Bãi gió cồn trăng 1
Chương 1
Hôm nay ông Nam Tảo đi lên Tân Ngãi đặt làm ba cái bài vị cho
ông bà nội mình và cho bà đích mẫu của cha mình để thờ tại trung đường. Ông
không ngại tốn kém, đặt làm bài vị sơn son thế vàng rực rỡ.
Nhà ông mái ngói móc, vách ván, gồm ba gian hai chái. Gian giữa, ông thờ bức
tranh A Di Đà Tam Tôn. Gian bên trái ông thờ cha mẹ mình. Gian bên mặt ông thờ
ông bà nội và bà tổ đích mẫu. Còn chái bên trái ông đặt các hộc tủ chứa dược thảo
cùng kệ sách. Chái bên mặt ông kê hai chiếc tủ kiếng bày đồ cổ ngoạn. Trước bàn
thờ cha mẹ, ông bà, là bô ngựa bằng gỗ giáng hương. Nơi gian giữa ngoài bàn thờ
Phật là chiếc bàn dài bằng gỗ nu nổi vân, hai bên có hai chiếc trường kỷ chạm
chim, sóc, trái nho.
Bà Năm Tảo đang soạn một mâm cơm nho nhỏ để cúng cô em nhà chú dù hôm nay không
phải là ngày giỗ của cô. Cô n ày từ trần cách đây mười năm. Số là cô chị bị gã
sở khanh dụ dỗ đến mang bầu. Hắn hứa cưới cô và khuyên cô dưỡng thai. Ai dè
chén thuốc hắn ân cần đứa cô uống, nói là thuốc dưỡng thai đó, thật sự là Càn
Nguơn sắc đặc, chuyên dùng phá thai. Cô uống vào, thai ra cùng lúc với cơn băng
huyết. Mất máu nhiều nên cô vong mạng. Đêm qua trong cơn chiêm bao, bà Năm thấy
cô hiện hồn về mách bảo:
- Tuổi em hạp với con Ba Tây Nguyệt. Từ nay em sẽ là vong cô phù hộ cháu gặp
duyên ưa phận đẹp. Còn bà đích mẫu của anh Năm là vong cô của con Hai Túy Ngọc
đó.
Mười năm qua rồi, tên sở khanh kia đã trải hai đời vợ nhưng người em gái yểu mạng
bạc phước của bà vẫn chưa đi đầu thai. Tía má bà người gốc Quảng Nam, còn cha mẹ
ông Năm gốc Quảng Ngãi. Mâm cơm cúng phải có một món ăn ở hai tỉnh đó.
Hôm nay cô Hai Túy Ngọc mua được một mớ cá đối. Cá này kho lạt, rắc hành và
chan mỡ xát hột lựu ngon phải biết! Ông Năm thích ăn bánh bèo Quảng Nam chan nước
cá nục kho với ớt gừng sừng trâu. Không có cá nục, dùng cá đối thay thế cũng được.
Món bánh béo quê hương của bà làm bằng bột gạo, lớn cỡ miệng chén đựng trôi nước,
trắng mềm, thoa mỡ hành coi thiệt ngon. Ngoài món bánh béo ăn cặp với cá đối
kho, bà còn làm thêm món bánh bèo lục tỉnh lớn cở đồng xu, trét nhưng đậu xanh
và rắc tôm bằm nhuyễn. Mâm cơm cúng có thêm một canh sườn heo nấu với củ cải muối
rắc ngò gai xắt nhuyễn, dĩa dưa kiệu xé tơi xào tôm thịt và tộ cá bống cát kho
nước đặc sánh..
Ông Năm Tảo là một thầy lang giỏi, nhờ nghề xem mách hốt thuốc mà dư ăn đư để.
Nhưng đối với người xung quanh, ông là kẻ trái đời. Vào những thập niên đầu thế
kỷ, vợ không sanh con trai mà ông không nạp thiếp, nạp hầu. Chẳng những vậy,
ông còn dùng những chữ huê mỹ đặt tên cho các con, và cho con học thêm chữ nho,
chữ nôm, làm thơ làm phú ngoài việc học bếp núc, vá may.
Cô Hai Túy Ngọc trắng da dài tóc, nhan sắc bóng bẫy, phẩm cách cao sang. Cô Ba
Túy Nguyệt nước da tuy mởn nhưng không trắng bằng chị, dung nhan mặn mòi, ăn
nói có duyên.
Bà Năm Tảo nhìn bóng nắng nơi ngạch cửa, gọi hai cô con gái cưng đang xới líp
huệ bên hông nhà:
- Trời sắp đúng ngọ rồi, bay liệu mà vô nhà đi!
Cô Hai vừa bước tới ảng nước điểm loáng thoáng bông cau rụng bởi trận gió đêm
qua, vừa giục em gái:
- Thôi chớ. Tạm nghỉ để ăn cơm cái đã. Chiều mát, chị em mình làm tiếp.
Bà Năm bưng mâm cơm từ bếp lên chái bên trái, đặt trên bàn hột xoài bằng gỗ
thao lao quang dầu bóng lộn. Bà ngó qua tấm phên mắt cáo, thấy con gái còn lảng
vảng ngoài nắng, liền hét:
- Mau vô nhà nghe chưa! Bây còn làm giống gì ở ngoài vậy? Giờ đúng ngọ là giờ cực
dương. Hễ cực dương thì hóa âm. Tao nói ít bây phải hiểu nhiều.
Cô Ba Túy Nguyệt lật đật xách chiếc cuốc vào nhà. Cô Hai Túy Ngọc cũng đã rửa
tay chưn xong, nối ót em.
Khắp xóm lặng ngắt. Cây cỏ thiêm thiếp say nắng rực rỡ màu vàng ròng. Thỉnh thoảng
có tiếng gà gáy lẻ tẻ vọng lên từ trong xóm. Đây là xóm Chuồng Gà nằm bên mặt
con lộ Trần Minh Tại, ngoại ô tỉnh Vĩnh Long. Con lộ này từ dốc cầu Thiềng Đức
đưa tới làng Long Thành, băng qua xóm Thiềng Đức, xóm Bánh Phồng, xóm Chuồng
Gà, xóm Cầu Kè. Bắt đầu từ cuối xóm Thiềng Đức, con lộ đã xuyên vào vùng miệt
vướn rợp bóng mát.
Nhà bà Năm Tảo ở đối diện với khu vườn làng nằm kế vùng tha ma mộ địa. Tuy mồ mả
nơi bãi tha ma này làm bằng vôi trộn nhựa cây ô đước rất xưa, tròm trèm cả trăm
năm chớ không ít, và người chết chắc đã đi đầu thai cả rồi, nhưng lúc chạng vạng
tối cũng chẳn mấy ai dám băng qua con lộ trải đá xanh để qua bên kia vườn làng.
Vườn làng đây là khu vườn công cộng của làng, do ban hương chức hội tề cai quản.
Mấy ông đó chẳng nghĩ gì tới việc khẩn hoang, đốt lau sậy, bứt dây mây dây choại
để trồng cây ăn trái. Khắp vườn mọc đầy cây đủng đỉnh, cây dầu, cây sao, cây thị,
cây giá tị, bụi tre gai, cụm tầm vông, khóm nứa. Lác đác có vài cây dâu miền dưới,
cây phù quân, cây cốc, cây ô môi, vài bụi chuối hột mà tụi chăn trâu thường ghé
vô hái trái, cạp ăn nghe rào rạo.
Ven đường là những cây còng lớn cỡ vòng ôm, các loại chùm gởi bám đầy, thân phủ
rêu xanh. Tàn cây còng tỏa bóng mát thâm u cả một khúc lộ. Trong bóng mát như
chập chờn ẩn hiện bón u linh.
Sau nhà bà Năm là bên sông Long Hồ, cạnh cây da xà sống trên tám chục năm rồi.
Thân cây cao vút, tàn là tỏa rộng, rễ phụ buông xuống như những con rắn lớn cỡ
cườm tay. Dưới gốc cây, cà ràng cũ, ông táo, hỏa lò, nồi, ơ, trách, trả, vịm,
chậu lủng, bể...bày la liệt.
Bà Năm lấy chén gạo lưng thay thế bát nhang đặt lên bàn, cắm cây nhang huyền
đàn vừa mới thắp. Bà vái van:
- Ưng ai, vong hồn dì nó sống khôn thác thiêng, nghĩ tình máu mủ mà phù hộ cho
hai con cháu gái của dì.
Đúng ngọ, thời khắc ma quỉ xuất hiện cho tới đầu giờ mùi tức khoảng một giờ
trưa. Ai sao không biết chờ cô Hai và cô Ba đã có lần gặp ma vào lúc đúng ngọ.
Cách đây ba năm, khi ông bà Năm Tào mới dọn về khu này, hai chị em sau khi dùng
cơm trưa xong, vô vườn làng câu cá. Ở đây có một bàu nước trong vắt lớn cỡ hai
sào đất. Giữa bàu là những khóm ông súng, lá lớn cỡ cái dĩ a bàn trải trên mặt
nước. Ven bàu, chỗ nước sâm sấp là những cọm bèo cánh tròn xinh xinh. Cả hai ngồi
dưới bóng cây dâu miền dưới, buông cần câu, chăm chú nhìn vào mặt ao. Ngồi mãi,
không hiểu vì sao hôm ấy cà không chịu cắn câu. Thời tiết nòng nực, chung quanh
hoang vằng, cô Ba Túy Nguyệt cởi áo, kéo chiếc quần lá nem rộng đáy lên tới ngực,
với chiếc rổ nhảy xuống bàu để xúc cá tép. Trời đang nắng chang chang bỗng đâu
một cơn gió thổ tới, xua áng mây đen che khuất mặt trời. Cơn trốt nổi lên làm kẻ
trên bờ, người dưới nước cảm thấy rát mí mắt. Đến khi con trốt thoảng xa và dịu
lại, thì cả hai thấy trong bàu nước có một bà già tuổi ngoài sáu mươi cũng đang
xúc cÿ tép. Sự xuất hiện đột ngột của bà làm hai chị em xững vững. Cô Hai Túy
Nguyệt lễ phép hỏi:
- Thưa bác, bác từ đâu tới?
Bà già nét mặt xanh xao, da dùn, tóc bạc dã dượi, cái nhìn lộ vẻ lãnh đạm, thờ
ơ và đặc biệt có một nút ruồi đen, lớn bên mép. Bà nhìn kẻ trên bờ, người dưới
nước, ấp úng:
- Tui hả? Tui ở đây, cạnh cái bàu này.
Câu trả lời có vè kỳ cục, bí mật. Cô Ba Túy Nguyệt hỏi nà:
- Bác tới hồi nào mà cháu không thấy? Bác xuống nước cách nào mà cháu không
hay?
Bà già lãnh đạm:
- Làm sao cô thấy được! Nhưng thôi, tui không thể ở đây lâu. Mình xúc cả thôi kẻo
trễ.
Bà cầm chiếc rổ xúc một cái, được ngay một con cá bông lớn, vảy ửng xanh lè, một
mớ tôm càng và hai con cÿ sặt bướm. Lúc nãy nước trong bàu âm ấm vì nhốt hơi
nóng suốt ba ngày nắng liên tiếp, giờ đây bỗng giá lạnh. Ham bắt cá nên cô Ba cứ
xẩn bẩn bên bà. Cô cũng xúc được ba con cá lóc bằng cườm tay, bốn con cá rô mề
và một mớ tép bạc cùng tôm trứng. Đôi lúc bà già xáp lại gần cô, hơi thở của bà
lạnh như gió tháng chạp.
Bỗng một con chim thằng chài lông xanh bay lướt qua bên kia đám điên diển trổ
bông vàng sát mé nước. Bà già bảo hai chị em:
- Tui phải đi, đã tới giờ có người kêu tui đó! Vậy tui cho mấy cô mớ cá tôm
này.
Bà trút cá tôm vô giỏ cá của hai chị em. Và trong nháy mắt, bóng dáng bà đâu mất
biệt. Hai chị em sững sốt nhìn nhau, da thịt mọc ốc. Cô Hai hỏi em:
- Hồi bà bước lên bờ, sao tao không nghe thấy tiếng khuấy nước, tiếng lau sậy
khua động?
Cô Ba rùng mình:
- Bả biến đi thiệt lẹ. Hay là...
Cô không dám nói tiếp, hối hả bước lên bờ mặc áo vào. Bỗng cô nhìn vô giỏ cá,
ré lên:
- Chị Hai! Chị coi đây nè! Trời ơi, sao lạ như vầy!
Cô Hai Túy Ngọc dán mắt vào đáy giỏ. Cá tôm đâu không thấy, chỉ có rác rến và
vài cánh bèo mà thôi.
Hai chị em vội vã về nhà, thuật lại cho mẹ mình nghe. Lúc đó bà Năm Tảo đang ngồi
nói chuyện với bà Chín Thẹo ở bộ ngựa giáng hương. Bà Chín Thẹo vụt hỏi:
- Có phải hai đứa bay gặp bà già có mụt ruồi bên mép không?
Hai chị em gật đầu xác nhận. Bà Chín Thẹo vỗ đùi một cái bép:
- Vậy là hai con nầy gặp ma rồi! Hồn ma bà Bảy Cúc đó! Số là hồi năm Nhâm Tuất
gì đó, quan Tây Bô- na đem quân đánh chiếm thành Vĩnh Long, đội hỏa pháp vô
thành. Quan tổng đốc cho đốt trại lính rồi rút lui. Tây đuổi theo. Một số quân
mình vừa chống cự vừa chạy tháo thân tới rạch Nước Lạnh, bỏ mình hàng chục người.
Con rạch đó ở sau vườn làng, cách bàu một đám sậy rộng cỡ hai mẫu. Trong số
nghĩa quân liệt sĩ đó có ông Hai Phụng. Ổng chưa lấy vợ, nhà chỉ có một mẹ một
con. Bà mẹ sau cái chết của con, đau đớn quá nên tới rạch Nước Lạnh khóc lóc
than thở. Bà phải mượn rượu giải sầu. Một đêm nọ bà uống say rồi toan tới rạch
khóc than với vong hồn con. Ai dè mới tới bàu nước, bà té quị, nhiễm sương mà
chết. Dân trong xóm bèn chôn cất bả vẫn chưa siêu sanh, còn lẩn quẩn bên bàu.
Vụ quân Pháp đánh chiếm Vĩnh Long, sau đó hai cô Túy được cha thuật lại như
sau: Tháng hai năm Nhâm Tuất (1862), thiếu tướng Bonard đem 11 chiếc pháo hạm lẫn
tuần dương đĩnh gồm một ngàn quân đậu phía trên đồn Vĩnh Long, đổ bộ sát lũy.
Thế giặc rất mạnh, trúc chẻ ngói tan. Đồn Vĩnh Tùng thất thủ. Nghĩa quân ta tử
thương rất nhiều. Lãnh binh Tôn Thất Thoan, Quyền Lãnh Binh Nguyễn Thái. Chánh
quản cơ Lê Đình Cửu phải dồn tất cả vào đồn Thanh Mỹ. Quân Pháp dội hỏa hổ
(trái nổ để phá và đốt) vào thành. Tổng đốc Trương Văn Uyển túng thế phải đốt
doanh trại, đốt kho lương rồi rút về huyện Duy Ninh, không kịp thủ tiêu kho võ
khí. Lãnh binh Hồ Lực tiếp ứng mặt trận chạy sau. Một cánh quân của ông do Phó
lãnh binh Ngô Thành Riêng điều động bị tản lạc vào ven rạch Nước Lạnh và bị bắn
gục tại đây.
Vừa vào nhà, bà Năm Tảo bắt hai cô xức dầu cù là ngay. Tiết trời viêm nhiệt, bịnh
thơi khí xảy đến biết đâu mà lường, cho nên bà phải đề phòng, không cho cả nhà
uống nước mưa chứa trong lu bầu, trong mái đầm để ngoài hành ba phải uống nước
trà huế pha gừng, quế.
Bà nhắc nhở:
- Con Hai ăn cơm xong nhớ khuấy bột trứng sam cho tía bây đùng. Con Ba thì nấu
cho má nồi chè đậu xanh khổ tai bột bán.
Vừa từ bép đi lên, tay bưng dĩa bàn đựng rau sam luộc và chén mắm nêm giã tỏi ớt,
thì bà nghe cô Ba Túy Nguyệt kêu nhỏ, giọng run rẩy, nặt tái xanh:
- Má, chị Hai coi kìa!
Bà Năm Tảo đật dĩa rau và chén mắm cạnh mâm cúng rồi cùng cô Hai bước ra hàng
ba ngó về phía cây da xá. Quỉ thần thiên địa ơi! Cô em con nhà chù của bà hiện
về đó chăng? Cô ta nằm vắt vẻo trên hai nhánh cây da, tóc buông xõa phất phơ
trong gió, mặt xanh chành như lúc lâm chung. Cô ta ôm một đức con trai cỡ ba tuổi
mập mạp xinh xắn. Đứa bé bú tay, áp đầu vào ngực mẹ.
Bỗng cô Út Thoại Huê, tên cô em nhà chú của bà Năm Tảo, ngóc đầu ngồi dậy, ngoắc
bà Năm:
- Chị và hai cháu lại gần đây cho em bày tỏ câu chuyện. Tới giờ mùi hai mẹ con
em phải trở về cõi âm.
Bà năm Tảo ngó hai con rồi cả ba bước lại gần gốc cây da. Nắng bên ngoài chang
chang như đổ lửa, nhưng vũng bóng mát cây da sao mà rờn rợn, gây gây lạnh! Bà
Năm ấp úng:
- Dì về ở luôn hay ghé chơi một chút rồi đi?
- Thân em đây vốn vô định sở, nhưng vẫn ở trong cuốc đất Vãng nầy. Chỗ nào
trong đất nầy cũng là nhà của em, vì bởi nghiệp lực oan trái em không ở một chỗ
lâu dài. Thằng Hai Luyện khốn nạn dụ dỗ em cho tới mang bầu. Má con nhà nó còn
bày mưu lập kế phá thai khiến em phải băng huyết mà vong mạng. Trót nười năm
nay cái ác quả của gia đình nó chưa chín mùi nên ác báo chưa hiện hành. Ai gieo
mạ tháng ba thì tháng chạp sẽ gặt lúa. Riêng dòng họ mình tu nhơn tích đức nhiều,
anh chị ăn ở hiền lương sẽ gặp nhiều sung sướng về sau. Em về thăm chị và cầu
xin chị một điều: Cây da nầy hạp với vong hồn các sản phụ chết trong lúc lâm bồn
và các thai nhi lỗi giờ sanh. Xin chị lập dưới gốc da một miếu nhỏ cao hai thước,
ngang một thước rưỡi, dài hai thước, có hướng án bên trong, liễn đối bên ngoài.
Mỗi kỳ rằm Vu Lan nhớ cúng kiếng cho các vong hồn được hưởng. Có vậy em mới
theo con Ba để phù hộ cho nó.
Bà Băm Tảo suýt soa khấn vái:
- Dì nó đã dạy thì mẹ con tui xin vưng. Chỉ mong rồi đây không lâu, vong linh mẹ
con dì mau được tiêu diêu siêu thoát.
Cô Út Thoại Huê bảo:
- Chị nên giữ kín chuyện này, đừng để lối xóm hay biết. Thôi, chị và các cháu
vô nhà đi. Em và các bạn ở đây vui chôi chốc lát rồi sẽ về cõi u linh.
Mẹ con bà Năm ngậm ngùi quay vô nhà. Cả ba nhìn qua tấm vách, về hướng cây da.
Trên ngọn cây, khắp các cành, vài chị đàn bà xỏa tóc chuyền qua chuyền lại. Còn
lũ con nít thì bay lượn như chim, cười nói líu lo nhưng âm vang chỉ văng vẳng
mơ hồ, lẫn trong tiếng gió xôn xao từ cánh đồng bên kia con lộ đá thổi tới.
Cô Út Thoại Huê cất tiếng hát:
- Nắng lên cho là héo hon
Cho đáng kiếp chàng phụ rẫy nghĩa xưa
Một chị đàn bà ru theo:
- Thuở xưa quả báo thời chầy
Thời nay quả báo một giây nhãn tiền...
Những lúc hát những câu trách móc đó, cơn giận làm mặt họ xanh như chàm đổ,
răng nanh dài ra, mắt sáng quắc như hai cục than ngún lửa. Rồi đám trẻ nít dần
dần biến mất, sau đó mới đến lượt các chị đờn bà. Sự yên tĩnh rờn rợn phủ xuống.
Ông Năm Tảo tác người roi roi. Nhờ ông dượt võ Bình Định đều đặn, cũng như chịu
khó làm vườn cuốc đất mỗi khi rỗi rảnh nên thân thể cường tráng, bụng săn chắc
chia làm sáu múi. Mặt ông bặm trợn nhưng hòa huỡn, cằm vuông, mày sắc. Ông lớn
hơn vợ một tuổi nhưng không giữ nét trẻ trung bền dai bằng vợ. Gần tới tuổi năm
mươi mà tóc bà Năm vẫn đen láng như huyền, mặt không một vết nhăn, vóc mình hơi
mập, tươi mát. Thương yêu vợ nên dù vợ không có con trai, ông vẫn không chịu nạp
hầu, nạp thiếp. Nhớ ơn đó, bà chiều chuộng, săn sóc ông từng chút.
Trong khi cô Ba xuống bếp lấy đường cát mỡ gà và bột huỳnh tinh khuấy trứng cá
cho cha thì bà Năm Tảo thuật lại giấc chiếm bao đêm trước và vận sự các oan hồn
hiển diện cho chồng nghe. Ông cứ gật đầu chấm câu, không hề ngắt lời vợ. Nghe
xong câu chuyện, ông nói:
- Má nó thấy tui có lý hay không? Hồi tui tính dọn về đây ở, má nó cứ cằn nhằn
tui sao chọn nhà gần chốn tha ma mộ địa. Nay má nó rõ rồi đó: đức trọng quỉ thần
kinh. Tui noi gương ông bà, giữ vững khí tiết. Má nó thì giữ dạ hiền lương, lại
dạy con cái hiếu thảo, tiết trinh. Vậy thì ma quỉ nào nỡ lòng khuấy phá, hãm hại
mình.
Bà Năm Tảo hạ thấp giọng:
- Để rồi ông coi, gia đình ông Bang biện Huỡn sẽ trả quả!
Ông Bang biện Trần Văn Huỡn là cha của cậu Hai Luyện, nhà ở xóm Cầu Đào, gần
chùa Bảy Phủ. Ông nội của ông Bang biện vốn là bạn đồng hương với ông nội ông
Năm Tảo, quê làng Mỹ Khê, huyện Sơn Tịnh tỉnh Quảng Ngãi. Cả hai ông cùng vào
Nam lập nghiệp. Nhưng trong khi ông nội ông Năm Tảo sống bằng nghề xem mạch hốt
thuốc thì ông nội ông Bang biện theo tên Việt gian trần Bá lộc chuyên đánh dẹp,
bắt bớ các nghĩa quân chống Pháp ở vùng Tiền Giang.
Vào năm 1862, trong trận đánh chiếm Vĩnh Long, nhờ ông nội ông bang Biện Huỡn
điềm chỉ mà quân Pháp đã tiêu diệt đám nghĩa quân của Lãnh binh Hồ Lực. Để trả
ơn, ông ta được Pháp cho làm tri huyện tại huyên Duy Ninh. Cha ông Bang biện Huỡn
là con trai duy nhứt, thừa hưởng một gia tài khổng lồ, ruộng đất cò bay thẳng
cánh, trong tủ có trên ba trăm lượng vàng. Ông Bang biện Huỡn là thứ nam, không
được coi sóc nhà thừa tự và hưởng ruộng đất hương hỏa. Nhưng ông thọ hưởng được
tánh gian ác của ông nội cung như quyền biến và biển lận của tía ông nên ông lập
cơ nghiệp to tát chẳng mấy chốc.
Nhà ông bang biện Hưỡn ở sâu trong rạch Cầu Đào, giữa khu vườn trồng cây ăn
trái. Nhà lợp ngoái lưu ly màu ngọc thạch, nền đá da qui cao tới ngực, tường
đúc, nền nhà lót gạch bông, sân trước, sân sau, sân bên đều lót gạch tàu. Trong
nhà bàn ghế bằng ỗ nu, gỗ cẩm lai. Bàn thờ bằng gỗ trắc khảm ốc xa cừ lóng
lánh. Các gian bầy đầy đồ ngoạn khí: chậu, chóe, đôn đều bằng sứ quí giá. Đó là
chưa kể hai chiếc tủ kiếng, đĩa, độc bình cổ thời Gia Tĩnh, Khương Hy, Càn
Long... Đáng kể nhựt là cái lẫm lúa ba gian dài 12 thước đập vào mắt lối xóm,
chứng tỏ ông là bực đại điện chủ có tới 300 mậu ruộng tốt.
Ông bà Bang biện Hưỡn tuy giàu có nhưng cư xử rất khắc bạc với tôi tớ, tá điền
tá thổ. Bà cho vay ăn lời cắt cổ. Hễ con nợ túng hụt, không kịp trả tiền lời
đúng hạn là bà mắng nhiếc chửi bới. Có lần bà dám nhảy lên bàn thờ ông bà của một
con nợ tá điền. Ông khoái ngủ với những đờn bà có chửa mà dân sành việc gối
chăn gọi là "núp gò mối đâm heo".
Cậu Hai Luyện trải qua hai đời vợ. Người vợ trước của cậu chết trong buồn rầu,
thất vọng vì lấy phải người chồng bạc bẽo, ưa đào đĩ. Người vợ sau vốn là con
ông tri huyện, tánh bướng bỉnh. Khi về làm dâu, mợ ta gây gổ với cha mẹ và hai
cô em chồng. Hễ cậu vắng nhà lâu là mợ ó ré chửi mắng. Nếu cậu cự lại là mợ
xách dao rượt cậu chạy vắt giò lên cổ. Cô Ba Cẩm Tú, em kế của cậu, có trổi giọng
chảnh lỏn là mợ lập tức ghịt đầu, vả lịa lịa vô miệng. Sau đó, mợ mượn cớ về
thăm nhà rồi ở luôn. Cậu qua rước, mợ chẳng những không về còn đon ren chửi xéo
cha mẹ chồng.
Cô Ba Cẩm Tú chơi thân với một cô bạn học cùng lớp trường Áo Tím. Thấy cô nọ có
ông thầy thuốc tốt nghiệp trường y khoa Hà nội đi hỏi, cô tìm cách rù quyến vị
lang tây kia khiến cô bạn thất vọng uống á phiện trộn dấm tự tử.
Cô Tư Cẩm Lệ, con gái út của ông Bang biện, nhảy vô làm bé một ông thầy kiện ở
Sài gòn rồi lấn quyền vợ lớn khiến bà kia buồn rầu mà chết. Khi nắm quyền chủ
phụ trong nhà, cô đối xử với con ghẻ tàn tệ còn hơn đối với kẻ thù.
Ông Bang biện Hưỡn và ông Năm Tảo vốn là đôi bạn thơ ấu. Dù tánh khí khác nhau,
nhưng cả hai vẫn giữ tình giao hảo. Lý do thứ nhứt là bởi ông Năm coi mạch hột
thuốc mát tay. Lý do thứ hai cũng là lý do chánh, ông Bang biện cần có người để
khoe khoang. Riêng bà Năm và hai cô Túy chưa hề đặt chưn tới nhà ông Bang biện
bao giờ! Hễ vô tình đụng đầu nhau ngoài đường, hai cô Túy chỉ chào hỏi lễ phép,
nói vài câu rồi đường ai nấy bước.
Cơm nước xong, ông Năm Tảo sao khử thổ hột muồng thơm, lá hắc phàn diệp, thân,
cành và rễ cây mật nhãn. Bà Năm cũng không quên nấu món thang trị ho gồm bách bộ,
gừng khô, bông sứ cùi phơi khô, rau tần dầy lá cho mình.
Cô Hai Túy Ngọc mở nắp thố sứ, múc bột huỳnh tinh khuấy trứng sam vào cài chén
sứ nhỏ bày lên mâm rồi mời ông Năm Tảo dùng. Bên ngoài, trời vừa tắt nằng. Ông
Năm vừa ăn bột, vừa lắng nghê tiếng bìm bịp vẳng ngoài bến sông. Ông bảo cô trưởng
nữ:
- Tía phải qua bên xóm Lò Rèn để trị bệnh cho cô Bảy Thược, con ông Hương bộ
Hành, cuối canh hai tía mới về.
Cô Hai Túy Ngọc không nói gì. Ba tiếng "Xóm Lò Rèn" như vọng một ấn
tượng có một thoáng bàng hoàng. Nói là xóm Lò Rèn, nhưng ở đó chẳng có một cái
lò rèn nào. Muốn rèn dao, mác, xuổng, cuốc... dân xóm Cầu Kè nầy phải bơi xuồng
vào tận làng Long Thanh.
Bà Chín Thẹo kể rằng, cách đây bảy năm, có gia đình người thợ rèn gồm hai vợ chồng
tuổi cở 30 và thằng con trai tuổi chừng 13. Hằng ngày, vợ thụt ống bể, chồng
rèn dao mác. Đứa con trai xẩn bẩn bên cha để học nghề. Ai dè một hôm trời mưa,
sét đánh chết cả ba. Chòm xóm và họ hàng những người bất hạnh đó chôn họ trong
miếng đất, cạnh lò rèn. Trải qua hai mùa mưa nắng nền lò rèn mọc đầy cỏ ống, cỏ
đuôi chồn, cây ké, cây vòi voi, dây choại, dây nhãn lồng. Nhưng đêm đêm, những
người neo xuồng bên kia bến Lò Rèn để câu tôm thường thấy cảnh lò rèn hiện ra,
đèn thắp leo lét, lửa đỏ rực. Người vợ vẫn thụt ống bể, người chồng vẫn đập búa
lên thỏi sắt nung đỏ đặt trên đe, còn đứa con trai vẫn ngồi chồm hổm bên cha.
Tiếng búa nện không chan chát như tiếng búa thường, nó chỉ văng vẳng mơ hồ, vọng
vào cõi âm u từng loạt mong manh rời rạc. Cảnh lò rèn ma và ba chiếc bóng u lin
cứ sinh hoạt như thế tới lúc gà gáy hiệp hai mới tan.
Mỗi khi nớ tới vận sự gia đình người thợ rèn, cô Hai Túy Ngọc nao nao tấc dạ.
Cái chết giáng xuống thình lình biến hai vợ chồng và đứa con kia thành ba oan hồn
uổng tử, tâm thần hoang mang mờ mịt. Bởi họ không biết rằng họ đã bước vào cõi
chết, họ không hay xương thịt họ đã vùi trong lòng đất và đã vữa nát, hư hoại.
Cho nên, nhiều đêm họ tái diễn cảnh sinh hoạt mà họ vẫn làm thuở còn sanh tiền.
Có ai tụng cho họ bài chú vãng sanh và kinh cầu siêu để vong linh họ nhận biết
được tình trạng của mình hầu sớm đầu thai kiếp khác!
Chương 2
Bên nhà ông bà Bang biện Hưỡn tôi hôm đó đang chộn rộn. Chiếc
đèn măng- sông thay thế chiếc đèn năm ngọn treo ở trung đường tỏa ánh sáng trắng
như nước suối.
Ông Bang biện Hưỡn thả dài trên ghế xích- đu đọc quyển Đông Châu Liệt Quốc. Bà
Bang biện ngồi trên bộ đi- văng chơn quỳ ăn trầu. Trước mặt bà, khay tần khảm
xa cừ đựng chiếc bình vôi và chiếc chén ngâm cau khô bằng sứ nước men trắng in
bông chầm đậm. Phía bộ ván cẩm lai, cô Tư Cẩm Lệ đang đạp máy may rột rột. Giữa
trung đướng là bộ xa lông khảm xa cừ gồm chiếc bàn hình hột xoài, một chiếc trường
kỷ và bốn cái ghế dựa. Cầu Hai Luyện ngồi trên trường kỷ đọc tờ Nam Phong tạp
chí.
Bà Bang biện Hưỡn ngó về phía nhà bếp, phàn nàn:
- Cái thằng Bửu là thứ đò làm biếng nhớt thây! Trưa hôm qua nó quên bẻ cau, báo
hại tối nay phải ăn trầu với cau khô ngâm nước như vầy!
Bà Bang biện đã ngoài năm mươi, vóc vạc cau lớn, thân mình phóp pháp, nước da
ngâm đen. Kể ra trong bốn cái tướng đáo để của con người là nhứt lé nhì lùn,
tam hô, tứ lộ thì bà chiếm hai cái chót. Răng hàm trên của bà hơi dài nên miệng
ba hô, không khép kín được. Cặp mắt bà lớn, tròng trắng húng hiếp tròng đen, mu
mắt nổi cộm. Nếu ai đó nhìn bà hơi chăm chú là bà vội khép kín miệng lại, mắt
trở nên lim dim để không ai thấy cái lộ trao tráo của mình. Bà nhờ ăn trầu vén
khéo nên răng cỏ của bà hãy còn chắc. Nói nào ngay, hồi còn trẻ bà không thuộc
hạng xấu gái. Bà chỉ có tướng dữ tợn. Đồi với kẻ quyền thế giàu sang, bả lễ
phép, mềm mỏng, ngọt ngào; nhưng đồi với người thấp thỏi, cái miệng đó trở nên
thô lỗ, hỗn hào, rổn rảng.
Ông Bang biện hơi nhỏ n gười, mặt lưỡi cày, mắt láo liên rất nhanh, miệng luôn
luôn nở một nụ cười cầu tài.
Hôm nay tiết trời oi bức nên bà Bang biện mặc chiếc áo túi bằng xuyến trắng, quần
lụa trắng. Dù ở trong nhà, bà vẫn vàng đeo ngọc khảm những nữ trang thuộc kiểu
xưa. Tai bà đeo đôi bông cẩm thạch khoét lỗ giữa đẻ nhận cập hột xoàn ba ly rưỡi.
Cổ bà đeo dây chuyền vàng, miếng mề đay cẩm thạch tạc hình trái lựu nút vỏ lòi
hột. Hai cườm tay bà đeo đôi neo quai chảo. Hai ngón tay trỏ bà là cặp cà rá cửu
khúc liên huờn. Búi tóc bà hình trái cam hồng mật giắt chiếc trâm hình trăng
khuyết nhận hột xoàn lấp lánh.
Ông Bang biện mặc bộ pyjama màu cà phê sữa sọc đen, tóc hớt ca- rê, sợ tóc cứng
chĩa thằng lên trời như lông bàn chải tắm ngựa. Ông đặt tờ báo xuống bắp đùi, bảo
vợ:
- Ờ tui quên nói cho bà biết, kỳ tới tui sẽ úng cử hội đồng quản hạt. Anh Huyện
có hứa giúp tui. Anh Huyện đây là ông Huyện Ngô Văn Toại, anh kế của bà Bang biện.
Bà không nói không rằng, miệng nhai trầu rau ráu nhưng nét mặt lộ vẻ suy nghĩ
lung lắm. Bà vốn thích chồng mình có quyền cao tước trọng, nhưng ra ứng cử thì
phải tốn kém. Vả lại anh kế của bà chỉ là một ông huyện hàm, không có thực quyền
dù ông ta thuộc loại "ăn cơm bảy phủ, dạo đủ mọi nơi", quen biết nhiều
chốn quyền môn.
Ngày một nhà có đám giỗ cụ bà thân mẫu của ông Bang biện Hưỡn. Thiệt ra, cụ
không phải là chánh thất của cụ Cai tổng Nhiều, cha công Bang biện Hưỡn, cho
nên người trưởng nam dòng đích không chịu thờ phụng cụ ở ngôi tứ đường. Phần giỗ
chạp do ông Bang biện Hưỡn đảm nhiệm từ khi ông ra riêng, cưới vợ và lập nghiệp.
Cô Tư Cẩm Lệ từ khi gá nghĩa với thầy kiện Trần Hảo Hiệp thì cô đóng đô ở Sài
gòn. Cô vốn son sẻ nên khi về viếng cha mẹ không có con bồng, con dắt. Cả cô Ba
Cẩm Tú, từ khi kết hôn với thầy thuốc Lê Thạnh Mậu cũng không chửa nghén gì
ráo. Được một cái là chồng cô Ba mở phòng mạch gần Cầu Lầu nên cô thường về
thăm tía má cô.
Cậu Hai Luyện kỳ hè nấy tốt nghiệp trường Kinh lý đạt điền ngoài Hà Nội, được
nhà nước cấp bằng kinh lý, đem danh giá rỡ ràng cho gia đình, cha mẹ. Bà Bang
biện bằng bụng lắm. Thằng con bà sau khi đậu bằng thành chung, cứ ở nhà làm
công tử bột, chơi bời thả giàn. Từ khi con vợ kế về nhà cha mẹ, cậu buồn nên mới
quyết chí học thêm và đỗ đạt như vậy.
Bà Bang biện tằng hắng, bảo::
- Thằng Hai, con Tư, luôn cả con Ba bấy lâu nay xưng hô coi không ổn chút nào!
Giờ đây má yêu cầu các con phải chỉnh đốn cách xưng hô. Con Tư không nên gọi
anh mầy bằng anh Hai suông trơn mà phải gọi anh Hai kinh lý. Còn thằng Hai phải
kêu hai đứa em mầy là cô Ba thầy thuốc, cô Tư thầy kiện. Vậy mới là trọng phép
nhà.
Ông Bang biện Hưỡng ngẩng mặt, bắt bẻ vợ:
- Còn bà, bà cũng phải bỏ cách kêu thằng Hai, con Ba, con Tư chớ?
Bà Bang biện têm cho mình một miếng trầu, chậm rãi bảo:
- Từ rày, ông và tui nên kêu tụi nó bằng thằng Hai kinh lý, con Ba thầy thuốc,
con Tư thầy kiện, kẻo thiên hạ chê cười nhà mình bội ơn xã hội làng nước!
Ông Bang biện Hưỡn cười cười trước cách xưng hô giỡn nhột của vợ, nhưng thấy bà
lộ vẻ trang nghiêm thành khẩn lắm nên ông không dám chế giễu.
Cô Tư đang may chiếc quần đáy giữa bằng cẩm nhung đen, bảo mẹ:
- Anh Ba thầy thuốc có khuyên chị em con nói Tây y đầu hàng thì đi tìm thầy thuốc
ta hoặc đi đến chùa cầu tự chớ lẽ nào tụi con chịu cảnh hiếm muộn hay sao?
Cô Tư Cẩm Lệ giống cha ở nước da mởn, giống mẹ ở vóc mình cao lớn, cái miệng hô
và cặp mắt hơi lộ. Nhưng cái miệng cô hô duyên, răng cô đều đặn khít khao, cặp
môi cô ửng hồng tự nhiên. Cặp mắt cô chỉ hơi lộ, tròng trắng tròng đen không lấn
át nhau. Đã vậy sóng mắt cô còn ướt rượt, sáng ngời, linh hoạt. Kể ra cô đẹp
trên trung bình. Tối hôm nay cô bận đồ xẩm bằng cẩm phụng trắng, áo tay cụt, quần
ngắn lòi mắt cá. Tóc cô không bới như đa số phụ nữ thị thành thời đó mà cuốn
tóc bánh tay rế theo kiểu mấy bà đầm, giắt lược đồi mồi phía trên tai, sống lược
nạm hột trân châu. Cô đeo nữ trang nạm hột xoàn chấp chới, xức dầu thơm nực nồng
nhưng không tô son dồi phấn.
Bà Bang biện thở dài, giọng than thở:
- Dòng họ tao, đàn bà đẻ sai như cá lóc, như chuột bạch. Bà nội bây và các cô
bây cũng đẻ ít nhất ba trự. Vậy mà hai chị em bây sượng ngắt, không đẻ đái gì hết!
Còn thằng Hai kinh lý, con vợ mầy hỗn hào, chê bai khinh khi mày, lộn nài bẻ ống
về nhà cha mẹ nó. Giờ đây mầy có chức tước quan quyền, mầy nên đề phòng, không
cho nó trở về leo lên địa vị bà Kinh lý. Đẻ tao nhờ thằng Ba thầy kiện lo thủ tục
ly hôn cho mầy. Có vậy mầy mới rảnh chưn rảnh tay cưới con vợ khác để tao có
cháu nội với người ta!
Cậu Hai buông tờ báo, ngửng đầu lên:
- Con đã chọn vợ rồi. Cổ là dân Bắc kỳ.
Ông Bang biện giựt mình, buông tờ báo, ngó thằng trưởng tử của mình trân trối.
Bà Bang biện cùng cô Tư Cẩm Lệ, kẻ quên nhai trầu, người ngừng đạp máy may, sửng
sốt nhìn cậu Hai Luyện lom lom. Cậu ở trần trùi trụi, chỉ bận khăn xà rông đen
lộn chỉ đỏ, chỉ trắng. Vóc cậu vừa tầm, hơi mập mạp. Mặt cậu tròn, má phính,
khi gặp điều không vừa ý là sưng lên chù bự. Điểm linh hoạt duy nhất trên khuôn
mặt cậu là đôi mắt sáng như sao, biểu lộ sự thông minh cũng như những toan
tính, lọc lừa xảo diệu.
Ba Bang biện hỏi gằn:
- Mầy nghĩ sao mà đòi cưới vợ Bắc Kỳ?
Cậu Hai Luyện:
- Bởi con thương cổ, cổ thương con. Tía cổ làm tham tá chớ bộ lôi thôi gì sao?
Cổ lại có ăn học, tuy chưa đậu đíp- lôm nhưng cũng học tới năm thú ba ban trung
học.
Ông Bang biện Hưỡn khuyên ngăn:
- Con đừng có dại! Bọn Bắc Kỳ vốn người dị tộc với người Việt mình. Tuy họ cũng
nói tiếng giống mình nhưng cách nói của họ ráo rẻ, môi miệng. Họ nói tuy ngọt xớt
nhưng cái khoa nói đánh đầu xóc óc xuất sắc lắm con ơi. Mấy cô con gái Bắc kỳ
ăn mặc tuy hực hỡ mà vòng vàng, hột xoàn chẳng có bao nhiêu đâu! Gái Nam kỳ thiệt
thà, ăn nói không biết làm điệu uốn éo, những cô bực trung coi vậy chớ vòng
vàng chuỗi hột xuê xoang.
Cậu Hai trà lời:
- Tại ba má cứ ngó vô gia đình ông Phán giây thép rồi tưởng đâu người Bắc nào,
cô gái Bắc nào cũng giống như họ.
Thuở trước, người Bắc vào Nam định cư thường thuộc thành phần nhân viên bưu điện
hay các phu cạo mủ cao su. Ở Vĩnh Long có ông Giám Đốc sở Bưu điện người Bắc,
nhà xéo xéo sở Trường tiền. Dân tỉnh lẻ hễ thấy ai đứng tuồi, mặc Âu phục cũng
gọi là ông Phán. Bởi gặp nhiều ông Phán như vậy nên họ gọi ông là ông Phán giây
thép hay ông Phán Bắc. Ông Bang biện hỏi tới:
- Mà mầy với con Bắc kỳ đó... tằng tịu với nhau rồi, phải không?
Cậu Hai lắc đầu:
- Nếu cổ và con đã hưởng thú gió trăng thì đời nào con tính chuyện đá vàng với
cổ! Con nhà lành đó đa! Ba má cổ giữ cổ khít rim còn hơn ba má giữ ruộng đất, hột
xoàn. Nếu ba má không chịu ra ngoài Bắc coi dâu thì con sẽ nhở cậu Huyện. Bấy
lâu nay cẩu ao ước đi thăm Huế, Hà Nội mà chưa có dịp.
Bà Bang biện Hưỡn thừa biết con trai mình không thể bị gái dỗ dễ dàng bởi cậu
có tới ba lớp vảy bảy lớp da. Nhưng ra tới Hà Nội để thỉnh mộ cô gái "dị tốc"
mang dị tục về làm dâu thì cũng ngặt cho bà. Chi bằng bà giục hưỡn cầu mưu. Cậu
Hai vốn kẻ mai huế xế quảng, phóng đãng đổi đời, lòng dơi dạ chuột, lúc mắm ruốc
khi mắm nêm. Biết đâu về làm việc tỉnh nhà, cậu gặp được một ý trung nhơn khác
mà quên cô Bắc kỳ nói tiếng ráo rẻ nghe lạ hoắc lỗ tai kia đi.
Bà Bang biện nói:
- Việc lý hôn của con chưa ngã ngũ ra sao. Để rồi ba má và thằng chồng con Tư
thầy kiện tính gấp cho xong. Chừng đó má sẽ nhờ cậu Huyện con đứng ra làm mai,
tính việc trăm năm cho con được vuông tròn.
Ông Bang biện Hưỡn chùng hửng:
- Vậy là bà đành bụng cái đám ở Hà Nội đó hay sao?
Bà Bang biện rút cục thuốc lóng, chà qua chà lại hàm răng trên, nói giọng rời rạc:
- Con cái thời nay cứng đầu cứng cổ. Vợ chồng mình đã chọn cho nó hai đám rồi,
rốt cuộc keo rã hồ tan hết trọi. Bây giờ nó đành đám nào thì tui cũng ưng đám
đó, để nó khỏi đổ thừa...
Ông Bang biện nói xuôi:
- Ờ, bà tính sao cho gọn thì tính!
Thiệt tình, ông không lý gì đến chuyện dâu rể. Con trai con gái ông đều biết
quyền biến. Về vụ chọn vợ cho cậu Hai, vợ chồng ông tính già tính non nên ông
không muốn can dự vô nữa. Điều ông đang bận tâm là ông phải làm tròng làm tréo
cách nào để mua rẻ sở ruộng tám mẫu của ông Hương bộ Lạc ở vùng Phước Hậu. Điều
bận tâm thứ hai của ông là làm thế nào ăn nằm với vợ Cai tuần Hạp, tá điền của
ông. Chị đang có chửa bốn tháng. Ông chỉ cần ăn mằm với chị vài lần rồi sẽ trả
chị ta về với chồng, để ông kiếm một mụ đờn bà có chửa khác.
Bà Bang biện quay qua cô Tư Cẩm Lệ:
- Thôi, con nên sửa soạn đi ngủ. Mai mẹ con mình dậy sớm để còn coi sóc bầy trẻ
nấu nướng.
Cô Tư:
- Bọn con Lài, con Lý đã lo xong nồi thịt cá kho chung, nồi khổ qua dồn thịt bằm,
nồi vịt tìm hột sen và bạch quả.
Nhân dịp đám giỗ, ông bà Bang biện Hưỡn mổ con heo để ăn mùng đại đăng khoa cậu
trưởng tử. Xong xuôi họ mới dắt cậu về nhà hương hỏa mổ bò ăn khao với họ hàng
bên nội của ông Bang biện Hưỡng.
Cậu Hai Luyện bảo cha mẹ:
- Ăn khao xong, con bắt tay làm việc liền. Nhà nước muốn đào con kinh từ sông Cổ
Chiên băng qua làn Mỹ An và con được phái đi đo đất.
Ông Bang biện:
- Ở làng Mỹ An cũng gần, đi ghe buồm gặp nước xuôi gió thuận chừng hơn tiếng đồng
hồ là tới. Vùng An Hương, Hòa Mỹ, Mỹ An thuộc về quê bà nội của con đó.
Cậu Hai lơ đãng:
- Vậy thì tốt lắm!
Rồi cậu lấy tay che miệng ngáp dã dượi, ủ ê bỏ vào buồng. Bà Bang biện quay qua
cô con út:
- À quên, để má dặng thằng Bửu sáng mai bẻ cau cho má và chặt quầy dừa xiêm chồng
con và anh rể con uống. Con đi tìm nó, lôi cổ nó lên đây cho má dạy việc.
Bửu là con rơi của ông Bang biện Hưỡn. Mẹ ruột chết sớm nên được bà Bang biện
mang về nuôi từ thuở cậu lên tám. Người đích mẫu lòng dạ khô khan. khắc bạc kia
dạy dỗ đứa trẻ bất hạnh bằng roi vọt, bạt tai, ngắt véo, chửi rủa. Bửu rất
thông minh, được cha cho học tới lớp ba, thi đậu bằng sơ học, rồi phải ở nhà
giúp việc trong ngoài. Cậu đã chép tuổi ấu thơ và thời mới lớn bằng nước mắt, bằng
mồ hôi.
Chùng giập bã trầu, cô Tư Cẩm Lệ cùng một cậu trai khoảng 15 tuổi, từ ngăn chái
dưới nhà bếp đi lên. Cậu ta ốm yếu, mắt trõm lơ, da mặt đỏ bừng vì cơn sốt, quần
áo may bằng vải hột giền đen, vai áo vá một miếng lớn.
Bà Bang biện cất giọng rít róng:
- Từ hồi chiều tới giờ mầy chui lỗ nẻ nào mà biệt tăm biệt tích vậy? Hễ ăn xong
ba hột cơm là mầy đánh lừa đánh đáo đi dạo xóm.
Bửu nhỏ nhẹ:
- Thưa má lớn, xế nầy con phụ với chú lực điền giở chà bắt tôm. Bởi đó con lên
con nóng lạnh. Từ chiều tới giớ con nằm li bì ở vạt tre chớ đâu có đi dạo xóm.
Bà Bang biện nguýt dài:
- Mầy đùng có lẽo lự! Hễ dầm nước đang nắng thì chỉ miệt sật sừ vậy thôi. Sáng
mai mầy phải dậy sớm bẻ cho tao một buồng cau xiêm, một quày dừa xiêm.
Bửu chỉ "dạ", sắc mặt mệt mỏi, ngầy ngật. Ông Bang biện liếc qua đứa
con bật hạnh, can gián vợ:
- Nhìn qua mặt nó, tui cũng biết nó đang làm cữ. Thôi, bà nên châm chước cho nó
nhờ. Nhà mình tôi trai tớ gái thiếu gì. Nó đang đau yếu, bà mà bắt nó leo cau
leo dừa, rủi nó run tay té xuống đất thì sao!
Bà Bang biện liếc xéo chồng rồi hét:
- Đi đâu thì đi cho khuất mắt! Mà nhớ biểu thằng Đực hoặc thằng Xiêm hái cau,
hái dừa thế cho mầy nghe chưa? Thừ đồ biếng nhác gì đâu á, mới đỏ đèn đã lo đi
ngủ, y chang như gà vịt vậy.
Ông Bang biện Hưỡn bước tới bàn có nhiều ngăn hộc, mở một ngăn, lấy năm gói cảm
mạo phát tán đưa cho Bửu, bảo:
- Kiếm nước trà uống liền một gói đi. Ngày mai, ngày một, mỗi ngày mầy nhớ uống
hai gói. Uống trước bữa ăn thì thuốc mới công hiệu.
Bửu đỡ lấy gói thuốc, lí nhí cảm ơn người cha ruột rồi lủi thủi quay về buồng của
mình gần kho chứa nông cụ.
Căn buồng của Bửu gồm một cái vạt tre trải chiếu đậu, một cái mùng màu cháo
lòng vá vài miếng lụn vụn, một cái mềm xám cũ mèm và một cái gối ống bằng cây đẽo.
Đêm đó Bửu bị hai cữ sốt rét làm cậu mệt nhoài. Lúc nóng, cậu muốn cởi phăng hết
quần áo ra mong mát mẻ được chút nào chăng. Lúc lạnh, cậu run cầm cập, hai hàm
răng đánh bò cạp. Chiếc mền nỉ dày như vậy mà cậu vẫn cảm thấy như mình ăn mặc
phong phanh đứng giữa buổi lập đông.
Chỉ có lúc bịnh hoạn như hôm nay, Bửu mới thấm thía hoàn cảnh mồ côi mẹ của
mình. Lúc mạnh giỏi, sẵn tánh lạc quan, cậu không nhìn vào hoàn cảnh hiện tại.
Cậu nghê người chú của cậu, đã xuất gia đầu Phật hiện trù trì tại chùa Long Đức,
cách cầu Đào một trăm thước. thường nói rằng: "Sông có khúc, người có lúc,
lại nữa sông còn có lúc đục lúc trong, nước có lúc ròng lúc lớn". Câu nói
đó tuy cũ kỷ của cổ nhơn, nhưng do một chiêu cảm đặc biệt, Bửu cảm thấy nó dội
sâu vào tâm khảm và niềm tin của cậu. Nhờ đó sống với người cha hờ hững, với bà
mẹ ghẻ tàn nhẫn và lũ anh chị em don dòng đích hay hoạnh họe eo sèo mà cậu
không buồn, không tủi thân. Cậu tin rằng kiếp trước cậu đã gây nhiều việc oan
trái cho họ nên kiếp nầy những lằn roi vọt của họ quất lên mình cậu chỉ là để
trả quả. Còn những lới mắng nhiếc rủa sả của họ cũng chỉ là tiếng vọng của nghiệp
chướng.
Bây giờ có lẽ vào giữa canh ba. Bửu choàng tỉnh giấc sau cơn mê ngắn. Ánh trăng
từ miệng kiếng gắn trên mái nhà chiếu vào căn buồng. Ngoài hè, tiếng dơi ăn ổi
kêu chí chóe. Bửu gắng định tâm niệm Bạch Y Quán Thế Âm Thần chú và chú Tiêu
Tai Cát Tường do pháp sư Chơn Huệ, chú của cậu, truyền dạy trước khi chìm vào
cơn mê mệt li bì. Bửu không mong thần lực của kinh giúp cậu thoát ly cảnh nhọc
nhằn cơ cực hiện giờ, nhưng ít ra nó cũng gõ vào nội giới cậu từng âm ba lảnh
lót, xua hết bóng đêm vá nỗi sợ hãi vu vơ.
Dưới mái nhà nầy, Bửu luôn luôn có cảm tưởng mình đứng trên bờ vực thẳm. Cậu
không thể lường đực những cơn giận bật chợt của bà đích mẫu. Khi bực dọc, dù bất
cứ chuyện gì, do ai đi nữa, bà cũng chĩ a mũi dùi vô cậu. Từ nhỏ, cậu đã bị đối
xử như hàng tôi tớ, ăn cùng bàn với tôi tớ, làm lụng như tôi tớ; đau đớn hơn nữa,
cậu còn bị là bia nhận những lời hằn học, oán ghét không duyên cớ củ bà đích mẫu
mình.
Cơn sốt lại nổi lên làm đầu óc Bửu lõng bõng khiến tâm trí cậu không buộc chặt
vào từng tiếng niệm. Dần dà, Bửu lọt vào cơn ác mộng thật mạch lạc. Cậu thấy
mình bị một mụ đàn bà mặt đầy vết thẹo, tay cầm chiếc rựa sáng loáng đuổi theo.
Những vết thẹo làm những bắp thịt trên khuôn mặt mụ biến dạng, nét hung ác hiện
ra lồ lộ. Miệng mụ mím chặt, hai cánh môi mỏng lét như hai sợi chỉ. Cặp mắt mụ
trợn ngược, tròng trắng nhiều hơn tròng đen. Cậu cứ chạy nhưng cảm thấy mình nặng
như đeo đá, cặp giò yếu đuối lỏng lẻo như chực rời khỏi thân thể. Trước mặt cậu
bây giờ là một con sông rộng có thành cầu bắc ngang nhưng không lót ván. Cậu
kinh hãi không biết xoay trở cách nào. Sau lưng cậu, tiếng hét của mụ già hung
ác chen với tiếng rống gầm của ác thú. Cậu tê điếng gần ngã quỵ thì bỗng nghe một
giọng nói dịu dàng: "Con hãy theo má, bò theo thành cầu để qua sông. Có má
đây, con đừng sợ".
Cậu ngước lên. Trước mặt cậu là má ruột cậu, khuôn mặt buồn bã, nụ cười hiền từ.
Bà mặc chiếc áo bà ba bằng lụa trắng, quần lục xiêm, bộ y phục mà khi bà chết,
bà ngoại cậu đã mặc cho bà trước khi nhập quan. Bửu chỗi dậy, rán vừa bám vừa
bò theo sườn cầu. Má cậu thong thả đi trước, tay xác chiếc đèn tán chai rọi
sáng bức màn sương mỏng phủ mờ cảnh vật.
Bửu đã vượt qua sông. Mẹ cậu dắt cậu đi một quãng đường nổi từng đám sương cuồn
cuộn làm cậu có cảm tưởng hai mẹ con đang đi trên mây. Bà bảo cậu: "Má đưa
con lên núi Cô Tô đây. Rồi đây con sẽ cùng chú con tu tại chiếc am lá cất gần
Điện Kín. Con sẽ đực thảnh thơi cho tới cuối đời." Rồi sương mù tan dần.
Hai mẹ con bước vô một thảo am có rào trúc quanh. Chú của cậu, pháp sư Chơn Huệ,
từ trong bước ra, áo nhựt bình màu dà, cổ đeo xâu chuỗi kết bằng hột hổ
phách...
Tới đây Bửu bừng tỉnh giấc vì tiếng hét của bà Bang biện Hưỡn:
- Dậy đi, thứ đồ thúi thây lầy lụa! Ở trong nhà nầy, nếu không xay lúa, giã gạo,
chẻ củi thì cũng quét dọn chuồng heo, chuồng gà. Tao đâu có dư cơm để nuôi thứ
đồ trôi sông lạc chợ như mầy! Mau dậy uống thuốc rồi theo thằng Đực, thằng Xiêm
móc mương bồi liếp!
Bửu lồm cồm ngồi dậy. Nhưng cơn váng vất như choàng một tấm màn tối sẫm và lạnh
ngắt lên tâm trí cậu. Rồi côn ho xé phổi kéo tới làm Bửu mửa một đốn máu tươi.
Giờ đây bà Bang biên Hưỡn mới biết sợ. Bà chạy ra ngoài một mặt gọi thằng Xiêm
mời ông Năm Tảo tới chẩn mạch cho thằng con ghẻ, một mặt kêu thằng Đực vô quét
dọn đống máu tươi và xức dầu hơ lửa cho Bửu.
Sau đó bà Bang biện bước lên trung đường thỏ thẻ thuật lại vận sự cho chồng
nghe. Ông Bang biện nói:
- Ối, hỏa vọng trật đường rầy làm người bịnh lạc huyết đó thôi! Hái lá chó đẻ
giã nhỏ, vắt nước cốt cho nó uống là nó hết bịnh liền!
Nói xong, ông sai con Lài con Lý chuẩn bị trà nước. Cà nhà xúm lại ăn sáng. Cô
Ba Cẩm Tú cùng chồng lúc hừng sáng đã từ cầu Lầu qua nha cha mẹ dùng điểm tâm với
cả nhà.
Khách tới sau vợ chồng cô Ba là pháp sư Chơn Huệ và ông Năm Tảo. Bà Bang biện bảo
dọn món cháy cho pháp sư dùng rồi mời ông Năm mau chẩn mạch hốt thuốc cho Bửu.
Bà thiệt sự run sợ cho tính mạng cậu. Cách đối xử ác độc của bà đối với cậu con
ghẻ mới lớn kia thì bà con, chòm xóm đều rõ. Nhưng bà không muốn cậu chết. Trước
hết bà không muốn mất một tên tớ trai giỏi dắn; sau nữa bà cũng ngại miệng lằn
lưỡi mối phao vu bà giết lần mòn đứa con ghẻ bạc phước kia.
Pháp sư Chơn Huệ khoảng 40 tuồi, da dẻ hồng hào, cặp mắt sáng, cái nhìn dịu
dàng và trang nghiêm. Ông tiếp chuyện vợ chồng bác sĩ Lê Thạnh Mậu nhưng thỉnh
thoảng sắc mặt lại lộ vẻ nghĩ ngợi. Bác sĩ Lê Thạnh Mậu trắng trẻo, phương phi
nhưng ánh mắt mệt mỏi, cái nhìn thờ ơ. Cô Ba Cẩm Tú đẹp sắc sảo, cao lớn hơn cô
Tư, da tuy trắng nhưng không có vẻ mát mẻ nõn nòa bằng. Bù lại, ông trời lì xì
cho cô đôi má lúm đồng tiền để cô làm duyên làm dáng với cuộc đời. Hôm nay cô
Ba mặc áo dài nhung hường, quần sa- teng đen, đi dày quai nhung thêu cườm. Cổ
đeo sưu bộ kim cương lập lòe bảy sắc cầu vồng. Khi tới nhà tía má ruột mình, cô
vào buồng mẹ cởi áo dài, lấy trong giỏ xách chiếc áo bà ba bằng nhiễu tím than
thêu bông hường ở bâu cổ, lai áo ra thay cho tiện lúc làm bếp.
Cô Ba hỏi cô Tư:
- Chùng nào dượng Tư mới về tới?
Cô Tư Cẩm Lệ:
- Từ Sài gòn về đây ít nhứt cũng ba tiếng đồng hồ nếu không kẹt bắc Mỹ Thuận.
Nhưng em tin ảnh sẽ về đây trước khi bày mâm cúng.
Cô Ba kể với em:
- Nè Tư, đêm qua chị nằm thấy chiêm bao thấy mình nuốt hột trái xá lỵ, nhưng rồi
từ dưới rún chị tuôn ra một luồng khói, bay lên trời tụ lại thành mây rồi tản
mác đâu mất. Chẳng biết điềm gì vậy?
Cô Tư nhìn chị:
- Sao lạ vậy? Còn em thì chiêm bao thấy con rắn chui vô bụng em rồi chui ra,
chín lần như vậy. Lần chót nó cắn bụng em nát tanh banh tét bét...
Bà Bang biện nói át ngay:
- Ối! Mộng triệu bá láp bá xàm! Hơi đâu bây thắc mắc cho hao tâm tổn trí! Bà
con lối xóm sắp tới phụ giúp nấu nướng rồi, bây liệu mà chỉ biểu họ. Hôm qua tụi
trẻ giỡ chà bắt được khá nhiều tôm càng, cá lóc, bây làm sao cho mâm cúng ê hề
tươm tất thì làm! Má còn phải lo tiếp khách danh giá trong tổng, trong làng.
Ông Năm Tảo sau khi chẩn mạch cho Bửu liền bước ra trung đường, nơi ông bà Bang
biện, bác sĩ Lê Thạnh Mậu, cậu Hai Luyện đang hầu chuyện pháp sư Chơn Huệ. Ông
bảo:
- Tui xin nói thiệt cho ông Bang biện lo liệu. Cậu Bửu bị chứng lao sái. Lao
sái mạch thường đi với Sác hoặc Sắc hoặc Tế. Chứng nầy phát ra nhiều nhiệt,
tuôn mồ hồi dầm dề, ho ra máu, da thịt gầy mòn, vóc mình ốm o so lại. Riêng mạch
của cậu Bửu đây đi Sác Tế mà Sắc là chứng chết. Tuy biết vậy nhưng tui cũng gắng
hốt vài thang thuốc cho cậu. Biết đâu nhờ ơn Trời Phật, ông bà, mạch đi Vi Sắc
thì cậu sẽ có hy vọng sống. Nhưng bịnh nầy thập tử nhất sinh, có sống thì cũng
vướng bịnh nan y cho tới chết. Đối với người lớn tuổi hai lá phổi rắn chắc hơn
nên bệnh lao lâu phá hư. Đằng nầy cậu Bửu mới tuổi trăng tròn, hai lá phổi còn
non yếu, tui không dám chắc cậu có sống được tới sang năm!
Bác Sĩ Lê Thạnh Mậu góp ý:
- Tuy tui không rõ ngành Đông y nhưng ông Năm đây luận bịnh rất đúng. Ông Năm cứ
trị bịnh cho cậu bằng thuốc bắc, tui sẽ trị bằng thuốc tây.
Nãy giờ pháp sư Chơn Huệ lặng thinh theo dõi cuộc luận bịnh của ông Năm Tảo,
bây giờ mới lên tiếng:
- Cứ để cho ông Năm đây điều trị. Ông bà mình thường nói, hễ nhiều thầy thì hư
bệnh. Lại nữa, anh chị lu bù công kia việc nọ, nếu để thằng cháu tui ở đây thì
không ai săn sóc. Chi bằng anh chị cho người võng cháu về chùa, tui sẽ săn sóc
cháu tiện hơn.
Bà Bang biện Hưỡn nói:
- Bạch thầy, thầy dạy rất phải. Vộ chồng tui xin cám ơn thầy.
Bà ngó qua chồng thấy ông cứ làm thinh, uống trà từng hớp. Bà biết ông đã khứng
chịu vì chứa một thằng con nít mới lớn mắc bịnh truyền nhiễm thì cực lòng cực
trí cho bà biết bao!
Pháp sư Chơn Huệ nói:
- Tuy tui không biết sống chết ra sao nhưng tui có thể cứu mạng nó được vì tui
có rộng thì giớ. Tháng tới nữa tui đi Thất Sơn tu luyện, sẽ đem nó heo luôn. Nó
rủi có chết thì có tui trợ niệm hồng danh A di đà Phật để nó nhờ tha lực của Phật
mà vong linh được vãng sinh về chốn An bang Tịnh độ.
Sư vừa nói tới đây thì cô Tư Cẩm Lệ từ bếp bước lên nói nhỏ vào tai mẹ. Bà Bang
biện lật đật xuống bếp. Cô xầm xì xụt xịt:
- Mới nãy con Lý thấy con chim tứ nhánh cây bằng lằng bên hè lao xuống dãy đành
đạch chết liền tức khắc. Đã vậy, con Lài đi xán măng Mạnh tông gặp bụi trê bên
miễu thổ thần trổ bông. Hễ tre trổ bông là tre sắp chết...
Bà Bang biện lại mắng lấp:
- Bây khéo tin chuyện bá láp! Chim sa cá lụy là chuyện thường. Còn tre trổ bông
là tre già, hễ có già thì chết, có gì lạ đâu? Nhà ông ngoại bà ngoại bây thiếu
gì bụi tre trổ bông mà mấy cậu bây thâu góp huê lợi dư muôn, thăng quan tiến chức,
vẻ vang vô cùng. Riêng tao, tao thấy chim xa hà rầm. Vậy mà có sao đâu?
Sắc mặt bà vẫn lộ vẻ hoan hỉ như thường. Thằng con ghẻ bà đau nặng. Mấy cái điềm
xấu điềm gở kia chắc chắn ứng vào cái chết sắp tới của nó, việc gì bà phải bận
tâm? Cho nên bà bước lên nhà, bảo pháp sư Chơn Huệ:
- Thôi, từ rày vợ chồng tui giao luôn thằng Bửu cho thầy. Mỗi tháng tui sẽ cấp
cho nó năm đồng bạc, cho chùa mười đồng. Trước khi thầy đưa nó đi Thất Sơn, tui
sẽ sắm sửa cho hai chú tháu thầy không thiếu thứ chi, kể cả lộ phí. Khi nào thầy
trụ được nơi ăn chốn ở chắc chắn, nhớ biên thư cho vợ chồng tui biết, đặng hằng
tháng tui gửi măng- đa cho thầy.
Pháp sư Chơn Huệ nói:
- Tui chỉ nhờ anh chị lo thuốc men cho cháu để nó được chỏi hỏi rồi tui sẽ dẫn
nó lên tu trên núi Cô Tô. Ở đó có nhiều khách đàn việt lo cho hai chú cháu tui,
khỏi phiền tới anh chị. Cháu có chết cũng có các đạo hữu tụng niệm. Nếu may ra
cháu sống sẽ tu hành. Dù rằng ai tu nấy chứng nhưng cả ba họ tuy không được phần
huệ nhưng chắc chắn sẽ được phần phước nhờ công tu của cháu.
Bà Bang biện Hưỡn nhai trầu rau ráu, mặt ngời sắc hân hoan. Bà thứa biết mình
có độc căn, khó mà phát huệ. Vả lại bà cần phước chớ đâu lý gì tới cái thứ huệ
bá láp tầm phào kia!
Sau đó, một mặt bà Bang biện sai cú Bảy lực điền cùng thằng Xiêm võng Bửu đến
chùa; một mặt bà sai con Lài chọn mùng mền, chiếu gối mới toanh cùng bốn bộ quần
áo cũng mới đem qua chùa cho Bửu. Bà còn cắt đặt thằng Đực mỗi ngày đem thuốc
men và mọi thứ cần dùng khác cho bịnh nhơn.
Trong khi ở nhà ông Bang biện Hưỡn đang tưng bừng khách khứa đến dự tiệc thì ở
bên chùa Long Đức, pháp sư tụng kinh Cầu An để cầu lành bịnh cho cháu. Uống hết
hai thang thuốc do ông Năm Tảo hốt, Bửu bớt nóng, đổ mồ hôi và ngủ một giấc êm
đềm sảng khoái. Pháp sư Chơn Huệ nhủ thầm: "Từ rày thằng này sẽ phải nương
nhờ cửa Phật để tránh roi vọt của nghiệp quả!"
Chương 3
Pháp sư Chơn Huệ rước Bửu về chùa cũng có nguyên nhơn dựa vào
con mộng giữa canh ba của sư. Trong cơn chiêm bao đó, sự thấy mình đi sâu vào
xóm Bánh Phồng giữa vùng lau sậy bát ngát, đến một ngôi mộ đắp đất nằm giữa hai
mương nước loáng thoáng những cánh béo tai lá tròn tròn. Một người đàn bà mặc
áo bà ba trắng, quần vài xiêm đen ngồi bên mộ dưới cây phù dung trổ bôn trắng.
Nười đàn bà bảo:
- Bạch thầy, chắc thầy chưa quên tui. Tui là cô Hai Kim quê ở xóm Bánh Phồng nầy.
Bởi tui bạc phước, mới lớn đã bị anh của thầy là ông Bang biện Hưỡn cưỡng bức
cho tới mang thai. Sau đó bà Bang biện cho tui về ở chung với bà ngoài Cầu Đào.
Thời gian đó thầy đi vân du miệt Nam non Bảy núi, tầm sư học đạo nên thầy chưa
gặp mặt tui lần nào. Trong bốn năm trời, tui bị bà lớn đối xử hà khắc thái thậm,
chịu chửa mắng, đánh đập như cơm bửa. Sau đó, ông Bang biện còn mua sở ruộng mười
mẫu ở Hòa Mỹ. tui được bà lớn cho phép đến đó cất nhà trông coi trâu lúa cùng
các tá thổ tá điền. Ai dè năm năm sau tui bị chứng huyết trắng. Không được thuốc
thang điều trị châu đáo nên tôi chịu ốm o mòn mỏi nhắm mắt lìa đời, bỏ thằng con
dại cút côi cho bà má lớn nó hành hạ. Ngày mai thầy tới nhà ông Bang biện xin
cho con trai tui theo hầu thầy, bởi giữa thầy và nó có mối túc duyên trải qua bốn
kiếp. Cả hai nếu không làm cha con thì cũng làm chú cháu, thầy trò. Thầy an
lòng, đừng sợ bà Bang biện tứ chối vì đã tới lúc giữa bà Bang biện và con trai
tui trả hết ác nghiệp oan oan tương báo, con tui sẽ theo thầy thoát vòng tục lụy.
Đúng như lời cô Hai Kim dặn, pháp sư đến nhà anh chị mình gặp lúc Bửu đang lên
cơn bịnh mê man và đang lúc bà Bang biện Hưỡn muốn trút của nợ cho sư.
Tối hôm đó, pháp sư Chơn Huệ tụng cho cháu chầu kinh Dược sư rồi mới ngồi tọa
thiền. Sáng hôm sau, Bửu đã tỉnh táo, đòi ăn cháo. Pháp sư Chơn Huệ mừng lắm,
sai chú tiểu Như Pháp nấu cháo thiệt lỏng trộn với sữa hộp cho cháu ăn.
Xong xuôi, đợi khi Bửu ngủ, pháp sư Chơn Huệ cuốc bộ vào nhà ông Năm Tảo. Ông
đang phơi khô cá tra, khô cá sặt trong sân nắng. Bên thềm nhà, con mèo mun nằm
sưởi nắng, cặp mắt trong veo màu ve chai chong về phía sư.
Thấy có khách đến viếng, mà lại là một bực cao tăng, ông Năm Tảo đứng dậy chắp
tay xá xá, miệng niệm hồng danh "Nam mô a di đà Phật" rồi mời pháp sư
vào nhà. Bà Năm Tảo từ bếp lên, rối rít:
- Bạch thầy tới chơi. Chiều nay xin thầy ở đây dùng bữa cơm chay với tụi con.
Phÿp sư Chơn Huệ bảo:
- Mô Phật, mỗi ngày tôi chỉ dùng một bữa ngọ traii mà thôi. Hôm nay tui đến
dùng trà với ông Nhăm và có việc cần tham vấn cùng ông đây.
Ông Năm Tảo mời pháp sư ngồi ở ghế trường kỳ, Bà Năm niêm nở:
- Trá thì lúc nào nhà cũng có, nhưng hôm qua có một bà ở miết An Hữu lặn lội tới
đây biếu cho tía sắp nhỏ bốn lượng trà ngon gọi là thưởng tái đoán bịnh, trị bịnh
của ổng.
Bà quày quả xuống bếp sai cô Hai súc bình và chén, cô Ba nhúm lữa nấu nước, mà
phải là nước mưa trong chiếc mái đầm tích trữ từ hối năm ngoái.
Trong khi chờ trà, pháp sư hỏi ông Năm Tảo:
- Ông nhắm coi thằng Bửu có thể hết bịnh không?
Ông Năm trầm ngâm:
- Thưa thầy, tui chẳng biết có phải phước chủ may thầy hay không! Hồi sáng hôm
qua, tui bắt mạch cậu Bửu thì thấy mạch đi sắc tế, tướng chết hiện ra. Vậy mà
sáng nay thì mạch lại đi vi sác, có cơ may sống được. Nhưng cậu dứt được bịnh
lao hay không thì tui không dám nói trước.
Khi bà Năm bưng khay trà lên, ông Năm Tảo lộ vẻ suy nghĩ lung lắm. Ông e dè
nói:
- Căn bịnh của cậu Bửu thì lạ lắm thầy ôi! Tui nói ra đây không phải là muốn
gieo hoang mang cho thầy, chớ bịnh của cậu lúc quỉ lúc ma, lúc chường lúc ẩn,
tui không biết sao mà đoán! Lúc mới vô buồng cẩu, tui thấy quanh giường cẩu có
nhiều kẻ mặt xanh nanh bạc, có cả một mụ già mặt đầy vết rỗ vết thẹo gớm ghiếc.
Tụi nó chập chờn ẩn hiện. Khi thấy tui bước vô thì biến mất. Lúc đó cậu Bửu nằm
mê man. Tui bắt mạch thì thấy trong sáu bộ mạch của cẩu, không mạch nào phát hiện.
Tui biết cẩu bị ma dựa nên đọc kinh trừ tà. Chừng giáp bã trầu, mạch bắt đầu
máy động ở quan bộ nhưng không hiện rõ phù, trầm, trì, sác. Tui bèn đọc tiếp
105 biến Tiêu tai cát tường và 105 biến Phật mẫu chuẩn đề thần chú. Đó rồi mạch
lao sái hiện ra, nhưng đó là mạch của kẻ sắp chết. Vậy mà từ khi về chùa, mạch
cẩu lại thay đổi. Thuốc thang do tui hốt đâu có hể hiệu nghiệm mau như vậy được!
Vậy xin thầy gắng chờ năm mười bữa hoặc nửa tháng coi bịnh cẩu sẽ xoay chiều đổi
hướng tốt đẹp hơn chăng!
Pháp sư Chơn Huệ nói:
- Những điều ông thấy, tui không lấy làm lạ đâu! Những bóng quỉ mặt xanh nang bạc
cùng mụ quỉ mẫu mặt thẹo kia chỉ là những vong hồn bao kiếp trước về báo oán
cháu tui. Giớ đây, cháu tui đực vong linh má nó phù trợ, lũ ma quỉ kia khuấy
phá lần chót cho sạch oan nghiệp để sau nầy nó hưởng phước quả tròn trận. Tui
tin rằng khi nó theo tui lên tu trên núi Cô Tô thì nó sẽ dứt bịnh.
Bà Năm Tảo ngó về phía bếp nói vọng xuống:
- Tụi bây mau đem bánh trái ra đây. Tụi bây làm gì lúc thúc ở trỏng mà không ra
chào hầy?
Hai cô Túy từ bếp bưng mâm mận, xoài, đu đủ lẫn khóm xét miếng, một dĩa bánh phục
linh, ba chén sương sa hột lựu. Hai cô chấp tay cúi chào pháp sư rồi xuống bếp
nấu thêm nước châm trà.
Bà Năm Tảo lấy ba lượng bột huỳnh tinh, một lượng đường phèn, trao cho sư, ân cần
bảo:
- Gọi là chút phẩm vật cho cậu Bửu. Thầy dặn chú Như Pháp khuấy bột trong hoặc
bột trứng cá cho cẩu ăn. Khuấy bọt trứng cá thì đẹp mắt nhưng ăn lâu tiêu hơn
khuấy trong. Bột huỳnh tinh Mỹ Khê xứ Quảng phải khuấy đường cát trắng, đừng
khuấy với đường thẻ hoặc đường cát mỡ gà mà kém màu gương vẻ ngọc.
Ông Năm Tảo trách vợ:
- Má hai con Túy lôi thôi quá! Sao không tặng thầy một ít quế Trà Bồng xứ Quảng
để thầy mài ra uống lỡ khi đau bụng.
Bà Năm Tảo liền vào trong mở thùng kẽm lấy quế ở ngăn trên. Thùng kẽm có hai
ngăn, ngăn nầy cách ngăn dưới bằng một phên tre, bên dưới đổ đầy mật ong. Chỉ
có hương mật ong mới có thể xua tan ẩm mốc và giữ quế lâu dài.
Trước khi từ giã ra về, pháp sư Chơn Huệ tặng ông bà Năm Tảo bốn đạo bùa trừ tà
chép Lăng Nghiệm thần chú bằng chữ Bắc Phạn trên giấy mỏng. Giấy chép được xếp
thành một miếng hình vuông, bề dài một tấc, bề ngang ba phân, bề dày một phân.
Cô Hai Túy Ngọc đã may sẵn bốn đãy gấm để đựng bùa, mỗi người trong nhà giữ một
đãy. Ông Năm Tảo dặn:
- Tuy là mỗi người giữ một đạo thần chú, nhưng mẹ nó và các con không nên cất
giữ trong chốn buồng the là chỗ uế trược. Nên đặt bốn túi gấm ở chỗ bàn Phật
thì hơn.
Nhìn bóng nắng rút khỏi nửa giàn mướp trên vạt đất giáp sân trước, bà Năm giục
hai con:
- Mau nấu cơm đi. Ba bây ăn cơm sớm để còn đi Cái Sơn Lớn cho kịp con nước.
Cô Hai xách nồi đồng đi đong gạo. Nhà nầy phải nấu ba lon một nhúm, cơm ăn
không hết thì sẽ rang váo lúc sáng mai cho ông Năm Tảo ăn chắc bụng. Cô Ba xách
rổ ra vườn hái một trái mướp hương, một mớ rau bồ ngót, rau giên gai, đọt mồng
tơi để nấu canh tép bạc giã nhuyễn. Cô cũng đã ướp sẵn mớ cá chạch với tiêu, tỏi,
nước mắm trong cái tộ sành thô nặng. Ông Năm rất ưa món cá chạch kho nghệ, mà
phải do tay cô Ba kho ông mới bằng bụng. Kho loại cá nầy là phải giữ nguyên mùi
sông rạch thấm vào sớ cá. Đó là mùi bùn, mùi cỏ năng, cỏ lác, cỏ song chằng. Mà
ai nói cá chạch ăn độc? Xôi ơi, cá chạch ăn bọt nước để sống thì độc sao được!
Mà thịt cá dẫu có độc, cô chỉ dằn vào tộ cá một chút đọt gừng xát chỉ là bao
nhiêu độc khí cũng bay ráo trọi, bao nhiêu độc chất cũng bị hóa giải tuốt luốt!
Đang lúc hai chị em làm bếp thì bên cửa hông vườn có tiếng gọi giựt ngược:
- Con Hai, con Ba đâu mở cổng ráo cho chị Út bây qua ngoạn cảnh một chút coi
nào!
Cô Hai Túy Ngọc nhìn qua cô Ba Túy Nguyệt cười chúm chím. Rồi! Tại họa đùng
đùng tới rồi! Đúng như bà Năm Tảo hay phàn nàn: Nhắc vàng nhắc bạc thì khó thấy,
chớ nhắc cô gái già Út Ngan kia là có ngay! Út Ngan chê cái tên Ngan không êm
tai, không văn huê đài các nên tự xưng là Út Ngọc An. Út Ngọc An không xấu. Cái
hại của cô ta là tưởng mình đẹp nên õng ẹo quá trớn, làm dáng làm điệu thả
giàn. Cô ta lại có cái lưỡi đôi chiều thiệt nguy hiểm. Hễ gặp hai đàng thù nghịch
nhau, cô đâm bị thóc chọc bị gạo, khen đàng nầy chê đàng kia, dùng lời khích
bác cho mối thù hai bên càng thêm sâu đậm. Tuy nhiên, bà Năm Tảo lẫn hai chị em
cô Túy đều thích cách nói chuyện pha lửng của cô ta dù họ công kích cái miệng độc
địa và cái lưỡi đêu xảo của cô. Thực tâm, cô Út Ngọc An không hiểm độc, cô ta
nói xấu chỉ vỉ nhu cầu mua vui một cách bịnh hoạn mà thôi.
Cô Hai cời đống than đỏ rực trong chiếc cà ràng đỏ để có cơm cháy dưới đáy nồi.
Xong xả, cô qua hông vườn, mở cửa cho cô Út Ngọc An bước vào. Cô thấy cặp mắt
cô Hai ướt sũng nước mắt vì khói bếp, liền cất giọng eo éo:
Hai tay nưng vạt áo dài,
Chặm lên con mắt, chặm hoài không khô.
Cô Hai Túy Ngọc hỏi:
- Chị nấu cơm xong chưa mà coi bộ rảnh rang quá vậy?
Cô Út liếc xéo cô bạn hàng xóm:
- Ông già tao với anh Ba đi ăn giỗ ở Lộc Hòa. Vợ chồng anh Hai thi xuống Cá Mau
làm mắm từ hai tháng nay. Nhà chỉ còn hai má con. Hôm qua tao mua được mớ cá mục
chở từ biển Ba Động về kho chan bún. Nấu cơm làm chi cho mắc công!
Hôm nay Út Ngọc An mặc quần cẩm quất trắng, áo bà ba bằng hàng bombay màu cà
phê sữa. Về nữ trang, cô đeo chiếc cẩm thạch huyết ở tay mặt, cẩm thạch xanh
hoa lý ở tay trái. Tai cô đeo bông chạm tỉ mỉ, ngón tay đeo chiếc cà rá nhận cẩm
thạch hột vuông.
Út Ngọc An nói:
- Cha chả, hôm nay trời nổi gió, nắng thì trong mà gió thì lồng lộng. Thời tiết
kỳ cục! Tụi mình vô bếp đi. Hễ thời tiết tráo trở thì gió máy độc địa lắm, bịnh
như chơi!
Cô Hai thừa biết cô Út muốn vô bếp để dòm hành coi chiều nay cả nhà ăn cơm với
những món gì. Tuy ghét cái tật tò mò tọc mạch của cô Út nhưng cô vẫn đưa cô Út
vào bếp. Cô gái già đảo mắt qua những nồi, những soong thức ăn đang nấu trên mẻ
than đỏ rực, phê bình:
- Cá chạch xứ nầy tuy mập nhưng không ngon bằng cá chạch ở sông Vàm Cỏ. Năm
ngoái tao đi thăm dì Tám tao ở kinh Bà Bèo ăn cá chạch đã đời. Kinh Bà Bèo chảy
qua quận Cai Lậy cũng là nhánh của sông Vàm Cỏ Tây đó đa! À, sao tụi bây kho cá
đối mà không chiên? Con nầy quê quá. Nhà tao thích ăn cá nục, cá thu kho hơn.
Cô Hai nhìn em. Cô Ba Túy Nguyệt có vẻ bực mình, sắc mặt lợt lạt, nguýt cô Út một
cái bén ngót. Cô Hai êm ái giải thích:
- Cá thu, cá nục lâu lâu nới có bán ở chợ cá tỉnh mình. Bởi vì xứ nầy xa biển,
phương tiện giao thông từ biển Ba Động tới tỉnh mình chưa được dồi dào, cho nên
muốn có cá biển kho nấu thiệt là khó. Mấy ai được như nhà chị!
Cô Út Ngọc An hãnh diện:
- Vậy mà nhà tao có cá biển ăn hoài hoài. Đời nào tao thèm ăn chả cá thác lác
chiên. Tao làm chả bằng cá thu.
Cô Ba cự nự:
- Sao chị dại quá vậy? Thịt cá thác lác dẻo hơn, ngọt béo thần sầu. Cá thu mà
đem làm chả thì thua cá thác lác một trăm cây số. Đành rằng cá thác lác nhiều
xương, nhưng nếu mình khéo lóc thịt đem quết chả thì sẽ ngon gấp mười lần thịt
lý ngư trong ao Dao Trì trên thương giới.
Thấy tình thế giữa cô Út và em mình có mòi găng, cô Hai kéo cô Út ra ngoài, bảo:
- Trong bếp hơi than nóng bức, chi bằng chị em mình ra bến sông ngồi chơi cho
thảnh thơi tâm trí.
Cô Út đành bước theo cô Hai ra bến sông. Nơi đó, bên mé nước có những cây gừa
buông rễ lồng thòng xuống mặt nước. Giờ nầy, nước dòn lênh láng đầy sông, xẻo.
Màu nước nâu đục in vòm trời xanh trong, lơ thơ vài cụm mây trắng. Cả hai ngồi
xuống chiếc băng cây đặt dưới tàn cây mãng cầu xiêm, sát bên mé nước. Cô Út chợt
thấy một sợi óc vướng trên cổ áo bà ba của cô Hai, bảo:
- Con nhỏ nầy chưa chi đã rụng tóc rồi. Mầy mà tới tuổi ba mươi coi chừng cái đầu
sói sọi như đầu mấy con quạ tháng bảy cho coi!
Cô nhặt sợi tóc thổi vèo ra phía sông. Cô Hai Túy Ngọc hoảng hốt:
- Í, đừng chị ơi! Không nên đâu!
Cô Út Ngọc An tròn mắt:
- Sao không nên?
Sợi tóc bay ra khỏi đám lục bình hoa tím, rớt trên những lớp sóng lăn tăn rồi
trôi ngược phía vàm sông. Cô Hai bảo:
- Bác Chín gái nói với má em rằng, ở dưới đáy biển, đáy sông có loài thũy tộc
nhiều phép thần thông. Loài nầy ưa tìm cách lên cõi trần để gian dâm với phụ nữ.
Hễ cô nào bị tụi nó tư thông thì mang bịnh ốm o gầy mòn cho tới chết.
Cô Út cắt lời:
- Ai lại không biết đó là bịnh mắc đàng dưới!
- Bởi vậy con gái bắt đầu trổ mã thì đừng nên tắm ở sông rạch, cũng đùng giặt
quần áo của mình ở khe rạch, sông ngòi, ao bàu, hay vũng... Nếu có giặt thì giặt
trong thau chậu rồi đổ nước trên đất. Cũng không nên vứt tóc, móng tay, đờm,
máu kinh nguyệt dưới nước. Có vậy mới khỏi mắc bịnh đằng dưới.
Út Ngọc An ngơ ngẩn:
- Hại không! Tao lại quên cái chuyện mầy vừa nói chớ. Thiệt tao bậy quá chừng
chừng!
Bỗng bên kia bờ rào, giọng bà Chín Thẹo rổn rảng vọng sang:
- Con Út đâu? Mau về nhà hâm cá. dọn bún cho tao ăn. Chèn đét ơi, ai coi nó bận
quần trắng mà dám đứng gần mé nước chớ! Thánh thần ơi, con gái người ta có ý có
tứ, con gái tui thì u mê bạch tuột, không kiêng không cữ, chẳng biết dữ lành!
Cô Út Ngọc An đứng dậy phủi đít, bảo cô Hai Túy Ngọc:
- Bà già tao đang nổi máu sân rồi đó. Thôi, tao xin kiếu.
Bà Chín Thẹo mặc áo xuyến đen, quần lãnh đen, tóc bới ba vòng một nọn. Khuôn mặt
bà lúc giận coi thiệt đanh đá, Bà liếc xéo cô Hai Túy Ngọc, làm như có ai rù
quyến con bà ra chỗ trống trải vậy.
Khi cô Út về bên kia khuôn viên bà Chín thì cô Hai khép cổng hông rồi lững thững
vào nhà. Trời đả nhá nhem tối. Cô Ba thắp đèn rồi dọn cơm. Trong bữa cơm cô Hai
thuật lại cho mẹ nghe vận sự cô Út thổi tóc cô xuống sông, việc cô Út mặc quần
trắng đứng bên mé nước.
Bà Năm Tảo bảo:
- Có kiêng có cữ thì việc dữ hóa lành. Đất nước mình mới khẩn huâng lập ấp mấy
trăn năm nay nên có đủ thứ yêu tinh, ma quỉ, tà quái. Làm gái xinh tốt càng phải
giữ kỹ hơn. Bây mặc quần áo trắng đứng bên mé nước thì bọn Giang long, Hà bá,
Thủy quan, Thủy quái thấy đít, ngực, hông, nách bây ráo trọi, tránh sao "họ"
khỏi động lòng dâm dục, phựt ngọn lửa tình. Cho nên có đi xuồng, đi ghe, đi dạo
trên bờ sông nhớ bận quần áo màu sậm, nhứt là nên bận đồ đen cho chắc ăn, vì
màu đen có hể che mắt "họ".
Ong Năm Tảo thêm vô:
- Tụi con gái chớ nên soi kiếng chải đầu ban đêm. Bởi mặt kiếng lánh như mặc nước
lúc lặng sóng nên "họ" thường ẩn trong mặt kiếng ban đêm vì ban đêm
thuộc giờ âm, giờ của cõi âm, giờ của dưới nước lên trần tác oai tác quái.
Cô Ba ngứa miệng:
- Thưa tía, tía nói vậy sao phải! Bọn đào hát đêm nào mà chẳng soi kiếng để tô
son trét phấn?
Bà Năm nguýt cô con gái ương ngạnh:
- Nói bậy nói bạ mà cũng ưa chó chét! Mầy quên rằng tổ nghiệp hát bội có oai lục
thường che chở cho đào hÿt hay sao?
Trong bữa cơm dù có cá chạch kho nghệ, món canh rau mướp hương, món cà đối kho
còn dư hôm qua, món chả cá phác lác chiên dầm nước mắm tỏi, nhưng ông Năm chỉ
ăn có hai lưng chén cơm rồi gác đũa trên miệng chén, cháp tay xá xá tạ ơn người
làm ra hột gạo. Bà Năm ân cần:
- Ông nên ăn thêm ba hột nữa kẻo đêm dài thức khuya đói bụng.
Ông Năm Tảo cười:
- Tối nay tui xuống Cái Sơn ngủ đêm, gia chủ thế nào cũng dọn ăn khuya, không vịt
thì gà, bà sao khéo lo!
Ông sửa soạn hành lý chất trên chiếc tam bản để chéo ra sông. Cổ chiên cho kịp
con nước suôi. Mảnh trăng thượng tuần méo xẹo méo xọ đã hiện ra ở phương đông.
Bà Năm Tảo hối hai cô con gái tắm rửa rồi đốt nhang cúng nước trên bàn thờ Phật.
Bà bước ra nơi hàng rào ngăn khuôn viên nhà bà và mảnh đất có cây da xà. Bà sẽ
trồng cây xương rồng và cây độc trụ ở vòng rào ngoài, cây dâu tằm ăn ở vòng rào
trong. Bà tin rằng xương rồng và dâu tằm ăn có thể trừ ma tróc quỉ như ông bà
mình thường nói. Tuy cô Út Thoại Huê là vong cô của cô Ba Túy Nguyệt nhưng cây
da xà là nơi trú ngụ của bao âm hồn thì nó thuộc về cõi âm. Bà không muốn cuộc
đất của mình thông thương giao tiếp với cõi huyền bí đầy hung hiểm dọa dẵm ấy.
Hai vòng hàng rào sẽ dựng nên cái biên giới giữa hai cõi âm dương. Nếu vong hồn
nào rắn mắt toan qua khuôn viên bà để quấy phá, sẽ bị hai vòng hàng rào kia
ngăn cản.
Sáng hôm qua, bà Năm Tảo đã chuộc cái bùa bát quái vẽ bằng sơn đỏ trên miếng kiếng
hình bát giác để treo trên khung cửa chánh. Vẫn chưa an lòng, bà còn treo những
khúc xương rồng. Bà sẽ trồng thêm cây khuynh diệp bên cổng, đám ngũ trảo trong
sân dù ông Năm đã trồng ngũ diệp ở vạt đất trồng dược thảo. Loại cây cỏ có lá
thơm kia chẳng những làm thông khí quản mà còn ngăn cản loài phong tinh vào khuấy
phá.
Tối hôm đó, mãi tới đầu canh hai, ánh trăng mói soi khắp thềm sân. Cô Ba Túy
Nguyệt tắm bằng nước nấu với lá từ bi, lá ổi, lá ngải diệp. Còn cô Hai Túy Ngọc
thì đã tắm bằng xà bông sả và gội đầu bằng nước bồ kết từ hối chiều. Cô thắp
nhang cúng nước trên bàn phật, lấy bùa trừ tà đeo và cổ. Vận sự cô Út Ngọc An
thổi sợi tóc cô bay xuống sông cứ làm cho cô bào xào xao xuyến. Trời nực, cô ngồi
bên cửa sổ ngó mông. Còn cô Ba thì vừa đặt lưng xuống giường là ngủ được ngay.
Đấu đêm, bóng nguyệt quới tỏa hương ngào ngạt. Những cụm lài ven tường cũng thoảng
hương. Phải đợi tới canh ba, bông dạ lý mới bắt đầu dậy hương, trong khi nồng độ
hương nguyệt quới loãng dần. Nguyệt quới và lài dẫu có thành tinh đi nữa cũng
không đủ oai lực hiện lúc ban đêm. Duy mấy cây dạ lý từ bày năm sắp lên, đêm
đêm hóa thành hình người đi dạo dưới trăng. Đó là những gì bà Chín Thẹo cam
doan rằng mình đã mắt thấy tai nghe. Nhưng thiệt tình, hai cô Túy nghe thì nghe
chớ làm sao tin nổi cái miệng ưa thêu dệt, đặt chuyện của bà. Vậy mà canh năm
hôm nọ, hai cô gánh mắm và dưa gang từ Cầu Dài về nhà. Vừa khi tới cổng rào thì
đã hừng sáng. Cả hai chợt thấy một cô gái cỡ mười bảy mười tám tuổi đứng phía
trong bờ rào của khuôn viên ông bà Năm Tảo. Vốn tánh mau mắn, cô Ba Tuy Nguyệt
chào trước:
- Chào cô. Cô ở đâu tới dây? Cửa ngõ khóa mà sao cô vô được?
- Cô gái ú ớ:
- Tôi... tôi đi xem mạch hốt thuốc. Tôi mới từ trong nhà bước ra...
Anh sáng lờ mờ của thời khắc bóng đêm sắp lui làm hai chị em không nhìn rõ mặt
cô gái lạ, nhưng dáng dấp cô thiệt mảnh mai yểu điệu, chiếc áo màu xanh cẩm thạch
của cô sự nức mùi hương dạ lý. Cô ta đi vào vùng tối lờ mờ của khu vườn rồi biến
mất.
Khi cả hai vào nhà, cô Hai Túy Ngọc hỏi tía má mình:
- Mới hừng sáng mả đã có người tới coi mạch hốt thuốc rồi sao, tía?
Ông Nam Tảo chừng hửng:
- Ủa, ai đâu? Hồi canh năm má bây thức dậy lo nấu xôi, còn tía thì ngủ nướng
mãi tới khi bây về chớ có ai tới đâu?
Cô ba thuật lại vận sự hai chị em vừa chứng kiến. Bà Năm không biết giải thích
cánh nào, liền chạy lại bờ rào ngóng về phía nhà bà Chín Thẹo, gọi:
- Chị Chín! Chị qua tui ăn lót lòng. Tui có chuyện muốn thưa với chị.
Bà Chín Thẹo tại mân điểm tâm ờ nhà ông Năm Tảo sáng hôm đó, giải thích sự xuất
hiện của cô gái bên bụi dạ lý như sau:
- Có phải con nhỏ đó xõa tóc không? Đờn bà con gái xứ mình hễ bận áo dài là bới
tóc đàng hoàng chớ đâu để tóc ngang lưng như vậy! Cô gái đó không phải là"
người ta" đâu! Cổ là con tinh của cây dạ lý, cũng áo màu cẩm thạch, cũng
tóc xõa ngang lưng như vậy. Hàng rào nhà tao cũng có mấy khóm dạ lý già như
hàng rào bên đây vậy.
Hai cô con gái tái mặt. Bà Chín trấn an:
- Tinh cây dạ lý hiền lắm. Tụi nó sợ loài người, không dám hãm hại phá phách gì
đâu! Tinh loài ngải diệp thì ưa giả gái đẹp để chài bợm háo sắc. Còn loại cây lớn
như cây da, cây mù u, cây sao, cây dầu, cây dương... sống từ 50 năm sắp lên đều
hành tinh cả. Tụi tinh đó không chọc ghẹo phá phách ai, nhưng loài người cũng đừng
chọc tụi nó, đừng đẽo thân hoặc tước vỏ, chặt nhánh, tỉa ngọn; đừng phóng uế dưới
gốc nó mà mang họa.
Cuộc đất miền đồng bằng sông Cửu khẩn hoang chưa đến 500 năm. Mật độ dân chúng ở
miệt vườn còn thấp. Hễ người sống thưa thớt thì nhưng kẻ cõi âm sẽ tác nghiệt lộng
hành. Trời Phật ở xa, ma quỉ ở gần. Cố giữ cho khỏi đụng chạm tới chúng cũng đã
mệt cầm canh rồi, có mấy ai đủ phép thần thông mà tróc quỉ, trừ ma, tấn công tà
thần, áp đảo yêu quái?
Cô Hai Túy Ngọc có một nội lực vững vàng. Cô là một Phật tử thuần thành, nắm vững
hai vấn đề từ bi và trí tuệ. Đới với cô, bọn tà thần, ma quỉ, yêu quái dầu có
thần thông thế mấy cũng vẫn là những chúng sinh không tìm được hạnh phúc nên phải
tắc oai, lộng hành cho hả cơn tức của mình. Hễ người sống biết giữ tâm chí, giữ
lòng thanh tịnh thì không có âm binh, ma quỉ nào dám dựa, nhập, ốp vô mình được!
Vẫn biết chúng tàn ác và rắn mắt, nhưng người sống phải mở lòng từ bi để đọc thần
chú vãng sinh cho chúng, phải tụng kinh Phương đẳng Đại thừa chú nguyện cho
chúng sớm giác ngộ, sớm siêu sanh. Với ý nguyện ấy, mỗi đêm cô thắp nhang tụng
đọc bảy biến Đại bi thần chú trước khi ngủ. Nhưng từ bốn hôm rồi vì có kinh
nguyệt nên cô không dám thắp nhang, cúng nước và tụng chú. Hôm nay mình mẩy sạch
sẽ, nhưng cô cảm thấy còn bải hoải ngầy ngật nên tạm gác đọc thần chú qua một
bên. Ngài mai nhất định cô sẽ tụng kinh Địa Tạng, hồi hướng cho những kẻ còn kẹt
ở địa ngục và cầu cho dì Út Thoại Huê của cô mở lượng từ bi, tha thứ tên sở
khanh Hai Luyện kia. Cô muốn nhắc nhở với vong linh người dì u mê kia rằng, chắc
kiếp trước dì đã gây oan trái cho cậu Hai Luyện nên kiếp nầy cậu đòi nợ. Thôi
thì dì nên chấm dứt vòng vay trả ở kiếp nầy để kiếp sao khỏi sa vào vòng oan
oan tương báo.
Bỗng một cụm mây lớn vắt ngang qua mặt trăng làm cảnh vật tối sầm. Con trốt nổi
lên. Cơn váng vất ùa tới làm cô Hai phải trở vào giường. Trống đã điểm canh ba.
Khắp nơi lặng ngắt. Thỉnh thoảng có tiếng ếch nhái, tiếng nhóc nhen, tiếng vạt
sành nổi lên ở bàu nước cuối vườn. Cô Hai Túy Ngọc chìm sâu vào cơn mê.
Cô thấy hai người đờn ông, một mặc loại vải dệt bông nổi như da sấu. Người mặc
áo láng lẩy ẵm cô Út Ngọc An trên tay. Cô nằm mê man nhưn chết. Còn người mặc
áo vải dệt bông nổi cầm sợi tóc trên tay ngắm nghía rồi nhìn cô Hai nheo mắt cười
duyên. Người mặc áo láng lẩy nói:
- Thôi mầy, tụi mình nên về thủy phủ thì hơn.
Người mặc áo bông nổi chỉ cô Hai Túy Ngọc, bảo:
- Tao muốn bắt con nhỏ đó, nó xinh tốt như tiên nga. Lại nữa, tao giữ sợi tóc
nó trong tay tức là tao đã cầm chắc cái bổn mạng nó rồi. Tao mà không bắt nó về
làm vợ thì uổng lắm!
Người mặc áo láng lẩy can gián:
- Không được đâu! Con nầy có căn lành, có phước đức nên bổn mạng vững vàng. Lại
nữa, tía má nó gây nhiều nhơn tốt, mầy không rớ tới nó được đâu!
Người mặc áo bông nổi xốc tới tính ôm cô Hai. Nhưng tay hắn vừa chạm tới mình
cô là hắn la hoảng lên như chạm phải gai nhọn lửa nóng:
- Con nầy có đeo đạo bùa ghi thàn chú kinh Lăng Nghiêm!
- Tao đã nói mà mầy không nghe. Dẫu nó không đeo đạo bùa thiêng đi nữa, mầy
cũng không rờ tới nó được đâu! Thôi, về thủy phủ với tao cho rồi.
Cả hai bỏ đi. Cô Hai Túy Ngọc chạy theo la lớn:
- Mấy người bồng chị Út Ngọc An đi đâu? Sao mấy người làm ngang bắt con gái người
ta đi vậy?
Cô xông tới, giành cô Út Ngọc An lại. Cả hai trì kéo nhau. Tên mặc quần áo dệt
bông nổi nhào vào xô cô té một cái đụi để tên kia bồng cô Út chạy mất.
Tới đây cô Hai Túy Ngọc tỉnh dậy. Nhà ngoài có tiếng xôn xao. Cô Ba Túy Nguyệt
từ ngoài chạy vào, gọi chị:
- Nguy rồi chị ơi! Chị Út con bác Chín bỗng dưng kếu đau bụng rồi năm mê man.
Chị em mình mau theo má qua nhà bác Chín coi sao. liệu có giúp được gì chăng!
Cô Hai Túy Ngọc liền chổi dậy rửa mặt xúc miệng, xức dầu cù là ở màng tang, mặc
thêm chiếc áo bà ba ngoài áo túi rồi cùng mẹ và em đóng kín cửa nẻo bước qua
nhà bà Chín Thẹo.
Ở đây đèm đuốc sáng rực, chòm xóm tụ họp nhộn nhịp. Ba mẹ con bà Năm Tảo tức tốc
vô buồng cô Út. Cô nằm trùm mềm tới cổ, sắc mặt lợt lạt, mắt nhắm nghiền. Thỉnh
thoảng cô cong người ngồi dậy, mắt mở trao tráo nhưng không nhìn ai. Cô rên: -
Chu choa ơi! Đau bụng quá trời quá đất! Ai cứu tui với! Sao mấy người giữ tui ở
đây, không để tui theo chồng tui!
Bà Chín Thẹo mếu máo kể với bà Năm Tảo:
- Con Út tui đang ngủ bỗng hét lên tỉnh dậy kêu đau bụng. Ông nhà tui cắt xương
rồng, mài với nước mưa cho nó uống mà vẫn không bớt, cứ nằm thiêm thiếp lúc tỉnh
lúc mê.
Bà Năm Tảo chắc lưỡi:
- Hại quá! Ông nhà tui đi Cái Sơn Lớm chữa bịnh, tui biết liệu sao đây! Nè Ba,
con lẹ chơn chạy về nhà lấy khúc quế Trà Bồng để má mài với nước mưa cho chị Út
con uống. Đang lúc cấp bách như vầy, để tui trổ tài châm cứu cho cháu, biết đâu
phước chủ may thầy mà cháu khỏi bịnh chăng!
Cô Ba Túy Nguyệt trở về nhà lấy quế. Bà Năm Tảo hối gia chủ xắt cho bà hai miếng
gừng và đốt một cây nhang để bà đặt gừng lên huyệt và châm nhang vào huyệt. Khi
cô Ba đem quế qua thì cô Hai mài quế để đổ vào miệng bệnh nhơn. Mặt cô Út trở
nên hồng hào, mồ hôi lạnh hết ra nhưng cô không tỉnh táo. Cô đảo mắt nhìn mọi
người, cười ỏn ẻn rồi hát:
Con chim trả, ai vay ai trả?
Bụi cây sưng, ai vả mà sưng?
Đây người dưng, đó cũng người dưng.
Cớ sao giọt thảm rưng rưng ướt tròng?
Bà Chín Thẹo lay vai con gái, khóc tức tưởi:
- Út, má đây con, tỉnh lại đi con.
Cô Út nguýt mẹ:
- Ai là con của bà? Tui đây là con của bà Chúa khúc sông Bà Lại. Chồng tui ở phủ
dưới đáy Cô Chiên, gần miệt vàm. Nhà chồng tui tường lót bằng kiếng soi mặt
sáng trưng, mái lợp ngói lưu ly xanh biếc, trước nhà có hai cây bông đá một trắng
một hường, cây nào cũng thiệt đẹp!
Bà Chín Thẹo khóc ngất, nhưng bà không hề xác nhận con gái mình mắc đàng dưới.
Bà Năm Tảo an ủi:
- Chiều mai ông nhà tui về. Để rồi chị em bà con mình sẽ hiệp sức lo chạy chữa
cho cháu. Chạy thuốc không hết thì chạy bùa, chạy ngải, cúng vái...
Chương 4
Xế hôm sau, ông Năm Tảo về tới nhà, được bà vợ thuật lại bịnh
tình cô Út Ngọc An nên ông liền qua nhà ông bà Chín Thẹo. Lúc đó cô Út đang nói
xàm, hát hò inh ỏi:
Tay tui che dù đầm, tay kia cầm quả banh
Chơn tui bước lên chùa, cửa chánh không vô.
Ông Năm Tảo bắt mạch cho cô Út. Rõ ràng là quỉ mạch chẳn sai, trong sáu bộ mạch,
chẳn có mạch nào hiện ra. Ông liền bảo gia chủ:
- Cháu Út không có ịnh chi hết. Đây là ma dựa, quỉ áp đó thôi. Anh chị nên hỏi
ý kiến pháp sư Chơn Huệ. Sư có nhiều bạn đồng tu ở miệt Năm non Bảy núi. Họ tu
theo Mật Tông có thể trục quỉ trừ tà. Phép ma rốt cuộc sao qua phép Phật!
Rồi ông ngận ngùi ra về. Ăn cơm tối xong, ông lên chùa Long Đức. Bệnh Bửu
thuyên giảm rất mau. Bây giờ cẩu đã chỏi hỏi ngồi ăn bột huỳnh tinh. Ông đợi cậu
ăn xong rồi bắt mạch. Sau đó, ông bảo pháp sư Chơn Huệ:
- Lạ dữ, bệnh của cậu Bửu nầy lui thật mau, triệu chứng lao cũng không rõ rệt
nũa.
Pháp sư Chơn Huệ chắp tay niệm Phạt rồi bảo người thầy thuốc thân thiết:
- Nghiệp dữ của cháu đã dứt, và cũng nhờ má cháu phò hộ nên dù bịnh quỉ bịnh
ma, bịnh trầm kha, bịnh nguy cấp cũng phải dứt. Điều đó thiệt tình tui không lấy
làm lạ chút nào hết.
Ông bà Bang biện Hưỡn sau khi làm đám giỗ cho bà mẹ ruột, liền giao nhà cho ông
bà Năm Đặng tức em gái và em rể của bà Bang biện, để cùng cậu Hai, cô Ba, cô Tư
đi về ngôi nhà đường của dòng họ ông mở tiệc khao cho cậu Hai Kinh lý. Bà Bang
biện cho mổ một con bò và hai con heo, làm tiệc đãi ăn suốt bốn ngày ròng rã.
Sau đó họ cùng về Cầu Đào. Tại đây có bác sĩ Lê Mạnh Mậu và trang sư Trần Hảo
Hiệp vừa đánh cờ vừa chờ rước vợ về nhà. Trạng sư Hiệp tuổi ngoài ba mươi, hơi
thấp người, thịt da săn chắc, mặt mũi khôi ngô, nụ cười có lúm đồng tiền. Hôm
nay ông mặc áo sơ mi trắng sọc nâu lợt, quấn tây bằng vải tít- so màu ngà, áo
vét cùng thứ vải với quần, cổ thắt cà- vạt vàng kẻ vạch nâu. Còn bác sĩ Mậu mặc
quần ga- bạc- đin màu cà phê sữa, áo bằng vải ba- tít trắng, không thắt ca- vạt
hoặc nơ bướm già ráo trọi.
Ông bà Bang biện Hưỡn hớn hở chào hỏi hai thằng rể và hối bày trẻ mang gà vịt,
bánh trái vào trong bếp.
Cô Tư Cẩm Lệ vừa thất chồng là đổi sắc mặt vui tươi thanh thản thành bộ mắt chù
ụ tối như đêm ba mươi. Cô bảo:
- Tui đã nói với mình, tui sẽ ở đây chơi với tía má tui năm bữa nửa tháng, luôn
tiện nhờ ông Năm Tảo coi mạch hốt thuốc. Mình rước tôi về làm chi?
Trạng sư Trần Hảo Hiệp gãi đầu, mặt khổ sở:
- Anh xuống Vĩnh Long thăm mình, mai anh về sớm.
Cô Ba Cẩm Tú bảo em rể:
- Tui xin cung hỉ dượng Tư. Con em tui có triệu chứng ốm nghén rồi đó.
Trạng sư Hiệp hỏi vợ:
- Có thiệt vậy không mình?
Cô Tư Cẩm Lệ:
- Ờ, thầy thuốc bắc ở chợ lách chẩn mạch nói em có thai được hai thÿng rồi. Em
cũng tin chắc em có thai, cứ tính theo kinh nguệt thì đủ rõ. Bà đồng cốt ở Cầu
Kè còn nói kỳ này em sinh con trai, rồi quen dạ đẻ tới chín lần.
Bác sỉ Lê Thạnh Mậu bảo:
- Chừng đó sẽ hay. Miễn sao kỳ tới dì sanh cho dượng Tư một thái tử cho dượng mừng.
Vợ trước của dưỡng chỉ sanh hai cô công chúa mà thôi, nên dưỡng đang đợi cậu
trưởng nam đặng nối dõi tông đường.
Bà Bang biện Hưỡn khuyên con trai và rể rửa mặt cho mát, rồi giục hai cô con
gái bắt hai con cá bông nấu cháo với giò heo.
Cô Ba Cẩm Tú khi vào bếp, bảo em:
- Tối nay anh Hai sẽ rước thầy Mười Khói đến đoán điềm giải mộng. Em nên o bế nồi
chè trứng gà nấu với trà và đường đen đi.
Cô Tư Cẩm Lệ bảo:
- Mấy hôm nay ăn tiệc nhiều phát ngán ngược, cho nên má mớ sai chị em mình nấu
cháo gà giò heo. Nghe tới trứng gà là em nhợn rồi, thôi để em nấu nồi che thưng
vậy.
Hai chị em cùng hai con tớ gái lúi húi làm bếp. Trời đã xế bóng. Ngoài mé rạch
xa, tiếng chim bìm bịp kêu văng vẳng. Bên thửa ruộng loáng nước, có tiếng cô thợ
cầy hò:
Cây độc không trái,
Gái độc không con,
Lấy chàng đã chín năm tròn,
Ai dè phận thiếp còn son sẻ hoài
Một mai chồng vợ lìa đời
Cậy ai cúng giỗ, cậy ai nối dòng.
Cô Ba Cẩm Tú bảo:
- Nè Tư, coi vậy mà em có phước hơn chị. Nếu em không có con đi nữa thì cũng có
lũ con ghẻ đó chi!
Cô Tư trề môi:
- Con ghẻ sao bằng con ruột? Em biết hai con quỉ cái đó không bao giờ ưa em, nếu
không nói rằng tụi nó thù em tận xương tủy. Thấy bản mặt tụi nó mà em ứ gan,
con lớn con nhỏ đều giống hệt con gái mẹ tụi nó.
Cô Ba dịu giọng:
- Em đừng hà khắc với tụi nó mà mang tiếng mẹ ghẻ ác độc. Tụi nó cũng đã mười bốn
mười lăm rồi, em phải nới tay cho tụi nó mới được.
Cô Tư rùn vai:
- Chị chưa đút đầu vô cảnh mẹ ghẻ con chồng nên chị chẳng biết gì ráo trọi! Hai
đứa con ghẻ của em giống con gái mẹ tụi nó, lầm lì, cứng đầu cứng cổ, sâu hiểm
khôn lường...
Cô Ba nhẹ nhàng:
- Nếu chị không lầm, vợ trước của dựng Tư địu dàng mềm mỏng lắm.
Cô Tư Cẩm Lệ xí một tiếng dài:
- Ở xa ngó qua tưởng là Bồ tát, tới chừng lại gần thì quỉ La sát không sai.
Trong khi cô Tư chặt giò heo thành từng khúc, cô Ba đơm bốn chiếc đĩa quả tử
nào xoài, đu đủ, mãng cầu, mận, chuối cau, bánh ích, bánh in, bánh đậu xanh...
để đặt trên cổ bồng mỗi bàn thờ.
Cô Tư Cẩm Lệ kể lể:
- Mụ ta muốn hại em nên em phải trở cờ lật ngược đòn phép của mụ - Tới đây cô
ngập ngừng - Mà thôi, mụ cũng đã nhắm mắt lìa đời rồi, em không muốn nhắc lại
chuyện cũ làm chi.
Khi con lý đi mua bún tươi về thì con Lài đã làm xong hai con cá bông lớn. Cô
Tư cẩm Lệ bắt đầu nấu cháo trong khi cô Ba sắp bún ra đĩa và xắt rau ghém trước
khi làm món tương chấm. Có mặt hai con tớ gái, hai cô không dám bàn chuyện gia
đạo nữa.
Ở nhà trên, bà Bang biện Hưỡn vừa têm trầu vừa suy nghĩ. Mới hồi sáng, khi ghe
bà vừa chèo ra khỏi vòm sông thì một con cá úc từ dưới nước phóng lên khoang
ghe dãy đành đạch rồi nằm ngửa phơi cái bụng trắng nõn. Cậu Hai Luyện săm soi
con cá bạc phước kia rồi nói gọn: "Nó chết rồi". Chim sa cá lặn nói
lên vẻ đẹp của các mỹ nhơn nước Tàu, còn chim sa cá lụy đây báo điềm xui xẻo
cho gia đình bà, chẳng biết ứng vào ai? Ờ ờ, chắc là nó ứng vào thằng con ghẻ
bà. Nó bệnh lao vào tuổi mới lớn, chắc chắn Ngọc Hoàng sẽ giũ sổ nó trong vòng
hai năm sau.
Ngay lúc đó thằng Đực từ bên chùa Long Đức về. Nó thưa với ông bà Bang biện Hưỡn:
- Thưa ông bà, bịnh cậu Bửu mười phấn giảm hết chín rưỡi. Con nghe ông thầy Năm
nói chứng lao sái của cẩu cũng chỉ mập mờ.
Thầy thuốc Tây Lê Thạnh Mậu cười khì:
- Tui không tin. Bịnh lao là bịnh nan y, làm sao mà bịnh nhơn bình phục mau lẹ
dường ấy. Họa chăng là bịnh gì đó mà ông Năm lầm là bịnh lao chăng?
Cậu Hai Luyện bảo:
- Ai biết đâu! Tui chỉ thấy bây giờ nó chỏi hỏi, ăn cơm lìm lịm.
Bà Bang biện Hưỡn têm trầu thiệt kỹ. Đó là động tÿc để bà che giấu cơn bối rối
của mình. Chu choa ơi, nếu thằng Bửu không chết thì cái điềm tre già trổ bông nọ
cùng cá lụy chim sa kia ứng vào bổn mạng của ai trong vòng chồng con bà? Lại nữa,
lúc Bửu đang cơn bịnh ngặt, bà liền giao cậu ta cho phÿp sư Chơn Huệ, kể như bà
đã thí một con chốt mà chẳng hốt được con xe nào trong ván cờ tướng. Vậy là bà
mất một cách oan uổng tên tớ trai để sai vặt. Lam sao bà đòi Bửu lại được đây? Ừ,
thôi thì bà đành mặt trơ trán bóng, mặt chai mày đá để bắt lại đứa con ghẻ
siêng năng giỏi dán, mặc lời ong tiếng ve, kệ sấm sét búa rìu dư luận. Bà tin
chắc em chồng bà cũng phải nể nang uy lực của chồng con bà mà nhượng bộ.
Khi cả nhà ăn cơm xong thì bóng trăng mập nõn nà treo trên cành lá của cây mít
tố nữ. Vợ chồng cô Ba Cẩm Tú chưa về vội. Còn cô Tư Cẩm Lệ đốc thúc con Lài con
Lý chuẩn bị trà nước, hễ thầy đoán điềm giải mộng tới thì phải múc chè ra chén
và châm trà vào bình. Hai cô Cẩm cùng đi rửa mặt, chải tóc cho có vẻ sáng mát
tươi tỉnh đôi chút.
Thầy Mười Khói tuổi trên sáu mươi, nhưng mặt chưa nhăn nhiều, khuôn mặt hí hửng
như mặt hề, mắt hấp háy, nụ cười rộng toàng hoạc. Hễ mỗi khi thầy cười thì đuôi
mắt thầy bẻ cúp xuống coi thiệt tức cười.
Chè và trà bánh dọn lên. Cậu Hai Luyện đốt đèn măng- sông thay thế cây đèn huê
kỳ đật giữa trung đường. Sau màn che bánh, đờn ông cùng thầy Mười Khói chia
nhau ngồi trên hai chiếc trường kỷ đặt hai bên chiếc bàn dài. Bà Bang biện cùng
hai cô con gái ngồi trên chiếc đi- văng chơn quỳ đặt bên trái trung đường.
Ông Bang biện Huỡn vô đề sốt dẽo:
- Chẳng dấu gì thầy Mười, lóng rày gia cảnh tui có nhiều điềm lạ. Trước hết là
cây tre ở sau nhà trổ bông.
Thầy Mười Khói ngon lành:
- Trẻ già thì trổ bông để chết, chẳng có điềm gì ráo đối với gia đình tu nhơn
tích đức. Còn đối với gia đình thường thường, hễ ai trồng cây tre đó thì người
đó gặp xui xẻo, có khi tánh mạng lâm nguy.
Bà Bang biện Hưỡn vui mừng:
- A di đà Phật. Cây tre đó do má chồng tui trồng đó đa. Nhưng bà đã ngủm từ tám
chín năm nay rồi. Còn chim sa cá lụy thì ứng vô điềm gì đây?
Thầy Mười Khói gãi đầu ra chiều suy nghĩ lung lắm:
- Đó là điềm tang tóc. Hễ chim sa, cá lụy vào giờ nào thì người trong gia đình
mang tuổi cùng tên với giờ đó sẽ vong mạng.
Cả nhà đều buồn rầu lo lắng. Thầy Mười Khói an ủi:
- Ông bà nên nhờ thầy chùa cô vãi tụng kinh Cầu An và kinh Dược Sư rồi tới ngày
rằm ngày vía đức Địa Tạng Vương Bố Tát nên mua chim cá về phóng sanh thì tai nạn
dầu lớn cách mấy cũng nhẹ bớt đi nhiều.
Bà Bang biện thành khẩn:
- Cám ơn thầy có lời khuyên bảo. Vợ chồng tui sẽ làm đúng lời thầy chỉ dạy.
Cô Ba Cẩm Tủ đợi cho cuộc đoán điềm lắng dịu và thoảng lui, liền rời khỏi bộ
divan chơn quỳ, bước tới sau lưng chồng, nói với thầy Mười Khói:
- Thưa thầy, tui có giấc chim bao lạ lắm. Tui thấy mình nuốt hột trái xá lị,
nhưng từ rún tôi xịt ra luồng khói mỏng. Khói bay lên trời tụ lại thành mây. Rồi
con trốt nổi lên, đánh giạt cho mây rời rã. Chẳng biết điềm gì đây?
Thầy Mười Khói hớp một ngụm trà Liên Tâm, có vẽ lưỡng lự:
- Cái hột tượng trưng cho dòng giống. Giống trái xá lỵ tức là giống trái lê, bởi
vì người Bắc kêu trái xá lỵ là trái lê. Giống họ lê chui vô bụng cô rồi thì
cũng rã rời như khói như mây. Kỳ đậu thai tới. thai nhì vừa tượng hình thì cũng
không có dịp chào đời sau chín tháng mười ngày.
Cô Ba Cẩm Tú xụ mặt, trở về bộ divan chơn quỳ, không nói không rằng. Cô Tư Cẩm
Lệ vẫn ngồi tên divan, cất tiếng rổn rảng hỏi thầy Mười Khói về giấc mộng con rắn
chui vô bụng cô rồi chui ra tới chín lần, lần sau nó cắn bụng cô cho tới nát bấy.
Thầy bảo:
- Đây là thai quỉ, thai yêu. Cô coi chừng con ranh con lộn khuấy phá cô đó. Hễ
tới chín lần là nó hại cô cho tới mạng vong.
Bà Bang biện Hưỡn hứ một tiếng bất bình rồi tuột xuống divan, hằn học liếc xéo
thầy Mười trước khi phủi đít, ngoe ngoảy bỏ vô nhà trong.
Khi ba mẹ con bà Bang biện Hưỡn vừa vô nhà trong thì con LÝ bưng lên hiệp trà
sâm cho cả ba giải lao. Cô Ba Cẩm Tú cằn nhằn mẹ:
- Mà nóng nảy quá, chưa chi làm hư bột hư đường ráo trọi. Mộng điềm xấu như vậy
thì mình nên nhờ thầy Mười Khói chỉ cách cúng vái để hóa giải bớt điềm hung tướng
ác, cớ sao má vùng vằng bỏ vô nhà ra cái điều hờn lẫy như vậy?
Bà Bang biện liếc xéo con gái:
- Thằng cha đó có cái miệng nói xàm, bây tin thằng chả có ngày bán lúa giống!
Mai, tao sẽ sai thằng Đực thỉnh thầy Bảy Lục và cô bóng Mười Hai về đây cúng trừ
họa căn.
Cô Bà và cô Tư không nói gì thêm. Sau đó, gần tới nửa đêm, thầy Mười Khói từ giả
ra về. Cô Ba Cẩm Tú cũng theo chồng về nhà riêng ở bên cầu Lầu. Cậu Hai Luyện
liền hạ đèn măng- sông xuống, đố đèn huê kỳ lên rồi mới xả hơi đèn măng- sông để
tắt. Cô Tư Cẩm Lệ mời chồng đi rửa ráy mình mẩy và súc miệng. Cô còn mở tủ cẩm
lai lấy chiếc gối nhiều màu cánh sen thêu bông mẫu đơn trắng bày lên chiếc giường
của cô để chốc nữa chồng co kê đầu.
Bà Bang biện Hưỡn khi về buồng riêng, bảo chồng:
- Nghe nói thằng Bửu giờ đây đã mạnh rồi, ông liệu cách nào bắt nó về đây. Tui
nuôi nó, tui mến nó. Để nó ở chùa ăn chay lạt, sống kham khổ, tui không đành
lòng.
Ông Bang biện e dè:
- Hồi nào bà nói vời thầy Chơn Huệ giao đứt thằng Bửu cho thầy, bây giờ bà còn
mặt mũi nào đòi nó lại?
Bà Bang biện háy chồng:
- Được rồi tôi sẽ nghĩ ra kế bắt nó về hủ hỉ với vợ chồng mình. Chuyện nầy là
chuyện của tui, không mắc mớ gì tới ông, ông chớ bàn ra làm chi.
Ông Bang biện cười:
- Ừ, bà làm sao cho vuông tròn thì thôi tui hơi sức đâu nghĩ tời mầy chuyện lặt
vặt đó. Tôi đã làm trành làm tréo mua được tám mẫu đất của anh Hương bộ Lạc tại
Phước Hậu, giá chỉ có bốn ngàn đồng. Khi chồng tiền, làm giấy tờ xong, tui sẽ
đi đóng bách phần đất. Hễ xong vụ cắt đất, tôi mới rành tâm rảnh trí lo ứng cử
hội đồng quản hạt.
Vụ đất cát kể như xong, nhưng vụ ứng cử hội đồng ông thấy sao bấp bênh. Mấy tay
ứng cử viên khác nếu không có bà con trong soái phủ Nam Kỳ thì cũng có bạn bè lẫn
tay trong tay ngoài với những thế lực lớn như ông Chánh tham biện tỉnh nhà, ông
phủ nầy, ông đốc phủ nọ... Chuyên lo kế iếp của ông là nhờ Cai tuần Xướng, kẻ
nha trảo tâm phúc của ông, làm sao cho ông có dịp ân ái với cô vợ chửa của Cai
tuần Hạp. Ông chỉ thích ăn nằm với đàn bà chửa từ ba tháng tới năm tháng. Cái
thai lớn vừa phải thì ông ham nhưng cái bụng bự chang bang của đàn bà mang bầu
từ bảy tháng sắp lên thì ông không hứng thú chút nào.
Khi trống vừa điểm canh ba thì khắp nhà yên lặng gắt. Thỉnh thoảng có tiếng các
kè ở chiếc miễu nhỏ cuối xóm vọng sang. Cô Tư Cẩm Lệ bắt đầu đay nghiến chồng:
- Tui không về nhà đâu! Bà già cứ trấn ngự nơi đó làm tui không dám ho lớn. Chừng
nào bả trở về Thủ Dầu Một thì tui mới dám xách va- li về nhà.
Luật sư Trần Hảo Hiệp than:
- Em ở lì đây lâu quá, đồ khỏi bà già nghi em giận bả.
Cô Tư cười khẩy:
- Bả nghi trúng đó, mình à. Ối, cứ để bả nghĩ sao cũng được. Mình là thầy kiện,
giỏi khoa cãi lý biện hộ, mình liệu lời nói với bả cách nào để trong ấm ngoài
êm thì nói. Em bây giờ chán đời quá, ở đây hủ hỉ với tía má em được lúc nào hay
lúc nấy. Lại nữa, hai đứa con ghẻ coi bộ muốn chống đối trả treo với em rồi đó.
Luật sư Hiệp cười:
- Làm gì có chuyện đó! Tụi nó trước sau vễn yêu kính mình như má ruột tụi nó.
Cô Tư Cẩm Lệ rùn vai:
- Mình nói thì mình tin. Hai con đó... trời biển lắm. Mình phải để tui uốn nắn
kẻo có ngày vợ chồng mình nuôi thứ cháu ngoại không cha.
Hai vợ chồng cùng trèo lên giường. Cô Tư Cẩm Lệ mãi tới đồng hồ Oét- minh- tơ
gõ hai tiếng mà vẩn không sao đỗ giấc nồi. Lời giải mộng của thầy Mười Khói cứ
ám ảnh cô hoài. Bốn bề yên tĩnh. Ngoài hè, tiếng côn trùng sôi lên từng chặp.
Thỉnh thoảng có tiếng dế gáy sương. Trên vách ván quét vôi trộn a dao màu trứng
sáo, con thằn lằn chắc lưỡi từng loạt ngắn, dội sâu và cái thăm thẳm của đêm
khuya.
Cô Tư Cẩm Lệ bỗng cảm thấy đầu nặng. Cơn váng vất làm cô thấy chung quanh tối
đen. Ánh đèn chong như lùi xa vào tận đáy vựa thẳm nào. Bổng có tiếng chì chiết:
- Con giựt chồng người! Con sát nhơn!
Trước mặt cô hiện ra một người đờn bà mặc quần áo trắng, óc xõa dã dượi. Bà ta ốm
nhom như con khô cá hố, da dẻ xanh chành, ánh mắt long lên sòng sọc. Người đờn
bà nghiến răng:
- Con kia! Mầy biết tao là ai không?
Cô Tư Cẩm Lệ thều thào:
- Chị Tư Thục!
Người đờn bà gằn từng tiếng:
- Phải, tao là Tư Thục, người phối của thầy kiện Trần Hảo Hiệp đây! Mầy lấy chồng
khính của tao, làm cho chồng tao lợt lạt với tao. Sau đó mầy còn hại tao tới chết
oan chết ức.
Cô Tư Cẩm Lệ ngồi bẹp xuống lạy cô Tư Thục lia lịa:
- Lạy chị Tư, bởi vì em biết chị Tư ếm em nên em phải ra tay trước. Giờ đây, chị
đến đòi mạng em, em xin chị nghĩ chút tình cũ hồi chị em mình còn chung sống
hòa hiệp thuận thảo mà buông tha cho em nhờ. Bởi chị dồn em vô ngõ bí nên em lỡ
tay hại chị.
Hồn cô Tư Thục bảo:
- Thiệt tình tao có nhờ thầy pháp thư ếm cho mầy lìa xa chồng tao. Đó cũng chỉ
là việc bảo vệ hạnh phúc của bất cứ người đờn bà nào bị san sẻ tình chồng vợ.
Tao cho mấy biết, mầy đừng mong ăn đời ở kiếp với chồng tao. Rồi đây mầy sẽ bị
kẻ khác giựt chồng. Đó chỉ là cái hoa báo, còn quả báo thì ly kỳ rùng rợn lắm,
có vậy thiên hạ bá tánh mới lấy cái gương tối độc phụ nhơn tâm ra để soi rọi
đêm ngày. Hoa báo trổ trước, quả báo tượng hình sau... nghe chưa con sát nhơn?
Cô Tư Cẩm Lệ giựt mình dậy trống vừa điểm canh tư. Bên ngoài, ánh trăng tái ngắt
lòn qua khe cửa lá sách. Chim heo kêu eng éc sau vườn nhà. Cô lăn qua nửa vòng,
nằm nghiêng về phía trái lắng nghe tiếng tim đập mạnh trong lồng ngực. Một ý thức
sáng lòa trong đầu óc cô: mình phải gồng mình đối phó với những diễn biến trầm
trọng trong những ngày sắp tới.
Các đây ba năm, giữa lúc hai bà vợ lớn vở nhỏ ông thầy kiện Trần Hảo Hiệp cồng
chung dưới một mái nhà ở Đa Kao Đấy Hộ ra vẻ thuận thảo lắm thì một hôm con
Đương, đứa ở gái của cô Tư Thục tiết lộ với cô Tư Cẩm Lệ:
- Nè cô Tư, em nói ra đây để cô đề phòng. Bà lớn ((chỉ cô Tư Thục) hay về Phú
Nhuận để lập bàn trù ẻo ông chủ và cô.
Nguyên cô Tư Thục là con ông bà Huyện Tịnh ở Phú Nhuận. Cô Thư Thục vốn hiền
lành khờ khạo, hễ gặp chuyện gì trục trặc cũng về nhà tía má cô vấn kế. Con Đường
tuy là tớ gái thân tín của cô Tư Thục nhưng nó bị cô Tư Cẩm Lệ bỏ tiền ra mua
chuộc để thuê nó dò la cô chủ đã từng hết lòng tin cậy nó. Thế rồi nhờ con
Đương, cô Tư Cẩm Lệ móc nối Chín Đáng, mụ nấu bếp của ông bà Huyện Tịnh để dò
biết rằng bà Huyện Tịnh đã đến quận lỵ Tịnh Biên tỉnh Châu Đốc nhờ tên Thổ Sơn
Eng lập cách trù ếm luật sư Hiệp và cô. Mụ không biết mục đích của cuộc trù ếm
đó, chỉ biết rằng bà Huyện Tịnh mang vế hai cái hình nhơn bằng sáp. một đờn ông
và một đờn bà. Bà cho hai cái hình nhơn đó đâu lưng với nhau, đặt trên bàn thờ ở
căn buồng gần kho chứa nông cụ. Mỗi ngày bà vào căn buồng đó, thắp đèn nhang, đọc
thần chú Miên rồi kêu tên Trần Hảo Hiệp và Tư Cẩm Lệ bảy lần. Mỗi khi rời
phòng, bà đều khóa cửa cẩn thận.
Thiệt tình khi nghe Chín Đáng báo cáo, cô Tư Cẩm Lệ hoang mang sợ sệt lắm. Hèn chi
trọn tháng rồi, thầy kiện tỏ ra bẳn gắt với cô và hễ đi làm về là chỉ quấn quít
với vợ cái con cột của ổng. Mà hễ một khi ngủ trong buồng co là thầy lại bị chứng
xây xẩm, có khi rên la vì nhức đầu. Do đó cả hai không thể ân ái được.
Cô Tư Cẩm Lệ nhứt định phải trả đũa. Cô lựa lời bảo chồng và cô Tư Thục:
- Má em bị chứng ban trắng, nhà lại neo người. Xin anh chị cho em về Vĩnh Long
săn sóc má em một thời gian. Chừng nào bả chỏi hỏi, em sẽ về đây.
Khi về tới Cầu Đào, cô Tư Cẩm Lệ khóc kể việc trù ếm vơi bà Bang biện và cô Ba
Cẩm Tú. Bà Bang biện bàn tận gốc ý nghĩ của mình:
- Giờ đây con Tư Thục trù ếm cho thằng thầy kiện và mầy xa lìa nhau. Nhưng mầy
nên nhớ con Tư Thục không vừa đâu. Cứ coi tướng mạo của cỏn, tao biết đây là thừ
đờn bà khẩu Phật tâm xà, sâu hiểm khó lường. Một khi nó trù cho duyên tình giữa
mầy và thằng thầy kiện keo rã hồ tan rồi thì nó có ngại ngùng gí mà không thư ếm
cho mầy vong mạng để báo thù cái chuyện mầy lấy chồng khính của nó. Tốt hơn, mầy
phải ra tay trước để tránh hiểm họa về sau. Tiên hạ thủ vi cường, ông bà mình
thường dạy như vậy, chẳng sai chút nào!
Bà dắt cô Tư Cẩm Lệ đi Tịnh Biên, tìm tới nhà vợ chồng người Miên chuyên về thư
ếm, chồng tên Thạch Lợn, vợ tên Cà Nựng. Chồng làm nghề nắn đồ gốm, vợ thì sáng
sáng gánh bún nước lèo ra bán ngoài chợ.
Khi cô Tư Cẩm Lệ trở về Sài gòn thì cô Tư Thục đã bị lớn bụng. Đúng như lời cam
đoan của Thạch Lọn, trong bụng cô Tư Thục đã có miếng da trâu dày cụi. Thạch Lọn
làm phép cho miếng da trâu ấy nhỏ cỡ hột bụi, đem gắn vô tờ giấy trắng, bỏ bao
thơ gởi cho bà Nguyễn Trinh Thục. Khi cô Tư Thục nhận được lá thơ, khui phong
bì, hột bụi đó bay trong không khí quanh quẩn theo cô. Khi cô hả miềng là nó chạy
tọt vô miệng cô để xuống tận bao tử cô, bắt đầu nở ra, lấy lại tầm vóc cũ. Suốt
bốn ngày cô Tư Thục đau đớn vì miếng da trâu kia. Cô mửa ra từng lọn máu, đi cầu
cũng ra máu. Máu cứ theo miệng và hậu môn thoát ra ngoài, vắt khô sinh lực cô.
Đến ngày thứ năm, cô Tư Thục trút linh hồn. Phép thư của Thạch Lọn đã giúp cô
Tư Cẩm Lệ trừ được tình địch và đưa cô lên địa vị chủ phụ gia đình luật sư Trần
Hảo Hiệp. Ông ta có hứa nếu cô sanh cho ông một cậu quí tử thì sẽ làm hôn thú với
cô, nâng cô lên hàng chánh thất.
Cô Tư Cẩm Lệ đôi lúc thấp thỏm không an. Cái chuyện "tiên hạ thủ vi cường"
đó có thê đi quá xa. Chắc gì cô Tư Thục có ý hại cô cho tới tuyệt mạng? Cho nên
cô đâm ra sợ hai đứa con ghẻ. Tụi nó có khuôn mặt giống hệt cô Tư Thục. Ngày
nào tụi nó còn chàng ràng trước mặt cô, cô còn bị ám ảnh bởi người chết, có cảm
tưởng người chết hiện hồn về đòi mạng. Lại nữa, chúng có vẻ hỗn xược, lì lợm,
lúc nào cũng như sẵn sàng ứng chiến với cô. Bởi đó cô phải
đày đọa, xéo xắt chúng một cách ồn ào, để lương tâm bị những bận rộn huyên náo
kia không có thời giờ cắn rứt cô, để bóng ma cô Tư Thục không có cơ hội ám ảnh
cô.
Cô Tư Cẩm Lệ duỗi chơn tay, thở từng đợt dài. Tuy tâm trí cô bị dày vò bởi giấc
chiêm bao vừa rồi nhưng vẫn dễ ngủ, chỉ một lát sau cô đã bắt đầu ngáy se sẽ.
Trong cơn chiêm bao hứ hai, cô thấy mình cùng cô Ba Cẩm Tú đứng trước cây da xà
ở xóm Chuồng Gà. Lúc bầy giờ trăng sáng trải khắp bãi đất trống ven sông. Sông
gợn sóng bạc sóng vàng lấp loáng. Bên kia sông, lò rèn đốt đèn leo lét và lửa
trui sắt cháy đỏ rực trong lò. Dưới bến sông bên này bãi đất, xuồng câu tôm đốt
đèn tán chai, chấm lửa vàng khè cỡ hột đậu phọng. Hai chị em cô Cẩm đứng trên dấu
cầu nhủi. Cô Ba Cẩm Tú bảo em:
Khuya quá rồi, vạy mà gia đình người thợ rèn bên kia sông cũng còn làm việc.
Cô Tư Cẩm Lệ chợt giật mình bảo chị:
- Ừ, khuya quá rồi, sao chị em mình còn thơ thẩn ở đây?
Bỗng trong tàn cây da, có tiếng lanh lảnh vọng ra:
- Hai con kia, bây toa rập với hàng anh sở khanh khốn kiếp của bây gạt tao uống
thuốc phá thai làm tao phải vong mạng. Sát nhơn thì giả tử. Nhưng tao không làm
bay chết đâu! Bây phải sống không ra sống, chết không ra chết, khổ sở khốn nạn
nhiều phen tao mới đã nư cho...
Từ trên cây da, một bóng trắng tuột xuống. Đó là một người đờn bà bận đồ trắng,
tóc bỏ xõa, dáng ẻo lả. Y thị tiến về phía hai cô Cẩm, mắt trợn trắng xác, miệng
mím chặt. Cô Tư Cẩm Lệ toan kéo chị mình chạy trốn nhưng chơn cẳng cô như bị
chôn cứng, hai cánh tay tê liệt. Hồn ma hét:
- Tía mà bây là quân cường hào ác bá. Anh em bây là phường lang tâm cẩu hạnh.
Lưới trời tuy thưa nhưng khó lọt. Bây có chạy xa bay cao cũng khó mà tránh được!
Y thi xốc lại ghịt tóc hai chị em. Cô Tư Cẩm Lệ la bài hải, lọt ra khỏi cơn ác
mộng. Thầy kiện Trần Hảo Hiệp ôm chặt lấy vợ, ân cần han hỏi:
- Cưng nằm chiêm bao thấy chuyện gì mà khóc lóc la hét om sòm dữ vậy? Coi kìa,
mình mẩy em lạnh ngắt như ướp nước đá.
Cô Tư Cẩm Lệ còn run lẩy bẩy. Tuy nhiên cô nói trớ:
- Ối, chiêm bao bị tầm ruồng, hơi đâu em nhắc lại.
Ánh ban mai trắng đục lòn qua khe cửa lá sách. Luật sư Hiệp buông vợ ra, vươn
vai ngáp rồi bảo:
- Dùng điểm tâm xong, anh sửa soạn về Sài gòn.
Cô Tư Cẩm Lệ soạn khăn mặt, xà bông, bàn chải chà răng, phấn đánh răng cho chồng
làm thủ tục buổi sáng. Riêng cô, cô chải sơ mái tóc, thay chiếc áo túi cụt tay
vải ba- tít trắng bằng chiếc áo bà ba lụa tím rồi xuống bếp.
Tại căn bếp bà Bang biện Hưỡn đang trông coi con Lài con Lý sửa soạn bữa điểm
tâm. Cô sai con Lài:
- Lài, sẵn nước sôi, mầy pha cho tao ly cacao sữa uống chơi. Nhớ chế sữa hộp ít
ít thôi.
Bà Bang biện đang hấp bánh ướt nhưn tôm khô. Trên chiếc chỏa lò lớn, cháo bồi
đang sôi trong chiếc trả lớn bằng đất mỏng. Bả bảo cong ái:
- Món cháo bồi nầy má nấu bằng bột báng chớ không bằng bột gạo nàng hương. Tôm,
thịt, cá bông, môn ngọt cắt khúc, đủ hết...
Cô Tư Cẩm Lệ hỏi:
- Bữa điểm tâm thịnh soạn như vầy, chắc là nhà có khách?
Bà Bang biện:
- Có ai đâu lạ, Chỉ có chồng của mầy. À, mới hồi tảng sáng con Ba có sai con ở
qua đây biếu má một thố cá chái kho mẳn để dành ăn với bún. Nó có nhắn lát nữa
nó qua Hạnh Huê Đường bổ thang thuốc bắc cho má chồng nó, sẵn dịp nó ghé đây ăn
lót lòng luôn.
Cô Tư không nói gì. Cô uống từng ngụm sữa pha cacao, lòng bàng hoàng về lời
đoán mộng của thầy Mười Khói và hai giấc chiêm bao vừa qua. Trước mặt mẹ, cô
không dám để lộ cái lo sợ của mình ra. Chùng nào chồng cô rời khỏi nơi đây, cô
sẽ tỏ rõ mọi sự cho mẹ hay để đối phó.
Qua tấm vách mắt cáo của căn bếp, mọi người nhìn ra có thể thấy xẻo dừa nước
đang ngập nước lai láng. Ven bờ xẻo, cây khế trổ rực rỡ hoa tím. Giáp mé nước,
bầy vịt xiêm đang lặn ngụp tìm mồi. Tại sàn nước, thằng Đực đang chùi rửa bộ đồ
trà bằng xơ dừa và tro mặn. Còn thằng Xiêm đang cho mấy con gà sao, gà lôi ăn
lúa...
Bà Bang biện Hưỡn nói vọng ra:
- Xiêm! Đực! Lát nữa tụi bây xẹt qua chùa Long Đức bạch với thầy Chơn Huệ rằng
giờ đây cậu Bửu đã mạnh giỏi trở lại, xin thầy cho cậu về nhà, vì cậu Hai Kinh
Lý tụi bây đang nhớ thương cậu Bửu, không đành lòng xa cẩu. Bây cứ tom hết quần
áo cậu Bửu đem về đây cho tao.
Cô Tư Cẩm Lệ xững vững bảo mẹ:
- Má làm gì kỳ vậy? Má không sợ thầy phiền sao?
Ba Bang Biện Hưỡng:
- Mầy nói niếc! Thầy là kẻ tu hành. Thầy mà phiền tao thì làm sao thầy tu hành
tinh tấn cho đặng? Tao già rồi, hai thứ tóc trên đầu rồi, đừng có dạy khôn tao,
vô ích lắm!
Vừa lúc đó cô Ba Cẩm Tú từ nhà trên bước xuống, tay cầm dù, tay ôm bóp đầm da
láng. Cô mặc chiếc áo bằng lụa tầm màu nguyện bạch thêu bông cúc tím lớn cỡ đồng
xu. Cô bảo mẹ:
- Con đã bổ thuốc rồi. Con tới đây cho kịp ăn sáng.
Rồi cô quay qua bảo cô Tư Cẩm Lệ:
- Em ra ngoài hè, chị có chút việc muốn bàn với em.
Khi hai chị em cùng đi song song dưới hàng cây phù quân, sa bô chê, cô Ba Cẩm
Tú bảo:
- Em ơi, đem qua chị nằm chiêm bao thấy hai chị em mình trong đêm trăng đứng ở
đầu cầu nhủi, gần cây da xà. Lúc đó con Út Thoại Huê từ cây da xà tuột xuống
đòi mạng. Rồi nó xốc lại ghịt tóc hai chị em mình.
Cô Tư Cẩm Lệ tái mặt, nắm chặt tay chị:
- Đêm qua em cũng nằm mộng như vậy. Trong chiêm bao, em còn thấy cái lò rèn bên
kia sông. Lúc đó chị có nói câu: "khuya quá rồi, vậy mà gia đình người thợ
rèn hãy còn làm việc".
Cô Ba Cẩm Tú thảng thốt:
- Đúng vậy, chị có nói câu ấy. Còn em, em nói: "Ừ, khuya quá rồi, sao chị
em mình còn thơ thẩn ở đây?"
Hai chị em nhìn nhau, có cảm tường sắp bị đưa lên máy chém. Té ra cả hai cùng nằm
chiêm bao chung, cùng gặp gỡ nhau trong cõi ác mộng.
Cô Ba Cẩm Tú ngồi phệt xuống gốc cây phù quân, nước mắt tuôn như suối. Cô rên rỉ:
- Chị sợ lắm em ơi! Làm sao bây giờ đây?
Cô Tư Cẩm Lệ ngồi gần bên chị:
- Phải tỏ bày tự sự cho má hay. Hồn oan dẫu có muốn khuấy phá mình, nếu gặp thầy
pháp cao tay ấn thì cũng không làm trò trống gì được.
Cô Tư Cẩm Lệ thuật lại giấc chiêm bao ban đầu cho chị mình nghe. Cô buồn thảm:
- Tình cảnh em còn khó khăn gấp đôi ba tình cảnh chị nữa. Em có tới hai oan hồn
đòi mạng.
Hai chị em cùng lau nước mắt trở vô bếp. Bà Bang biện Hưỡn quét cặp mắt tò mò
khắp mình mẩy hai cô con gái cưng, quở:
- Bây làm giống gì mà như bàn bạc hội kín vậy? Thôi, lên nhà trên dùng điểm tâm
với cả nhà.
Bàn ăn hình hột xoài bằng ỗ cẩm lai, mặt nạm đá hoa cương trắng bóng, có trải nắp
bàn bằng vải trắng thêu đục lỗ. Giữa bàn là chiếc thố lớn đựng cháo bồi, kế bên
là hai dĩa bàn hình hột xoài đựng bánh ướt tôm khô. Lại còn thêm một dĩa bàn
thiệt lớn đựng trứng gà chiên ốp la.
Mọi người vừa ngồi vào bàn thì con Lý đem bình cà phê và bánh mì lên. Mọi người
bắt đầu dùng cháo trước hết, sau đó mới qua bánh ướt. Bà Bang Biện Hưỡn bảo chồng:
- Tui đã bắt thằng Bửu về được rồi. Ai dè thầy Chơn Huệ không làm khó dễ gì hết.
Thôi vậy cũng mừng.
Cả nhà không ai nói gì thêm. Sau cùng thầy kiện Trần Hảo Hiệp hỏi mẹ vợ:
- Sao cậu Bửu không ra ăn sáng luôn?
Bà Bang Biện:
- Kệ nó, để nó ăn chung với tụi thằng Xiêm, thằng Đực cũng được mà.
Và như chợt nhớ ra, bà dặn chồng:
- Kỳ góp lúa vừa rồi, thằng Cai tuần Ích, thằng Thường xuyên Học trộn nhiều trấu
vô lúa. Kỳ tới ông phải bắt tụi nó giê lúa vô vịm nước, hễ thấy còn trấu nổi
lên là ông phải bắt tụi nó giê lại cho thiệt sạch. Ông cứ ỷ y với tụi tá điền
tá thổ, có ngày bị tụi nó bán đứng chớ không chơi đâu!
Cậu Hai Luyện hỏi mẹ:
- Chốc nữa má có đi chợ không?
Bà Bang biện nhìn cậu Hai:
- Không. Má đi ra Cầu Dài để đòi nợ. Con vợ thằng Năm Kình cứ hẹn lữa mà chưa
trả tiền lời. Không lẽ hăm he nó hoài hay sao. Phen nầy má xiết đồ đạc cho nó tởn.
Rồi bà hỏi cậu con trai cưng:
- Mà con hỏi chi vậy?
Cậu Hai trả lời:
- Hôm nào má đi chợ, con sẽ đưa má tới nhà bà Huyện Huỳnh Kim Lầu coi cặp bông
tai nhận hột xoàn. Con không ránh giá trị của ngọc nên không dám thương lượng
giá cả với bả.
Bà Bang biện Hưỡn:
- Má bằng lòng mua hột xoàn cho con, nhưng nếu con muốn dùng đôi bông để cưới vợ
thì má có sẵn một đôi hột ba ly rưỡi. Còn hột cỡ năm ly sắp lên thì con nên để
làm của hộ thân.
Chương 5
Bửu trở lại kiếp tôi đòi như cũ. Trong mấy ngày đầu, bà Bang
biện Hữu còn nới tay với cậu con trai đáng thương kia, tức là chỉ xay lúa, giã
gạo mà thôi. Sau đó bà trở về tật cũ, bắt cậu bồi líp, móc,ương, tát nước vào
ruộng. Hễ gặp chuyện bực bội, bà trút giận vào cậu, roi vọt, tát vả thường đi
song song với lời mắng chửi.
Pháp sư Chơn Huệ sửa soạn đi núi Cô Tô,. Trước khi đi, sư cho chú tiểu Như Pháp
tìm đến Bửu trấn an:
- Thầy dạy tui khuyên em nên ẩn nhẫn một hoặc hai tháng. Cái ác quả em cần phải
trả cho sạch. Chừng đó, sư điệt của thầy là cô Thiệt Nguyện sẽ giúp em đi theo
thầy.
Trước khi đi về miền năm non bảy núi, pháp sư Chơn Huệ có đến thăm ông bà Chín
Thẹo và lập đàn tràng cầu đảo đức Dược Sư Ly Quang Như Lai p hù hộ cho cô Út Ngọc
An khỏi bịnh. Sư khuyên ông bà Chín thọ trì bát quan trai giới, cúng đường các
tỳ kheo, sư tụng bốn chín biến kinh Bổn Nguyện Công Đức, đốt bốn mươi chín ngọc
đèn trước bảy bức hình tượng đức Như Lai va khuyên gia chủ mua chim, cá về
phóng sanh.
Nói về cô Út Ngọc An, từ hôm lỡ bận quần trắng đi dạo dọc mé sông với cô Hai
Túy Ngọc thì đâu chừng một giờ sau cô cảm thấy chóng mặt và bợn dạ. Chiều hôm
đó, cô bỏ cơm nước, vào phòng nằm thiêm thiếp. Cô có cảm tưởng có chất gì nhớt
nhớt bao quanh mình cô và một mùi tanh tưởi phảng phất trong phòng.
Trong cơn choáng váng ngầy ngật, cô thoáng nghe có tiếng xì xào:
- Con đó để dành cho tao.
- Ừ, xáp đại vô đi.
Cô Út bỗng thấy ngọc đèn dầu chong trên bàn gần cửa sổ tắt phụt rồi có tiếng
chân khua tình thịch ở ngoài hè. Cô la lớn:
- Ăn trộm! Có ăn trộm bớ bà con!
Bà Chín Thẹo cầm thếp đèn huê kỳ bước vô, hỏi gặng:
- Út con, cả nhà còn thức, ăn trộm nào dám vô! Con có đói bụng không? Má nấu
cháo cá, ngon lắm!
Nghe nói tiếng "cá", cô Út Ngọc An bỗng bợn dạ muốn mửa. Bây giờ khô
lân chả phụng hay nem bát trân cũng không làm sao giúp cô quên mùi tanh tưởi
khi nãy, cho nên cô lắc đầu từ chối.
Bà Chín Thẹo bước ra khỏi buồng thì chừng nửa tiếng đồng hồ sau cô Út bỗng nghe
có tiếng thở phì phò như tiếng thở của trâu bò. Mở mắt tra, cô thấy một bóng
đen to lớn đứng an ngữ ngọn đèn dầu dừa. Cô toan mở miệng la thì bóng đen thổi
một luồng hơi lạnh ngắt và tanh tưởi vào mặt cô, mình mẫy hắn lầy lụa những nhớt
trơn ướt. Cô cảm thấy khúc cây cứng xoáy vào hạ bộ, làm cô đau đớn chết giấc liền.
Từ đó thần thức cô Út thường chìm trong tình trạng nủa mê nửa tỉnh. Đôi lúc cô
tỉnh dậy, cảm thấy bụng mình đau đớn như bị ai banh xé. Và khi cơn đau dịu đi
nhờ những chén thuốc do ông Năm cắt cho, cô lại cảm thấy mình mẩy, tóc tai mình
như bị bôi keo, và chất keo đó tuy khô vẫn tanh mùi nhớt cá, nhớt lươn. Không
chịu nổi cảm giÿc nhờm gớm, cô vào buồng tắm xối nước. Mới xối một gáo, lớp keo
gặp nước biến thành nhớt rớt nhễ nhại từng vũng trắng như nước cơm loãng. Do đó
cô phải gội đầu thiệt kỹ bằng nước bồ kết và nước cốt trái chánh, phải tắm bằng
xà bông sả, lượt thứ nhì bằng xà bông cô Ba ngáy mùi bông sứ. Cô phải chà răng
súc miệng, ngậm kẹo bạc hà, xức sầu bông lài để báng mùi tanh lúc nào cũng phưởng
phất quanh cô, chập chờn trong ảo giác cô.
Cô Út Ngọc An sợ nhứt khi mặt trời vừa lặn. Đó là lúc bóng đen trở về ôm ấp cưỡng
bức cô. Cho nên cô ngỏ ý với mẹ, mời hai cô em bạn dì tới kê giường ngủ chung
trong buồng cô. Mấy đêm đầu, không việc gì xảy ra. Cô Út mừng khấp khởi. Nhưng
tới tối thứ bảy, trong lúc Kim Huê và Kim Liên – hai cô em bạn dì của cô – đang
chuyện trò tào lao vớ vẩn thì cô Út nằm im trên giường, thần trí lơ mơ dật dờ dật
dưỡng. Bỗng cô thấy ngọn đèn chong tr ên bàn bị án ngữ. Hơi thở lạnh ngắt và
tanh tười của kẻ vô hình phà tới làm miệng lưỡi cô tê liệt. Hắn xốc lại ôm cô.
Cô dùng hết sức bình sanh vật lộn với nó. Một tiếng rầm vang lên. Cô té rớt xuống
giường. Kim Huệ và Kim Liên vội lay gọi:
- Chị Út! Mau tỉnh dậy chị!
Cô Út Ngọc An mở mắt thầy mình nằm sóng sượt trên nền nhà lót gạch tàu. Cô bàng
hoàng nói:
- Có bóng đen vô đây. Nó xáp lại cưỡng bức tao. Lại nó nữa!...
Kim Liên cười:
- Có ai đâu! Tụi em tuy nói chuyện khào với nhau nhưng mắt không rời khỏi giường
chị. Bỗng khi khổng khi không chị dãy đành đạch như cá mắc cạn rồi rớt xuống
chơn giường.
- Rõ ràng nó vừa vô đây. Nó hôi tanh như dính nhớt cá. Mùi tanh giờ đây còn lảng
vảng khắp buồng nầy.
Kim Huệ lắc đầu:
- Không có ai vô hết. Mà em cũng chẳng ngửi thấy mùi tanh nào. À, mùi hương
nguyệt quới ở ngoài cửa sổ thoảng vào thì có.
Lúc đó cô Út Ngọc An mới biết rằng chỉ có mình cô cảm ứng được "người đàng
dưới" chốn thủy cung. Hắn lên đây cốt cưỡng dâm cô nên cô mới thấy được hắn,
mới ngửi được mùi tanh tưởi trên thân thể hắn. Chỉ có cô do nghiệp thức chiêm cảm
nặng nề từ thuở tiền kiếp xa xăm nào dội lại nên mới bị hắn đeo đuổi khuấy phá.
Người nhà thuật lại cơn mê sảng, khi thì cô nói cô theo chồng về nhà dưới đáy
sông nầy, khi thì ở thủy cung nọ. Trước nhà có cây san hô hường, cây san hô trắng.
Trong cơn hôn mê, cô còn tả nhiều giống cá đủ màu đẹp đẽ như chim đậu trên các
nhánh san hô, nhưng thường thì chi tiết nầy tương phản chi tiết nọ. Khi tỉnh
trí, cô không nhớ chi tiết nào hết. Mọi hình ảnh trong những giấc hôn mê như
gió chuồi qua vùng ký ức nhão nhừ mệt mỏi của cô để rồi mất hút trong cõi hư vô
đen đặc.
Ông bà Chín Thẹo chạy tới chạy lui lo mời thầy pháp, thầy bùa tìm cách trục con
quỉ đàng dưới cho cô. Bụng cô Út Ngọc An càng lúc càng nở lớn như người bị chứng
chai gan, như đờn bà mang bầu. Nhưng ông Năm Tảo không cho đó là triệu chứng ốm
nghén. Cô chợt nhớ tới dì Mười Hai của cô, tức là người em út của bà Chín Thẹo.
Bà bị một kẻ dị loại khuấy phá. Chẳng biết nó là âm binh hay cô hồn nhưng nó đã
làm cho bà Mười Hai điên cuồng. Đêm đêm tắt đèn là bà thấy nó vào cưỡng dâm. Bà
ăn đèn sáp, uống nước cống, nước đường mương. Bụng bà cũng chương lên, và sau
chín tháng mười ngày bà đẻ ra một cục máu. Theo lời bà mười Hai kể, kẻ đó dầu
không rõ mặt mủi nhưng lông lá khét nghẹt, hơi thở hôi hám. Người cho đó là xà
niên, khỉ đột đội lốt; kẻ bảo là cọp mun, heo gấm thành tinh. Nhưng lời cắt
nghĩa nghe không xuôi chút nào. Ở đây là vùng châu thổ, xa cách núi rừng thì
làm sao có những loài dã thú thành tinh ấy. Buồng bà Mười Hai dù có gài chặt cửa
nẻo, thắp nhang, dán đủ thứ bùa ếm quỉ trừ tà, nhưng cứ cách đêm là loài dị tộc
lại theo bóng tối vào buồng. Bà Mười Hai cứ hết chửa đẻ hết cục máu nầy sang cục
máu khác, hình vóc càng ngày càng hao gầy, mặt mày thỏn mỏn, da dẻ xanh chành.
Cả nhà rước thầy trấn ếm riết nên hơn một năm nay, kẻ dị loại lâu lâu mới đến
viếng bà một lần, nhưng không biết tới chừng nào hắn mới chịu phép rút lui hẳn.
Cô Hai Túy Ngọc và cô Ba Túy Nguyệt thường lui tới thăm nom cô Út Ngọc An và an
ủi bà Chín Thẹo. Đối với cô Hai, cô Út vẫn là bạn lối xóm thân hiết nhứt dù cả
hai trái tánh nhau. Cô Út hời hợt, bốc đồng, hay thẻo lẻo; còn cô Hai thì thâm
trầm, kín đáo, nhu mì. Cô Ba thì tuy khắc khẩu với cô Út nhưng không vì lẽ đó
mà cô để bụng thù hằn, ghét bỏ cô Út. Dưới mắt cô Ba, cô Út được cha mẹ nuông
chiều quen thói nên ưa nhõng nhẽo, ỏn ẻn nhưng không có tâm địa làm hại ai. Cô
nghĩ thần: "Chị Út không rõ kiếp trước có tội gì mà số mạng đẩy đưa chỉ tới
bước đường cùng như vậy. Như bà Mười Hai vốn hỗn hào, dữ tợn, biến lũ cháu ở nhờ
của mình thành tôi mọi không công, hùn hạp mở động đĩ, dụ dỗ gái sa cơ bước vào
chốn bán phấn buôn hương thì mới đáng bị trừng phạt, chớ như chị Út đây, cảnh ế
muộn lỡ thời cũng đủ làm chỉ đau khổ rồi. Bị vụ nầy, chắc chỉ chết mòn chết mỏi!"
Lật bật mà đã tới tháng sáu âm lịch, mùa mưa đang độ vào sâu. Cây diệp tây đầu
xóm đơm bông đỏ rực như cây đuốc lửa khổng lồ. Hôm đó ông Năm Tảo bơi xuồng vào
Long Thanh đẻ coi mạch hốt thuốc cho con trai người bạn thân, bà Năm Tảo đang
chao mắm và gài dưa mắm ở nhà sau, còn hai cô Túy nấu cơm kho cá rong bếp. Bỗng
có tiếng con chó Vện sủa ngoài ngõ. Nhìn qua mắt cáo, hai cô thấy thấp thoáng
dưới khung cây bông giấy uốn vòm cung ngoài cửa ngõ một người đờn bà mặc áo màu
xanh da trời. Cô Ba vội rửa tay rồi bương bả ra cổng. Một người đờn bà tuổi cở
ba mươi, dung nghi đề đạm, mặt mày sáng rỡ, vóc mình thanh cảnh, tay che dù
đâm, tay xách chiếc va- li da láng. Chị ta hỏi:
- Thưa cô, đây có phải là nhà thầy Năm Tảo hay không?
Cô Ba Túy Nguyệt gật đầu:
- Dạ đúng vậy. Đây là nhà tía của em.
Người đàn bà tự giới thiệu:
- Tui đây là đồ đệ của huề thượng Chơn Tánh, sư huynh thầy Chơn Huệ. Tui tu
theo giới ưu bà di, tức là cận sư nữ, chớ không thọ giới sa di nữ, pháp danh là
Thiệt Nguyện. Su thúc Chơn Huệ tui có gửi thơ lên Tri Tôn nhắn tui về đây trị bịnh
chô con gái một khách đàn việt. Ngặt vì chùa Long Đức toàn là sư sãi nên sư
thúc tui gửi tui lại đây ở một thời gian.
Cô Ba Túy Nguyệt bãi buôi:
- Thưa cô, ba má em đã chuẩn bị phòng ốc cho cô rồi. Cÿch đây vài bữa, thầy
Chơn Huệ có tới đây gởi gấm cô cho ba má em.
Cô Ba mở chửa cho cô Thiệt Nguyện vào nhà. Nghe có khách, bà Năm Tảo bương bả
gài hũ mắm chót. Còn cô Hai Túy Ngọc nhắc nồi cơm xuống, đặt ấm nước lên bếp rồi
bước ra trung đường chào khách. Cô Thiệt Nguyện ngỏ ý xin ra nhà sau để chào bà
Năm. Vừa thấy cô, bà Năm niềm nở:
- Mời cô Hai rửa mặt, nghỉ ngơi rồi dùng cơm trứa với mẹ con tui. Tui cũng ăn
chay nửa tháng với cô cho có bạn.
Cô Thiệt Nguyện mở va- ly lấy ra keo mứt ổi và gói kẹo sầu riêng bụ tổ chảng gọi
là làm quà biếu gia chủ. Cô cũng tặng cho mỗi cô Túy một xấp lụa cẩm trắng, một
thứ tơ lụa nổi tiếng ở Châu Đốc. Cô bảo mẹ con bà Năm Tảo:
- Đã không biết thì thôi, chớ biết nhau thì đôi đàng nên coi nhau như họ hàng.
Cháu xin kêu ông bà gia chủ bằng chú Năm thím Năm, còn gội hai cô Túy bằng em
cho thân mật.
Bà Năm cảm động:
- Cháu có tấm thạnh tình ấy, thím rất bằng bụng. Thôi, cháu đi rử mặt cho mát.
Thím phải đi tắm bằng xà bông sả cho báng hết mùi mắm đồng rồi sẽ hàn huyên. Thầy
Chơn Huệ đã làm lệ vu qui y cho hai con em cháu đây. Con lớn có pháp danh là
Thiệt Hạnh, con nhỏ là Thiệt Niệm. Tụi nó là sư muội của cháu đó.
Tổ dòng tu Mật Tông của huề thượng Chơn Tánh và pháp sư Chơn Huệ là Nguyện
Hương trưởng lão. Dòng tu sẽ truyền theo các hệ lấy pháp danh từ câu kệ
"Nguyện Giải Như Lai Chơn Thiệt Nghĩa". Những danh tăng và bổn đạo có
pháp danh khởi đầu bằng chữ Chơn tức là thuộc vào đời thứ năm. Cô Thiệt Nuyện
tuy không phải là sư nữ nhưng thấy của cô là ông Chơn nên cô được pháp danh khởi
đầu bằng Thiệt. Hai cô Túy chỉ là Phật tử thuần thành nhưng vì giốc lòng làm
công quả cho chùa, dẫu cam go gian khổ cũng không hế quản ngại nêm sư thương mến,
ban cho hai cô pháp danh khởi đầu bằng chữ Thiệt.
Khi ba mẹ con bà Năm Tảo dùng cơm với cô Thiệt Nguyện xong thì ông Năm Tảo vừa
về tới. Để làm vui lòng khách, hai cô Túy cũng ăn chay. Ngoài món tào hũ, đậu
đũa, đậu ve, khổ qua, bí đao kho với tương hột, bà Năm còn làm thêm món đặc biệt
là xác đậu hũ xào với gía, rau càng cua, gói bánh tráng nhúng nước, rau sống chấm
nước tương giã tỏi ớt. Nhưng mâm cơm dành cho ông Năm Tảo thì có một tô cá mè
vinh nấu ngót với cà chua và rau cần, một dĩa cá chi, muối chiên giòn.
Cô Thiệt Nguyện nói với ông chủ nhà:
- Sư thúc cháu mai mốt sẽ đi Tri Tôn tìm đường lên núi Cô Tô tu hành. Cháu ở
đây tụng kinh Dược Sư cho cô Út Ngọc An tới khi nào cổ tai qua nận khỏi mới
thôi. Vả lại cháu cũng có vài công chuyện riêng cần giải quyết cho xong.
Ông Năm Tảo nói:
- Việc đó chú cũng được thầy Chơn Huệ cho biết rồi. Thím Năm cháu đang may hai
bộ cà sa, hai bộ nhựt bình cho thầy, còn chú thì đang soạn hai giỏ thuốc để thẩy
đem theo phòng thân.
Bà Năm Tảo mời cô Thiện Nguyện nghỉ trưa. Bà nhứt định nấu nồi bánh trôi nước
trước để đãi khách, sau nữa đãi hai cô Kim Liên, Kim Huệ vì trưa hai cô qua đây
phụ giúp may quần áo cho pháp sư Chơn Huệ. Vào thập niên 30, máy may không được
thạnh hành nên dân vùng quê hoặc vùng nửa chợ nửa quê đều may bằng tay. Bà Năm và
hai cô kim có mũi chi khít khao đều đặn cũng như hai cô Túy, nhưng hai cô Túy
phải lo làm tương chao cho chùa. Hai cô còn xay lúa giã gạo, chẻ củi chuẩn bị
cho kỳ rằm tới.
Ăn cơm xong, ông Năm tảo xẩn bẩn bên vợ ở trong bếp. Ông thì thầm:
- Bữa đi An Hương chẩn bịnh, tui có ghé qua Hòa Mỹ để thăm cô Mười Hai. Cổ tuy
bớt bịnh nhưng tầm hần hoảng hốt lắm. Cổ cứ than không hiểu sao hễ nghe chó sủa
chó tru là cổ rùng mình mọc óc... Chồng cổ rủ tụi nhậu rượu đế cá khoai với mấy
ông bạn lối xóm. Cũng dịp nầy, tôi nghe dồn nhiều gia đình ven sông có con gái
mắc bịnh đằng dưới...
Bà Năm Tảo mơ màng hình dung lại con sôn Cổ Chiên, từ nhánh Tiền Giang chẻ ra,
chảy qua tỉnh Vĩnh Long. Sông rộng minh mông, sóng bủa lao xao. Hễ gặp ngày gió
lộng, sóng gối đầu lượng cao cỡ luống khoai luống đậu, ầm ầm như thét như gào.
Bên hữu ngạn sông là phố Vĩnh Long, rồi Cầu Dài, cái Sơn Bé, Cái Sơn Lớn, An
Hương,, Hòa Mỹ, Mỹ An. Bên tả ngạn là cù lao An Thành, cù Lao Minh... Ven cù
lao chỉ có rặt cây bàn, một loại cây trầm thủy mà có người gọi là cây thủy liễu
mọc trên các bãi lài. Ven bãi lài không có nhà cửa chi hết. Phải đi sâu hai chục
thước mới gặp vùng đất cao, có làng mạc, thôn xóm, vườn ruộng, rảy bái. Còn ven
sông thì vườn cây nối với đồng ruộng, thôn xóm càng lúc càng đông. Người ta xây
lò gạch, lò rèn, xưởng mộc, trại đóng hòm, trại đóng xuồng, vựa mắm, vựa củi...
Dân bên hữu ngạn trù mật nhìn qua vùng tả ngạn quạnh hiu bằng sự thèm thuồng lẫn
kinh sợ.
Nơi các bãi lầy của cù lao có nhiều ốc gạo và bến mập tròn, thịt ngọt suốt từ
tháng ba cho tới tháng chín. Hến cồn, ốc gạo cồn nổi tiếng khắp vùng Tiền
giang, nhứt là ở Tân Phong, ở các bãi lầy Phú Đa và Phú Phụng. Nhưng ở đó lầu
lâu xuất hiện một vài con sấu. Đêm đêm chỉ có các ghe thương hồ loại ớn cỡ ghe
chài đi biển mới dám cắm sào gần các bãi hẩm và họ thường nghe tiếng sấu rống
thâu đêm như tiếng trâu bò. Sấu không thích ra biển, mà lọi lên nguồn thì quá
xa, các bãi hẩm ở các cù lao nằm giữa sông là nơi thích hợp chủa chúng. Trâu tắm
trong nước bùn ở các bãi hẩm để trờ thành mồi ngon cho chúng. Người ta đồn nới
đó có con sấu mũi đỏ thành tinh biến thành cô gái mặc áo đỏ đứng chàng ràng gần
chỗ bầy tâu thả ăn cỏ trên gò gần bãi hẩm. Lũ trâu thấy màu đỏ, hăng máu chạy bổ
tới. Co gái liến lùi về phía mé nước, lũ trâu nhào theo lầm mồi ngon cho bầy
con cháu của con sấu thành tinh kia. Vài người đi mót củi bần, đi mò ốc hến bị
sấu ăn thịt trở thành oan hồn uổng tử không đi đầu thai được, phải quanh quẩn
chầu chựa sấu để sấu sai khiến. Muốn đi đầu thai, họ phải tìm kẻ thế mạng, tức
là dụ dỗ người khác cho sấu ăn thịt.
Về sau, ông Chánh tham biện Pháp cho lính tuần giang cỡi tàu xà lan, tàu xà lúp
mang súng đi săn sấu ráo riết, trước là trứ hại cho dân, sau là lột da sấu bán
cho các xưởng làm bóp phơi, bóp đầm. Sau khi lũ sấu rời bỏ cù lao An Thành và
cù lao Hinh, dân cù lao mới dám mò về mồ ốc ở các bãi lài, trong lòng các con rạch
chảy len lỏi chằng chịt khắp cù lao. Vậy nhưng đâu đã hết! Sấu đi mà vong hồn
đâu có chịu đi theo! Những oan hồn đó cứ quanh quẩn ở chỗ tử nạn kiếm người chết
thế hầu đi đầu thai. Từ ma sấu họ biến thành ma da, dụ người mò ốc ra sông cái,
xúi khiến cho bị vọp bẻ, chết chìm trong sóng nước. Vào những này lộng gió, những
người từ hữu ngạn bơi xuồng ba lá qua tả ngạn thường bị sóng lưỡi búa nhận
chìm. Sóng nầy không giống như sóng gối đầu, không di chuyển từng lượn nối tiếp
nhau, mà chỉ trồi lên hụp xuống ở một chỗ. Vô phước ghe thuyền nào lạc vào chổ
sóng có sóng lưỡi búa là bị nhận chìm ngay. Lũ ma da thường dùng loại sóng nầy
để tìm người thế chưn cho mình.
Con sông Cổ Chiên là con sông âm hồn từ bao đời. Vào triều vua Tây Sơn, vong hồn
càng thêm đông. Đó là các vong hồn của lũ giặc cướp Xiêm La từ cửa biển dùng
chiến thuyền vào sông cướp phá dân chúng sống nời vùng cù lao, bị quân triều
đình đánh bại. Tử thi của giặc và của quân Tây Sơn trôi dạt dờ trên sông nước,
rã dần và nắm xương vô định chìm sâu nơi đáy sông. Vong hồn của những người nầy
vì u uất hay vì u minh vọng động, không biết mình đã chết nên đêm đêm, vào những
lúc trời quang mây tạnh, cuộc thủy chiến lại tái diễn trên sông, tiếng chiêng
trống thúc quân vang lên văng vẳng hòa với tiếng hò hét mơ hồ trong gió. Một
vài vong hồn nghĩa quân đạp đồng lên đòi dân địa phương cất miếu thờ cúng; đổi
lại, họ thường phò hộ dân chúng trong việc trồng tỉa, chài lưới. Vong hồn lũ cướp
thì không biết nói tiếng Việt nên không thể đạp đồng. Chúng tranh ăn với vong hồn
nghĩa quân. Cho nên vào những đêm đông gió bão bùng, hai bên lại đánh nhau...
Vong hồn lũ cướp cũng nương theo bọn "đàng dưới" cững dâm các cô xử nữ,
làm cho các cô điên dại, ốm o gầy mòn cho tời chết. Vong hồn các cô gái đáng
thương này bị dụ dỗ, bắt buộc theo phù tá những kẻ "đàng dưới", xúi
giục các cô gái khác đổ nước giặt quần áo lót xuống sông ngòi, ao rạch hoặc để
móng tay, tóc rớt xuống nước khiến bọn ma quỉ kia có cơ hội lân la đấn gần.
Năm ngoái, có ông Đạo Chuối từ vùng Tân Châu vân du qua cù lao An Thành. Sở dĩ
ông mang danh ấy vì ông không ăn cơm như mọi người mà chỉ an chuối và uống nước
lã để sống. Ông ta trạc tuồi lục tuần, mặt mày tươi nhuận hồng hào, mắt sáng
như sao, tóc rậm và dài bới một cái bí bo bự chèm bẹp sau ót. Tuy để tóc nhưng
ông mặc áo nhựt bình màu dà hoặc màu khói nhang. Ông tự xưng là giáo dân của
giáo phái Bửu Sơn Kỳ Hương, khi đi ngang thấy yêu khí bốc lên ngùn ngụt dái
theo mé cù lao An Thành nên ông muốn lập đàn giải oan giải thác cho các cô hồn
phưởng phất trên sông nước. Hiện giờ ông cư ngụ tại am Tịnh Liên của ông Hương
Cả Hành, gần ngôi đình, bên kia chiếc cầu cột gỗ căm xe lót ván.
Bà Năm Tảo thường bơi tam bản qua cù lao An Thành để đến nhà ông Hương cả Hành
mua đinh hương. Từ khi cất am tu hành, ông ta dọn bốn công đất để trồng đinh
hương bán cho các tiệm thuốc bắc. Bà Năm ngoài chuyện mua đinh hương còn thích
món mắm cá cơm và cá linh do bà Hương cả cùng lũ con dâu làm để bỏ mối cho các
tay bán lẻ bên chợ tỉnh. Bởi lui tới nhà ông Hương cả Hành thương xuyên nên bà
được họ đối đoãi thân mật. Và cũng nhờ ông Năm Tảo mát tay coi mạch hốt thuốc
nên gia đình ông Hương cả coi ông Năm như thần sư, coi thuốc ông Năm hốt như
thánh dược. Hai gia đình qua lại giao hảo như thân thích. Hễ nhà ông Hương có
giỗ chạp là bà Năm qua phụ giúp hai ngày từ hôm giỗ tiên cho tới sau bữa giỗ
chánh mới về nhà.
Qua sự quen biết đó, bà Năm Tảo được yết kiến ông Đạo Chuối. Mỗi ngày, ông chèo
xuồng đi ven cồn bãi hoặc vào các rạch, các ngòi đốt bùa rải tro để ếm những kẻ
"đàng dưới" hoặc vong hồn những người chết đuối chết chìm. Có lần,
trong một cuộc chuyện trò với bà Năm và bà Hương cả, ông thuật lại một vận sự
như sau:
- Như bà con rõ đó, ở vùng nầy có bãi Tiên. Hễ vào đêm rằm tháng giêng thường
có các tiên nữ trên trời xuống tắm. Nhưng mấy lúc gần đây, mấy cô gái chết vì bịnh
mắc đàng dưới quá đông, vong hồn họ lang thang dọc theo các cồn các bãi, yêu
khí quá thạnh nên các tiên nữ đâu thèm đến bãi để tắm như xưa. Vậy mà có hai gã
trai trẻ ương ngạnh, vào kỳ rằm ngươn tiêu vừa tối bơi xuồng chơi trăng ở bãi
Tiên. Tới canh ba, trăng treo vành vạch trên đỉnh ngọ, cả hai vừa bơi tắm vừa
cười hát om sòm. Chừng giập bã trầu, nơi khóm lau rậm ven bãi, một bầy con gái
tuôn ra, cởi hết quần áo để cùng tắm với hai anh chàng nọ. Họ xưng là tiên nữ
theo hầu đức Diêu Trì Kim Mẫu ở Tây Huê Cung. Hai chàng nọ nghe qua mừng húm,
bơi lội với họ đã đời rồi còn lựa hai cô đẹp nhất ra ân ái. Sáng hôm sau, dân
đi mò ốc gạo bắt gặp hai chàng lõa lồ năm phơi trên bãi biển liền tri hô lên.
Thấy ngực cả hai còn ấm, họ xúm lại hơ lửa xoa bóp rồi đưa về xóm. Tại đây, may
nhờ có ông thầy thuốc nam cạy miệng đổ thuốc, châm huyệt với củ ngải nên cả hai
đã hồi tỉnh sau khi ọc ra một đống nhớt sền sệt như keo và mấy con cá chốt, cá
thòi lòi, cá rói còn nguyên xương thịt.
Chiều hôm đó, bà Chín Thẹo mời cô Thiệt Nguyện qua dùng cơm chay với gia đình
bà. Sau đó cô đi tắm gội, chà răng súc miệng, mặc áo tràng và bắt đầu tụng kinh
Bổn Nguyện Công Đức Dược Sư cho đúng bảy biến. Cô tụng từ đầu canh một cho tới
cuối canh ba, khi bóng trăng mười hai nằm tận chót đỉnh vòm trời mới chịu trở về
nhà ông bà Năm Tảo.
Đêm hôm đó cô Út Ngọc An không thấy gì lạ xảy ra nên cô ngủ một giấc thiệt êm đềm
óng chuốt. Trước đó bốn hôm, pháp sư Chơn Huệ cũng đã tụng kinh nầy cho cô mỗi
tối bảy biến. Kẻ đàng dưới kia vẫn tới cưỡng dâm cô nhưng lần đó khá ngắn so với
thời gian trước. Cô hy vọng bắt đầu từ tối thứ năm nầy, nhờ tấm lòng thành của
gia đình cô cùng tha lực của Phật, bịnh quỉ ám của cô sẽ bớt dần.
Cho tới hôm chót, sau khi cô Thiện Nguyện tụng xong biến thứ bảy, cô Út Ngọc An
thấy tâm thần nhẹ nhàng, châu thân thơ thới, máu huyết lưu thông sảng khoái. Cô
cảm thấy mắc tiểu nên tìm chiếc bô nhôm để tiểu tiện. Từ cửa mình cô. nhớt tuôn
ra từng đợt trắng như lòng trắng trứng gà. Chất nhớt tuôn bao nhiêu thì cái bụng
bự thè lè của cô xẹp xuống bấy nhiêu, cho tới lúc bụng cô thon nhỏ như chầu xưa
mới thôi. Đêm đó cô Út Ngọc An nằm chiêm bao thấy mình đứng giữa một hang động
được thắp sáng bởi những dĩa dầu mù u, ánh đèn vàng vọt và ảm đạm. Bỗng có kẻ mặt
mày bặm trợn và hung ác sông tới ôm cô thì có tiếng đá nứt và nóc hang vỡ tung
ra. Ánh nằng từ phương đông tràn tới làm vỡ tan hang động. Nước cũng ùa vào,
nâng cô lên cao từ đáy lên tới mặt đất. Kẻ hung ác kia toan đuổi theo cô nhưng
những tia sáng mặt trời biến thành những lưỡi kiếm đâm tới khiến kẻ đó phải nhảy
xuống nước lặn mất.
Từ đó cô Út Ngọc An hết bịnh, nhưng cô lợm giọng khi ngửi mùi cá thịt và cô xin
mẹ cho trường trai. Cô sanh lòng mộ đạo, cứ quanh quẩn theo cô Thiệt Nguyện.
Người cậu sư nữ kia chưa về vùng năm non bảy núi. Cô bảo ông bà Năm Tảo:
- Cháu phải ở đây thời gian để chữa bịnh cho các cô gái mắc đàng dưới. Cháu sẽ
qua gặp ông Đạo Chuối ở am Tịnh Liên bên cù lao An Thành, hiệp sức với ổng để
trục bọn tà mà yêu quái, đuổi chúng về chốn thủy cung.
Ông Năm Tảo bảo:
- Khi nào về xóm nầy, cháu cứ tới nhà chú thím. Nhà chú thím rộng rãi, cháu muốn
ở bao lâu cũng được.
Bà Năm Tảo niềm nở:
- Cháu đem công sức ra cứu nhơn độ thế, chú thím rất quí mến cháu. Cứ coi nhà nầy
như nhà của cháu, đừng ngại gì hết.
Cô Thiệt Nguyện đi đi về về cù lao An Thành và xóm Chuồng Gà. Pháp sư Chơn Huệ
sửa soạn đi núi Cô Tô. Trước khi đi, sư có ghé nhà ông bà Năm để căn dặn cô vài
điều cần thiết.
Mội khi từ An Thành về xóm Chuồng Gà, cô Thiệt Nguyện đều được gia đình ông bà
Năm Tảo và ông bà Chín Thẹo tiếp đãi rất thân tình, ấm áp. Cô Út Ngọc An và hai
cô Túy thường xẩn bẩn theo cô để tâm tình. Trong những dịp như vậy, co thường bảo
hai cô Túy đem tập thờ của họ cho cô thưởng thức. Thơ của hai chị em thuộc loại
thất ngôn bát cú, không cổ lắm, đọc nghe xuôi tai vậy thôi. Lời lẽ họ tuy đoan
trang mực thước, ngôn từ bóng bẩy nhưng không có vẻ nghệ sĩ, khác hẳn với thơ
bà Trần Ngọc Lầu hiện cư ngụ ở căn phố trong dãy nhà gần nhà việc Long Châu, mặt
quay ra bến sông Long Hồ. Cô Thiệt Nguyện nghiên cứu từng câu thơ của hai cô
Túy rồi bảo:
- - Chị không rành về nghệ thuật thơ phú. Cứ theo lời lẽ cẩn tác, nề nếp trong
thơ em Ngọc, chị đoán sau nầy em sẽ lấy chồng giàu sang nhưng lớn tuổi hơn em
khá nhiều. Còn lời thơ của em Nguyệt biểu tỏ tánh ý, tinh nghịch ngấm ngầm. Em
sẽ lấy chồng khá, đồng trang lứa với em nhưng không quí hiển bằng chồng em Ngọc.
Cô Ba Túy Nuyệt nhõng nhẽo:
- Tụi em tâm sự với chị khá nhiều, nhưng bấy lâu nay chị chẳng cho tụi em biết
chút gì về đoạn đời của chị trước khi chị lên núi học phép tu Mật Tông.
Mặt cô Thiệt Nguyện đổi ra buồn bã. Cô Hai Túy Ngọc vói tay đánh nhẹ vào vai
em, mắng:
- Con quỉ nầy khéo chòi mói tọc mạch đi. Em muốn biết gốc gác, tiểu sử chị Thiệt
Nguyện để làm giống gì?
Cô Thiệt Nguyện cười buồn:
- - Thì em Ba ỷ lại chỗ tụi mình là sư tỉ sư muội cùng chung một sư tổ nên mới
kỳ kèo như vậy chớ có gì lạ đâu! Chị vốn là con gái út của ông Hội đồng Võ Trọng
Quyền làn An Hương đây. Tên thiệt của chị là Võ Thị Tố Mai. Hồi chị 12 tuổi đực
cha mẹ cho lên Sài Gòn học trường Áo Tím. Người bạn gái thân thiết nhất của chị
là con Ba Cẩm Tú, con gái ông bà Bang biện Hưỡn. Chị coi nó như em ruột. Ba má
chị giao du thân mật với ông bà Cai tổng lê Phước Hải ở làng Tân Ngãi nên hứa gả
chị cho trưởng nam của họ là cậu Lê Thạnh Mậu. Cẩu ra ngoài Há Nội học trường
thuốc, khi trở về Sai Gòn thì bị con Ba Cẩm Tú rù quến, hồi hôn với chị. Chị
đau khổ tuyệt vọng, mua á phiện trộn dấm thanh toan tự vận nhưng bị mấy mụ chị
kịp thời phát giác. Từ đó họ canh giữ chị từng chút nhưng ý định trốn lánh nợ đời
lúc nào cũng ám ảnh chị. Một sáng nọ, sau khi ăn điểm tâm, chị bắt gặp chai thuốc
xức vết thương teinture d'iode. Chị nghĩ, hễ uống vô chắc bao tử sẽ cháy xém
nên chị hòa thuốc vô to trà ực một hơi. May phước cho chị là nhờ chị mới ăn cơm
chiên, chất Iode gặp tinh bột bị hóa giải ngay. Tuy nhiên sau khi ực tô trà
kia, chị lại... sợ chết nên la hoảng lên. Cả nhà đưa chị nhà thương tỉnh súc ruột.
Qua hai cơn tự tử hụt, chị không còn can đảm để tự tử lần thứ ba. Chị xin phép
ba má chị cho chị theo người cậu họ là huề thương Chơn Tánh tu trên núi Trà lơn
vùng Năm Non Bảy Núi.
Cô Ba Túy Nguyệt nói:
- Vậy mà thiên hạ đồn rùm rằng chị tự tử bằng á phiện trộn giấm thanh.
Cô Thiệt Nguyện lắc đầu:
- Uống thứ oan nghiệt đó họa có thuốc tiên thuốc thánh mới cứu nổi! Nhắc lại
chuyện sau khi lên núi, chị toan cắt tóc xuất gia thì huề thương bảo rằng chị
không thể nào trở thành sư nữ được vì lòng trần của chị chưa dứt, chị còn nhiều
món nợ đời ràng buộc. Do đó mà chị thọ giới ưu bà di mà thôi. Giờ đây chỉ trở về
cuộc đất Vãng nầy không phải là để đòi lại chồng và để báo oán kẻ đã làm cho chị
bầm dập đau đớn. Chị về đây cốt cứu nhơn độ thế, gây ruộng phước nhơn lành cho
mình. Còn con bạn cũ của chị sớm muộn gì rồi nó cũng bị ác quả hiện hành. Đó là
chuyện của nó. Đáng lẽ cái ác quả đó chưa tới với nó trong kiếp nầy đâu, ngặt
chỗ toàn thể gia đình nó đều ăn ở bất nhơn ác đức, cái công nghiệp của họ và của
nó giúp cho cơ duyên hiện hành kia mau chín muồi.
Hai cô Túy không nói không rằng. Họ tự hỏi về sắc, cô Thiệt Nguyện vượt xa cô
Ba Cẩm Tú khá nhiều. Vậy mà sao cô bị cô Ba giựt được chồng? Cô Thiệt Nguyện
vóc dáng thanh cảnh, dung mạo đoan trang, phẩm cách cao sang quý phái. Vậy mà
cô bị cô Ba lấn lướt bởi vẻ lẳng lơ, điệu bộ õng ẹo, giọng nói nhõng nhẽo điệu
đà. Có lẽ ông thầy thuốc tây Lê Thạnh Mậu chuộng thứ gái nồng nàn khêu gợi hơn
mẫu phụ nữ đức hạnh chăng?
Chương 6
Bà Bang biện Hưỡng và hai cô Cẩm sử soạn đi lên Ti Tôn để chuộc
bùa ngải, trấn ếm những oan hồn sắp theo báo mẹ con bà. Ông bang biện Hưỡn và cậu
Hai Kinh lý Luyện thở phào một cái thơ thới nhẹ nhàng. Ông Bang biện thì lo thủ
tục giấy tờ để mua rẻ miếng đất của ông Hương bộ Lạc và tìm cách đem mụ vợ chửa
của Cai tuần Hạp về tổ quỉ để "núp gò mối đâm heo".
Vào sáng hôm nọ, ông Bang biện Huỡn hẹn với ông Hương Bộ Lạc ra sở trước bạ để
ký giấy bán đất và ghi sổ hộ điền tên chủ nhơn mới miếng đất. Sau đó, ông bang
biện Hưỡn đóng bách phân cho miếng đất sở hữu mới của mình. Nhìn ông Hương bộ Lạc
nước mắt doanh tròng. ông Bang biện giả nhơn giả nghĩa:
- Xin anh Hương bộ hạc chớ buồn. Tui dầu có kẹt tiền, giúp anh mua miếng đất đó
kể cũng quá sức tui rồi! Anh chị còn khỏe mạnh, các cháu đã lớn khôn, người còn
thì của còn.
Rồi ông ỡm ờ:
- Tui nghe nói chồng cô Ba Tính đau ốm sao đó mà nhắm mắt xuôi tay quá sớm, để
cho cổ cù bơ cù bất trong cảnh góa bụa như vậy anh?
Cô Ba Tính là em kế ông Hương bộ Lạc, lấy chồng người Triều Châu có hai mẫu đất
trồng rẫy. Tháng vừa rồi, anh ta bị mụn bạc đầu trên mặt, không gặp thầy gặp
thuốc giỏi nên phải chết tức tưởi, để lại người vợ trẻ mang thai ba tháng và
hai đứa con trai tuổi chưa lên mười. Ông bang biện Hưỡn nghe vậy ưa lắm, tìm
cách "núp gò mối đâm heo" với cô ta, nhưng tánh ông kỳ quặc, ông
thích thông dông với thứ đàn bà chửa nhưng chồng còn sống hơn. Đờn bà góa có chửa
không kích thích ông nhiều bằng. Theo ông, còn gì thích cho bằng vừa tráng men
đứa hài nhi vừa cặm một cặp sừng cong vút lên đầu thăng tía bạc phước của ông:
- Mầy liệu lời mà nói với Cai tuần Hạp. Nếu nó bằng lòng thì tao sẽ thưởng cho
con vợ nó chiếc kiềng chạm bằng vàng nặng một lượng, lại để cho nó tiếp tục làm
mướn hai dãy ruộng như cũ. Còn bằng không thì sau mùa gặt, nó hãy giở chòi, tuốt
mùng bỏ vô thúng rồi vợ chồng cùng xuống ghe đền xứ khác mướn ruộng làm ăn.
Hơm qua ông Bang biện Hưỡn đả ăn nằm với thím Bảy Bảnh. Y thị bị cậu Hai Luyện
đem tiến bạc và cái mã hào huê dủa dân tỉnh thành ra dụ dỗ. Thiệt tình cậu khác
tính cha ở chỗ rất sợ ăn nằm với đờn bà chửa. Cậu ưa phá trinh con gái hơn. Cậu
chỉ giống tánh cha thích ăn nằm với đàn bà có chồng. Thím Bảy trắng trẻo, mình
dây, cặp giò dài, cặp mông tròn hoay, bộ ngực cao và săn chắc, cặp mắt thiệt lẳng,
cặp môi thiệt tươi. Uổng cho thím lấy nhắm ông chồng thiệt thà, chỉ biết lo làm
ăn, lo cưng vợ mà không biết đua đòi cách sống hào huê.
Cậu Hai Luyện gặp thím như mèo gặp mỡ, như rồng gặp nây, chinh phục thím tuy
khó khăn nhưng rồi nước chảy hoài thì đá cũng hao mòn. Không phải thím sợ chồng
hành hung, mà thím chỉ ngại việc tằng tịu của thím đổ vể ra thì bà Bang biện Hưỡn
sẽ lấy đất lại, không cho chồng thím làm tá điền nữa. Năm ngoái, chú Bảy Bảnh bỏ
nghề làm ruộng mướn ở An Hương, về cất chòi ơ Cái Sơn Bé, mở quán bán trà huế
và hàng xén như gạo củi, than, dầu lửa, nước mắm, kim chỉ kẹo bánh... Cạu Hai
Luyện đi chùa Sơn Thắng để ve vãn các cô đi chùa dưng hương ngầy rằm, tình cờ gặp
chỗ dung thân mới của vợ chồng người t á điền cũ. Nhờ ở trong quán tối ngày nên
da dẻ thím Bả hồng hào. Tuy thím mặc quần áo vải bô, hai bàn chơn to phè nhưng
cậu đã thấy trong cái đẹp thiên chơn ấy một ngọn lửa kích dục hào hứng. Cậu tìm
cách ve vãn, hứa cho thím một chiếc vòng cẩm thạch và một sợi dây chuyền vàng.
Chiếc vòng tặng chỉ là chiếc vòng mã não tuy xanh lặt lìa nhưng ửng ánh vàng
nghệ. Còn sợi dây chuyền tặng bằng vàng tám, miếng mề đay hình trái tim nhỏ xíu
chớ không phải là sợi dây chuyền bằng vàng mưới, miếng mề đay lớn cỡ đồng xu lá
bài in hình chữ phước như thím hằng ao ước.
Tuy nhiên, người đàn bà quê mùa kia một khi đã sa chơn vào chuyện phong tình
nguyệt trái rồi thì đâm ra ghiền cái mùi đờn ông thị thành. Chồng thím dù có
tinh lựa như sói cọp nhưng vẫn là kẻ quê mùa, không rành chuyện gối chăn. Khi cậu
Hai Luyện ngỏ ý đưa thím cho cha cậu hú hí một đêm thì thím làm mặt giận. Ông
Bang biện tuổi tuy năm mười mà da mặc chưa dùn, thân vóc còn dẻo, tóc chỉ điểm
vài sợi hoa râm. Vả lại mặt mày ông cũng khá khôi ngô. Đã lỡ hư thì thím cho hư
luôn. Khi ông Bang biện nhét vào tay ghím chiếc cà rá cẩm thạch cắt hình hột
dưa thì thím chịu tiếp ông ở cái tổ quỉ của cậu Hai bên cầu Kinh Cụt..
Sau khi hú hí đã đời với thím Bảy Hành, hai cha con theo đuổi mục đích riêng. Cậu
Hai Luyện chuẩn bị đi Mỹ An để đo đất và cậu đã sai thằng tớ trai tâm phúc tên
Yêm dò la kiếm gái trinh, mặt xinh đẹp để cậu dụ dỗ. Còn ông Bang biện Hưỡn thì
muốn mua bộ divan bằng gỗ cảm lai đã giồi bóng lộn. Bộ divan đó mà đặt trong
cái tổ quỉ của thằng con trời biển của ông, để ông đưa vợ Cai tuần Hạp lên nằm
và "núp gò mối đâm heo" thì thập phần khoái lạc! May mắn thay, chủ bộ
divan là thầy giáo Lạc. Thầy đang gặp nhiều sự bối rối trong gia đình: mẹ thầy
bị xơ gan phải nằm nhà thương ba tháng, vợ thầy sanh đôi, đứa em gái bị úp hụi...
Ông Bang biện Hưỡn liền làm trành làm tréo mua rẻ món danh mộc kia.
Khi mấy người lực điền thân tín đật chiếc divan vào trong tổ quỉ thì ông Bang
biện Hưỡn leo lên nằm ngủ trưa. Vì tiết tiết viêm nhiệt, ông không trải chiếu,
chỉ kê chiếc gối lên đầu rồi mình trần, nằm lăn trên mặt gỗ bóng loáng để nghe
cái mát rượi từ mặt gỗ thấm vào châu thân. Căn nhà đã đóng kín cửa, chìm trong
bóng mờ xóm nhạt. Thần trí ông lún dần vào cơn nửa thức nửa ngủ, nhưng ông vẫn
nghe rõ tiếng gà gáy trong xóm gáy te te, tiếng chó sủa ăng ẳng... Tay chân ông
bỗng nặng chĩu như dán xuống mặt gỗ, như bị từng tảng đá nặng đè lên. Máu huyết
ông dần dà như biến thành keo đặc sệt, khó thể lưu thông. Tâm trí ông chìm vào
từng giấc ngủ lụn vụn, nhưng khi tan giấc, ông vẫn không thể mở mắt để thoát khỏi
trạng thái lơ mờ nặng nề kia. Vía ông lúc đó bình bồng trôi dạt vào một vùng lầy
lụa nhì nhằng như trong chiếc lưới ướt nước. Ông thét thật lớn, nhưng tiếng
thét chỉ dội vào vào thần trí mỏi mệt của ông chớ không thể vọng ra cõi ngoài.
Một tia sáng vắt qua óc ông: Hay là mình bị mộc đè? Ông già bà cả ở thôn quê
thường bảo rằng thứ cây đóng ván giương nếu có con vật gì nằm chết trên đó thường
gây cho người nằm ngủ chứng mộc đè. Kẻ nào xẻ gỡ quan tài làm bộ ván ngủ là vô
tình nuôi vong hồn cho bộ ván ấy. Loại gỗ của những cây sống trên nửa thề kỷ,
đã thành tinh thành yêu, cũng gây tình trạng mộc đè như gỗ đóng quan tài hay gỗ
có vật chết trên đó.
Khi ông Bang biện Huỡn nghĩ tới đây thì một khuôn mặt già, da nhăn nheo, mốc mốc
như vỏ cây lâu đời đóng men, tóc trắng như bún tàu, áp kề khuôn mặt ông. Bà già
le cái lưỡi đỏ lòm, hả họng tác hoác la lờn:
- Thằng ôn dịch! Sao mầy mua thân tao về đây để cha con bay rước pbụ nữ về hành
lạc? Tao nói cho mầy biết, tao là con tinh cây cẩm lai. Số tao phải tới một
trăm năm mới mãn, ai dè thằng Tây kiểm lâm đốn tao, cưa từng đoạn xẻ gỗ đóng tủ,
đóng đi- quăng. Tao chết tức tưởi, hồn phách không tan nên nương theo khúc gốc
là khúc xẻ ra đóng đi- quăng nầy. Bây mà làm ô uế thân tao, tao sẽ vặn họng hai
tía con cho tới trặc ổ mới đã nư tao!
Tới đây ông Bang biện Hưỡn tỉnh giấc mộng giữa ngày, mồ hôi tháo ra như tắm. Suốt
khoảng ngày còn lại hôm đó, ông cứ bần thần suy nghĩ. Theo như lời thầy giáo Lạc
kể lại thì thầy đã mua bộ divan này hối hai năm trước. Thầy kê nó trong pòng đọc
sách và không có hiện tượng gì xảy ra. Giờ đây, ông chỉ mới đặt lưng trên divan
có một lần mà đã gặp thần cây về hăm dọa. Hay là mình chỉ chiêm bao quàng xiên?
Chi bằng đợi thằng quí tử về, để nó nằm vài keo thì sẽ rõ hư thực!
Cuối tuần, cậu Hai Luyện từ Mỹ An quá giang ghe lúa về nhà. Bà Bang biện Hưỡn
và hai cô Cẩm vẫn chưa về tới. Nhà chỉ có ông bà Năm Đặng trông coi mọi việc.
Ông bang Biện Hưỡn ngỏ ý với bà Năm Đặng:
- Thằng Hai về nghỉ cuối tuần, đì nên làm bữa ăn đặc biệt đặng ối nay tía con
tui cụng ly với dượng Năm.
Bà Năm iền xách giỏ đi chợ mua thịt cá, tôm cua. Cậu Hai Luyện một khi về thành
phố như rồng gặp mây, lân gặp pháo. Cậu đến thăm các có gái chịu chơi trong tỉnh
trước khi về nhà dùng cơm trưa với cha và dì dượng. Sau đó, cậu lơn tơn thả bộ
ra tiệm may của cô Bảy Cẩm Thạch ở hông nhà lồng chợ. Cô nầy vốn là nhơn tình
cũ của cậu, từ khi hóa chồng cứ thậm thụt ăn nằm với cậu hoài.
Vừa thấy cậu, cô ré lên rủa:
- Mắc dịch mắc gió thằng cha đoản hầu nầy! Từ cả tháng nay, thằng chả chui rúc ở
lỗ nẻ nào mà biệt tăm biệt dạng vậy cà? Hôm nay thằng chả tới đây, chắc gió bào
sắp thổi tới thành phố nầy chớ chẳng không!
Cậu Hai Luyện bãi buôi:
- Mạnh giỏi, em Bảy! Bấy lâu nay qua bận việc nhà nước nên lột lạt tình em, chớ
thiệt ra lòng dạ qua trước sao sau vậy!
Cô Bảy hôm nay bận bộ đồ xẩm bằng lục cẩm châu, lai áo lai quần thêu bông bằng
chỉ ngũ sắc. Tóc cô đánh bím con rít rồi bới thành cái bánh tiêu bự chèm bẹp
sau ót. Cô đeo sưu bộ cẩm thạch xanh lặt lia gồm đôi vòng tay, đôi bông tai,
xâu chuổi hột, cà rá, trâm giắt búi tóc. Tên thiệt của cô là Bảy Thành nhưng vì
cô ưa đeo cẩm thạch nên mới có tên Bảy Cẩm Thạch như vậy. Tiệm cô chuyên may y
phục phụ nữ lẫn áo đầm cho mấy đứa con gái nhỏ.
Cô Bảy Cẩm Thạch chúm chím miệng cười, long lanh sóng mắt, lẳng sao mà lẳng nhức
nhối, ác ôn! Cô trề môi:
- Anh là chúa xạo, lòng dạ quanh co khúc mắc, ai mà dò đặng lòng anh! Anh thắm
chỗ nào, phai chỗ nào, lợt lạt lúc nào sao em biết đặng! Lâu lâu em phải xóc miểng
sành của anh, anh mới động tâm tới đây.
Cô buông chiếc kéo xuống bàn cắt, xếp khúc lụa màu xanh da trời bỏ vô hộc tủ rồi
rót trà mời cậu Hai Luyện. Cậu vào đề ngay:
- Xế nay em có rảnh không?
Cô Bảy lắc đầu liếc vế hai cô thợ may:
- Em phải coi tiệm chiều tối mới rảnh.
Cậu Hai Luyện kèo nài:
- Em không thu xếp để có đôi chút thời giờ sống cho... đôi ta hay sao? Đi xa,
anh nhớ thành phố này có một, nhớ em tới mười, tới trăm lận!
Cô Bảy Cẩm Thạch thò bàn tay trắng trẻo mịn màng vả vô miệng tình nhơn một cái
chách, rủa:
- Đồ xạo! Đồ yêu lồi! Đờn bà con gái bị cái miệng tía dốc của anh mà có ngày chửa
hoang đẻ lạnh chớ không chơi! Để em lên lầu dặn con em kế vài việc rồi sẽ đi
chơi với anh.
Cô Thám Thiệt, em kế cô Bảy Cẩm Thạch, đang nằm đọc báo. Cô được bạn bè gọi là
cô Tám Cẩm Vân vì chẳng những cô thích đeo cẩm thạch mà còn ưa bận áo dài bằng
cẩm vân màu tím than khi đi ra ngoài mua sắm. Cô Tám cũng là gái chịu chơi
nhưng ưa cặp xách với ông Tây như quan chánh tham biện, quan cò- mi, ông chủ đề-
bô nước đá nước ngọt, ông biện lý. Vừa thấy chị mặt mày hớn hở, cô hỏi liền:
- Thằng kép mắc dịch nào đến thỉnh chị đó?
Cô Bảy Cẩm Thạch cười:
- Quan Kinh lý Luyện chớ ai!
Cô Cẩm Vân xí dài một tiếng:
- Quan (hoan) đàng chi địa đó mà! Thằng cha đó keo kiệt rít róng, đi chơi với
nó mật thì giờ, rồi nằm ngữa cho nó chơi càng uổng công uổng sức. Cái tướng mặt
của nó lóng rày coi hắc ám lắm đa chị. Thứ môi tro mặt bùn là tướng tàn mạt,
phi bần ắc yểu.
Cô Bảy Cẩm Thạch nguýt dài, mắng em:
- Con đĩ hổ mang nầy hễ mở miệng là phun nọc độc tùm lum! Ảnh có cầm vuông tai
Phật, yểu mạng sao được!
Cô trút bô áo xẩm bằng lụa cẩm châu, mặc áo dài gấm màu dưa cải, quần sa- teng
tuyết nhung đen, dặn em:
- Rán xách đít xuống từng trệt trông coi tiệm giùm tao.
Cả hai cùng bước xuống lầu. Cô Tám lạnh lùng chào cậu Hai Kinh lý Luyện rồi kéo
ghế bên bàn ắt để ngồi đọc báo. Cô Bảy Cẩm Thạch cùng cậu bước ra ngoài để đi
ăn cơm trưa ở chiếc quán gần chợ cá.
Cô Bảy thỉnh thoảng nhìn lên tình nhơn. Quả thiệt mặt cậu sậm như bùn, môi cậu
xám như tro. Cô không rành tướng số, nhưng cô nghĩ rằng sắc diện u ám dường ấy
là triệu chứng của một thể chất đang hồi bịnh hoạn.
Sau chẩu cơm chiên căn cặp với gà rô- ti, cả hai cùng leo lên xe kéo về cái tổ
quỉ của cậu ở cầu Kinh Cụt. Ở đây bàn ghế ván giường được thằng Xiêm quét dọn từ
sáng sớm.
Sau hai hiệp mây giăng mù mịt mưa rớt dầm dề, cô Bảy Cẩm Thạch vụt cảm thấy bào
xào xao xuyến với một cảm giác khó hiều. Cô vụt chổi dậy mặc quần áo và bảo
tình nhơn:
- Không hiểu tại sao em hồi họp quá, chắc ở tiệm có chuyện gì xảy ra. Thôi để
em về. Tối nếu anh rảnh, tới tìm em.
Cậu Hai Luyện vẫn nằm dài thây trên chiếc divan cẩm lai. Cậu thấm mệt vì hai
keo ân ái nên chỉ muốn nằm một mình ở đây đánh một giấc trưa, không có con đờn
bà nào lằng nhằng vương vấn bên cạnh cậu. Cậu liền nói đẩy đưa:
- Ừ, nếu em cảm thấy bất an thì cứ về.
Mí mặt cậu nặng chĩu. Con lười biếng bạc nhược làm thể xác cậu mềm nhũn. Cô Bảy
Cẩm Thạch liếc qua cậu, kín đáo trề môi nguýt háy rồi mở bóp lấy hộp phấn hồng
tô lên má, lấy thỏi son thoa cặp môi. Khi cô tang điểm xong thì cậu Hai Luyện
đã ngáy lảnh lót. Xời ơi, đờn ông gì mà... thiếu tế nhị. Nó chơi mình xong là
lăn kình ra ngủ, không biết ve vuốt mình, không biết ngọt bùi gì ráo! Nó coi
mình như con điếm, một món đồ chơi không bằng. Chiều nay mà nó xách đít tới tiệm
may, tui sẽ đạp đít nó đuổi ra cửa rồi hốt gạo muối vãi vô nó như đuổi phong
long, đuổi tà.
Cô Bảy Cẩm Thạch vùng vằng mở cửa bước ra ngoài, cuộc bộ một khúc đường mới tìm
được xe lôi để về nhà.
Trong tổ quỉ, cậu Hai luyện chìm trong giấc ngủ nặng như chì. Tay chơn cậu như
đóng đinh vào mặt gỗ. ngực cậu nặng chĩu nhưng cận vẫn ý thức được cậu đang bị
mộc đè, chỉ cần có người khua động bên tai là cậu sẽ ra khỏi cơn nửa mê nửa tỉnh
đó. Bồng một khuôn mặt đờn bà già nua xấu xí nhăn nheo gớm ghiếc áp gần mặt cậu.
Mụ hét:
- Quân dâm dục dắt gái về đây xỏ lỗ làm dơ nhớp thân tao. Tao sẽ vả cho mày trẹo
quai hàm.
Cậu Hai Luyện hét lên và tỉnh dậy, nghe đau buốt cả hàm. Cậu bước lại kiếng soi
mặt thì thấy một bên cằm mình sưng vù và đỏ ửng, nhưng may miệng cậu không méo
và quai hòm không trẹo.
Tuy vậy cậu Hai Luyện chưa tin hẳn mình bị mộc đè, bởi cậu nhiễm Tây Học. luôn
nghĩ rằng mình không nên tin dị đoan. Cậu tỉm khăn lau sửa soạn đi tắm, đánh
răng, chải đầu. Nhìn vào gương, cậu thấy mặt mình sáng láng, cặp mắt linh hoạt,
nụ cười láng ánh men rực rỡ. Ngặt một nỗi vết sưng đang từ màu đỏ ửng chuyển
sang màu đỏ bầm pha chút tím tím nên cậu mở chai dầu phong ra thoa lên vết bầm.
Cậu diện quần áo mới, quần vải kaki trắng, áo bành tô cũng bằng kaki trắng tra
nút hổ phách, giày tây da vàng. Sau đó cậu đóng cửa tổ quỉ, khóa cẩn thận rồi
ngoắc xe kéo đến tiệm cô Bảy Cẩm Thạch. Lúc đó cô Tám Cẩm Vân đang coi tiệm. Vừa
thấy cậu Hai Luyện, mặt cô ta chù ụ liền. Cậu Hai dả lả:
- Nè em Tám, chẳng hay em Bảy đâu rồi?
Cô Tám Cẩm Vân dấm dẳn:
- Anh đưa mụ chị tui đi ngao du sơn thủy đâu không biết, rồi đành đoạn để mụ về
nhà một mình, mặt mày đỏ rần vì lên cơn sốt. Bây giờ mụ nằm trùm mền nắm trên lầu.
Tui có sai con ở rước thầy y tá ở dãy phố trên Cầu lộ, chích cho mủ hai mũi thuốc,
vậy mà cơn nóng sốt chưa chịu hạ xuống.
Cậu Hai Luyện năn nỉ:
- Cho anh lên thăm chị Bảy em một chút.
Cô Tá, Cẩm Vân nguýt cậu Hai một cái dài sộc rồi cắm cúi đơm nút kết khuy. Cậu
Hai Luyện xững vững bước lên lầu, lòng ngổn ngang những cảm nghĩ khó chịu. Cái
divan cẩm lai gieo vào ý nghĩ cậu những ám ảnh lờ mờ trên suốt đường từ tổ quỉ
đến đây, bỗng dưng làm cậu cảm thấy tay chơn mình lạnh ngắt vì sợ hãi.
Cô Bảy Cầm Thạch đang nằm thiêm thiếp trên giường, chiếc mền nỉ đỏ kéo tới cổ.
Cậu Hai Luyện rón rén bước lại giường, đặt tay lên trán cô. Chà chà, bịnh này
không nhẹ đâu! Cơn sốt đang lên cao nên mặt mũi y thị đỏ như say rượu. Cô Bảy Cẩm
Thạch mở mắt ra, mệt nhọc bảo:
- Em vừa ngủ một giấc ngắn. Trong chiêm bao em thấy một mụ già cùng hung cực ác
đến hăm he em rằng: "Mầy và thằng quỉ dâm cục kia dám lên thân tao bày
chuyện gió trăng, tao sẽ hành cho mầy bị huyết trắng hoặc sa tử cung cho đã tức".
Khi tỉnh dậy, em ớn lạnh khắp mình mẩy, sẵn cảm gió say nắng, em phát bịnh rồi
anh ạ.
Cậu Hai Kinh Lý nói át:
- Hồi sáng trời mưa, giờ nắng lên chói chan, cho nên khí độc từ đất xông lên
nghi ngút. Ai mà sẵn nhược chất liễu bồ như em dễ bị cảm cúm lắm! Hễ lúc đau ốm,
người ta thường nằm mê man, gặp toàn ác mộng. Hơi đâu mà em thắc mắc cho mệt!
Miệng cậu tuy nói cứng, nhưng lòng cậu đã bắt đầu dao động. Cậu quanh quẩn bên
cô Bảy thêm một chặp nữa rồi mới kiếu từ ra về. Cậu nghĩ mình phải thú thiệt
cùng cha, bán cái divan ác ôn đó đi.
Ra khỏi tiệm may, cậu Hai luyện thấy trời uôi uôi nắng nên thả bộ rề rề về nhà.
Khi tới nơi sở Công Chánh, cậu gặp chiếc xe hơi Renault chạy chầm chậm về phía
ngược chiều. Chiếc xe bỗng ngừng lại bên lề đường, một người đàn ông tuổi cỡ
ngoài ba mươi mặc Âu phục bước xuống
gọi:
- Cậu Luyện đó hả? Anh Ba đây!
Cậu Hai Luyện mừng rỡ:
- Ủa, anh Ba! Anh lên đây hồi nào?
- Hồi sáng, anh có qua thăm chú thím Bang biện ở Cầu Đào.
Nguyên ngưởi đàn ông nầy vốn là chồng của người chị con nhà bác của cậu Luyện.
Ông ta tên là Nguyễn Văn Khải, gốc người quẫn Tam Bình. Cha của ông trước kia
làm Biện cho thầy Cai tổng Nhung. Sau đó, gia đình thầy biện Nguyễn Văn Khảo
đem gia đình về ở gần xóm Khương Hữu Phụng. Nghe nói giữa cậu Khải và cô Minh
Ngọc, trưởng nữ của thầy Cai tổng Nhung có tư ước tư tình với nhau. Vộ chồng thầy
Cai tổng chê gia đình chú Biện Khảo thấp thỏi hơn mình nên tìm cách chặt đứt mối
tình giữa con gái cưng và anh học trò nghèo tên Khải. Thầy hách dịch bảo chú Biện:
- Mầy muốn làm suôi với tao thì gắng mà làm giàu, gắng chạy chọt quan trên để
làm thầy bang. Tao không thích suôi của tao được thiên hạ kêu bằng chú biện
trơn lu. Thầy cai tổng phải làm suôi với thầy bang biện mới xứng!
Cô Minh Ngọc thất vọng quá, mua á phiện trộn giấm thanh tự tử, sau khi gửi bức
thư tuyệt nạng cho tình quân. Cậu Khải đau khổ muốn phát điên, bỏ nhà đi lang
thang một dạo. Sau đó cậu được ngưới bác ruột có cửa tiệm bán đèn măng- sông,
dàn hát máy và dĩa hát ở Sài gòn nuôi ăn học thành tài, lần hồi lên tới tri huyện.
Sáu năm trước, ông Khải kết hôn với cô Ba Kim Chưởng, con gái ông Cai tổng Chất.
Ông nầy là anh một cha khác mẹ với ông Bang biện Hưỡn. Tuy nhiên cuộc hôn nhơn
đó không đem lại hạnh phúc cho đôi bên. Cô Ba ít lầu sau từ trần vì bịnh lao. Tứ
đó ông Huyện Khải không nghĩ tới việc tục huyền nữa. Hiện giờ ông được bổ về
làm việc ở huyện Tiểu Cần thuộc tỉnh Trà Vinh.
Cậu Hai Luyện mừng rỡ:
- Nè anh Ba, chốc nữa anh có về nhà tía em không? Hay là anh về thẳng Tiểu Cần?
Ông Huyện Khải trả lời:
- Sáng mốt anh mới về Tiểu Cần. Anh lên Vĩnh Long để lo vài ba việc. Chú Bang
biện giữ anh ở Cầu Đào chớ không cho anh ở chỗ nào khác.
Cậu Hai nói xuôi:
- Thôi để em về Cầu Đào trước. Lÿt nữa anh em mình mặc sức cụng ly và hàn huyên
với nhau.
Quanh mâm cơm chiều hôm đó, cậu Hai Luyện thuật cho cha và ông huyện Khải nghe
quái trạng về chiếc divan cẩm lai. Ông Bang biện Hưỡn cũng kể cho con và cháu rể
nghe giấc chiêm bao vào hôm ông ngủ trưa lần đầu tiên trên chiếc divan ấy. Ông
Huyện Khải khuyên:
- Vậy thì nên đốt cái divan đó đi, để cho tinh linh cây cẩm lai được siêu sanh.
Ông Bang biện Hưỡn lắc đầu:
- Cháu đừng nghĩ vậy. Để rồi chú tìm cách bán rẻ cho kẻ thích xài bàn ghế xưa.
Ông Huyện Khải chỉ cười cười không nói gì thêm. Sau cùng, ông tỏ thiệt với cha
con ông Bang biện Hưỡn:
- Cháu lên đây cũng có chút việc. Số là người em bà con nhà chú của cháu mấy
năm gần đây được bác sĩ cho biết nó có triệu chứng bị bịnh cùi. Tía má nó sợ nó
bị nhà nước bắt vô trại cùi ở cù lao Rồng gần chợ Mỹ Tho. Cháu có nghe ông Năm
Tảo ở gần đây là tay thần y, biết đâu nhờ ổng điều trị mà bịnh nan y được
thuyên giảm chăng!
Cậu Hai Luyện chắc lưỡi:
- Coi bộ khó đó đa! Bịnh lao, bịnh cùi là bịnh ngặt. Đông y Tây y đều bó tay,
anh quên rồi sao?
Ông Huyện Khải chẩm rãi:
- Biết vậy, nhưng bịnh nó chưa phát tác, vậy thì mình cũng nên hy vọng chút ít
chớ. Vả lại ngành Đông y đôi khi đôi khi cũng trị được bịnh lao, bịnh cùi vậy.
Bộ em chưa coi tuồng hát bội Kim Thạch kỳ duyên của nhà chí sĩ Bùi Hữu Nghĩa
hay sao? Chàng Kim Ngọc được ông thầy thuốc Thạch Đạo Toàn trị dứt bịnh cùi để
sau nầy đi đánh giặc lập công, được vua phong vương tước đó. Em nên nhớ cụ Bùi
Hữu Nghĩa thông hiểu y lý cũng như nho y Nguyễn Đình Chiểu vậy.
Ông Bang biện Hưỡn đề nghị:
- Ừ, cứ cho người em nhà chú của cháu đến đây trị cầu may. Phải kiếm nhà cho y
ta ở vì bịnh cùi phải được điều trị qua năm nầy tháng nọ, chớ không phải chỉ trị
một vài ngày đâu.
Ông Huyện Khải tán thành:
- Lời chú bàn rất hiệp ý cháu. Nhưng làm sao kiếm nhà choa thằng em cháu ở đây?
Ông Bang biện có vẽ suy nghĩ:
- Ở xóm Chuồng Gà có túp nhà lá của bà Bảy Lực bỏ hoang từ một năm nay. Bả dời
ra Cầu Dài để mở vựa mắm. Để rồi chú tính cho cháu.
Nói tới đây, ông Bang biện thầm tính trong bụng, sau khi sửa chữa túp nhà lá
cho người em con nhà chú của ông Huyện Khải, ông sẽ gạ gẫm đương sự bán tống
chiếc divan ác ôn kia đi.
Cơm nước xong, chị bếp lo nấu cháo gà và ché thưng để các tay binh xập xám và
xoa mạt chược ăn giải lao lúc khuya. Ông Bang biện Hưỡn hỏi cháu rể:
- Tối nay có mấy tay chơi tới đây chơi bài, cháu có quen tiếng ồn ào không?
Ông Huyện Khải cười gượng. Cậu Hai Kinh lý thấy vậy hiểu ý ông anh rể họ của
mình, bèn đề nghị với cha:
- Nếu anh Huyện sợ ồn ào, con sẽ đưa ảnh lên tổ quỉ của cha con mình tên cầu
Kinh Cụt. Ở đó yên tĩnh lắm, chỉ sợ anh Huyện gán cái divan ma quỉ vả cái bãi
tha ma mộ địa trước cửa đó thôi.
Ông Huyện Khải tươi nét mặt:
- Anh không sợ đâu. Cổ nhân có câu: "đức trọng quỉ thần kinh", em hãy
đưa anh tới đó ngủ đêm. Ma quỉ anh không sợ, chỉ sợ tiếng ồn.
Ông Bang biện Hưỡn vui vẻ:
- Được vậy thì tốt lắm! Chú cũng nghĩ rằng tử sanh hữu mạng. Gần nghĩa địa thiếu
gì nhà cất san sát. Để chú sai thằng Xiêm đem mùng mền chiếu gối mới thay lớp
cũ. Nó sẽ ở đó hủ hỉ với cháu và thằng tài xế. Trước ba người đàn ông nặng bóng
vía thì ma nào dám lộng, quỉ nào dám phá?
Ông Huyện Khải ngon lành:
- Ngủ một mình tại đó, cháu cũng chẳng sợ!
Ông Bang biện cười:
- Cứ để thằng Xiêm ở đó phục dịch cháu. Ở đó có nước tắm, có nước mưa để pha
trà, pha cà phê.
Vậy là đêm đó ông huyện Khải ngủ ở cầu Kinh Cụt. Ông đành nằm trên chiếc divan
cẩm lai. Còn thằng Xiêm và anh tài xế thì ngủ trân giường đồng. Thằng Xiêm xợ bị
tía con ông Bang biện Hưỡn trách mắng nên cuốn gối nệm và drap bày trên giường
đồng, thay thế bằng chiếc gối rơm và cái chiếu đậu.
Ông Huyện Khải bằng lòng chỗ ngủ đơn giản. Trời nực, được nằm trên mặt cẩm lai
bóng láng, ông cảm hấy mát mẻ dễ chịu như nằm trên mặt đá hoa cương. Bên hông
nhà, dòng nước từ con kinh Công- xi heo đổ ra kinh Huỳnh Tá rì rào. Thằng Xiêm
và anh tài xế rủ nhau ra trước nhà xem đèn ma từ các ngôi mộ bốc ra phất phơ rồi
tản mạn trước gió. Thằng Xiêm bảo:
- Coi vậy chớ đèn ma hiền lắm, chẳng hại ai hết.
Con chó ở cuối xóm phía sau đình Tân Giai thỉnh thoảng sủa ăng ẳng. Một chị
thương hồ khi chèo ghe qua bến nước sau nhà, cất giọng hò:
Con cá đối nằm trên cối đá
Con cò lửa đứng trước của ló
Ghét anh lòng dạ quanh co
Ngặt em còn tưởng giọng hò dễ thương
Ủa lạ, mấy câu hát nầy hôm nay sao lại trổi lên? Ông Huyện Khải nhớ lại hồi mười
tám năm trước, cô Minh Ngọc mỗi khi nằm trên võng để ru thằng cháu kêu bằng dì
đi ngủ cũng thường ru bằng mấy câu hát đó. Giờ đây thịt cô đã rã tan, nhưng
xương cô còn vùi sâu dưới nắm mộ cẩn đá lục lăng trong cuộc đất hương hỏa của
dòng họ cô. Ông cứ mỗi năm đến đó đặt lên một bó bông sen trắng, thắp một nén
nhang để tưởng niệm người yêu cũ. Ông bà Cai tổng Nhung đã lần lượt qua đời hồi
bảy năm trước. Con trưởng ông là thầy Hương quản Gấm vẫn còn ở chăm nom ngôi
nhà thừa tự, bề sinh sống cũng khá vững vàng.
Ông Huyện Khải lẩm nhẩm đọc lại bức thư tuyệt mạng của cô Minh Ngọc mà ông đã
thuộc làu từ mười tám năm qua. Ông khe khẽ ngâm lại hai câu thơ trong bức thư nầy::
Tái sanh bướm lại gặp hoa
Thề xưa hẹm cũ ai mà dám quên!
Ôi, trời đất mênh mông, nẻo u minh xa lắc, càn khôn vũ trụ tối mờ, làm sao ông
dám tin tưởng sẽ có ngày tái ngộ với người yêu?
Khi trống điểm canh ba, thần trí ông Huyện Khải mới chìm dần vào giấc ngủ. Bỗng
dưng ông thấy mình đứng giữa căn nhà lợp lá cũ của tía má ông hồi mười tám năm
về trước. Nhà đó đã bị giỡ từ lâu, mười công đất cũ của chú Biện Khảo cũng đã
bán mất. Một bà già mặt mũi nhăn heo dữ tợn đến gần ông. Ông chợt lùi lại vì
ánh hung quang từ cặp mắt bà ta làm dạ ông bồn chồn. Bà già liền trấn an:
- Quan huyện chớ sợ! Tui là con tinh già của cây cẩm lai trên rừng Xuân Lộc.
Thân tui bị đốn, bị cưa xẻ làm bàn, làm tủ, làm bộ "đi- quăng" chân
quỳ mà quan huyện đang nắm đó. Bởi khúc làm "đi- quăng" nầy là khúc gốc
nên hồn tui cứ theo bộ "di- quăng" hoài hoài. Ai là kẻ tu nhân tích đức,
ai là người quân tử hiền nhơn, ai là bực trinh liệt tiết tháo mà nằm trên
"đi- quăng" thì hồn tui sớm được đấu thai vào cảnh giới tốt. Ngặt là
bọn cường hào ác bá như tên Bang biện Hưỡn, phường tham dâm háo sắc như thằng
con hắn cứ đem gái về hành lạc trên mình tui thì làm sao hồn tui sớm đi đầu
thai cho được! Nay gặp được người làm quan thanh liêm như quan đây, tui mới hiện
hồn trong giấc chiêm bao của quan để thổ lộ vài điều. Xin quan bỏ tiền ra mua
chiếc "đi- quăng" rồi đặt vào nhà người em con nhà chú đang mắc bịnh
cùi của quan. Ông ta tuy mang bệnh nan y nhưng là kẻ minh tâm kiến tánh, biết
trọng Phật kính tăng. Có vậy tui sẽ phò hộ ổng để bịnh ngặt có cơ hội chữa
lành. Mà tui cũng có cơ hội rời cõi trần gian uế trược nầy để thác sanh vào cõi
trời Tứ Thiên Vương làm cây quỳnh trổ bông ngũ sắc cho chư tiên cúng Phật.
Vía ông Huyện Khải bảo:
- Nếu bà có lòng chỉ dạy như vậy thì lẽ nào tôi chẳng vưng lời!
Hồn con tinh cây cẩm lai lại nói thêm:
- Luôn tiện đây, tui báo cho quan rõ: Hồn tôi đêm nay sẽ đưa vía quan tới nơi
cư ngụ cũ để chỉ cho quan thấy ở góc nhà cũ, tức là trong bụi cây mua hoa tím,
chủ đất bốn đời trước có chôn một hũ vàng ngọc. Quan hãy tìm cách mua lại đất
cũ và moi hũ lên, lấy cặp vòng cẩm thạch trong hũ làm sính lễ cưới vợ.
Ông huyện Khải lắc đầu:
- Nếu tôi đào được hũ châu báu đó thì tôi phải tìm con cháu chủ cũ đặng giao trả
lại, lẽ nào tôi hưởng của phi nghĩa cho đành!
Bà già cười:
- Tui biết cái tâm quang minh chính đại của quan lắm, nhưng xin quan yên lòng!
Bởi người chủ cũ là thứ cường hào ác bá, tánh bòn tro đãi trấu, rút rỉa của cải
dân lành để sắm vàng ngọc, cho nên khi họ chết đi thì con cháu tứ tán mai một dần
dần. Đôi vàng ngọc cũng là của tổ tiên quan bị họ tròng tréo để mua rẻ. Giờ đôi
vòng đó trở lại tay quan là theo lẽ Hiệp Phố hườn châu chớ có gì lạ! Còn các
món vàng ngọc châu báu khác thì quan muốn cho ai tùy ý!
Ông Huyện Khải lại hỏi:
- Bà biết nơi nào để tôi chọn người phối ngẫu không?
Bà già cười thiệt tươi:
- Sáng mai đây quan sẽ rõ người đó là ai. Vốn là hậu thân của cố nhơn quan, tức
là cô Trịnh Thị Minh Ngọc đầu thai chớ không ai xa lạ đâu!
Bà già biến mất. Ông Huyện Khải giựt mình thức giấc thì trời đã sáng trắng.
Ngoài đường có tiếng bạn hàng bán rau cải, cá mắm, bánh trái lui tới rộn ràng.
Thằng Xiêm ân cần:
- Mời quan lớn rửa mặt rồi về nhà ông Bang biện dùng điểm tâm.
Ông Huyện Khải:
- Vậy chớ cậu Hai Kinh lý có còn ở Cầu Đào hay đi Mỹ An rồi?
Thằng Xiêm lễ phép:
- Thưa quan lớn, cậu Hai con chiều tối mới đi ghe buồm về Mỹ An. Sáng nay cậu
con đi thăm người quen rồi sẽ về dùng cơm trưa với quan lớn và cả nhà.
Ông Huyện Khải bước ra nhà sau thì thấy có thau nước đặt trên cái chạc ba chân
dưới gốc cây kế. Gần đó có chiếc sào tre vắt chiếc khăn lông trắng tinh. Bên cạnh,
trên chiếc băng xi- măng, anh tài xế đã đặt sẵn cái hộp đựng đồ cạo râu, dầu
thơm, bàn chải chà răng, phấn đánh răng hiệu Kool, gương lược...
Sau khi làm xong thủ tục buổi sáng, ông HuyệnKhải cầm hai tờ giấy một đồng đưa
cho người tài xế, dặn:
- Em cầm tiền ăn sáng và ăn cơm trưa. Trước hết, hãy đưa tôi và cháu Xiêm đây về
Cầu Đào rồi hẵng đi tiệm nước. Ăn điểm tâm xong, nhớ trở lại Cầu Đào nghe!
Tại nhà ông Bang biện Hưỡn, sau khi cùng tía con ông ngồi và bàn điểm tâm, ông
Huyện Khải dặn:
- Sáng nay nếu có rảnh, chú đưa cháu đến nhà ông Năm Tảo, luôn tiện chú dắt cháu
tới nhà bà Bảy Lược để thuê nhà và sửa sang cho tươm tất.
Ông Bang biện rót cà phê vào tách ông Huyện Khải:
- Nhà đó ở khít bên cạnh nhà anh chị Năm Tảo, cách cái hàng rào bằng cây trà
tươi. Chuyện thuê nhà cũng dễ thôi vì bà Bảy Lược hiện giờ dời về xóm Cầu Dài,
gần chùa Bà thờ đức Thiên Hậu mà dân vùng nầy gọi là chùa Minh Hương. Sở dĩ nhà
đó không ai thuê vì xóm Chuồng Gà có nhiều mồ mả, thiên hạ ngại cư ngụ ở vùng lảng
vảng bóng âm hồn.
Bữa điểm tâm thịnh soạn với món bánh canh bột gạo nấu tôm cua, món xôi lục xưởng,
cà phê, trà... Sau đó ông Bang biện Hưỡn rủ ông Huyện Khải đến nhà bà Bảy Lược
trước khi đến nhà ông Năm Tảo. Cuộc ngã giá cũng dễ dàng. Bà Bảy Lực cần hai chục
đồng để tu bổ mái lợp lá xé, vÿch ván, làm cỏ sân trước và hai bên hè. Ông Huyện
Khải móc bóp lấy hai tấm giấy hai chục đồng in hình con công đưa ông Bang biện
và ông đến xóm Chuồng Gà để viếng ông bà Năm Tảo.
May mắn làm sao, sáng hôm đó ông Năm Tảo có nhà. Ông đang o bế mấy chậu cây kiểng
và hòn non bộ trong sân. Còn bà thì đang bày cối để giã gạo bên hè. Thấy khách
sang tới, bà Năm Tảo tạm dẹp chày cối vào nhà sau, òn ông Năm thì mời khách bước
vào trung đường uống trà.
Ông Bang biện Hưỡn liền nói ngay mục đích chánh cuộc thăm viếng của chú cháu
ông. Ông Năm Tảo lắng tai chăm chú nghe, rồi quay vào trong gọi:
- Con Hai đâu? Mau pha trà đem ra đây để chào bác Bang biện cùng quan lớn.
Bên trong có tiếng dạ thiệt ngọt ngào thanh tao. Ông Năm Tảo trầm ngâm:
- Quả thiệt là bịnh nan y đó. Tuy nhiên tui cũng cần xem mạch, xem sắc diện bịnh
nhơn mới biết được phải dùng y phương nào, trị liệu nào. Còn ngôi nhà chị Bảy
Lược cũng chẳn hư hao gì nhiều vì chị Bảy mới dọn về Cầu Dài chừng một năm
thôi. Lát nữa tui sẽ đưa quan lớn tới viếng coi cái mặt tiền và khu đất chung
quanh.
Ông Huyện Khải lộ vẻ buồn:
- Chẳng dấu gì bác Năm, thằng em tui là dân ăn học, có tương lai hứa hẹn vì nó
đậu bằng bác vật canh nông ở bên Tây. Nay nó vướng bịnh ngặt thì kể như cuộc đời
nó gãy đổ ráo trọi. Mong bác tìm tòi sách vở tham cứu cách trị liệu để cứu vớt
nó.
Ông Năm Tảo trầm ngâm:
- Thì mình cứ hết sức mình. Trị lành bịnh hay không vẫn so sức trời. Nhưng ông
bà mình cũng có khuyên đôi khi nhơn định thắng thiên mạng như thường.
Cô Hai Túy Ngọc bưng trà ra. Vì khách sang tới nhà nên cô vâng lời mẹ, mặc áo
dài, mang giày nhung và chọn bộ ấm chén Vương Khải trân ngoạn để đãi trà. Cô dạn
dĩ, đi đứng khoan thai. Vừa tới bộ trường kỷ mà khách đang ngồi đàm đạo với cha
cô, cô cất tiếng chào:
- Kính chào quan lớn! Thưa bác Bang biện tới chơi.
Vừa khi cô Hai đặt khay trà trên chiếc bàn dài bằng cẩm lai giữa hai chiếc trừng
kỷ thì ông Huyện Khải ngó cô lom lom, mặt trắng bệch bạc. Trời ơi, có phải cô
Trịnh thị Minh Ngọc hiện hồn về đó chăng? Rõ ràng đây là chiếc áo dài bằng lụa
bạch Duy Xuyên mà cô Minh Ngọc thường mặc đi chợ. Chu choa ơi, đây là giọng
nói, khuôn mặt, dáng đi, điệu đứng của cô Minh Ngọc không sai một nét. Cô Hai
Túy Ngọc khi đó cũng nhìn lại ông. Mặt cô xanh dờn, cô lảo đảo gắng gựng dựa
lưng vào thân cột gỗ căm- xe để khỏi ngã. Co ôm ngực như chết điếng. Bỗng như
do một động lực vô hình xui khiến, cô thều thào:
- Anh Khải! Anh Nguyễn Văn Khải đó phải không?
Cũng bị sức vô hình đẩy tới, ông Huyện Khải đứng dậy bước tới cô, kêu lớn::
- Em Minh Ngọc! Có phải em hay không?
Cô Hai Túy Ngọc la lớn:
- Phải, em là Minh Ngọc, Trịnh thị Minh Ngọc con của thầy Cai tổng Trịnh Văn
Nhung ở Tam Bình đây!
Rồi cô xỉu nằm dài. Dù đang ở thời đại nam nũ thọ thọ bất thân nhưng ông Huyện
Khải quên tị hiềm, đỡ cô lại bộ ngựa bằng gỗ giáng hương. Bà Năm Tảo và cô Ba
Tây Nguyệt ở trong nhà túa ra xức dầu. giựt tóc mai, kêuu cô lai tỉnh. Ông Huyện
Khải đứng nhìn, nước mắt như mưa.
Khi hồi tỉnh, cô Hai Túy Ngọc chắp tay thưa:
- Thưa bác Bang biện, thưa tía má, hôm nay vừa thấy mặt ông Huyện đây, con vụt
nhớ lại tiền kiếp của con. So là kiếp trước hai đứa tụi con có tư ước với nhau,
nhưng duyên nợ không thành nên con tự vận. Trước khi cầm chén thuốc phiện trộn
giấm thanh đưa lên miệng, con có cầu Phật trời cho con đầu thai kiếp sau được kết
duyên với người tình xưa. Cũng bởi ba má kiếp trước của con bức ngặt con phải lấy
thằng chồng dại vì nó là con ông tri phủ Tam Bình nên con quẫn trí lánh nợ đời
đó thôi.
Nghe thuật lại mọi sự xảy ra hồi mười tám năm về trước, mọi người đều xửng sốt.
Ông Huyện Khải hỏi:
- Em còn nhớ hai câu thơ em viết trong bức thư tuyệt mạng gởi cho anh không?
- Cô Hai Túy Ngọc có vẻ suy nghĩ:
- Anh thử nhắc câu đầu, rồi em sẽ tiếp câu kế:
Ông Huyện Khải đọc:
- Tái sanh bướm lại gặp hoa...
Cô Hai Túy Ngọc tươi cười:
- Thôi em nhớ rồi! Thề xưa, hẹn cũ ai mà dám quên... Có phải vậy không anh?
Ông Huyên Khải mủi lòng quá, nắm tay cô Hai Túy Ngọc và cùng khóc với cô. Trừ
ông Bang biện Hưỡn ra, ai cũng giọt vắn giọt dài theo cặp tình nhơn qua suốt
hai kiếp được tái hội với nhau.
Ông Huyện Khải nói::
- Ai dè trong cõi minh mông, có ngày anh lại được gặp em, nhưng anh đã già rồi!
Ông Năm Tảo bảo:
- Thưa quan lớn, trông quan lớn chỉ cỡ 30 là cùng.
Ông Huyện Khải thú thật:
- Tôi đã ba mươi tám tuổi rồi!
Cô Hai Túy Ngọc lau nước mắt:
- Anh đừng nói vậy. Dù anh ruổi tới 60 và xấu xí như ông tiên Lý Thiết Quày
trong hàng bát tiên đi nữa, em cũng nguyện nâng khăn sửa túi cho anh.
Ông Năm Tảo tán thành:
- Con gái tui phân rất chí lý. Xin quan lớn chớ ngại.
Bà Năm Tảo tiếp lời:
- Chỉ sợ quan lớn chê nhà vợ chồng tui nghèo hèn nên không cưới con gái tui
thôi.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét