Đặng Tường Vy - Người đàn bà làm
thơ bằng trái tim nhân hậu
Tôi tin rằng dù ở bất cứ nơi đâu, Đặng Tường Vy cũng vẫn là Đặng Thị Lụa, bản lĩnh trong cuộc sống, đời chưa đẹp vẫn nhìn đời để phát hiện, để trải nghiệm, bằng trái tim nhân hậu mà làm thơ, mà bạn bè, để phiêu bồng trên ngọn cỏ ngày xưa, mà chiết xuất thành những nỗi buồn trong veo…
Đi trong nắng gió Sài Gòn, hòa mình vào nhịp sống vội vã của
thành phố đông dân nhất nước này. Những đa đoan, những toan tính, những hối hả
áo cơm thúc giục con người quay như chong chóng đến nỗi không còn nhìn nhận kịp
thời những giả tạo, những ngụy trang, giữa cá nhân và tha nhân. Nhất là trong
lĩnh vực tình yêu. Cái đề tài muôn thuở của nhân loại. Làm sao ta đếm được có
bao nhiêu người phụ nữ đã và đang chia tay với cuộc tình của họ giữa cuộc đời
này. Mặc dù đó là những điều đã xảy ra ngoài ý muốn của họ, vì rằng người đàn
bà luôn luôn tha thiết được yêu, họ cưng như cưng trứng, hứng như hưng hoa cái
hạnh phúc ban đầu tuyệt vời ấy. Vậy mà phải chia tay, phải xoay vần theo con tạo,
thân phận đưa đẩy cuộc đời vào vòng xoáy của tồn tại xã hội.
Đặng Tường Vy, người phụ nữ giỏi giang, tài sắc vừa đủ để chị
định hướng cho mình một hành trình đi đến tương lai như bao nhiêu người phụ nữ
khác. Thế mà gian truân, thế mà hồng nhan, thế mà tài mệnh tương đố. Chị đã
không may lạc vào dòng xoáy ấy. Đã biết rằng đời người có những khoảng trống
không cần phải lấp đầy, nhưng sự đổ vở của một cuộc tình khi đã vẹn câu thề với
nhau dẫn đến sự hụt hẩng mênh mông vô cùng, vô tận biết bao nhiêu lượng thời
gian cần thiết để lấp cho đầy. Những mất mát cứ còn mãi trong chị. Chị đang
lang thang trong khoảng trống của đời mình thì gặp thơ, chị yêu thơ rồi làm
thơ, duyên nợ với thơ. Lại thêm một lần nữa cho phép ta xác quyết rằng khi tột
cùng của hạnh phúc hoặc là khổ đau thì con người vẫn đến với thơ và thơ tồn tại
như một đấng thiêng liêng cứu rỗi linh hồn thiên hạ.
Có lẽ những trải nghiệm hành trình đã làm nên một thứ chất liệu
cho thơ Đặng Tường Vy nhẹ nhàng mà sâu lắng, âm thầm mà dữ dội, tục lụy mà
thanh tao: Nhẹ nhàng thương nhẹ nhàng đau/ Nhẹ nhàng quay gót chào nhau
nhẹ nhàng, hoặc là: Trăm năm con sóng ru đời bạc/ Lành, dữ, đục, trong…
cũng rã rời, và đây nữa: Hạ về con nắng se lòng nhớ/ Hồn ngẩn ngơ hồn
lạc cõi riêng và dữ dội hơn: Xin anh một chút thật thà/ Để cho em được
đàn bà với anh.
Đấy là những câu thơ chị đã mở cửa cho ta vào nhìn tận mắt những
đợt sóng ngầm trong tâm hồn chị đang vỗ đến vô biên những khát vọng yêu thương,
những giùng dằng thân phận, những đa đoan cuộc đời. Những đợt sóng ngầm ấy càng
ngày càng mở rộng biên độ dao động căng nức tâm tư, bứt phá, để rồi bật ra những
âm thanh bén nhọn đến xé lòng: Xin đừng nói tiếng chia xa/ Trong vàng lá
đổ sinh ra xanh mầm/ Tận trong sâu thảm lặng câm/ Trăm năm nhịp đập nói thầm
yêu anh, hoặc là: Tình em nốt nhạc không lời/ Nhẹ nhàng len lỏi tình rơi
giếng tình/ Con tằm khát lá tồn sinh/ Riêng em khát tiếng ơi mình mình ơi (Xin
đừng bước vội) và đây nữa: Gió ghì hôn môi em/ Mây chung thủy bốn mùa/
Mưa thủ thỉ nhiều đêm/ Anh tình còn mặc cả (Chiều vàng câm nín). Tìm người
dưng, được người dưng, mất người dưng, phép toán tình yêu giờ đã thành vô định,
một cộng một bằng không, chị đã trở về tìm lại chính mình trong cái mênh mông
cô đơn vỗ chiều lên biển vắng mà hát khúc độc hành:… Nghiêng mình hong
gió biển/ Sóng dỗi hờn xô nhau/ Cát nhẫn nhượng im tiếng / Tình biến thể bạc
màu/ Phố triệu người lại qua/ Người quen rồi người lạ/ Người đến rồi lại xa/ Me nhiều lần thay lá/ Ta độc khúc tìm ta (Ta - Tìm ta).
Không những chị luôn đau đáu với nỗi niềm riêng, để tìm ra những
thấu cảm cho thơ, cho đời, mà chị còn nhìn thấy muôn hình vạn trạn cái khổ đau
mà trời đất đã không thương, đem đến cho con người: Lũ giận đời, lũ
giận ai/ Ùn ùn kéo đến thiên tai cho người/ Nhà tan trong ngấn lệ trời/ Người
như chiếc lá cuốn trôi bềnh bồng. Nhiều khi con người đã tự gieo rắc khổ đau
lên chính mình: Sừng tê/ Cao hổ/ Hương chồn/ Tiếng la vang vọng xé hồn
quê hương/ Lũ về gieo rắc tai ương/ Kẻ nhà cao rộng đứng giương mắt nhìn. Ở
đây chị lại thấy tâm tư mình cháy bỏng trước sự truy sát của con người làm cho
loài thú cũng không còn những bước chân đi hoang trong khu rừng tự do của mình.
Trong những tháng ngày trống không, trong lang thang đâu đó
chị bỗng giật mình: Đừng hóa kiếp thiêu thân/ Giết mình trong ảo ảnh/ Đừng
khát đời tình nhân/ Đêm chiếu giường hoang lạnh/ Em sợ loài cá cảnh/ Khóc ngục
tù trăm năm/ Soi bờ mi ráo hoảnh/ Lạc lầm chốn cùng thâm (Xin đừng làm lữ
khách). Có những ràng buộc yêu thương đã từng xác định miền tự do cho nhau của
hai người đang yêu. Đó là sự nuôi dưỡng tình yêu, không là nơi cá chậu chim lồng,
ngục tù trái tim, làm cho “đời hết vui khi đã vẹn câu thề”. Đây cũng là một triết
lý của tình yêu vậy. Nếu chúng ta chủ quan thì sự ràng buộc quá đỗi đôi khi dẫn
đến chia tay.
Cõi vô thường là cõi chết, nơi có giấc miên trường của nhân
loại, thế mà có một loài hoa uống cạn vô thường rồi mới nở phải chăng hoa Tường
Vy uống cái chết vào để nở ra sự sống: Lòng em nung nấu/ Bến đậu yêu
thương/ Nuốt cạn vô thường/ Hoa Tường Vy nở. (Điền vào trang vở) chị đi giữa
có, không, sống, chết như vậy làm sao không bé bỏng bồng bềnh và chuyển tải đến
chúng ta những cảm xúc lạ của thi ca. Đã có lúc chị vô vi muốn mượn cửa thiền để
chôn lấp mạch sầu thương và phôi pha những nỗi niềm tâm tư: Khánh ngân động
trí lay/ Chồi giác ngộ bung cánh/ Quán trọ thôi nài nỉ/ Vai gầy rời quang
gánh / Một lần ngộ sắc không/ Chén hương đời bọt bóng/ Phù sa khuôn sáo rỗng/ Gặt hái mùa rêu phong (Mùa rêu phong). Rồi có lúc chị kiêu bạc muốn làm
những việc lớn lao như chẻ đôi ngọn núi, tác cạn sông sâu và biển cả để tìm
chân lý yêu thương nhưng rồi cũng không thấy đâu: Tôi muốn chẻ đôi ngọn
núi tìm viên sỏi thật thà/ Không thấy/ Tôi tác cạn sông sâu/ Tôi băng qua biển
rộng/ Tôi chới với hụt hẩng và tuyệt vọng… Tôi chợt hiểu ra tất cả/ Thôi/
Không tìm kiếm nữa (Bước về phía trước).
Ngày xưa Xuân Diệu đã cảm xúc sự gần gũi nam, nữ qua những
câu thơ như: “Hãy trộn nhau hai mái tóc ngắn dài” hoặc “Hãy nghe đây đôi
hàm ngọc răng”. Ngày nay đã nhiều lần tôi gặp các nhà thơ trẻ dùng hình tượng cỏ
để nói lên cảm xúc ấy mới nghe thì xa, nhưng lại rất gần, rất thanh tao nhưng lại
khiến cho ta giật mình: … Tường rêu trách kẻ đầu môi/ Ngày xưa cỏ mặn hứa
rồi lại quên/ Lạc lòng lạc cánh chim Quyên/ Về phương trời lạ nhớ quên bãi bồi/ Đêm nay gió thổi ngang đồi/ Hỏi chăng cỏ rối còn lời trăm năm (Còn lời
trăm năm).
Đăng Tường Vy là bút danh của Đặng Thị Lụa. Chị và thơ chị
cũng mềm như lụa vậy. Từ các tập thơ Giọt sương khuya, Lá thu phai đến Sóng
ngầm là những thông điệp bình yên chị gửi đến cho chúng ta những vui buồn,
những thăng trầm, những được mất của cuộc sống. Buồn mà không giận, không thù hận,
thơ dã mở lòng chị ra với tha nhân, với thiên nhiên với đa đề tài, thể loại,
nhiều cung bậc cảm xúc.
Trong tập Sóng ngầm chị có một bố cục rất riêng, đọc nhiều nay tôi mới thấy đó là chị dùng một tản văn rất ngắn thay cho lời bạt ở phần cuối tập thơ với tựa đề “Chuyện đêm khuya”. Tôi không thể nói hết những gì phải nói cho thơ Đặng Tường Vy, xin giành lại sự cảm nhận cho quý vị. Tôi tin rằng dù ở bất cứ nơi đâu, Đặng Tường Vy cũng vẫn là Đặng Thị Lụa, bản lĩnh trong cuộc sống, đời chưa đẹp vẫn nhìn đời để phát hiện, để trải nghiệm, bằng trái tim nhân hậu mà làm thơ, mà bạn bè, để phiêu bồng trên ngọn cỏ ngày xưa, mà chiết xuất thành những nỗi buồn trong veo. Tôi tin chị sẽ thành công!
9/1/2020
Xuân Trường
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét