm hồn mình. Có nói những chuyện
ba hoa chích choè, chuyện cà kê dê ngỗng, ba voi không đầy bát nước xáo, Kim
Hoa mới bừng bừng sinh lực, khuôn mặt tươi rạng sinh khí, mắt sáng ngời ngời.
Nàng nói láo, nói dóc quá nhiều nên quên hầu hết những lời đã nói, đã tuyên bố.
Khi có ai nhắc lại, nàng chưng hửng, lướt cái nhìn sợ sệt và bơ ngơ báo ngáo
lên người nhắc.
Những gì thuở nhỏ Kim Hoa thiếu thốn, mơ ước thì giờ đây nàng quyết lòng mua sắm
cho bằng được để lấp đầy lỗ hổng trong giấc mộng của nàng. Nàng mua sắm từ từ,
dù phẩm vật mua sắm không ngang giá với vật mơ ước, nhưng cũng đủ tạo căn nhà
hai vợ chồng nàng thành một biệt thự xinh đẹp, trang nhã. Té ra ngôi nhà trong
giấc mơ của Kim Hoa, song song với việc biến nàng thành kẻ gàn chướng, dở hơi,
cũng đủ sức thắp sáng tiềm lực, đẩy nàng vào thương trưòng bằng tất cả phấn khởi,
nhiệt thành hầu cố gắng thực hiện một phần mơ ước của mình.
Hiền không biết phải đối phó với cái tính ưa nói dóc của vợ mình cách nào! Nếu
kéo vợ ra khỏi những giấc mơ trời ơi đất hỡi đó thì chàng tàn nhẫn quá đi. Mà
dung túng, để nàng bơi lội thoả thuê trong đó thì cũng không ổn vì dù sao đó
cũng là trạng thái bất bình thường của con người. Thôi thì chàng đành làm ngơ,
không đá động tới những gì nàng đã kể, nhưng cũng sẽ không ngồi nghe nàng huênh
hoang chuyện trên trời dưới đất nữa. Chàng sẽ không tỏ ra hưởng ứng cái tật xấu
đó, và sẽ lái vợ qua những thực tế, đáng tin hơn.
Từ hôm dự tang lễ về Sài gòn, Kim Hoa cũng bắt đầu nhận thấy chồng ưa lách ra
khỏi những câu chuyện sang đàng rẽ dọc của nàng. Kim Hoa cụt hứng nên tốp bớt
đía dóc, bớt kể những điều lọt ra ngoài sự thật, hoặc mượn sự thậtg của người
khác làm của mình. Nhưng nàng biết tìm ai thay thế Hiền để nghe nàng nói dóc
đây? Người khác có kẻ tin nàng nói hơn là Hiền đã tin. Nhưng được nói dóc với
chồng vẫn thú vị hơn. Nàng đâu cần Hiền phải tuyệt đối tin nàng. Nàng chỉ cần
chàng bỏ bớt vẻ hững hờ, miễn cưỡng để nghe nàng nói!
Chỉ có một điều an ủi cho Kim Hoa là sau khi từ Vĩnh Long về, Hiền đã có nhiều
dịp tiếp xúc với họ hàng xa gần bên vợ. Nàng biết giữa chàng và họ, sự thương mến
thành thật đã nảy sinh.
° ° °
Khi Mỹ rút về nước, nghề chạy áp-phe của Kim Hoa không còn được
trôi chảy như xưa. Nhưng nhờ khéo gói ghém, dè xẻn, nàng vẫn giữ cho chồng con
được nếp sống hưởng thụ, sung sướng. Nàng xông xao ra chốn thương trường làm việc
trối chết. Hai đứa con gái nàng đã đến tuổi dậy thì. Con Kim Hoàn 17, con Kim
Xuyến 15. Nàng mua sắm cho con những bộ cánh vừa đẹp vừa sang. Không ai biết
nàng bắt đầu chi nhiều thu ít, phải bán bớt một số nữ trang đi. Trước mặt Hiền,
nàng luôn tuơi cười âu yếm. Nụ cười dù có tươi ratng trên cặp môi tô son hồng
đào nhưng ánh mắt nàng đã kém rạng rở, chung quanh mắt có nhiều vết chân chim.
Nhiều đêm, khi Hiền ngủ an lành, sảng khoái thì nàng hãy còn thao thức, lăn trở
vì tính toán đủ mọi chuyện. Ðôi lúc Kim Hoa cảm thấy não cân mình bị căng thẳng
tột độ, nội tâm bị dồn nén tối đa, nàng vào phòng tắm đóng chặt cửa để than
khóc, kể lể, đôi khi hét lên. Có vậy nàng mới cảm thấy nhẹ nhõm, thư thái hơn để
tiếp tục lăn xả vào guồng máy sinh hoạt ngoài xã hội.
Sau ngày đổi đời 30.4.75, Hiền phải đi học tập cải tạo ở Bình Tuy. Kim Hoa phải
ra chợ trời kiếm sống. Nỗi gian lao, nàng cố giấu hai con gái để tụi nó yên
lòng ăn học. Nhưng Kim Hoàn tinh ý, biết mẹ mình vất vả nên thường bảo :
- Thời buổi nầy, con thấy có đi học cũng chỉ tốn tiền bạc, công sức thôi. Lý lịch
ngụy quân ngụy quyề như nhà mình thì đừng hòng ngóc đầu lên nổi. Chi bằng má
cho con ra chợ trời với má.
Kim Xuyến phụ hoạ :
- Càng đi học càng thấy tủi nhục. Ngày mai con sẽ đi theo dấu vết tư sản mại bản
cho xứng đáng là con ngụy quyền.
Kim Hoa xí một tiếng dài, nguýt hai cô con gái thiệt bén. Con nàng có nước da
trắng như bông bưởi, như dừa nạo, đời nào nàng chịu cho tụi nó giãi nắng dầm
mưa ở chợ trời! Sau cùng, Kim Hoa lập cho hai cô con một chái lá ở nhỏ ở đường
Trương Minh Giảng cũ để tụi nó bán cà phê và chè đậu. Còn nàng vẫn mua đầu chợ
bán cuối chợ.
Vào giữa năm 1977, Kim Hoa được giấy đi thăm nuôi Hiền. Nàng mua cà phê, đường
cát trắng, sữa hộp, trà tàu, lạp xưỡng, thuốc men…Nàng còn làm thịt chà bông,
chấy tôm trứng với thịt ba rọi khá mặn, kho gà với gừng sả để mang lên cho chồng.
Trước ngày đi, nàng uốn tóc lại, tỉa chơn mày, làm móng tay nhưng không dám tô
son giồi phấn và sơn móng tay. Kim Hoa muốn cho chồng lầm tưởng rằng nàng vẫn
như xưa, không quá cực nhọc sau cuộc đổi đời, cốt để chàng yên lòng. Nhưng vầng
trán nhăn, đôi má hóp, màu da sạm nắng của nàng làm sao che giấu được? Bao
nhiêu năm chung sống với vợ, Hiền làm sao không biết nàng hay giấu giếm nỗi
gian lao của mình để chồng con được vui sống? Chàng vẫn bắt gặp đôi lúc nàng
vào nhà tắm khóa trái cửa lại để than khóc, gào rống. Chàng vụt hối tiếc tại
sao những lúc đó chàng không đủ can đảm ôm chầm lấy vợ vuốt ve, nói lời dịu ngọt,
và hơn thế nữa, chịu nghe nàng nói dóc, nói xạo để nàng lên tinh thần, phấn chấn
mà quên đi bao cam go của cuộc sống?
Cũng trong vòng lao lý, hơn lúc nào hết, Hiền mới cảm thương cho thời thơ ấu của
Kim Hoa. Trong chiến tranh Việt Pháp, cha và chú của Kim Hoa bỏ nhà theo Việt
Minh. Cảnh đại gia đình củ ông nội nàng trước đó cũng chỉ đủ ăn nhờ sự bương chải
của hai người con trai, nay chuyển qua gánh cơm tấm của mẹ nàng, gánh chè đậu của
thím nàng để nuôi mười bốn miệng ăn trong nhà. Kim Hoa vừa đi học,vừa chăm lo
việc nhà, xắt chuối, nấu cám cho heo ăn, tắm rửa heo, quét dọn, rửa ráy chuồng
heo…Năm đầu thi trung học đệ nhứt cấp, nàng trượt vỏ chuối. Năm sau nàng trượt
vỏ dưa, rồi trợt vỏ dừa. May mà không có bằng trung học đệ nhứt cấp nàng vẫn
lên được đệ tam rồi đệ nhị và cuối năm thi đậu tú tài phần nhứt. Lúc đó cha và
chú Kim Hoa đã có cơ sở làm ăn tương đối vững vàng, nàng ngồi lớp đệ nhứt an ổn,
có đủ thời giờ gạo bài nên đậu tú tài toàn phần cuối năm đó.
Hiền lấy làm lạ là về sau, khi đã ăn nên làm ra, Kim Hoa không hề nhắc tới tuổi
ấu thơ cực khổ của mình. Nàng không hãnh diện rằng sở dĩ nàng thành công ngày
hôm nay là do được tôi luyện trong môi trường thanh bần hồi nhỏ. Nàng quả cảm
trong mọi việc nhưng lại nhút nhát trong việc đối diện tuổi ấu thơ nghèo khổ
nên Kim Hoa tìm mọi cách để khoả lấp, trốn tránh. Bởi đó nàng mới tạo một ngôi
nhà trong tâm tưởng theo kiểu bứt râu cho chó cặm qua mồm con mèo và vẽ nên một
nữ chủ nhân vừa xinh đẹp vừa hát hay dưới cái tên Huỳnh thị Kim Hoa.
Trong quãng đời lao tù cực nhục, hơn lúc nào hết, Hiền mới biết cảm thương, hiểu
thấu nhược điểm của con người, nhất là cái tật nói dóc của vơt. Phải chi chàng
kiên nhẩn một chút để nghe nàng ba hoa chích choè sau khi dự đám ma ở Tân Ngãi
về. Sự tận tụy, tình yêu của Kim Hoa đối với chồng con phải được đền bù những
điều qúy giá gấp trăm ngàn lần hơn việc kiên nhẫn ngồi nghe đó. Chàng đã tỏ ra
sáng suốt tìm cách từ chối, không tham dự vào giấc mộng bệnh hoạn của vợ. Nhưng
chàng có thật sự sáng suốt không? Hay đó chỉ là một hành động khe khắt, một
thái độ ích kỷ?
Ôi, ngày được phóng thích sao mà xa thăm thẳm! Hiền không biết chàng còn được dịp
nào được sum họp với Kim Hoa để gánh vác với nàng gánh nặng mưu sinh, để chia sẻ
đủ mọi tâm tình, luôn cả niềm hoan hỉ về ngôi nhà mộng tưởng kia! Nếu rủi ngã gục
trên quãng đời tù đày thì chàng chết mà không sao nhắm mắt nổi vì không tìm được
dịp mua chuộc lỗi lầm với vợ.
Nhưng rồi vào năm 1984, Hiền được thả. Chàng trở về Xóm Gà để nhìn thấy căn nhà
trống trơn, chỉ còn chiếc giường kê ở góc phòng khách, nơi Kim Hoa đang nằm lim
dim ngủ gật. Nàng bịnh nhiều, thân thể gầy gò khô đét nhưng khuôn mặt vẫn rạng
rỡ. Kim Hoa an ủi chồng :
- Em thấy anh về là em khoẻ liền, khỏi cần uống sâm nhung, ăn yến huyết. Em bán
hết đồ đạc để có đủ 20 cây vàng cho hai đứa con mình vượt biên. Bây giờ cả hai
đương ở Mỹ, vừa đi làm vừa đi học.
Lối xóm nghe Hiền về đều tới thăm. Họ khuyên chàng nên chăm sóc Kim Hoa chu
đáo. Nàng nằm bịnh hơn hai tuần nay và cách đây hai hôm nàng đi tiểu ra máu.
Tuy có một y sĩ quen thân cũ thuờng đến săn sóc nàng nhưng vì thuốc men khan hiếm,
ông ta phải mua thuốc chợ đen. Cách đây hai hôm, ông ta bị bắt không hiểu vì lý
do gì.
Hiền săn sóc vợ. Thấy chồng về, Kim Hoa vui lắm. Nàng trao cho chàng một gói
vòng vàng nữ trang và một xấp bạc. Chàng lo tìm chỗ quen biết để đưa nàng vào
nhà thương nhưng Kim Hoa lắc đầu :
- Em có nhắn Kim Lan, nay mai nó sẽ lên đây. Vì tưởng anh chưa về, em muốn giao
tiền bạc và nữ trang còn lại để nó giữ giùm anh. Nhưng anh đã về đây rồi, vậy
là may lắm. Em bị ung thư anh à. Ði nhà thương làm gì, vô ích!
Nàng nhắm mắt lại, chập chờn muốn rơi vào cơn hôn mê. Hiền ôm vợ vào lòng, khóc
nức nở. Kim Hoa mở mắt :
- Trước đây hai đêm khi anh chưa về, em nằm chiêm bao thấy lại căn nhà nầy thuở
vợ chồng mình mới dọn về. Nhà chỉ có bộ sa-lông và cái giường ngủ. Quần áo vẫn
còn để trong va-ly, trong chiếc rương cây. Hồi năm 79, khi hai đứa con mình mới
vượt biên, bẳng đi bốn tháng không có tin tức, em lo lắm. Cũng một đêm nọ, căn
nhà lại hiện ra trong chiêm bao của em. Sáng ra, em được thơ tụi nó gởi từ đảo
Bidong về.
Hiền cố dằn cơn nức nở :
- Căn nhà nầy hồi đó, với vợ chồng mình là một tổ ấm lý tưởng.
Kim Hoa cười rạng rỡ :
- Trong chiêm bao, nó hiện về báo điềm hên đó đa. Anh có nhận thấy như vậy
không? Nếu em thấy nó một lần nữa, thế nào chúng ta cũng nhận được giấy nhập cảnh
do toà lãnh sự Huê kỳ đưa tới. Nhưng thôi, em bạc phước chết trước, anh rán chờ.
Nếu không thấy lại nó thì em sẽ hiện hồn về để báo cho anh tin mừng.
Những ngày sau cùng, Kim Hoa mê nhiều hơn tỉnh. Ðã đến lúc Hiền cảm thấy mình
phải nói gì với vợ. Do một linh cảm bén nhạy, Hiền nghĩ rằng không nên nhắc tới
căn nhà bịa dóc của vợ. Ôi, trong những năm tháng cuối đời, chắc Kim Hoa đã
nghĩ nhiều về căn nhà nầy, thuở hai người mới sống chung, đắm đuối trong hạnh
phúc, tình yêu. Căn nhà thuở đó chẳng có hàng rào cây trà, chẳng có cây bông giấy,
huỳnh anh; chẳng có sân giữa với bồn ảng, lu khạp chứa nước mưa; chẳng có bàn
ghế bằng danh mộc; cũng chẳng có đồ cổ ngoạn Khang Hy, Nam Tống…mà chỉ có hai vợ
chồng son, chàng nhút nhát, ăn nói lạt lẽo, con nàng thì nhan sắc dưới mức
trung bình. Vậy mà cả hai yêu nhau đắm đuối. Cuộc đời cay nghiệt đã rứt Hiền ra
khỏi tổ ấm, nên căn nhà mộng tưởng cũ cũng ra khỏi đầu óc Kim Hoa, thay vào đó
là hình ảnh căn nhà nầy, để nàng sống lại tuần trăng mật cũ, những năm son trẻ
cũ.
Trong những lúc Kim Hoa tỉnh táo, Hiền nói miên man về căn nhà nầy, về kỷ niệm
đẹp, về hạnh phúc thời son trẻ. Kim Hoa yên lặng nghe, úp mặt vào ngực chồng.
Nàng chưa bao giờ nghe Hiền nói nhiều đến vậy. Những lời nói của chàng dù bị
cơn hôn mê của nàng vùi lấp, nhưng dư âm giọng chàng sao mà đầm ấm làm nàng cảm
thấy an ổn tuyệt vời.
Kim Hoa chết đi, thất khiếu xuất huyết dầm dề mà mặt nàng tươi rạng kỳ ảo, môi
nàng nở một nụ cười đẹp lạ lùng trong giấc ngủ ngàn đời.
NGÕ LAN XÓM HUỆ
Cái ngõ hẻm đó, cái xóm đó ở miệt Phú Nhuận, gần ngõ hẻm Chu
Mạnh Trinh, cũng từ đường Chi Lăng quẹo vô. Ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh có tráng nhựa,
nhà cửa khang trang, lấy tên thi sĩ trứ danh làm tên hẻm. Còn ngõ hẻm nầy đã xấu
xí, đường đắp đất không rải đá xanh nên gặp trời mưa là bùn lầy nhớp nháp, nhà
cửa lại tạp lục: ngói có, tôn có, lợp lá cũng có luôn, nên không được đặt một
cái tên huê mỹ nào cả.
Căn nhà lá nhỏ nhứt xóm là của cô Năm Mỹ Huệ cất dưới bóng tre. Cái nghèo nàn của
căn nhà làm cho chủ nhơn của nó nổi tiếng nên trong xóm hè nhau đặt cho nó cái
tên là xóm cô Huệ. Còn ngõ hẻm vốn xấu xí nhưng đầu xóm có tiệm may của cô Tám
Quế Lan nên dân trong xóm kêu là ngõ hẻm cô Lan cho nó gọn.
Cô Tám Quế Lan năm nay thuộc loại gái già. Mới ba mươi hai tuổi mà cô đã có vẻ
hơi khô rồi. Tầm vóc cô không cao không thấp, không ốm không mập, nhưng da thịt
cô chẳng những xanh xao mà còn thiếu ánh sắc rạng rỡ. Nghe đâu cô giỏi bương chải,
chơi ba bốn chưn hụi, lại còn có cổ phần trong cái đề-bô rượu tây ở Tân Ðịnh,
cho nên tiệm may của cô đẹp đẽ, trang hoàng lịch sự: nào là tủ kiếng chưng bày
hàng lụa nhập cảng, nào là sáu cái bàn máy may hiệu Singer…Có điều cô kén thợ
may dữ lắm: phải may cho khéo, đừng se sua chưng diện, đừng có bóng sắc. Bởi cô
là gái già, cô tự biết mình không xấu nhưng không đẹp. Cô sợ mình bị chìm lĩm
giữa đám thợ may trẻ đẹp, nên ả nào mặt mày sáng sủa là cô nơm nớp, sợ vẩn vơ,
còn ả nào tỉa chơn mày, giồi phấn thoa son là cô ghét cay ghét đắng.
Cô Năm Mỹ Huệ tuy ở chái lá tùm hụp, nhưng khi bước ra ngoài là ăn mặc tươm tất,
quần hàng áo lụa, áo ni-lông trong vắt lồng gương xú-cheng, da thịt. Cô cũng
đeo vài món nữ trang bằng vàng. Bởi nhà cô nghèo nàn tiều tụy nên chòm xóm
không dám chắc đó là vàng thiệt, nhưng cũng bởi quần áo cô choáng lộn nên cũng
không ai dám đề quyết đó là đồ giả. Vả lại tuy không sắc sảo mặn mòi nhưng cô
khá dễ coi, mặt mũi sáng sủa, da trắng hồng, mắt hơi lẵng nên khi cô nheo liếc,
nguýt háy coi có duyên ớn.
Ðờn bà con gái trong xóm, từ mụ nái xề cam phận nội trợ cho đến mấy bà công chức,
buôn bán, mấy cô nữ sinh, ai ai cũng xoàng xoàng về phương diện bóng sắc, cho
nên dẫu cô Năm Mỹ Huệ ở nhà lá vách ván vừa nhỏ vừa mỏng như cái hộp quẹt, tấm
chơn dung hài hoà của cô chói hẵn lên. Nghe nói cô làm ngành Công Dân vụ. Ngành
nầy về sau cáo chung theo nền Ðệ Nhứt Cộng Hoà, theo sự tàn lụi của dòng họ Ngô
Ðình. Số lương công chức của cô quá khiêm tốn, nên dân trong xóm cứ thắc mắc rằng
tiền đâu mà cô sắm những bộ vi kiếng hực hỡ choáng lộn dường ấy?
Người xốn mắt nhứt trước cái mã sang trọng của cô Năm Mỹ Huệ là cô Tám Quế Lan.
Bởi đờn ông lãnh đạm với cô nên ghét con lành con lũng nào được họ xun xoe ve
vãn, lãng đãng tới lui. Cô biết mình không thể so bì với cô Năm về dung quang,
bóng sắc nên cô hạ địch thủ bằng cách đeo nữ trang bằng vàng nhận cẩm thạch, hột
xoàn choáng lộn. Chưa đã nư, cô Tám Quế Lan phun nọc độc lai láng vô đối thủ:
- Nghèo mà ham! Tiền đâu mà con mặt mâm đó mua sắm quần hàng áo lụa? Thứ đó là
thứ đưa người cửa trước rước người cửa sau, ôm đào ấp mận mấy thằng già dê dịch
vật chớ mần ăn gì nó! Ngày tối nó dến y quang rỡ ràng lộng lạc để rù quến phồn
mèo mả gà đồng, để chà lết quết xảm ván giường tụi nó, rồi nằm ngửa cho tụi nó
chơi.
“Con mặt mâm” đây là cô Năm Mỹ Huệ. Cô Năm có khuôn mặt trái soan, vậy mà cô
Tám đổ hô cô có khuôn mặt hum húp như trái tim heo và chần vần như cái mâm để
đơm xôi, đơm bánh dừa, bánh tét.
Lời một đồn mười, lời nói của cô Tám Quế Lan chỉ chừng vài ngày là lọt vào tai
cô Năm Mỹ Huệ. Cô bèn rải nấm độc tùm lum vào kẻ địch để trả đủa:
- Tui là con gái nhà lành. Tía tui trước kia là thầy giáo dạy lớp nhứt. Ông nội
tui làm tới chức Hương chánh. Tía tui nhà cửa xuê xoang, trâư bò bộn bàng, bạc
vàng ăm ắp. Vậy mà con đĩ cá lìm kìm kia dám phao vu chuyện động trời cho tui
thì có ngày khẩu nghiệp của nó sẽ hiện hành, ác quả của nó sẽ báo ứng. Nó ganh
ghét tui đó bà con. Bởi tui có cái bề ngoài xập xệ nên nó tưởng tui nghèo mạt rệp
phải đi đánh đĩ để có tiền ăn diện. Nó lầm, lầm to lạc lớn rồi. Nó thử lấy chồng
đi, tui sẽ xuất tiền ra mua chồng nó một cái rụp chớ chẳng thèm dùng bóng sắc để
rù quến thằng chả làm chi! Thứ đồ nhí nhảnh, ngày tối cứ dến cẩm thạch hột xoàn
để che lấp cái mặt Chung Vô Dỉệm của nó, ai dè của đi đàng của, người đi đàng
người , dạ xoa rốt cuộc cũng huờn dạ xoa!
“Con đĩ cá lìm kìm” đây là cô Tám Quế Lan. Cô Tám không có cái mỏ nhọn như con
cá lìm kìm, cô chỉ hơi hô một chút mà người miền Nam gọi là hô duyên.. Người đờn
bà nào hơi hô duyên thường có cặp môi đầy đặn và gợi cảm, rất dễ tô son. Nhưng
cô Năm Mỹ Huệ thì lại hơi móm, tức móm duyên, nên nét mỉm cười của cô rất ưa
nhìn. Bởi cô hơi móm nên gặp người nào không hô không móm cô đã cảm thấy mỏ
đương sự nhọn rồi, huống hồ cô Tám Quế Lan hơi hô. Cho nên dưới cặp mắt oán
ghét của cô, cái hô duyên của cô Tám trở thành cái mỏ nhọn và dài dọc như mỏ
con cá lìm kìm.
Ghét nhau, nói xấu nhau, gặp mặt nhau giả bộ không biết nhau, nhưng cả hai có một
điểm chung: ưa mượn quãng đời dĩ vãng để trám vào đó những mộng ước khó thực hiện
của mình.
Tối hôm đó trời mưa như trút. Khu Phú Nhuận, nhứt là ở khúc ngã tư cho tới khúc
đụng đường Nguyễn Huệ vắng ngắt và tối om om. Cô Tám đóng cửa từ lúc bảy giờ tối
rồi rút lên lầu. Cô mở từng ngăn gà-mên bày cơm canh ra ăn. Thức ăn đã nguội,
cơn mệt rã rời, tâm hồn cô đơn làm cô no ngang xương. Cô nhai cơm, nhai thức ăn
như nhai giấu xúc, nhai sỏi sạn. Nhưng cô phải ăn cho hết để rửa gà-mên, chén
dĩa trước khi đi tắm.
Nước mát làm cô tỉnh táo, tinh thần thêm khỏe khoắn. Cô trở lại căn phòng dành
riêng cho mình ở trên lầu. Nơi đây vừa là phòng đọc sách, vừa là phòng ngủ của
cô. Trên tường treo đầy tranh ảnh. Hai tủ kiếng đầy nhóc sách bìa da mạ chữ
vàng. Chiếc giường cô thuộc loại giường đôi bằng đồng có trải nệm, drap trắng
nõn nà. Tuy còn độc thân, cô vẫn sắm giường rộng. Hễ có chồng thì cô chỉ cần sắm
thêm chiếc gối nữa là đủ.
Tối hôm nay, cô Tám Quế Lan làm biếng tính sổ sách, lại không hứng đọc tiểu
thuyết. Cô nằm dài trên giường, nghĩ ngợi lan man. Mấy hôm rày coi bộ mình cảm
nhiều tên rồi đó. Sáng hôm nay xách tô ra hẻm Chu Mạnh Trinh mua cháo huyết, thằng
chệt mập ể mình hay sao đó để thằng chệt mới nầy bán thay. Thằng nầy mắt xếch
sáng long lanh làm mình nghĩ tới mắt chàng Lữ Bố, mắt Triệu Tử Long. Nó lưng
dài, vai rộng, thịt ngực thì nở, thịt hông thì teo, chệt gì mà nạc nhiều mỡ ít,
da trắng phau phau làm mình xúc động bồi hồi. Hôm qua, tên thợ ống nước với nụ
cười điểm lúm đồng tiền cũng đã làm cho trái tim mình đập đùng đùng như tiếng
trống múa lân. Tuần trước tui đã cảm lăn cảm lóc thầy ký Banh lúc thẩy cởi xe
Sachs đến thăm con em gái thẩy,.. Tui sẽ còn cảm dài dài nhiều tên con trai nữa.
Tên nào coi có duyên, ăn nói mềm mỏng là tui cảm liền. Cảm thầm lén, mê vụng trộm
chẳng chết con rệp, con muỗi nào, dại gì mà tui không mê, không cảm cho đời
thêm nên thơ, mặn mòi? Nhưng nếu lấy chồng, tui sẽ lựa kỹ, sẽ chọn thầy giáo,
thầy ký, thầy thông, thầy lục sự. Nếu gặp kẻ lên chức ông như ông đốc học, ông
chủ sự, ông giám đốc thì phải đừng già quắt quéo, đừng mập bệu, dẫu có goá vợ
nhưng đừng có con riêng là tui sẽ cho vô vòng tuyển chọn…
Chu choa ơi, giờ phút nầy sao tui nhớ hết cả ba vầy nè! Tui nhớ lúc thằng chệt
múc cho tui một tô cháo thiệt đầy, huyết từng miếng lớn lổn ngổn chiếm gần hết
phần cháo. Ðã vậy mà nó còn rắc vô tô giò-chéo-quẩy xắt khoanh, gừng xắt chỉ, ớt
xắt nhuyển thứ nào cũng nhiều. Nó còn nhìn tui thiệt sâu, thiệt tình rồi nói xạo:
“Ngộ thấy nị giống chị của ngộ nên ngộ vừa bán vừa cho. Mai nị mua cháo ủng hộ
ngộ nữa nghen. Bữa nay ngộ bán một cho một nửa, ngày mai ngộ bán một cho một”.
Còn tên thợ ống nước nữa chi, ba tháng trước nó tới sửa ống nước, tui mời nó một
chai la-de vậy mà nó còn nhớ, nay trở lại tặng tui hai trái ổi mập bự, cắn ngập
cả răng. Và chèn ơi, thầy ký Banh tới tiệm may thăm con em thẩy mà xả máy đía nổ
ro ro, nổ dòn tan. Thẩy hỏi thăm tui đủ thứ, nào là tui có thích du lịch không,
đọc tiểu thuyết thì lựa tác phẩm của ai…Tên nầy coi vậy mà xạo, nhưng xạo nhè
nhẹ hương hoa mận hoa cau, xạo thoang thoảng hơi thu, man mác sáo diều, dìu dịu
nắng xuân…
Những nhơn vật trên, qua cửa miệng cô Tám Quế Lan sẽ trở thành khác hẳn. Mặt
mũi, vóc dáng ông chủ sự phòng thương mãi ưa mời cô đi ăn cháo bào ngư ở Chợ Lớn
sao y chang mình mẩy, chơn dung tên chệt bán cháo huyết. Còn ông giáo sư dạy
Toán ở trường trung học ngoài Huế từ lâu trao đổi thư từ với cô, vừa tới thăm,
tặng cô nào bưởi thanh trà, nào nhãn sông Hương, quýt Hương cần…thì từa tựa gã
thợ ống nước, chỉ khác là ổng mặc com-lê chới không dến bộ đồ bê bết dầu mỡ như
gã thợ kia. Ông giáo sư vừa tặng quà cô xong là cầu hôn liền, nhưng cô sợ nếu lấy
chồng xứ Huế thì phải chịu lạ cảnh lạ người nên đành từ chối. Còn thầy ký Banh
thì chỉ bị sửa tên là thầy ký Bạch cho bớt quê, cho con Chín Nhung em thẩy lỡ
có nghe được khỏi eo sèo.. Nhơn vật nầy cũng mê cô đắm đuối, qùy dưới chân cô tỏ
tình, nói vạn lời yêu đương tha thiết…
Cũng đêm đó, dưới mái lá cô Năm Mỹ Huệ cứ trằn trọc. Ðêm mưa lành lạnh, cô mới
thấm thía hoàn cảnh lắm mối tối nằm không của mình. Cô nguyền rủa cái nghèo, vì
muốn có quần áo tươm tất, cô phải ăn mắm mút dòi. Sở dĩ cô Năm có nhiều quần áo
đẹp là nhờ bà chị ruột có tiệm may bên Khánh Hội. Bà nầy có cái tật là hễ mặc
áo đẹp vài lần là đâm chán, liền tống khứ cho cô. Hai chị em vóc vạc tròm trèm
nhau, quần áo bà chị dạt ra phần nhiều còn mới, cô chỉ cần sửa lại chút đỉnh là
có bộ cánh sang trọng. Lại nữa, vào dịp sanh nhựt hay tết, bà chị thường tặng
cô một xấp hàng hay xấp lụa để làm quà. Cô Năm còn ưa bắt địa lũ bạn trai để được
họ tặng hàng lụa. Cô chỉ cần đến tiệm của chị mình là có áo đẹp, khỏi phải trả
tiền công. Vả lại chị cô cũng bù sớt, giúp đở tiền bạc cho cô đều đều. Ngặt chị
ta có máu ghen thiệt đậm, thiệt nồng. Chị ta sợ kêu cô về ở chung thì thằng chồng
hảo ngọt của chị sẽ đánh hoa cả cụm. Nó dám dùng lơi đường mật rù quến cô Năm rồi
bơm cho cô một cái bầu bự như cái trống. Tới lúc nếp đã thành xôi, thịt heo đã
thành chả lụa, bột măng thít thành bánh bột lọc rồi thì chị gỡ sao cho ra, tính
sao cho gọn? Bởi vậy chị bắt cô Năm phải ở riêng. Chị giàu chị ở phố lầu, có cửa
trông ra đại lộ. Em nghèo em chui rúc trong mái lá thẹn thùng dưới bóng tre cuối
xóm.
Mắc mớ chi đêm nay tui trằn trọc như vầy? Có phải tại tui uống ly cà phê sữa hồi
trưa chăng? Tháng nầy tui dùng bốn phần năm tháng lương để sắm cái áo nhung
trơn màu lam ngọc, tui phải thắt lưng buộc bụng để bớt tiền ăn, tiền xe pháo.
May mà chị dâu tui ở Tầm Vu lên, chèn nhét cho tui được ba trăm bạc, để tui có
tiền đi xe buýt. Trọn hai tuần nay, tui hết ăn xôi tới ăn bánh mì thay cơm. Có
lúc tui phải lựa giờ ăn tới thăm người quen biết để đợi họ mời ăn cơm. Thảm quá
đi thôi!
Chiều nay, cô Năm ăn quen tới chà lết nhà con bạn, mong nó mời cô ăn cơm. Ai dè
mặt nó lạnh tanh. Té ra cả nhà nó sửa soạn đi Lái Thiêu để dự đám cưới em chồng
nó hôm sau. Bụng thì đói, cô phải cuốc bộ từ Tân Ðịnh về Phú Nhuận. Khúc bánh
mì dồn xíu mại đối với cô có thấm vào đâu. Xời ơi, xíu mại của thằng cha Sáu Yết
thịt thì ít, củ sắn bằm nhỏ thì nhiều.
Ðêm sâu dần. Mưa đã tạnh. 11 giờ đêm mà xóm vẫn còn nhộn nhịp, xe gắn máy thỉnh
thoảng nổ tành tạch. Tiếng chị Ba Phổ bán chè thưng rao lảnh lót: “Ai chè đậu
xanh bột bán nước dừa đường cát hôn?…” Tiếng rao ngân dài, gieo tê điếng cho
cô. Nước miếng trám đầy họng làm cô nuốt ực một cái. Cơn nghẹn ngào làm nước mắt
cô ràn rụa. Ðã vậy ở đầu hẻm, tiếng gõ rao mì của chú Chệt Xùi cứ lắc cắc lắc cắc
nghe ghét quá chừng! Giờ nầy mà cô được ăn một tô hoành thánh kèm một khúc bánh
mì dồn chả lụa thiệt bự thiệt dài, rồi tráng miệng bằng một chén chè thưng thì
tuyệt vời tuyệt diệu chớ không chơi!
Bụng đói, lại không ngủ được, cô Năm Mỹ Huệ tức giận vu vơ, oán ghét đủ thứ,
nhưng cái oán không rõ rệt làm cô lửng lơ, khó chịu. Cô không có quá khứ đẹp,
không từng có cuộc sống đầy đủ. Bởi đó cô hy vọng ở tương lai. Nhưng tương lai
cứ phẳng lì, nhàn nhạt, không có một dấu hiệu vẻ vang nào. Hiện tại của cô đóng
khung ở ngành công dân vụ và trong căn nhà lá hẹp té nầy. Ðể cho đời bớt tẻ, cô
dệt đủ cảnh giàu sang hồi thời mới lớn để kể cho bạn bè, người quen biết nghe.
Có vậy, họ mới nghĩ rằng dầu sao cô cũng là thứ lá ngọc cành vàng, vì chiến cuộc
nên gót chơn son của cô mới phải lặn lội trên con đường mưu sinh đạm bạc. Cái
nhà trong quá khứ cô thực ra là nhà của con bạn cô. Nhà gồm có ba căn hai chái,
nóc lợp ngói vảy cá, cột bằng gổ căm xe. Trong nhà liễn son, liễn mun thếp
vàng, có tủ thờ khảm xa cừ. Còn đồ cổ ngoạn chưng trong nhà ấy, cô Năm mượn đồ
cổ ngoạn của ông chú bà con xa bắn cà nông chưa tới để tả cho thiệt rõ ràng,
linh động.
Dân trong xóm dĩ nhiên chẳng ai tin tưởng vào lời khoe của cô Tám Quế Lan. Lẽ
nào đờn ông đeo đuổi say mê cô rần rần như vậy mà cô vẫn đi sớm về trưa một
mình? Cũng vậy, chẳng có ma nào tin cô Năm Mỹ Huệ có tiền mà vì không quen thói
se sua nên ở chui rúc dưới mái lá tùm hụp như vầy. Rốt cuộc họ chỉ tin rằng, hồi
mới lớn chắc cô Tám Quế Lan cũng có vài nơi gấm ghé, dạm hỏi; và cô Năm Mỹ Huệ
chắc cũng là con nhà điền chủ bậc trung, khuôn viên có toà nhà khang trang để
cư ngụ, có lẩm bề thế để chứa lúa. Cái quá khứ do hai cô vẽ ra coi vậy mà vẫn
được mọi người nâng niu trân trọng.
Nhưng đời nào cô Tám Quế Lan chịu nghĩ rằng địch thủ của mình xuất thân là con
nhà khá giả! Cô phải moi móc cái quá khứ, cái nguồn cội của cô Năm ra để bán
rao, để hạ nhục, để làm nhan sắc địch thủ bị lu mờ, ố bụi. Cũng vậy, sức mấy mà
cô Năm Mỹ Huệ tin rằng cô Tám có số đào hoa hồi còn tươi trẻ, xuân sắc! Cô cũng
lập tâm truy tầm dấu vết quá khứ của địch thủ.
Việc phải tới đã tới.
Số là cô Tư Mỹ Vân, chị cô Năm Mỹ Huệ, tuy hay chèn nhét giúp đở em mình nhưng
không đời nào chịu đặt chơn tới cái mái lá của em. Giữa đô thành thị tứ, dù là
trong hẻm hóc đi nữa mà có cái mái lá như vậy thì coi bộ kém…vệ sinh rồi đa!
Hơn nữa, mụ ta mặc quần lụa áo gấm, đeo hột xoàn cẩm thạch hực hỡ, nếu mụ đến
viếng em như vậy thì sẽ làm bia cho dân ngõ Lan xóm Huệ trề nhún rằng mụ giàu
mà ích kỷ, nỡ để cho em mình sống luộm thuộm. Cho nên, muốn liên lạc với cô
Năm, mụ nhờ chị Bảy Lựu, vốn là người đồng hương, hiện giữ việc luôn áo, vắt xổ
trong tiệm may của mụ.
Chị Bảy Lựu thường tới lui tới ngõ Lan xóm Huệ nên biết rõ sự xích mích giữa cô
Tám và cô Năm. Chị ta ốm lỏng khỏng, vì mang bịnh gan nên mặt đầy mụn như giề
cơm cháy. Bởi đó mụ Tư Mỹ Vân không sợ chồng mình tò vè ve vãn chị. Dè đâu, Bảy
Lựu nhờ đi châm cứu nên hết bịnh, mặt hết mụn, vóc dáng liền lạc hơn, da dẻ hồng
hào, mịn ướt hơn. Khi thấy chồng tỏ vẻ xun xoe săn đón chị, mụ Tư Mỹ Vân liền
tìm cớ để xéo xắt rồi cho chị ta nghỉ việc. Ðã vậy. cô Năm Mỹ Huệ còn binh chị
mình để chìa môi nhọn mỏ, trổ giọng khế giọng chanh với chị đờn bà bất hạnh
kia.
Chị Bảy Lựu ức lắm, liền tìm đến tiệm may cô Tám Quế Lan để xin việc. May thay,
cô thợ luôn áo vắt xổ tiệm may cô Tám sắp sửa theo chồng về Thốt Nốt nên chị Bảy
được cô Tám thâu nhận liền. Từ đó, qua miệng chị Bảy, gốc tích chị em cô Năm Mỹ
Huệ bị phơi bày. Thì ra, má cô Năm Mỹ Huệ là bà Chín Huề vốn là đào hát bội gặp
thời xuống dốc phải đi in gạch. Bà ta gởi mấy chị em cô cho cậu dì cô nuôi
giùm. Sau đó, Hai Sử, anh ruột cô, được ông thầy thuốc Nguyễn văn Cảnh nuôi làm
con, cho ăn học tới năm thứ hai ban trung học rồi cho đi học ngành huấn luyện
viên thể thao để về sau thành giáo sư dạy môn thể thao trường cao tiểu Vĩnh
Long. Hai Sử còn tự học thêm tây ban cầm, được ông hiệu trưởng cho dạy luôn môn
âm nhạc. Ông anh trưởng dìu dắt lũ em nên cậu Ba Kỷ đậu bằng thành chung ra làm
giáo viên trường quận, cô Tư, cô Năm được học tới năm thứ ba trung học. Cái tiểu
sử gia đình cô Năm Mỹ Huệ như vậy cũng chẳng có gì đáng chê bai hay trầm trồ,
nhưng nó cũng đủ làm cho cái đía dóc của cô Năm lòi ra. Tai hại là chỗ khúc đời
tối tăm nhứt của má con bà Chín Huề bị chị Bảy phơi trần tuốt luốt:
- Cô Tám à, có một thuở bà Chín Huề cùng lũ con sáng sáng bơi xuồng qua chợ
Vãng, cho xuồng đậu phía dưới dãy cầu tiêu công cộng ở chợ Cá. Má con bả đợi
thiên hạ ỉa liền vớt cứt vo tròn cỡ trái cam đem về phơi khô để bán cho bọn Tiều
bón phân làm rẫy.
Cô Tám Quế Lan nghe được vận sự trên, khoan khoái bằng uống trăm thang thuốc bổ.
Chiều hôm đó, sau khi tiệm may đóng cửa, cô lôi con cá lóc thiệt bự đang rọng
trong vịm ra để cạo vảy moi ruột. Cô nấu món canh chua cá lóc với khóm để ăn với
tôm rim mặn. Cô tin rằng món canh chua sẽ giúp cô thi hứng để cô làm thơ hạ nhục
cô Năm Mỹ Huệ. Vừa khi rắc rau om và ớt xắc nhuyển vô nồi canh là cô đã sáng
tác được hai câu:
Thuở xưa mưa gió dầm dề
Má con Chín Huề đi vắt cứt trôi
Sáng hôm sau dù mưa rơi ướt át, cô Tám Quế Lan cũng lặn lội ra chợ Phú Nhuận
mua bánh qui, bánh bò, bánh ú để phân phát cho lũ trẻ lối xóm. Tụi nó mà ăn quà
của cô rồi thì hai câu thơ kia sẽ biến thành hai câu đồng dao, sẽ được hát vang
lừng khắp xóm khắp hẻm cho coi. Quả nhiên, hai câu hò chỉ trong vòng hai ngày
sau đã được phổ biến lưu hành chẳng những ở ngõ Lan xóm Huệ mà còn khuếch đại,
lan truyền qua các hẽm, các xóm lân cận khác.
Trong lúc cô Tám đắc chí bắt nồi canh chua cá lăng nấu với lá dang lên bếp để
tìm thi hứng cho các câu thơ lăng nhục mới thì cô Năm Mỹ Huệ xách đít lại nhà
thầy ký giả Huỳnh Kim Tiểng với gói thịt quay và một ký-lô bún gói trong lớp lá
chuối xanh tươi.
Nguyên thầy ký giả nầy chuyên giữ mục kịch trường, tân nhạc cho một vài tờ báo.
Thầy có viết lai rai cho một tuần báo phụ nữ. Bởi thầy là dân phiện phò hút
xách nên thầy có nhiều ý tưởng ly kỳ quái đản. Chỉ nghe một câu chuyện ngắn ngủn
bằng cái đuôi con thằn lằn, thầy có thể thêm thắt nhưn nhị để kéo thành truyện
dài như đuôi con công mới là hay chớ. Ðã vậy thầy có tánh ác, câu chuyện dù có
trong leo lẻo như nước suối Vĩnh Hảo, thầy cũng quậy bùn thêm cho nó đục ngầu
như nước cống, nước đường mương. Bởi vì mỗi tuần thầy ký giả ghiền kia phải
cung cấp cho tập san lá cải nọ một truyện ngắn nên riết rồi thầy cạn đề tài.
Cho nên vợ chồng thầy rất hiếu khách, mà phải là thứ đờn bà thèo lẽo ưa phun nọc
người nầy, bôi tro trát trấu người nọ. Có vậy thầy mới có đề tài để viết.
Cô Năm Mỹ Huệ vừa đến nhà thầy ký giả ghiền thì bà vợ bày mâm cơm ra. Mâm cơm
có món cá ngừ kho ớt bột ăn với bún và rau xắt ghém. Cô Năm chìa gói thịt quay
ra, giọng eo éo:
- Tui đến đây chơi, trước là muốn giới thiệu với thầy thím món thịt quay ở thớt
thịt chú Xồi tại chợ An Ðông. Hai là giúp thầy một đề tài giựt gân để thầy thêu
thùa thêm hoa lá, vẽ vời thêm bướm chim một thiên diễm tình làm độc giả cười
tróc mỡ sa, mỡ chài ra.
Thầy ký giả ghiền mắt sáng háo hức, ân cần mới cô Năm dùng cơm trưa với với vợ
chồng thầy. Trong bửa ăn, cô Năm kể lể thiên tình sử mà hai nhơn vật chánh là
tên chệt bán cháo huyết và cô gái già Tám Quế Lan.
Số là hôm nọ, chồng cô bạn của cô Năm Mỹ Huệ có việc phải về quê ở Trà Vinh lo
việc hầu kiện, cô ta có rủ cô Năm về nhà chơi rồi ngủ đêm luôn cho nhà đỡ trống
trải. Nhà cô bạn cũng thuộc khu Phú Nhuận, gần lò bún, mái lợp fibro-ciment,
vách ván sơ sài nên tiếng động bên nhà hàng xóm đều lọt qua.
Nửa khuya, cô Năm Mỹ Huệ chợt thức giấc, nghe tiếng nói văng vẳng ở nhà kế
bên.. Tiếng đờn ông đặc sệt giọng khách trú:
- Ngộ có đủ tiền mở tiệm nước lớ. Nị mà lấy ngộ thì mình mua hai căn phố giáp
liền nhau, căn thì làm tiệm may, căn thì làm tiệm nước lớ.
Giọng người đờn bà hơi khàn khàn đục đục, nghe rất quen thưộc:
- Ừ, tiệm may Chi Lăng của tui độ rày không khá. Nếu nị chịu bỏ đất Sài gòn về
miệt Tân Châu Hồng Ngự làm ăn với ngộ thì mình…tính tới.
Cô Năm giựt mình. Tiệm may Chi Lăng? Ủa lạ! Không lẽ cô Tám Quế Lan đêm nay ở
nhà tên Chệt kia? Nhưng rõ ràng là giọng cô ta chớ giọng của ai! Bên kia, tiếng
người đờn bà tiếp tục ỏn ẻn:
- Nè, có nhớ tui thì nhắn tui qua đây, nị đừng làm ẩu xách đít đến tiệm tui thì
có ngày chuyện của mình bị cái quân chòi mòi chọc mọc đó phát giác, rồi tụi khốn
nạn đó đi phao vu tùm lum làm tổn hại danh giá tui…
Tờ mờ sáng hôm sau, cô Năm Mỹ Huệ xẹt qua lò bún để mua bánh nghệ, bánh hỏi thì
thấy cô Tám Quế Lan từ trong nhà láng giềng của cô bạn bước ra. Cái áo dài màu
tím, cái áo len hường của cô Tám thì cô Năm đâu có lạ gì, dẫu cô Tám có đội nón
lá che khuất mặt mày đi nữa.
Cô Năm Mỹ Huệ khi trở về nhà bạn, hỏi:
- Thằng khách trú ở nhà bên là ai vậy chị?
Cô bạn cười:
- Thì thằng chệt bán cháo huyết ở hẻm Chu Mạnh Trinh chớ ai! Nó dắt mèo về nhà
luôn nên tui không biết con nào với con nào hết. Con nào vô nhà nó ngủ đêm chỉ
trong vài tuần là đi biệt. Nó nhờ cái mã láng o láng mướt mà mấy mụ góa, mấy
con muộn chồng ưa lắm…
° ° °
Trên tuần báo Phụ nữ dạ đàm, truyện ngắn Bà chủ tiệm may của
Huỳnh Kim Tiểng được dân ngõ Lan xóm Huệ chiếu cố đặc biệt. Nhơn vật chánh là Bảy
Quế Anh và tên chệt Cấm Coóng (Kim Quang). Thày ký giả chẳng những cho tên chệt
kia bán cháo huyết mà thẩy còn cho nó bán dâm với mấy mụ nái xề.
Cô Năm Mỹ Huệ được thầy ký giả ghiền tặng hai tờPhụ nữ dạ đàm, nhưng cô mua
thêm hai tờ nữa để chuyền cho mấy mụ chằn ăn trăn quấn trong xóm đọc.
Vừa khi báo ra, cô Tám Quế Lan chưa hay, cho nên cô bắc nồi canh chua tôm thẻ nấu
với khóm trên bếp, vừa tìm vần tìm ý để viết một bài vè “vắt cứt trôi” cho dài
hơn hai câu đồng dao hôm trước. Khi nồi canh vừa sôi thì Cô Chín Nhung hớt hải
tìm tới, chìa tờ báo Phụ nữ dạ đàm cho cô Tám đọc. Trời đất thánh thần ơi, mắt
cô chói loà, tai cô lùng bùng, tứ chi cô bủn rủn lạnh ngắt! Tên ký giả ghiền
chó đẻ heo sanh kia dám dựng đúng rằng ông chủ sự phòng thương mãi của cô chẳng
qua là thằng chệt mập thù lù bán bánh bò giò-chéo-quẩy. Còn ông giáo sư người
Huế là gã loong-toong mặt mày nổi mụn như giề cơm cháy, cái miệng méo xẹo như
miệng cá lưỡi trâu. Thầy ký Bạch thì nó đổi thành gã chệt mua bán ve chai cùng
giấy nhựt trình, bụng bự như cái lu, cằm có nọng nung núc mỡ.
Chiều hôm đó, cô Tám Quế Lan bỏ cơm, nằm trùm mền trên lầu, đầu nóng bừng bừng,
ngực nặng trìu trịu. Ðã vậy mấy con đĩ chó bòng chanh bóc chách khi đi ngang
qua tiệm may cô, còn cất giọng the thé:
- Ai ăn cháo huyết! Cháo huyết nóng bù thổi bù ăn đây!
Còn mấy tên cà nhổng thất nghiệp dài hạn, mấy thằng đá cá lăn dưa thì bắt chước
giọng khách trú, rao theo điệu vè:
- Hầy a, cháo huyết đây! Cháo ngon vừa bán vừa cho, ăn no mệt nghỉ, ngộ xin rủ
nị, hú hí với nhau, rồi nị có bầu, đẻ ra thằng tửng…
Lũ con nít vuốt đuôi lươn:
- Cháo huyết! Cháo huyết đây!
Sướng chưa! Giậu vừa đổ là bìm, sắn đã leo rậm rì rậm rịt rồi. Bởi cô Tám Quế
Lan ke re cắt rắt, cho vay ăn lời “xanh xít đít đui” với dân trong xóm nên đã
gây biết bao oán ghét, cừu hận. Những kẻ nào đã oằn vai, còng lưng trả nợ cho
cô xong thì công khai mang đề tài cháo huyết ra để xỏ xiên cô, tụm năm tụm ba ở
ngoài hàng rào ong óng nói xóc óc, chửi xốc hông cô. Còn kẻ nào đang thiếu nợ
cô thì đích thân ra sạp bào mua tờ Phụ nữ dạ đàm có đăng truyện Bà chủ tiệm may
để chuyền tay cho bạn bè cùng đọc, cùng nghiền ngẫm từng chữ, mổ xẻ từng câu.
Và trời đất tiên nhơn tổ đường ơi, lối nghiền ngẫm nào, cách mổ xẻ nào cũng bất
lợi cho cô ráo trọi.
Khi những tờ báo chuyền tay đó rã tanh banh tét bét thì cô Tám Quế Lan đã sang
căn phố lầu cho người khác. Cô cùng tên chệt bán cháo huyết chánh thức lấy nhau
rồi về Cầu Kho, chồng mở tiệm nước, vợ mở tiệm may. Cô Tám thầu được công việc
may quân trang quân phục nên dùng thợ đờn ông. Tiệm may cô càng lúc càng phát đạt.
Còn tiệm nước chồng cô nhờ các món bánh bao, xíu mại, há cảo, xủi cảo ngon ác
ôn mà khách vô ầm ầm vào buổi sáng; nhờ các món hủ tiếu, mì, hoành thánh nhiều
thịt nên từ trưa tới tối mịt quán vẫn không ngớt khách.
Khi sắm xe Huê kỳ, cô Tám Quế Lan ưa rủ chồng và thằng em chồng về thăm ngõ Lan
xóm Huệ. Chồng cô ăn mặc bảnh bao, đeo cà rá nhận hột xoàn, đồng hồ Thụy Sĩ dây
đeo bằng vàng. Còn cô đeo hột xoàn chấp chới, bận áo đầm hay xường xám. Vì đẻ
xong hai lần, cô nuột nà hẳn ra.
Cô Năm Mỹ Huệ vẫn ở căn nhà cũ, giờ lợp tôn. Cô vẫn làm ngành cũ với số lương
ba cọc ba đồng. Khi thấy cô Tám về xóm cũ để bẹo hình bẹo dạng, diệu võ dương
oai thì cô Năm chui vào nhà đóng chặt cửa lại, khóc rấm rứt.
Nhưng có lần nọ, cô Năm Mỹ Huệ ngồi ngoài sân vừa ăn mía vừa hóng mát thì xe cô
Tám trờ tới. Lỡ bộ, cô Năm đành ngồi luôn ngoài sân, dương cặp mắt chau quảu
nhìn cô Tám. Không lẽ cô quay ngoắt vào nhà đóng cửa lại, để kẻ thù cho rằng cô
yếu bóng ví hay sao! Cô Tám Quế Lan làm bộ vồn vã, chào trước:
- Chào cô Năm. Dữ ác, hèn lâu mới gặp cô. Té ra cô còn ở đây! Thiệt tình tui
không dè cô mến cái xóm nầy tới vậy!
Cô Năm mặt lợt lạt, miệng ấp úng:
- Chị về chơi.
- Ờ, tui về thâu tiền hụi.
Rồi cô Tám dặn thằng em chồng ở lại coi chừng coi đổi xe cho cô, kẻo con nít rắn
mắt bôi bùn hay làm trầy xe. Cô cùng chồng tay nắm tay đi vào nhà bà Phán Ðức.
Còn gã em chồng thì nhìn cô Năm Mỹ Huệ trân trân. Cô Năm mặc bộ đồ lụa lèo màu
hột gà coi thiệt tươi mát. Cô uốn tóc ngắn, phơi cái cổ nuột nà. Ở nhà nên cô
không giồi phấn tô son gì ráo nhưng da mặt mơn mởn, môi cô hồng hồng, mắt cô ướt
rượt, tròng mắt cô đưa đẩy loang loáng.
Hôm đó em chồng cô Tám bắt chuyện làm quen cô Năm Mỹ Huệ. Hắn ta xin cô chút nước
để rửa kiếng xe.
Hai hôm sau, em chồng cô Tám cỡi ếch-bà đến thăm cô Năm Mỹ Huệ. Và những ngày
sau đó hắn cứ tìm dịp đến chơi, mỗi lần viếng thăm, hắn ở lại thiệt lâu.
Cô Tám Quế Lan, sau cái hôm bẹo xe hơi, hột xoàn cho cô Năm Mỹ Huệ chứng kiến
thì cô đắc chí lắm. Vừa làm bếp, cô vừa nghĩ cách làm sao để cô Năm chứng kiến
cảnh thạnh vượng của tiệm may của cô lẫn tiệm nước của chồng cô. Hôm sau nữa,
cô Chín Nhung đến thăm. Nghe cô Chín hứa sẽ rủ cô Năm Mỹ Huệ đến ăn sáng ở tiệm
tên cựu bán cháo huyết thì cô Tám Quế Lan cảm thấy cờ bay phấp phới trong bụng.
Cô làm món canh chua cá lóc với bông so đũa cùng với cá rô mề kho tộ để đãi người
giúp việc cũ. Nhưng cô Chín ăn xong bữa cơm đó rồi biệt tăm biệt dạng luôn.
Số là khi từ Cầu Kho về, cô Chín Nhung tìm cô Năm Mỹ Huệ thuật lại cái ý đồ của
cô Tám rồi ton hót:
- Con mẻ muốn khoe của cho cô tức hộc máu đó cô Năm. Cô phải trả đũa cho ngoạn
mục đi cô. Thằng em chồng của con mẻ coi bộ lậm cô lắm rồi. Cô phải kỳ kèo nó
làm đám cưới, rồi cả hai dắt nhau về Cầu Kho để … ăn điểm tâm khỏi trả tiền.
Tối hôm đó, gặp mặt tình nhơn, cô Năm Mỹ Huệ ỏn ẻn hỏi:
- Anh của anh có khó không?
Tên si tình bảo:
- Ảnh mà dám khó với ai? Ảnh có mèo cả đống. Còn anh chí thú làm ăn, gặp em là
bị cú sét giáng xuống, tức nhiên anh phải lo tiến hành đám cưới. Hai anh em anh
côi cút từ nhỏ, sống nhờ ông bác khó tánh nên thương yêu nhau lắm. Ảnh đời nào
bắt chặt bặt lỏng anh!
Trương Hùng, người yêu của cô Năm Mỹ Huệ, có tiệm tạp hoá ở Tân Ðịnh, lúc trước
thì giàu hơn anh. Ða số dân khách trú tuy bề ngoài xập xệ nhưng trong tủ họ
vàng lá cả bó, giấy bạc sắp bốn năm thúng. Cô Năm Mỹ Huệ ôm chặt người yêu. Tui
hằng mơ lấy chồng công chức có ăn học, dẫu lương tháng ba cọc ba đồng. Ước mơ
tui khiêm tốn nhỏ nhoi, vậy mà ông trời hà tiện không cho tui một tấm chồng! Giờ
đây tui gặp thằng chệt nầy, nó nói rành tiếng Việt chớ không xí xô xí xào như
anh nó. Nó tuy ăn ở cần kiệm nhưng biết rộng rãi với tui. Tui lấy nó tam tứ tiện,
đã có chỗ trao thân gởi phận, lại còn làm cho con Tám ó đâm kia tức trào máu
hoè, sôi bọt quáp chớ không chơi.
Cô Năm Mỹ Huệ cùng Trương Hùng dắt nhau đến tiệm nước Trương Xương, chồng cô
Tám Quế Lan, để ăn điểm tâm. Anh chồng mừng rỡ bao nhiêu thì chị vợ chù ụ bấy
nhiêu. Cô Tám bỏ qua tiệm may sau cái nguýt bén ngót.
Khi cô Năm cùng Trương Hùng ra về, cô Tám Quế Lan nghiến răng bảo chồng:
- Nị phải cản cái thằng khờ kia, đừng cho nó cưới cái thứ gái hư, đưa người cửa
trước rước người cửa sau đó.
Trương Xương bảo:
- Hầy, cô Năm là công chức lớ. Anh Hai, anh Ba cô Năm cũng là công chức lớ. Chị
Tư của cổ có tiền lắm lớ. Thằng em ngộ kén vợ lắm, gặp cô Năm là mê, tuy cô Năm
nghèo nhưng thuộc con nhà tử tế lớ.
Cô Tám Quế Lan rống lên:
- Thứ đồ đi vớt cứt trôi cả lũ.
- Hầy à. Hàn tín thuở xưa còn lòn trôn giữa chợ lớ.
° ° °
Ðám cưới Trương Hùng và cô Năm Mỹ Huệ, cô Tám Quế Lan giả đò
đau máu không dự, nhưng cô không thể không gởi quà cưới gồm một đôi vòng vàng.
Hôm lễ phản bái, vợ chồng cô Năm phải về nhà anh chị mình. Hai người đàn bà phải
ồn ào cười nói để khoả lấp sự ngượng ngùng. Cô Tám Quế Lan
săm soi mặt lụa chiếc áo dài của cô Năm Mỹ Huệ :
- Chèn ơi, soie nầy màu cam tươi như màu trời buổi bình minh! Ðẹp, đẹp lắm! Tui
quen ăn chắc mặc dày cho nên làm sao bì kịp thím ba sắp nhỏ!
Thiệt tình cô Tám nói cho có chuyện chớ không có ý móc ngoéo, xỏ xiên cô Năm .
Nhưng cô Năm đời nào tin rằng câu nó của kẻ cựu thù trơn láng, suôn đuột! Cô
háy dài chị bạn dâu, cười ầm ĩ, nói lăng líu:
- Chiếc áo đầm chị đặt may ở đâu vậy? Ai mà không mông không ngực dến nó vô coi
cũng có này có nọ với người ta đó chớ!
Khi cô Năm ra về, cô Tám tưởng chừng não cân mình đứt lìa. Còn cô Năm cũng cảm
thấy tức ngực lói hông. Chị Bảy Lựu đến xúi cô Tám Quế Lan:
- Nè cô Tám, cô để tui gài gián điệp trong nhà em chồng cô. Mỗi tháng cô cho
con ở nhà đó chút tiền ăn quà thì chuyện gì cũng xong.
Cô Chín Nhung không cần bày mưu hiến kế mà cô Năm Mỹ Huệ cũng đã nghĩ ra kế độc
rồi. Cô yêu cầu cô Chín Nhung:
- Chị quen với mấy anh thợ may ở tiệm mụ Tám ó đâm đó, xin chị lân la dọ hỏi,
giúp em biết rõ tình hình ở tiệm may và tiệm nước.
Con ở hằng tuần đi chợ Bến Thành mua trái cây nhập cảng cho chủ thì đã gặp cô
Tám Quế Lan ở đó. Cô dắt nó lại cữa Ðông, đãi nó ăn bì bún hoặc bún tôm nướng để
nghe nó báo cáo mọi việc trong nhà cô Năm. Khi nó ra về, cô còn nhét thêm vào
tay nó chút ít tiền lẻ.
Còn cô Chín Nhung mỗi khi lên Tân Ðịnh chơi là được cô Năm Mỹ Huệ đưa ra chợ
khi thì ăn bánh xèo, khi thì ăn mì Như Ý. Cô Chín Nhung to nhỏ tường trình gia
đạo cô Tám Quế Lan không sót mảy lông.
Hai chị em bạn dâu thỉnh thoảng đi thăm viếng nhau. Họ muốn làm vui lòng chồng
họ nên tặng quà cho nhau. Nhưng sau lưng cô Tám, cô Năm Mỹ Huệ chắp vá từng mẫu
báo cáo của mấy anh thợ may, rồi thêm thắt theo hứng thú của mình:
- Xời ơi, đã đẻ hai thằng con trai rồi mà còn chắt bóp, bần tiện, không biết
gây ruộng phước cho tụi nó. Ông bà mình thường nói trai nhờ đức mẹ, gái nhờ đức
cha. Thay vì dùng tiền làm phước, con mẻ hễ có chín cắc phải kiếm thêm cho được
một cắc nữa để đủ một đồn. Thiệt căn đầy kiếp đoạ ông anh chồng tui gặp con vợ
ghen như quỉ hỗn như yêu. Thằng đờn ông nào có kiên nhẫn chung tình cho thế mấy
mà gặp con vợ như vậy thì cũng phải ngoại tình mà thôi. Ở nhà, ảnh làm sao chịu
nổi cái giọng eo óc xốc hông như nện trống đồn, như gióng chập choã của con vợ
trời đánh thánh đâm đó. Xí! Ðã lấy chồng chệt mà không chịu học làm món ăn Tàu.
Ngày tối mụ cứ khỉa canh chua đều đều. Hết canh chua cá biển tới canh chua cá đồng,
rồi bắt qua canh chua tôm, canh chua thịt gà. Ở chung một nhà với mụ cứ ních
canh chua riết ê răng, ớn rùng rợn tới óc não tủy xương.
Sau lưng cô Năm, cô Tám Quế Lan lượm lặt từng mẫu tường trình của con ở nhà cô
Năm rồi gia giảm mắm muối để thành một bản án gắt gao:
- Thứ đồ xí xọn, chỉ lo se sua cái bộ mã bề ngoài. Ở nhà nó cho thằng em chồng
tui ăn toàn cá mòi, ba khía, mắm ruốc, mắm nêm đều đều. Tiền của chồng nó, nó
ăn hàng ngập mặt, rồi mua cá lòng tong, cá rói,cá chốt, cá linh về kho cho chồng
nó ăn. Xời ơi, ăn ở vậy mà coi cho được! Tui nghĩ chắc ông Thiên Lôi ổng quên uống
cà phê, uống trà nên cứ ngủ gục hoài, quên xáng cho cái con vô nghì đó vài búa
để răn bá tánh.
Hai chị em bạn dâu thay phiên nhau về thăm ngõ Lan xóm Huệ. Ở đó mới có kẻ chịu
nghe họ phun nọc độc vào nhau. Mấy mụ ngồi lê đôi mách sẵn sàng nghe cô Tám Quế
Lan nói xấu cô Năm Mỹ Huệ để vuốt đuôi lươn theo cô, để có dịp nói cười hể hả.
Nhưng họ cũng hứng khởi khi nghe cô Năm tố khổ cô chị bạn dâu. Họ đốc xúi, khơi
chuyện để cô Năm xả máy vo vo, kể tội trơn láng cô Tám đến cạn tàu ráo máng.
Riết rồi hai anh em Trương Xương và Trương Hùng cũng biết rõ sự hiềm thù, cạnh
tranh nhau của hai bà vợ. Trương Hùng một lần qua Khánh Hội thăm cô Tư Mỹ Vân,
nhờ chị vợ tìm cách khuyên giải vợ. Cô Tư vốn có cảm tình vời em rể nên nhận lời.
Cô lân la làm quen với cô Tám Quế Lan. Chồng cô cũng giao du thân mật với
Trương Xương.
Khi trở thành hội viên hội bắt ghen của cô Tư rồi, dù không tỏ ra thân thiện,
cô Tám cũng bớt vẻ khinh khỉnh, không còn nói lời xóc óc cô Năm Mỹ Huệ nữa. Ngược
lại, khi thấy chị bạn dâu và chị mình tương đắc với nhau, cô Năm ăn nói mềm mỏng
với cô Tám hơn. Dầu vậy cả hai vẫn chưa thể nào thân mật với nhau được. Lòng họ
không mở ngõ cho nhau. Mụ nào cũng giữ thế thủ, tuy nhiên họ ít về ngõ Lan xóm
Huệ hơn, mà dẫu có về, khi nghe ai nhắc đến kẻ kia thì họ cũng lảng qua chuyện
khác.
Trương Xương thường dắt hai đứa con trai đến thăm vợ chồng em mình. Cô Năm Mỹ
Huệ mới có bầu nên cô háo hức chuyện con cái. Chèn ơi, thằng Tửng anh đen dòn,
mập cùi cụi, cười tít toát có duyên ác! Thằng Tửng em trắng phau phau. Tụi nó
có lẽ nghe tía nó xúi biểu sao đó mà hễ gặp cô Năm là xà quần theo, nói đỏ đẻ
lăng líu, thấy thương đứt ruột. Lúc đầu, cô Năm chỉ cho tụi nó bánh trái chớ
không vuốt ve, nựng nịu. Ngặt ông trời ổng mớm miệng nên tụi nó nói nhiều câu dễ
thương, nhiều lời tức cười, cho nên cô Năm cầm lòng không đậu, ôm tụi nó thiệt
chặt, hun tụi nó thiệt kêu. Sau những cái hun như vậy, lòng cô mở rộng bát
ngát.
Từ đó cô cứ òn ỉ xúi chồng chở cô đi thăm cháu luôn. Lần nào cô cũng đem bánh
trái cho cháu ăn phủ phê. Lúc đầu, cô Tám Quế Lan ngần ngại lắm, nghi ngờ con
yêu tinh này toan lập mưu đen chước đỏ gì đây. Nhưng theo thời gian, mối nghi
ngờ của cô Tám cũng bớt nồng độ đậm đặc. Tuy cô không dắt con đến nhà cô Năm Mỹ
Huệ nhưng thỉnh thoảng cô nhắc chồng đưa con đi thăm em chồng và em bạn dâu
mình.
Kỳ lễ Phục Sinh năm đó, Tửng em bị ban trắng. Cô Năm Mỹ Huệ nghe tin bèn bồng
con gái đi thăm cháu. Thấy cảnh nhà chị dâu bề bộn, cô xin ở lại coi sóc Tửng
anh và lo việc bếp núc.
Ðêm đó, Tửng em nóng làm kinh. Hai người đờn bà ngồi canh bịnh, nước mắt nước
mũi choàm ngoàm. Khi cơn nóng đứa nhỏ đã lui, cô Tám Quế Lan ngọt ngào bảo em bạn
dâu:
- Thím Ba đi ngủ đi, để mình chị canh chừng cháu cũng được.
Lần đầu tiên cô Tám Quế Lan xưng “chị”. Bao nhiêu trục trặc, khúc mắc trong
lòng cô Năm Mỹ Huệ từ lúc cô biết yêu thương hai thằng cháu đã lung lay nhiều rồi,
giờ đây tiếng “chị” ngập tràn thông cảm đã biến chúng thành tro bụi bay tản mạn
đâu mất. Còn cô Tám Quế Lan khi xưng được tiếng “chị”, cô nghe âm vang đó lọt
vào tâm hồn từ lâu bưng bít của mình một luồng gió mát rười rượi. Cô bảo em
dâu:
- Còn một ít thịt bằm với củ hành, để chị nấu cháo rắc củ cải bắc thảo và
giò-chéo-quẩy cho thím ăn giải lao. Mai mốt cháu Tửng em mạnh giỏi, chị em mình
về ngõ Lan xóm Huệ ăn bì bún. Chèn ơi, bì bún của bà Năm Trầu ngon không thua
gì bún ở Nha Mân, ở Cai Lậy đâu nghe.
Cô Năm Mỹ Huệ cười hì hì:
- Chị em mình cùng đề huề về thăm ngõ xưa xóm cũ chắc thiên hạ xửng vửng vì kinh
ngạc.
Cô Tám Quế Lan liếc xéo em dâu, cười ngỏn ngoẻn:
- Ối, đời mà thím! Chuyện gì cũng có gốc có ngọn có nguyên do ráo trọi. Ai cười
chị em mình thì họ hở mười cái răng. Mà thím tin đi, răng cỏ mấu con lủng con
lành, mấy mụ bành mụ nái xóm đó xấu ỉn hè. Họ cười chị em mình là họ phơi cái xấu
của họ ra.
ĐÊM XUÂN
CHỊ EM THỎ THẺ
Bà Bang biện Huỡn vừa têm trầu vừa cằn nhằn với bà Hội đồng
Giỏi :
- Tết nhứt sắp tới rồi mà tui có sắm sửa gì cho xôm đâu! Mới mua bốn chục dưa hấu
chất đầy bộ ván cẩm lai đó. Thiệt tình từ khi ổng chết đi, tui rủn chí, hết muốn
gì nữa!
Bà Hội đồng Giỏi nhìn chị mình lom lom. Bà biết chị mình than lấy lệ mà thôi.
Ông Bang biện Huỡn chết từ ba năm qua rồi. Ổng bị bán thân bất toại suốt bốn
năm ròng, sống ngày nào còn là gánh nặng cho vợ con ngày đó. Từ khi ông chết,
năm nào ruộng của ông cũng trúng mùa. Bà Bang biện Huỡn còn xoay qua vựa củi, vựa
mắm, bề mần ăn xuôi chèo mát mái. Cứ coi bốn chục trái dưa hấu chất đầy bộ ván
đó cũng đủ biết cái thạnh vượng của gia đình nầy. Bà còn lạ gì cái tật ưa than
thở của chị mình : vui cũng than, buồn cũng than, khoẻ mệt gì cũng than não nuột
ráo trọi. Miệng bà Bang biện Huỡn than hà rầm hà rì nhưng ánh mắt lúc nào cũng
rực rỡ đắc chí.
Bà Bang biện Huỡn thiệt ra có tâm sự buồn. Số là cô trưởng nữ của bà tên Hai Tố
Trinh cách đây hai tháng từ Xoài Hột viết thơ về cho bà hay rằng cô vừa đi coi
bói, thầy bói nói kỳ mang thai nầy cô sẽ đẻ thêm đứa con gái thứ ba, trong khi
đó cô thèm sanh con trai cho chồng cô mừng. Cô gái thứ của bà là cô Ba Tố Thuận
thì từ Bến Tranh viết thơ về bù lu bù loa rằng thằng chồng ó đâm lòng lang dạ
thú của cô mê sa con điếm thúi từ ga xe lửa Tân Hiệp trôi đến. Chưa hết, cô Tố
Hiền, cô út ngọc ngà châu báu của bà, được ông bà Cai Tổng Xiêm đánh tiếng đi hỏi
cho cậu Hai Tường, trưởng tử của họ. Ai mà dè, cậu có tư ước với cô khác nên
cùng người yêu cuốn gói dông lên Nam Vang.
Chuyện bất hạnh của ba cô Tố, bà Bang biện Huỡn không dám thố lộ với mụ em có
miệng thọp thẹp, hay thèo lẻo của mình. Bà Hội đồng Giỏi ở làng Ðạo Ngạn, chỉ
cách làng Ðạo Thạnh con sông Bảo Ðịnh. Từ bến đò, cuốc bộ chừng hai cây số là tới
nhà bà ta rồi. Ông Hội đồng đã thất lộc trên mười năm nay rồi. Bà ở vậy nuôi đứa
con trai độc nhứt là cậu Hai Khá. Cậu học tới khi đậu bằng thành chung rồi cưới
vợ vẫn ở chung với mẹ. Ông bà mình thường nói, hễ con một thì cháu bầy. Câu đó ứng
y chang vô trường hợp cậu Hai. Bốn năm qua, mợ Hai đẻ bốn đứa con trai, hai đứa
sau là cặp song sanh. Hiện nay mợ lại mang cái bầu ba tháng. Hễ càng đẻ, mợ
càng thay đổi máu huyết, trở nên nuột nà, khác xa thời con gái ốm đèo ốm đẹt.
Hôm nay là ngày 24 tháng chạp. Dù có hờn duyên tủi phận, nhưng cô Út Tố Hiền vẫn
phải làm các loại mứt bí, mứt gừng, mứt dừa, mứt củ cải, mứt cà chua, mứt trái
tắc…; các loại bánh nướng như bánh men, bánh gai…
Bà Hội đồng Giỏi từ trong hóc hẻm thâm u làng Ðạo Ngạn, gặp lúc rảnh rang nên
qua làng Ðạo Thạnh thăm chị, luôn thể đi coi hát. Chèn ơi, gánh Cẩm Ðình ban vừa
chuộc cô đào Thanh Huê và kép Mười Hơn thanh sắc song toàn, hiện gánh đang hát ở
nhà lồng chợ Bến Chùa. Bà Hội đồng Giỏi cùng chị mình tối nào cũng được em trai
là ông Hương quản Mẹo ở Bến Chùa cho mã phu đánh xe ngựa xuống rước lên xem
hát.
Ðạo Thạnh ở gần khít Ngã Ba Trung Lương, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho bốn
cây số. Ðó là vào thời tiền chiến, thời biển lặng sông trong đầu thập niên 30.
Nhà bà Bang biện Huỡn gồm ba căn hai chái, nền đúc cao tới ngực, cột bằng gỗ
căm xe, mái lợp ngói móc. Chung quanh nhà là khu vườn một mẫu trồng ổi cửu ngoạt,
chuối lá ta, chuối cau mẳn, chuối xiểm mẳn, mận Thái Lan da xanh, mận Vĩnh Long
da nâu đỏ, mận trắng, mận Trung Lương…
Ngoài dòng rạch xa, khuất sau đám dừa nước, chim bìm bịp kêu từng tràng inh ỏi
báo hiệu nước đổi chiều, từ sông cái sắp dồn lai láng vào các sông con, các rạch
nhỏ, các khe, các ngòi…Trời xế chiều, cô Út Tố Hiền xách nồi đong gạo nấu cơm.
Bà Bang biện Huỡn than :
- Liên tiếp ba đêm nay đi coi hát bội, tui muốn ể mình rồi đây! Thôi, tối nay
dì cứ đi một mình, tui hổng có ưa tuồng Huê Dung đạo. Tui muốn ở nhà ngủ cho sướng
mắt.
Bà Hội đồng Giỏi ngáp ủ ê :
- Tui cũng không ưa tuồng có Tào Thào đâu. Thôi thì tui cũng ở nhà ngủ cho khoẻ.
Tối mai, chị em mình đi coi tuồng Ðãi yến Ðoàn Hồng Ngọc. Tuồng nầy có kép Mười
Hơn đóng vai Ðịch Luông, kép Bửu Quỳnh đóng vai Ðịch Hổ, quả thiệt là cặp kim
long ngọc hổ không sai!
Bà Bang biện Huỡn :
- Dì nói hạp ý tui lắm đó. Trong tuồng nầy, cô Thanh Huê đóng vai Ðoàn Hồng Ngọc,
cô Bảy Sự đóng vai Vương Lan Anh thì có khác nào một cặp thần nữ giáng tiên đâu
dì.
Dưới bếp, cô Út Tố Hiền vừa bắc nồi cơm lên chiếc hoả lò rực than hồng. Cô nghe
lóm câu chuyện của mẹ và dì. Xời ơi, tui ghét hát xướng, hát bội lẫn hát cãi
lương. Hát bội hành tội người ta, mê hát cải lương ôm ruơng theo kép. Tuy đã
coi kép Mười Hơn khi hắn theo gánh Ngọc Ðường ban. Tui đã coi kép Bửu Quỳnh và
đào Bảy Sự khi họ còn cộng tác với gánh Bầu Vàng. Tui cũng đã coi đào Thanh Huê
khi cổ đóng vai Mộc Quế Anh trong tuồng Nữ anh hào. Tui đi coi hát là để xách
giỏ trầu cho má tui, vậy thôi. Thiệt tình tui chỉ thích ở nhà đọc truyện Tàu.
Giờ đây tui ghét cái mặt dê gái của Mười Hơn lắm! Chu choa ơi, sao mà nó giống
tên Hai Tùng, trưởng nam của bà Cai Tổng Xiêm quá chừng chừng. Hai Tùng dù chưa
làm đám hỏi với tui, nhưng cũng đã làm cái duyên con gái của tui sượng ngắt.
Hai bên gia đình giao hảo từ mấy đời, chuyện lộn nài bẻ ống của hắn chẳng những
làm hai bác Cai tổng bợ ngợ mà còn làm má con tui ngỡ ngàng. Mà phải chi hắn
chê tui để đi theo cô nào lá ngọc cành vàng thì tui không ức. Ðằng nầy hắn theo
con Bảy Kim Liên, con thầy Thôn Vận, vốn lẳng lơ trắc nết. Bởi vậy, hễ coi tuồng
hát nào mà gặp mấy cô đào ỏn ẻn như cô Thanh Huê trong vai Hồ Nguyện Cô, cô Bảy
Sự trong vai Kim Tinh Nương, chim trai giữa trận tiền là tui nhớ tới con Bảy
Kim Liên. Trai tráng thời nay mấy ai có lòng dạ đoan chánh như Tiết Giao, như
Dương Hoài Nam! Họ toàn là thứ gì đâu, ưa mua trâu vẽ bóng, theo lọng bỏ dù, mê
cá thu bỏ cá nhám!
Tết năm nay chắc chắn là một cái Tết buồn thảm của gia đình bà Bang biện Huỡn.
Cô Hai Tố Trinh sẽ đem hai đứa con gái và cái bụng chửa về đây để xổ bầu xong
là đón xuân. Cô Hai là dâu trưởng mà đẻ con gái hoài nên làm cho chồng cô là cậu
Hai Hoành mất mặt với cậu Ba Tung. Mợ Ba đã sanh một thái tử cho chồng mà còn
khỉa thêm hai hoàng nam kháu khỉnh. Từ khi được thầy bói tiết lộ mình sắp sanh
thêm một cô công chúa, cô Hai Tố Trinh nhận thấy tía má chồng cô là ông bà Huyện
Ðốn tỏ vẻ lợt lạt nên cô buồn lắm. Cô bèn xin phép tía má chồng cô về Ðạo Thạnh
để đập bầu. Bà Huyện Ðống bảo :
- Con tính vậy cũng tiện. Tết nhứt ở đây, trong ngoài chào rào chộn rộn lắm, chắc
làm con ngủ không ngon. Con mà về Ðạo Thạnh chẳng những được chị suôi săn sóc tận
tình mà còn được an tĩnh nghỉ ngơi.
° ° °
Mâm cơm vừa dọn lên thì cô Hai Tố Trinh đem hai đứa con gái
là Huỳnh Cúc và Huỳnh Mai về tới. Mặt mày cô xanh lè xanh lét như mắm lóc chưa
chao đường hũ. Cái bụng cô bự chành ành như có cái chảo gang úp lên. Hai con Huỳnh
Mai, Huỳnh Cúc vừa tới nhà bà ngoại là cười giỡn líu lo, trong khi mặt má tụi
nó chim bỉm như mang mối sầu vạn cổ, như quằn mối hận thiên thu.
Vừa thấy bóng dáng chị và cháu, cô Út Tố Hiền kêu con ở lên dặn dò :
- Nấu thêm cơm đi. Ðong cỡ ba lon gạo cho tao. Mầy nhớ bẻ mớ đậu rồng, xắt nhuyển
rồi xào với hột vịt để ăn dậm thêm.
Bà Hội đồng Giỏi hỏi con cháu lớn :
- Ủa, thằng chồng cháu đâu? Sao nó không đích thân đưa cháu về đây?
Cô Hai Tố Trinh ấp úng :
- Ảnh có chút việc phải đi Sài gòn.
Bà Hội đồng Giỏi nhìn sững cô cháu gái, cố chọc thủng cái đầu cô để lục soát và
ước lượng sự thật trong lời cô… Bà chị tui vốn dị hụ, ưa giấu giếm. Tụi con gái
của chỉ cũng giống mẹ, đời nào dám nói thiệt chuyện trong nhà tụi nó. Giấu ai
thì trót lọt, chớ giấu mụ già nầy có khác chi lấy vải the che mắt thánh! Bây và
má bây cứ mặc sức giấu giếm đi. Tao cũng rán sức phanh phui. Nắm được sự thiệt,
tao sẽ giữ kín nếu con nào ăn ở tử tế với tao; bằng không nếu gặp thứ xí xọn,
tao sẽ la rùm lên cho làng trên tổng dưới biết hết!
Mâm cơm gồm có canh bí đao nấu với cá lóc rắt tiêu hành.. Món cá đối kho lạt
chan mỡ xắt hột lựu. Một dĩa sâu lòng thiệt lớn đựng thịt gà xào sả ớt. Một dĩa
trẹt nhỏ đựng đậu rồng xào tôm khô đệm trứng vị. Một tô đựng ba khía trộn tỏi ớt
giã nhỏ và chanh đường. Cả nhà xúm lại ăn uống ngon lành. Bà Hội đồng Giỏi nhìn
cô Hai Tố Trinh thắc mắc. Con nầy coi có vẻ buồn đậm buồn nghiến, hắt hiu dung
mạo, áo não dung nhan, vậy mà khi bưng chén cơm lên thì nó ăn lìm lịm, nhai
ngau ngáu, nuốt ọt ọt thấy mà bắt thèm. Sao lạ vậy?
Ngoài sân, bóng tối bắt đầu xoá lu lít hòn non bộ, châu kim quít, chậu mai chiếu
thủy, chậu bùm sụm, cau kiểng…Bóng tối đưa chim tu hú, cu đất, cu cườm về tổ
nên chúng im hơi lặng tiếng. Ðêm xuống, tiếng vạt sành kêu ra rả ngoài các
mương nước; tiếng cóc, nhái, bù tọt, chàng hiu, nhóc nhen kêu từng chập ở ngoài
bờ ruộng.
Con Lành phụ cô Út Tố Hiền rửa ráy lau mình cho hai con Hùynh Cúc, Huỳnh Mai,
thay quần áo thơm sạch cho tụi nó. Khi tụi nó xà quần theo bà ngoại, bà dì thì
cô út cũng đi tắm rửa cho mát mẻ. Cô nghĩ mà thuơng cho mẹ mình. Cứ mỗi năm, hễ
khi chim tu hú bắt đầu gọi Tết thì các gánh hát bội địa phương, các gánh hát bội
pha cải lương thường ghé chợ Bến Chùa, chợ Trung Lương để trình diễn. Gặp dịp,
bà Hội Ðồng Giỏi cũng xách giỏ qua Ðạo Thạnh để coi hát. Bà ta vốn rộng rãi
trong việc biếu xén quà cáp : vịt cà cuống cả cặp; mắm lóc, mắm sặc, mắm cá
trèn cả hũ lớn; lại còn tôm càng kho tàu cả soong; dưa ngó sen, dưa bồn bồn cả
cân; bánh trái cả thúng..Vậy mà bà ta hễ lượm được tin tức giựt gân ở nhà chị
mình là thọp thẹp kể lại trong vòng bà con thân tộc.
Thiệt ra bà Bang biện Huỡn vẫn cần hạng người có cái miệng oan gia nghiệp chướng
như miệng mụ em mình. Mấy năm nay, bà gả hai cô con lớn vào chỗ giàu sang, lại
đang lúc bà mần ăn thạnh vượng cho nên khi thấy bà Hội đồng Giỏi xách giỏ qua
thăm là bà mừng quính. Bà muốn nhờ cái miệng lanh chanh lách chách của bà Hội đồng
truyền rao cái gia đạo đang thời hưng thạnh của mình cho bà con quen biết khắp
các làng xóm, tổng huyện..biết. Nhưng kỳ nầy, bà Bang biện Huỡn sợ bà Hội đồng
Giỏi còn hơn sợ dịch. Bà chị cứ ngượng ngùng úp mỏ khi kể chuyện gia đạo và
hoàn cảnh ba cô con gái. Còn bà em thì tò mò tọc mạch, đầu óc luôn luôn sắp đặt
câu hỏi trặc trẹo để chất vấn chị, để moi móc phanh phui chuyện mà chị mình muốn
che giấu.
Ðêm đó, cô Út Tố Hiền cứ cà rà theo bên cô Hai Tố Trinh để tỏ bày tâmsự, để
trình bày hoàn cảnh kém may mắn mong cô Hai giúp ý kiến. Ðêm xuân tĩnh mịch.
Ngoài hè, cây nguyệt quới ngào ngạt đưa hương. Ðêm đen bao la như nhuộm mực
Long Tể, mực Huy Châu. Ðom đóm từ ngoài bay lọt vào buồng chiếu sáng chớp tắt.
Cô Hai Tố Trinh bảo em :
- Thôi em, coi vậy mà em vẫn còn hên. Nếu họ cho làm đám hỏi rồi hồi hôn thì má
và chị em mình mới biết ăn làm sao nói làm sao với họ hàng chòm xóm? Còn cái bề
thế của chị đây mới đáng phàn nàn…
Cô Út Tố Hiền hỏi chị :
- Anh Hai có thiệt bụng yêu thương chị không?
Cô Hai Tố Trinh trầm ngâm :
- Về chuyện chăn gối lửa hương thì chị không có chỗ nào trách móc ảnh hết.
Nhưng thằng cha đó coi vậy mà thủ cựu, luôn mang quan niệm « chồng chúa vợ tôi
», « nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô ». Em ơi, từ khi thầy bói đoán kỳ nầy
chị sanh con gái thì chồng chị bán tin bán nghi, song vẫn an ủi chị. Còn ông bà
già ảnh thì cứ chắc mẻm như hai với hai là bốn nên tỏ vẻ lợt lạt vói chị lắm.
Chị ở bên nhà chồng mà cứ tưởng như ở đậu nhà ai. Còn hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh
Mai bị ông bà nội rẻ rúng coi như con nít lối xóm không bằng.
° ° °
Khi bà Hội đồng Giỏi xách giỏ trầu đi về Ðạo Ngạn thì tối hôm
đó cô Hai Tố Trinh đập bầu. Ông bà ông vải ơi, kỳ nầy cô đẻ hai thằng con trai.
Tuy hai anh em nó nhỏ thó nhưng không có vẻ èo uột. Sản phụ ngắm hai thằng con
mà ứa nước mắt. Cô khấn vái đức Quán Thế Âm Bồ Tát phò hộ tụi nó chóng lớn ăn
chơi. Cô Út Tố Hiền hầm giò heo với đu đủ cho chị mình ăn để có nhiều sữa. Sản
phụ ăn cơm với thịt cá kho rắc thiệt nhiều tiêu với món canh hầm kia. Cô được mẹ
và em cho uống nước hột gòn rang thay thế nước trà. Ðó cũng là thức uống cho cô
có nhiều sữa.
Bà Bang biện Huỡn nói :
- Ðể má nhắn tin cho bên chồng con hay để họ mừng.
Bởi còn hờn chồng và tía má chồng, cô Hai Tố Trinh cản :
- Khoan đã má. Ðể con chỏi hỏi sẽ hay. Bên nhà chồng con ăn ở với con tệ lậu lắm.
Con phải làm khó họ một chút cho bỏ ghét.
Bà mẹ háy con một cái bén ngót :
- Mầy đừng có đỏng. Già néo thì đứt dây đa con!
Rồi bà tìm người nhắn tin.
Hôm nay là 24 tháng chạp. Nhà có nuôi sẵn bốn cặp vịt cà cuống, hai con gà mái
tơ. Dưa cải, dưa giá, bánh phồng, bánh tránh có vợ tá điền lo. Cô Út Tố Hiền bắt
đầu lo nồi cá lóc và thịt bắp đùi kho chung với nước dừa xiêm, có đệm trứng lưộc.
Cô ngồi xe ra chợ Mỹ Tho mua tóc tiên, bún tàu, bóng da heo, vi cá, khô mực, lạp
xưởng, vịt ướp bắc thảo phơi khô, hồng khô, chà là, trà, rượu…Khi về tới nhà
thì cô gặp bà Cai tổng Xiêm và cậu Hai Tùng ngồi chuyện vãn với bà Bang biện Huỡn
ở trung đường, trên bàn là một mâm chất đầy bánh in, bánh đậu xanh và trà rượu.
Ý chừng là mâm quà biếu của bà Cai tổng. Còn cái tên Hai Tùng mắc dịch mắc toi
diều moi quạ mổ kia đến đây làm chi? Thấy cái bản mặt trắng như cái bánh bao của
hắn mà cô căm gan. Nhưng mà hôm nay hắn không có vẻ dúc dắc hí hửng như chầu
xưa. Vẻ trang nghiêm buồn buồn của hắn làm cô thắc mắc. Hắn ăn bận sáng mát và
thẳng nếp : áo sơ-mi cụt tay màu trứng sáo, quần vải tít-so trắn, chơn đi giày
đen đánh bóng nẩy sao. Ủa lạ, tại sao hắn không ở luôn trên miệt Nam Vang mà
còn trồi đầu vác thây về đây làm chi?
Cô Út Tố Hiền chào khách rồi bương bả lủi vô buồng cô Hai Tố Trinh. Tại đây cô
gặp bà Hương quản Mẹo, em dâu của bà Bang biện Huỡn và bà Hội đồng Giỏi. Bà nầy
cũng thuộc hạng chòi mòi tọc mạch, cũng có cái miệng tai trời ách nước như bà Hội
đồng Giỏi. Từ hôm cô Hai Tố Trinh về đây đợi ngày đập bầu và đón Tết thì bà ta
cứ lân la hỏi trặc trẹo hai mẹ con cô về chuyện cô Hai Tố Trinh.
Bà Hương quản Mẹo cười :
- Nè Út, cậu Hương quản cháu đang lấy quẻ tử vi cho hai thằng cháu đây. Mới liếc
sơ sơ ổng thấy cung Thân và cung Mạng tụi nó, cung nào cũng có sao chánh diện
cái chủ toạ, cái xung chiếu, cái hợp chiếu thiệt tốt.
Bỗng bà Bang biện Huỡn bước vào buồng, bảo con út :
- Con lo coi cơm nước đãi khách. Bác Cai tổng cùng thằng hai ăn cơm trưa xong ở
đây chơi, xế mát trời họ mới về Bến Tranh.
Cô Út Tố Hiền cùn quằn :
- Sao má mời chi cái anh chàng công tử miệt vườn khó thương dễ ghét, mặt mét mắt
lươn, nhiều xương ít thịt đó!
Bà Bang biện Huỡn mặt tỉnh rụi, mắt lạnh ngắt, bảo con :
- Ậy, mầy đừng có cãi! Người ta là khách tới nhà, không gà thời vịt, không thịt
thời tôm, mình phải ân cần thết đãi mới là phải chớ.
Bà vội vàng bước ra tiếp khách. Bà Hương quản Mẹo cười :
- Cái con nầy chưa chi đã chê đắng chê hôi con trai người ta. Hai cháu thấy sao
chớ theo mợ thì thằng Hai con ông bà Cai tổng Xiêm cũng phì mỹ tốt tươi, lưng
dài vai rộng đó chớ.
Cô Út Tố Hiền ngoe ngoảy xuống bếp nấu nước sôi để làm lông con vịt xiêm.
Bên ngoài, sát bên bờ sông Bảo Ðịnh, cây vông đồng đơm hoa đỏ rực rỡ. Nước kinh
rạch, sông ngòi trong vắt. Trong xóm, tiếng chày giã bánh phồng cứ cắc cùm văng
vẳng. Một chiếc ghe thương hồ lướt qua, giọng hò cô lái lanh lảnh :
Hò ơ ớ…
Cây quằn vì bởi trái sai
Em xa anh vì bởi bà mai ít lời
Hò ơ ớ..
Ăn chanh nhớ tỏi ngùi ngùi
Ngồi trong đám hẹ nhớ mùi rau răm…
° ° °
Khi khách ra về, bà Bang biện Huỡn tìm hai con gái, cho biết
:
- Mồng hai Tết, thằng Hai Tùng qua đây chúc Tết. Nó ưa ăn bánh cống, con út nhớ
đón mua tép bạc để đổ bánh cống, đừng quên.
Cô Hai Tố Trinh cười :
- Tết nhứt, nhà nhà thiếu gì nem chả. Khi không mình làm bánh cống, coi không
giống ai!
Cô Út Tố Hiền hỏi :
- Rồi chừng nào ảnh trở về Nam Vang?
Bà Bang biện Huỡn cười nửa miệng :
- Nó về Nam Vang làm chi. Còn ai ở đó mà về!
Cô Út Tố Hiền chưng hửng :
- Ủa, còn con Bảy Kim Liên đó chi?
Bà Bang biện chậm rãi vừa ngó bà Hương quản Mẹo vừa bảo con gái :
- Ối, thứ gái đi ngang về tắt đó thì kể đến làm chi! Con nhớ tiếp đãi anh chị
Cai tổng và nó cho tử tế. Ra giêng nhà mình có nhiều tin mừng.
Bà Hương quản Mẹo cười :
- Ạ, té ra tin mừng!
Trong hai ngày 27 và 28 tháng chạp, bà Bang biện Huỡn lo trang hoàng trong
ngoài. Ông Hương quản Mẹo tặng chị hai cặp vạn thọ, hai cặp mồng gà lưỡi búa.
Bà Bang biện thấy hoa vẫn còn ít, bày lỏng chỏng ngoài sân cho nên bà cho thằng
Hiệc đánh xe ngựa ra chợ Mỹ Tho mua thêm bốn chậu mồng gà đuôi chồn, bốn chậu ớt
kiểng để đặt dưới bốn cột ở hàng hiên. Bà sai chú Báu chặt cho bà một cành mai
thiệt lớn, đơm nụ chi chít để bà cắm trong chiếc bình da rạn cao tới gối đặt
trên bàn tròn giữa phòng khách.
Cô Út Tố Hiền lãnh phần o bế nồi giò heo hầm măng, nồi canh khổ qua dồn thịt,
niêu tôm càng kho tàu. Con heo của bà Bang biện bán cho chú Chệt Sấm có thớt thịt
ở chợ Trung Lương vào sáng 29 thì chiều tối bà được chú kiếng lại cho bà bộ đồ
lòng và cái đầu heo luộc cuốn rau sống chấm mắm nêm.
Cô Hai Tố Trinh đã cho người mang hai lá số tử vi của hai thằng con và lá thư
báo hỷ đến gia đình nhà chồng. Sáng ngày 29, cậu Hai Hoành chồng cô, lái xe chở
quà cáp tới nhà nhạc mẫu. Bà Bang biện Huỡn trích ra một chục nem chua, một chục
bì gói và con gà mái tơ đem biếu ông bà Hương quản Mẹo.
Cậu Hai Hoành có dung mạo bặm trợn hùng tráng. Giọng cậu rổn rảng như chuông. Cậu
bảo vợ :
- Mình nên đem các con về Xoài Hột ăn Tết cho gọn.
Cô Hai Tố Trinh háy chồng :
- Ðâu có được! Hai đứa nhỏ còn đỏ lói, còn yếu ớt như cua lột, đi ra ngoài còn
không được huống hồ phải trải qua mấy dặm đường nắng nôi gió máy. Lại nữa, bà
ngoại tụi nó muốn chuộc bùa chuộc niệc cho tụi nó để trừ tà ma rồi mới về Xoài
Hột. Thôi, ra giêng rồi tính.
Từ khi biết vợ mình sanh con trai. cậu Hai Hoành xuống nước thấy rõ, nhứt là
khi cậu đem hai lá số tử vi ra bàn. Cô Út Tố Hiền vốn ghét cái ông anh rể mà cô
Hai Tố Trinh kêu là « bạo chúa », nên xí xọn :
- Cậu Hương quản tui nói chị Hai tui có số sanh con thần nhơn giáng thế, tiên
thánh giáng trần đó đa.
Cậu Hai Hoành càng ngắm hai đứa con trai, càng thấy lòng mở cờ, dạ nở hoa. Cậu
đặt thằng anh tên Hoành Giang, thằng em tên Hoành Sơn. Càng mừng con trai, cậu
lại ngùi ngùi thương hai đứa con gái mà bấy lâu cậu lợt lạt hờ hững. Khi từ giã
về Xoài Hột, cậu lấy cái bọc mo cau đưa vợ, bảo :
- Ðây là thuốc Phi Anh tể để dành cho con Cúc, con Mai. Anh mong rằng tụi nó uống
xong mớ thuốc nầy sẽ hồng hào xinh tốt.
Cậu không quên móc bóp phơi lấy hai tấm giấy 100 đồng vẽ hình bộ lư đưa cho vợ
:
- Ba má tặng em mua sắm cho hai đứa lớn và cho em. Em muốn uống thuốc bổ gì, muốn
ăn gì thì cứ mua. Khi hết tiền, anh sẽ đưa thêm.
Cô Hai Tố Trinh nhìn chồng lom lom, miệng cười hóm hỉnh. Chèn ơi, cái bản mặt của
cậu tối hù như thục địa nấu đường đen, thấy ghét quá chừng chừng! Trong một
thoáng, cô nhớ tới cái mặt choắt và cặp môi mỏng của bà mẹ chồng cùng khuôn mặt
như bọc lớp sáp trắng bệch của cha chồng. Xời ơi, bà mẹ chồng tui không dữ
không ác như bà chàng nho sĩ Lâm Sanh, cũng không nóng nảy, không nhảy đong đỏng
như bà Thanh Ðề. Bả chỉ nhẫn nhẫn, the the chớ không đắng chát, cay xé. Bả khó
tánh như bà thái hậu Ðịch Thiên Kim thời trào Tống bên Tàu, ưa bắt chặt bắt lỏng,
ưa chê thấp chê cao…Còn ông tía chồng tui ngày tối cứ chim bỉm, nói ít nhưng
kén ăn dàng mây. Ổng bả cứ xà quần theo hai thằng con trai của chú Ba Tung và tỏ
ra lạnh nhạt với hai đứa con gái tui, coi tui như kẻ ngoại cuộc. Bao năm qua
tui sống dưới mái nhà hương hoả bên chồng mà có cảm tưởng như ở trong nhà
thương thí, lấy nước mắt chan canh. Còn mụ em bạn dâu tui cậy có cha mẹ chồng
cưng nên lên mặt với tui, coi tui chẳng có gờ-ram nào.
Ðể rồi bà con coi, thằng Giang của tui mới là cháu đích tôn của tía má chồng
tui. Ngôi nhà và sở ruộng hương hoả sau nầy sẽ lọt vào tay nó chớ vào tay ai?
Chu choa ơi, ổng bả mà coi xong hai lá số tử vi, chắc chắn là ổng bả cưng hai
thằng con tui gắt củ kiệu hơn nữa.
° ° °
Tối 29 tháng chạp, bà Bang biện Huỡn ngồi nhai trầu trên
đi-văng chơn quì bằng gỗ cẩm lai, bùi ngùi nghĩ tới gia cảnh cô Ba Tố Thuận.
Trong ba chị em, cô Ba kém nhan sắc hơn hết thảy. Mặt cô chần vần với cặp má vừa
dầy vừa tròn, mình mẩy cô hơi phục phịch. Mấy mụ lối xóm độc miệng bảo cô giống
con cá bống mú, như trái chuối xiêm. Nhưng cô Ba nào chịu lùi bước trước sắc vó
mình! Cô cữ ăn, chịu khó vận động, đi bộ để cái eo được thêm thon. Cô rửa mặt bằng
nước cơm vo cho da mặt thêm mịn, cô xông khói trà cho cặp má thêm hồng hào rạo
rực. Ðã vậy, cô còn biết tỉa chơn mày cho mỏng, biết giữ cho nước răng và cặp
môi ửng hồng. Cặp mắt cô gợn sóng thu lai láng, vừa ướt vừa lẵng, vừa sáng vừa
say. Bởi đó, ai dám bảo cô là gái lợt lạt thu dung, âm u bóng sắc! Cho nên khi
vừa mười tám tuổi thì cô lọt mắt xanh của thầy giáo Ðỗ Kỳ Lân dạy lớp nhứt trường
tiểu học chợ Bến Tranh. Trong hai năm đầu, cô thứ nữ của bà sống ngoả nguê hạnh
phúc. Cô làm việc cầm chừng, làm bếp cầm chừng…Bởi còn son giá, lại cùng chồng ở
trong căn nhà nhỏ và gọn, cô chẳng bận rộn gì nhiều. Việc nhà đã có bà vú lo liệu
nên cô dư thời giờ đọc tiểu thuyết. Cô đã viết thư cho cô Út Tố Hiền bằng những
câu nồng nàn văn chương diễm tình : « Chồng chị xem chị như một kho tàng trân bửu.
Ôi, chị hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Chị yêu chồng, yêu chồng, yêu chồng…Chị
phải la hét cách nào, gầm rống cách nào để diễn tả trọn vẹn tấm lòng yêu đương
lai láng, hạnh phúc tràn trề của chị đây? »
Bấy lâu nay, bà Bang biện Huỡn cứ ngỡ thằng rể thày giáo kia và cô con gái cá bống
mú của bà sẽ yêu nhau tới răng long đầu bạc, ai mà dè cái thằng rể mô phạm coi
nhu mì hiền hậu kia lại bày đặt mèo chuột! Khi hạnh phúc, cô Ba Tố Thuận huênh
hoang đía dóc bao nhiêu thì lúc đau khổ cô cũng tru tréo om sòm bấy nhiêu! Chèn
ơi, đọc lá thư bù lu bù loa của cô Ba mà bà bủn rủn. Bà chẳng hiểu cái nước đau
khổ của con gái cưng đã thành biển nam hay biển bắc, song bà biết chắc cô Ba
khó kham khó nhẫn, nếu không khéo tìm phương giải quyết, chắc cô khó mà sống nổi.
Cũng tối hôm đó, cô Út Tố Hiền luộc đầu heo và bộ đồ lòng heo trong chiếc trả lớn
để sáng hôm sau nấu cháo. Con Lành thì luộc bánh tét, bánh dừa trong chiếc nồi
lớn khác. Nhà bà Bang biện có tục luộc bánh tét, bánh dừa, đầu heo, lòng heo
vào tối 29 tháng chạp để bữa tiệc rước ông bà vào chiều ba mươi sẽ bánh trái ê
hề trên chiếc quả tử ở các bàn thờ.
Cô Út Tố Hiền dù có cực nhọc trong việc làm bánh làm trái, làm gái làm mụ,
nhưng chưa chi cô đã cảm thấy gió xuân reo từng đợt phơi phới trong tâm hồn cô.
Nhà của ông bà Cai tổng Xiêm ở gần chợ Bến Chùa. Sáng nào cậu Hai Tùng cũng cỡi
xe đạp xuống Ngã Ba Trung Lương uống cà phê ăn hủ tíu, như vậy là bận đi hay bận
về cậu đều đi ngang nhà bà Bang biện Huỡn. Cho nên sáng hôm nay, sau khi điểm
tâm xong, cậu ghé nhà bà Bang biện để tặng cô Út một bộ lược giắt tóc bốn cái bằng
đồi mồi, hai cái giắt ở mép tóc dài cỡ bốn phân, một cái giắt búi tóc dài hơn,
một cái để dành chải tóc dài cỡ gang tay, lại còn thêm một cái trâm cũng bằng đồi
mồi nữa. Ðây là đồi mồi thứ thiệt sản xuất ở Hà Tiên, vân nâu đỏ coi mới đẹp
làm sao!
Bộ lược đồi mồi làm cho cô Út náo nức đã đành mà cũng làm cho cô Hai Tố Trinh
cũng vui lây. Trong lúc rì rầm tâm sự, hai chị em chợt nhớ tới hoàn cảnh đáng
phàn nàn của cô Ba Tố Thuận. Cô Hai ai hoài :
- Tội nghiệp con Ba! Chẳng hiểu Tết năm nay nó có về đây không!
Cô Út than thở :
- Việc đời biết sao mà lường! Ai mà dè từ thiên đường chị Ba tuột một cái xuống
địa ngục…
Nhưng mà thưa bà con cô bác, cô Ba Tố Thuận không để chúng ta tội nghiệp cô
lâu. Sáng ba mươi, cô dắt chồng về nhà mẹ ăn Tết, mang theo cam tàu, quít núm,
bôm, nho, xá-lỵ, bánh bích-qui, rượu cỏ-nhác, bơ mặn, bơ lạt, cà phê, sữa hộp …làm
quà. Cô mặc chiếc áo bằng lụa nâu in bông xanh đỏ rằn rực, quần sa-teng tuyết
nhung đen. Cô chải đầu phùng, tóc đánh bím hình con rít rồi bới đầu lèo cao khỏi
ót, cái búi tóc dẹp dẹp tròn như cái bánh tiêu được bao lưới đen, giắt thêm chiếc
trâm hình trăng khuyết cẩn hột xoàn chiếu nhấp nháy. Cô tỉa chân mày nhỏ rí như
sợi chỉ và cong vòng như mống trời. Cô tô son môi hình trái tim, đánh má hồng hực
hỡ, đeo trân châu, cẩm thạch, hột xoàn choáng lộn. Tuy là vợ thầy giáo lớp nhứt
mà cô chưng diện và ăn xài như bà hoàng. Ấy chẳng qua vì thầy giáo Lân là con
điền chủ bực trung, cha mẹ thầy thường bù sớt tiền bạc cho thầy. Cách đây hai
năm, người cô ruột của thầy vốn không con, khi qua đời, để lại cho thầy hai chục
mẫu ruộng cùng khá nhiều vòng vàng tiền bạc.
Thầy giáo Lân nho nhã, trắng trẻo, cười điềm đạm. Nhưng nhìn kỹ thì thấy cặp mắt
của thầy không vừa. Ðây là cặp mắt nòi tình, lại thêm nụ cười hóm hỉnh, đầy hậu
ý nên khi nhìn cô nào là da thịt cô đó nhột nhạt một cách thú vị. Thầy mặc áo
bành-tô bằng vải xi-mi-li trắng, tra nút hổ phách đỏ, quần ka-ki trắng ủi thẳng
nếp, chơn đi giày da vàng.
Bữa cơm trưa hôm đó, cả nhà ăn đầu heo luộc, cá nhám hấp, tôm hấp cuốn bánh
tráng đệm bún, rau sống và chấm mắm nêm giã tỏi ớt.
Trong bữa ăn, cô Ba Tố Thuận tía lia với mọi người, ỏn ẻn nhõng nhẽo với chồng.
Thầy giáo Lân nhìn vợ âu yếm, mặt khờ ra, nụ cười luôn luôn nở sáng trên môi.
Bà Bang biện nhìn cô Ba phàn nàn :
- Ðầu cổ để thờ ông bà, vậy mà mầy chải tóc có chà có chôm, chải chín lượn mưòi
mồng coi dị ôn quá!
Cô Ba Tố Thuận liếc mẹ có đuôi :
- Ậy! Chuyện đờn bà son trẻ mà má!
Bà mẹ tiếp tục rầy rà :
- Gấm nhung, lụa hàng, nhiễu xuyến thiếu gì thứ màu nhu nhã, mắc mớ chi mà mầy
dến thứ hàng ni-lông màu in chồng hoa hoè loè loẹt. Chèn ơi, tao coi mầy sao giống
con cắc kè bông, cắc kè gấm quá Ba à!
Cô Ba vẫn cười :
- Ậy! Chuyện đờn bà tỉnh thành thời nay ăn bận, má để ý làm chi!
Bà mẹ vẫn chưa tha :
- Ðã vậy mà mầy còn đánh phấn, tô son, tỉa chơn mày. Chu choa ơi, cặp má mầy đỏ
rần như bị ai tát ai vả. Mèn ơi, coi cặp môi mày đỏ chót như dính huyết heo.
Tao không hiểu ảnh chỉ ở Bến Tranh nghĩ sao khi có một nàng dâu ưa màu mè rằn rực
như mầy.
Thầy giáo Lân đỡ lời vợ :
- Vợ con khi ở Bến Tranh cũng chỉ ăn diện vừa thôi. Khi về thăm tía má con thì
nó ăn mặc vải bô, tóc chải xẹp lép, chơn đi guốc vông. Khi đến nhà bà phủ, bà
huyện, bà cai tổng thì nó ăn diện theo kiểu nửa cổ nửa kim, nửa quê nửa chợ.
Còn khi đi viếng nhà nào ăn ở theo cánh tân thời thì nó mới ăn diện áo bợ ngực
bó eo, mới tô son giồi phấn hực hỡ...
Ăn cơm xong, mọi người tráng miệng bằng đu đủ, chuốì cau và dùng trà Ô Long. Bà
Bang biện khuyên chàng rễ về buồng nghỉ ngơi.
Ðâu chừng cỡ hai giờ trưa, bà Hội đồng Giỏi đội nón gò găng từ Ðạo Ngạn qua
thăm. Theo bà là con Lài xách buồng cau xiêu và mấy ốp trầu vàng. Bà nguýt bà
Bang biện Huỡn :
- Tui trách chị lắm nghe chị Bang biện. Mấy mẹ con chị cứ giấu giấu úp úp chuyện
nhà với tui hoài! Nội việc con Hai hốt lũ con về đây đập bầu và ăn Tết là đã kỳ
rồi. Người ta đẻ con so thì mới về nhà mẹ ruột, đằng nầy con Hai đã trải hai lần
lửa củi, đã hai lần chửa đẻ rồi, bụng nó đã nhăn như cái nhau mèo rồi, mông
háng nó đã trổ rễ tre chằng chịt rồi...Nó mà về đây đẻ là có chuyện lớn bên chồng
nó chớ chẳng không. Còn con Út có người đi coi mắt mà chị cũng giấu luôn. Tới
con Ba năm nay không chịu đón giao thừa bên chồng, lại dắt chồng về bên nầy để
làm chi? Lạ thiệt!
Ðâu chừng giập bả trầu, bà Hương quản Mẹo cũng đội khăn lụa màu hột gà từ Bến
Chùa xuống, ôm theo quả bánh phục linh. Bà Hội đồng Giỏi bày tỏ thắc mắc với mụ
em dâu rồi chắc lưỡi :
- Thiệt tình tui cũng không hiểu nổi chị hai tui với mấy đứa nhỏ nhà nầy. Họ
làm như lập hội kín không bằng!
Bà Hương quản Mẹo lộ vẻ bất bình, ngó bà Bang biện lom lom :
- Ừ, chị Bang biện có lòng chặt chịa, trong trào ngoài quận ai mà không biết!
Bà Bang biện Huỡn chậm rãi têm trầu, nói :
- Ai mà giấu dì Hội đồng và mợ Hương quản làm chi! Bởi mọi chuyện có ngã ngũ ra
sao đâu mà tui thố lộ ra? Thôi kỳ rằm tháng giêng tui mời dì, mời mợ tới đây tụng
kinh Phổ Môn rồi tui kể khúc nôi mọi chuyện cho mấy người nghe, kể từ đầu tới
đưôi, từ gốc tới ngọn, không dám giấu giếm một điều gì với mấy người hết.
Bà Hội đồng ngó bà Hương quản cười lạt. Hai bà cùng ngoe ngoảy kiếu từ gia chủ,
vừa đi vừa bàn tán từ nhà ra tới lộ rồi cùng hầm hầm liếc vô nhà bà Bang biện
Huỡn trước khi chia tay, kẻ về Bến Chùa, người qua Ðạo Ngạn.
Bà Bang biện ngó theo em gái và em dâu, bảo cô Ba Tố Thuận và cô Út Tố Hiền :
- Dì Hội đồng bây cùng mợ dâu bây có chung một tánh một nết. Mà càng nghĩ chừng
nào càng tức cười cho họ chừng nấy.
Cô Ba Tố Thuận trề môi :
- Hai bả thân nhau đó rồi ghét nhau đó, cầu huề để rồi lại nói xấu lẫn nhau.
Tàu xe nào chở nổi lời thô lời ác của họ.
Bà Bang biện chợt nhớ ra :
- Hồi nãy má quên tặng dì con chút ít phẩm vật. Bậy quá!
Cô Út Tố Hiền bảo :
- Hôm 25 tháng chạp má đã tặng dì Hội đồng một hũ mắm tôm chà, một hũ mắm tôm
chua rồi. Hôm qua nhơn lúc anh Hai Khá qua thăm, má cũng đã tặng thêm một chai
nước mắm hòn nữa, má quên rồi sao?
Bà Bang biện lấy hai chai rượu chát hiệu Con Dơi, và một gói kẹo hột điều, sắp
vô chiếc giỏ rồi kêu thằng Sịa :
- Mầy đem mấy thứ nầy qua Ðạo Ngạn tặng bà Hội đồng. Luôn tiện mời cậu Hai Khá
sáng mồng hai qua đây cụng ly với dượng Ba mầy, nghe hôn?
Cô Út Tố Hiền không ngủ trưa, cô o bế nồi cháo lòng cho thiệt ngọt. Món dồi sả
do cô Ba Tố Thuận làm thì ngon khỏi chê.
Con Lành vào vườn hái lá ổi, lá bưởi, lá ngũ trảo, lá sả, lá mãng cầu, lá bình
bát để nấu nước cho ba cô Tố tắm rửa. Nó cũng không quên nấu nước bồ kết và hái
lá chanh giấy để cả ba gội đầu.
Trong lúc ba mẹ con loay hoay nấu nước, bà Bang biện hỏi cô Ba Tố Thuận :
- Nè Ba, có phải thằng chồng con có mèo thiệt hay là con ghen bóng ghen gió mà
la hoảng vậy?
Cô Ba Tố Thuận cười đắc thắng :
- Nó có mèo thiệt đó má. Ðó là con Tư Thu Cúc, gái điếm trôi từ chợ Thủ Thiêm
xuống ga Tân Hiệp rồi trôi đến Bến Tranh. Con đó coi cũng sạch sẽ, trắng trẻo.
Nhưng mà gặp ai khác nó mới hòng cướp được chồng người, nhè gặp tay con thì nó
có khác nào sa vào nơi hang cọp đàm rồng!
Vào lễ cúng rước ông bà chiều hôm đó, thầy giáo Lân mặc áo dài, đầu bịt khăn
đóng, thắp nhang rót rượu kháp các bàn thờ khấn ông bà. Món cháo lòng ăn kèm với
bún, giá sống điểm lất phất rau húng xắt nhuyễn là món chánh. Ngoài ra còn món
đầu heo luộc xắt mỏng còn dư từ bữa ăn trưa, món nem, bì gói cũng được dọn ra.
Bà Bang biện cho phép tôi trai tớ gái ăn chung với gia đình chủ nhà. Ba người tớ
trai được dịp cụng ly với thầy giáo Lân.
° ° °
Tối ba mươi đen như tô dầu hắc. Nhà nhà cửa ngõ đóng chặt.
Ngoài sân, tiếng khánh trên cây rung leng keng theo từng cơn gió.
Cô Ba Tố Thuận dặn chồng :
- Mình cứ đọc báo rồi ngủ trước. Em thức luôn để đón giao thừa.
Trong lúc bà Bang biện coi việc nhang đèn và cúng nước trên khắp các bàn thờ,
thì cô Ba Tố Thuận và cô Út Tố Hiền xúm lại nói chuyện khào với cô Hai Tố Trinh
tại buồng đẻ. Dù chưa được khô ráo, cô Hai vẫn tắm rửa gội đầu để xả xui mọi việc
trong năm qua. Khi lau khô mình mẫy, cô xức dầu chổi khắp sống lưng, khắp các
khớp xương. Cô cũng không quên xức dâu cù-là ở màng tang, chót mũi, sau ót và ở
mi tâm.
Cô Ba Tố Thuận xúi chị :
- Chị cứ đổ hô hai thằng cốt đột nầy còn non yếu để được ở lâu bên nầy. Phải chờ
tía má chồng chị cơm ghe bè bạn qua thăm vài lần rồi hẵng về.
Cô Hai Tố Trinh nhìn lom lom con em thủ đoạn, quyền biến của mình. Ðẹp! Con nầy
đẹp theo cách của nó. Má miếng bầu thì khó mà đẹp, nhưng là khó với ai kia chớ
đối với con nầy thì lại là cái duyên độc đáo vì cặp má hoà hợp với cặp môi trái
tim của nó biết mấy. Cô Hai e dè bảo em :
- Nè Ba, mầy chỉ vẽ cho tao cách ăn mặc tân thời với nào. Tao thích mặc áo dài
bó eo bợ ngực hè.
Cô Ba Tố Thuận hỏi gặng :
- Chị dám làm như em không? Coi bộ khó cho chị lắm đa!
Cô Hai Tố Trinh bảo :
- Tao sẽ làm như mầy. Hễ ở nhà thì tao ăn mặc như cũ, tức là theo gái quê. Khi
đi viếng những chỗ quyền quí thủ cựu thì tao ăn mặc nửa cổ nửa kim. Còn có dịp
đi chợ Mỹ Tho hay đi coi hát cải lương ở rạp thầy Năm tú thì tao ăn mặc theo
gái tân thời Sài gòn.
Cô Út Tố Hiền ngứa miệng xen vào :
- Em nhứt định sẽ tỉa lông mày, chải đầu phùng và bới đầu lèo bất cứ lúc nào. bất
cứ ở đâu.
Cô Ba Tố Thuận hạ thấp giọng :
- Mấy " bà " chưa biết thủ đoạn của con nầy đâu. Muốn hất văng con Tư
Thu Cúc, nó phải dùng đủ thủ thuật để thằng chồng nó vừa mê vừa ghen. Nó phải tự
hoán cải thành mẫu người mới qua cách ăn diện để nịch ái thằng chồng ưa mới nới
cũ, tham thanh chuộng lạ của nó.
Ðợi lúc cô Út xuống bếp coi siêu thuốc ôn bổ cho cô Hai Tố Trinh, cô Ba kề mỏ
vào tai chị, nhỏ giọng :
- Ðờn ông thời buổi nầy dịch vật lắm nghen chị. Muốn hớp hồn chồng mình phải
đóng hai vai trò : khi bước xuống giường mình phải là người vợ, còn khi leo lên
giường thì mình phải đóng vai con điếm thập thành chịu chơi hết mình. Em nó ít
chị phải hiểu nhiều.
Cô Hai mắc cở đỏ mặt :
- Chị nói em nghe, không phải chị không biết điều đó. Chị còn làm nhiều chuyện
kinh thiên động địa để mê hoặc anh Hai em. Ngặt ảnh thấy chị đẻ con gái hoài
nên ảnh nột, trong khi đó chú Ba Tung cậy có con trai nên cứ dòm hành phần đất
và ngôi nhà hương hoả luôn. Nay chị đã đẻ hai thằng cốt đột nầy thì ảnh yên bụng
lắm rồi. Từ đây ảnh chỉ việc mê lú và cưng chiều chị mà thôi.
Tới phiên cô Ba đỏ mặt. Cô hỏi :
- Chị làm cách nào vậy? Ai dè chị mà cũng trổ quỉ trổ yêu, nghĩ nhiều kế độc.
Cô Hai Tố Trinh năn nỉ :
- Nói nhỏ nhỏ chớ em! Con Út sắp vô đây bây giờ. Nó mà biết được hai con chi chồn
chín đuôi của nó trao đổi tiếng ngọc lời vàng chắc nó chịu không nổi đâu! Phải
đợi cái đêm nó sắp bước lên xe bông dông về Bến Chùa thì chị em mình cùng đồng
tâm hiệp sức giao huấn nó.
Cô Ba Tố Thuận hỏi :
- Hồi chị sắp về nhà chồng, ai dạy chị cái...chuyện kinh thiên động địa đó?
Cô Hai chúm chím cười :
- Thì mợ Hương quản chớ ai! Má và dì Hội đồng nghĩ rằng mình là phận đàn bà vá,
phải lo thờ phụng vong linh chồng, không nên nhắc tới cái chuyện mà vì số phận
cay nghiệt bắt họ phải dứt ngang xương. Chính mợ Hương quản dạy cho chị đủ đường
đi nước bước, đủ nghề trong món ngoài. Chèn ơi, cậu của tụi mình cũng dịch vật
lắm. Cẩu gặp mụ vợ thông minh, chuyện nhỏ cỡ hột lúa mụ trây trét cỡ trái dừa,
nhỏ cỡ hột mè mụ thổi phồng cỡ trái bưởi...
Vừa nhác thấy cô Út bước vô, cả hai cô vội vã xoay qua chuyện khác.
Gần tới giao thừa, cô Ba Tố Thuận về buồng đánh thức chồng. Còn cô Út Tố Hiền
đánh thức hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai. Ba cô Tố lấy áo gấm ngày cưới ra diện.
Ðó là thứ gấm màu hồng điều nổi bông bạc hình mặt nguyệt. Cô Ba và cô Út diện
quần lụa trắng. Còn cô Hai vì chưa khô ráo nên mặc quần sa-teng tuyết nhung
đen. Thầy giáo Lân mặc áo gấm xanh bông bạc, quần lụa trắng, chơn mang giày hàm
ếch, đầu đội khăn đóng. Hai chị em Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai mặc áo đầm màu hường,
tóc cài lược đồi mồi. Con Lành mặc bà ba lụa tím, quần cẩm tự đen. Ba đứa tớ
trai mặc sơ-mi trắng, quần ka-ki xanh, chơn đi xăng-đan. Bà Bang biện Huỡn chễm
chệ ngồi trên bộ ván cẩm lai để chờ mừng tuổi, chúc Tết. Bà mặc áo the La-Cải
đen, bên trong là áo lục soạn trắng. Bà bới tóc ba vòng một ngọn, giắt trâm nĩa
bằng vàng. Bà đeo giây chuyền nách cả bụm, đeo neo quai chảo dầy cả tấc ở cườm
tay và đeo cà rá cửu khúc liên huờn. Ðôi bông tai của bà gồm cặp hột xoàn lớn cỡ
hột chùm ruột tra vỏ vàng. Chèn ơi, các món nữ trang bằng vàng của bà đều nhuộm
đỏ choé, cái vỏ vàng làm cho nước hột xoàn vàng ngàu như dính phèn.
Bà Bang biện Huỡn lì xì cho con, rể, cháu ngoại và tôi tới rất hậu. Sau đó mọi
người quây quần bên mâm tiệc gồm có bánh tét ăn với thịt kho, cá kho cùng dưa
giá, dưa kiệu, món cháo gà và gỏi gà.
Khi về buồng với vợ, thầy giáo Lân hỏi :
- Em cùng chị Hai và dì Út lâu ngày gặp nhau chắc có vô số chuyện kể lể?
- Ðúng vậy, toàn là chuyện đờn bà không hè.
Thầy giáo Lân cười tinh quái, nhìn vợ từ đầu xuống chơn :
- Chém chết cũng có liên quan tới đờn ông chớ chẳng không.
Cô Ba Tố Thuận xỉa ngón tay vào trán chồng, cười mơn :
- Anh sao trặc trẹo hoài! Chuyện đờn bà mà không có bóng dáng đờn ông chen vô
thì em nói làm chi cho tốn nước miếng!
Ðêm xuân mát dịu. Thầy nhìn cô vợ yêu của mình trong ánh sáng mù mờ của ngọn
đèn chong trứng vịt. Cô có vẻ "xuân" hơn bao giờ, mắt long lanh ướt
rượt, nụ cười ngỏn ngoẻn, rèm mi chớp lia chớp lịa...Thầy ôm chặt vợ vào lòng.
° ° °
Từ hôm 29 tháng chạp tới sáng mồng một, cả nhà ăn nhiều món
ngon vật lạ nên đều cảm thấy rêm cả bụng. Món vịt nấu cà-ri ăn với bún coi vậy
mà lạ miệng. Các món ăn căn bản trong ba ngày Tết như giò heo hầm măng, khổ qua
dồn thịt, cá thịt kho, tôm kho tàu...được bày ra cúng trên bàn thờ ông bà xong
rồi trút trở lại vào nồi, vào ơ. Bánh tét, dưa món, dưa kiệu bày cúng xong đã
có tôi trai tớ gái " độ " giùm hết.
Cô Hai Tố Trinh tức mình vì chưa khô ráo nên không thể mặc áo đẹp đi chùa. Vả lại
hai cái áo dài gấm, một đỏ một xanh của cô may theo kiểu xưa, khéo ở chỗ tà úp
nhưng đâu được bợ ngực bó eo như cái áo dài rằn ri và cái áo lụa màu hoàng yến
của cô Ba Tố Thuận.
Mồng một, vợ chồng thầy giáo Lân qua Ðạo Ngạn chúc Tết bà Hội đồng Giỏi rồi ăn
cơm luôn ở nhà bà. Chiều xế, họ dông lên Bến Chùa để chúc Tết ông bà Hương quản
Mẹo và ăn cơm tối ở đó.
Bà Bang biện Huỡn và cô Út Tố Hiền ở nhà tiếp khách cho tới tám giờ tối mới
đóng cửa. Cô Ba gạ gẫm cô em út ít :
- Em có cái áo nhung tím, nên đeo kiềng chạm của chị thì áo và kiềng đều nổi cả.
Cho chị mượn sợi giây chuyền bướm của em để chị diện với cáo áo lụa hồng đào của
chị.
Cô Út Tố Hiền liếc xéo chị :
- Mồng ba, em mới cho chị mượn sợi dây chuyền bướm. Ngày mai em cần đeo nó.
Sáng mồng hai Tết, con Lành báo tin chợ Trung Lương bắt đầu nhóm le hoe. Cô Út
dặn nó mua tép bạc, còn cô ra vườn hái rau húng, ngò, lá cải thơm, rau diếp cá.
Cô Ba Tố Thuận bảo em :
- Ðể chị và con Lành đổ bánh cống cho. Hôm nay em phải diện gắt lên mới được.
Cô dắt em về buồng mình, chải đầu phùng, giồi phấn sương sương và thoa son phơn
phớt cho em.
Khách gồm có cậu Hai Tùng, cậu Hai Hoành và bà Huyện Ðống. Bà Huyện trước đó vô
buồng thăm dâu và cháu nội rồi mới ra trò chuyện với bà suôi. Bà Bang biện hớn
hở bảo bà Huyện :
- Sao chị suôi? Chị thấy hai thằng cháu nội của chị ra sao?
Bà Huyện Ðống nhai trầu nhóc nhách :
- Sống mũi tụi nó giống sống mũi thằng tía tụi nó quá chừng chừng.
Bà Bang biện nhìn hai con cháu ngoại. Tụi nó gặp bà nội mà tỏ ra áy náy, bợ ngợ
lắm. Sẵn lúc bà Huyện đang vui, bà nói :
- Con gái tui sanh đôi, chắc không đủ thời giờ săn sóc hai đứa con gái của nó.
Vậy chị suôi nên để hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai cho tui săn sóc. Nay mai dì Út
tụi nó về nhà chồng, cảnh nhà vắng vẻ, nếu có hai đứa cháu ngoại, tui cũng đở
buồn.
Bà Huyện Ðống nhìn hai đứa cháu nội gái lom lom làm tụi nó hoãng hồn lủi mất.
Bà nói :
- Chị tính vậy cũng tiện. Tui và thím Ba tụi nó cũng túi bụi tùng bùng, chắc
trông coi hai tụi nó không kham. Ðể tui nói lại với ông nhà tui.
Bà Bang biện Huỡn mời bà Huyện Ðống qua bộ ván ngồi ăn trầu. Cô Ba Tố Thuận từ
nhà dưới bước lên chào anh rể và cậu Hai Tùng :
- Tết năm nay thiệt tình em không dè gặp anh Hai. Chèn ơi, anh Hai khéo tu nên
có gái có trai đủ hết. Riêng em lấy chồng đã hai năm rồi mà chưa cấn thai cho
chồng em mừng.
Cô mời anh rể và cậu Hai Tùng vào bàn ăn để vầy tiệc rượu. Cô bày nem, bì, thịt
phay, mắm tôm chua, rau sống, gà luộc, gà uớp sả nướng...Hai Hoành tỏ phong độ
đàn anh, ưu ái với thầy giáo Lân và Hai Tùng lắm. Cô Út Tố Hiền lãnh phần bồi
tiệc. Mỗi khi cô nghe Hai Hoành, thầy giáo Lân kêu Hai Tùng bằng " dượng
Út " và nghe Hai Tùng kêu hai người kia bằng " anh Hai ", "
anh Ba " rồi xưng " em " thì cô cười chúm chím, má đỏ hây hây, mắt
ướt rượt.
Bên bộ ván cẩm lai ngoài trung đường, bà Huyện Ðống hết lời khen cô Ba Tố Thuận
và cô Út Tố Hiền. Sau cùng bà nói:
- Thú thiệt với chị suôi, tui luôn van vái đất nước ông bà phò hộ cho con dâu lớn
tui sanh con trai để nối dõi dòng họ cho chồng tui. Hai thằng cháu nội tui đây
mới là dòng đích. Con dâu lớn tui khôn mà không xảo. Nó cư xử mềm mỏng, khoan
dung với người dưới và lũ tôi tớ, biết kính nhường kẻ trên người trước cho nên
ông trời không phụ cái đức của nó.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét