Bông huệ đỏ 1
Nguyên tác: Le Lys Rouge
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Anatole France (tên thật là François-Anatole Thibault,
16 tháng 4 năm 1844 - 13 tháng 10 năm 1924) sinh ở Paris, là con của một chủ cửa
hàng sách, từ nhỏ đã ham mê văn học, nghệ thuật. Học ở trường Collège Stanislas.
Trong thập niên 1860, France tiếp xúc với nhóm Parnasse và xuất bản tập thơ đầu
tiên (1873). Sau đó ông chuyển sang viết văn xuôi và thật sự có tiếng tăm khi
cuốn tiểu thuyết Le crime de Sylvestre Bonnard (Tội ác của Sylvestre
Bonnard, 1881) ra đời và được nhận giải thưởng Viện Hàn lâm Pháp. Trong thập
niên 1890, ông viết nhiều bài phê bình văn học cho Le Temps (Thời báo) và in
thành 4 tập sách với tên La vie littéraire (Đời sống văn học).
Những năm cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, tư tưởng và sáng
tác của Anatole France đã có những thay đổi. Ông từ bỏ lập trường người quan
sát để trở thành chiến sĩ đấu tranh cho nền dân chủ. Cụ thể là trước kia ông
thường miêu tả cuộc sống và con người thời kỳ Trung cổ hoặc thời kỳ suy vong của
chế độ phong kiến, thì nay ông viết về các sự kiện lịch sử và xã hội đương đại,
đồng thời tiếp tục truyền thống nhân văn chủ nghĩa của Rabelais và Voltaire,
phê phán nền cộng hòa thứ ba của Pháp, chế giễu không thương xót những kẻ gây
chiến tranh xâm lược tàn khốc. Năm 1921 ông được trao giải Nobel Văn học vì “những
tác phẩm xuất sắc mang phong cách tinh tế, chủ nghĩa nhân văn sâu sắc và khí chất
Gô-loa đích thực”…
A. France là một trong những nhà văn lớn nhất của nước Pháp
thời cận đại, trải qua một con đường khó khăn và phức tạp từ chủ nghĩa nhân đạo
ảo tưởng đến chủ nghĩa hiện thực cách mạng. Ông mất ở Tours, Indre-et-Loire.
Tác phẩm chính:
- Những câu thơ vàng (Poèmes dorés, 1873), thơ.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard,
1881), tiểu thuyết.
- Sách của bạn tôi (Le Livre de mon ami, 1885), hồi ký.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, 1894), tiểu thuyết.
- Vườn Epicure (Le jardin d'Epicure, 1894), tập cách ngôn.
- Lịch sử hiện đại (L'histoire contemporaine), gồm 4 tiểu
thuyết:
+ Cây du trên đường dạo chơi (L'orme du mail, 1897)
+ Hình người bằng cây liễu (Le mannquin d'osier, 1897)
+ Chiếc nhẫn tử thạch anh (L'anneau d'amethyste, 1899)
+ Ông Bergeret ở Paris (Monsieur Bergeret à Paris, 1901)
- Hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, 1912), tiểu
thuyết
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, 1914), tiểu thuyết.
Những tác phẩm đã được xuất bản ở Việt Nam:
- Quyển truyện của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi ký), Vũ
Thị Hay và Lê Ngọc Trụ dịch, Trung tâm Học liệu xuất bản, 1962, tái bản 1972
- Sách của bạn tôi (La livre de mon ami, hồi ký), Hướng Minh
dịch và giới thiệu, NXB Văn Học, 1988, tái bản 2009.
- Đảo Panhgoanh (L'Île des Pingouins tiểu thuyết), Nguyễn
Văn Thường dịch, NXB Văn Học, 1982.
- Thiên thần nổi loạn (La révolte des anges, tiểu thuyết),
Đoàn Phú Tứ dịch, NXB Văn Học, 1987.
- Bông huệ đỏ (Le lys rouge, tiểu thuyết), Nguyễn Trọng Định
dịch, NXB Phụ Nữ, 1989.
- Các hung thần lên cơn khát (Les dieux ont soif, tiểu thuyết),
Trần Mai Châu dịch, NXB Văn Nghệ TP.HCM, 1990.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard,
tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Quân Đội Nhân Dân, 1996.
- Tội ác của Sylvestre Bonnard (Le crime de Sylvestre Bonnard,
tiểu thuyết), Nguyễn Xuân Phương dịch, NXB Văn Nghệ TP. HCM, 2001.
- Thais- Vũ nữ thoát tục, (Thaïs, tiểu thuyết), Hoàng Minh Thức
dịch, NXB Tổng hợp Tiền Giang, 1989.
- Mối tình người thợ gốm, (tập truyện ngắn), Nxb Văn học, Hà
Nội 1987.
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
“Một trong những tác phẩm viết về tình yêu hay nhất của nền
văn học Pháp”. Sự đánh giá ấy đối với cuốn tiểu thuyết Bông huệ đỏ đã
có từ lâu, và gần như được công nhận hoàn toàn trong đông đảo người đọc, cũng
như trong giới phê bình Pháp.
Hay nhất, không phải vì nội dung tác phẩm, số phận nhân vật
và tình yêu của họ đã vượt ra ngoài tầm cỡ con người bình thường, mà trái lại,
là một bước dấn sâu hơn vào thế giới nội tâm phong phú phức tạp của những con
người bình thường. Ba người ấy, nàng Thérèse diễm lệ và đa tình, chàng Le
Ménil, rồi chàng Decharre, hoàn toàn không phải là những “siêu nhân”. Họ trần tục
như hết thảy những người trần tục nhất. Họ đến với nhau, hòa quyện vào nhau,
thiêu đốt nhau trong ngọn lửa đắm say cực kỳ mãnh liệt, để rồi cùng chính lúc ấy,
họ gieo mầm khổ ải cho nhau bởi sự ham hố bất tận, tính ích kỷ và sự ghen tuông.
Tình yêu là hạnh phúc, nhưng tình yêu cũng là khổ đau? Hạnh phúc trong khổ đau?
Hay khổ đau trong hạnh phúc? Con người không phải không luôn luôn tự đặt ra những
câu hỏi như vậy. Nhưng kết cục con người vẫn không thoát khỏi nỗi đam mê mà tấm
lưới tình yêu đã giăng sẵn để đón chờ họ.
Bông huệ đỏ được viết sau hàng loạt các tác phẩm lừng
danh của AnatoleFrance, ghi nhận một bước chuyển khá quan trọng trong sự nghiệp
sáng tạo của ông. Nếu như trong các tiểu thuyết Ðảo chim cụt, Thiên
thần nổi loạn, Thais, v.v..., nhân vật của ông là những trí thức khép kín,
mang nỗi đau khổ âm thầm của thời đại, thì trái lại, trong Bông huệ đỏ,
Thérèse, Le Ménil, Decharre… đều bình thường, gần gũi. Có người cho rằng đó là
sự phản ánh một phần tâm trạng thực của tác giả qua mối tình “hạnh phúc và đau
khổ” của ông với bà Caillavel, người phụ nữ trí thức nổi tiếng thời bấy giờ.
Anatole France sinh năm 1884 tại Paris, và mất năm 1924. Tên
thật của ông là Anatole Thibaud. Chọn tên France làm bút hiệu theo chính lời
ông, ông muốn bày tỏ lòng trung thành vô hạn, niềm tự hào ở cái giá trị văn hóa
và nhân bản của tổ quốc mình. Điều đó đã được ông giữ trọn và luôn luôn thể hiện
trong cuộc sống cũng như trong sự nghiệp sáng tác. Là chiến sĩ đấu tranh không
mệt mỏi cho độc lập dân tộc, dân chủ, công bằng xã hội, và quyền con người, ông
đồng thời cũng là Viện sĩ Hàn lâm, một trong những nhà văn được xếp hàng đầu của
nền văn học Pháp từ trước đến nay. Tác phẩm của ông không chỉ thấm đượm cái giá
trị nhân đạo sâu sắc mà còn được coi là mẫu mực của sự tinh tế, điêu luyện
trong nghệ thuật sử dụng tiếng Pháp.
NHÀ XUẤT BẢN PHỤ NỮ
I. Ánh mắt nàng lướt nhanh trên dãy ghế bành đặt trước lò sưởi,
chiếc bàn trà lấp lánh trong bóng tối và những bó hoa lớn màu vàng nhạt cắm
trong mấy chiếc lọ Trung Quốc. Nàng chạm tay vào những cành nụ tuyết nở hoa,
làm rung rinh những cánh hoa óng ánh. Bỗng nàng chăm chú, nghiêm trang ngắm
bóng mình trong một tấm gương đặt ở phía xa. Khẽ nghiêng đầu, nàng liếc nhìn
thân hình mảnh mai, uyển chuyển trong tấm áo dài xa tanh đen, bên ngoài phập phồng
chiếc áo cánh mỏng, đính hạt trai lung linh màu đỏ sẫm. Nàng bước lại sát tấm
gương ngắm xem khuôn mặt mình hôm đó ra sao. Hình người trong gương phản chiếu
một ánh mắt điềm tĩnh như thể người thiếu phụ dễ thương nàng đang ngắm nhìn và
không hề làm nàng khó chịu, trong đời thường không có những niềm vui dữ dội
nhưng cũng không có những nỗi buồn sâu lắng.
Trên các bức trướng phủ kín tường trong phòng khách rộng, vắng
vẻ, những hình người mờ ảo như những cái bóng giữa những đường nét cổ kính,
phai nhạt dần màu sắc và vẻ duyên dáng. Những bức tượng nhỏ bằng đất nung đặt
trên mấy cây cột con, những món đồ sứ cổ miền Xácxơ và những bức tranh vùng
Xevrơ bày trong tủ kính, tất cả đều gợi nhớ dĩ vãng. Trên một cái bệ đặt nhiều
tác phẩm nghệ thuật quý bằng đồng thau, pho tượng bán thân một quận chúa bằng cẩm
thạch cải trang thành nữ thần Ðian 1. hiện ra sau tấm màn xếp nếp cầu kỳ, với
nét mặt sắc sảo và bộ ngực ngạo nghễ. Trên trần nhà, hình một Dạ thần, phấn son
như một nữ hầu tước và xung quanh quây quần các nữ thần Ái tình, tung những
cánh hoa ra bốn phía. Tất cả đều im lìm, chỉ nghe tiếng lửa tí tách và tiếng những
hạt ngọc trai khẽ khàng trong tơ lụa.
Rời khỏi tấm gương, nàng bước lại cuộn tấm màn gió lên và,
qua ô cửa sổ, nhìn dòng sông Xen lấp lánh một màu vàng dưới bầu trời nhợt nhạt,
giữa những thân cây đen trũi trên bờ. Vẻ u sầu của cảnh trời nước như phản chiếu
trong đôi mắt đẹp màu hạt dẻ của nàng. Con tàu “Cánh én” vượt qua vòm cầu Anma
chở đám hành khách thường ngày đi Grơnen và Biăngcua. Nàng thoáng nhìn con tàu
trôi theo dòng nước đục ngầu rồi bỏ màn gió xuống, đến ngồi trong cái góc quen
thuộc trên tràng kỷ, dưới những chùm hoa, với tay lấy cuốn sách trên bàn. Trên
lớp bìa vải màu rơm, nổi bật tên sách bằng chữ vàng óng ánh: Ydơn, cô gái
tóc hung của tác giả Vivian Ben. Một tập thơ Pháp do một phụ nữ Anh sáng
tác và in ở Luân Đôn. Nàng mở sách và tùy hứng đọc mấy câu: Khi tiếng chuông
ngân vang trời đất
Như tiếng nguyện cầu: “Con chào mẹ, Maria”
Nàng trinh nữ trong vườn dạo bước
Bỗng giật mình: thiên sứ hiện ra
Người mang đến một bông huệ đỏ
Ta hằng mơ, dù chết bởi hương say.
Trong lúc chờ đón khách, nàng đọc hững hờ, lơ đãng, ít nghĩ đến
thơ hơn là đến nữ sĩ Ben. Ben có lẽ là người bạn gái dễ chịu nhất mà nàng rất
ít gặp, nhưng trong mỗi buổi gặp hiếm hoi, cô tíu tít gọi nàng là darling 2. và ôm hôn nàng tới tấp. Xấu gái nhưng hấp
dẫn, tuy hơi kỳ cục nhưng lại rất mực thanh nhã, Ben sống ở Phidơn với tư cách
nhà mỹ học và nhà triết học trong lúc được cả nước Anh ca ngợi là nhà thơ nữ ưu
ái nhất của mình. Cũng như Vecnông Li 3. và Mari Rôbinxơn 4, Ben say mê cuộc sống v nghệ thuật miền
Tôxcan 5. Chưa viết xong tập Trixtan 6. - mà phần đầu đã gy cảm hứng cho Bơc
Giôn 7. vẽ nhữngbức tranh màu nước huyền ảo, - cô
đã sáng tác những vần thơ Prôvăngx và những bài thơ Pháp theo tư duy Ý. Ben gửi
tập Ydơn, cô gái tóc hung cho darling kèm theo thư mời nàng
đến nghỉ một tháng ở nhà cô tại Phidơn. Trong thư viết: “Mời bạn tới, bạn sẽ thấy
những cái đẹp nhất trên đời và bạn sẽ làm cho chúng thêm đẹp
Nhưng darling nghĩ bụng sẽ không đi vì bị giữ lại
Pari tuy không phải không thiết tha muốn gặp lại Ben và thăm lại đất Ý. Tay lần
giở tập thơ tình yêu của bạn, bất giác một thoáng châm biếm hết sức dịu dàng hiện
lên trên môi, nàng tự hỏi Ben đã yêu chưa và yêu ai. Ở Phidơn, nữ thi sĩ đang
được một anh bạn săn đón. Hoàng thân Anbectinenli rất đẹp trai, nhưng anh chàng
có vẻ ù lì và tầm thường nên khó có thể làm đẹp lòng một cô gái có óc thẩm mĩ
muốn tìm thấy trong tình yêu xu hướng thần bí của một buổi lễ Truyền tin.
- Chào Têredơ! Mệt ơi là mệt!
Khách là quận chúa Xơniavin, uyển chuyển trong bộ áo lông bó
sát người. Ngồi phịch xuống ghế, khách nói, giọng vừa chói chang vừa dịu dàng,
tựa tiếng chim líu lo:
- Sáng nay, cùng với tướng Larivie, tôi cuốc bộ đi hết rừng
Bulônhơ. Tôi gặp ông ta ở đường Pôtanh và đưa ông tới cầu Acgiăngtơi. Ông mua bằng
được của người gác rừng để tặng tôi, một chú chim ác là. Tôi mệt đến lả người.
- Nhưng tại sao chị lại kéo ông ấy tới tận cầu Acgiăngtơi?
- Vì ông ta bị chứng thống phong ở ngón chân cái.
Têredơ nhún vai mỉm cười:
- Quả là chị hơi phung phí sự độc ác của mình và là một người
quá quắt!
- Thế chị muốn tôi dè xẻn cả lòng tốt lẫn sự độc ác để dùng
vào chỗ nghiêm túc hay sao, chị bạn thân mến?
Nói xong, Xơniavin uống một cốc vang Tôcây.
Tướng Larivie nặng nề bước vào, thở như thổi bễ, hôn tay hai
người phụ nữ và ngồi xuống giữa họ. Vẻ bướng bỉnh và mãn nguyện, mắt xếch lên,
ông cười rung cả những nếp nhăn hai bên má:
- Sức khỏe ngài Mactanh-Benlem thế nào? Vẫn bận rộn phải
không bà?
Têredơ cho rằng chồng nàng đang ở Nghị viện và có lẽ đang
đăng đàn.
Vừa ăn bánh mì kẹp trứng cá muối, quận chúa Xơniavin vừa hỏi
bà Mactanh sao tối hôm trước không tới nhà bà Mâyăng. Ở đấy có diễn kịch.
- Một vở Bắc Âu chứ gì! Diễn có thành công không hả chị?
- Có. Nhưng tôi không rõ lắm. Vì tôi ngồi trong phòng khách
nhỏ quét vôi xanh, dưới chân dung công tước Ooclêăng. Lơ Mênin đến giúp tôi một
việc không thể quên: ông ấy giải thoát tôi khỏi ông bạn Garanh.
Thông thạo các loại niên bạ và trong cái đầu to tướng chứa đầy
mọi thứ thông tin cần thiết, tướng Larivie vểnh tai lên khi nghe nhắc tới cái
tên Garanh.
- Garanh à? – Ông ta liền hỏi. – Là tay bộ trưởng tham gia nội
các trong thời kỳ các nhà vua bị lưu đày phải không?
- Chính ông ta. Ông ta yêu mến tôi quá mức, bộc bạch nỗi lòng
và đăm đăm nhìn tôi một cách âu yếm đến đáng sợ. Và chốc chốc vừa thở dài vừa
ngắm chân dung công tước Ooclêăng. Tôi bảo ông ta: “Ông nhầm đấy, ông Garanh ạ!
Chị dâu tôi mới thuộc phái Ooclêăng, còn tôi thì không đâu, tuyệt nhiên
không!”. Đúng lúc đó; Lơ Mênin dẫn tôi tới bàn tiệc, hết lời ca ngợi tôi… về
đàn ngựa, bảo tôi rằng không có gì đẹp hơn những cánh rừng mùa đông, rồi nói với
tôi về chuyện sói cha, sói con, làm tôi tươi tỉnh lên.
Vốn không ưa lớp trẻ, tướng Larivie bảo ngày hôm trước ông ta
gặp Lơ Mênin phi ngựa như điên trong rừng Bulônhơ.
Ông ta tuyên bố chỉ có các kỵ sĩ ngày trước là giữ gìn truyền
thống, còn ngày nay thì những anh chàng quý phái có cái tật cưỡi ngựa chẳng
khác bọn dô kề.
- Ðấu kiếm ngày nay cũng vậy, – ông ta nói thêm. – Ngày xưa…
Quận chúa Xơniavin đột ngột cắt ngang lời ông ta:
- Tướng quân xem chị Mactanh xinh đẹp biết chừng nào! Bao giờ
chị ấy cũng mỹ lệ nhưng không lúc nào mỹ lệ hơn lúc này. Vì sầu muộn mà! Không
có gì hợp với chị ấy hơn nỗi sầu muộn. Từ khi tới đây, chúng ta làm chị ấy phiền
lòng lắm đấy. Tướng quân nhìn xem: vầng trán ưu tư, ánh mắt mơ màng, cặp môi
đau khố. Quả là chị ấy bị hy sinh!
Nói xong, bà ta chồm khỏi ghế, ôm hôn Têredơtới tấp rồi bỏ
đi, làm tướng Larivie sững sờ.
Bà Mactanh-Benlem xin ông ta đừng tin “con điên” ấy.
Lấy lại bình tĩnh, ông ta hỏi:
- Thế còn các nhà thơ của bà, thưa bà?
Ông ta khó tha thứ cho bà Mactanh về lòng ngưỡng mộ những người
viết lách không thuộc giới mình.
- Vâng, các nhà thơ của bà ấy mà. Cái ông Sulet thường tới
thăm bà với chiếc khăn choàng đỏ, nay thế nào?
- Các nhà thơ của tôi, họ quên tôi, bỏ rơi tôi rồi. Chẳng nên
trông cậy vào ai hết. Người đời, sự đời, chẳng có gì là chắc chắn cả. Đời là một
trò phản phúc liên tục. Chỉ riêng cô Ben tội nghiệp là không quên tôi. Từ
Phlôrăngx, cô viết thư và gửi sách cho tôi.
- Cô Ben, cô gái trông giống như một con chó cảnh với mớ tóc
vàng hoe loăn xoăn phải không?
Larivie tính nhẩm trong đầu và tin chắc tuổi cô ta nay phải đến
ba mươi.
Bỗng một phu nhân luống tuổi, đường bệ nhưng nền nã với mái
tóc bạc trắng và một người đàn ông nhỏ nhắn, lanh lợi, ánh mắt sắc sảo, lần lượt
bước vào:bà Macmê và anh chàng Pônvenx. Sau đó, Ðanien Xalômông xuất hiện, mắt
đeo kính, điệu bộ cứng nhắc. Ông ta là người am hiểu các công trình nghệ thuật.
Tướng Larivie cáo từ.
Khách và chủ bàn về cuốn tiểu thuyết trong tuần. Bà Macmê đã
nhiều lần dự bữa ăn tối với tác giả, một người còn trẻ và rất dễ thương.
Pônvenx thì cho cuốn truyện viết chán ngấy
- Ồ! - Bà Mactanh thở dài. - Cuốn sách nào mà chẳng chán ngấy!
Nhưng con người lại càng chán hơn và cũng đòi hỏi nhiều hơn!
Bà Macmê thổ lộ là chồng bà tuy có nhiều cảm hứng văn học,
cho tới cuối đời vẫn kinh hãi chủ nghĩa tự nhiên.
Là vợ góa một viện sĩ Viện Hàn lâm Văn bia, bà lấy làm hãnh
diện về cảnh góa bụa nổi danh của mình. Trong các thính phòng, bà vẫn dịu dàng
và khiêm nhường với tấm áo dài đen và mái tóc bạc trắng.
Bà Mactanh muốn hỏi ý kiến Đanien Xalômông về một nhóm tượng
trẻ em:
- Đó là nhóm tượng Xanh-Clu. Xin ông cho biết ông có thích
không. Và cả ông nữa, ông Venx, cũng xin ông cho biết ý kiến nếu ông không
khinh thường những cái vặt vãnh ấy.
Đanien Xalômông giương mục kỉnh kiêu ngạo nhìn Pôn Venx.
Pôn Venx nhìn vòng quanh phòng khách:
- Bà có những thứ đẹp thật, thưa bà. Thực ra thì chưa là gì cả
đối với bà. Nhưng tất cả đều đẹp và rất thích hợp với bà.
Têredơ không giấu niềm vui thích khi nghe anh nói. Nàng cho
Pôn Venx là người đàn ông duy nhất thực sự thông minh trong đám tân khách. Nàng
từng ca ngợi anh trước khi các tác phẩm làm anh nổi tiếng. Sức khỏe kém, vẻ mặt
âu sầu và lối làm việc cần mẫn khiến anh không gần gũi mọi người. Con người nhỏ
nhắn hay phiền muộn ấy không phải là một kẻ dễ ưa. Tuy nhiên anh vẫn cuốn hút
nàng. Nàng đánh giá rất cao lối châm biếm sâu sắc, niềm kiêu hãnh lạnh lùng,
tài năng đến độ sung mãn của anh trong cảnh cô đơn, và ca ngợi anh một cách
đúng đắn như là một nhà văn xuất sắc, tác giả của nhiều tiểu luận có giá trị về
nghệ thuật, về phong tục, tập quán.
Dần dà khách khứa sang trọng đến ngồi chật cả phòng. Trên dãy
ghế bành xếp vòng tròn, có bà Đơ Vrexxông - người ta kể về bà ta những câu chuyện
thật đáng sợ và sau hai mươi năm chưa hết tai tiếng, bà vẫn giữ cặp mắt trẻ thơ
và đôi má trinh nữ; bà Đơ Mooclen luống tuổi, sôi nổi, cuồng nhiệt, thét lên đến
chói tai những lời nói thâm thúy, và đu cái thân hình kỳ dị giống như một người
đàn bà bơi lội giữa đám bong bóng; bà Raymông, vợ một viện sĩ; bà Garanh, chồng
nguyên là bộ trưởng; ba phu nhân khác nữa; và đứng tựa lò sưởi, tay mân mê bộ
ria mép bạc trắng ra vẻ làm duyên, là Becchiê Đâyđen, nghị sĩ, biên tập Báo
Tranh luận. Bà ĐơMooclen nói như hét:
- Bài báo của ông về chế độ song bản vị là một viên ngọc, một
bảo vật! Nhất là phần cuối thì tuyệt vời!
Ở cuối phòng khách, mấy chàng trai - hội viên câu lạc bộ - rất
mực nghiêm trang, đứng thầm thì với nhau:
- Hắn làm gì mà có huy hiện tổ chức săn bắn của nhà vua thế?
- Hắn không làm gì hết. Nhưng vợ hắn làm tất.
Các chàng trai này có triết lý riêng của họ. Một cậu không
tin vào lời hứa của con người:
- Vẫn những kẻ tớ không thích tí nào: ngoài cửa miệng thì ra
vẻ tình nghĩa lắm. “Cậu muốn ứng cử ư? Tớ hứa bỏ phiếu thuận cho cậu…” Phiếu
thuận ư? Và bao nhiêu lời hoa mỹ khác nữa! Nhưng đùng một cái, khi bỏ phiếu thì
chỉ là một trò bịp! Ðời thật là bỉ ổi khi nghĩ tới nó.
- Vậy nghĩ tới làm gì! - Một cậu khác lên tiếng.
Đanien Xalômông đến nhập bọn và bằng một giọng ngây thơ. Rỉ
tai họ những chuyện kín trong buồng ngủ. Và mỗi khi tiết lộ một điều kỳ lạ về
bà Raymông, bàBecchiê Đâyden, về quận chúa Xơniavin, ông ta lại hờ hững nói
thêm:
- Ai mà chẳng biết!
Dần dà khách vơi dần. Chì còn lại bà Macmê vàPôn Venx.
Pôn Venx bước lại cạnh bà Mactanh hỏi:
- Bao giờ thì bà muốn tôi giới thiệu Ðơsactrơvới bà?
Ðây là lần thứ hai anh hỏi. Không thích gặp thêmương mặt mới,
nàng thản nhiên đáp:
- Nhà điêu khắc của ông phải không? Tùy ý ông thôi. Ở Săng đơ
Max 8, tôi đã thấy những bức tượng ông ta nặn rất
đẹp. Nhưng không thấy ông ta sáng tác bao nhiêu. Ông ta là một người tài tử phải
không ông?
- Ðơsactrơ là người tao nhã. Ðâu phải lao động để kiếm sống.
Nặn xong một bức tượng là anh để không biết bao nhiêu thì giờ ngắm nghía, vuốt
ve. Nhưng xin bà đừng hiểu lầm, anh ấy là người hiểu biết và nhạy cảm: giá
không sống độc thân thì chắc hẳn sẽ là một bậc thầy. Tôi biết anh từ thuở nhỏ.
Người ta cứ nghĩ Đơsactrơ là kẻ ác tâm và rầu rĩ. Thực ra anh ấy là người đam
mê và nhút nhát. Cái anh ấy đang thiếu và mãi mãi vẫn thiếu để đạt tới tuyệt đỉnh
của nghệ thuật là một đầu óc thanh thản. Anh ấy lo lắng, băn khoăn và khi có những
rung động đẹp đẽ nhất, lại bỏ lỡ cơ hội. Theo tôi, anh ấy sinh ra cho thơ ca và
triết học hơn là cho điêu khắc. Quả là một bậc trí giả và bà sẽ không khỏi ngạc
nhiên trước bộ óc uyên thâm của Đơsactrơ.
Bà Macmê khoan hậu đồng tình.
Bà làm vừa lòng mọi người trong lúc tỏ ra bản thân mình vừa
lòng. Bà nghe nhiều, nói ít. Bà tôn thêm giá trị cho tấm lòng ân cần của mình bằng
cách để cho người nghe phải chờ đợi chút đỉnh. Hoặc vì thực sự mến yêu bà
Mactanh, hoặc vì muốn kín đáo bày tỏ tấm lòng ái mộ của mình đối với mỗi gia
đình bà đến thăm, bà vui vẻ ngồi sưởi như một người bà hiền từ bên cạnh cái lò
sưởi kiểu Lui XVI vốn rất hợp với một vị phu nhân khoan dung luống tuổi. Chỉ có
điều là hôm nay bà không mang theo con chó nhỏ.
- Con Tôby sức khỏe ra sao thưa bà? - Bà Mactanh hỏi. - Ông
Venx, ông có biết Tôby không? Nó có bộ lông mượt như nhung và cái mũi đen bé tẹo,
đến là dễ thương.
Bà Macmê thích thú với những lời khen ngợi Tôby.
Giữa lúc ấy xuất hiện một ông già hồng hào, tóc quăn, mắt cận
thị hầu như không trông thấy gì sau cặp kính gọng vàng, thấp lủn củn, luôn luôn
vấp phải đồ đạc. Ông cúi chào những chiếc ghế bành không có người ngồi, nhào
vào các tấm gương, cái mũi khoằm khoằm ghé sát bà Macmê. Ánh mắt bà không giấu
vẻ phẫn nộ
Ông già ấy là Sơmôn ở Viện Hàn lâm Văn bia. Ông ta mỉm cười
nhưng nét mặt nhăn nhúm, điệu bộ như một con búp bê, rồi đọc thơ huê tình cho nữ
bá tước Mactanh nghe. Giọng ông ta ồm ồm, lúng búng, có tính chất di truyền, thứ
giọng trước kia những người DoThái tổ tiên ông ta, vẫn dùng để thúc ép các con
nợ nông dân vùng Andax, Ba Lan và Crimê. Ông ta nói dài lê thê. Là nhà ngữ văn
học lớn, viện sĩ Hàn lâm Pháp, ông ta biết mọi thứ tiếng trừ tiếng Pháp. Bà
Mactanh thích thú trước những lời phong thình vô duyên, hoen rỉ như những đồ sắt
cũ người ta bày bán, thỉnh thoảng xen mấy câu hoa mỹ lỗi thời. Là một người hóm
hỉnh, ngài Sơmôn thích các nhà thơ và phụ nữ.
Làm như không biết đến Sơmôn và không đáp lại lời chào của
ông ta, bà Macmê bỏ ra về.
Đọc xong mấy câu thơ huê tình, Sơmôn trở nên rầu rĩ, tội nghiệp
và không ngớt lời xót xa than vãn về bản thân mình: ông ta không được tưởng lệ
đúng mức, không được giao những chức vụ nhàn rỗi, và chỗ ở do nhà nước đài thọ
cũng không đủ cho mình, cho vợ và năm cô con gái. Ông ta than vãn, thái độ ít
nhiều cao thượng. Trong con người ông ta có chút tâm hồn Edêsien và
Giêrêmi 9.
Chẳng may ông ta nhìn thấy cuốn sách của VivianBen khi cặp mắt
đeo kính gọng vàng cúi sát mặt bàn.
- A! Idơn, cô gái tóc hung! - Ông ta thốt lên, giọng
chua chát - Bà đọc cuốn sách này, thưa bà? Xin bà biết cho là cô Vivian Ben lấy
trộm của tôi một bản văn bia và hơn thế nữa, xuyên tạc nó khi cải biên thành
thơ! Văn bản ấy, bà sẽ tìm thấy ở trang 109:
Khóc chi nữa bạn lòng ta hỡi
Nhớ làm chi những mối tình xưa
Nỗi đau để mặc trôi qua
Đừng ôm dĩ vãng khóc cho bóng mờ.
Bà nghe rõ chứ thưa b
Đừng ôm dĩ vãng khóc cho bóng mờ.
Vâng, đó là những lời dịch nguyên văn từ một văn bia - điếu
văn mà tôi là người công bố và biện giải đầu tiên. Năm qua, ngồi cạnh cô Ben
trong một bữa ăn tối tại đây, tôi đọc cho cô ta câu đó và cô rất thú vị. Theo
yêu cầu của cô, ngay hôm sau, tôi dịch toàn bộ văn bản tấm bia ra tiếng Pháp gửi
cho cô. Thế là văn bản bị cắt xén và xuyên tạc trong tập thơ với nhan đề: Trên
con đường thần thánh!… Con đường thần thánh, chính là tôi!
Và ông ta nhắc lại với bộ mặt cau có, có vẻ hề:
- Chính tôi, thưa bà, mới là con đường thần thánh.
Sơmôn phật ý vì nhà thơ không nói tới ông ta trong câu chuyện
văn bia này. Ông ta muốn thấy tên mình được ghi ở đầu tập thơ cũng như ở khắp mọi
nơi. Ông tìm xem tên mình có được nhắc tới trên các tờ báo ông nhét đầy túi áo
không. Nhưng ông ta không thù, không giận cô Ben và vui vẻ thừa nhận cô là một
con người xuất sắc, một nữ sĩ ngày nay mang lại nhiều vinh quang nhất cho nước
Anh.
Sơmôn ra về. Hết sức ngây thơ, nữ bá tước Mactanh hỏi Pôn
Venx có biết vì sao thường ngày vốn khoan hòa, bà Macmê lại nhìn Sơmôn với thái
độ giận dữ và khinh thị đến thế. Pôn Venx ngạc nhiên thấy nàng không hay biết
gì hết.
- Vâng, tôi có hề biết gì đâu! - Nàng bảo.
- Nhưng mối bất hòa giữa Giôdep Sơmôn và Lui Macmê, đến nay vẫn
không ai quên, thưa bà. Nó từng làm xôn xao Viện Hàn lâm trong một thời gian
dài và chỉ chấm dứt sau khi Macmê qua đời. Cho đến khi ra nghĩa địa Lasedơ, người
đồng nghiệp kia vẫn không chịu buông tha ông.
“Ông Macmê tội nghiệp được mai táng đúng hôm tuyết tan. Chúng
tôi bị ướt và rét thấu xương. Đứng bên huyệt, trong sương mù, gió buốt và bùn lầy,
Sơmônche ô đọc một bài diễn từ với những lời lẽ vừa độc ác một cách hí hửng vừa
với vẻ thương hại của kẻ chiến thắng, rồi sau đó lên xe tang mang bài đến các
tòa báo. Một người nạn sơ xuất đưa báo cho bà Macmêxem. Bà ta ngã xuống bất tỉnh.
Chẳng lẽ chưa bao giờ bà nghe nói tới mối bất hòa dễ sợ đó trong giới
“Nguyên nhân là tiếng nói người Etruyri, đề tài nghiên cứu
duy nhất của Macme. Người ta đặt cho ông ta cái biệt hiệu Macmê Etruyri. Cả ông
lẫn những người khác, không ai biết lấy một từ của thứ tiếng ấy, nó không còn để
lại một vết tích nhỏ nào. Sơmôn luôn luôn nhắc đi nhắc lại với Macmê: “Ông biết
là ông không biết 10. tiếng Etruyri chứ ông bạn đồng nghiệp
thân mến? Ông là nhà bác học đáng kính và là bộ óc tài năng ở chỗ đấy”. Bị những
lời “ngợi khen” độc ác ấy chọc tức, Macmê cố học cho được chút ít tiếng
Etruyri. Ông đọc cho các bạn đồng nghiệp ở Viện Hàn làm Văn bia nghe một luận văn
về vai trò của biến cách trong tiếng nói của người Tôxcan ngày trước”.
Bà Mactanh hỏi biến cách là thế nào.
- Ồ! Thưa bà, nếu tôi giảng giải cái đó thì sẽ rối tinh lên hết.
Bà chỉ cần biết cho là trong bản luận văn ấy, ông Macmê tội nghiệp viện dẫn các
văn bản latinh nhưng viện dẫn sai lệch cả. Trong lúc đó, Sơmôn lại là nhà
latinh học lớn và nhà bi ký học số một của thế giới sau Mônxen 11.
Ông ta chê người bạn trẻ tuổi của mình (Macmê lúc đó chưa tới
năm mươi) đọc quá giỏi tiếng Etruyri nhưng lại đọc khá tồi tiếng latinh. Từ đó
Macmê không còn lấy một phút yên ổn. Trong các cuộc họp, ông ta bị chế giễu với
một sự độc ác hí hửng và bị báng bổ tới mức phải phát giận lên mặc dù bản tình
hiền hòa. Còn Sơmôn thì không hận thù. Ðó là đức tính của chủng tộc ông ta. Ông
ta công kích nhưng không giận. Một hôm, trong lúc cùng Rơnăng 12. và Oppe 13. đi lên thang gác Viện Hàn lâm, ông ta gặp
Macmê và giơ tay bắt. Nhưng Macmê không bắt và ni: “Tôi không quen biết ông”. -
“Thế ông cho tôi là một bản văn bia latinh hay sao?” - Sơmôn đáp lại. Chính có
phần vì câu nói đó mà ông Macmê tội nghiệp qua đời. Bây giờ thì bà hiểu vì sao
bà Macmê góa bụa nhìn kẻ thù với ánh mắt ghê tởm rồi chứ? Bà ta luôn luôn ấp ủ
kỷ niệm về người chồng quá cố.
- tôi đã mời họ cùng ăn tối và để họ ngồi cạnh nhau!
- Thưa bà, như thế không có gì phi đạo lý, nhưng độc ác đấy.
- Ông bạn thân mến, có thể tôi làm ông phật ý, nhưng nếu nhất
thiết phải chọn lựa thì tôi thà chọn cái phi đạo lý, chứ không làm điều độc ác.
Một người trẻ tuổi, cao, gầy, da mặt màu nâu, để ria mép dài,
bước vào, gập mình xuống cúi chào:
- Ông Venx, tôi nghĩ là ông biết ông Lơ Mênin.
Quả vậy, hai người đã từng cùng đến nhà bà Mactanh và thỉnh
thoảng gặp nhau ở võ trường, nơi Lơ Mênin có mặt đều đặn. Họ cũng vừa gặp nhau
tối hôm trước ở nhà bà Mâyăng.
- Nhà bà Mâyăng thật chán ngắt! - Pôn Venxlên tiếng.
- Thế nhưng các ngài viện sĩ lại năng lui tới. - Lơ Meenin
đáp - Tôi không cường điệu giá trị của họ nhưng xét cho cùng họ là tinh hoa của
xã hội.
Bà Mactanh mỉm cười:
- Ông Lơ Mênin này, chúng tôi biết là ở nhà bà Mâyăng, ông
quan tâm đến phụ nữ nhiều hơn là đến các ngài viện sĩ. Ông đã dẫn quận chúa
Xơniavintới bàn tiệc và nói chuyện về chó sói.
- Sao? Về chó sói à?
- Về sói đực, sói cái và sói con, và về những cánh rừng đen kịt
vào mùa đông. Tôi thấy đối với một người nhan sắc như thế, câu chuyện khí dữ dằn
đấy!
Pôn Venx đứng đậy:
- Thế là bà cho phép, thưa bà; tôi sẽ dẫn Ðơsactrơ, bạn tôi,
tới. Anh ấy thiết tha được gặp bà và tôi hy vọng bà sẽ hài lòng. Đầu óc anh
linh hoạt, sống động, đầy ý tưởng.
Bà Mactanh ngắ
- Ồ! Tôi đâu đòi hỏi nhiều đến thế! Những người tỏ ra tự
nhiên, không kiểu cách ít khi làm tôi phiền lòng, và có khi còn làm tôi vui
thích nữa kia đấy.
Pôn Venx ra về. Lơ Mênin lắng nghe tiếng chân bước trong hành
lang xa dần và tiếng cảnh cửa mở ra, đóng lại. Bước đến cạnh nàng, anh hỏi:
- Mai lúc ba giờ ở nhà chúng ta chứ?
- Thế anh vẫn yêu em à?
Anh giục giã nàng trả lời trong lúc chỉ có hai người đứng bên
nhau. Thái độ đượm chút trêu chọc, nàng đáp là đã khuya, nàng không còn tiếp ai
nữa và chỉ có chồng nàng là có thể về lúc này.
Anh năn nỉ. Thế là không để phải van vỉ nhiều, nàng đáp:
- Anh cảm ơn thế à? Thế này nhé: ngày mai em rỗi cả ngày. Anh
chờ em ở đường Xpôngtini lúc ba giờ. Chúng ta sẽ đi dạo.
Anh cảm ơn bằng một ánh mắt. Rồi ngồi lại trước mặt nàng,
phía bên kia lò sưởi, anh hỏi nàng cái anh chàng Ðơsactrơ mà nàng bảo người ta
giới thiệu là người nào.
- Em không bảo người ta giới thiệu, mà là người ta tự ý giới
thiệu thôi. Một nhà điêu khắc đấy.
Anh phàn nàn sao nàng lại cần biết những bộ mặt mới:
- Một nhà điêu khắc à? Thông thường các nhà điêu khắc đều có
phần thô bạo.
- Ồ! Ông ta ít nặn tượng lắm. Nhưng nếu anh phiền lòng thì em
sẽ không tiếp nữa.
- Anh sẽ phiền lòng nếu thiên hạ lấy bớt một phần thời gian
em dành cho anh.
- Anh không việc gì phải phàn nàn là em giao thiệp quá rộng
rãi. Tối qua, em có tới nhà bà Mâyăng đâu.
- Em tới nhà bà ta hết sức ít là phải đấy: nó đâu phải là nơi
thích hợp với em!
Lơ Mênin giảng giải. Bọn người đàn bà lui tới đó đều có những
chuyện dan díu mà người ta biết và đồn đại. Bà Mâyăng lại tạo điều kiện cho những
cái trò ấy. Và anh đưa ra mấy ví dụ để chứng minh.
Duỗi hai tay trên ghế bành trong tư thế nghỉ ngơi duyên dáng,
đầu nghiêng nghiêng, nàng nhìn ngọn lửa đang tàn dần. Nàng không còn nghĩ ngợi
gì hết, không biểu lộ gì hết trên khuôn mặt đượm chút âu sầu cũng như trên tấm
thân uể oải, tấm thân xiết bao khơi gợi trong lúc tâm hồn hoàn toàn yên tĩnh.
Trong giây lát im lìm như pho tượng ấy, nàng có cả sức quyến rũ của hình hài lẫn
sự cuốn hút của những công trình mỹ thuật.
Anh hỏi nàng nghĩ gì. Lòng còn ngổn ngang những kỷ niệm gần,
xa, huyền ảo và âu sầu, nàng đáp:
- Anh có muốn mai chúng ta đến những khu phố xa, kỳ cục, nơi ở
của đám người nghèo khổ không? Em thích những đường phố cũ kỹ, đói nghèo ấy.
Anh hứa sẽ thỏa mãn ý thích của nàng nhưng vẫn nói ý thích ấy
là phi lý. Những buổi dạo chơi nàng kéo anh đi như vậy đôi khi làm anh không
vui và anh cho là nguy hiểm vì có thể bị người ta trông thấy.
- Vả chăng cho tới nay, chúng ta vẫn tránh được dư luận…
Nàng lắc đầu:
- Anh nghĩ là người ta chưa bao giờ nói về chúng ta sao? Dù
biết, dù không, người ta vẫn cứ nói. Không phải cái gì, người ta cũng biết;
nhưng cái gì, người ta cũng nói ra hết.
Nàng lại mơ màng. Anh ngỡ nàng hờn giận vì một lý do nàng
không muốn nói ra. Anh cúi xuống cặp mắt đẹp mơ màng phản chiếu ánh lửa trong
lò sưởi. Nhưng nàng làm anh yên tâm:
- Em hoàn toàn không biết người ta có nói tới em hay không. Vả
chăng điều đó có nghĩa gì? Mọi cái đều vô nghĩa hết
Anh chia tay nàng để đi ăn tối ở câu lạc bộ. Trên đường ghé
qua Pari, Cômông, bạn anh đang chờ anh. Nàng nhìn theo anh, ánh mắt yêu thương
và điềm tĩnh. Rồi lại mơ màng nhớ lại quá khứ.
Nàng nhớ lại những ngày thơ ấu, nhớ lại tòa lâu đài nàng sống
trong những ngày hè buồn bã kéo dài, những cánh rừng được cắt tỉa, cái khuôn
viên ẩm ướt và tối tăm, cái bể nước xanh rờn, những pho tượng nữ thần bằng cẩm
thạch ẩn dưới bóng cây lật và chiếc ghế nàng ngồi khóc trong lúc chỉ muốn chết.
Giờ đây, nàng vẫn không rõ nguyên nhân nỗi lòng tuyệt vọng giữa tuổi thanh xuân
khi sự thức tỉnh mãnh liệt của trí tưởng tượng và nỗi rạo rực thầm kín của thịt
da khiến nàng bối rối, nửa ham muốn nửa sợ hãi. Lúc nhỏ, nàng vừa ham sống vừa
sợ hãi cuộc sống. Còn giờ đây, nàng hiểu sống là một điều rất bình thường,
không có gì phải lo nghĩ cũng như để hy vọng nhiều lắm. Cái đó tất yếu phải tới
với nàng. Vì sao nàng lại không dự tính trước? Nàng trầm ngâm:
“Mình nhớ lại hình ảnh mẹ. Một người đàn bà phúc hậu, rất mực
giản dị nhưng không thật hạnh phúc. Mình hằng ước mơ một số phận hoàn toàn khác
ka. Vì sao? Mình cảm thấy xung quanh mình cuộc sống thật nhạt nhẽo và mình hít
thở tương lai như hít thở một bầu không khí đầy vị mặn và hương thơm. Vì sao?
Lúc đó, mình ước muốn cái gì, mong đợi cái gì? Phải chăng mình chưa linh cảm đầy
đủ là mọi thứ sẽ buồn bã?”
Nàng sinh trưởng trong một gia đình giàu có, trong sự hào
nhoáng ồn ào của một gia sản còn quá mới mẻ, Môngtexxuy, thân phụ nàng, lúc đầu
là một viên chức nhỏ ở một nhà băng Pari về sau lập ra và điều khiển hai hãng
tín dụng lớn. Vào những giờ phút khó khăn, ông đã giữ vững cơ nghiệp với tài
năng của một bộ óc giàu sáng tạo, sức mạnh vô địch của ý chí, một sự liên kết
có một không hai giữa cơ mưu và liêm trực. Ông giao dịch ở thế cân bằng với
chính phủ. Nàng lớn lên trong tòa lâu đài Gioăngvin lịch sử do cha nàng mua lại,
sửa sang và bày biện hết sức lộng lẫy. Sáu năm sau, với khu vườn hoa và những bể
nước lớn, nó rực rỡ chẳng kém lâu đài Vô Lơ Vicôngtơ 14. Môngtexxuy buộc cuộc sống phải cho tất
cả những gì nó có thể cho. Là người vô thần theo bản năng và có thế lực, ông
ham muốn mọi thú vui xác thịt và mọi điều tốt đẹp mà trái đất này có thể mang lại.
Ông xếp đá quý và tranh của các họa sĩ bậc thầy đầy các hành lang và phòng
khách tòa lâu đài Gioăngvin. Vào tuổi năm mươi, ông chinh phục những nữ nghệ sĩ
sân khấu nhan sắc nhất và một vài phụ nữ quí tộc được ông làm o cuộc sống thêm
hoa lệ. Với sự tàn bạo về khí chất và sự tinh tế về tâm hồn, ông hưởng thụ mọi
thứ quý giá của xã hội.
Thế những bà Môngtexxuy, cần kiệm và chu đáo, thì sống mòn mỏi
trong lâu đài Gioăngvin. Nom bà ốm o và tội nghiệp giữa mười hai pho tượng phụ
nữ khổng lồ làm chân trụ cho những cây cột chống đỡ trần nhà trong cái khoảng hẹp
giữa giường và hàng lan can vàng rực. Trên trần, họa sĩ Lơbrun vẽ các thần
Titan bị Giuypite sát hại 15. Chính ở đấy, trên chiếc giường sắt đặt ở
chân một chiếc giường khác đồ sộ và lộng lẫy, một buổi tối, bà đã qua đời sau
những ngày âu sầu, mệt mỏi. Trên đời, bà chỉ yêu chồng và cái phòng khách nhỏ
nhắn trải gấm đỏ ở phố Môbơgiơ.
Bà không thân mật với con gái. Một cách bản năng, bà cảm thấy
con quá xa mình, tâm hồn nó quá tự do, trái tim nó quá táo bạo. Con bé Têredơ dịu
dàng và tốt bụng, nhưng bà mơ hồ nhận thấy nó mang dòng máu cường liệt của
Môngtexxuy, cái sôi nổi cả về tâm hồn lẫn xác thịt đã từng làm bà biết bao đau
khổ, và bà dễ tha thứ cho chồng hơn là cho con gái.
Môngtexxuy nhận ra bản chất con và rất yêu con. Cũng như mọi
người phàm tục khác, ông có những giờ phút vui vẻ thật thú vị. Tuy sống ở ngoài
nhiều, ông vẫn thu xếp để hầu như ngày nào cũng ăn trưa với con và thỉnh thoảng
dẫn con đi dạo chơi. Ông sành về đồ mỹ nghệ và y phục. Chỉ nhìn qua là ông nhận
ra và sửa lại những chỗ tệ hại trong cách ăn mặc của cô gái do thị hiếu kém cỏi
và tính thích lòe loẹt của bà Môngtexxuy gây nên. Ông dạy dỗ, huấn luyện cô bé
Têredơ. Vừa thô bạo vừa ngọt ngào, ông làm con thích thú và gắn bó với mình. Gần
con, bản năng và lòng hiếu thắng càng thúc giục ông. Là người luôn luôn muốn
chinh phục, ông ra sức tranh thủ con gái khiến cô bé gần bố hơn gần mẹ. Cô yêu
quý, ca ngợi bố.
Mơ màng, từ trong dĩ vãng sâu thẳm. Têredơ nhớ lại hình ảnh bố
đã từng là niềm vui duy nhất của tuổi ấu thơ. Đến nay, nàng vẫn đinh ninh trên
đời không một ai dễ thương như bố mình.
Bước vào đời, nàng thất vọng ngay: nàng không sao tìm thấy ở
người khác sự phong phú tự nhiên về tâm hồn, sự hoàn mãn về năng lực hành động
và tư duy như cha nàng. Và nàng cũng thất vọng như vậy trong việc lựa chọn một
người chồng và có lẽ sau này, cả trong một sự lựa chọn khác, thầm kín và thoải
mái hơn.Quả thật, trong hôn nhân, nàng không hề lựa chọn. Nàng không
hay biết gì và để mặc cho bố gả chồng. Lúc đó, mẹ nàng đã qua đời, cuộc sống của
bố nàng lại bận rộn, sôi nổi. Chăm sóc một cô gái quả là một công việc tinh tế
khiến ông bối rối, lo âu. Ông lại có thói quen hành động nhanh chóng và sao cho
có kết quả. Chú trọng những ưu thế bề ngoài và sự môn đăng hộ đối, ông đánh giá
cao tám chục năm trọn bá tước Mactanh sống trong giới quý tộc triều đình với niềm
vinh quang truyền thống của một dòng họ đã từng cung cấp các bộ trưởng cho
chính phủ tháng Bảy 16. và cho nền Đế chế tự do. Hôn nhân có mang
lại cho con tình yêu hay không, điều đó ông không nghĩ tới.Ông đinh ninh con gái mình sẽ được thỏa mãn những ham muốn
phù hoa mà ông gán cho con, sẽ tìm thấy niềm vui sống, niềm vinh quang thường tình
nhưng đầy sức mạnh, niềm kiêu hãnh thông tục và sự thống trị của vật chất. Ðối
với ông, đó là toàn bộ giá trị cuộc sống. Ngoài ra, ông không có những ý niệm
thật rõ rệt về hạnh phúc của một phụ nữ đoan trang. Niềm tin cố hữu ấy chưa hề
suy suyển trong ông.Nghĩ tới niềm tin phi lý và tự nhiên ấy của Môngtexxuy - vốn
chẳng ăn nhập gì với những kinh nghiệm và ý tưởng của ông về phụ nữ - nàng mỉm
cười với một vẻ hài hước rầu rĩ. Và nàng càng thán phục bố mình: rất mực khôn
ngoan, ông không thể làm điều gì dại dột.Dẫu sao, cuộc hôn nhân ông chọn cho nàng không có gì tồi tệ nếu
xét theo quan điểm của những kẻ an nhàn. Chồng nàng chẳng thua kém ai. Anh rất
dễ thương. Nhưng ngồi ôn lại quá khứ dưới ánh đèn tù mù, nàng thấy trong tất cả
các kỷ niệm, mờ nhạt nhất lại là kỷ niệm về những ngày chung sống với chồng.
Nàng nhớ lại một vài nét rời rạc rất khó xác định, một vài hình ảnh phi lý, một
cảm giác mơ hồ, nhạt nhẽo. Thời kỳ chung sống ấy không được bao lâu và không để
lại dấu ấn gì. Sáu năm đã trôi qua, nàng cũng không còn nhớ thật rành rọt mình
đã trở lại tự do như thế nào. Bởi vì sự tự do ấy, nàng đã giành lại được quá
chóng vánh và dễ dàng từ người chồng lãnh đạm, ốm o, ích kỷ và lịch sự, một người
đàn ông khô cằn, vàng ố đi trong kinh doanh và hoạt động chính trị, một kẻ cần
cù, tầm thường, đầy tham vọng. Anh ta yêu phụ nữ chỉ vì để hãnh diện, còn vợ
thì anh ta chưa hề yêu. Sự ly thân giữa hai vợ chồng thật dứt khoát, trọn vẹn.
Và từ đó, xa lạ đối với nhau, họ mặc nhiên để cho nhau tự do. Nàng có thể có
tình bạn đối với anh, nếu không thấy anh láu lỉnh, nham hiểu và quá tinh vi mỗi
khi cần lấy chữ k của nàng để có được những khoản tiền cần thiết cho công việc
làm ăn mà anh ta tiến hành vì phô trương hơn là vì tham lam. Ngoài ra, người
đàn ông mà ngày nào nàng cũng cùng ăn tối và trò chuyện, cùng ở, cùng đi du lịch
ấy, chẳng có ý nghĩa gì đối với nàng.Thu mình trên ghế, tay chống cằm và ngồi trước lò sưởi lửa đã
tàn, giống như một cô gái tò mò đi xem bói khi hồi tưởng lại những năm tháng cô
đơn, nàng nhớ lại khuôn mặt hầu tước Đơ Rê, rõ nét, chính xác đến mức làm nàng
kinh ngạc. Cha nàng ca ngợi hầu tước Đơ Rê và đưa tới nhà nàng. Một người cao lớn,
đã từng có ba mươi năm chinh phục phụ nữ và giành được thắng lợi trong xã hội
quý tộc phù hoa. Với những cuộc dan díu, ông ta nổi tiếng là người đã từng
chinh phục ba thế hệ phụ nữ và để lại trong trái tim tất cả những người được
ông yêu một kỷ niệm không hề phai mờ. Cái duyên dáng, hùng tráng, vẻ thanh nhã
không cầu kỳ và thói quen làm vui lòng người khác kéo dài sức thanh xuân của
ông một cách khác thường. Ông đặc biệt lưu ý tới nữ bá tước Mactanh trẻ trung.
Thái độ ân cần cung kính của con người sành sỏi ấy làm nàng thú vị. Giờ đây, hồi
tưởng lại, nàng vẫn cảm thấy khoan khoái. Ông ta có lối nói chuyện tuyệt vời và
làm nàng thích thú. Nàng không che giấu điều đó. Thấy vậy và vốn vừa phù phiếm
vừa táo bạo, ông quyết chiếm đoạt người thiếu phụ này để kết thúc xứng đáng chuỗi
ngày hạnh phúc của mình. Rõ ràng nàng có cảm tình với ông và hơn ai hết, ông
ngưỡng mộ nàng. Ông dùng những mưu kế rất mực tinh xảo. Nhưng nàng đã thoát khỏi
tay ông dễ dàng.Hai năm sau, nàng hiến mình cho Rôbe Lơ Mênin, một người ham
muốn nàng mãnh liệt với tất cả sự nồng nhiệt của tuổi trẻ, sự chất phác của tâm
hồn. “Ta hiến thân cho chàng vì chàng yêu ta”. Ðó là sự thật. Sự thật nữa là một
bản năng âm thầm và dữ dội giục giã nàng và nàng đã nghe theo sự thôi thúc thầm
kín của con người mình. Nhưng đó không hề là bản chất nàng. Bản chất nàng, bản
chất lương tâm nàng là nàng đã tin, đã chấp nhận và mong muốn một tình cảm chân
thật. Nàng hiến thân ngay sau khi cảm thấy được yêu tới mức đau đớn. Nàng hiến
thân nhanh chóng, đơn giản. Chàng ngỡ nàng hiến thân một cách nông nổi. Chàng
đã nhầm. Nàng cảm thấy đau đớn trước cái không sao cứu vãn được, cảm thấy hổ thẹn
khi phải có điều gì che giấu. Những lời xì xầm về những người đàn bà có tình
nhân ong ong bên tai nàng nóng bỏng. Nhưng kiêu hãnh và tinh tế, trong sự lựa
chọn hoàn mỹ của mình, nàng chăm chút che giấu cái giá phải trả cho sự hiến
thân và không hề nói gì để thúc đẩy thêm tình cảm của người yêu. Chàng không ngờ
nàng có nỗi đau tinh thần ấy;vả chăng, chỉ sau mấy ngày, nàng đã trở lại hoàn
toàn bình tĩnh. Sau ba năm, nàng mãn nguyện với cách xử sự vô tư và tự nhiên của
mình. Không hề làm hại ai, nàng không thấy có gì phải ân hận. Nàng hài lòng. Mối
quan hệ giữa chàng và nàng vẫn là điều tốt đẹp nhất trong đời nàngà nàng được
yêu. Dĩ nhiên nàng không cảm thấy niềm say mê nàng mong ước. Nhưng có bao giờ
người ta cảm thấy niềm say mê ấy? Nàng là người tình của một chàng trai tốt bụng
và trung thực, được nữ giới mến mộ, được bạn bè ưa thích. Người ta cho là chàng
khinh khỉnh, khó tính, nhưng chính chàng bộc lộ tình cảm thật của mình. Niềm
vui nàng mang lại cho chàng và nỗi lòng nàng hân hoan thấy mình đẹp vì chàng, gắn
bó họ với nhau. Không phải chàng làm cho đời nàng bao giờ cũng ngọt ngào nhưng
thật dễ chịu và có khi thú vị.Từ những điều nàng không linh cảm được về nỗi cô đơn của
chàng - tuy chàng có những dấu hiệu lo âu mơ hồ và buồn bã vô duyên cớ - đến bản
chất sâu kín, khí chất và thiên hướng thực sự của chàng, tất cả những cái đó,
chàng đã thổ lộ với nàng. Hiểu lòng chàng, nàng tự hiểu lòng mình. Một sự ngạc
nhiên kỳ thú! Mối giao cảm giữa chàng và nàng không nằm trong phạm vi tầm thường.
Đối với chàng, nàng có một niềm hứng thú đơn giản và cụ thể không dễ gì nhạt
phai. Và chính vào lúc này, nàng khoan khoái với ý nghĩ ngày mai sẽ gặp lại
chàng trong căn nhà nhỏ ở đường Xpôngtini, nơi họ vẫn hò hẹn nhau trong suốt ba
năm nay. Ngồi một mình trước ngọn lửa đã tàn, nàng lòng tự nhủ lòng: “Thế đấy,
mình, mình cần tình yêu!”. Không ai nghĩ người thiếu phụ rất mực tao nhã ấy lại
có thể lắc đầu, nhún vai khá thô bạo trong lúc thốt ra những lời như vậy.Chú thích:
Nữ thần săn bắn (N.D. - Các chú thích từ đây là của người
dịch). | |
Tiếng Anh: người yêu, người thân. | |
Nhà thơ nữ người Anh thế kỷ 19. | |
Nữ nghệ sĩ sân khấu Anh, thế kỷ 18. | |
Một miền ở vùng trung Italia. (Các địa danh từ đây về sau đều
thuộcPháp hoặc Italia. Trong trường hợp thuộc các nước khác có chú thích
riêng) | |
Trixtan và Idơn: truyện thần kỳ thời Trung thế kỷ, về mối
tìnhbi thảm giữa chàng trai Trixtan và cô gái Idơn tóc hung. | |
Họa sĩ Anh thế kỷ 19. | |
Quảng trường luyện binh và duyệ ngàytrước ở thủ đô Pháp,
nơi tổ chức nhiều cuộc triển lãm nghệ thuật. | |
Hai nhà đạt tiên tri Do Thái, thế kỷ 6 - 5 trước C.N. | |
Tác giả chơi chữ. | |
Nhà sử học và ngữ văn học lớn người Đức, thế kỷ 19. | |
Nhà văn Pháp, thế kỷ 19. | |
Nhà Đông phương học Pháp, thế kỷ 19 - 20. | |
Một trong những lâu đi lộng lẫy nhất ở Pháp theo phong cách
Lui XVI. | |
Trong thn thoại La Mã, các thần Titan là con Thần Trời và
Thần Đất, vì nổi loạn nên bị thần Giuypite đánh chết. | |
Cách mạng Pháp ngày 14-7-1789 thiết lập nền Cộng hòa. |
- Nhưng hắn là thằng điên, cái lão Sulet ấy, và Pôn Venx kể
cho em nghe những câu chuyện đến kỳ cục. Anh không phải là kẻ khổ hạnh, chắc chắn
là như thế, nhưng có những cái vô đạo đức làm anh chán ngấy.
Hai người bước đi vô định. Nàng trở nên mơ màng:
- Vâng, em biết, đạo đức, bổn phận… Nhưng bổn phận, có trời
biết! Em cam đoan với anh là ba phần tư thời gian, em thực sự không biết bổn phận
ở chỗ nào. Giống như con nhím của cô gia sư Gioăngvin: bọn em để cả buổi tối
tìm nó dưới đống đồ đạc và đến khi được thì bọn em lại bỏ đi ngủ.
Lơ Mênin cho những điều nàng nói là đúng sự thật và có khi
còn đúng nhiều hơn chứ không phải chỉ như nàng tưởng. Anh đã từng nghĩ như vậy
những khi ngồi một mình.
- Chính vì thế, đôi lúc, anh ân hận không ở lại trong quân
ngũ đấy, em ạ. Anh đoán được em sắp trả lời anh thế nào rồi. Em sẽ bảo là người
ta mụ người đi trong cái nghề ấy chứ gì. Dĩ nhiên như thế, nhưng quả là người
ta làm cái phải làm, và như thế đã là nhiều trong cuộc sống rồi. Anh thấy cuộc
đời ông bác anh, tướng ĐơLa Brisơ, là một cuộc đời rất đẹp, đầy danh vọng và
khá thú vị. Nhưng bây giờ, khi cả nước đổ xô vào quân đội thì không còn sĩ quan
và cũng không còn binh lính nữa. Nó giống như một nhà ga ngày chủ nhật, khi
nhân viên đường sắt xô đẩy đám hành khách ngơ ngác lên tàu. Ðích thân bác Đơ
LaBrisơ biết tất cả sĩ quan và binh lính trong lữ đoàn. Bác còn ghi tên tuổi họ
trên một tấm bảng lớn trong phòng ăn và thỉnh thoảng đọc đề giải trí. Ngày nay,
làm sao một sĩ quan có thể biết được binh lính của mình?
Nàng không nghe anh nói nữa. Nàng nhìn một chị bán khoai tây
rán ở góc phố Galăngđơ: chị ta ngồi sau một cái khung sắt có kính trong bóng
râm những ngôi nhà đồ sộ. Nét mặt sáng rực trước ngọn lửa than củi, chị cho chiếc
muôi vào mớ khoai đang xèo xèo, lấy ra những chiếc bánh hình lưỡi liềm, vàng rộm.
Chị cho bánh vào một cái bao giấy hình loa trong đó lấp lánh những cuộng rơm,
trong lúc một cô gái tóc đỏ hoe chăm chú chìa bàn tay đỏ hồng cầm một đồng hai
xu.
Khi cô gái mang bao bánh đi, Têredơ thèm ăn và cảm thấy đói.
Nàng thiết tha muốn nếm thử món khoai tây rán này.
Lúc đầu Lơ Mênin phản đối:
- Biết bánh họ làm bằng thứ gì!
Nhưng cuối cùng anh phải hỏi mua một bao hai xu và bảo người
bán rắc muối vào.
Lật ngược mạng che mặt lên mũi, nàng ngập răng vào những chiếc
bánh vàng rộm hình lưỡi liềm và anh đưa nàng đi theo những con đường hẹp vắng vẻ,
xa các ngọn đèn đường. Thế là họ quay trở lại bến cảng và nhìn thấy cái khối
nhà thờ màu đen sừng sững trên nhánh sông hẹp. Lơ lửng trên nóc nhà thờ lởm chởm
như răng cưa, trăng trút ánh bạc xuống mái nh
- Nhà thờ Ðức bà! - Nàng thốt lên - Anh nhìn xem. nó nặng nề
như một con voi và mảnh mai tựa một con sâu nhỏ. Trăng bò lên trên nhà thờ và
nhìn ngắm với vẻ láu lỉnh của loài hầu. Nó không giống ánh trăng nông thôn ở
Gioăngvin. Ở Gioăngvin, em có con đường của em, một con đường bằng phẳng, cuối
đường có vầng trăng. Không phải tối nào cũng có trăng, nhưng trăng trở lại một
cách chung thủy, đầy đặn, sáng rực, thân thương. Trăng là cô láng giềng nơi
thôn dã, là bà mệnh phụ ở quanh vùng. Em đến với trăng rất trang nghiêm, vì
phép lịch sự và vì tình bạn, còn cái vầng trăng Pari này thì em không muốn gặp.
Nó không phải là người bạn tốt. Nó đã thấy biết bao điều từ khi nó cọ xát với
mái nhà.
Anh mỉm cười, âu yếm:
- Ồ, con đường nhỏ mà em dạo chơi một mình và em bảo là em
yêu vì ở cuối đường có bầu trời không vời vợi cũng không thăm thẳm, con đường
nhỏ ấy, giờ đây, anh cũng nhìn thấy như thể anh đã từng ở đấy!
Lần đầu tiên, anh gặp nàng ở lâu đài Gioăngvinkhi Môngtexxuy
mời anh đến đi săn. Gặp nàng, anh yêu nàng, muốn chiếm đoạt nàng ngay tức khắc.
Một buổi tối, ở bìa cánh rừng nhỏ, anh thổ lộ anh yêu nàng. Cặp môi mím lại như
đau đớn, ánh mắt mơ màng, nàng nghe anh nói.
Kỷ niệm về con đường nhỏ nàng dạo bước một mình trong đêm thu
làm anh xúc động, rạo rực sống lại những giờ phút thần tiên của những ham muốn
buổi đầu và những hy vọng rụt rè… Anh tìm bàn tay nàng và siết chặt cái cổ tay
nhỏ bé dưới lớp bao tay bằng lông thú.
Một cô bé mang hoa viôlet trên một tấm liếp trải những cành
tùng cành bách nhận ra cặp tình nhân và đến mời họ mua hoa. Anh mua một bó hai
xu tặng nàng. Têredơ đi về phía nhà thờ. Nàng nghĩ:
- Quả là một con thú khổng lồ, con quái vật trong Kinh Tân ước…
Đến cuối cầu, một bà hàng hoa, mặt nhăn nheo, mốc thếch, già
nua và lem luốc, chạy theo họ với chiếc giỏi đựng đầy hoa trinh nữ và hoa hồng
vùng Nixơ. Ðang cầm bó Viôlet trên tay, Têredơ tìm cách luồn vào trong áo lót
và vui vẻ trả lời bà già mời nàng mua hoa.
- Cảm ơn, tôi có
- Tôi biết cô trẻ mà! - Bà ta thốt lên, giọng đểu cáng và bỏ
đi.
Têredơ hầu như hiểu ngay và trên môi lẫn trong ánh mắt nở một
nụ cười. Hai người bước trong bóng râm trên sân nhà thờ, trước những pho tượng
đá đặt hai bên cổng với những cây quyền trượng và những vành vương miện.
- Chúng ta vào đi! - Nàng bảo.
Anh không muốn vào. Anh mơ hồ cảm thấy bối rối, gần như là sợ
hãi, phải cùng nàng có mặt trong nhà thờ. Anh khẳng định là nhà thờ đóng cửa.
Anh tin như vậy, muốn như vậy. Nhưng nàng đẩy cửa và bước vào giáo đường rộng
mênh mông, nơi những hàng cột im lìm vươn lên cao vút. Phía trong cùng, những
người cầm bạch lạp đi trước các vị linh mục mờ ảo như những cái bóng ma, trong
những tiếng rên rỉ cuối cùng của đàn đại phong cầm. Trong cảnh tĩnh mịch, nàng
rùng mình và nói:
- Cảnh âu sầu trong nhà thờ và bóng đêm làm em xúc động, em cảm
thấy cái vĩ đại của hư vô.
Anh đáp:
- Thế nhưng chúng ta phải tin một cái gì đó. Nếu không có Thượng
đế, nếu linh hồn chúng ta không bất tử thì sẽ buồn bã biết chừng nào.
Nàng đứng im một lát dưới những tấm trướng màu xám rủ từ trần
nhà xuống rồi nói:
- Anh tội nghiệp của em, chúng ta chưa biết làm gì với cuộc đời
ngắn ngủi này, thế mà anh lại muốn một cuộc đời khác, một cuộc đời vĩnh hằng!
Ngồi trong xe trở về, LơMênin vui vẻ nói anh đã sống một ngày
ra trò. Anh hôn nàng, hài lòng về nàng và về bản thân mình. Nhưng nàng không
chia sẻ niềm vui ấy. Giữa hai người thường xảy ra như vậy. Đối với nàng, những
giây phút cuối cùng họ ngồi với nhau mất hết cả niềm vui và nàng linh cảm khi
chia tay, anh sẽ không nói ra cái từ cần phải nói. Thông thường, anh chia tay
nàng đột ngột như thể ở anh, sự vật không có gì tiếp nối. Mỗi lần chia tay,
nàng mơ hồ cảm nhận một sự đoạn tuyệt. Nàng luôn luôn đau khổ về điều đó và thường
cáu kỉnh.
Dưới rặng cây ở đường Hoàng hậu 2,
anh khẽ hôn tay nàng.
- Hiếm thấy người ta yêu nhau như chúng ta yêu nhau, phải
không Têredơ?
- Hiếm không thì em không biết, nhưng em nghĩ là anh yêu em.
- Thế còn em?
- Em, em cũng yêu anh.
- Và em sẽ mãi mãi yêu anh?
- Biết thế nào được!
Và thấy nét mặt anh không vui, nàng nói tiếp:
- Với một người đàn bà thề nguyền suốt đời chỉ yêu anh thì
anh có yên tâm hơn không?
Anh vẫn lo âu, vẻ khổ sở. Nàng tỏ ra âu yếm và làm anh hoàn
toàn yên tâm.
- Anh biết đấy, em không nhẹ dạ đâu. Em không phải là một đứa
vung phí như quận chúa Xơniavin đâu!
Gần cuối đường Hoàng hậu, họ chia tay dưới rặng cây. Lơ Mênin
giữ xe lại đề đến phố Hoàng cung ăn tối ở câu lạc bộ và đi xem hát. Anh phải đi
cho kịp giờ.
Têredơ đi bộ về nhà. Đến gần đồi Trôcađêrô - nơi phát ra những
tia sáng giống như những đồ trang sức bằng kim cương, nàng sực nhớ tới bà bán
hoa ở Cầu Nhỏ. “Tôi biết cô trẻ mà!”, câu nói ném ra giữa luồng gió ẩm ướt trở
lại trong ký ức nàng, không còn vẻ chế nhạo và sỗ sàng nữa mà buồn bã làm nàng
băn khoăn. “Tôi biết cô trẻ mà!”. Phải, nàng trẻ, nàng được yêu, và nàng âu sầu.
Chú thích:
|
1. |
Một nữ hầu tước thế kỷ 17 - 18, một nhà giáo dục Pháp nổi
tiếng. |
|
2. |
Cours- la- Reine: lối đi dạo, có trồng cây hai bên, được
xây dựng từ năm 1616 theo lệnh của Hoàng hậu nước Pháp Marie de Médicis. |
Ngài đi lui đi tới trước những bộ mặt kinh hoàng của các ông nghị. Bỗng tình cờ ngài vồ lấy vai bá tước Mactanh, vừa lắc mạnh vừa lôi kéo ông vừa thét lên: “Một chiếc ngai vàng, là bốn mảnh gỗ bọc nhung phải không? Không! Một chiếc ngai vàng là một con người và người đó là ta! Các người muốn vấy bùn vào mặt ta! Có phải là lúc can gián ta không khi hai trăm nghìn quân Côdăc đang vượt qua biên giới? Lão Lenê của các người là một kẻ tàn ác. Việc trong nhà thì chỉ giải quyết trong nhà với nhau thôi chứ!” Trong cơn thịnh nộ, không rõ là cao nhã hay thô lậu, ông ta xoắn chặt cái cổ áo thêu của ông nghị tỉnh Exnơ. “Nhân dân chỉ biết ta, không biết đến các người. Ta là người được cả nước lựa chọn. Các người chỉ là những kẻ đại biểu vô danh tiểu tốt của một tỉnh”. Ông ta bảo họ sẽ rơi vào số phận phái Girôngđanh 3. Tiếng đinh thúc ngựa vang lên theo giọng nói sang sảng của ông ta. Bá tước Mactanh vì vậy mà run rẩy và trở nên cà lăm cho đến hết đời, và tuy Napôlêông đã sụp đổ, ông vẫn run rẩy khi kêu gọi dòng họ Buôcbông lên cầm quyền trong những ngày ông ẩn náu ở Laông. Trong hai ln khôi phục chế độ quân chủ cũng như dưới chính quyền tháng Bảy và nền đệ nhị Đế chế, ông được gắn nhiều huân chương và bội tinh, nhưng tim ông vẫn như thắt lại. Được ba đời vua và một hoàng đế đưa lên những chức vụ cao nhất và tưởng lệ, ông vẫn cảm thấy trên vai mình cái bàn tay của lão người Coocxơ 4. Ông qua đời với tư cách nguyên lão nghị viện dưới triều Napôlêông III. Con trai ông mang theo di chứng run rẩy của cha để lại.
Chàng trai ấy lấy cô Benlem, con gái viên chánh án tòa án Buôcgiơ, và qua đó được hưởng niềm vinh quang về chính trị của một dòng họ đã từng cung cấp ba ghế bộ trưởng cho nền quân chủ ôn hòa. Dòng Benlem, quý tộc ngành pháp quan dưới thời Lui XV, nâng thêm giá trị nguồn gốc Giacôbanh của dòng họ Mactanh. Bá tước Mactanh-con tham gia tất cả các khóa Nghị viện cho tới khi qua đời năm 1881. Saclơ Mactanh-Benlem, con trai ông, dễ dàng thế chân ông ở cơ quan quyền lực này. Sau khi cưới cô Têredơ Môngtexxuy - mà của hồi môn tạo thêm điều kiện thuận lợi cho hoạt động chính trị của mình, - Mactanh-Benlem nổi lên một cách kín đáo trong số bốn năm nhà tư sản giàu có và có chức tước. Quy thuận nền dân chủ và chế độ cộng hòa họ được những người cộng hòa chính thống chấp nhận tương đối dễ dàng: phái cộng hòa hài lòng với truyền thống quý tộc và yên tâm với bộ óc tầm thường của họ.
Trên các cánh cửa phòng ăn, lác đác còn hiện lên lờ mờ, giữa các mảng tối, hình vẽ những bộ lông lốm đốm của những con chữ của Uđry 5. Ngồi trước lọ hoa có vẽ các vì sao và những con ong vàng, giữa hai bức tượng Nữ thần Chiến thắng tay nàng những cây bạch lạp, bá tước Mactanh-Benlem tiếp khách với vẻ duyên dáng đượm chút âu sầu, và lối lễ độ rầu rĩ mà vừa mới đây người ta vẫn còn ưa dùng khi thay mặt cho nước Pháp cô đơn và trầm mặc để tiếp một triều đình lớn phương Bắc tại điện Elidê 6. Chốc chốt anh ta nói những lời vô vị với bà Garanh, vợ ông cựu bộ trưởng Tư pháp ngồi bên phải, với quận chúa Xơniavin đeo đầy kim cương và lộ rõ vẻ chán ngán ngồi bên trái. Đối diện anh, phía bên kia lọ hoa, nữ bá tước Mactanh ngồi giữa tớng Larivie và ông Soinôn ở viện Hàn lâm Văn bia; nàng phe phẩy chiếc quạt trước đôi vai mượt mà, óng ả. Ngồi xung quanh bàn ăn xếp theo kiểu vòng cung, là ông Môngtexxuy, lực lưỡng, mặc màu xanh và sắc mặt hồng hào; bà Benlem Đơ Xanhnông, một cô em họ trẻ tuổi lúng túng với hai cánh tay dài gầy guộc; họa sĩ Đuyvickê; ông Đaniên Xalômông; chàng Pôn Venx; ông nghị Garanh; ông Benlem Đơ Xanhnông; một nghị sĩ lạ mặt; và Đơsactrơ, người lần đầu tiên ăn tối ở nhà này. Câu chuyện lúc đầu thưa thớt, rời rạc, nhưng về sau sôi nỗi hẳn lên và kéo dài thành những tiếng ồn ào hỗn độn. Garanh cất cao giọng nói:
- Mọi ý tưởng sai lầm đều nguy hiểm. Người ta cứ tưởng những kẻ mơ mộng không hề làm hại ai; thật là sai lầm! Chính họ làm hại rất nhiều. Những ảo tưởng nhìn bề ngoài tưởng vô hại nhất, thực ra có một ảnh hưởng tai hại. Chúng có khuynh hướng làm người ta chán ghét hiện thực.
- Có lẽ như thế, vì hiện thực không có gì đẹp đẽ - Pôn Venx tiếp lời.
Cựu bộ trưởng Tư pháp Garanh khẳng định ông ta là người luôn luôn ủng hộ mọi sự cải tiến. Tuy không nhắc lại mình đã yêu cầu bãi bỏ quân đội thường trực dưới thời Đế chế và tách Giáo hội ra khỏi Nhà nước năm 1880. Ông ta vẫn tuyên bố trung thành với cương lĩnh của mình, và là người đầy tớ tận tụy của nền dân chủ. Ông ta khẳng định phương châm Trật tự và Tiến bộ, và đinh ninh chính mình đã tìm ra phương châm ấy.
Mônglexxuy đáp lại với vẻ chất phác đến thô bạo:
- Thôi đi, ông Garanh, xin ông thành thực cho. Ông hãy thú nhận là chẳng cần phải tiến hành một cuộc cải cách nào cả và nhiều lắm thì cũng chỉ có thể thay đổi màu sắc các con tem thư. Dù tốt dù xấu, sự vật phải như thế nào thì chứng như thế ấy. Vâng - ông ta nhắc lại - sự vật phải như thế nào thì chúng như thế ấy. Nhưng chúng thay đổi không ngừng. Từ 1870, tình hình công nghiệp và tài chính của đất nước đã trải qua bốn, năm cuộc cách mạng mà các nhà kinh tế học không dự kiến và cho đến nay họ vẫn chưa hiểu nổi. Trong xã hội cũng như trong tự nhiên, những sự biến đổi đều xảy ra ở bên trong.
Về vấn đề chính phủ, ông ta có cái nhìn rõ ràng và thiển cận. Thiết tha gắn bó với hiện tại và ít quan tâm tới tương lai, ông không hề băn khoăn về các đảng viên Xã hội. Không hề lo lắng mặt trời và chế độ tư bản một ngày nào đó có bị tiêu diệt hay không, ông chỉ biết hưởng thụ. Theo ông, nên phó mặc cho thời cuộc. Chỉ có những kẻ ngu ngốc mới chống lại và chỉ có những thằng điên mới đi trước trào lưu.
Nhưng bản chất vốn âu sầu, bá tước Mnctanh có những dự cảm buồn bã. Anh nói đến tai họa một cách bóng gió.
Những lời nói lo âu của Mactanh làm xúc động Sơmôn ngồi phía bên kia lọ hoa. Bắt đầu than vãn về liên đoàn, Ông ta giảng giải nếu chỉ có một mình và hoạt động riêng rẽ thì các dân tộc Cơ đốc giáo không thể hoàn toàn thoát khỏi cảnh man rợ, và nếu không có người Do Thái và người Ả Rập thì châu Âu ngày nay vẫn còn giống như ở thời kỳ những cuộc Thập tự chinh, chìm đắm trong dốt nát khổ ải và tàn bạo.
- Thời Trung cổ - ông ta nói - dù kết thúc đối với các cuốn
giáo khoa lịch sử người ta phát cho học sinh để lừa gạt chúng. Thực ra, những kẻ
man rợ vẫn là những kẻ man rợ. Sứ mệnh của Ixraen là giáo huấn các dân tộc.
Chính Ixraen, vào thời Trung cổ, đã mang lại cho châu Âu trí tuệ của châu Á. Chủ
nghĩa xã hội làm các ngài khiếp hãi. Đó là nỗi đau của người Cơ đốc giáo, nó giống
như chế độ tu viện. Còn tình trạng vô chính phủ ư? Các ngài không thừa nhận
trong đó cái họa Anbigioa và Vôđoa ngày xưa hay sao? 7. Ngày nay, chỉ có người Do Thái xưa kia đã
từng giáo huấn và khai hóa châu Âu, là có thể cứu nó thoát khỏi cái họa Tôn
giáo hiện đang giằng xé nó. Nhưng họ đã không làm tròn bổn phận. Họ trở nên những
tín đồ Cơ đốc Giáo trong số các tín đồ Cơ đốc giáo. Và chúa trừng phạt họ, cho
phép lưu đày họ và tước đoạt của cải của họ. Đâu đâu chủ nghĩa bài Do Thái cũng
lan ra khủng khiếp. Ở Nga, những người đồng tôn của tôi bị săn đuổi như những
con thú dữ. Ở Pháp, người Do Thái không được làm việc trong cơ quan dân sự và
quân sự. Họ bị loại ra khỏi giới quý tộc. Ixaắc côblenx, cháu họ tôi, phải rời
bỏ con đường ngoại giao sau khi thi đỗ xuất sắc. Khi Sơmôn nhà tôi đến thăm,
nhiều bà vợ bạn đồng nghiệp của tôi cố tình giở trước mặt bà ấy những tờ báo
bái Do Thái. Và ông bộ trưởng Giáo dục đã từ chối không cấp cho tôi Đệ tam Bắc
đẩu bội tinh, các ngài có thể tin điều đó không? Đấy là thái độ vong ơn! Là một
sự sai lầm! Chủ nghĩa bài Do Thái là sự diệt vong của nền văn minh châu Âu, các
ngài có rõ không?
Ông già nhỏ thó n có một tính tình đặc biệt: ông ta bất cần sự
khóc lóc của thiên hạ. Kỳ cục và dữ dằn, sự thành thực của ông làm cả cử tọa sửng
sờ. Bà Mactanh thích thú tỏ lời khen ngợi:
- Ít ra, ông cũng bênh vực những người đồng tôn của mình, ông
Sơmôn ạ! Ông không giống như một bà bạn tôi, một vị phu nhân Do Thái rất đỗi
nhan sắc. Thấy một tờ báo đưa tin mình tiếp đón tầng lớp thượng lưu Do Thái, đi
đâu bà ta cũng làm ầm ĩ lên là mình bị người ta thóa mạ.
- Thưa bà, tôi tin chắc bà không rõ đạo đức Do Thái đẹp đẽ và
cao thượng hơn những nền đạo đức khác biết chừng nào. Bà có biết giai thoại về
ba chiếc nhẫn không?
Câu hỏi chìm đi trong trông ồn ã của những lời thoại về chính
sách ngoại giao, về các cuộc triển lãm hội họa, về những vụ tai tiếng trong
tình trường, về những bài diễn văn ở viễn Hàn lâm. Người ta trao đổi về cuốn tiểu
thuyết mới xuất bản, về vở kịch sắp trình diễn. Một vở hài kịch, trong đó
Napôlêông giữ một vai trò thứ yếu.
Câu chuyện dừng lại ở Napôlêông, người nhiều lần được đưa lên
sân khấu và gần đây là đối tượng nghiên cứu trong nhiều tác phẩm có nhiều bạn đọc.
Ông ta trở thành đối tượng của sự hiếu kỳ, một nhân vật thời thượng, không còn
là vị anh hùng dân dã, vị “Á - thánh đi bốt của tổ quốc” như trước kia, khi
Noocvinx và Bêrănggiê, Saclê và Rapphê 8. sáng tác những sự tích về ông ta nữa, mà
là một nhân vật kỳ cục, một kiểu người buồn cười trong cuộc sống thân mật sống
động, một khuôn mặt mà phong cách làm các nghệ sĩ thích thú, còn cử chỉ thì thu
hút những kẻ vô công rỗi nghề.
Là người xây dựng sự nghiệp chính trị trên cơ sở hận thù nền
Đế chế, Garanh thành thực cho rằng việc phục hồi cái khẩu vị quốc gia ấy chỉ là
một sự sùng bái phi lý. Ông ta thấy điều đó chẳng có gì nguy hại và không mảy
may lo sợ. Với ông ta, sự kinh hãi thường chỉ nổ ra đột ngột và dữ dội. Còn lúc
này, ông ta rất điềm tĩnh: ông ta không nói gì tới chuyện cấm các buổi biểu diễn,
tịch thu sách báo, tống giam hay đàn áp các tác giả. Bình tĩnh vả nghiêm khắc,
ông ta cho Napôlêông chỉ là tên lính đánh thuê của Tenơ 9. đã từng đá vào bụng Vônnây.
Ai nấy đều muốn xác định một Napôlêông đích thực. Ngồi trước
lọ hoa kiểu Đế chế và tượng các Nữ thn Chiến thắng có cánh, bá tước Mactanh nói
một cách cung kính về một Napôlêông với tư cách nhà tổ chức và nhà cai trị. Anh
hết sức đề cao ông ta trên cương vị chủ tịch hội đồng nhà nước, nơi ông ta giảng
giải và làm sáng tỏ nhiều điểm mơ hồ.
Garanh khẳng định là trong những buổi họp hết ức nổi tiếng, lấy
cớ muốn hút, Napôlêông mượn những hộp thuốc bằng vàng đính kim cương và tượng
nhỏ của các ngài cố vấn, rồi sau đó người ta không bao giờ còn thấy những hộp
đó nữa. Rốt cuộc khi đi họp nội các, người ta chỉ còn mang theo những hộp thuốc
xoàng xĩnh. Garanh nghe chính bản thân con trai nhà Muniê 10. kể lại giai thoại này.
Môngtexxuy thì ca ngợi tinh thần trật tự của Napôlêông:
- Ông ta thích công việc được làm đến nơi đến chốn. Ngày nay,
người ta không còn cái phong thái ấy nữa.
Là họa sĩ, Đuyvickê tỏ ra bối rối. Anh không tìm thấy trên
khuôn mặt đúc, mang từ Xanh-Hêlen về những nét vốn đẹp đẽ và kiên nghị của
Napôlêông thể hiện trên các tấm huy chương và tượng bán thân. Giờ đây, có thể
tin chắc điều đó khi thấy khuôn mặt ấy đúc bằng đồng thau, moi từ các kho lúa
ra, treo đầy ở các hàng bán đồ cổ, giữa những con phượng hoàng và nhân sư bằng
gỗ thiếp vàng. Và theo Đuyvíckê, vì bộ mặt thật của Napôlêông không đặc trưng
cho Napôlêông nên tâm hồn thật của Napôlêông cũng không đặc trưng cho ông ta.
Có lẽ chỉ là tâm hồn của một tay trưởng giả đích thực: người ta nói như vậy và
Đuyvickê muốn tin như vậy. Vả chăng, là Người đã có vinh dự vẽ chân dung các
danh nhân của thế kỷ, anh biết các danh nhân không hề giống như người ta vẫn
quan niệm về họ.
Đanien Xalômông thì cho rằng cái khuôn mặt Đuyvícke vừa nói tới,
cái khuôn đúc theo nét mặt không còn sinh khí của Hoàng đế và do bác sĩ
Angtômaki 11. mang về châu Âu lần đầu tiên dược đú bằng
đồng thau và đem ra ban dưới thời Lui Philip, năm 1833, và lúc đó khiến người
ta kinh ngạc và hồ nghi. Người ta e rằng tay thầy thuốc người Ý không đứng đắn,
lắm lời và nhiều tham vọng ấy, coi thường thiên hạ. Các môn đệ ca bác sĩ
Gan 12. mà học thuyết của ông lúc ấy đang được ưu
ái, cho cái khuôn đúc ấy là đáng ngờ. Họ không tìm thấy trên đó những cục bướu
thiên tài, và trên vầng trán mà họ nghiên cứu theo lý thuyết của Gan, họ không
thấy có gì đặc sắc về cấu tạo.
- Quả là Napôlêông - quận chúa Xơniavin nói - chỉ đặc sắc vì
gã đá vào bụng Vônnây và đánh xoáy những hộp đựng thuốc có đính kim cương như
ông Garanh vừa nói cho chúng ta biết đấy.
- Và dù không thật chắc là ông ta có đá đi nữa! - Bà Mactanh
tiếp lời.
- Về lâu về dài thì cái gì rồi người ta cũng biết tất - Quận
chúa Xơniavin vui vẻ nói thêm. - Napôlêông không làm gì hết: thậm chí cũng
không cho Vônnây một cái đá nữa kia, và đầu óc ông ta là đầu óc một thằng ngu.
Tướng Larivie cảm thấy đến lượt mình phải tấn công. Ông ta
ném ra một câu…
- Napôlêông ấy à, chiến dịch 1813 của ông ta rất đáng nghi ngờ.
Larivie muốn được lòng Garanh và không có ý kiến nào khác;
nhưng rồi cũng cố gắng nêu lên một nhận xét chung chung:
- Napôlêông đã phạm sai lầm mà đáng lẽ ở cương vị ấy, ông ta
không đáng phạm.
Rồi lặng im, mặt đỏ gay.
Bà Mactanh hỏi:
- Còn ông Venx, ông nghĩ về Napôlêông thế nào?
- Thưa bà, tôi không ưa những “bộ mặt béo phì đeo gươm”, và
tôi cho những kẻ đi chinh phục chỉ là những thằng điên nguy hiểm. Tuy vậy, cái
bộ mặt Hoàng đế ấy vẫn khiến tôi lưu tâm cũng như nó làm cho thiên hạ lưu tâm.
Tôi thấy ông ta có cá tính và sinh lực. Không có tập thơ nào hay cuốn tiểu thuyết
phiêu lưu nào có giá trị bằng cuốn Mêmôrian 13. mặc dù nó được viết một cách lố bịch.
Điều tôi nghĩ về Napôlêông - vì bà muốn biết điều đó - là
sinh ra để hưởng vinh quang, ông ta đã xuất hiện với vẻ giản dị huy hoàng của một
vị anh hùng sử thi. Người anh hùng phải mang tình người. Napôlêông là người
mang tình người.
- Ồ! Ồ! - Mọi người kêu lên.
Nhưng Pôn Venx nói tiếp:
- Ông ta dữ dội và nông nỗi, và qua đấy tỏ ra “người” một
cách sâu xa. Tôi muốn nói ông ta giống như mọi người. Ông ta muốn với một sức mạnh
khác thường, tất cả những gì bàn dân thiên hạ ưa thích và mong muốn. Bản thân
ông ta cũng có những ảo tưởng mà ông mang đến cho dân chúng. Đó là chỗ mạnh và
chỗ yếu và đó cũng là chỗ tốt đẹp của Napôlêông. Ông ta tin tưởng vào võ công.
Ông ta nghĩ về cuộc đời và về thiên hạ gần giống như lối suy nghĩ của một tay vệ
binh của mình, ông ta luôn luôn giữ cái vẻ trang nghiêm trẻ thơ vốn ưa các trò
chơi gươm giáo và trống chiêng cùng với các thứ ngây thơ tạo nên những quân
nhân lỗi lạc. Ông ta thành thực đánh giá cao vũ lực. Ông ta là con người của những
con người, là máu thịt của máu thịt con người. Không một tư tưởng nào của ông
ta không phải là hành động, mà mọi hành động của ông ta đều vĩ đại và bình thường.
Chính cái vĩ đại thường tình ấy tạo nên những con người anh hùng. Và Napôlêông
là người anh hùng hoàn hảo. Bộ óc ông ta không bao giờ vượt qua bàn tay ông ta,
cái bàn tay bé nhỏ và xinh xắn đã nghiền nát thiên hạ. Không một giây phút nào
ông ta lo lắng về cái ông ta không đạt được.
- Thế là, theo ông - Garanh nói - ông ta không phải là một
thiên tài trí tuệ. Tôi đồng ý với ông.
- Dĩ nhiên - Pôn Venx nói tiếp - ông ta cỏ đủ thiên tài để
múa may một cách xuất sắc trong trường hoạt động dân sự và quân sự trên đời
này. Nhưng ông ta không có thiên tài tư biện. Thiên tài ấy, như Buphông nói, lại
là chuyện khác. Chúng ta có sưu tập những bài viết và bài nói của ông ta. Văn
phong sống động và có hình ảnh. trong số tư tưởng ấy không có lấy một khuynh hướng
triết học nào, một mối quan tâm nào về cái bất khả tri, một niềm lo lắng nào về
cõi bí ẩn bao phủ số phận con người. Ở Xanh-Hêlen 14, khi nói về Thượng đế và về linh hồn,
ông ta giống như một cậu bé học sinh mười bốn tuổi. Ném vào trong thế gian, tâm
hồn ông ta ở ngang tầm thế gian và bao quát hết tất cả. Tâm hồn ấy tuyệt nhiên
không tiêu tan đi trong cõi vô biên. Là nhà thơ, ông ta chỉ biết thơ ca của
hành động. Ông ta đóng khung giấc mơ hùng tráng của mình về cuộc đời trong phạm
vi trái đất. Trong nỗi niềm thơ ngây khủng khiếp và thống thiết của mình, ông
ta đinh ninh con người có thể vĩ đại, tuổi tác và hoạn nạn cũng không làm ông
ta xa rời tư tưởng thơ ngây ấy. Tuổi thanh xuân, hay nói đúng hơn, tuổi tráng
niên diệu kỳ của Napôlêông kéo dài suốt đời ông ta vì ngày tháng cuộc đời ông
ta không bổ sung cho nhau để tạo nên một độ chín muồi về tiềm thức. Đó là trạng
thái diệu kỳ của những con người hành động. Họ sống hết mình trong mỗi phút giây
của cuộc sống, và tài trí của họ tập trung vào một điểm. Họ luôn luôn tự đổi mới
mình, chứ không bao giờ giữ nguyên trạng qua ngày tháng. Những giờ phút cuộc đời
họ không hề nối tiếp nhau bằng sợi dây những sự suy tưởng nghiêm trang và vô
tư. Họ không tiếp tục sống mà là tự nối tiếp mình trong một chuỗi hành động. Bởi
vậy họ không có đời sống nội tâm. Sự khiếm khuyết ấy đặc biệt rõ rệt ở
Napôlêông: ông ta không bao giờ có cuộc sống nội tâm. Đó chính là cội nguồn của
tính cách nông nỗi khiến ông ta dễ dàng chịu đựng sức nặng ghê gớm của những nỗi
đau và những lỗi lầm của mình. Mỗi buổi sáng, tâm hồn luôn luôn mới mẻ của ông
ta lại hồi sinh. Hơn ai hết, ông ta có khả năng vui đùa. Lần đầu tiên nhìn thấy
mặt trời mọc trên đảo Xanh-Hêlen ảm đạm, ông ta nhảy xuống giường và huýt sáo một
điệu tình ca. Ông ta có cái thanh bình của một tâm hồn đứng cao hơn số mệnh, và
chủ yếu là cái thanh thoát của bộ óc nhanh chóng hồi sinh. Ông ta sống cuộc sống
ngoại hình.
Không ưa lối suy nghĩ và nói năng tinh xảo, Garanh muốn sớm kết
luận:
- Tóm lại, - ông ta nói - có một quái vật trong con người ấy.
- Làm gì có quái vật. - Pôn Venx đáp - Và những ai bị coi là
quái vật đều làm người ta ghê tởm. Còn Napôlêông thì được cả một dân tộc mến mộ.
Đi tới đâu được người ta yêu mến tới đó, chính là sức mạnh của ông ta. Niềm vui
của binh sĩ là được chết vì ông ta
Bà Mactanh muốn nghe ý kiến Mơsactrơ. Nhưng anh không muốn
nói, vẻ khiếp hãi.
- Các ngài có biết - Sơmôn hỏi - giai thoại về ba chiếc nhẫn,
nguồn cảm hứng tuyệt diệu của một người Do Thái Bồ Đào Nha không?
Vừa khen ngợi cái nghịch lý sắc sảo của Pôn Venx. Garanh vừa
lấy làm tiếc là như thế thì trí tuệ lấn át đạo đức và công lý.
- Có một nguyên tắc. - Ông ta nói - Nguyên tắc đó là phải
đánh giá con người theo hành động.
- Thế còn đối với phụ nữ, - quận chúa Xơniavin đột ngột hỏi -
ông có đánh giá họ theo hành động không? Và làm sao ông biết được họ làm gì?
Tiếng người nói hòa vào tiếng xủng xoảng của bát đĩa bằng bạc.
Một không khí nóng bức, đầy hơi nước, tràn ngập phòng ăn. Những cánh hồng rơi lả
tả trên khăn trải bàn. Đầu óc mọi người mỗi lúc một thêm sôi nỗi.
Tướng Larivie thì mơ màng:
- Khi nào phải thôi việc, - ông ta nói với thiếu phụ ngồi bên
cạnh, - tôi sẽ về sống ở Tua và trồng hoa.
Ông ta lấy làm kiêu hãnh mình là một người làm vườn giỏi. Người
ta đã từng lấy tên ông ta đặt cho một loại hoa hồng, ông ta lấy thế làm thích
thú.
Sơinôn lại hỏi cử tọa có biết giai thoại về ba chiếc nhẫn
không.Nhưng quận chúa Xơniavin muốn trêu chọc ngài nghị sĩ Garanh.- Thế ông không biết là người ta làm những điền giống nhau vì
những lý do rất khác nhau hay sao, thưa ông Garanh?Môngtexxuy cho là bà ta nói không- Quả như bà nói, thưa bà, là hành động chẳng chứng minh gì hết.
Tư tưởng ấy nổi bật trong một tiểu tiết cuộc đời của Đông Gioăng 15. mà cả Môlie lẫn Môda đều không biết tới,
những một truyền thuyết ở Anh đã tiết lộ; tôi biết được truyền thuyết ấy qua
Ginam Lôsen, một người bạn ở Luân Đôn. Theo truyền thuyết này, anh chàng đại Sở
Khanh ấy mất thì giờ đeo đuổi ba phụ nữ. Người thứ nhất l một bà trưởng giả: bà
ta yêu chồng; người thứ hai là một nhà tu hành: bà ta không chịu vi phạm những
lời thề nguyện; người thứ ba, sau một thời gian dài sống phóng đãng và trở nên
xấu xí, vào làm người hầu bàn trong một quán rượu bất lương. Sau những điều
mình từng nghe, từng thấy, ái tình đổi với cô ta trở thành hoàn toàn vô nghĩa.
Rõ ràng cả ba người có một thái độ giống nhan vì những lý do rất khác nhau. Một
hành động chẳng chứng minh gì hết. Cả cái khối hành động, sức nặng của chúng, tổng
số của chúng mới làm nên giá trị một con người.- Một số hành động của chúng ta - Têredơ nói - mang dáng dấp,
mang vẻ mặt của chính bản thân mình: đó là những đứa con đẻ của mình. Còn những
hành động khác thì không giống chúng ta chút nào.Nàng đứng dậy, khoác tay tướng Larivie.Còn quận chúa Xơniavin thì khoác tay Garanh bước vào phòng
khách và nói:- Têredơ nói đúng… Những hành động khác không giống chúng ta chút
nào. Chỉ là những cô bé da đen chúng ta cho ra đời trong giấc ngủ mà thôi.Trên các bức trường, các nữ thần không còn vẻ tươi tắn như
xưa, mỉm cười với khách nhưng khách vẫn thờ ơ.Cùng với Benlem Đơ Xanhnông, cô em họ trẻ trung, bà Mactanh mời
khách uống cà phê. Nàng khen ngợi Pôn Venx về những điều anh nói trong bữa ăn:- Ông nói về Napôlêông với một thứ tự do tư tưởng rất hiếm thấy
trong những buổi chuyện vãn tôi được nghe. Tôi nhận thấy hễ các cháu bé rất
xinh đẹp hờn dỗi là chúng phảng phất giống Napôlêông trong buổi tối sau trận
Oateclô. Ông làm tôi nhận ra những l do rất sâu xa của sự giống nhau ấy.Rồi nàng quay sang Đơsactrơ:- Còn ông, ông có ưa Napôlêông không?- Thưa bà, tôi không ưa Cách mạng. Mà Napôlêông chính là Cách
mạng “đi bốt”.- Vì sao ông không nói ra điều đó trong bữa ăn tối lúc nãy,
ông Đơsactrơ? Nhưng tôi hiểu rồi: ông chỉ muốn tỏ ra là người tài trí trong một
phạm vi thân mật chứ gì!Bá tước Mactanh-Benlem dẫn các vị khách nam giới sang phòng
hút thuốc, chỉ một mình Pôn Venx ngồi lại với các bà. Quận chúa Xơniavin hỏi
anh đã viết xong cuốn tiểu thuyết chưa và viết về đề tài gì. Đấy là một công
trình nghiên cứu trong đó anh cố gắng vươn tới sự chân thực bằng một chuỗi
logích có vẻ hợp lý, chúng bổ sung lẫn nhau để đạt đến chân lý.- Qua đó, - anh nói - tiểu thuyết có cái sức mạnh tinh thần
chuyện kể không bao giờ có được với lối phù phiếm nặng nề của nó.Nàng muốn biết có phải là một cuốn sách viết cho phụ nữ
không. Anh khẳng định là không.- Ông không viết cho phụ nữ là sai lầm đấy, ông Venx ạ. Đấy
là tất cả những gì một người đàn ông tuyệt diện có thể làm cho họ.Và khi anh muốn biết do đâu nàng có ý nghĩ ấy, nàng đáp:- Vì tôi thấy tất cả những người phụ nữ thông minh đều lấy những
anh chồng ngu ngốc.- Và làm phiền lòng họ.- Dĩ nhiên! Nhưng những người đàn ông tuyệt diệu lại làm họ
phiền lòng hơn. Những người đó có điều kiện để thành công hơn… Nhưng ông nói
cho tôi biết đề tài cuốn tiểu thuyết của ông đi.thiết tha điều đó sao?- Tôi chẳng thiết tha điều gì hết.- Thưa bà, đây là một công trình nghiên cứu phong tục dân
gian, là câu chuyện một công nhân trẻ tuổi, thanh đạm và trong trắng, đẹp như một
cô gái, với một tâm hồn trinh nữ, một tâm hồn khép kín. Anh ta là thợ khắc chạm
vàng bạc và làm việc ra trò. Buổi tối, chàng trai nghiên cứu bên cạnh bà mẹ yêu
quý. Anh ta đọc sách. Trong bộ óc giản dị và trần trụi của anh, các ý tưởng được
tiếp thụ như những viên đạn bắn vào tường. Anh không có nhu cầu, không có những
niềm đam mê và khuyết tật vốn gắn bó người ta với cuộc đời. Anh sống cô đơn và
trong sạch. Anh kiêu hãnh về đạo đức của minh. Anh sống giữa đám người ngu ngốc
đói nghèo. Anh thấy họ đau khổ. Anh có tấm lòng tận tụy không “người”, có tấm
lòng nhân ái lạnh lùng mà người ta mệnh danh là lòng vị tha; anh không “người”
vì không có tình dục.- A! Phải có tình dục mới có thể là “người” hay sao?- Chắc hẳn phải như thế, thưa bà. Lòng trắc ẩn nằm trong ruột
gan cũng như tình yêu nằm trên da thịt. Anh chàng công nhân kia không đủ thông
minh để nghi ngờ. Anh ta là người tin tưởng. Anh tin những điều anh đọc. Và anh
đã đọc được là muốn xây dựng hạnh phúc cho mọi người thì chỉ cần tiêu diệt xã hội.
Khát vọng tuẫn tiết giày vò anh. Một buổi sáng, anh ra đi sau khi ôm hôn mẹ.
Anh rình đón ông nghị sĩ đảng Xã hột trong quán; thấy ông ta, anh nhảy bổ vào,
đâm một nhát dao vào bụng và kêu to: “Chủ nghĩa vô chính phủ muôn năm!” Người
ta bắt anh ta, đo người chụp ảnh, thẩm vấn, xét xử, tuyên án tử hình và đưa lên
đoạn đầu đài. Đấy, cuốn tiểu thuyết của tôi là như thế.- Như thế không thật hấp dẫn! - Quận chúa Xơniavin nói -
Nhưng đâu phải lỗi tại ông: những nhân vật vô chính phủ của ông cũng rụt rè và
ôn hòa như những người Pháp khác. Người Nga, khi đã vào cuộc, thì táo bạo và
phóng túng hơn.Nữ bá tước Mactanh đến hỏi Pôn Venx có biết cái ông rất hiền
lành không nói nữa lời và ngơ ngác như một chú cún lạc đường kia là ai không.
Ông ta là khách của chồng nàng. Nàng không biết tên và cũng không biết gì hết về
ông ta.Pôn Venx gặp ông ta ở điện Lucxămbua, trong hành lang dùng
làm thư- Hôm đó, tôi đến quan sát cái vòm điện Lucxămbua, nơi
Đơlacroa 16. đã vẽ, trên một lớp gỗ màu xanh nhạt,
chân dung các vị anh hùng và nhà hiền triết thời Cổ đại. Ông thượng nghị sĩ có
vẻ tội nghiệp, đáng thương, đứng sưởi ấm và như bốc ra mùi vải trải giường ẩm ướt.
Ông ta nói chuyện với hai người đồng nghiệp già và vừa xoa hai tay va nói:
“Theo tôi, điều chứng tỏ chính phủ Cộng hòa là chính phủ tốt hơn cả, là ở chỗ
năm 1871, trong một tuần lễ, đã bán bắn chết sáu vạn người nổi loạn mà vẫn
không bị dân oán ghét. Bất kỳ chế độ nào khác cũng không sao tồn tại được sau
khi đàn áp tàn khốc như vậy.- Thì ra ông ta lả một kẻ tàn ác. - Bà Maclanh nói - Thế mà
thấy ông ta nhút nhát và vụng về, tôi lại đem lòng thương hại!Thống thượt cúi cằm xuống ngực, bà Garanh ngồi thiếp đi với vẻ
thư thái tâm hồn của một bà nội trợ mơ màng về khu vườn rau của mình trên ngọn
đồi sông Loa, nơi các đội đồng ca đến chào mừng bà ta.Giodep Sơmôn và tướng Larivie bước ra khỏi phòng hút thuốc,
ánh mắt vẫn còn vẻ thú vị về những câu chuyện tục tĩu vừa trao đổi với nhau.
Larivie ngồi giữa quận chúa Xơniavin và bà Mactanh.- Sáng nay, ở rừng Bulônlơ, tôi gặp bà nam tước Đơ Oacbuya cưỡi
một con ngựa tuyệt đẹp. Bà ấy hỏi tôi: “Tướng quân làm thế nào mà bao giờ cũng
có đàn ngựa đẹp thế?” Tôi đáp: “Thưa bà, muốn có ngựa đẹp thì phải hoặc thật
giàu có, hoặc thật láu lỉnh”.Rất thích thú câu trả lời, ông ta hấp háy mắt nhắc lại hai lần.Pôn Venx đến cạnh nữ bá tước Mactanh:- Tôi biết tên ngài thượng nghị sĩ ấy rồi: ông ta tên là
Loayê, phó chủ tịch một nhóm chính trị, tác giả một cuốn sách tuyên truyền nhan
đề: Tội ác ngày 2 tháng Chạp.Tướng Larivie nói tiếp câu chuyện bỏ dở- Lúc đó, mưa tầm tã. Tôi đứng che ô. Lơ Mênin cũng có mặt.
Tôi rất khó chịu vì ông ta ngầm chế giễu tôi, ông ta nghĩ đã là tướng thí tôi
phải thích gió, thích mưa và tuyết tan. Thật phi lý! Ông ta bảo tôi là thời tiết
xấu không làm ông ta khó chịu, và tuần sau ông ta sẽ cùng bạn bè đi bắn chồn.Im lặng một lúc, Larivie nói thêm:- Tôi chúc ông ta vui vẻ trong buổi đi săn, nhưng không muốn
làm nhục ông ta. Tôi không thích đi săn chồn.- Nlưng đi săn như thế là bổ ích chứ! Môngtexxuy bảo.Larivie nhún vai:- Chồn chỉ nguy hiểm đối với chuồng gà vào mùa xuân, khi nó
phải nuôi cả nhà nó thôi.- Chồn thích thỏ rừng hơn gà vịt. - Môngtexxuy đáp - Nó là một
con vật rình mồi khôn ngoan, nó làm hại các chủ trại ít hơn là làm hại những
người săn bắn. Tôi có biết ít nhiều về cái đó.Lơ đãng, Têredơ không lắng nghe Xơniavin nói gì với mình.
Nàng mơ màng: “Anh ấy đi mà thậm chí cũng không bảo cho mình biết!”- Bà nghĩ gì thế, bà bạn thân mến?
- Chẳng có gì thú vị cả.
Chú thích:
|
Chính khách Pháp, thế kỷ 18 - 19. |
|
|
Cung vua Pháp ở Pari. |
|
|
Chính đảng cấp tiến thời cách mạng Pháp 1789, số đông đảng
viên bị chém đầu năm 1793 |
|
|
Hòn đảo trên Địa Trung Hải, quê hương Napôlêông I (lúc đầu
thuộc Italia, về sau thuộc Pháp). |
|
|
Họa sĩ Pháp, thế kỷ 17-18, chuyên vẽ loài vật. |
|
|
Dinh tổng thống Pháp ngày nay. |
|
|
Anbigioa và Vôđoa là những giáo phái ở miền Nam nước Pháp
vào thế kỷ 12 chống lại đạo Cơ đốc, đốt phá nhà thờ, về sau bị chính quyền
tiêu diệt. |
|
|
Các họa sĩ và nhạc sĩ Pháp, thế kỷ 18-19. |
|
|
Tenơ, Vônnây là triết học Pháp, thế kỷ 19. |
|
|
Chủ tịch quốc hội Pháp sau Cách mạng tháng 2-1848. |
|
|
Họa sĩ riêng của Napôlêông, người Coocxơ. |
|
|
Bác sĩ người Đức, người đề xướng lý thuyết não tướng học. |
|
|
Cuốn nhật ký ghi lại những cuộc đàm đạo giữa Napôlêông với
người thư ký về các thời kỳ lịch sử (trong những ngày bị lưu đày ở đảo Xanh
Hêlen). |
|
|
Hòn đảo, nơi Napôlêông bị lưu đày. |
|
|
Nhân vật huyền thoại Tây Ban Nha, điển hình cho lối sống Sở
Khanh trong tình trường. |
|
|
Danh họa Pháp thế kỷ 19. |
IV. Hai người bước vào một căn phòng nhỏ tối tăm, âm thầm, ngột
ngạt với những màn gió, màn cửa, chăn đệm, da gấu và thảm phương Đông. Dưới ánh
lửa vừa được đốt lên, những thanh kiếm bỗng lấp lánh trên lớp vải phủ tường, giữa
những tấm cactông làm bia tập bắn và những lớp kim tuyến nhàu nát trên những bộ
váy áo bỏ đã ba năm nay. Trên nóc tủ nhỏ bằng gỗ huê đào là một cái cúp bằng bạc,
giải thưởng của một hội thể thao. Một lọ pha lê có đường viền bằng đồng mạ vàng
theo hình dây bim bìm, trong cắm những cành tử đinh hương trắng, đặt trên một mặt
bàn tròn bằng sứ có họa tiết. Những tia sáng nhấp nháy trong bóng đêm oi bức. Mắt
đã quen bóng tối, Toredo và Rôbe đi lại dễ dàng giữa những đồ vật quen thuộc.
Anh châm một điếu thuốc; còn nàng thì đứng chải lại tóc, lưng quay về phía lò
sưởi, trước tấm gương thấp thoáng bóng mình. Nhưng nàng không muốn thắp đèn, đốt
nến. Nàng với tay lấy mấy chiếc cặp tóc trong cái đĩa nhỏ bằng thủy tinh vùng
Bôhem đặt trên bàn đã từ ba năm nay. Anh nhìn nàng đang luồn nhanh những ngón
tay óng ả vào mái tóc lấp lánh màu vàng đậm. Bóng tối khiến nét mặt nàng đanh lại
và sẫm màu như màu đồng hun, vẻ bí ẩn, làm anh có phần băn khoăn. Nàng không
nói không rằng.
Anh hỏi nàng:
- Bây giờ thì em hết giận rồi chứ, em yêu?
Anh giục nàng trả lời hay nói một điều gì đó. Nàng đáp:
- Anh muốn tôi nói gì nào? Tôi chỉ có thể nhắc lại điều tôi
đã nói khi vừa tới đây. Tôi ngạc nhiên là dự định của anh lại do chính tướng
Larivie cho tôi biết.
Anh thấy rõ nàng vẫn giận, thái độ lạnh lùng, khó chịu, chứ
không còn thái độ phó thác vốn làm cho nàng hết sức dịu dàng như trước. Nhưng
anh làm ra vẻ đó chỉ là một chút nũng nịu thoáng qua.
- Em yêu quý, anh đã giãi bày rồi kia mà. Anh vừa nói với em
và anh xin nói lại là trước khi gặp Lari-vie, anh nhận được thư anh Cồmông nhắc
lại lời anh đã hứa đi săn chồn trong khu rừng của anh ấy, và anh trả lời ngay.
Anh tính hôm nay báo cho em biết. Anh lấy làm tiếc là tướng Larivie đã báo trước
cho em, nhưng điều đó có gì quan trọng đâu em.
Hai cánh tay khùynh lén trên đầu, nàng quay nhìn anh với một
ánh mắt điềm tĩnh mà anh không hiểu nổi:
- Thế là anh sẽ đi chứ?
- Tuần sau, vào thứ ba hay thứ tư gì đấy. Nhiều lắm thì anh sẽ
vắng mặt mười ngày.
Nàng đội lên đầu chiếc mũ lông rái có thêu một cành tầm gửi.
- Việc đó không thể trì hoãn được hay sao?
- Ồ không! Chỉ một tháng nữa thì da chồn hoàn toàn mất giá. Vả
chăng Cômông đã mời những người bạn tốt. Nếu anh vắng mặt thì họ buồn lắm.
Nàng găm mũ lên đầu bằng một chiếc cặp tóc dài và nhíu mày.
- Cuộc săn ấy thú vị lắm phải không?
- Phải, rất thú vị, vì bọn anh sẽ tìm cách làm thất bại mưu mẹo
của lũ chồn. Chúng là những con vật thông minh tuyệt vời. Ban đêm anh đã từng
quan sát lũ chồn đi săn thỏ. Chúng dồn dần con mồi về một góc tổ chức một buổi
săn bắt thực sự. Anh cam đoan với em là không dễ gì nhử chồn ra khỏi hang. Những
buổi đi săn chồn như thế thật thú vị. Rượu của Gômông lại rất ngon. Riêng anh
chẳng lưu tâm điều đó nhưng những người khác thì hết lời ca ngợi. Một tá điền của
Cômông bảo là anh ta học được cách dùng những lời phù chú để vây chặt chồn lại,
em có thể hình dung được không? Anh thì không dùng tới thứ vũ khí đó, và hứa sẽ
mang về cho em nữa tá da thật đẹp.
- Anh muốn tôi làm gì với những cái đó?
- Người ta vẫn dùng làm những tấm thảm đẹp tuyệt đấy em ạ.
- A!… Và anh sẽ săn trong tám ngày?
- Không hoàn toàn như thế. Vì ở đấy gần Xêmăngvin nên anh sẽ
đến nghỉ hai ngày ở nhà dì Lanon. Năm ngoái đúng vào thời kỳ này, ở nhà dì, có
một cuộc họp mặt rất vui. Hai cô con gái và ba cô cháu sống với chồng ở gần nhà
dì. Cả năm cô đều xinh đẹp, vui tươi tuyệt vời. Chắc chắn vào đầu tháng tới, mọi
người sẽ về họp mặt để ăn mừng sinh nhật của dì. Anh sẽ ở lại Xêmăngvin hai
ngày.
- Chừng nào anh còn thích thì anh cứ ở lại. Nếu vì tôi mà anh
phải rút ngắn những ngày thú vị như vậy thì tôi sẽ ân hận lắ
- Nhưng còn em, Têredơ?
- Tôi sẽ tự lo liệu lấy.
Lửa trong lò sưởi tàn dần. Bóng tối trong phòng thêm dày đặc.
Nàng nói, vẻ mơ màng và như thể trong lòng đang có một nỗi chờ mong.
- Để một người đàn bà ở lại một mình thì quả là không hay lắm
đâu.
Anh bước lại, tìm ánh mắt nàng trong bóng tối và cầm lấy tay
nàng.
- Em yêu anh chứ?
- Ồ, tôi bảo đảm với anh là tôi không yêu một ai khác… Nhưng…
- Em muốn hỏi thế nào?
- Không gì hết. Tôi nghĩ… tôi nghĩ chúng ta xa nhau suốt mùa
hè, còn mùa đông thì anh sống một nửa thời gian với gia đình và bè bạn. Nếu chỉ
gặp được nhau ít thế thì… chẳng nên gặp nhau làm gì.
Anh đốt nến. Nét mặt nàng hiện ra nghiêm nghị và thành thực.
Anh nhìn nàng, tin cậy. Anh tin cậy với lối kiêu mãn thường tình của những người
đang yêu thì ít, mà chính vì tư cách đứng đắn thường ngày của mình. Anh tin
nàng với niêm tin cơ hữu của một người có tâm hồn giản dị và được giáo dục chu
đáo.
- Têredơ, anh yêu em và em cũng yêu anh, anh biết thế. Vậy vì
sao em cứ muốn giày vò anh? Đôi lúc em tỏ ra lạnh nhạt, nghiêm khắc làm anh thật
đau lòng.
Nàng đột ngột lắc đầu:
- Biết làm sao? Em là kẻ hà khắc và quyết liệt. Cái đó nằm
trong dòng máu em. Và em tiếp thu của bố em. Anh đã đến Gioăngvin, đã nhìn thấy
tòa lâu đài, những trần nhà do Lơbrun 1. trang
trí, những tấm thảm dệt cho Phukê ở lần Manhxy 2,
những khu vườn thiết kế theo sơ đồ của Lơ Nôtrơ, những khuôn viên và khu săn bắn.
Anh bảo là ở Pháp không thể có những khu săn bắn đẹp hơn thế, nhưng anh chưa thấy
phòng làm việc của bố em: một cái bồn gỗ tạp và một chiếc tủ nhỏ gỗ huê đào. Mọi
thứ đều từ đó mà ra cả đấy, Rôbe ạ. Trên cái bàn ấy, bên cạnh chiếc tủ ấy, ròng
rã bốn chục năm, bố em cặm cụi tính toán, lúc đầu trong một căn buồng nhỏ ở quảng
trường ngục Baxti, và về sau trong ngôi nhà ở đường Môbơgiơ, nơi em ra đời. Lúc
đó, nhà em chưa thật giàu có. Em đã từng thấy cái phòng khách nhỏ trải gấm đỏ,
nơi bố em lập gia đình và mẹ em rất ưa thích. Em là con gái một kẻ hãnh tiến,
hay một kẻ chinh phục - cũng thế cả thôi - Bố con em là những người vụ lợi. Bố
em muốn kiếm tiền, muốn có những gì phải trả giá, nghĩa là tất cả. Em, em muốn
kiếm và giữ… cái gì… em chẳng biết nữa… niềm hạnh phúc mà em có… hay em không
có. Em tham lam theo kiểu của em, tham lam ước mơ, ảo ảnh. Ồ! Em biết rõ tất cả
cái đó không xứng đáng với công sức bỏ ra, nhưng cái xứng đáng, chính là công sức
vì công sức của em chính là em, là cuộc đời em. Em hám hưởng cái mà em yêu mến,
cái mà em nghĩ là mình yêu mến. Em không muốn mất. Em giống bố em: em đòi những
cái người ta mắc nợ em. Vả lại…
Nàng hạ thấp giọng:
- Vả lại, em, em có nhục cảm. Thế đấy! Anh thân yêu! Em làm
anh phiền lòng. Anh muốn gì ở em nào?… Không nên để mất em.
Những lời lẽ hờn dỗi - mà anh đã quen ấy - làm anh mất vui.
Nhưng anh không hoảng hốt. Anh nhạy cảm với mọi việc nàng làm, nhưng không hề
nhạy cảm với những điều nàng nói, và không chú ý tới lời nói, nhất là những lời
nói của một phụ nữ. Bản thân mình ít nói, anh khó có thể tưởng tượng nói cũng
là hành động.
Tuy yêu nàng, hay nói đúng hơn vì yêu nàng mãnh liệt và tin
tưởng, anh nghĩ là anh phải cưỡng lại những sở thích mà anh cho là phi lý. Cái
đó khiến anh làm chủ được khi anh không làm phật ý nàng; và một cách ngây thơ,
anh luôn luôn làm như vậy.
- Em biết đấy, Tôređơ, anh chỉ muốn làm em vui lòng trong mọi
việc. Em chớ nông nỗi như vậy
- Thế vì sao em lại không nông nỗi đối với anh? Em để cho anh
chiếm đoạt… hay em hiến thân, dĩ nhiên không phải vì lý trí cũng không phải vì
bổn phận. Mà chỉ vì… nông nỗi thôi.
Anh nhìn nàng, vừa kinh ngạc vừa rầu rĩ.
- Cái từ ấy làm anh bực mình phải không anh? Thì cứ cho là vì
tình yêu vậy. Và thực sự là hoàn toàn tự nguyện - vì em cảm thấy anh yêu em.
Nhưng yêu phải là một niềm vui, và nếu trong tình yêu em không thỏa mãn được
cái mà anh gọi là sự nông nỗi, không thỏa mãn được, ước vọng, được cuộc sống,
thì ngay cả tình yêu, em cũng không thiết nữa, thà em sống một mình còn hơn.
Anh ngạc nhiên à?
Em nông nỗi à? Trên đời còn có gì khác nữa? Việc anh đi săn
chồn không phải là một sự nông nỗi hay sao?
Anh trả lời rất chân thành:
- Têredơ, anh xin thề với em, nếu anh không lỡ hứa thì anh sẵn
sàng vì em mà hy sinh cái thú vui nhỏ nhặt đó.
Nàng cảm thấy anh nói thật lòng. Nàng biết anh luôn giữ lời hẹn
trong những công việc nhỏ nhặt nhất. Luôn luôn bị lời nói ràng buộc, trong quan
hệ xã hội, anh có ý thức đúng đắn đến chi li. Nàng cảm thấy nếu nàng tha thiết
thì anh sẽ không đi. Nhưng đã quá muộn: nàng không còn muốn “được” nữa. Từ nay,
nàng chỉ đi tìm cái thú vui dữ dội là để cho “mất”. Nàng làm như thể nàng coi
lý do của anh là quan trọng tuy thực lòng nàng thấy nó khá ngớ ngẩn:
- A! Anh đã hứa!
Và nàng nhượng bộ tuy trong lòng không muốn.
Lúc đầu anh ngạc nhiên, nhưng rồi trong bụng mừng thầm là đã
làm nàng nghe ra lẽ phải. Anh biết ơn nàng đã không một mực khăng khăng. Ôm
ngang lưng nàng, anh khẽ đặt lên gáy, lên mi mắt người yêu những cái hôn hiền
lành như thể một thứ phần thưởng. Anh vội vã muốn ngỏ ý dành cho nàng những
ngày anh còn ở lại Pari trước khi ra đi
- Em yêu quý, trước khi anh đi, chúng ta có thể gặp nhau ba,
bốn lần hay nhiều hơn nữa nếu em muốn. Anh sẵn sàng chờ em.
Ngày mai, có được không em?
Ngày mai và cả những ngày sau nữa, nàng cũng sẽ không tới, và
nàng lấy thế làm thú vị. Rất dịu dàng, nàng nêu lên những lý do mắc bận. Lúc đầu
chỉ là những trở ngại cỏn con: phải đi thăm viếng, đi thử áo, đi tham gia một
buổi bán hàng cứu trợ, đi dự triền lãm, đi xem và có thể mua mấy tấm thảm.
Nhưng càng nghĩ, khó khăn càng nhiều ra, càng lớn lên: nàng không thể trì hoãn
những buổi thăm viếng, phải tham gia khi không phải là một, mà là những ba buổi
bán hàng; các cuộc triển lãm sắp đóng cửa; các bức thảm người ta sẽ mang sang Mỹ.
Rốt cuộc, nàng không thể gặp lại anh trước khi anh đi.
Anh không hề nhận ra việc Têredơ nêu lên những lý do đó là
không bình thường, vì anh vốn có thói quen chấp nhận. Anh đành lặng im, vẻ bối
rối và khổ sở trước những sự ràng buộc xã giao nàng nêu lên.
Với tay trái nâng tấm màn cửa, đặt bàn tay phải lên khóa, mình
bận chiếc áo len phương Đông màu hồng ngọc và lam ngọc, đầu quay về phía người
yêu để chia tay, nàng nói, đượm chút châm biếm và hầu như bi thảm:
- Vĩnh biệt, Rôbe! Chúc anh vui chơi thoải mái. Những buổi
thăm viếng, những việc mua bán của tôi, những cuộc hành trình nho nhỏ của anh,
chẳng là gì hết. Quả là những cái “chẳng là gì hết” ấy lại tạo thành định mệnh.
Vĩnh biệt!
Nàng đi ra. Anh muốn tiễn nàng, nhưng lại giữ ý không muốn
cùng với nàng có mặt ngoài đường khi nàng không nhất thiết bắt buộc anh.
Ra đến ngoài, Têredơ bỗng cảm thấy cô đơn, cô đơn trên cõi đời,
không vội vã cũng không buồn. Nàng theo thói quen đi bộ về nhà. Đêm khuya, trời
lạnh, bầu không khí tĩnh mịch, trong suốt. Nhưng trên những đường phố nàng đi
trong bóng đêm, đó đây có những luồng ánh sáng. Nàng cảm thấy hơi ấm của phố
phường, cái làn hơi ấm dân thành phố cảm thấy hết sức êm đềm cho đến cả trong
tiết đông giá lạnh. Nàng đi giữa những dãy lều lụp xụp và nhà thưng ván, vết
tích của thời kỳ thôn dã ở Otơi. Thỉnh thoảng chenmột ngôi nhà cao tầng với những
viên đá xây dở nhổ ra chờ được xây tiếp. Những cửa hiệu của mấy nhà buôn nhỏ ấy,
những cánh cửa sổ đơn điệu ấy chẳng có ý nghĩa gì đối với nàng. Nhưng nàng cảm
nhận được cái tình cảm âm thầm của sự vật. Những viên đá, những cánh cửa, những
luồng ánh sáng trên các tầng gác phía sau các ô kính đều như ủng hộ nàng. Nàng
chỉ có một mình và nàng muốn chỉ có một mình.
Nàng đã đến ngôi nhà này không biết bao nhiêu lần; nó đã trở
nên quen thuộc chẳng khác ngôi nhà của chính gia đình nàng. Nhưng hôm nay, nàng
bỗng có cảm giác sẽ không bao giờ còn quay trở lại nữa. Vì sao? Ngày hôm nay
mang lại những gì cho nàng? Chỉ một thoáng khó chịu, chứ không một chút xích
mích. Thế nhưng nó để lại một dư vị nhạt nhẽo, xa lạ, dai dẳng. Chuyện gì đã xảy
ra vậy? Không gì cả. Nhưng cái “không gì cả” này xóa nhòa tất cả. Nàng đinh
ninh một cách âm thầm là sẽ không bao giờ quay trở lại căn phòng ấy, nơi vừa mới
đây thôi còn ấp ủ bao kỷ niệm sâu lắng nhất, thân thiết nhất của đời nàng. Một
mối tình đứng đắn. Nàng hiện thân một cách vô tư với một niềm sung sướng tự
nhiên. Sinh ra để yêu và một cách rất hợp lẽ, trong lúc hiến thân, nàng vẫn giữ
nguyên cái bản năng suy nghĩ, cái nhu cầu an toàn vốn rất mạnh trong con người
nàng. Nàng không hề lựa chọn: có ai lựa chọn bao giờ? Nàng cũng không hiến thân
một cách ngẫu nhiên và bất ngờ. Nàng đã làm điều nàng muốn, giống như người ta
làm điều người ta muốn trong loại công việc này. Nàng không có gì phải ân hận.
Chàng đã xử sự đúng mức: phải thừa nhận điều đó ở một con người rất được ngưỡng
mộ và có thể chiếm đoạt mọi người đàn bà chàng ham muốn. Dẫu sao nàng cũng cảm
thấy tất cả đã chấm dứt, và châm dứt hết sức tự nhiên. Nàng nghĩ ngợi với một nỗi
âu sầu lạnh lùng: “Ba năm đời mình, một người đàn ông trung hậu yêu mình và được
mình yêu: quả là mình yêu chàng. Phải như thế mình mới hiến thân cho chàng.
Mình đâu phải là một người đàn bà hư. Nhưng nàng không sao có lại được những
tình cảm thời kỳ ấy, những niềm rạo rực trong tâm hồn và trong da thịt khi nàng
hiến thân. Nàng nhớ lại những cảnh huống nhỏ nhặt và hoàn toàn vô nghĩa: cánh
hoa giấy và những bức tranh trong buồng ngủ ở khách sạn. Nàng nhớ lại những lời
hơi buồn cười nhưng hầu như xúc động chàng nói với mình. Nhưng nàng lại có cảm
giác việc đó xảy ra đối với một người đàn bà khác, một người đàn bà xa lạ mà
nàng chẳng yêu mến bao nhiêu và không mấy thấu hiểu.
Sự việc vừa xảy ra lúc nãy, những cái vuốt ve mơn trớn mà
nàng còn mang theo trên người, tất cả đều đã trở nên xa xăm. Chiếc giường nằm,
những cành tử đinh hương trong lọ hoa pha lê, cái đĩa con bằng thuỷ tinh Bôhem
để đựng cặp tóc, nàng nhìn thấy tất cả như qua một ô cửa sổ khi qua đ Nàng
không xót xa, thậm chí cũng không âu sầu. Than ôi! Nàng không có gì phải tha thứ
cho chàng. Chàng vắng mặt một tuần lễ, đó đều phải là một hành vi phản bội, một
tội lỗi chống lại nàng, nó chẳng là gì hết, nhưng nó là tất cả. Thế là hết.
Nàng biết như thế. Nàng muốn đoạn tuyệt. Nàng muốn như vậy, giống như tảng đá
muốn rơi khi nó rơi. Một sự chấp nhận tất cả những sức mạnh âm thầm của con người
nàng và của tạo vật. Nàng nghĩ bụng: “Mình không có lý do gì để yêu chàng ít
hơn. Phải chăng mình không yêu chàng nhiều hơn? Phải chăng mình chưa bao giờ
yêu chàng?” Nàng không biết và nàng cũng không muốn biết.
Ba năm đã trôi qua, ba năm nàng hiến thân mỗi tuần hai hay bốn
lần. Có những tháng, chàng và nàng ngày nào cũng gặp nhau. Như thế không là gì
hết hay sao? Nhưng đời có gì là lớn lao! Và người ta cho đời ít ỏi lắm!
Rốt cuộc nàng không có gì phải phàn nàn. Nàng chấm dứt đi thì
hơn. Mọi suy nghĩ đều đưa nàng tới đó Không phải là một quyết định; quyết định,
thì có thể thay đổi. Đàng này quan trọng hơn: nó là một trạng thái tâm tưởng.
Nàng bước tới một quảng trường mà ở giữa có một bể nước và một
phía là ngôi nhà thờ kiểu thôn dã, quả chuông treo trong một khung cửa tò vò lộ
thiên. Nàng sực nhớ bó hoa viôlet hai xu chồng mua tặng nàng một buổi tối, trên
cầu Nhỏ, gần nhà thờ Đức bà. Hình như ngày hôm đó, hai người yêu nhau nồng nàn
hơn, hết mình hơn thường ngày. Nhớ lại kỷ niệm ấy, lòng nàng xúc động. Nàng lục,
nàng kiếm nhưng chẳng tìm thấy gì hết. Trong ký ức nàng, bó hoa nhỏ tội nghiệp
vẫn cô đơn, tàn tạ.
Nàng cất bước, mơ màng. Bị trang phục giản dị của nàng đánh lừa,
mấy người đàn ông qua đường bám theo. Một anh chàng ngỏ lời, mời nàng đi ăn tối
trong buồng riêng và đi xem hài. Nàng vui vui trong bụng và không để ý. Nàng
không hề bối rối: đâu phải là một cuộc khủng hoảng. Nàng nghĩ bụng: “Những người
đàn bà khác, họ làm thế nào? Còn mình, mình kiêu hãnh đã không bỏ phí cuộc đời.
Giá trị cuộc đời là thế đấy!”Đến gần chiếc đèn lồng kiểu Tân-Hy Lạp trước viện bảo tàng
Tôn giáo, nàng thấy mặt đất bị đào bới lên vì những công trình ngầm. Trên một
cái hố sâu, giữa những mô đất đen, những đống bêtông và gạch lát, người ta bắt
một chiếc cầu nhỏ bằng một tấm ván hẹp rập rình. Nàng bước lên thì thấy ở phía
cuối cầu một người đàn ông dừng lại trước mặt chờ nàng. Người đó nhận ra nàng
và chào. Đơsactrơ! Khi đi qua tranh, nàng như cảm thấy anh sung sướng về cuộc gặp
gỡ, nàng mỉm cười cảm ơn. Anh xin phép được đi cùng nàng mấy bước. Và hai người
cùng bước vào khoảng không gian rộng lớn giữa không khí trong lành. Ở đấy, những
ngôi nhà cao tầng lùi ra phía sau, để lộ một mảng trời xanh.Anh nói anh nhận ra nàng từ xa qua đường nét và cử chỉ uyển
chuyển của nàng.- Những cử chỉ đẹp, - anh nói thêm - chính là nhạc điệu đối với
con mắt.Nàng đáp nàng rất thích đi bộ; đi bộ đối với nàng là niềm
vui, là sức khỏe.Anh cũng thích những cuộc đi bộ đường dài trong các thành phố
đông đúc và những vùng quê tươi đẹp. Cái bí ẩn của đường trường cám dỗ anh. Anh
thích đi du lịch: du lịch ngày nay đã trở nên bình thường và dễ dàng, nhưng đối
với anh vẫn có sức lôi cuốn mãnh liệt. Anh đã từng chứng kiến những buổi nắng
vàng rực rỡ và bầu trời xanh lồng lộng ban đêm, đã từng thăm Hy Lạp, Ai Cập và
eo biển Bôxpho. Nhưng anh luôn luôn trở lại đất Ý như trở lại tổ quốc của tâm hồn
mình.- Tuần sau, tôi sẽ tới đấy. - Anh nói - Tôi muốn thấy lại
Ravennơ lặng lờ giữa những rặng thông đen trũi trên đôi bờ cằn cỗi. Bà đã đến
Ravennơ chưa, thưa bà? Nó là một khu mộ có phù phép, nơi xuất hiện những bóng
ma chập chờn. Pháp thuật của cái chết là ở đấy. Những bức chạm nổi trên mộ Xanh
Vitan và mộ Xanh Apôline 3. với
những thiên thần man rợ và các nữ hoàng lấp lánh hào quang, khiến người ta liên
tưởng đến niềm hoan lạc kỳ quái của phương Đông. Ngày nay, khi không còn những
cái đai bằng bạc nữa ngôi mộ của Ganla Placiđia 4. vừa
óng ánh vừa tối tăm, trông thật khủng khiếp. Nhìn qua kẽ hở ngôi mộ tưởng như
còn thấy người con gái của Têôđôđơ, ngồi trên ngai vàng, thẳng đờ trong tấm áo
dài đính đá quý và thêu những cảnh trong Cựu ước, khuôn mặt nhan sắc và tàn ác
nay khô đét và đen đủi vì hương liệu ướp xác, hai bàn tay bóng lộn như mun, bất
động đặt trên đầu gối. Ròng rã mười ba thế kỷ, nàng vẫn giữ nguyên dáng vẻ oai
vệ cho tới hôm một chú bé, trong lúc đưa một ngọn nến qua kể hở ngôi mộ, đốt
cháy xác chết cùng với tấm áo bào.Bà Mactanh - Benlem muốn biết người đàn bà quá cố kiêu hãnh ấy,
lúc sống làm gì.- Hai lần làm nô lệ, - Đơsactrơ đáp - Và hai lần lên ngôi
hoàng đế.- Nàng chắc phải nhan sắc lắm. - Bà Mactanh nói - Ông vừa
miêu tả nàng trong ngôi mộ, nàng làm tôi khiếp hãi. Thế ông sẽ không đi Vơnidơ
hay sao, ông Bơsactrơ? Hay ông đã chán những chiếc du thuyền, những kênh lạch với
những lâu đài hai bên bờ và những đàn bồ câu ở quảng trường Xanh Mác? Tôi thú
thật với ông là tôi vẫn yêu Vơnidơ sau khi đã tới đấy nhiều lần.Anh cho là nàng nói đúng. Anh cũng yêu Vơnidơ. Mỗi lần tới đấy
là từ một nhà điêu khắc, anh trở thành họa sĩ và anh tập vẽ. Cái anh muốn vẽ là
bầu không khí Vơnidơ.- Ở những nơi khác, - anh nói - ngay cả ở Phlôrăngx nữa, bầu
trời cũng xa tít, cao vời vợi, sâu thăm thẳm. Còn ở Vơnidơ, bầu trời ở khắp mọi
nơi; nỏ vuốt ve mặt đất và mặt nước, nó âu yếm bao phủ lên những vòm nhà màu
chì và mặt trước nhà màu cẩm thạch, nó chiếu vào không gian lấp lánh những ánh
hào quang rực rỡ như pha lê, như bảo ngọc. Cái đẹp của Vơnidơ là bầu trời và phụ
nữ. Phụ nữ Vơnidơ đẹp tuyệt vời, dáng điệu táo bạo tuyệt vời! Những thân hình mảnh
mai và uyển chuyển mà người ta có cảm giác tròn đầy dưới tấm khăn choàng màu
đen. Dù chỉ còn lại của những thiếu phụ ấy một đốt xương, người ta vẫn tìm thấy
trong đốt xương đó sức quyến rũ của thân hình tuyệt mỹ của họ. Ngày chủ nhật, ở
nhà thờ, họ họp thành những nhóm nhỏ hớn hở, xôn xao, trong cảnh hỗn độn với những
cặp hông núng nính, những cái gáy kiều diễm, những nụ cười tươi tắn, những ánh
mắt long lanh. Họ cúi gập xuống, uyển chuyển như những con thú non khi một vị
linh mục có cái đầu như đầu Vitenlinyx 5,
cằm nhô ra ngoài cổ áo lễ, đi qua với bình rượu thánh, có hai chú bé lễ sinh đi
trước.Đơsactrơ chân bước không đều, theo nhịp những ý nghĩ trong đầu,
khi nhanh khi chậm. Nàng thì bước đều chân hơn và tìm cách vượt lên trước. Nhìn
chênh chếch, anh thấy nàng có dáng đi uyển chuyển và vững chãi anh rất ưa
thích. Chốc chốc chiếc mũ vải thêu hình những cành tầm gửi khẽ đung đưa trên đầu
nàng.Bất giác anh cảm thấy sức quyến rũ của buổi hội ngộ hầu như
thân mật này với một thiếu phụ hầu như chưa quen biết.Hai người bước tới đoạn đại lộ có bốn dãy tiêu huyền, đi dọc
lan can bằng đá phía trên có một lớp hoàng dương che khuất vẻ xấu xí của những
trại lính rải rác ở phía dưới, dọc kè đá. Xa xa thấp thoáng dòng sông, một bầu
không khí bàng bạc màu sữa phảng phất trên mặt nước. Trời trong xanh. Ánh sáng
thành phố hòa vào ánh sao. Phía nam lấp lánh ba ngôi sao sáng rực trong chòm Lạp
hộ. Đơsactrơ nói tiếp:- Năm qua ở Vơnidơ, sáng nào ra khỏi nhà, tôi cũng thấy một
cô gái nhan sắc tuyệt vời đầu nhỏ, cổ tròn và khỏe, cặp hông núng nính, ngồi
trước cửa, trên bậc tam cấp ở bờ kênh. Dưới ánh nắng mặt trời và giữa khu phố lầm
than, nàng ngồi, tinh khiết như pha lê, nồng nàn như một đóa hoa. Nàng mỉm cười.
Ôi đôi môi! Viên ngọc lộng lẫy nhất giữa luồng ánh sáng đẹp đẽ nhất! Nhưng tôi
kịp hiểu ra là nụ cười ấy dành cho một anh chàng hàng thịt đứng sau lưng tôi,
chiếc thúng đội trên đâu.Đến góc đường phố hẹp thoai thoải chạy về phía bến cảng, giữa
hai dãy sườn hẹp hai bên, bà Mactanh di chậm lại,- Quả là ở Vơnidơ, - nàng nói - phụ nữ đều đẹp.- Hầu như tất cả đều đẹp, thưa bà. Tôi muốn nói đến các cô
gái bình dân, những cô bán thuốc lá, nhữngcông nhân ngành thuỷ tinh. Những người khác thì cũng như ở khắp
mọi nơi.- Những người khác ông muốn nói là đám phụ nữ quý tộc phải
không… Và ông không yêu họ?- Phụ nữ thượng lưu, thưa bà? ồ! Có những người tuyệt vời.
Nhưng yêu họ thì lại là việc khác.- Ông nghĩ như thế à?Nàng chia tay và đột ngột quặt qua đường rẽ.Chú thích:
1. | Họa sĩ Pháp, thế kỷ 17. |
2. | Tòa lâu đài nổi tiếng ở Manhxy (gần Pari) của Phukê, tổng
giám đốc tài chính. |
3. | Hai giáo hoàng cùng tên, thế kỷ 1-2. |
4. | Plaxiđia, thế kỷ 5, nữ hoàng cầm quyền ở đế quốc La Mã
phương Đông trong thời kỳ vị thành niên của con trai, là con gái của Têôđôdơ
Đại đế, thế kỷ 4, hoàng đế La Mã. |
5. | Cựu hoàng đế La Mã. |
Im lặng và rầu rĩ, hai người bước sang phòng khách. Pôn Venx
đang ngồi chờ. Anh thường đến vào buổi tối như một người thân.
Nàng bắt tay anh.
- Tôi rất mừng được gặp ông. Xin tạm biệt ông, tạm biệt một
thời gian ngắn thôi. Pari trời lạnh và âm u lắm. Thời tiết này làm tôi mệt mỏi,
khó chịu. Tôi sẽ đi Phlôrăngx, nghỉ sáu tuần ở nhà cô Ben.
Mactanh-Benlem ngước mắt lên trời.
Venx hỏi nàng đã đi Ý nhiều lần chưa.
- Ba lần rồi. Nhưng tôi chưa thấy gì cả. Lần này tôi muốn
xem, muốn nhìn, muốn đắm mình vào sự vật. Từ Phlôrăngx, tôi sẽ đến chơi Tôxcan
và thăm Ôngbri. Và cuối cùng, tôi sẽ đến Vonido.
- Bà làm thế là phải. Vơnidơ là nơi nghỉ ngơi ngày chủ nhật,
trong tuần lễ thánh của nước Ý sáng tạo và tuyệt vời.
- Ngài Đơsactrơ bạn ông hết lời ca ngợi Vonidơ, và bầu không
khí Vơnidơ với những hạt sương long lanh như những viên ngọc.
- Vâng, trời Vơnidơ giàu màu sắc. Còn trời Phlôrăngx thì cao
vời vợi. Một tác giả ngày trước có nói: “Bầu trời Phlôrăngx nhẹ nhàng, tinh tế,
nuôi dưỡng những tư tưởng cao đẹp của con người”. Tôi đã sống những ngày tuyệt
diệu ở Tôxcan. Tôi thiết tha muốn được trở lại đấy.
- Thế thì mời ông đến với tôi.
Vcnx thở dài:
- Tôi còn bận với mấy tờ báo, mấy tờ tạp chí và công việc
hàng ngày
Mactanh-Benlem cho như thế là phải: ai cũng muốn đọc sách báo
của Venx và không muốn anh sao nhãng công việc.
Ô! Sách của tôi!… Trong một cuốn sách, người ta đâu có nói hết
được những điền muốn nói. Không sao tự biểu lộ mình được… Vâng, tôi có thể nói
bằng ngòi bút của mình như mọi người khác. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện nói và viết
lại thấy buồn! Thật khốn khổ cho những ký hiệu nhỏ nhoi tạo nên âm tiết, nên từ,
nên câu! Tư tưởng tốt đẹp trở thành cái gì với những con chữ tượng hình ác nghiệt
vừa tầm thường vừa kỳ cục ấy? Trong sách của tôi, độc giả dùng làm được cái gì?
Một loạt hiện tượng sai nghĩa, trái nghĩa, vô nghĩa thôi mà! Đọc, nghe, chính
là dịch. Có thể có những bản dịch tốt, nhưng không có những bản dịch trung
thành. Độc giả dù có ca ngợi sách tôi thì điều đó có nghĩa gì đối với tôi? Họ
chỉ ca ngợi cái mà bản thân họ đưa vào trong sách thôi mà. Độc giả nào chẳng
đem quan điểm của mình thay thế quan điểm của tác giả? Chúng tôi tạo điều kiện
để kích thích trí tưởng tượng của họ. Tạo cớ cho những trò như vậy thì thật khủng
khiếp. Thật là một nghề nghiệp ô nhục.
- Ông đùa đấy chứ? - Mactanh hỏi.
- Tôi thì không nghĩ như vậy. - Têredơ nói - Ông ấy thừa nhận
và lấy làm đau khổ là tâm hồn người ta không thể thông cảm lẫn nhau, ông ấy cảm
thấy cô đơn khi nghĩ, cô đơn khi viết. Làm gì đi nữa, bao giờ người ta cũng cảm
thấy cô đơn trên đời. Đó là điều ông ấy muốn nói. Ông ấy có lý. Người ta luôn
luôn bộc bạch với nhau, nhưng người ta không bao giờ hiểu nhau.
- Song có những cử chỉ. - Pôn Venx nói.
- Ông không nghĩ đó cũng là một loại chữ tượng hình hay sao,
ông Venx? ông có tin gì về ngài Sulet cho tôi biết không? Tôi không hề gặp ông
ta ở đâu nữa.
Venx đáp là lúc này Sulet đang bận rộn với việc cải tổ hội
thánh Xanh-Phrăngxoa.
- Thưa bà, ông ta nảy ra cái ý làm công việc ấy một cách kỳ
diệu hôm đến thăm Maria, nhà ở phía sau bệnh viện trung ương, trên một đường phố
luôn luôn ướt át, nhà cửa xiên vẹo. Maria là vị nữ thánh và người tuẫn đạo chịu
tội thay cho dân chúng, bà biết đấy. Ông ấy kéo núm dây chuông nhầy nhụa vì
khách khứa đã từng kéo suốt hai thế kỷ. Không hiểu vì Maria đang ở hiệu bán
vàng quen biết hay đang bận trong buồng mà không thấy ra mở cửa. Sulet kéo mãi
và kéo mạnh tới mức cả núm chuông lẫn dây chuông bị đứt và nằm gọn trong tay.
Là người có tài nhận biết các tín hiệu tượng trưng và nắm được ý nghĩa bí ẩn của
sự vật, ông ta hiểu ngay là sợi dây không tự rơi ra nến không được thần linh
cho phép, ông ta suy ngẫm. Sợi dây bằng gai phủ một lớp cáu bẩn đen đủi và đính
đáp được ông dùng làm thắt lưng và cho rằng mình được chọn để phục hồi sự tinh
khiết cội nguồn cho hội thánh Xanh-Phrăngxoa. Ông ta khước từ nhan sắc của phụ
nữ, những niềm khoái cảm của thơ ca và ánh hào quang của danh vọng, chỉ chăm lo
nghiên cứu cuộc đời và học thuyết của Chúa. Thế nhưng ông ta đã bán cho nhà Xuất
bản cuốn sách Lê Blăngđix 2.
Theo lời ông, cuốn sách miêu tả tất cả các loại ái tình. Ông kiêu hãnh tỏ ra mình
phạm trọng tội đó với phong cách ít nhiều thanh nhã. Nhưng sách không những
không cản trở mà còn ủng hộ hoạt động thần bí của ông ta. Quả vậy, sau khi được
chỉnh lý, sách trở nên rất đứng đắn và mẫu mực. Về tiền nhuận bút được trả bằng
vàng - ông ta dùng số nhiều đã nói về vàng - sẽ giúp ông ta làm một cuộc hành
hương ở Axxidơ; nếu là một cuốn sách “sạch sẽ” hơn thì không thể được thanh
toán số vàng như thế.
Thích thú, bà Mactanh hỏi câu chuyện đó có thật hoàn toàn chứ.
Venx đáp là không nên biết làm gì.
Anh thú nhận nữa vời là mình kể chuyện theo lối duy tâm về
nhà thơ Sulet, và không nên hiểu những câu chuyện anh kể về ông ta theo nguyên
văn từng câu, từng chữ một.
Nhưng dẫu sao, anh cũng khẳng định là Sulet xuất bản cuốn Lê
Blăngđix và muốn đi thăm phòng ở và mộ thánh Phrăngxoa.
- Thế thì, - bà Mactanh thốt lên - tôi sẽ kéo ông ta đi Ý.
Ông Venx, ông tìm giúp ông ta và đưa ông ta đến đây. Tuần sau, tôi đã đi rồi.
Mactanh xin thứ lỗi không thể lưu lại lâu hơn. Anh phải viết
xong bản báo cáo để kịp nộp ngày mai.
Bà Mactanh bảo không có ai làm mình thú vị hơn Sulet. Pôn
Venx cũng cho ông ta là một con người hết sức kỳ lạ:
- Ông ta không khác mấy những bậc thánh mà sử sách vẫn nói đến
cuộc đời khác thường. Cũng chân thành như họ, cũng cùng một sự tinh tế tuyệt vời
về tình cảm và một sức mạnh là tâm hồn dữ dội. Sở dĩ nhiều hành động của ông
làm người ta khó chịu, là vì ông ta yếu hơn, ít được ủng hộ hơn, hoặc có thể chỉ
vì bị xem xét tỉ mỉ hơn các vị thánh. Vả chăng có những ông thánh xấu cũng như
có những thiên thần xấu: Sulet là một ông thánh xấu, chỉ có thế thôi. Nhưng thơ
ông ta là những bài thơ thực sự có ý vị và có giá trị hơn rất nhiều tất cả những
gì các vị giám mục nịnh bợ và các nhà thơ giả dối có thể sản sinh ra ở thế kỷ
XVII.
Bà Mactanh ngắt lời anh:
- Nghĩ tới điều đó, tôi muốn ca ngợi ông có ông bạn Đơsactrơ.
Một bộ óc tuyệt vời:
Rồi nói thêm:
- Nhưng có lẽ khép kín hơi quá mức.
Venx nhắc lại là anh đã từng nói rõ Đơsactrơ có thể là cho
nàng có cảm tình.
- Tôi biết anh ấy tường tận, một người bạn thời thơ ấu mà.
- Thế ông biết gia tộc ông ấy?
- Vâng, anh là con một của Philip Đơsactrơ.
- Nhà kiến trúc sư…
- Vâng, nhà kiến trúc sư đã từng trùng tu biết bao lâu đài và
nhà thờ Turen và trong vùng Ooclê-ăng, dưới thời Napôlêông III. Ông cụ vừa
thanh nhã vừa có tri thức. Cô đơn và rất mực hiền hòa, cụ đã lại dội công kích
Viôlet Lơ Đuye 3. lúc
đó rất có thế lực. Cụ phê phán ông này muốn phục hồi các công trình kiến trúc
theo thiết kế khởi thủy, y như lúc chúng được xây dựng hay đáng lẽ được xây dựng
đầu tiên. Ngược lại, Philip Đơsactrơ muốn tôn trọng tất cả những gì các thế kỷ
đã dần dà bổ sung cho một nhà thờ, một tu viện, một lâu đài. Theo cụ, đem những
sự khác biệt về thời đại đi và đưa một công trình về trở về sự nhất quán ban đầu
của nó là một hiện tượng man rợ trong khoa học và cũng đáng sợ như sự dốt nát.
Cụ không ngớt nhắc đi nhắc lại: “Xóa nhòa những dấu ấn do bàn tay và khối óc của
tổ tiên lần lượt để lại trên đá, là một tội phạm. Những viên đá mới mà được đẽo
gọt theo phong cách cổ chỉ là những chứng nhân giả”. Cụ muốn nhiệm vụ của nhà
kiến trúc - khảo cổ học chỉ đóng khung lại trong việc bảo vệ và củng cố các bức
tường thành. Cụ nói có lý. Nhưng người ta cho cụ nói sai. Rốt cuộc cụ rước vạ
vào thân và chết sớm, trong sự thắng lợi của địch thủ. Dẫu sao cụ vẫn để lại
cho người vợ góa và đứa con trai một tài sản thích đáng. Giăc Đơsactrơ được mẹ
nuôi dưỡng và rất mực yêu thương. Tôi không thấy một tình mẫu tử nào mãnh liệt
đến thế. Giăc là một cậu con trai rất xinh đẹp, nhưng là một đứa trẻ được nuông
chiều.
- Thế sao ông ta có vẻ vô tư, dễ tính và cũng cô đơn đến thế!
- Bà chớ tin vào cái đó. Anh ấy có cái tình tự giày vò mình
và giày vò người khác đấy.
- Ông ta có yêu phụ nữ không?
- Sao bà lại hỏi tôi điều đó?
- Ờ! không phải cho một cuộc hôn nhân đâu
- Có, anh ấu yêu phụ nữ. Tôi đã nói với và anh ấu là một kẻ vị
kỷ. Chỉ có những người vị kỷ mới thực sự yêu phụ nữ. Sau khi bà mẹ qua đời,
Đơsactrơ có quan hệ một thời gian dài với một nữ nghệ sĩ sân khấu quen thuộc,
cô Gian Tăng cre đơ.
Bà Mactanh thoáng nhớ lại Gian Tăng cre đơ không thật đẹp,
nhưng thân hình cân đối, vẻ duyên dáng có chút ít thiếu tự nhiên trong vai những
cô gái si tình.
- Vâng, chính cô ta. Pôn Venx nói tiếp - Hầu như họ hoàn toàn
sống với nhau trong một ngôi nhà nhỏ tại khu cư xá Hoa nhài ở Otơi. Tôi thường
đến thăm họ. Tôi thấy anh ấy ngồi mơ màng, một mình một bóng, theo đuổi ý tưởng
của mình, tuyệt nhiên không nghe thấy bất cứ ai nói gì và quên cả việc nặn tượng.
Còn Tăng cređơ thì miệt mài tập vai, da mặt xỉn lại vì son phấn, cặp mắt nồng
nàn thông mình và hoạt bát đến dễ thương. Nàng phàn nàn anh ấy lơ đãng, âu sầu,
khó tính. Nàng rất yêu anh và chỉ lừa dối anh để được giao vai diễn. Và khi lừa
anh thành động ngay, sau đó không nghĩ tới nữa. Nàng là một người phụ nữ đứng đắn,
nhưng thích người ta để ý tới mình, thường cặp kè với Giô dep Xpringgiơ với hy
vọng được hắn đưa vào nhà hát lớn ở Pari. Đơsactrơ giận và đoạn tuyệt. Bây giờ
nàng còn thấy sống với các vị giám đốc của mình thực tế hơn, còn Giăc thì thấy
đi du lịch thú vị hơn.
- Thế ông ta có luyến tiếc nàng không?
- Làm sao biết được cái gì xảy ra trong một đầu óc luôn luôn
băn khoăn và bất định, ích kỷ và đam mê khát khao tự hiểu mình nhưng lại nhanh
chóng thay đổi ý kiến, yêu chính bản thân mình một cách nồng nhiệt khi thấy mọi
cái đẹp trên đời?
Têređơ đột ngột chuyển hướng câu chuyện:
- Còn cuốn tiểu thuyết của ông thế nào rồi, ông Venx?
- Tôi đang viết chương cuối, thưa bà. Anh chàng làm nghề khắc
chạm, nhân vật của tôi, phải lên đoạn đầu đài. Anh ta chết với thái độ dửng
dưng của những cô trinh nữ không có dục vọng và đôi môi chưa bao giờ được biết
hương vị nóng bỏng của cuộc đời. Báo chí và công chúng tán thành một cách thỏa
đáng hành vi công lý đó. Nhưng trong một căn gác xép, một công nhân khác trong
ngành hóa chất, vốn ôn hòa và rầu rĩ thì phản đối và quyết phạm tội giết người
để giải oan cho bạn.
Venx đứng dậy cáo từ.
Têredơ nhắc lại:
- Ông Venx, ông biết là tôi đang nói nghiêm túc đấy. Ông nhớ
dẫn Sulet tới giúp tôi.
Khi Têredơ bước lên phòng ngủ thì Mactanh đang đứng trên tam
cấp chờ nàng trong bộ quần áo ngủ bằng nhung màu vàng cháy, một chiếc mũ vải kiểu
chính khách Vơnidơ để lộ khuôn mặt xanh xao, hai má hóp lại. Anh có vẻ nghiêm
trang. Sau lưng anh, qua cánh cửa mở của phòng làm việc, dưới ánh đèn, thấy đặt
một chồng hồ sơ và tài liệu có bìa xanh, những trang giấy gấp thành bốn về ngân
sách hàng năm. Nàng định bước vào phòng. Anh ra hiệu cho nàng: anh muốn nói
chuyện.
- Têredơ này, anh không thể hiểu nổi em. Sự nông nổiem có thể
dẫn tới sai lầm nghiêm trọng đấy. Em bỏ nhà ra đi không có lý do, thậm chí không
có một duyên cớ nào. Và em định chạy khắc châu Âu với ai kia chứ? Với một kẻ
lang thang, một gã nát rượi cái lão Sulet ấy.
Nàng đáp là nàng đi với và Mac mê, và chuyến đi này hoàn toàn
hợp lễ.
- Nhưng em loan báo khắp thiên hạ, trong lúc cũng chưa biết
bà Mac mê có thể cùng đi hay không.
- Ồ! Bà Mac mê tốt bụng sẽ thu xếp hành trang thôi. Chỉ cô
con Teeby là giữ chân bà tại Pari. Bà sẽ gởi lại nhờ anh chăm sóc.
- Thế còn ông cụ, em đã báo cho ông cụ biết chưa?
Mactanh chỉ còn cách viện đứa uy quyền của Môngtexxuy khi quyền
lực của mình bị phủ nhận. Anh biết nàng rất sợ làm ông bố bất bình hay đánh giá
nàng thấp. Anh năn nỉ:
- Ông cụ là người rất khôn ngoan và tinh tế. Anh sung sướng
thấy cụ nhiều lần thống nhất với anh trong những lời khuyên can em. Cũng như
anh, cụ thấy nhà bà Mây ăn không thích hợp với một người đàn bà như em. Khách
khứa ở đấy hỗn tạp lắm và bà ta lại khuyến khích những trẻ lăng nhăng. Anh phải
nói thật là em phạm sai lầm lớn khi ít đếm xỉa đến dư luận. Anh tin chắc ông cụ
không khỏi ngạc nhiên khi thấy em bay nhảy một cách… nông nổi như vậy. Và thiên
hạ sẽ càng ngạc nhiên, vì trong khóa Nghị viện này- anh xin nhắc lại- anh được
chú ý là nhờ thời cơ. Rõ ràng không phải do công lao của anh. Nhưng nếu lúc này
em chịu nghe anh nói trong khi ăn tối khi anh đã chỉ cho em rõ là chính quyền
đã ở trong tầm tay nhóm chính khách bạn anh, em không nên khước từ bổn phận nữ
chủ nhân vào lúc này. Tự em, em hiểu lấy điều đó.
Nàng đáp:
- Anh làm rầy em quá.
Rồi quay lưng, bước vào phòng, đóng cửa
Tối hôm đó, nằm trên giường, nàng mở một cuốn sách như thường
lệ trước khi ngủ. Một cuốn tiểu thuyết. Nàng hỡ hững giở các trang sách thì bắt
gặp những dòng sau đây:
“Tình yêu cũng giống như lòng sùng đạo: nó đến muộn. Ở tuổi
hai mươi, người con gái chưa yêu cũng như chưa sùng đạo, trừ phi một khuynh hướng
đặc biệt, một thứ thành tính bẩm sinh. Chính bản thân những cô gái được “tuyển
lựa” cũng chống lại một cách lâu dài cái lối yêu “trời cho” ấy, nó còn dữ dội
hơn cả một cơn sét bất thần” Thông thường phụ nữ chỉ chấp nhận mối tình say đắm
vào cái tuổi không còn khiếp hãi sự cô đơn nữa. Quả đam mê là một bãi sa mạc cằn
cối, một nơi ẩn náy cháy bỏng. Đam mê là sự khổ hạnh ngoài đời. Gian khổ chẳng
khác sự khổ hạnh trong đạo.
“Vì vậy, những người đàn bà yêu đam mê cũng hiếm thấy như những
người phụ nữ khổ tu quyết liệt. Nhưng ai từng trải đều biết, phụ nữ không sẵn
sàng nhắp ly rượu tình đắng cay trong tình yêu chân chính. Họ biết không có gì
khác thường bằng một sự hy sinh dai dẳng. Và bạn đọc hãy hình dung người phụ nữ
quý phái phải hy sinh những gì khi yêu. Tự do, yên tĩnh, sự phóng túng yêu kiều
của một tâm hồn không bị ràng buộc, lối làm duyên, những trò vui thú, tất cả sẽ
mất hết”.
“Trò ve vãn thì được, chuyện đó có thể dung hòa với mọi yêu cầu
của đời sống thanh nhã. Nhưng tình yêu thì tuyệt đối không. Nó là niềm đam mê
kém thanh nhã nhất, man rợ nhất, chống lại tổ chức xã hội hơn cả. Vì vậy người
ta phán xét nó nghiêm khắc hơn cả thói phong tình, lẳng lơ. Ở một mặt nào đó,
người ta có lý. Một cô gái Pari si tình sẽ làm mất bản chất của mình và không
làm tròn bổn phận của một con người thuộc về mọi người, như một công trình nghệ
thuật và là một công trình nghệ thuật kỳ diệu nhất nền công nghiệp của loài người
chưa bao giờ sản sinh nổi. Nàng là một sản phẩm có sức quyến rũ mạnh mẽ nhất,
là sự kết hợp giữa mọi nghệ thuật có tính kỹ thuật với mọi nghệ thuật tự do, là
một công trình chung, một tài sản chung bổn phận của nàng là ra mắt mọi người”.
Têredơ gập sách lại vì nghĩ bụng đó là những cơn mộng của những
nhà tiểu thuyết không hiểu đời. Còn nàng thì biết là trên thực tế không làm gì
có nỗi thông khổ của đam mê, không làm gì có ly rượu đắng tình ái, cũng không
làm gì có cái thiên mệnh đẹp đẽ và dữ dội mà cô gái được tuy lựa không cưỡng nổi.
Nàng cũng biết tình yêu chỉ là một cuộc say sưa ngắn ngủi và khi hết say, thì
người ta có chút buồn bã. Nhưng giá nàng không biết hết tất cả, giá không có những
mối tình trong đó người ta giày vò nhau một cách tuyệt diệu!… Nàng tắt đèn. Từ
quá khứ sâu thẳm, những ước mơ của tuổi thanh xuân trở về với nàng.
Chú thích:
|
1. |
Nguyên tổng thống Pháp (1894-1895) |
|
2. |
Les Blandices: Sự cám dỗ của sắc đẹp. |
|
3. |
Kiến trúc sư và nhà văn Pháp thế kỷ 18 |
Giờ đây, nàng không còn biết vì sao lại nảy ra ý nghĩ đến nghỉ một tháng ở nhà cô Ben. Và quả thật nàng không hề biết vì sao. Chẳng khác nào một dòng suối nhỏ bị che khuất dưới mấy nhánh mã đề bống trở thành một con sông ào ạt. Nàng nhớ lại rõ rệt hôm thứ ba, trong bữa ăn tối, nàng đột ngột bảo là mình muốn đi, nhưng nàng không lần ngược lại cuội nguồn của ước muốn ấy. Không phải nàng muốn xử sự với Rôbe Lơ Mênin như anh đã xử sự với nàng. Dĩ nhiên nàng thấy đi dạo chơi ở Caxxin là tuyệt vời trong lúc anh đi săn chồn. Nàng thấy như một thứ đối xứng thú vị. Rôbe bao giờ cũng sung sướng khi gặp lại nàng, nhưng lần này đi săn trở về sẽ không gặp. Nàng cho rằng gây cho anh một sự khó chịu đích đáng như vậy là phải. Nhưng đó không phải là ý nghĩ ngay từ đầu. Và từ bấy tới nay, nàng cũng không hề nghĩ như vậy. Quả tình nàng ra đi không phải vì ý thích làm anh đau khổ và cũng không phải vì nghịch ngợm muốn trả thù anh chút đỉnh. Nàng giận dỗi, không phải với một nỗi lòng đắng cay, nhưng âm thầm, bứt rứt. Nàng không muốn sớm gặp lại anh. Tuy quan hệ giữa hay người không hề đoạn tuyệt, giờ đây, đối với nàng, anh vẫn là người xa lạ. Chỉ như là một người đàn ông giống mọi người đàn ông khác, tốt hơn số đông những người khác, dáng vẻ, phong cách tuyệt vời, tính tình dễ thương, ít làm nàng khó chịu, nhưng không khiến nàng quan tâm nhiều. Đột nhiên anh bước ra khỏi cuộc đời nàng. Nàng không muốn nhớ lại xem anh đã dự bao nhiêu phần trong đó. Nàng khó chịu với ý nghĩ mình thuộc về anh, nàng cho như thế là phi lý. Ý nghĩ có thể gặp lại nhau trong căn buồng nhỏ ở phố Xpôngtini khiến nàng bực bội, nàng vội gạt đi ngay. Nàng muốn có một sự kiện bất ngờ, tất yếu, đến ngăn cản buổi hội ngộ: ngày tận thế chẳng hạn. Tối hôm trước, ở nhà bà Đơ Mooclen, ông Lagrănggiơ ở Viên Hàn lâm khoa học có nói tới một ngôi sao chổi. Tận trên bầu trời thăm thẳm, có thể một ngày nào đó, nó sẽ gặp trái đất bằng hơi thở của nó, bắt cỏ cây, muông thú hít thở những thứ thuốc độc lạ lùng và bắt loài người chết trong tiếng cười điên loạn hay nổi kinh hoàng thảm thiết. Tháng tới, nàng cần có cái như thế hoặc tương tự như thế. Vì vậy việc nàng muốn ra đi, không phải là không giải thích nổi. Nhưng nàng không hiểu vì sao cùng với ý muốn ra đi, có lẫn lộn một niềm vui mơ hồ và một sức quyến rũ ngay từ đầu. Xe ngựa dừng lại ở góc đường La Sedơ.
Sau khi chồng mất, bà Macmê đến ở đây, trong một căn phòng hẹp rất sạch sẽ, dọc ban công một ngôi nhà cao tầng, sau năm ô cửa sổ ấm nắng mặt trời buổi sang.
Nữ bá tước Mactanh đến thăm bà vào ngày bà tiếp khách. Trong phòng khách đơn sơ nhưng sạch bóng, nàng thấy ông Lagrănggiơ ngủ chập chờn trong ghế bành trước mặt bà già mái tóc bạc trắng, dịu dàng và điềm tĩnh.
Nhà khoa học luống tuổi và hào hoa ấy vẫn chung thủy với bà. Sau lễ tang Macmê một hôm, chính ông mang đến cho người đàn bà góa bụa tội nghiệp bài diễn văn độc địa của Sơmôn. Tưởng là để an ủi bà, ngờ đâu phẫn nộ và đau thương bóp nghẹt tim bà, bà ngất đi trên tay ông. Bà Macmê cho là ông thiếu óc phán đoán. Ông là người bạn tốt nhất của bà. Hai người thường cùng nhau dự những buổi ăn tối ở nhà những bè bạn giàu có.
Mảnh dẻ nhưng rắn chắc trong tấm áo lông chồn với những hang đăng ten lượn song, bà Mactanh bước vào nhà. Ánh mắt quyến rũ từ đôi mắt màu hạt dẻ của nàng đánh thức ông già dậy, ông vốn nhạy cảm trước sắc đẹp nữ giới. Tối hôm trước, ở nhà bà Đơ Mooclen, ông đã nói với nàng ngày tận thế sẽ đến như thế nào. Bây giờ ông hỏi nàng trong đêm nàng có sợ không khi nhớ lại cảnh tượng trái đất bị ngọn lửa tàn phá hay bị tiêu diệt trong cơn lạnh giá, trắng xóa như ánh trăng. Trong lúc ông tìm cách diễn đạt thật duyên dáng thì nàng nhìn tủ sách bằng gỗ huê đào chiếm hết cả dãy vách phòng khách đối diện cửa sổ. Không còn sách vở nữa nhưng trên lớp giá phía dưới có một bộ xương người với vũ khí. Nàng ngạc nhiên thấy ở nhà người đàn bà hiền hòa này, bộ xương một chiến binh Etruyri với chiếc mũ đồng thau màu xanh trên sọ và những mảnh áo giáp đã tàn tạ trước ngực. Bộ xương nằm đó, dữ tợn, lẫn lộn giữa những hộp kẹo, bình sứ mạ vàng, tượng Đức bà bằng giả cẩm thạch và những mảnh gỗ nhỏ cắt gọt, vật lưu niệm của Luyxecnơ và Righi 1.
Trong cảnh góa bụa túng quẫn, bà Macmê bán đi những cuốn sách- công trình của chồng để lại, và trong số đồ vật cổ nhà khảo cổ học sưu tập được, bà chỉ giữ lại bộ xương người Etruyri. Không phải là người ta không tìm cách mua lại của bà. Những bạn đồng nghiệp cũ của Macmê tìm được nơi bán. Pôn Venx đã thương lượng với cơ quan Bảo tàng mua cho viện Lơ Luvrơ. Nhưng bà muốn giữ lại. Bà cảm thấy nếu mất cái bộ xương người chiến binh đội mũ đồng thau màu xanh, xung quanh người thắt một vành lá vàng rực ấy thì bà cũng sẽ mất luôn cái tên họ mà bà mang một cách kiêu hãnh, và bà sẽ không còn là người vợ góa của Lui Macmê ở Viện Hàn lâm Văn bia nữa.
- Xin bà yên tâm, thưa bà. - Lagrănggiơ nói tiếp - Sao chổi không đến va vào trái đất sớm thế đâu. Những sự va chạm như vậy rất ít khi xảy ra.
Bà Mactanh đáp nàng không thấy có gì thiệt hại nghiêm trọng nếu như trái đất và loài người có bị tiêu diệt ngay lập tức đi nữa.
Ông già Lagrănggiơ phản đối hết sức thành thực. Theo ông, điều cực kỳ quan trọng là trì hoãn cho được mối tai họa này.
Nàng nhìn ông. Trên vầng trán cằn cỗi chỉ lưa thưa vài sợi tóc nhuộm đen. Ánh mắt vẫn tươi cười nhưng hai mí mắt đã nhăn nheo, da mặt vàng ệch và thân hình cằn cỗi.
Nàng nghĩ bụng: “Ông già yêu đời!”.
Bà Macmê cũng không muốn ngày tận thế đến sớm thế.
- Thưa ông Lagrănggiơ. - Bà Mactanh hỏi - Có phải ông ở một ngôi nhà nhỏ xinh xắn, cửa sổ phủ kín cây đậu tía, ngoảnh ra vườn Bách thảo không ạ? Tôi cảm thấy thật sung sướng nếu được sống trong khu vườn ấy, nó sẽ làm tôi nhớ lại những chiếc cầu vồng Nôê 2. thời tôi còn thơ ấu, và chốn thiên đường trần gian trong Cựu ước.
Nhưng ông chẳng lấy gì làm vui thích. Ngôi nhà thì bé nhỏ, sắp đặt lộn xộn, đầy chuột.
Nàng thừa nhận không ở đâu sung sướng cả, đâu đâu cũng có chuột, hoặc đích thực hoặc tượng trưng, và vô số những con vật bé nhỏ quấy nhiễu con người. Tuy nhiên nàng yêu vườn Bách thảo; nàng luôn luôn muốn đến đó nhưng chưa đến bao giờ. Cũng có cả Viện bảo tàng nàng muốn đến tham quan nhưng cũng chưa vào.
Tươi cười, vui vẻ, ông mời nàng tới thăm. Bảo tang cũng như nhà của ông thôi mà. Ông sẽ giới thiệu các thiên thạch với nàng. Ở đấy, ông bảo tồn những mảng thiên thạch đẹp tuyệt vời.
Nàng không hiểu một thiên thạch là thế nào. Nhưng nàng nhớ là người ta bảo nàng ở Viện bảo tang có những mảnh xương tuần lộc do người nguyên thủy đẽo gọt, những mảnh ngà voi trên đó khắc chạm những con vật mà giống loài đã tuyệt chủng từ lâu. Nàng hỏi Lagrănggiơ có đúng thế không. Ông không mỉm cười nữa…Ông đáp với một vẻ thờ ơ rầu rĩ là những thứ đó liên quan đến một đồng nghiệp của ông.
- A! - Bà Mactanh nói - Đấy không phải là tả kính của
Nàng biết các nhà khoa học không phải là những người tò mò,
và hỏi họ về những cái không nằm trong tủ kính của họ là điều thiếu tế nhị. Quả
là Lagrănggiơ đã thành cong trong khoa học với các mảnh thiên thạch. Từ đó ông
quan sát sao chổi. Nhưng ông là người thận trọng. Đã hai mươi năm nay, ông chỉ
chuyên tâm đi dự các bữa cơm khách.
Sau khi Lagrănggiơ ra về, nữ bá tước Mactanh ngỏ ý với bà
Macmê:
- Tuần sau, tôi sẽ đến nhà cô Ben ở Phidơn. Mời bà cùng đi với
tôi.
Vầng trán điềm tĩnh và đôi mắt dò xét, bà Macmê lặng im một
lát rồi từ chối một cách yếu ớt, Têredơ năn nỉ và bà nhận lời.
Chú thích:
|
1. |
Luyxecnơ: Một điểm du lịch nổi tiếng ở Thụy Sĩ, bên bờ hồ. |
|
2. |
Theo kinh thánh, chúa trời cho phép Nôê làm một chiếc cầu vồng
để tránh nạn Hồng thủy |
“Có lẽ ngài Sulet kia kìa!”.
Ông ta đi dọc sân ga, một chân cà nhắc, mũ lật ngửa ra sau cái đầu có bướu, râu ria tua tủa và kéo lê một chiếc vali vải cũ kỹ. Ông ta trông đến dễ sợ và tuy tuổi đã năm mươi, vẫn có vẻ trẻ trung: đôi mắt trong xanh rực sáng, khuôn mặt vàng võ và hóp lại vẫn giữ một vẻ táo tợn chất phác, từ thân hình già nua tàn tạ vẫn toát ra sức thanh xuân vĩnh hằng của nhà thơ và người nghệ sĩ. Nhìn thấy ông ta, Têredơ ân hận đã chọn một người bạn đồng hành kỳ cục làm vậy. Ông ta bước đi, nhìn vội vào mỗi toa tàu, ánh mắt mỗi lúc nhận ra một thêm bực dọc, nghi ngại. Nhưng khi đến gần và nhận ra bà Mactanh, ông mỉm cười duyên dáng và cất tiếng chào với giọng êm áo không còn một chút gì dấu vết của tên vô lại gớm guốc vừa lang thang trên sân ga, ngoài chiếc vali vải cũ rích ông ta kéo lê bằng hai cái quai sắp đứt tung.
Ông ta đặt vali lên giá hàng hết sức thận trọng vẻ xấu xí, tồi tàn của nó nổi bật lên giữa đống túi nguyên lành bọc vải, và chiếc vali chấm phá những bông hoa vàng trên nền đỏ thẫm.
Hết sức thoải mái, ông ngỏ lời khen ngợi tấm áo choàng màu nâu nhạt của bà Mactanh.
- Xin hai bà thứ lỗi - Ông ta nói thêm - tôi chỉ sợ nhỡ tàu. Sáng nay, tôi đi dự lễ buổi sáu giờ ở giáo khu Xanh-Xêvơranh, trong giáo đường Đức bà, dưới những cây cột kỳ quặc cao vút với những hình thù xấu xí chẳng khác chúng ta, những kẻ tội lỗi đáng thương.
- Thế hôm nay. - bà Mactanh hỏi - ông là người kinh tín hay sao?
Rồi bà hỏi thêm ông ta có mang theo sợi dây của hội thánh không.
Ông tỏ vẻ nghiêm trang và rầu rĩ:
- Thưa bà, tôi e về vấn đề này Pôn Venx đã bịa ra nhiều điều dối trá phi lý. Người ta bảo tôi là hắn rêu rao sợi dây chuông, và là thứ chuông như thế nào nữa kia! Tôi rất phiền lòng nếu người ta bị đánh lừa, dù chỉ trong chốc lát, bởi những trò bày đặt khốn nạn đến thế. Thưa bà, sợi dây đơn sơ người ta mang trong người sau khi một người nghèo khổ sờ tay vào, để muốn nói tằng nghèo đói là thiêng liêng, nghèo đói sẽ cứu thoát trần thế… Trong nghèo đói, chỉ có điều tốt lành mà thôi; và từ khi tôi nhận tiền nhuận bút tập Lê Biăngđixơ, tôi cảm thấy mình trở nên bất công và khắc nghiệt. Tôi cần nói là tôi đã bỏ vào trong túi xách một vài sợi dây thần bí ấy
Và ông chỉ tay lên cái vali vải gớm guốc màu đỏ thẫm:
- Tôi cũng cho vào trong đó một chiếc bánh thánh quà của một ông linh mục bất kính, các tác phẩm của Đơ Mextrơ 1, sơ mi và những thứ khác.
Bà Mactanh ngước mắt, có phần kinh hoàng. Nhưng bà Macmê vẫn giữ bộ mặt điềm nhiên thường ngày.
Tàu lăn bánh qua vùng ngoại ô xấu xí, trên dải đất đen ngòm ảm đạm bao bọc thành phố. Sulet lấy từ túi áo ra một chiếc ví và lục lọi. Con người phiêu lãng hiện hình thành kẻ viết lách. Sulet là con người giấy tờ tuy không muốn tỏ ra như vậy. Ông ta chăm chăm không để mất những mẩu giấy ghi những ý thơ trong quán cà phê và hàng chục lá thư ngợi ca để cho lem luốc, mất hết chữ ở chỗ gập. Lúc nào ông ta cũng mang những thứ đó trong người để sẵn sàng cho những người bạn đồng hành, gặp trên đoạn đường đêm, dưới những ngọn đèn khí đốt. Khi thấy mọi thứ trong ví còn đủ cả, ông ta rút ra một lá thư gập trong một chiếc phong bì để mở, đung đưa hồi lâu trong tay, vẻ bí mật đến khó chịu, rồi đưa cho bà nữa bá tước Mactanh. Một bức thư nữ hầu tước Đơ Sămbo 2. Bà quả phụ già ấy sống ẩn dật ở cửa ô Phlôrăngx. Khoái trá đinh nính gây được tác dụng cần thiết, ông ta bảo có lẽ sẽ đến thăm bà quận chúa, bà ấy là một người tốt bụng và sùng đạo. Ông ta nói thêm:
- Một vị phu nhân cao quý thực sự, và không trung bày cảnh huy hoàng của mình bằng áo mũ. Bà ta mặc áo sơ mi sáu tuần lễ liền không thay và có khi còn lâu hơn thế nữa. Những nhà quý tộc trong đám tùy tùng thấy bà ta mang những đôi tất trắng rất bẩn tụt xuống Tây Ban Nha sống lại trong người bà ta. Ôi! Những đôi tất bẩn ấy, niềm vui vinh quang chân chính biết chừng nào!
Sulet lấy lại thư, cho vào ví. Rồi ông cầm con dao cán sừng, dùng mũi dao khắc nốt một khuôn mặt được phác họa trên cán ba toong. Và tự ca ngợi mình:
- Tôi là đứa khéo tay trong mọi nghệ thuật giữa đám hành khất vô lại. Dùng đinh tôi có thể mở được khóa và khắc chạm gỗ bằng một con dao tồi.
Cái đầu người bắt đầu xuất hiện, một khuôn mặt phụ nữa gầy gò ủ ê.
Sulet muốn thể hiện nỗi đau khổ của con người, không phải một nỗi đau khổ đơn sơ làm xúc động lòng người, như kiểu người xưa có thể cảm nhận trong cái giới lẫn lộn cái xấu tốt này, mà là một nỗi khổ đau gớm guốc được tô son trát phấn. Các nhà tư sản tự do tư tưởng và các quân nhân yêu nước, thoát thai từ Cách mạng Pháp đã làm cho nó trở nên hoàn toàn tồi tệ. Theo ông, chế độ hiện nay chỉ là tàn bạo và đạo đức giả. Ông kinh tởm chế độ quân phiệt.
Trại lính là một phát minh gớm guốc của thời cận đại. Nó chỉ có cội nguồn từ thế kỷ XVII. Trước kia, trong các tổ chức vệ binh đứng đắn, lính tráng chỉ chơi bài và kể chuyện tiếu lâm. Lui XII là người tiên báo Quốc ước bà Bônapactơ. Nhưng tai họa đã lên tới tột đỉnh với chế độ tòng quân quái gở. Bắt người ta chém giết, đó là nỗi ô nhục của các hoàng đế và các nền cộng hòa, là tội ác của các tội ác. Ở thời kỳ mà người ta gọi là man rợ, các thành phố và vua chúa giao việc bảo vệ cho những đội lính đánh thuê, những đội này chỉ tiến hành chiến tranh với tư cách những con người thận trọng và khôn ngoan. Thỉnh thoảng mới có năm sáu người chết trong một cuộc chiến lớn. Vì khi kỵ binh ra chiến trường thì ít nhất họ cũng không bị cưỡng bức; họ chết vì sở thích. Chắc hẳn họ sinh ra chỉ để làm công việc đó. Ở thời thánh Lui 3, không một ai có ý nghĩ đưa ra trận một con người có học thức và trí tuệ. Và cũng không ai cưỡng ép người nông dân rời bỏ ruộng đồng để ra trận mạc. Ngày nay, người ta bắt người dân cày tội nghiệp đi lính. Người ta bắt anh ta rời bỏ mái nhà tỏa khói trong khung cảnh yên tĩnh của buổi chiều rực rỡ nắng vàng, rời bỏ những cánh đồng cỏ phì nhiêu với đàn bò gặm cỏ, những thửa ruộng, những khu rừng quê hương; trong sân trại lính gớm ghiếc, người ta đe dọa, chửi mắng tống giam anh ta, bảo anh ta đó là vinh dự, và nếu anh không muốn có “vinh dự” kiểu đó thì bắn chết anh ta. Anh vâng lời vì sợ hãi và vì trong số tất cả gia súc, anh là con gia súc hiền lành nhất, vui vẻ nhất và dễ bảo nhất. Ở pháp, chúng ta là quân nhân và cũng là công dân. Là công dân, đó lại là một lý do để kiêu hãnh! Để người nghèo ủng hộ và bảo vệ bọn nhà giàu có trong uy quyền và cảnh ăn không ngồi rồi của chàng. Họ phải lao động trước sự bình đẳng “tôn nghiêm” của pháp luật, thứ bình đẳng cấm người giàu cũng như người nghèo không được ngủ dưới gầm cầu, đi hành khất ngoài đường và ăn cắp bánh mì. Đấy là một trong những “ân huệ” của Cách mạng. Cuộc cách mạng ấy do những thằng điên và những đứa vô lại tiến hành để làm lợi cho những kẻ chiếm đoạt tài sản quốc gia, rốt cuộc chỉ làm giàu cho đám nông dân xảo trá và bọn tư sản cho vay nặng lãi. Nhân danh sự bình đẳng nó nâng cao uy thế của sự giàu có. Người ta giao phó nước pháp cho bọn giàu có đã từng ngốn ngấu nó hàng trăm năm nay. Chúng là chủ nhân, là chúa tể. Chính phủ hữu danh vô thực gồm những kẻ khốn khổ, xác xơ, tội nghiệp, là do bọn tài phiệt trả công. Đã hàng trăm năm nay ở đất nước bị đầu độc này, ai yêu người nghèo đều bị xem là phản bội xã hội. Và sẽ bị coi là phần tử nguy hiểm những ai cho là có người nghèo khổ. Thậm chí người ta còn ra những đạo luật chống sự phẫn nộ và lòng trắc ẩn. Và những điều tôi nói ở đây đâu có được in thành sách. Sylet hăng hái, khua khua con dao trong lúc dưới bầu trời rét mướt, con tàu băng qua những cánh đồng đất màu gan gà, giữa những chùm hoa tím trên những thân cây trụi lá vì tiết đông và những hàng liễu dọc theo dòng sông lấp lánh. Âu yếm nhìn khuôn mặt khắc chạm trên cây gậy, ông ta nói:
- Ôi nhân loại tội nghiệp, ốm ó và uể oải, ngây thơ vì tủi nhục và khổ nghèo! Lính tráng và bọn nhà giàu, củ nhân của nhà người, đã làm nên nhà ngươi như thế đấy.
Có một người cháu họ là đại úy pháo binh, một thanh niên dễ thương, gắn bó với binh nghiệp, bà Mac-mê khó chịu về lời công kích dữ dội của Sulet đối với quân đội. Còn và Mactanh thì chỉ cho là một trò đùa vô hại. Những ý tưởng của Sulet không làm nàng khiếp hãi; nàng không sợ gì hết, những nàng thấy chúng có phần phi lý; nàng không hề nghĩ quá khứ có lúc nào lại tốt hơn hiện tại.
- Ông Sulet ạ, tôi nghĩ ở thời đại nào, con người cũng chỉ là con người hôm nay, ích kỷ, tàn bạo, bủn xỉn và không có lòng thương. Tôi nghĩ bao giờ luật pháp và phong tục cũng khốc liệt và tàn bạo đối vớibất hạnh.
Trên đoạn đường La Rôsơ - Đigiông, họ ăn trưa trong toa khách sạn và để Sulet ở lại đó một mình với tẩu thuốc, ly rượu và tâm trí xáo động của ông ta.
Trong toa tàu, bà Macmê âu yếm dịu dàng nói về người chồng quá cố. Bà lấy ông vì tình yêu ông làm tặng vì những vần thơ tuyệt diệu hiện bà vẫn giữ và không đưa cho ai xem bao giờ. Ông vốn rất vui tính và sôi nổi. Không thể ngờ về sau ông trở nên mệt mỏi vì công việc và yếu đuối đi vì bệnh tật. Ông vẫn nghiên cứu cho tới phút cuối cùng. Bị chứng phì đại về tim, ông thường mất ngủ và thức đêm trên ghế bành với sách vở đặt trên một chiếc bàn con. Hai tiếng trước khu chết, ông vẫn cố gắng đọc. Ông là người tốt, có tình thương. Trong khi đau đớn, ông vẫn một mực dịu dàng.
Không biết nói gì khác, bà Mactanh đành ậm ừ:
- Bà đã từng sống nhiều năm sung sướng và còn giữ được kỷ niệm; đó là một phần hạnh phúc trên đời này.
Nhưng bà Macmê thở dài, một thoáng ưu tư trên vầng trán thanh thản.
- Vâng, - bà nói - Lui là người đàn ông và người chồng tốt nhất trên đời. Thế nhưng đã là tình làm tội tôi nhiều lắm. Ông ấy chỉ có một chút tật xấu nhưng làm tôi rất mực đau buồn. Ông ấy cả ghen lắm. Là người tốt bụng, dịu dàng, khoan dung, ông ấy trở nên bất công, độc đoán, thô bạo vì sự đam mê khủng khiếp ấy. Tôi cam đoan với bà là thái độ tôi không có gì đáng phải ngờ vực. Tôi không làm đỏm. Nhưng lúc đó tôi trẻ trung, tươi mát, hầu như xinh đẹp. Chỉ cần có thế. Nhà tôi cấm không cho tôi ra khỏi nhà một mình, không tiếp khách lúc ông ấy đi vắng. Mỗi lần cùng nhau đi khiêu vũ là tôi lo sợ ông ấy sẽ rầy la trên đường về nhà.
Và bà Macmê thở dài, nói thêm:
- Quả là tôi thích khiêu vũ. Nhưng đành phải bỏ. Nhà tôi quá khổ sở về việc đó.
Nữ bá tước, Mactanh tỏ vẻ ngạc nhiên. Nàng luôn luôn hình dung Macmê là một ông già nhút nhát và đăm chiêu, có phần lố bịch giữa bà vợ béo tốt, trắng trẻo rất mực hiền hòa vàương người chiến binh Etruyri dội mũ đồng thau có nạm vàng. Nhưng người đàn bà rất mực dịu dàng ấy tâm sự với nàng là vào tuổi năm nhăm, lúc bà năm ba, Lui vẫn ghen tuông như những ngày mới cưới.
Teredơ nghĩ bụng Rôbe không bao giờ giày vò nàng vì ghen tuông. Phải chăng vì tinh tế thanh nhã, vì tin cậy hay vì không yêu tới mức làm nàng đau khổ? Nàng không rõ và cũng không thiết tha muốn tìm cho rõ. Muốn thế thì phải soi lại lòng mình mà nàng thì không muốn.
Nàng bất giác thầm thì:
- Chúng ta muốn được yêu, nhưng khi người ta yêu chúng ta người giày vò hay làm ta phiền muộn.
Cả buổi chiều hôm đó, hai người ngồi đọc báo và mơ mộng. Sulet chưa trở lại. Bóng tối bao phủ dần lên những hàng dâu vùng Đôphinê. Bà Macmê nằm ngủ ngon lành, người co lại như ngủ trên một đống gối. Têredơ nhìn bà và nghĩ bụng:
- Quả là bà ta sung sướng vì thích nhớ lại đời mình.
Cái buồn ban đêm làm lòng nàng cũng buồn lây. Ánh trăng rọi xuống cánh đồng ô liu. Nàng nhìn theo ruộng đồng, đồi núi êm ả lướt qua với những bóng cây xanh. Cảnh vật gợi nên sự thanh bình và quên lãng, tuyệt nhiên không có gì nhắc nhở đến nàng. Têredơ bỗng luyến tiếc, dòng sông Xen, Khải hoàn môn với các đại lộ tỏa ra xung quanh những lối đi trong rừng Bulônhơ; ở đó ít ra cây cối và sỏi đá cũng biết đến nàng.
Bỗng đột ngột một cách bí hiểm, Sulet nhảy bổ vào toa tàu. Tay cầm gậy, đầu và mặt trùm những mảnh len đỏ và những tấm da khủng khiếp, hầu như ông ta làm nàng run sợ. Quả ông ta muốn làm nàng run sợ. Cử chỉ dữ dội và cách ăn mặc man rợ của ông bao giờ cũng được sắp đặt. Luôn luôn tìm cách gây nên những trò trẻ thơ và kỳ cục, ông ta luôn tìm cách gây nên những trò trẻ thơ và kỳ cục, ông ta thích làm người ta khiếp hãi. Là người vốn hay sợ sệt, ông ta muốn làm cho người khác cũng kinh hoàng như mình. Trước đó một lát, ngồi hút thuốc một mình ở tận cuối hành lang, ông ta ngắm nhìn vầng trăng chuyển động trong mây trên vùng Camacgơ. Ông ta bỗng thấy sợ, một nỗi sợ hãi của trẻ thơ, không duyên cớ, khiến tâm hồn giàu tưởng tượng và nhạy cảm của ông xáo trộn. Ông ta muốn được trấn tĩnh
- Aclơ, bà có biết vùng Aclơ không? - Ông ta hỏi - Một cảnh đẹp tuyệt vời! Trong tu viện Trôpai- mơ bồ câu đến đậu lên vai các bức tượng và những con tắc kè nhỏ màu xác sưởi nắng mặt trời trên những ngôi mộ cổ ở đường Alixcăng. Ngày nay, mộ được đặt hai bên đường đi vào nhà thờ. Mộ xây theo lối hình chậu và ban đêm dùng làm giường ngủ cho những người bất hạnh. Moojy buổi tối, cùng dạo chơi với Pôn Aren 4 tôi gặp một bà cục đang trải cỏ khô vào mộ một cô gái đồng trinh qua đời hôm làm lễ kết hôn. Chúng tôi chúc cụ ngon giấc. Cụ đáp: “Cầu trời ban phước lành! Nhưng vì một số mệnh tai ác, ngôi mộ này lại mở về phía gió bắc. Nếu mở ở phía bên kia thì già này đã ngủ ngon như một bà hoàng rồi”.
Têredơ không đáp. Nàng buồn ngủ. Còn Sulet thì rùng mình trong đem giá lạnh vì sợ chết.
Chú thích:
1. | Nhà văn Pháp thể kỷ 18- 19 |
2. | Ngời thừa kế chính thức ngôi vua Pháp giữa thể kỷ 19. Nhưng
vì không chịu để là cờ Tam tài của Cách mạng Pháp thay thế là cờ màu trắng của
chế độ Quân chủ nên cuối cùng thất bại |
3. | Tức là vua Lui IX, thế kỷ 19 |
4. | Tức nhà thơ và nhà văn Pháp, thế kỷ 19 |
- Mời bạn nhìn các vũ khí biết nói của tôi. - Cô bảo bà Mactanh - Tôi nghĩ tất cả các “cô Ben” ấy đều thích thú ở đây và giả một hôm nào đó, họ cùng nhau cất tiếng hất thì tôi cũng không quá kinh ngạc. Nhưng không nên ca ngợi tất cả các “cô Ben” ấy một cách đồng đều. Phải dành những lời ca ngợi trong sáng và nhiệt thành nhất cho “cô Ben” này.
Rồi dùng ngón tay gõ gõ lên một cái chuông màu nâu, không trang trí - chuông khẽ phát ra một tiếng trong lảnh lót - Ben nói:
- “Cô Ben” này là một vị nữ thánh thôn dã thế kỷ V. Đấy là
người con tinh thần của thánh Polanh Đơ Nôlơ, người đầu tiên rung chuông nhà thờ
trên đầu chúng ta. Chuông làm bằng một kim loại hiếm quý người ta gọi là đồng
thau Cămpani. Nay mai, tôi sẽ chỉ cho bạn xem một cái chuông vùng Phlôrăngx hết
sức xinh xắn, bà hoàng của các loại chuông. Nó sắp được mang tới đây. Nhưng với
mấy cái thứ đồ chơi trẻ em này, tôi làm phiền lòng cô lắm phải không Darling?
Và làm phiền lòng cả bà Macmê tốt bụng nữa. Thật là dở!
Ben dẫn khách về buồng.
Một tiếng sau, bà Mactanh tươi tắn trong y phục lụa mỏng có
thêu ren, bước xuống hàng hiên gặp Ben. Bầu không khí ẩm ướt được ánh mặt trời
tuy còn yếu ớt những đã hào phóng sưởi ấm, mang tới cái êm ả, chập chờn của
ngày xuân. Chống khuỷu tay lên bao lơn mắt nàng ngập trong ánh nắng. Phía dưới,
những hàng tùng bách vươn cao, những thân đen trũi và những dãy ô liu nhấp nhô
trên sườn đồi. Trong lòng thung lũng Phlôrăngx trải dài những vòm nhà, những ngọn
tháp và vô số mái ngói đỏ rực. Dòng sông Acnô 2. thấp
thoáng uốn lượn. Xa hơn nữa là những triền đồi
Nàng cố nhận ra khu vườn bách thảo Bôbôli - nơi nàng đã cho
chơi trong cuộc du lịch đầu tiên - khu Caxxin mà nàng không ưa thích, lâu đài
Phiti và nhà thờ Xaphlơ - Mari - đơla - Phlơ. Nhưng trên bầu trời vô tận đầu sức
quyến rũ thu hút nàng. Nàng theo dõi những hình thù chuyn động trong các lớp
mây.
Im lặng một lúc lâu, Vivian Ben dang tay về phía chân trời.
- Darling, tôi không thể nói, tôi không biết nói thế
nào. Nhưng Darling nhìn xem, nhìn nữa xem. Thật là có một không hai
trên đời này. Không ở đâu cảnh vật thiên nhiên lại tinh tế, thanh nhã và xinh đẹp
đến thế. Vị thần nặn nên những ngọn đồi Phlôrăngx quả là một nghệ sĩ. Ôi! Thần
là thợ kim hoàn, là người chạm bội tinh, là nhà điêu khắc, là người đúc đồng
thau, là họa sĩ, tóm lại là một người Phlôrăngx. Trên đời, thần chỉ làm có thế, Darling ạ!
Phần còn lại là sản phẩm của một bàn tay ít tinh tế hơn, là một công trình lao
động ít hoàn mỹ hơn. Ngọn đồi Xan Mintato tím ngắt kia, ới những đường nét cứng
cáp và tinh tế đến thế, sao lại có thể là sản phẩm của tác giả ngọn Bạch sơn được?
Dứt khoát không thể được. Cảnh trí này có vẻ đẹp của một tấm kỷ niệm chương
ngày trước và của một bức tranh quý Darling ạ. Là một công trình nghệ
thuật hoàn mỹ, mực thước. Và sau đây là một điều khác mà tôi không biết tả thế
nào và cũng không biết nên hiểu thế nào, nhưng là một ddieuf có thực. Ở xứ sở
này, tôi cảm thấy, và cô cũng sẽ cảm thấy như tôi, Darling ạ, là mình
nửa sống, nửa chết, trong một một trạng thái rất thanh nhã, rất buồn và rất êm
đềm. Cô nhìn đi, nhìn nhiều đi; cô sẽ tìm thấy vẻ âu sầu của những ngọn đồi bao
quanh Phlôrăngx và một nỗi buồn êm ái từ Trái đất của những xác chết dâng lên.
Trời ngả về chiều. Cây cối mờ dần và trên bầu trời, mây bỗng
đỏ rực.
Bà Macmê hắt hơi.
Ben cho mang khăn choàng tới và nói cho hai vị khách người
Pháp biết là buổi tối ở đây mát lạnh và độc.
Rồi nàng đội ngột nói thêm:
- Darling này, cô có biết Giăc Đơsactrơ chứ? Anh
biên thư cho tôi là tuần tới sẽ đến Phlôrăngx. Tôi sung sướng l được gặp cô ở
thành phố này. Anh sẽ đưa chúng ta đến nhà thờ và viện bảo tàng. Anh là người
hướng dẫn tốt, hiểu biết những cái đẹp vì yêu mến chúng. Và là một tài năng
điêu khắc tuyệt vời. Các bức tượng lớn nhỏ của anh được ca ngợi ở Anh còn hơn cả
ở Pháp. Ô! Giăc Đơsactrơ được gặp cô ở Phlôrăngx, điều đó làm tôi rất vui
lòng, Darling ạ!
Chú thích:
|
1. |
Nhà điêu khắc Phlôrăngx, thế kỷ 15 |
|
2. |
Dòng sông chảy qua Phlôrăngx ra ĐịaTrungHải |
- Hình như ngài Sulet kia kìa!
Ngồi trong quầy hàng một người thợ giày, tẩu thuốc cầm tay, Sulet vừa đánh nhịp vừa như đang đọc thơ. Bác thợ giày Phlôrăngx nghe với một nụ cười hồn hậu trên môi, tay vẫn đưa mũi dùi. Bác ta nhỏ nhắn, hói đầu, tiêu biểu cho một trong những kiểu người quen thuộc của nền hội họa Phlăngđrơ. Trên mặt bàn, giữa những cái cốt giày bằng gỗ, những miếng da thuộc những cục nhựa thông và đinh, đặt một cái chậu trồng cây hoắc hương, vòm lá xanh tròn trĩnh. Một chú chim sẻ, một chân cụt được thay bằng que diêm, vui vẻ nhảy nhót trên vai, trên đầu ông già.
Vui mắt trước cảnh ấy, Mactanh từ ngoài hiên gọi Sulet lúc đó đang khẽ khàng đọc những lời du dương, và hỏi ông ta vì sao vừa qua không cùng đi thăm nhà thờ người Tây Ban Nha.
Sulet đứng dậy đáp:
- Thưa bà, bà quan tâm đến những hình ảnh hão huyền, nhưng tôi thì tôi ở trong đời sống và trong chân lý.
Ông ta siết tay bác thợ giày và theo chân hai người phụ nữ. Nhưng giữ họ lại một lát trên hàng hiên, ông ta bảo:
- Trên đường đi tới nhà thờ Xanh-Mari-Nouven tôi thấy ông già đang khâu giày, người cúi gập trên bàn, hai đầu gói như một chiếc ô tô kẹp chặt cái cốt giày. Tôi cảm thấy ông cụ và tốt bụng. Tôi nói với cụ bằng tiếng Ý: “Thưa cụ, cụ có muốn uống cùng tôi một ly vang đỏ không?” Ông cụ rất vui lòng, vội chạy đi lấy bình rượu và cái ly, còn tôi thì ngồi trông cửa hàng.
Chỉ hai cái ly và một cái chai đặt trên mặt lò sưởi Sulet nói tiếp:
- Khi ông cụ trở về, chúng tôi cùng uống với nhau, tôi nói với cụ những điều bí ẩn và tốt lành, giọng nói êm đềm của tôi làm cụ say mê. Tôi sẽ trở lại gian hàng của cụ, học cụ đóng giày và sống không có dục vọng. Sau đó, tôi sẽ hát phiền muộn. Vì chỉ có dục vọng và nhàn rỗi là làm người ta phiền muộn.
Nữ bá tước Mactanh mỉm cười:
- Thưa ông Sulet, tôi không ham muốn gì hết, thế nhưng tôi lại không vui. Phải chăng tôi cũng phải khâu giày?
Sulet nghiêm trang trả lời:
- Chưa đến lúc đâu, thưa bà.
Đến vườn bách thảo Orixenlari, bà Macmê ngồi phịch xuống ghế. Ở nhà thờ Xanh-Mari-Nouven, bà đã xem kỹ những bức bích họa trầm mặc của Ghiêclăng-dagiơ 1, những dãy ghế ngồi cầu kinh, ảnh Đức bà của Ximabuyê 2, những bức tranh trong tu viện. Bà xem xét kỹ lưỡng, để nhớ lại người chống quá cố mà theo lời bà là người rất yêu nghệ thuật Ý. Bà có vẻ mệt mỏi. Sulet ngồi cạnh bà và hỏi:
- Thưa bà, bà có thể nói cho tôi biết có phải quả là Giáo hoàng thuê may áo ở hiệu Ooctơ không?
Bà Macmê không tin điều đó. Nhưng Sulet nghe người ta nói như vậy ở quán cà phê. Bà Mactanh kính ngạc thấy Sulet, người Cơ đốc giáo và theo chủ nghĩa xã hội, lại có thể nói với thái độ ít cung kính như vậy về một giáo hoàng, bạn của nền cộng hòa. Nhưng Sulet không tra Lêông XIII.
- Trí tuệ các giáo hoàng chẳng được là bao; Lê-ông XIII tin tưởng và mong muốn nền Cộng hòa Ý sẽ là vị cứu tinh của Giáo hội, nhưng Giáo hội sẽ không được cứu thoát theo lối suy nghĩ của một Makiavon trong tôn giáo đâu. Cách mạng sẽ làm giáo hoàng mất hết những thứ được biếu xén một cách phi lý cùng với tài sản. Và đó mới là con đường cứu thoát. Bị tước đoạt và trở nên nghèo khổ, giáo hoàng sẽ có sức mạnh. Ông sẽ làm rung chuyển cả thế giới. Chúng ta sẽ gặp lại Pie, Lanh, Cie, Anaclê và Clêmăng, những người nhỏ bé, những người dốt nát, những vị thánh buổi đầu đã làm thay đổi bộ mặt trái đất. Nếu vạn nhất nay mai, ngồi trên ghê giáo hoàng là một đức giáo mục chân chính, một tín đồ Cơ đốc giáo chân chính, thì tôi sẽ đến gặp và nói: “Giáo hoàng chớ làm một ông già bị chôn sống trong ngôi mộ vàng, mà hãy bỏ lại đám thị tùng, “hộ vệ và hồng y giáo chủ, bỏ lại thành thất và những ảo ảnh uy quyền, để khoác tay đi xin bố thí của dân tộc. Rách rưới, nghèo khổ, bệnh tật, tàn tạ, đi trên mọi nẻo đường, lấy bản thân mình làm hình ảnh của chúa Giêsu. Ngài hãy nói: “Tôi xin được bố thí miếng bánh để lên án bọn giàu có”. Ngày hãy đến các phố phường và kêu ở từng nhà với cái vẻ ngời nghệch cao siêu: “Các ngươi hay làm những con người nhỏ bé, hiền hậu, nghèo đói”. Ngài hãy tuyên bố hòa bình và nhân ái ở các đô thành tối tăm, trong các túp nhà tồi tàn, trong trại lính. Người ta sẽ khinh bỉ, sẽ ném đá xua đuổi ngài. Bọn hiến binh sẽ lôi ngài vào nhà tù. Trước mặt những người hèn mọn cũng như những kẻ có uy quyền, trước mặt những người nghèo cũng như kẻ giàu, ngài sẽ là một trò cười, một vật kinh tởm và tội nghiệp. Các linh mục sẽ phế truất ngài và tôn lên một giáo hoàng chống giáo hoàng. Mọi người sẽ bảo ngài là một thằng điên. Và mong sao họ nói đúng; mong sao ngài là một thằng điên: chính những thằng điên đã cứu thoát thiên hạ. Loài người sẽ cho ngài oai vương miện bằng gai góc và cây thiền trượng bằng lau sậy và sẽ nhổ vào mặt ngài. Chính qua tín hiệu ấy, ngài sẽ trở thành chúa Giêsu và vị chúa chân chính; và cũng chính bằng cách đó, ngài sẽ thiết lập chủ nghĩa xã hội cơ đốc giáo, nó là Thiên đường của chốn trần gian.
Nói xong, Sulet châm một điều xì gà Ý dài ngoẵng và ngoằn ngoèo, ở giữa có một cộng rơm, hít mất hơi rồi điềm nhiên nói tiếp:
- Và như thế là tiên lợi. Người ta có thể khước từ tôi mọi cái, trừ một cái nhìn rất rõ rệt đối với tình hình. A! Thưa bà Macmê, những sự nghiệp lớn trên đời này đều do những thằng điên làm nên, bà sẽ không bao giờ biết được là điều đó chính xác tới mức nào. Thưa bà Mactanh, bà có nghĩ rằng giá như Phrăngxoa Đax-xidơ 3. là người khôn ngoan thì ông ta đã trút xuống trần gian những dòng nước nhân ái mạnh mẽ và tất cả hương vị của tình yêu để đem lại sức sống cho các dân tộc không?
- Tôi không biết – Bà Mactanh đáp - Nhưng tôi thấy bao giờ những người khôn ngoan cũng rất khó chịu. Tôi có thể nói điều đó với ông, ông Sulet ạ
Họ trở về Phidơn trên tàu điện đi ngược ngọn đồi. Trời đổ mưa. Bà Macmê ngồi ngủ còn Sulet thì than vãn. Cùng một lúc ông ta phải chịu mọi thứ tội: không khí làm đầu gối nhức nhối, ông ta không co chân lại được; cái túi du lịch hôm trước bị thất lạc trên đường từ nhà ga về Phidơn, nay không tìm thấy đâu - một tại họa không phương cứu chữa; một tờ tạp chí ở Pari vừa xuất bản một bài thời của ông với những lỗi ấn loát “lớn bằng cái bình đựng nước thánh, chẳng kém con ốc biển của Aphrôđit” 4.
Sulet lên án người và vật, cho là tất cả đều thù địch và làm hại mình. Ông ta tỏ ra thơ ngây, phi lý, đáng ghét. Phiền lòng vì Sulet và trời mưa, Mactanh-Beulem nghi đoạn đường trên sườn đồi này không bao giờ chấm dứt. Khi về đến ngôi nhà chứa đầy những chuông là chuông, nàng thấy Ben đang ngồi trong phòng khách chép lại bằng mực vàng, theo lối chữ nghiêng của anh em nhà Anđơn 5, trên một tấm da cừu thuộc, những dòng thơ đến với cô đêm hôm trước, cô ta ngẩng đầu lên, cái đầu nhỏ xấu xí nhưng với cặp mắt rất đẹp, sáng rực.
- Darling, tôi xin giới thiệu hoàng thân Anbecli-nenli
Đứng dựa vào lò sưởi, đẹp như một thiên thần với bộ râu dày, đen nhánh, hoàng thân chào nàng:
- Thưa bà, giá lòng chúng tôi chưa yêu nước Pháp thì bà cũng khiến chúng tôi phải yêu.
Nữ bá tước và Sulet muốn Ben đọc cho họ nghe những vần thơ cô vừa viết. Là người nước ngoài, cô xin được miễn, không phải đọc những lời thơ trúc trắc trước một thi si Pháp mà cô ưa thích hơn cả sau Phrăngxoa Vilông 6, rồi cất giọng vui vẻ như tiếng chim líu lo, cô đọc:
Chân núi đá, một dòng suối bạc
Tựa thủy thần ca hát, cười vang
Vung tay mạnh mẽ, hiên ngang
Acnô nhầm hướng thằng đường chảy xuôi.
- Cảnh đẹp quá - Sulet lên tiếng - Nó mang đặc điểm nước Ý với những màn sương mù phơn phớt của Thuylê 7.!
- Đúng - nữ bá tước Mactanh tiếp lời - cảnh thực đẹp. Những vì sao, Vivian thân mến, cặp trai gái ngây thơ ấy lại phải chết?
- Ồ, Darling, bởi vì họ cảm thấy hết sức sung sướng và không còn ham muốn gì nữa hết. Buồn quá, Darling ạ, thật buồn quá. Làm sao cô lại không hiểu được điều đó!
- Thế cô nghĩ sở dĩ chúng ta sống là vì còn có hy vọng sao?
- Ô! đúng thế, Darling, chúng ta song trong chờ mong mà. Chúng ta chờ mong những điều mà ngày mai, phải, ngày mai - vị quân vương của xứ sở các tiên nữ - sẽ mang tới trong tấm áo choàng màu đen hay màu anh, lắm chấm những bong hoa, những ngôi sao và những giọt nước mắt. Oh! bring King tomorrow 8
Chú thích:
1. | Họa sĩ Italia, thế kỷ 18 |
2. | Họa sĩ Italia, cuối thế kỷ 18 |
3. | Người sáng lập ra thư viện Phrăngxixcanh, vào thế kỷ13 |
4. | Thần Vệ Nữ. Theo huyền thoại, “Thần Vệ nữ đi lại trên một
con ốc biển |
5. | Một gia đình làm ngành lu rất quen thuộc ở Italia, thế kỷ
17 |
6. | Một nhà thơ Pháp, thế kỷ 15, người nổi tiếng về thơ lãng mạn
thời Cận đại |
7. | Tên người La Mã đặt cho một hòn đo ở phía bắc châu Âu, đảo
cuối cùng ở vùng cực Bắc |
8. | Tiếng Anh: Ôi! Ngày mai, vì quốc vương huy hoàng |
Ngồi trước piano, hoàng thân Ambeetinenli khẽ hát bài hát Xixin Ô lalo!. Ngón tay anh nhẹ lướt trên phím đàn.
Sulet, thô bạo hơn thường ngày, hỏi xin kim chỉ để khâu vá lây quần áo. Ông ta ca cẩm để mất đi đâu mấy thứ lặt vặt cần thiết mang trong túi áo suốt ba chục năm nay, mấy thứ ấy thân thiết đối với ông ta vì những kỉ niệm êm đềm và những “lời khuyên hảo” quý giá của chúng đối với mình. Ông ta cho là đánh rơi trong phòng khách lầu Pitti 2. và phàn nàn rằng vì dòng họ Mêđrxix 3. và các họa sĩ Ý mà ông ta đánh rơi.
Nhìn Ben với ánh mắt dữ dằn, ông nói:
- Tôi thì vừa vá áo vừa làm thơ. Tôi thích công việc tay chân. Tôi hát những bài hát của tôi trong lúc quét buồng: bởi vậy những bài hát ấy đi vào long người như những bài hát thuở trước của dân cày và thợ thủ công, những bài hát này hay hơn những bài hát của tôi, nhưng kém tự nhiên hơn. Niềm kiêu hãnh của tôi chỉ lất bản thân mình làm tôi tớ cho mình. Bà vợ góa ông lão trông coi nhà thờ bảo để bà ấy và giúp tôi. Nhưng tôi từ chối. Những công việc bản thân mình có thể tự làm lấy với một thứ tự do cao thượng mà lại để người khác làm một cách nô lệ là điều không hay.
Anbeclinenli lả lướt chơi điệu nhạc lả lướt. Tám ngày qua, Têredơ cùng bà Macmê đến các nhà thờ và viện bảo tàng. Bà làm nàng khó chịu vì luôn luôn cho rằng chân dung họa sĩ ngay trước có nét giống người này người nọ trong số bạn bè bà ta. Sáng nay, ở lâu đài Ricardi 4, chỉ nội mấy bức bích họa của Bơnôdô Gôdôli 5. không thôi mà bà ta cũng đã cho là có những nét của Garanh, của Lagranggio của Sơmôn, của quận chúa Xơniavin với y phục hợp thời trang và của Rơnăng. Bản thân bà ta cũng kinh ngạc thấy đâu đâu cũng có Rơnăng. Mọi ý tưởng bà ta đều quy về cái giới viện sĩ nhỏ bé của mình và về đám người thượng lưu với một lối suy nghĩ giản đơn khiến cho Têredơ khó chịu. Bà ta dịu dàng nhắc lại những buổi họp công khai của Viện Hàn Lâm, những buổi lên lớp ở Xoocbon, nhưng buổi tối hung biện của các nhà triết học duy tâm và duy vật. Còn phụ nữ thì bà ta cho là tất cả đều yêu kiều, tuyệt mỹ, Bà đến ăn tối ở tất cả các gia đình ấy, Têredơ nghĩ bụng: “Bà Macmê, bà ta khôn ngoan quá và làm mình đến khó chịu”. Nàng có ý định để bà ta ở lại Phidơn và đi một mình thăm viếng các nhà thờ. Rồi dùng một từ của Lơ Mênin, nàng tự bảo mình:
“Mình sẽ “phớt lờ” bà Macmê”.
Một ông già mảnh khảnh bước vào phòng khách. Với bộ ria mép bôi sáp và chòm râu cằm bạc trắng, ông có vẻ một cựu quân nhân. Nhưng sau cặp kính, cái nhìn của ông ta để lộ vẻ dịu dàng của đôi mắt đã yếu đi vì hoạt động khoa học và vì khoái lạc. Giáo sư Arighi là người Phlôrăngx, bạn của Ben và Ambectinenli. Ngày trước, phụ nữ yêu ông say đắm, còn ngày nay ông nổi tiếng ở Tôxcan và ở Êmili về các công trình nghiên cứu nông nghiệp.
Ngay lập tức ông ta làm vui lòng bá tước Mactanh. Tuy không ca ngợi cuộc sống nơi thôn dã ở Ý, nàng vẫn chú ý hỏi han giáo sư về phương pháp và kết quả của ông
Ông là người làm công tác nghiên cứu vừa kiên quyết vừa thận trọng:
“Đất - ông ta nói - cũng giống như đàn bà: nó muốn người ta đối với nó không nhút nhát nhưng cũng không thô bạo”
Tất cả chuông nhà thờ gióng giả rung lên làm chuyển động cả bầu trời.
- Darling này! - Ben hỏi - Cô có nhận thấy buổi chiều bầu không khí Phlôrăngx vang lên tiếng chuông lạnh lùng như tiếng vàng tiếng bạc không?
- Kỳ lạ thật, - Sulet tiếp lời - chúng ta có vẻ như những người đang ngóng đợi.
Vivian Ben đáp quả họ đang ng đợi Đơisactrơ. Chưa thấy anh đến, cô lo anh nhỡ tàu.
Sulet bước tới bên cạnh bà Macmê, và nói rất nghiêm trang:
- Thưa bà Macmê, bà có thể nhìn một cánh cửa, một cánh cửa đơn sơ bằng gỗ quẹt sơn, như cánh cửa nhà bà (ấy là tôi giả định) hay nhà tôi, hay như cánh cửa này, hoặc bất kỳ cánh cửa nào khác, mà không khiếp hãi hay kinh tởm khi nghĩ tới người khách bất kỳ lúc nào cũng có thể tới không? Thưa bà Macmê, cách cửa nhà chúng ta mở ra chốn vô biên. Bà có nghĩ đến điều đó không? Có bao giờ chúng ta biết được học tên đích thực của người đàn ông hay người đàn bà bước vào nhà chúng ta dưới bề ngoài của một con người, với một bộ mặt quen thuộc, trong những bộ quần áo bình thường không?
Về phần ông ta, ru rú trong buồng, ông ta không thể nhìn ra cửa mà không dựng tóc gáy.
Nhưng bà Macmê thì không kinh hãi gì hết khi thất cửa phòng khách mở ra. Bà ta biết tên mọi người đến nhà mình: họ đều là những người dễ thương.
Sulet buồn bã nhìn và lắc đầu nói:
- Thưa bà Macmê, thưa bà Macmê, những người mà bà gọi bằng cái tên trần thế của họ, đều có một cái tên khác, đó là tên đích thực của họ mà bà không biết.
Bà Mactanh hỏi Sulet là muốn vào nhà người ta, thì nỗi bất hạnh có phải bước qua ngưỡng cửa không?
- Nó tài tình và tinh tế lắm! - Nàng nói - Nó leo qua cửa sổ, vượt qua tường. Nó không xuất đầu lộ diện nhưng không bao giờ vắng mặt. Những cánh cửa đáng thương hoàn toàn vô oan về sự thăm viếng của vị khách xấu chơi ấy.
Sulet nghiêm khắc cảnh báo bà Mactanh là tuyệt nhiên không được cho việc viếng thăm của nổi bất hạnh là điều xấu.
- Bất hạnh là người thầy lớn nhất và là người bạn tốt nhất của chúng ta. Chính bất hạnh dạy cho ta ý nghĩa cuộc đời. Thưa quý bà, khi quý bà đau khổ, quý bà sẽ biết điều cần biết, sẽ tin cái phải tin, và phải làm việc phải làm, quý bà phải như thế nào thì sẽ như thế ý. Và khoái lạc sẽ xua đuổi niềm vui của quý bà.
Niềm vui rụt rè lắm và nó không hợp chút nào với cảnh hội hè.
Hoàng thân Anbectinenli chơ rằng có Ben và hai bà bạn Pháp của cô tuyệt nhiên không cần phải gặp bất hạnh cũng đã hoàn mỹ rồi, và cái học thuyết cho rằng có đau khổ mới hoàn mỹ là một sự độc ác man rợ, người ta kinh tởm nó dưới bầu nước Ý đẹp đẽ. Rồi trong không khí uể oải của một buổi nói chuyện, anh lại thận trọng tìm những câu trong bài hát Xixin vì sợ hát nhầm sang một điệu của bài Trôvator vốn cùng một phong cách.
Vivian Ben thầm hỏi những cái hình quái vật cô vẽ ra và phàn nàn về những lời giải đáp vô lý và ranh mãnh của chúng.
- Lúc này, - cô ta nói - tôi chỉ muốn nghe các hình nét trên mấy tấm thảm nói những lời êm ái, cổ xưa và quý giá như bản thân chúng.
Lôi cuốn theo điệu nhạc, Anbectinenli cất tiếng hát. Giọng hát lả lướt, uốn, éo cất lên cao rồi bỗng tắt ngấm với những “a! a! a!” rầu rĩ.
Ngước mắt lên tấm cửa kính, bà Macmê cất tiếng:
- Hình như ngài Đơsactrơ đến kia.
Ben đón anh với những líu lo như tiếng chim.
- Ông Đơsactrơ, chúng tôi nóng long chờ ông, Ngài Sulet nói xấu các cánh cửa… Vâng, cánh cửa ở các ngôi nhà và ông ta cũng nói về nỗi bất hạnh là một kẻ hòa hoa rất mực ân oán. Ông đã không được nghe nhữngn điều tốt đẹp ấy. Ông để chúng tôi chờ đợi mãi đấy, ông Đơsactrơ ạ; Vì sao vậy?
Đơsactrơ xin lỗi: anh chỉ vừa đủ thì giờ ghé qua khách sạn và trang phục vội vàng. Thậm chí cũng không kịp đến từ biệt pho tượng Xan Maccô bằng đồng thau, đặt trong khám ở Ô Xau Misen mà anh xem là người bạn lớn và tốt, vốn dễ gây xúc động, Anh ca ngợi nữ sĩ Ben và chào nữ bá tước Mactanh với miền hân hoan hầu như không kìm hãm nổi.
- Trước khi rời Pari, tôi đến phố Đơbily thăm bà nhưng người ta bảođi nghỉ tại nhà côn Ben ở Phidon trong những ngày đầu xuân. Thế là tôi nảy ra hy vọng được gặp lại bà trên đất nước mà tôi yêu quý hơn hết này
Nàng hỏi anh có dừng lại ở Vơnidơ không, có đến Ravennơ thăm những lực lượng nữ hoàng có vầng hào quang quanh đầu và những lượng yêu quái sáng ngời không.
Không, anh không dừng lại đâu hết.
Nàng lặng im.
Nàng đăm đăm nhìn cái chuông thành Polanh đặt góc nhà.
Anh hỏi rằng:
- Bà nhìn cái chuông ấy à?
Vivian Ben thôi không vẽ nữa.
- Nay mai ông sẽ thấy một kỳ quan làm ông xúc động hơn, ông Đơsactrơ ạ. Tôi đã vớ được “bà hoàng “của những chiếc chuông nhỏ. Tôi tìm thấy ở Rimini trong một xưởng ép dầu đổ nát nay dùng làm kho hàng, nơi tôi đến kiếm những mảnh gỗ cũ thấm dầu và trở nên rắn, sẫm màu, và lấp lánh vô cùng! Tôi mua chuông và tự tay gói lấy. Tôi chỉ còn chờ chứ không lo nữa. Ông sẽ nhìn thấy nó. Trên bụng chuông có hình Giêsu trên thánh giá, giữa hình Đức bà và thánh Giăng, với niên điểm 1400 và các binh khí của dòng họ Malatexta 6… Ông Đơsactrơ, hình như ông không chú ý nghe. Xin ông nghe tôi nói. Năm 1400, trốn chiến tranh và dịch hạch, Lêrrendơ Ghibecti 7. đến Rimini ẩn náu ở nhà Paolo Malatexta. Chắc hẳn ông ta là người khắc chạm các hình trên chuông. Và tuần sau, tại đây, ông sẽ nhìn thấy một công trình của Ghibecti
Người nhà đến báo đã soạn xong bữa ăn tối.
Ben xin lỗi vì để khách ăn tối theo kiểu Ý. Đầu bếp của cô là một nhà thơ ở Phiđơn.
Ngồi ăn, trước những bình rượu có lá ngô lơ xung quanh, học chuyện trò về thứ kỷ 15 hạnh phúc mà họ ưu ái. Hoàng thân Anbectinenli ca ngợi các nghệ sĩ thời ấy về bộ óc toàn năng và nhiệt tâm đối với nghệ thuật và về tài trí cuốn thu hút hết tâm lực của họ. Ông ta nói một cách khoa trương giọng ngọt ngào.
Đơsactrơ cũng ca ngợi các nghệ sĩ ấy nhưng ca ngợi cách khác
- Muốn ca ngợi một cách thỏa đáng những con người ấy - anh
nói - những con người từ Giôttô 8. đến
Maxaxiô 9. đã
từng tận tâm làm việc, tôi thấy lời ca ngợi phải khiêm tốn và cự thể. Trước hết,
phải giới thiệu họ trong sương thợ, trong cửa hiệu, nơi học song với tư cách những
nghệ nhân. Chính ở đấy, khi thấy họ lao động, người ta sẽ thưởng thức cái giản
dị và tài năng của họ. Họ vốn dốt nát và thô bạo. Họ chỉ biết chó thành phố
mình, thánh kinh và vài pho tượng cổ đổ nát mà họ nghiên cứu, vuốt ve một cách
âu yếm.
- Ông nói đúng - giáo sư Arishi tiếp lời - họ chỉ quan tâm sử
dụng những thủ pháp tốt nhất. họ căng hết đầu óc ra để luyện lớp hồ bên ngoài
và nghiền các thứ bột màu cho thật nhuyễn. Người nào nghĩ ra được cách dán một
tấm vải lên pano để tranh không bị nỉ theo gỗ lúc đó được xem là một con người
lỳ diệu, Mỗi bậc thầy đều có và giấu kín phương pháp và công thức của mình.
- Quả là một thời đại hạnh phúc - Đơsactrơ nối tiếp - lúc đó,
người ta không nghi ngờ tính độc đáo mà ngày nay chúng ta chạy đi tìm kiếm với
bao nỗi thèm khát. Người học việc cũng cố sức làm như người thầy. Anh ta chỉ có
tham vọng làm giống thầy, và nếu có khác biệt những người khác thì cũng không
phải cố tình. Họ làm việc không phải vì danh vọng mà là để sống.
- Họ có lý! - Sulet nói - không có gì tốt hơn là lao động để
sống.
- Họ không băn khoăn tìm cách lưu lại cho hậu thế - Đơsactrơ
nói tiếp – không hề biết quá khứ, họ cúng không quan niệm về tương lai, và ước
mơ của họ không vượt quá cuộc sống. Họ lo rèn luyện cho mình một ý chí mạnh mẽ.
Là những người giản dị, họ không lầm lẫn nhiều và tìm thấy chân lý mà sự thông
thái che khuấtchúng ta.
Sulet bắt đầu kể lại với bà Macmê việc ngày hôm đó ông ta vừa
mang thư giới thiệu của nữ hầu tước Đơ Riơ đến thăm quận chúa dòng họ Phrăngx.
Sulet thích thú tỏ cho người ta thấy ông ta, một kẻ lang thang vô lại, đã được
bà hoàng ấy đón tiếp trong lúc cô Ben cũng như nữ bá tước Mactanh khó có thể có
vinh dự đó. Hoàng thân Anbectinenli cũng hãnh diện đã được gặp quận chúa một
hôm trong một buổi lễ.
- Quận chúa làm những công việc từ thiện hết sức tỉ mỉ. - Anh
nói.
- Bà ấy vừa cao thượng vừa giản dị tuyệt vời! - Sulet tiếp lời
- Khi ở nhà, giữa đám vương tôn, mệnh phụ, bà buộc mọi người tuân thủ nghi thức
hết sức chặt chẽ để làm cho cảnh quyền quý của mình trở thành một cảnh khổ hạnh,
và sáng sáng, bà lau chùi đường đi trong nhà thờ. Đây là một ngôi nhà thờ làng,
nơi đi kiếm ăn của đàn gà mái, trong lúc ông linh mục thì chơi bài với người giữ
nhà thờ.
Cúi xuống mặt bàn, Sulet cầm một cái giẻ lau bắt chước bà quận
chúa ngồi lau mặt đường. Rồi ngẩng đầu lên, nghiêm trang nói:
- Sau một buổi chờ đợi phải phép trong những phòng khách kế
tiếp nhau, tôi được hôn bàn tay quận chúa.
Rồi lặng im.
Bà Mactanh sốt ruột hỏi:
- Rốt cuộc, bà ta nói gì với ông, cái bà quận chúa cao thượng
và giản dị tuyệt vời ấy?
- Bà ấy nói với tôi: “Ông đã đi thăm Phlôrăngx chưa? Người ta
cam đoan với tôi là gần đây, ở đó đã mở những cửa hiệu rất đẹp, buổi tối đèn
sáng rực”. Bà ấy lại còn bảo: “Ở đây chúng tôi có một ông dược sĩ khá lắm. Các
ngài dược sĩ ở Áo cũng không tốt hơn đâu. Cách đây sáu tuần, ông ta đắp vào
chân cho tôi một miếng cao dán mà đến nay vẫn không bị bong ra”. Đấy là những lời
Mari-Têredơ hạ cố nói với tôi. Ôi, tấm lòng cao thượng giản dị, ôi, đức độ Cơ đốc
giáo! Ôi, người con gái thánh Lui! Ôi, tiếng vang vọng diệu kỳ của Elidabet rất
thánh của Hunggari! 10.
Bà Mactanh mỉm cười. Nàng cho là Sulet đùa. Nhưng ông ta giận
dữ phản đối. Và Ben cho là nàng sai lầm. Theo cô, người Pháp có thiên hướng
nghĩ rằng lúc nào người ta cũng đùa.
Mọi người quay trở lại các quan niệm về nghệ thuật là những vấn
đề “cơm bữa” ở Ý.
Tôi không đủ thông thái để chiêm ngưỡng Giôttô và trường phái
của ông. - Nữ bá tước Mactanh nói - Cái làm tôi ngạc nhiên là tính nhục cảm của
nghệ thuật thế kỷ XV mà người ta gọi là nghệ thuật Cơ đốc giáo. Tôi chỉ thấy sự
kịch tin và trong sáng trong tranh của Phra Ănggiêlicô 11. trong
lúc chúng vẫn rất đẹp. Còn nữa, tượng gái đồng trinh và thiên thần đều mang vẻ
mơn trớn, khêu gợi nhục cảm và có khi lại có vẻ ngây thơ một cách đồi bại. Có
gì là thành kính ở các pho tượng đạo sĩ trẻ, đẹp như phái đẹp, ở tượng thánh
Xêbaxchiêng tràn đầy sức thanh xuân và giống như thần Bacuyx đau khổ của đạo Cơ
đốc?
Đơsactrơ đáp anh cũng nghĩ như nàng và cả hai người, nàng và
anh, đều có lý vì Xavônarôn 12. tán
thành ý kiến của họ và muốn đốt hết các công trình nghệ thuật vì không một công
trình nào mang vẻ kính tin. Anh nói:
- Ở Phlôrăngx, vào thời Manphret huy hoàng 13. nửa
theo đạo Cơ đốc nửa theo đạo Hồi, đã có những người thuộc môn phái
Êpiquya 14. tìm
kiếm luận chứng phản bác sự tồn tại của Thượng đế. Nhà thơ Ghiđô
Cavancăngti 15. khinh
miệt những kẻ dốt nát tin vào linh hồn bất tử. Người ta nhắc lại câu nói của
ông: “Cái chết của con người cũng hoàn toàn giống nh cái chết của loài thú”. Và
về sau bầu không khí trong nhà thờ Thiên Chúa giáo trở nên âu sầu khi xuất hiện
tranh ảnh ca ngợi vẻ đẹp của những người đã chết tthời kỳ xa xăm. Các họa sĩ
làm việc trong các nhà thờ và tu viện đều không sùng đạo và cũng không tinh khiết.
Lơ Pêruyganh 16. là
một người vô thần, ông không giấu giếm điều đó.
- Vâng, - Ben đáp - nhưng người ta bảo ông ấy có cái đầu cứng,
và những chân lý về Thượng đế không thể xuyên qua cái sọ dày cộp của ông ta.
Ông ta tham lam và bủn xỉn, hoàn toàn chìm đắm vào những quyền lợi vật chất, chỉ
lo việc mua nhà, tậu cửa.
Giáo sư Arighi bênh vực Piêtrô Vanuyxi ở Pêrudơ:
- Piêtrô là một người liêm khiết. Một tu viện trưởng ở
Phlôrăngx đã hoàn toàn sai lầm khi ngờ vực ông. Vị tu viện trưởng ấy vốn có nghệ
thuật nghiền đá đã nung thành vôi để làm ra bột bích ngọc. Bột này lúc đó trị
giá ngang vàng; và ông ta nhờ Piêtrô Vanuyxi trang trí hai căn buồng tu viện và
chờ đợi những điều kỳ diệu từ tài ba của người họa sĩ bậc thầy ít hơn là từ bản
thân chất bột bích ngọc quý giá. Trong suốt thời gian họa sĩ tái hiện cuộc đời
Giêsu bằng đường nét, nhà tu hành đứng bên cạnh để đích thân đưa thứ bột quý đựng
trong một cái túi nhỏ mà ông ta không rời ra một phút. Piêtrô lấy bột dưới mắt
của chủ nhân và trụng bút vẽ đã nhúng bột vào một lọ đựng đầy nước, trước khi
quét lên tường. Bằng cách đó, ông phải dùng một lượng bột lớn. Thấy túi bột vơi
dần, nhà tu hành thở dài: “Lạy Chúa! Thứ vôi này ngốn hết không biết bao nhiêu
là bột ngọc thạch!”. Sau khi hoàn thành các bức bích họa và nhận số tiền công
đã thỏa thuận, họa sĩ đặt vào tay nhà tu hành một gói bột màu xanh: “Thưa cha,
cái này là của cha. Bột bích ngọc mà tôi lấy bằng bút vẽ rơi xuống đáy lọ và mỗi
ngày tôi thu hồi lại. Tôi xin trả lại cha. Cha nên tập tin cậy những con người
lương thiện.”
- Ồ! - Têredơ nói - Lơ Pêruyganh vừa biển lận vừa liêm khiết,
cái đó không hề có gì là lạ cả. Không phải bao giờ những kẻ vụ lợi cũng là những
người ít lương thiện hơn hết. Vẫn có nhiều kẻ biển lận lương thiện chứ!
- Dĩ nhiên, Darling! - Ben đáp - Kẻ biển lận không muốn
mắc nợ, còn người vung phí thì rất thích thú chịu nợ. Họ không hề nghĩ đến số
tiền họ có và càng ít nghĩ hơn tới tiền họ thiếu nợ. Tôi không bảo Piêtrô
Vanuyxi ở Pêrudơ là một người không liêm khiết. Tôi chỉ nói ông ta có cái đầu cứng,
và mua nhà, mua nhiều nhà. Tôi rất vui mừng ông ta đã trả bột bích ngọc cho ông
tu viện
- Vì Piêtrô của cô giàu có - Sulet nói - nên ông ta phải trả
lại bột bích ngọc. Về mặt đạo đức, người giàu bắt buộc phải liêm khiết; còn người
nghèo thì không.
Vào lúc ấy, người đầu bếp đưa lên một cái bình khắc chạm đặt
trong chiếc chậu lớn bằng bạc và một cái ly hai đáy để khách dùng sau bữa ăn
theo tập quán xưa.
Nhưng Sulet không đụng tay vào, lấy cớ không muốn làm tí nào
cái cử chỉ của Pilat 17, nhưng thực ra vì ông ta không muốn rửa
tay.
Và ông ta đứng dậy, vẻ dữ dằn, đi theo sau Ben lúc đó khoác
tay giáo sư Arighi bước ra khỏi phòng ăn.
Trong phòng khách, trong lúc mời mọi người uống cà phê, Ben hỏi:
- Thưa ông Sulet, vì sao ông lại bắt chúng tôi phải chịu đựng
những nỗi buồn bã man rợ của sự bình đẳng? Vì sao? Ống sáo của Đaphơnix 18. không thể réo rắt được đến thế nếu nó được
làm bằng bảy đoạn sậy bằng nhau. Ông muốn phá hỏng sự hài hòa đẹp đẽ giữa thầy
và tớ, giữa giới quý tộc và thợ thủ công. Ồ! Ông là một người dã man đấy, ông
Sulet ạ. Ông xót thương những người nghèo khổ nhưng lại không xót thương nữ thần
Nhan sắc tuyệt vời mà ông lưu đày ra khỏi thế gian này. Ông xua đuổi thần, thưa
ông Sulet, ông phủ nhận thần trong cảnh trần trụi và đang khóc than. Ông cứ yên
trí là thần không ở trên trái đất này chừng nào tất cả những con người bé nhỏ tội
nghiệp đều ốm o, dốt nát. Ồ! Kẻ nào làm tan rã cái nhóm do những con người có địa
vị khác nhau, hèn mọn lẫn cao sang, lập nên một cách tài tình trong xã hội, thì
kẻ đó là kẻ thù của người nghèo cũng như của người giàu, là kẻ thù của nhân loại.
- Kẻ thù của nhân loại! - Sulet vừa đáp vừa cho đường vào cà
phê - Chính Rômanh sắt đá đã từng gọi như vậy những tín đồ đạo Cơ đốc giảng giải
cho ông về tình yêu.
Trong lúc đó, ngồi cạnh Mactanh-Benlem, Đơsactrơ hỏi nàng về
thị hiếu nghệ thuật và sắc đẹp ủng hộ, khêu gợi, khích lệ những sự ngưỡng mộ của
nàng, thỉnh thoảng lại thôi thúc nàng, lời lẽ vừa đột ngột vừa mơn trớn. Anh muốn
nàng thấy tất cả những gì anh thấy, yêu tất cả những gì anh yêu.
Anh cũng không kém thiết tha mong ước hễ vào đầu xuân là nàng
đi thăm các vườn hoa. Anh hình dung nàng đứng trên những bậc cao ánh nắng lấp
lánh sau gáy và trên tóc, bóng râm những cây trúc đào tỏa xuống tận mắt nàng.
Theo anh, đất trời Phlôrăngx chỉ để làm vật trang sức cho người thiếu phụ này.
Anh ca ngợi cách trang phục giản dị, phong thái dịu dàng và
những đường nét hiện lên duyên dáng theo mỗi cử chỉ của nàng. Anh thổ lộ là anh
ưa lối trang phục sống động, uyển chuyển, tinh tế và thoải mái của nàng mà anh
rất hiếm thấy và không thể nào quên.
Nàng chưa bao giờ được nghe những lời làm nàng vui thích đến
thế. Nàng biết mình ăn bận rất khéo, với một phong cách táo bạo và chững chạc.
Nhưng về mặt này trừ cha nàng ra chưa một người đàn ông nào tỏ với nàng những lời
khen của một kẻ sành sỏi. Nàng cho là đàn ông chỉ có thể cảm nhận tác động của cách
ăn mặc chứ không thể hiểu những chi tiết tinh tế trong đó. Một vài người am hiểu
về trang phục phụ nữ thì làm nàng thất vọng vì dáng điệu ẻo lả và phong cách
đáng ngờ. Nàng đành phải để cho giới nữ đánh giá cách ăn bận trang nhã của
mình, nhưng họ có đầu óc hẹp hòi, ác ý và ganh ghét. Lối ca ngợi có tính nghệ
sĩ và tính đàn ông của Đasactrơ làm nàng ngạc nhiên và thích thú. Nàng khoan
khoái nhận những lời ngợi khen ấy và không hề nghĩ là quá thân mật và hầu như
thô lỗ.
- Ông ngắm nghía trang phục của phụ nữ hay sao, ông Đasactrơ?
Không, anh không hề ngắm. Anh thấy rất ít phụ nữ khéo ăn mặc,
kể cả ngày nay, khi họ trang phục lịch sự hơn bao giờ hết! Anh không ưa nhìn những
người ăn mặc xoàng xĩnh. Nhưng hễ một thiếu phụ đường nét uyển chuyển đi qua là
anh cầu Chúa phù hộ cho nàng.
Anh nói tiếp, giọng cất cao hơn chút ít:
- Hễ nghĩ tới người phụ nữ hàng ngày chăm chút tô điểm là tôi
không thể không suy ngẫm về bài học quan trọng họ nén lên cho các nghệ sĩ. Họ sửa
sang quần áo, tóc tai không mất hết bao nhiêu thì giờ, và công sức đó không bị
bỏ phí. Cũng như họ, chúng tôi phải tô điểm cuộc đời mà không nên nghĩ tới
tương lai. Vẽ, khắc, viết cho thế chỉ là một sự kiêu ngạo dại dột.
- Ông Đơsactrơ, - hoàng thân Anbectinenli hỏi - ông nghĩ thế
nào về một chiếc áo choàng màu hoa cà lấm chấm những bông hoa bạc đối với cô
Ben?
- Riêng tôi, - Sulet nói - tôi rất ít nghĩ tới tương lai trần
thế nên tôi chép những bài thơ hay nhất của mình trên giấy cuốn thuốc lá. Giấy
sẽ bị tiêu hủy, chỉ để lại cho thơ một thứ đời sống siêu hình.
Đấy chỉ là một vẻ cẩu thả giả tạo. Thực ra, ông ta chưa bao
giờ để mất một dòng chữ. Đơsactrơ thành thực hơn. Anh không hề muốn lưu danh.
Ben cự nự anh về cái đó.
- Ông Đơsactrơ này, muốn cho cuộc sống lớn lao và tràn đầy
thì phải đưa vào trong đấy cả quá khứ lẫn tương lai. Các công trình thơ ca và
nghệ thuật của chúng ta phải nhằm ca ngợi những người đã mất và nghĩ tới những
thế hệ sẽ ra đời. Và như thế, chúng ta góp phần vào cái đã tồn tại, đang tồn tại
và sẽ tồn tại. Ông không muốn bất tử sao, ông Đơsactrơ? Ông hãy cẩn thận đừng để
lọt đến tai Thượng đế.
Anh đáp:
- Tôi chỉ cần sống một lúc nữa là đủ.
Rồi cáo từ, hẹn hôm sau đến sớm để đưa bà Mactanh đến nhà thờ
Brăngcaxi.
Một tiếng sau, trong buồng ngủ trang trí theo đúng phong cách
thẩm mỹ, với những tấm thảm dệt hình những cây chanh trĩu quả chín vàng như một
cánh rừng thần tiên, Têredơ nằm nghỉ, cánh tay trần nõn nà đặt trên gối. Nàng
mơ màng dưới ánh đèn và thấp thoáng thấy hiện lên hình ảnh cảnh đời hiện nay của
mình. Nàng thoáng thấy Vivian Ben giữa đám chuông lớn, chuông bé, thấy những bức
tượng tiền Raphaen 19. lả lướt như những cái bóng: tượng các vị
phu nhân, tượng các chàng kỵ sĩ cô đơn, lạnh lùng, vẻ mặt âu sầu đăm đăm nhìn về
phía trước giữa những cảnh tượng thành kính nên càng dễ thương và thân thiết
trong một trạng thái uể oải dịu dàng. Nàng cũng thoáng thấy hiện lên buổi tối ở
biệt thự Phidơn, hoàng thân Anbectinenli, giáo sư Arighi và Sulet, nhớ lại những
lời nói linh hoạt, những ý tưởng chuyển động một cách kỳ cục. Nàng nhớ lại
Đơsactrơ, ánh mắt trẻ trung trên khuôn mặt có phần mệt mỏi, dáng vẻ người Phi với
nước da nâu sẫm và chòm râu cằm nhọn hoắt.
Nàng thầm nghĩ anh có trí tưởng tượng tuyệt vời, có tâm hồn
phong phú hơn tâm hồn tất cả những người đã từng tâm tình với nàng, có một sức
cuốn hút nàng không cưỡng lại được. Lúc đầu, nàng thấy anh có tài làm người
khác vui lòng. Giờ đây, nàng thấy anh có ý muốn đó. Ý nghĩ ấy thật êm ái, nàng
nhắm mắt lại như để giữ chặt nó trong lòng. Rồi đột nhiên nàng giật mình.
Trong tận chiều sâu bí ẩn của con người mình, nàng bỗng cảm
thấy một sự choáng váng đau đớn. Một cách bất ngờ, đột ngột, nàng thoáng thấy
người yêu, nách cắp súng đi trong rừng. Trong rừng sâu, chân anh bước chắc nịch,
đều đặn. Việc nàng không nhìn thấy rõ nét mặt anh khiến nàng bối rối. Nàng
không giận anh nữa, không bất mãn đối với anh nữa. Giờ đây, chính nàng bất mãn
đối với bản thân mình. Và Rôbe đi thẳng về phía trước không quay đầu lại, đi
xa, xa mãi, cho tới khi chỉ còn là một chấm đen li ti trong cánh rừng cô tịch.
Nàng cảm thấy mình thô bạo và nhõng nhẽo, phũ phàng ra đi không một lời từ biệt,
thậm chí không một dòng thư. Anh là người yêu, người yêu duy nhất của nàng.
Nàng chưa bao giờ có một người yêu nào khác. Nàng nghĩ bụng: “Mình không muốn
anh đau khổ vì mình”.
Dần dà, nàng trấn tĩnh lại. Dĩ nhiên anh yêu nàng nhưng anh
không thật nhạy cảm, và may sao ít băn khoăn, ít tìm cách tự giày vò mình. Nàng
nghĩ bụng: “Anh ấy đi săn. Anh hài lòng. Anh đến thăm bà dì Đơ Lanoa, anh thả sức
ca ngợi…”. Nàng trở lại yên tâm và thích thú với những cảnh đẹp Phlôrăngx.
Trong lúc một mình đến thăm Lâu đài Opphix 20, nàng ngỡ là bức vẽ Hecquyn của Angtôniô
Pôlaiơlô 21, ngay từ đầu đã kích thích trí tò mò của
mình. Nhưng thực ra, nàng chỉ chú ý tới nó vào hôm, trong lúc nói chuyện,
Đơsactrơ tình cờ ca ngợi bức vẽ về cái vẻ khỏe khoắn của đường nét cái mỹ lệ của
phong cảnh và cái hấp dẫn của ngòi bút phối hợp mảng sáng - mảng tối, khiến người
ta linh cảm được nghệ thuật của Vanhxy. Và giờ đây, nhớ không rõ bức vẽ Hecquyn
ấy, nàng hết sức nóng lòng đi thăm lại. Nàng tắt đèn, nằm ngủ.
Gần sáng, nàng nằm mơ gặp Rôbe Lơ Mênin trong một ngôi nhà thờ
vắng vẻ. Anh khoác một chiếc áo lông thú chưa bao giờ nàng thấy anh mặc. Anh chờ
nàng, nhưng một đông linh mục và tín đồ đột ngột xuất hiện và tách họ ra. Nàng
không biết sau đó anh ra sao. Nàng không được thấy mặt anh và vì thế nàng lo lắng.
Tỉnh giấc, nàng nghe qua ô cửa sổ tối hôm qua không đóng, một tiếng kêu nhỏ,
đơn điệu và buồn bã, và thấy trong ánh bình minh bàng bạc một cánh én bay qua.
Nàng khóc, không duyên cớ, không lý do.
Chú thích:
|
1. |
Leeona Đơ vanhxy, thế kỷ 15-16 nhà danh họa người Italia
trường phái Phlơrăngx |
|
2. |
Lâu đài nổi tiếng ở Phlôrăngx của dòng họ Pitti thế kỷ 15 |
|
3. |
Dòng họ lừng danh trị vì ở Ph lô rawngxx trong nhiều thế kỷ,
vốn khuyến khích sự phát triển của văn học nghệ thuật |
|
4. |
Lâu đài thuở trước của dòng họ Mêđixix ở phlôrăngx |
|
5. |
Họa sĩ Italia sinh ở Phlôrăngx, thế kỷ 15 |
|
6. |
Một dòng họ nổi tiếng ở Italia, quê quán vùng Rimini |
|
7. |
Nhà kiến trúc, điêu khắc và hội họa Italia, sinh ở
Phlơrăngx, thế kỷ 14-15 |
|
8. |
Họa sĩ ở Phlơrăngx, thế kỷ 18-19 |
|
9. |
Họa sĩ ở Phlơrăx, thế kỷ 15 |
|
10. |
Con gái vua Hunggari được phong thánh, thế kỷ 13. |
|
11. |
Họa sĩ Italia, thế kỷ 15. |
|
12. |
Nhà thuyết giáo ở Phlôrăngx bị thiêu sống vì bị quy tội tà
giáo, thế kỷ 15. |
|
13. |
Vua đảo Xixin, một đảo lớn trên Địa Trung Hải. |
|
14. |
Triết gia Hy Lạp, thế kỷ 13 trước C. N., đề xướng chủ nghĩa
khoái lạc. |
|
15. |
Nhà thơ Italia, thế kỷ 13. |
|
16. |
Piêtrô Vanuyxi Lơ Pêruganh, danh họa Italia, thế kỷ 15 -
16. |
|
Theo truyền thuyết, Pilat là thống đốc xứ Giruyđê (vùng
Palextin ngày trước) vào thế kỷ 4. Tuy biết Giêsu vô tội, ông ta vẫn nạp Người
cho tòa án tôn giáo. Để đổ lỗi giết Chúa cho người Do Thái, Pilat cho mang nước
tới và vừa rửa tay vừa tuyên bố: “Ta vô can về cái chết của con người chính
trực này; chính các người phải chịu lấy trách nhiệm”. |
|
|
Theo huyền thoại, Đaphơnix, một người chăn cừu ở Xixin, là
cha đẻ của nền thơ ca điền viên |
|
|
Vào nửa sau thế kỷ 19, nổi lên một học thuyết thẩm mỹ cho rằng
hội họa đạt tới tuyệt đỉnh trước Raphaen (danh họa của trường phái La Mã thế
kỷ 15 - 16). |
|
|
Lâu đài ở Phlôrăngx, xây dựng trong thế kỷ 16 để làm cơ
quan hành chính, về sau dùng làm khu triển lãm tranh, tượng. |
|
|
Nhà kiến trúc và hội họa Italia, sinh ở Phlôrăngx, thế kỷ
15. |
XI. Từ sáng sớm, lòng nàng khấp khởi. Ngồi trong phòng trang điểm,
nàng chăm chút y phục cho thật trang nhã. Với những bộ phận sành sứ tráng men
thô sơ, những chiếc bình lớn bằng đồng và nền lát gạch vuông, phòng trang điểm
giống như một căn bếp, nhưng là một căn bếp thần tiên, vừa dân dã vừa diệu kỳ.
Nữ bá tước Mactanh ngạc nhiên một cách thú vị trước “sáng kiến” mỹ thuật này của
Vivian Ben và ngỡ mình là nàng công chúa Da lừa 1.
Pôlin, cô gái hầu phòng, chải tóc cho nàng trong lúc nàng lắng nghe Đơsactrơ và
Sulet chuyện vãn phía ngoài cửa sổ. Nàng xõa tóc ra, chải lại hoàn toàn, táo bạo
để lộ những đường nét trên cái gáy nõn nà. Nàng soi gương một lần cuối rồi bước
ra vườn.
Khu vườn trồng thông đỏ như một nghĩa trang yên tĩnh. Ánh mắt
hướng về Phlôrăngx, Đơsactrơ đọc thơ Đăngtơ:
“Khi thoát khỏi những miền nhục cảm…”
Bên cạnh anh, Sulet ngồi thõng hai chân trên lan can hàng
hiên và cúi gập xuống khắc hình Thần nghèo khổ lên cây gậy đường trường của
mình.
Đơsactrơ đọc lại mấy dòng thơ:
“Khi thoát khỏi những miền nhục cảm
Khi xa rời những nỗi ưu tư
Tâm hồn ta bay tới hư vô…”
Nàng che dù đi tới, dọc theo dây hoàng dương, trong tấm áo
dà. Trời mùa đông êm dịu tỏa ánh nắng vàng nhạt.
Đơsactrơ chào nàng, không che giấu nổi niềm vui.
Nàng nói:
- Tôi không được biết những lời thơ ông đọc. Tôi chỉ biết
Mêtaxtadơ 2.
Giáo sư tiếng Ý của tôi rất thích và chỉ thích Mêtaxtadơ. Bao giờ thì “tâm hồn
ta bay tới hư vô”, thưa ông?
- Vào buổi bình minh, thưa bà. Và có lẽ cũng là bình minh của
lòng tin và tình yêu.
Sulet không tin là nhà thơ muốn nói tới những giấc mơ buổi
sáng thường để lại ấn tượng rất mạnh mẽ, đôi khi cũng thật xót xa, những giấc
mơ không xa lạ đối với nhục cảm. Nhưng Đơsactrơ chỉ đọc những câu thơ ấy khi
nhìn thấy ánh bình minh hiện lên rực rỡ trên những ngn đồi vàng hoe sáng nay.
Đã từ lâu, anh băn khoăn về những hình ảnh đến trong giấc ngủ, cho là chúng
không dính dáng tới điều người ta thường nghĩ đến nhiều nhất, mà trái lại, tới
những ý tưởng người ta xa lánh lúc ban ngày.
Têredơ nhớ lại giấc mơ sáng nay, nhớ lại hình ảnh người đi
săn bị lạc trong rừng sâu.
- Vâng, - Đơsactrơ nói - những cái ta nhìn thấy ban đêm,
chính là dư âm khốn khổ của những cái ngày hôm trước ta không hề chú ý. Giấc mơ
thường là sự phục thù của những cái ta khinh miệt hay sự trách móc của những
con người bị ta bỏ rơi. Giấc mơ bởi vậy thường bất ngờ và đôi khi buồn bã.
Trầm ngâm một lát, nàng nói:
- Có lẽ đúng như vậy.
Rồi sôi nổi hỏi Sulet đã khắc xong Thần nghèo khổ lên nuốm
chiếc gậy đường trường của ông ta chưa. Tượng Nữ thần đã biến thành một
Pieta 3,
và Sulet nhận ra trong đó chân dung Đức bà. Ông ta còn làm một bài thơ tứ tuyệtc
theo đường xoắn ốc ở phía dưới chân dung, bài thơ mang tính giáo huấn về luân
lý. Ông ta chỉ thích làm những câu thơ Pháp theo phong cách những lời giáo huấn
của Chúa. Bốn câu thơ viết theo lối giản dị đó:
Chân Thánh giá, tôi ngồi than khóc
Hãy cùng tôi yêu, khóc và tin
Dưới cây nhân đức lành hiền
Bóng trùm hết thảy mọi miền nhân gian.
Cũng như hôm mới tới, Têredơ đứng tựa lan can hàng hiên, mắt
dõi theo chốn xa xăm, tận chân trời rực sáng, nhìn nóc nhà tu viện Vanlôngbrôdơ
cao vút lung linh chẳng khác vầng dương. Đơsactrơ nhìn nàng. Anh ngỡ mới gặp
nàng lần đầu tiên vì tìm thấy vẻ âu sầu trên khuôn mặt mà tác động của cuộc sống
và hoạt động của tâm hồn có ghi dấu ấn nhưng vẫn không làm giảm vẻ duyên dáng
trẻ trung và tươi mát. Ánh nắng mặt trời - mà nàng yêu thích - như ủng hộ nàng.
Và quả là nàng đẹp, đắm mình trong bầu không khí nhẹ nhỏm của Phlôrăngx, nó mơn
trớn những đường nét kiều diễm và ấp ủ những ý tưởng thanh cao. Trên khuôn mặt
đầy đặn, thoáng một chút ửng hồng tươi mát. Cặp mắt màu xanh nhạt tươi cười.
Nàng nói, để lộ hai hàm răng láng bóng vừa dịu dàng vừa nồng nàn. Anh nhìn, một
cái nhìn như ôm ấp lấy tấm thân tròn đầy và uyển chuyển của nàng. Tay trái nàng
cầm dù, tay phải vuốt ve mấy cành viôlet. Đơsactrơ yêu say mê những bàn tay đẹp.
Bao giờ anh cũng thấy bàn tay có một diện mạo đáng chú ý như nét mặt, có tính
cách, có tâm hồn. Đôi bàn tay nàng làm anh say mê. Chúng vừa gợi dục cảm vừa gợi
xúc cảm. Anh thấy chúng như trần trụi và khoái lạc. Anh say mê những ngón tay
nàng thon thả, những móng tay nàng màu hồng, lòng bàn tay nàng đầy đặn và mềm mại
với những đường nét thanh tú xuyên qua những đường uốn khúc và tạo thành ở đầu
ngón tay hình những đỉnh núi tí xíu xinh xắn. Anh say sưa nhìn ngắm cho tới khi
nàng nắm tay lại trên cán dù. Đứng hơi lui ra phía sau, anh lại vẫn nhìn nàng.
Nửa mình trên và hai cánh tay thon thả, thanh tú, cặp hông nở nang, đôi mắt cá
chân mảnh mai, tất cả trong thân hình cân đối của nàng đều làm anh hứng thú.
- Cái chấm đen ở tận kia là khu vườn Bôbôli phải không, ông
Đơsactrơ? Cách đây ba năm, tôi đã tới đấy. Lúc đó, vườn chưa có hoa. Thế mà
không hiểu vì sao tôi vẫn ưa thích nó với những thân cây cao lớn âu sầu.
Anh hầu như sửng sốt thấy nàng nói, nàng suy nghĩ. Âm thanh
trong trẻo trong giọng nói của nàng làm anh kinh ngạc như thể anh chưa nghe bao
giờ.
Anh bất giác trả lời và cố mỉm cười để che giấu niềm khao
khát dữ dội dâng lên rạo rực trong lòng. Anh tỏ ra vụng về, lúng túng. Nhưng
hình như nàng không nhận thấy. Nàng có vẻ hài lòng. Tiếng nói như xa xăm, huyền
ảo của anh vô tình mơn trớn nàng. Cũng như anh, nàng nói một cách tự nhiên:
- Cảnh đẹp quá và trời thật êm ả.
Chú thích:1. | Nàng công chúa nhan sắc tuyệt vời trong một tác phẩm thơ. Một
nhà vua hứa với hoàng hậu đang hấp hối là chỉ tục huyền với một công chúa
hoàn mỹ như bà ta. Nhưng chỉ có chính con gái họ mới đáp ứng được yêu cầu đó.
Để tránh loạn luân, công chúa đặt điều kiện không sao thực hiện được là phải
có một tấm da lừa kỳ diệu sản sinh ra những đồng tiền vàng. |
2. | Nhà thơ Italia, thế kỷ 18. |
3. | Bức tranh vô danh nổi tiếng ở điện Lơ Luvrơ (Pháp), nguồn
cảm hứng của nhiều tranh, tượng, thể hiện Đức bà. |


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét