Cách thức và hành vi tỏ tình
trong ca dao Việt Nam
Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở của thi ca. Từ trong
kho tàng ca dao Việt Nam, những cung bậc tình yêu đôi lứa đã được thể hiện cụ
thể, rõ nét. Trong đó, đáng chú ý nhất là ở mảng ca dao tỏ tình. Dường như tất
cả đặc điểm của tình yêu trong “cái phút ban đầu lưu luyến ấy” đã được ca dao
chuyển tải rất thành công qua các cách thức tỏ tình và hành vi tỏ tình. Qua đó,
chúng ta càng hiểu hơn về vẻ đẹp của người dân lao động nói riêng cũng như những
giá trị truyền thống, tâm hồn người Việt nói chung.
Cách thức tỏ tình
Lời tỏ tình là tiếng nói đầu tiên của mỗi người khi trái tim
biết rung động trước đối tượng khác giới. Lẽ thường, cái gì bắt đầu cũng cảm thấy
khó khăn. Trong chuyện thổ lộ tình cảm, điều đó lại càng không phải dễ. Bởi vì,
trong giai đoạn đầu của tình yêu, đôi nam nữ chưa hiểu nhiều về nhau nên ai
cũng có một chút e dè, trăn trở, đắn đo. Hơn nữa, ở họ còn mang đặc điểm riêng
của giới, lứa tuổi, xuất thân; xung quanh họ còn là rào cản định kiến xã hội, lễ
giáo, nhất là từ ý kiến của cha mẹ đôi bên: Thấy em anh cũng muốn chào/ Sợ
lòng bác mẹ cây cao lá đài… Vì vậy, bước vào mỗi bài ca dao, ta lại thấy chủ thể
tỏ tình có các cách thức (các kiểu) tỏ tình khác nhau.
Chọn cách tỏ tình theo kiểu gián tiếp, các chàng trai, cô gái
đã vận dụng tinh tế vai trò của các hình ảnh thiên nhiên làm tín hiệu tỏ tình.
Dĩ nhiên, họ không dại gì chọn những tín hiệu quá xa lạ đến mức khó hiểu đối với
người nghe. Đó là những mã nghệ thuật khá quen thuộc được lấy từ hiện thực đời
sống hàng ngày như lửa, như trăng, như đèn: Đôi ta như lửa mới nhen/ Như
trăng mới mọc như đèn mới khêu. Những hình ảnh quen thuộc nhưng đầy sức gợi,
đầy ẩn ý ấy đặt trong hoàn cảnh câu ca đủ cho người nghe giải mã được người nói
đang muốn thổ lộ điều gì. Bằng cách này, trong ca dao tỏ tình, chủ thể thường
dùng hình ảnh trầu, cau thông qua hành động mời trầu: Vào vườn hái quả cau
xanh/ Bổ ra làm sáu mời anh xơi trầu. Mời trầu, ăn trầu không chỉ giản đơn
là phép lịch sự, là để dễ bắt chuyện, mà nó còn thể hiện cội nguồn văn hóa sâu
xa.
Trầu - cau là biểu tượng của lứa đôi hòa hợp, của tình nghĩa vợ chồng gắn bó, thủy chung. Người mời trầu đã ngầm chuyển tải mã văn hóa ấy vào bài ca dao và người nhận trầu dĩ nhiên cũng dễ dàng hiểu được nội hàm văn hóa đó. Nhận ăn trầu, đôi khi là chấp nhận lời ngỏ ý, tỏ tình của người mời. Bởi vậy, khách thể tỏ tình, nhất là đối với người con gái thường hay “cảnh giác” khi được các chàng trai mời trầu: - Đi đâu cho đổ mồ hôi/ Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn/ - Thưa rằng bác mẹ tôi răn/ Làm thân con gái chớ ăn trầu người. Tỏ tình bằng cách này, lời tỏ tình thường thơ mộng, bóng bẩy, thể hiện được sự nhẹ nhàng, tế nhị của chủ thể tỏ tình.
Trầu - cau là biểu tượng của lứa đôi hòa hợp, của tình nghĩa vợ chồng gắn bó, thủy chung. Người mời trầu đã ngầm chuyển tải mã văn hóa ấy vào bài ca dao và người nhận trầu dĩ nhiên cũng dễ dàng hiểu được nội hàm văn hóa đó. Nhận ăn trầu, đôi khi là chấp nhận lời ngỏ ý, tỏ tình của người mời. Bởi vậy, khách thể tỏ tình, nhất là đối với người con gái thường hay “cảnh giác” khi được các chàng trai mời trầu: - Đi đâu cho đổ mồ hôi/ Chiếu trải không ngồi, trầu để không ăn/ - Thưa rằng bác mẹ tôi răn/ Làm thân con gái chớ ăn trầu người. Tỏ tình bằng cách này, lời tỏ tình thường thơ mộng, bóng bẩy, thể hiện được sự nhẹ nhàng, tế nhị của chủ thể tỏ tình.
Trong nhiều trường hợp, các chàng trai, cô gái lại không ngần
ngại tỏ tình theo kiểu trực tiếp: Cô kia cắt cỏ một mình/ Cho anh cắt với
chung tình làm đôi. Những câu ca dao tỏ tình như thế phần nào thể hiện được
tính cách bộc trực, thẳng thắn vốn có của người dân lao động. Cũng cần thấy rằng,
là ngôn ngữ của tình yêu nên dù tỏ tình trực tiếp thì lời tỏ tình trong những
bài ca dao này vẫn hết sức lãng mạn, trữ tình chứ không phải thô tục, sỗ
sàng: Thấy em là gái má đào/ Lòng anh chỉ muốn ra vào kết duyên. Đó phải
chăng là tiếng nói yêu thương mộc mạc, chân thành của tầng lớp bình dân.
Có những trường hợp, chủ thể tỏ tình lại như khách đa tình
hay thấp thoáng một bóng dáng Nho sinh tỏ tình bài bản theo kiểu đưa đẩy vòng
vo, dẫn dắt từ xa tới gần, gây được nhiều bất ngờ, thú vị cho người đọc, người
nghe. Bài ca dao tỏ tình Đêm qua tát nước đầu đình và Anh làm thợ
mộc Thanh Hoa là những minh chứng rõ nét nhất. Trong hai bài ca dao này,
chàng trai đã khéo léo dẫn dắt cô gái vào mạch tự sự của một câu chuyện có vẻ rất
chân thực, chân thành khiến người nghe bị cuốn vào lời kể đến mức mất cảnh
giác. Để rồi cuối câu chuyện, cô gái mới vỡ lẽ ra toàn bộ câu chuyện chỉ là cái
cớ, bước đệm, và lời tỏ tình, khát vọng hạnh phúc lứa đôi đã được người ấy gài
vào lúc nào không biết. Tỏ tình như thế cần phải có sự thiết kế tình huống, lựa
chọn câu chuyện, thậm chí là bịa chuyện rất khéo léo, công phu. Và có thể nói,
chỉ những chàng trai, cô gái thông minh, lanh lợi mới có thể tỏ tình theo kiểu
đó.
Hành vi tỏ tình
Tùy vào tài năng, tâm lý, tính cách hay hoàn cảnh mà người tỏ
tình thực hiện hành vi tỏ tình cụ thể như thế nào. Thật bất ngờ rằng, từ xa
xưa, bằng những lời ca dao ngắn gọn, người dân lao động đã biết thực hiện nhiều
hành vi tỏ tình rất hay, rất hiệu quả mà có lẽ thế hệ trẻ ngày nay vẫn cần phải
lưu tâm.
Thường muốn bắt chuyện, làm quen lúc mới gặp thì chủ thể hay
tỏ tình bằng hành vi “mời” (phổ biến là mời trầu) hay hành vi “xin”: Hỡi
cô gánh nước quang mây/ Cho anh một gáo tưới cây ngô đồng. Người con trai
trong bài ca dao xin nước tưới ngô nhưng chỉ xin có một gáo, nghe thật buồn cười,
thật vô lý. Thế nhưng, vì mục đích của chàng trai là chọc ghẹo, tán tỉnh hay thể
hiện sự cảm mến chân thành đối với cô gái nên xin một hay bao nhiêu gáo nước
thì có quan trọng gì! Quan trọng là cô gái có tiếp tục đứng lại trò chuyện với
chàng trai hay không.
Khi đã bắt chuyện, làm quen, nếu thấy người ta hợp với ý mình
thì chủ thể tỏ tình trong ca dao lại thường tỏ tình bằng hành vi “khen”: Trúc
xinh trúc mọc đầu đình/ Em xinh em đứng một mình cũng xinh. Ai chẳng muốn
mình đẹp, mình quan trọng trong mắt người khác. Bởi vậy, thực hiện hành vi khen
trong ca dao tỏ tình, nhân vật trữ tình rất hay sử dụng những mĩ từ, từ có cánh
kết hợp với cách nói so sánh, nói quá với tần số cao khiến người được tỏ tình cảm
thấy vui sướng đến mức như đang trong một thế giới màu hồng, đầy lãng mạn: Cổ
tay em trắng như ngà/ Con mắt em liếc như là dao cau/ Miệng cười như thể hoa
ngâu/ Cái khăn đội đầu như thể hoa sen. Người khen đôi khi còn khẳng định
vẻ đẹp của người tình như một quy luật, một chân lý: Hoa thơm xuống đất
cũng thơm/ Em giòn, rách áo đói cơm cũng giòn. Thú vị hơn là chủ thể tỏ
tình trong ca dao còn biết khen bằng những triết lý rất cụ thể, gần gũi mà ai
cũng nhận thức được: Đôi ta bắt gặp nhau đây/ Như con bò gầy gặp bãi cỏ
non.
Hành vi “khen” trong ca dao tỏ tình không chỉ thể hiện được
chất men say đắm của tình cảm lứa đôi, của biểu hiện trân trọng vẻ đẹp đầy tính
nhân văn mà còn mang theo cách nhìn, quan niệm thẩm mĩ có tính lịch sử của con
người. Ví như những tiêu chuẩn để đánh giá một người con gái đẹp theo quan niệm
thẩm mĩ truyền thống của nhân dân ta trong bài ca dao Mười thương có
nhiều điểm rất khác so với quan niệm thẩm mĩ của con người hiện đại lúc bấy giờ: tóc
bỏ đuôi gà, răng nhánh (răng đen), cổ yếm đeo bùa,…
“Ướm hỏi” là hành vi tỏ tình mà nhân vật tỏ tình sẽ thực hiện
khi đôi bên ít nhiều đã có sự quen biết, gần gũi. Đây có thể xem là thời khắc bản
lề, rất quan trọng để nhân vật trữ tình đi đến quyết định có ngỏ lời cầu hôn
hay không. Nếu như trong thời buổi hiện đại ngày nay, chúng ta thường hỏi thẳng
người ta đã có người yêu hay chưa thì trong ca dao tỏ tình, hành vi ấy lại được
thực hiện một cách rất ý nhị, tình tứ: Thân em như tấm lụa đào/ Còn nguyên
hay đã xé vuông nào cho ai? Chàng trai nói lên vẻ đẹp của cô gái với thái
độ hết sức trân trọng rồi mới hàm ý hỏi cô gái đã chia sẻ tình cảm cho ai, nói
cách khác là đã có tình ý với ai chưa. Cách nói như vậy quả là khôn khéo, chân
thành và lịch thiệp, thể hiện được nét đẹp truyền thống trong văn hóa ứng xử của
người Việt Nam ta.
Và khi đã biết rõ về người ta, chủ thể tỏ tình sẽ nói rõ ra
khát vọng của mình bằng hành vi “ước”: Ước sao ăn ở một nhà/ Ra vào đụng
chạm kẻo mà nhớ thương. Thậm chí là mơ: Sáng trăng sáng cả bờ sông/
Ta được cô ấy ta bồng đi chơi/ Ta bồng ta tếch lên trời/ Hỏi ông nguyệt lão tốt
đôi chăng là? Ở hành vi tỏ tình này, nhân vật tỏ tình trong ca dao rất hay
dùng mô típ tỏ tình: “ước sao”, “ước gì”. Những bài ca dao thuộc mô típ tỏ tình
này thường thể hiện khát vọng yêu thương, hòa hợp đã đến mức mãnh liệt, cháy bỏng: Ước
gì anh hóa ra chăn/ Để cho em đắp, em lăn cùng giường/ Ước gì anh hóa ra gương/
Để cho em cứ ngày thường em soi/ Ước gì anh hóa ra cơi/ Để cho em đựng cau
tươi, trầu vàng.
Như vậy, không phải đợi đến văn học viết, hay đến Thơ mới, tiếng
nói tỏ tình mới được cất lên thành lời. Từ những bài ca dao của người dân lao động
xưa, lời tỏ tình của đôi lứa yêu thương đã được thể hiện hết sức tình tứ, mãnh
liệt với những cách thức, hành vi phong phú, linh hoạt. Qua những bài ca dao tỏ
tình dung dị này, chúng ta nhận ra bao đặc điểm, quy luật trong tình yêu. Đó
còn là quan niệm thẩm mĩ, vẻ đẹp truyền thống trong tâm hồn, trong cách ứng xử
giao tiếp của người Việt.




Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét