Thứ Sáu, 22 tháng 10, 2021

Gả thiếp về vườn 2

Gả thiếp về vườn 2

QUÊ CHỒNG CHỢ TỈNH

Câu chuyện này xảy ra vào thập niên 30.

Cô Hai Phụng là gái miệt vườn. Tía cô là ông hương cúng Nguyễn văn Bàu ở xóm Ðình, làng An Hương, cách tỉnh Vĩnh Long lối 12 cây số. Thiệt tình cái chức hương cúng trong làng chẳng lấy gì làm vinh dự, bởi nó không được phần trong ban hương chức hội tề. Hương cúng chỉ lo việc cúng giỗ các sắc thần trong đình làng. Hễ vào lễ kỳ yên hoặc lễ tế thần thì ông hương cúng Bàu lo việc mua heo, mổ heo cùng việc cắt đặt dân làng nấu nướng cỗ cúng.

Cô Hai Phụng lớn lên trong căn nhà mái lợp ngói bắc cầu do ông bà nội cô để lại. Mẹ cô, bà hương cúng Bàu mở gian hàng xén bán gạo củi, nước mắm, dầu lửa, bánh kẹo, kim chỉ... cho dân làng. Còn cô làm nghề hàng xáo, mua lúa về xay, giã thành gạo trắng cho cha đem ra chợ tỉnh bán nên gia đình cô tương đối sung túc.

Cô Hai Phụng vóc mình dong dỏng, nước da ngăm đen nhưng tóc cô mềm và nhuyễn, dợn sóng trước trán, mắt cô ướt rượt, nụ cười cô có duyên phô hàm răng trắng muốt như hột dưa leo. Cô mặn mòi xinh đẹp lắm. Hễ cô liếc tên trai làng nào thì tên đó bủn rủn mới có một, nhưng khi cô cười thì hắn bàng hoàng tới mười. Ý là cô chỉ mới biết đọc biết viết, cô lại không biết đọc tiểu thuyết, không mấy khi được coi hát bội, hát cải lương, nhưng cách nói chuyện của cô vừa nhõng nhẽo vừa mơn trớn làm tự ái đờn ông được vuốt ve. Rốt cuộc hắn sương rên cả người, hồn phách tâm trí hắn bị cô hớp hết vô cái miệng xạo đía của cô.

Nạn nhơn số một của cô Hai Phụng là thầy giáo Thưởng dạy lớp ba trường làng. Bà hương cúng mừng thầm trong bụng, đợi từng ngày thầy tới nhà bà xin làm đám hỏi. Bà bắt cô Ba Loan, em kế cô Hai Phụng và thằng Năm Bé là cháu kêu bà bằng cô lo việc xay lúa giã gạo. Bà không ngại tốn kém sắm cho cô trưởng nữ của mình quần sa-teng tây, quần xá xị, quần lãnh, áo hàng cẩm nhung, cẩm vân rồi để cô đứng coi hàng, bán quán. Từ đó, cô Hai Phụng tối ngày diện quần áo đẹp, chơn đi guốc sơn đen quai vẽ bông xanh đỏ, tóc xức dầu bông lài láng mướt, tai đeo bông cẩm thạch, cườm tay đeo đôi vòng đồng chạm bánh ú.

Cô Năm Hảo, con ông hương quản Kiểm, một đối thủ của cô Hai Phụng, cứ theo dõi sự thay đổi của cô Hai rồi nhún trề, nguýt háy với mẹ:

- Má coi đó, con Hai Phụng mà bận quần áo tốt thì áo đi đàng áo, người đi đàng người! Nước da đen hù của nó hoạ may có ông trời từ thiên đình xuống chế xà-bông mới có thể giúp con đó tắm cho trắng da, sáng rỡ mặt mày.

Bà hương quản Kiểm nhìn con gái, lòng buồn bực. Nước da cô Năm Hảo mởn hơn nước da cô Hai Phụng nhiều. Ngặt nổi cô bán hàng trên sông rạch, quanh năm bơi xuồng dưới trời nắng chang chang nên khó có cơ hội để trắng. Cô Năm lại không biết ăn nói, tối ngày cứ lầm lì, im ỉm, mà hễ cô cất tiếng thì giọng nói lúc rổn rảng, khi rít róng. Tuy nhiên cô Năm Hảo có nhiều nét thanh tú trên khuôn mặt, vóc mình.

Nhưng ở đời ai mà học được chữ ngờ, nhứt là dân Xóm Ðình. Ðang lúc thày giáo Thưởng ve vãn cô Hai Phụng và cô Hai Phụng trổ hết màu mè ra mê hoặc thầy thì đùng một cái, một chàng trai trên tỉnh xưống tận Xóm Ðình coi mắt cô Năm Hảo. Cuộc hôn nhơn của cô Năm tiến hành rùm rụp, xuôi chèo mát mái ngon lành. Ðám hỏi tổ chức vào tháng năm âm lịch và sẽ rước dâu vào tháng bảy cùng năm. Nghe nói chú rể tên Luông, làm tới chức đội lính khố đỏ, năm đó ba mươi tuổi ngoài, lớn hơn cô Năm 14 tuổi nhưng mặt mũi thẩy khôi ngô, vóc dáng điệu bộ thiệt đáng bực hảo hớn.

Cô Hai Phụng cay đắng bảo mẹ:

- Thằng chồng con Năm Hảo đã trải qua hai đời vợ rồi đó! Ai mà ngó y ta cũng biết y ta có tướng sát thê. Con đương thèm chịu thứ chồng lớn hơn mình năm sáu tuổi, đàng nầy cái tên khố đỏ đó lớn hơn con Năm tới 14 tuổi, già ngắt, cứ coi tác, ai cũng nói hắn đáng làm chú, làm tía con Năm.

Giọng mềm mỏng ngọt ngào của cô Hai Phụng không còn nữa. Sự ghen tị, thù hằn đã biến giọng của cô thành giọng cô Năm Hảo.

Tối hôm đó, thừa lúc bà hương cúng Bàu lui cui nướng bánh lá dứa trên mẻ lửa than cháy đỏ, cô Hai Phụng lén lấy thẻ nhang huyền đàn, chiếc hộp quẹt và cây hồng lạp rồi men theo con đường viền câu mãng cầu dai, cây ổi cửu ngoạt, cây lựu bạch, lựu hường đưa tới miễu thổ địa ở cuối vườn. Trời nổi gíó lao xao, đêm giăng màn nhung đen khắp bốn phương tám hướng. Vì gió nên khi cô bật hộp quẹt máy để thắp đèn nhang thì ngọn lửa cứ bị dập tắt hoài. Cô đành mò ba cục đất sắp trước miễu, vái:

- Lạy thổ địa, xin ngài chứng cho lời cầu xin của con. Xin ngài xui thầy giáo Thưởng mê lậm mê lú con, dỗ ngọt dỗ mặn tía má thẩy cầm trầu cau đi cưới con cho thẩy. Bấy lâu nay con lỡ lên mặt với con Năm Hảo vì con rù quến được một thầy giáo gốc tỉnh thành. Nay, bỗng dưng nó được kẻ miệt chợ đi coi mắt nên nó dúc dắc với con. Con mà không lấy được thầy giáo Thưởng chắc con đội quần thiên hạ. Con kính trọng thờ phượng ngài, xin ngài đừng để cho con đội quần trong khi nó đội khăn the màu hường, khăn lụa màu hột gà, đội nón gò găng, che dù lụa tía. Con mà lấy được thầy giáo Thưởng, con sẽ tu bổ miễu của ngài, mua ngói Cần Thơ về lợp mái, mua vôi trộn a dao quét tường, mỗi ngày con thắp nhang bạch đàn, nhang trầm hương thơm phức, còn thứ nhang huyền đàn lạt nhách kia con chỉ dành đốt cho thần tài, ông địa thờ trong nhà...

Khi cô Hai Phụng vô nhà thì con Chín Kim anh, con chú hương kiểm Bạch có nhà bên kia cầu lót ván qua chơi. Con nầy cũng trắng trẻo nhưng mặt lanh lợi, miệng thọp thẹp nói không lành da non. Ban ngày nó ăn mặc xập xệ để làm công chuyện nhà và lo săn sóc gà heo. Chiều chiều nó ưa bận quần vải xiêm đen, áo vải in bông rồi đứng bẹo hình bẹo dạng bên cầu để mấy chàng trai thương hồ chở đồ gốm, chở lúa trẩy ngang qua. Ðôi lúc nó còn hát vài câu huê tình, giọng lảnh lót.

Vừa thấy cô Hai Phụng, Chín Kim Anh tía lia liền:

- Chèn ơi, thầy đội Luông bảnh trai quá xá. Ai cũng khen mắt thẩy tình tứ như mắt kép Bửu Ngọc của gánh Rương Vàng. Ai cũng trầm trồ cái miệng thẩy có duyên như miệng kép Minh Châu của gánh Bầu Ðen. Uổng quá, chị bị máu xâm nên không đi dự đám hỏi. Ðàng trai đem vòng vàng đỏ au, hột xoàn chớp lia chớp lịa làm sính lễ. Chị Năm Hảo bưng trà ra chào khách thì bận chiếc áo lụa Duy Xuyên màu huỳnh anh, đeo bông mù u, neo quai chảo, kiềng chạm, cà rá cửu khúc liên huờn, vòng bát bửu...Chèn ơi, chỉ coi xinh tốt như tiên giáng thế. Hai bác hương Kiểm đãi đàng trai món nem cá cơm, món mắm cá linh ăn với thịt phay, rau sống, bún...Ba má thầy đội rớ tới món nào là khen món nấy...

Rồi đó, đang lúc bông điệp tây nở đỏ sân đình, đang lúc xoài voi, xoài cát, mận hồng đào đơm đầy cành thì đám cưới thầy đội Luông và cô Năm Hảo được cử hành. Cô Hai Phụng giả bộ nhức đầu nên không đến nhà ông bà hương Kiểm để dọn đám.

Buổi sáng hôm nhà trai rước dâu, cô Hai Phụng đang săm soi cặp mai tứ quí trồng trong chậu sứ trắng men lam, liếc thấy chú rể mặc áo gấm xanh bông bạc, chơn mang giày tây da vàng, bước đi vững vàng, thân mình cao lớn, mặt mũi sáng sủa, cô tức mình, tủi phận bỏ vô buồng, đóng cửa nằm khóc.

Ðã vậy, khi cô vừa nguôi ngoai tính xuống bếp nấu cơm kho cá thì con Chín Kim Anh mắc dịch từ bên kia cầu ván chạy qua, miệng chót chét:

- Chèn ơi, chị Năm Hảo hôm nay xinh tốt như tiên nga. Chỉ đeo bông hột xoàn sáng ngời ngời, đeo chuyền bướm, vòng tay chạm phụng giao đầu, cà rá cẩm thạch. Chiếc áo gấm đỏ của chỉ chói loà loà, thiệt hạp nước da chỉ. Khi cô dâu chú rể lạy trước bàn thờ, ai cũng trầm trồ họ tốt đôi xứng lứa!

Ông trời ngó xuống mà coi con Chín! Từ lâu nó ganh ghét cô Hai Phụng vì cô được thầy giáo Thưởng xun xoe ve vãn. Nay được dịp, nó mặc sức mà nói xốc hông cô. Lúc nói, nó gằn giọng ở chỗ nầy, ỏn ẻn mơn trớn ở chỗ kia để cào sướt tự ái cô, để nhen nhúm ngọn lửa hờn ghen thiêu đốt gan ruột cô. Cô mở cặp mắt chau quảu nhìn nó thiếu điều ăn tươi nuốt sống. Ðúng là thứ đâm bị thóc thọc bị gạo mà! Nữ trang con Năm Hảo đeo hôm đám hỏi gồm bông mù u, neo quai chảo, kiềng chạm, vòng bát bửu, cà rá cửu khúc liên huờn, bây giờ lại đổi thành chuyền bướm, vòng chạm phụng giao đầu, cà rá cẩm thạch. Dóc tổ! Cái con Chín khốn nạn đặt dóc cho tui chết vì uất ức đây mà!

Sau đám cưới cô Năm Hảo, cô Hai Phụng làm ra vẻ màu mè cao thượng. Cô viếng thăm bà Hương quản Kiểm, tỏ ra vui sướng cho cái may mắn của cô Năm Hảo. Tự hồi nào tới bây giờ, cô nổi tiếng ăn nói mềm mỏng nên cô không có nhiều kẻ thù. Giờ đây cô còn tỏ ra ân cần, vồn vã với mọi người nên cô càng được mọi người có cảm tình hơn. Lối xóm ca tụng, nói tốt cho cô nên khi lời đồn có lợi cho cô tới tai gia đình thầy giáo Thưởng thì qua tháng giêng năm sau, cô leo lên chức thím giáo một cái rột. Sau khi cưới vợ xong, thầy giáo Thưởng xin được thuyên chuyển về dạy trường Thiềng Ðức ném về làng Long Ðức Ðông, chỉ bước qua cây cầu sắt lót ván là tới thành phố của tỉnh.

Lối 28 tháng tám năm sau, vợ chồng cô Năm Hảo về thăm nhà vì thầy đội Luông được nghỉ phép thường niên. Cô trở nên mập tốt, trắng trẻo hơn. Dường như cái hạnh phúc của cuộc sống lứa đôi, niềm yêu đời đã gột rửa vẻ cau có, dữ tợn trên khuôn mặt cô làm cô tươi mát, thoải mái hơn. Ðường nét trên khuôn mặt cô vốn hài hoà, cô chỉ có làn da hơi khô, cặp má hơi thỏm và nhứt là vẻ nhăn nhó, khổ sở làm cho khuôn mặt cô tối sầm. Hôn nhơn đã thắp sáng khuôn mặt cô, da dẻ cô lần đổi ra mịn màng hơn.

Khi về nhà, tuy cô Năm Hảo không mặc áo dài nhưng mỗi ngày cô thay hai lần áo bà ba, thứ nào thứ nấy nếu không là hàng, là lụa thì cũng là vân, xuyến, màu sắc tươi thắm trẻ trung. Trưa nào cô cũng quàng khăn san màu hường, che dù màu tía đi dạo xóm. Cô đợi chiều tối mới xên mứt, làm bánh gai, bánh đuông để dành đi đám giỗ. Chiều tối, khách viếng thăm hầu như không có ai, nhưng khi xên mứt, làm bánh, cô vẫn biểu lũ em trai canh cửa, hễ có khách đàn bà tới thì báo cáo để cô đề phòng lúc cân bột, cân đường hay lúc cô đang đảo cặp đũa bếp trong chảo mứt xên. Cô không muốn ai học lóm nghề khéo của mình.

Lối xóm xầm xì rồi chắc lưỡi hít hà về tài khéo của cô. Bà Mười Chiểu thành thạo:

- Con Năm Hảo khi theo chồng ra chợ Vãng, được mẹ chồng truyền nghề bếp núc, bánh trái, thêu thùa. Giờ đây nó khéo nhứt xứ. Con dâu bà Phủ, con dâu bà Huyện chưa chắc qua mặt được nó.

Thím Bảy Liệu trầm trồ:

- Mèn ơi, nó làm bánh men lớn cỡ trái chanh cắt đôi, rồi bắt bông nổi đủ màu xanh đỏ trắng vàng...Tui có hỏi nó bông nổi làm bằng gì thì nó bắt lảng qua chuyện khác.

Chị Năm Thàng cười:

- Chắc nó giấu nghề. Nó còn khoe biết làm bánh men không cần nướng nữa đó bà con.

Gái quê lấy chồng tỉnh đã là danh giá, mà ông chồng lại ở cấp bực trung sĩ khi tuổi chỉ mới ba mươi hai. Rồi đây theo cái vèo nầy, thầy đội Luông lên chức đội nhứt (trung sĩ nhứt), ách (thượng sĩ) rồi ách nhứt (thượng sĩ nhứt) mấy hồi! Thím đội đã quần lụa áo hàng, vàng đeo bạc khảm sáng chói, còn biết làm bánh làm trái xuất sắc nên dân làng trên xóm dưới đồn đãi tùm lum.

Hôm tháng tám năm đó, thầy Hương hào Kình làm đám giỗ cho mẹ, có mời vợ chồng thầy đội Luông tới dự. Thím đội mặc chiếc áo bà ba bằng lụa tím, quần lãnh bông chữ thọ cạp lưng bằng nhiễu hường cánh sen, che dù máu tía. Thầy đội mặc áo bành tô bằng vải xi-mi-li trắng tinh, nút bằng hổ phách coi sang thiệt là sang! Quần của thầy mặc dù bằng vải ka-ki trắng nhưng được hồ cứng và ủi sắc lẻm. Ðôi giày tây da vàng của thầy cũng được đánh nẩy sao. Thầy học đòi thói nịnh đầm, tự tay ôm quả bánh cho vợ.

Khi thầy đội tới nhà thầy Hương hào Kình thì đã có mặt vài ba ông hương chức hội tề đang cùng đàm đạo bên nhạo rượu thuốc, có vài ba dĩa mồi nhắm: cốc, khế xắt miếng chấm mắm ruốc trộn tỏi ớt, thịt phay chấm mắm nêm, dế cơm độn đậu phọng và muối hột rồi lăn bột chiên giòn.

Còn thím đội Luông nhũ danh là cô Năm Hảo khi tới nhà thầy Hương hào Kình thì chững chạc bưóc vào trung đường chào gia chủ và khách khứa, nói ba điều bốn chuyện rồi mới ôm quả bánh xuống bếp chào thím Hương hào Kình cùng các bà các cô tới dọn đám. Thím Hương hào Kình mở nắp chiếc quả sơn son ra. Phe phụ nữ xúm lại ngắm nghía bánh phục linh trắng như dồi phấn có hình bông hường, bông mai, hình miếng chả chạy nét hoa văn được xếp ở ngăn quả trên. Còn bánh men bắt bông nổi thì được xếp ở ngăn quả dưới. Ai cũng hết lời khen ngợi và đồng ý rằng bánh nầy nên để chưng hơn là để ăn vì bánh đẹp quá!

Cô Năm Hảo giờ đây thay đổi nhiều. Cô nói lời ngọt dịu như Cam Cái Bè, như quít chợ Lách. Tuy giọng cô không được êm, giọng cao thì rít róng, giọng thấp thì gay gắt, tiếng cười cô the thé, nhưng đôi lúc cô cũng biết buông lơi bỏ nhỏ giọng nói của mình để cho người nghe có cảm giác dễ chịu hơn. Cô Năm Hảo tuyên bố:

- Thưa các bác, các dì, các cô cùng mấy chị em, tui còn biết làm thứ bánh men không cần nướng. Bữa nào rảnh, tui sẽ trổ tài cho quí bà con cô bác coi chơi.

° ° °

Con Chín Kim Anh nhờ cái miệng phèng la, cái họng ống loa quảng cáo không công về tài khéo của cô Năm Hảo, nào là bánh nướng bánh chiên của cô Năm giòn rụm, bánh hấp của cô Năm vừa dẻo vừa mềm; nào là hễ cô Năm vẫy tay một cái là cỗ bàn cỡ mười món sắp lên bày ra ê hề...nên được cô Năm Hảo thưởng cho một đôi guốc sơn đen với quai nhựa trong vắt, chiếc lược giắt tóc bằng đồi mồi, cái khăn mu-soa bằng lụa bạch thêu bông hường. Cô ra công tỉa cặp chơn mày của mó mỏng và cong như chiếc móng trời, dạy nó bới tóc vén khéo, chỉ biểu nó rửa mặt bằng nước cơm vo cho da mặt mịn màng, xông khói trà cho da mặt hồng hào như màu bồng lồng đèn, bông bụp. Nó đợi cô dạy nó làm một món bánh, một món ăn nhưng cô bền lòng chặt dạ quyết giữ kín nghề khéo của mình.

Nhưng cô Năm Hảo đã không uổng công dạy dỗ cách làm đẹp cho con Chín Kim Anh. Nó cũng không uổng công chiều chiều đứng bên cầu lót ván để bẹo hình bẹo dạng với trai thương hồ. Có chàng trẻ tuổi chuyên nghề mua lá dừa nước rồi ủ chín đỏ để bán cho các trại lá chầm, một hôm nó chèo ghe ngang cầu ván, thấy con Chín Kim Anh bận chiếc quần lãnh tàu, chiếc áo bà ba bằng vải đen in bông đỏ liền gọi lớn:

- Qua tên Võ Tòng đây em! Võ Tòng, anh hùng sát hổ ở Cảnh Dương cương đây em!

Con Chín Kim Anh hò liền:

Anh hùng hà xứ anh hùng lai?
Ðể tui liều mạng đối trai anh hùng.
Anh hùng bảnh lắm anh hùng ôi,
Ðể tui liều mạng đái trôi anh hùng.

Vậy mà chàng trai tên Võ văn Tòng kia lại cảm lăn cảm lóc con Chín Kim Anh mới là kỳ! Nhà chàng ở Cầu Dài, cách chợ tỉnh Vĩnh Long con rạch Long Hồ, hễ bước xuống đò ngang thì năm phút sau là tới bến chợ cá của trung tâm thành phố. Má chàng Võ văn Tòng có lập trại lá chầm thiệt lớn ở Cầu Dài. Kể ra thì chàng cũng là dân thành thị đó chớ!

Ðám hỏi tiến hành rùm rụp. Con Chín Kim Anh dầu không được cô Năm Hảo chỉ dạy cách làm món ngon, làm bánh làm trái nhưng nó vẫn mang ơn cô vì nhờ cô mà nó biết chải chuốt áo quần, biết làm cho dung nhan mình rạng rỡ hơn để lọt được vào mắt xanh của cái anh chàng mà nó đòi đái trôi. Cho nên cô Hai Phụng vẫn là đối thủ của con Chín Kim Anh vì dẫu Võ văn Tòng không làm mướn ở đợ, và dẫu chàng là dân thị thành nhưng đâu có văn hay chữ tốt nhu thầy giáo Thưởng kia.

Tháng sáu, vì còn đang lúc bãi trường, thầy giáo Trần Xuân Thưởng dắt vợ về chợ An Hương để hứng gió sông, thở không khí đồng nội. Thầy giáo Thưởng không có gì thay đổi, lúc nào cũng chải tóc thấm nước, mặc sơ-mi cụt tay, quần tây vải ga-bạc-đin, chơn đi giày xăng-đan để dạo xóm. Riêng thím giáo Thưởng nhũ danh là cô Hai Phụng thì đeo nhiều nữ trang hơn, ăn nói văn chương huê mỹ hơn, nước da mởn hơn. Thím chẳng những tỉa cặp chơn mày nhỏ rí và cong vòng như cái cầu vồng, thím còn cạo lông mặt như mấy bà xẩm. Trưa trưa thím nằm trên võng treo tòn teng ngoài hàng ba để đọc tiểu thuyết.
Thiệt ra các cô thôn nữ, các mụ bành miệt vườn, các bà già trầu cũng ưa săm soi các kiểu nữ trang của cô Hai Phụng. Nhưng cô Năm Hảo cũng đâu có thua kém cô Hai về chuyện vi cánh đó. Mấy cô gái con ông Hương cả Tiếu, con ông Hương chánh Bân cũng biết lên tiệm vàng Võ Văn Hưng ở chợ Vãng để sắm nữ trang kim thời.

Với thôn dân, cái hình ảnh người đờn bà tỉa chơn mày, nằm tòn teng đưa võng ở chỗ bán lộ thiên là ngoài hàng ba để đọc tiểu thuyết là một hình ảnh xốn mắt. Ðã vậy, lâu lâu cô Hai Phụng còn ré lên hát vài câu vọng cổ rồi xướng nhạc inh ỏi coi thiệt không giống ai:

Từ phu tướng,
Bửu kiếm sắc phong lên đường
Vào ra luống trông tin chàng
Ðêm năm canh mơ màng
Hò lìu xang xê cống
Líu cổng, líu cổng xê xàng...

Con Chín Kim Anh trề nhún với đám con gái ông Hương ân:

- Thứ đồ làm phách! Cái thứ cà xốc chó gì đâu á! Nó ra tỉnh nấu cơm tháng cho mấy đứa học trò, lại còn nuôi heo nên cực bù đầu, mặt mũi lem luốc, tóc tai chơm bơm. Vậy mà về đây làm bộ khoe giàu, ra điều phong lưu nhàn hạ thấy mà ứa gan!

Và trưa trưa nó chõ mỏ qua hàng rào cây xương rồng hát xỉa xói cô Hai Phụng:

Hò lìu xang xê cống
Líu cổng nuốt trộng tôm càng
Hò lìu xang xê cống
Líu cổng chổng khu la làng...

Từ lúc về thăm nhà, cô Năm Hảo không thèm dạo gót sen qua thăm ông bà Hương cúng Bàu. Bởi đó cô Hai Phụng đương thèm dời gót ngọc đến viếng ông bà Hương quản Kiểm. Tiếng đồn về tài khéo cô Năm cứ dồn dập đến tai cô Hai Phụng, làm cô bứt rứt xốn xang. Tới hôm nghe tin cô Năm Hảo sắp trổ tài làm bánh men không cần nướng, cô Hai Phụng vì óc tò mò quá mạnh nên mới xách đít qua nhà ông bà Hương quản Kiểm coi hư thực ra sao.

Khi cô Hai Phụng tới nơi thì thấy các bà các cô tề tựu đông đảo. Cô Năm Hảo lăng líu chào hỏi cô Hai Phụng. Cô Hai Phụng véo von đía dóc với cô Năm Hảo. Ðôi bên tỏ ra thân mật, nồng nàn như đôi tri kỷ. Cô Năm Hảo mời:

- Chị Hai ngồi chơi, vừa ăn mứt uống trà vừa coi tui trổ tài khéo. Mà nếu không khéo thì xin chị mởi lòng từ bi hỉ xả giùm nghen!

Cô Hai Phụng miệng thì cười mà mắt thì nguýt háy đối thủ. Thứ gì giả dối! Có chút tài mọn mà đã kiêu căng. Phải chi nó trổi giọng phách lối thì tui còn đở tức, đằng nầy nó giả nhơn giả nghĩa ăn nói mềm như bông gòn, ngọt như đu đủ chín, dịu nhẹ như gió thoảng làm tui ứa gan quá chừng chừng!

Cô Năm Hảo vô buồng lấy một cái tô sành đựng chất gì trắng trắng bột không phải bột, bọt xà bông cũng chẳng phải bột xà bông. Nó đặc như sửa hộp, trĩn trĩn như nhớt mồng tơi. Chị Năm Xứng hỏi:

- Cái thứ trắng trắng nầy làm bằng gì vậy?

Cô Năm Hảo cười bí mật:

- Thì cũng bột, cũng đường, cũng trứng gà, men nổi...chớ có giống gì ngoài bốn cái thứ đó! Bà con để tui nắn bánh coi chơi.

Cô lấy giấy dầu làm cái quặng, bỏ chất trắng trắng đó vào rồi lấy kéo cắt ở đầu nhọng làm miệng quặng. Cô bóp nhẹ quặng. Từ miệng quặng, một vòi trắng lòi ra. Cô Năm Hảo xịt chất trắng lên dĩa bàn, nắn thành từng cục tròn tròn. Cục tròn khô cứng tuy hơi chậm nhưng láng mặt. Cô Năm Hảo mời mọi người ăn thử. Bà Mười Chiểu gật gù:

- Tuy giống bánh men nhưng không xốp, không thơm.

Chị Năm Thàng nói:

- Bánh nầy chắc tại không nướng nên có mùi tanh của lòng trắng trứng gà.

Dù vậy mọi người vẫn trầm trồ khen cô Năm Hảo ở chỗ làm bánh men không cần nướng. Cô Hai Phụng cười gượng gạo rồi ngoe nguẩy xách đít ra về, dã dượi bần thần như muốn nhuốm bịnh. Ðã vậy, con Chín Kim Anh mắc dịch mắc toi kia mỗi khi giả đò tới thăm cô, cứ đem cái tài cái khéo của cô Năm Hảo ra khen làm cô thêm đau lòng.

° ° °

Ngày hôm sau, cô Hai Phụng ăn cơm trưa xong, bước ra võng đưa tòn teng qua lại. Nhưng cô không đọc tiểu thuyết, không trổi giọng du dương hò lìu xang xê cống nữa. Cô nằm lim dim, thức không ra thức, ngủ không ra ngủ. Ngay chiều hôm đó, cô đích thân bơi xuồng tới nhà thầy Thôn Cường mua ba chai rượu thuốc. Cô về pha thêm một lít rượu đế. Thầy Thôn Cường ngâm rượu thuốc bằng thục địa, hoài sơn, cam thảo như mọi người bán rượu thuốc khác. Nhưng đặc biệt là thầy còn ngâm thêm rễ cây nhàu nên màu nâu của rượu sóng sánh ánh vàng, vị rượu đằm hơn. Cô Hai Phụng còn mua mít nướng cho thơm lừng rồi ngâm vô rượu. Xong xả, cô trộn vào đó gói bột hoa-ni (vanille). Ðây là thứ bột thơm mà thầy giáo Thưởng mua ở Sài gòn đem về tặng cô để cô làm bánh bò, bánh da lợn. Ðây là thứ bột thơm từ bên Tây nhập cảng qua, nhưng các bà nội trợ ở lục tỉnh Nam kỳ ít ai biết, huống hồ gì các bà các cô miệt vườn!

Pha rượu xong, cô Hai Phụng trèo lên võng đưa tòn teng qua lại rồi cô hát chót chét mấy câu vọng cổ. Sắc diện cô phơi phới, thỉnh thoảng cô nở một nụ cười đắc chí. Xời ơi, cái con đĩ "bạch chảng" đó (cô ám chỉ cô Năm Hảo) khi làm mấy thứ bánh hấp như bánh bò, bánh da lợn, bánh thuẫn, nó xịt dầu chuối thơm gay gắt, thơm hỗn hào. Bột hoa-ni của tui mà bỏ vô bánh hấp, bánh nướng như bánh phục linh, bánh con đuông...thì thơm thoang thoảng, thơm dịu nhẹ mà bền bỉ, đằm thắm, thấy thương quá trời quá đất!

Thế là hôm đám giỗ ông Bồi bái Hùng (tức là ông nội cô Hai), ông Hương cúng Bàu bưng ra một cái mâm có ba nhạo rượu và một mớ chén chung. Mâm thau chùi sáng bóng, nhạo rượu bằng sứ tráng men trắng vẽ bông lá màu chàm đậm, nét vẽ rối rít, tỉ mỉ, vô cùng ngoạn mục. Còn chung thì màu trắng mỏng tay, nét vẽ mặt võng thêu bông cũng màu chàm đậm. Chưa biết rượu ngon dở ra sao, nội thấy mâm, nhạo, chén, chung choáng lộn như vầy, ai mà chẳng rộn lên niềm háo hức?

Ông Hương cúng Bàu thưa với khách:

- Thưa bà con, đây là rượu khai vị cốt giúp cho bà con ngon cơm . Tuy nói là khai vị nhưng đây cũng là thứ ích khí bổ thần. Thưa bà con, đây là mỹ tửu mà cũng là dược tửu do con gái tui bào chế. Trước hết, bà con uống sương sương mỗi người một chung cho ngon miệng, cho phơi phới tinh thần, rồi mình cùng nhậu rượu đế tới hoắc cần câu luôn...

Ông Hương cúng Bàu rót rượu ra chung. Tuy rượu có màu lợt hơn rượu thuốc nhưng mùi mít nướng quyện mùi hoa-ni bốc lên thoang thoảng và lạ lẫm là mọi người không đoán rõ là mùi gì. Khi nhắm nháp qua "thứ mỹ tửu lẫn dược tửu" kia thì khắp bàn tiệc lời khen ngợi xôn xao, tiếng chắt lưỡi hít hà sôi nổi.

Ở bên trong, cô Hai Phụng lóng tai nghe động tĩnh bên ngoài. Tới chừng nghe tiếng chắc lưỡi hít hà khen hương vị của rượu do cô pha chế, cô nghĩ mình nên chường mặt ra chỗ bàn tiệc để hưởng cái vinh diệu mà cô từng khao khát sau bữa coi cô Năm Hảo làm bánh men không cần nướng.

Cô Hai Phụng vội vã chải đầu thiệt kỹ, giắt chiếc trâm hình trăng khuyết có cẩn những chấm hột xoàn tấm lóng lánh. Cô đeo vô cổ, vô cườm tay, ngón tay, trái tai những món trang sức mà cô cắc ca cắc củm mang theo. Nữ trang bằng vàng thiệt chen vàng giả miễn sao nó hợp sức cùng hào quang trên chiếc áo lụa màu ngân bạch nổi bông tiền điếu màu vàng để gây nhức mắt mọi người. Cô giành bồi tiệc cho các ông. Cô lăng líu như chim chèo bẻo, véo von như chim chìa vôi làm thầy giáo Thưởng mặt khờ ra vì sung sướng đã cưới được một cô vợ bãi buôi, bắt thiệp.

Cô Hai Phụng đặt dóc về các dược thảo ngâm trong rượu khá dài giòng lâu lắc. Sau cùng cô bảo:

- Thưa các bác, các chú, các cậu, các dượng, các anh. Rượu nầy là rượu gia truyền. Hễ ai bị chứng no hơi sình bụng kinh niên chỉ uống chừng ba tháng là dứt tuyệt, hơi thở thơm tho, lưõi sạch đỏ au. Còn ai bị chứng phong thấp thì chỉ cần điều trị bằng rượu nầy chừng một năm là bớt dần dần. Bị bại xuội cũng nhờ rượu nầy mà đi đứng nhậm lẹ còn hồi chưa mang tật nữa.

Rồi cô ỏn ẻn liếc qua chồng:

- Mình, em nói có đúng hôn mình?

Thầy giáo Thưởng đang nhai cái phao câu con vịt sau khi vừa ực hớp rượu Sâm Nhung Huyết Tửu bào chế ở hãng rượu Bình Tây. Rượu nầy khá nặng tuy có tên đẹp đẽ quý giá nhưng chỉ ngâm bằng loại dược thảo rẻ tiền. Hơi rượu làm thầy bàng hoàng, hụt hẫng, tâm trí ngây ngất...Nghe vợ hỏi thình lình, thầy rụng rời như bị chém hụt vì thầy có để ý nghe vợ nói trời, nói trăng những gì. Thầy trả lời liều mạng cho qua:

- Ðúng, đúng lắm! Sâm Nhung Huyết Tửu ở hãng Bình Tây bổ nhứt xứ!

Mọi người cười rân vì câu trả lời ăn trớt của thầy.

Ai ai cũng biết cô Hai Phụng ưa xạo đía. Và cũng chẳng ai lạ gì cái thói khoác lác của cha cô. Rượu vừa trôi khỏi cổ, ông Hương cúng Bàu bắt đầu mở máy đía vang rân:

- Con gái tui nhờ quen mấy bà lớn trên tỉnh nên nó mua được một thứ bột thơm nhập cảng từ bên Tây. Thưa bà con, số là trong vườn ngự uyển của ông vua xứ Lang-sa có một cây bông quỳnh trổ bông ngũ sắc, thơm bay ngàn dặm. Bà hoàng hậu hôm đó dạo vườn ngắm kiểng vật, gặp lúc tiết xuân nên bông quỳnh trổ ê hế. Bả thấy đủ loại ong như ong bầu, ong mật, ong nghệ cứ bu theo loài bông quý hút nhụy nên bả truyền cho cung nga thái giám hái bông về cà nhuyễn để làm bột thơm. Khi đầu bếp làm bánh, bà hoàng hậu truyền cho họ rắc bột thơm vô. Khi bánh chín, bà hoàng hậu biểu dưng bánh lên cho bà mẹ vua "ngự". Gặp lúc đó, bà mẹ vua ể mình, chê súp, chê sữa, chê phô-mai...Vừa hưởi bánh thơm, bà mẹ vua ních một lèo hết ổ bánh, bịnh hết bảy còn ba. Bả bèn truyền cho cung nga pha bột vô rượu để dành uống lai rai. Ðức vua thấy bông lạ nên truyền cho toán coi sóc ngự uyển trồng thêm cây quỳnh quý báu kia vì bông của nó vừa đẹp vừa có dược tánh.

Cô Hai Phụng cảm thấy mát gan mát ruột như sương sâm, sương sáo, sương sa được ướp nước đá. Cô ỏn ẻn cười mơn rồi liếc qua cái mặt chim bỉm và nặng nề như cái cối xay của ông Hương quản Kiểm một cách đắc thắng. Hôm nay là ngày mà tên tuổi cô được các ông ở trung đường nhắc nhở, khen ngợi quá nhiều cho nên khi xuống bếp, nghe các bà phụ dọn cổ bàn suýt soa khen tài làm bánh của cô Năm Hảo, cô không thèm đếm xỉa tới, không làm mặt quạu như cách đây một tuần.

Ðám giỗ rộn ràng trôi qua. Bà Hương cúng Bàu chèo xuồng ra chợ Vãng mua một hơi hai chục lít rượu và tới tiệm thuốc bắc bổ các dược phẩm như hoài sơn, cam thảo, thục địa...

Khi rượu được chiết ra từng chai và được đậy nút cẩn thận, cô Hai Phụng ra hàng ba nằm trên võng đưa tòn teng qua lại. Cô chõ miệng qua bên nhà con Chín Kim Anh, cất giọng rổn rảng:

- Tui là con nhà ăn chắc mặt dầy, tui đấm thèm ba cái thứ bánh khéo. Rượu thuốc của tui có nhiều công dụng trị bá chứng để giúp đời, gây âm đức cho con cháu về sau. Thử hỏi bánh nào sánh kịp tới gót chơn nó chưa? Vậy mà có con đĩ chó ăn cơm nhà làm chuyện tào lao, đi quảng cáo không công cho ba cái thứ bánh đẹp thì có đẹp, ăn vô thì dở ẹt, cứt heo hổng chừng còn ngon hơn. Cứt heo lỡ dính gót chơn tui, tui mua xà bông sả về rửa. Còn thứ bánh đó hễ chui vô miệng má con, dì cháu, chị em nhà nó thì miệng cả phồn cả lũ nó thúi hoắc như miệng cá vồ...

Con Chín Kim Anh nghe hết. Nó liền xẹt qua nhà ông bà Hương quản Kiểm, thuật lại những câu đon ren của cô Hai Phụng, rồi thỏ thẻ

- Con Hai Quạ (ám chỉ cô Hai Phụng có màu da đen như lông chim quạ) xỏ xiên chị đó! Chớ em đây thấp kém, nó đấm thèm chửi em. Nó chửi lông bông cho em nghe, nhưng kỳ thiệt là nó ám chỉ chị.

Từ đó cô Hai Phụng và cô Năm Hảo tránh mặt nhau. Riêng thầy đội Luông và thầy giáo Thưởng thì có dịp gặp nhau luôn trong các đám cưới, đám giỗ được tổ chức trong xóm trong làng. Cả hai vẫn chào hỏi nhau, chuyện vãn, cụng ly với nhau hà rầm. Nếu có ai nhắc chuyện hiềm khích giữa hai bà vợ thì thầy đội Luông chắc lưỡi:

- Ối, chuyện đờn bà với nhau, hơi nào tui lý tới? Tuy vậy, con đờn bà của tui vốn tốt bụng. Tui tin ít lâu nó sẽ cầu huề chị giáo.

Thầy giáo Thưởng phụ hoạ:

- Nhà tui dễ nóng nhưng mau quên. Tui cũng tin rằng nay mai chị đội và nhà tui sẽ trở lại tình bạn lối xóm.

Nói dứt lời, thầy rót rượu cho thầy đợi, cả hai cụng ly lanh canh rồi ngửa cổ uống một cái ực cạn ly. Mặt người nào cũng đỏ gay như mặt trời mới moc, miệng cười toàng hoạc, giọng cười hề hề.

Cầu huề? Hàn gắn trong nay mai? Làm gì có chuyện đó! Cô Hai Phụng làm sao nguôi ngoai nổi khi thấy ai đi đám cưới đều đặt bánh ở nhà ông Hương quản Kiểm. Cô Năm Hảo truyền nghề khéo cho hai con em mình là Sáu Mỹ và Bảy Lành. Dù cô Năm ở trên tỉnh nhưng tên tuổi cô vẫn được nhắc nhở đều đều qua bánh mứt do hai em cô làm ra. Tuy nhiên thiên hạ cũng ưa đến nhà ông bà Hương cúng Bàu để mua rượu thuốc do cô Hai Phụng truyền lại bí quyết ngâm rượu của cô cho cha mẹ. Mỗi khi dắt cô Sáu Mỹ hay Bảy Lành ra chợ tỉnh thăm vợ chồng cô Năm Hảo, bà Hương quản Kiểm tỉ tê kể lại sự mến chuộng của thôn dân đối với rượu thuốc ấy cho cô Năm nghe. Cô Năm cảm thấy mình khó mà giao thiệp với con "Hai Quạ" đó.

° ° °

Trường tiểu học An Hương có một cô giáo mới đổi về dạy lớp nhì. Cô nầy tính tình bãi buôi, ưa thích giao thiệp với mọi người. Cô khéo léo các món bánh mứt, lại tốt bụng, sẵn lòng chỉ dạy các cô gái trong xóm. Cô giáo cho biết bánh men nướng bắt bông nổi của cô Năm Hảo là thứ bánh men bắt bông đường. Ðường cát trắng trộn lòng trắng trứng gà rồi nhuộm phẩm xanh phẩm đỏ để vẽ lên mặt bánh men. Và rồi mấy cô gái làng cũng lần lần khám phá ra bánh men không cần nướng của cô Năm Hảo chỉ làm bằng đường trộn với lòng trắng trứng gà đánh cho nổi mà thôi, chẳng có pha thêm bột thêm men gì ráo trọi.

Lần hồi, vài cô gái trong làng làm được bánh bông lang bắt bông đường diêm dúa loè loẹt nếu họ khéo tay. Họ còn biết bỏ bột hoa-ni vào bánh nướng lẫn bánh hấp. Ðiều đáng nói thêm, từ khi cô giáo Hiền đem bột hoa-ni giới thiệu với các cô gái ưa học làm khéo thì mùi thơm trong rượu thuốc do cô Hai Phụng pha chế bị khám phá ra. Cô Kiều Tiên, con gái ông Hương sư Bình, cất giọng nhọn hoắc:

- Té ra đó là bột hoa-ni. Ngoài chợ tỉnh, các tiệm ba-da bán thiếu gì!

Cô Nguyệt Nga, con gái ông Hương chủ Khánh, trề môi:

- Con Hai Phụng và con Năm Hảo tuy kình địch nhau nhưng thiệt ra cùng một thứ xạo đía, cùng một phồn gạt người.

Từ đó, mỗi khi về thăm nhà, cô Năm Hảo không dám trưa trưa đội khăn san màu hường, che dù màu tía đi dạo xóm nữa. Còn cô Hai Phụng thì khi bột hoa-ni bị khám phá, cô được thôn dân âu yếm tặng cho cái hỗn danh là cô Hai Quạ. Mỗi trưa, sau khi ăn xong, cô vào buồng đánh giấc trưa thiệt say sưa, hết dám nằm đong đưa trên võng treo ngoài hàng ba để đọc tiểu thuyết và chửi đổng nữa.

Ngoài tỉnh Vĩnh Long, nhà thầy giáo Thưởng ở tại dãy phố lầu, gần miễu Quốc công. Còn nhà thầy đội Luông ở xóm Khương Hữu Phụng. Sáng sáng cô Hai Phụng xách giỏ đi chợ Cầu Lầu thường gặp vợ chồng cô Năm Hảo ngồi điểm tâm trong tiệm nước chệt Lìn luôn. Cô Năm ăn sáng no cành hông rồi mới chịu xách giỏ đi mua thức ăn nên cả hai ít có dịp chạm mặt nhau. Nếu rủi có đụng mặt nhau thì cả hai cúi gằm mặt bương bả đi chỗ khác. Nhưng mà cả hai đã cảm thấy giữa đối thủ và mình chẳng còn gì để ganh đua, để loè bịp thôn dân xóm Ðình, làng An Hương nữa.

Cô Năm Hảo sanh được một trai kháu khỉnh. Còn cô Hai Phụng lấy chồng đã hai năm mà chưa có điềm chửa nghén gì nên cô bứt rứt lắm.

Tháng bảy, mưa gió sụt sùi, trời đất mịt mờ, khí âm huyền độc địa. Cô Hai Phụng bỗng ngã bịnh, cơm cháo nuốt vô là cô ói mửa lai láng. Cô liền kêu xe kéo đến nhà ông Bộ Công để chẩn mạch hốt thuốc. Ông cho biết cô chẳng có bịnh chi hết mà chỉ bị thai hành. Lời tiết lộ đó làm cho cô Hai Phụng mừng quính. Vừa lúc đó, cô Năm Hảo bồng đứa con trai bước vô, nước mắt chan hoà. Ðứa nhỏ mặt mày đỏ ửng, mắt nhắm thiêm thiếp. Cô Hai Phụng đang mong có con, thấy thằng nhỏ đau ốm chi chưa biết mà có vẻ thừa chết thiếu sống nên tâm can cô thốn động, xốn xang. Cô quên mối thù hiềm cũ, hỏi:

- Cháu đau sao đó, chị Năm?

Cô Năm Hảo bệu bạo:

- Nó nóng rồi làm kinh. Hai đêm, ba ngày qua tui không dám ngủ.

Cô Hai Phụng không chịu ra về liền, cô đợi ông Bộ Công chẩn mạch đứa nhỏ để biết nguồn cơn bịnh hoạn nó ra sao. Ông Bộ Công bắt mạch nó xong, an ủi cô Năm Hảo:

- Thằng nhỏ nầy đau ban trắng. Ban bắt đầu phát nên không hề gì.

Ông pha thuốc tán cho nó uống hạ hoả trước khi hốt cho nó một thang thuốc. Khi cô Năm Hảo sửa soạn bồng con ra về thì cô Hai Phụng nói

- Coi chị đừ rồi đó! Ðể tui tháp tùng chị đưa cháu về nhà.

Cô Hai Phụng kêu xe xích lô cho bạn. Khi cả hai cùng đứa nhỏ lên xe thì cô Hai giương dù ra che cho mẹ con cô Năm. Xe tới nhà cô Năm Hảo, cô Hai giành trả tiền xe rồi theo bạn vào nhà. Ðứa nhỏ nhờ thấm hiệp thuốc tán nên không còn thiêm thiếp nữa. Nó giương mắt có thần nhìn mẹ và khách. Cô Năm Hảo pha trà mời bạn rồi hỏi thăm đủ thứ, từ việc nhà ở An Hương tới đại gia đình thầy Thưởng...Lúc đầu cả hai trò chuyện còn bợ ngợ, ngập ngừng nhưng rồi bản tánh hồn nhiên, bặt thiệp, cả hai ngon trớn bắt chuyện trơn tru, thỉnh thoảng chêm từng chuỗi cười giòn khấm khứu.

Bỗng ngoài cửa có tiếng léo xéo:

- Chị Năm của em đâu rồi? Con em Chín của chị tới thăm chị đây nè. Mai nó về An Hương, chị có gởi gì về hai bác Hương quản thì giao cho em.

Cô Năm Hảo bảo nhỏ cô Hai Phụng:

- Con Chín Kim Anh đó. Từ khi nó lấy thằng Hai Tòng, nó được má chồng dựng cho nó cái chái lá xéo xéo chùa Bà Thiên Hậu. Nó mở tiệm bán nem nướng phát đạt thất kinh.

Chín Kim Anh õng ẹo bước vô, áo dài màu hoàng yến thướt tha theo nhịp bước đi nhún nhảy. Chèn ơi, giờ đây ả đẹp đẽ, mượt mà thêm ra. Ðôi bông hột xoàn trên tai ả chớp lia chớp lịa mỗi khi ả ngúc ngoắc đầu õng ẹo làm điệu. Vừa thấy cô Hai Phụng, mặt ả hơi tái nhưng rồi ả gượng làm tỉnh, bô lô ba la liền:

- Mèn ơi, chị Hai! Hèn lâu em mới gặp chị. Lóng rày coi bộ chị đỏ da thắm thịt, đẹp nhức nhối! Nè, mai em về thăm nhà, chị có muốn gởi trà bánh cho bác Hương cúng thì em đem về giùm cho.

Cô Hai Phụng cuời:

- Tuần tới tui về nhà dự đám giỗ bà nội tui. Thôi, tui không dám làm nhọc lòng Chín, nhưng dầu sao tui cũng cảm ơn lòng sốt sắng của Chín.

Chín Kim Anh đía:

- Em về An Hương để dự đám coi mắt đứa con gái lớn của chị Hai em. Chèn ơi, em mua đủ thứ thập vật tặng tía má em: nào là trái vải đóng hộp, nào trà Thiết quan âm, nào bôm, nho, xá-lỵ, khô cá sưởu, lạp xưởng...

Trong lúc ả Chín chót chét khoe khoang, cô Năm lẫn cô Hai nhìn nhau. Lại thêm một nhân vật nữa lấy chồng tỉnh về làng thăm quê,, mặc tình mà nói trời nói đất, mặc sức khoe khoang chuyện bá láp tầm phào. Cô Hai thì nhớ tới bột vanille, cô Năm thì nhớ tới thứ bánh men không cần nướng. Mặt cả hai đỏ thén nhưng mắt họ sáng rạo rực, nụ cười họ chúm chím nở trên môi.

BÀ GIÀ TRẦU
CẢM-KHÁI

Mèn ơi, lẩm rẩm tui ở Xóm Gà được ba năm rồi đó chị Tám. Thời buổi giặc giã, dân quê kéo nhau ra thành phố mỗi lúc một đông. Xóm Gà bởi đó mà nhà cửa mọc thêm nhiều.

Thú thiệt với chị Tám, cũng bởi tui thương hai đứa cháu nên tui đành đoạn bỏ nhà bỏ cửa đi theo tụi nó. Ở đây, đêm đêm tui nhớ xóm quê, vườn nhà, nhớ mấy cây cau Bà Ðiểm, mấy nọc trầu vàng mà ứa nước mắt. Thiệt tình, trầu cau do mình chăm nom, bón gốc, tưới mát hằng ngày mình ăn mới ngon. Ðằng nầy cứ mỗi tuần, tui lặn lội ra chợ Bà Chiểu để mua trầu cau vôi thuốc. Tui mất cái thú đêm nằm trong buồng lắng chừng mùi hương cau từ cửa sổ lọt vào tận lá mùng. Tui hết còn dịp tự tay ra sân hái lá trầu xếp từng ốp vào khay, tui đâu còn được bổ cau từng miếng bày trong những cái sàng rồi đợi nắng tốt đem phơi hoặc vào những ngày mưa dầm, quạt than cho đỏ sấy cau, để dành ăn lai rai.

Như chị biết, thằng con trai tui năm 45 bỏ nhà theo Việt Minh, rồi tới năm 53 nó đành đoạn theo "mấy ổng" đi tập kết. Con dâu tui nổi sùng giao hai đứa con nó cho tui rồi bỏ lên Lèo lấy chồng khác. Tui lo làm vườn, làm rẫy nuôi hai con cháu còn cha mẹ đầy đủ mà hoá ra côi cút kia. Nhờ trời thương Phật độ, tụi nó mạnh cùi cụi, lớn mau như thổi.

Con chị Ngọc Hạnh thôi học sớm để đi làm sở Mỹ. Chỉ có con em Ngọc Hiền thì còn đi học năm thứ nhứt đại học Sư phạm. Chèn ơi, Mỹ đang rục rịch muốn rút về nước nên con Ngọc Hạnh lo lắm. Nó lo kiếm thằng chồng Mỹ để nương dựa. Nó nói:

- Thằng Ðít (Dick) muốn cưới con. Con qua Mỹ rồi sẽ lo giấy tờ rước nội và con Hiền qua luôn.

Mẹt mẻ ông bà ông vải, tiên nhơn tổ đường ơi! Mỗi tiếng nói của nó là một phát súng cà nông nã vào đầu tui làm tui xây xẩm tối tăm mặt mũi. Chị nghĩ coi, hồi nó mới đẻ, má nó đi buôn bán giao nó cho tui. Tui nuôi cháu bằng sữa Con Chim, sữa bột chớ tui đâu có nuôi nó bằng máu hoè mà nó ngu dại đòi lấy cái thứ râu rìa, mắt mèo, mũi lõ đó! Tui rống lên khóc. Con Ngọc Hiền cũng khóc theo. Xời ơi, con Ngọc Hạnh mọc lông mọc cánh rồi, đủ vi đủ kỳ rồi nên nó muốn bay bổng, lội xa ra mái nhà của nội nó. Tui biết lỗ tai nó điếc rồi, đâu có để lời than van khóc lóc của tui lọt vô...

Vậy mà rồi tui cũng đến nhà thờ Tin Lành để dự đám cưới con cháu nội bất hiếu của tui. Tên thằng cháu rể Phiên bang Rít-sa (Richard) gì đó, vậy mà sao bạn bè cùng con vợ nó lại Ðít hổng biết! Con Ngọc Hạnh cũng đổi tên MỹOăn-đa (Wanda) nghe kỳ hết sức.

Con Oăn-đa Ngọc Hạnh tùng phu về xứ Huê kỳ để lại cho bà nội nó 20 lượng vàng làm vốn nuôi em. Tui nai lưng bán sinh tố, lưng mỏi, mình rêm mà nào dám bỏ phế việc bán buôn.

Con Ngọc Hiền lớn lên coi bộ có duyên và mướt hơn con chị của nó. Nó lên năm thứ ba rồi sanh sứa theo bọn sinh viên phản chiến trong trường, nay đi họp mai đi quay truyền đơn biểu ngữ, có khi gần tới giờ giới nghiêm mới chịu về nhà. Tui lui cui hâm cơm canh cho nó ăn rồi rút vô bưồng, cứ nghĩ tới đường kia nỗi nọ mà ứa nước mắt.

Con Ngọc Hiền coi bộ nghiêm trang, cười không hở răng vậy mà có cặp mắt mời trai chị Tám à! Chòm xóm nói nó trinh không ra trinh, dâm không ra dâm, chém chết cung mạng nó không có sao Ðào Hoa thì cũng có sao Hồng Loan chiếu chi đây nên tui lo lắm chị Tám! Lo nó giống như con Ngọc Hạnh, lấy một tên Phiên tặc to lớn dình dàng thì chết tui.

Nhắc tới con Ngọc Hạnh tui càng thêm thương, thêm buồn không cầm được nước mắt. Dẫu cỏn nỡ bỏ bà nội và em để theo thằng chồng Phiên tặc về nước, dẫu nó chê tên cha mẹ đặt cho, lấy tên Mỹ mẽo chăng nữa, nhưng nó gởi tiền, gởi quà về cho tui đều đều. Chèn ơi, mỗi bức thơ gởi về Xóm Gà là nó than thở nhớ nhà, nó rống nó kêu chỗ nó ở nào là mùa đông tuyết ngập tới gối, mùa hè thì nóng như cái lò bát quái luyện linh đơn và ẩm ướt làm cho da thịt nó nhơn nhớt như bôi keo. Nó chụp hình màu gởi về. Tui dụi mắt mấy lượt, vái trời mình thấy lộn, để khi nhìn lại sẽ thấy con cháu nội cưng của mình bận áo dài. Nhưng mà không. Con nầy đâu còn là Ngọc Hạnh nữa, nó là Oăn-đa rồi mà.

° ° °

Chị Tám, tui coi bộ thời cuộc găng dữ đa chị. Ỏ ngoại ô thì bom đạm tơi bời, pháo kích ầm ĩ; ở thành thị thì biểu tình tùm lum. Ðó đây, truyền đơn bươm bướm phơi xác đầy đường, lâu lâu đạn cay ứ nghẹt từng góc phố góc đường. Con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui già cả, quê mùa bù trất chuyện thời cuộc nên cứ lo thủ phận mần ăn.

Một buổi chiều nọ, con Ngọc Hiền thỏ thẻ:

- Nội à, có một anh sinh viên trường quân y để ý thương con. Mai sau, ảnh ra làm bác sĩ, vinh diệu vô cùng..

Tui mừng quýnh, nghĩ rằng nhờ phước đức ông bà, nhờ mồ mả tổ tiên nên có người đàng hoàng tử tế đòi cưới nó. Thằng sinh viên trường quân y kia là dân Bắc kỳ di cư, mặt mày coi phải thế thanh niên, ăn nói mềm mỏng, nhỏ nhẹ, hễ mở miệng ra là thưa cụ, đóng miệng lại là kính cụ, thấy thương hết sức! Tui mới hỏi con cháu nội:

- Mầy gặp nó ở đâu? Dịp nào?

Con Ngọc Hiền cười chúm chím, cặp mắt ướt rượt coi giống mấy con đào thủ vai Phàn Lê Huê, Mộc Quế Anh, Ðoàn Hồng Ngọc...thứ gái được vua chúa, cha mẹ, bà thầy thánh mẫu nuôi cho nên vai nên vóc rồi trở mặt phủi ơn để theo trai nước cừu địch...Sao tui ghét mấy con lủng đó quá trời!
Gạn hỏi hoài tui mới rõ con cháu nội tui trời biển lắm đó chị Tám! Té ra phản chiến gì nó! Họp hành, xuống đường, dự đêm không ngủ là nó cốt tìm dịp kiếm chồng. Con nầy khôn trật đời! Tuy tui có bần dùn về kiểu kiếm chồng dị hụ đó, nhưng nghĩ tới thằng cháu rể mai sau làm bác sĩ quân y là tui mát dạ mát gan. Rồi tui đâm ra hối hận. Trước kia, khi thấy cỏn cùng lũ bạn gái dượt mấy bản phản chiến là tui tức mình tức mẩy, nóng phổi, ngứa gan. Có lần tụi nó xúm lại đờn địch rầm rĩ rồi cất giọng eo éo:

Máu ai đây?
Xác của ai?
Giòng máu này là bạn?
Thây ma nào là thù?
Ô hay chỉ là người,
Cùng tiếng nói Việt Nam...

Chu choa ơi, tụi nó hát tới hát lui, dượt đi dượt lại làm mụ già trầu nầy bắt thuộc lòng. Tui ghét quá, phang mạnh: "Máu của con nào thì con đó biết. Mỗi tháng bây biết đều đều, khéo làm bộ hỏi nhau rằng máu ai đây?" khiến tụi nó mắc cỡ, xẻn lẻn giải tán...

Thôi từ đây tui cũng nhẹ thở. Rồi đây con Ngọc Hiền sẽ làm bác sĩ phu nhơn. Tui ra sức o bế thằng hổ bôn tiểu tặc Bắc kỳ. Tui nấu suông đặc ngừ tôm quết nhuyễn đỏ ối. Tui đổ bánh xèo, nhưn bánh đầy tôm thịt, nấm rơm. Tui nấu canh chua cá bông lau với khóm, tui lựa cá rô mề để kho tộ, tui nấu cơm gạo nanh chồn, thơm ngát xóm trên lừng xóm dưới...Tiểu tướng Bắc kỳ chắc lưỡi hít hà khen ngợi làm tui mát bụng, lá gan nở bự như cái quạt, xả thân mẹo dậu kho nấu chiên xào cho thẳng.

Sau đám hỏi, con Ngọc Hiền chí thú học hành nên tốt nghiệp đại học Sư phạm, đi dạy tại một trường trung học bên Phú Lâm. Có nghề nghiệp trong tay, được một ý trung nhơn tốt mã, con cháu nội tui yêu đời lắm nên cứ chót chét véo von tối ngày. Sáng sáng nó theo bài hát mở đầu chương trình gia binh phát thanh, rống lên: "Mừng cho đôi uyên ương, sống vui vầy trăm năm hạnh phúc..." Hay quá! Chẳng những con Ngọc Hiền hát ra tiếng mà tui đây cũng hát thầm để chúc cho con Oăn-đa Ngọc Hạnh lỡ lấy thằng Ðít thì lấy luôn, đừng lạng quạng mà gặp cảnh ba chìm bảy nổi; cho con Ngọc Hiền sẽ được thằng chồng Bắc kỳ tưng tiu, không ép vợ ăn rau muống, không mời vợ xực mắm tôm mà chỉ khuyên vợ chơi năm ba chân hụi. Có vậy nếp nhà mới không bại xuội, vợ chồng mới thuận thảo đề huề.

Vậy mà gần tới ngày đám cưới, không hiểu mắc mớ gì mà con Ngọc Hiền cứ ong ỏng ca: "Giờ thì cũng yêu mà yêu với chồng..." hoặc "Thôi hết rồi, em đã về vui với người, ta xa nhau rồi" khiến tui phải la:

- Con nhà tử tế thì phải hát bản vui tươi, lời nhạc có đạo lý, lẽ đâu tối ngày mầy lại nghêu ngao mấy bài ôn dịch nghe mà xuội bại tứ chi, bủn rủn tâm trí đó!

Rồi đó tui nhận được thơ của con Oăn-đa than thở kêu nhớ nhà, chung quanh không có kẻ đồng chủng. Linh tính của tui sao mà nhạy, coi vèo con quỉ đó hết mê Ðít mê Khu rồi chị ơi! Nó muốn nhảy lăng ba vi bộ gì đây!

Thơ trước vừa nằm trong ngăn tủ kéo chưa đầy một tháng thì thơ sau tới, con Oăn-đa báo tin nó vừa kết hôn với thằng Mỹ khác, lớn tuổi hơn thằng Ðít nhưng là bác sĩ có phòng mạch. Thì ra, khi viết thơ trước, cỏn đã lôi thằng Ðít ra toà xé giấy hôn thú từ bốn tháng trước. Thằng chồng mới của nó tên là Uy-li-âm mà nó biểu kêu là Biêu cho gọn. Thiệt tui xẩu mình con cháu lớn nầy quá trời quá đất. Nó hết dại nầy sang dại khác. A thần phù lấy Mỹ là đã trét tro trét bùn lên mặt tui. Lỡ lấy rồi còn không chịu ăn đời ở kiếp với chồng lại ôm cầm sang thuyền khác làm tui thêm nhục.

Tấm hình chụp hôm con Oăn-đa Ngọc Hạnh tái hôn ngó mà ớn óc. Nó bận áo voan, ôm bó bông hường liếc qua thằng chồng mới tóc vàng như rơm khô, mắt xanh lè như mắt mèo. Chèn ơi, bởi cặp mắt với nụ cười đó mà đờn ông chịu khiếp phục để nó vo tròn bóp mép đó đa!

Hồi trước, khi thằng con trai tui dắt con vợ nó ôm bụng chửa chình ình về trình diện tui, thấy cặp mắt con đó là tui bủn rủn, bàng hoàng rồi. Gái mà có cặp mắt đó đâu có đợi đàng trai cầm trầu cầm cau cười hỏi. Nó thấy trai là xáp vô bày bát quái trận hoặc mê hồn trận để chim trai. Nó vác bụng chửa về nhà chồng dẫu không cưới hỏi mà không hề ngại ngùng, hỗ thẹn. Con Ngọc Hạnh với con Ngọc Hiền lựa nét lẵng của mẹ tụi nó mà giống. Con Ngọc Hạnh lựa hai, giống má nó cả cặp mắt lẫn nụ cười; con Ngọc Hiền đỡ hơn, chỉ giống má nó ở cặp mắt. Thiệt tình, con chị đi trước nêu toàn gương xấu nên tui chỉ còn kỳ vọng ở con em.

° ° °

Chị Tám, chèn đét ơi, ai mà dè chị em mình có ngày sống trên đất Mỹ rộng minh mông nầy? Chị ở Tây Nam, tui theo lũ cháu ở Ðông Bắc. Tui đâu có dè tụi Cộng sản nuốt trộng miền Nam rùm rụp vậy! Vợ chồng con Ngọc Hiền bắt đủ mọi đường dây để lánh nạn quỉ đỏ, đuơng thèm lo lắng cho tui. Bửa 30 tháng 4, tui ra bến tàu kiếm tụi nó, lòng chết điếng. Rồi tui bị lớp sóng người đẩy văng tuốt lên cầu tàu. Tui la, tui khóc, muốn tháo lộn trở lại mà không được. Tàu rời bến, tui hét lên chết giấc.

Khi tới đảo Gam (Guam), tui bật ngửa ra, gặp con Ngọc Hiền có mặt ở đó trong lớp người di tản. Thì ra trong lúc quính quáng, nó chợt nhớ tới thằng mèo cũ vốn là sĩ quan hải quân làm trong phòng tâm lý chiến ở căn cứ Bạch Ðằng, nên xin tháp tùng theo, nỡ bỏ chồng lại.

Nó ỏn ẻn hứa hẹn:

- Qua Mỹ, con sẽ cố sức vận động để đem chồng con qua.

Miệng nói nhỏ nhẹ mà cặp mắt ướt rượt của nó rà qua thằng hải quân! Thằng nầy cao lớn, trắng trẻo mắt sáng mày thanh, ria mép tỉa mỏn, coi bộ sáng hơn thằng cháu rể Bắc kỳ của tui. Chị Tám ơi, cặp mắt ướt rượt kia đã dắt con mẹ tụi nó đi xa, qua tuốt bên Lèo, đẩy con Ngọc Hạnh mới chưa đầy bốn năm từ vòng tay thằng Ðít tới thằng Biêu. Rồi cũng cặp mắt đó theo thời cuộc, đẩy con Ngọc Hiền vào cảnh thay chồng, quên nghĩa tào khang.

Trời ơi, ngay trên đảo, con Ngọc Hiền đã bỏ bê tui, đánh đôi đánh đọ với đủ thứ đàn ông, vầy cuộc đờn ca hát xướng. Con cháu nội tui đó, tuy giọng nó không chát không chua nhưng lên cao thì tét, xuống trầm thì nghẹt, vậy mà mơ làm ca sĩ. Nó hăm he hễ đặt chơn tới Mỹ là đi tìm thầy luyện giọng. Cũng trong thời gian hai bà cháu ở đảo, con Ngọc Hạnh lo làm giấy để rước bà nội và em về thủ đô Hoa Thịnh Ðốn.

Thiệt tình tui tưởng dù có đánh đôi đánh đọ hát xướng với bọn đờn ông, con Ngọc Hiền vẫn là của riêng của thằng hải quân nọ. Ai dè một bữa nọ, nó đem một tên mập mạp rậm râu sâu mắt tới giới thiệu:

- Thưa nội, anh Hát đây trước kia là giám đốc trung tâm băng nhạc Sơn Ca và cũng là nhạc sĩ. Ảnh muốn cưới con...

Tui bợ ngợ:

- Còn thằng chồng mầy kẹt bên nhà thì sao?

Nó cười gằn, mắt đổ hung quang:

- Hôm nay con xin thú thiệt với nội. Thằng chồng Bắc kỳ của con, trước ngày mất nước một tuần nó đã tò vè được con ông chủ tàu đánh cá ở Phú Quốc. Thằng con trai ổng cũng là sĩ quan hải quân tại đó. Chồng con chịu đi theo gia đình ông ta, bỏ con ở lại.

Nó trình cho tui coi bức thư tạ lỗi vợ của thằng cháu nội rể trời đánh kia.

Khi tên rậm râu sâu mắt đi khỏi, tôi mới hỏi:

- Còn ông quan ba hải quân thì sao đây?

Ngọc Hiền cười cười:

- Thì vẫn là bạn bè. Ảnh có vợ rồi. Vợ ảnh quốc tịch Pháp. Từ hai năm rồi bả qua Pháp để trị bịnh suy nhược thần kinh. Bả có viết thơ nói sẽ làm giấy bảo lãnh ảnh qua Pháp.

Hứ! bạn bè gì kỳ cục vậy? Từ hôm qua đảo tới lúc dẫn tên cựu giám đốc trung tâm băng nhạc tới trình diện tui, con Ngọc Hiền ở miết trong lều tên đại úy hải quân. À, thì ra nó đền ơn đáp nghĩa ân nhân và trả đũa thằng chồng bạc bẽo của nó bằng cách đó! Tui khờ khạo lắm chị Tám à. Thời cuộc dồn dập xảy tới tui trở tay không kịp. Trên đảo thiếu thốn tiện nghi, vừa nhớ nước nhớ nhà lại vừa khốn đốn thói đi ngang về tắt của con cháu đàng điếm khiến tui tê điếng, không biết tính sao nữa. Những ngày đầu tui thèm trầu cau muốn khóc, riết rồi cũng quen. Ðêm đêm dưới mái lều, tui trằn trọc. Ðời bà già đã gần 70 bỏ xứ ra đi, còn hy vọng gì? Bỏ làng quê một lần, bỏ xứ thêm một lần nữa, tấm lòng đã hao hớt hơn phân nửa. Chong mắt nhìn hai con cháu ăn ở trái luân thường đạo lý, tui không hiểu mình còn dựa điều gì mà sống đây? Ánh trăng mờ sương bên ngoài lọt kẽ lều đến chỗ tui nằm, đưa tui vào giấc chiêm bao có những cây cau phơi bẹ xạm nắng, những nọc trầu lá ửng lấp lánh dưới trăng. Từ vườn cau, vườn trầu, tui gặp lại biết bao nhiêu khuôn mặt bà con chòm xóm ở quê nhà. Tui thấy lại những chiếc lu, khạp bể liệng dưới gốc cây da che mát miếu thổ địa. Tui thấy cảnh chợ quê, duới bến chợ ghe lúa, ghe khoai, ghe mắm đậu lển nghển. Ðặc biệt nhứt là chiếc ghe chở đồ gốm như lu hũ, cà ràng, hoả lò, nồi ơ, chén dĩa...

° ° °

Con Ngọc Hạnh bảo lãnh bà nội và em về thủ đô Hoa Thạnh Ðốn. Nó dọn cho tụi tui một căn ở dưới từng trệt, lúc đầu tui cứ gọi là tầng địa huyệt. Từng đó cũng đầy đủ tiện nghi, có cầu tiêu nhà tắm, có chỗ phơi quần áo. Nó còn mua cho tui ba cái lồng chim, mỗi lồng nhốt bốn con cùng giống, véo von cho vui nhà.

Tui quên cho chị hay, bữa đón tui và con Ngọc Hiền ở sân bay, con Ngọc Hạnh có mang theo hai thằng cả chồng mới lẫn chồng cũ. Ðít, Biêu có vẻ thuận thảo lắm. Con Ngọc Hạnh đứng giữa hai thằng Mỹ, vóc nó nhỏ thó khác nào con gà tre đứng giữa hai con gà cồ. Con quỉ sống nầy bày cảnh gia đình ông Táo sao chớ! Thằng Ðít cứ xà quần theo con Ngọc Hiền, còn cỏn thì như nhồng lột lưỡi, nói thôi tía lia.

Mỗi ngày con Ngọc Hiền và tui lụm cụm leo ba bực thang để lên nhà bếp nấu ăn cho vợ chồng thằng Biêu. Nhưng tui phải làm theo chỉ thị của con Ngọc Hạnh là không được kho thịt cá vì mùi nước mắm sẽ thấm vào thảm, vào màn cửa. Thằng Biêu mê chả giò, tôm lăn bột chiên, gỏi gà, cà ri...Nó kêu tui bằng "gờ-răng-ni" (granny) coi bộ cũng tử tế. Tui tuy 68 tuổi rồi nhưng nhờ vận động nhiều nên tay chơn cứng cáp, làm bếp còn sõi lắm. Qua xứ nầy, coi bộ con Ngọc Hiền khó làm bà, bởi đó tui khuyên nó tập làm bếp. Nó nhún vai, mắt ngó lên tấm hình con ca sĩ Mỹ tóc chải như lông nhím mà cặp mắt ướt rượt. Tui sợ quá chị Tám ơi! Cái thằng cựu giám đốc hãng băng nhạc ở Cali cứ gọi điện thoại cho con Ngọc Hiền đều đều. Tui sợ con nầy bỏ chị bỏ bà qua Cali để làm ca sĩ hết sức.

Quên, tui chưa kể với chị, từ hôm có con Ngọc Hiền, thằng Ðít mỗi tuần đều lái xe cả 50 mai (miles) đến thăm con em vợ cũ. Cỏn coi bộ cũng ưa thằng cựu anh rể. Con Ngọc Hạnh thì không nói không rằng nhưng có vẻ khuyến khích hai đứa. Do đó mà con Ngọc Hiền vắng nhà hà rầm. Tui lo quá, cứ than thở hoài. Con Ngọc Hạnh cười:

- Kệ nó nội ơi! Nó lớn rồi. Ở cái xứ nầy, con cái trưởng thành là tự chọn bạn chọn bồ, chọn chồng, chọn vợ. Thằng Ðít coi cũng xứng với con Hiền. Nó tử tế, dễ thương. Nó mà cưới con Hiền thì con mừng lắm.

Tui trợn mắt:

- Nó tử tế, vậy sao mầy lộn nài bẻ ống bỏ nớ?

Nó có vẻ buồn buồn:

- Tại vì con không làm tròn bổn phận chăn gối với nó. Chuyện gối chăn lắt léo lắm. Con đành trả tự do cho nó. Con vẫn thương yêu nó như thương yêu thằng Biêu, có điều là thằng Biêu dịu dàng, kiên nhẫn, hạp với con hơn. Lại nữa...

Thôi, thôi, nó càng nói tui càng hổng hiểu gì ráo! Tui già cả đầu óc đã mù mịt, giờ càng đen đậm đen đặc như đêm ba mươi. Chuyện gối chăn giữa vợ chồng với nhau mà con nầy cũng đem ra nói. Chồng mình không ưng bụng về chuyện đó thì phải tìm cách làm đẹp lòng chồng, có lý đâu lại bỏ chồng để lấy chồng khác? Chị Hai tui hồi xưa, sau hai lần sanh nở khó khăn, liền cưới vợ bé cho chồng. Thời buổi nầy, đờn ông lấy vợ bé thì kỳ cục lắm nhưng nếu mình không làm đẹp lòng chồng là mình phạm lỗi rồi. Bỏ chồng để lấy chồng khác thì chỉ có mấy con Hạ Cơ, Tuyên Khương, Võ Chiếu mới làm nổi chuyện đó.

Nằm đêm nghĩ lại, tui thấy mình tuy vậy cũng còn có phước hơn mấy ông già bà cả di tản qua đây bị con cái bỏ bê không thèm ngó ngàng tới lui hoặc bị bỏ vô nhà dưỡng lão. Hai con Ngọc của tui sớm xa cha mẹ nên đeo dính bà nội từ nhỏ. Qua đây tụi nó có bè có lũ riêng nên không đeo theo tui như chầu xưa nữa nhưng vẫn chịu khó đưa tui đi mua trầu, mua cau, mua dầu cù-là Trung cộng, thuốc Bắc loại cao đơn huờn tán; chở tui đi giao thiệp với ông già bà cả người mình trong viện dưỡng lão. Duy có điều con Hạnh không cho tui kho cá kho thịt hay chưng mắm.

Tại nhà dưỡng lão, tui gặp một bà người Huế nói tiếng Nam sành sỏi. Nghe đâu bả là cháu nội của quan đại thần hồi trào vua Ðồng Khánh. Chồng trước của bả là hoàng thân, vốn là thày dạy của thái tử Bảo Long. Ông hoàng chết, bả tái giá với ông nhạc sĩ dòng dõi quan quyền gì đó ngoài Bắc. Hồi xưa bả là ca sĩ nổi tiếng tên là Minh Loan, sau đó nghe đâu bị suyễn nên mất giọng và chức đệ nhứt nữ danh ca của bả mới chuyền qua cô ca sĩ được thiên hạ kêu là "tiếng hát trường cữu". Giờ đây bả tuy già mà lưng thẳng như cây cau, dáng dấp thon mảnh, đi nhẹ nhàng và vùn vụt như gió. Gặp bả, tui thẹn phận mình quê mùa, chữ trét chưa đầu lá mít vậy mà bả chịu khó nghe tui kể chuyện cà kê dê ngỗng, cười từng chập. Bả kêu tui bằng chị, xưng em. Rồi đó mỗi tuần bả tự lái xe tới thăm tui, chở tui đi mua đồ, đi chơi. Nhận thấy bả thành thiệt, không làm phách, tui mến bả, làm món ngon mời bả.

Bà Minh Loan có tám đứa con, đứa nào cũng ca hay đờn giỏi nhưng không ai theo nghề ca hát hết, chỉ lo làm ăn bồi đắp gia đình. Còn con Ngọc Hiền của tui thì giọng hát ngang ngang mà sanh sứa mơ làm ca sĩ, hễ ban tổ chức buổi trình diễn văn nghệ nào mời là nó nhảy lên sân khấu liền một khi làm tui khổ tâm hết sức!

Con Ngọc Hiền đi tới đâu là có thằng Ðít phò tá tới đó. Nó săn đón kỹ quá, riết rồi con Ngọc Hiền ở miết nhà anh rể cũ. Tuy có buồn bực, tui cũng vái trời cho nó lấy thằng Ðít phứt cho rồi. Lấy Ðít là nó còn ở đây, đôi ba bữa tui còn thấy mặt nó, làm món ngon vật lạ cho nó ăn.

Ðều đều bà Minh Loan vẫn lui tới thăm viếng, an ủi tui. Bả nói tụi trẻ thời nay không giống tụi mình, thôi cứ để tụi nó sống theo ý, dẫu có vấp ngã thì tụi nó lại đứng dậy, làm lại cuộc đời dễ dàng. Mà cũng lạ, tại sao bả với tui, người học thức, kẻ quê dốt mà lại hạp nhau? Bả chở tui về nhà cậu con trai bả, đãi tui một bữa cơm có cá lụn vụn kho tiêu và canh cải nấu tôm khô ngon thần sầu. Tụi Mỹ đời nào chịu húp canh nấu tôm khô, bởi đó ở nhà con Ngọc Hạnh, tui đâu được ăn món nầy.

Chiều thứ sáu tuần đó, vợ chồng con Ngọc Hạnh đi nghỉ mát ở xa, hẹn tối chúa nhật mới về. Một bà trong viện dưỡng lão có cho tui một nửa hũ mắm sặt. Bà Minh Loan bèn đưa tui ra chợ Việt Nam mua rau thơm, giá sống, cà tím, nấm, cá hồi, tôm đông lạnh về làm món mắm và rau. Hai chị em cùng hai bà bạn già khác thưởng thức món ăn quê nhà vô cùng hả hê, khoái lạc.

Ai dè sau bữa ăn đó tui gặp nạn. Thằng Biêu vừa vô nhà là la rùm lên. Con Ngọc Hạnh hơ hải hỏi:

- Có phải nội kho mắm không? Thằng Biêu nó nói có con chuột hay con gì đó chết sình nên mùi thúi bay tùm lum đây nè....

Nghe qua tự sự, thằngBiêu đem quần áo ra ở khách sạn. Tui và con Ngọc Hạnh xịt đủ thứ dầu chanh, dầu cam, dầu sả mà mùi mắm quái ác vẫn lẩn quần trong nhà. Túng thế, tui điện thoại gọi bà Minh Loan. Bả bảo:

- Chị cứ lấy nhang thơm của chà và đốt vài nén là tẩy hết mùi. Thôi được, em có nén nhang bạch đàn đây, để em đem lại.

Mùi mắm bay đi, thằng Biêu trở về. Bà Minh Loan có gặp thằng Phiên tặc đó để giải thích. Nó đặt tay lên vai tui xin lỗi nhưng từ đó tui hết dám nghĩ tới mắm kho, mắm chưng, hết dám mơ tưởng tới thịt kho, cá kho gì nữa.

Bà Minh Loan mê bài bạc nên bả leo lên máy bay đi Cali ở với cô con gái út để lãnh tiền cấp dưỡng gấp đôi. Ở đó người Việt đông, bả sẽ mở lớp dạy ca sĩ, luyện giọng, làm một cái gì có ích hơn là đánh bạc. Hôm tiễn bả ra phi trường, mấy tay đánh bạc và tui khóc mùi. Bả hứa sẽ trở về nhưng tui biết bả về là cũng chỉ về thăm thôi rồi trở lại Cali. Nghĩ vậy mà tui ôm bả khóc ngất.

Cái ngày tui lo sợ con Ngọc Hiền bỏ bà nội đi Cali đã tới rồi, chị Tám! ThằngÐít đi trước, nó đi sau, cách nhau một tháng. Tui lấy làm lạ hỏi con Ngọc Hạnh:

- Em mầy qua bển làm vợ thằng Hát hay làm vợ thằng Ðít?

- Nó có định làm vợ ai đâu? Thằng nào cũng là bạn nó thôi nội à!

- Bạn cách nào? Tao thấy...

Ngọc Hạnh nhăn nhó

- Ối, chuyện tụi trẻ...khó nói lắm. Nội để ý làm gì cho mệt! Ít tháng nữa nội có cháu cố, xin nội cưng nó như đã từng cưng tụi con.

Cỏn có bầu rồi chị Tám à. Cái bụng nó tròn như trái dưa hấu xẻ đôi úp lên. Nghĩ tới lúc được bồng cháu cố mà tui sướng run.

° ° °

Giấc mơ ca sĩ của con Ngọc Hiền lẩm rẩm vậy mà thành đó chị Tám! Nó gửi hình, gởi tấm chương trình về cho tui và cho chị nó hà rầm. Trong hình nó nhuộm tóc vàng như trét cà-ri rồi không biết nó thoa vuốt cách nào mà từng tép tóc nó chĩa ra như lông nhím. Nó còn thoa son môi màu tím như màu cà dái dê, đánh phông mắt đỏ hoét, đeo vòng chuỗi nặng cả ký lô, mặc áo hở ngực hở vai ...coi lạ hoắc. Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa! Nó biểu hát nhạc trẻ thì phải có tên Tây tà mới hạp.

Con Ngọc Hiền có vẻ yêu đời. Nó ở chung với thằng Ðít nhưng đi lưu diễn với thằng Hát, nghe đâu được hoan nghinh lắm. Mới đây nó theo phái đoàn lưu diễn của thằng Hát trở về Hoa Thạnh Ðốn trình diễn, nghe đâu là chương trình nhạc trẻ một trăm phần trăm, tụi nhỏ ưa lắm. Tui dẫu già cả, quê dốt nhưng cũng mua giấy để coi con Giên tui hát hỏng ra sao.

Chèn ơi, chị Tám! Không hiểu mồ mả ông nội của hai con Ngọc có bị trâu dẫm, bò đạp, heo chó phóng uế hay không mà mả bị động khiến lũ cháu gái mất nết hư thân. Con Giên tuy không dám loã thể trên sân khấu nhưng nó chế ra cái áo giống như cái áo lá, để chừa một khoảng bụng lòi cái lỗ rún thật sâu đựng cỡ một muổng cà phê nước mắm. Cái quần của nó thiệt lạ đời: xì-líp không ra xì-líp, quần cụt không ra quần cụt. Quần bằng nhung đen, thêu con dơi bằng kim tuyến ngay chỗ giữa cặp đùi. Quên nữa, cái áo hở bụng của nó cũng bằng nhung đen, ôm tròn cặp vú, thêu từng vòng tròn ở chỗ lồi của vú. Mèn ơi, áo quần mà thêu kiểu đó có khác nào réo gọi khán giả rằng: "Mấy người hãy coi đây!". Ngộ hén! Ca sĩ trình diễn là để mời khán giả thưởng thức giọng hát chớ có lý đâu mời họ nhìn và tưởng tượng mấy thứ bửu bối của đờn bà nằm dưới con dơi và những vòng tròn thêu kim tuyến đó!

Con Giên vừa ỏng ẹo bước ra, lũ choai choai thôi huýt sáo, rít tu hít từng tràng dài. Tui nhục nhã biết để đâu cho hết, chị Tám! Khi hát nó ưa xoay lưng lắc lắc cái mông thiếu điều dện vô mặt khán giả. Rồi khi quay mặt lại là nó nẩy người lên, chàng hảng chê hê coi thiệt là tục tĩu, vô phép tắc. Vậy mà lũ trẻ coi bộ thích lắm, hoan nghinh như sấm. Tui và bà bạn già bỏ ra về, ở coi cho hết chương trình càng thêm nhục! Tới chỗ bán băng nhạc, tui tò mò nhìn vô. Tui bị quáng mắt hay thông manh đó chăng? Cái băng nhạc có cái nhãn in hình cô nữ ca sĩ trần truồng nguyên con là ai vậy? Ðầu óc tui đảo lộn, tui ngã quị xuống như cây chuối bị đốn. Có tiếng nói văng vẳng:

- Ca sĩ Giên Ngọc Hiền đó đa bà con. Cổ là cháu nội bà Năm Xóm Gà chớ ai!

CÙNG TRÊN
MẢNH ĐẤT ẤY

Gần sân vận động tỉnh Vĩnh Long, cách một con lộ tráng nhựa là nhà máy đèn vào đầu thập niên còn chạy bằng than đá. Cũng theo con lộ đưa về một cái gò cao có trồng một cây da trên đỉnh gò. Dưới bóng rậm rịt của cây da, người ta xây một cái miễu mái ngói tráng men đỏ lẫn men mày thúy lục, mặt tiền sơn son thếp vàng. Trong miễu, nhang thắp suốt ngày. Người ta gọi cái miễu đó là miễu Cây Da Cửa Hữu. Ở đây gần Thánh Thất Cao Ðài, chủng viện đạo Gia Tô, trường tiểu học Vĩnh Long, bịnh viện Thánh Minh. Xa hơn nữa, ném về miệt Công-xi Heo, là lò heo và đất thánh An nam.

Khoảng giữa nhà máy đèn và miễu Cây Da Cửa Hữu có một ngôi Niệm Phật Ðường. Ðó là một căn nhà ba gian hai chái, tường đúc, hàng rào bông bụp vây quanh, lại còn bọc thêm một lớp hàng rào xương rồng vòng ngoài. Chỗ đó trang nghiêm khuất tịch, do vợ một thương gia Hoa kiều lập ra để tu niệm...

Ðối diện với Niệm Phật Ðường là một cái quán mái lá, bàn gỗ, ghế đẫu. Một chiếc sạp ván đặt bên trái quán, từ cửa ngó vào. Trên sạp bày đầy các keo lọ thủy tinh, cái đựng dưa kiệu, cái đựng dưa chuột, cái đựng nước mắm, cái đựng tương ớt...Kế bên mớ keo lọ đó là rổ rau, rổ bún. Bên sạp ván có hai chiếc hỏa lò luôn rực lửa. Một chiếc đặt chảo mỡ, chiếc kia đặt cái nồi đất để nấu trà huế. Chảo, nồi đều đóng khói đen ngòm. Ðây là giang san của bà Hai Ách. Bà bán bún chả giò, bún nem, bún bì, bánh cống, gỏi cuốn, bì cuốn, nem cuốn...Từ xà nhà, phía trên vạt tre, bà treo tòn ten những xâu nem bì, nem chua, những nải chuối già. Dưới vạt tre là thùng nước đá phủ mạt cưa, các két nước xá xị, nước cam, bạc hà, li-mô-nát, la de...

Cách đây hai năm, chú Tư Nghinh, em ruột của bà Hai Ách bảo bà:

- Chị mà bày bán thêm đồ nhậu và rượư thì thể nào cũng kiếm thêm mỗi ngày trên trăm bạc chớ không chơi.

Từ đó trên sạp ván bày thêm mớ khô cá đường, khô mực và thúng hột vịt lộn lẫn hột vịt ung luộc chín vùi vào trong trấu để giữ hơi nóng.

Bà Hai Ách bán quán nhậu nầy từ hồi trào Tây đến năm 1954 là chẵn mười năm. Bà thường nhắc nhở với các bà khách từ xa tới:

- Hồi trào Tây, cái Niệm Phật Ðường kia là....

Bà hạ thấp giọng, kề miệng sát tai bà khách. Ánh mắt họ rực lên thích thú, mặt họ tái nhợt vì bị kích thích.

Bà Hai Ách từ "hồi trào Tây" đã biết cái quá khứ, cái tiền thân của Niệm Phật Ðường kia. Vì rằng trước kia, hồi Tây cai trị xứ mình, chồng bà làm tới chức "ách" trong đội lính khố xanh. Ðến thời bình minh của nền Ðệ Nhứt Cộng Hoà thì ông Ách giải ngũ. Thiên hạ không có dịp kêu ông là ông thượng sĩ Trần văn Cảnh mà vẫn tiếp tục kêu ông Hai Ách, bà Hai Ách như xưa tuy rất ít người hiểu căn nguyên của nó.

Ông Hai Ách tuổi tuy đã 60 nhưng khí huyết hãy còn phương cường lắm nên ông tò tí với bà Tám Rớt nhỏ hơn ông tới mười tuổi. Bà Hai Ách tuy mới 56 mà đã chê việc ăn nằm với chồng. Tuy vậy bà cũng biết đau, biết ghen khi thấy chồng cưng vợ bé quá là cưng. Bà thường cùng hội bắt ghen lên tận nhà bà Tám Rớt để làm dữ. Sau cùng, ông Hai Ách điều đình với vợ, xin nộp nguyên vẹn tiền hưu trí mỗi tháng để ông được tự do hú hí với bà Tám Rớt. Ông mở phòng coi chỉ tay, quẻ diệc, nham độn và bàn xâm (gồm cả xâm Ông tức đức Quan Thế Ðế Quân và xâm Bà tức đức Thiên Hậu) kiếm ăn lai rai. Bà Tám Rớt thì bán cá ngoài chợ Vãng. Bà nầy về sau lân la tới vợ lớn của chồng mình, tỏ ra mềm mỏng dễ thương. Mỗi lần thăm viếng bà đều tặng cho bà Hai Ách khi thì bánh trái, lúc thì gà vịt. Bà Hai Ách bị khớp miệng và tê liệt tay chơn bởi cách xử sự của mụ vợ bé chồng mình, nên thay vì chửi đánh tình địch, bà kêu "dì nó" ngọt xớt, tay rót nước trà mời "dì nó uống cho thấm giọng" một cách ân cần.

Bà Hai Ách nhờ việc bán quán cốc nên đỡ buồn về chồng san sẻ tình nghĩa với người đờn bà khác. Bà có cặp lỗ tai rất thính, trí nhớ rất dẻo dai... Ðám thực khách đờn bà của bà lui tới quán có sẵn cả chục câu chuyện ngồi lê đôi mách để làm quà cho nhau. Mỗi câu chuyện một khi lọt qua tai bà thì nó được trí óc bà ghi nhận kỹ. Tuy nhiên, vì tuổi tác càng ngày càng chồng chất nên sự ghi nhận của ký ức bà giảm dần đôi phần chính xác. Nhưng không lo! Chỗ nào quên hoặc nhớ mù mờ thì bà tưởng tượng thêm vài tình tiết lý thú để trám vô chỗ thiếu thốn, hở hang đó.

Cái Niệm Phật Ðường đối diện quán cốc, bà Hai Ách biết rất rõ, từ lúc nó chỉ là bãi đất trống mọc đầy cỏ mần chầu và cỏ đuôi chồn, tới lúc ông thầu khoán Thái văn Bảnh mướn xe cam nhông chở vật liệu xây cất về để dựng lên một toà nhà bánh ếch kiểu Tây, và cho tới lúc bà bang trưởng Phúc Kiến bỏ tiền ra mua lại, thỉnh tượng A Di Ðà Tam Tôn về thờ ở căn giữa.

Gặp khách ở xa ghé qua quán ăn bì, ăn chả giò, bà Hai Ách thường chỉ ngôi Niệm Phật Ðường, bảo:

- Cái Niệm Phật Ðường Bê Em Xê (BMC) đó đó hồi bốn năm về trước...

Các bà khách vừa ăn vừa giảo lỗ tai lắng nghe bà chủ quán sành đời. Bà Hai Ách có lối kể thập phần hấp dẫn vì bà biết thêm thắt câu chuyện, biết nhấn giọng hoặc bào mỏng giọng cho câu chuyện thêm phần ly kỳ. Các bà thực khách cười ré lên từng chặp khoái trá, rồi làm ra màu mắc cỡ:

- À, té ra là vậy. Thiệt tình, tụi nầy đâu có dè...

Nhưng họ chỉ được nghe bà Hai Ách kể cho nghe chuyện năm xưa chớ không hề giải nghĩa ba tiếng "Bê Em Xê" là cái gì. Nhưng chính vì chỗ không hiểu rõ đó mà óc tưởng tượng của họ hoạt động nhiều hơn, cảm thấy chúng có nhiều ý nghĩa lý thú lắm!

° ° °

Bà Phủ Long là một nhà giàu nổi tiếng ở cầu Cái Cá. Nhà bà cách chợ Vãng chừng hai cây số. Bà cũng nổi tiếng là một Phật tử thuần thành, một lòng quy y tam bảo, cố gắng giữ vẹn ngũ giới.

Vào kỳ rằm hạ nguơn năm đó, bà cùng cô con gái cưng là Năm Phụng Kiều xách dù đến quán bà Hai Ách. Hôm đó bà Hai bán đồ chay. Món chả giò chay, bì bún chay và món kiểm chay của bà thì trong trào ngoài quận ai cũng trầm trồ, ai cũng hít hà chắt lưỡi.

Năm nay tóc bà Phủ Long đã bạc như phết vôi, song sắc mặt bà hồng hào, cái nhìn của bà hãy còn sắc sảo, tròng mắt bà đưa đẩy rất mau. Bà mặc chiếc áo gấm màu dưa cải, tai đeo bông hột xoàn năm ly bự trưu trứu, cổ đeo dây chuyền mặt mề đai cẩn hột xoàn chấp chới. Cô Năm Phụng Kiều khuôn mặt phúc hậu, nước da trắng ăn phấn. Cô mặc chiếc áo nhiễu tím, quần sa-teng đen, đeo nữ trang khiêm tốn hơn mẹ: một chiếc kiềng trơn, một đôi bông tai cẩm thạch, một chiếc đồng hồ Thụy sĩ, một chiếc nhẫn hột xoàn....

Bà Phủ Long gọi sáu cuốn bì chay và sáu cuốn chả giò chay cùng bún, rau thơm, cải xà-lách, dưa leo xắt mỏng. Bà tằng hắng, bảo bà Hai Ách:

- Nè thím Hai Ách, tui nghe thiên hạ đồn thím bán đồ chay thiệt ngon, giá phải chăng nên tui hâm mộ lắm lắm. Bữa nay má con tui tới đây, trước là để thưởng thức món khéo của thím, sau nữa là để nói với thím một điều.

Bà Hai Ách hớn hở:

- Xin thỉnh bà Phủ ngồi chơi, rồi ăn uống cho đã đời, chê chán. Bà Phủ là bực giàu sang, danh giá ở tỉnh Vĩnh Long nầy, trong trào ngoài quận ai mà không biết!

Bà Phủ Long cuốn chả giò trong lá cải xà-lách đệm bún, rau thơm, dưa leo, chấm vào nước tương điểm ớt rồi nhai ngau ngáu. Bà nhìn qua Niệm Phật Ðường hỏi:

- Cái Niệm Phật Ðường kia do ai lập vậy?

Bà Hai Ách nói:

- Dạ, đó là do bà Bang Hậu lập ra. Chồng bả là bang trưởng bang Phước Kiến ở tỉnh nhà. Ổng có tiệm thuốc bắc gần Cầu Lầu. Tuy là chệt, nhưng ổng cũng là bực Ưu-bà-tắc, tu pháp môn Tịnh Ðộ tại nhà. Còn bả là người Việt, từ bốn năm nay đã xuống tóc làm vãi, làm ni, lập ngôi đạo tràng nầy để dễ bề tu hành tinh tấn.

Bà Phủ Long trợn mắt:

- Bộ Niệm Phật Ðường nầy không có tên hay sao mà thím cứ kêu là Niệm Phật Ðường Bê Em Xê rồi xúi thiên hạ kêu theo? Mà thím biết nghĩa Bê Em Xê là gì không?

Bà Hai Ách xẻn lẻn:

- Dạ thưa bà Phủ, Niệm Phật Ðường nầy không có tên, tui cứ y chang tên toà nhà cũ để kêu cho tiện.

Bà Phủ Long liếc xéo:

- Cho tiện hả? Tiện đâu tui chưa thấy, tui chỉ thấy thím bị mắc khẩu nghiệp, chừng chết sẽ sa xưống địa ngục A tỳ, bị qủy ngưu đầu mã diện cắt lưỡi.

Bà Hai Ách tái mặt:

- Kính trình bà lớn, phận tui dốt nát. Hồi xưa ở đây là nhà thổ, nhà đĩ của lính Tây có trương bảng đề chữ BMC. Tui không hiểu BMC là gì, nhưng thấy không có gì thô tục, không có phỉ báng Trời Phật thánh thần nên tui kêu đỡ vậy mà.

Bà Phủ Long hứ một cái:

- BMC tuy không phải là tiếng thô tục nhưng nó ác ôn lắm thím Ách à! - Bà quay qua cô con gái - Nè Năm, con nên giảng cho thím Hai đẫy rõ cái nghĩa BMC coi nào.

Cô Năm Phụng Kiều đỏ mặt sượng sùng:

- Thưa thím Hai, BMC là chữ viết tắt của Bordel Militaire Contrôlé, nghĩa là nhà thổ đỉ của binh sĩ, có đóng thuế cho chính phủ nhà nước bảo hộ Lang Sa. Mấy cô buôn hương bán phấn được bộ y tế của nhà nước kiểm soát kỹ để tránh bịnh...phong tình.

Cô Năm đặt tay lên ngực trái vì quả tim cô đập mạnh trong lúc giải nghĩa ba chữ BMC trời ơi đất hỡi kia. Chữ thì không tục không thanh, nhưng sự việc nằm trong chữ nghĩa đó quả thật là động trời, làm sao cô không sượng điếng cho được.

Tới phiên bà Hai Ách đổ mồ hôi hột. Mặt bà xanh dờn như bị xảo thai. Bấy lâu nay, bà cứ tưởng BMC là tên cái nhãn hiệu nào đó của Tây, cũng như BGI là tên của hãng la-de hiệu trái thơm vậy. Bà mếu máo:

- Thôi rồi, tui mắc khẩu nghiệp rồi! Dạ bẩm bà lớn, bà đừng chấp nhứt kẻ ngu si như tui đây, tội nghiệp! Ai mà dè tụi nó kêu tên tắt điên điên đảo đảo như vầy! Bẩm bà lớn, thưa cô Năm, tui vốn u mê ám chướng nhưng tui tu kỹ lắm. Trời ơi, công tui ăn chay một tháng mười ngày kể như đổ sông đổ biển rồi! Tui hùn tiền in kinh, đúc chuông kể như tiêu tùng rồi! Bà lớn ơi, xin bà thương tình vợ thằng Ách nầy, nhờ bà chỉ biểu coi tui phải làm sao hết tội bây giờ?

Bà Phủ Long cười:

- Thím làm như tui có đủ quyền thưởng phạt thiên hạ vậy. Thiệt ra tui cũng là người phàm phu như thím, dẫu tui có kim văn ngọc kệ lão thông cũng chỉ có thể làm bực thiện tri thức cho thím, chỉ biểu thím lánh đưòng cong nẻo lạc, để thẳng theo con đường Phật đã đi.

Cô Năm Phụng Kiều an ủi:

- Thôi thím chớ quá lo buồn. Chuyện đâu còn có đó. Lát nữa, má con tui qua bên Niệm Phật Ðường, nói phải quấy với am chủ, khuyên bả đặt cho cái cảnh già lam kia một cái tên rồi dựng bảng lên để thiên hạ khỏi kêu bậy kêu bạ nữa.

Bà Hai Ách nói xuôi:

- Trăm sự xin nhờ bà lớn và cô Năm.

Bà Phủ Long khuyên:

- Thím nên ăn năn sám hối, làm phước làm van thì may ra hoán cải nghiệp dữ thành nghiệp lành, biến ác khẩu thành tịnh khẩu.

Bà Phủ Long kêu thêm cho mẹ con bà mỗi người một tô bún chan với kiểm. Ngay từ giờ phút nầy bà Hai Ách coi bà Phủ Long và cô Năm Phụng Kiều là bực thiện tri thức của mình rồi. Bà bốc rau xắt ghém bỏ vào tô, trải bún rồi chan kiểm lên. Món kiểm nầy đủ bộ vận nào khoai lang, bầu, bí rợ, mướp xắt miếng cỡ ngón cẵng cái, rồi thì đậu đũa, đậu ve cắt khúc. Tất ca được nấu chín mềm trong nước cốt dừa. Hôm nay gặp bực thiện tri thức, bà Hai múc vào tô thiệt nhiều khoai lang, bí rợ và đậu trướckhi rải trên mặt tô một nhúm đậu phọng giã nhỏ.

Bà Hai Ách nhìn má con bà Phủ Long, ngẫm nghĩ. Cách đây mười năm, bà Phủ chuyên cho vay ăn lời cắt cổ, tánh tình ke re cắc rắc. Khi cất cái nhà bánh ếch ở cầu Cái Cân, bà cả gan đem kho mắm con dê chết để cho thợ mộc ăn. Có người thèo lẻo học lại, bọn thợ mộc đem bùa Lỗ Ban ra trù ếm bà. Từ đó, mấy đứa con trai bà học hành lận đận, đâm ra chơi bời phá phách. Chỉ có cô Năm Phụng Kiều là hiền lành thùy mị.

Ít lâu, bà Phủ Long bị tai nạn xe cộ. Khi chở tới nhà thương, bà được cứu sống. Trong cơn hôn mê suốt một tuần lễ, bà Phủ Long thấy lại hết quãng đời ác đức của mình, chứng kiến những hành vi bòn tro đãi trấu chẳng kể nhơn nghĩa, tội phước của mình. Khi bình phục, bà phát hùng tâm, xé bớt một mớ giấy nợ của lũ con nợ nghèo sặc máu. Dần dà bà xa lánh nghề cho vay ăn lời cắt cổ theo kiểu "xanh xít đít đui".

Cô Năm Phụng Kiều là con gái độc nhất của ông bà Phủ Long. Cô có tiền của riêng do bà dì của cô để lại. Cô cũng có bóng sắc mà cô không kiêu căng, hống hách. Càng lớn tuổi, bà Hai Ách càng ưa chuyện mai mối. Bà kiếm khắp tỉnh một trang văn nhơn hảo hớn để làm mai cho cô mà tìm hoài chưa gặp.

° ° °

Từ bên dãy nhà lá, gần Niệm Phật Ðường, bỗng có tiếng the thé cất lên:

- Nè con đĩ Ba Lỷ, con đĩ mười thành, chín huyện, bảy phủ...Hồi trào Tây, mầy ỷ thế cậy thần thằng cò-mi Bù-rầy nên mầy tác quái tác yêu, tác oai tác phước. Giờ đây, mầy mà đỏng đảnh, hỗn hào là chết với tao. Tao sẽ xé tét mầy ra từng manh từng mún từng sợi để trộn gỏi bắp cải, gỏi đu đủ nghe chưa!

Người chửi là mụ đờn bà tuổi ngoài bốn mươi, mặc quần bô áo vải đen, từ căn nhà mái lợp tôn xẹt ra. Chị ta đứng dưới mái hiên, gần cái lu nước có cái gáo cán dài gác trên miệng lu. Mặt chị ta cùng hung cực ác, mắt long mày trợn, miệng mím chặt làm cho sát khí, nộ khí bừng bừng hiện ra như lửa cháy.

Bà Hai Ách than với hai mẹ con bà Phủ Long:

- Con Chín Sa-teng và con Ba Lỷ cứ sanh giặc, cứ hỗn chiến với nhau hoài nên lân lý ở đây bị náo động luôn luôn.

Một mụ thực khách, vốn là dân trong xóm, tay chỉ chỏ, miệng ré lên:

- Kìa, chị Ba Lỷ ra kia kìa.

Ba Lỷ từ căn nhà kế bên, có tấm tôn che phía trước mái hiên bước ra. Mặt chị ta xám như chì, môi thâm, vai rút. Rõ ràng đây là bợm ghiền á phiện, đệ tử của nàng tiên nâu. Ba Lỷ xáng cho địch thủ cái nhìn sấm sét, cất giọng kháp kháp như giọng vịt xiêm để trả đủa:

- Con đĩ điếm cỏ cầu sương, con đĩ chết ương chết sình, con đĩ chằng tinh gấu ngựa, con đĩ ma dựa quỷ ốp kia! Giờ đây mầy làm bà gì mà mầy hống hách lớn lối với tao? Tao ghiền, tao đau yếu, mầy đừng tưởng tao không đủ sức đốt nhà mầy. Mầy mà chọc tao là mầy lãnh thẹo, nghe chưa?

Trước đây, Ba Lỷ có nhan sắc nên nổi danh là bực huê khôi trong giới gái chơi bời ở tỉnh Vĩnh Long nầy. Ba Lỷ là tiếng kêu trại của cái tên Marie. Tên nầy do Tây đặt cho chị, chớ thiệt ra chị tên là Bảy Ðán. Lối xóm, láng giềng chị hầu hết là dân thợ, dân mua thúng bán bưng không quen bẻ miệng gọi chị là Marie nên đọc trại là Ba Lỷ cho gọn, cho nó tiện. Cũng vậy, thằng con trai Ba Lỷ tên là Pascal cũng được họ gọi là thằng Bánh Canh, còn con Hélène được gọi là con Ốc Len. Ðôi lúc Ốc Len nghĩ mình còn may mắn lắm mới được gọi trại như vậy, chớ nếu bà con cô bác trong xóm gọi nó là con Heo Lang thì nó cũng phải ráng mà chịu.

Ba Lỷ thường khoe:

- Ba tụi nó tên là Paul Brugeille, vậy mà tụi cùng đinh trong xóm cứ gọi là ông cò-mi Bốn Bù-rầy hoài. Ðáng lẽ con tui phải có tên là Pascal Brugeille và Hélène Brugeille mới phải. Ngặt vì ổng còn kẹt bà vợ bên Tây nên không dám nhìn tụi nó. Cái con mụ ó đâm đó bị lao nặng, chích thuốc trụ sinh như chích nước lã. Chừng nào nó chết rồi thì ổng sẽ rước mẹ con tui về bên Tây. Tui sẽ cai á phiện, o bế bóng sắc lại cho ổng cưng.

Bởi Ba Lỷ chót chét, xảnh xẹ quá nên ai cũng ghét. Chín Sa-teng ở sát vách với chị ta, cứ bị chị ta chê rằng Chín ta mặc sa-teng đen, đẹp đẽ đâu không thấy, chỉ thấy Chín ta láng mướt giống như con cá trê.

Sáng hôm nay, sau bốn điếu thuốc sái, Ba Lỷ mơ màng sống lại cái thời mình còn bóng sắc chói chan, cái thưở chưa xảy ra cuộc chiến tranh Ðông Dương. Chị thiệt ra là gái bao. Chị gặp ông Bù-rầy vào năm 1934, hồi chị còn đang dan díu với ông bác vật canh nông Trần Hữu Cảnh ở Mỹ Tho. Ông nầy là đại điền chủ. Cái bằng kỹ sư tuy không giúp ông hành nghề nhưng vẫn tô điểm hoa lá cành cho thân thế ông, cho gia tộc ông.

Sống ở chốn Cái Thia hẻo lánh quê mùa, bên cạnh tình nhơn già, chị đâm ra buồn nên xin qua Vĩnh Long thăm người em gái có chồng làm thư ký toà Bố. Tại đây chị gặp ông Bù-Rầy. Ông ta là bạn quần vợt với em rể Ba Lỷ nên tới nhà anh ta luôn. Ông cò-mi Bù rầy cường tráng, hét ra lửa lại hào huê phong nhã khiến Ba Lỷ quên cảnh Cái Thia mà khi mới về ăn ở với ông bác vật Cảnh, chị ta đã trầm trồ là cảnh thơ cảnh mộng, quên luôn người tình già mà chị hằng ca ngợi là "người quân tử".

Ông cò-mi Bù-rầy mua cho Ba Lỷ cái nhà bánh ếch ở gần dãy phố bà Thông Vịnh. Ngôi nhà nằm trong mảnh vườn trồng cây ăn trái hai mẫu. Nhà có bộ sa-lông bằng gỗ cẩm lai, tủ thờ bằng cây nu khảm xà-cừ, có tủ kiếng soi mặt bằng gỗ huỳnh đàn, có hai cái divan bằng gỗ giáng hương. Còn trong tủ chè, ngoài chén dĩa, độc bình xưa, chị còn dám mua sắm thêm đồ sứ nhập cảng từ bên Pháp. Lại nữa, Ba Lỷ cũng là một trong năm tay sắm radio đầu tiên trong tỉnh. Chị cũng đã có giàn máy hát, xe mui trần. Chiều chiều, chị trang điểm phấn son lộng lẫy, diện quần áo hực hỡ, đeo hột xoàn lấp loá rồi ngồi xe mui trần để dạo mát trước khi tới Bông-ga-lô (Bungalow) giải khát. Ðây là nhà hàng khách sạn sang trọng mà chỉ có mấy ông Tây bà Ðầm và dân Việt có quốc tịch Pháp lui tới.

Lúc gặp thời, Ba Lỷ kiêu căng với bọn gái làng chơi trong tỉnh. Chị ta đã từng đía những câu kiêu căng giảm phước như sau:

- Làm đĩ cũng có năm bảy hạng chứ! Con điếm đứng đường, con đượi ở Bộc-đền (Bordel) làm sao sánh được với Trà Hoa Nữ đã từng ăn nằm với các công tước, bá tước...Bọn công chức ở toà Bố, ở sở Trường Tiền, ở bộ Thanh tra Giáo dục, bọn thầy giáo, thầy ký, thầy thông...lương tháng của họ không đủ để trả tiền xăng nhớt cho chiếc xe Citroen của tui, có đâu để trả tiền Bông-ga-lô, tiền son phấn, dầu thơm cho tui nữa?

Bởi chị ta đía quá, phách lối quá nên dân trong tỉnh nói hành nói tỏi:

- Nó là con đĩ Bù-rầy, con đĩ bù-chét, con đĩ bù mắt đó bây ơi!

Khi tên cò-mi về nước, Ba Lỷ cặp với gã chệt Trương Chấn, chủ tiệm tạp hoá Hồng kông. Tên này cũng giàu có, cũng dám chi cho chị thật sộp. Nhưng tai hoạ lại đến. Ba Lỷ bị đụng xe trên đường từ Vĩnh Long qua Cần Thơ. Trương Chấn vừa chở tới nhà thương đã tắt thở. Còn Ba Lỷ thì được chở lên nhà thương Ðồn Ðất, giải phẩu nhiều lượt. Ðể làm dịu cơn đau cho chị, họ chích thuốc có chất morphine.

Sau nầy, khi Ba Lỷ về nhà, mỗi khi trở trời trái gió hay mưa lạnh, các vết thương lại rỉ rả hành hạ chị, làm chị đau nhức khủng khiếp. Rồi có người bày chị khi đau nhức, nếu hút vài điếu á phiện là hết ngay. Bịnh ghiền "cơm đen" bắt đầu từ đó. Xe mui trần, radio hiệu Philips, giàn hát máy hiệu Columbia di tản trước, rủ theo các món ngoạn khí, rồi tới bàn ghế tủ thờ. Sau cùng, Ba Lỷ bán vườn, bán nhà và dọn về ở gần nhà thổ đĩ BMC, lúc đó đã biến thành Niệm Phật Ðường. Thằng Bánh Canh đi học đóng giày, làm bóp da. Con Ốc Len thì sớm chiều đi bán hột vịt lộn ở khu quán nhậu gần chợ cá hoặc trước rạp hát bóng Lạc Thanh. Còn Ba Lỷ đôi khi gặp ngày rằm, ngày vía, chị bưng thúng xôi nhuộm màu tím lá cẩm đi bán dạo trong xóm, tiếng rao khàn đặc như sắp đứt hơi, nghe buồn vô hạn.

Dù cái ngày bà Bù-rầy từ giã cõi đòi còn xa, nhưng Ba Lỷ vẫn cứ hy vọng. Và dù bóng sắc của chị như chiều nghiêng bóng xế, như trời đã cuối thu sửa soạn sang đông, chị vẫn cứ mơ cơn bỉ cực rồi sẽ qua, thời thới lai sẽ đến bằng sự bao che của ông Bù-rầy.

Từ sáng tinh sương cho tới bây giờ, Ba Lỷ cảm thấy mình như sống lại thời oanh liệt cũ. Dư huởng thuốc phiện lảng vảng ở khứu giác, ở tế bào, ở óc não chị từng thoáng sảng khoái kỳ diệu. Chị cất giọng the thé hát một vài bản Tây mà hồi xưa ông Bù-rầy yêu qưí của chị đã dạy chị rồi xổ một tràng tiếng Tây giòn khấm khứu.

Chín Sa-teng bấy lâu nay vốn đã ghét Ba Lỷ từ hồi chị ta mới dọn về. Bạn láng giềng đâu không thấy, chỉ thấy đây là oan gia gặp oan gia, oán tằng hội khảo. Chiều hôm qua, con khô cá sưởu Chín Sa-teng treo ở xà bếp, vậy mà khi Ba Lỷ bước qua xin trái khế về ăn mắm chưng thì con khô không cánh mà bay mất. Chó treo mèo đậy. Con khô kia treo tòn teng, thử hỏi con mèo nào phóng tới nổi? Con chó nào đủ phép thần thông từ dưới đất chồm lên ngậm con khô tha đi chỗ khác? Ðây chắc là con Ba Lỷ, con mèo cũ của ông Bù-rầy chớ ai trồng khoai đất nầy? Bởi vậy vừa khi nghe Ba Lỷ độc thoại bằng tiếng Tây, Chín Sa-teng ré lên:

- Con đĩ chó! Mầy chửi tao đó hả?

Ba Lỷ đang mơ tới lớp ông Bù-rầy đón chị ở phi trường. Chị ngã vào vòng tay ông, úp mặt lên ngực ông vừa bệu bạo khóc vừa kể lể ân tình, bỗng chị nghe tiếng chửi. Tất cả những điều mường tượng kỳ thú đều tan theo khói , biến theo sương. Ba Lỷ dụi mắt thấy mình nằm trên vạt tre. Chiếc mùng cháo lòng phủ quanh giường có vài mụn vá. Bóng đèn trứng vịt đặt trên chiếc bàn gần lu gạo rọi một khoảng sáng, tuy nhỏ nhưng cũng đủ soi cả một hiện tại lam lũ và chán chường. Chị ta rít lên:

- Chín Sa-teng à, mầy điên vừa vừa chớ! Tao ca hát, tao nhắc lại những câu ân tình của chồng tao, tại sao mầy đổ hô tao chửi mầy? Cái thứ mầy tao coi như dế như trùn, có ra cái gì đâu để tao chửi? Thay vì chửi mầy, tao dành miệng để đọc kinh đọc kệ, để nói lời ngọt bùi với hai đứa con tao, để nói những câu mặn mòi ân nghĩa với chòm xóm có hơn không?

Chín Sa-teng hầm hừ:

- Con đĩ ngựa! Phải rồi, mầy đâu thèm chửi tao! Mầy để miệng ăn món ngon vật lạ mà! Mầy để miệng đặng ăn khô cá sưởu xé nhỏ trộn khế, dưa leo, rau răm mà...

Thế là cuộc chửi lộn bắt đầu, phừng phừng lửa dậy, sùng sục nước sôi. Cả hai cùng chạy ra hàng ba, chửi nhau muốn xé họng rách phổi, cốt cho lối xóm nghe ké nghe hùn.

Quả nhiên bên quán, bà Phủ Long, bà Hai Ách, cô Năm Phụng Kiều cùng các bà thực khách bước ra. Bên nầy hai đối thủ bắt đầu bêu xấu lẫn nhau, tàn sát nhau bằng ngôn ngữ. Luôn luôn họ khởi đầu bằng ba tiếng "hồi trào Tây" để lấy trớn bươi móc cái quá khứ mà đối thủ mình kiên trì che đậy.

Chín Sa-teng giọng chua như giấm tiều, giấm xủ:

- Hồi trào Tây, mầy bảnh quá mà ! Ối bất quá cũng là thứ me Tây, thứ bán trôn cho bọn Phiên tặc, Phiên tướng, Phiên lang nên mới có cái tên Ma Ly, Mê Ly, Ba Lỷ đó đó... Mầy cậy thế cậy thần thằng Bù-rầy, bù chét, bù mắc, bù hung, úp cái hụi của bà Sáu Ngọc Lầu ở cầu Bà Ðiều, ai mà không biết!

Ba Lỷ cong cớn:

- Tao không bảnh hơn ai, nhưng bảnh hơn con Chín mặt rổ hoa mè, tóc rễ tre, miệng củ ấu, ưa bận đồ sa-teng láng mướt như con cá trê. Hồi trào Tây, chồng con đĩ thúi thây lầy lụa đó đi lính Partisan đóng ở bót Ô-nam bị Việt Minh bắn nát óc. Con đĩ đó tay dắt đứa con gái tám tuổi, tay bồng thằng con trai hai tháng trồi đầu về thành. Con đĩ đó bán mình cho thằng Ma-rốc cốc-keng tên là...

Ba Lỷ vụt quên tên chàng lính Bắc Phi nên khựng lại, cố tìm trong đáy thẳm của trí nhớ cái tên người tình cũ của Chín Sa-teng. Chín ta ngứa miệng, ré lên :

- Tên là Du-xép (Youself) nghe chưa con đĩ Long vương, con đĩ Hà bá, con đĩ Thủy quan! Tao bán mình nuôi con, tao không xấu hổ với vong hồn chồng tao. Tao là con đĩ cao thượng, biết chưa?

Ðau khổ cho Chín Sa-teng chưa! Cái thời kỳ đó là khoảng thời gian đen tối nhứt đời chị. Một thân góa bụa , chị dắt con gái, bồng con trai về thành phố, trong túi chỉ có vỏn vẹn năm đồng bạc. Chị phải năn nỉ bà chủ chứa để mẹ con chị được ở đậu trong căn nhà kho gần cầu tiêu. May mà chị gặp thằng Youself Kouari, người lính viễn chinh Maroc có lòng thương xót, cho chị chút ít tiền, trước để chị chữa dứt bịnh sốt rét kinh niên, sau để chị mua sữa hộp cho đứa con hãy còn trứng nước. Youself là trai mới lớn, mê lăn mê lóc thứ đờn bà đã có kinh nghiệm trong chuyện gối chăn. Khi đổi đi nơi khác, hắn giới thiệu Chín Sa-teng cho bạn bè mới đổi về. Tên nào dính vô Chín ta cũng đều mê man đắm đuối.

Khi góp nhóp được ít tiền làm vốn, Chín ta thôi nghề bán dâm cho khách ngoại kiều. Thời đen tối rồi cũng qua. Chị bày gánh cháo đậu bán ở trước sở Trường Tiền. Chị nấu cháo bằng gạo huyết rồng với đậu đỏ, khi chan nước cốt dừa thì ngon ơi là ngon, béo ơi là béo! Gạo huyết rồng là thứ gạo lức giã chưa sạch cám, nếu nấu dở thì nhai xảm cả lưỡi, cả miệng. Ðằng nầy Chín Sa-teng nấu cách nào không biết mà hột gạo thiệt mềm, thiệt nhừ, bỏ vô miệng là nó muốn tan ngay. Những món ăn với cháo Chín ta kho nấu cũng khéo ác ôn: dưa mắm trộn tỏi ớt dòn tan, cá bống trứng kho tiêu thấm tháp mặn mòi. Mỗi khi không có cá bống trứng để kho, chị kho cá cơm khô thay thế. Và trước khi nhắc tộ cá cơm kho khỏi bếp, Chín ta bỏ vào vài muỗng mỡ xắt hột lựu trước khi rắc tiêu cay. Nhưng khéo nhứt là món bắp chuối luộc, xé tơi trộn giấm ớt để ăn kèm với món mặn kia. Chi gia giảm giấm ớt vừa phải, trộn thêm đậu phọng, mè rang giả nhỏ, rắc thêm rau răm xắc nhuyển nên mới ngó qua, ai cũng tưởng món gỏi bắp chuối của chị là gỏi gà xé phay.

Gánh cháo đậu của Chín Sa-teng được các thực khách chiếu cố nồng nhiệt. Một tô cháo đậu rẻ hơn một tô bánh canh giò heo, dĩa cơm tấm bì, tô bún bò...Nó cũng không quá mắc hơn gói xôi, gói bắp nấu, gói bánh sùng bao nhiêu, rất vừa túi tiền của các chị mua gánh bán bưng, của các thợ thuyền trong hãng xưởng. Nhờ gánh cháo đậu mà Chín ta giã từ vĩnh viễn nghề bán phấn buôn hương, cho đứa con gái lớn vào học trường Cao Tiểu Vĩnh Long, cho đứa con trai theo người cậu họ vốn là linh mục học ở trường Thầy Dòng.

Cũng thời trào Tây, kẻ thì sung sướng hả hê khi nhắc tới, người thì trào nước mắt khi nghe ba tiếng quái ác kia.

Hai mụ háo chiến đào mồ cuốc mả tổ tiên nhau qua hai cái miệng tục tĩu, dữ dằn. Ba Lỷ hét:

- Ðồ con đĩ lanh miệng! Lanh ăn bánh canh không chừa cặn, ăn cá mặn không chừa xương, ăn lươn không chừa đầu, ăn mãn cầu không chừa vỏ, ăn c. lõ không chừa lông!

Chín Sa-teng không chịu thua:

- Sao mầy dám đem cái thứ c. lõ dơ dáy vô đây? Cái thứ đớ để chú mầy nhai, anh hai mầy gặm, cặm đầu cha mầy!

Sau đó cảm thấy chửi tục chưa đã nư giận, hai mụ lại chôn sống danh dự nhau bằng cách quật mồ dĩ vãng, bươi móc rác rến trong các góc kẹt tối tăm của quá khứ.

Bên Niệm Phật Ðường, tiếng tụng kinh Phổ Môn không sao át nổi câu chửi, lời thoá mạ.

Bà Hai Ách bên kia quán mơ màng như đứng trước một khung cảnh hồi bảy, tám năm về trước. Thuở đó, ngày nào tụi lính Lê Dương cũng ra vào tấp nập, nhứt là vào mỗi chiều thứ bảy. Bọn điếm lưu động có đóng thuế thì tới đây một thời gian ngắn, lớp nầy thay lớp khác. Ðó là thứ gái buôn hương bán phấn hạng xoàng, hạng bét, điểm tô son phấn lòe loẹt, xức dầu thơm rẻ tiền nồng nặc. Tụi nầy giỡn hớt, đú đởn với khách tìm hoa bất kể trời đất, quân thần. Lũ trẻ nít đứng ngoài vòng rào chỉ trỏ, cười nói theo họ rần rần như ong vỡ ổ, đôi lúc khiến mụ chủ chứa bực mình, phải lấy chổi chà rượt đuổi tụi nó đi chỗ khác.

Bà Hai Ách tỉnh giấc mơ về dĩ vãng để trở về thực tại có hai mụ cựu kỹ nữ đang chửi qua rủa lại làm náo động xóm làng. Xời ơi, giờ đây Tây tà đã về nước rồi, cuộc đất ô trọc nầy đã đổi thành nơi tôn nghiêm thì con Chín Sa-teng dữ tợn kia, con Ba Lỷ hỗn hào nọ phải quên quá khứ ô uế của nhau, để nơi nầy giữ trọn ý nghĩa thanh cao, siêu thoát mới là phải chớ.

Bà Hai Ách hét lớn:

- Thôi cho tao can! Không có ai là đĩ hết! Con nào nếu không là tiểu thơ, mạng phụ thì cũng là công chúa , quận nương hoặc vương phi, hoàng hậu ráo trọi. Mảnh gương trinh con nầy hãy còn trong ngọc trắng ngà thì tiết hạnh con kia như băng thanh ngọc khiết. Cả hai cùng toàn vẹn, chói rạng như nhau. Tao nói vậy, bây vừa lòng chưa?

Cô Năm Phụng Kiều ngã đầu lên vai mẹ cười hăng hắc. Bà Hai Ách nói:

- Hôm nay có bà Phủ và cô Năm không kể nắng nôi gió máy, chịu khó dời gót ngọc tới đây để thưởng thức món chay của tao, thôi thì tụi bây vị tình tao mà hưu chiến phứt cho rồi! Qua đây! Con Ba lẫn con Chín, qua đây hầu chuyện bà lớn và cô Năm, nghe bà lớn luận về kim văn ngọc kệ.

Thằng Bánh Canh từ trong nhà bước ra, măt sật sừ ngái ngủ. Thằng nầy lai nhưng chất Tây chiếm hết 80% nên coi nó bảnh trai và khôi vĩ lắm. Bánh Canh chắc lưỡi bảo bà Hai Ách :

- Rầu quá bà Hai à! Ðã là chòm xóm với nhau mà dì Chín và má con cứ ganh nhau từng cái ngáp, ghét nhau từng tiếng ho.

Minh Nguyệt, đứa con gái của Chín Sa-teng từ trong hẻm sâu bước ra, cặp mắt đỏ chạch vì khóc nãy giờ, từ đầu cuộc gấu ó giữa hai mụ đờn bà. Cô nữ sinh nầy trắng trẻo, tóc xoã vai như gái Huế, trông thiệt là đoan trang thùy mị. Minh Nguyệt năn nỉ Ba Lỷ :

- Xin dì Ba bớt giận! Bởi má con mất con khô cá sưởu nên đêm qua ngủ không ngon, sáng sớm dể nổi quạu.

Bánh Canh liếc qua Minh Ngưyệt, cặp môi đỏ của nó cười chúm chím, cặp mắt trong xanh híp lại. Ðang rầu rĩ, Minh Nguyệt cũng không bỏ lỡ cơ hội, liếc truyền ý, tuy miệng không cười hở răng nhưng cái nhếch mép làm cho sóng mắt nó ướt rượt, tình tứ. Cô Năm Phụng Kiều thấy hết, nghĩ thầm : « Hai bà mẹ hung hăng, lại sanh mấy đứa con ăn nói mềm mỏng. Ðã vậy mặt mày tụi nó rạng rỡ như kiếng soi, như trăng rằm. Hai đứa nầy xứng cặp với nhau quá chớ! »

Bánh Canh quay lại Chín Sa-teng :

- Xin dì Chín vuốt giận làm lành. Chỗ chòm xóm với nhau, mình phải nghĩ tới lúc trái gió trở trời, hoặc tới khi tắt đèn tối lửa mới là phải cho chớ.

Minh Nguyệt vỗ về mẹ :

- Má có chứng tức ngực lói hông, dẹp chưyện phiền não có hơn không? Má chớ quên hồi năm ngoái con đau ban cua, dì Ba nấu súp lê-ghim đem qua cho con ăn hoài đó.

Bà Hai Ách biểu đồng tình, mắng vãi hai đối thủ :

- Tụi bây có nghe hai đứa nhỏ nói không, bớ hai con đĩ chó? Thôi thì dầu bây có giận nhau chín xe mười giàn thì bây cũng nên bỏ qua, nên quên phứt là hơn. Hôm nay là ngày rằm, miệng mình nên ăn chay, niệm Phật, tụng kinh chớ đâu phải để chửi nhau! Cái trào Tây là cái trào xa lắc tí tè rồi! Hơi đâu mà bây bươi xấu lẫn nhau cái cái dở, cái thúi thuở đó! Qua đây! Qua đây, hai con đĩ ngựa. Tao đãi cho mỗi đứa một tô bún chả giò chay vun vĩ vèo để bây ăn cho thấm giọng rồi cùng nghe bà lớn và cô Năm đây luận chuyện nhơn nghĩa, thủy chung có phải hơn không?

Bà Phủ Long hớn hở :

- Thím Hai tính vậy cũng phải. Ngày rằm ngày vía mà mấy người cứ sân hận hoài thì sau nầy chết đi, mấy người sẽ thác sanh vô đường A-tu-la cho coi! Cũng bởi mấy nguời gọi Niệm Phật Ðường là Bê Em Xê nên cuộc đất nầy mới sanh ra đủ chuyện rắc rối tréo hèo như vầy.

Cô Năm Phụng Kiều nói với mẹ :

- Cái tỉnh Vĩnh Long mình nhỏ như cái chén chung. Tưởng ai đâu xa lạ, em Nguyệt và cậu Nghĩa (chỉ thằng Bánh Canh) nầy học chung lớp Anh văn với con do ông bà giáo sĩ đạo Tin Lành dạy đó má.

Bà Phủ Long niềm nở :

- Biểu hai đúa nhỏ qua đây ăn luôn, má bao hết cho.

Hai bà mẹ cùng Minh Nguyệt và Bánh Canh xẻn lẻn bước vô quán. Bánh Canh cứ tống tình Minh Nguyệt hoài. Phụng Kiều nghĩ thầm : "Nếu hai đứa nầy mà thành vợ chồng với nhau chắc hai bà mẹ bớt rầy lộn và hoà nhã với nhau hơn".

° ° °

Nhờ bà Phủ Long can thiệp mà Niệm Phật Ðường gần Cây Da cửa Hữu tỉnh Vĩnh Long có cái tên mới : Niệm Phật Ðường Giác Ngộ. Phải lắm, có giác ngộ thì tâm phiền não, tâm phàm phu sẽ thành tâm Phật, tâm Bồ Ðề, còn cõi uế độ, cõi địa ngục thành cõi cực lạc, cõi niết bàn. Hồi trào Tây, nơi đây là kỹ viện, dâm phòng. Con người có giác ngộ mới biến chốn yên hoa thành nơi đạo tràng, tịnh xá, cảnh già lam. Mà đã là cảnh già lam thì phải tước bỏ ba tiếng BMC đi mới phải chớ.

Nhờ chí thú học tiếng Anh mà Bánh Canh và Ốc Len, sáu năm sau được đi làm sở Mỹ. Sau đó, khi vào quân đội, Bánh Canh trở thành thông dịch viên với cấp bậc trung sĩ đồng hoá, được biệt phái về ban cố vấn Mỹ ở tiểu khu Vĩnh Long. Bánh Canh không thích cái tên Bánh Canh do lối xóm gọi hay tên Pascal Brugeille ở cửa miệng mẹ mình. Chàng thích được là trung sĩ Trần Háo Nghĩa có quốc tịch Việt Nam, kết hôn với cô giáo trường tiểu học cộng đồng Long Hồ tên là Ðỗ thị Minh Nguyệt.

Ốc Len trong khai sanh tên là Trần thị Ái Lan, cũng là kêu trại tiếng Hélène nhưng nghe văn chương huê mỹ hơn cái tên Ốc Len dị dị nừng nừng nhiều. Ái Lan kết hôn với viên kỹ sư Mỹ đúng tuổi nhưng bảnh trai tên Cary Smith. Do đó trong giấy tờ, nàng có cái tên Helen Cary Smith thay vì Hélène Brugeille như mẹ con nàng từng ao ước.

Ba mẹ con Ba Lỷ cố quên cái ông cựu cò-mi Brugeille hồi trào Tây. Bà vợ ổng dù có chết vị bịnh lao phổi nhưng ông không thèm ngó ngàng tới Ba Lỷ và hai giọt máu rơi của mình. Ông Bù-rầy tục huyền với một quả phụ đồng chủng, xô gẫy nhịp cầu vốn đã mong manh nối liền giữa ông và Ba Lỷ từ bao năm qua.

Ba Lỷ và Chín Sa-teng càng lớn tuổi càng thân thiết nhau để lo săn sóc lũ cháu. Thỉnh thoảng cả hai thì thầm với nhau cả buổi và bắt đầu bằng : « Hồi trào Tây đó đó… » nhưng trào Tây đã không còn nhóm chút lưu luyến, kích thích nào với họ nữa. Giờ đây ở Niệm Phật Ðường, lời giảng kinh của pháp sư, lời cầu kinh của bổn đạo, tiếng chuông mõ lóc cóc leng keng dần dà đem lại sự thanh tịnh trong bầu tâm cảnh của hai mụ đối thủ thuở trước.

Ba Lỷ thường khoe với bà Hai Ách :

- Con Ốc Len của tui nếu trong khai sanh nó không được làm con của ông Paul Brugeille thì trong giấy hôn thú, nó được làm vợ của ông Cary Smith.

Bà Hai Ách ngạc nhiên :

- Cà-ri Xơ-mít hả? Ðời thuở nào mà xơ-mít đem nấu cà-ri bao giờ! Cái tên gì kỳ cục quá!

Ba Lỷ cười hề hề :

- Nghe nói Cary cũng là kêu tắt. Hai đứa con trai của con Ốc Len, đứa lớn tên Tom, đứa nhỏ tên Tab.

Bà Hai Ách chận ngang :

- Chắc Tôm hay Tép gì cũng là kêu tắt chớ gì? Cái con Ốc Len đặt tên cho con cũng ngộ quá! Mẹ tên Ốc Len, con tên Tôm, tên Tép, toàn là thứ ao hồ sông rạch dùng làm món nhậu không hà!

Cả hai cùng cười giòn khấm khứu…

NGÔI NHÀ
CỦA NGƯỜI VỢ

Cặp vợ chồng Hoa và Hiền dưới mắt bà con họ hàng, dưới mắt hàng xóm láng giềng, không hể gọi là giai ngẫu được. Hôm lễ rước dâu, dì Út của Hoa nới với họ hàng :

- Chú rể không xấu trai, nhưng con người y sao mà lạt lẽo như cơm nguội! Cặp mày y ta rậm mà vàng vàng như dính đất sét, tóc y ta cũng vàng, dơ dơ lem luốc. Da y trắng bủng trắng beo như da bụng con thằn lằn, như da con cá cơm, cá khoai vậy!

Khi cô dâu về nhà chồng, lũ em chồng cùng mấy đứa em bà con cũng tùng tam tụ ngũ để nói hành nói tỏi :

- Ðờn bà gì mà hàm vuông, cằm vuông, miệng rộng! Con mẻ mà hả miệng ngáp, con cá bông bự bằng cườm tay phóng vô cũng lọt tuốt.

- Chị dâu tui tuy cao lớn, nhưng tui biết đâu là thứ đờn bà xuơng nhiều thịt ít. Mí mắt mụ nặng nề như mui xe đề-ca-bô-táp.

- Tướng cô dâu cứng ngắc cứng còng. Ðã vậy mà tiếng nói còn khao khao, kháp kháp như tiếng vịt xiêm…

Ðám cưới của Hoa và Hiền cử hành vào thời chiến nên hai bên đàng trai đàng gái cố làm đơn giản tối đa. Chàng là đại úy cảnh sát, nhà ở tận Lộc Ninh. Còn ngôi nhà từ đường của nàng ở tận làng Tân Ngãi thuộc tỉnh Vĩnh Long. Hiền làm việc tại ty cảnh sát Phú Lâm, còn Kim Hoa thì dạy học tại trường tư thục Xóm Gà. Hôm đám cưới, ông bà suôi gái từ Tân Ngãi lên Xóm Gà. Còn phần Hiền thì cha mẹ đã qua đời từ lâu nên người chú họ chàng đứng ra chủ hôn. Hiền mãi bốn năm sau mới về thăm ngôi nhà từ đường bên vợ. Còn Kim Hoa kể như chưa về thăm nhà chồng lần nào. Mãi cho tới ngày định bỏ Việt Nam vượt biên, nàng mới theo chồng về thăm Lộc Ninh, nhưng nhà đã bị dội bom sập nát, chỉ còn cái nền đất cỏ mọc rậm rịt, kèo cột đã được em gái Hiền giỡ đi.

Dù là không phải giai ngẫu, nhưng ai cấm vợ chồng Hiền yêu nhau rất mực? Hồi còn là học sinh trường Cao Tiểu Vĩnh Long, dù không ưa xi-nê, ca kịch nhưng Hiền chiều ý lũ bạn đi xem phim Giai nhơn và Ác quỷ (La Belle et La Bête) do Jean Couteau đạo diễn. Chàng hoàng tử bị mụ phù thủy trù rủa nên biến thành ác quỉ mình người mặt nửa cọp nửa sư tử. Mụ phù thủy cho biết, nếu có cô gái nào yêu chàng ta hết lòng hết dạ thì chàng ta sẽ trở lại hình người như xưa. Và quả vậy, về sau khi chàng được một cô gái đẹp, hiếu thảo, hảo tâm thương yêu, chàng đã trút bỏ đuợc lớp dung mạo xấu xí kia.

Cuốn phim đã làm Hiền suy nghĩ nhiều. Nó mang một ẩn dụ sâu sắc. Hễ mình thương yêu ai thì người đó dù xấu xí gớm ghiếc thế nào đi nữa, cũng trở thành xinh đẹp dưới mắt mình. Cái đẹp thật sự không hẳn ở nét tạo hình mà còn do sự chiêu cảm của người ngắm. Xấu với người, đẹp với ta mà lại! Bởi vậy ông bà mình mới có câu : Ra đường lượm cánh hoa rơi, hai tay nưng lấy cũ người mới ta.

Sau ngày cưới, Kim hoa rủa thầm mấy con em họ, mụ dì Út của nàng một cách tức tối. Chồng « người ta » như vậy mà họ chê lạt chê trơ. Thử đem ba, bốn tên kép hát bóng mà đổi coi nàng có thèm không! Trong đêm tân hôn, Kim Hoa đã được ngắm một tấm thân mảnh dẻ nhưng săn chắc và những điều quyến rũ mà chỉ riêng mình nàng thầm biết khiến nàng quên đi cặp chưn mày vàng vàng cùng màu tóc dơ dơ, luốc luốc của chàng.

Còn Hiền dù biết vợ mình nhiều xương ít thịt, cứng ngắc cứng còng, nhưng chàng hơn thiên hạ ở chỗ được áp lên tấm thân đó để tận hưởng làn da mát rượi của nàng. Chàng cũng như bao nhiêu người khác, thường nghe Kim Hoa cà khịa với lũ bạn đồng nghiệp, cằn nhằn bà láng giềng thiếu nợ nàng đã lâu mà không chịu trả, mắng mỏ con tới gái ăn ở bầy hầy. Ừ, giọng nàng khao khao kháp kháp thiệt đó, nhưng trong lúc đầu ấp tay gối, giọng nói ấy sao mà mềm dịu, ấm áp lạ lùng, làm cho chàng đôi lúc ứa nước mắt vì cảm xúc.

Thiệt ra, trước ngày đám cưới, Hiền và Kim Hoa chỉ mới chuyện vãn với nhau đôi ba lần. Kim Hoa năm đó 27 tuổi, lứa tuổi mà các cô gái cảm thấy mình bắt đầu lỡ thời. Còn Hiền vì ít nói, và nói ra lời gì cũng đều lạt lẽo nên bị gái chê. Chàng để ý tới ai cũng bị kẻ đó lạnh lạt, chàng đi dạm hỏi đám nào cũng không xong. Nếu không có thằng bạn chí thân của chàng vốn là anh chú bác Kim Hoa trổ tài làm mai thì chắc Hiền còn lâu mới kiếm được vợ.

Ăn ở với nhau được một mụn con gái đầu lòng sau hai năm lễ cưới. Kim Hoa đã khám phá thêm một điều kỳ diệu ở chồng. Ðâu phải Hiền ăn nói vô duyên! Chỉ tại chàng nhút nhát, có mặc cảm mình vụng về. Bởi đó chàng ưa ngậm miệng hến, khép miệng sò và ưa nói vắn tắt tiếng một, ngắn gọn đến mức cộc lốc. Nhưng với Kim Hoa, Hiền hết lòng tin cậy nên chàng không nhút nhát. Chàng còn có thể diễn tả những gì chàng suy nghĩ một cách thoải mái , trơn tru. Cái nheo mắt của chàng mới tếu và có duyên làm sao! Cái nụ cười hóm hỉnh của chàng mới dễ thương nhức nhối, tươi rạng thần sầu!

Một bận, có cô chị bạn dì và cô em của Kim Hoa lên Sài gòn mua sắm. Dĩ nhiên là Kim Hoa mời họ về nhà ở cho tới lúc họ khăn gói quả mướp trở về Vĩnh Long. Trong bửa cơm đầu tiên, Hiền hỏi Ngọc Thanh, cô chị bạn dì của vợ :

- Nghe nói ở miệt chị có chim quay, ốc gạo, xoài cát, ổi xá lỵ ngon lắm?

Ngọc Thanh vốn nghe đồn tên quan ba cảnh sát nầy ít nói, nay nghe hắn hỏi, nàng trả lời thôi liên tu bất tận. Thỉnh thoảng nàng quay qua hỏi Kim Lan, em ruột Kim Hoa để cô ả có dịp góp chuyện cho vui. Hiền yên lặng ngồi nghe, cặp mắt trơ trơ, không hưởng ứng mà cũng không tỏ vẻ thờ ơ, chán ngán. Sau cùng, Hiền bảo :

- Tôi vốn quen sống ở vùng miền Ðông đất đỏ nên không thích chốn đồng bằng lầy lội, làng nầy qua làng kia bằng tam bản, xuồng ghe…

Lời kể của khách thì hăng hái, tràn ngập hứng thú, nhưng chủ lại kết một câu chát ngắt, mặn lè, như một cái xô thô bạo làm người kể té ngửa. Câu nói của Hiền chẳng những làm Ngọc Thanh và Kim Lan cụt hứng mà còn vét nạo hết mớ tình cảm vốn ít oi, phơi phới của họ đối với chàng.

Khi không có mặt Hiền, Kim Lan mè nheo chị :

- Ðấng trượng phu của chị ăn nói có duyên quá nên không đủ tiền mà thưởng. Ai coi…

Chu choa ơi! Con mén Kim Lan tuổi tuy còn nhỏ, nó khờ chuyện gì không biết chớ về chuyện buộc tội kẻ khác, nó hay thần sầu.

Ngọc Thanh bảo Kim Hoa :

- Thằng đực của mầy nên đọc tiểu thuyết cho nhiều, đi coi hát bóng, cải lương cho thường để tập ăn, tập nói, tập cư xử với đời.

Cũng một hôm, hai ả nằm ườn xác trên gác ngủ trưa. Hiền từ Phú Lâm lái xe về, than ể mình.. Kim Hoa lấy thuốc cảm cho chồng uống. Không ngờ Ngọc Thanh, Kim Lan ở trên gác, Hiền kể cho vợ nghe đủ thứ chuyện. Chàng khen Ngọc Thanh có kiến thức rộng ở chỗ cận nhơn tình chớ không phải chỉ là thứ kiến thức thu thập ở sách vở. Hiền còn bày tỏ quan niệm sống của mình : « Ậy, ở đời mà em! Cao nhơn tắc hữu cao nhơn trị! Nhưng tới lúc cao nhơn bậc chót không còn cao nhơn nào hơn nữa thì tới phiên tiểu nhơn trị cao nhơn bậc chót đó. Con voi sợ con chuột là do lẽ đó. Còn con rít tối độc mà nhè lại sợ con gà. Gà trống gáy là nó chết đứng. Gà mái cục tác là nó bại liệt chưn cẳng hết bòn nổi… » Hoặc «Ðời mà em! Kẻ thích ăn mì, người thích ăn hủ tiếu. Có người ăn đủ món ngon vật lạ, lại quay qua thèm mắm nêm, mắm ruốc, ba khía, cá mòi… »

Khi Hiền lái xe trở lại sở thì Ngọc Thanh và Kim Lan tuột xuống gác. Ngọc Thanh tấm tắc :

- Mèn ơi, ai mà dè thằng đực của con quỉ nầy gáy lảnh lót, mà gáy hay nữa. Nãy giờ tui ở trên gác mắc tiểu cứng bọng đái mà tui đâu dám tuột xuống đi tiểu, sợ làm nó cụt hứng nên tui rán nhịn, mệt muốn xỉu vậy đó.

Kim Lan trầm trồ :

- Mới nãy ảnh có nói tới cái áo dài bằng soie Pháp màu cam của em. Ảnh khen nó hợp với màu da nâu hồng ánh nắng của em.

Ngọc Thanh nguýt :

- Bộ nó chê tao hay sao? Nó khen tao lịch duyệt, cận nhơn tình thế thái, khen đủ thứ, có con vợ nó làm chứng. Mèn ơi, ai mà dè nó ăn nói ngọt như bưởi Biên Hoà, như mía Gò Mây, như quít chợ Lách vậy chớ!

Ðó rồi Ngọc Thanh lẫn Kim lan xúm lại ca tụng Hiền. Kim Lan chót chét :

- Ảnh độ rày o bế tóc tai nên tóc ảnh dầu luốc luốc vàng vàn mà vóc lại mịn bóng. Tóc nhỏ sợi chỉ cần bóng lên một chút là đẹp ngay.

Ngọc Thanh lại véo von :

- Da thằng Hiền bắt nắng coi nâu hồng ấm áp chớ đâu có trắng bủng trắng beo như dì Út thường chê.

Kim Hoa đắc chí lắm. Nàng biết nàng có tật hay xạo đía, nói ra lời gì cũng chẳng ai thèm tin nên hôm nay, tình cờ mà nàng có cơ hội chứng tỏ rằng chồng mình có kiến thức, hoạt bát, biết ăn nói. Nàng biết thế nào khi về Vĩnh Long, hai ả Ngọc Thanh và Kim Lan sẽ đồn rùm chuyện tốt đẹp cho chồng nàng. Bởi đó, nàng thết món ngon vật lạ cho cả hai : nào là cá lóc nướng, tôm càng nướng cuộn rau sống bánh tráng, nào cá ngừ kho ớt bột ăn với bún, rau sống, nào là cá thu Phan Thiết ăn với bún, thịt luộc…

Quả thiệt, khi Ngọc Thanh và Kim Lan về Vĩnh Long chừng mười bữa là Lân, em trai Kim Hoa, gởi thơ lên Sài gòn cho biết : « Bà Ngọc Thanh lẫn mụ Kim Lan kẻ thì nổi danh đạo chê, người vốn hà tiền lời khen, kỳ nầy đi Sài gòn về khen anh Hiền đủ thứ làm má tụi mình mát lòng hởi dạ, lá gan nở bằng cái vịm, mũi nở lớn cỡ trái mận hồng đào. Họ còn khen chị lúc nầy mập đẹp, tướng tá mềm mại cao sang như mệnh phụ, đúng là tướng vượng phu ích tử. Nay mai anh Hiền lê lon, chị sẽ làm bà quan tư rồi nếu khép giao thiệp, ảnh sẽ được làm trưởng ty cảnh sát, vẻ vang vô cùng… »

Kim Hoa nhờ uống dầu gan cá thu và mỗi tuần nàng đều khỉa rượu có pha huyết gà trống đều đều nên bớt ốm, bớt khô khan. Hễ mập ra một chút là da nàng mởn ra, tươi mát hơn lên.

° ° °

Trong năm đầu tiên, Hiền me vợ ở cách ăn nói. Chàng cũng nhận thấy vợ mình có đôi mắt bụp quá, như sưng sưng và mí mắt lại dầy. Nàng đẻ một lứa con, cặp mắt đó đã hết bụp nhưng mí mắt trở nên nặng nề. Cặp mắt đó lúc nào cũng dửng dưng với mọi người. Vậy mà khi nghe chàng nói chuyện, cặp mắt đó hưởng ứng say mê nhiệt thành, sáng kỳ dị lại ươn ướt vì cảm xúc. Lúc đó, cặp mắt Kim Hoa trở nên đẹp vô ngần, nhưng khi rời chàng ra, cặp mắt đó trở về vẻ buồn ngủ thờ ơ cố hữu. Ngay trong đêm tân hôn, dưới ánh đèn có cái chụp màu ngà trên bàn đêm, cặp mắt đó sáng ngời ngợi, đắm đuối kỳ dị. Chính chúng giúp Hiền thêm can đảm để không cần phải giấu giếm chút gì trên thân thể mình trước mắt vợ. Chúng còn giúp chàng yêu tất cả mọi khuyết điểm trên thân thể vợ. Nhưng mà ngẩm cho cùng, thân thể nàng chỉ hơi cứng trong chiếc áo dài may không được khéo, chứ nó có nhiều ưu điểm mà chỉ riêng chàng biết : cặp đùi thon chắc, khúc eo thật nhỏ, bộ ngực vừa phải và xinh xắn, đôi mông tròn trĩnh. Và khuôn mặt nàng trong phút đam mê chất ngất sao mà đẹp! Nét gãy ở lưỡng quyền như bị xoá đi bởi màu hồng chói lọi trên da mặt, khuôn mặt nàng như mềm xuống, dịu dàng…

Nhưng Hiền vẫn biết vợ mình đía và xạo. Cái miệng nàng chót chét, véo von không lành da non. Trước hết, nàng khoe ông nội nàng là đốc phủ sứ, có ruộng cò bay thẳng cánh ở vùng Lộc Hoà, Phước Hậu, tỉnh Vĩnh Long. Nàng tả ngôi nhà từ đường nào là cột kèo bằng gỗ căm-xe có chạm trổ tuyệt khéo, nào là nền nhà đúc bằng đá da qui cao tới ngực và nền nhà lót gạch bông.

Bằng một giọng sôi nổi, Kim Hoa bảo :

- Ông nội em đời nào sắm bàn ghế, đi-văng bằng gổ bằng-lăng, cẩm lai, huỳnh đàn, giáng hương…Ván gổ thì kê ở dưới bếp cho tôi tớ ngủ. Bàn tủ, đi-văng ở trung đường toàn là gỗ nu nổi vân tuyệt đẹp. Còn tủ thờ nạm xa-cừ sự tích Bát Tiên Quá Hải, Tiên Nữ Tán Hoa, Hằng Nga Ly Nguyệt Ðiện. Hồi xưa, ông nội em nuôi thợ khảm, thợ chạm hằng năm trong nhà, cắt tôi tớ phục dịch họ, coi việc cơm bưng nước rót, giũ chiếu giăng mùng cho họ…

Mắt nàng lim dim khi tả đồ cổ ngoạn :

- Xời ơi, em chưa thấy ở Sài gòn có nhà bá hộ, thiên hộ, vạn hộ nào nhiều đồ cổ ngoạn như nhà ông nội em. Ổng có cái tô thời Nam Tống màu thúy lục da rạn đẹp tuyệt vời. Nhà khảo cổ Viễn Ðông đòi mua bạc triệu mà ba em đương thèm bán.

Nàng đổi giọng trầm thống :

- Khi ông nội em sắp chết, ổng có trối với ba em và mấy cô mấy chú của em, phải bảo trì đồ gia bảo, đừng cho thất lạc tẩu tán mà ở suối vàng ổng xót dạ đau lòng. Ba em nhứt nhứt tuân theo lời phụ huấn.

Ôi, niềm yêu mến mái nhà từ đường khiến Kim Hoa tả tỉ mỉ nơi chôn nhau cắt rún của mình. Nàng tả vườn sau sân trước. Nàng tả trung đường, các phòng ốc, căn bếp, thậm chí đến hàng lu khạp, hũ chóe, bồn ảng ở sân giữa. Hiền nghe vợ tả mà mê. Chàng vốn yêu đồ cổ, thích nếp nhà xưa. Kim Hoa tả hăng hái, sôi nổi đến nước mắt ràn rụa. Nàng nhắc tới cặp chậu sứ Giang Tây trồng mai chiếu thủy mà ba nàng mua hôm má nàng sinh ra nàng. Cặp mai đó đặt gần hòn non bộ ở sân trước.

Một hôm, Kim Hoa đòi chồng đưa nàng đi Lái Thiêu để thăm nhà một cô bạn gái. Nhà cô ta ở xã Hưng Ðịnh, gần Lò Chèn Chòm Sao. Trước sân nhà đặt những chậu mai tứ quý đơm bông vàng đài đỏ thắm, cánh hoa ôm cái hột đen huyền. Nhưng khi vào sân giữa, Hiền lấy làm lạ. Hàng lu khạp, hũ chóe, bồn ảng ở đây sao mà giống hàng lu khạp mà Kim Hoa đã tả ở ngôi nhà xã Tân Ngãi của nàng. Kim Hoa điềm nhiên giải thích :

- Mấy ông nhà giàu xưa đều có cách sống, các trang hoàng giống nhau.

Anh hai Kim Hoa có vợ là dân có quốc tịch Pháp, được bên vợ cho đi Tây du học. Trước khi đi, anh ta để lại cho Kim Hoa hai rương sách nhưng Hiền không hề rớ đến. Chỉ có Kim Hoa khi buồn hay mở rương tìm sách đọc, phần nhiều là loại tiểu thuyết. Một hôm nhơn ngày chúa nhật rảnh rang, Kim Hoa nhờ Hiền mở rương kiểm điểm coi có mối mọt gì xâm phạm sách vở hay không. Hiền kiểm điểm từng cuốn, thấy sách còn mới, bát ngát muì long não. Chàng bỗng thấy tận đáy rương có một quyển sách nói về đồ cổ ngoạn Tàu, có hình màu minh hoạ. Mèn ơi, đọc sách chàng mới biết cái tô Nam Tống, chiếc dĩa Càn Lon, cái độc bình Khang Hy trong sách y chang những thứ Kim Hoa đã tả trong ngôi nhà từ đường của nàng. Tuy ngờ vực nhưng Hiền không tỉện hỏi. Hơn nữa, chàng tự nhủ chẳng có gì cần thiết để biết rõ gia đình bên vợ.
Có điều làm chàng hơi bực mình là Kim Hoa từ trước có bảo hàng rào nhà nàng làm bằng cây sơn xanh, cổng trồng hai cây bằng lăng hoa tím hai bên. Vậy mà, một hôm hai vợ chồng đến chơi nhà thằng bạn chàng ở miệt cầu Băng-ky, Kim Hoa nhìn say mê cây bông giấy trổ hoa tím hồng uốn thành hình vòng cung trước cỗng. Nàng reo lên :

- Anh coi cổng bằng cây bông giấy có đẹp hay không? Cổng nhà hương hoả ba em cũng bện cây bông giấy như vậy. Nhưng xen với bông giấy, ông nội em còn trồng thêm cây huỳnh anh bông vàng. Cổng bằng cây tươi bện khung, bện vòm mới hoà hơp5 với cái đẹp của hàng rào trà xanh có thả dây tơ hồng màu vàng như mì sợi trên mặt rào cắt bằng.

Hiền mỉm cười :

- Sao trước đây em nói cổng và hàng rào nhà em bằng cây sơn xanh?

Kim Hoa quắc mắt :

- Ðời nào em nói vậy? Nhà ông nội em là nhà giàu xưa. Ðời nào ông nội em thèm sắm cái cổng và cái hàng rào như anh nói. Ký ức của anh lóng rày coi bộ lộn xộn rồi đa…

Hiền vốn làm biếng cải lẫy nên cũng bỏ qua. Nhưng dù muốn dù không, chàng cũng nhận thấy cây cối trong sân, trong vườn và đồ đạc trong ngôi nhà đó thường bị Kim Hoa biến đổi luôn. Hồi nào nàng bảo trong sân có cây điệp ta, nay nàng quả quyết trong sân có một cây mộc lan hoa trắng và cây thông thiên hoa vàng. Mới bữa trước nàng nói nhà nàng có một cái tủ đứng bằng cây cẩm lai, giờ nàng đổ hô là nhà nàng có hai tủ lót gương soi hình hột xoài.

Sự vật thì vậy. Còn nhân vật cũng bị vợ chàng thay đổi luôn.. Người em kế của cha vợ chàng hồi nào Kim Hoa bảo là hiệu trưởng trường tiểu học, giờ nàng bảo là y sĩ tốt nghiệp đại học Y khoa Hà nội mà thiên hạ gọi là y sĩ Ðông Dương. Hồi nào nàng chê dì út nàng da đen như bánh ích đường hũ, nay nàng ca tụng màu da trắng như bông bưởi của dì. Thiệt tình, hôm đám cưới, Hiền đâu chú ý tới ai, chỉ biết rằng hôm Ngọc Thanh và Kim Lan đi Sài gòn, dì có gởi tặng Kim Hoa một bức tranh Nam Hải Quan Âm để nàng thờ. Kèm theo bức tranh là giỏ ổi xá lỵ, giỏ ốc gạo và một chục nem chua.

Hiền dần dà biết vợ mình hình như có cái gì trục trặc trong đầu óc, trong ngôn ngữ đây. Nhưng mà nhằm nhò chi. Nàng yêu chồng thắm thiết, đẻ cho chàng hai đứa con gái xinh đẹp. Nàng thôi dạy học tư để làm sở Mỹ. Khi sở dẹp tiệm, nàng có đủ vốn để chạy áp-phe. Nàng hoạt động, vui tươi, dù cực nhọc cách mấy vẫn không hề nhăn nhó, ủ dột trước mặt chồng. Nàng trông coi việc tề gia nội trợ, sắp đặt đâu đó có khuôn nếp, nhà cửa sạch bóng. Nàng luôn luôn giấu giếm nỗi cực nhọc, chuyện bực mình với chồng. Nhưng Hiền biết hết. Chàng khuyên vợ nên bớt việc thì nàng cười :

- Ối, má em làm gấp năm gấp bảy em mà bả vẫn khoẻ mạnh như thường.

° ° °

Rốt cuộc Hiền cũng biết được ngôi nhà từ đường bên vợ ở xã Tân Ngãi, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long. Ðó là dịp đàm tang bà nội vợ của chàng. Kim Hoa phải đem chồng và các con về quê chịu tang. Bà nội nàng đã già khú đế, năm năm qua cứ nằm một chỗ ỉa trây đái dầm. Giờ đây, cái chết là điều giải thoát cho bà và cất đi một gánh nặng cho cả nhà. Từ thơ dại, Kim Hoa cũng chẳng mấy yêu mến bà cụ độc tài, đã từng đối xử với mẹ và thím nàng quá khắc nghiệt.

Trên chiếc xe nhà do Hiền lái, Kim Hoa kể liên tu bất tận về thời thơ ấu và mới lớn của nàng dưới mái nhà từ đường. Nàng ứa nước mắt :

- Chắc là em sẽ khóc khi nhìn lại cảnh xưa. Em sẽ thao thức khi ngủ dưới mái nhà ấy để ôn lại kỷ niệm. Thuở nhỏ nơi quê nhà, em như một nàng tiên sống hạnh phúc trong nội cỏ thiên đường. Khi em mười sáu, ai cũng trầm trồ em xinh đẹp gấp ba gấp bốn nữ tài tử Romy Schneider trong phim Sissi. Có anh chàng học sinh lớp đệ tam trường Long Hồ bỏ nhà đi tu vì gởi thư tỏ tình cho em mà em không đọc và gởi trả lại. Lại còn có thầy dạy Pháp văn đẹp như Alain Delon nhờ mai mối tới ba em. Nhưng khi ba em nhờ thầy tử vi so đôi tuổi thì thầy bảo hai tuổi xung khắc, vợ chồng không thể ăn ở bền lâu, chưa nát chiếc chiếu là én bắc nhạn nam hoặc sanh ly tử biệt. Anh coi, nhắc tới thuở còn ở quê nhà, em khóc đây nè! Làm sao em quên được thuở đó! Nhà trường có tổ chức đêm văn nghệ cuối niên học, em được chọn đóng vai Huyền Trân công chúa cho vở kịch nòng cốt. Em hát bài Nhắn người phương xa của Phạm Duy có nét giống Thái Thanh. Chắc anh không tin em hát có nét ca sĩ nhà nghề? Cũng tại em bị bịnh suyển nên giọng em mới hết trong, hết ấm…

Nàng nhắm mắt thả hồn về dĩ vãng và nói trơn như mỡ. Khi mở mắt ra, bắt gặp ánh mắt tinh quái và nụ cười hóm hỉnh của chồng, nàng háy dài :

- Em đang mềm lòng, tim em nức nở khi nhắc lại kỷ niệm đẹp cũ cho anh nghe, anh không thèm chia sẻ nỗi cảm hoài của em, còn đành đoạn tỏ ra giễu cợt em nữa. Thiệt tình căn đày kiếp đọa em mới gặp người chồng thiếu thơ mộng, trái tim dần dần hoá thành gỗ đá thì còn nước non gì!

Khi tới Tân Ngãi, vợ chồng con cái dắt díu nhau đi trên con đường đất. Gần bên ngôi đình núp bóng dưới tàn cây phượng vĩ trổ hoa đỏ ối, Hiền đứng lại trước chiếc cỗng bện bằng bông giấy hoa tím lẫn cây huỳnh anh màu vàng. Chàng nhìn vào sân. Ðúng rồi, đây đúng là nhà từ đường bên vợ chàng rồi, trong sân có trồng cây mộc lan và cây thông thiên. Kim Hoa kêu lớn :

- Ðâu phải nhà mình. Nhà mình đang có đám ma, lẽ nào vắng ngắt như vậy! Anh sao quê quá!

Hiền bảo :

- Sao hồi trước em nói cỗng nhà có bện cây bông giấy và cây huỳnh anh? Coi kìa, trong sân còn có cây mộc lan và cây thông thiên đúng lời em tả.

Kim Hoa đỏ mặt, nhưng nàng lại sừng sộ :

- Em nói như vậy hồi nào? Em ăn cơm trắng cá tươi, lẽ nào nói chuyện nước lã khuấy nên hồ như vậy! Anh sao hay đề án tử cho em hoài hà.

Hiền không cãi. Chàng nhì qua ngôi nhà có cổng và hàng rào bằng gỗ sơn xanh. Trong sân vẫn lặng ngắt. Dĩ nhiên đây cũng không phải là ngôi nhà từ đường của bên vợ chàng.

Kim Hoa đưa Hiền đến một ngôi nhà lợp ngói âm dương, vách bổ kho. Cổng trước bằng gỗ tạp, hàng rào bằng dây kẽm gai, sân trước tráng xi-măng. Tuy nhiên, khuôn viên khá rộng. Nhà năm căn, mái thấp lè tè. Nơi đó, kẻ ra người vào tấp nập. Kim Hoa bảo :

- Vào đi. Nhà mình đó đa.

° ° °

Qua bốn ngày ma chay, cả gia đình Hiền trở về Sài gòn. Hiền không thấy hàng lu khạp, hũ choé, bồn ảng và cái sân giữa như lời vợ tả. Chàng không thấy đồ cổ ngoạn với tô Nam Tống, dĩa Càn Long, độc bình Khang Hy…Chàng cũng chẳng thấy bàn ghế bằng gỗ nu, gỗ cẩm lai, gỗ giáng hương, gỗ huỳnh đàn…

Trong dịp Hiền về thăm quê vợ thì ông Huyện Ðăng, hàng xóm của gia đình vợ chàng, có mời chàng đến chơi. Nhà ông chính là ngôi nhà có cổng kết bằng cây bông giấy và cây huỳnh anh. Nơi đó, chàng tìm được loại bàn ghế bằng đủ loại danh mộc mà Kim Hoa đã tả. Cũng trong dịp này, Hiền có gặp cô cháu nội ông Huyện Ðăng trước kia học chung với Kim Hoa. Cô nầy được nhà trường chọn đón vai Huyền Trân công chúa trong khi Kim Hoa đóng vai thị nữ Bích Liễu. Chàng còn khám phá ra Kim Hoa có một cô bạn khác hát thật truyền cảm, nhái giọng Thái Thanh hát bài Nhắn người phương xa hay thần sầu. Hôm đám ma, cô ta cũng có tới phúng điếu. Thôi rồi, Hiền cưới nhằm con vợ láo thiên láo địa, láo từ Bà Rịa láo qua, láo từ Cà Mau láo tới.

Cũng dưới mái nhà bên vợ với các bộ ngựa bằng ván gõ, tủ kệ đóng bằng gỗ thao lao, Hiền được cha mẹ vợ và họ hàng bên vợ tiếp đãi ân cần. Họ đều là những người ân cần hiếu khách, chất phác khiến chàng yêu mến ngay. Ông nội vợ chàng xưa kia làm nghề thương hồ, về già dừng bước ở đây lập vườn, sắm ruộng. Kim Hoa lớn lên được cha cho đi học. Nàng đọc tiểu thuyết nhiều và mơ có ngày trở thành văn sĩ. Nàng vốn chê nếp nhà mình cổ lổ, quê mùa, chê cách sống quá lu mờ nơi sàn dã, cho nên vừa đậu tú tài là nàng dông lên Sài gòn, dạy Việt văn cho trường tư thục ở Xóm Gà.

Kim Hoa không thoả mãn nếp sống ở quê nhà. Nàng lấy hình ảnh ngôi nhà ông Huyện Ðăng để dựng nên ngôi nhà trong giấc mơ củ mình . Nàng khoắng hình ảnh cái sân giữa và hàng ba khạp hũ chóe ảng bồn của nhà cô bạn ở Lái Thiêu để ráp vào căn nhà đó. Chưa hết! Nàng còn chưng bàn ghế bằng đủ loại danh mộc nhái theo bàn ghế nhà ông Huyện. Nàng còn thuổng luôn hình ảnh đồ cổ ngoạn trong quyển sách cất dưới đáy rương để bày biện trang hoàng cho ngôi nhà thêm sang, thêm đẹp. Nhưng mà cái tôi của nàng vốn nhan sắc tầm thường, vóc mình cứng còng cứng ngắc, giọng nói kháp kháp như giọng vịt xiêm mà đặt vô ngôi nhà mộng tưởng đó thì đâu có xứng, có hạp! Bởi đó, nàng dựng lên một cô Kim Hoa thuở mới lớn mỹ miều như Romy Schneider qua hình ảnh cô cháu nội ông Huyện Ðăng, hát hay như Thái Thanh qua cô bạn gái hát bài Nhắn người phương xa

Hiền hồi tưởng lại căn nhà mộng tưởng lúc ban đầu của Kim Hoa với hàng rào và cổng bằng cây sơn xanh. Ðó là nhà ông giáo Võ Hữu Trí, gần sát nhà ông Huyện Ðăng. Có lẽ lúc đầu vợ chàng không dám mơ cao, chỉ ước được ngôi nhà cỡ nhà ông giáo Trí mà thôi. Ngôi nhà đó không có hai cây bằng lăng trước ngõ nên coi hơi trơ trẽn. Con người của Kim Hoa một khi đã rơi vào mơ ước rồi thì tội gì nàng không trồng thêm hai cây bằng lăng nữa cho thêm màu sắc rực rỡ?

Có một điều Hiền biết rằng mình không nên đem điều khám phá về ngôi nhà thừa tự để chế giễu hay mè nheo vợ. Nàng như vậy đó, một mythomane chẳng làm chết con muỗi, con rệp nào. Nàng làm áp-phe mà vẫn làm vui lòng những kẻ hùn hạp, đổi chác. Không ai rên siết nàng về tiền bạc. Không ai tròng vào đầu nàng tội lường công. Hiền còn biết thêm một điều : nếu không được gặp ai để xạo đía, nói dóc, Kim Hoa sẽ ủ rủ như ngặt mình ngặt mẩy. Nàng ngáp lớn, ngáp dài như không xua đuổi nổi cơn phiền muộn ùn ùn chất nặng xuống tâm hồn mình. Có nói những chuyện ba hoa chích choè, chuyện cà kê dê ngỗng, ba voi không đầy bát nước xáo, Kim Hoa mới bừng bừng sinh lực, khuôn mặt tươi rạng sinh khí, mắt sáng ngời ngời. Nàng nói láo, nói dóc quá nhiều nên quên hầu hết những lời đã nói, đã tuyên bố. Khi có ai nhắc lại, nàng chưng hửng, lướt cái nhìn sợ sệt và bơ ngơ báo ngáo lên người nhắc.

Những gì thuở nhỏ Kim Hoa thiếu thốn, mơ ước thì giờ đây nàng quyết lòng mua sắm cho bằng được để lấp đầy lỗ hổng trong giấc mộng của nàng. Nàng mua sắm từ từ, dù phẩm vật mua sắm không ngang giá với vật mơ ước, nhưng cũng đủ tạo căn nhà hai vợ chồng nàng thành một biệt thự xinh đẹp, trang nhã. Té ra ngôi nhà trong giấc mơ của Kim Hoa, song song với việc biến nàng thành kẻ gàn chướng, dở hơi, cũng đủ sức thắp sáng tiềm lực, đẩy nàng vào thương trưòng bằng tất cả phấn khởi, nhiệt thành hầu cố gắng thực hiện một phần mơ ước của mình.

Hiền không biết phải đối phó với cái tính ưa nói dóc của vợ mình cách nào! Nếu kéo vợ ra khỏi những giấc mơ trời ơi đất hỡi đó thì chàng tàn nhẫn quá đi. Mà dung túng, để nàng bơi lội thoả thuê trong đó thì cũng không ổn vì dù sao đó cũng là trạng thái bất bình thường của con người. Thôi thì chàng đành làm ngơ, không đá động tới những gì nàng đã kể, nhưng cũng sẽ không ngồi nghe nàng huênh hoang chuyện trên trời dưới đất nữa. Chàng sẽ không tỏ ra hưởng ứng cái tật xấu đó, và sẽ lái vợ qua những thực tế, đáng tin hơn.

Từ hôm dự tang lễ về Sài gòn, Kim Hoa cũng bắt đầu nhận thấy chồng ưa lách ra khỏi những câu chuyện sang đàng rẽ dọc của nàng. Kim Hoa cụt hứng nên tốp bớt đía dóc, bớt kể những điều lọt ra ngoài sự thật, hoặc mượn sự thậtg của người khác làm của mình. Nhưng nàng biết tìm ai thay thế Hiền để nghe nàng nói dóc đây? Người khác có kẻ tin nàng nói hơn là Hiền đã tin. Nhưng được nói dóc với chồng vẫn thú vị hơn. Nàng đâu cần Hiền phải tuyệt đối tin nàng. Nàng chỉ cần chàng bỏ bớt vẻ hững hờ, miễn cưỡng để nghe nàng nói!

Chỉ có một điều an ủi cho Kim Hoa là sau khi từ Vĩnh Long về, Hiền đã có nhiều dịp tiếp xúc với họ hàng xa gần bên vợ. Nàng biết giữa chàng và họ, sự thương mến thành thật đã nảy sinh.

° ° °

Khi Mỹ rút về nước, nghề chạy áp-phe của Kim Hoa không còn được trôi chảy như xưa. Nhưng nhờ khéo gói ghém, dè xẻn, nàng vẫn giữ cho chồng con được nếp sống hưởng thụ, sung sướng. Nàng xông xao ra chốn thương trường làm việc trối chết. Hai đứa con gái nàng đã đến tuổi dậy thì. Con Kim Hoàn 17, con Kim Xuyến 15. Nàng mua sắm cho con những bộ cánh vừa đẹp vừa sang. Không ai biết nàng bắt đầu chi nhiều thu ít, phải bán bớt một số nữ trang đi. Trước mặt Hiền, nàng luôn tuơi cười âu yếm. Nụ cười dù có tươi ratng trên cặp môi tô son hồng đào nhưng ánh mắt nàng đã kém rạng rở, chung quanh mắt có nhiều vết chân chim. Nhiều đêm, khi Hiền ngủ an lành, sảng khoái thì nàng hãy còn thao thức, lăn trở vì tính toán đủ mọi chuyện. Ðôi lúc Kim Hoa cảm thấy não cân mình bị căng thẳng tột độ, nội tâm bị dồn nén tối đa, nàng vào phòng tắm đóng chặt cửa để than khóc, kể lể, đôi khi hét lên. Có vậy nàng mới cảm thấy nhẹ nhõm, thư thái hơn để tiếp tục lăn xả vào guồng máy sinh hoạt ngoài xã hội.

Sau ngày đổi đời 30.4.75, Hiền phải đi học tập cải tạo ở Bình Tuy. Kim Hoa phải ra chợ trời kiếm sống. Nỗi gian lao, nàng cố giấu hai con gái để tụi nó yên lòng ăn học. Nhưng Kim Hoàn tinh ý, biết mẹ mình vất vả nên thường bảo :

- Thời buổi nầy, con thấy có đi học cũng chỉ tốn tiền bạc, công sức thôi. Lý lịch ngụy quân ngụy quyề như nhà mình thì đừng hòng ngóc đầu lên nổi. Chi bằng má cho con ra chợ trời với má.

Kim Xuyến phụ hoạ :

- Càng đi học càng thấy tủi nhục. Ngày mai con sẽ đi theo dấu vết tư sản mại bản cho xứng đáng là con ngụy quyền.

Kim Hoa xí một tiếng dài, nguýt hai cô con gái thiệt bén. Con nàng có nước da trắng như bông bưởi, như dừa nạo, đời nào nàng chịu cho tụi nó giãi nắng dầm mưa ở chợ trời! Sau cùng, Kim Hoa lập cho hai cô con một chái lá ở nhỏ ở đường Trương Minh Giảng cũ để tụi nó bán cà phê và chè đậu. Còn nàng vẫn mua đầu chợ bán cuối chợ.

Vào giữa năm 1977, Kim Hoa được giấy đi thăm nuôi Hiền. Nàng mua cà phê, đường cát trắng, sữa hộp, trà tàu, lạp xưỡng, thuốc men…Nàng còn làm thịt chà bông, chấy tôm trứng với thịt ba rọi khá mặn, kho gà với gừng sả để mang lên cho chồng. Trước ngày đi, nàng uốn tóc lại, tỉa chơn mày, làm móng tay nhưng không dám tô son giồi phấn và sơn móng tay. Kim Hoa muốn cho chồng lầm tưởng rằng nàng vẫn như xưa, không quá cực nhọc sau cuộc đổi đời, cốt để chàng yên lòng. Nhưng vầng trán nhăn, đôi má hóp, màu da sạm nắng của nàng làm sao che giấu được? Bao nhiêu năm chung sống với vợ, Hiền làm sao không biết nàng hay giấu giếm nỗi gian lao của mình để chồng con được vui sống? Chàng vẫn bắt gặp đôi lúc nàng vào nhà tắm khóa trái cửa lại để than khóc, gào rống. Chàng vụt hối tiếc tại sao những lúc đó chàng không đủ can đảm ôm chầm lấy vợ vuốt ve, nói lời dịu ngọt, và hơn thế nữa, chịu nghe nàng nói dóc, nói xạo để nàng lên tinh thần, phấn chấn mà quên đi bao cam go của cuộc sống?

Cũng trong vòng lao lý, hơn lúc nào hết, Hiền mới cảm thương cho thời thơ ấu của Kim Hoa. Trong chiến tranh Việt Pháp, cha và chú của Kim Hoa bỏ nhà theo Việt Minh. Cảnh đại gia đình củ ông nội nàng trước đó cũng chỉ đủ ăn nhờ sự bương chải của hai người con trai, nay chuyển qua gánh cơm tấm của mẹ nàng, gánh chè đậu của thím nàng để nuôi mười bốn miệng ăn trong nhà. Kim Hoa vừa đi học,vừa chăm lo việc nhà, xắt chuối, nấu cám cho heo ăn, tắm rửa heo, quét dọn, rửa ráy chuồng heo…Năm đầu thi trung học đệ nhứt cấp, nàng trượt vỏ chuối. Năm sau nàng trượt vỏ dưa, rồi trợt vỏ dừa. May mà không có bằng trung học đệ nhứt cấp nàng vẫn lên được đệ tam rồi đệ nhị và cuối năm thi đậu tú tài phần nhứt. Lúc đó cha và chú Kim Hoa đã có cơ sở làm ăn tương đối vững vàng, nàng ngồi lớp đệ nhứt an ổn, có đủ thời giờ gạo bài nên đậu tú tài toàn phần cuối năm đó.

Hiền lấy làm lạ là về sau, khi đã ăn nên làm ra, Kim Hoa không hề nhắc tới tuổi ấu thơ cực khổ của mình. Nàng không hãnh diện rằng sở dĩ nàng thành công ngày hôm nay là do được tôi luyện trong môi trường thanh bần hồi nhỏ. Nàng quả cảm trong mọi việc nhưng lại nhút nhát trong việc đối diện tuổi ấu thơ nghèo khổ nên Kim Hoa tìm mọi cách để khoả lấp, trốn tránh. Bởi đó nàng mới tạo một ngôi nhà trong tâm tưởng theo kiểu bứt râu cho chó cặm qua mồm con mèo và vẽ nên một nữ chủ nhân vừa xinh đẹp vừa hát hay dưới cái tên Huỳnh thị Kim Hoa.

Trong quãng đời lao tù cực nhục, hơn lúc nào hết, Hiền mới biết cảm thương, hiểu thấu nhược điểm của con người, nhất là cái tật nói dóc của vơt. Phải chi chàng kiên nhẩn một chút để nghe nàng ba hoa chích choè sau khi dự đám ma ở Tân Ngãi về. Sự tận tụy, tình yêu của Kim Hoa đối với chồng con phải được đền bù những điều qúy giá gấp trăm ngàn lần hơn việc kiên nhẫn ngồi nghe đó. Chàng đã tỏ ra sáng suốt tìm cách từ chối, không tham dự vào giấc mộng bệnh hoạn của vợ. Nhưng chàng có thật sự sáng suốt không? Hay đó chỉ là một hành động khe khắt, một thái độ ích kỷ?

Ôi, ngày được phóng thích sao mà xa thăm thẳm! Hiền không biết chàng còn được dịp nào được sum họp với Kim Hoa để gánh vác với nàng gánh nặng mưu sinh, để chia sẻ đủ mọi tâm tình, luôn cả niềm hoan hỉ về ngôi nhà mộng tưởng kia! Nếu rủi ngã gục trên quãng đời tù đày thì chàng chết mà không sao nhắm mắt nổi vì không tìm được dịp mua chuộc lỗi lầm với vợ.

Nhưng rồi vào năm 1984, Hiền được thả. Chàng trở về Xóm Gà để nhìn thấy căn nhà trống trơn, chỉ còn chiếc giường kê ở góc phòng khách, nơi Kim Hoa đang nằm lim dim ngủ gật. Nàng bịnh nhiều, thân thể gầy gò khô đét nhưng khuôn mặt vẫn rạng rỡ. Kim Hoa an ủi chồng :

- Em thấy anh về là em khoẻ liền, khỏi cần uống sâm nhung, ăn yến huyết. Em bán hết đồ đạc để có đủ 20 cây vàng cho hai đứa con mình vượt biên. Bây giờ cả hai đương ở Mỹ, vừa đi làm vừa đi học.

Lối xóm nghe Hiền về đều tới thăm. Họ khuyên chàng nên chăm sóc Kim Hoa chu đáo. Nàng nằm bịnh hơn hai tuần nay và cách đây hai hôm nàng đi tiểu ra máu. Tuy có một y sĩ quen thân cũ thuờng đến săn sóc nàng nhưng vì thuốc men khan hiếm, ông ta phải mua thuốc chợ đen. Cách đây hai hôm, ông ta bị bắt không hiểu vì lý do gì.

Hiền săn sóc vợ. Thấy chồng về, Kim Hoa vui lắm. Nàng trao cho chàng một gói vòng vàng nữ trang và một xấp bạc. Chàng lo tìm chỗ quen biết để đưa nàng vào nhà thương nhưng Kim Hoa lắc đầu :

- Em có nhắn Kim Lan, nay mai nó sẽ lên đây. Vì tưởng anh chưa về, em muốn giao tiền bạc và nữ trang còn lại để nó giữ giùm anh. Nhưng anh đã về đây rồi, vậy là may lắm. Em bị ung thư anh à. Ði nhà thương làm gì, vô ích!

Nàng nhắm mắt lại, chập chờn muốn rơi vào cơn hôn mê. Hiền ôm vợ vào lòng, khóc nức nở. Kim Hoa mở mắt :

- Trước đây hai đêm khi anh chưa về, em nằm chiêm bao thấy lại căn nhà nầy thuở vợ chồng mình mới dọn về. Nhà chỉ có bộ sa-lông và cái giường ngủ. Quần áo vẫn còn để trong va-ly, trong chiếc rương cây. Hồi năm 79, khi hai đứa con mình mới vượt biên, bẳng đi bốn tháng không có tin tức, em lo lắm. Cũng một đêm nọ, căn nhà lại hiện ra trong chiêm bao của em. Sáng ra, em được thơ tụi nó gởi từ đảo Bidong về.

Hiền cố dằn cơn nức nở :

- Căn nhà nầy hồi đó, với vợ chồng mình là một tổ ấm lý tưởng.

Kim Hoa cười rạng rỡ :

- Trong chiêm bao, nó hiện về báo điềm hên đó đa. Anh có nhận thấy như vậy không? Nếu em thấy nó một lần nữa, thế nào chúng ta cũng nhận được giấy nhập cảnh do toà lãnh sự Huê kỳ đưa tới. Nhưng thôi, em bạc phước chết trước, anh rán chờ. Nếu không thấy lại nó thì em sẽ hiện hồn về để báo cho anh tin mừng.

Những ngày sau cùng, Kim Hoa mê nhiều hơn tỉnh. Ðã đến lúc Hiền cảm thấy mình phải nói gì với vợ. Do một linh cảm bén nhạy, Hiền nghĩ rằng không nên nhắc tới căn nhà bịa dóc của vợ. Ôi, trong những năm tháng cuối đời, chắc Kim Hoa đã nghĩ nhiều về căn nhà nầy, thuở hai người mới sống chung, đắm đuối trong hạnh phúc, tình yêu. Căn nhà thuở đó chẳng có hàng rào cây trà, chẳng có cây bông giấy, huỳnh anh; chẳng có sân giữa với bồn ảng, lu khạp chứa nước mưa; chẳng có bàn ghế bằng danh mộc; cũng chẳng có đồ cổ ngoạn Khang Hy, Nam Tống…mà chỉ có hai vợ chồng son, chàng nhút nhát, ăn nói lạt lẽo, con nàng thì nhan sắc dưới mức trung bình. Vậy mà cả hai yêu nhau đắm đuối. Cuộc đời cay nghiệt đã rứt Hiền ra khỏi tổ ấm, nên căn nhà mộng tưởng cũ cũng ra khỏi đầu óc Kim Hoa, thay vào đó là hình ảnh căn nhà nầy, để nàng sống lại tuần trăng mật cũ, những năm son trẻ cũ.

Trong những lúc Kim Hoa tỉnh táo, Hiền nói miên man về căn nhà nầy, về kỷ niệm đẹp, về hạnh phúc thời son trẻ. Kim Hoa yên lặng nghe, úp mặt vào ngực chồng. Nàng chưa bao giờ nghe Hiền nói nhiều đến vậy. Những lời nói của chàng dù bị cơn hôn mê của nàng vùi lấp, nhưng dư âm giọng chàng sao mà đầm ấm làm nàng cảm thấy an ổn tuyệt vời.

Kim Hoa chết đi, thất khiếu xuất huyết dầm dề mà mặt nàng tươi rạng kỳ ảo, môi nàng nở một nụ cười đẹp lạ lùng trong giấc ngủ ngàn đời.

NGÕ LAN XÓM HUỆ

Cái ngõ hẻm đó, cái xóm đó ở miệt Phú Nhuận, gần ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh, cũng từ đường Chi Lăng quẹo vô. Ngõ hẻm Chu Mạnh Trinh có tráng nhựa, nhà cửa khang trang, lấy tên thi sĩ trứ danh làm tên hẻm. Còn ngõ hẻm nầy đã xấu xí, đường đắp đất không rải đá xanh nên gặp trời mưa là bùn lầy nhớp nháp, nhà cửa lại tạp lục: ngói có, tôn có, lợp lá cũng có luôn, nên không được đặt một cái tên huê mỹ nào cả.

Căn nhà lá nhỏ nhứt xóm là của cô Năm Mỹ Huệ cất dưới bóng tre. Cái nghèo nàn của căn nhà làm cho chủ nhơn của nó nổi tiếng nên trong xóm hè nhau đặt cho nó cái tên là xóm cô Huệ. Còn ngõ hẻm vốn xấu xí nhưng đầu xóm có tiệm may của cô Tám Quế Lan nên dân trong xóm kêu là ngõ hẻm cô Lan cho nó gọn.

Cô Tám Quế Lan năm nay thuộc loại gái già. Mới ba mươi hai tuổi mà cô đã có vẻ hơi khô rồi. Tầm vóc cô không cao không thấp, không ốm không mập, nhưng da thịt cô chẳng những xanh xao mà còn thiếu ánh sắc rạng rỡ. Nghe đâu cô giỏi bương chải, chơi ba bốn chưn hụi, lại còn có cổ phần trong cái đề-bô rượu tây ở Tân Ðịnh, cho nên tiệm may của cô đẹp đẽ, trang hoàng lịch sự: nào là tủ kiếng chưng bày hàng lụa nhập cảng, nào là sáu cái bàn máy may hiệu Singer…Có điều cô kén thợ may dữ lắm: phải may cho khéo, đừng se sua chưng diện, đừng có bóng sắc. Bởi cô là gái già, cô tự biết mình không xấu nhưng không đẹp. Cô sợ mình bị chìm lĩm giữa đám thợ may trẻ đẹp, nên ả nào mặt mày sáng sủa là cô nơm nớp, sợ vẩn vơ, còn ả nào tỉa chơn mày, giồi phấn thoa son là cô ghét cay ghét đắng.

Cô Năm Mỹ Huệ tuy ở chái lá tùm hụp, nhưng khi bước ra ngoài là ăn mặc tươm tất, quần hàng áo lụa, áo ni-lông trong vắt lồng gương xú-cheng, da thịt. Cô cũng đeo vài món nữ trang bằng vàng. Bởi nhà cô nghèo nàn tiều tụy nên chòm xóm không dám chắc đó là vàng thiệt, nhưng cũng bởi quần áo cô choáng lộn nên cũng không ai dám đề quyết đó là đồ giả. Vả lại tuy không sắc sảo mặn mòi nhưng cô khá dễ coi, mặt mũi sáng sủa, da trắng hồng, mắt hơi lẵng nên khi cô nheo liếc, nguýt háy coi có duyên ớn.

Ðờn bà con gái trong xóm, từ mụ nái xề cam phận nội trợ cho đến mấy bà công chức, buôn bán, mấy cô nữ sinh, ai ai cũng xoàng xoàng về phương diện bóng sắc, cho nên dẫu cô Năm Mỹ Huệ ở nhà lá vách ván vừa nhỏ vừa mỏng như cái hộp quẹt, tấm chơn dung hài hoà của cô chói hẵn lên. Nghe nói cô làm ngành Công Dân vụ. Ngành nầy về sau cáo chung theo nền Ðệ Nhứt Cộng Hoà, theo sự tàn lụi của dòng họ Ngô Ðình. Số lương công chức của cô quá khiêm tốn, nên dân trong xóm cứ thắc mắc rằng tiền đâu mà cô sắm những bộ vi kiếng hực hỡ choáng lộn dường ấy?

Người xốn mắt nhứt trước cái mã sang trọng của cô Năm Mỹ Huệ là cô Tám Quế Lan. Bởi đờn ông lãnh đạm với cô nên ghét con lành con lũng nào được họ xun xoe ve vãn, lãng đãng tới lui. Cô biết mình không thể so bì với cô Năm về dung quang, bóng sắc nên cô hạ địch thủ bằng cách đeo nữ trang bằng vàng nhận cẩm thạch, hột xoàn choáng lộn. Chưa đã nư, cô Tám Quế Lan phun nọc độc lai láng vô đối thủ:

- Nghèo mà ham! Tiền đâu mà con mặt mâm đó mua sắm quần hàng áo lụa? Thứ đó là thứ đưa người cửa trước rước người cửa sau, ôm đào ấp mận mấy thằng già dê dịch vật chớ mần ăn gì nó! Ngày tối nó dến y quang rỡ ràng lộng lạc để rù quến phồn mèo mả gà đồng, để chà lết quết xảm ván giường tụi nó, rồi nằm ngửa cho tụi nó chơi.

“Con mặt mâm” đây là cô Năm Mỹ Huệ. Cô Năm có khuôn mặt trái soan, vậy mà cô Tám đổ hô cô có khuôn mặt hum húp như trái tim heo và chần vần như cái mâm để đơm xôi, đơm bánh dừa, bánh tét.

Lời một đồn mười, lời nói của cô Tám Quế Lan chỉ chừng vài ngày là lọt vào tai cô Năm Mỹ Huệ. Cô bèn rải nấm độc tùm lum vào kẻ địch để trả đủa:

- Tui là con gái nhà lành. Tía tui trước kia là thầy giáo dạy lớp nhứt. Ông nội tui làm tới chức Hương chánh. Tía tui nhà cửa xuê xoang, trâư bò bộn bàng, bạc vàng ăm ắp. Vậy mà con đĩ cá lìm kìm kia dám phao vu chuyện động trời cho tui thì có ngày khẩu nghiệp của nó sẽ hiện hành, ác quả của nó sẽ báo ứng. Nó ganh ghét tui đó bà con. Bởi tui có cái bề ngoài xập xệ nên nó tưởng tui nghèo mạt rệp phải đi đánh đĩ để có tiền ăn diện. Nó lầm, lầm to lạc lớn rồi. Nó thử lấy chồng đi, tui sẽ xuất tiền ra mua chồng nó một cái rụp chớ chẳng thèm dùng bóng sắc để rù quến thằng chả làm chi! Thứ đồ nhí nhảnh, ngày tối cứ dến cẩm thạch hột xoàn để che lấp cái mặt Chung Vô Dỉệm của nó, ai dè của đi đàng của, người đi đàng người , dạ xoa rốt cuộc cũng huờn dạ xoa!

“Con đĩ cá lìm kìm” đây là cô Tám Quế Lan. Cô Tám không có cái mỏ nhọn như con cá lìm kìm, cô chỉ hơi hô một chút mà người miền Nam gọi là hô duyên.. Người đờn bà nào hơi hô duyên thường có cặp môi đầy đặn và gợi cảm, rất dễ tô son. Nhưng cô Năm Mỹ Huệ thì lại hơi móm, tức móm duyên, nên nét mỉm cười của cô rất ưa nhìn. Bởi cô hơi móm nên gặp người nào không hô không móm cô đã cảm thấy mỏ đương sự nhọn rồi, huống hồ cô Tám Quế Lan hơi hô. Cho nên dưới cặp mắt oán ghét của cô, cái hô duyên của cô Tám trở thành cái mỏ nhọn và dài dọc như mỏ con cá lìm kìm.

Ghét nhau, nói xấu nhau, gặp mặt nhau giả bộ không biết nhau, nhưng cả hai có một điểm chung: ưa mượn quãng đời dĩ vãng để trám vào đó những mộng ước khó thực hiện của mình.

Tối hôm đó trời mưa như trút. Khu Phú Nhuận, nhứt là ở khúc ngã tư cho tới khúc đụng đường Nguyễn Huệ vắng ngắt và tối om om. Cô Tám đóng cửa từ lúc bảy giờ tối rồi rút lên lầu. Cô mở từng ngăn gà-mên bày cơm canh ra ăn. Thức ăn đã nguội, cơn mệt rã rời, tâm hồn cô đơn làm cô no ngang xương. Cô nhai cơm, nhai thức ăn như nhai giấu xúc, nhai sỏi sạn. Nhưng cô phải ăn cho hết để rửa gà-mên, chén dĩa trước khi đi tắm.

Nước mát làm cô tỉnh táo, tinh thần thêm khỏe khoắn. Cô trở lại căn phòng dành riêng cho mình ở trên lầu. Nơi đây vừa là phòng đọc sách, vừa là phòng ngủ của cô. Trên tường treo đầy tranh ảnh. Hai tủ kiếng đầy nhóc sách bìa da mạ chữ vàng. Chiếc giường cô thuộc loại giường đôi bằng đồng có trải nệm, drap trắng nõn nà. Tuy còn độc thân, cô vẫn sắm giường rộng. Hễ có chồng thì cô chỉ cần sắm thêm chiếc gối nữa là đủ.

Tối hôm nay, cô Tám Quế Lan làm biếng tính sổ sách, lại không hứng đọc tiểu thuyết. Cô nằm dài trên giường, nghĩ ngợi lan man. Mấy hôm rày coi bộ mình cảm nhiều tên rồi đó. Sáng hôm nay xách tô ra hẻm Chu Mạnh Trinh mua cháo huyết, thằng chệt mập ể mình hay sao đó để thằng chệt mới nầy bán thay. Thằng nầy mắt xếch sáng long lanh làm mình nghĩ tới mắt chàng Lữ Bố, mắt Triệu Tử Long. Nó lưng dài, vai rộng, thịt ngực thì nở, thịt hông thì teo, chệt gì mà nạc nhiều mỡ ít, da trắng phau phau làm mình xúc động bồi hồi. Hôm qua, tên thợ ống nước với nụ cười điểm lúm đồng tiền cũng đã làm cho trái tim mình đập đùng đùng như tiếng trống múa lân. Tuần trước tui đã cảm lăn cảm lóc thầy ký Banh lúc thẩy cởi xe Sachs đến thăm con em gái thẩy,.. Tui sẽ còn cảm dài dài nhiều tên con trai nữa. Tên nào coi có duyên, ăn nói mềm mỏng là tui cảm liền. Cảm thầm lén, mê vụng trộm chẳng chết con rệp, con muỗi nào, dại gì mà tui không mê, không cảm cho đời thêm nên thơ, mặn mòi? Nhưng nếu lấy chồng, tui sẽ lựa kỹ, sẽ chọn thầy giáo, thầy ký, thầy thông, thầy lục sự. Nếu gặp kẻ lên chức ông như ông đốc học, ông chủ sự, ông giám đốc thì phải đừng già quắt quéo, đừng mập bệu, dẫu có goá vợ nhưng đừng có con riêng là tui sẽ cho vô vòng tuyển chọn…

Chu choa ơi, giờ phút nầy sao tui nhớ hết cả ba vầy nè! Tui nhớ lúc thằng chệt múc cho tui một tô cháo thiệt đầy, huyết từng miếng lớn lổn ngổn chiếm gần hết phần cháo. Ðã vậy mà nó còn rắc vô tô giò-chéo-quẩy xắt khoanh, gừng xắt chỉ, ớt xắt nhuyển thứ nào cũng nhiều. Nó còn nhìn tui thiệt sâu, thiệt tình rồi nói xạo: “Ngộ thấy nị giống chị của ngộ nên ngộ vừa bán vừa cho. Mai nị mua cháo ủng hộ ngộ nữa nghen. Bữa nay ngộ bán một cho một nửa, ngày mai ngộ bán một cho một”. Còn tên thợ ống nước nữa chi, ba tháng trước nó tới sửa ống nước, tui mời nó một chai la-de vậy mà nó còn nhớ, nay trở lại tặng tui hai trái ổi mập bự, cắn ngập cả răng. Và chèn ơi, thầy ký Banh tới tiệm may thăm con em thẩy mà xả máy đía nổ ro ro, nổ dòn tan. Thẩy hỏi thăm tui đủ thứ, nào là tui có thích du lịch không, đọc tiểu thuyết thì lựa tác phẩm của ai…Tên nầy coi vậy mà xạo, nhưng xạo nhè nhẹ hương hoa mận hoa cau, xạo thoang thoảng hơi thu, man mác sáo diều, dìu dịu nắng xuân…

Những nhơn vật trên, qua cửa miệng cô Tám Quế Lan sẽ trở thành khác hẳn. Mặt mũi, vóc dáng ông chủ sự phòng thương mãi ưa mời cô đi ăn cháo bào ngư ở Chợ Lớn sao y chang mình mẩy, chơn dung tên chệt bán cháo huyết. Còn ông giáo sư dạy Toán ở trường trung học ngoài Huế từ lâu trao đổi thư từ với cô, vừa tới thăm, tặng cô nào bưởi thanh trà, nào nhãn sông Hương, quýt Hương cần…thì từa tựa gã thợ ống nước, chỉ khác là ổng mặc com-lê chới không dến bộ đồ bê bết dầu mỡ như gã thợ kia. Ông giáo sư vừa tặng quà cô xong là cầu hôn liền, nhưng cô sợ nếu lấy chồng xứ Huế thì phải chịu lạ cảnh lạ người nên đành từ chối. Còn thầy ký Banh thì chỉ bị sửa tên là thầy ký Bạch cho bớt quê, cho con Chín Nhung em thẩy lỡ có nghe được khỏi eo sèo.. Nhơn vật nầy cũng mê cô đắm đuối, qùy dưới chân cô tỏ tình, nói vạn lời yêu đương tha thiết…

Cũng đêm đó, dưới mái lá cô Năm Mỹ Huệ cứ trằn trọc. Ðêm mưa lành lạnh, cô mới thấm thía hoàn cảnh lắm mối tối nằm không của mình. Cô nguyền rủa cái nghèo, vì muốn có quần áo tươm tất, cô phải ăn mắm mút dòi. Sở dĩ cô Năm có nhiều quần áo đẹp là nhờ bà chị ruột có tiệm may bên Khánh Hội. Bà nầy có cái tật là hễ mặc áo đẹp vài lần là đâm chán, liền tống khứ cho cô. Hai chị em vóc vạc tròm trèm nhau, quần áo bà chị dạt ra phần nhiều còn mới, cô chỉ cần sửa lại chút đỉnh là có bộ cánh sang trọng. Lại nữa, vào dịp sanh nhựt hay tết, bà chị thường tặng cô một xấp hàng hay xấp lụa để làm quà. Cô Năm còn ưa bắt địa lũ bạn trai để được họ tặng hàng lụa. Cô chỉ cần đến tiệm của chị mình là có áo đẹp, khỏi phải trả tiền công. Vả lại chị cô cũng bù sớt, giúp đở tiền bạc cho cô đều đều. Ngặt chị ta có máu ghen thiệt đậm, thiệt nồng. Chị ta sợ kêu cô về ở chung thì thằng chồng hảo ngọt của chị sẽ đánh hoa cả cụm. Nó dám dùng lơi đường mật rù quến cô Năm rồi bơm cho cô một cái bầu bự như cái trống. Tới lúc nếp đã thành xôi, thịt heo đã thành chả lụa, bột măng thít thành bánh bột lọc rồi thì chị gỡ sao cho ra, tính sao cho gọn? Bởi vậy chị bắt cô Năm phải ở riêng. Chị giàu chị ở phố lầu, có cửa trông ra đại lộ. Em nghèo em chui rúc trong mái lá thẹn thùng dưới bóng tre cuối xóm.

Mắc mớ chi đêm nay tui trằn trọc như vầy? Có phải tại tui uống ly cà phê sữa hồi trưa chăng? Tháng nầy tui dùng bốn phần năm tháng lương để sắm cái áo nhung trơn màu lam ngọc, tui phải thắt lưng buộc bụng để bớt tiền ăn, tiền xe pháo. May mà chị dâu tui ở Tầm Vu lên, chèn nhét cho tui được ba trăm bạc, để tui có tiền đi xe buýt. Trọn hai tuần nay, tui hết ăn xôi tới ăn bánh mì thay cơm. Có lúc tui phải lựa giờ ăn tới thăm người quen biết để đợi họ mời ăn cơm. Thảm quá đi thôi!

Chiều nay, cô Năm ăn quen tới chà lết nhà con bạn, mong nó mời cô ăn cơm. Ai dè mặt nó lạnh tanh. Té ra cả nhà nó sửa soạn đi Lái Thiêu để dự đám cưới em chồng nó hôm sau. Bụng thì đói, cô phải cuốc bộ từ Tân Ðịnh về Phú Nhuận. Khúc bánh mì dồn xíu mại đối với cô có thấm vào đâu. Xời ơi, xíu mại của thằng cha Sáu Yết thịt thì ít, củ sắn bằm nhỏ thì nhiều.

Ðêm sâu dần. Mưa đã tạnh. 11 giờ đêm mà xóm vẫn còn nhộn nhịp, xe gắn máy thỉnh thoảng nổ tành tạch. Tiếng chị Ba Phổ bán chè thưng rao lảnh lót: “Ai chè đậu xanh bột bán nước dừa đường cát hôn?…” Tiếng rao ngân dài, gieo tê điếng cho cô. Nước miếng trám đầy họng làm cô nuốt ực một cái. Cơn nghẹn ngào làm nước mắt cô ràn rụa. Ðã vậy ở đầu hẻm, tiếng gõ rao mì của chú Chệt Xùi cứ lắc cắc lắc cắc nghe ghét quá chừng! Giờ nầy mà cô được ăn một tô hoành thánh kèm một khúc bánh mì dồn chả lụa thiệt bự thiệt dài, rồi tráng miệng bằng một chén chè thưng thì tuyệt vời tuyệt diệu chớ không chơi!

Bụng đói, lại không ngủ được, cô Năm Mỹ Huệ tức giận vu vơ, oán ghét đủ thứ, nhưng cái oán không rõ rệt làm cô lửng lơ, khó chịu. Cô không có quá khứ đẹp, không từng có cuộc sống đầy đủ. Bởi đó cô hy vọng ở tương lai. Nhưng tương lai cứ phẳng lì, nhàn nhạt, không có một dấu hiệu vẻ vang nào. Hiện tại của cô đóng khung ở ngành công dân vụ và trong căn nhà lá hẹp té nầy. Ðể cho đời bớt tẻ, cô dệt đủ cảnh giàu sang hồi thời mới lớn để kể cho bạn bè, người quen biết nghe. Có vậy, họ mới nghĩ rằng dầu sao cô cũng là thứ lá ngọc cành vàng, vì chiến cuộc nên gót chơn son của cô mới phải lặn lội trên con đường mưu sinh đạm bạc. Cái nhà trong quá khứ cô thực ra là nhà của con bạn cô. Nhà gồm có ba căn hai chái, nóc lợp ngói vảy cá, cột bằng gổ căm xe. Trong nhà liễn son, liễn mun thếp vàng, có tủ thờ khảm xa cừ. Còn đồ cổ ngoạn chưng trong nhà ấy, cô Năm mượn đồ cổ ngoạn của ông chú bà con xa bắn cà nông chưa tới để tả cho thiệt rõ ràng, linh động.

Dân trong xóm dĩ nhiên chẳng ai tin tưởng vào lời khoe của cô Tám Quế Lan. Lẽ nào đờn ông đeo đuổi say mê cô rần rần như vậy mà cô vẫn đi sớm về trưa một mình? Cũng vậy, chẳng có ma nào tin cô Năm Mỹ Huệ có tiền mà vì không quen thói se sua nên ở chui rúc dưới mái lá tùm hụp như vầy. Rốt cuộc họ chỉ tin rằng, hồi mới lớn chắc cô Tám Quế Lan cũng có vài nơi gấm ghé, dạm hỏi; và cô Năm Mỹ Huệ chắc cũng là con nhà điền chủ bậc trung, khuôn viên có toà nhà khang trang để cư ngụ, có lẩm bề thế để chứa lúa. Cái quá khứ do hai cô vẽ ra coi vậy mà vẫn được mọi người nâng niu trân trọng.

Nhưng đời nào cô Tám Quế Lan chịu nghĩ rằng địch thủ của mình xuất thân là con nhà khá giả! Cô phải moi móc cái quá khứ, cái nguồn cội của cô Năm ra để bán rao, để hạ nhục, để làm nhan sắc địch thủ bị lu mờ, ố bụi. Cũng vậy, sức mấy mà cô Năm Mỹ Huệ tin rằng cô Tám có số đào hoa hồi còn tươi trẻ, xuân sắc! Cô cũng lập tâm truy tầm dấu vết quá khứ của địch thủ.

Việc phải tới đã tới.

Số là cô Tư Mỹ Vân, chị cô Năm Mỹ Huệ, tuy hay chèn nhét giúp đở em mình nhưng không đời nào chịu đặt chơn tới cái mái lá của em. Giữa đô thành thị tứ, dù là trong hẻm hóc đi nữa mà có cái mái lá như vậy thì coi bộ kém…vệ sinh rồi đa! Hơn nữa, mụ ta mặc quần lụa áo gấm, đeo hột xoàn cẩm thạch hực hỡ, nếu mụ đến viếng em như vậy thì sẽ làm bia cho dân ngõ Lan xóm Huệ trề nhún rằng mụ giàu mà ích kỷ, nỡ để cho em mình sống luộm thuộm. Cho nên, muốn liên lạc với cô Năm, mụ nhờ chị Bảy Lựu, vốn là người đồng hương, hiện giữ việc luôn áo, vắt xổ trong tiệm may của mụ.

Chị Bảy Lựu thường tới lui tới ngõ Lan xóm Huệ nên biết rõ sự xích mích giữa cô Tám và cô Năm. Chị ta ốm lỏng khỏng, vì mang bịnh gan nên mặt đầy mụn như giề cơm cháy. Bởi đó mụ Tư Mỹ Vân không sợ chồng mình tò vè ve vãn chị. Dè đâu, Bảy Lựu nhờ đi châm cứu nên hết bịnh, mặt hết mụn, vóc dáng liền lạc hơn, da dẻ hồng hào, mịn ướt hơn. Khi thấy chồng tỏ vẻ xun xoe săn đón chị, mụ Tư Mỹ Vân liền tìm cớ để xéo xắt rồi cho chị ta nghỉ việc. Ðã vậy. cô Năm Mỹ Huệ còn binh chị mình để chìa môi nhọn mỏ, trổ giọng khế giọng chanh với chị đờn bà bất hạnh kia.

Chị Bảy Lựu ức lắm, liền tìm đến tiệm may cô Tám Quế Lan để xin việc. May thay, cô thợ luôn áo vắt xổ tiệm may cô Tám sắp sửa theo chồng về Thốt Nốt nên chị Bảy được cô Tám thâu nhận liền. Từ đó, qua miệng chị Bảy, gốc tích chị em cô Năm Mỹ Huệ bị phơi bày. Thì ra, má cô Năm Mỹ Huệ là bà Chín Huề vốn là đào hát bội gặp thời xuống dốc phải đi in gạch. Bà ta gởi mấy chị em cô cho cậu dì cô nuôi giùm. Sau đó, Hai Sử, anh ruột cô, được ông thầy thuốc Nguyễn văn Cảnh nuôi làm con, cho ăn học tới năm thứ hai ban trung học rồi cho đi học ngành huấn luyện viên thể thao để về sau thành giáo sư dạy môn thể thao trường cao tiểu Vĩnh Long. Hai Sử còn tự học thêm tây ban cầm, được ông hiệu trưởng cho dạy luôn môn âm nhạc. Ông anh trưởng dìu dắt lũ em nên cậu Ba Kỷ đậu bằng thành chung ra làm giáo viên trường quận, cô Tư, cô Năm được học tới năm thứ ba trung học. Cái tiểu sử gia đình cô Năm Mỹ Huệ như vậy cũng chẳng có gì đáng chê bai hay trầm trồ, nhưng nó cũng đủ làm cho cái đía dóc của cô Năm lòi ra. Tai hại là chỗ khúc đời tối tăm nhứt của má con bà Chín Huề bị chị Bảy phơi trần tuốt luốt:

- Cô Tám à, có một thuở bà Chín Huề cùng lũ con sáng sáng bơi xuồng qua chợ Vãng, cho xuồng đậu phía dưới dãy cầu tiêu công cộng ở chợ Cá. Má con bả đợi thiên hạ ỉa liền vớt cứt vo tròn cỡ trái cam đem về phơi khô để bán cho bọn Tiều bón phân làm rẫy.

Cô Tám Quế Lan nghe được vận sự trên, khoan khoái bằng uống trăm thang thuốc bổ. Chiều hôm đó, sau khi tiệm may đóng cửa, cô lôi con cá lóc thiệt bự đang rọng trong vịm ra để cạo vảy moi ruột. Cô nấu món canh chua cá lóc với khóm để ăn với tôm rim mặn. Cô tin rằng món canh chua sẽ giúp cô thi hứng để cô làm thơ hạ nhục cô Năm Mỹ Huệ. Vừa khi rắc rau om và ớt xắc nhuyển vô nồi canh là cô đã sáng tác được hai câu:

Thuở xưa mưa gió dầm dề
Má con Chín Huề đi vắt cứt trôi

Sáng hôm sau dù mưa rơi ướt át, cô Tám Quế Lan cũng lặn lội ra chợ Phú Nhuận mua bánh qui, bánh bò, bánh ú để phân phát cho lũ trẻ lối xóm. Tụi nó mà ăn quà của cô rồi thì hai câu thơ kia sẽ biến thành hai câu đồng dao, sẽ được hát vang lừng khắp xóm khắp hẻm cho coi. Quả nhiên, hai câu hò chỉ trong vòng hai ngày sau đã được phổ biến lưu hành chẳng những ở ngõ Lan xóm Huệ mà còn khuếch đại, lan truyền qua các hẽm, các xóm lân cận khác.

Trong lúc cô Tám đắc chí bắt nồi canh chua cá lăng nấu với lá dang lên bếp để tìm thi hứng cho các câu thơ lăng nhục mới thì cô Năm Mỹ Huệ xách đít lại nhà thầy ký giả Huỳnh Kim Tiểng với gói thịt quay và một ký-lô bún gói trong lớp lá chuối xanh tươi.

Nguyên thầy ký giả nầy chuyên giữ mục kịch trường, tân nhạc cho một vài tờ báo. Thầy có viết lai rai cho một tuần báo phụ nữ. Bởi thầy là dân phiện phò hút xách nên thầy có nhiều ý tưởng ly kỳ quái đản. Chỉ nghe một câu chuyện ngắn ngủn bằng cái đuôi con thằn lằn, thầy có thể thêm thắt nhưn nhị để kéo thành truyện dài như đuôi con công mới là hay chớ. Ðã vậy thầy có tánh ác, câu chuyện dù có trong leo lẻo như nước suối Vĩnh Hảo, thầy cũng quậy bùn thêm cho nó đục ngầu như nước cống, nước đường mương. Bởi vì mỗi tuần thầy ký giả ghiền kia phải cung cấp cho tập san lá cải nọ một truyện ngắn nên riết rồi thầy cạn đề tài. Cho nên vợ chồng thầy rất hiếu khách, mà phải là thứ đờn bà thèo lẽo ưa phun nọc người nầy, bôi tro trát trấu người nọ. Có vậy thầy mới có đề tài để viết.

Cô Năm Mỹ Huệ vừa đến nhà thầy ký giả ghiền thì bà vợ bày mâm cơm ra. Mâm cơm có món cá ngừ kho ớt bột ăn với bún và rau xắt ghém. Cô Năm chìa gói thịt quay ra, giọng eo éo:

- Tui đến đây chơi, trước là muốn giới thiệu với thầy thím món thịt quay ở thớt thịt chú Xồi tại chợ An Ðông. Hai là giúp thầy một đề tài giựt gân để thầy thêu thùa thêm hoa lá, vẽ vời thêm bướm chim một thiên diễm tình làm độc giả cười tróc mỡ sa, mỡ chài ra.

Thầy ký giả ghiền mắt sáng háo hức, ân cần mới cô Năm dùng cơm trưa với với vợ chồng thầy. Trong bửa ăn, cô Năm kể lể thiên tình sử mà hai nhơn vật chánh là tên chệt bán cháo huyết và cô gái già Tám Quế Lan.

Số là hôm nọ, chồng cô bạn của cô Năm Mỹ Huệ có việc phải về quê ở Trà Vinh lo việc hầu kiện, cô ta có rủ cô Năm về nhà chơi rồi ngủ đêm luôn cho nhà đỡ trống trải. Nhà cô bạn cũng thuộc khu Phú Nhuận, gần lò bún, mái lợp fibro-ciment, vách ván sơ sài nên tiếng động bên nhà hàng xóm đều lọt qua.

Nửa khuya, cô Năm Mỹ Huệ chợt thức giấc, nghe tiếng nói văng vẳng ở nhà kế bên.. Tiếng đờn ông đặc sệt giọng khách trú:

- Ngộ có đủ tiền mở tiệm nước lớ. Nị mà lấy ngộ thì mình mua hai căn phố giáp liền nhau, căn thì làm tiệm may, căn thì làm tiệm nước lớ.

Giọng người đờn bà hơi khàn khàn đục đục, nghe rất quen thưộc:

- Ừ, tiệm may Chi Lăng của tui độ rày không khá. Nếu nị chịu bỏ đất Sài gòn về miệt Tân Châu Hồng Ngự làm ăn với ngộ thì mình…tính tới.

Cô Năm giựt mình. Tiệm may Chi Lăng? Ủa lạ! Không lẽ cô Tám Quế Lan đêm nay ở nhà tên Chệt kia? Nhưng rõ ràng là giọng cô ta chớ giọng của ai! Bên kia, tiếng người đờn bà tiếp tục ỏn ẻn:

- Nè, có nhớ tui thì nhắn tui qua đây, nị đừng làm ẩu xách đít đến tiệm tui thì có ngày chuyện của mình bị cái quân chòi mòi chọc mọc đó phát giác, rồi tụi khốn nạn đó đi phao vu tùm lum làm tổn hại danh giá tui…

Tờ mờ sáng hôm sau, cô Năm Mỹ Huệ xẹt qua lò bún để mua bánh nghệ, bánh hỏi thì thấy cô Tám Quế Lan từ trong nhà láng giềng của cô bạn bước ra. Cái áo dài màu tím, cái áo len hường của cô Tám thì cô Năm đâu có lạ gì, dẫu cô Tám có đội nón lá che khuất mặt mày đi nữa.

Cô Năm Mỹ Huệ khi trở về nhà bạn, hỏi:

- Thằng khách trú ở nhà bên là ai vậy chị?

Cô bạn cười:

- Thì thằng chệt bán cháo huyết ở hẻm Chu Mạnh Trinh chớ ai! Nó dắt mèo về nhà luôn nên tui không biết con nào với con nào hết. Con nào vô nhà nó ngủ đêm chỉ trong vài tuần là đi biệt. Nó nhờ cái mã láng o láng mướt mà mấy mụ góa, mấy con muộn chồng ưa lắm…

° ° °

Trên tuần báo Phụ nữ dạ đàm, truyện ngắn Bà chủ tiệm may của Huỳnh Kim Tiểng được dân ngõ Lan xóm Huệ chiếu cố đặc biệt. Nhơn vật chánh là Bảy Quế Anh và tên chệt Cấm Coóng (Kim Quang). Thày ký giả chẳng những cho tên chệt kia bán cháo huyết mà thẩy còn cho nó bán dâm với mấy mụ nái xề.

Cô Năm Mỹ Huệ được thầy ký giả ghiền tặng hai tờPhụ nữ dạ đàm, nhưng cô mua thêm hai tờ nữa để chuyền cho mấy mụ chằn ăn trăn quấn trong xóm đọc.

Vừa khi báo ra, cô Tám Quế Lan chưa hay, cho nên cô bắc nồi canh chua tôm thẻ nấu với khóm trên bếp, vừa tìm vần tìm ý để viết một bài vè “vắt cứt trôi” cho dài hơn hai câu đồng dao hôm trước. Khi nồi canh vừa sôi thì Cô Chín Nhung hớt hải tìm tới, chìa tờ báo Phụ nữ dạ đàm cho cô Tám đọc. Trời đất thánh thần ơi, mắt cô chói loà, tai cô lùng bùng, tứ chi cô bủn rủn lạnh ngắt! Tên ký giả ghiền chó đẻ heo sanh kia dám dựng đúng rằng ông chủ sự phòng thương mãi của cô chẳng qua là thằng chệt mập thù lù bán bánh bò giò-chéo-quẩy. Còn ông giáo sư người Huế là gã loong-toong mặt mày nổi mụn như giề cơm cháy, cái miệng méo xẹo như miệng cá lưỡi trâu. Thầy ký Bạch thì nó đổi thành gã chệt mua bán ve chai cùng giấy nhựt trình, bụng bự như cái lu, cằm có nọng nung núc mỡ.

Chiều hôm đó, cô Tám Quế Lan bỏ cơm, nằm trùm mền trên lầu, đầu nóng bừng bừng, ngực nặng trìu trịu. Ðã vậy mấy con đĩ chó bòng chanh bóc chách khi đi ngang qua tiệm may cô, còn cất giọng the thé:

- Ai ăn cháo huyết! Cháo huyết nóng bù thổi bù ăn đây!

Còn mấy tên cà nhổng thất nghiệp dài hạn, mấy thằng đá cá lăn dưa thì bắt chước giọng khách trú, rao theo điệu vè:

- Hầy a, cháo huyết đây! Cháo ngon vừa bán vừa cho, ăn no mệt nghỉ, ngộ xin rủ nị, hú hí với nhau, rồi nị có bầu, đẻ ra thằng tửng…

Lũ con nít vuốt đuôi lươn:

- Cháo huyết! Cháo huyết đây!

Sướng chưa! Giậu vừa đổ là bìm, sắn đã leo rậm rì rậm rịt rồi. Bởi cô Tám Quế Lan ke re cắt rắt, cho vay ăn lời “xanh xít đít đui” với dân trong xóm nên đã gây biết bao oán ghét, cừu hận. Những kẻ nào đã oằn vai, còng lưng trả nợ cho cô xong thì công khai mang đề tài cháo huyết ra để xỏ xiên cô, tụm năm tụm ba ở ngoài hàng rào ong óng nói xóc óc, chửi xốc hông cô. Còn kẻ nào đang thiếu nợ cô thì đích thân ra sạp bào mua tờ Phụ nữ dạ đàm có đăng truyện Bà chủ tiệm may để chuyền tay cho bạn bè cùng đọc, cùng nghiền ngẫm từng chữ, mổ xẻ từng câu. Và trời đất tiên nhơn tổ đường ơi, lối nghiền ngẫm nào, cách mổ xẻ nào cũng bất lợi cho cô ráo trọi.

Khi những tờ báo chuyền tay đó rã tanh banh tét bét thì cô Tám Quế Lan đã sang căn phố lầu cho người khác. Cô cùng tên chệt bán cháo huyết chánh thức lấy nhau rồi về Cầu Kho, chồng mở tiệm nước, vợ mở tiệm may. Cô Tám thầu được công việc may quân trang quân phục nên dùng thợ đờn ông. Tiệm may cô càng lúc càng phát đạt. Còn tiệm nước chồng cô nhờ các món bánh bao, xíu mại, há cảo, xủi cảo ngon ác ôn mà khách vô ầm ầm vào buổi sáng; nhờ các món hủ tiếu, mì, hoành thánh nhiều thịt nên từ trưa tới tối mịt quán vẫn không ngớt khách.

Khi sắm xe Huê kỳ, cô Tám Quế Lan ưa rủ chồng và thằng em chồng về thăm ngõ Lan xóm Huệ. Chồng cô ăn mặc bảnh bao, đeo cà rá nhận hột xoàn, đồng hồ Thụy Sĩ dây đeo bằng vàng. Còn cô đeo hột xoàn chấp chới, bận áo đầm hay xường xám. Vì đẻ xong hai lần, cô nuột nà hẳn ra.

Cô Năm Mỹ Huệ vẫn ở căn nhà cũ, giờ lợp tôn. Cô vẫn làm ngành cũ với số lương ba cọc ba đồng. Khi thấy cô Tám về xóm cũ để bẹo hình bẹo dạng, diệu võ dương oai thì cô Năm chui vào nhà đóng chặt cửa lại, khóc rấm rứt.

Nhưng có lần nọ, cô Năm Mỹ Huệ ngồi ngoài sân vừa ăn mía vừa hóng mát thì xe cô Tám trờ tới. Lỡ bộ, cô Năm đành ngồi luôn ngoài sân, dương cặp mắt chau quảu nhìn cô Tám. Không lẽ cô quay ngoắt vào nhà đóng cửa lại, để kẻ thù cho rằng cô yếu bóng ví hay sao! Cô Tám Quế Lan làm bộ vồn vã, chào trước:

- Chào cô Năm. Dữ ác, hèn lâu mới gặp cô. Té ra cô còn ở đây! Thiệt tình tui không dè cô mến cái xóm nầy tới vậy!

Cô Năm mặt lợt lạt, miệng ấp úng:

- Chị về chơi.

- Ờ, tui về thâu tiền hụi.

Rồi cô Tám dặn thằng em chồng ở lại coi chừng coi đổi xe cho cô, kẻo con nít rắn mắt bôi bùn hay làm trầy xe. Cô cùng chồng tay nắm tay đi vào nhà bà Phán Ðức. Còn gã em chồng thì nhìn cô Năm Mỹ Huệ trân trân. Cô Năm mặc bộ đồ lụa lèo màu hột gà coi thiệt tươi mát. Cô uốn tóc ngắn, phơi cái cổ nuột nà. Ở nhà nên cô không giồi phấn tô son gì ráo nhưng da mặt mơn mởn, môi cô hồng hồng, mắt cô ướt rượt, tròng mắt cô đưa đẩy loang loáng.

Hôm đó em chồng cô Tám bắt chuyện làm quen cô Năm Mỹ Huệ. Hắn ta xin cô chút nước để rửa kiếng xe.

Hai hôm sau, em chồng cô Tám cỡi ếch-bà đến thăm cô Năm Mỹ Huệ. Và những ngày sau đó hắn cứ tìm dịp đến chơi, mỗi lần viếng thăm, hắn ở lại thiệt lâu.

Cô Tám Quế Lan, sau cái hôm bẹo xe hơi, hột xoàn cho cô Năm Mỹ Huệ chứng kiến thì cô đắc chí lắm. Vừa làm bếp, cô vừa nghĩ cách làm sao để cô Năm chứng kiến cảnh thạnh vượng của tiệm may của cô lẫn tiệm nước của chồng cô. Hôm sau nữa, cô Chín Nhung đến thăm. Nghe cô Chín hứa sẽ rủ cô Năm Mỹ Huệ đến ăn sáng ở tiệm tên cựu bán cháo huyết thì cô Tám Quế Lan cảm thấy cờ bay phấp phới trong bụng. Cô làm món canh chua cá lóc với bông so đũa cùng với cá rô mề kho tộ để đãi người giúp việc cũ. Nhưng cô Chín ăn xong bữa cơm đó rồi biệt tăm biệt dạng luôn.

Số là khi từ Cầu Kho về, cô Chín Nhung tìm cô Năm Mỹ Huệ thuật lại cái ý đồ của cô Tám rồi ton hót:

- Con mẻ muốn khoe của cho cô tức hộc máu đó cô Năm. Cô phải trả đũa cho ngoạn mục đi cô. Thằng em chồng của con mẻ coi bộ lậm cô lắm rồi. Cô phải kỳ kèo nó làm đám cưới, rồi cả hai dắt nhau về Cầu Kho để … ăn điểm tâm khỏi trả tiền.

Tối hôm đó, gặp mặt tình nhơn, cô Năm Mỹ Huệ ỏn ẻn hỏi:

- Anh của anh có khó không?

Tên si tình bảo:

- Ảnh mà dám khó với ai? Ảnh có mèo cả đống. Còn anh chí thú làm ăn, gặp em là bị cú sét giáng xuống, tức nhiên anh phải lo tiến hành đám cưới. Hai anh em anh côi cút từ nhỏ, sống nhờ ông bác khó tánh nên thương yêu nhau lắm. Ảnh đời nào bắt chặt bặt lỏng anh!

Trương Hùng, người yêu của cô Năm Mỹ Huệ, có tiệm tạp hoá ở Tân Ðịnh, lúc trước thì giàu hơn anh. Ða số dân khách trú tuy bề ngoài xập xệ nhưng trong tủ họ vàng lá cả bó, giấy bạc sắp bốn năm thúng. Cô Năm Mỹ Huệ ôm chặt người yêu. Tui hằng mơ lấy chồng công chức có ăn học, dẫu lương tháng ba cọc ba đồng. Ước mơ tui khiêm tốn nhỏ nhoi, vậy mà ông trời hà tiện không cho tui một tấm chồng! Giờ đây tui gặp thằng chệt nầy, nó nói rành tiếng Việt chớ không xí xô xí xào như anh nó. Nó tuy ăn ở cần kiệm nhưng biết rộng rãi với tui. Tui lấy nó tam tứ tiện, đã có chỗ trao thân gởi phận, lại còn làm cho con Tám ó đâm kia tức trào máu hoè, sôi bọt quáp chớ không chơi.

Cô Năm Mỹ Huệ cùng Trương Hùng dắt nhau đến tiệm nước Trương Xương, chồng cô Tám Quế Lan, để ăn điểm tâm. Anh chồng mừng rỡ bao nhiêu thì chị vợ chù ụ bấy nhiêu. Cô Tám bỏ qua tiệm may sau cái nguýt bén ngót.

Khi cô Năm cùng Trương Hùng ra về, cô Tám Quế Lan nghiến răng bảo chồng:

- Nị phải cản cái thằng khờ kia, đừng cho nó cưới cái thứ gái hư, đưa người cửa trước rước người cửa sau đó.

Trương Xương bảo:

- Hầy, cô Năm là công chức lớ. Anh Hai, anh Ba cô Năm cũng là công chức lớ. Chị Tư của cổ có tiền lắm lớ. Thằng em ngộ kén vợ lắm, gặp cô Năm là mê, tuy cô Năm nghèo nhưng thuộc con nhà tử tế lớ.

Cô Tám Quế Lan rống lên:

- Thứ đồ đi vớt cứt trôi cả lũ.

- Hầy à. Hàn tín thuở xưa còn lòn trôn giữa chợ lớ.

° ° °

Ðám cưới Trương Hùng và cô Năm Mỹ Huệ, cô Tám Quế Lan giả đò đau máu không dự, nhưng cô không thể không gởi quà cưới gồm một đôi vòng vàng.

Hôm lễ phản bái, vợ chồng cô Năm phải về nhà anh chị mình. Hai người đàn bà phải ồn ào cười nói để khoả lấp sự ngượng ngùng. Cô Tám Quế Lan
săm soi mặt lụa chiếc áo dài của cô Năm Mỹ Huệ :

- Chèn ơi, soie nầy màu cam tươi như màu trời buổi bình minh! Ðẹp, đẹp lắm! Tui quen ăn chắc mặc dày cho nên làm sao bì kịp thím ba sắp nhỏ!

Thiệt tình cô Tám nói cho có chuyện chớ không có ý móc ngoéo, xỏ xiên cô Năm . Nhưng cô Năm đời nào tin rằng câu nó của kẻ cựu thù trơn láng, suôn đuột! Cô háy dài chị bạn dâu, cười ầm ĩ, nói lăng líu:

- Chiếc áo đầm chị đặt may ở đâu vậy? Ai mà không mông không ngực dến nó vô coi cũng có này có nọ với người ta đó chớ!

Khi cô Năm ra về, cô Tám tưởng chừng não cân mình đứt lìa. Còn cô Năm cũng cảm thấy tức ngực lói hông. Chị Bảy Lựu đến xúi cô Tám Quế Lan:

- Nè cô Tám, cô để tui gài gián điệp trong nhà em chồng cô. Mỗi tháng cô cho con ở nhà đó chút tiền ăn quà thì chuyện gì cũng xong.

Cô Chín Nhung không cần bày mưu hiến kế mà cô Năm Mỹ Huệ cũng đã nghĩ ra kế độc rồi. Cô yêu cầu cô Chín Nhung:

- Chị quen với mấy anh thợ may ở tiệm mụ Tám ó đâm đó, xin chị lân la dọ hỏi, giúp em biết rõ tình hình ở tiệm may và tiệm nước.

Con ở hằng tuần đi chợ Bến Thành mua trái cây nhập cảng cho chủ thì đã gặp cô Tám Quế Lan ở đó. Cô dắt nó lại cữa Ðông, đãi nó ăn bì bún hoặc bún tôm nướng để nghe nó báo cáo mọi việc trong nhà cô Năm. Khi nó ra về, cô còn nhét thêm vào tay nó chút ít tiền lẻ.

Còn cô Chín Nhung mỗi khi lên Tân Ðịnh chơi là được cô Năm Mỹ Huệ đưa ra chợ khi thì ăn bánh xèo, khi thì ăn mì Như Ý. Cô Chín Nhung to nhỏ tường trình gia đạo cô Tám Quế Lan không sót mảy lông.

Hai chị em bạn dâu thỉnh thoảng đi thăm viếng nhau. Họ muốn làm vui lòng chồng họ nên tặng quà cho nhau. Nhưng sau lưng cô Tám, cô Năm Mỹ Huệ chắp vá từng mẫu báo cáo của mấy anh thợ may, rồi thêm thắt theo hứng thú của mình:

- Xời ơi, đã đẻ hai thằng con trai rồi mà còn chắt bóp, bần tiện, không biết gây ruộng phước cho tụi nó. Ông bà mình thường nói trai nhờ đức mẹ, gái nhờ đức cha. Thay vì dùng tiền làm phước, con mẻ hễ có chín cắc phải kiếm thêm cho được một cắc nữa để đủ một đồn. Thiệt căn đầy kiếp đoạ ông anh chồng tui gặp con vợ ghen như quỉ hỗn như yêu. Thằng đờn ông nào có kiên nhẫn chung tình cho thế mấy mà gặp con vợ như vậy thì cũng phải ngoại tình mà thôi. Ở nhà, ảnh làm sao chịu nổi cái giọng eo óc xốc hông như nện trống đồn, như gióng chập choã của con vợ trời đánh thánh đâm đó. Xí! Ðã lấy chồng chệt mà không chịu học làm món ăn Tàu. Ngày tối mụ cứ khỉa canh chua đều đều. Hết canh chua cá biển tới canh chua cá đồng, rồi bắt qua canh chua tôm, canh chua thịt gà. Ở chung một nhà với mụ cứ ních canh chua riết ê răng, ớn rùng rợn tới óc não tủy xương.

Sau lưng cô Năm, cô Tám Quế Lan lượm lặt từng mẫu tường trình của con ở nhà cô Năm rồi gia giảm mắm muối để thành một bản án gắt gao:

- Thứ đồ xí xọn, chỉ lo se sua cái bộ mã bề ngoài. Ở nhà nó cho thằng em chồng tui ăn toàn cá mòi, ba khía, mắm ruốc, mắm nêm đều đều. Tiền của chồng nó, nó ăn hàng ngập mặt, rồi mua cá lòng tong, cá rói,cá chốt, cá linh về kho cho chồng nó ăn. Xời ơi, ăn ở vậy mà coi cho được! Tui nghĩ chắc ông Thiên Lôi ổng quên uống cà phê, uống trà nên cứ ngủ gục hoài, quên xáng cho cái con vô nghì đó vài búa để răn bá tánh.

Hai chị em bạn dâu thay phiên nhau về thăm ngõ Lan xóm Huệ. Ở đó mới có kẻ chịu nghe họ phun nọc độc vào nhau. Mấy mụ ngồi lê đôi mách sẵn sàng nghe cô Tám Quế Lan nói xấu cô Năm Mỹ Huệ để vuốt đuôi lươn theo cô, để có dịp nói cười hể hả. Nhưng họ cũng hứng khởi khi nghe cô Năm tố khổ cô chị bạn dâu. Họ đốc xúi, khơi chuyện để cô Năm xả máy vo vo, kể tội trơn láng cô Tám đến cạn tàu ráo máng.

Riết rồi hai anh em Trương Xương và Trương Hùng cũng biết rõ sự hiềm thù, cạnh tranh nhau của hai bà vợ. Trương Hùng một lần qua Khánh Hội thăm cô Tư Mỹ Vân, nhờ chị vợ tìm cách khuyên giải vợ. Cô Tư vốn có cảm tình vời em rể nên nhận lời. Cô lân la làm quen với cô Tám Quế Lan. Chồng cô cũng giao du thân mật với Trương Xương.

Khi trở thành hội viên hội bắt ghen của cô Tư rồi, dù không tỏ ra thân thiện, cô Tám cũng bớt vẻ khinh khỉnh, không còn nói lời xóc óc cô Năm Mỹ Huệ nữa. Ngược lại, khi thấy chị bạn dâu và chị mình tương đắc với nhau, cô Năm ăn nói mềm mỏng với cô Tám hơn. Dầu vậy cả hai vẫn chưa thể nào thân mật với nhau được. Lòng họ không mở ngõ cho nhau. Mụ nào cũng giữ thế thủ, tuy nhiên họ ít về ngõ Lan xóm Huệ hơn, mà dẫu có về, khi nghe ai nhắc đến kẻ kia thì họ cũng lảng qua chuyện khác.

Trương Xương thường dắt hai đứa con trai đến thăm vợ chồng em mình. Cô Năm Mỹ Huệ mới có bầu nên cô háo hức chuyện con cái. Chèn ơi, thằng Tửng anh đen dòn, mập cùi cụi, cười tít toát có duyên ác! Thằng Tửng em trắng phau phau. Tụi nó có lẽ nghe tía nó xúi biểu sao đó mà hễ gặp cô Năm là xà quần theo, nói đỏ đẻ lăng líu, thấy thương đứt ruột. Lúc đầu, cô Năm chỉ cho tụi nó bánh trái chớ không vuốt ve, nựng nịu. Ngặt ông trời ổng mớm miệng nên tụi nó nói nhiều câu dễ thương, nhiều lời tức cười, cho nên cô Năm cầm lòng không đậu, ôm tụi nó thiệt chặt, hun tụi nó thiệt kêu. Sau những cái hun như vậy, lòng cô mở rộng bát ngát.

Từ đó cô cứ òn ỉ xúi chồng chở cô đi thăm cháu luôn. Lần nào cô cũng đem bánh trái cho cháu ăn phủ phê. Lúc đầu, cô Tám Quế Lan ngần ngại lắm, nghi ngờ con yêu tinh này toan lập mưu đen chước đỏ gì đây. Nhưng theo thời gian, mối nghi ngờ của cô Tám cũng bớt nồng độ đậm đặc. Tuy cô không dắt con đến nhà cô Năm Mỹ Huệ nhưng thỉnh thoảng cô nhắc chồng đưa con đi thăm em chồng và em bạn dâu mình.

Kỳ lễ Phục Sinh năm đó, Tửng em bị ban trắng. Cô Năm Mỹ Huệ nghe tin bèn bồng con gái đi thăm cháu. Thấy cảnh nhà chị dâu bề bộn, cô xin ở lại coi sóc Tửng anh và lo việc bếp núc.

Ðêm đó, Tửng em nóng làm kinh. Hai người đờn bà ngồi canh bịnh, nước mắt nước mũi choàm ngoàm. Khi cơn nóng đứa nhỏ đã lui, cô Tám Quế Lan ngọt ngào bảo em bạn dâu:

- Thím Ba đi ngủ đi, để mình chị canh chừng cháu cũng được.

Lần đầu tiên cô Tám Quế Lan xưng “chị”. Bao nhiêu trục trặc, khúc mắc trong lòng cô Năm Mỹ Huệ từ lúc cô biết yêu thương hai thằng cháu đã lung lay nhiều rồi, giờ đây tiếng “chị” ngập tràn thông cảm đã biến chúng thành tro bụi bay tản mạn đâu mất. Còn cô Tám Quế Lan khi xưng được tiếng “chị”, cô nghe âm vang đó lọt vào tâm hồn từ lâu bưng bít của mình một luồng gió mát rười rượi. Cô bảo em dâu:

- Còn một ít thịt bằm với củ hành, để chị nấu cháo rắc củ cải bắc thảo và giò-chéo-quẩy cho thím ăn giải lao. Mai mốt cháu Tửng em mạnh giỏi, chị em mình về ngõ Lan xóm Huệ ăn bì bún. Chèn ơi, bì bún của bà Năm Trầu ngon không thua gì bún ở Nha Mân, ở Cai Lậy đâu nghe.

Cô Năm Mỹ Huệ cười hì hì:

- Chị em mình cùng đề huề về thăm ngõ xưa xóm cũ chắc thiên hạ xửng vửng vì kinh ngạc.

Cô Tám Quế Lan liếc xéo em dâu, cười ngỏn ngoẻn:

- Ối, đời mà thím! Chuyện gì cũng có gốc có ngọn có nguyên do ráo trọi. Ai cười chị em mình thì họ hở mười cái răng. Mà thím tin đi, răng cỏ mấu con lủng con lành, mấy mụ bành mụ nái xóm đó xấu ỉn hè. Họ cười chị em mình là họ phơi cái xấu của họ ra.

ĐÊM XUÂN
CHỊ EM THỎ THẺ

Bà Bang biện Huỡn vừa têm trầu vừa cằn nhằn với bà Hội đồng Giỏi :

- Tết nhứt sắp tới rồi mà tui có sắm sửa gì cho xôm đâu! Mới mua bốn chục dưa hấu chất đầy bộ ván cẩm lai đó. Thiệt tình từ khi ổng chết đi, tui rủn chí, hết muốn gì nữa!

Bà Hội đồng Giỏi nhìn chị mình lom lom. Bà biết chị mình than lấy lệ mà thôi. Ông Bang biện Huỡn chết từ ba năm qua rồi. Ổng bị bán thân bất toại suốt bốn năm ròng, sống ngày nào còn là gánh nặng cho vợ con ngày đó. Từ khi ông chết, năm nào ruộng của ông cũng trúng mùa. Bà Bang biện Huỡn còn xoay qua vựa củi, vựa mắm, bề mần ăn xuôi chèo mát mái. Cứ coi bốn chục trái dưa hấu chất đầy bộ ván đó cũng đủ biết cái thạnh vượng của gia đình nầy. Bà còn lạ gì cái tật ưa than thở của chị mình : vui cũng than, buồn cũng than, khoẻ mệt gì cũng than não nuột ráo trọi. Miệng bà Bang biện Huỡn than hà rầm hà rì nhưng ánh mắt lúc nào cũng rực rỡ đắc chí.

Bà Bang biện Huỡn thiệt ra có tâm sự buồn. Số là cô trưởng nữ của bà tên Hai Tố Trinh cách đây hai tháng từ Xoài Hột viết thơ về cho bà hay rằng cô vừa đi coi bói, thầy bói nói kỳ mang thai nầy cô sẽ đẻ thêm đứa con gái thứ ba, trong khi đó cô thèm sanh con trai cho chồng cô mừng. Cô gái thứ của bà là cô Ba Tố Thuận thì từ Bến Tranh viết thơ về bù lu bù loa rằng thằng chồng ó đâm lòng lang dạ thú của cô mê sa con điếm thúi từ ga xe lửa Tân Hiệp trôi đến. Chưa hết, cô Tố Hiền, cô út ngọc ngà châu báu của bà, được ông bà Cai Tổng Xiêm đánh tiếng đi hỏi cho cậu Hai Tường, trưởng tử của họ. Ai mà dè, cậu có tư ước với cô khác nên cùng người yêu cuốn gói dông lên Nam Vang.

Chuyện bất hạnh của ba cô Tố, bà Bang biện Huỡn không dám thố lộ với mụ em có miệng thọp thẹp, hay thèo lẻo của mình. Bà Hội đồng Giỏi ở làng Ðạo Ngạn, chỉ cách làng Ðạo Thạnh con sông Bảo Ðịnh. Từ bến đò, cuốc bộ chừng hai cây số là tới nhà bà ta rồi. Ông Hội đồng đã thất lộc trên mười năm nay rồi. Bà ở vậy nuôi đứa con trai độc nhứt là cậu Hai Khá. Cậu học tới khi đậu bằng thành chung rồi cưới vợ vẫn ở chung với mẹ. Ông bà mình thường nói, hễ con một thì cháu bầy. Câu đó ứng y chang vô trường hợp cậu Hai. Bốn năm qua, mợ Hai đẻ bốn đứa con trai, hai đứa sau là cặp song sanh. Hiện nay mợ lại mang cái bầu ba tháng. Hễ càng đẻ, mợ càng thay đổi máu huyết, trở nên nuột nà, khác xa thời con gái ốm đèo ốm đẹt.

Hôm nay là ngày 24 tháng chạp. Dù có hờn duyên tủi phận, nhưng cô Út Tố Hiền vẫn phải làm các loại mứt bí, mứt gừng, mứt dừa, mứt củ cải, mứt cà chua, mứt trái tắc…; các loại bánh nướng như bánh men, bánh gai…

Bà Hội đồng Giỏi từ trong hóc hẻm thâm u làng Ðạo Ngạn, gặp lúc rảnh rang nên qua làng Ðạo Thạnh thăm chị, luôn thể đi coi hát. Chèn ơi, gánh Cẩm Ðình ban vừa chuộc cô đào Thanh Huê và kép Mười Hơn thanh sắc song toàn, hiện gánh đang hát ở nhà lồng chợ Bến Chùa. Bà Hội đồng Giỏi cùng chị mình tối nào cũng được em trai là ông Hương quản Mẹo ở Bến Chùa cho mã phu đánh xe ngựa xuống rước lên xem hát.

Ðạo Thạnh ở gần khít Ngã Ba Trung Lương, cách trung tâm thành phố Mỹ Tho bốn cây số. Ðó là vào thời tiền chiến, thời biển lặng sông trong đầu thập niên 30. Nhà bà Bang biện Huỡn gồm ba căn hai chái, nền đúc cao tới ngực, cột bằng gỗ căm xe, mái lợp ngói móc. Chung quanh nhà là khu vườn một mẫu trồng ổi cửu ngoạt, chuối lá ta, chuối cau mẳn, chuối xiểm mẳn, mận Thái Lan da xanh, mận Vĩnh Long da nâu đỏ, mận trắng, mận Trung Lương…

Ngoài dòng rạch xa, khuất sau đám dừa nước, chim bìm bịp kêu từng tràng inh ỏi báo hiệu nước đổi chiều, từ sông cái sắp dồn lai láng vào các sông con, các rạch nhỏ, các khe, các ngòi…Trời xế chiều, cô Út Tố Hiền xách nồi đong gạo nấu cơm.

Bà Bang biện Huỡn than :

- Liên tiếp ba đêm nay đi coi hát bội, tui muốn ể mình rồi đây! Thôi, tối nay dì cứ đi một mình, tui hổng có ưa tuồng Huê Dung đạo. Tui muốn ở nhà ngủ cho sướng mắt.

Bà Hội đồng Giỏi ngáp ủ ê :

- Tui cũng không ưa tuồng có Tào Thào đâu. Thôi thì tui cũng ở nhà ngủ cho khoẻ. Tối mai, chị em mình đi coi tuồng Ðãi yến Ðoàn Hồng Ngọc. Tuồng nầy có kép Mười Hơn đóng vai Ðịch Luông, kép Bửu Quỳnh đóng vai Ðịch Hổ, quả thiệt là cặp kim long ngọc hổ không sai!

Bà Bang biện Huỡn :

- Dì nói hạp ý tui lắm đó. Trong tuồng nầy, cô Thanh Huê đóng vai Ðoàn Hồng Ngọc, cô Bảy Sự đóng vai Vương Lan Anh thì có khác nào một cặp thần nữ giáng tiên đâu dì.

Dưới bếp, cô Út Tố Hiền vừa bắc nồi cơm lên chiếc hoả lò rực than hồng. Cô nghe lóm câu chuyện của mẹ và dì. Xời ơi, tui ghét hát xướng, hát bội lẫn hát cãi lương. Hát bội hành tội người ta, mê hát cải lương ôm ruơng theo kép. Tuy đã coi kép Mười Hơn khi hắn theo gánh Ngọc Ðường ban. Tui đã coi kép Bửu Quỳnh và đào Bảy Sự khi họ còn cộng tác với gánh Bầu Vàng. Tui cũng đã coi đào Thanh Huê khi cổ đóng vai Mộc Quế Anh trong tuồng Nữ anh hào. Tui đi coi hát là để xách giỏ trầu cho má tui, vậy thôi. Thiệt tình tui chỉ thích ở nhà đọc truyện Tàu. Giờ đây tui ghét cái mặt dê gái của Mười Hơn lắm! Chu choa ơi, sao mà nó giống tên Hai Tùng, trưởng nam của bà Cai Tổng Xiêm quá chừng chừng. Hai Tùng dù chưa làm đám hỏi với tui, nhưng cũng đã làm cái duyên con gái của tui sượng ngắt. Hai bên gia đình giao hảo từ mấy đời, chuyện lộn nài bẻ ống của hắn chẳng những làm hai bác Cai tổng bợ ngợ mà còn làm má con tui ngỡ ngàng. Mà phải chi hắn chê tui để đi theo cô nào lá ngọc cành vàng thì tui không ức. Ðằng nầy hắn theo con Bảy Kim Liên, con thầy Thôn Vận, vốn lẳng lơ trắc nết. Bởi vậy, hễ coi tuồng hát nào mà gặp mấy cô đào ỏn ẻn như cô Thanh Huê trong vai Hồ Nguyện Cô, cô Bảy Sự trong vai Kim Tinh Nương, chim trai giữa trận tiền là tui nhớ tới con Bảy Kim Liên. Trai tráng thời nay mấy ai có lòng dạ đoan chánh như Tiết Giao, như Dương Hoài Nam! Họ toàn là thứ gì đâu, ưa mua trâu vẽ bóng, theo lọng bỏ dù, mê cá thu bỏ cá nhám!

Tết năm nay chắc chắn là một cái Tết buồn thảm của gia đình bà Bang biện Huỡn. Cô Hai Tố Trinh sẽ đem hai đứa con gái và cái bụng chửa về đây để xổ bầu xong là đón xuân. Cô Hai là dâu trưởng mà đẻ con gái hoài nên làm cho chồng cô là cậu Hai Hoành mất mặt với cậu Ba Tung. Mợ Ba đã sanh một thái tử cho chồng mà còn khỉa thêm hai hoàng nam kháu khỉnh. Từ khi được thầy bói tiết lộ mình sắp sanh thêm một cô công chúa, cô Hai Tố Trinh nhận thấy tía má chồng cô là ông bà Huyện Ðốn tỏ vẻ lợt lạt nên cô buồn lắm. Cô bèn xin phép tía má chồng cô về Ðạo Thạnh để đập bầu. Bà Huyện Ðống bảo :

- Con tính vậy cũng tiện. Tết nhứt ở đây, trong ngoài chào rào chộn rộn lắm, chắc làm con ngủ không ngon. Con mà về Ðạo Thạnh chẳng những được chị suôi săn sóc tận tình mà còn được an tĩnh nghỉ ngơi.

° ° °

Mâm cơm vừa dọn lên thì cô Hai Tố Trinh đem hai đứa con gái là Huỳnh Cúc và Huỳnh Mai về tới. Mặt mày cô xanh lè xanh lét như mắm lóc chưa chao đường hũ. Cái bụng cô bự chành ành như có cái chảo gang úp lên. Hai con Huỳnh Mai, Huỳnh Cúc vừa tới nhà bà ngoại là cười giỡn líu lo, trong khi mặt má tụi nó chim bỉm như mang mối sầu vạn cổ, như quằn mối hận thiên thu.

Vừa thấy bóng dáng chị và cháu, cô Út Tố Hiền kêu con ở lên dặn dò :

- Nấu thêm cơm đi. Ðong cỡ ba lon gạo cho tao. Mầy nhớ bẻ mớ đậu rồng, xắt nhuyển rồi xào với hột vịt để ăn dậm thêm.

Bà Hội đồng Giỏi hỏi con cháu lớn :

- Ủa, thằng chồng cháu đâu? Sao nó không đích thân đưa cháu về đây?

Cô Hai Tố Trinh ấp úng :

- Ảnh có chút việc phải đi Sài gòn.

Bà Hội đồng Giỏi nhìn sững cô cháu gái, cố chọc thủng cái đầu cô để lục soát và ước lượng sự thật trong lời cô… Bà chị tui vốn dị hụ, ưa giấu giếm. Tụi con gái của chỉ cũng giống mẹ, đời nào dám nói thiệt chuyện trong nhà tụi nó. Giấu ai thì trót lọt, chớ giấu mụ già nầy có khác chi lấy vải the che mắt thánh! Bây và má bây cứ mặc sức giấu giếm đi. Tao cũng rán sức phanh phui. Nắm được sự thiệt, tao sẽ giữ kín nếu con nào ăn ở tử tế với tao; bằng không nếu gặp thứ xí xọn, tao sẽ la rùm lên cho làng trên tổng dưới biết hết!

Mâm cơm gồm có canh bí đao nấu với cá lóc rắt tiêu hành.. Món cá đối kho lạt chan mỡ xắt hột lựu. Một dĩa sâu lòng thiệt lớn đựng thịt gà xào sả ớt. Một dĩa trẹt nhỏ đựng đậu rồng xào tôm khô đệm trứng vị. Một tô đựng ba khía trộn tỏi ớt giã nhỏ và chanh đường. Cả nhà xúm lại ăn uống ngon lành. Bà Hội đồng Giỏi nhìn cô Hai Tố Trinh thắc mắc. Con nầy coi có vẻ buồn đậm buồn nghiến, hắt hiu dung mạo, áo não dung nhan, vậy mà khi bưng chén cơm lên thì nó ăn lìm lịm, nhai ngau ngáu, nuốt ọt ọt thấy mà bắt thèm. Sao lạ vậy?

Ngoài sân, bóng tối bắt đầu xoá lu lít hòn non bộ, châu kim quít, chậu mai chiếu thủy, chậu bùm sụm, cau kiểng…Bóng tối đưa chim tu hú, cu đất, cu cườm về tổ nên chúng im hơi lặng tiếng. Ðêm xuống, tiếng vạt sành kêu ra rả ngoài các mương nước; tiếng cóc, nhái, bù tọt, chàng hiu, nhóc nhen kêu từng chập ở ngoài bờ ruộng.

Con Lành phụ cô Út Tố Hiền rửa ráy lau mình cho hai con Hùynh Cúc, Huỳnh Mai, thay quần áo thơm sạch cho tụi nó. Khi tụi nó xà quần theo bà ngoại, bà dì thì cô út cũng đi tắm rửa cho mát mẻ. Cô nghĩ mà thuơng cho mẹ mình. Cứ mỗi năm, hễ khi chim tu hú bắt đầu gọi Tết thì các gánh hát bội địa phương, các gánh hát bội pha cải lương thường ghé chợ Bến Chùa, chợ Trung Lương để trình diễn. Gặp dịp, bà Hội Ðồng Giỏi cũng xách giỏ qua Ðạo Thạnh để coi hát. Bà ta vốn rộng rãi trong việc biếu xén quà cáp : vịt cà cuống cả cặp; mắm lóc, mắm sặc, mắm cá trèn cả hũ lớn; lại còn tôm càng kho tàu cả soong; dưa ngó sen, dưa bồn bồn cả cân; bánh trái cả thúng..Vậy mà bà ta hễ lượm được tin tức giựt gân ở nhà chị mình là thọp thẹp kể lại trong vòng bà con thân tộc.

Thiệt ra bà Bang biện Huỡn vẫn cần hạng người có cái miệng oan gia nghiệp chướng như miệng mụ em mình. Mấy năm nay, bà gả hai cô con lớn vào chỗ giàu sang, lại đang lúc bà mần ăn thạnh vượng cho nên khi thấy bà Hội đồng Giỏi xách giỏ qua thăm là bà mừng quính. Bà muốn nhờ cái miệng lanh chanh lách chách của bà Hội đồng truyền rao cái gia đạo đang thời hưng thạnh của mình cho bà con quen biết khắp các làng xóm, tổng huyện..biết. Nhưng kỳ nầy, bà Bang biện Huỡn sợ bà Hội đồng Giỏi còn hơn sợ dịch. Bà chị cứ ngượng ngùng úp mỏ khi kể chuyện gia đạo và hoàn cảnh ba cô con gái. Còn bà em thì tò mò tọc mạch, đầu óc luôn luôn sắp đặt câu hỏi trặc trẹo để chất vấn chị, để moi móc phanh phui chuyện mà chị mình muốn che giấu.

Ðêm đó, cô Út Tố Hiền cứ cà rà theo bên cô Hai Tố Trinh để tỏ bày tâmsự, để trình bày hoàn cảnh kém may mắn mong cô Hai giúp ý kiến. Ðêm xuân tĩnh mịch. Ngoài hè, cây nguyệt quới ngào ngạt đưa hương. Ðêm đen bao la như nhuộm mực Long Tể, mực Huy Châu. Ðom đóm từ ngoài bay lọt vào buồng chiếu sáng chớp tắt.

Cô Hai Tố Trinh bảo em :

- Thôi em, coi vậy mà em vẫn còn hên. Nếu họ cho làm đám hỏi rồi hồi hôn thì má và chị em mình mới biết ăn làm sao nói làm sao với họ hàng chòm xóm? Còn cái bề thế của chị đây mới đáng phàn nàn…

Cô Út Tố Hiền hỏi chị :

- Anh Hai có thiệt bụng yêu thương chị không?

Cô Hai Tố Trinh trầm ngâm :

- Về chuyện chăn gối lửa hương thì chị không có chỗ nào trách móc ảnh hết. Nhưng thằng cha đó coi vậy mà thủ cựu, luôn mang quan niệm « chồng chúa vợ tôi », « nhứt nam viết hữu, thập nữ viết vô ». Em ơi, từ khi thầy bói đoán kỳ nầy chị sanh con gái thì chồng chị bán tin bán nghi, song vẫn an ủi chị. Còn ông bà già ảnh thì cứ chắc mẻm như hai với hai là bốn nên tỏ vẻ lợt lạt vói chị lắm. Chị ở bên nhà chồng mà cứ tưởng như ở đậu nhà ai. Còn hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai bị ông bà nội rẻ rúng coi như con nít lối xóm không bằng.

° ° °

Khi bà Hội đồng Giỏi xách giỏ trầu đi về Ðạo Ngạn thì tối hôm đó cô Hai Tố Trinh đập bầu. Ông bà ông vải ơi, kỳ nầy cô đẻ hai thằng con trai. Tuy hai anh em nó nhỏ thó nhưng không có vẻ èo uột. Sản phụ ngắm hai thằng con mà ứa nước mắt. Cô khấn vái đức Quán Thế Âm Bồ Tát phò hộ tụi nó chóng lớn ăn chơi. Cô Út Tố Hiền hầm giò heo với đu đủ cho chị mình ăn để có nhiều sữa. Sản phụ ăn cơm với thịt cá kho rắc thiệt nhiều tiêu với món canh hầm kia. Cô được mẹ và em cho uống nước hột gòn rang thay thế nước trà. Ðó cũng là thức uống cho cô có nhiều sữa.

Bà Bang biện Huỡn nói :

- Ðể má nhắn tin cho bên chồng con hay để họ mừng.

Bởi còn hờn chồng và tía má chồng, cô Hai Tố Trinh cản :

- Khoan đã má. Ðể con chỏi hỏi sẽ hay. Bên nhà chồng con ăn ở với con tệ lậu lắm. Con phải làm khó họ một chút cho bỏ ghét.

Bà mẹ háy con một cái bén ngót :

- Mầy đừng có đỏng. Già néo thì đứt dây đa con!

Rồi bà tìm người nhắn tin.

Hôm nay là 24 tháng chạp. Nhà có nuôi sẵn bốn cặp vịt cà cuống, hai con gà mái tơ. Dưa cải, dưa giá, bánh phồng, bánh tránh có vợ tá điền lo. Cô Út Tố Hiền bắt đầu lo nồi cá lóc và thịt bắp đùi kho chung với nước dừa xiêm, có đệm trứng lưộc. Cô ngồi xe ra chợ Mỹ Tho mua tóc tiên, bún tàu, bóng da heo, vi cá, khô mực, lạp xưởng, vịt ướp bắc thảo phơi khô, hồng khô, chà là, trà, rượu…Khi về tới nhà thì cô gặp bà Cai tổng Xiêm và cậu Hai Tùng ngồi chuyện vãn với bà Bang biện Huỡn ở trung đường, trên bàn là một mâm chất đầy bánh in, bánh đậu xanh và trà rượu. Ý chừng là mâm quà biếu của bà Cai tổng. Còn cái tên Hai Tùng mắc dịch mắc toi diều moi quạ mổ kia đến đây làm chi? Thấy cái bản mặt trắng như cái bánh bao của hắn mà cô căm gan. Nhưng mà hôm nay hắn không có vẻ dúc dắc hí hửng như chầu xưa. Vẻ trang nghiêm buồn buồn của hắn làm cô thắc mắc. Hắn ăn bận sáng mát và thẳng nếp : áo sơ-mi cụt tay màu trứng sáo, quần vải tít-so trắn, chơn đi giày đen đánh bóng nẩy sao. Ủa lạ, tại sao hắn không ở luôn trên miệt Nam Vang mà còn trồi đầu vác thây về đây làm chi?

Cô Út Tố Hiền chào khách rồi bương bả lủi vô buồng cô Hai Tố Trinh. Tại đây cô gặp bà Hương quản Mẹo, em dâu của bà Bang biện Huỡn và bà Hội đồng Giỏi. Bà nầy cũng thuộc hạng chòi mòi tọc mạch, cũng có cái miệng tai trời ách nước như bà Hội đồng Giỏi. Từ hôm cô Hai Tố Trinh về đây đợi ngày đập bầu và đón Tết thì bà ta cứ lân la hỏi trặc trẹo hai mẹ con cô về chuyện cô Hai Tố Trinh.

Bà Hương quản Mẹo cười :

- Nè Út, cậu Hương quản cháu đang lấy quẻ tử vi cho hai thằng cháu đây. Mới liếc sơ sơ ổng thấy cung Thân và cung Mạng tụi nó, cung nào cũng có sao chánh diện cái chủ toạ, cái xung chiếu, cái hợp chiếu thiệt tốt.

Bỗng bà Bang biện Huỡn bước vào buồng, bảo con út :

- Con lo coi cơm nước đãi khách. Bác Cai tổng cùng thằng hai ăn cơm trưa xong ở đây chơi, xế mát trời họ mới về Bến Tranh.

Cô Út Tố Hiền cùn quằn :

- Sao má mời chi cái anh chàng công tử miệt vườn khó thương dễ ghét, mặt mét mắt lươn, nhiều xương ít thịt đó!

Bà Bang biện Huỡn mặt tỉnh rụi, mắt lạnh ngắt, bảo con :

- Ậy, mầy đừng có cãi! Người ta là khách tới nhà, không gà thời vịt, không thịt thời tôm, mình phải ân cần thết đãi mới là phải chớ.

Bà vội vàng bước ra tiếp khách. Bà Hương quản Mẹo cười :

- Cái con nầy chưa chi đã chê đắng chê hôi con trai người ta. Hai cháu thấy sao chớ theo mợ thì thằng Hai con ông bà Cai tổng Xiêm cũng phì mỹ tốt tươi, lưng dài vai rộng đó chớ.

Cô Út Tố Hiền ngoe ngoảy xuống bếp nấu nước sôi để làm lông con vịt xiêm.

Bên ngoài, sát bên bờ sông Bảo Ðịnh, cây vông đồng đơm hoa đỏ rực rỡ. Nước kinh rạch, sông ngòi trong vắt. Trong xóm, tiếng chày giã bánh phồng cứ cắc cùm văng vẳng. Một chiếc ghe thương hồ lướt qua, giọng hò cô lái lanh lảnh :

Hò ơ ớ…
Cây quằn vì bởi trái sai
Em xa anh vì bởi bà mai ít lời
Hò ơ ớ..
Ăn chanh nhớ tỏi ngùi ngùi
Ngồi trong đám hẹ nhớ mùi rau răm…

° ° °

Khi khách ra về, bà Bang biện Huỡn tìm hai con gái, cho biết :

- Mồng hai Tết, thằng Hai Tùng qua đây chúc Tết. Nó ưa ăn bánh cống, con út nhớ đón mua tép bạc để đổ bánh cống, đừng quên.

Cô Hai Tố Trinh cười :

- Tết nhứt, nhà nhà thiếu gì nem chả. Khi không mình làm bánh cống, coi không giống ai!

Cô Út Tố Hiền hỏi :

- Rồi chừng nào ảnh trở về Nam Vang?

Bà Bang biện Huỡn cười nửa miệng :

- Nó về Nam Vang làm chi. Còn ai ở đó mà về!

Cô Út Tố Hiền chưng hửng :

- Ủa, còn con Bảy Kim Liên đó chi?

Bà Bang biện chậm rãi vừa ngó bà Hương quản Mẹo vừa bảo con gái :

- Ối, thứ gái đi ngang về tắt đó thì kể đến làm chi! Con nhớ tiếp đãi anh chị Cai tổng và nó cho tử tế. Ra giêng nhà mình có nhiều tin mừng.

Bà Hương quản Mẹo cười :

- Ạ, té ra tin mừng!

Trong hai ngày 27 và 28 tháng chạp, bà Bang biện Huỡn lo trang hoàng trong ngoài. Ông Hương quản Mẹo tặng chị hai cặp vạn thọ, hai cặp mồng gà lưỡi búa. Bà Bang biện thấy hoa vẫn còn ít, bày lỏng chỏng ngoài sân cho nên bà cho thằng Hiệc đánh xe ngựa ra chợ Mỹ Tho mua thêm bốn chậu mồng gà đuôi chồn, bốn chậu ớt kiểng để đặt dưới bốn cột ở hàng hiên. Bà sai chú Báu chặt cho bà một cành mai thiệt lớn, đơm nụ chi chít để bà cắm trong chiếc bình da rạn cao tới gối đặt trên bàn tròn giữa phòng khách.

Cô Út Tố Hiền lãnh phần o bế nồi giò heo hầm măng, nồi canh khổ qua dồn thịt, niêu tôm càng kho tàu. Con heo của bà Bang biện bán cho chú Chệt Sấm có thớt thịt ở chợ Trung Lương vào sáng 29 thì chiều tối bà được chú kiếng lại cho bà bộ đồ lòng và cái đầu heo luộc cuốn rau sống chấm mắm nêm.

Cô Hai Tố Trinh đã cho người mang hai lá số tử vi của hai thằng con và lá thư báo hỷ đến gia đình nhà chồng. Sáng ngày 29, cậu Hai Hoành chồng cô, lái xe chở quà cáp tới nhà nhạc mẫu. Bà Bang biện Huỡn trích ra một chục nem chua, một chục bì gói và con gà mái tơ đem biếu ông bà Hương quản Mẹo.

Cậu Hai Hoành có dung mạo bặm trợn hùng tráng. Giọng cậu rổn rảng như chuông. Cậu bảo vợ :

- Mình nên đem các con về Xoài Hột ăn Tết cho gọn.

Cô Hai Tố Trinh háy chồng :

- Ðâu có được! Hai đứa nhỏ còn đỏ lói, còn yếu ớt như cua lột, đi ra ngoài còn không được huống hồ phải trải qua mấy dặm đường nắng nôi gió máy. Lại nữa, bà ngoại tụi nó muốn chuộc bùa chuộc niệc cho tụi nó để trừ tà ma rồi mới về Xoài Hột. Thôi, ra giêng rồi tính.

Từ khi biết vợ mình sanh con trai. cậu Hai Hoành xuống nước thấy rõ, nhứt là khi cậu đem hai lá số tử vi ra bàn. Cô Út Tố Hiền vốn ghét cái ông anh rể mà cô Hai Tố Trinh kêu là « bạo chúa », nên xí xọn :

- Cậu Hương quản tui nói chị Hai tui có số sanh con thần nhơn giáng thế, tiên thánh giáng trần đó đa.

Cậu Hai Hoành càng ngắm hai đứa con trai, càng thấy lòng mở cờ, dạ nở hoa. Cậu đặt thằng anh tên Hoành Giang, thằng em tên Hoành Sơn. Càng mừng con trai, cậu lại ngùi ngùi thương hai đứa con gái mà bấy lâu cậu lợt lạt hờ hững. Khi từ giã về Xoài Hột, cậu lấy cái bọc mo cau đưa vợ, bảo :

- Ðây là thuốc Phi Anh tể để dành cho con Cúc, con Mai. Anh mong rằng tụi nó uống xong mớ thuốc nầy sẽ hồng hào xinh tốt.

Cậu không quên móc bóp phơi lấy hai tấm giấy 100 đồng vẽ hình bộ lư đưa cho vợ :

- Ba má tặng em mua sắm cho hai đứa lớn và cho em. Em muốn uống thuốc bổ gì, muốn ăn gì thì cứ mua. Khi hết tiền, anh sẽ đưa thêm.

Cô Hai Tố Trinh nhìn chồng lom lom, miệng cười hóm hỉnh. Chèn ơi, cái bản mặt của cậu tối hù như thục địa nấu đường đen, thấy ghét quá chừng chừng! Trong một thoáng, cô nhớ tới cái mặt choắt và cặp môi mỏng của bà mẹ chồng cùng khuôn mặt như bọc lớp sáp trắng bệch của cha chồng. Xời ơi, bà mẹ chồng tui không dữ không ác như bà chàng nho sĩ Lâm Sanh, cũng không nóng nảy, không nhảy đong đỏng như bà Thanh Ðề. Bả chỉ nhẫn nhẫn, the the chớ không đắng chát, cay xé. Bả khó tánh như bà thái hậu Ðịch Thiên Kim thời trào Tống bên Tàu, ưa bắt chặt bắt lỏng, ưa chê thấp chê cao…Còn ông tía chồng tui ngày tối cứ chim bỉm, nói ít nhưng kén ăn dàng mây. Ổng bả cứ xà quần theo hai thằng con trai của chú Ba Tung và tỏ ra lạnh nhạt với hai đứa con gái tui, coi tui như kẻ ngoại cuộc. Bao năm qua tui sống dưới mái nhà hương hoả bên chồng mà có cảm tưởng như ở trong nhà thương thí, lấy nước mắt chan canh. Còn mụ em bạn dâu tui cậy có cha mẹ chồng cưng nên lên mặt với tui, coi tui chẳng có gờ-ram nào.

Ðể rồi bà con coi, thằng Giang của tui mới là cháu đích tôn của tía má chồng tui. Ngôi nhà và sở ruộng hương hoả sau nầy sẽ lọt vào tay nó chớ vào tay ai? Chu choa ơi, ổng bả mà coi xong hai lá số tử vi, chắc chắn là ổng bả cưng hai thằng con tui gắt củ kiệu hơn nữa.

° ° °

Tối 29 tháng chạp, bà Bang biện Huỡn ngồi nhai trầu trên đi-văng chơn quì bằng gỗ cẩm lai, bùi ngùi nghĩ tới gia cảnh cô Ba Tố Thuận. Trong ba chị em, cô Ba kém nhan sắc hơn hết thảy. Mặt cô chần vần với cặp má vừa dầy vừa tròn, mình mẩy cô hơi phục phịch. Mấy mụ lối xóm độc miệng bảo cô giống con cá bống mú, như trái chuối xiêm. Nhưng cô Ba nào chịu lùi bước trước sắc vó mình! Cô cữ ăn, chịu khó vận động, đi bộ để cái eo được thêm thon. Cô rửa mặt bằng nước cơm vo cho da mặt thêm mịn, cô xông khói trà cho cặp má thêm hồng hào rạo rực. Ðã vậy, cô còn biết tỉa chơn mày cho mỏng, biết giữ cho nước răng và cặp môi ửng hồng. Cặp mắt cô gợn sóng thu lai láng, vừa ướt vừa lẵng, vừa sáng vừa say. Bởi đó, ai dám bảo cô là gái lợt lạt thu dung, âm u bóng sắc! Cho nên khi vừa mười tám tuổi thì cô lọt mắt xanh của thầy giáo Ðỗ Kỳ Lân dạy lớp nhứt trường tiểu học chợ Bến Tranh. Trong hai năm đầu, cô thứ nữ của bà sống ngoả nguê hạnh phúc. Cô làm việc cầm chừng, làm bếp cầm chừng…Bởi còn son giá, lại cùng chồng ở trong căn nhà nhỏ và gọn, cô chẳng bận rộn gì nhiều. Việc nhà đã có bà vú lo liệu nên cô dư thời giờ đọc tiểu thuyết. Cô đã viết thư cho cô Út Tố Hiền bằng những câu nồng nàn văn chương diễm tình : « Chồng chị xem chị như một kho tàng trân bửu. Ôi, chị hạnh phúc, hạnh phúc, hạnh phúc. Chị yêu chồng, yêu chồng, yêu chồng…Chị phải la hét cách nào, gầm rống cách nào để diễn tả trọn vẹn tấm lòng yêu đương lai láng, hạnh phúc tràn trề của chị đây? »

Bấy lâu nay, bà Bang biện Huỡn cứ ngỡ thằng rể thày giáo kia và cô con gái cá bống mú của bà sẽ yêu nhau tới răng long đầu bạc, ai mà dè cái thằng rể mô phạm coi nhu mì hiền hậu kia lại bày đặt mèo chuột! Khi hạnh phúc, cô Ba Tố Thuận huênh hoang đía dóc bao nhiêu thì lúc đau khổ cô cũng tru tréo om sòm bấy nhiêu! Chèn ơi, đọc lá thư bù lu bù loa của cô Ba mà bà bủn rủn. Bà chẳng hiểu cái nước đau khổ của con gái cưng đã thành biển nam hay biển bắc, song bà biết chắc cô Ba khó kham khó nhẫn, nếu không khéo tìm phương giải quyết, chắc cô khó mà sống nổi.

Cũng tối hôm đó, cô Út Tố Hiền luộc đầu heo và bộ đồ lòng heo trong chiếc trả lớn để sáng hôm sau nấu cháo. Con Lành thì luộc bánh tét, bánh dừa trong chiếc nồi lớn khác. Nhà bà Bang biện có tục luộc bánh tét, bánh dừa, đầu heo, lòng heo vào tối 29 tháng chạp để bữa tiệc rước ông bà vào chiều ba mươi sẽ bánh trái ê hề trên chiếc quả tử ở các bàn thờ.

Cô Út Tố Hiền dù có cực nhọc trong việc làm bánh làm trái, làm gái làm mụ, nhưng chưa chi cô đã cảm thấy gió xuân reo từng đợt phơi phới trong tâm hồn cô. Nhà của ông bà Cai tổng Xiêm ở gần chợ Bến Chùa. Sáng nào cậu Hai Tùng cũng cỡi xe đạp xuống Ngã Ba Trung Lương uống cà phê ăn hủ tíu, như vậy là bận đi hay bận về cậu đều đi ngang nhà bà Bang biện Huỡn. Cho nên sáng hôm nay, sau khi điểm tâm xong, cậu ghé nhà bà Bang biện để tặng cô Út một bộ lược giắt tóc bốn cái bằng đồi mồi, hai cái giắt ở mép tóc dài cỡ bốn phân, một cái giắt búi tóc dài hơn, một cái để dành chải tóc dài cỡ gang tay, lại còn thêm một cái trâm cũng bằng đồi mồi nữa. Ðây là đồi mồi thứ thiệt sản xuất ở Hà Tiên, vân nâu đỏ coi mới đẹp làm sao!

Bộ lược đồi mồi làm cho cô Út náo nức đã đành mà cũng làm cho cô Hai Tố Trinh cũng vui lây. Trong lúc rì rầm tâm sự, hai chị em chợt nhớ tới hoàn cảnh đáng phàn nàn của cô Ba Tố Thuận. Cô Hai ai hoài :

- Tội nghiệp con Ba! Chẳng hiểu Tết năm nay nó có về đây không!

Cô Út than thở :

- Việc đời biết sao mà lường! Ai mà dè từ thiên đường chị Ba tuột một cái xuống địa ngục…

Nhưng mà thưa bà con cô bác, cô Ba Tố Thuận không để chúng ta tội nghiệp cô lâu. Sáng ba mươi, cô dắt chồng về nhà mẹ ăn Tết, mang theo cam tàu, quít núm, bôm, nho, xá-lỵ, bánh bích-qui, rượu cỏ-nhác, bơ mặn, bơ lạt, cà phê, sữa hộp …làm quà. Cô mặc chiếc áo bằng lụa nâu in bông xanh đỏ rằn rực, quần sa-teng tuyết nhung đen. Cô chải đầu phùng, tóc đánh bím hình con rít rồi bới đầu lèo cao khỏi ót, cái búi tóc dẹp dẹp tròn như cái bánh tiêu được bao lưới đen, giắt thêm chiếc trâm hình trăng khuyết cẩn hột xoàn chiếu nhấp nháy. Cô tỉa chân mày nhỏ rí như sợi chỉ và cong vòng như mống trời. Cô tô son môi hình trái tim, đánh má hồng hực hỡ, đeo trân châu, cẩm thạch, hột xoàn choáng lộn. Tuy là vợ thầy giáo lớp nhứt mà cô chưng diện và ăn xài như bà hoàng. Ấy chẳng qua vì thầy giáo Lân là con điền chủ bực trung, cha mẹ thầy thường bù sớt tiền bạc cho thầy. Cách đây hai năm, người cô ruột của thầy vốn không con, khi qua đời, để lại cho thầy hai chục mẫu ruộng cùng khá nhiều vòng vàng tiền bạc.

Thầy giáo Lân nho nhã, trắng trẻo, cười điềm đạm. Nhưng nhìn kỹ thì thấy cặp mắt của thầy không vừa. Ðây là cặp mắt nòi tình, lại thêm nụ cười hóm hỉnh, đầy hậu ý nên khi nhìn cô nào là da thịt cô đó nhột nhạt một cách thú vị. Thầy mặc áo bành-tô bằng vải xi-mi-li trắng, tra nút hổ phách đỏ, quần ka-ki trắng ủi thẳng nếp, chơn đi giày da vàng.

Bữa cơm trưa hôm đó, cả nhà ăn đầu heo luộc, cá nhám hấp, tôm hấp cuốn bánh tráng đệm bún, rau sống và chấm mắm nêm giã tỏi ớt.

Trong bữa ăn, cô Ba Tố Thuận tía lia với mọi người, ỏn ẻn nhõng nhẽo với chồng. Thầy giáo Lân nhìn vợ âu yếm, mặt khờ ra, nụ cười luôn luôn nở sáng trên môi.

Bà Bang biện nhìn cô Ba phàn nàn :

- Ðầu cổ để thờ ông bà, vậy mà mầy chải tóc có chà có chôm, chải chín lượn mưòi mồng coi dị ôn quá!

Cô Ba Tố Thuận liếc mẹ có đuôi :

- Ậy! Chuyện đờn bà son trẻ mà má!

Bà mẹ tiếp tục rầy rà :

- Gấm nhung, lụa hàng, nhiễu xuyến thiếu gì thứ màu nhu nhã, mắc mớ chi mà mầy dến thứ hàng ni-lông màu in chồng hoa hoè loè loẹt. Chèn ơi, tao coi mầy sao giống con cắc kè bông, cắc kè gấm quá Ba à!

Cô Ba vẫn cười :

- Ậy! Chuyện đờn bà tỉnh thành thời nay ăn bận, má để ý làm chi!

Bà mẹ vẫn chưa tha :

- Ðã vậy mà mầy còn đánh phấn, tô son, tỉa chơn mày. Chu choa ơi, cặp má mầy đỏ rần như bị ai tát ai vả. Mèn ơi, coi cặp môi mày đỏ chót như dính huyết heo. Tao không hiểu ảnh chỉ ở Bến Tranh nghĩ sao khi có một nàng dâu ưa màu mè rằn rực như mầy.

Thầy giáo Lân đỡ lời vợ :

- Vợ con khi ở Bến Tranh cũng chỉ ăn diện vừa thôi. Khi về thăm tía má con thì nó ăn mặc vải bô, tóc chải xẹp lép, chơn đi guốc vông. Khi đến nhà bà phủ, bà huyện, bà cai tổng thì nó ăn diện theo kiểu nửa cổ nửa kim, nửa quê nửa chợ. Còn khi đi viếng nhà nào ăn ở theo cánh tân thời thì nó mới ăn diện áo bợ ngực bó eo, mới tô son giồi phấn hực hỡ...

Ăn cơm xong, mọi người tráng miệng bằng đu đủ, chuốì cau và dùng trà Ô Long. Bà Bang biện khuyên chàng rễ về buồng nghỉ ngơi.

Ðâu chừng cỡ hai giờ trưa, bà Hội đồng Giỏi đội nón gò găng từ Ðạo Ngạn qua thăm. Theo bà là con Lài xách buồng cau xiêu và mấy ốp trầu vàng. Bà nguýt bà Bang biện Huỡn :

- Tui trách chị lắm nghe chị Bang biện. Mấy mẹ con chị cứ giấu giấu úp úp chuyện nhà với tui hoài! Nội việc con Hai hốt lũ con về đây đập bầu và ăn Tết là đã kỳ rồi. Người ta đẻ con so thì mới về nhà mẹ ruột, đằng nầy con Hai đã trải hai lần lửa củi, đã hai lần chửa đẻ rồi, bụng nó đã nhăn như cái nhau mèo rồi, mông háng nó đã trổ rễ tre chằng chịt rồi...Nó mà về đây đẻ là có chuyện lớn bên chồng nó chớ chẳng không. Còn con Út có người đi coi mắt mà chị cũng giấu luôn. Tới con Ba năm nay không chịu đón giao thừa bên chồng, lại dắt chồng về bên nầy để làm chi? Lạ thiệt!

Ðâu chừng giập bả trầu, bà Hương quản Mẹo cũng đội khăn lụa màu hột gà từ Bến Chùa xuống, ôm theo quả bánh phục linh. Bà Hội đồng Giỏi bày tỏ thắc mắc với mụ em dâu rồi chắc lưỡi :

- Thiệt tình tui cũng không hiểu nổi chị hai tui với mấy đứa nhỏ nhà nầy. Họ làm như lập hội kín không bằng!

Bà Hương quản Mẹo lộ vẻ bất bình, ngó bà Bang biện lom lom :

- Ừ, chị Bang biện có lòng chặt chịa, trong trào ngoài quận ai mà không biết!

Bà Bang biện Huỡn chậm rãi têm trầu, nói :

- Ai mà giấu dì Hội đồng và mợ Hương quản làm chi! Bởi mọi chuyện có ngã ngũ ra sao đâu mà tui thố lộ ra? Thôi kỳ rằm tháng giêng tui mời dì, mời mợ tới đây tụng kinh Phổ Môn rồi tui kể khúc nôi mọi chuyện cho mấy người nghe, kể từ đầu tới đưôi, từ gốc tới ngọn, không dám giấu giếm một điều gì với mấy người hết.

Bà Hội đồng ngó bà Hương quản cười lạt. Hai bà cùng ngoe ngoảy kiếu từ gia chủ, vừa đi vừa bàn tán từ nhà ra tới lộ rồi cùng hầm hầm liếc vô nhà bà Bang biện Huỡn trước khi chia tay, kẻ về Bến Chùa, người qua Ðạo Ngạn.

Bà Bang biện ngó theo em gái và em dâu, bảo cô Ba Tố Thuận và cô Út Tố Hiền :

- Dì Hội đồng bây cùng mợ dâu bây có chung một tánh một nết. Mà càng nghĩ chừng nào càng tức cười cho họ chừng nấy.

Cô Ba Tố Thuận trề môi :

- Hai bả thân nhau đó rồi ghét nhau đó, cầu huề để rồi lại nói xấu lẫn nhau. Tàu xe nào chở nổi lời thô lời ác của họ.

Bà Bang biện chợt nhớ ra :

- Hồi nãy má quên tặng dì con chút ít phẩm vật. Bậy quá!

Cô Út Tố Hiền bảo :

- Hôm 25 tháng chạp má đã tặng dì Hội đồng một hũ mắm tôm chà, một hũ mắm tôm chua rồi. Hôm qua nhơn lúc anh Hai Khá qua thăm, má cũng đã tặng thêm một chai nước mắm hòn nữa, má quên rồi sao?

Bà Bang biện lấy hai chai rượu chát hiệu Con Dơi, và một gói kẹo hột điều, sắp vô chiếc giỏ rồi kêu thằng Sịa :

- Mầy đem mấy thứ nầy qua Ðạo Ngạn tặng bà Hội đồng. Luôn tiện mời cậu Hai Khá sáng mồng hai qua đây cụng ly với dượng Ba mầy, nghe hôn?

Cô Út Tố Hiền không ngủ trưa, cô o bế nồi cháo lòng cho thiệt ngọt. Món dồi sả do cô Ba Tố Thuận làm thì ngon khỏi chê.

Con Lành vào vườn hái lá ổi, lá bưởi, lá ngũ trảo, lá sả, lá mãng cầu, lá bình bát để nấu nước cho ba cô Tố tắm rửa. Nó cũng không quên nấu nước bồ kết và hái lá chanh giấy để cả ba gội đầu.

Trong lúc ba mẹ con loay hoay nấu nước, bà Bang biện hỏi cô Ba Tố Thuận :

- Nè Ba, có phải thằng chồng con có mèo thiệt hay là con ghen bóng ghen gió mà la hoảng vậy?

Cô Ba Tố Thuận cười đắc thắng :

- Nó có mèo thiệt đó má. Ðó là con Tư Thu Cúc, gái điếm trôi từ chợ Thủ Thiêm xuống ga Tân Hiệp rồi trôi đến Bến Tranh. Con đó coi cũng sạch sẽ, trắng trẻo. Nhưng mà gặp ai khác nó mới hòng cướp được chồng người, nhè gặp tay con thì nó có khác nào sa vào nơi hang cọp đàm rồng!

Vào lễ cúng rước ông bà chiều hôm đó, thầy giáo Lân mặc áo dài, đầu bịt khăn đóng, thắp nhang rót rượu kháp các bàn thờ khấn ông bà. Món cháo lòng ăn kèm với bún, giá sống điểm lất phất rau húng xắt nhuyễn là món chánh. Ngoài ra còn món đầu heo luộc xắt mỏng còn dư từ bữa ăn trưa, món nem, bì gói cũng được dọn ra. Bà Bang biện cho phép tôi trai tớ gái ăn chung với gia đình chủ nhà. Ba người tớ trai được dịp cụng ly với thầy giáo Lân.

° ° °

Tối ba mươi đen như tô dầu hắc. Nhà nhà cửa ngõ đóng chặt. Ngoài sân, tiếng khánh trên cây rung leng keng theo từng cơn gió.

Cô Ba Tố Thuận dặn chồng :

- Mình cứ đọc báo rồi ngủ trước. Em thức luôn để đón giao thừa.

Trong lúc bà Bang biện coi việc nhang đèn và cúng nước trên khắp các bàn thờ, thì cô Ba Tố Thuận và cô Út Tố Hiền xúm lại nói chuyện khào với cô Hai Tố Trinh tại buồng đẻ. Dù chưa được khô ráo, cô Hai vẫn tắm rửa gội đầu để xả xui mọi việc trong năm qua. Khi lau khô mình mẫy, cô xức dầu chổi khắp sống lưng, khắp các khớp xương. Cô cũng không quên xức dâu cù-là ở màng tang, chót mũi, sau ót và ở mi tâm.

Cô Ba Tố Thuận xúi chị :

- Chị cứ đổ hô hai thằng cốt đột nầy còn non yếu để được ở lâu bên nầy. Phải chờ tía má chồng chị cơm ghe bè bạn qua thăm vài lần rồi hẵng về.

Cô Hai Tố Trinh nhìn lom lom con em thủ đoạn, quyền biến của mình. Ðẹp! Con nầy đẹp theo cách của nó. Má miếng bầu thì khó mà đẹp, nhưng là khó với ai kia chớ đối với con nầy thì lại là cái duyên độc đáo vì cặp má hoà hợp với cặp môi trái tim của nó biết mấy. Cô Hai e dè bảo em :

- Nè Ba, mầy chỉ vẽ cho tao cách ăn mặc tân thời với nào. Tao thích mặc áo dài bó eo bợ ngực hè.

Cô Ba Tố Thuận hỏi gặng :

- Chị dám làm như em không? Coi bộ khó cho chị lắm đa!

Cô Hai Tố Trinh bảo :

- Tao sẽ làm như mầy. Hễ ở nhà thì tao ăn mặc như cũ, tức là theo gái quê. Khi đi viếng những chỗ quyền quí thủ cựu thì tao ăn mặc nửa cổ nửa kim. Còn có dịp đi chợ Mỹ Tho hay đi coi hát cải lương ở rạp thầy Năm tú thì tao ăn mặc theo gái tân thời Sài gòn.

Cô Út Tố Hiền ngứa miệng xen vào :

- Em nhứt định sẽ tỉa lông mày, chải đầu phùng và bới đầu lèo bất cứ lúc nào. bất cứ ở đâu.

Cô Ba Tố Thuận hạ thấp giọng :

- Mấy " bà " chưa biết thủ đoạn của con nầy đâu. Muốn hất văng con Tư Thu Cúc, nó phải dùng đủ thủ thuật để thằng chồng nó vừa mê vừa ghen. Nó phải tự hoán cải thành mẫu người mới qua cách ăn diện để nịch ái thằng chồng ưa mới nới cũ, tham thanh chuộng lạ của nó.

Ðợi lúc cô Út xuống bếp coi siêu thuốc ôn bổ cho cô Hai Tố Trinh, cô Ba kề mỏ vào tai chị, nhỏ giọng :

- Ðờn ông thời buổi nầy dịch vật lắm nghen chị. Muốn hớp hồn chồng mình phải đóng hai vai trò : khi bước xuống giường mình phải là người vợ, còn khi leo lên giường thì mình phải đóng vai con điếm thập thành chịu chơi hết mình. Em nó ít chị phải hiểu nhiều.

Cô Hai mắc cở đỏ mặt :

- Chị nói em nghe, không phải chị không biết điều đó. Chị còn làm nhiều chuyện kinh thiên động địa để mê hoặc anh Hai em. Ngặt ảnh thấy chị đẻ con gái hoài nên ảnh nột, trong khi đó chú Ba Tung cậy có con trai nên cứ dòm hành phần đất và ngôi nhà hương hoả luôn. Nay chị đã đẻ hai thằng cốt đột nầy thì ảnh yên bụng lắm rồi. Từ đây ảnh chỉ việc mê lú và cưng chiều chị mà thôi.

Tới phiên cô Ba đỏ mặt. Cô hỏi :

- Chị làm cách nào vậy? Ai dè chị mà cũng trổ quỉ trổ yêu, nghĩ nhiều kế độc.

Cô Hai Tố Trinh năn nỉ :

- Nói nhỏ nhỏ chớ em! Con Út sắp vô đây bây giờ. Nó mà biết được hai con chi chồn chín đuôi của nó trao đổi tiếng ngọc lời vàng chắc nó chịu không nổi đâu! Phải đợi cái đêm nó sắp bước lên xe bông dông về Bến Chùa thì chị em mình cùng đồng tâm hiệp sức giao huấn nó.

Cô Ba Tố Thuận hỏi :

- Hồi chị sắp về nhà chồng, ai dạy chị cái...chuyện kinh thiên động địa đó?

Cô Hai chúm chím cười :

- Thì mợ Hương quản chớ ai! Má và dì Hội đồng nghĩ rằng mình là phận đàn bà vá, phải lo thờ phụng vong linh chồng, không nên nhắc tới cái chuyện mà vì số phận cay nghiệt bắt họ phải dứt ngang xương. Chính mợ Hương quản dạy cho chị đủ đường đi nước bước, đủ nghề trong món ngoài. Chèn ơi, cậu của tụi mình cũng dịch vật lắm. Cẩu gặp mụ vợ thông minh, chuyện nhỏ cỡ hột lúa mụ trây trét cỡ trái dừa, nhỏ cỡ hột mè mụ thổi phồng cỡ trái bưởi...

Vừa nhác thấy cô Út bước vô, cả hai cô vội vã xoay qua chuyện khác.

Gần tới giao thừa, cô Ba Tố Thuận về buồng đánh thức chồng. Còn cô Út Tố Hiền đánh thức hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai. Ba cô Tố lấy áo gấm ngày cưới ra diện. Ðó là thứ gấm màu hồng điều nổi bông bạc hình mặt nguyệt. Cô Ba và cô Út diện quần lụa trắng. Còn cô Hai vì chưa khô ráo nên mặc quần sa-teng tuyết nhung đen. Thầy giáo Lân mặc áo gấm xanh bông bạc, quần lụa trắng, chơn mang giày hàm ếch, đầu đội khăn đóng. Hai chị em Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai mặc áo đầm màu hường, tóc cài lược đồi mồi. Con Lành mặc bà ba lụa tím, quần cẩm tự đen. Ba đứa tớ trai mặc sơ-mi trắng, quần ka-ki xanh, chơn đi xăng-đan. Bà Bang biện Huỡn chễm chệ ngồi trên bộ ván cẩm lai để chờ mừng tuổi, chúc Tết. Bà mặc áo the La-Cải đen, bên trong là áo lục soạn trắng. Bà bới tóc ba vòng một ngọn, giắt trâm nĩa bằng vàng. Bà đeo giây chuyền nách cả bụm, đeo neo quai chảo dầy cả tấc ở cườm tay và đeo cà rá cửu khúc liên huờn. Ðôi bông tai của bà gồm cặp hột xoàn lớn cỡ hột chùm ruột tra vỏ vàng. Chèn ơi, các món nữ trang bằng vàng của bà đều nhuộm đỏ choé, cái vỏ vàng làm cho nước hột xoàn vàng ngàu như dính phèn.

Bà Bang biện Huỡn lì xì cho con, rể, cháu ngoại và tôi tới rất hậu. Sau đó mọi người quây quần bên mâm tiệc gồm có bánh tét ăn với thịt kho, cá kho cùng dưa giá, dưa kiệu, món cháo gà và gỏi gà.

Khi về buồng với vợ, thầy giáo Lân hỏi :

- Em cùng chị Hai và dì Út lâu ngày gặp nhau chắc có vô số chuyện kể lể?

- Ðúng vậy, toàn là chuyện đờn bà không hè.

Thầy giáo Lân cười tinh quái, nhìn vợ từ đầu xuống chơn :

- Chém chết cũng có liên quan tới đờn ông chớ chẳng không.

Cô Ba Tố Thuận xỉa ngón tay vào trán chồng, cười mơn :

- Anh sao trặc trẹo hoài! Chuyện đờn bà mà không có bóng dáng đờn ông chen vô thì em nói làm chi cho tốn nước miếng!

Ðêm xuân mát dịu. Thầy nhìn cô vợ yêu của mình trong ánh sáng mù mờ của ngọn đèn chong trứng vịt. Cô có vẻ "xuân" hơn bao giờ, mắt long lanh ướt rượt, nụ cười ngỏn ngoẻn, rèm mi chớp lia chớp lịa...Thầy ôm chặt vợ vào lòng.

° ° °

Từ hôm 29 tháng chạp tới sáng mồng một, cả nhà ăn nhiều món ngon vật lạ nên đều cảm thấy rêm cả bụng. Món vịt nấu cà-ri ăn với bún coi vậy mà lạ miệng. Các món ăn căn bản trong ba ngày Tết như giò heo hầm măng, khổ qua dồn thịt, cá thịt kho, tôm kho tàu...được bày ra cúng trên bàn thờ ông bà xong rồi trút trở lại vào nồi, vào ơ. Bánh tét, dưa món, dưa kiệu bày cúng xong đã có tôi trai tớ gái " độ " giùm hết.

Cô Hai Tố Trinh tức mình vì chưa khô ráo nên không thể mặc áo đẹp đi chùa. Vả lại hai cái áo dài gấm, một đỏ một xanh của cô may theo kiểu xưa, khéo ở chỗ tà úp nhưng đâu được bợ ngực bó eo như cái áo dài rằn ri và cái áo lụa màu hoàng yến của cô Ba Tố Thuận.

Mồng một, vợ chồng thầy giáo Lân qua Ðạo Ngạn chúc Tết bà Hội đồng Giỏi rồi ăn cơm luôn ở nhà bà. Chiều xế, họ dông lên Bến Chùa để chúc Tết ông bà Hương quản Mẹo và ăn cơm tối ở đó.

Bà Bang biện Huỡn và cô Út Tố Hiền ở nhà tiếp khách cho tới tám giờ tối mới đóng cửa. Cô Ba gạ gẫm cô em út ít :

- Em có cái áo nhung tím, nên đeo kiềng chạm của chị thì áo và kiềng đều nổi cả. Cho chị mượn sợi giây chuyền bướm của em để chị diện với cáo áo lụa hồng đào của chị.

Cô Út Tố Hiền liếc xéo chị :

- Mồng ba, em mới cho chị mượn sợi dây chuyền bướm. Ngày mai em cần đeo nó.

Sáng mồng hai Tết, con Lành báo tin chợ Trung Lương bắt đầu nhóm le hoe. Cô Út dặn nó mua tép bạc, còn cô ra vườn hái rau húng, ngò, lá cải thơm, rau diếp cá. Cô Ba Tố Thuận bảo em :

- Ðể chị và con Lành đổ bánh cống cho. Hôm nay em phải diện gắt lên mới được.

Cô dắt em về buồng mình, chải đầu phùng, giồi phấn sương sương và thoa son phơn phớt cho em.

Khách gồm có cậu Hai Tùng, cậu Hai Hoành và bà Huyện Ðống. Bà Huyện trước đó vô buồng thăm dâu và cháu nội rồi mới ra trò chuyện với bà suôi. Bà Bang biện hớn hở bảo bà Huyện :

- Sao chị suôi? Chị thấy hai thằng cháu nội của chị ra sao?

Bà Huyện Ðống nhai trầu nhóc nhách :

- Sống mũi tụi nó giống sống mũi thằng tía tụi nó quá chừng chừng.

Bà Bang biện nhìn hai con cháu ngoại. Tụi nó gặp bà nội mà tỏ ra áy náy, bợ ngợ lắm. Sẵn lúc bà Huyện đang vui, bà nói :

- Con gái tui sanh đôi, chắc không đủ thời giờ săn sóc hai đứa con gái của nó. Vậy chị suôi nên để hai con Huỳnh Cúc, Huỳnh Mai cho tui săn sóc. Nay mai dì Út tụi nó về nhà chồng, cảnh nhà vắng vẻ, nếu có hai đứa cháu ngoại, tui cũng đở buồn.

Bà Huyện Ðống nhìn hai đứa cháu nội gái lom lom làm tụi nó hoãng hồn lủi mất. Bà nói :

- Chị tính vậy cũng tiện. Tui và thím Ba tụi nó cũng túi bụi tùng bùng, chắc trông coi hai tụi nó không kham. Ðể tui nói lại với ông nhà tui.

Bà Bang biện Huỡn mời bà Huyện Ðống qua bộ ván ngồi ăn trầu. Cô Ba Tố Thuận từ nhà dưới bước lên chào anh rể và cậu Hai Tùng :

- Tết năm nay thiệt tình em không dè gặp anh Hai. Chèn ơi, anh Hai khéo tu nên có gái có trai đủ hết. Riêng em lấy chồng đã hai năm rồi mà chưa cấn thai cho chồng em mừng.

Cô mời anh rể và cậu Hai Tùng vào bàn ăn để vầy tiệc rượu. Cô bày nem, bì, thịt phay, mắm tôm chua, rau sống, gà luộc, gà uớp sả nướng...Hai Hoành tỏ phong độ đàn anh, ưu ái với thầy giáo Lân và Hai Tùng lắm. Cô Út Tố Hiền lãnh phần bồi tiệc. Mỗi khi cô nghe Hai Hoành, thầy giáo Lân kêu Hai Tùng bằng " dượng Út " và nghe Hai Tùng kêu hai người kia bằng " anh Hai ", " anh Ba " rồi xưng " em " thì cô cười chúm chím, má đỏ hây hây, mắt ướt rượt.

Bên bộ ván cẩm lai ngoài trung đường, bà Huyện Ðống hết lời khen cô Ba Tố Thuận và cô Út Tố Hiền. Sau cùng bà nói:

- Thú thiệt với chị suôi, tui luôn van vái đất nước ông bà phò hộ cho con dâu lớn tui sanh con trai để nối dõi dòng họ cho chồng tui. Hai thằng cháu nội tui đây mới là dòng đích. Con dâu lớn tui khôn mà không xảo. Nó cư xử mềm mỏng, khoan dung với người dưới và lũ tôi tớ, biết kính nhường kẻ trên người trước cho nên ông trời không phụ cái đức của nó.

Nằm trong buồng, cô Hai Tố Trinh nghe rõ câu chuyện vãn giữa mẹ ruột và mẹ chồng. A di đà Phật!. Số tui là số có con tiên con thánh, phải vậy chăng? Bây giờ tụi nó còn đỏ thé, lớn cỡ bắp vế, chưa làm rạng rỡ tông môn, chưa làm chuyện khuấy nước chọc trời gì ráo. Nhưng tụi nó cứu giúp tía má tụi nó ra khỏi ngõ bí, má tụi nó từ đây được sống an ổn hạnh phúc bên chồng.
Hai Tùng lỡ tay làm đổ ly rượu chát ướt cả ống quần, Hai Hoành bảo em vợ:
- Dì nên đưa dượng Tư ra sàn nước gột đỡ chỗ ướt rượu đi.
Cô Út gật đầu lỏn lẻn. Tại sàn nước, Hai Tùng thì thầm:
- Em Hiền, em có giận anh không?
Cô Út cười cười không trả lời. Cậu phải gặng hỏi ba lần cô mới tâm sự:
- Nếu giận anh mà té vàng té bạc thì em giận liền.
Cậu ngây người ngắm cô:
- Em đẹp quá! Trước kia anh có mắt không tròng...
Cô Út Tố Hiền háy dài:
- Quỷ nà! Tết nhứt mà nói chi những tiếng thô như vậy, không tốt đâu anh. Ðể em xối nước cho anh gột chỗ ướt rượu.
Cậu Hai Tùng cười mơn:
- Anh làm bộ đổ rượu để ra đây nói với em vài điều, kẻo không lòng anh bào xào khó chịu lắm.
Cô Út bật cười:
- Anh thiệt là... quỷ quái! Coi chừng em đó!
Cô xối nước cho cậu gột ống quần rồi bương bả vào bếp. Tại bếp, cô thấy hai mụ chị dùm đầu châu mỏ xậm xì xậm xịt. Vừa thấy cô trờ tới, cả hai im miệng hến khép miệng sò lập tức. Cô Hai Tố Trinh sau đó bảo cô em út của mình:
- Hai Tùng có cho má biết ông bà Cai Tổng Xiêm định mồng mười tháng giêng sẽ cho làm đám hỏi. Hai mươi tháng ba sẽ làm đám cưới. Mùa xuân lúc đó còn kéo dài thêm muời ngày nữa. Trước khi rước dâu, vào một đêm xuân, tao với con Ba sẽ có nhiều chuyện nói với mầy.
Cô Út Tố Hiền trố mắt:
- Chuyện gì vậy? Sao không nói liền cho em biết có sốt dẻo hơn không?
Cô Ba Tố Thuận nguýt:
- Nói liền sao được cưng ơi! Em vốn... nhạy cảm, không nên nghe bây giờ. Ngày xuân còn dài. Chỉ cần một đêm xuân em nghe chuyện của tụi chị thì về sau, em có hằng vạn cái đêm rất là... xuân.
Hồ Trường An
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời

Âm thanh cuối của nỗi đau tuyệt vời Như Bình là nhà văn nổi tiếng. Chị là văn nhân đúng nghĩa, dù công việc làm báo hàng ngày bận rộn. Thờ...