Bùi Giáng đọc Kiều
Bùi Giáng (1926-1998) là nhân vật có thân thế vào loại đặc biệt nhất trong lịch sử văn học Việt Nam. Ông là huyền thoại từ khi còn sống; khi ông mất, những huyền thoại về ông vẫn tiếp tục hồi sinh qua những tứ thơ, ý nghĩ tài hoa và dị thường. Sinh thời, ông được xem là một “lữ khách cuồng điên”, “thiên tài tự hủy”, “thi sĩ kỳ dị”, “thầy giáo cuồng si”… Sự nghiệp của ông (một con người có vẻ như không mấy chú tâm đến sự nghiệp trong ý nghĩa nghiêm trọng của từ này) bao gồm ít nhất 15 tập thơ, gần hai mươi đầu sách giảng luận, nhận định luận văn chương, triết học, hàng chục cuốn tạp văn, 16 bản dịch danh tiếng. Đó không phải là những con số im lặng. Bởi thế mà dù tâm thần mê sảng, rời xa đời sống bình thường, ông vẫn được xem là một thiên tài hiếm hoi của nền văn chương hiện đại.
Ra đời vào năm 1969 (nhà Quế Sơn – Võ Tánh xuất bản) ở
chặng đường khởi nghiệp, Thúy Vân, phần vô ngôn trong tư tưởng Nguyễn Du là
một tác phẩm được Bùi Giáng hoàn tất như một tiếng nói dự phần cuộc tranh
luận Truyện Kiều được dấy lên khoảng thời gian trước đó chừng một
thập kỷ. Vì những sáng tạo quá đặc biệt mà sự nghiệp thơ ca và dịch thuật
của Bùi Giáng thu hút sự quan tâm của người đọc nhiều hơn các thể loại còn
lại. Tuy nhiên, có thể nói, trong rất nhiều lời bình luận về Truyện
Kiều từ cuối thế kỷ XIX đến nay, Bùi Giáng vẫn kịp góp mặt một tiếng nói lạ.
Cuốn sách Thúy Vân, phần vô ngôn trong tư tưởng Nguyễn Du của ông chỉ
vỏn vẹn 110 trang, nhỏ nhắn và giản dị nhưng thể hiện một bút pháp đọc, tư
tưởng đọc. Phải chăng, sự đọc vốn khiêm nhường và chẳng thể nào đạt tới một
bút pháp, một tư tưởng so với sự viết vốn được khoác một hồn vía sang
trọng như: sáng thế, tạo hóa, mô phỏng cái đẹp của vũ trụ, chúa tể của trò chơi
ngôn từ…? Không, với Bùi Giáng, thật tự nhiên: người ta cần có một
triết lý về sự đọc (tư tưởng đọc) và cách đọc bằng triết lý (bút pháp đọc) để đối
diện với những thiên tài ngoại cỡ.
1. Triết lý đọc và đọc bằng triết lý – một gợi ý độc đáo và đẳng
cấp từ “người điên” Bùi Giáng
Bùi Giáng (tất nhiên) không tuyên bố một triết lý nào về sự đọc. Cách
hiểu riêng của Bùi Giáng về Truyện Kiều là minh chứng cho triết lý ấy.
Dòng chữ nhỏ dưới tên sách Thúy Vân: “phần vô ngôn trong tư tưởng Nguyễn
Du” không thể là gì khác ngoài tín hiệu một cách đọc close-reading (đọc
sâu). Triết lý thầm lặng nhưng mãnh liệt của ông nằm ở cách phát hiện một
các sâu sắc kiến trúc vĩ mô của tác phẩm trong những biểu hiện tế
vi của nó, quán chiếu phần hồn trôi chảy của tác phẩm mà làm rõ sự hoàn bị
bên trong của nó. Truyện Kiều là đối tượng nhập định của Bùi
Giáng.
Đây là các nhan đề bài viết trong cuốn sách:
– Kiều khuyên Từ Hải đầu hàng
– Sinh đà có ý đợi chờ
– Những mâu thuẫn
– Tồn lưu và sa mạc
– Nhận định khái quát về bản dịch của Crayssac
– Nhan đề cuốn truyện
– Tam Hợp đạo cô
– Giác Duyên
– Từ Nguyễn Du đến Khổng Tử
– Uyên bay
(Hai bài viết nhỏ ở phần phụ lục cuối sách gồm Tại sao
Tiêu Phong chết và Tại sao Đoàn Dự sống không nằm trong phạm vi
bình luận của chúng tôi).
Những nhan đề này không hề khêu gợi một ám ảnh triết lý nào
(ngoài Tồn lưu và sa mạc). Bùi Giáng không đặt trọng tâm phát hiện của ông
lên nhan đề, thói quen mà nhiều nhà bình luận văn chương thích làm. Ông tuân
theo tiêu chuẩn đầu tiên của mình: “vô ngôn” – không lời, hay lời
không. Trong Bùi Giáng tồn tại một tư tưởng đọc, bao hàm hệ
thống triết lý được tích hợp nhiều chiều và sự thẩm thấu có
tính tâm linh đối với tác phẩm nghệ thuật. Tư tưởng ấy xuyên suốt các
bài bình luận trong tập Thúy Vân. Mỗi cảm nhận của ông tương ứng nhuần
nhụy với một cảm quan triết học và được phát biểu ra bằng một giọng văn triền
miên cảm hứng. Cái khác biệt của Bùi Giáng so với nhiều nhà bình luận văn
chương là triết học trở thành mỹ cảm. Triết học không còn là một quyền
lực tri thức làm sang thêm những khối óc thông minh. Triết học trở thành một “cảm
thụ sống”, triết học là để đọc ra phần mỹ học của tư tưởng.
Về cơ bản, Truyện Kiều được Bùi Giáng nhìn nhận từ
hai nguồn triết học: triết phương Tây, mà đại diện là Hiện tượng học, siêu hình
học Heidegger, triết phương Đông, mà đại diện là tư tưởng Phật giáo Thiền tông
và Nho học Khổng Tử.
Mô hình đọc bằng triết lý của Bùi Giáng có thể được mô tả như
sau:
a) Mô hình 1: Siêu hình học Heidegger, những nguyên
lý về hiện hữu người(Dasein) => mỹ học hiện sinh, mỹ học hậu
hiện đại
– Ở mô hình này, Bùi Giáng phân tích những mối tương liên hiện
sinh giữa Truyện Kiều và học thuyết hiện hữu của Heidegger.
Sinh đà có ý đợi chờ
Cách tường lên tiếng xa đưa ướm lòng
Thoa này bắt được hư không
Biết đâu Hợp Phố mà mong châu về
Đoạn thơ trên khởi sự cho Bùi Giáng một cách hiểu thật thơ về
Tồn Lưu. Cuộc chờ đợi và hội ngộnàng Kiều ở vườn Thúy của chàng Kim trở
thành cuộc trò chuyện của Sein (tồn tại) với Dasein (hiện tính thể, tại thể).
Chữ “hư không” dùng bất ngờ trong câu thơ đã biến cành kim thoa bị đánh rơi trở
thành “ngấn tích” của sự tồn tại, thành cái còn lại trong mênh mông vắng lặng.
Giữa Kim Trọng và Thúy Kiều là một bức tường ngăn cách mà Bùi Giáng gọi là bức
tường lễ giáo Hình Nhi Hạ, ở đó, Kim – Kiều hòa vào cuộc đối thoại của Sein và
Dasein – cuộc đối thoại thầm lặng hiu hắt “chất chứa không biết bao nhiêu hoang
mang bất định” (trang 22). Và khi Kiều cất tiếng:
Tiếng Kiều nghe lọt bên kia
Ơn lòng quân tử sá gì của rơi
Chiếc thoa nào của mấy mươi
Mà lòng trọng nghĩa khinh tài xiết bao
thì lời phân trần của nàng trở thành tiếng nói của Tồn tại, một
tồn tại vốn “từ bi ấm áp bao dong, giống như Sein đã gỡ mối hoang mang cho
Dasein”, Tồn tại xác lập tính tại thể cho Hiện hữu. Còn nữa:
Sinh rằng lân lý ra vào
Gần đây nào phải người nào xa xôi
Chữ “lân lý” theo cách thông diễn của Bùi Giáng là hàng
xóm, láng giềng. Hiện hữu mãi mãi chỉ là người láng giềng thân mến của dòng Tồn
lưu chảy đến vô cùng. “Được rày nhờ chút thơm rơi”, câu thơ nhẹ như không
của Nguyễn Du cung cấp cho Bùi Giáng một ý tưởng lạ lùng hơn, cái thơm rơi ấy,
hương ấy, cái sót lại giữa hư vô ấy, “quyết định sinh mệnh của Hiện hữu”.
Những chuyển động về sau của Kim Trọng và Thúy Kiều như vội về, rón bước,
ngần ngừ, nên chăng không còn là chuyện tình của riêng hai kẻ quốc sắc
thiên tài nữa. Đó là sự xuôi ngược của Hiện hữu trong cuộc tình với Tồn tại,
cái chật vật của con người trong khi xác lập tính người trong cõi tồn tại. Khi
lời gắn bó tất giao vừa xong thì “mái sau dường có xôn xao tiếng người”. Bùi
Giáng bình âm thanh “xôn xao” như vầy: “Sein lạc mất Dasein, Sein
đành lăn lóc đá. Dasein lạc mất Sein, Dasein đành sống dở chết dở” (trang
31). Truyện Kiều được Bùi Giáng thông diễn thành một đoản khúc triết
học não nùng, một sự thông diễn hướng đến mỹ học hiện sinh. Đành là khó đọc,
nhưng một sự khó rất hay.
Cách Bùi Giáng đọc Kiều cho thấy ông có khả năng chuyển ngôn
từ bình luận, khoa học sang loại ngôn từ sáng tác (giải thể loại), biến ngôn
ngữ đối thoại của loại hình văn học trung đại sang ngôn ngữ đối thoại của
các nhân vật hiện đại biến ngôn ngữ ước lệ, cao nhã thành ngôn ngữ dân dã,
thô mộc (giải loại hình):
“Trong cái sát na tối hậu, anh còn đứng trơ giữa trời, cũng
chỉ xin em cụng vào thân anh một cái thì anh mới ngã ra một phen
đích đáng chịu chơi.”
“Cũng nên kể lại cho con Thúy Vân nó rõ cái sự tình của
thằng anh rể”
“Ông đem ngôn ngữ ra đú đởn một trận như thế để làm
gì” (trang 46)
“Chúng ta tư tưởng một chiều, tư lường một hướng. Trong khi
trận gió Nguyễn Du thì thổi chạy vòng quanh. Nó uốn éo chịu
chơi”. (trang 75)
“Đó là tâm lý của bọn si mê dại gái. Bao nhiêu những thứ vô
duyên ỏn thót uốn éo, đều biến thành huyền diệu thiên tiên. Nhạt như nước ốc, bạc
như vôi, biến ra thăm thẳm bát ngát như thiên cao địa hậu” (trang 10).
Việc giải ngôn từ, giải thể loại, giải phong cách ở Bùi Giáng
không còn sự phân biệt nào với tinh thần hậu hiện đại (một trào lưu mà cuối những
năm 80 của thế kỷ XX mới có thể du nhập được vào Việt Nam và gây ảnh hưởng). Tất
nhiên, cách viết “giải” tất tần tật như Bùi Giáng có thể là hệ quả của một lối
tư duy phân liệt (một căn bệnh thần kinh) chớm xuất hiện. Nhưng khách
quan mà nói, lối phân tích, phản biện có màu sắc “lưỡng cực” đó vẫn
phản chiếu nhiều tia sáng trí tuệ không mấy khi thấy được ở những đầu óc
bình thường. Trong sự va chạm nghiệt ngã của tài năng và sự điên rồ, cách đọc của
Bùi Giáng thành ra một sự đọc tiền phong. So với những học giả nghiêm nghị,
ông đi trước quá lâu với niềm tin tự nhiên vào một thứ mỹ học hồi đáp hết sức mạnh
bạo và tỉnh táo: giải đại sự, giễu nhại và liên văn bản thuần thục trong diễn
ngôn phê bình.
Tập sách bình luận nhỏ của Bùi Giáng không ít lần làm người
ta sửng sốt vì tác giả của nó đột nhiên… làm thơ hoặc chép lại thơ
mình đã sáng tác, hoặc giả gọi tên vị này vị nọ một cách thống thiết, hoặc
giả bỏ quên hẳn câu chuyện đang nói mà chạy theo cơn cuồng phong tâm trí trong
một mối tình diễm lệ với …nỗi đau triết học. Tư tưởng ông, bằng các dẫn chứng,
xuôi ngược hết từ Shakespeare đến Albert Camus, từ nàng Kiều đến Marylin
(Marylin Monro, biểu tượng nhan sắc, nữ diễn viên Mỹ)
hay Brigitte (Brigitte Bardot, nữ diễn viên nổi tiếng người
Pháp), từ Như Lai đến Jesus Christ, … Lối viết tự do thích thảng đó chia sẻ
rất nhiều các thể nghiệm hậu hiện đại, nơi có những đường biên quá mong manh về
giá trị cho lối viết. Mặt khác, Bùi Giáng quyết không ngợi ca Nguyễn Du bằng
hiển ngôn. Cách viết phê bình của ông so với nhiều người đương thời có một khoảng
cách đặc biệt. Ông viết bằng giọng “cà rỡn”, đôi khi “làm chứng ngược” cho sự rối
loạn thần kinh của chủ nhân. Nhưng, cũng bằng cách cà rỡn ấy, ông mở ra những
“biển trời” cảm thụ rất đáng kể. Ông dùng chính sự bỡn cợt để nói lên những thổn
thức nghiêm trọng.
Bùi Giáng không phải là trường hợp cá biệt đọc văn chương cổ
bằng triết học phương Tây. Trước ông, cùng thời ông và sau ông đều có những người
viết phê bình dưới ảnh hưởng của các tư trào triết học phương
Tây (phân tâm học Freud (phân tâm bệnh học), triết học hiện
sinh…) như Nguyễn Bách Khoa (Trương Tửu), Trần Bích Lan (Nguyên Sa),
Đặng Tiến, Nguyễn Đăng Thục, Đàm Quang Thiện… Nhưng dùng triết học theo
kiểu “cảm nghiệm” như Bùi Giáng, dùng triết học như một hệ thống “thi
triết” có lẽ không nhiều, nếu không muốn nói là hiếm hoi. Đương nhiên
mỗi cách nhìn đều có những hạt nhân hợp lý và không thiếu tài hoa. Điều rất
đáng nói ở đây là Bùi Giáng đã đặt Truyện Kiều trong dòng hiện tượng
học (siêu hình học) của Martine Heidegger, điều mà người ta rất
khó…ngờ. Chúng tôi không có ý đề cao Bùi Giáng chỉ vì ông chọn Heidegger chứ
không phải chọn Sigmud Freud, Friedrich Nietzsche, Jean-Paul Sartre…
Nhưng chọn Heidegger để đọc Kiều là một sự thông minh rất… “văn chương”.
Cụ Nguyễn Du có viết thế này: “Vớt hương dưới đất bẻ
hoa cuối mùa”. Đây là lời nàng Kiều phân trần với Kim Trọng ngày tái hồi cay đắng. Hương
gì ở dưới đất? Một đóa hoa đã “nhiều lưu lạc lại nhiều gian truân”, nằm yên dưới
mục nát đất kia dường như vẫn còn lại một hiện hữu nào đó không thể hủy hoại: hương.
Cái Hương ấy là bẳng chứng cho hữu thể Hoa. Người ta không ý niệm về Hoa như một loài mà
như một sự hội tụ nghĩa về Hoa. Hương là cái ngỡ Không Hoa nhưng là hồn,
là phần Hoa nhất. Con người cũng nào khác. Con người tồn tại không như một
loài, mà như một hệ thống ý nghĩa về nó, toát ra từ nó. Con người sống trong thời
gian, từ thời gian mà phóng chiếu ý nghĩa về mình và thế giới, bởi thế
con người là tất cả mọi trạng huống sinh tồn, nó tồn tại một cách hiện
sinh với tất cả quan niệm, cảm xúc, âu lo, mong muốn… Nó không phải là thực
thể đơn lập giống nhau mà bí ẩn, độc nhất, và chỉ có thể tồn tại “thật” trong
cái nhìn của chính nó và người khác. Triết thuyết hiện tượng học trong cách
thông diễn siêu hình học khơi gợi vô vàn cách đọc văn chương lý thú, món khảo cứu
ấy gã cuồng si Bùi Giáng đã thử nghiệm rất ư thành công.
a) Mô hình 2: Triết học Phật giáo Thiền tông, những
nguyên lý về chân không => mỹ học Thiền, tư tưởng
Nho học, quan niệm “thuật nhi bất tác”, sự phối kết Thi, Lễ, Nhạc
=> mỹ học Khổng giáo.
Nghĩ về lời của Mộng Liên Đường chủ nhân đối với Nguyễn Du:
“Con mắt trông thấu sáu cõi, Tấm lòng nghĩ suốt nghìn đời”, Bùi Giáng đặt một
câu hỏi hồn nhiên: Cái tấm lòng sao lại biết suy nghĩ? Câu hỏi ấy là
cách chạm vào tâm thiền. Tâm có đâu chỉ là tấm lòng. Tâm là uyên nguyên, khởi đầu
các pháp. Tâm suy nghĩ (tấm lòng nghĩ suốt) nghĩa là Tâm thấu nhập
sâu xa hiện hữu, như quahạt cải mà nhìn thấy ba nghìn thế giới.
Trong Thúy Vân, không dưới 3 lần Bùi Giáng đã dùng Kinh
Phật giải thích trạng thái sáng tạo của thi nhân họ Nguyễn. Dưới đây là một
ví dụ:
“Lời thơ ông được phép nói ra cái gì mà ngôn ngữ lý luận của
người ta không nói được? Lúc ông nói:
Gẫm hay muôn sự tại trời
Lúc ông nói:
Có trời mà cũng có ta
Lúc ông nói
Xưa nay nhân định thắng thiên cũng nhiều
Chúng ta hoang mang, chạy hỏi mấy ông bồ tát đắc quả A Nậu Đa
La Tam Miệu Tam Bồ Đề. Thì được nghe Như Lai bảo:
– Tu Bồ Đề! Như Lai sở đắc A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề, ư
thị trung vô thực vô hư. Thị cố Như Lai thuyết nhứt thiết pháp giai thị phật
pháp” (trang 35)
Lời thơ Nguyễn Du, theo Bùi Giáng, là lời “chân
kinh”. Đó không phải là ngợi ca. Đó là nghệ thuật gọi tên. Lời thơ cảm động
lòng người chính là chân kinh của đời sống. Cách đây gần nghìn năm, nữ sĩ
Murasaki Shikibu của Nhật Bản (tác giả kiệt tác Genji Monogatori) điềm
nhiên so sánh việc viết tiểu thuyết của mình với việc chép Kinh Phật. Tư tưởng
Phật giáo Đại thừa đã sinh ra một nhân sinh quan mới về sự viết,
sự sáng tạo. Ở đó, nỗi đau và cái đẹp là linh hồn tuyệt đối của mọi
sáng tạo chân thực.
Bùi Giáng khác rất nhiều một số nhà bình luận Phật
học lấy Truyện Kiều làm chứng cho giáo lý Phật giáo. Nếu Truyện
Kiều sinh ra để làm chứng cho giáo lý Phật giáo (nhân quả, luân hồi, nghiệp
báo, túc duyên tiền định, tham dục chấp trước, chữ tâm, quan niệm tu
là cội phúc…) thì tác phẩm ấy chỉ là công cụ thôi sao? Một tác phẩm
công cụ hẳn còn lâu xa mới có thể lấp lánh vĩnh hằng giữa
thế tục và đạo hạnh, kết tụ mọi tâm tình nhân thế, làm xúc động vạn người
đến hàng trăm năm. Quan niệm của Bùi Giáng lóe lên một phát giác đẹp: khoảng
lặng trong Truyện Kiều có thể giải thích mọi trái ngang, mọi phán xét. Khoảng
lặng ấy là sự thăng hoa tuyệt đích của thi tài Nguyễn Du. Có điều, khoảng
lặng ấy xuất hiện ở đâu, bao giờ, và đã hiện ra bao nhiêu lần mới thật là
bí ẩn lớn?…
Trong âm nhạc, dấu lặng cũng có giá trị như nốt nhạc (dấu lặng
đen, lặng trắng, hay lặng đơn … ). Người ta còn có ký hiệu mắt ngỗng (fermata)
thể hiện sự cho phép ngân dài ra thêm tùy vào người thể hiện âm nhạc. Dấu lặng
trong âm nhạc được cảm nhận như là khoảng không lặng lẽ cần có; nó quan trọng
như điều kiện để sống một cách tự nhiên của dòng chảy âm thanh. Khoảng không
trong hội họa thiền cũng vậy. Nó không phải là cái Không vô lý hoặc
thừa thãi, hoặc thiếu thốn cái Có.Nó được tạo ra bởi những cái Có biết thu lại
nhường chỗ cho sự diệu kỳ của cái Không.
Chàng Thanh Hiên tóc bạc dưới chân Hồng Lĩnh từng đọc
Kinh Kim Cương đến hơn 1000 lần hẳn không thể yếu kém đến mức đặt vào miệng
các nhân vật của mình những phát ngôn đạo đức khô khan hoặc trái khoáy, khiên
cưỡng, đầy ắp luận lý. Những khoảng lặng mà Bùi Giáng “hốt nhiên” ngộ thấy
trong hành trình mơ mộng thấm thía của mình được bày ra qua muôn vàn nghịch
lý trong Truyện Kiều, kể cả những chi tiết vụn vặt, những đoạn tả cảnh
tưởng chừng như chỉ là mỹ từ thêm thắt. Nhiều học giả,
nhà nghiên cứu đã “lôi ra” được hàng đống mâu thuẫn trong tư duy triết lý và
sáng tác của Nguyễn Du, thể hiện qua các nhân vật, tình tiết, cách cảm thán,
cách giải thích của tác giả. Họ gọi đó là sự lỡ tay, sự mâu thuẫn tự thân, mâu
thuẫn bên trong, sự đáng tiếc, sự thiếu khuyết, lỗi lầm khách quan của thời đại,
v.v… Đương nhiên mỗi kết luận này đều có lý riêng. Song, rất ít người giống
Bùi Giáng, thấy rằng: mâu thuẫn ấy là sự lên tiếng của cuộc đời chân thật, của
Tồn Lưu. Thật dễ hiểu, nếu một thiên tài u uất và kém cỏi trong tư duy thì làm
sao viết được cho Hay. Cái Hay là cái đã “giải” hết mọi nghi ngờ. Cái Hay là
cái đã Ngộ (của tác giả) nhưng nằm sâu trong mấy tầng cảm thụ (của
người đọc). Bùi Giáng bắt đầu từ cái Hay, và cố gắng giải thích cái Hay ấy đã cứu
chuộc được cái gì. Trạng thái ấy không khác tâm lý thiền là mấy. Nhà
thiền không quan tâm đến ký ức, không quan tâm đến ước vọng. Hiện Thực của Tâm
chính là đối tượng duy nhất. Bởi vì, tại đây, ngay lúc nàykhông có đau khổ. Bởi
một sát na không thể là sựKhổ. Truyện Kiều là cái thú “tại đây, lúc
này” của Bùi Giáng, mọi vẻ đẹp của nó đã tự giải thích gần trọn tâm sự
ai oán trong cõi lòng Tố Như.
Có một thiền ngữ nổi tiếng nhà thiền: “Vị tại”(phát ngôn của
thiền sư Bạch Vân Thủ Đoan, 1025-1072), nghĩa là “vẫn chưa”. “Vẫn chưa” không
phải là chưa được, chưa xong, mà là “đang là”. Những hàm ngôn khó hiểu, những
nghịch cảnh vượt quá sự cảm thông, những thắc mắc cắc cớ, những đối thoại vô
lý, những ước ao bất nhất trong thế giới dục lạc và đau thương của Truyện
Kiều đều là một tiếng nói của cái “đang là”. Nguyễn Du được Bùi
Giáng đặt ở tòa sen trí huệ sáng tạo đó. Nguyễn Du không chứng
minh, tuyên truyền một chủ thuyết nào, bất kể chủ thuyết nào, và đó không
hề là một “khiếm khuyết”. Ông viết tự nhiên bởi thiên tài phải thế,
như hoa nở, như sương đêm. Đó là nguồn cơn khoái trá của Bùi Giáng đọc Kiều mà
nghĩ đến đọc Kinh.
Nhưng bao nhiêu đó chưa đủ, Bùi Giáng còn đưa Nho học
vào cõi trăm năm thâm sâu của Tố Như tử. Từ Nguyễn Du và những
cảm nghiệm về Kiều, ông đột ngột liên tưởng trở lại con người “u ẩn
nhất của Trung Hoa”: Khổng Tử.
Quan điểm của Khổng Tử: “Thuật nhi bất tác”(述 而 不 作), nghĩa
chung nhất là: chỉ thuật lại (những gì của người xưa, của vũ trụ) mà không
hề sáng tác thêm điều gì, được Bùi Giáng gắn kết với ý tưởng về Hiện Hữu, về
cõi Tồn Lưu theo cách dụng chữ của ông. Ông trích dẫn: “Ta có sáng lập ra cái
gì đâu. Ta chỉ là kẻ Láng Giềng của Tồn Lưu. Ta lắng tai nghe Tồn Lưu lên
tiếng. Ta ghi lại mấy lời đã nghe”, và “ Con người ta chẳng phải là chúa tể của
hiện thể. Con người ta là mục tử của tồn thể” (trang 92). Thái độ của Khổng Tử,
theo Bùi Giáng, là “ôn tồn lễ nhượng ghi chép ra một cách vạn trạng thiên
hình”. Vì sao lại đi từ Nguyễn Du về Khổng Tử, đi từ Khổng Tử đến Heidegger?
Bùi Giáng có lẽ đã nhìn thấy họ ở tầng bậc những vĩ nhân u ẩn, thông tuệ với
các trước tác thuộc hàng tinh tế nhất của loài người; họ chắc chắn gặp nhau
trong những ý niệm về hiện hữu và những ý nghĩa phồn tạp cùng cực của
hiện hữu. Cách phân tích của ông vẫn còn dừng lại nhiều ở cảm thụ, liên tưởng,
gợi ý, nhưng dù sao, vẫn là một gợi ý xuất sắc.
Một quan điểm nữa của Khổng Tử được Bùi Giáng sử dụng triệt để
trong đối sánh: “Hưng ư Thi, lập ư Lễ, thành ư Nhạc” (được hiểu khái
quát là: hưng khởi lên từ Thơ, xác lập khuôn phép ở Lễ và thành
tựu ở Nhạc). Bùi Giáng bình: “Thi nói lên cái phồn tạp của thiên hạ. Lễ
gìn giữ cho cái biến động không đi đến cuồng loạn. Nhạc thành tựu trong vô ngôn
cái gì? Cái cõi cư lưu của thiên hạ giữa trần gian” (trang 93). Từ đó, Bùi
Giáng quả quyết Truyện Kiều mà Nguyễn Du “san định” là sự “viên dung
ba cõi Thi, Lễ và Nhạc”. Nhận định này quả thực mới mẻ đến mức …khó chịu nổi.
Giam chung ba vĩ nhân: Khổng Tử, Nguyễn Du và Heidegger vào cõi “Tồn Lưu”, Bùi
Giáng “gán”cho họ phẩm chất vô ngôn, uẩn áo mà hạng “người ta xô bồ” đã
không chịu nhìn thấy. Dường như thi sĩ họ Bùi đã có lý.
2. Nguyễn Du qua con mắt Bùi Giáng: Thiên tài hiện hữu qua
nghịch lý và vô ngôn
2.1. Nguyễn Du và “bút pháp cưỡng bức cùng tột”
Bùi Giáng dùng nhiều cụm từ khác để nói về cách viết
kỳ lạ của Nguyễn Du như “lối cưỡng bức kỳ dị”, “lối cưỡng bức kỳ
tuyệt”.
Cưỡng bức. cái từ này có vẻ như khó mà gán cho Tố
Như, người vốn được xem là thi hào đầy tình thương xót.
Lấy xuất phát điểm là tiếng nói sâu xa của Tồn tại, Bùi Giáng
chỉ chấp nhận thiên tài họ Nguyễn qua những đại nghịch lý. Dựa vào
hai tứ lớn nhất: nghịch lý và vô ngôn, Bùi Giáng làm cuộc thăm dò kỳ thú vào
thế giới Truyện Kiều.
– Cuộc thăm dò thứ nhất: cưỡng bức tính cách
nhân vật
Cho rằng Nguyễn Du “triệt để sử dụng bút pháp điên đảo”
(trang 10), tác giả Mưa nguồn đưa ra lời giải thích ngỡ ngàng,
xúc động và cay đắng cho cái chết của Từ Hải: “Nhưng cái chết của Từ Hải, sao
được gọi là cái chết thơ mộng chịu chơi?
Ấy là vĩ mấy lẽ sau đây:
– Từ Hải hoàn toàn hân nhiên phóng dật trong cuộc tòng phục
Thúy Kiều. Chàng hoàn toàn tự do trong tâm thức kẻ anh hùng nghiêng trời đổ nước.
– Tử sinh liều giữa trận tiền, lại là một cơ hội hy hữu để
cho chàng phát tiết hết anh hoa tài tử ra ngoài trong một phen lừng vang tối hậu.
– Như vậy, Từ Hải đã mặc nhiên thành tựu cái mộng tưởng u
nùng của Kim Trọng là hình ảnh của ân tình thứ nhất: “Ví dù giải kết đến điều.
Thì đem vàng đá mà liều với thân”
Cái tâm nguyện bình sinh của Kim Trọng, gia đình Vương Viên
Ngoại không cho phép chàng thực hiện (đem con Thúy Vân ghép vào cho chàng buộc
chàng phải lây lất sống não nùng trong tuế nguyệt) – cái tâm nguyện bình
sinh đó của chàng Kim, bất thình lình được Từ Hải thành tựu. (…)” (L.T.T.T
nhấn mạnh).
“Chết một cách bất trí, vô mưu là bởi vì cái trí của chàng đi
liền với bi và dõng”. (trang 45).
Có thể hiểu cách lập luận của Bùi Giáng như sau: Từ Hải chết
là sự thực hiện Tự do. Chôn chân giữa trận tiền, chàng tự do hoàn toàn trong Hiện
tính thể (tự do làm người hùng, tự do phát tiết anh hoa). Đó là Đẹp (dù đẹp u uất).
Từ Hải chết là thành tựu cái tâm nguyện bình sinh của …chàng Kim. Tâm nguyện
bình sinh đó là gì: “đem vàng đá mà liều với thân” – chết cho tình yêu. Trong một
bài viết của Đông Hồ, chúng tôi thấy một ý tưởng: nàng Kiều là người hay nói thề
thốt, nặng thề thốt, vì thế mà dễ dàng bị lừa đảo khi ai đó thề thốt, dễ bị
cuốn đi trong phong trần; càng nhiều thề thốt càng đau đớn. Cú “chết đứng” của
Từ Hải là sự kiện duy nhất giải tỏa được nỗi sợ thề thốt của Kiều. Vậy
ra, lời thề của chàng Kim là cái cớ để Từ Hải làm chứng cho tình yêu với
Kiều. Sao có thể nghịch dị đến mức ấy? Những ngang trái thản nhiên ấy chỉ có thể
là sản phẩm của tồn tại phồn tạp, của Sein.
Và bởi vậy, đó là cái chết Đẹp, vì chết để “phụng sự
Tồn lưu chân lý”.
Cuộc cưỡng bức tính cách còn được Bùi Giáng phát hiện trong rất
nhiều cách miêu tả mâu thuẫn của Nguyễn Du, ví dụ: nàng Kiều than vãn “Miệng
hùm nọc rắn ở đâu chốn này” nhưng “cái chốn do Hoạn Thư bố thiết cho
Kiều lại là chốn bao dong tương nhượng”. Còn Thúy Kiều đối với Từ Hải thì
sao: “Sự gì cũng để cho nàng quyết định, khen nàng có con mắt tinh đời, gọi
nàng là tri kỷ số một, mà hỡi ôi, nàng chẳng hiểu Từ Hải chút gì cả, sự gì nàng
quyết định cũng sai be sai bét” (trang 47). Bùi Giáng cũng thẳng thừng:
“Tam Hợp Đạo Cô cũng là nhân vật ăn nói hàm hỗn cùng cực. Những lời chỉ trích của
bà, cũng như những lời xưng tụng của bà, đều không đúng với sự thật” (trang
32) Lập luận của Bùi Giáng là: Kiều không có ý hại Từ Hải, nhưng “cũng chẳng
có ý cứu muôn người”, nên càng không có chuyện “tâm thành đã thấu đến trời. Bán
mình là hiếu cứu người là nhân. Một niềm vì nước vì dân…” (trang 33), rằng “Kiều
đâu có lầm lỗi quá trầm trọng như đạo cô nói? Và cũng chẳng có công đức lớn lao
(…) như đạo cô bảo” (trang 35). Vậy, những lời trái sự thật được viết ra là bởi
“ý Nguyễn Du muốn đặt chúng ta tại trung tâm mê cung thế sự và thể hội một cái
gì chỉ riêng lời thơ ông được phép nói ra” (trang 35).
Những lời bình này ngoài sự đúng đắn của nó còn có tính hài
hước. Cái thế giới bi hài của tình nhân, ma cô, đạo cô, tiên cô, ân nghĩa,
ai oán, thù hằn… chính là hiện hữu người của những con người thế gian. Nghịch
lý trong tính cách được Nguyễn Du tỉnh táo bóc gọn trong một sự sáng tạo tự
nhiên.
– Cuộc thăm dò thứ hai, cưỡng bức sự kiện:
Thật lạ, Bùi Giáng phát hiện, cái đám cưới bi thảm của nàng
Kiều và Bạc Hạnh đâu có ghê gớm như Kiều nghĩ, “Bạc Bà Bạc Hạnh bố trí trật tự
ngăn nắp (rất mực ngôn ngữ hợp luân lý) cho một cuộc buôn bán đảo điên, còn giữ
được cái phong độ thể thống nề nếp tỉ mỉ tươm tất hôn nhân, không hề có chi mô
gọi là ép duyên ép nghĩa” (trang 14). Đó là một sự kiện nằm trong chuỗi cưỡng
bức đặc biệt của Nguyễn Du.
Một cuộc cưỡng bức khác lạ nằm ở đoạn báo ân báo
oán. Bùi Giáng đặt ra một câu hỏi không thể tuyệt vời hơn: “Chính danh thủ phạm
được tha, thì tại sao bọn người thủ phạm tai rai lại bị giết?” (trang 32).
Không giải thích bản lĩnh đàn bà của Hoạn Thư, không bênh vực tài ăn nói, biện
hộ của Hoạn Thư, ông chỉ đặt ra câu hỏi cắc cớ và sâu sắc một cách bất ngờ. Sự
tha bổng và trừng phạt của Kiều bị chi phối bởi chính nàng hay bởi một quyền lực
nào khác? … Một Quyền Lực Kháctrong trường đoạn ân oán, đó là phần vô ngôn
của Truyện Kiều.
Cuộc cưỡng bức cuối cùng: trường hợp Giác Duyên. Màn báo ân
báo oán của Kiều tuy “trước sau trọn vẹn, xa gần ngợi khen” trong con mắt bình
dân, nhưng với Giác Duyên, Bùi Giáng viết: “Trong cái đám đông đảo “ai ai trông
thấy hồn kinh phách rời” thì Giác Duyên ắt là kẻ hồn kinh phách rời nhiều nhất”. Sự
kiện “vội đã gửi lời từ quy” báo hiệu một sự thật khác, lớn hơn sự thật
báo ân báo oán. Giác Duyên không nằm trong số người hết lời ca ngợi nàng
Kiều công bằng. Nàng chỉ được “ngợi khen trên bình diện đạo lý thông
thường”. Nhưng lời hẹn hò kỳ dị của Giác Duyên: “Trong năm năm lại gặp nhau đó
mà” đã vén bức màn khác cho Kiều, nàng sẽ “thể hội một chân lý khác: mọi sự thị
phi sẽ bị cuốn hút vào cơn lốc của ảo mộng tồn sinh” (trang 81), một
sự thể hội đánh đổi bằng cái chết tuyệt vọng thương tâm ở
sông Tiền Đường.
Trên đây chỉ là vài ví dụ, còn nhiều nghịch lý khác mà Bùi
Giáng nêu ra rất đáng để suy nghĩ thêm
Lý giải nghịch lý khủng khiếp trong Truyện Kiều, Bùi
Giáng có một nhận định quan trọng: “Khi tư tưởng tự nó đã là thất bại, và
tiếng nói của con người ta càng tăng gia vào thất bại, thì ngôn ngữ thiên tài
hiện ra theo thể thái cưỡng bức”.
Cưỡng bức ngôn từ, theo Bùi Giáng, là lối buộc lời (hệ từ), một
động tác làm “nảy nở càn khôn”.
Phan Ngọc, tác giả Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong
Truyện Kiều (NXB KHXH, 1985), đã chia sẻ ít nhiều nhận định về lối
viết “cưỡng bức” này của Nguyễn Du, tất nhiên dưới một góc nhìn khác. Chẳng hạn
như: thay vì ca ngợi đức nhân đạo của cụ Nguyễn, tác giả nói về một thủ pháp
“phân tích tâm lý tàn nhẫn” (trang 134 – 136) của tác giả đối với nàng Kiều
“thiên hương quốc sắc” gồm 7 mức độ (chúng tôi dùng chính xác từ của tác
giả): ngu, tham, mất cảnh giác, sợ gian khổ, chạy theo ảo tưởng, tự lừa dối
mình, biện hộ phản bội. Nhưng cái kết luận này mới là đáng nói: “Lối phân
tích tàn nhẫn này, Nguyễn Du đã học tập ở Phật giáo (…), vì Phật giáo có lối
phân tích tàn nhẫn đối với giá trị vẫn lôi cuốn con người để chứng minh tính vô
nghĩa của chúng” (trang 138). Cũng với hệ thống tư duy lập luận đó, Phan Ngọc
thấy Kim Trọng hào hoa nhưng háo sắc, Từ Hải anh hùng mà hồ đồ, Hoạn
Thư ác nghiệt mà độ lượng. Mỗi nhân vật là “một thao trường tranh cãi”.
Như vậy, ý tưởng vận dùng “thi pháp” ngôn ngữ và đường lối tư
duy nhà Phật để đọc Kiều của Bùi Giáng chắc không phải là con đường quá hẹp,
tuy hoa trái thành tựu chỉ dành riêng cho một vài khối óc. Cưỡng bức, nghịch
lý, mâu thuẫn, tranh cãi, đều chỉ là những cách nói khác nhau về một bút pháp
“đảo điên” của Nguyễn Du (“đảo điên” như là một phúng dụ về hoạt tính phi thường
của nghệ sĩ).
2.2. Nguyễn Du – người khơi sâu nẻo vô ngôn
Phần vô ngôn, trong cách hiểu của Bùi Giáng (qua khảo cứu của
chúng tôi), là phần Nguyễn Du không nói. Không nói không phải là không có
thông tin, không có chứng cứ để người đọc phải tự suy luận ra. Không nói ở
đây là không nói mà nói rất nhiều, giống như cách nói tinh tế của Lão Tử:
“vô vi nhi vô bất vi”( 無 為 而 無 不 為), nghĩa làkhông làm
mà không phải là không làm.
Với Bùi Giáng, Truyện Kiều là một thứ “mê hồn trận
thị phi” mà ở đó, Nguyễn Du cho ta một cơ hội để thể hội trở lại ngôn
ngữ Bồ Tát “tự thị nhi phi, tự phi nhi thị” (trang 45).
Ngôn ngữ Bồ Tát ở đây là ngôn ngữ của sự thật, là lối
“lập ngôn ẩn mật”, bi mẫn và thông thái.Ngôn ngữ Bồ Tát là ngôn ngữ đã tự cứu
chuộc và sẽ cứu chuộc, nó đã giải thoát. Nó không thuộc về một trật tự nhị
nguyên nữa: “Tự thị nhi phi, tự phi nhi thị” (似 是而非, 似非而是),tưởng
đúng mà sai, tưởng sai mà đúng. Vậy sự thật là gì? Cũng chính là thứ “ngôn
ngữ tàn nhẫn” mà Phan Ngọc nói, Bùi Giáng chỉ thêm vào một nốt lặng chuyển dịch bằng
câu trích trên. Thích Ca Mâu Ni, từ hơn 2.500 năm trước, đã ngầm báo trước cho
người đời những giới hạn của ngôn ngữ bằng cách phủ nhận ngôn ngữ trong khả
năng vươn tới thực tại toàn mãn (“Ta 45 năm thuyết pháp nhưng không nói lời
nào”). Ngôn ngữ không đủ sức. Một thứ phi ngôn ngữ, ngôn ngữ của Tính
Không, sẽ nói được nhiều thứ. “Hàng đống” mâu thuẫn trong Truyện Kiều, bởi
vậy, sẽ lại trở về trật tự giải thoát của nó khi người đọc không để tâm ở sự thắc
mắc, không giải thích mọi nghịch lý trong ngôn ngữ Truyện Kiều giống
như “lời quê” vốn hay được xem là nông nổi, mua vui. Đó là
hướng đi của Bùi Giáng.
Trong một mối quan tâm khác về đức tin, Bùi Giáng viết:
“Kiều nói “Tin tôi nên quá nghe lời” nhưng thật ra Từ Hải tin
là tin ở một cái lẽ nhiệm màu của tồn lưu, và chàng đã đối xử với Kiều thể theo
niềm tin đó, chứ không phải chàng ngây ngô tin Kiều(L.T.T.T nhấn mạnh).
Chàng nghe lời nàng nói mặn mà, là bởi vì lời nói bá láp tầm phào kia đã đem lại
cho chàng một cơ hội để chàng thể hiện niềm tin nhiệm màu. Đó chính là cái “lượng
cả bao dong” của Từ Hải vậy” (trang 46).
Lời bình luận này cho thấy Bùi Giáng không chỉ thông hiểu triết
học; Ông còn rất tuyệt về thần học – khoa giải phẫu về đức tin. Đọc Kiều bằng
thần học, Bùi Giáng một mình một cõi. Niềm tin trong Truyện Kiều là một
thứ xa xỉ phẩm, nó làm tan nát bao nhiêu cuộc đời; Nào là “tin tôi nên quá
nghe lời”, nào là “ngây thơ chẳng biết là danh phận gì”, nào là “thề thốt nặng
lời, có đâu mà lại ra người hiểm sâu”, nào là “đá vàng cũng quyết phong ba cũng
liều”… Làm rõ một đức tin đổi bằng sự chết, Bùi Giáng đi quá xa vào chốn vô
ngôn của Truyện Kiều, nơi thi sĩ u buồn Nguyễn Du bất thình
lình trở thành nhà thần học đơn độc.
Cũng dưới góc độ vô ngôn, Bùi Giáng nhìn thấy hai nhân vật
“nam chính” trong tác phẩm: Từ Hải và Kim Trọng, đều được ngòi bút Nguyễn Du đặt
đứng trước cõi hư vô. Chết giữa trận tiền, Từ Hải – “con hùm sói đó đã đối
diện với hư vô”. Chờ đợi Thúy Kiều ở vườn Thúy, Kim Trọng cũng là “kẻ
đối diện hư vô”. Cái khoảng không mênh mông đằng sau sự chờ đợi thiết tha và
cái chết tức tưởi (đều vì tình yêu) mở ra một ánh sáng lạ cho Truyện
Kiều. Nó là cái phông nền khó thấy, được chưng cất từ một nội tâm rộng mở
và sâu sắc kỳ lạ của thi hào Nguyễn Du.
Cuối cùng, hẳn người đọc phải nhíu mày băn khoăn: sao cuốn
sách viết về Truyện Kiều, viết về Kiều mà có tên Thúy Vân?
Thúy Vân theo nét vẽ của Bùi Giáng, “chính là cái trục lễ
vuông tròn lễ nhượng tương nhượng đề huề, điều kiện cần yếu giúp cho Thi và Nhạc
“hưng” được và “thành” được vậy (…). Cô Vân đúng là kẻ quan trọng bậc nhất.
Không có cô Vân, thì Kim Trọng đã chết ra ma ngay từ đầu, Kiều không còn cậy ai
thay lời để thong dong giũ áo ra đi. Không có cô Vân, thì cuối cùng, cho dẫu
Kim Trọng không chết ra ma, còn chờ tới ngày tái hợp thì hậu quả lại càng khủng
khiếp hơn nữa. Không có nàng, Kiều Kim không được chế ngự. Thả tự do cho hai
cái tài tình phong vận kia tự do cọ vào nhau một trận, thì cả đôi ắt cũng tan
hoang tinh thể” (trang 68). Thúy Vân là cái “mệnh đề phụ” thơ ngây thăm thẳm,
nhân vật mà Nguyễn Du đã “trút hết mọi niềm thân thiết” bằng “cái vẻ đạm nhiên
đôn hậu dị thường của lục bát”. Chân dung “ăn nói rất ít”, mờ nhạt, đơn sơ mà
không thiếu phần nghiêm trang (trang trọng, đoan trang) của Thúy Vân khiến nàng
ẩn xa trong “cõi lòng bao la” như một ký hiệu vô ngôn của Nguyễn Du. Một
phát hiện của Bùi Giáng về Thúy Vân thật đáng giá: “Tả Thúy Kiều “dầu chong trắng
đĩa, lệ tràn thấm khăn” cũng là tả Thúy Vân dịu dàng lân mẫn “một nhà để chị
riêng oan một mình”. (Ai có thể nói được cho Kiều một lời đàng hoàng đích đáng
như ngôn ngữ cô Kim Cương như thế)” (trang 69). Những lời kết giao cuối cùng của
Thúy Vân trong ngày Kim Kiều tái ngộ, Bùi Giáng thấy, “không thể chỉ riêng lý
trí”, “cũng không phải vì ù lỳ ngốc nghếch” làm thốt ra, mà bởi nàng đã lặng lẽ
thấu chịu mối trung hòa suốt 15 năm, “gánh lấy cái khối nặng nề thân thể tâm sự
ngổn ngang của chàng Kim” để có thể vuông tròn nối kết chồng mình với chị.
Thúy Vân chỉ được nhắc đến một lần trong bài Nhan đề cuốn
truyện. Bùi Giáng đã giấu nàng – một Mệnh đề phụ thăm thẳm – để người đọc nói
tiếp câu chuyện Đoạn Trường Tân Thanh mà Nguyễn Du đã hé lộ qua những khoảng lặng.
Cách đọc Kiều của Bùi Giáng hy hữu như thơ ông. Những gợi ý và phát hiện của ông mở ra một cánh cửa khác, chân trời khác cho những cách đọc văn chương cổ. Bản chất cách đọc này cũng là một nghịch lý: một mặt nó đòi hỏi rất nhiều kỹ năng và phương thức tư duy, mặt khác, nó thuộc về phong cách, một phong cách rất tự nhiên, sâu sắc và hồn hậu. Nghĩa là, một cách đọc vừa có thể rèn luyện được, vừa không thể rèn luyện được. Trong cái nghịch lý này, Bùi Giáng đúng là một bóng Vân Mồng (bút danh của thi sĩ), nghĩa là một đám mù sương xóa đi mọi dấu vết. Ông lãng đãng trên từng dòng chữ, từng khám phá mà vẫn biệt tăm tích trong cõi người.
Tư liệu tham khảo chính:
1. Đoàn Trung Còn, Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, NXB Tôn
giáo, Hà Nội, 2006.
2. Trần Thiện Đạo, Chủ nghĩa hiện sinh và thuyết cấu trúc,
NXB Văn học, Hà Nội, 2001.
3. Nguyễn Thạch Giang (Khảo đính và chú giải), Truyện Kiều( tái
bản lần thứ IX), NXB Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, Hà Nội, 1991.
4. Bùi Giáng, Thúy Vân, phần vô ngôn trong tư tưởng Nguyễn
Du(tái bản dựa trên bản gốc 1969), NXB Văn nghệ, Hà Nội, 2007.
5. Vũ Hạnh, Đọc lại Truyện Kiều, NXB Đà Nẵng, 1998.
6. Abraham Mansbach, Việc Heidegger phê phán thuyết
Descartes, Đinh Hồng Phúc dịch, website: http://phebinhvanhoc.com.vn
7. Phan Ngọc, Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều,
NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1985
8. Nhóm tác giả, Chân dung Nguyễn Du(nhiều kỳ), Nguồn:
Tạp chí Văn hóa Nghệ An, website: http://www.vanhoanghean.com.vn
9. Đỗ Lai Thúy, Bùi Giáng, Giải minh người minh giải,
website: phebinhvanhoc.com.vn
10. Trần Đình Sử, Thi pháp truyện Kiều, NXG Giáo dục, Hà Nội,
2002.
11. Phạm Đan Quế (sưu tầm và biên soạn), Truyện Kiều những
bài viết lạ, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2007.
12. Phạm Đan Quế, Truyện Kiều trên báo chương thế kỷ XX, NXB
Thanh Niên, 2003.
13. Phạm Đan Quế, Truyện Kiều và các nhà nho thế kỷ XIX,NXB
Văn học, Hà Nội, 2000.
14. Trịnh Bá Đĩnh (chủ biên, tuyển chọn và giới thiệu), Nguyễn
Du, về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998.
15. Nguyễn Hưng Quốc, Cuộc hòa giải vô tận – Trường hợp Bùi Giáng, website: Dactrung.net.
Ngõ Trần Cao Vân, 8/9/2013
Lê Thị Thanh Tâm
Theo https://vanhocsaigon.com/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét