Ở vùng đất xứ Đoài xưa, một hệ thống những ngôi chùa gồm chùa
Trăm Gian, chùa Trầm, chùa Tây Phương và chùa Thầy đều là những ngôi chùa cổ có
kiến trúc rất độc đáo, nổi tiếng khắp miền Bắc cũng như cả nước.
Chùa Trăm Gian được coi là di sản
kiến trúc Phật giáo của Việt
Nam.
Trước hết, hãy cùng tìm hiểu về ngôi chùa Trăm gian - một
trong những ngôi chùa độc đáo có một không hai của Việt Nam. Chùa Trăm Gian hay
còn có tên gọi khác là chùa Quảng Nghiêm hay chùa Tiên Lữ, là một ngôi chùa nằm
trên một quả đồi cao khoảng 50 m, ở thôn Tiên Lữ, xã Tiên Phương, huyện Chương
Mỹ, Hà Nội. Chùa được lập từ đời Lý Cao Tông nhà Lý, niên hiệu Trinh Phù thứ
10, 1185. Đến thời nhà Trần, có hòa thượng Bình An, quê ở Bối Khê tu ở đây,
tương truyền là người có nhiều phép lạ. Sau khi ông mất, dân làng xây tháp để
giữ gìn hài cốt và tôn gọi là Đức Thánh Bối. Ngôi chùa lớn với quy mô như hiện
nay là đã được trùng tu và xây dựng thêm qua nhiều thời đại.
Ở sân chùa có gác chuông hai tầng tám mái được dựng vào năm
Quý Dậu 1693, niên hiệu Chính Hòa, đời Lê Hy Tông, là một công trình kiến trúc
có giá trị nghệ thuật cao. Chùa còn giữ được nhiều di vật và tượng quý. Trăm
gian, cái tên rất bình dân, dường như muốn nói lên vẻ bề thế của ngôi chùa.
Bên cạnh những giá trị về mặt lịch sử (với việc được xây dựng
cách đây 9 thế kỷ), chùa Trăm Gian đặc biệt có giá trị rất lớn về mặt kiến
trúc. Đây là một quần thể kiến trúc độc đáo. Theo cách tính cứ 4 góc cột là một
"gian" thì chùa có cả thảy 104 gian, chia thành 3 cụm kiến trúc
chính. Cụm thứ nhất gồm 4 cột trụ và 2 quán, trước đây là nơi đánh cờ người
trong ngày hội, tiếp đó là nhà Giá Ngự nhìn ra mặt hồ sen, nơi đặt kiệu thánh để
xem trò múa rối nước.
Trèo qua mấy trăm bậc gạch xây là tới cụm thứ hai gồm một tòa gác chuông 2 tầng mái, có lan can chạy quây 4 mặt. Các ván bằng đều có chạm
hình mây hoa. Tại đây treo một quả chuông cao 1,10 m, đường kính 0,6 m, đúc năm
Cảnh Thịnh thứ hai, 1794. Trên chuông có khắc một bài minh của Phạm Huy Ích.
Qua gác chuông, leo 25 bậc đá xanh hình rồng mây, đến sân trên có kê một sập đá
hình chữ nhật.
Lại leo 9 bậc đá, hai bên có lan can chạm hình rồng cuộn khúc
thế tới cụm thứ 3 đó là chùa chính, gồm nhà bái đường, tòa thiêu hương và thượng
điện. Hai bên là 2 dãy hành lang. Trong cùng là nhà tổ, giữ lại có lầu trống
bên trong treo một cỗ trống lớn, đường kính 1 m và một tấm khánh đồng dài 1,20
m, cao 0,60 m đúc năm 1749, Cảnh Hưng thứ 10. Tại đây có 153 pho tượng, hầu hết
bằng gỗ, một số ít bằng đất nung, đặc biệt quý là tượng Tuyết Sơn, tượng Quan
Thế Âm Bồ Tát. Ở giữa thượng điện có một bệ bằng đất nung đỏ hình khối chữ nhật,
giống kiểu các bệ đá thời nhà Trần. Trên bệ đá là đài sen, xung quanh trang trí
nhiều hình động vật và hoa lá, bốn góc có hình chim thần. Trên bệ đặt các tượng
Phật tam thế. Trong chùa còn có nhiều bia, hoành phi, câu đối... Riêng có hai
câu đối khảm trai, tương truyền có từ thời nhà Hồ (1400-1406).
Suốt bao đời nay, chùa Trăm Gian được coi là một di sản độc
đáo và cũng chính là một niềm tự hào của người dân Chương Mỹ (Hà Nội). Hàng
năm, chùa Trăm Gian thu hút hàng trăm ngàn lượt khách gần xa đền tham quan và
hiện đang được tu bổ xây dựng lại ao sen, gác chuông và 100 gian chùa để đón tiếp
đồng bào gần xa. Với những giá trị lớn về mặt lịch sử và kiến trúc, chùa Trăm
Gian đã được công nhận di tích lịch sử cấp quốc gia.
Tiếp theo, hãy cùng khám phá di tích chùa Thầy. Bên cạnh chùa
Trăm Gian thì chùa Thầy cũng chính là ngôi chùa cổ kính với bề dày lịch sử và
cũng chính là một “đặc sản kiến trúc” của miền Bắc.
Chùa Thầy là một ngôi chùa ở chân núi Sài Sơn, huyện Quốc
Oai, tỉnh Hà Tây cũ, nay là xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, Hà Nội, cách trung tâm
Hà Nội khoảng 20 km về phía Tây nam. Sài Sơn có tên Nôm là núi Thầy, nên chùa
được gọi là chùa Thầy. Chùa được xây dựng từ thời nhà Lý. Đây là nơi tu hành của
Thiền sư Từ Đạo Hạnh, lúc này núi Thầy còn gọi là núi Phật tích.
Ban đầu chùa Thầy chỉ là một am nhỏ gọi là Hương Hải am, nơi
Thiền sư Từ Đạo Hạnh trụ trì. Vua Lý Nhân Tông đã cho xây dựng lại gồm hai cụm
chùa: chùa Cao (Đỉnh Sơn Tự) trên núi và chùa Dưới (tức chùa Cả, tên chữ là
Thiên Phúc Tự). Đầu thế kỷ 17, Dĩnh Quận Công cùng hoàng tộc chăm lo việc trùng
tu, xây dựng điện Phật, điện Thánh; sau đó là nhà hậu, nhà bia, gác chuông.
Theo thuyết phong thủy, chùa được xây dựng trên thế đất hình con rồng. Phía trước
chùa, bên trái là ngọn Long Đẩu, lưng chùa và bên phải dựa vào núi Sài Sơn.
Chùa quay mặt về hướng Nam, trước chùa, nằm giữa Sài Sơn và Long Đẩu là một hồ
rộng mang tên Long Chiểu hay Long Trì (ao Rồng). Sân có hàm rồng.
Chùa Thầy được đánh giá rất cao bởi đây chính là một quần thể
kiến trúc độc đáo. Phần chính của chùa Thầy gồm ba tòa song song với nhau gọi
là chùa Hạ, chùa Trung và chùa Thượng. Giữa chùa Hạ và chùa Trung có ống muống
nối với nhau, tạo thành thế hạ công thượng nhất.
Chùa Hạ là nhà tiền tế, bày các tượng Đức Ông, Thánh hiền. Ống
muống để tượng Bát bộ Kim Cương. Chùa Trung bày bàn thờ Phật, hai bên có hai tượng
Hộ pháp, tượng Thiên vương. Chùa Thượng hay chùa trên tách biệt hẳn, ở vị trí
cao nhất, biển đề Đại hùng Bảo điện, đồng thời là nhà thánh, để tượng Di Đà tam
tôn, tượng ba kiếp của thiền sư Từ Đạo Hạnh, tượng cha mẹ Từ Đạo Hạnh.
Phía trước chùa là một sân rộng nhìn ra hồ Long Chiểu, tạo
thành hàm của rồng trước trồng hai cây gạo, nhưng hiện tại hai cây gạo đã chết,
được thay bởi cây đa. Từ sân này có hai cầu là Nhật tiên kiều và Nguyệt tiên kiều
nối sang hai bên, tạo thành hai râu rồng. Hai cầu này do Phùng Khắc Khoan xây
vào năm 1602. Cầu Nhật Tiên nối sang một hòn đảo nhỏ, trên đảo có đền thờ Tam
phủ. Cầu Nguyệt Tiên nối vào đường lên núi.
Lễ hội Chùa Thầy hàng năm vẫn mang đậm màu sắc dân gian
Giữa ao Long Chiểu có thủy đình là viên ngọc giữa miệng rồng.
Đây cũng là nơi diễn ra trò múa rối nước. Chùa Thầy cũng bao gồm hệ thống các
ngôi chùa nhỏ nằm trên núi hết sức độc đáo.
Qua cầu Nguyệt Tiên nối với con đường lên núi. Trên núi có
chùa Cao, vốn là Hiển Thụy am, còn có tên là Đỉnh Sơn Tự, là nơi Thiền sư Từ Đạo
Hạnh đến tu đầu tiên. Trên vách chùa còn khắc những bài thơ tức cảnh của Nguyễn
Trực và Nguyễn Thượng Hiền. Tương truyền rằng động Phật Tích ở sau chùa là nơi
Ngài Từ Đạo Hạnh thoát xác để đầu thai làm vua Lý Thần Tông, nên còn gọi là
hang Thánh Hóa.
Phía trên chùa Cao, trên đỉnh núi có một mặt bằng gọi là chợ
Trời với nhiều tảng đá hình bàn ghế, kệ bày hàng, ly rượu,... trong đó có một
phiến đá nhẵn lì được gọi là bàn cờ tiên. Có lẽ nơi đây ngày xưa các bậc trích
tiên vẫn ngồi chơi cờ, uống rượu, thưởng trăng và ngâm thơ.
Từ chùa Cao, đi vòng ra phía sau là hang Cắc Cớ, là nơi tình
tự của trai gái ngày xưa trong những ngày hội hè, như ca dao đã ghi lại:
“Gái chưa chồng trông hang Cắc Cớ,
Đi ngược lên trên là đến đền Thượng. Gần đền Thượng có hang Bụt
Mọc với nhiều tảng đá được thời gian bào mòn trông như tượng Phật. Tiếp đó là
hang Bò với lối vào âm u. Cách một đoạn là đến hang Gió với những ngọn gió thổi
thông thốc cả hai đầu. Ở chân núi phía Tây còn có chùa Bối Am, còn gọi là chùa
Một Mái, chùa có tên như vậy là vì chùa chỉ có một mái ngói, mặt sau chùa dựa
vào vách núi.
Như vậy, quanh núi Thầy, ngoài chùa Thầy còn có cả một cụm kiến
trúc Phật giáo được xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau.
Trong một bài ký ghi trên vách núi, Chúa Trịnh Căn đã phác họa
cảnh chùa Thầy "như viên ngọc nổi lên giữa đám sỏi đá, rạng vẻ xuân tươi
khắp cả bốn mùa. Động trên hệt như cõi thanh hư, bên vách còn in mây ráng. Ao rồng
thông sang bến siêu độ, cầu tiên Nhật Nguyệt đôi vầng. Hình tựa bình phong,
sông như dải lụa".
Với những giá trị hết sức quý báu, chùa Thầy đã ngày càng trở
nên nổi tiếng đối với bạn bè gần xa. Hàng năm, hội chùa Thầy lại được chính quyền
địa phương tổ chức từ ngày mùng 5 đến ngày mùng 7 tháng ba Âm lịch, thu hút
hàng vạn khách tham quan. Theo các nhà nghiên cứu, lễ hội chùa Thầy không chỉ đặc
sắc với những nghi thức tôn giáo. Ở đây còn có trò múa rối nước mang đậm sắc
thái dân gian.
Được xây dựng sau so với chùa Trăm Gian và chùa Thầy nhưng chùa
Trầm cũng được đánh giá là một quần thể di tích rất độc đáo của xứ Đoài xưa
và của Hà Nội ngày nay.
Chùa Trầm- công trình kiến trúc tâm linh thuộc thôn Long
Châu, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội. Đây là một ngôi chùa có địa thế rất
đẹp với các núi nhỏ chung quanh như núi Ninh Sơn, Đồng Lư, Tiên Lữ.
Chùa Trầm còn có tên gọi là Long Tiên, được xây dựng vào năm
Cảnh Trị thứ 7 (1669), do một vị tướng quân xuất gia lập nên. Ngôi chùa mang
tên ngọn núi mà nó dựa vào là “Tử Trầm sơn”. Toàn bộ khu núi Trầm này xưa kia từng
là nơi vua Lê chúa Trịnh đặt hành cung để thưởng ngoạn cảnh đẹp.
Đến chùa Trầm, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một ngôi chùa
mang đậm dấu ấn kiến trúc văn hóa tâm linh của đồng bằng Bắc Bộ. Một thế dựa
vào núi, trước mặt lại nhìn ra hồ sen bát ngát, trên bao bọc bởi những tán cây
rừng dày đặc… Chùa Trầm nhỏ nhưng lại mang vẻ đẹp cổ kính, thâm nghiêm.
Cùng với khoảng sân rộng cộng với những tán cây cổ thụ, chùa
Trầm trở nên tĩnh mịch và thâm nghiêm. Điều này cũng góp phần tạo nên sự thư
thái và lôi cuốn đối với mỗi du khách đến thưởng ngoạn tại nơi đây.
Chùa Trầm càng trở nên có giá trị lịch sử lớn hơn khi đây
chính là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến qua
sóng Đài tiếng nói Việt Nam năm 1946.
Hiện nay, chùa Trầm đã qua nhiều lần trùng tu và hiện nay còn
giữ được nhiều tượng Phật mang phong cách nghệ thuật thế kỷ 18-19 với những nét
chạm khắc công phu, tinh tế. Ngoài ra, chùa Trầm trở nên độc đáo ở khung cảnh
thiên nhiên đặc sắc xung quanh quần thể kiến trúc của chùa.
Thường khi du khách đến chùa Trầm sẽ cùng khám phá động Long
Tiên trên núi Tử Trầm. Động Long Tiên có đường dẫn lên đỉnh núi Trầm (tục gọi
là đường lên trời), có hang sâu dẫn ngầm vào trong núi (tục gọi là đường xuống
âm phủ). Ở gian rộng nhất của động là chùa Hang có bàn thờ Phật và tượng của
các vị phật, tiên, hộ pháp tạc bằng đá rất sinh động. Ở các ngách động sâu và hẹp
hơn, du khách sẽ được chiêm ngưỡng những tuyệt tác long lanh từ nhũ đá và nước
ngầm của thiên nhiên. Nơi đây còn lưu trữ khoảng 20 bài văn thơ cổ khắc trên
vách đá, khánh đá, chuông đồng ca ngợi cảnh đẹp của núi Tử Trầm… được tạo tác
qua các thời đại. Bên cạnh đó, du khách có thể ghé thăm đền Mẫu nằm ở lưng chừng
núi, hay ba ngọn tháp cổ ghi lại công đức của Thống đốc Hoàng Trọng Phu, bà Lê
Thị Thọ cùng với nhiều tăng ni phật tử…
Hàng năm, Lễ hội chùa Trầm được tổ chức vào ngày mùng hai
tháng hai âm lịch. Hội chùa Trầm xưa mang đậm nét văn hoá dân tộc với những trò
chơi dân gian: đu tre, rối nước, cờ tướng, leo cột mỡ, đánh vật, chọi gà…và cả
lễ rước ảnh Bác để gắn với dấu ấn lịch sử khi Bác Hồ đã từng về làm việc tại
nơi đây.
Thêm một dấu ấn nữa trong những hệ thống các ngôi chùa ở xứ
Đoài mà không thể không nhắc tới đó chính là chùa Tây Phương - ngôi chùa ở
trên ngọn núi Tây Phương ở thôn Yên, xã Thạch Xá, huyện Thạch Thất (Hà Nội).
Theo một số tài liệu, chùa Tây Phương được xây dựng vào thời
nhà Mạc ở đầu thế kỷ 17. Tuy nhiên theo thông tin trên trang web chính thức của
tỉnh Hà Tây (cũ) thì nói chùa được thành lập từ thế kỷ 6-7 nhưng đã trải qua
nhiều lần trùng tu. Mặc dù thời điểm bắt đầu xây dựng ngôi chùa vẫn chưa được
làm sáng tỏ nhưng có thể khẳng định vào năm 1794 dưới thời nhà Tây Sơn, chùa được
đại tu hoàn toàn với tên mới là "Tây Phương Cổ Tự" và hình dáng kiến
trúc còn để lại như ngày nay.
Chùa Tây Phương là ngôi chùa có kiến trúc độc đáo và đặc biệt
có giá trị với những tác phẩm điêu khắc.
Từ chân núi, qua 239 bậc lát đá ong thì đến đỉnh núi và cổng
chùa. Chùa Tây Phương gồm ba nếp nhà song song: bái đường, chính điện và hậu
cung. Mỗi nếp có hai tầng mái kiểu chồng diêm, tường xây toàn bằng gạch Bát
Tràng nung đỏ, để trần tạo thành một không khí rất thô sơ mộc mạc, điểm những của
sổ tròn với biểu tượng sắc và không; các cột gỗ đều kê trên đá tảng xanh trong
khắc hình cánh sen. Mái lợp hai lớp ngói: mái trên có múi in nổi hình lá đề, lớp
dưới là ngói lót, còn gọi là ngói chiếu, hình vuông sơn ngũ sắc như màu áo cà
sa xếp trên những hàng rui gỗ làm thành ô vuông vắn đều đặn. Xung quanh diềm
mái của ba toà nhà đều chạm trổ tinh tế theo hình lá triện cuốn, trên mái gắn
nhiều con giống bằng đất nung, các đầu đao mái cũng bằng đất nung đường nét nổi
lên hình hoa, lá, rồng phượng giàu sức khái quát và khả năng truyền cảm. Cột
chùa kê trên những tảng đá chạm hình cánh sen. Toàn bộ ngôi chùa toát ra một
tính hoành tráng và phóng khoáng phù hợp với triết lý "sắc sắc không
không" của nhà Phật.
Chùa Tây Phương được đánh giá rất cao ở nghệ thuật điêu khắc
Nơi đây còn là nơi tập trung những kiệt tác hiếm có của nghệ
thuật điêu khắc tôn giáo bao gồm chạm trổ, phù điêu và tạc tượng. Khắp chùa chỗ
nào có gỗ là có chạm trổ. Các đầu bẩy, các bức cổn, xà nách, ván long... đều có
chạm trổ đề tài trang trí quen thuộc của dân tộc Việt: hình lá dâu, lá đề, hoa
sen, hoa cúc, rồng, phượng, hổ phù... rất tinh xảo được tạo ra dưới bàn tay thợ
tài hoa của các nghệ nhân làng mộc ngay trong vùng Tổng Nủa, làng truyền thống
Chàng Sơn Làng nghề mộc lâu đời và nổi tiếng của xứ Đoài.
Trong chùa có 72 pho tượng cùng với các phù điêu có mặt tại mọi
nơi. Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, mỗi pho tượng trong chùa đều là một
tác phẩm điêu khắc hết sức độc đáo. Không phải ngẫu nhiên mà các nhà nghiên cứu
lại nhận định rằng, những người thợ mộc của làng nghề mộc truyền thống Chàng
Sơn đã là tác giả của những kiệt tác tuyệt vời của nền mỹ thuật Việt Nam cùng với
nhận định chùa Tây Phương chính là một công trình kiến trúc tôn giáo đặc sắc
tiêu biểu cho mỹ thuật Việt Nam thời Hậu Lê (thế kỷ 17-18).
Có thể nói, 4 ngôi chùa gồm chùa Trăm Gian, chùa Trầm, chùa
Tây Phương và chùa Thầy đều là những di tích, những danh thắng hết sức độc đáo
của xứ Đoài xưa cũng như Hà Nội ngày nay. Trải qua những biến cố thời gian, một
số thời điểm các di tích đã bị ảnh hưởng và có dấu hiệu xuống cấp. Thậm chí có
những di tích đã phải trải qua những biến cố lớn (như việc di tích chùa Trăm
Gian bị xâm hại khi trùng tu sai quy cách thời gian gần đây) tuy nhiên cả 4
ngôi chùa đều vẫn xứng đáng được phong là “tứ đại danh thắng” của xứ Đoài, là
“đặc sản kiến trúc Phật giáo” của Việt Nam đồng thời cũng chính là những niềm tự
hào của người dân địa phương.
L.S














Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét