Phụ nữ và Nobel Văn chương
Ngoài cảm giác “đột nhập” vào một “câu lạc bộ đàn ông” và sức nặng cộng đồng đi kèm với việc vinh danh, thì dường như có rất ít mối liên hệ giữa các nhà văn nữ với giải Nobel. Vì vậy, việc giành được giải Nobel với tư cách là một phụ nữ có ý nghĩa gì với bản thân họ? Và chúng ta, với tư cách là những độc giả ở thời điểm này, có thể học gì từ những người phụ nữ tài hoa ấy?
Những chiến thắng bất ngờ
Vào tháng 10 năm ngoái, tiểu thuyết gia Annie Ernaux trở
thành người phụ nữ thứ 17 đoạt giải Nobel Văn chương. Bà là người phụ nữ Pháp đầu
tiên, công dân Pháp thứ 16, người châu Âu thứ 96 và là người thứ 119 đã được xướng
tên ở giải Nobel. Phản ứng trước thông tin này, Ernaux nói: “Với tôi, việc nhận
giải Nobel là trách nhiệm phải tiếp tục… nói từ thân phận phụ nữ, rằng đối với
tôi, dường như chúng ta – những người phụ nữ, không được bình đẳng về tự do và
quyền lực”.
Nhiều tháng sau đó, trong diễn từ nhận giải Nobel, Ernaux
cũng đã nói rằng: “Tôi không coi giải Nobel này là một chiến thắng cá nhân.
Theo một nghĩa nào đó, không phải vì tự hào hay khiêm tốn mà tôi coi đó là một
chiến thắng tập thể.” Tuyên bố của Ernaux về quyền sở hữu tập thể đối với một
giải thưởng mang tính cá nhân cao khiến bà giống với 16 người phụ nữ khác đã từng
giành được giải thưởng kể từ khi nó được thành lập vào năm 1901, cũng như việc
bà nhấn mạnh đến sự căng thẳng từ các nền tảng gia trưởng mà giải Nobel bắt nguồn
từ đó.
Khi được hỏi liệu mình có đoán trước được giải thưởng hay
không, người đoạt giải năm 2013 – Alice Munro đã trả lời rằng: “Ồ, không,
không! Tôi là một phụ nữ! Tôi trân trọng danh dự mà nó mang lại, tôi yêu nó,
nhưng tôi không nghĩ là mình có thể.” Cũng tương tự thế, khi biết về chiến thắng
của mình từ một nhóm phóng viên khi trở về nhà sau chuyến đi đến bệnh viện,
Doris Lessing, 87 tuổi, đã rất bối rối: “Từ lâu họ nói với tôi rằng họ không
thích tôi và tôi không bao giờ hiểu được việc vinh danh đó… Dù vậy họ đã cử một
quan chức đặc biệt đến để nói với tôi điều này… Giờ tôi sẽ đi lên lầu để tìm
vài đoạn thích hợp mà tôi sẽ sử dụng cho bài diễn văn.”
Dù Selma Lägerlof đã giành chiến thắng vào năm 1909, nhưng gần
một nửa số giải thưởng dành cho phụ nữ chỉ tập trung trong vòng 18 năm qua. Hầu
hết những người đoạt giải là những phụ nữ đến từ châu Âu. Tác giả nữ Mĩ Latinh
đầu tiên được trao giải thưởng và cũng duy nhất tính cho đến nay là nhà thơ người
Chile – Gabriela Mistral (được trao giải năm 1945). Trong khi đó, tiểu thuyết
gia người Mĩ Toni Morrison vẫn là người phụ nữ Da đen duy nhất từng được công
nhận. Do đó những người chiến thắng áp đảo vẫn là người da trắng. Về kinh nghiệm
sống, người chiến thắng đã phải đối mặt với các nạn đói, chiến tranh, di dân bất
hợp pháp, phân biệt chủng tộc… có phần khó khăn và cũng phức tạp.
Chiến thắng không chỉ tôn vinh
Một lần nữa, việc một phụ nữ đoạt giải Nobel Văn học có ý
nghĩa gì đối với cuộc đời và tác phẩm của họ? Đối với một số người như Svetlana
Alexievich – người Belarus đã phát minh ra “tiểu thuyết tài liệu” và nhà thơ
kiêm tiểu thuyết gia người Áo Herta Müller, thì điều đó có nghĩa là được biết đến
một cách đột ngột. Họ được đưa tin trên báo chí, sách của họ được tái bản và
chuyển ngữ mới. Đối với những người khác (Lessing, Morrison và tiểu thuyết gia
Nam Phi Nadine Gordimer), thì đó cũng là đỉnh cao trong sự nghiệp vĩ đại mà mọi
người đã dự đoán trong suốt nhiều năm.
Đối với tất cả họ, điều đó có nghĩa là khoảng một triệu đô la
tiền thưởng và ít nhất là doanh số bán sách tăng tạm thời. Và đó có lẽ là một
trải nghiệm đa dạng cho những cá nhân có cơ hội chiến thắng. Bạn bè của nhà thơ
Ba Lan Wisława Szymborska đã gọi chiến thắng của bà là “thảm kịch Nobel” bởi
chính bà vốn sống rất riêng tư, và trong nhiều năm đã không thể viết vì sự “tấn
công dữ dội của sự chú ý”.
Trong khi đó, Toni Morrison đã tụ tập bạn bè để ăn mừng cùng
tại Stockholm. “Tôi thích giải thưởng Nobel,” bà nói. “Bởi vì họ biết cách tổ
chức một bữa tiệc.” Giành giải Nobel vào năm 2015 cũng đã không bảo vệ
Alexievich khỏi việc phải sống lưu vong lần thứ hai vào năm 2020. Đối mặt với
những nguy cơ bị bắt cóc cũng như bắt giữ, bà đã bỏ trốn và để lại bản thảo,
ngôi nhà và một phần thế giới mà các câu chuyện bà đã sáng tạo ra… ở nơi chốn
cũ.
Bất kể sự công nhận này có ý nghĩa gì đối với cá nhân những
người phụ nữ, thì tên tuổi họ sẽ luôn được ghép với cụm “người đoạt giải Nobel”
bất cứ khi nào họ xuất hiện trên báo đài. Bất kể độc giả tương lai hiểu gì về lịch
sử, quy trình và số liệu thống kê của Giải thưởng Nobel, thì biệt danh này có
thể sẽ gợi ý cho họ điều gì đó quan trọng về tác phẩm của các nhà văn. Và bất kể
nhà văn đến từ đâu, bất kể họ viết về cái gì và viết về ai, thì khi nhận giải,
họ đều nhận một nhiệm vụ to lớn, là tìm “những câu thích hợp” để trình bày một
diễn từ (hoặc, trong trường hợp của Munro, là một cuộc trò chuyện) để nói lên tầm
quan trọng của văn học và ý nghĩa của việc viết lách.
Do đó, việc cùng nhau đọc những suy tư của những phụ nữ đoạt giải Nobel cho thấy nhiều ý kiến khác nhau về những gì văn học có thể làm được và ý thức về trách nhiệm của người viết đối với những ý tưởng này. Mặc dù các diễn từ có nội dung rất khác nhau – từ những bài học chính trị cụ thể của Lessing và Gordimer, đến những suy nghĩ trừu tượng lớn hơn của Szymborska, những câu chuyện ngụ ngôn cá nhân (Müller) và phổ quát (Morrison) – thì mỗi bài viết đều chứa đựng những quan sát vừa hoàn toàn phức tạp và rất đúng đắn.
Văn chương và ngôn từ
Với tính bộc trực đặc trưng, “bậc thầy truyện ngắn đương đại”
Munro đã khẳng định rằng bà biết mình có thể viết về cuộc sống ở thị trấn nhỏ
Canada bởi vì: “Cuộc sống nào cũng có thể thú vị, môi trường xung quanh nào
cũng có thể lí thú.” Trong khi đó Toni Morrison, người khám phá ra rất nhiều
khía cạnh của cuộc sống của người Mĩ da màu bằng ngôn ngữ chính xác cũng như
thơ mộng, đã lập luận rằng “ngôn ngữ không bao giờ và cũng không nên chỉ sống một
lần và mãi mãi… Sức mạnh của nó, hạnh phúc của nó, nằm trong khả năng phác họa
những điều không thể diễn tả.”
Lessing, người thường đặt giọng điệu gai góc (đôi khi hoài
nghi) trong các tiểu thuyết về chính trị tiêu cực, chủ nghĩa thực dân và tương
lai tưởng tượng, cũng chia sẻ rằng: “Chính những câu chuyện của chúng ta sẽ tái
tạo lại chúng ta, dẫu khi chúng ta bị giằng xé, tổn thương, thậm chí là bị hủy
diệt. Đó là người kể chuyện, người tạo ra giấc mơ, người tạo ra huyền thoại, đó
là ‘con phượng hoàng’ tái sinh từ đống tro tàn, đại diện cho chúng ta ở mức tốt
nhất và sáng tạo nhất.”
Trong khi đó, tác phẩm của Müller vẽ nên những khung cảnh nội
tâm, ấn tượng về cuộc sống ngột ngạt dưới chế độ độc tài của Nicolae Ceaușescu ở
Romania. Bà từng nói rằng: “Xét cho cùng, càng được phép nói nhiều thì chúng ta
càng được tự do”. Cũng chung tổn thương trong thời kì Đệ nhị thế chiến,
Szymborska, nhà thơ Ba Lan đoạt giải Nobel 1996 vừa dịu dàng và vừa kiên quyết
đã từng viết rằng: “Sau mỗi cuộc chiến/ Ai đó sẽ phải dọn dẹp,” Bà cũng tuyên bố
trong diễn từ rằng:“Trong ngôn ngữ thơ, mỗi chữ đều được cân nhắc, không có chữ
nào là thông thường, là vô nghĩa… cũng như không có một sự tồn tại nào, của bất
kì ai trên thế giới này là vô nghĩa lí.”
Gordimer, người có tiểu thuyết mổ xẻ đống đổ nát của con người
do chủ nghĩa phân biệt chủng tộc được thể chế hóa và các chu kì bạo lực, cũng
xác nhận rằng “việc viết lách luôn luôn và ngay lập tức là một cuộc khám phá bản
thân và thế giới của mỗi cá nhân và những tập thể”.
Mỗi nhà văn đều có khả năng, theo cách riêng của mình (phản ánh phong cách, thời gian, địa điểm và quan điểm chính trị), để cho thấy rằng việc công nhận tác phẩm của họ là một phần nhỏ của câu chuyện dài mang tên riêng mình. Nhưng nếu bất kì bài diễn từ nào có nội dung gì đó giống với khẩu hiệu, thì đó phải là của Alexievich. Khi nhận giải, bà nhắn nhủ độc giả cũng như các nhà văn: “Tôi không đứng một mình trên chiếc bục này… Có những tiếng nói xung quanh tôi. Thật sự là có hàng trăm giọng nói”.
20/3/2023
Đoàn Anh Tuấn dịch
Nguồn: Tạp chí Văn Nghệ Quân Đội
Theo https://vanvn.vn/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét