Bửu Đình, nhà tiểu thuyết Nam Bộ
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã nhận xét về văn chương
của Bửu Đình như sau: “Văn chương của Bửu Đình thật trong sáng và xúc động
không ngờ; phải xúc động và hay như thế nào thì nhà xuất bản Nam Cường (Sài
Gòn) mới tái bản vào năm 1953.
Nhân đề tựa cho tập thơ Vĩ Dạ hợp tập của Tuy Lý
Vương Miên Trinh, thám hoa Nguyễn Đức Đạt có đề cập đến ý niệm văn chương thượng
thừa: là thứ văn chương dẫu buộc thêm chì cũng không chìm, dẫu bị chôn vùi dưới
đáy rương mấy trăm năm người ta cũng đào lên để đọc. Văn chương của Bửu Đình có
thể gọi là “văn chương thượng thừa” theo Thám hoa Nguyễn Đức Đạt” (23; tr.7).
Văn chương Bửu Đình là như vậy. Nhưng cho đến nay chúng ta biết chẳng bao nhiêu. Nhất là về tiểu thuyết của ông, chúng ta còn hiểu quá mờ nhạt. Trước tinh đó chúng tôi bắt tay vào việc nghiên cứu Bửu Đình.
Cho đến nay việc nghiên cứu Bửu Đình gần như chưa có gì. Gần
như các nhà nghiên cứu đã viết về ông còn quá ít. Sau chúng ta xin điểm qua một
số.
Trước hết là bài nghiên của ông Nguyễn Văn Y đăng trong tiểu
thuyết Mảnh trăng thu, NXB Tổng hợp Tiền Giang, năm 1988. Trong bài Lời
giới thiệu ông Nguyễn Văn Y đã nói tương đối đầy đủ về cuộc đời và sự nghiệp
sáng tác của ông. Đúng như lời ông khẳng định: “Trên nửa thế kỷ qua, kể từ
khi Bửu Đình mất, cuộc đời và sự nghiệp của ông chưa được giới nghiên cứu văn học
tìm hiểu cặn kẽ để dành cho ông một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học
nước nhà thời cận đại, mặc dù tên ông đã được ghi vào Từ điển văn học. Đã
có hàng chục bài viết về Bửu Đình, nhưng thật tình mà nói, tất cả đều rất sơ lược,
thiếu sót và hầu như phần đông chỉ nhắc đi nhắc lại những điều đã được nói đến
nhiều lần với một ít sai lầm đáng kể.
Để phần nào giúp cho bạn đọc hiểu qua nhà văn Bửu Đình trước
khi lần dở Mảnh trăng thuchúng tôi xin trình bày vắn tắt những nét chính yếu
về cuộc đời và tác phẩm của ông, dựa vào các tài liệu tương đối chính xác mà
chúng tôi đã mất nhiều năm mới sưu tầm được” (16; tr.5,6)
Tiếp theo là bài Bửu Đình, từ “tổ ấm quý tộc” đến trường
học cách mạng của Hoài Anh trong sách Chân dung văn học, NXB Hội Nhà
văn, năm 2001. Ở bài viết này, Hoài Anh đã nghiên cứu Bửu Đình theo tư cách là
một tác giả. Theo ông, “Đời Bửu Đình là cuộc đời đấu tranh của một chiến sĩ
cách mạng, ông không coi việc viết tiểu thuyết như một hoạt động dấn thân, mà
chỉ viết trong khi “tạm nghỉ bước tung hoành” nơi nhà tù” (1; tr.202)
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường đã có bài viết đăng trên báo Văn
nghệ (số 34 ngày 21.8.2004) dưới nhan đề Bửu Đình, nhà văn thời khai sáng
của văn học quốc ngữ Huế. Ở bài viết này, tác giả xây theo kiểu chân dung văn học.
Theo ông, chân dung của Bửu Đình vào mấy điểm chính sau đây: “Dõi theo cuộc đời
bi tráng của Bửu Đình, chúng ta có thể kết luận mấy điều như sau:
1. Bửu Đình được xem là đứa con nghịch tử của dòng dõi các
vua Nguyễn. Ông bẩm sinh vốn thuộc dòng dõi chính thống so với đế hệ thi của
vua Minh Mạng xếp đặt truyền ngôi. Điều oái ăm là Bửu Đình đã tìm mọi cách xoá
bỏ “số phận Hoàng thân” của mình, đến mức coi mình như kẻ thù của chính mình.
Đó là tâm trạng của một người chán ghét cung đình trong thời kỳ các vua Nguyễn
dần dần trở thành tay sai mạt hạng của thực dân Pháp, và mục tiêu trước mắt của
ông là lật đổ chế độ quân chủ nhà Nguyễn. Ông buộc lấy họ mẹ, để rồi biến mất
trong bão biển. Cuối cùng cái tên Bửu Đình vẫn được ông sử dụng như một dấu “hồng
tuyết trảo” (dấu chân hồng đi trên tuyết) của kẻ sĩ xưa. Cuộc đời cho ta thấy
có hai Bửu Đình trong một số phận: một Bửu Đình hoàng thân đã chết và một Bửu
Đình nhà văn sống mãi muôn đời.
2. Cuộc chiến đấu của Bửu Đình phù hợp với mục tiêu lịch sử của
giai đoạn đương thời. Chúng ta biết rằng Bửu Đình trở thành tù nhân bởi Nguyễn
Phước Tộc vào năm 1927, đúng vào giai đoạn mà nhân dân Việt Nam tiến lên trong
cuộc đời vận động thành lập Đảng. Cuộc chiến đấu của Bửu Đình là không cân sức
trong cuộc đối đầu chống lại vua Nguyễn răm rắp tuân theo thực dân Pháp ném đá
dấu tay. Ông đã huy động vào cuộc chiến đấu của ông hai thứ vũ khí thông dụng của
cách mạng đương thời: nghề làm báo và hoạt động diễn thuyết. Ngược lại triều
đình Nguyễn và thực dân Pháp đã bắt ông tù đày hết Lao Bảo đến Côn Đảo, trước
khi biến mất trên mặt biển. Bửu Đình quả là con người tâm huyết, đứng bên cạnh
nhân dân đến chết mới thôi, nêu gương cho hậu thế như một chiến sĩ bất khuất.
3. Các tác phẩm văn học của ông như Cậu Tám Lọ, Giọt lệ
tri âm(thơ) và nhất là Mảnh trăng thuđều được viết trong lao tù, và được
công bố trên đất liền, thông qua những con tàu vượt biển.
Văn chương của Bửu Đình thật trong sáng và xúc động không ngờ;
phải xúc động và hay như thế nào thì Nhà xuất bản Nam Cường (Sài Gòn) mới tái bản
vào năm 1953” (23,tr. 7).
Ngoài ra, còn nhiều bài khác nữa. Nhưng cách đánh giá cũng tương tự như các bài đã đề cập.
Bản chất của tiểu thuyết Bửu Đình vẫn là tính thế sự, vẫn là
tiểu thuyết thế sự xoay xung quanh số phận đời tư của những con người trong cuộc
đời thường chứ không phải là tiểu thuyết trinh thám. Đi sâu và hẹp hơn nữa, có
thể định tính tiểu thuyết Bửu Đình là tiểu thuyết tình cảm. Tình yêu nam nữ là
chủ đề chính bao trùm lên toàn bộ sáng tác của nhà văn này và cũng là cốt truyện
của tác phẩm. Mảnh trăng thu được xây dựng dựa trên câu chuyện về mối
tình của đôi trai tài gái sắc Minh Đường – Kiều Tiên. Thuộc thể loại tiểu thuyết
tình cảm, tác phẩm của Bửu Đình được tạo nên trên chủ đề tình yêu nam nữ. Chủ đề
này bao bọc và quán xuyến toàn bộ tác phẩm của ông, trở thành cốt truyện chính.
Tình yêu và hạnh phúc lứa đôi chạy dọc tác phẩm của Bửu Đình như một sợi chỉ đỏ,
mang những sắc thái, cung bậc đủ đầy và riêng biệt của nó.
Trước hết, có thể thấy tình yêu nam nữ trong tác phẩm của Bửu
Đình chưa thoát khỏi những lễ nghi, đạo lý thời phong kiến. Nhân vật nam và
nhân vật nữ trong ngòi bút của Bửu Đình khi đến với tình yêu vẫn đi theo những
lề lối xưa, những lễ giáo xưa đã ngấm trong họ, mặc dù, những nhân vật này luôn
là những người trí thức mới theo Tây học. Tình yêu nam nữ được dung hoà, bình ổn
và luôn ở thế cân bằng trong vòng lễ giáo phong kiến truyền thống. Không chỉ dừng
ở đó, tư tưởng lễ giáo phong kiến in đậm lên nhân vật và vẽ cả con đường số phận
của họ. Kiều Tiên vì lời ước hẹn của gia đình với một người con trai khác
mà đành đoạn tuyệt với Minh Đường để giữ trọn vẹn chũ hiếu và lời ước hẹn xưa.
Như vậy, tiểu thuyết của Bửu Đình đã đi lùi một bước so với Tố Tâm của
Hoàng Ngọc Phách trong quan niệm về tình yêu nam nữ. Mặc dù trong tác phẩm của
Bửu Đình có tình yêu tự do nhưng tình yêu ấy sẵn sàng và dễ dàng quy thuận theo
những lễ giáo phong kiến ngự trị suốt hàng ngàn năm trong tư tưởng con người.
Trong Mảnh trăng thu và Cậu Tám Lọ có loé lên tình yêu của
Kiều Nga đối với Thành Trai. Nhưng ở đây, tình yêu không có ý nghĩa kháng cự lễ
giáo phong kiến mà chỉ dừng lại ở tình yêu loạn luân của hai người có cùng dòng
máu. Điểm dừng thứ hai của mối tình này là tình yêu đơn phương, chỉ sinh ra và
trú ngụ trong trái tim người con gái mà thôi. Và điểm dừng thứ ba là ở chỗ,
chính tình huống truyện đã cởi bỏ tất cả tính chất loạn luân của mối tình ấy vì
thực ra, Kiều Nga là cô gái mang thân phận bị đánh tráo và cô không phải là em
gái của Thành Trai.
Điểm nổi bật trong việc xây dựng tình yêu nam nữ của ngòi bút
Bửu Đình là nhà văn đã đi sâu vào khám phá những chiều kích tâm lý phức tạp của
nhân vật. Màu sắc tình yêu trong tác phẩm của Bửu Đình hiện lên với toàn bộ nét
hồn nhiên và tính cách bản thể của nó. Trong những trang văn của ông, ta bắt gặp
nét bút thật trữ tình, sâu lắng khi vẽ bức tranh tâm trạng của nỗi tương tư, bức
tranh của niềm nhung nhớ và cả của sự ghen tuông rất thường tình của tình yêu.
Ngòi bút Bửu Đình đã sử dụng nhiều phương thức nghệ thuật để
khắc hoạ bức tranh tâm lý nhân vật. Có khi, nhà văn miêu tả tâm trạng nhân vật
qua hình dáng bên ngoài, từ dáng vẻ gương mặt, hình vóc mà gợi nên đường nét của
tâm trạng. Cũng có khi tâm trạng nhân vật được thể hiện qua những cuộc đối thoại
của các nhân vật. Sự thay đổi điểm nhìn trần thuật tạo ra trong tác phẩm một
không khí sinh động, linh hoạt, ngôn ngữ phong phú, giọng văn uyển chuyển và đồng
thời, bức tranh tâm lý được khắc hoạ dưới nhiều góc độ, bằng nhiều màu sắc khác
nhau.
Màu sắc trinh thám trong tiểu thuyết Bửu Đình in đậm ở tình
huống truyện còn ở tình tiết truyện thì màu sắc này không rõ nét như các tác phẩm
trinh thám. Bao giờ Bửu Đình cũng xây dựng tác phẩm dựa trên tình huống có tính
vụ án. Một vụ giết người, một vụ mất cắp…, tình huống truyện này thành cái
khung bọc quanh tác phẩm và toàn bộ cốt truyện được triển khai theo tình huống ấy
để hướng đến mục đích cuối cùng là “phá án”. Thế nhưng, so với những tác phẩm
trinh thám khác thì tính trinh thám của Bửu Đình chỉ dừng lại ở mức độ khởi đầu.
Tình tiết của tiểu thuyết Bửu Đình không đạt đến độ chín muồi của nghệ thuật tiểu
thuyết trinh thám. Đa phần các tình tiết không mang tính suy luận điều tra dựa
trên chứng cứ mà tình tiết truyện được triển khai dựa trên sự ngẫu nhiên tình cờ.
Ngẫu nhiên mà người đi điều tra gặp được nhân chứng, ngẫu nhiên mà người lần
theo dấu vết bắt gặp chứng cớ hay phát hiện ra sự thật… Đến ngay cả nhân vật
thám tử cũng mang tính chất “nghiệp dư”. Các nhân vật của Bửu Đình không phải
là những thám tử chuyên nghiệp mà họ là những người có mối quan hệ khắng khít với
những người có liên can đến vụ án. Những cuộc gặp gỡ tình cờ thúc đẩy cốt truyện
phát triển, để lộ dần những yếu tố bí ẩn phơi ra ánh sáng của sự thật.
Thế nhưng, vì là tiểu thuyết ra đời trong những buổi đầu, những
sáng tác của Bửu Đình có những giá trị riêng trong sự đóng góp về mặt nội dung
và nghệ thuật của thể loại tiểu thuyết để tạo ra sự ra đời của tiểu thuyết và
cũng để thúc đẩy tiểu thuyết phát triển. Ở thời điểm ấy, tạo ra một tình huống
tiểu thuyết hấp dẫn, đầy sức lôi cuốn với nhiều tình tiết éo le, uẩn khúc và viết
theo lối viết trinh thám như Bửu Đình quả là một bước đột phá lớn. Chính vì vậy
mà theo ý kiến đánh giá của độc giả, trong khi Truyện Kiều đứng thứ 1
thì Mảnh trăng thu đứng thứ 6. với giọng văn chân chất, gần gũi, ngôn ngữ
giản dị, gần với ngôn ngữ của ngưới bình dân, lối dẫn dắt chuyện linh hoạt và
nghệ thuật phân tích tâm lý tinh tế, Bửu Đình đã thực sự cuốn hút được người đọc
vào những trang viết của ông, nhất là vào thời điểm những quyển tiểu thuyết đầu
tiên mới ra đời.
Tính chất trinh thám còn được thể hiện ở nghệ thuật miêu tả sự
xuất hiện của nhân vật. Bửu Đình cho nhân vật xuất hiện một lần. Sau đó, ở những
lần xuất hiện tiếp sau, nhà văn luôn tạo một nét sắc thái bí ẩn với hành tung
bí mật rồi sau đó mới để lộ danh tánh của nhân vật. Việc miêu tả sự tái xuất hiện
của nhân vật như thế tạo nên tính chất bí ẩn và gợi nên trong người đọc sự tò
mò thích thú, cảm giác phiêu lưu mạo hiểm, sự hồi hộp chờ đợi. Kiều Tiên xuất
hiện trong vai một người đàn bà bí mật: “Trong lúc tắt đèn, nghe sau lưng có tiếng
hỏi rất dịu dàng, chàng giựt mình xây lưng lại ngó thì thấy có một người đàn bà
trùm khăn đen, mặc áo quần đen vịn tay lên lưng ghế sau, dòm vào trong lô. Người
đàn bà ấy thấy Thành Trai thì ra dáng e lệ, không hỏi nữa, lật đật lui ra như hỏi
lầm ai” (tr. 28,Mảnh trăng thu). Khi tạo dựng tình huống cuộc gặp gỡ ngoạn mục
giữa Thành Trai và Minh Đường với các tình tiết gay cấn, hồi hộp như tình tiết
Minh Đường bắn thủng lốp xe của Thành Trai giữa đường và cuộc đột nhập của
Thành Trai vào phòng trọ của Minh Đường vào giữa đêm khuya khiến Minh Đường đâm
Thành Trai bị thương, Bửu Đình đã khiến cho Thành Trai trở thành một nhân vật
“mai danh ẩn tích”, hiện ra trong cái vẻ bí hiểm, tạo không khí mang đậm chất
trinh thám. Lối xây dựng sự tái xuất hiện của nhân vật như thế có nét giống với
việc miêu tả sự xuất hiện của nhân vật trong Tam quốc chí diễn nghĩa hay như
trong các tiểu thuyết cổ điển chương hồi khác của văn học Trung Quốc.
Thời gian nghệ thuật trong tiểu thuyết của Bửu Đình cũng là một
sự phát hiện mới trong việc miêu tả thời gian trong văn học. Nếu như ở Tố
Tâm, Hoàng Ngọc Phách không xây dựng dòng thời gian một chiều mà đã có dòng thời
gian hai chiều, dòng thời gian hồi tưởng của tâm tưởng thì Mảnh trăng thu cũng
thế. Bửu Đình không để cho thời gian chảy theo một hướng từ hiện tại đến tương
lai mà bẻ vòng thời gian, đi từ hiện tại đến quá khứ rồi quay trở về hiện tại để
thúc đẩy dòng cốt truyện phát triển. Không xây dựng thời gian hồi tưởng
như Tố Tâm, Mảnh trăng thu đưa thời gian quá khứ vào lời kể của nhân
vật trong nhật ký. Do đó, trong Mảnh trăng thu không có sự đan xen giữa
quá khứ và hiện tại, không có độ dừng của dòng hồi tưởng để quay trở về hiện tại
như Tố Tâm mà tác giả cắt lớp tác phẩm của mình, để quá khứ chảy hết
dòng chảy cho trọn vẹn rồi mới đưa tác phẩm quay trở về hiện tại. Yếu tố thời
gian nghệ thuật đa chiều này vừa tạo ra cho tác phẩm chất bí ẩn, huyền ảo, kì
bí của tiểu thuyết trinh thám, vừa tạo nên sự chuyển dời điểm nhìn trần thuật từ
ngôi thứ ba sang ngôi thứ nhất.
Tóm lại, nhìn từ phương diện thể loại, tiểu thuyết của Bửu Đình là tiểu thuyết tình cảm mang màu sắc trinh thám. Đó là màu sắc riêng của Bửu Đình khi đặt bên cạnh tiểu thuyết tâm lý của Hoàng Ngọc Phách hay tiểu thuyết thế sự của Hồ Biểu Chánh. Mặc dù còn có nhiều hạn chế về mặt nội dung và nghệ thuật, nhưng đặt trong cái nhìn mang tính chất lịch sử, ngòi bút tiểu thuyết của Bửu Đình đã có những đóng góp vô cùng quan trọng đối với sự ra đời của tiểu thuyết, góp phần hoàn chỉnh diện mạo và sắc màu bức tranh tiểu thuyết Việt Nam trong buổi đầu. Đồng thời, viêc tìm về nghiên cứu những tác phẩm văn xuôi Nam Bộ thời kỳ đầu đã tạo ra sự thẩm định và khôi phục lại những giá trị văn học bị lãng quên.
Thư mục tham khảo:
1. Hoài Anh - Bửu Đình, in trong sách Chân dung văn học, NXB Hội
Nhà Văn, 2001.
2. Nguyễn Kim Anh - (Chủ biên) Tiểu thuyết Nam Bộ cuối thế kỷ XIX
đầu thế kỷ XX, NXB ĐHQG TP. HCM, năm 2004.
3. Bửu Đình - Bạn hiền khó kiếm, truyện vừa, Đông Pháp thời báo,
từ số 12 (4/6/1923) – 21 (27/6/1923).
4. Bửu Đình - Gái đâu có gái lạ lùng, tiểu thuyết, Nam Kỳ kinh tế
báo, từ số 15/1 (15/11/1923) – 15/3 (29/11/1923).
5. Bửu Đình - Cười ra nước mắt, tiểu thuyết, Nam Kỳ kinh tế báo,
từ số 15/6 (20/12/1923) – 15/14 (21/2/1924).
6. Bửu Đình - Nghĩa tình khẳng khái, Nam Kỳ kinh tế báo, từ số
15/1 (15/11/1923) – 15/14 (21/2/1924), chưa hết.
7. Bửu Đình - Nỗi mẹ tình con, tiểu thuyết, nhà in J. Nguyễn Văn
Viết, Sài Gòn, 1924.
8. Bửu Đình - Vay trả lẽ trời, đoản thiên tiểu thuyết, Tân thế kỷ
số 8 (12/12/1926).
9. Bửu Đình - Giọt lệ tri âm, trường ca, Tân thế kỷ, từ số 10
(16/11/1926) – 41 (22/12/1926).
10. Bửu Đình - Giọt nước chung, đoản thiên tiểu thuyết, Tân thế kỷ
số 45 (28/12/1926).
11. Bửu Đình - Tấm lòng vàng đá, Tân thế kỷ, từ số 6(10/11/1926) –
49 (3/1/1927).
12. Bửu Đình - Mài một lưỡi gươm, tiểu thuyết, Tân thế kỷ từ số 24
(2/12/1926) – 56 (10/1/1927), chưa hết.
13. Bửu Đình - Trần Kim Quyên hay Tình là dây oan, tiểu thuyết,
Tân thế kỷ từ số 50 (4/1/1927) – 60 (14/1/1927), chưa hết.
14. Bửu Đình - Trọng nghĩa thù thâm, tiểu thuyết, báo Kỳ lân từ số
31 (27/10/1928) – 63 (5/3/1929), chưa hết.
15. Bửu Đình - Một thiên tuyệt bút trường hận, Công luận báo số ra
ngày 17/8/1931 đến ngày 12/9/1931.
16. Bửu Đình - Mảnh trăng thu, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1988.
17. Bửu Đình - Cậu Tám Lọ, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1988.
18. Nhiều tác giả - Mục từ Bửu Đình trong sách Từ điển văn học, tập
2, do Huỳnh Lý viết, NXB Khoa học xã hội, 1984.
19. Nhiều tác giả - Địa chí văn hoá thành phố Hồ Chí Minh, tập II,
NXB TP.Hồ Chí Minh.
20. Nhiều tác giả - Tổng hợp văn học VN, tập 26, NXB KHXH, 1990.
21. Bùi Đức Tịnh - Bước đầu tìm hiểu báo chí quốc ngữ và tiểu thuyết
Nam Bộ, NXB TP.Hồ Chí Minh.
22. Nguyễn Quang Thắng - Tiến trình văn nghệ miền Nam, NXB Thành Phố
Hồ Chí Minh.
23. Hoàng Phủ Ngọc Tường - Bửu Đình, nhà văn thời khai sáng của văn học quốc ngữ Huế, Báo Văn Nghệ số 34 ngày 21.8.2004.
2/1/2020
Lê Tiến Dũng - Hồ Khánh Vân
Theo https://vanhocsaigon.com/
.gif)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét