Quê Nam một cõi 2
Chương Tám
Anh Vân, một chứng nhân lịch sử ưu tư qua
văn phẩm "Ác mộng đêm dài"
Anh Vân là một cây bút nhiệt tình với thời cuộc trong và
ngoài nước, với mỗi biến động của lịch sử. Anh cũng là một cây bút trữ tình,
tâm hồn rất bén nhạy với tình yêu đôi lứa, đôi khi tình yêu có lỡ trượt ngã vào
tình dục đi nữa, nhưng chẳng những tình yêu không dâm uế mà lại thắm thiết sắc
son tươi rực rỡ.
Quyển trường thiên Ác Mộng Đêm Dài là phản ảnh một giai đoạn lịch sử
từ những ngày tháng Miền Nam Việt Nam sắp rơi vào tay bạo quyền Cộng Sản cho tới
giai đoạn những nhân vật chánh hay một vài nhân vật nòng cốt trong truyện ra hải
ngoại. Ở nơi khách địa, kiều bào chúng ta hòa hợp vào cuộc sống xa lạ với người
bản xứ đã là khó khăn. Vậy mà còn vì nhiệt thành yêu nước, họ lại bị bọn tổ chức
kháng chiến ma với những cái tên Hoàng Cơ Định, Trần Xuân Ninh, Nguyễn Xuân
Nghĩa... và tên đầu sỏ Hoàng Cơ Minh đưa những kẻ hăm hở với đại cuộc vào cơn hỏa
mù để bọn chúng thu hoạch tiền yểm trợ do kiều bào đóng góp.
Sau đây là cốt truyện của tác phẩm tâm huyết Ác Mộng Đêm Dài
của Anh Vân. Nó chứng minh rằng tác giả là một nhà văn ưu thời mẫn thế trước những
khuynh hướng chính trị đảo điên ở hải ngoại.
Câu chuyện bắt đầu vào năm cận kề ngày Miền Nam Việt Nam bị làn sóng đỏ tràn ngập.
Lê Quốc Nam vốn là một sĩ quan tác chiến thuộc Sư Đoàn 9 Bộ Binh, được một tuần
lễ nghỉ phép, từ tiền đồn về tỉnh nhà Bạc Liêu thăm mẹ và thăm luôn Hiền người yêu
của chàng. Mẹ Nam là một phụ nữ có kiến thức, ham đọc sách, ưa suy nghĩ về vận
nước thăng trầm điên đảo. Bà có 5 người con. Cô Hai đã bỏ mạng trong kỳ Tổng Tấn
Công của Việt Cộng vào Tết Mậu Thân. Cậu Ba là một sĩ quan của ngành Cảnh Sát.
Cậu Tư và cậu Năm theo phía bên kia, tập kết ra Bắc sau Hiệp Định Genève; cậu
Năm chết dưới trận oanh tạc bom B 52 của Mỹ. Người con út của bà là Trung úy Lê
Quốc Nam.
Hiền là con của bà Ngởi và cũng là em củaVinh (bạn chí thân của Nam). Bà Ngởi
là quả phụ trẻ đẹp của một sĩ quan cao cấp. Khi chồng qua đời vì viên đạn thù,
bà vẫn phây phây giao thiệp phóng túng để móc nối với các sĩ quan cao cấp phe
Quốc Gia, để lươn lẹo buôn bán vũ khí cho Việt Cộng. Còn Vinh là một sĩ quan
phòng 1 (phòng Quân Số) của Tiểu Khu. Vinh không hay biết một chút gì về việc
làm tác tệ của mẹ. Nhưng Sử, sĩ quan Phòng Tình Báo Tiểu Khu, bạn chung của Nam
và Vinh biết đã có lần cho Nam biết được hành tung mờ ám của bà.
Rồi ngày chung cuộc Miền Nam Việt Nam tới. Vinh và Nam phải đi học tập cải tạo.
Sử không chịu đăng ký với ban Quân quản để đi học tập như mọi sĩ quan khác vì
chàng thừa biết một sĩ quan ngành tình báo như mình là kẻ thù không đội trời
chung của Cộng Sản; nếu chàng lọt vào tay chúng thì chàng chỉ có nước bị tù đày
tới chết rụt xương. Sử móc nối với tên cán bộ trưởng công an tỉnh tên là Tư Thống.
Tên này là chồng của người chị họ của Sử. Sử giúp hắn tổ chức các cuộc vượt
biên cho bọn Hoa Kiều để nhận vàng của họ. Chẳng nhũng chàng được Tư Thống chia
vàng mà còn cấp giấy chứng nhận chàng có công với cách mạng trước năm 1975.
Hiền một lòng chung thủy, đợi ngày Nam được phóng thích. Nhưng bà Ngởi vì muốn
bảo vệ tài sản của mình nên giao du với Tư Thống. Bà bắt buộc nàng thành hôn với
Bác sĩ Việt Công tên Đức, con trai của Tư Thống. Hiền phản đối mẹ và thường đến
nhà mẹ của Nam để chăm sóc cho bà. Về riêng phần mẹ của Nam thì thằng Ba trưởng
nam của bà cũng phải đi học tập cải tạo như Nam. Còn thằng Tư nhất định không
giúp Nam được phóng thích. Hắn viện lý do em Năm của hắn bị chết vì bom oanh tạc
của Mỹ, cậu út Nam đã làm tay sai cho Mỹ Ngụy thì Nam đắc tội với nhân dân, phải
trả nợ máu cho nhân dân. Từ đó tình mẹ con giữa bà mẹ và thằng con bên kia hàng
ngũ Quốc Gia coi như đoạn tuyệt.
Bà Ngởi và Hiền đi thăm nuôi Vinh. Bà tỏ ra lạnh nhạt với Nam. Riêng Hiền thì vẫn
thiết tha gắn bó với Nam. Rồi Vinh đuợc phóng thích trước Nam vì mẹ của Vinh có
công với cách mạng. Hỏi ra, Vinh mới biết việc làm tác tệ của bà Ngởi. Vinh nhục
nhã và đau khổ vô cùng.
Khi Nam được phóng thích thì bà Ngởi đổi thái độ tỏ ra niềm nở với Nam và có đến
thăm mẹ chàng. Sử rủ Vinh, Nam và Lan (một cựu nữ quân nhân) cũng đã đi học tập
cải tạo trở về cùng các bạn đồng chí khác lập một tổ chức kháng chiến chống bạo
quyền Cộng Sản. Lan yêu Nam với mối tình đơn phương. Sử cũng yêu thầm thương trộm
Lan nhưng không dám ngõ lời với Lan tâm sự bí ẩn của mình. Tổ chức kháng chiến
của họ trước hết lập mưu giải vây Hà, một thành viên của tổ cùng vợ con Hà. Gia
đình Hà bị bắt trong chuyến vượt biên và hiện giờ họ bị giam ở trạm kiểm soát
Sóc Đồn. Cuộc giải vây thành công, chẳng những cứu thoát Hà và vợ con Hà mà còn
giết vài tên địch. Nhưng Vinh phải thiệt mạng. Sử ra tay giúp Nam vượt biên để
tránh hậu hoạn vì địch đang truy nã Nam gắt gao.
Nam vượt biên vào hải phận Mã Lai và tấp vào Pulau Kapas. Lính Mã Lai vơ vét tiền
bạc và nữ trang của bạn đồng hành với chàng. Tại đây họ chờ ngày được đưa đến định
cư tại Đệ tam quốc gia. Và cũng tại Pulau Kapas, Nam có quen một cự quân nhân
tên Trạc vốn người thẳng thừng ruột ngựa, nhưng rất sáng suốt trong lãnh vực
tình hình thời cuộc và mọi biến chuyển tráo trở thuộc vấn đề chính trị đã và
đang xảy ra trên đất nước.
Mẹ Nam bệnh nặng, phải vào bệnh viện thì đã có Lan thăm nom chăm sóc. Bà qua đời
thì được bà Ngởi và Hiền chôn cất tử tế. Sử giúp Hiền vượt biên. Trên chuyến hải
trình, Hiền bị bọn hải tặc Thái Lan cưỡng hiếp tả tơi tới nỗi phải hôn mê bất tỉnh
và may mắn được người Tây phương đi trực hăng bay ngang qua đó đưa đến bịnh xá
dành cho người tị nạn ở trại Tanjung Unggat thuộc tỉnh Tanjung Pinang (Nam
Dương).
Bà Ngởi bị chiếm nhà. Sau cái chết của Vinh, bà căm thù bọn Cộng Sản tận xương
tủy nên không muốn tài sản của mình mà bao năm bà đã từng chắt chiu để rồi lọt
vào tay chúng. Bà phục rượu bọn chúng cho say rồi rưới xăng châm lửa đốt nhà và
tự thiêu trong đám cháy.
Sử bị Tư Thống nghi ngờ về vụ Sóc Đồn. Sau cuộc tranh biện với tên anh rể,
chàng trở về nhà thì bị bọn công an áo vàng sát hại. Trong cơn hấp hối, Sử đuợc
Lan ôm trong tay. Chàng ngõ lời yêu Lan. Lan mới khám phá ra rằng sau khi Nam
đi rồi, nàng cùng Sử hoạt động bên nhau, tấm can trường và sự thông minh quyền
biến của Sử đã chinh phục trái tim của nàng. Nàng chỉ kịp bảo rằng nàng cũng
yêu Sử thì Sử mỉm cười tắt nghĩ. Chàng chết trong niềm hạnh phúc cuối cùng.
Nam được định cư trên đất nước Hợp Chúng Quốc. Chàng vừa đi làm vừa đi học.
Chàng gặp lại Trạc, người bạn tâm đầu mà chàng đã gặp gỡ tại Pulau Kapas. Chàng
cũng có nhận thư của Lan báo tin mẹ chàng qua đời, nhận luôn lá thư của Hiền viết
từ Nam Dương, trong đó Hiền kể rõ nguồn cơn chuyện tai nạn ô nhục của nàng.
Chàng làm giấy bảo lãnh để Hiền qua Mỹ sum họp cùng chàng.
Hiền được tái ngộ cùng Nam, được sống những ngày hạnh phúc diễm ảo với chàng.
Trong dịp từ Tanjun Pinang qua Sinapour, để rồi sau cùng đến San Francisco, Hiền
gặp Quỳnh, một cô bạn đường cùng đến định cư trên đất Mỹ. Cả hai mến nhau, để rồi
sau này cả hai kết làm chị em với nhau. Quỳnh kết hôn với Dương, chủ thầu may
quần áo, nên Hiền có việc làm để phụ giúp chồng trong việc chi tiêu.
Trong khi chờ đợi cùng Hiền sum họp, Nam và Trạc nghe được tin cựu Trung Tá An
Ninh Quân Đội Lục Phương Ninh thành lập tổ chức kháng chiến với cái tên Lực Lượng
Quân Nhân Việt Nam Hải Ngoại (về sau đổi lại là Lực Lượng Quân Dân Việt Nam Hải
Ngoại) có những khuông mặt "vĩ đại" quen thuộc như Đại Tá Phạm Văn Liễu,
Đại Tá Trần Minh Công, Đề Dốc Hoàng Cơ Minh, Tướng Nguyễn Chánh Thi bên cạnh.
Trạc và Nam đi San Diego dự lễ tuyên thệ và xin gia nhập vào lực lượng. Chưa
chi mà đã có sự phân hóa trong hàng ngũ lực lượng. Lục Phương Ninh muốn theo
cánh Trương Như Tảng, một tên đầu sỏ trong Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam bị đá
đít ra hải ngoại, muốn tìm sự giúp đỡ của Trung Cộng. Bị Hoàng Cơ Minh phản đối,
Lục Phương Ninh ra quyết nghị khai trừ 6 tên đầu não: Phạm Văn Liễu, Trần Minh
Cong, Hoàng Cơ Minh, Nguyễn Chánh Thi, Lê Hồng, Lê Văn Trực.
Hoàng Cơ Minh cùng nhóm người bị Lục Phương Ninh sa thảy nhảy ra thành lập Mặt
Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam có Phạm Văn Liễu năm vai trò Tổng
Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại, nhưng tiền bạc kiều bào yểm trợ thì lọt vào tay
Hoàng Cơ Định, em ruột của Minh (tên nay giữ chức Vụ Truởng Vụ Tài Chánh kiêm
chức vụ Tổng Thư Ký Tổng Vụ Hải Ngoại).
Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam phát triển nhanh chóng làm
rúng động kiều bào khắp bốn phương trời hải ngoại . Nhưng lần lần nó lộ bộ mặt
hư ngụy ra. Cuốn video Đồng Tiến trình chiếu cho kiều bào xem tại Nam
California đã cho kiều bào nào có óc nhận xét tinh tế như Trạc và Nam thấy các
hoạt động của kháng chiến là một sự dàn cảnh cẩu thả vụng về. Cái căn cứ kháng
chiến không phải ở trong rừng núi Việt nam mà ở bên này phần đất Thái Lan. Các
kháng chiến quân chỉ là người Thái hay người Lào. Tuy vậy mà đa số kiều bào vẫn
tin là thật, vẫn tặng tiền yểm trợ xối xả. Từ đó, những ai mà lớn tiếng công
kích cái dổm dang, dối láo của tổ chức mặt trận như ký giả Đạm Phong, vợ chồng
Lê Triết, Hoài Điệp Tử, Cao Thế Dung đều bị ám sát. Chỉ có Cao Thế Dung không bị
thiệt mạng mà thôi.
Trạc biết được cái lươn lẹo bất chánh của gia đình họ Hoàng Cơ. Nhưng Nam không
tỏ thái độ bất tín nhiệm mặt trận một cách minh bạch và dứt khoát như Trạc.
Nhân dịp cựu Trung Tá Lê Hồng với cái tên mới là tướng Đặng Quốc Hiền và với chức
vụ Tư Lệnh Lực Lượng Võ Trang từ Thái Lan về Cali báo cáo tình trạng kháng chiến
thì Nam đi dự cuộc diễn thuyết của tên Đặng Quốc Hiền kia và theo hắn vào chiến
khu, sau khi điện thoại từ giã vợ. Hiền không biết chồng mình đi vào ngày nào.
Nàng vẫn làm việc cho xưởng may của vợ chồng Dương, sống ấm áp trong gia đình bạn,
theo dõi tin tức mặt trận cho tới lúc nó tan rã thanh bọt thành bèo, ghi vết
nhơ nhuốc trên lịch sử định cư của kiều bào khắp bốn phương trời hải ngoại.
Hiền sinh được đứa con trai đặt tên là Lê Quốc Việt. Nàng nhận được lá thư nặc
danh mà tác giả bức thư ấy xưng là bạn của Nam, báo tin Nam cùng Hoàng Cơ Minh
đã tử trận trong chiến dịch Đồng Tiến II vào ngày 28/08/1987. Nàng nhờ Quỳnh điện
thoại tới Văn PhòngTổng Vụ Hải Ngoại thì bên kia đầu dây điện thoại có người
không chịu xưng tên và chức vụ của hắn trong mặt trận cho biết rằng đó la cái
tin vịt do Cộng Sản tung ra để phá rối mặt trận, rằng Nam vẫn khỏe mạnh, vẫn
chiến đấu bên cạnh Hoàng Cơ Minh.
Hiền tuy ghét Hoàng Cơ Minh và mặt trận của hắn, nhưng vẫn tin Nam vẫn còn sống.
Nàng chiều chiều ra bờ biển để ôn lại những ngày sống hạnh phúc bên Nam và kiên
quyết đợi chàng trở về sum họp với nàng.
Cái thọ mạng của kế hoạch bòn tiền của kiều bào qua danh xưng Mặt Trận Quốc Gia
Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam do bè lũ Hoàng Cơ Minh chủ trương đã kết thúc
như sau:
Thế rồi sau ngày ký Quyết Định cách chức Tổng Vụ Trưởng Tổng Vụ Hải Ngoại Phạm
Văn Liễu, chỉ mười tám ngày sau, tức là ngày 29 tháng 12 năm 1984, ngày Đại Hội
toàn bộ đoàn viên của Mặt Trận do Phạm Văn Liễu và Trần Minh Công triệu tập tại
Santa Ana, trình bày về quỹ kháng chiến cho các đoàn viên. Sau phiên họp, coi
như Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam tan vỡ, lòng nhiệt thành của
các đoàn viên, những đứa con yêu của tổ quốc tan vỡ, giấc mơ nhìn thấy một nước
Việt Nam tự do, hạnh phúc, thoát đuợc tai ách cộng sản của người Việt tị nạn
tan vỡ, giấc mơ của những bà mẹ già được nằm xuống trên mảnh đất quê hương yêu
quý ngàn đời tan vỡ, chỉ riêng tiền quỹ kháng chiến đã bỏ vào túi gia đình họ
Hoàng Cơ còn nguyên. Người thắng lớn trong trận đánh nầy là Phan Vụ Quang tức
Hoàng Cơ Định, em ruột Hoàng Cơ Minh. Người vô tình hay cố ý đã làm lợi cho Việt
cộng trong việc phá vỡ Mặt Trận là Nguyễn Xuân Nghĩa. Lòng tin của người Việt tị
nạn cộng sản, thêm một lần nữa bị Mặt Trận Hoàng Cơ Minh bị chà đạp tan tành.
(trang 772)
Nguyễn Xuân Nghĩa là cháu của tên Mười Cúc, tức là Nguyễn Văn Linh. Tên Linh
này là Tổng bí thư của đảng Cộng Sản. Dưới chánh thể Đệ nhị Cộng Hòa, Nghĩa đã
từng làm phụ tá cho Tổng truởng kinh tế ngân hàng. Sau ngày miền Nam lọt vào
tay bọn Cộng Sản miền Bắc, Nghĩa không đi học tập cải tạo. Y ta cho mọi người
quen biết rằng bọn Cộng Sản muốn khai thác kiến thức về ngân hàng của y ta nên
tạm dùng y ta, tha cho y ta cảnh tù tội. Trong mặt trận của bè lũ Hoàng Cơ
Minh, Nghĩa đứng vào hàng thứ ba.
Ác Mộng Đêm Dài là một tác phẩm lớn cũng như quyển trường
giang Chuyển Mùa của nữ sĩ Trương Anh Thụy. Tiếc thay, tác giả không có đội kèn
trống quân nhạc để khua chiêng gióng trống ầm ỉ trong chièn dịch quảng cáo nên
nó cam phận mặc áo gấm đi đêm. Vả lại, nó chào đời trong giai đoạn suy thoái của
nền văn chương hải ngoại nên nó chịu số phận hẩm hiu, bị rẻ rúng của lớp độc giả
quen coi phim tập Hồng Kông và phim tập Đại Han hoặc các chương trình ca nhạc
Paris By Night, Asia, Vân Sơn v.v... Nhưng với thức giả thì khác. Nó sẽ mãi mãi
là một pho phương cảo để họ suy nghiệm cái sân khấu chính trị do phường hám lợi
ở Hoa Kỳ dựng nên.
Về kỹ thuật dựng truyện, Anh Vân tỏ ra khéo léo trong việc dàn xếp mọi chi tiết
để tác phẩm có một bố cục chặt chẽ. Mọi tình tiết được xỏ khoen vào nhau một
cách tinh tế như những khoen của sợi dây lòi tói (sợi xích sắt). Mọi diễn biến
tuần tự được trình bày một cách trơn tru óng ả như dòng mật rót vào chén sứ mỏng
tanh, dù đôi lúc có xen vài đoạn hồi ức đi nữa. Độc giả có thể lao từ trang đầu
tới trang cuối thoăn thoắt như con thoi mà không cảm thấy mệt nhọc vì đầu óc họ
khỏi phải đánh đô vật với chữ nghĩa. Nhưng thật ra, để có được mạch diễn tả dễ
gây thống khoái cho người đọc như thế, tác giả phải ra tay chăm sóc từng cách sắp
xếp mọi chi tiết một cách tỉ mẩn chi ly. Anh làm cho chúng ta nghĩ đến người
chơi hoa lan sành điệu như bà Thục Nhân, một cung tần của Hoàng Đế Minh Mạng.
Chẳng những bà chăm bón, tỉa đẹp cho khóm lá mà còn dùng bút cọ mềm mại để phủi
bụi bám trong lòng đóa hoa. Lại nữa bút pháp của anh đơn giản và trong sáng như
nước sông thu chiếu lấp lánh ánh nắng. Sự diễn tả của anh dạt dào tình cảm mà
không ướt sũng cảm tính đến mức cường điệu và thái thậm. Cái đơn giản, cái
trong suốt, cái điềm đạm của anh trong văn phong làm chúng ta nghĩ đến văn
chương của Thạch Lam trong các tập truyện Gió Đầu Mùa, Nắng Trong Vườn vào thuở
tiền chiến, hoặc văn chương của Nguyễn Thị Vinh trong truyện dài Thuơng Yêu, Cô
Mai, Nổi Sóng, Vết Chàm trước năm 1975 hay văn chương của Trương Anh Thụy trong
bộ trường giang tiểu thuyết (le roman fleuve) Chuyển Mùa vào tân niên kỷ ở hải
ngoại.
Quyển Ác Mộng Đêm Dài đầy ăm ắp những biến cố, những chất liệu cần thiết để xây
dựng nên một giai đoạn lịch sử máu xương trong văn chương. Tác giả không dùng một
nhúm gạo nhỏ để nấu một nồi cháo to. Anh viết quyển Ác Mộng Đêm Dài như làm một
cái bánh bao với nhân to bột mỏng, rất ngon miệng. Thường những kẻ có vốn sống
ít oi, một khi cầm bút viết văn thường kể lể chuyện dạy đời xoàng xĩnh chẳng có
chút giá trị gì cho nhu cầu kiến thức của độc giả. Hoặc gặp những tay khéo léo
hơn là độc giả mệt ngất ngư truớc lối diễn tả cảm xúc theo kiểu một anh thợ chạm
điêu khắc khúc gỗ bé tí những hình thù vô vị vô duyên. Cho nên muốn đưa hết những
vận hành của thời cuộc, những khúc quanh của lịch sử vào tác phẩm, tác giả hy
sinh một phần cách dựng hoạt cảnh (tả người, tả vật, tả tâm trạng nhân vật ).
Anh nghiêng về thuyết thoại (la narration) hơn. Tuy nhiên, anh vẫn không quên
công việc miêu tả, dù đôi lúc chỉ bằng vài nét phác thảo, vài nét khái quát,
Nhưng những đoạn ấy được diễn tả bằng lối văn đôn hậu, thuần phác và ngập tràn
sinh lực như cây dừa tơ, khóm chuối xanh tươi đang sức lớn nên dễ khắc ghi vào
cảm quan lẫn ấn tượng độc giả những dấu ấn tuyệt vời.
Xin cùng đọc một đoạn đời thơ mộng trong hồi ức của Nam được chàng ghi vào lá
thư gửi cho Hiền. Đây là đoạn tác giả đem nghệ thuật tả cảnh nhập vào lối kể
truyện, chứ không phải chỉ là đoạn miêu tả, hay chỉ là đoạn kể truyện suông
trơn mà thôi.
Có những đêm trăng, nằm trên chiếc võng nhà binh, nhìn bầu trời đầy sao, xanh
mát, nhìn ánh trăng nhuộm vàng những ngọn dừa, những mái lá, những ngọn trâm bầu,
anh nhớ vô cùng những đám cỏ dại xanh um điểm hoa vàng, viền theo hai bên lề
con đưòng đất đỏ dẫn tới căn nhà lá nhỏ, chung quanh được bao bọc bằng hàng giậu
cây me tây, nơi đó có một bà mẹ già sống trong lo âu, sợ hãi hằng ngày cho sự
bình yên của anh. Anh nhớ cái ao súng sau nhà, sóng sánh ánh trăng nghiêng với
những con cá chép vàng rực rỡ lượn vòng quanh. Và anh cũng nhớ rất rõ, nơi đó một
thời anh đã lớn lên và cắp sách đến trường trong tình thương yêu của bà mẹ hiền
lành. Anh cũng nhớ vô cùng ngôi nhà ngói đỏ khang trang ở ngay góc một ngả tư
đường, nơi đó anh đã sống và lớn lên, nơi đó chúng ta đã gặp nhau, yêu nhau và
cũng nơi đó có những buổi trưa hè chúng ta ngồi dưới gốc cây mít Tố Nữ, nhìn bầu
trời xanh ngắt mơ ước chuyện mai sau. Những hình ảnh đó sáng ngời trong anh vào
những đêm trăng sáng vằng vặc trên chiến trường, chỉ riêng một mình anh thao thức
nhớ em...
(trang 112)
Cõi Quê Nam chúng ta đáng yêu như thế, bút pháp Anh Vân diễn tả những hình ảnh
thân thương như thế nhất định là phải xứng hợp với nhau. Nhưng khi quê hương
rơi vào tay bọn xâm lược Bắc phương thì nó đổi khác. Bút pháp của Anh Vân cũng đổi
khác. Bút pháp đó trở thành u trầm buồn bã hơn, tiếng thở dài của anh trên những
dòng diễn tả tuy nhẹ mà thấm sâu vào mọi hẻm hóc của nội tâm chúng ta.
Cảnh bờ sông bến phà Mỹ Thuận sau ngày Việt Cộng cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam
ít lâu cũng được trình bày vài nét tạo hình chung chung, nhưng cũng đủ gieo vào
tâm hồn người đọc biết bao se sắt ngậm ngùi:
... Những cái cầu tiêu công cộng cất bằng gỗ và ván dọc theo bờ sông từ trước
1975, nay đã xiêu vẹo, đổ nát nhưng không được cất lại, không có chỗ tiêu tiểu
cho phụ nữ khiến họ phải tiểu bên vệ đường. Mỗi lần có chuyến xe qua bắc là có
cả chục người đàn bà, con gái vén quần tiểu tiện, cạnh những lùm cây, trông thật
tội nghiệp! Một luồng gió thoảng qua khiến Nam nhăn mũi. Mọi người mải mê làm
việc như quên mùi hôi hám đến muốn nín thở, bốc ra từ những đống rác đổ vất bên
lề đường và những đàn ruồi xanh đánh ầm ầm trên những đống xác mía bên cạnh những
xe nước mía. Nam lắc đầu thở dài trước cảnh đất nước hoang tàn khác hẳn thời kỳ
còn chiến tranh. Bao nhiêu máu xương đã đổ ra để đổi lấy một đất nước nghèo khổ
đến tận cùng. Những kẻ chiến thắng tự hào đã giựt sập ngôi nhà cũ, vẫn còn ở được
nhưng họ không xây được ngôi nhà mới khiến toàn dân phải chịu cảnh màn trời chiếu
đất. Nam nhìn quang cảnh nhộn nhịp chung quanh, mọi người tất bật làm việc mà
trên người chỉ có manh áo tả tơi, vài cụ già đang xin ăn gần đó, những đứa trẻ ở
lứa tuổi đến trường đang mang những thùng cà-rem, những bọc nước mía, những ly
trà đá chạy tới chạy lui, rã họng mời gọi khách. Sự tàn phá của chiến tranh vẫn
còn để lại trong ánh mắt mọi người dấu vết mệt mỏi, chán nản và tuyệt vọng.
(các trang 299, 300)
Cảnh phụ nữ vượt biên bị bọn hải tặc Thái Lan cưỡng bức mới ghê tởm thế nào!
Chăng hiểu tác giả Anh Vân có chứng kiến cái thảm nạn đau lòng đó hay không?
Hay là anh nghe các nạn nhân kể lại rồi dùng óc tưởng tượng tinh nhuệ vẽ vời
thêm? Sao sao cũng được. Sao sao đều không quan hệ. Anh đã viết theo lối tường
thuật trộn lẩn lối miêu tả thật linh động, như vậy cũng đã đưa đoạn văn này vào
nghệ thuật văn chương, cũng đủ thuyết phục độc giả đang theo dõi từng bước diễn
tả của anh rồi.
Đêm xuống dần, nỗi kinh hoàng phủ trùm lên hòn đảo nhỏ. Mọi người im thin thít,
chỉ còn nghe tiếng u u của muỗi rừng và tiéng oang oác của loài chim ăn đêm, tiếng
sóng gào ngoài xa. Địa ngục trần gian là đây! Trong lúc những người đàn bà bất
hạnh đang sợ hãi giấu mình trong bóng đêm thì những tiếng reo hò man rợ thình
lình nổi lên từ bờ biển. Ánh sáng của những ngọn đèn măng-sông chói lòa trên
trên những chiếc tàu đánh cá, cho thấy rõ những tên cướp biển đã trở lại, đang
từ trên tàu nhảy xuống. Bọn chúng, mình trần trùng trục, miệng ngậm dao găm, một
số, tay cầm dao dài, cầm búa vừa chạy vừa rú lên từng hồi man rợ. Chúng chạy
cùng khắp, tìm những nhánh chà, những cành khô, chất lại thành nhiều đống rồi nổi
lửa lên. Lửa thắp sáng một vùng hoang dã.
Cuộc săn ngưòi bắt đầu. Chúng đưa tay lên che miệng, hú từng tràng dài man rợ,
vừa chạy đến những bụi cây, những hốc đá kéo những nguời đàn bà bất hạnh ra gần
đống lửa. Chúng lột trần truồng những người đàn bà ra, thi nhau hãm hiếp. Trong
cảnh hỗn mang đó, Hiền cũng bị lôi đến gần đống lửa. Nàng chỉ muốn lao người
vào đống lửa, chết đi cho khỏi tủi nhục, nhưng cơ thể nàng đã rủ liệt, không
sao cất nhấc nổi tay chân. Những tên Thái Lan lại bắt đầu thay phiên nhau thỏa
mãn trên thân xác nàng đến lúc Hiền chỉ còn thoi thóp, không kêu la nổi nữa. Dưới
những ánh lửa bập bùng, bọn cướp la hét, chạy tới chạy lui, nói năng bi bô những
tràng dài bằng ngôn ngữ lạ tai, những tràng cười khoái trá hòa lẫn với tiếng
khóc van xin tạo nên một khung cảnh man rợ chưa từng thấy.
Đến khuya, bọn chúng bỏ đi thì mỗi người đàn bà phải qua tay năm ba tên mọi rợ
trong đó có cả những đứa bé gái mới mười hai, mười ba tuổi.
Hai ngày trôi qua trong kinh hoàng. Những người đàn bà bất hạnh đã mất hết sinh
lực. Họ tiều tụy một cách đáng sợ với đôi mắt trũng sâu, thâm quầng, trên gương
mặt nhợt nhạt xanh xao như người chết. Vài người không quần áo mặc, ngồi co ro
hai tay ôm ngực vừa khóc lóc tỉ tê. Họ chỉ biết khóc nhưng một phần lớn, im lặng
không khóc, cố nuốt nỗi đau đớn tủi nhục vào lòng.
Buổi trưa một người đàn bà nổi cơn điên, cổi hết quần áo đi lang thang dọc theo
bờ biển vừa đi vừa ca hát. Một chiếc trực thăng vô tình bay qua, nhìn thấy cảnh
đó, lập tức quay lại, bay quanh nhiều vòng. Nhiều người trên đảo còn tỉnh trí,
vội vàng chạy ra vừa kêu gào la hét. Chiếc trực thăng từ từ hạ xuống. Ba người
Tây phương mặc thường phục, gồm hai người đàn ông, một người đàn bà tức tốc nhảy
xuống. Họ mang lên trực thăng những người bị thương nặng chở về chuyến đầu
tiên. Người đàn ông tay cầm súng trường ở lai để săn sóc những người bị thương
nặng và cũng để cho người đi chuyến sau yên lòng. Hiền may mắn được đi chuyến đầu
tiên trong lúc còn mê man, bất tỉnh và được đưa ngay vào bịnh xá dành cho người
tị nạn ở trai Tanjung Unggat thuộc tỉnh Tanjung Pinang, Nam Dương.
(các trang 461, 462, 463)
Những nhân vật chính diện trong Ác Mộng Đêm Dài như Nam,
Vinh, Sử, Trạc, Lan, Hiền đều có mẫu số chung: tình yêu nước và niềm tôn thờ
chính nghĩa. Nam yêu nước một cách trong sáng và nhiệt thành; với nhiệm vụ một
sĩ quan tác chiến, anh cầm súng đứng bên hàng ngũ Quốc Gia để chống Cộng cứu nước
một cách hồn nhiên, không coi đó là bổn phận mà là muốn bảo vệ chính nghĩa và
thắp sáng tình yêu nước trong chí tang bồng hồ thỉ của mình để xứng đáng là một
công dân thời loạn. Sau ngày mất nước, chàng lao vao tổ chức kháng địch nhỏ
nhoi dù biết đó chỉ là việc làm châu chấu chống xe, nắm chắc phần thua thiệt
trong tay, biết đâu mình phải chịu thiệt mạng. Nhưng chàng muốn gióng lên một
tiếng chuông cảnh cáo bạo quyền rằng mầm mống phản kháng chính sách hà khắc của
họ không thể trường tồn vững chải vì trong dân chúng sự chống đối vẫn là ngọn lửa
tiềm sinh cháy âm ỉ ở những tấm can trường giống như hòn than vùi dưới lớp tro
mỏng.
Độc giả tức đến nghẹt thở trước hành trạng và sự chọn lựa của Nam. Có kẻ sẽ tự
hỏi: "Có phải Nam cuồng tín và nhiệt thành tới độ ngu si đần độn không?
Chàng há chẳng biết cái mặt thật của tổ chức kháng chiến ma qua lời nhận định
và phân tích của Trạc hay sao? Nếu chàng không biết cái trí trá của bọn Hoàng
Cơ Minh thì cũng đã xem cuốn video Đồng Tâm, cũng đã tỏ rõ tiền trợ của kiều
bào đang nằm trong tay Hoàng Cơ Định hay sao?". Duy có một điều đáng chú
ý: trước khi bỏ Hiền theo mặt trận, Nam chưa kịp nghe thấy sự chia rẻ, tranh đoạt
quyền lực trong mặt trận mà con mãng xà hung hăng Phạm Văn Liễu đang kình chống
với bầy lang sói có cái họ Hoàng Cơ.
Nam được tác giả cấu trúc bằng nét ngoại hình khôi vĩ, bảnh bao. Cách cư xử mềm
mỏng của chàng đối với mọi người, cách chiều chuộng phụ nữ của chàng tạo cho
chàng một hấp lực say sưa lôi cuốn họ. Nhưng Nam không phải là hạng sở khanh xỏ
lá, thích ve gái, thích hưởng thụ, lánh trốn trách nhiệm khi nước nhà đang lúc
ngửa nghiêng. Chàng có một trái tim nhân ái, một tấm lòng yêu nước thương nhà
thật đậm đà, thật kỳ diệu và đơn giản. Chàng là một chiến sĩ dũng cảm nhưng
không thể nào có sự bén nhạy và quyền biến để lao vào lãnh vực trí trá, uyển
chuyển và phức tạp của chính trị được. Chính Sử là cái đầu óc trong nhóm kháng
chiến chống Cộng, còn Nam là ngưòi thừa lệnh để hoàn thành sứ mạng mà Sử giao
phó một cách vuông tròn. Chàng tư duy về tình hình thời cuộc theo một chiều
xuôi, không hề đặt vấn đề trước mọi biến chuyển, mọi ngã rẽ của sự việc. Chàng
khi trở thành một thành viên vận động cho mặt trận, dám bỏ công ăn việc làm, bỏ
việc học ngành kỷ sư cơ khí, chỉ còn hơn một năm nữa là tốt nghiệp. Trái tim mẫn
cảm của chàng, tài văn chương tiềm tàng ở chàng chỉ giúp chàng trở thành một
nhà văn có địa vị trên văn đàn. Chàng không thể là một cây bút viết những tác
phẩm văn chương pha trộn chính trị đuợc. Vả lại, trong lãnh vực văn chương, một
khi có chính trị len lỏi theo cách rón rén bước vào, tác giả đừng nên để nó
bành trướng để khỏi hy sinh ít nhiều tính chất nghệ thuật. Đương sự phải dùng
chính trị như một phương tiện để khai thác tâm tình, nhân sinh quan, niềm khao
khát của nhân vật, chứ không nên dùng chính trị như mục đích huy hoàng để nhắm
tới.
Khi dựng lên nhân vật Nam, tác giả đã in cái phóng ảnh của mình vào Nam: Nam tức
là hình ảnh của anh qua một khía cạnh nào đó. Anh Vân dùng mặt trận của bè lũ
Hoàng Cơ Minh để đào sâu nhân vật Lê Quốc Nam của mình, chứ không phải nhắm vào
mặt trận để làm đề tài chánh cho quyển Ác Mộng Đêm Dài. Do đó, quyển trường
thiên tiểu thuyết này không bị giảm sút tinh thần văn chương đúng nghĩa.
Những người có đầu óc tôn thờ lý tưởng thường là những kẻ nhiệt tâm nhiệt huyết;
nhưng bầu nhiệt huyết nhiều khi che mờ óc phán đoán của họ. Cho nên họ thường bị
kẻ gian tà lợi dụng hoặc bị đưa vào cạm bẫy của chúng.
Duới cặp mắt nhận xét của Hiền, Nam là một nhân vật đáng yêu. Nàng không cho
cái lý tưởng của chàng thấp thoáng đôi chút mầm mống cuồng tín, mà đó là sự hy
sinh thuần khiết phát xuất từ cái căn tính bất vụ lợi:
Nhìn Nam cắm cúi làm việc, Hiền thấy Nam là một con người nhiều nghị lực. Duờng
như trong mỗi con nguời có những thao thức riêng tư được ấp ủ và giấu kín dưới
gương mặt bình thản như lòng ham muốn giàu sang, danh vọng, địa vi, khát vọng
tình yêu hoặc đeo đuổi theo một lý tưởng nào đó. Trong tình yêu, Hiền biết rõ
Nam là kẻ đam mê. Trong những lần làm tình với nàng, Nam như một ngọn lửa đốt
cháy nàng, như muốn lột da nàng để nhìn rõ tường tận trong cõi sâu thẳm của
nàng. Ngoài ra Nam còn ấp ủ một hoài bão là được góp công và nhìn thấy quê
hương an bình, trong đó đồng bào anh được sống hạnh phúc. Với Nam, dưòng như tiền
tài không quyến rũ được anh. Nam say sưa viết lách, dàn trải tâm tình, ước vọng
của anh lên trang giấy. Anh kết tội chủ nghĩa cộng sản đã làm kiệt quệ đất nước,
đã vắt cạn sinh lực và tinh hoa của người dân, làm thui chột mấy thế hệ tuổi
thơ. Nam viết say sưa, viết bằng tất cả sự rung cảm chân thành và tấm lòng yêu
nước của anh. Đọc Nam, Hiền cảm nhận được hết những điều đó.
(các trang 702, 703)
Trạc nhận định Nam cũng qua một khía cạnh bao dung khoan hồng, không gán cho
Nam cái tật cuồng tín:
Nhìn khuôn mặt trầm ngâm của Nam, Trạc thở dài. Anh hiểu Nam lắm. Nam, bạn anh,
con sư tử lãng mạn đâu chịu nằm yên trong cũi. Anh đâu còn lạ gì về đức tính hy
sinh của Nam, khó ai bì kịp. Bỏ nước, bỏ mẹ già ra đi trong nhục nhã, cái chết
của Vinh, của Sử, những ngày tháng đen tối trong tù, cảnh nô lệ của người dân vẫn
còn là một vết thương rướm máu trong lòng Nam. Mối hận này chưa rửa được, Nam sẽ
sống những ngày khắc khoải không yên; nhưng về chiến khu trong lúc nầy, theo Trạc
nghĩ là một hành động vội vã, thiếu cân nhắc. Một tổ chức đấu tranh mà hầu hết
anh em gia đình ho Hoàng đều giữ chức vụ quan trọng, trong đó tiền bạc giao trọn
cho Hoàng Cơ Định, một tay tham nhũng khi còn giữ chức Giám Đốc trường Cao Đẳng
Hóa Học ở Việt Nam. Sau đó bị đưa ra Giám Sát Viện xét xử và bị cách chức.
Hoàng Cơ Định đi đến đâu cũng thúc giục các trưởng cơ sở phải tận dung khả năng
quyên tiền đồng bào bằng mọi cách.
(trang 738)
Việc bỏ chốn định cư để vào chiến khu của Nam phải có thêm một động cơ nào khác
nữa thôi thúc, chớ không phải chỉ vì yêu nước bồng bột. Cái đó, tác giả Anh Vân
không nói ra, độc giả cũng không đoán ra. Nhưng cái bí ẩn vẫn thấp thoáng sau
lưng sự việc mà tác giả cùng Hiền và Trạc đã trình bày. Cái chết của Nam lại
càng kỳ bí hơn. Chuyến ra đi cùng cái chung cuộc thê thảm của chàng bị gói trọn
trong lớp màn tối đen huyền bí. Lịch sử trong vòng 10 năm hay 20 năm có thể sẽ
trả lời chúng ta đâu là sự thật hay một bóng dáng hoặc một khía cạnh của sự thật.
Nhưng Nam thì vẫn là một cái bóng thấp thấp trong huyền sử mờ mờ nhân ảnh từ
khi chàng sửa soạn vào khu chiến cho tới cái chết của Hoàng Cơ Minh đã bị tiết
lộ. Vè phương diện nghệ thuật, Nam làm cho chúng ta nghĩ ngợi nhiều hơn các
nhân vật khác. Chàng hiển thánh trong ánh sáng nghệ thuật trong khi tông tích về
sau của chàng trở thành bóng chim tăm cá giữa cái thế giớ u hiển mập mờ.
Những nhân vật phản diện như Tư Thống và một vài tên quản
giáo trong Ác Mộng Đêm Dài xuất hiện trên diễn tiến quyển sách quá ít. Còn những
nhân vật trong mặt trận kháng chiến ma của bọn Hoàng Cơ Minh chỉ được xuất hiện
trong lời tường thuật của tác giả qua đống tài liệu đăng rải rác trên các sách
báo ở hải ngoại mà anh thu thập được Trái lại, bên cạnh Nam hoặc bên cạnh hay
chung quanh Hiền, nhân vật chính diện xuất hiện nườm nượp. Xin được lần lượt kê
khai:
* Vinh là con một viên sĩ quan cao cấp chỉ biết ăn chơi và một người đàn bà
phóng đảng hám lợi. Chàng yêu nước với tấm lòng ngay dạ thẳng và niềm son sắt
thiết tha như tấm lòng dũng tưóng Triệu Tử Long thờ chúa của mình là Tây Thục
Tiên Chúa Lưu Huyền Đức (tức là Lưu Bị). Chàng đau khổ và cảm thấy nhục nhã
khi biết mẹ buôn lậu vũ khí cho địch. Và chàng còn ân hận sao mình trước kia với
tinh thần yêu nước cao độ mà không đi tác chiến mà lại chịu làm việc Phòng 1 của
Tiểu Khu Bặc Liêu. Cho nên muốn chuộc lại lỗi lầm của mẹ và sự chọn lựa cầu an
của mình, dù không có kinh nghiệm về chiến trường mà chàng vẫn tham gia vào tổ
chức kháng chiến do Sử và các bạn đồng tâm chung hướng của chàng tổ chức. Chàng
hy sinh cản địch vào hôm tấn công căn cứ Sóc Đồn nên phải bỏ mạng.
Trại tù vắng vẻ đến lạnh lẽo, chỉ một mình Vinh và một anh tù binh đang đau nằm
ở cuối trại. Vinh nằm dài xuống chiếu hút thuốc, nghĩ vẩn vơ, chờ đợi tới giờ
lên ban giảng huấn. Vinh rùng mình. Trời nầy mà ngâm mình dưới nước, móc đất là
một khổ hình. Cuộc chiến nầy đã mang đến những gì tốt đẹp, chưa thấy, chỉ thấy
toàn quân dân mình Nam đang trả một cái giá quá đắt.Vinh nuối tiếc những ngày
tháng cũ và có cảm tưởng những gì tốt đẹp đã đổ nát, hoang tàn trong tim anh.
Vinh thấy phục Nam. Nam đã sống hết mình với cuộc đời, hi sinh và chịu đựng
gian khổ ngoài chiến trường một cách can đảm và bây giờ Nam chấp nhận một cách
thản nhiên kiếp sống đọa đày của một tù binh. Vinh biết, Nam đã hết sức cố gắng
luyện tập yoga hằng đêm để giữ vững tinh thần, không tỏ ra hèn yếu trước kẻ
thù. Không bao giờ Vinh nhìn thấy Nam khúm núm trước mặt những tên bộ đội hay
cán bộ giảng huấn như một vài tù binh khác. Anh phục thái độ sống của Nam, muốn
được như Nam. Anh thèm khát được cầm súng chiến đấu nhưng tất cả đã muộn màng.
(các trang 213, 214)
* Sử khi còn làm việc ở Phòng Tình Báo Tiểu Khu là một kẻ mặt sắt, một hung thần
với bọn địch trà trộn vào dân chúng hay địch nằm vùng. Chàng thâm trầm nhiều
mưu mẹo và có óc quyền biến tinh nhuệ. Nhưng chàng không phải là hạng người
dùng cái lợi khí thiên bẩm của mình để kiếm tư lợi hay để phụng sự cho cái Ác, cho
bạo quyền. Chàng là một kẻ ái quốc chân chính. Cái tổ kháng chiến của chàng do
chàng coi sóc mọi việc quan trọng đòi hỏi sự thông tuệ lẫn kiến thức. Chính việc
tấn công Sóc Đồn do chàng đặt kế hoạch và chỉ huy. Giúp Nam và Hiền vượt biên
cũng do chàng chớ do ai? Chàng yêu thầm kín Lan mà không dám thố lộ, để tới
phút lâm chung mới bày tỏ nỗi lòng với Lan. Chàng tuy là vai phụ trong Ác Mộng
Đêm Dài, nhưng chói sáng có phần hơn Nam.
... Âm thầm yêu Lan nhưng Sử không chịu ngỏ lời. Anh biết tỏ tình trong lúc tâm
hồn Lan đầy ắp hình ảnh Nam, chỉ chuốc lấy sự bẽ bàng. Tỏ tình không đúng lúc,
anh sẽ mất Lan vĩnh viễn vì tình yêu không thể ngỏ lần thứ hai. Sử biết Nam có
những điều hơn hẳn anh. Nam có dáng dấp cao ráo, guơng mặt dễ nhìn và nhất là
Nam lúc nào cũng dịu dàng và tỏ ra săn sóc đàn bà. Những yếu tố đó anh không thể
có được. Bây giờ Nam bỏ đi, Sử định một thời gian sau khi tình cảm của Lan dành
cho Nam nhạt dần, anh sẽ tỏ tình cùng Lan và hi vọng sẽ thành công.
(trang 495)
Nắng hôm nay như vàng hơn, rực rỡ hơn. Cuộc đời bỗng dưng rực rỡ dưới mắt Sử. Từ
ngày Nam bỏ đi cho tới giờ, Sử mất đi một cánh tay đắc lực, gánh nặng của tổ chức
sẽ đè nặng hơn trên vai Sử. Tất cả vấn đề quan trọng Sử chỉ biết thảo luận với
Lan. Hoạt động bên nhau, cùng gánh vác một việc và cùng chia sẻ hiểm nguy với
nhau, tình cảm giữa anh và Lan càng ngày càng khắn khít.
(trang 496)
* Nhân vật Trạc, một nhân vật xương sống, một chứng nhân sáng suốt trong tác phẩm
Ác Mộng Đêm Dài. Khi Lục Phưong Ninh đuổi bọn Hoàng Cơ, Phạm Văn Liễu và Trần
Minh Công ra khỏi Lực Lượng Quân Dân Việt Nam hải ngoại, anh có nhận xét như
sau :
Trạc thở dài, một lúc rồi nối tiếp :
- Nghe nói tổ chức đang rạn nứt. Lục Phương Ninh theo Đinh Thạch Bích, sắp kéo lực lượng ủng hộ Trương Như Tảng, tìm sự yểm trợ của Trung Cộng. Cánh thứ
hai gồm có Hoàng Cơ Minh, Phạm Văn Liễu và Trần Minh Công. Mẹ! Chưa làm việc gì
đã chia năm xẻ bảy. Nóng lòng nhập cuộc rồi mình chỉ làm viên gạch lót đường
cho tham vọng của họ.
Nam nhìn Trạc một giây, anh thấy trong mắt người bạn thân một chút bơ vơ, lạc lỏng.
Nam biết trái tim Trạc bắt đầu nguội lạnh. Một con người giàu nhiệt tình với đất
nước như Trạc đã bắt đầu mất hết niềm tin. Dường như Trạc nhập cuộc để khỏi bị
lương tâm cắn rứt, để được yên lòng sống những ngày còn lại trên xứ người...
(các trang 611, 612)
Sau khi xem cuốn phim video Đồng Tâm trình chiếu ở nhà một chiến hữu tại Santa
Ana (Nam California), Trạc không tin căn cứ khu chiến đặt tại quốc nội. Xin
cùng đọc:
Trạc nhìn ra ngoài xe, chửi thề:
- Đ.m! Chưa gì Mặt Trận đã lừa gạt anh em và buộc mình lừa gạt đồng bào.
Tao lặn lội khắp nơi, tao cá với mầy đó không phải là rừng Việt Nam.
Nam yên lặng lái xe, một lúc sau mới lên tiếng:
- Thôi, để trình chiếu cuốn video xong, xem phản ứng của đồng bào ra sao.
Việc tạo niềm tin trong đồng bào để tìm sự yểm trợ là điều cần thiết trong giai
đoạn đầu.
Trạc lớn tiếng:
- Tại sao không dám nói thẳng với đồng bào là khu chiến đặt tại Thái Lan? Việc giải phóng đất nước trong tay giặc là chuyện đội đá vá trời có phải như lấy đồ
trong túi ra đâu. Giai đoạn đầu tìm được một nơi để lập khu chiến đã là hay lắm
rồi. Tại sao phải nói láo? Nói láo được một lần, họ sẽ không dừng lại ở đó đâu.
Chưa gì đã lọt về Việt Nam và lập chiến khu. Làm như tụi Việt cộng đã chết hết
và họ đã coi tụi mình như những đứa con nít.
(trang 624)
Vào ngay 30/4/1983, tại Washington D.C, chủ tịch Hoàng Cơ Minh của Mặt Trận Quốc
Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam đã tuyên bố: từ khi thành lập mặt trận vào
ngày 30/4/1980 cho đến ngày 8/3/1982 mặt trận đã liên lạc và kết hợp 36 tổ chức
kháng chiến khác nhau trên toàn quốc, Trạc chì chiết liền:
- Mẹ! Nội cái chiến khu quốc nội nghe đã không ổn rồi, nay lại kết hợp được 36
tổ chức kháng chiến với số kháng quân khoảng hơn mười ngàn người, ngồi đó vẽ
cũng còn không kịp. Bọn nó coi chúng mình như lũ con nít. Chắc tao sẽ ra khỏi Mặt
Trận một ngày gần đây. Đời tao, không thằng nào có thể coi tao như con nít được.
Mẹ! Thằng anh thì làm Chủ Tịch, thằng em thì làm thủ quỹ, toàn quyền trong việc
chi thu. Có tổ chức nào lạ đời như tổ chức nầy không? Tao sẽ không thu tiền của
đồng bào và anh em trong chi bộ nữa để khỏi hối hận sau nầy. Nếu cần tao sẽ giải
tán chi bộ luôn. Tổ chức nầy không đổ vỡ vì chuyện tiền bạc, tao thề sẽ đi bằng
hai tay. Cả Liễu, Công cũng chỉ là hai thằng ngu. Tên nào cũng nói là mình phục
vụ Tổ Quốc nhưng khi nhìn thấy thái độ hống hách và chuyện tiền bạc thiếu minh
bạch của Hoàng Cơ Định, không tên nào dám lên tiếng. Con c...tao không làm gì
cho cá nhân tao, tao cóc ngán thằng nào.
(các trang 747, 748)
* Hiền là cô gái mới lớn chỉ biết yêu Nam, chỉ biết chung thủy với Nam, chỉ biết
cầu nguyện Chúa Ki-tô phù hộ mình thoát khỏi hoạn nạn tai ương để hưởng hạnh
phúc vuông tròn. Ngoài ra, nàng chẳng hề biết những chuyện trọng đại khác. Tai
nạn trong chuyến vượt biên càng làm nàng gần gũi Chúa hơn. Linh mục Antonio là
kim chỉ nam cho nàng tìm về sự cứu rỗi của Chúa, soi rọi tâm hồn bình an và tìm
gặp hạnh phúc ẩn núp sau tai ương. Nhưng khi Nam bỏ đi theo mặt trận, Hiền bắt
đầu tìm hiểu về thời cuộc và về diễn biến hoạt động của họ. Đó cũng chỉ là động
lực do tình yêu thôi thúc mà thôi. Hiền là hiện thân của một thiên thần, sống
trong tuân phục ý Chúa. Nàng hoàn toàn quá, thuần khiết quá nên không có cá
tính mãnh liệt nào ngoài niềm chung thủy đối với mối tình đầu và Đức Tin. Ánh
sáng thiên lương không hướng dẫn nàng theo chuyện nào khác hơn là vấn đề tâm
linh hướng về Chúa để noi gương Chúa vác cây Thánh Giá khi nàng phải gồng mình
gánh vác hệ lụy:
Kính lạy Chúa! Cha nhân từ của con. Chúa ôi !Kính xin Chúa thương xót, tha thứ
cho con mọi tội lỗi. Xin Chúa cứu vớt con, đừng rơi bỏ con, nhất là trong lúc nầy.
Xin Chúa ở cùng con luôn, giúp con vượt qua những cảnh đời mà sức con không còn
kham nổi. Cả tháng nay, con đã và đang sống trong bóng tối sâu thẳm của địa ngục,
giữa lằn ranh của sự sống và nỗi chết. Con đã nhận lãnh bao ngọn roi đời tàn bạo
trên thân xác yếu đuối và tâm hồn đã rướm máu của con. Hiện con đang chết dần
mòn và sự sống như sắp rời khỏi con. Con không xin Chúa cất chén đắng ra khỏi
môi miệng con. Tát cả đã muộn màng vì con đã uống chén đắng đó. Con chỉ xin
Chúa giúp con nếm giọt đắng cuối cùng một cách can đảm, không lúc nào bằng lúc
nầy, con đến để cầu nguyện cho những vết thương trên thánh thể Chúa cũng như những
vết thương trong tâm hồn và thể xác con. Những vết thương đau đớn trên thân thể
con đã giúp con cảm nhận đuợc nỗi đau tột cùng mà Chúa đã phải chịu đựng trên
thập tự giá vì tội lỗi của nhân loại và cũng vì tội lỗi của riêng con. Chúa
nhân từ của con ôi! Trên con đường khổ nạn của dân tộc mà con đang đi, một điều
mà con nhất thiết van xin Chúa, cho con gặp lại Nam. Xin Chúa mở rộng tấm lòng
Nam, đừng để Nam khinh ghét con vì những đau đớn tủi nhục đó đâu phải do con
gây ra mà nó đến từ những tấm lòng độc ác của loài người.
(các trang 466, 467)
* Lan là một nữ quân nhân có tâm huyết. Không phải chỉ có tình yêu của nàng dành cho Nam thúc đẩy nàng tham gia vào tổ chức chống Cộng mà nàng cần phải
làm một cái gì đó cho tổ quốc, cho công bằng, chính nghĩa. Lý tuởng nàng rất
sâu sắc và hào hùng hiếm có ở một phụ nữ chân yếu tay mềm.
Xin đọc đoạn nói về ý kiến của Lan trong dự định tổ chức kháng chiến, trong đó
Lan sẽ tham gia:
Nam hỏi:
- Lan nghĩ gì về việc làm của chúng mình?
Lan đáp với giọng bùi ngùi:
- Lan chỉ nói ý nghĩ của Lan với anh thôi. Làm thì làm, làm cho thỏa mãn con người phản kháng bên trong tâm hồn mình nhưng Lan thấy nản lòng lắm. Vài chục
tay súng thì làm được gì trong lúc nầy nhưng anh em đã góp phần chẳng lẽ mình đứng
ngoài. Bây giờ có anh nhập cuộc. Lan thấy như được khích lệ hơn. Thôi thì một
kiếp người, sống thế nào để không phải hổ thẹn với mình là được.
Nam nhìn Lan với ánh mắt trìu mến. Anh thấy thương Lan, thương Sử, thương mến
những chiến hữu của anh đã can đảm, coi nhẹ mạng sống, coi thường hạnh phúc
riêng tư của đời mình, kết hợp để gầy lại cuộc chơi với hai bàn tay trắng. Cuộc
chơi mà mọi ngưòi gần như biết trước, khó mà thắng được, nhưng ở đời người ta
làm những việc xét ra phải làm và chấp nhận chết cho những điều mình tin tưởng.
Nam hỏi:
- Lan không nghĩ rằng, ở nhiều nơi khác cũng có những anh em đang âm thầm chiến
đấu như chúng mình sao? Việc gom anh em lại để làm một cái gì cho đất nước
trong lúc nầy, giống như mình đốt lên một ngọn lửa và cố gắng giữ cho nó đừng tắt.
Biết đâu sau đó sẽ có nhiều người tiếp tay với minh.
- Lan có nghĩ đến điều đó nên còn nấn ná ở lại, bằng không em đã tìm đường ra
đi rồi.
(các trang 286, 287)
Tâm lý của Lan được tác giả diễn đạt theo một tiến trình rất lớp lang, rất hợp
lý. Nàng yêu Nam ở cái lý tưởng sáng ngời chính nghĩa lẫn cái phong cách hào
hoa của chàng. Nhưng đó chỉ là tình yêu đơn phương tuyệt vọng. Nhưng rồi xa
Nam, không hy vọng sẽ có ngày gặp lại Nam, mà dù gặp lại Nam thì chàng vẫn thuộc
về Hiền, cho nên nàng nhìn lại Sử thường xuyên ở cạnh nàng, cùng nàng hoạt động
cho đại cuộc . Cái quyền biến, cái tài đứng vững ở đầu sóng ngọn gió, lẫn cái
tâm địa rộng rãi và phong độ hào hùng của Sử dần dà chiếm đoạt trái tim nàng bằng
từng bước tuy chậm chạp mà vững chắc. Ôi, cái tình yêu đó lúc Sử còn sinh tiền
âm thầm đến Lan bằng những bước chân nhẹ quá, rón rén và mong manh quá nên nàng
chưa cảm nhận rõ rệt. Nhưng đến giây phút chàng chết trong tay nàng, mối tình ấy
như một bông hoa ánh ánh nở tung ra, soi rọi khắp nội giới nàng.
Khác với Hiền, Lan tuy không phải là kẻ vô thần, vô tín ngưỡng, nhưng nàng hoài
nghi về linh hồn, về cõi chết. Bình thường nàng không đặt nặng vấn đề này.
Nhưng trong lần đi viếng mộ Sử, ánh sáng tâm linh dù bạc nhược vẫn len lỏi vào
nội giới nàng, để nàng đối diện với nó, đặt vấn đề về nó. Có lẽ nàng đã gặp một
vài biến cố thần bí không sao giải thích trên con đường hành hương tìm những kẻ
tuẩn đạo cho chính nghĩa, trong đó có sự hiện diện của Sử. Xin cùng đọc những
giờ phút hoài niệm cùng những dòng tư duy thuộc lãnh vực tâm linh của Lan trong
lần nàng đi viếng mộ Sử:
Đến nơi, Lan ngồi cạnh nấm mộ nghỉ mệt, mắt nhìn chăm chăm vào tấm mộ bia.
"Tạ Thành Sủ" sinh năm 1948, mất năm 1979". Sử chết vào năm 31 tuổi,
cái tuổi mà người Việt Nam cho là xuôi xẻo. Lan lấy trong cái giỏ xách miếng vải
nhỏ, lau chùi tấm mộ bia. Lau xong, Lan ngồi thừ bên cạnh mộ, mắt nhìn về phía
trời xa. Một con chim lẻ loi, kiếm ăn về muộn đang mệt mỏi vỗ cánh bay về tổ.
Chung quanh Lan giờ nầy hoang vắng quá, chỉ mình Lan với nấm mộ cô đơn. Tự
nhiên Lan cảm thấy mình già đi, tâm hồn cằn cỗi, tràn ngập nỗi buồn, như vạt nắng
chiều đang hấp hối ở cuối trời xa thẳm. Lan tự hỏi: "Con người thật sự có
linh hồn chăng?". Sử vẫn quan niệm rằng "chết là hết". Thật sự
có phải chết là hết không? Nếu có linh hồn thì thân xác đã về với cát bụi rồi,
linh hồn nương tựa vào đâu? Khi còn sống Sử lúc nào cũng nóng nảy bồn chồn. Dường
như Sử không có một giây phút an bình, những âu lo thay phiên xuất hiện trong đời
sống. Và bây giờ Sử đã chết, tấm thân đã vùi xuống lòng đất lạnh, liệu ở thế giới
bên kia, linh hồn Sử có được bình an không? Một thứ bình an vĩnh cửu hay còn
vương mắc với những vay trả cuộc đời mà lúc sống, Sử chưa thanh toán được. Quốc
gia, cộng sản, dân chủ, độc tài, tự do, nô lệ, những thứ đó có làm bận lòng Sử
không? Nếu linh hồn còn đó, liệu Sử có nhìn thấy những giọt nước long lanh niềm
khổ hận dưới mắt nàng không? Giọt nước mắt của một cuộc tình mà khi nhận ra đã
quá muộn màng để khổ hận cho người sống cũng như kẻ chết...
(các trang 572, 573)
Trong Ác Mộng Đêm Dài còn có hai nhân vật đáng chú ý. Đó là mẹ
của Nam và bà Ngởi (mẹ của Vinh và Hiền). Mẹ của Nam là người đàn bà thuộc hạng
trí tuệ, hiểu rõ tình hình và thời cuộc. Tác giả không nói rõ do đâu mà bà có
được một kiến thức viễn thâm ấy, ngoài sự ham mê đọc sách. Trong những ngày Nam
và Vinh vừa rã ngũ tan hàng, bà nhận định như sau:
- Các con rồi sẽ không yên với họ đâu. Mẹ lo lắm! Nếu giết được hết thành phần như các con mà không mang đến hậu quả xấu nào, họ sẽ làm ngay. Họ không nhân đạo
mà nghĩ "cùng là người Việt với nhau" như các con nghĩ đâu. Các con
còn nhớ các mồ chôn tập thể ở Huế tết Mậu Thân, những lần họ ném lựu đạn vào
các chợ hay rạp hát. Đó là những việc làm có chủ trương cả. Họ đâu có nghĩ đến
sinh mạng của những người dân vô tội kể cả đàn bà và trẻ thơ. Họ tự phong cho họ
cái quyền giết người vì hạnh phúc con người, giết người để cứu người. Họ được dạy
dỗ như vậy, giết một số người nhỏ để cứu một số người khác đông hơn. Vì vậy mà
họ giết người không gớm tay đâu, nhưng họ giết người mà có cứu được nguời
không? Đó là chuyện khác. Họ cần đạt được mục đích, cướp được miền Nam và bằng
mọi giá phải giữ được miền Nam. Giết các con thì họ không làm vì vì thành phần
tập kết khá đông. Đem con cháu của của những người tập kết ra giết hết, sẽ có
loạn ngay và kéo theo sự nổi loạn dây chuyền của những gia đình có con em là sĩ
quan. Thời phong trào Việt Minh, nhiều người ra thành, chỉ mua một hộp sữa đặc
cho thân nhân đang bịnh uống mà chúng khám xét gặp, chúng tra khảo đến chết rôi
quăng vào bao bố, cột miệng lại, ném xuống sông mà họ gọi là "cho đi mò
tôm".Vì vậy mà mẹ lo cho các con lắm! Chuyện tàn ác nào mà họ không dám
làm. Cái chiến thắng nầy vẫn còn làm họ ngỡ ngàng như đang sống trong mơ như
các con. Cái mà họ phải làm ngay bây giờ là gom các con lại để ổn định tình thế.
Ngày bắt giữ các con sẽ gần đây thôi, còn ngày về của các con thì không ai có
thể đoán được. Sau lần chiến thắng ở Trung Quốc một số sĩ quan cao cấp của
Trung Hoa quốc gia bị giết, một số vẫn còn bị giam giữ cho tới giờ nầy. Họ sẽ
không giết các con ngay, nhưng họ sẽ giết dần mòn các con ở trong tù. Việc làm
nầy còn tàn ác hơn nhưng đối với người ngoại quốc, họ vẫn được tiếng nhân đạo
vì không có cảnh tắm máu ở miền Nam như nhiều người dự đoán.
(các trang 129, 130)
Trong văn chương Việt Nam của chúng ta, hình ảnh bà mẹ của các nhân vật chính
diện thường đuợc lồng trong các bà lão nếu không quê mùa thì cũng không có vốn
liếng kiến thức và không có trình độ học vấn bao nhiêu. Bà mẹ củaNam là một
nhân vật đặc biệt mà ngay phần đầu câu chuyện tác giả Anh Vân đã giới thiệu là
bà thích đọc sách. Cho nên gặp một bà già như thế trong Ác Mộng Đêm Dài chúng
ta không bỡ ngỡ. Kiến thức của bà không phải chỉ nhặt nhạnh ở sách vở mà còn ở
kinh nghiệm sống dồi dào của bà nữa. Bà còn làm cho chúng ta lạnh xương sống
hơn nữa khi khuyên Nam trước khi đi học tập cải tạo:
Nam hỏi:
- Sao mẹ lo lắng như vậy? Thông cáo đã nói rõ ràng là chuẩn bị đồ ăn trong mười ngày.
Mẹ Nam thở dài:
- Nếu được như vậy là điều may mắn.
- Mẹ có vẻ không tin.
Mẹ Nam nghiêm mặt:
- Mẹ đã dặn các con bao nhiều lần, những gì người cộng sản nói thì không nên
tin. Con lại quên lời mẹ dặn rồi.
- Họ đã ra thông cáo và người dân đã nghe rõ thông cáo đó. Chẳng lẽ, họ dám nói
láo hay sao?
- Chuyện gì họ cũng dám làm miễn có lợi cho họ.
Nhìn sắc mặt có nét giận của mẹ, Nam không dám nói thêm.
Giọng mẹ Nam dịu dàng hơn:
- Dù không tin thì mình không biết phải làm sao nhưng nhớ, trong tù, họ sẽ kêu con khai lý lịch và những việc làm của con trong quân đội. Con đã khai gì, phải
nhớ ghi lại để khai lần sau cho giống. Nhớ khai trong bản lý lịch, hai người
anh của con đi tập kết vào năm 1954. Họ sẽ bắt các con khai đi khai lại nhiều lần
để xem những lời khai có mâu thuẫn không. Phải dùng cái khôn ngoan của mình đối
phó với kẻ thù. Phải nhớ lần đầu tiên, con khai những gì thì lần thứ hai cũng
chỉ có thế. Nếu mỗi lần khai, con thêm một số chi tiết thì họ cứ bắt con phải
khai hoài để tìm hiểu thêm những việc con đã làm. Chuyện gì giấu được thì cứ giấu.
Thà họ chụp tay mình còng chớ đừng tự ý đua tay cho kẻ thù còng. Con nhớ chưa?
(các trang 161, 162)
Có thể mẹ của Nam nhờ đọc hồi ký của các tù nhân chánh trị dưới chế độ Cộng Sản
nên có sự hiểu biết sâu rộng như thế. Nam quả thật có một bà mẹ tuyệt vời. Bà
là ngọn đuốc soi sáng cho Nam đi trên con đường yêu nước, soi cho Nam nhận diện
bộ mặt tàn ác nhưng luôn giả nhân giả nghĩa của Cộng Sản. Nhưng tiếc thay vì
còn ở trong vòng phong tỏa của Cộng Sản nên bà không soi được cái trí trá của
bè lũ con buôn chính trị bên phía Quốc Gia của chúng ta ở hải ngoại.
Riêng bà Ngởi, mẹ của Vinh và Hiền có học lực cao hơn mẹ của Nam, nhưng không
có nhận định sâu sắc như mẹ của Nam. Hoàn cảnh và tâm sự của bà lại có chỗ ngắc
ngoéo, éo le. Bà có người yêu tên Ngân theo phe Việt Minh chống Tây. Đương sự
hoạt động ở thành phố, bị Tây bắt đưa về bót Catinat tra khảo cho đến chết. Do
đó bà ghét Tây, ghét luôn Mỹ và phe Quóc Gia. Bà nghiêng cảm tình về phe Việt Cộng
vốn là thối thân của phe Việt Minh. Bà kết hôn với Thiếu Tá Nghiêm (thuộc Quân
Lực Việt Nam Cộng Hòa), cha của Vinh và Hiền để có chỗ che chở. Hôn nhân không
có tình yêu làm bà thất vọng. Cho nên bà ham tiền, làm đủ mọi cách để có tiền,
dù phải lén lút làm ăn với bọn Cộng Sản để bán đứng Miền Nam Việt Nam đi nữa. Lỗ
hổng tâm lý của bà phải có tiền trám đầy mới tạo cho bà sự thăng bằng. Sau ngày
30/4/1975, lúc đầu bà chạy theo chánh thể mới để bảo vệ tài sản của mình. Nhưng
sau bao lần chứng kiến cái cách cướp nhà đoạt của do các cán bộ miền Bắc lộng
hành, bà bắt đầu suy nghĩ và đặt lại vấn đề. Cái chết của Vinh làm cho bà khám
phá một sự thật đau lòng: người con trai yêu quý của bà muốn chuộc lại lỗi lầm
của bà nên hy sinh dấn thân vào tổ chức kháng chiến chống bạo quyền, không ngại
hiểm nguy đến sinh mệnh.
Với hành động đốt nhà của mình rồi tự thiêu luôn, bà Ngởi chứng tỏ sự phản
kháng của mình là cách phản kháng song đôi, tiêu cực và tích cực, chủ động lẫn
thụ động. Trong truyện, sau khi phục rượu cho bọn công an say như chết, bà nổi
lửa tự thiêu, nhưng tác giả không nói rõ bọn công an có thoát khỏi biển lửa hay
không? Nhưng người đọc tin rằng, men rượu cực mạnh làm cho tứ chi bọn chúng rũ
liệt, nếu chúng không biến thành tro than thì cũng bị quay bị nướng như lợn như
gà.
Sau đây là tâm sự của bà Ngởi vào đêm cuối đời của bà:
Cái chết của đứa con thương yêu vẫn còn rỉ máu trong tim bà. Nhu cầu tình cảm
hiện giờ của bà là hai đứa con, nay chúng đã bỏ ra đi thì bà cần gì nữa? Sợ gì
nữa? Trong đời sống, điều làm nguời ta sợ hãi là sự chết, nhưng với bà bây giờ
cái chết không còn làm bà sợ thì bà sợ gì mấy thằng trong Ủy Ban Hành Chánh.
Cái chết đối với bà là lối thoát êm đẹp nhứt, một mơ ước quái đản mà bà đã nghĩ
ngợi tới luôn và bà đã chuẩn bị tất cả cho bà. Sở dĩ bà vẫn còn nấn ná đến ngày
hôm nay cũng chỉ để chờ tin tức Hiền, xem con bà đã đến bến bờ tự do chưa để bà
yên tâm ra đi. Bây giờ tình thế bắt buộc phải đi sớm hơn dự định thì đi, có gì
mà sợ. Biết đâu trong cõi thiên thu đó, bà sẽ gặp lại Vinh, đứa con trai thương
yêu của bà và biết đâu trong cõi sống không thù hận đó, con bà sẽ tha thứ cho
bà.
Đến lúc tuổi già, bao nhiêu bất hạnh xảy đến, bà mới hối hận là trong quá khứ,
bà đã sống với quan niệm sai lầm, coi tiền bạc mới là điều đáng kể. Bà đã không
ngần ngại gây ra bao tội lỗi với chồng con, với đất nước. Những ngày tháng cuối
đời, bà đã ý thức được điều đó nên chẳng còn tha thiết gì đến sản nghiệp nầy và
cũng lần đầu tiên trong đời bà cảm thấy hối tiếc về những chuyện đã làm. Bà muốn
quay về với Chúa một lần nữa, nhưng chiếc cầu liên lạc giữa bà và Chúa đã gảy.
Thuở trẻ, nhiều lần bà đứng cầu nguyện trong Hội Thánh, xưng mọi tội lỗi ra với
Cha để được thảnh thơi vì tin rằng tội lỗi đã được tha. Bà muốn được trong sạch,
không một vết nhơ tội lỗi nào để được giống như Chúa, nhưng đồng tiền đã đẩy bà
xa cách Chúa. Bà đã có một thứ thần tượng khác để tôn thờ. Đó là tiền! Là Tiền!
Đồng tiền là tất cả. Bà đã không ngần ngại tiếp tay với kẻ thù để đặt một thứ
chủ nghĩa phi nhân lên đầu lên cổ đồng bào bà, cái thứ chủ nghĩa coi mạng sống
con người như rơm rác và đang biến đồng bào bà thành những con người không có
trái tim. Bà từng chuyển vũ khí, thuốc tây trên đường thủy bằng những chiếc
thuyền bán hàng bông trên sông. Bà đã từng tổ chức những đám tang mà trong quan
tài không có người chết, chỉ chứa vũ khí và thuốc tây rồi ban đêm kẻ thù đến
đào mang lấy về. Trong lúc tiền bạc tuôn vào như nước, bà say tiền, không nhìn
thấy tội lỗi. Càng ngày bà càng đi sâu vào tội lỗi hơn.
(các trang 479, 480, 481)
Có thể bảo ngòi bút của Anh Vân làm một cuộc viễn du hào hứng
qua bốn giai đoạn lịch sử: ngày tàn của Miền Nam Việt Nam, giai đoạn đầu của nền
cai trị độc ác của bọn giặc đỏ sau khi cưỡng chiếm miền Nam, giai đoạn nhục nhằn
khốn khổ của những kẻ vượt biên phải trả giá tự do rất đắt. Và sau hết là sinh
hoạt của lũ mị dân và của những kiều bào nhiệt tâm yêu nước ở hải ngoại.
Đa số những nhà văn có tâm huyết thường đem tâm tình viết lịch sử. Sử gia thì
chỉ có việc ghi chép mọi lớp sóng phế hưng của lịch sử dân tộc sao cho trung thực,
cho chính xác. Thỉnh thoảng, họ phê phán các chính sách của các triều đại, của
các chế độ, phê phán hành động của các nhân vật lịch sử, chứ không dám đá động
tới nhân sinh quan, cảm nghĩ của các nhân vật lịch sử đó. Còn nhà văn thì dùng
một giai đoạn lịch sử nào đó để làm đề tài cho tác phẩm của mình. Họ có quyền sửa
đổi chút ít hành động của các nhân vật lịch sử mà họ dùng làm nhân vật cho tác
phẩm mình. Họ có quyền thêm thắt vai nhân vật giả tưởng có liên quan tới các
nhân vật lịch sử để đôi bên cùng hoạt động hay tương tranh trên các ván cờ lịch
sử. Và để tác phẩm tươi mát hoặc ướt át sương mưa trữ tình lãng mạn, tác giả lịch
sử tiểu thuyết có thể nặn ra những giai nhân tưởng tượng để cho họ bắt liên hệ
cùng nhân vật anh hùng dân tộc. Đó là trường hợp Lan Khai đã cấu tạo cô nàng nữ
hiệp giả trai mặc áo xanh để bắt tình với Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ trong quyển
Chàng Áo Xanh. Nữ sĩ Kathleen Windsor trong quyển Ambre đã tạo ra nàng Ambre sắc
nước hương trời để dan díu với vua George Đệ Nhị nước Anh. Tác giả cuốn Phản Đường
hay tác giả quyển dâm thư Như Ý Quân đã tạo ra chàng Tiết Ngao Tào với tài sành
điệu trong thú gối chăn để làm thỏa mãn tình dục cho Nữ Hoàng Vũ Tắc Thiên...
Ác Mộng Đêm Dài nếu trình làng trước đây 15 năm là một cuốn tiểu thuyết hiện thực
phản ảnh sinh hoạt các cộng động kiều bào ở hải ngoại. Bây giờ nó trở thành một
cuốn dả sử tiểu thuyết với các nhân vật hư cấu chường mặt ra sân khấu cuộc đời,
còn những nhân vật có thật như Hoàng Cơ Minh và bè lũ của mặt trận chỉ được xuất
hiện trên những dòng thuyết thoại đơn sơ và gảy gọn... Hay đúng ra đây là quyển
tiểu thuyết hiện thực lấy bốn giai đoạn lịch sử khác nhau để dựng nên bối cảnh
khác nhau trong bốn giai đoạn thời gian kế tiếp nhau.
Tác giả Anh Vân viết tác phẩm Ác Mộng Đêm Dài bằng nước mắt, bằng trái tim
thành khẩn. Anh như nhập vào mỗi nhân vật và đồng hóa với họ để cảm xúc, để tư
duy theo mệnh nước nổi trôi, theo sự tráo trở của bọn người giả danh đi làm lịch
sử bằng cách buôn người ái quốc, bằng cách hủy diệt truyền thống tin yêu của
dân tộc. Đây cũng la bản cáo trạng đen, một bản tường trình đẫm máu để chúng ta
suy gẫm, để những thế hệ mai sau nắm vững sự thật đau lòng về những kẻ trưởng
thành từ cuộc nội chiến Quốc Cộng cho đến khi họ thoát ly địa ngục Cộng Sản để
dịnh cư ở hải ngoại. Và tác phẩm còn cho chúng ta thấy tác giả là một kẻ yêu
đương nồng nhiệt thiết thành khi anh hóa thân nhập cuộc vào các nhân vật xương
sống trong tác phẩm như Nam, Sử, Hiền và Lan, làm cho tác phẩm đa dạng tình người
và tươi mát mạch sống. Ngoài ra, anh còn chứng tỏ mình là một tác giả ưu tư với
căn phần thê thảm của tổ quốc qua hành động và nếp tư duy của các nhân vật ấy.
Chương Chín
Tổng quan văn chương
của Nguyễn Thị Thụy Vũ
Từ khi khởi nghiệp vào năm 1967 cho tới năm 1975, Nguyễn Thị Thụy Vũ đã
trình làng 10 tác phẩm như sau: "Mèo Đêm" (tập truyện), "Lao Vào
Lửa" (tập truyện),"Ngọn Pháo Bông" (truyện dài), "Thú
Hoang" (truyện dài), "Chiều Mênh Mông" (tập truyện), "Khung
Rêu" (truyện dài), "Như Thiên Đường Lạnh" (truyện dài), ' Nhang
Tàn Thắp Khuya" (truyện dài), "Chiều Xuống Êm Đềm" (truyện dài),
"Cho Trận Gió Kinh Thiên" (truyện dài). Chị chường mặt trên văn đàn
giữa lúc Nhã Ca viết chuyện anh tiền tuyến em hậu phuơng pha một chút bóng dáng
văn chương thời thưọng, giữa lúc Túy Hồng le lói văn chương hâm hấp tình dục,
giữa lúc Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng mải miết chạy theo văn chương hiện
sinh...
Văn chương Thụy Vũ thật khó xác định. Chị viết về tâm sự cô đơn của các cô gái
già, chị viết về xã hội các cô gái buôn hương bán phấn, chị viết về sinh hoạt của
gia đình nhiều biến cố có liên quan đến thời cuộc và đến những khúc quanh của lịch
sử. Đó là thứ văn chương hiện thực xã hội pha trộn một chút bóng dáng văn
chương nổi loạn vốn là tàn dư sót muộn của văn chương hiẹn sinh. Trừ Nhã Ca ra,
bốn nhà văn nữ Trùng Dương, Túy Hồng, Thụy Vũ và Nguyễn Thị Hoàng xiển dương thứ
văn chương tình yêu truợt qua tình dục, không cần miễn cưỡng, không cần chống
đói sự trượt ngã ấy. Văn chưong của họ phải tách ra phong cách cô giáo, phải phản
ảnh trung thực cái ước vọng của họ, không cần ngụy trang nếp suy nghĩ của mình.
Họ sống sượng, ngang ngược, rồi bù lu bù loa, rồi tru tréo, rồi dẩy đành đặch với
thứ cảm tính bung vỡ như trái lựu đạn rút chốt nổ tứ tung. Nhưng Nhã Ca vẫn có
những truyện ngắn khá nổi loạn, tách rời lối văn những kẻ đi trước mình như Thụy
An, Mộng Sơn Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo, Đặng Thị Thanh Phưong, Minh Quân, Minh
Đức Hoài Trinh... Cho nên Nhã Ca, Túy Hồng, Thụy Vũ, Nguyễn Thị Hoàng trở thành
5 cây bút phụ nữ thời danh lẩn thời thượng gây biết bao dao động trong văn giới.
Nhã Ca cũng dùng bút pháp khi thì rống la khóc lóc, khi thì mơn man quá trớn,
chị cũng tô đậm sắc thái tình cảm một cách cẩu thả, buông lung. Nhưng cả năm mở
rộng cách yêu đương đôi lứa rồi đặt lại vấn đề về yêu cái tự do cá nhân, sự mến
chuộng cuộc sống riêng tư. Họ xiên dương sự thành khẩn với chính mình, sự can đảm
đạp nhầu lên cách thưởng ngoạn cổ truyền của thành phần đa số độc giả có đầu óc
bị đóng khung trong lề thói đạo đức. Đó là một đặc điểm rất kỳ đặc, rất lộng lẫy
trong văn giói làm chấn động một thời đại của nền văn chương Miền Nam Việt Nam
trong bối cảnh ngập tràn khói lửa máu xương.
Xin điểm qua các cuốn sách của Nguyễn Thị Thụy Vũ đã xuất bản:
* "Mèo Đêm": Khi quyển sách này nhà xuất bản Thời Mới trình làng thì
chỉ gồm có 4 truyện ngắn. Hai truyện ngắn "Một Buổi Chiều", "Đợi
Chuyến Đi Xa" nói về tâm trạng ray rứt thèm thuồng tình yêu lẫn tình dục của
một cô gái già. Hai truyện ngắn " Mèo Đêm", "Nắng Chiều
Vàng" viết về các cô bán snack bar dan díu với bọn lính Mỹ. Khi được nhà
xuất bản Kim Anh tái bản thì có thêm 2 truyện ngắn " Bóng Mát Trên Đường"
và "Miền Ngoại Ô Tình Lẻ"; hai truyện ngắn này cũng chỉ nói lên niềm
cô đơn của tác giả được thể hiện qua hai nữ nhân vật chánh. Văn chương tình tự
của tác giả êm dịu, đôi lúc thơ mộng nữa là khác, nhưng đôi lúc lại le lói mầm
mống nổi loạn.
* "Lao Vào Lửa": Đây là quyển sách thuần túy viết về nếp sinh hoạt của
các cô điếm trá hình các cô chiêu đãi viên trong các snack bar. Hai truyện ngắn
"Chiếc Giường" và "Lao Vào Lửa" lấy bối cảnh tại một snack
bar ở Sài Gòn, còn truyện ngắn "Đêm Nổi Lửa" lấy bối cảnh ở nhà
thương khám bịnh hoa liễu mà thời nhân gọi là Nhà Thương Bạc Hà. Nhân vật chánh
bị bắt đi 'lục-xì" và bị giam lỏng ở nhà thuơng ấy. Muốn thoát ra khỏi nhà
thương ấy, đương sự thông đồng với kẻ bị giam đồng cảnh ngộ với mình và người
tình nhân Việt Nam ở bên ngoài. Đợi vào tới đêm cận Tết, cả bọn nổi lửa gây hỏa
hoạn để thừa lúc hổn loạn chạy thoát ra ngoài.
* "Chiêu Mênh Mông": Tập truyện này gồm có một truyện tả tâm trạng những
nhân vật cô đơn như truyện ngắn "Chiều Mênh Mông"(cùng tựa với tập
truyện). Truyện ngắn"Tiếng Hát" miêu tả cái bỡ ngỡ cô thiếu nữ lạc
loài theo kiểu tha phương cầu thực. Tình cờ cô bước vào cái xã hội văn nghệ sĩ
thời thượng và chịu ăn nằm với một chàng du ca mà không thể nghĩ sự dan díu sẽ
đi tới đâu sau cuộc làm tình không mấy hào hứng đó. Truyện ngắn "Lìa
Sông" mô tả cô gái già may mắn tìm được tấm chồng rồi đi đến cuộc hôn nhân
ở phần kết thúc câu chuyện; nhưng trong cuộc hành trình của cây bút, tác giả
cho cô gái rên siết dẩy dụa, than thân trách phận nghe mà ớn óc. Truyện ngắn
"Cây Độc Không Trái" mô tả cô gái bán snack bar đi phá thai. Cách phá
thai được tác giả mô tả đến nơi đến chốn làm người đọc rùng mình. Rồi tác giả
mô tả luôn mặc cảm phạm tội của cô gái cùng cái ý tưởng mai sau mình sẽ tuyệt tự.
Truyện ngắn "Trôi Sông" và truyện "Đêm Tói Bao La" với bút
pháp dữ dằn, với cốt truyện phanh phui tàn nhẫn cái bản năng giông bão của hạng
cùng đinh trong xã hội. Bút giả sẽ khai thác 2 truyện ngắn này sau.
* Thú Hoang: Mô tả cái thế giới nữ sinh trong trường công lập tại tỉnh lẻ. Các
độc giả đừng hòng gặp cái thời kỳ thơ mộng quý báu của thuở học trò. Ba nữ nhân
vật chánh, cô thứ ba thì bị tên nam sinh trường khác cưỡng dâm, cô thứ hai thì
dan díu với tên nam sinh sở khanh đến đỗi ôm hoang thai và ả ta lại phải phá
thai, còn nữ nhân vật thứ nhất xưng tôi vì chán không khí u trầm nơi tỉnh lỵ cố
hương nên bỏ nhà lên Sài Gòn để làm cuộc đời mới. Nhưng trong chuyến xe đò, y
thị gặp tên nam sinh sở khanh, cảm thấy mềm lòng lõng dạ khi được hắn ve vãn. Tới
đây tác giả chấm dứt câu chuyện. Không ai có thể đoán biết cuộc đam mê sẽ đưa đẩy
y thị tới đâu.
* "Ngọn Pháo Bông": Đây là truyện dài mô tả tâm trạng một cô gái buôn
hương bán phấn về chiều, nhưng vẫn còn hấp dẫn mấy anh lính G.I trẻ trung. Khốn
nỗi cô ta lại yêu loại trai đồng chủng bị chúng rút rỉa bòn tiền. Rồi cô ta bị
đâm chết trong căn appartment mà nhà chức trách không sao tìm ra thủ phạm. Đây
là một nhân vật có thật tên Yến có hổn danh là Yén Ngựa mà giới "chị em
ta" và giới vũ nữ trong các vũ trường hoa lệ ở Sài Gòn đều biết tiếng.
Nhưng tác giả đổi tên cô ta là Thắm Ngựa. Cái chết của cô ta được báo chí xôn
xao cả tuần.
* "Như Thiên Đường Lạnh": Chuyện đời sống của đôi vợ chồng định cư
trên một giang đảo (cù lao An Thành đối diện với chợ tỉnh Vĩnh Long qua nhánh
sông Cổ Chiên). Chồng là thầy giáo tiểu học, tánh lông bông, ưa ngoại tình,
không hẳn là người tham thanh chuộng lạ, không hẳn là thứ ưa thú vui tửu sắc,
mà là chán cái lập đi lập lại rất vô vị của cuộc sống không biến cố. Vợ là người
đàn bà đảm đang, ghen tương, hổn hào nhưng hết dạ yêu chồng. Người chồng vốn
thích cuộc sống thay đổi, nhưng không dám sống dù có gặp sự thay đổi thực sự đi
nữa. Y ta cảm thấy cuộc sống hầu như ngưng đọng ở vùng nửa chợ nửa quê, rồi vì
tinh thần bạc nhược nên y ta vẫn giữ nghề gõ đầu trẻ, lóng ngóng một sự thay đổi,
nhưng sự thay đổi không hề xảy đến. Cuốn sách toát ra không khí chán nản, uể oải
như không khí trong truyện dài "Băn Khoăn" của Khái Hưng.
* "Nhang Tàn Thắp Khuya": Đây là câu chuyện người vợ đảm đang yêu chồng, gánh vác hoàn bị giang sơn nhà chồng vốn là đại gia thuộc thành phần trưởng
giả. Nhưng không ngờ, một ngưòi bạn chồng hiện đến. Y ta bạc nhược tinh thần,
trái hẳn cái vững chải lành mạnh của chồng. Người vợ vốn cảm thông, rất bao
dung và hay mềm lòng đói với kẻ yếu đuối. Nàng không ngờ từ tấm lòng hào sảng của
mình, nàng lún sâu vào tình yêu. Người bạn chồng và nàng đều hiểu nhau rằng họ
đã yêu nhau, người bạn hăm hở tiến tới, còn người vợ vì lễ giáo nên chỉ biết
đau khổ trốn vào bổn phận vợ hiền. Song song với tình yêu chồng, người vợ có một
niềm bí mật vạn phần lộng lẩy để cất giấu trong kho tàng kỷ niệm của riêng
mình.
* "Chiều Xuống Êm Đềm": Truyện xảy ra vào thập niên thập niên áp chót của thế kỷ 19. Đôi vợ chồng già trưởng giả ở làng Đạo Thạnh, tỉnh Mỹ Tho sống
cô đơn, nương tựa vào nhau. Hồi xưa, vào tuổi hoa niên, người chồng đã từng chứng
kién người cô ruột hãy còn là xử nữ của mình trong chuyến hải trình từ Huế vào
Nam Kỳ bị làm lễ tế thủy thần cầu cho biển lặng sóng êm. Chủ thuyền và cả bọn
hành khách mê tín trong thuyền nhẫn tâm liệng người thiếu nữ ấy xuống biển cho
Long Vương làm vợ bé. Khi trưởng thành, đương sự cưới một người thiếu nữ họ
hàng với ngài Tả Quân Lê Văn Duyệt làm vợ. Nhưng nghiệt thay, sau đó Lê văn
Khôi, con nuôi ngài Tả Quân khởi loan, rồi bị triều đình tiêu diệt. Họ hàng của
ngài Tả Quân đều bị xử tử theo án tru di tam tộc. Người vợ họ Lê dùng bột tỳ
sương tự vận để khỏi bị lôi ra pháp trường xử chém. Người chồng khốn khổ đó sau
đó ít lâu tái hôn với một thiếu nữ khác. Dù được người vợ sau yêu thương và tận
tụy săn sóc, nhưng hai vết thương trong tâm khảm người đàn ông khốn khổ kia
không thể nào phai mờ. Người vợ sau chỉ sinh hai cô con gái. Cả hai đều xinh đẹp
và hiếu hạnh, đều được lấy chồng có địa vị cao sang trong xã hội, làm vẻ vang
cho cha mẹ. Con gái lần lượt theo chồng. Dưới mái nhà cổ kính âm u chỉ còn đôi
vợ chồng già. Đây là lúc lão ông sống hoàn toàn với dĩ vẫng đau thương. Và đây
là lúc lão bà lo sợ cái chết cướp mất một ai trong hai vợ chồng để người ở lại
chịu cảnh lẻ loi trong buổi hoàng hôn cuộc dời.
* "Cho Trận Gió Kinh Thiên": Đây là một xã hội thu nhỏ ở một xóm lao
động ở chặng giữa Chợ Đũi và bót cảnh sát Quận 3 của Thủ Đô Sài Gòn. Khu xóm ở
gần đình Phú Thạnh và tòa Đại Sứ Căm-bốt trước năm 1975. Trong xóm ấy có nhà chứa
điếm, có các chiếu bạc sòng bài, có quán nhậu, có chỗ hút nha phiến... Trong
khung cảnh có tứ đổ tường ấy, trừ hai nhân vật chánh có ăn học là đôi tình nhân
Đồng và Nguyệt, còn ngoài ra thì gồm những nam nhân vật thuộc hạng đá cá lăn
dưa, những nữ nhân vật thuộc hạng Chằn ăn trăn quấn. Mỗi nhận vật đều có cá
tánh riệng, có cuộc sống riêng tư bê bối riêng. Đàn bà gặp lúc phong trào Mỹ
qua Việt Nam tham chiến, đua nhau lấy Mỹ. Rồi còn vụ ngoại tình, vụ tham dâm
chuộng dục, chuyện mê bài bạc sa đà, chuyện buông thần bán thánh. Tác giả dùng
ngòi bút của mình đập mạnh vào hoàn cảnh và nội tâm mỗi nhân vật để họ lòi ra
nguyên vẹn cái bản năng đê tiện lẫn một vài căn tánh được thiên lương soi sáng.
Nhiều chi tiết sinh động làm cho tác phẩm lồ lộ nét sống thực tươi rói. Trước
đó, quyển truyện dài "Thềm Hoang" của Nhật Tiến dù đoạt giải nhất về
văn chương của giải Văn Hoc Nghệ Thuật Toàn Quốc lại thiếu chi tiết đặc thù và
sống thực. Cho nên khi được tái bản ở Việt Nam dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa thì
nó bị chê bai dè bĩu là tác giả chỉ viết được vài chuyện chung chung hoặc chuyện
hư cấu mà ai ai cũng đã biết qua rồi. Văn hào Léon Tolstoi cho rằng chi tiết
làm nên đại cuộc. Nhật Tiến không có chi tiết đặc sắc theo nhu cầu đòi hỏi của
văn chương. Trái lại Thụy Vũ tìm gặp những chi tiết ấy trong một cái xã hội có
thật nên nét đặc thù của chúng được hiển lộ toàn vẹn và được khai thác triệt để.
Chắc chẳng có ai chịu khai thác chuyện bà mẹ trong căn gác xép ngồi niệm Phật
thì cô con gái lợi dụng đêm tối không trăng, chỗ khuất cột đèn nen đem tình
nhân của mình hì hục làm tình ở ngoài bao lơn khiến bà ta than thở rồi rầy rà:
"Mèn ơi, mỗi khi mình mở miệng niệm Phật thì ở ngoải tụi nó làm đùng đùng
như cù dậy". Lại có một vận sự nữa. Đôi vợ chồng già chỉ ở chung với nhau
vì nghĩa, hết còn vì tình. Ông chồng đau ốm dây dưa làm phền bà vợ trong khi bà
mê sa bài bạc. Khi ông hấp hối, đứa cháu đến sòng bài tứ săc báo tin cho bà
hay. Bà nhứt định đánh cho tới đứt chến mới về nhà lo ma chay cho chồng. Bà già
này có đứa em gái vừa câm vừa điếc. Văy mà y thị tìm đâu được vài tên đàn ông
vô danh nào đó gieo giông để y thị lần lượt đẻ hai đứa con cho chị mình nuôi. Đến
khi y thị lăn đùng ra chết, bà già mê bài bạc kia vẫn tiếp tục đánh tứ sắc
trong khi xác em gái mình còn nằm trên gác chưa tẫn liệm.
Nếu bình tâm mà xét, trong mười tác phẩm gồm truyện ngắn lẫn
truyện dài thì chỉ có "Cho Trận Gió Kinh Thiên" (truyện dài) cùng ba
truyện ngắn "Trôi Sông", "Đêm Tối Bao La" và "Lòng Trần"
là đáng nói hơn vì những tác phẩm này đập mạnh vào cõi ấn tượng độc giả bằng những
nhát búa khốc liệt. Những truyện ngắn lẫn truyện dài khác, kể cả quyển
"Khung Rêu" đã từng đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc năm 1970
cũng chỉ xây được cái nền mống và các rường cột cho ngôi nhà văn chương của
Nguyễn Thị Thụy Vũ mà thôi. Chính 1 truyện dài và 3 truyện ngắn mà tôi vừa kể mới
thắp hào quang cho văn nghiệp kia, mới làm rạng ngời thần trí sáng tạo của tác
giả. Nhã Ca viết về cảnh hậu phương xa tầm lửa đạn khói súng. Văn chương quá hiền.
Túy Hồng rống la tru tréo thân phận đàn bà bị thiệt thòi. Cũng còn hiền thôi.
Trùng Dương và Nguyễn Thị Hoàng chạy theo gót văn chương mệt mỏi, chán chường,
bồn nôn, bợn dạ, ói mửa lung tung của chủ nghĩa hiện sinh. Cũng vẫn còn hiền.
Nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ qua 3 truyện ngắn và 1 truyện dài kia có thể cứa mạnh
vào tâm khảm độc giả những nhát dao độc địa, những lằn roi tàn nhẫn. Còn ngoài
ra những tác phẩm truyện dài truyện ngắn khác chỉ đọc dược thôi, không khởi sắc,
không làm khách thưởng ngoạn sành điệu khác khởi hứng bao nhiêu.
Những cây bút phụ nữ ở hải ngoại chỉ có Hàn Song Tường, Nguyễn Thị Thanh Bình
và Lê Thị Thấm Vân với các tác phẩm xuất hiện vào đầu thế kỷ 20 là triển khai
cái dữ dằn của Dostoiecski, của Yukio Mishima nên văn chương họ đôi lúc làm
bàng hoàng và xây xẩm người đọc. Họ đã trở thành ngoại lệ. Họ thăng hoa bằng một
tốc độ khủng khiếp. Họ tràn lướt qua 5 cây bút thời danh vào thập niên 50 của
thế kỷ vừa qua như Lê Thị Huệ, Phan thị Trọng Tuyến, Trần Diệu Hằng, Nguyễn Thị
Ngọc Nhung, Nguyễn Thị Hoàng Bắc bằng những bước chân khua động hơn. Còn những
nhà văn nữ khác hoặc đồng thời hoặc hậu bối với quý bà có lối văn chương dữ dằn
kia, lớp thì lỡn vỡn chút khói sương lãng mạn như Hoàng Nga, lớp thì gọt dũa và
chạm trổ cảm xúc hoặc thêu thùa hoa lá cành trên cái mặt ngoài của cuộc sống;
đó là trưòng hợp của Đặng Mai Lan, Lê Thị Minh Hà. Còn lớp thì còn nắm nuối loại
văn chương hiện thực đang hồi héo úa như Trần Thị Diệu Tâm. Tìm không ra, kiếm
không nổi nhiều cây bút phụ nữ khác dám đương đầu với những cái thô bạo, cái
nhám nhúa sần sùi trong cuộc sống. Lại còn không có cây bút phụ nữ nào khác dám
lột trần lớp ngụy trang cái bình diện an lành dối trá, cái thỏa hiệp hèn mọn đối
với cuộc sống giả tạo.
Ở hải ngoại, 4 truyện ngắn của Nguyễn Thị Thụy Vũ được các báo đăng đi đăng lại
nhiều nhất là : "Đêm Tói Bao La", "Lòng Trần" và "Quê
Nhà". Truyện ngắn "Lòng Trần" đạt đến pham vi Duy Thức Hoc của
Phật giáo. Điều đó đã đưa tên tuổi tác giả lên cao trong khoảng đầu thập niên
70 của Thế kỷ 20.
Nguyễn Thị Thụy Vũ không hề nêu tình ý gì rõ ràng trên mặt chữ. Chị viết khơi
khơi, chỉ trình bày diễn biến của sự việc. Nhưng ở truyện ngắn "Lòng Trần",
ẩn sau mặt chữ của chị thấp thoáng bao điều làm chúng ta ray rứt bàng hoàng khiến
chúng nghĩ ngợi không thôi. Một chân trời tư tưởng mênh mông và thăm thẳm? Một
bí nhiệm nằm sau lưng cuộc sống hay ở ngay trong cuộc sống? Làm sao chúng ta nắm
bắt được trọn vẹn ý tình của chị? Tuy nhiên, chúng ta vẫn cứ tiếp tục ray rứt
bàng hoàng, vẫn cứ tiếp tục suy gẫm...
* "Trôi Sông": Truyện ngắn này gồm 2 nhân vật bị hất ngoài lề của xã
hội giàu sang mà họ dã từng ao ước. Một lão già có cô gái làm hầu thiếp cho một
viên quan tri phủ về hưu. Lão chỉ được cấp dưỡng bằng số tiền quá ít oi, ăn uống
đạm bạc theo bực tôi tớ trong nhà. Một mụ đào hát bội già nua đã hết thời từ
lâu, phải về cái xóm ngoại ô tỉnh Vĩnh Long hẩm hút cháo rau cho qua ngày đoạn
tháng. Nhưng ai cấm lão già mơ vào một ngày đẹp trời nào đó, con gái lão được
Trời ngó lại để xui khiến cho quan phủ sủng ái y thị, chu cấp tiền bạc bộn bàng
cho y thị?. Ai cấm mụ đào hát bội nhớ tiếc vào thời dĩ vãng vàng son, mình được
các bậc hào phú trưởng giả đưa đón và nuông chiều? Trong lúc quăng mình thăng
hoa vào ảo tưởng chói lọi ánh vinh quang, họ tưởng chừng mình hóa thân vào một
người hào hoa khác hẳn con người hiện tại. Họ cần phải hưởng thụ. Cho nên họ cụp
lạc với nhau. Lão già trong lúc hành dâm, chết trên mình mụ đào hát bội già. Tới
sáng, mụ mới biết người bạn chăn gối với mình tối hôm qua đã cưỡi ngựa gió chầu
Ngọc Hoàng Thượng Đế rồi. Mụ nổi cơn điên la hét khủng khiếp.
* "Đêm Tối bao La": Khi được đóng góp vào quyển tuyển tập truyện ngắn của nhiều tác giả "Ba Miền Mười Khuôn Mặt", truyện ngắn này có cái tựa
là "Bà Điếc". Khi được vào tập truyện "Chiều Mênh Mông" của
Nguyễn Thị Thụy Vũ' thì cái tựa của nó được đổi thành "Đêm Tối Bao
La". Cốt truyện như sau: Trong ngôi nhà cổ kính của một gia đình địa chủ
đang hồi suy sụp có cô gái già mập ú tên Linh ở chung với bà đầy tớ già điếc
lác được gọi là "bà Điếc". Cha mẹ cô Linh đi làm ăn ở xa. Cô mòn mỏi
đợi có người đến hỏi cưới, nhưng chẳng có anh chàng nào tình nguyện cho cô trao
thân gửi phận Túng thé cô dan díu với một người đàn ông tên Duy xấu trai, gia
thế và tung tích mơ hồ, tư cách và tâm địa chẳng có gì đặc sắc. Bên cạnh cô, bà
Điếc sống náo nhiệt hơn cô với tâm tánh quái dị, với tình trạng dở điên dở
khùng. Với thân phận tôi tớ không thể lấy chồng được, không có tiền ăn diện lại
già nua xấu xí, cho nên bà Điếc dù rụng răng cũng tỏ ra mình văn minh tân thời
như ai. Bà mua kem chà răng... để đánh nướu răng, chắt mót tiền đi uốn tóc,
nhưng vì biết bà khùng nặng nên các tiệm uốn tóc từ chối. Bà yêu một ông già có
vợ, nhưng ông ta chỉ cặp xách bà qua đường mỗi khi từ dưới quê lên chợ tỉnh mua
sắm. Rồi bỗng dưng cái ảo tưỏng (les illusions) muốn làm trẻ đẹp, muốn có cuộc
sống người tân thời, muốn có tình yêu của bà ta vụt biến thái thành những khải
tượng (les visions) quái đản. Bà thấy giữa ngày có ác thú hoặc cơn lụt lội hay
cơn hỏa hoạn xảy đến. Có đêm bà thấy Linh bị kẻ lạ cưỡng bức. Kết cuộc câu chuyện,
bà Điếc chết vì chứng xơ gan, còn Linh bị tên Duy tặng cho cái bầu, nên cô phải
phá thai và dự định lên Sài Gòn để xa lánh cuộc sống hẩm hiu trong ngôi nhà quạnh
vắng tại miền ngoại ô tỉnh lỵ.
Xin đọc đoạn chót trong truyện "Bà Điếc" tiền thân của "Đêm Tối
Bao La" đã đăng trên đặc san Phù Sa Sông Cửu vào dịp Tết năm Giáp Tuất
(2004) do Hội Ái Hữu Vĩnh Long - Vĩnh Bình - Sa Đéc ở Houston, Texas thực
hiện:
Anh Duy! Sau vụ phá thai, em sụt mất mười hai ký thịt. Em gầy gò, xanh xao. Đàn
ông như anh là kẻ vô trách nhiệm. Anh chớ tưởng sức mấy mà em trả đũa chuyện
anh bỏ em bô vơ với cái bào thai trong bụng được ba tháng. Đêm đêm, em giựt
mình, có cảm tuởng mình là kẻ sát nhân. Mai sau xuống âm ti địa ngục, cũng
riêng mình em chịu tội. Càng tội hơn là lúc đầu, em chẳng mảy may bị lương tâm
cắn rứt.
Bà Bảy Điếc đã chết. Tới phút lâm chung, bà chịu rửa tội để về với Chúa. Lẽ
nào, một cô gái trẻ như em ở bên lề cái thế giới âm hồn như vầy mãi sao anh?
Bây giờ em chỉ còn hai lượng vàng và và cái máy may. Đợi cho đỏ da thắm thịt để
che mắt thế gian, em sẽ tiếp tục may thuê cho thiên hạ. Đời em chưa hẳn tàn như
cảnh chợ chiều. Em sẽ chắt mót từng đồng để tìm bác sĩ giải phẩu thẩm mỹ. Em sẽ
cho bơm cái ngực teo trở thành cái ngực vĩ đại, sẽ nhờ ông ta vá lại màn trinh.
Để rồi anh xem. Em sẽ lấy chồng sĩ quan Thủ Đức. Nhứt định đời em chưa lâm vào
ngõ bí đâu. Trả thù anh, chẳng lẽ em mướn du côn đánh anh. Em sẽ làm một người
đàn bà phong nhã. Đôi lúc em còn mơ đi học hát để trở thành ca sĩ phòng trà.
Giờ đây thì em cô đơn quá. Ba má em trị cái tội lầm lỡ của em bằng thái độ hắt
hủi, bỏ liều. Quần áo em giờ đây rộng phùng phình. Phải sửa sang lối ăn mặc,
trang diện, em mới báo thù anh, cho anh sáng mắt ra là con Linh nầy không phải
là thứ gái gặp chuyện rủi ro là đem nước mắt ra giải quyết.
Nhìn trẻ con lối xóm, em đau lòng. Phải chi anh chịu làm cha thì con chúng ta sẽ
chường mặt với thế gian. Trời sẽ phat em. Mai sau dù có chồng đàng hoàng, em sẽ
tuyệt tự. Em vốn hiền lành, nhân đạo, tại anh, tại anh đó, em mới làm kẻ sát
nhân.
Em sẽ đi r a khỏi tỉnh nhà, chạy trốn ám ảnh quá khứ. Mùa nầy có ốc gạo và xoài
tượng. Các bà mang bầu tha hồ ăn cho thỏa thích bù tới lúc nằm giường cữ chỉ ăn
cơm trắng với cá kho khô. Bây giờ em bịnh hoạn, chẳng ăn gì ngon, lại ngủ không
được. Nhắm mắt lại em thấy đứa nhỏ bò qua bò lại, nhe hai cái nướu trống trơn
ra cười với em. Lại nữa hình ảnh bà Điếc ám ảnh em từng giây phút, ban đêm lẫn
ban ngày. Biết đâu em sẽ là phản ảnh của bà sau nầy, điên cuồng vì khát vọng mà
quên mất tuổi già.
Ôi! Em sẽ chết trong êm vắng, trong ám ảnh vầy vò chăng? Em phải đi, phải
đi...
(trang 140)
Truyện ngắn "Lòng Trần" trong tuyển tập truyện ngắn
gồm nhiều tác giả "Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng
Ta" do Sóng xuất bản vào năm 1973. Trước đó, hình như vào năm 1969 thì phải,
truyện ngắn nầy được đăng trên tập san Văn do Nguyễn Đình Vượng làm chủ nhiệm,
nó có cái tựa là "Muổng Nước Mắm". Truyện kể như sau: Năm Thàng là cô
đào hát bội, thanh sắc lẫy lừng được một ông phú hộ say mê. Ông tình nguyện gia
nhập gánh hát để được theo bước lưu diễn của cô. Ông săn sóc cô và soạn tuồng để
cô diễn. Cảm động tấm chung tình của ông, cô bỏ nghề hát để làm vợ ông. Rồi đó,
ông chồng chết vì tai nạn sét đánh, đứa con của cả hai cũng chết sau đó ít lâu.
Cô Năm Thàng cắt tóc đi tu, lấy pháp danh là Diệu Tâm, sống khổ hạnh, giữ trai
giới rất nghiêm nhặt cho tới tuổi già bóng xế. Ngờ đâu, trong phút hấp hối, sư
nữ Diệu Tâm đòi húp một muổng nước mắm. Nhưng họ hàng thân tộc của bà cho rằng
bà sắp thành chánh quả mà còn bị quỷ ma theo khuấy phá để bà bị tội phạm giới.
Cho nên họ nhất định không chiều theo ý của bà. Bà chết trong cơn hành hạ của
thể xác, trong cơn thèm thuồng không được thỏa mãn. Càng chua xót hơn, trong
phút lâm chung, bà quên mình là kẻ tu hành mà chỉ nhớ mình là cô đào hát bội
Năm Thàng:
... Tất cả đứng im lặng chung quanh giường chờ đợi phút nghiêm trọng của ni cô
trong khi ni cô vật vã từng đợt với Tử thần. Tiếng nói của bà vụt sang sảng như
lúc còn trên sân khấu. Giọng nói trong trẻo, tỉnh táo nhưng đôi mắt bà vẫn nhắm
nghiền:
- Tôi mới biết thương mình, mấy năm mình khổ công theo đuổi tôi, mình đặt tuồng
cho tôi hát.
- Con gắng học hành cho đỗ đạt làm quan nghe con cưng của má.
- Tôi chỉ thích sắm vai Đoàn Hồng Ngọc hơn làm Phàn Lê Huê. Mình thích tôi diễn
vai nào nhứt?
- Bớ nầy Tiết Giao! Ớ nầy bạc tình lang! Mặt chàng đẹp mà làm chi? Lời chàng ngọt
ngào làm chi? Để thiếp ngày nay mất ngọc, thân thiếp bơ vơ.
Cả một ký ức trồi nhanh lên óc bà rõ rệt và nhanh như một phim quay hết tốc lực
của nó. Bà độc thoại từ quãng đời sân khấu đến quãng đời làm vợ ông phú hộ Thọ.
Giọng bà đang sang sảng vụt dừng lại, dưới ánh đèn hiu hắt, ni cô mở trừng trừng
đôi mắt trắng nhợt như cố thu hình ảnh sau cùng của đời sống và ni cô quờ quạng
hai bàn tay trơ xương với lời van vỉ đứt nối:
- Hãy cứu tôi, cho tôi một muỗng nước mắm thôi.
Cô cháu dâu nhìn bà em họ:
- Mợ ơi! Mợ nhờ sư sãi đọc kinh trừ tà nghen. Cần nhứt là canh giữ đừng cho ai
đem nước mắm lại. Bà em họ tức mình:
- Để tôi đọc kinh cứu khổ. Hồi xưa Phật Thích Ca gần đắc đạo thì ma vương tới phá. Còn chị nầy sắp về Tây Phương tới nơi cũng chưa yên thân.
Tác giả trình bày sự việc theo lối kể truyện ở đoạn hồi ức về dĩ vãng vàng son
của ni cô Diệu Tâm. Nhưng ở đoạn tả cảnh chùa trong phần nhập đề, ở đoạn bà nằm
trên giường bệnh, tác giả mới thật sự viết văn. Bút pháp của chị đơn giản, đôn
hậu và chân phương qua lối dụng ngữ miền Nam Kỳ Lục Tỉnh rất hồn nhiên và linh
hoạt.
Từ nếp sống lưu diễn vinh quang, kinh qua nếp sống khuê các trên nhung lụa để
đi đến nếp sống tịnh trai khổ hạnh trong chùa, ni cô Diệu Tâm (hậu thân của nữ
nghệ sĩ Năm Thàng) phải gồng mình khép mình trong trai giới. Đó không phải bà
tu vì giác ngộ lẽ vô thường mà là để trốn tránh nỗi bất hạnh đau thương. Từ khởi
điểm, bà đã đi lạc đường lối tâm linh. Bà trốn tránh cái thất vọng chứ không chịu
quán niệm về cái Tánh Không của vạn hữu để thấy cái phù ảo huyễn hoặc của thuận
cảnh hay nghịch cảnh trong kiếp sống. Bà không dám đối diện với thất vọng đau
thương để phá mê diệt khổ. Đau thương, thất vọng, đam mê, đắc ý, khoái lạc, tất
cả đều là phiền não do cái Ngã tạo nên. Càng trốn tránh cái Ngã, nó chỉ tạm thời
lặn sâu dưới Tàng Thức chúng ta. Nhưng hễ có cơ hội thuận tiện là nó trồi lên
bình diện của ý thức. Nó vùng vẫy, hung hăng đánh phá tâm thức chúng ta. Đó
cũng giống như cái lò so mạnh bạo bị dồn nén tối đa. Nhưng đến một khi nào đó,
sự dồn nén lơi đi, nó bung ra với sức vùng vẫy cũng không kém dữ tợn. Trong trường
hợp ni cô Diệu Tâm, bà càng gồng mình trì giới, thì càng bị sức quyến rũ của giới
cấm thu hút. Khi còn mạnh khỏe, bà còn đủ sức áp đão nó bằng ý chí kiên cố.
Nhưng khi đau yếu, ý chí đó trở nên bạc nhược nếu không tiêu tan rời rã đi. Nó
vùng lên như họng hỏa diệm sơn khạc lửa và tuôn phúng xuất thạch không ai cưỡng
nổi. Nó như quả bóng ném mạnh vào bức tường để rồi dội ngược vào người ném một
cách thô bạo.
Thân xác bà mòn mỏi trong giấc hôn mê chập chờn, bà nghe tiếng tụng niệm ngoài
chánh điện. Trong bóng tối mù mờ, loáng thoáng có tiếng muỗi vo ve, đột nhiên
ni cô Diệu Tâm cảm thấy miệng mình lạt quá, lạt kinh khủng! Phải chi có một
chút nước tương để bà nếm thử. Trí óc bà dán chặt vào ý nghĩ đó, lưỡi bà khô đi
đồng thời nước dãi tuôn ra đầy miệng. Thế rồi ý nghĩ bà trôi xa hơn, nước tàu vị
iểu, rồi tới nước mắm. Cơ thể bà vụt bùng lên. Nước mắm! Nước mắm! Ni cô Diệu
Tâm nuốt ực nước miếng. Một nỗi xót xa là nước mắt bà ướt đẫm. Có cái gì chống
đối trong từng thớ thịt, khớp xương của bà.
Bà vụt nghĩ, nếu có một muổng nước mắm chui vào bao tử của bà thì có lẽ những
chấn động, phản đối trong cơ thể mòn mỏi sinh lực của bà sẽ dịu xuống, và muổng
nưốc mắm sẽ đem lại cho bà cái khỏe khoắn để bà ngủ một giấc thật ngon và ngày
mai bà sẽ tiếp tục sinh hoạt lại như cũ dưới mái chùa nầy.
- Nước mắm! Muổng nước mắm!
Ni cô hoàn toàn quên mất cái hiện tại trong chùa, quên cả mười năm tu hành. Bà
rơi trong ý thức mù mờ chỉ có hình bóng muổng nước mắm bằng sứ trắng chứa một
thứ nước vàng trong suốt như nước trà. Kê miệng mà nếm thử phải biết. Ni cô Diệu
Tâm co rúm lại, thở hổn hển. Ba tiếng "muổng nước mắm" như ba nhát
búa đập vào đầu óc bà làm bà lảo đảo.
Bà phải uống một muổng nước mắm. Ngày mai dầu có phải đọc kinh sám hối, bà cũng
không màng. Bà tin chắc chắn rằng dầu đọc kinh cứu khổ cứu nạn với Đức Bạch Y
Quán Thế Âm Bồ Tát cũng chưa chắc mầu nhiệm bằng một muổng nước mắm. Nước mắm sẽ
là món thuốc tiên làm cho cây khô trổ bông, làm cho bao nhiêu sinh lực của bà bừng
sống lại. Cố gắng hết tận hơi, bà thều thào gọi chú tiểu kiếm cho bà một muổng
nước mắm. Tất cả những người có mặt quanh giường đều ngạc nhiên lẫn hốt hoảng.
Diệu Tâm lập đi lập lại mấy lần:
- Mô Phật! Cho tôi một muổng nước mắm, tôi uống vào sẽ hết bịnh liền.
Tiếng kêu gọi van vỉ, thê thảm. Hai tay Diệu Tâm chìa ra tuyệt vọng. Chú tiểu
bưng đến gần bà tách trà ướp sen, kề gần miệng bà. Ni cô khép chặt môi phản đối:
- Tôi chỉ cần uống một chút nước mắm cho mặn mòi.
Nói xong, ni cô dìm hồn vào cơn đồng thiếp; hai cánh tay gầy guộc còn giương ra
quờ quạng van xin.
Đè nén quá khứ đau buồn vào quên lãng, đè nén thất vọng vì những mơ ước không
thành. Đó không phải là tu hành đúng phép, đúng cách. Tu là dùng ánh sáng trí
tuệ để soi bản thể vạn pháp trong vòng tham sân si rồi đưa tất cả vào Tuệ Giác,
vào Tánh Không (cái Không tuyệt đối, cái gốc rễ rốt ráo) của chúng. Có vậy, bậc
hành giả sẽ tu hành một cách hạnh phúc và thảnh thơi. Đè nén dĩ vãng và niềm
đau khổ, nhưng có ai giết chết được chúng đâu? Chỉ có xoa dịu chúng, âu yếm vỗ
về chúng và để rồi quán chiếu cái gốc rễ của chúng, xem chúng không có thật để
ta không bám víu vào chúng nữa. Nếu được vậy, hành giả sẽ thành công như người
thợ săn bắt được con trăn bằng cách nắm chặt cổ nó, khác hẳn trường hợp kẻ nắm
đuôi trăn bị trăn quay đầu lại quật ngã. Chỉ có ánh sáng Tuệ Giác trong nhưng
phút quán niệm, lần hồi ni cô Diệu Tâm sẽ giác ngộ rằng cái quá khứ vàng son của
mình là vô thường, nỗi đau khổ của mình cũng là vô thường do sự giả hợp của nhiều
yếu tố mà hình thành. Ánh sáng Tuệ Giác sẽ cho bà thấy tất cả đều là không thật,
đều là như huyễn, do đó bà sẽ giác ngộ.
Tôi xin lập lại: tu là tìm phương cách giác ngộ chứ không phải để tránh đau khổ.
Đau khổ sẽ đuổi theo người u mê lánh khổ cho tới tận cùng dù nó có bị dìm sâu
vào đáy thẳm tận cùng của tiềm thức đương sự đi nữa. Phật gọi đó là thức thứ 8,
Tàng Thức hay là A-lợi-da thức, kho tàng bao la không ngằn mé chất chứa những kỷ
niệm, biến cố, thiện nghiệp hay ác nghiệp từ vô lượng kiếp đến hiện kiếp. Mỗi
tác nhân, mỗi tác nghiệp dù nhỏ như mảy lông sợi tóc vẫn còn tồn tại mãi trong
cái Tàng Thức ấy, không bao giờ mất đi. Đến cơ duyên chín muồi là chúng tuần tự
hiện hành.
Muổng nước mắm đâu thể làm cho ni cô Diệu Tâm mang tội sát sanh. Nhưng nó là đầu
mối, là cánh cửa mở ra để bà thấy lại con đường phàm phu thế tục quyến rũ vụt
hiện bày trở lại trước mắt bà. Dù bằng ý thức chưa rõ rệt đi nữa, nhưng bà vẫn
còn muốn đi trở lại trên con đường ấy, sau nhiều năm bà phải buộc mình sống trai
giới chốn cửa Thiền. Nói rõ hơn, vì không còn phương tiện, cơ hội, sức khỏe và
nghị lực, cho nên bà không thể trở lại đường cũ nên bà phải tiếp tục nương náu
chốn chùa chiền để tìm chỗ nương thân và điểm tựa cho tinh thần mình.
Lại nữa, tu hành mà ép xác thái quá thì tinh thần cũng bị dồn ép theo lẽ thân
tâm tương ứng. Đức Phật chủ trương Trung Đạo trong đó có phần Trung Dung trong
cách tu hành: đừng nuông chiều xác thân trong những thú khoái lạc, nhưng cũng
không nên ép xác thân đến độ hành hạ khốc liệt xác thân. Dây đàn chùng quá sẽ
không nẩy bật ra âm thanh. Nhưng nếu căng thẳng nó quá, nó sẽ đứt.
Qua truyện ngắn "Lòng Trần", tác giả Nguyễn thị Thụy Vũ trình bày một
khía cạnh tâm linh khá đặc thù: lánh tục bằng cách nương náu chốn am vân chưa
chắc là ngộ. Vấn đề mê và ngộ vốn phức tạp và phiền toái. Mê vốn dễ bao trùm
giăng bủa khắp mỗi loại chúng sinh. Các bậc hành giả nếu đi sai một lằn tơ kẽ
tóc là bước qua đường tà có nhiều biển khổ bến mê đón đợi. Tu hành phải dựa vào
nền tảng Chánh Kiến và phải do Chánh Tư Duy soi sáng hướng dẫn. Con đường đưa tới
bờ chứng ngộ thấp thoáng nhiều bóng ma. Bóng ma ! Đó chỉ là cách nói những chuớng
ngại nội tâm tuy vi tế nhưng mãnh liệt kinh khiếp được cụ thể hóa bằng hình ảnh
ghê rợn để cảnh giác các hành giả đề phòng và xa lánh. Còn chướng ngại ở ngoại
giới dễ tránh hơn vì nó thô tháp và diễn biến nhãn tiền nên dễ làm cho hành giả
nhận chân được chúng ngay.
Trong quyển tuyển tập "Những Truyện Ngắn Hay Nhất Trên Quê Hương Chúng
Ta", có lẽ truyện ngắn "Lòng Trần" của Nguyễn thị Thụy Vũ được
nói tới nhiều. Không hiểu các nhà biên khảo và các nhà phê bình khi đề cập tới
truyện ngắn ấy đã nắm bắt những gì qua khía cạnh tâm linh? Tuy nhiên, hình như
chẳng có ai nhìn nó qua lăng kính Duy Thức Học, trong đó có một phần nói về
Tàng Thức. Họ chú ý tới nó vì hồi kết cuộc của câu truyện quá bất ngờ, như trái
lựu đạn nổ tung vào tín ngưỡng và vào ảo tưởng của họ.
Nhà văn Võ Phiến không bắt gặp được cái nét đặc thù dữ dằn
trong vài tác phẩm mà bút giả vừa kê khai. Nhưng cái tổng quan của ông về đặc
tánh chung trong văn chương của Nguyễn Thị Thụy Vũ rất là sắc bén. Xin cùng đọc
bài viết về Nguyễn Thị Thụy Vũ trong quyển 2 của bộ biên khảo "Văn Học Miền
Nam" do Văn Nghệ xuất bản:
... Đàn bà cầm bút, đa số viết chuyện tình ái hoặc lâm ly hoặc éo le, chuyện
vui chuyện buồn loanh quanh trong gia đình, giữa các chàng với các nàng v.v...
Bà Nguyễn xông vào cơn gió bụi, phanh phui những cảnh đời lầm than, làm lắm kẻ
sững sờ, nhăn mặt. Ở nước ta, từ trước tới nay chuyện bà Nguyễn làm là chuyện của
đàn ông. Nam phái vẫn xông xáo hơn nữ phái. Chuyện kéo xe, người ngựa ngựa người,
chuyện làm đĩ, chuyện lục-xì, móc túi, đánh cướp, buôn lậu v.v... thường do các
ông tìm hiểu và kể lại cho nhau nghe. Các bà các cô không tiện tìm, không tiện
kể, mà cũng không mấy thích nghe. Bà là người đàn bà khác thường. Tôi ngờ không
hẳn do năng khiếu, chẳng qua do một trường hợp ngẫu nhiên. Có một độ, hình như
lúc từ duói tỉnh về Sài Gòn, bà dạy Anh văn cho những cô gái có công việc làm
ăn giao thiệp với Mỹ, hay có chồng Mỹ. Nhiều người trong số ấy đem tâm sự tỉ tê
với bà. Cuộc đời và tâm sự của họ xúc động bà, thành đề tài sáng tác của bà.
Người đọc nhận thấy trong các truyện của bà Nguyễn thỉnh thoảng có một cô giáo
Anh văn xuất hiện. Tình cờ, vì lý do sinh kế, mà bà Nguyễn làm cây bút tả chân
đầu tiên ở xứ ta, về phía nữ phái, mạnh dạn phơi bày một phương diện của thực
trạng xã hội ta vào một thời điểm đặc biệt. Bà có vị trí riêng trong thời kỳ
văn học bấy giờ.
(các trang 1117, 1118)
Chương Mười
Hoàng Xuyên Anh, người cô phụ rơi dòng dư lệ
trên những bài thơ sầu vạn cổ
Tỉnh Trà Vinh (từ hồi Đệ nhất Cộng Hòa của Miền Nam Việt Nam
được gọi là thị xã Vĩnh Bình) là một thành phố gần biển. Đất đai ở đó không có
sông rạch chằng chịt chảy qua nên đa số nóc gia phải đào giếng. Trà Vinh có nhiều
người Miên cư ngụ, có Ao Bà Om là nơi thắng cảnh, có dưa hấu ở Cầu Ngang ngon
như dưa hấu Trảng hoặc dưa hấu Trà Bang. Dòng nước lợ tức là nước ngọt và nước
biển trộn nhau chảy qua những địa danh nào trong lãnh thổ của tỉnh đều có loại
cá thác lác và cá chái ngon nổi tiếng. Cá chái thịt béo lại có hai thỏi trứng
to, được đem nấu ngót để chan lên bún và rau xắt ghém là một món ngon hiếm quý.
Nhưng món bún nước lèo mới là một món ăn độc đáo của người Miên được biến cải
đôi chút để hợp khẩu vị người Việt. Đó là món mắm sặt kho chan lên bún, bắp chuối
thái nhuyễn điểm lất phất rau quế, rồi được đơm thịt phay, tôm luộc và rắc
hành ngò, tiêu, ớt. Đến viếng Trà Vinh mà không ăn món bún nước lèo cũng như đi
qua vùng Champagne nước Pháp mà quên thưởng thức món dồi heo và rượu sâm banh.
Tôi viếng Trà Vinh vài lần. Lần chót vào năm 1961. Bây giờ nghĩ về tỉnh ấy, tôi
có thể mường tuợng những mái chùa Miên vàng rực với những ngôi tháp nhọn trong
ánh nắng tơ vàng, những cây sa-kê cao khẳng khiu xõa chùm lá mềm mại trong đêm
trăng, những giếng nước ngọt trong mát, những trái dưa hấu Cầu Ngang khi được bổ
ra phơi ruột đỏ lòng son lộng lẫy và điểm hột đen lánh trong lớp vỏ xanh màu ngọc
thạch óng mượt. Tôi nào biết nơi đó là chốn sinh quán cô nữ sinh kiều diễm Ôn
Quế Anh đa sầu đa cảm để rồi cô lên Vĩnh Long, tỉnh lỵ sinh quán của tôi để làm
cô bạn hàng xóm của tôi, để tiếp tục việc học tại trường Sư Phạm Vĩnh Long...
Và rồi năm tháng trôi qua, khi bước chân ra đời, cô phải nhận lãnh gánh hệ lụy
đè nặng vai mềm. Con đường oan trái lại trải rộng ra, định mạng khốc liệt xô cô
dấn bước vào. Tuy nhiên định mệnh oái oăm ấy chẳng những không giết chết nổi Ôn
Quế Anh, mà biến cô thành nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh, một tên tuổi quen thuộc
trong chi hội Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại - Bắc Cali.
Tôi xin giới thiệu hai thi tập "Nỗi Lòng Cô Phụ" và "Khung Trời
Kỷ Niệm" của Hoàng Xuyên Anh trong niềm cảm thông giữa tác giả và bút giả.
Đọc thơ chị, tôi nghĩ rằng đó là loại thơ đơn giản về ngôn ngữ lẫn tình ý.
Chúng vẽ lên tấm chân dung một cuộc đời đáng lẽ phải bình thường, nhưng tai
ương và thống khổ đã đưa nó vượt lên cái tầm thường, biến cái bình thường đó
thành một cuộc sống tuyệt vời trong cõi thi ca.
Cuộc đất Trà Vinh đã sản sinh thi sĩ Khổng Dương 1. vào thời tiền chiến, thi sĩ Truy
Phong 2. vào thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp
và Việt Minh, cùng hai nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh và Vũ Thi An 3. nơi hải ngoại. Và Trà Vinh được nhà thơ nữ
Hoàng Xuyên Anh vẽ lên tấm chân dung của nó qua bài "Nhớ Tỉnh Trà
Vinh" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm".
"Biển Ba Động nước xanh, cát trắng,
Ao Bà Om thắng cảnh miền Tây,
Xin mời du khách về đây,
Xem qua thì rõ chốn nầy thần tiên".
Làng tôi nghèo bên cạnh dòng sông Cửu,
Trà Vinh buồn trồng đủ lúa, ngô, khoai.
Miền Tây vựa lúa quanh con sông dài,
Dân quê chất phác miệt mài đồng áng.
Biển Ba Động hoàng hôn rơi bảng lảng,
Tiếng ai hò man mác khúc tình ca.
Bóng dừa cao lẩn khuất trong sương nhòa,
Ôi! Đẹp quá! Chiều tà trên bãi biển.
Lượn sóng nhấp nhô đưa thuyền cặp bến,
Bao dân chài gác mái trở về dinh.
Hàng tre xanh ấp ủ mộng yên bình,
Niềm hạnh phúc chan tình lên sức sống.
Ao Bà Om khắc ghi đôi hình bóng,
"Khà-Me" tình trai gái thuở xa xưa.
Yêu quê hương, nói sao hết cho vừa,
Ao sen trắng giữa bùn nhơ vẫn đẹp.
Trung học Vĩnh Bình nữ sinh khép nép,
Nón lá che nghiêng, áo trắng tung bay.
Trần Trung Tiên đào tạo bậc anh tài,
Tình giao hảo, tuổi ô mai đầy mộng.
Ngả Ba Đuôi Cá thênh thang gió lộng,
Vườn dừa trĩu trái in bóng hằng nga.
Gái trai làng vui hát khúc hoan ca,
Đêm thôn dã, tiếng "dù kê" rộn rã.
(các trang 82, 83)
Bài thơ đầy những hình ảnh thân thương, những nét tạo hình óng chuốt. Ngôn ngữ
thơ bình đạm. Ý thơ trong vắt như nước giếng sâu và đầy sinh lực như cây dừa,
khóm chuối, rẫy mía, vồng dưa sau cơn mưa mát mẻ.
Chỉ có tình quê hương mới nâng bước chân nhà thơ vào lối hoa mộng của quá khứ.
Trong giây lát nào đó, chẳng hạn lúc cất bút làm những bài tình tự hoài hương,
tác giả mới tạm quên cuộc sống ngang trái đau thương. Ý thơ chị tươi hẳn lên,
sáng lấp lánh như sóng biển Ba Động dưới bầu trời ngát xanh màu lam ngọc.
Vườn quê hương trái ngọt,
Bóng mát rặng cây xanh,
Gió ru giấc mộng lành,
Đàn chim xa về tụ.
Cánh đồng vàng bát ngát,
Khúc khuỷu con đê dài,
Nhộn nhịp tiếng gái trai,
Mùa vụ vui gặt hái.
Dòng sông xanh uốn khúc,
Xuồng ba lá lênh đênh,
Đàn vịt bầu rỉa rúc,
Mặt trời bóng xế nghiêng.
Nhớ chiều xưa.. thu vàng,
Gặp anh nơi cố quận,
Nhìn nhau... mắt chứa chan,
Tình yêu vừa chợt hiện.
Xanh xanh màu mạ mới,
Tình ta giấc mộng đầy,
Thoáng hương đồng cỏ nội,
Ân tình ấm vòng tay.
Mây trời trôi lãng đãng,
Tiếng hạc buồn kêu sương.
Ngẩn ngơ đàn cò trắng,
Biển tình ngát yêu thương.
Gió lao xao lá cành,
Vũ trụ đẹp như tranh.
Tim em hồng dĩ vãng,
Ngàn hôn đọng môi xinh.
Tình Quê xao xuyến lạ,
Hoa bướm quyện thiết tha.
Men tình say giấc điệp,
Triền miên lịm hồn ta.
Hoàng hôn lau lách tím,
Quê hương cõi xa mờ.
Xao xác bìm bịp gọi,
Xứ người em bơ vơ.
(các trang 77, 78)
Qua những đoạn thơ trích dẫn trên đây, chúng ta có thể tìm phong vị thơ quê hương đất nước của Anh Thơ, Bàng Bá Lân, Nguyễn Bính, Đoàn văn Cừ vào thời tiến
chiến. Chúng ta có thể bắt gặp hơi hướm âu yếm thiết tha trong thơ quê hương của Tường Linh 4. và của Kiên Giang Hà Huy Hà 5. vào hai thời Cộng Hòa của Miền Nam Việt
Nam, sau Hiệp Đinh Geneva. Chúng ta có thể gặp lại tình ý trong thơ Lê Ngọc Hồ,
Dư Thị Diễm Buồn nơi hải ngoại.
Nhưng cái thú vị của người đọc là tìm gặp trong khung cảnh đồng quê trên đất nước
thân thương chúng ta có lồng mối tình của đôi lứa thiéu niên. Nữ sĩ Mộng Tuyết
Thất Tiểu Muội 6. quê ở Hà Tiên có núi rực sắc thúy màu lam,
có hồ mộng trải gương trong, có Bách Phương Viên và Úc Viên với hoa quỳnh, hoa
cúc, có Tân Nguyệt Hiên để bà đêm đêm ngắm vành trăng non thượng tuần và ngôi
sao hôm sáng long lanh. Thế mà bà không thể làm một bài thơ tình yêu mà chỉ làm
vài bài thơ vịnh cảnh. Hoàng Xuyên Anh có một quê hương ven biển với khung cảnh
đồng ruộng bao la, nhưng không có kỳ hoa dị thảo, không có thanh sơn thủy tú,
cũng không có nhiều địa linh nhân kiệt. Vậy mà chị có một mối tình để dệt thành
những bài thơ kỷ niệm.
Từ tình yêu lứa đôi, chị phóng chiếu nó lên tình yêu non nước, tức là phóng đại
nó vào một tình cảm vĩ đại hơn, hùng tráng và thiêng liêng hơn. Xin đọc bài
"Trường Ca Nỗi Nhớ" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm":
Đã từ lâu không còn gì để nói,
Giấu cuộc tình vào đêm tối mênh mông,
Đời u buồn như xuân, hạ, thu, đông,
Cố chôn lấp sau bức rèm phủ kín.
Hai bốn năm quốc hận đành câm nín,
Dấu vết tình áo não tím buồng tim,
Cảnh phù du anh trôi nổi kiếm tìm,
Em nức nở hồi sinh trong kiếp nhớ.
Quốc lộ một dặm dài còn bỡ ngỡ,
Nối tình thương giữa Hà Nội Sài Gòn.
Dòng giống Tiên Rồng xanh biếc núi non,
Giang san gấm vóc cha ông gìn giữ.
Bắc, Trung, Nam lời ca dao tình tự,
Con đường làng sỏi đá uốn quanh thôn
Hàng dừa cao che mát chợ chiều hôm,
Em réo gọi tình hồng in đáy mắt.
(trang 88)
Hai tập thơ "Nỗi Lòng Cô Phụ" và "Khung Trời Kỷ Niệm" là
hai môi trường để tác giả ký thác nỗi đau thương của mình. Nhưng ai biết đâu ở
một con người thi sĩ thường có hai ba cuộc sống, nếu bỏ qua cuộc sống thực tế
thường nhật qua một bên. Ở Hoàng Xuyên Anh, chị sống bằng ba cuộc đời buộc chặt
vào thi ca: cuộc đời đẫm lệ của người cô phụ, cuộc đời của kẻ hoài vọng quê
hương và cuộc đời ngưỡng vọng ánh vinh quang của Tổ Quốc và Dân Tộc. Nhưng cuộc
sống tâm tình mới chiếm rộng lớn trong vòng sinh hoạt của chị. Tâm hồn và trái
tim chị chia ra làm ba ngăn: ngăn tình cảm ủy mị tràn ngập nhân tính, ngăn bát
ngát phong vị cố huơng cách xa đất nước nửa bán cầu và ngăn rực sáng lửa thiêng
của nòi giống.
Bước vào cõi thi ca của Hoàng Xuyên Anh, khách thưởng ngoạn
có thể tưởng tượng như buớc vào mảnh sân truớc hay mảnh sân sau của một ngôi thảo
am trong vùng châu thổ nằm giữa dòng Tiền Giang và dòng Hậu Giang. Mảnh vườn
nào cũng nho nhỏ xinh xinh, có trồng những loại hoa phổ thông như hoa chuối nước
màu vàng tái lấm tấm chấm đỏ; hoa móng tay đỏ viền vàng; hoa trúc đào và hoa
đông hầu (tức là hoa mười giờ) màu hồng đào; hoa sao nháy màu hoàng yến; hoa
trang màu vàng mỡ ngỗng; hoa sơn chi (tức là hoa dành dành) cùng hoa bạch ngọc
(tức là hoa lài trâu), và hoa mộc đều có màu trắng tinh anh như tờ giấy ngọc cốt;
hoa huệ lan màu hồng ửng tía ngọt lịm; hoa cẩm nhung vốn là loại cẩm chướng với
màu trắng có sọc tím... Cạnh vuông đất trồng hoa là khu trồng rau với các loại
sơ thái như cải diếp, cải ngồng, cải ngọt, cải cúc cùng là các loại rau thơm
như húng, quế, kinh giới, rau răm, ngò gai, tía tô v.v... Hoa và các loại sơ
thái tuy rất phổ thông, nhưng trong khu vườn thưởng ngoạn của những kẻ yêu quê
mến đất, chúng luôn muôn tươi ngăn ngắt, mát dịu như tẩm sương mưa. Chúng rất gần
gũi tâm tình và khẩu vị những dân miệt vườn an phận thủ thường, quen thanh thưởng
các bữa cơm rau đạm bạc.
Nhưng mà các bạn độc giả chớ quên: Khu vườn của Hoàng Xuyên Anh dù gợi trong
cõi mường tượng chúng ta những hoa đẹp cỏ thơm, dù vẽ trong óc tưởng tượng
chúng ta biết bao cây lành trái ngọt, nhưng các bạn chớ quên tưởng tượng thêm
trong đó còn có những cây gợi nên niềm bi ai thống khổ. Đó là những cây lệ liễu
buông nhánh la đà xuống mặt đất như những dòng lệ tóc tang khóc người tình quá
cố. Những cây thùy dương vi vút trong gió như trổi giọng than thở thiết tha. Những
dây ti-gôn trổ hoa có hình quả tim vỡ đôi đã gieo cho nhà thơ TT. Kh biết bao
hoài cảm ngậm ngùi, biết bao tâm sự cay đắng. Những cây mua hoang dại (giống
như cây sim) trổ hoa tím man mác bâng khuâng cùng những trái tím than gội nên
những vết thương dập nát mà máu bầm vẫn còn ứ đọng chưa tan...
Xin đọc bài "Dòng Sông Kỷ Niệm" trong thi tập "Nỗi Lòng Cô Phụ" 7:
Xa vắng đôi bờ cách núi sông
Tơ tình anh có bận lòng không?
Em thờ thẫn đọc dòng thơ cũ,
Thương nhớ người ơi! Lệ đổ dòng.
Mỗi chiều về lặng đứng bên sông,
Nhặt ánh tà duơng nhạt sắc hồng.
Nguồn nước yêu đương, ôi! Ngọt quá!
Bầy chừ vẩn đục những rêu rong.
Sao em thấy trong dòng sông ấy,
Có dáng anh ngồi mỏi mắt trông,
Em khẽ gọi anh qua nắng nhạt:
"Mình ơi! Cá lội có xuôi dòng?
Có đem trăng nước về bên ấy?
Thả cánh buồm yêu ấp ủ lòng.
Có ngược thời gian về dĩ vãng?
Giòng sông bẽn lẽn vẫn chờ mong;"
(trang 111)
Những kẻ bất hạnh trong tình yêu, trong hôn nhân thường ưa trở về thời dĩ vãng
của cuộc hạnh ngộ. Bài "Ai Biết... Tình Ai?" trong thi tập
"Khung Trời Kỷ Niệm" mở cho người đọc một thuở yêu đương thơ mộng của
tác giả Hoàng Xuyên Anh giữa cảnh hoa bướm xôn xao màu sắc và ngào ngạt hương
xuân. Nhưng cái thửa ấy đã bị lớp tro dĩ vãng phủ lên tuy không để lại trong
lòng chị một vết thương khó lành lặn, nhưng vẫn giăng mắc trong tâm hồn chị một
lớp mây xám thê lương của cảnh tiêu sơ:
Thuở ấy yêu xuân ai biết nào?
Trầm trồ anh ngắm áng mây cao,
Nắng xuân dìu dịu tươi hồng má,
Nắng ở trên mây, nắng nghẹn ngào.
E ấp làm sao một đóa hồng!
Nụ xuân biêng biếc đợi chờ mong.
Bướm ong bay lượn phương trời lạ,
Một chút tình xa chẳng ấm lòng.
Lan, mai, cúc, trúc dáng khoe xinh,
Xuân đợi chờ ai? Xuân hữu tình.
"Xuân khứ, xuân lai, xuân bất diệt",
Xuân nào vương vấn chuyện đôi mình?
Bây chừ anh chở nỗi sầu cay!
Sao để ngày qua lại tháng ngày?
Héo hắt nàng xuân lạc lối mộng,
Bao mùa thu đổ lá vàng bay.
Ai biết tình anh có trắng trong?
Có yêu... nhưng sợ xuân phai hồng?
Ngắm nhìn cũng đủ lòng vui suớng?
Ca tụng muôn lời thỏa ước mong?
(trang53)
Bài "Tâm Sự Đêm Trăng" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm"
không vẽ bối cảnh chập chờn phiêu diễu dưới ánh trăng, mà chỉ nói tới cái hạnh
phúc trong phút vai kề má tựa. Ngoại cảnh thiếu vắng, nhưng cái lẩn thẩn, cái lẩm
cẩm của kẻ đang yêu và được yêu làm cho bài thơ thập phần thơ mộng. Hãy nghe:
Hãy xích gần nhau chút nữa anh
Vỗ về em nhé suốt năm canh,
Cho vơi tâm sự nhiều cay đắng,
Cho mắt thôi buồn lệ chảy quanh.
Anh hãy lau khô giọt lệ sầu,
Xây thành vọng nguyệt chống thương đau.
Đêm trăng đàm đạo hồn tha thiết,
Bóng nguyệt xuyên mành, ta có nhau.
Hãy nói đi anh chuyện nước non,
Nghìn năm thanh sử mãi lưu son,
Anh hùng, hào kiệt trong kim cổ,
Vị quốc vong thân dạ sắt son.
Hãy nói đi anh chuyện đất trời
Khai thiên lập địa một lần thôi.
Adong, Evà cùng chung bước,
Vườn địa đàng. Ôi! Cảnh tuyệt vời.
Rồi chuyện tương lai của chúng mình,
Ông bà ghi dấu thuở lưu sinh,
Cho em một chút niềm hy vọng,
Vườn mộng huy hoàng, xinh thật xinh!
(trang 56)
Bài "Đợi Tình" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm" cũng là
phút hồi tưởng quá khư thơ mộng để rồi phải đối diện cái hiện tại áo não chán
chường. Đây là cái bóng phản chiếu thơ của các thi nhân thời tiền chiến khi
phong trào thơ văn lãng mạn dâng cao, làm ngập lụt và ướt sũng những tâm hồn
thanh xuân khao khát sống.
Anh ạ, hôm nay chiều thứ bảy,
Đường phố xôn xao lắm tiếng cười,
Tài tử giai nhân đi tấp nập,
Em ngồi chờ đợi một niềm vui.
Nghĩ thầm anh sẽ đến thăm em,
Tiếng sáo nhà ai trải khúc êm,
Dấy động tâm tư niềm hạnh phúc,
Xiêm y yểu điệu dáng tơ mềm.
Soi gương, điểm phấn hồng đôi má,
Kẽ mắt, mày xanh thắm nét tươi.
Thấp thỏm tim lòng nôn nóng lạ,
Đứng lên, ngồi xuống, ngóng xa xôi.
Chiều nhẹ trôi nhanh phủ bóng mây,
Sương khuya lành lạnh cánh hoa gầy.
Chập chùng ảo mộng theo sương khói,
Mờ mịt chân trời dáng chim bay.
Đường mây cánh nhạn dạo nơi nao,
Bến vắng tơ vương ngọn trúc đào.
Cành liễu nhớ ai buồn rũ rượi?
Đêm dài tĩnh mịch bóng trăng sao.
(trang 50)
Những kẻ bắt hụt tình yêu hoặc tìm gặp được tình yêu nhưng để nó trơn trợt vuột
khỏi tay mình thường sống trong cái ảo ảnh lộng lẫy được vẽ vời trong trí tưởng
tượng của mình. Xin đọc bài "Tắm Ánh Trăng Vàng" trong thi tập
"Khung Trời Kỷ Niệm". Ở đây, tác giả pha vào thơ trử tình một chút
hơi hướm của thơ siêu thực, một chút phấn hương của loại thơ ấn tượng.
Ta về tắm ánh trăng mơ,
Đường hoa lối mộng ngẩn ngơ mắt nhìn.
Thuyền trăng bóng nước lung linh,
Chứa bao ân ái kết tinh tụ hồn.
Nhạc lòng thổn thức tình son.
Sóng xao ánh mắt xoay mòn tim em.
Đắm say trong phút trao duyên,
Tâm tư giao động rộn thềm trăng yêu.
Tình ơi! Giấc mộng diễm kiều,
Một vầng trăng tỏ vạn điều ước mong.
Trăng xưa, đêm cũ tình nồng,
Bướm hoa chung lối, tiếng lòng thân thương.
Tơ trời giăng mắc muôn phương,
Nụ hôn ngọt mật ướp hương men tình.
Vườn lòng một đóa hoa xanh,
Vùng trời thuơng nhớ phiêu linh mơ màng.
Gió ơi! Đừng thổi tình tan,
Để em tắm ánh trăng vàng yêu thương.
(trang 116)
Tuy nhiên bài "Tình Trong Ẳo Mộng" trong thi tập "Khung Trời Kỷ
Niệm" là bài tiêu biểu tiếng lòng của một nhà thơ bất hạnh dù có ước mơ
hoang tưởng, nhưng đây là một bài tâm sự của kẻ cô đơn gợi lên mối thương tâm
sâu đậm cho người đọc đúng hơn:
Bên anh lòng thấy vui tươi,
Mấy ngày thơ mộng bằng mươi năm sầu.
Thời gian nước chảy qua cầu,
Thúy đình hiên trúc vương màu nhớ nhung.
Hắt hiu ngọn gió lạnh lùng,
Người trong sương gió mịt mùng khuất xa.
Con tàu hò hẹn nhạt nhòa,
Bóng đêm đen thẳm mình ta độc hành.
Lạc đàn tiếng hạc mong manh,
Chạnh lòng cô lữ mắt xanh lệ tràn.
Bơ vơ kiếp sống lang thang,
Thoáng vui phút chốc võ vàng canh thâu.
Dở dang ôm ấp mộng đầu,
Ve u buồn trổi khúc sầu đơn côi.
Thuận Hòa thung lũng ngậm ngùi,
Dù trong ảo mộng trọn đời nhớ thương.
(trang 68)
Hoàng Xuyên Anh đến với độc giả khắp bốn phương trời hải ngoại
bằng tâm sự thiết tha của nữ sĩ Lý Thanh Chiếu vào thời mạt điệp nhà Tống để
khóc thời hạnh phúc lứa đôi ngắn ngủi. Chị đến bằng giọt lệ của nữ sĩ Tương Phố 8. khóc người chồng yểu mệnh. Nhưng cả hai bà
kia chỉ khóc chồng. Đằng này, nữ sĩ Hoàng Xuyên Anh còn phải khóc con, khóc
luôn cái dung nhan bị tai nạn phi cơ tàn phá. Ngày nay, dù chị được các nhà giải
phẩu thẩm mỹ tái thiết trùng tu lại gương mặt. Nhưng họ làm sao trả lại cho chị
một khuôn mặt bén nhạy với cảm xúc? Làm sao trả lại cho chị cái chân dung phản ảnh
một tâm hồn thơ mộng và tràn ngập phong vị trử tình? Làm sao trả chị một ánh mắt
âu yếm, một nụ cười tươi đẹp vì hạnh phúc trong sáng dịu lành? Cho nên thơ của
chị là những khúc bi ca dội sâu vào nội giới người đọc một nỗi buồn bén nhọn để
họ đối diện với căn phần oan nghiệt đã lạnh lùng giáng xuống cuộc đời một phụ nữ
có một thời thanh xuân hạnh phúc hiền hòa như chị.
Xin đọc bài thơ "Kiếp Sau" trong thi tập "Nỗi Lòng Cô Phụ"
để được nghe những lời tâm sự chân thành của người cô phụ đất San Jose:
Nếu kiếp trước em nhiều tội lỗi,
Kiếp này xin làm trâu ngựa đền bồi.
Đày đọa làm chi thân tàn tật,
Đêm dài không ánh trăng soi.
Không hương, không sắc, không danh vọng,
Và cũng không niềm tin cuộc đời.
Gió hờn rít khẽ qua môi,
Rêu phong phủ kín một đời sầu đau.
Đường đời lỡ bước chân vào,
Say mê bến đục tính sao bây giờ?
Gió hỡi gió bao giờ hết kiếp?
Trăng hỡi trăng có biết cho chăng?
Kiếp này đày đọa xác thân,
Kiếp sau chẳng làm thông rét muớt,
Cũng không làm người,
Không làm bướm lạ lả lướt vườn hoa.
Không làm màu sắc kiêu sa,
Không làm ve ru mùa hạ,
Không làm nhà thủy tạ,
Cho thiên hạ thóc mách xem chơi.
Mà làm thần gió chơi vơi,
Thảnh thơi đi khắp chân trời em yêu.
(các trang128 129)
Phật bảo rằng có hình thể, có săc tướng là có hoại diệt theo vòng sinh, lão, bệnh,
tử. Trước hết là cái già làm cho nhan sắc tàn phai, thân vóc lệch lạc héo úa Rồi
sau khi bất cứ một mỹ nhân nào hoặc là ta chết đi, hình hài xương cốt ta tan
rã, trở về với cát bụi. Cái tai nạn khủng khiếp xưa đã cố tình hủy hoại nhan sắc
tác giả, nhưng nó vẫn gieo vào tâm thức chị một tia sáng về sự khởi sinh và sự
hoại diệt. Cho nên chị không muốn kiếp sau mình mang nặng tấm chân dung và tấm
hình hài nữa. Và chị muốn làm thần gió vô ảnh vô hình, thong dong tự tại lưu
hành khắp bốn phương trời bao la khoáng đạt. Ở đây, từ khái niệm tư tuởng Phật
Giáo chị đưa thơ bước sang lãnh vực Lão Trang.
Nhưng đó chỉ là giấc mơ thì bao giờ cũng vẫn... là giấc mơ. Giấc mơ ấy vuợt qua
sức nguời và vẫn ở trong bàn tay Tạo Hóa thì dễ gì giúp cho nhà thơ nữ Hoàng
Xuyên Anh của chúng ta thực hiện nổi. Bất hạnh xưa, tang tóc cũ đã khắc ghi vào
tâm khảm chị một vết thương sâu đậm và dù giờ đây nó đã lành lặn nhưng nó vẫn để
lại cho chị một vết sẹo khó phai. Cho nên ở bài "Muời Năm Tình Nhớ"
trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm", chị cho chúng ta biết rằng chuyện
tai ương cũ và cái chết của người chồng yêu quý vẫn là một ám ảnh khó phôi pha
đối với chị:
Mười năm tình tự còn nguyên,
Mười năm nhung nhớ triền miên nỗi sầu.
Gọi anh đâu? Tìm anh đâu?
Trăng soi bến lạnh, nương dâu bẽ bàng.
Đường trần lê gót dở dang,
Mưa tuôn, nắng hạ, lệ tràn trăng thanh,
Còn đâu những chuỗi ngày xanh,
Phượng loan ríu rít trên cành yêu đương.
Tìm đâu tiếng ngọt thân thương,
Đất trời nghiêng ngã theo đường anh đi.
Đam mê ôm mối tình si,
Bao nhiêu kỷ niệm khắc ghi trong lòng.
Thẫn thờ gối chiếc phòng không,
Nhìn qua di ảnh mặn nồng lứa đôi.
Vì sao tình phải chia phôi,
Nghìn năm em mãi ngậm ngùi bóng mây.
(trang 75)
Bài thơ chan hòa "giọt lệ thu" của Tương Phố, soi lại một đoạn đời nổi
dậy "mưa gió sông Tương" của bà nữ sĩ ấy. Tiếng khóc chồng trong thơ
của Hoàng Xuyên Anh là bức phóng ảnh tiếng khóc trong thơ của nữ sĩ Tương Phố.
Nhưng câu kết lại khéo léo hơn, đưa độc giả đến ý niệm cái hạnh phúc thời quá
khứ trôi qua không bao giờ trở lại. Như bóng mây trôi qua để rồi sa mưa hoặc
tan theo gió, nếu có trở lại chăng nữa thì nó đâu còn hình hài nguyên vẹn thuở
xưa. Nó gợi lên ý tình trong bài thơ "La Fuite de la Jeunesse"
("Tuổi Xanh Trôi Mất") của Joachim du Bellay; bài này được đưa vào
quyển giáo khoa trung học "Les Auteurs du Noveau Programme" (
"Những Tác Giả Chương Trình Mới"). Ngày xanh trôi qua mang theo luôn
hạnh phúc thắm tươi của những tâm hồn lành mạnh trẻ trung.
Người chồng yêu dấu của tác giả đã ở bên kia cõi sống, cuộc gặp gỡ chỉ có thể
trong cơn đồng thiếp và trong giấc chiêm bao, nếu vong hồn của chàng hiển linh,
nếu giấc chiêm bao là phản ảnh của thực thể. Tuy vậy, chị vẫn mơ một cuộc gặp gỡ
nên chị ký thác tâm sự mình cho tâm sự người cô phụ tìm chồng khắp nơi chân trời
góc biển như nàng Mạnh Khương thuở xa xưa tìm chồng bên Vạn Lý Trường Thành
ngoài biên ải. Xin cùng đọc bài "Tìm Anh" trong thi tập "Khung
Trời Kỷ Niệm":
Tim anh khắp quả địa cầu,
Tuyết sương trắng phủ con tàu đong đưa.
Tìm anh giải nắng dầm mưa,
Rừng thay bao lá, người chưa thấy về.
Tìm anh khắp nẻo sơn khê,
Cầu bao nhiêu nhịp lê thê nỗi sầu.
Gập ghềnh mỗi bước về đâu?
Đường đi muôn ngả, niềm đau chất chồng.
Tìm anh xuân, hạ, thu, đông,
Vết thương loang lở lạnh vòng tay tiên.
Lang thang em mãi kiếm tìm,
Mênh mông nỗi nhớ triền miên ngập lòng.
Tìm anh bóng xế hoàng hôn,
Sương pha màu tóc, sóng cồn dậy khơi.
Tìm anh suốt cả cuộc đời,
Duyên đi sai hướng, tình trôi sai chiều.
Âm thầm trong cảnh cô liêu,
Sông dài, bến vắng, đò chiều ngẩn ngơ.
Kiếp tằm thì phải nhả tơ,
Em tìm cánh nhạn mịt mờ khói sương.
(trang 74)
Tâm sự tóc tang được thể hiện rõ rệt nhất trong bài "Tình Người Cô Phụ"
trong thi tập "Nỗi Lòng Cô Phụ". Đây là ném tâm hương để tác giả thắp
lên, hoài niệm người quá cố mà cũng ghi lại giai đoạn cáo chung của thời kỳ hạnh
phúc trong cuộc sống lứa đôi. Và đây cũng là một trong những bài thơ bung vỡ cảm
tính của tác giả. Bao nhieu thống khổ, mất mát trước đó dồn chị vào một con đường
tối đen, không một tia sáng bạc nhược nào lóe bên chân trời viễn ảnh. Cho nên
giờ đây, chị không thể để cho đôi dòng lệ tuôn chảy âm thầm. Ngọn trào lòng phải
bật ra thành tiếng mới làm cho chị bớt bị đè nén bởi sự đau đớn tuyệt vọng
nghìn cân đè nặng lên nội giới của chị.
Tình em như áng mây ngàn,
Phương trời vô định thênh thang dặm dài.
Tình nào cho kẻ đắng cay?
Bẽ bàng duyên kiếp đọa đày xác thân.
Tình tròn cho kẻ chinh nhân,
Sơn hà xã tắc dấn thân bụi mờ
Tình thương cho kẻ không bờ,
Con thuyền lạc bến bơ vơ giữa dòng.
Tình thơ cho kẻ long đong,
Thi nhân, kiếm khách vẫy vùng dọc ngang.
Tình hờ cho kẻ lỡ làng,
Con đò bến cũ ngỡ ngàng chào nhau.
Tình đầy cho kẻ thương đau,
Nửa chừng xuân mộng lao đao trọn đời.
Tình mơ theo kẻ ra khơi,
Nhớ người viễn xứ lệ rơi đôi hàng.
Tình non, tình nước, tình chàng,
Tình người nồng ấm phủ quàng đôi vai.
Bao nhiêu tình ấy hôm mai,
Gom hoa phủ trắng quan tài cho anh.
Nén hương khấn nguyện lòng thành,
Môi son má phấn trơ cành cây khô.
Sao trời lạc bến hư vô,
Tiếng than ai oán, tiếng thơ ngân sầu.
Mưa tuôn nuớc cuốn lệ trào,
Bao nhiêu tình nghĩa chôn vào mồ anh.
Còn đâu ân ái ngày xanh?
Trời gieo tang tốc vây quanh nấm mồ.
Anh đi tan tác cơ đồ,
Em nào có khác cùng mồ với anh.
Trầm luân vũ điệu thông hành,
Kiếp hoa mảnh hạt sương mành treo chuông.
Dật dờ khói trắng chiều buông,
Bao giờ hết kiếp đoạn trường trần gian?
(các trang 36, 37)
Nhà thơ nữ Hoàng Xuyên Anh không nghĩ rắng mình là nạn nhân của định mệnh mà là
mình phải chịu trả cái nghiệp quả của thời tiền kiếp khi chị nhìn cuộc đời
xuyên qua giáo lý nhà Phật. Chị còn tin rằng mình phải tuân theo ý Chúa khi chị
quỳ dưới tượng Nữ Thánh Đồng Trinh Maria. Cho nên chị không oán Trời, không
trách đất, không chửi đời hay nguyền rủa thế nhân. Ở bài "Hồi Chuông Chiêu
Mộ" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm", chị cầu xin Phật Tổ soi
đường đạo pháp cho chị trước là cầu cho vong linh người quá cố tỉnh "giấc
mê thường" (sic) và sau là cầu cho mình lánh xa phiền não để được sống an
vui.
Ta về gióng một hồi chuông,
Gọi anh tỉnh giấc mê thường mông lung.
Lời kinh như sóng trùng dương,
Bao la bát ngát tỉnh đường tu thân.
Giọt sương hồi hướng trong ngần,
Đời anh sương gió hồng trần đam mê.
Điệu ru man mác sơn khê,
Tay nâng tràng hạt bồ đề từ tâm.
Nam mô Phật Tổ cao thâm,
Soi đường đạo pháp thấm nhuần người thương.
Mau mau về dưới Phật đường,
Hồi chuông chiêu mộ tìm đường an vui.
(trang 117)
Ở bài "Thì Thầm Cầu Mẹ La Vang", cũng trong thi tập "Khung Trời
Kỷ Niệm, tác giả cầu Đức Mẹ Maria giúp chị tìm lại chuỗi ngày an lạc và hạnh
phúc xa xưa vói trái tim nguyên vẹn không tì vết. Như thế, chỉ có vấn đề tâm
linh mới làm những điểm tựa tinh thần kiên cố cho tác giả:
Thì thầm cầu mẹ LA VANG,
Làm sao tẩy sạch vết hằn trong tim?
Đời con đau khổ triền miên,
Sóng xô biển dập, ướt mèm lá hoa.
Thở than dưới ánh trăng tà,
Mẹ ơi! Ban chút lụa là thương yêu.
Sông Ngân một giải đìu hiu,
Hồng trần ô trọc dập dìu quỉ ma.
Tình, tiền vun vút bay xa,
Hồn con vất vưởng la đà gió lay.
Chắp tay khấn mẹ van nài,
Xin cho con được chuỗi ngày yêu xưa.
Quyền năng của mẹ dư thừa.
Xin cho con hết nắng mưa dãi dầu.
Con quỳ lạy mẹ ơn sâu,
Tình yêu của mẹ nhiệm mầu đời con.
(trang 118)
Trên con đường đưa vào thi ca lãng mạn êm ái như gương mặt hồ,
bát ngát cảm khái trữ tình như khói tỏa sương lan, đôi lúc Hoàng Xuyên Anh theo
lối cũ rêu phong, trở về lối thơ thất ngôn bát cú đẹp như cảnh đình viện cổ
kính trong ánh nắng bàng bạc không khí vào hai triều đại Đường Tống bên Tàu.
Thuờng là những bài thù tạc giữa tác giả với kim bằng thân hữu hoặc với kẻ thân
tộc ruột rà. Thường là những bài chúc tụng những cái đẹp của những tâm hồn thiết
tha với văn hóa xã hội.
Xin đọc bài "Mừng Sinh Nhật Lương Anh Thư" trong thi tập "Khung
Trời Kỷ Niệm":
Mừng con sinh nhật tuổi trăng tròn,
Chân sáo tung tăng hót véo von.
Mắt biếc long lanh ươm sắc mộng,
Tóc huyền óng ả xõa vai thon.
Xuân xanh tuổi dại chưa tròn giấc,
Dáng ngọc môi khờ ửng nét son.
Mơn mởn vườn hồng tươi tắn nụ,
Khung trời diễm tuyệt ngọt măng non.
(trang 124)
Vóc dáng thơ bỗng đổi ra đài các, đẹp như gấm, óng ả vóc nhung tơ, đuợm âm sắc
thơ thất ngôn bát cú thuộc loại tân cổ điển của nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội.
Và cũng như hai nữ sĩ gốc Nam Kỳ Lục Tỉnh hồi cuối thế kỷ 19 và bước qua thập
niên 10 của Thế Kỷ 21 là Trần Ngọc Lầu và Trần Kim Phụng 9, nhà thơ đất Vĩnh Bình Hoàng Xuyên Anh song
song vơi thơ cảm hoài thân phận, nhưng vẫn không quên trách nhiệm một công dân
vào thời thế nhiễu nhương mà những anh hùng hào kiệt hiếm hoi, bao thánh hiền
triết gia tịch mịch. Chị mượn bài thơ "Xuân" cũng theo thể thức thất
ngôn bát cú trong thi tập "Nỗi Lòng Cô Phụ" để nhắn nhủ kẻ lưu vong
hãy nuôi ngọn lửa thiêng dành cho ơn nhà nợ nước.
Xuân này mười chín cái xuân qua,
Nuôi mộng chinh nhân trở lại nhà.
Bút luyện đường thơ phơi tấc dạ,
Mực mài gan thép rạng đời hoa.
Năm canh, nhớ nước, quê người lạ,
Đôi hướng, thương mình, lối xóm xa.
Xa cách nghìn trùng non với nước,
Đạt thành chí lớn quyết xông pha.
(trang 92)
Cũng vậy bài "Xuân Tha Hương" trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm"
cũng là bài thơ để tác giả ký thác tâm sự ái quốc của mình trước cảnh luu vong
biệt xứ. Đây cũng là tâm sự phổ thông, là mẫu số chung của những nhà thơ tuy có
thích ứng cuộc sống trên đất nước định cư, nhưng không tìm ra điểm tựa tinh thần
đích thực kiên cố và trường cữu.
Én lượn trời xa luống ngỡ ngàng,
Quê người hoài vọng mấy quan san.
Chạnh lòng tưởng nhớ xuân năm cũ
Lưu niệm bâng khuâng mắt lệ tràn.
Một phút sa cơ anh hùng lụy,
Nghìn năm hỷ hạ lũ gian nhân.
Thiêng liêng anh gọi hồn xuân ngự,
Thắp sáng dùm anh ngọn đuốc vàng.
(trang 93)
Nhưng rồi cũng ở hình thức thơ cổ kính ấy, tác giả vẫn thả vào thơ biết bao
tình ý bi ai não nuột như theo một dòng cảm xúc có hữu bất biến. Thơ chị trở
nên đơn giản và quen thuộc về phương diện ngôn từ, như bao nhiêu bài than thân
trách phận của các bà quả phụ xa xưa trong thi giới như Cao Ngọc Anh, Đào Vân
Khanh 10, Tương Phố... Đây là bài "Nhớ Ai?"
trong thi tập "Khung Trời Kỷ Niệm":
Hồn đơn, tủi phận, nhớ thương ai?
Gió lạnh xuyên song, bóng nguyệt cài,
Sông nước đầu nguồn lờ lửng chảy,
Mây trời cuối nẻo lửng lờ bay.
Đêm sâu nhớ bướm, hoa còn thức,
Ngày cạn trông người, phấn nhạt phai.
Tuyết phủ vườn xuân, tim giá lạnh,
Dầm sương bốn bể đợi tương lai.
Dầm suơng bốn bể đợi tương lai,
Cánh nhạn trời xa mãi miệt mài.
Giấc bướm Trang Chu chưa thức tỉnh,
Hồn thơ Lý Bạch vẫn mê say.
Chập chùng mây khói mờ nhân ảnh,
Khúc khuỷu đường tình lạc bến nhai.
Héo hắt hoa tàn trôi viễn xứ,
Tương tư gầy guộc mảnh hình hài.
(trang 73)
Ở cái thế hệ của Hoàng Xuyên Anh, thử hỏi có mấy ai làm thơ Đường luật vững vàng
niêm luật như Hoàng Xuyên Anh?
Hoàng Xuyên Anh là một nhà thơ xắn từng mảnh tim của mình rải
vào thơ. Chẳng những thế, chị còn vắt những dòng dự lệ sau bao mùa tang tóc
cùng máu thắm của con tim mình để rưới chan hòa vào thơ. Tiếng thơ chị chân
thành, phản ảnh nguyên vẹn cuộc sống tâm tình của chị. Chị không cần tìm kiếm một
chân trời mới sáng rực thần trí sáng tạo cho thơ. Chị cần viết lên những câu
thơ bằng sóng lòng lai láng cùng những rung cảm hồn nhiên của mình. Chị cũng
không cần chăm sóc lời thơ, không cần thêu thùa chạm trổ những câu thơ tinh xảo,
cũng không cần nạm khảm những ngôn từ hoa lệ kiêu sa cho thơ. Trên bước đường
hành hương đưa về thế giới thi ca, chị đi chậm rãi, ai hồ hào cổ vỏ cái đổi mới,
cái trào lưu tiếp diễn không ngừng của thi ca thì mặc ai. Chị có một cõi thơ
nguy nga và tráng lệ riêng, như một tòa thánh điện được kiến trúc đồ sộ dành
cho một thánh nữ giữ ngôi vị chưởng môn coi sóc.
Chú thích:
|
Khổng Dương là nhà thơ tiền chiến, sinh quán ở quận Càn
Long, tỉnh Trà Vinh. Xin xem tập biên khảo "Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến"
của Nguyễn Tấn Long và Nguyễn Hữu Trọng. |
|
|
Truy Phong quê ở Trà Vinh là tác giả tập thơ "Nửa Thế
Kỷ Một Vần Thơ", là giáo sư môn Việt văn của trường trung học tư thục Trần
Trung Tiên. |
|
|
Vũ Thi An người Vĩnh Bình, em họ của 3 nhà văn Nguyễn Thị
Thụy Vũ , Hồ Trường An, Trần Long Hồ, cháu của hai nhà thơ Mặc Khải và Phương
Đài, chị dâu của nhà văn Ngô Nguyên Dũng. Đương sự đã cho xuất bản hai thi tập
"Tình Quê Tình Thơ" và "Cuối Nẻo Đường Hạnh Phúc". |
|
|
Tường Linh là nhà thơ gốc người Quảng Nam, tác giả những
thi tập "Trăng Treo Đầu Súng", "Nghìn Khuya"... |
|
|
Kiên Giang Hà Huy Hà gốc người tỉnh Rạch Giá, là nhà thơ
kiêm soạn giả các tuồng hát cải lương. Ông có hai thi tập "Hoa Trắng
Thôi Cài Trên Áo Tím" và "Lúa Sạ Miền Nam". Về tuồng cải lương
ông có các vở nổi tiếng như "Người Đẹp Bán Tơ", "Người Vợ
Không Bao Giờ Cưới", "Tiếng Còi Trong Bão Tuyết"... |
|
|
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội gốc người tinh Hà Tiên, là tác giả
các tác phẩm như sau: "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp" (tiểu thuyết giả sử), "Dưới Mái Trăng Non" (tùy bút), "Gầy Hoa Cúc" (thi tập).
Bà đoạt giải thi ca do nhóm Tự Lực Văn Đoan chủ trương qua thi tập "Phấn
Huơng Rừng" vào năm 1939. Nhưng thi tập này không được xuất bản thành
sách. |
|
|
Bài thơ này, tác giả không có phân từng đoạn thơ riêng biệt
(les strophes). |
|
|
Tương Phố là nhà thơ nổi danh đầu thế kỷ 20. Bà có hai tác phẩm
"Giọt Lệ Thu" (văn xuôi lẫn văn vần) và "Mưa Gió Sông
Tương" (thi tập). |
|
|
Hai nữ sĩ Trần Ngọc Lầu và Trần Kim Phụng là hai nhà thơ đất
Nam Kỳ Lục Tỉnh, đồng thời với nữ sĩ Sương Nguyệt Anh. Nhà biên khảo Thái Bạch
vào năm 1948 có viết quyển bút khảo về thi ca ái quốc của ba vị nữ lưu ấy.
Sách có nhan đề là "Sương Nguyệt Anh, Trần Kim Phụng, Trần Ngọc Lầu". |
|
|
Cụ bà Cao Ngoc Anh là tác giả thi tập "Khuê Sầu Thi Thảo".
Cụ Bà Đào Vân Khanh là tác giả thi tập "Khúc Nhàn Ngâm". Hai cụ được
nữ sĩ Phương Lan đưa vào quyển bút khảo "Anh Thư Nước Việt". |
Chương Mười Một
Ngọc An, thế giới thi ca trữ tình
trong mùa thu diễm ảo của cuộc đời
Đối với đa số những kẻ bước vào tuổi trung niên thì quả thật
khó làm một bài thơ tình mặn mà xúc cảm. Có lẽ những rung động của con tim
trong tuổi hoa niên hay trong tuổi thanh xuân của họ bị rơi rụng ít nhiều trên
những nẻo đường đời mà họ đã trải qua. Lại nữa, gánh mưu sinh hay gánh hệ lụy
làm tâm hồn họ mất sự tươi mát, làm trái tim của họ chai lì không còn mẫn cảm nữa.
Song có một điều lạ lẫm: khi đọc một vài bài thơ của Ngọc An in trong "Tuyển
Tập Thơ Mùa Tình Yêu" do cơ sở Cảo Thơm thực hiện vào mùa Xuân 2000, tôi
ngạc nhiên một cách kỳ thú: Thơ chị vẫn ăm ắp rung động, vẫn dạt dào tình ý, vẫn
bát ngát men hương nồng đượm say sưa. Dường như chị sinh ra để làm loại thơ này
Tuy không ướt sũng cảm tính như thơ tình yêu của của T.T.Kh, lại cũng không như
loại thơ trữ tình rất dễ thương về phương diện nhân sinh quan của nữ sĩ Thu Hồng 1. thời
tiền chiến, nhưng tình ý chân thành và đôn hậu trong thơ của chị cũng đã ghi
nhiều dấu ấn đậm đà trong tâm hồn khách thưởng ngoạn không quá dễ dãi mà cũng
không quá khó tánh.
Khuynh hướng thi ca, Ngọc An đã xác định ở bài "Màu Thời Gian" trong
thi tập "Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng".
Người làm thơ để giải sầu thế sự,
Em làm thơ vắt cả máu tim mình.
Đem niềm đau từ thuở tuổi sơ sinh,
Gởi hết cả đời mình theo giấy mực.
Em đã viết với những điều rất thực,
Với ước mơ sâu kín của riêng mình.
Với tình yêu trong trắng thuở nguyên trinh,
Thuyền định mệnh đã vô tình đưa đẩy.
(trang 85)
Vào một buổi sáng chớm hạ, tôi nhận được một bưu kiện kết xù do Ngọc An gửi tặng
gọi là món quà văn chương gồm có: Một tuyển tập thơ văn "Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ"
(1998), hai thi tập "Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng" (1997),
"Từ Miền Biển Sóng" (2000), 2 tuyển tập thơ văn gồm của nhiều tác giả
trong đó có thơ của Ngọc An như "Hoa Vàng" (2003), "Nam
Phong" (2005). Và đặc biệt là tập thơ của Ngọc An được phổ nhạc. Mỗi một
tác phẩm là một công trình rực rỡ về hình thức: ruột được trình bày khoáng
đãng, sáng sủa và đầy hình ảnh văn gia thi sĩ ở Bắc California và hình ảnh những
văn hữu thi hữu từ bốn phương trời xa xăm đến viếng Thung Lũng HoaVàng. Còn bìa
được tráng giấy láng bóng như vóc lãnh, vóc sa-teng và được trang hoàng bằng những
tranh ảnh với màu sắc cực kỳ ngoạn mục. Nhìn những bìa sách, tôi có cảm tưởng
màu sắc của trăm hồng nghìn tía lộng lẫy trong hoa viên ngự uyển nào về tụ họp
để mở hội quần phương trong ánh thiều quang tươi sáng. Càng đặc biệt là quyển
"Ngàn Năm Mây Trắng" (2002) gồm những bài thơ di cảo của cố thi sĩ
Yên Bình, người bạn đồng tâm đồng điệu của Ngọc An và gồm thơ hoài niệm của chị
cùng các bài thơ ai điếu của các tác giả khác. Đọc qua tác phẩm này, tôi liên
tưởng đến giai thoại đẹp đẽ và u buồn hồi 38 năm truớc. Số là thi sĩ Đông Hồ thất
lộc vào năm 1969. Vợ của ông là nữ sĩ Mộng Tuyêt 2. gom
hết di cảo của ông để cho in thành những quyển: "Úc Viên Thi Thoại",
"Bội Lan Hành", "Hương Gây Mùi Nhớ", "Dòng Cổ Nguyệt",
"Đăng Đàn", "Thiên Địa Gian"... Đó là những nén nhang tưởng
niệm đấng truợng phu của bà quả phụ tài hoa kia. Cũng vậy, sau khi nữ sĩ Louise
de Vilmorin từ trần, cứ mỗi tuần người tình muôn thuở của bà là đại văn hào André
Malraux vào nghĩa trang thăm mộ bà và đặt trên mộ một bó hoa hồng đỏ thằm gọi
là kỷ niệm mối tình say đắm của cả hai có sợi dây văn chương nối kết...
Tôi chưa hề được diện kiến Ngọc An, chỉ được ngắm chân dung chị qua nhiều tấm ảnh,
đặc biệt là hai tấm ảnh in trên bìa trước và trên bìa sau quyển "Từ Miền Biển
Sóng". Ở tấm ảnh in trên bìa trước, chị có mái tóc cắt ngắn chải bảy ba
như mái tóc Nữ Thần Điện Ẳnh Greta Garbo vào thập niên 30 của Thế Kỷ 20. Chị mặc
áo ngắn tay và chiếc maxi jupe màu đen đứng bên ghềnh đá ven biển gợn sóng màu
xanh thẳm. Nét mặt chị buồn bã đăm chiêu. Ở tấm ảnh in trên bìa sau, chị có mái
tóc rối rắm một cách nghệ thuật. Chị mặc áo hở cổ màu đen nổi hình tròn màu lam
ngọc, khoác bên ngoài chiếc áo veste màu đỏ của hoa phượng vỹ, hoa vông đồng. Cặp
môi chị tô son màu hồng ngọc rực rỡ. Miệng chị vẫn khép kín nụ cười. Dưới đôi
chân mày cong cong như viền trăng mỏng, cặp mắt của chị cũng lộ vẻ đằm chiêu,
như chìm đắm vào giấc mộng xa xăm, như không còn liên hệ với thực tại trong cuộc
sống. Đây là chân dung của một nhà thơ nữ kiều diễm không tuổi tác và cũng có
thể là người đẹp gợi hứng cho các thi nhân (une inspiratrice) như bà Récamier
dưới triều đại Hoàng Đế Na-phá-luân Đệ Nhất . Vậy xin các bạn hãy đọc thơ tình
yêu của Ngọc An để trong một giây phút nào đó, chúng ta có thể sống lại cái thời
trẻ trung với trái tim mơn mởn tinh khôi. Đây bài "Giọt Nước Mắt Em"
trong "Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu":
Em đã khóc... một chiều bên gối nhỏ
Mưa ngoài kia như nặng hạt ru mềm
Gió ngoài kia như cất tiếng ru đêm
Chia nỗi nhớ mây dâng sầu ảm đạm...
Em đã khóc... vòm trời nghiêng sắc xám
Bão điên cuồng như dừng bước phiêu du
Hoa Phong Lan thẹn mặt với sương mù
Sao Bắc Đẩu cũng sa dòng lệ nhỏ...
Em hãy khóc cho thành nghiêng quách đổ
Giọt sầu em là bão tố đời anh
Lệ em rơi là mầm mống xây thành
Cơn thác nổi trong tim anh từ đó
(trang 7)
Khi Em Hỏi
Rồi một hôm tình cờ anh đến hỏi
Em là ai, từ đâu đến nơi đây?
Và tìm hiểu về em thêm chút nữa,
Cuộc tình riêng ngang trái tự bao ngày.
Em vội vã gom hồng lên bếp lửa
Gọi tim về nhen nhúm chuyện ngày xưa
Ôi! Chóng quá thời gian trôi lặng lẽ
Hai mươi năm đau xót mấy cho vừa.
(trong thi tập "Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ Của Lòng", trang 111)
Lời thơ lẫn ý thơ sao mà sáng loáng như pha lê, trong vắt như dải suối mà kẻ
vãn cảnh có thể nhìn suốt đáy để thấy những hòn cuội xinh xinh, những cụm rong
mềm mại. Thơ của Ngọc An đơn giản, lưu loát, nhạc thơ êm như mộng, dịu như
nhung. Ý thơ không thần bí, không ngoắc ngoéo, rối reng. Ngôn từ không kiêu sa,
không nhiều ngữ pháp diêm dúa, không có những cụm từ (groupe de mots) phức tạp.
Có người sẽ bảo thơ như thế này không đặc sắc, như một tời giấy trắng, như một
tấm lụa bạch trơn, cần phải vẽ, phải thêu một chút gì đó cho mặt giấy, mặt lụa
thêm phần ý nhị, thêm phân sinh sắc hơn. Tôi thiết nghĩ không cần. Cái đơn giản,
cái trơn nhẳn của ngôn từ có thể làm hiển lộ cái chân tình và bộc lộ niềm tha
thiết của tác giả hơn, nhất là ở những bài thơ lục bát, chẳng hạn như bài
"Bâng Khuâng Nỗi Nhớ" trong thi tập "Tiếng Thơ Là Những Đường Tơ
Của Lòng". Đọc bài thơ này, chúng ta có thể liên tưởng đến giọng điệu
trong thơ lục bát của nhà thơ nữ Hằng Phuơng 3. vào
thời tiền chiến.
Bỗng dưng lòng cảm thấy buồn,
Nhớ quê, nhớ phố, nhớ nguồn, nhớ sông.
Nhớ trời phương cũ mênh mông,
Bao nhiêu kỷ niệm sầu chong ngọn đèn.
Nhớ bàn tay ấm thân quen,
Nhớ lần tiễn biệt bạn hiền năm xưa.
Sài Gòn sớm nắng chiều mưa,
Đường khuya phố nhỏ, chân khua nhịp buồn.
Chuyện đời ôm giấc cô miên,
Người đi còn lại ưu phiền trong tim.
Tháng ngày in dấu chân chim,
Buồn theo nỗi nhớ chìm vào hư không!
Mộng xưa chôn chặt trong lòng,
Người đi biền biệt vời trông bóng hình.
Đêm nay trời, nước lặng thinh,
Bâng khuâng nỗi nhớ riêng mình ai hay!
(trang 96)
Bài "Biển Vắng Thì Thầm" trong "Tuyển Tập Thơ Mùa Tình Yêu"
vẫn là bài thơ tình yêu. Ở đây, tác giả không cần nhìn sâu vào nội giới và vào
tình cảm của mình. Chị hiểu tâm tình mình bắng một trực giác kỳ diệu giữa khung
cảnh giá lạnh bên bờ biển:
Biển vắng tiếng thì thầm
Cội thông già im lặng
Xa rồi... tình trăm năm
Còn đây bờ môi mặn...
Lá còn đâu ấp ủ
Cây mùa đông trơ cành
Biết tìm đâu người cũ
Giữa tinh cầu mong manh!
Vẫn giọt nắng thủy tinh
Xuôi thuyền xa bến đổ
Lữ khách vẫn vô tình
Đạp vỡ lá vàng khô...
Người con gái đợi chờ
Đã chín mùa đông phong
Chín mùa hoa mai nở
Xuân sắc nhạt môi hồng.
Còn gì nữa... người ơi!
Biển tương tư rã rời
Vết tình in trên cát
Sóng xô bờ cuốn trôi ...
(trang 8)
Qua các đoạn trích dẫn của hai bài thơ trên, chúng ta đã thấy gì trong thi ca của
Ngọc An? Có phải thơ của chị đầy hình ảnh, được kiến trúc bằng những nét tạo
hình hay không? Thơ mà thiếu hình ảnh, âm thanh, hương vị, hoặc những gì khơi dậy
xúc giác, tình cảm chúng ta tức là thiếu những cái va chạm vào năm giác quan và
cõi nội giới chúng ta thì chúng không còn là thơ nói riêng , không còn là văn
chương nói chung. Nữ tiến sĩ Helen Keller bị mù mắt, bị câm điếc từ thuở nhỏ,
nhưng bà vẫn viết văn được. Dù thế giới màu sắc và hình ảnh cùng thế giới âm
thanh đóng chặt cánh cửa đối với bà, tách rời bà với thế gian, xô dẩy bà vào
cõi tối tăm im lặng suốt đời. Tuy nhiên, còn xúc giác của bà vẫn mở rộng để bà
viết những bài tùy bút đẹp tuyệt vời khi bà sờ đến những cánh hồng êm dịu, những
giò huệ mảnh mai, những lượn sóng lăn tăn mát rượi trong dòng suối. Và còn khứu
giác nữa chi. Mũi bà có thể tiếp nhận những mùi hương của cỏ cây, hoa lá, gió
biển v.v... đem lại cho bà biết bao cảm hứng phong phú để bà viết văn. Như thế,
xúc giác và khứu giác của bà chẳng những tạo cho bà trở thành một bậc vĩ nhân
trong công cuộc tìm ra lẽ sống mầu nhiệm, mà còn giúp bà trở thành một hiện tượng
rực rỡ trong lãnh vực văn chương.
Vậy thì những nhà thơ của chúng ta hãy còn tiếp xúc với thế giới màu sắc, hình
dáng, âm nhạc, tiếng động, hương vị thì lẽ nào chúng ta chỉ biết sáng tác những
câu thơ khô khan, chữ nghĩa vô vị vô hồn như cái thây ma khô đét, như gỗ đá vô
tri hay sao? Thơ mà thiếu những cái va chạm vào giác quan người đọc là loại
trái cây thiếu sinh tố, là thứ lá héo úa mất hết lục diệp tố.
Ở thơ Ngọc An, chúng ta thường bắt gặp những hình ảnh rất thơ, những nét tạo
hình nhịp nhàng và hài hòa trong thiên nhiên: nào mưa rơi giọt mềm, bóng đêm
đen, hoa phong lan, sao BắcĐẩu, nào cảnh biển vắng, cội thông già, cây mùa đông
trụi lá, nào nắng thủy tinh, lối đi trải lá vàng khô, nào vết tình in trên cát,
cuộn sống tràn trên cát... Như thế, ai mà dám bảo Ngọc An là thợ thơ? Ai mà dám
bảo chị không tìm bắt được ngôn ngữ riêng biệt của thơ?
Xin đọc bài "Đêm Mơ" trong thi tập "Từ Miền Biển Sóng":
Hồn em là cả trời mơ mộng
Dẫu biết ngàn năm mây vẫn bay
Dâu bể trần ai trong cõi tạm
Vững lòng tin tưởng ở ngày mai.
Anh đến lòng em cơn bão dậy
Quỳnh tương em cạn chén tình say
Thiên thu mật ngọt như huyền thoại
Xao xuyến lòng này anh có hay?
Anh là ảo mộng giữa mùa đông
Nửa kiếp phù sinh vướng bận lòng
Gom cả tình anh vào giấc ngủ
Mơ thuyền cặp bến một dòng sông...
(trang 110)
Đây là hình ảnh nửa hư nửa thực, chập chờn phiêu diễu mà chúng ta thường gặp
trong cõi thi ca thời tiền chiến. Chúng được Lưu Trọng Lư sử dụng để đưa thơ
mình vào một cõi riêng biệt trong thi giới. Bài thơ này của Ngọc An dù không
hoàn toàn ảnh hưởng thơ ông ta, nhưng được phản ảnh một vài mảnh vụn lấp lánh
trong một vài câu rải rác ở đâu đó. Cũng như nhà thơ họ Lưu, chị đưa bài thơ
này vào cõi mộng cơn say trong cuộc tình của mình.
Xin đọc thêm bài "Tâm Sự Với Xuân 2000" trong thi tập "Từ Miền
Biển Sóng":
Nắng đã hồng thêm con phố lạnh
Lung linh từng đợt gió heo may
Mình ta lạc bước khung trời vắng
Xác lá bên đường lất phất bay...
Xác lá như hồn thu vấn vương
Chiêm bao mộng mị cõi vô thường
Bóng dài nghiêng đổ trên hè lạ
Chỉ một mình ta giữa phố phường!
Nắng đã lui dần vào cõi tịch
Trả nhân gian màu xám âm u
Bàn tay níu vội thời gian lại
Chân bước mà nghe sóng dập vùi...
Biển ở quê hương biển có hay
Từng cơn xao động trái tim này
Lòng thuyền muôn thuở không dời đổi
Chia sớt cùng ta chút đắng cay!
(trang 47)
Cuộc tình nào nếu không có nụ cười thì cũng có giọt nước mắt.
Nụ cười là nguyên nhân tạo nên những bài Nhạc Thiều Ca (les Hymnes). Còn giọt
nước mắt khơi thần trí sáng tạo của thi nhân để hình thành những bản Trữ Tình
Ca (les Odes). Toàn bộ thi ca của Ngọc An không thiếu Trử Tình Ca đâu. Chị yêu
say đắm như trôi lênh đênh trong men rượu nồng ngát say sưa để rồi quên thực tại,
quên bóng tối dĩ vãng sau lưng, quên viễn ảnh tương lai cuối chân trời xa thẳm
trước mắt. Xin đọc bài "Sóng Tình" trong thi tập "Tiếng Thơ Là
Những Đường Tơ Của Lòng":
Một sớm mai thức dậy
Không giống như mọi ngày
Hoa nở rộ trong tim
Hoa cưòi trong ánh mắt
Ta yêu anh thật rồi
Bởi lòng ta se sắt
Nhớ người yêu xa xôi
Để ta mòn mỏi đợi
Ngày đầu mới gặp nhau
Ngỡ như trong tiền kiếp
Quen nhau tự thuở nào
Thương nhau tình thắm thiết!
(trang 113)
Giọt lệ không tạo cho Ngọc An sáng tác những khúc bi ca (les poèmes
saturniens). Bi ca vốn là loại thơ để tác giả nhìn sâu vào đời sống, vào các tấn
bi kịch trong cuộc đời. Chúng ta hãy đọc bài thơ "La Déesse du Soleil
Couchant" ("Nữ Thần Tà Dương") của nữ sĩ Renée Vivien. Bài thơ
này tả cái đẹp chết chóc với sắc thái cường điệu. Đây là bài bi ca đúng hơn bài
trữ tình.
Tóc em giống lá thu
Hỡi Nữ thần của chiều hôm, của những phế tích, của buổi tối
Máu buổi hoàng hôn là màu đỏ của mủ triều thiên của em
Em chọn vùng đầm lầy tù đọng làm tấm gương soi.
Mùi hoa huệ héo tàn và mùi cành cây ung thối
Bốc hơi từ tấm áo với những làn xếp biếng trễ của em; đôi mắt em
Theo dõi một cách uể oải những cơn mơ mộng xanh xao
Trong giọng nói hãy còn vọng tiếng thổn thức của những cuộc vĩnh biệt 4.
Giọt lệ chỉ khơi dậy cho Ngọc An nỗi buồn cô quạnh, những bài ca trữ tình. Xin
đọc bài "Hải Âu" trong thi tập "Từ Miển Biển Sóng".
Tản mác về đâu những áng thơ
Thời gian như huyệt lạnh sương mờ
Cố tâm nung nấu trong tiềm thức
Gợi nhớ riêng mình một ước mơ...
Ước mơ một kiếp là chim biển
Tung cánh Hải Âu khắp mọi miền
Côn đảo xa vời, đồng cát mịn
Chẳng nghe tâm não nặng ưu phiền.
Em sẽ đùa trăng trong bóng đêm
Rong chơi mỗi buổi nắng chiều lên
Dang tay ôm cả khung trời rộng
Nghe gió vi vu tiếng gọi thầm
Người yêu bé nhỏ của ta ơi!
Ta nhớ thương em suốt một đời
Dù kẻ chân mây người góc biển
Thuyền tình mang mãi chẳng hề vơi.
Em ước em là chim Hải Âu
Bao la tung cánh giữa ưu sầu
Cơ duyên tao ngộ người yêu cũ
Anh hỡi... bây giờ anh ở đâu?
(các trang 106, 107)
Vết thương trong tim tác giả không nhức nhối lan rộng, nhưng mà sâu sắc dằng
dai. Nhà thơ than vãn nhưng không rên rĩ, gào thét. Chị biết tiết chế tình cảm
khi đối diện với cuộc tình đã mất, với niềm hạnh phúc đã phôi pha. Thơ như thế
mới gây xao xuyến rất lâu trong lòng người đọc. Đây là bài "Tình Biển"
cũng trong thi tập "Từ Miền Biển Sóng".
Hỏi lòng đã thấy đủ chưa?
Ba mươi năm chẵn có thừa đắng cay
Chữ tình vượt khỏi tầm tay
Xuân xanh theo với tháng ngày rong rêu
Bụi tình bám vết chân kiêu
Nụ hôn gửi gió một chiều thu sang
Biển tương tư, biển ngỡ ngàng
Để thuyền tách bến lỡ làng duyên nhau
Thuyền đi đâu, thuyền về đâu?
Biển sâu lặng lẽ niềm đau mong chờ
Biển hờn biển giận vu vơ
Đẩy cơn sóng dữ xa bờ cát trôi
Biển bao la, biển ngậm ngùi
Chỉ thuyền mới biết một đời biển đau
Thuyền lênh đênh giữa biển sầu
Đêm đêm biển hát ngàn câu vỗ về
Ai đi xin nhớ lời thề
Một thời gặp gỡ đam mê nửa vời
Gởi theo sóng nước trùng khơi
Tình yêu nồng thắm bên trời ly hương.
(trang 64)
Sau đây là bài "Xuân Lẻ Bạn" khóc người tình thiên cổ trong thi tập
"Ngàn Năm Mây Trắng". Nhà thơ không thắp nén nhang trên bàn thờ hay
trước mộ người quá cố mà chỉ thắp nén tâm hương trong nỗi hoài niệm thiết tha của
mình. Ở đây, nhà thơ cố mường tượng cái thế giới bên kia cõi sống mà vong linh
của người bạn lòng của mình đang lạc lõng trong đó. Bài thơ không vang vọng tiếng
nức nở huyên náo, tiếng sụt sùi bi ai. Đó chỉ là những giòng lệ âm thầm trong
cõi tịch liêu của một góc đời sâu kín:
Người ở đó bên kia vùng đất lạ
Có đón chờ mùa xuân đến hay không?
Có giai nhân má thắm với môi hồng
Để ấp ủ tình quân đêm giá lạnh.
Người ở đó một thiên đường bất hạnh
Lặng lẽ buồn biết than thở cùng ai
Đón xuân sang nơi thế giới lạc loài
Ru điệp khúc cùng sương khuya tẻ nhạt
Người ở đó côn trùng vang khúc hát
Điệu bi ai trong cõi sống vô thường
Để xuân này lòng mang nặng sầu thương
Xuân lẻ bạn, người ơi... người có hiểu???
(trang 99)
Ngọc An không chỉ thu hẹp thơ của mình vào tình yêu đôi lứa
dù trong thứ tình yêu ấy, chị quẫy lộn như con lý ngư gặp nước trong mát của đầm
sâu ao rộng, như chim én nhào lộn trong bầu trời cao rộng tràn ngập nắng xuân
tươi. Tuy nhiên, tình yêu của chị lại thăng hoa lên một cung bậc cao hơn, lan rộng
trong một lãnh vực có ý nghĩa đẹp hơn hay trong một không gian bao la hơn. Đó
là tình yêu hướng về mẹ cha, tổ quốc, chính nghĩa. Đó cũng là tiếng thơ thời đại
mà những nhà thơ vong gia khứ quốc nào một khi định cư trên một đất nước mới
cũng xem như là một sứ mạng, một điểm tựa tinh thần để khơi nguồn cảm hứng đang
tràn ngập tâm hồn của mình. Ngọc An đâu thể chỉ yêu đương sa đà, đâu thể chỉ đắm
đuối trong nỗi đam mê thần tượng tình yêu đôi lứa của mình. Dù sao khi tìm cách
dung thân trên đất nước mới, vết thuơng lòng của chị và vết thương tổ quốc chưa
hẳn lành lặn. Ác mộng thời chiến tranh để chống Cộng cứu nước và ác mộng trong
những ngày sông dưới chế độ Cộng Sản làm sao hết ám ảnh chị được? Cho nên tâm sự
u hoài của Ngọc An được ký thác vào thi tập "Ngàn Năm Mây Trắng".
Khởi đầu những bài thơ nhớ nước thương nhà là những bài thơ tìm về dĩ vãng gồm
có thời hoa niên và tuổi thanh xuân của Ngọc An. Khoảng thời gian ấy được các
thi nhân, văn gia dùng rất nhiều sáo ngữ thời đại nào là tuổi hoa, tuổi hồng,
tuổi ngọc, tuổi ô mai, thuở dậy thì v.v... Nhưng giờ đây độc giả kiều bào đã
vào tuổi trung niên, đã thu mình vào mùa thu cuộc đời trên đất khách rồi thì chẳng
những họ không thấy những ngôn từ ấy rổng sáo nữa; mà trái lại chúng trở nên
thân thuơng đối với tấm lòng hoài niệm của họ. Chúng gợi nên một chặng đời mộng
ảo mơ hoa vô cùng kỳ thú của mình.
Chiều trở lại trên con đường tuổi ngọc
Tôi quay về một dĩ vãng mờ xa
Hình ảnh ngôi trường, tà áo thướt tha
Hàng phượng đỏ ven đường tươi nắng ấm...
Trong hoài niệm hiện về từ xa thẳm
Của một thời thơ dại sống hồn nhiên
Bên thầy cô, sách vở, lũ bạn hiền
Tôi có cả mưa xuân và nắng hạ...
("Một Dĩ Vãng", trang 163)
Đường về kỷ niệm đâu phải chỉ ngừng lại ở ngôi trường lớp học mà ở quê hương của
tác giả. Đó là Vũng Tàu, một thành phố du lịch danh tiếng, một thị trấn hoa lệ
bên bờ Nam Hải của đất nước Nam Kỳ Lục Tỉnh. Không gian nơi đó bao la khoáng đạt
dễ mở rộng nội giới những kẻ mang sẵn nòi thơ, đưa cảm khái bát ngát và cảm hứng
lai láng vào tâm hồn họ.
Vũng Tàu biển sóng vây quanh
Em về tìm lại ngày xanh tuổi hồng
Bao nhiêu năm cuộc phiêu bồng
Quê hương vời vợi đau lòng đỗ quyên
Rì rào gió cát hàn huyên
Từ em cất bước truân chuyên dập dồn
Rặng dừa rũ bóng hoài mong
Mà người đi mãi cánh hồng bay xa...
Thôi đành dấu mộng hải hà
Thuyền neo bến đợi trăng tà quạnh hiu
Bao nhiêu hạnh phúc chắt chiu
Đào Nguyên một thuở Nguyễn Lưu lạc đường!
Ai về gối mộng tơ vương
Ai đi biền biệt một phương ngóng chờ
Con đường kỷ niệm ngẩn ngơ
Tương lai, hiện tại, thẫn thờ... chiêm bao...
("Biển Nhớ", trang 146)
Từ niềm nhớ thương cố hương Vũng Tàu, tâm hồn tác giả bay xa hơn để đến những địa
danh mà chị đã đến viếng thăm hay chỉ biết qua sách vở hay qua lời đồn đãi.
Nhưng dù thì dù, tất cả địa danh ấy đều nằm trong non sông tổ quốc chúng ta mà
nơi xứ lạ quê người tác giả luôn ấp ủ một niềm thương mến luôn tươi thắm đậm đà
.
Sáng hôm nay nghe gió về lành lạnh
Thu đã chuyển mùa, anh có biết không?
Mây lang thang, hồn trĩu nặng nhớ mong
Nắng dìu dịu, lòng em buồn man mác...
Em bỗng nhớ mùa Thu xưa Đà Lạt
Mây Lam Viên mờ ảo phủ rừng thông
Mi-mô-sa từng hạt lệ rưng rưng
Bên hồ biếc, xôn xao cơn sóng gợn.
Em chưa có mùa Thu sông Hương núi Ngự
Huế mơ màng ôm cung điện nghìn xưa
Huế của ai... sao nhiều nắng lắm mưa
Em ao ước được một lần hạnh ngộ!
Em nghe nói: trời mùa Thu Hà Nội
Heo may về từng đợt gió buồn hiu
Lá vàng rơi trên đường phố cô liêu
Hồ Lãng Bạc, dấu tích xưa huyền sử...
Thế là đã hơn mười Thu cô lữ
Lá quê người sắc vàng đỏ mênh mang
Nhưng trong em, bao kỷ niệm úa vàng
Niềm cố quốc... quê hương xa vời vợi...
Anh biết đó, em vẫn hằng mong đợi
Một mùa Thu... ta nhặt lá vàng rơi!
("Dấu Chân Thu", trang 145)
Dù Đà Lạt có đôi lần tác giả thăm viếng, dù Huế và Hà Nội có nhiều lần chị mơ
tưởng, nhưng đó là những hình bóng xa xăm hay những hình bóng trong cõi mường
tượng mà thôi. Tuy nhiên, mấy nhịp cầu tre, mấy nhánh sông trên mảnh đất miền
phù sa Sông Cửu vẫn là những hình ảnh gần gũi với tâm tình chị hơn. Dù là những
hình ảnh tầm thuờng, nhưng vẫn ghi biết bao dấu ấn kỷ niệm yêu dấu và nhất là hình
ảnh song thân của chị trong trái tim của chị. Chị nhân cách hóa con sông cái
như người mẹ hiền (sông Mẹ). Còn những nhánh sông phụ lưu, chi lưu là đàn con.
Tuy nhiên, tác giả còn ví những dòng sông (sông cái lẫn rạch con) là những dòng
sữa của Đất Mẹ nuôi dưỡng những đứa con của Tổ Quốc thân yêu nữa. Một bài thơ
mà hàm chứa nhiều ẩn dụ lớn lao như vậy vẫn là một bài thơ sản sinh từ thần trí
sáng tạo tuyệt vời. Nhưng những nhịp cầu tre thì tượng trưng cho cái gì đây?
Tác giả dù không nói ra, nhưng chị đã mở cho chúng ta những dòng liên tưởng đến
những niềm cảm thông nối liền những tâm hồn hòa hợp và đồng điệu với nhau, những
niềm gắn bó da diết giữa những tình người đồng chủng đồng hương với nhau. Xin đọc
"Mấy Nhịp Cầu Tre Mấy Nhánh Sông" trong thi tập "Từ Miền Biển
Sóng" :
Có ai còn nhớ dòng sông Mẹ
Sinh trưởng đàn con nay lớn khôn
Chắp cánh đoạn trường nơi đất lạ
Quê nhà Mẹ khóc tạ dòng sông...
Ra đi con Mẹ có vui gì
Giọt lệ tuôn tràn phút biệt ly
Đau xót nghẹn ngào chân bước vội
Âm vang nhạc khúc biệt kinh kỳ...
Mấy nhịp cầu tre mấy nhánh sông
Như dòng sữa ngọt Mẹ nuôi con
Nặng tình sông núi bao xa cách
Thao thức từng đêm nát cõi lòng!
Nửa mảnh trăng buồn như vấn vương
Chim Quyên khóc bạn buổi lên đường
Dòng sông tức tưởi đau lòng nước
Mấy nhịp tình sầu biệt cố hương...
(trang26)
Ở các đoạn sau của bài thơ "Mấy Nhịp Cầu Tre Mấy Nhánh Sông" hình như
tác giả không chỉ tự than vãn hoàn cảnh bất lực của mình vì chị nghĩ rằng mình
không làm được cái gì cho quê hương trong cảnh quốc phá gia vong. Hình như chị
nhắn nhủ những người cựu chiến binh, những kẻ nuôi bền lửa thiêng ái quốc hãy
góp tay góp sức vào đại cuộc. Xin đọc tiếp:
Phong sương đã nhuộm trôi màu tóc
Tuyết lạnh trời Tây bạc mắt môi
Ý chí quật cuờng không thể mất
Nhưng... cao niên kề một bên rồi!
Còn đâu anh dũng hiên ngang ấy
Góp mặt sa trường lướt gió mây
Vượt sóng trùng dương cơn bão tố
Còn đây... những dòng lệ đêm ngày!
Thôi rồi một mảnh tàn y
Súng gươm trả lại, oai nghi trao người
Hai lăm năm, chẳng nụ cười
Hồn thiêng sông núi, đất trời chứng minh
Đàn con vì kế mưu sinh
Vì hờn non nước điêu linh một thời
Ra đi góp gió phương trời
Mong ngày trở lại rạng ngời quê hương
Hai lăm năm, khóc đoạn trường
Mộng cao chí cả như sương dật dờ
Gửi hồn vào những vần thơ
Niềm riêng canh cánh đợi chờ bình minh
Soi gương chợt thấy bóng hình
Da nhăn tóc bạc giật mình Mẹ ơi...
(trang 27)
Nỗi niềm nhớ nước nhớ quê có thể hiện diện qua địa danh, hình ảnh trong bài thơ
"GiòngTâm Sự Nhỏ" trong thi tập "Thơ Là Những Đường Tơ Của
Lòng". Tâm sự hoài hương vẫn là tâm sự chung cho kiều bào. Nó tầm thường,
phổ thông, nhưng mà nó gìn vàng giữ ngọc cho những con người còn thương tưởng tới
cố quốc, không vì bã lợi danh ở hải ngoại mà mất gốc mất rễ. Bài thơ hoài hương
càng có nhiều hình ảnh quê hương càng chứng tỏ tâm tình hoài vọng của tác giả
càng tha thiết, càng thắm đượm và thâm thúy biết ngần nào! Niềm yêu quê làm cho
tác giả thấy địa danh nào cũng đẹp, hình ảnh nào cũng nên thơ cả. Chị cố tình gọt
sạch gai góc của xã hội phiền phức tại các địa danh ấy, chỉ giữ lại cái gì có
khía cạnh tích cực và tốt đẹp trong tâm khảm của mình mà thôi.
Quê ta đó phía bên kia bờ biển,
Thái bình dương nay xa cách nghìn trùng
Ôi! Vũng Tàu nỗi nhớ thật mênh mông,
Những thành phố, đồng bằng và sông núi...
Ta ra đi với bao niềm hờn tủi,
Bởi quê hương đang nặng dưới gông xiềng.
Và Tự Do tiếng gọi quá thiêng liêng,
Mang ta tới nơi chân trời xa lạ.
Mảnh hành lý đầy thương yêu nỗi nhớ
Người ra đi tung đôi cánh thênh thang.
Bỏ lại sau lưng những lũy tre làng,
Con phố cũ, đường trơn màu đất đỏ.
Nhớ Đà Nẵng, Nha Trang chiều lộng gió,
Huế Cố Đô với thành quách rêu phong
Đà Lạt mờ sương che phủ đồi thông,
Cần Thơ đó, bến Ninh Kiều sóng gợn.
Phố biển Vũng Tàu, một thời mới lớn,
Dấu chân xưa trên cát có còn chăng?
Những giòng sông êm ả tắm màu trăng,
Con đò nhỏ khua chèo trên bến cạn.
Và tất cả nhạt nhòa trong ánh sáng,
Hòn Ngọc Viễn Đông sắc thắm Sài Gòn
Thủ đô một thời tình nghĩa sắt son,
Bao chiến sĩ vì quê hương nằm xuống.
Ta nhớ rõ như in trong tâm tưởng,
Những con đường, dãy phố, những dòng sông.
Những cái tên quen thuộc đến nằm lòng,
Từ Bình Triệu chạy dài vô Chợ Lớn.
Dinh Độc Lập, nhà thờ Đức Bà, Bưu Điện,
Chợ Bến Thành, Cầu Muối, chợ Bình Tây...
Chùa Vĩnh Nghiêm vươn tháp nhọn, ai xây?
Lăng Ông đó, những mùa xuân hái lộc!
Bao thương nhớ lòng ta thêm thổn thức,
Những dấu yêu, kỷ niệm một thời xa.
Việt Nam ơi! Hỡi đất tổ quê nhà,
Xin trang trọng gửi giòng tâm sự nhỏ.
(các trang37, 38, 39)
Tổ quốc giang sơn là một vấn đề to rộng. Chúng ta yêu nó qua hồn thiêng Mẹ Tổ
Quốc, qua anh linh các đấng tiền nhân đã đành. Nhưng cái ràng buộc chúng ta
ngoài mảnh đất cố hương còn có gia đình chúng ta. Hai đấng sinh thành của chúng
ta mới là hai mãnh lực mầu nhiệm để chúng ta gắn bó với cố quốc.
Cũng như bao nhiêu nhà thơ nữ nặng óc gia đình khác, cũng như bao nhiêu đứa con
thương mến mẹ cha mà phải chịu cảnh lạc loài khác, Ngọc An vẫn không quên song
thân của mình dù ở một phương trời hải ngoại chị bận bịu với cuộc muu sinh phức
tạp để đạt thành quả tốt đẹp đi nữa. Có tình yêu thương sâu sắc đối với cha mẹ,
chị mới vững chải bước vào đời, mới giữ niềm tin yêu trong cuộc sống. Có tình
yêu thắm đượm của người tình anh dũng, tâm hồn chị mới tràn ngập hoài cảm, ngòi
bút chị mới nở hoa.Trong những tác phẩm thi ca của Ngọc An, hình cha bóng mẹ hiện
diện rất nhiều. Mẹ cha chẳng những đã khơi nguồn cảm hứng tràn trề cho thơ chị
mà còn là một ám ảnh không nguôi đối với chị. Cho nên trong thơ, khi chị viết
chữ Cha hay chữ Mẹ thì hai chữ đầu (chữ C và chữ M) đều là chữ hoa.
Bài thơ "Hãy Vì Tôi" trong thi tập "Rừng Thu Xưa Vẫn Nhớ"nói
lên niềm hoài vọng của tác giả đối với nghiêm phụ của mình, trong bài có hai đoạn
nhắc tới từ mẫu của mình. Ý thơ đơn giản, tình thương yêu của chị đối với song
thân chị bao giờ cũng đơn giản, cũng hồn nhiên, nhưng rất nồng đượm, rất chân
thành. Bài thơ của kẻ nào đó dù có vụng về thô tháp cách mấy, nhưng bản chất
chân thành của nó vẫn đưa thơ đi sâu vào tâm hồn độc giả một cách dễ dàng, trơn
ngọt:
Nếu có dịp ghé qua vùng biển mặn
Hãy vì tôi, xin đôi phút dừng chân
Thăm dùm Cha tôi, tuổi sắp cửu tuần
Thăm dùm Mẹ, mộ phần nơi hoang lạnh...
Cha của tôi... tóc phủ màu sương trắng
Một thân gầy lặng lẽ sống cô liêu
Vì non sông người vẫn chắt chiu
Ôm hoài bão dẫu da mồi tóc bạc!
Đường đấu tranh trên nẻo đời luân lạc
Bước công danh sáng tỏ một phương trời
Bao đêm rồi con thao thức Cha ơi!
Mong tuổi thọ của Cha dài thêm nữa...
Người hãy vì tôi nhóm lên bếp lửa
Nấu nước pha trà đôi chén mời Cha
Con gái không về trong dạ xót xa
Ngụm trà nóng cho lòng Cha ấm lại!
Đồng cát trắng đã từng đêm khắc khoải
Ôm nỗi sầu, Mẹ hát khúc thiên thu
Mẹ đã về trong thế giới hoang vu
Con xa vắng để mộ phần lạnh lẽo...
Tha thứ cho con đường xa vạn nẻo
Giải Ngân Hà cách trở tháng ngày qua
Hãy vì tôi, vì tình bạn chúng ta
Đốt hộ tôi những tuần nhang trên mộ!
Hồn mẹ tôi sẽ linh thiêng phù hộ
Hương nhang thơm quyện đến cõi trời Tây
Cho chúng ta duyên tao ngộ một ngày
Trên đất khách pháo hoa bừng nở rộ...
(các trang 70, 71)
Nhưng rồi cha tác giả cũng chết theo người bạn trăm năm của mình. Đó là vào
tháng sáu, nhưng tác giả không nói rõ năm nào, tháng sáu dương lịch hay tháng
sáu âm lịch? Nhưng chắc chắn lúc đó trên đất nước Miền Nam Việt Nam, mùa mưa dầm
đã vào sâu. Nhưng cũng tháng sáu ấy, cũng không rõ vào năm nào, người tình chiến
sĩ của chị đã vùi thân vào lòng đất lạnh. Hai cái tháng sáu thống khổ đã ghi
vào cõi hoài niệm nhà thơ nữ Ngọc An, nên chị chiêu niệm anh linh họ về trong
phút hồi tưởng bi thương của chị.
Xin đọc bài "Tháng Sáu Ta Buồn Tim Tái Tê" trong thi tập "Từ
Mièn Biển Sóng".
Năm nào tháng sáu ta rong chơi
Ánh nắng chiều nghiêng dưới mặt trời
Đuổi bướm vờn quanh hàng dậu tím
Thả diều theo ngọn gió chơi vơi...
Lần lữa bao mùa Xuân nở hoa
Mấy đông trở giấc đọng sương pha
Thả trôi mơ mộng vào hư ảo
Ôm chuỗi ngày buồn lẫn xót xa!
Tháng sáu nào mưa bão ngút ngàn
Tiễn người chiến sĩ vượt quan san
Đưa người yêu mến vào lòng đất
Ta đã một thời lệ chứa chan...
Tháng sáu này ta đếm tủi hờn
Cha vào huyệt lạnh với cô đơn
Hôm nào bên cửa Cha còn đứng
Vẫy vẫy tay chào để tiễn con!
Tháng sáu con buồn tim tái tê
Còn đâu Cha đứng đón con về
Âm dương cách biệt rồi Cha nhỉ?
Vĩnh viễn ôm sầu trong giấc mê...
Con thấy Cha từ trong bóng đêm
Bạc phơ mái tóc, ngủ êm đềm
Giấc ngủ ngàn năm không trở dậy
Cho con chua xót nghẹn ngào thêm!
Từ đây cho đến cuối đời con
Một bóng đơn côi giữa xứ người
Con khóc khi đời dâng bão tố
Con cười... nhưng giọt lệ đầy vơi...
(các trang 33, 34)
Trót yêu quê hương khốn khó, trót không thể cho tâm tình hòa điệu với cuộc sống
trên xứ sở định cư, dĩ nhiên những nhà thơ luôn mơ một ngày về vinh quang khi đất
nước dựng lại ngọn cờ xưa. Nhưng giấc mơ ấy, họ thầm biết chỉ mãi mãi là giấc
mơ. Và dù ngọn cờ xưa có tìm lại trên cố quốc chăng nữa, nhưng chắc gì họ còn sống
sót để trở về nhìn lại nó vẫy lộng trong bầu mây tạnh trời trong. Song họ vẫn
tiếp tục mơ. Tâm trạng đó là tâm trạng chung của kiều bào nặng tình nghĩa,
trong đó có tâm trạng của nhà thơ nữ Ngọc An. Xin đọc bài thơ "Sẽ Có
Ngày" trong thi tập "Từ Miền Biển Sóng":
Sẽ có một ngày ta trở lại
Núi sông hùng vĩ mượt màu xanh
Giòng thác reo vui mừng khách lạ
Hoa Xuân đua nở rộ trên cành
Sẽ có một ngày tay siết tay
Mừng mừng tủi tủi rượu, thơ, say
Tàn đêm thức trắng niềm tâm sự
Thân phận ly hương những tháng ngày!
Sẽ có một ngày ta với ta
Đồi cao vang dậy khúc hoan ca
Chim muông cầm thú cùng vui hót
Chào đón mùa xuân đẹp thái hòa...
Sẽ có một ngày bao chiến binh
Trở về đất Mẹ giữa bình minh
Thuyền xưa bến cũ dang tay đợi
Lệ đá rưng rưng khóc chuyện tình...
Chuyện tình của những kẻ ly hương
Quên mất mùa Xuân chốn dặm trường
Bỏ ngõ tim hồng nơi xứ lạnh
Nhìn nhau bỡ ngỡ, tóc pha sương!
Sẽ có một ngày con của Mẹ
Tìm về giòng máu chảy trong tim
Thiết tha nguồn cội bao ngăn cách
Dựng lại non sông kiến thái bình...
(trang 23)
Trong cõi thi ca, nữ sĩ Ngọc An có hai khuôn mặt: khuôn mặt của
một người tình nhu mì âu yếm thường tâm sự với người yêu của bằng lời mềm mỏng,
gắn bó. Đó là những lời thoát thai từ tấm lòng tha thiết và bền sắt tươi son.
Khi hạnh phúc, chị không reo vang tưng bừng tở mở, không ba hoa với ngọn trào
lòng lai láng của mình. Khi đau khổ, chị không bù lu bù loa, tru tréo như Nguyễn
thị Hoàng, không dảy đành đạch như Túy Hồng, không khinh bạc kiêu kỳ như Linh Bảo
(bên văn xuôi). Chị chỉ than thỉ một cách dịu dàng. Tiếng thở dài của chị mỏng
nhẹ, ngắn ngủi, nhưng dễ thấm sâu vào lòng người.
Khuôn mặt thứ hai của chị trong thi ca là khuôn của một người phụ nữ gắn bó với
tổ quốc quê hương và chính nghĩa. Chị không nguyền rủa, không đả kích trắng trợn
chế độ đương thời ở quê nhà, không hằn học với những kẻ làm đất nước điêu đứng
lầm than. Chị vẫn giữ thái độ điềm đạm rất thục nữ và rất thùy mị khi viết những
bài thơ cho quê hương, cho những người vị quốc vong thân, cho những kẻ gánh vác
hệ lụy sau cuôc đổi đời trên đất nước.
Sáng tác thơ chị không cần gò gẫm, cứ để cho mạch thơ tuôn tràn lưu loát như chất
mật ong ngọt ngào rót vào chén sứ mỏng tanh. Chị không gọt tỉa trau chuốt ngôn
từ một cách tỉ mỉ như người sành điệu gọt tỉa củ thủy tiên thành hình trân cầm
thụy thú trong dịp Tết. Chị cũng không cần thoa son đánh phấn cho ngôn từ,
không cần chạm trổ những ngữ pháp tân kỳ. Có vậy tình cảm trong thơ được hồn
nhiên chân thực. Bởi đó chúng ta không lấy làm lạ tại sao thơ chị thật truyền cảm.
1. | Thu Hồng là nhà thơ nữ thời tiền chiến, vốn là một tôn nữ đất
Thần Kinh. Bà là tác giả thi tập "Sóng Thơ". Bà mất tích trong thời
chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh. Sau đây là đoạn thơ tiêu biểu
của bà trong thi tập "Sóng Lòng" : |
2. | Mộng Tuyết là nhà thơ nữ đất Hà Tiên, là vợ của thi sĩ Đông
Hồ. Bà đoạt giải văn chương do nhóm Tự Lực Văn Đoàn chủ trương vào năm 1939
qua thi tập "Phấn Hương Rừng". Vào năm 1960, bà cho xuất quyển tiểu
thuyết "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp" qua bút hiệu Mộng Tuyết Thất Tiểu
Muội. Vào năm 1972, bà cho xuất bản thêm thi tập "Gầy Hoa Cúc". |
3. | Hằng Phương là con gái nhà chí sĩ Sở Cuồng Lê Dư và là vợ
phê bình gia Vũ Ngọc Phan. Bà cùng 3 nữ sĩ Vân Đài, Mộng Tuyết và Anh Thơ cho
xuất bản chung quyển hợp tuyển thi ca "Hương Xuân". Vào thời tiền
chiến, các nhà thơ nữ như Hằng Phương, Vân Đài, Mộng Tuyết, Anh Thơ, được
Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào quyển biên khảo "Thi Nhân Việt
Nam". Về sau ít lâu còn xuất hiện thêm Ngân Giang và Mộng Sơn. Sáu nữ sĩ
này vào thời kỳ Đệ nhất Cộng Hòa tại Miền Nam Việt Nam được Nguyễn Tấn Long
và Nguyễn Hữu Trọng đưa vào quyển biên khảo "Việt Nam Thi Nhân Tiền Chiến".
Sau đây là bài thơ tiêu biểu "Lòng Quê"của Hằng Phương trang tặng
Vũ Ngọc Phan đã đăng trên tạp chí Hà Nội Tân Văn: |
4. | Đây là bài thơ của nữ sĩ Renée Vivien tặng người đẹp Eva
Palmer, một phụ nữ trí thức ưa khảo cứu văn minh Hy-lạp. Nàng có mái tóc hung
hung đỏ như sắc mây hoàng hôn, thường gợi hứng cho các thi nhân vào Thời Đại
Mỹ Lệ (la Belle Époque, tức là vào thập niên 10 của Thế kỷ 20). Cho nên thời
nhân gọi nàng là "Nữ Thần Tà Dương". |
Chương Mười Hai
Dư Thị Diễm Buồn tìm gặp dư ảnh quê xưa qua
"Một góc trời thôn dã" và "Thời biển lặng"
Dư Thị Diễm Buồn là cây bút tình tự dân tộc. Chị chuyên viết
về quê hương đất nước, nhất là những nơi chị định cư. Tuy nhiên ở truyện dài
Ngoài Ngưỡng Chiêm Bao chị lấy bối cảnh trại tiếp cư nơi quần đảo Nam Dương
dành cho các thuyền nhân vượt biên tìm tự do và chị lấy thành phố Chicago thuộc
tiểu ban Illinois dành nơi định cư cho kiều bào làm bối cảnh cho tác phẩm này.
Những địa danh trên xứ sở Nam Kỳ Lục Tỉnh mà chị nói đến nhiều nhất là hai thành
phố Mỹ Tho và Cần Thơ cùng quận Cai Lậy. Thật ra, chị thích cái không khí tỉnh
lỵ êm đềm và những vùng nửa chợ nửa quê thơ mộng. Chúng ta chưa hề gặp trong
các tác phẩm chị một vùng nào quê rích quê rang, chó ăn đá gà ăn muối như miệt
Năm Căn, Chắc Băng hoặc các vùng Cực Nam đất nước vào thuở tiền chiến.
Một Góc Trời Thôn Dã xảy ra vào thuở tiền chiến, có thể vào thập niên 20 hay thập
niên 30, tức là vào khoảng thời gian mà tác giả chưa chào đời. Như thế, chị phải
moi móc sưu tầm tài liệu vào khoảng thời gian ấy, tức là thuở mà trường Gia
Long được dân gian gọi là trường Áo Tím và trường Trương Vĩnh Ký được gọi là
trường Pétrus Ký. Vào thuở đó, dù là dưới chánh thể Thuộc Địa của Pháp, hạng điền
chủ bậc lớn hay bậc nhỏ đều sống phong lưu. Còn quyển truyện dài Thời Biển Lặng
Sông Trong tiếp theo quyển đầu xảy ra vào thuở bình minh của chánh thể Đệ nhất
Cộng Hòa dưới sự lãnh đạo của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Thuở đó, nhờ sự viện trợ
dồi dào của Hoa Kỳ mà toàn dân Miền NamViệt Nam từ bên này sông Bến Hải tới mũi
Cà Mau được sống sung túc an bình.
Truyện dài Một Góc Trời Thôn Dã là một truyện tình phản ảnh sự giao tiếp giữa
thế hệ đàng cựu gặp hồi suy tàn và thế hệ tân học chỉ vừa như hoa chớm nụ. Nữ
nhân vật chánh là Cẩm Hương sinh quán ở Lái Thiêu (thuộc tỉnh Thủ Dầu Một /
Bình Dương) vừa tốt nghiệp trường Sư Phạm được bổ về dạy học ở Cai Lăy ( thuộc
tỉnh Mỹ Tho). Nàng ở trọ tại nhà bà Tư Hiền, vợ bé ông Hai Cung. Ông này là chủ
nhân nhà máy chà gạo. Nguyên bà Tư Hiền trước kia là cô thôn nữ nhà nghèo, phải
đi ở mướn cho ông bà Hương Cả Cần, song thân của cậu Hai Cung. Cô lãnh phần
chăm sóc hai cô con gái Kiều Lan và Kiều Liên của cậu Hai Cung. Cậu Hai dù có vợ
nhưng vì không yêu vợ, vì mê cảm nhan sắc cô tớ gái xinh đẹp nên cưỡng dâm cô
ta. Không ngờ Hiền có thai, rồi sanh đứa con trai đặt tên Thiện Tố. Bà Cả Cần
phải tìm cách hợp thức hóa thân phận đứa con hoang của cậu quý tử của mình. Hiền
phải cam tâm làm vợ bé cho cậu Hai Cung, phải chịu sự xéo xắt bắt nạt của người
vợ lớn. Mụ này, sau đó ít lâu, sanh thêm đứa con trai đặt tên là Thiện Cảm.
Năm qua tháng lại, lũ con dòng lớn và đứa con dòng nhỏ trưởng thành. Kiều Lan
và Kiều Liên chanh chua, xí xọn, hay ghen ghét cái hạnh phúc và cái may mắn của
tha nhơn. Thiện Cảm thì đẹp trai, tánh nết lông bông, lười học nên thi hoài mà
vẫn rớt bằng Thành Chung. Thiện Tố thì chăm học, đỗ bằng Tú Tài, rồi ở nhà làm
quản lý cho cha để coi sóc nhà máy chà gạo đang hồi thịnh vượng.
Khi tác giả đưa độc giả vào một phần tư quyển truyện thì ông bà Hương Cả Cần đã
qua đời. Kiều Lan và Kiều Liên đã có chồng và theo chồng ra ở riêng. Thiện Cảm
cưới một cô vợ tên Hồng Ánh vốn đảm đang, biết phải quấy, cư xử mềm mỏng với mẹ
con bà Tư Hiền. Thiện Tố theo mẹ ra ở ngôi nhà gần nhà từ đường của ông bà
Hương Cả Cần.
Cẩm Hương trong thời gian ở trọ nhà ba Tư Hiền, được tiếp xúc nhiều lần với Thiện
Tố, lúc đầu nàng hơi ác cảm với chàng, nhưng nàng không ngờ đó là mặt trái của
tình yêu.
Chàng thanh niên nầy cao lớn, có khoảng 1 thước 75 phân chớ không chơi. Chắc là
Từ Hải trong truyện Kiều bay vọt ra ngoài đời chớ gì? Vừa nghĩ tới đây, Cẩm
Hương cảm thấy vui vui. Nhưng nàng vẫn bực vì nụ cười hắn ngạo nghễ, khuôn mặt
hí hởn trong dễ ghét làm sao ấy! Hắn có dáng hiên ngang, vai rộng, mặt rắn rỏi,
tay chân cứng cáp, đi đứng chững chạc. Đây là mẫu người vừa trí thức vừa phong
trần. Nhỏ Ái Mỹ và nhỏ Ánh Nguyệt, Thục An thường ca tụng mẫu thanh niên như vậy.
Ái Mỹ vo vảnh:
- Tao ưa tài ử Clark Gable trong phim "Cuốn theo Chiều Gió" vừa trí
thức vừa phong trần, trong có vẻ thạo đời. Đó mới là đấng quân vương trong mộng của
tao.
Thục An lim dim cặp mắt ốc bươu:
- Tao cũng vậy Những thanh niên hiên ngang, hùng trai như vậy mà chịu cưới tao, chắc tao ăn chay một tháng 15 ngày để cám ơn Trời thương Phật độ.
Ánh Nguyệt bình tĩnh hơn:
- Tao có đọc áo Ciné Miroir, biết được anh chàng Clark Gable đó học hành dở ẹc và miệng mồm hắn có vấn đề, nên đạo diễn phải bắt hắn giữ vệ sinh tối đa
khi đóng những màn cụp lạc hun hít với nữ diễn viên. Nhưng nếu gặp chàng có bằng
Thành Chung mà bảnh trai, xinh trai, dễ thương trai, lại có cái miệng thơm mát,
thì con Ánh Nguyệt nầy không niêm phong trái tim đâu nghen.
Bỗng dưng, hôm nay chợt nhớ tới lời ba con xảnh xẹ đó, Cảm Hương tức cười quá.
Nàng vội nghiêm mặt kẻo "đối phương" coi thường mình. Nàng cũng nhận
thấy tên nầy có cái mỉm cười láu cá, cặp mắt sáng ngời, nụ cười ngạo nghễ,
trông hao hao giống Clark Gable thiệt đó. Nếu đứng bên cạnh hắn, nàng cảm thấy
mình mềm mại như cây lệ liễu đứng bên cây thanh tùng hùng tráng. Nhưng nàng chợt
thấy mình ví von như vậy là đề cao "địch thủ" quá đáng. Hắn mà là cây
thanh tùng hả? Còn khuya! Hắn đâu xứng đáng làm cây có tên đẹp như vậy. Hắn phải
là cây cốc, cây còng, cây môn ngứa, cây mù u... có tên xấu xí như vậy mới đúng
chớ bộ!...
(MGTTD, các trang 53, 54)
Cô tươi mát trong chiếc áo dài nhung màu tím, cổ cao, quần lụa trắng. Tóc cô vấn bính, quấn nhiều vòng và kẹp bằng chiếc nơ bướm bằng nhung đen phía sau ót. Cô đeo suu bộ ngọc trai màu ngà voi, gồm có: bông tai, chuỗi, cà rá và vòng tay... Ngọc Huệ tô son hồng đào, giồi phấn sương sương, dậm phấn hồng phơn phớt. Trông cô đẹp hẳn lên.
Nhưng ai có thể ngờ sau cặp môi trái tim cười đẹp như hoa nở đó, lại là cái miệng ăn hàng hết chỗ chê! Cô ăn xàm xạp tối ngày. Thịt phay nhai ngấu nghiến, thịt gà thiến ăn tràn miệng vẫn còn thèm, chả nem ních sạch bách, tôm kho gạch cũng chẳng chừa, dừa cô cũng ưa, dưa cô cũng thích, mít cô không chê... Ai biết được đôi mắt viền đen kia sáng ngời lóng lánh khi nghe chuyện tiếu lâm, chuyện ngồi lê đôi mách... Đây là mẫu thiếu nữ hạnh kiểm thưa thớt, tánh tình bông lông nhưng tâm địa hiền lành, giàu lòng từ thiện, kẻ dữ người hiền đều mến chuộng:
(MDTTD, trang 338)
Hồi Thiện Tố và Ngọc Huệ còn nhỏ, trong cuộc chuyện trò thân mật, ông bà Hương Cả Cần có bảo ông nội bà nội Ngọc Huệ rằng khi cả hai lớn lên, họ sẽ cưới Ngọc Huệ cho Thiện Tố. Do đó, Kiều Lan và Kiêu Liên bảo Cẩm Hương rằng Ngọc Huệ là hôn thê của Thiện Tố. Cho nên Cẩm Hương đau khổ quyết chặt đứt mối tình với người yêu, dù Thiện Tố năn nỉ nàng cho tới cạn lời, dù ông Hai Cung và bà Tư Hiền đính chánh cho thế mấy đi nữa. Nhưng về sau, tình cờ gặp lại Ngọc Huệ, Cẩm Hương được cô ta cho biết rằng trong vòng ít lâu cô ta sẽ vu quy, người chồng tương lai cô ta trước kia ở Cai Lậy, gần nhà cha mẹ cô ta, về sau thiên cư về Vĩnh Long lập nghiệp. Đó mới chính là người yêu của cô ta, còn Thiện Tố chỉ là bạn cùng lớp hồi cả hai ngồi bậc tiểu học vậy thôi. Tới chừng đó, Cảm Hương mới yên lòng để cho Thiện Tố cưới nàng làm vợ.
Song song mối tình giữa Cẩm Hương và Thiện Tố, còn có lối sống
thay đổi của Thiện Cảm. Vốn quen thói phong lưu, ăn chơi bạt mạng, Thiện Cảm vụt
cảm thấy chán nản lối sống truy hoan của mình. Tình cờ đọc quyển Bùn Lầy Nước Đọng
của Hoàng Đạo trong nhóm Tự Lực Văn Đoàn. Chàng sanh ra cảm khái, quyết sống cuộc
đời có ý nghĩa: giúp đỡ người nghèo khó, cải thiện nếp sống dân quê. Chàng viết
văn theo tôn chỉ xây dựng cuộc tân sinh hoạt theo chủ trương của nhóm Tự Lực
Văn Đoàn; chàng kiến tạo ấp mới theo bước chân của Hoàng Đạo. Hai công việc đó
đều nhờ sự giup đỡ và khích lệ của vợ chồng Thiện Tố. Không ngờ chàng thành
công trên văn đàn và rồi ấp mới của chàng được thực hiện đúng như niềm mơ ước của
chàng.
Nghe vợ chồng Thiện Tố đi thăm ông bà nhạc ở xa và dự đám cưới cậu em út của vợ
trở về chiều hôm qua, vợ chồng Thiện Cảm đến chơi, chồng khoe với Thiện Tố:
- Toa ơi, moa vừa mới lập cái ấp mới cho tá điền. Nhà nhà trong ấp đều thoáng khí, mặc dù là vách bùn trộn với trấu hay rơm, mái lợp lá xé hay lá chầm,
nhưng cũng che mưa che nắng được mấy mùa. Ở giữa ấp moa cất cái trạm để mỗi tuần
có y tá vào phát thuốc cho dân, còn những thứ thuốc thông thường như chữa nhức
đầu, đau bụng, trầy giò, đứt tay chảy máu thì lúc nào cũng chứa trong thùng để ở
nhà ông trưởng ấp. Có lớp Bình Dân Học Vụ nữa. Hôm nào vợ chồng toa có rảnh, mời
ghé qua, coi có góp thêm ý kiến gì không?
Thiện Cảm đưa cho Cẩm Hương ấn bản quyển tiểu thuyết mới ra. Cẩm Hương ngắm
nghía cái bìa màu lam có tranh vẽ cảnh thôn quê dưới vầng thái dương chói rạng,
bảo:
- Cái tựa sách Ánh Sáng Đồng Quê của tác phẩm, chắc là muốn nói lên ánh sáng văn minh tân tiến rọi đến cảnh đồng ruộng quê mùa chớ gì?
Hồng Ánh hớt chồng trả lời:
- Chị nói đúng đó. Cái ấp mới do chồng em chắt chiu xây dựng phần lớn nhờ anh Thiện Tố đỡ đầu từ vật chất lẫn tinh thần Hôm nay tụi nầy đến đây ngoài
việc tặng sách còn để báo tin ấp đã tạm xong và cám ơn anh chị.
Cẩm Hương vui vẻ hỏi:
- Thím có thai được mấy tháng rồi?
Hồng Ánh cười:
- Hơn 5 tháng nay thôi. Khi em sanh xong nhờ anh chị làm cha mẹ đỡ đầu cho đứa nhỏ.
Cẩm Hương cười tươi, sốt sắng:
- Rất sẵn lòng
Cẩm Hương nhìn chăm chú Thiện Cảm rồi nhìn chồng. Hai anh em họ có vài nét giống
nhau. Thiện Tố cao ráo, khỏe mạnh, hùng tráng bao nhiêu thì Tiện Cảm mảnh khảnh,
văn thái tinh hoa tao nhã bấy nhiêu. Từ khi thành công trên con dường văn nghiệp,
Thiện Cảm chững chạc hơn, không còn đía dóc ba hoa nữa. Chàng trầm mặc hơn.
Nàng tự hào là vợ chồng nàng biết khơi dậy một thiên thần trong một con ngưòi
hư hỏng.
Nàng nhìn qua Hồng Ánh. Cô ta biêt ăn diện chải chuốc để làm đẹp lòng chồng.
Nhưng cô ta vẫn hồn nhiên giản dị, không kiểu cách điệu đà, không đánh lưỡi sửa
giọng khi nói chuyện. Cô hồn nhiên, hịch hạc, cười nói véo von, pha trò duyên dáng và có chừng mực.
Khi khách ra về, Cẩm Hương làm mặt lạnh và liếc xéo chồng rồi nghiêng bình tích
rót trà ra uống. Thiện Tố áy náy nhìn vợ cười cầu tài, rồi ôm choàng lấy vai
nàng. Nàng lách khỏi vòng tay chồng, mắt xoáy vào mặt chàng. Thiện Tố nhìn vợ
ngập ngừng:
- Anh giúp Thiện Cảm làm em phật lòng sao?
Cẩm Hương ngún nguẩy:
- Hổng biết!
Thiện Tố nắm tay vợ tha thiết, khổ sở:
- Xin lỗi em!
Thấy dáng điệu chồng thiểu não, Cẩm Hương bật cười thành tiếng:
- Sao anh lại xin lỗi? Anh đã làm những gì mà em định khuyên anh làm.
Anh biết không? Bấy lâu nay, thấy Thiện Cảm đổi tánh tình, làm việc thiện nguyện.
Còn anh thì êm ru bà rù làm em mắc cở thầm. Bây giờ em mới cảm thấy thoải mái
khi gặp Hồng Ánh. Anh làm em hãnh diện với chính mình không chọn lầm nguời chồng
và còn là người bạn đồng tâm...
(MTTD, các trang 365, 366, 367)
Trong quyển Một Góc Trời Thôn Dã, có 6 cô cựu nữ sinh trường Áo Tím là Thục An,
Ái Mỹ, Thụy Châu, Ánh Nguyệt hợp với Cẩm Hương thành nhóm Ngũ Nữ La Sát. Về sau
có thêm Nguyệt Mi trở thành nhóm Lục Nữ La Sát. Sáu vai phụ ấy làm cho tác phẩm
trở nên xôn xao tuổi dậy thì và gợi lại tuổi mộng mơ trong khung cảnh sân trường,
lớp học, bảng phấn, cửa gương. Không khí tác phẩm trở nên sinh động khi tác giả
dựng lên cảnh họp mặt của họ. Trong đó, Ánh Nguyệt hoạt náo nồng mặn duyên dáng
nhất:
... Con chằng lửa Thục An bảo:
- Làm đờn bà thì phải thương chồng hơn cha mẹ. Ông bà mình thường
nói: "Vông đồng trổ đỏ bờ sông/ Mẹ kêu con dạ, thương chồng con
theo".
Con ma nương Ái Mỹ tán đồng:
- Mầy nói đúng đó Thục An. Cha mẹ nuôi mình chừng 20 năm hoặc hăm mấy năm thôi. Còn chồng mình thì nuôi mình tới già, tới chết.
Con nữ tặc Thụy Châu chợt nhớ ra:
- Mấy cô xẩm trước khi lấy chồng, cứ khóc ra rả trong buồng, khóc rống lớn lên cho thiên hạ biết mình đau xót sắp xa cha mẹ...
Con hồ ly tinh Ánh Nguyệt trề môi dài cả thước:
- Lấy được ông chồng toại ý, tao đương thèm khóc. Còn kết hôn với cái thứ ôn hoàng dịch lệ thì tao khóc rỉ rả, khóc nỉ non để trù ẻo cho đám cưới trở
hành đám ma chơi!
Cẩm Hương cười ha hả:
- Ánh Nguyệt ơi, lòng da mầy hiền lành như bông bí, như dưa leo, như rau lang rau muống luộc. Vậy mà mầy ăn nói nghe dữ tợn, gớm ghiếc không hà. Coi chừng
mắc khẩu nghiệp đó nghen.
Ánh Nguyệt trề môi nói rán, nói thêm:
- Kệ em! Chớ sống với kẻ không yêu, bị nó nài hoa ép liễu thì em chỉ còn có nước trù ẻo nó chết sớm để em rảnh nợ. Chôn nó rồi em đi xe kiếng.
Cả bọn trợn mắt hỏi đi xe kiếng để làm chi? Nhỏ cười ngỏn ngoẻn rồi cất giọng
thẻo thợt hò: "A ơi... Bước lên xe kiếng đi viếng mộ chồng"/ "Mộ
chưa cỏ mọc tron lòng thọ thai... à ơi...".
(MGTTD, các trang 46, 47)
Kiều Lan và Kiều Liên cũng là hai nhân vật làm cho không khí câu chuyện trong
tác phẩm sinh động hẳn lên. Tác giả dùng họ làm nhân vật phản diện để tạo sự
mâu thuẩn cho cả một hệ thống tình tiết của câu chuyện và cũng để bày tỏ cái óc
khôi hài tinh nhuệ của mình khi nhận xét tình đời. Hai cô Kiều ghen ghét cái hạnh
phúc của thằng em khác mẹ đã đành mà còn không mấy hoan nghinh cái thành công của
thằng em ruột:
Lúc hay tin Thiện Tố khéo tay trang hoàng ngôi nhà mới của mình, hai cô Kiều liền
rủ Thiện Cảm tới thăm. Kiều Lan chê bai:
- Thằng Thiện Tố dại dột, lo trang Hoàng o bế sách vở, khong để dành tiền mua gach tráng men lót nền nhà.
Kiều Liên phụ họa chị:
- Đúng rồi, gạch tàu dùng để lót sân đúng điệu hơn, chớ đâu để mà lót nền nhà!
Bà Tư Hiền mời lũ con chồng uống trà. Thiện Tố không trả lời hai chị, vì trong
mắt họ, có cái gì mà chàng làm tốt làm đẹp bao giờ đâu. Thiện Cảm săm soi tủ
sách tắm tắc:
- Từ khi đọc sách của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, tui mới biết quý sách báo.
Thật là tao nhã, tui thiệt tình phục lăn Thiện Tố!Thế nào tui cũng sắm cái tủ
như vậy.
Kiều Liên nguýt thằng em ruột, mỉa mai:
- Thôi cho tao can đi. Dòng họ mình đã có một học giả rồi. Ai cần mượn cái mặt mẹt mầy đóng vai trí thức rồi bày đặt viết văn. Mầy chẳng có bằng cấp
nào lận lưng hết.
Thiện Cảm sừng sộ lại:
- Chị bớt chót chét lại đi. Bằng cấp có dính dáng gì đén việc viết văn? Có
bằng cấp mới viết văn được sao? Thật là đầu óc nhỏ hẹp như cái vú cau!
Kiều Lan õng ẹo:
- Tui cấm chồng tui coi tiểu thuyết. Thời buổi nầy mấy ông bà văn sĩ hay đề cao tình yêu. Chồng tui nhẹ dạ. Nếu rủi ảnh nhiễm tư tưởng lãng mạn trong tiểu
thuyết, ảnh sẽ mềm lòng lõng dạ mỗi khi gặp con lành con lủng nào đó ở ngoài chợ
thì phiền toái cho tui lắm. Lòng dạ tui chặt chịa, cứng cỏi thì tui có quyền
coi tiểu thuyết.
Kiều Liên bị em nạt không cự lại, vo vảnh:
- A di đà Phật! Chồng tui thích coi đá banh thôi. Nhưng hễ ảnh gặp mấy con lành tốt mã, mấy con lủng lẳng lơ thì cặp mắt ảnh chớp lia chớp lịa, thấy
thật ứa gan!
(MGTTD, các trang 210, 211)
Trong Một Góc Trời Thôn Dã có thêm một vận sự: Trong tai nạn
xe cộ, Cẩm Hương được người hành khách cùng một chuyến xe đò cứu giúp. Chàng ta
yêu thầm nhớ trộm nàng, xây mộng lứa đôi với nàng. Nhưng mối tình đó chỉ là mối
tình đơn phương vừa tượng tình mà chưa kịp thành tựu đến ngưỡng cửa hôn nhân
thì phải tan rã vì Cẩm Hương báo tin nàng kết hôn với Thiện Tố. Nếu bỏ vận sự nầy
cũng không sao. Còn có nó, tác phẩm thêm phần hào hứng đôi chút vì mối ẩn tình
của người đồng hành cùng chuyến xe đò với Cẩm Hương không có gì đặc sắc lắm. Lại
nữa, cuộc hờn ghen của Cẩm Hương kéo quá dài làm cho độc giả sốt ruột. Đáng lẽ
tác giả để dành giấy viết về nếp sống và nhân sinh quan của hạng tân học vào buổi
giao thời như hai cậu em của Cẩm Hương, của Nguyệt Cúc (hôn thê của cậu em út)
thì chị đào cho tác phẩm một chiều sâu đáng kể hơn.
Sự thành công của tác phẩm ở chỗ tạo cho mỗi nhân vật một cá tánh khác biệt, trừ
hai chị em Kiều Lan và Kiều Liên như đúc từ một cái khuôn. Xin kể các nhân vật
quan trọng xoay chung quanh hai nhân vật chánh (Cẩm Hương và Thiện Tố) và những
nhân vật then chốt (hai cô Kiều, Thiện Cảm, Hồng Ánh và Ngọc Huệ). Bà Cả Cần
tôn trọng huyết thống, ông Hai Cung dù đã sa ngã nhưng vẫn là người có lương
tâm, bà Tư Hiền tuy hiền lành nhẫn nhục nhưng vẫn vướng tật chì chiết lúc tâm sự
với Cẩm Hương, bà Hai Cung vẫn là người có căn tánh tốt đẹp chớ không hoàn toàn
xấu xa ác độc, cha mẹ bà Tư Hiền hiền lành và chất phác.
Tác giả rất thích miêu tả: tả người, tả cảnh, tả tâm tình, tức là tạo đầy đủ chất
liệu để đúc kết cái nền mống lẫn cái lâu đài văn chương vững chắc.
Về nghệ thuật tả người, xin cùng đọc đoạn hai cô Kiều phục sức và trang điểm
trong dịp đám cưới Thiện Tố:
Kiều Lan và Kiều Liên muốn nổi bật hơn cả cô dâu nên trước đám cưới cả tháng,
hai cô hẹn nhau xuống chợ tỉnh đặt may mỗi người một chiếc áo dài "mốt"
bằng gấm đỏ, bâu áo cao chống cổ, tay phùng cao. Hai cô đều mặc trang phục giống
nhau. Họ đeo bông tòn teng, dây cổ, dây tay bằng hột xoàn chiếu lấp lánh...
Trông họ đẹp và lạ mắt thật. Nhưng áo quần và trang sức nầy nếu trên một thân
hình có dáng dấp thanh cảnh thì tuyệt! Khổ một nỗi hai nàng Kiều đã nhiều lần
sanh đẻ, ăn uống không giữ gìn, dù cái bụng không lớn lắm, nhưng thân thể lệch
lạc, tướng đi hai hàng, ngó vào là biết hai mụ xề ngay. Trước đó cả tháng, hai
nàng nhịn ăn đễ giữ eo thon, mông gọn. Nhưng khổ nỗi cái bụng dưới, tức là cái
nây bụng phồng ra như có độn trái dưa hấu cắt đôi. Hai nàng còn nhờ thím xẩm Lầy
Phá (Lệ Hoa), vợ bé ông Bang Quảng Đông dùng chỉ se trên da mặt để lấy lông
mang, cùng tỉa cặp mày cong như viền trăng non, như cái mống chuồng vậy. Hai
nàng biết tướng đi của mình không đẻo, nên uốn éo mình xà, mông đưa qua bên
trái, rồi sàn qua bên mặt làm mấy bà mấy cô dọn đám dưới bếp có dịp nói hành
nói tỏi rồi cười khúc khích.
(MGTTD, các trang 337, 338)
Tác giả Dư Thị Diễm Buồn rất khoái phần tả cảnh. Cho nên trong tác phẩm Một Góc
Trời Thôn Dã, cảnh vật cứ nườm nượp hiện dưới ngòi bút liến thoắng và trơn tru
của chị. Ít có nhà văn gốc Nam Kỳ có cái mẫn cảm với phần miêu tả như chị.
Trong những thủa ruộng loang loáng nước, ngăn cách nhau bởi những bờ mẫu ngoằn
ngoèo chia ruộng ra có miếng hình vuông, hình chữ nhựt, hình xéo... còn rộng
hay hẹp là tùy theo diện tích của mỗi miếng ruộng. Những bụi lúa mập, tua tủa
lá vươn cao rậm rạp và xanh lặt lìa như đỡ nâng bông lúa đòng đòng ngậm sữa quằn
nặng hột. Những bụi lúa trồng san sát nhau thành những hàng ngang hàng dọc thẳng
tắp chạy dài đến tận chân vườn xa lắc xa lơ. La đà trên ngọn lúa, bầy chuồn chuồn
xanh, đỏ, tím, vàng, cam, hồng... đủ màu sắc, bay qua lượn lại tìm bắt muỗi. Thỉnh
thoảng cây lúa rung rinh, hay quặn lên làm chao động mặt nước do lũ cá rô, cá sặc,
cá lóc... hám ăn nhào lộn, rượt đuổi nhau, hoặc tranh giành đớp mồi. Những chú
cào cào, sâu, bọ vô tình rơi xuống. Những con ốc bươu đen, sùi bọt trắng đeo từng
hùm từng đám trên cụm lác, cụm đuơng mọc từ đáy nước. Nước ruộng trong veo,
nhìn thấy rõ bầy cá bãi trầu, cá lòng tong, cá bạc đầu lội nhởn nhơ... Gió
sáng mát rượi. Trên gò nổng xa xa, đàn vịt trời, le le, chằn nghịch... đang rỉa
lông. Bầy chim áo dà, chích chòe gọi nhau bên chòm bông cỏ, bông gạo. Ven ao có
hàng cây điên điển nở từng chùm hoa vàng phơi phới, nghiêng nghiêng in bón dưới
lòng ao, mặt bằng phẳng nước.
(MGTTD, trang 179)
Cảnh nhà của song thân của cô thôn nữ Hiền dưới mắt bà Cả Cần được tác giả
trình bày như sau:
Bà Cả dòm khắp nhà. Tuy là nhà lợp lá xé, vách tre, nền đất nện, nhưng đâu đó
đưọc quét tước sạch sẽ. Bàn thờ, bàn ghế, tủ áo, cái đi-văng... đóng bằng gỗ rẻ
tiền như thao lao, mít, nhưng được lau chùi bóng láng. Chiếc bàn dài đặt giữa
nhà, hai ghế trường kỷ đặt hai bên có vẻ tươm tất hơn. Ba con Hiền cho biêt,
bàn ghế đó do người bác ruột qua đời để lại cho. Bàn thờ có bát cắm nhang tráng
men xanh vẽ bát tiên ngồi chơi cờ bằng mực chàm đậm. Dĩa quả tử vẻ tám thứ trái
cây ở thành dĩa: lệ chi (trái vải), long nhãn, phật thủ, đào tiên, mộc lý, mộc
qua, lựu, trái xá lị. Bàn thờ không có lư hương, chân đèn, đèn lưu ly gì cả. Chỉ
có bài vị thờ cha mẹ và ông bác sơn son thếp vàng. Trên bàn dài là bình trà bằng
sành lớn, cỡ 4 bàn tay vòng có vẽ hình con đại cẩm kê (gà trống cồ, mồng đỏ,
lông màu lửa, cổ và ức giát lông màu xanh). Trên khay có 6 cái tách sành lại vẽ
gà tre, có lẽ không cùng một bộ với bình tích, nhưng nhìn chung thì tất cả như
cùng chung một thứ men, cùng một kiểu vẽ. Trên 4 cột nhà ở giữa chỉ treo liễn
kiếng Lái Thiêu. Còn trên vách thì treo liễn giấy bồi màu vàng nghệ, màu cánh
sen, màu đọt chuối gợn sóng ngân nhũ. Trên nền ngân nhũ là bài thơ chữ Nho viết
bằng lối chữ thảo. Mà con Hiền bảo là do ông bác để lại để vào ngày Tết trang
hoàng nhà cửa. Trên mỗi tấm tranh là một bài cổ thi chúc xuân mà vợ chông bà
không biết đọc chữ Nho nên không biết nghĩa thú trong thơ ra sao.
(MTTD, các trang 94 95)
Sự mô tả khung cảnh mộc mạc quê mùa của tác giả Dư Thị Diễm Buồn mang một ý
nghĩa sâu xa. Chị muốn gợi lại khung cảnh gần gũi và thân thương cho những kiều
bào cùng thế hệ hoặc cùng trang lứa với chị trở lên để tất cả cùng nhau trên nẻo
thời gian tìm lại, được đắm hồn sống trong một chặng nếp sống cổ truyền của dân
tộc đã từng ghi biết bao dấu ấn trong tình hoài cố hương vọng cố quốc. Trong
lúc miêu tả, chị quăng mình trọn vẹn vào đối tượng, vào chủ đề một cách nồng
nhiệt thành khẩn, bằng tâm tư hoài vọng.
Bước sang qua quyển Thời Biển Lặng Sông Trong, tác giả đưa
câu chuyện lớp con của hai nàng Kiều, của Thiện Tố và của Thiện Cảm vào thời kỳ
nước Việt Nam bị con sông Bến Hải ngăn đôi, dân Miền Nam Việt Nam được sống
sung túc dưới chánh thể Đệ nhất Cộng Hòa. Thế có nghĩa là, chị bỏ qua thời kỳ
chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, cái thời kỳ gay go nhất mà những
cây bút phụ nữ sinh vào đầu thập niên 50 không thể nào thấu hiểu qua những
chúng nghiệm máu xương của dân tộc.
Trong truyện này, đại gia đình ông Hai Cung có đủ con trai, con gái, dâu và rể
sống cùng xã hay cùng quận Cai Lậy. Vợ chồng Kiều Lan, vợ chồng Kiều Liên và vợ
chồng Thiện Tố từ quyển Một Góc Trời Thôn Dã đã ở riêng, chỉ trừ vợ chồng của
Thiện Cảm vẫn ở dưới mái nhà thừa tự của cha mẹ. Về lũ cháu của ông Hai Cung,
thì con của hai nàng Kiều Lan và Kiều Liên và con của Thiện Cảm đa số đã sinh
cơ lập nghiệp ở phương xa, duy chỉ có hai cô con gái của cặp Thiện Tố & Cẩm
Hương là còn ở với cha mẹ đầy đủ. Sống với vợ chồng của Kiều Lan chỉ có cô con
gái út tên Kiều Nga. Sống với vợ chồng Kiều Liên chỉ có con gái út tên Kiều
Phương. Sống với vợ chồng Thiện Cảm là cậu con trai áp út trong hàng ngũ lũ con
tên Thiện Cần và cô con gái út tên Hồng Nguyệt.
Kiều Phương khá xinh đẹp, giỏi đóng kịch và ca hát trong những kỳ văn nghệ do
nhà truờng tổ chức vào dịp phát lễ phần thưởng. Tố Tâm kiều nhược, hiền lành,
khép kín với người lạ, nhưng cởi mở với người thân. Tố Tiên, khỏe mạnh, sinh động,
cởi mở với tất cả mọi người, thường ao ước được du học ở ngoại quốc.
Kiều Nga hiền lành, thùy mị, có năng khiếu làm thơ từ thuở 13 tuổi. Hồng Nguyệt
có văn tài tự bẩm sinh; nhưng cô tật ở chân, mặt rỗ. Nhưng cô thông minh và đôn
hậu, biết khắc phục cái bất hảo của thể chất và ở dung mạo để thành công rực rỡ
trên đường đời. Thiện Cần bảnh trai, liến láu, ưa bông đùa nghịch ngợm. Cậu giống
cha ở chỗ đắc mèo, tán gái thành công, nhưng không thọ hưởng một chút văn tài
nào của cha. Cậu là một điểm tươi sáng rực rỡ, gây cho không khí u trầm trong
gia tộc một sinh dộng hào hứng.
Ngoài ra thân với chị em Tố Tâm và Tố Tiên còn có Tuyết Mai, bạn chung lớp với
Tố Tâm. Cô này mồ côi mẹ, bị bà kế mẫu, các người con gái riêng của bà và lũ em
cùng cha khác mẹ xéo xắt đày đọa. Cuối niên học năm đó, Kiều Phương, Tố Tâm,
Thiện Cần và Tuyết Mai cùng đậu bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, Còn Kiều Nga thi đậu
vào lớp Đệ thất. Tố Tâm theo Tuyết Mai về chơi quê ngoại của bạn. Đó là làng
Hòa Lộc thơ mộng nằm ven sông Mỹ Lương êm đềm. Tại đây, cả hai gặp Khải Tuấn,
anh chàng sinh viên đẹp trai sắp tốt nghiệp trường Quốc Gia Hành Chánh. Nhưng Tố
Tâm lẫn Tuyết Mai không cảm thấy mình bị cú sét ái tình. Tại làng Hòa Lộc cả
hai được ăn những món thổ sản địa phương, được hưởng thú vui thôn dã như cảnh đập
lúa trong đêm trăng. Trong chuyến thủy trình về Cai Lậy, chiếc tàu thủy bị chìm
vì chở quá khẳm. Hành khách đều được cứu sống. Nhưng Tố Tâm làm cho bà nội, cha
mẹ và cả đại gia đình phải một phen điêu đứng vì lo lắng. Nhưng chính nhờ tai nạn
này mà Tố Tâm gặp được anh chàng Quận trưởng Đào Vũ Kỳ Trân để rồi cả hai gặp cú
sét ái tình tuy không nổ ầm ỉ nhưng vẫn làm cho tim họ bàng hoàng dao động.
Trong dịp lễ phát phần thưởng cuối năm cho các học sinh ưu tú trường Đốc Binh
Kiều, đạo diễn điện ảnh Hoàng Tâm chợt thấy các cô nữ sinh tham gia vào các tiết
mục văn nghệ trình diễn rất vừa ý. Cho nên ông ngõ lời chọn một số nữ sinh mà
ông ta cho rằng có thể đóng phim được, trong số đó có Tuyết Mai, Kiều Phương và
hai chị cô Tố. Nhưng cả bọn phải lên Sài Gòn để trải qua cuộc thử test gay go
theo cách thức dự một cuộc thi tuyển do hảng phim tổ chức. Tuy nhiên, Tố Tâm lẫn
Tố Tiên từ chối vì cả hai muốn tiếp tục việc đèn sách. Chỉ có Tuyết Mai và Kiều
Phương nhận lời. Tuyết Mai không có tiền sắm sửa y phục và các món trang sức
trước khi đi dự thi tuyển lựa tài tử thì vợ chồng Thiện Tố và bà Tư Hiền bỏ tiền
ra giúp cô . Vì ban giám khảo bị một áp lực nào đó do bạo quyền thúc đẩy nên
vào kết quả cuộc thi thì Tuyết Mai đứng hạng nhì, Kiều Phương đứng hạng ba. Còn
giải khôi nguyên thuộc về Nhan Như Thúy Ngọc, một cô thiếu nữ nhan sắc kém cỏi.
Điện ảnh gia Hoàng Tâm bực tức lắm. Cho nên khi nắm vai trò vừa viết kịch bản vừa
làm đạo diễn cho phim Tấm Cám, tuy ông phải giao vai Tấm cho cô Nhan Như Thúy
Ngọc, nhưng khi viết kịch bản, ông cố tình đôn vai Cám do Tuyết Mai đảm nhiệm
lên cao, tạo thêm một vai nòng cốt cho Kiều Phương. Kết quả: Nhan Như Thúy Ngọc
chẳng những bị Tuyết Mai lấn át bóng sắc lẫn nghệ thuật diễn xuất mà còn bị Kiều
Phương làm lu mờ ở nghệ thuật diễn tả hồn nhiên. Thế là từ đó tên tuổi Tuyết
Mai và Kiều Phương lên vùn vụt như diều tung hoành trong gió lộng, còn cô Nhan
Như Thúy Ngọc phải âm thầm rút lui vào bóng tối. Tuyết Mai và Kiều Phương còn
luyện giọng để hành nghề ca hát nữa.
Trong buổi khánh thành Viện Dưỡng Lão do ông Tỉnh Truỏng tỉnh Định Tường (Mỹ
Tho) tổ chức, Tuyết Mai được mời cắt băng khánh thành vì cô ta đã tặng cho ban
thành lập viện một số tiền to. Tuyết Mai nhã ý mời gia đình Thiện Tố đến dự buổi
tiếp tân lẫn dạ yến và dạ vũ tại dinh Tỉnh Trưởng. Chỉ có Cẩm Hương cùng Tố Tâm
và Tố Tiên đến dự. Tố Tâm gặp lại Đào Vũ Kỳ Trân và Khải Tuấn. Trong khi nàng
và Kỳ Trân xoắn xít nhau thì Tố Tiên và Khải Tuấn quyến luyến nhau. Nhưng sau
đó, cả hai không liên lạc nhau. Tố Tiên học cho xong bậc trung Học Đệ Nhị Cấp
và thi đỗ Tú Tài. Còn Khải Tuán thì ra trường, trở thành công chức và làm việc ở
Sài Gòn.
Hồng Nguyệt trở thành nhà văn chuyên nghiệp, có kết bạn văn chương với một ký
giả Pháp gốc người Ba-lan tên Ilya Polanski. Anh chàng này hành nghề tự do,
không cộng tác nhất định với một tờ báo nào hay một hảng thông tấn nào, mà người
trong nghề gọi là ký giả "free lance". Kiều Nga trong chuyến về thăm
quê nội ở Bình Chánh, vào dịp dự lễ ở Thánh thất CaoĐài, gặp anh chàng Tây lai
vốn là thợ nguội xuất thân ở sở Ba-son (Hải Quân Công Xưởng) có lương lậu cao.
Mẹ chàng vốn có đạo Cao Đài nên chàng tháp tùng theo bà dự lễ. Cả hai bắt đầu
yêu nhau và hứa hẹn thực hiện cuộc sống lứa đôi.
Đào Vũ Kỳ Trân ráo riết tìm cách chiếm đoạt trái tim của Tố Tâm và đi đến cuộc
hôn nhân hạnh phúc. Hai người bạn thân của chàng là Lê Phước Nghiệp và Hoàng
Khiết Tịnh về sau trở thành thân bằng quyến thuộc của Tố Tâm và Tố Tiên. Lê Phước
Nghiệp kết hôn với Tuyết Mai. Hoàng Khiết Tịnh se duyên chỉ thắm với Kiều
Phương dù chàng ta góa vợ và có con riêng. Còn Thiện Cần quyến rũ hai cô nữ
sinh, tặng cho mỗi cô một cái bầu nên song thân cậu phải đem họ về nuôi. Cả hai
ghen tương nhau, dậy giặc hà rầm làm cậu bực tức đau khổ, không biết cách nào
làm cho cảnh nhà dược trong ấm ngoài êm.
Tố Tiên lên Sài Gòn lưu học và ở chung với Tuyết Mai. Tình cờ cô gặp lại Khải
Tuấn. Cả hai yêu nhau say đắm. Nhưngsau bao lần bất đồng ý kiến, sau bao cơn
cãi cọ vì tự ái, Tố Tiên qua Mỹ du học. Khải Tuấn vẫn bền lòng đợi nàng trở về.
Bốn năm sau, Tố Tiên hồi hương. Bà nội nàng ở ngôi nhà từ đường để săn sóc ông
nội nàng vì bà chánh thê của ông đã qua đời. Kiều Nga đã kết hôn với anh chàng
Tây lai tên Yves Ronsin mà cô ta gọi trài trại là Yêu Rồng Xanh. Hồng Nguyệt vẫn
độc thân để tâm trí thảnh thơi phụng sự văn nghiệp đang hồi lừng lẫy của mình.
Tuyết Mai vẫn hành nghề trình diễn ca nhạc và đóng phim. Kiều Phương giải nghệ
để cùng chồng khuếch trương việc thương mãi đang hồi bành truớng và thịnh vượng.
Riêng hai cô vợ không giá thú của Thiện Cần đều bồng con về cha mẹ ruột, lấy chồng
khác, nhưng vẫn cho con mình lui tới với ông bố hào hoa lẫn đào hoa của chúng.
Chàng cưới một cô vợ khác ôn nhu và hiểu biết hơn hai cô vợ sư tử Hà Đông kia.
Chàng mở tiệm bán và sơn sửa xe gắn máy, tìm được hạnh phúc trong cuộc sống lứa
đôi chung lòng chung hướng, đồng sàng đồng mộng cùng người vợ có giá thú.
Kết cuộc, Tố Tiên sau bao năm bôn ba trên con đường sự nghiệp, thành hôn với Khải
Tuấn.
Trong tác phẩm Thời Biển Lặng Sông Trong, các nhân vật thuộc
giai cấp trung lưu và thuộc thế hệ đang độ hoa niên vào 5 năm chót của thập niên
50 đã bước vào một thế hệ được ánh sáng văn minh tân tiến soi rọi. Phụ nữ đã ý
thức sự bình quyền với các đấng tu mi nam tử, họ từ bỏ khuê phòng để ra đời mưu
sinh. Khi lớn lên, họ không quá chú trọng vào công việc trao giồi công dung
ngôn hạnh rồi đợi chồng đến cưới hỏi. Họ chọn ngành nghề để đeo đuổi trước khi
kết hôn.
Vận hội mới bắt đầu. Các trường tiểu học đuợc mở mang khắp mọi quận lỵ và ở các
xã ấp gần quận lỵ hay gần các miền ngoại ô tỉnh lỵ. Các tỉnh bậc trung đã có một
trường trung học công lập và vài trường trung học tư thục. Còn các tỉnh lỵ nhỏ
thì chỉ có một trường trung học tư thục mà thôi.
Quận Cai Lậy là một địa danh cách trung tâm thành phố tỉnh Mỹ Tho 23 cây số. Nó
nằm bên Quóc Lộ 9, tức là trên tuyến đường quan trọng đưa đón du khách và các
tay buôn bán xuôi ngược từ Sài Gòn xuống vài tỉnh vùng Tiền Giang và tất cả tỉnh
miền Hậu Giang. Từ thuở bình minh nền Đệ nhất Cộng Hòa nó đã là một nơi thị tứ
khá hoạt náo và phồn thịnh. Cư dân ở đây tiếp xúc khá nhiều nếp sống theo cao
trào văn minh tân tiến nên họ không chênh lệch với thị dân ở Thủ Đô Sài Gòn bao
nhiêu. Cho nên các nam sinh, các nữ sinh cùng các công chức ở đây đều là những
kẻ thấm nhuần óc tiến thủ, đều có thể thu góp một cách dồi dào những kiến thức
về một nền văn hóa trên đà phát triển thuận lợi.
Bởi đó, nữ sĩ Dư Thị Diễm Buồn thường tạo ra các nhân vật bậc trung lưu đù cấp
bậc cao thấp lớn nhỏ. Chị không thích tạo những nhân vật nông phu cày sâu cuốc
bẳm và những nhân vật thôn nữ chân lấm tay bùn. Tạo những nhân vật cổ lổ hay những
nhân vật quê rít quê rang thì quá xa vời với cái xã hội và cái thế giới mà chị
đã sinh ra và lớn lên. Những nhân vật chậm tiến như thế thì cái xã hội của họ
dưới ngòi bút của chị không thể sinh động được; chị phải nhờ óc tưởng tuợng
thêu dệt thêm ít nhiều chi tiết. Vả lại qua tác phẩm Một Góc Trời Thôn Dã và
tác phẩm Thời Biển Lặng Sông Trong, tác giả muốn nói lên cái hay, cái đẹp của
Miền Nam Việt Nam tự do. Lẽ dĩ nhiên, cảnh đồng quê chỉ nên lót nền mờ nhạt cho
những cô cậu học sinh yêu nhau da diết chứ không nên xen nhiều lần, chui lắm lượt
vào cuộc sống của họ. Họ phải được huởng ánh sáng văn minh để tình yêu của họ
thêm mới mẻ như tình yêu của lớp thanh thiếu niên trong phim ảnh Hoa Kỳ đang
chiếm rộng rải trên thị trường Việt Nam.
Dư Thị Diễm Buồn thương yêu cưng chiều những nhân vật hiền lương hoặc những
nhân vật thông minh và biết cư xử vuông tròn, ăn ở phải đạo. Họ đâu thể nghèo
hèn mà dẫu có nghèo như Tuyết Mai thì cũng không được dốt nát và phải có ăn học
chút đỉnh hoặc phải có tài hoa. Nhất là họ phải có nhân diện và vóc dáng trội
hơn bàng dân thiên hạ. Đào Vũ Kỳ Trân, Lê Phước Nghiệp và Tố Tâm dù có mảnh khảnh
thì hai chàng kia vẫn được chị ca ngợi là đẹp rắn chắc theo kiểu trượng phu nam
tử, còn nàng nọ cững được chị so sánh vẻ thướt tha của cây lệ liễu. Chàng Hoàng
Khiết Tinh tuy mập mạp nhưng được tác giả tặng thêm vẻ bảnh trai như nam tài tử
điện ảnh Rod Taylor. Còn cô Hồng Nguyệt có chân thấp chân cao và mặt rỗ hoa mè
hồi nhỏ, nhưng vì cô ta hiền lành, tài hoa lỗi lạc nên tác giả thay thế Ông Trời
cho cô gặp ông thầy bó ngải Chiêm Thành kéo dài cái chân thấp vài phân để nó xấp
xỉ với chân cao, và chị đóng cho cô ta đôi giày đế mỏng đé dầy để cô ta có dáng
đi thăng bằng, thướt tha và uyển chuyển. Chưa hết! Chị còn truyền lịnh cho những
vết rỗ trên khuôn mặt cô ta phải theo thời gian mà lì đi để da mặt cô ta trơn
láng.
Chân dung và cách phục sức của các nhân vật trong Thời Biển Lặn Sông Trong tuy
không được miêu tả chăm chút, nhưng cũng khá chu đáo. Xin đọc đoạn hai chị em Tố
Tâm và Tố Tiên đi dự cuộc dạ yến và dạ vũ tại Dinh Tỉnh Trưởng:
TốTâm Tố Tiên như cặp sanh đôi. Hai chị em có những đường nét khuôn mặt thanh
tú và hao hao giống nhau. Hai cô chỉ khác Tố Tâm mảnh mai có mái tóc để dài
lưng chừng lưng, còn Tố Tiên nồng nàn sinh lực với mái tóc đen ngắn đến cổ, vén
gọn hai bên mép tai. Đêm nay hai cô ăn mặc và trang sức cũng giống nhau, áo dài
tay phùng bằng gấm Thượng Hải màu hồng, nổi những cành bạch mai trên nền gấm rập
rờn ánh bạc. Cả hai đeo bông giọt mưa bằng ngọc trai, vòng cổ, vòng tay bằng ngọc
trai. Quần lụa trắng, mang giày bít mũi với gót cao. Mái tóc đen như nhuộm mực
nằm trong chiếc "băng-đô" hồng xõa bồng trên bờ vai thon gầy mảnh khảnh
của Tố Tâm. Làn da trắng của cô đuợc dậm lên lớp phấn hồng nhẹ, dưới ánh đèn điện
trông cô hết sức bình thuờng. Nhưng trước cái vẻ cao sang và nét quý phái trời
ban đó, ai trông thấy, cũng khó lòng mà quên đi trong giây lát.
Còn Tố Tiên dáng thanh thoát không bằng chị, cô hơi thấp hơn, nhưng có vẻ tươi
mát hơn chị bởi nước da trắng như gà bóc, nụ cười vui tươi hớn hở đi với đôi mắt
to ngời sáng. Cái nhìn vô tư cô đầy tự tin. Và lúc nào trên miệng cô cũng sẵn
sàng chớm nở nụ cười càng lâu càng cảm thấy cô rất dễ thương tạo cho người đối
diện nhiều mỹ cảm lẫn thiện cảm.
(TBLST, các trang 241, 242)
Còn chân dung của Khải Tuấn, một chàng thanh niên thuộc thành phần ưu tú của xã
hội trung lưu cấp cao được tác giả phác họa như sau:
Khải Tuấn có tướng khỏe mạnh, cao ráo phải một mét bảy chứ không ít. Nước da ngăm,
cái ngăm khỏe mạnh hồng hào như da rái lựu rám nắng. Mái tóc anh bồng bềnh trên
vầng trán vuông, cao và rộng. Chân mày rậm. Cặp mắt to, tròng đen ngời sáng nhiều
hơn tròng trắng như phớt màu xanh lợt của men sứ. Anh đi đứng thong thả, nói cười
vui vẻ, tế nhị. Hôm đó, Khải Tuấn mặc chiếc áo tay ngắn màu kem, quần nâu sậm.
Cái mốt thời nay, các cô cậu thường hay đeo dây chuyền mỏng, bằng vàng 18k, dài
gần tơi rún và miếng mề-đai hình bầu dục có lồng ảnh giữa hai mặt kiếng. Chiếc
đồng hồ mạ vàng lớn mặt, dây cũng mạ vàng gồ ghề tương xứng với mặt đồng hồ.
Anh mang giày da bóng loáng, miệng luôn cười tươi, ưa pha trò nên trông trẻ
trung hơn trong bộ veste màu xanh đậm đêm dạ tiệc năm nào.
(TBLST, trang 305)
Đặc điểm chót trong văn chương của Dư Thị Diễm Buồn là chị hào sảng với độc giả.
Chị thết đãi các nhân vật trong mọi tác phẩm của mình những món ăn quốc túy quốc
hồn rất thường xuyên, rất phong phú ê hề, không tiện tặn, không bỏn sẻn. Độc giả
nhờ vậy cũng đuợc... ăn hàm thụ luôn. Nhưng có điều hơi lạ lùng là không bao giờ
chị cho các nhân vật mình ăn bất kỳ món mắm nào. Hỏi ra, chị vốn dị ứng với món
quốc túy quốc hồn đậm tình dân tộc này. Thỉnh thoảng, chị biểu diễn tài nữ công
gia chánh của mình bằng chỉ vẽ cho độc giả làm một vài món ăn địa phương (như
các món ăn cỏ truyền ở quận Cai Lậy). Và cũng hình như chị chỉ đãi độc giả ăn
các món ăn Nam Kỳ Lục Tỉnh chứ không đãi các món ăn miền Bắc hay các món ăn miền
Trung. Có lẽ về ẩm thực, chị có dị ứng hoặc kỳ thị với các món ăn ngược lên hướng
Bắc xa xôi chăng?
Trong truyện có thêm hai mối tình quan trọng nữa. Đó là mối
tình giữa Đào Vũ Kỳ Trân và cô Thoại Hoa. Cô này có học thức, giỏi việc mưu
sinh, thông minh, quyền biến, cư xử theo con nhà thượng lưu trong xã hội. Nhưng
Đào Vũ Kỳ Trân chỉ thương mến cô ta, chứ không yêu đương say đắm như đối với Tố
Tâm. Không hiểu Thoại Hoa có vì tự ái hay vì nhút nhát mà không chịu tỏ tình
trước với Kỳ Trân? Nàng mòn mỏi đợi chàng bật đèn xanh trước, nhưng chàng cứ bật
đèn đỏ, rồi bật đèn vàng, nên nàng đành đậu chiếc xe tình ái tại chỗ. Sau
cùng,Thoại Hoa đi qua Pháp học tu nghiệp (tác giả không nói tu nghiệp về ngành
nghề gì) cốt nhờ không gian và thời gian chôn mối ẩn tình của nàng.
Mối tình thứ hai là mối tình giữa Khải Tuấn và nữ dược sĩ Vân Trang. Cô này là
chị ruột của Vân Hạnh, mà cô Hạnh lại là bạn tâm đầu của Tố Tiên. Cả hai chia
tay mà cả cô Trang lẩn Khải Tuấn chẳng ai ngậm ngùi lưu luyến huống hồ là đau
khổ tổn thương? Mối tình này gượng gạo, lỏng lẻo, chẳng những không dậm chân tại
chỗ mà coi bộ đang hồi suy thoái. Cho nên Vân Trang cương quyết cắt đứt cuộc
tình phai thắm lạt hương kia đi. Có như thế, Vân Trang thảnh thơi đi lấy chồng,
còn Khải Tuấn tha hồ vẫy vùng trong cuộc đùa bóng giỡn trăng với Tố Tiên để rồi
trầm lụy si mê nàng.
Nếu bảo rằng Thời Biển Lặng Sông Trong là tiểu thuyết đồng quê theo trường phái
văn chương hiện thực thì chưa chắc đúng. Ở đây, trong bối cảnh nửa chợ nửa quê,
tác giả thăng hoa vào những giấc mơ danh vọng chói chang, những ước vọng đến những
địa vị nguy nga tráng lệ dưới bóng mặt trời, rồi rủ rê độc giả bơi lội trong những
ảo tượng lộng lẫy do chị un đúc, sản sinh . Những giấc mơ, những ước vọng ấy được
thể hiện ở hai cô gái tỉnh lỵ, một liệt vào bậc trung lưu cấp thấp (Kiều
Phương), một còn cựa quậy trong cảnh nghèo hèn (Tuyết Mai), nhưng bỗng dưng nhờ
tài năng thiên bẩm vụt trở thành minh tinh màn bạc. Chúng còn thể hiện qua cô
gái có tật chân và xấu xí từ lúc nhỏ (Hồng Nguyệt) và qua cô gái hiền lành khờ
khạo, không có cá tính (Kiều Nga); rồi đó cô đầu trở nên một nhà văn lừng
danh, cô sau trở thành một nhà thơ lỗi lạc. Hai cô gái lao vào vực văn nghệ
trình diễn và hai cô gái lao vào môi trường văn chương thi phú, nếu không được
trai tráng xun xoe ve vãn thì cũng lấy chồng giàu. Còn hai nữ nhân vật vai
chánh là Tố Tâm và Tố Tiên đều lấy chồng nhà giàu, học giỏi, đẹp trai hoặc bảnh
trai. Riêng cô chị thì đậu tú tài vào đầu mùa nền Đệ nhứt Cộng Hòa tại miền Nam
Việt Nam, bằng đó rất hiếm quý vào thuở đó, huống chi bằng cao học của cô em đa
từng du học ở Mỹ.
Dư Thị Diễm Buồn vốn chủ trương văn dĩ tải đạo. Chị chịu ảnh
hưởng nền luân lý cổ truyền của nhà sĩ Nguyễn Đình Chiểu: Trai thời trung hiếu
làm đầu/ Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình. Nhưng vào thời đại nam nữ bình
quyền, chị không đành lòng để cho nàng phục tùng chàng theo truyền thống gọi dạ
bảo vâng. Lúc còn đá lông nheo với nhau, lúc yêu nhau và lúc hứa hôn với nhau,
nàng có thể cải vả với chàng rầm rĩ, chì chiết chàng dằng dai bởi tự ái ổn
thương, bởi ghen tuông sa đà. Nhưng khi cả hai nên vợ nên chồng rồi thì nàng trở
nên mềm mỏng ngọt ngào với chồng.
Trong hai truyện dài Một Góc Trời Thôn Dã và Thời Biển Lặng Sông Trong ít có
nhân vật gia nhập vào quân ngũ, trừ Đào Vũ Kỳ Trân, Lê Phước Nghiệp và Hoàng
Khiết Tịnh vì thuở đó dân miền Nam an hưởng thái bình, chưa có ngòi lửa chiến
tranh ngún cháy khắp phần đất nước tự do nên chưa có lịnh Tổng Động Viên. Cho
nên dù vốn yêu lính nhưng tác giả chỉ có thể tạo ra những lính kiểng lính huê,
ngồi ngoáy bút ở văn phòng và họ chưa thể tỏ ra anh dũng trong các cuộc hành
quân diệt địch.
Dư Thị Diễm Buồn cũng chủ trương luôn chuyện ở hiền gặp lành. Trong hai tác phẩm
này, người ác đúng nghĩa rất hiếm. Bà Hai Cung xéo xắt đày đọa tình địch lúc đầu,
nhưng về sau lại tỏ ra tử tế với bà Tư Hiền và đứa con của chồng. Hai nàng Kiều
quyết lòng chia uyên rẽ thúy thằng em khác mẹ của mình vì mặc cảm hơn vì hiểm
ác. Tuy nhiên khi con gái của Thiện Tố gặp nạn, cả hai tỏ ra thông cảm với Cẩm
Hương, ân cần an ủi nàng.
Còn thêm một đặc điểm nữa, bao giờ các nhân vật chánh của Dư Thị Diễm Buồn cũng
được trời ban thưởng: nam nhân vật thì hùng tráng ở sắc vóc và trượng phu ở
cách sống, còn nữ nhân vật thì diễm lệ yêu kiều, tâm tánh hiền lương. Lại nữa,
họ còn được Thượng Đế lì xì một hậu vận tốt đẹp hiển vinh giống như hậu vận các
nhân vật chánh trong cổ tích, trong truyện thơ, trong các tác phẩm diễm tình của
nữ sĩ Barbarra Cartland (Anh) hoặc của đôi uyên ương tiểu thuyết gia Delly
(Pháp).
Dư Thị Diễm Buồn ưa viết những lới mắng mỏ và chì chiết với các nhân vật ác độc
(nhân vật phản diện), ưa nói xóc hông xóc óc họ. Nhưng điều đó chứng minh tâm địa
chị rất tốt lành, rất can đảm. Có lẽ chị nghĩ rằng mình chẳng cần các độc giả
trí thức rởm rang khó tánh, hạng ưa chê bai văn chương nêu lên cái Thiện. Thứ
văn chương dưới tầm mắt cao ngạo của họ là lỗi thời. Con đường văn chương tải đạo
của chị đã mở sẵn từ khi chị bắt đầu cầm bút và chị tha hồ hăm hở xông pha lên
đường, trối kệ những miệng lằn lưỡi mối được ngụy trang đó là miệng lưỡi thông
minh uyên bác của bọn ngụy trí thức. Nếu chị nghĩ như thế thì các tác phẩm của
chị lot vào quảng đại quần chúng dễ như bỡn và sẽ trường tồn với cảm quan trong
sáng của hạng độc giả thuần hậu và đơn giản trong cách suy nghĩ.
Chương Mười Ba
Vũ Nam, kẻ lữ hành tìm kỷ niệm trên các vùng đất lạ
qua tập truyện "Một đêm ở Genève"
Chúng ta không khỏi ngạc nhiên khi bắt
gặp một bút trình lột xác của Vũ Nam sau đọc xong tập truyện Một Đêm Ở Genève.
Cũng vẫn là những truyện ngắn dựa trên tình yêu. Cũng vẫn là những truyện ngắn
săn tìm kỷ niệm. Cũng vẫn là những truyện ngắn thấp thoáng bóng dáng hiện thực
xã hội. Nhưng ở tập truyện này, văn phong và bút pháp anh biến dạng một cách
đáng ngạc nhiên, đánh dấu một cuộc lột xác ngoạn mục. Đề tài của anh tươi mát,
sự diễn tả của anh linh hoạt, khí hậu trong truyện không căng thẳng và gay cấn.
Đây là một thứ văn chương tròn trịa, óng chuốt, không làm độc giả nhức đầu hay
làm họ chán ngán ủ ê, thiếu điều ngáp dã dượi hay ngủ gục trên từng trang sách.
Ngòi bút Vũ Nam từ quyển Một Đêm Ở Genève cho đến khi anh cộng tác cho những tạp
chí văn học hàng đầu Gió Văn qua các truyện ngắn đăng trên đó biểu dương một
phong độ khởi sắc, dám thọc sâu vào những nhân sinh quan kỳ đặc. Đã vậy, Vũ Nam
còn cho độc giả chúng ta thấy luôn cả sự tìm tòi tuyệt vời của anh đối với cái
bí ẩn của con người.
Môi Ngữ có mùi mặn, dù không có gió biển nơi chàng vàThiên đang đi. Cũng không
có nước mắt. Đâu ai dễ đổ nước mắt cho một chuyện tình đã qua mười tám năm?
Cũng không ai tốn nước mắt cho chuyện văn nghệ văn gừng đã muời lăm năm chưa kết
nụ. Môi Ngữ có mùi mặn có lẽ vì tính tình Thiên. Bây giờ nàng trở nên cứng cỏi
quá! Đất Mỹ mười mấy năm đã làm nàng trở nên cứng cỏi, từng trải? Thiên đã
không còn vẻ nồng nàn yếu mềm ngày xưa. Suy nghĩ lại, Ngữ thấy nhiều khi chính
mình đã không thực tế, không nắm bắt những đổi thay. Nhắm mắt một giây, như nuốt
vội những chuyện không vui ở trần thế, Ngữ muốn biến mình cho nhanh chóng trở
thành một lâu đài nào đó đứng sừng sững trên đồi núi cao ở miền trung Âu Châu.
Đứng sừng sững với những ngạo mạn riêng và những kỳ bí riêng cho một thời đã từng
là thành quách của những vị chúa tể một vùng. Đầu ngất ngưởng đội trời cao, tay
đưa lên bắt mây trắng bay qua, dưới chân đạp lên những tên du khách lục đục kéo
lên đồi để chiêm ngưỡng mình. Lâu đài chắc chắn không có gì để sợ. Nhưng sau ý
tưởng nhân cách hóa mơ hồ ấy, Ngữ lại sợ những khám phá bên trong lâu đài sẽ
làm cho những người khách uất nghẹn vì những tầm thường đã chứa đựng bên trong.
Có gì bên trong lâu dài hay chỉ còn lại là những thanh đao kiếm và áo giáp sắt
của những thời đại cổ xa xưa. Có gì bên trong những nhà thơ, như ý tưởng đẹp
bên trong Thiên đang có, hay như là những thanh kiếm và những chiếc áo giáp sắt
loang lổ mà người trông nom phải lo chùi bóng mỗi ngày để làm vui lòng những du
khách sắp bước chân vào lâu đài để thăm viếng?
Những mộng mơ bao giờ cũng đi xa và đi ra ngoài những cuộc đời chân thật và tầm
thường. Rốt cuộc con ngưòi vẫn cố chạy theo những hư ảo ngoài tầm tay, mà quên
đi những điều thiết thực cho cuộc sống. Tấm tranh đẹp và bài thơ hay sẽ không
còn đẹp và hay khi chúng ta không cho nó một mái che nắng che mưa và những ngăn
tủ kín đáo để bảo tồn, sau khi tác giả đã tung nó vào cho giới thưởng ngoạn,
bao gồm kẻ thanh cao và người ô trọc. Đời sống của họa sĩ ở Paris trong quyển
Of Human Bondage của Somerset Maugham lúc còn tại thế thì ngày nay người Việt
mình không mấy còn ai dám sống như vậy nữa. Ngữ thấy mình đã hành động không
theo suy nghĩ của mình. Chàng sống hiện tại theo cái cá tính mạnh mẽ của người
đàn ông, nhưng lại có luồng gió từ đâu mang về trong lòng một nỗi niềm lo âu bất
chợt... (các trang 49, 50, 51)
Những nhà văn gốc Nam Kỳ ở hải ngoại có khả năng đem nhân sinh quan vào văn
chương không phải là hiếm hoi đâu. Kiệt Tấn, Ngô Nguyên Dũng, Anh Vân, Trần
Long Hồ, Trần Nghi Hoàng... (nam), Phan thị Trọng Tuyến, Nguyễn thị Ngọc Nhung,
Trần thị Kim Lan... (nữ). Và mãi tới Nơi Cuối Dòng Sông và vài truyện ngắn
trong Một Đêm Ở Genève, Vũ Nam mới bắt đầu lên đường, đào sâu tác phẩm mình bằng
những nhân sinh quan thật khởi hứng.
Doãn Quốc Sĩ với bộ trường giang tiểu thuyết Khu Rừng Lau, Nguyễn Mộng Giác với
bộ trường giang Mùa Biển Động có xen lác đác vài nhân sinh quan rất phổ thông,
không đặc sắc lắm, thỉnh thoảng lại có chêm vô vài dòng tả cảnh lưa thưa. Cho
nên chúng ta xót xa mà nghĩ rằng: tại sao cuộc tiêu khổ kháng chiến của dân Nga
chống Hoàng Đế Nã-phá-luân Đệ Nhất trong War and Peace của Léon Tolstoi, chỉ
hơn một năm với gươm súng tầm thường, thế mà sau khi đọc tác phẩm của nhà đại
văn hào này, chúng ta hết muốn đọc tác phẩm của Doãn Quốc Sĩ và tác phẩm của
Nguyễn Mộng Giác nữa. Nên nhớ: cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt
Minh trong Khu Rừng Lau với vũ khí văn minh và kéo dài gần 10 năm, còn cuộc nội
chiến Quốc Cộng trong Mùa Biển Động với vũ khí tối tân hơn nữa và kéo dài gần
15 năm. Như thế, họ Doãn và họ Nguyễn có nhiều chất liệu tuyệt vời cho tác phẩm
hơn Léon Tolstoi chứ. Nhưng tác phẩm của họ vẫn không phải là loại kiệt tác. Tiểu
thuyết trường giang của họ chỉ đọc được thôi và chỉ dành cho các phê bình gia
có kiến thức bị giới hạn nếu không bảo là eo hẹp vì chưa quen hoặc chưa có khả
năng đọc tác phẩm có tư tưởng (triết học, tâm linh) như hai phê bình gia Nguyễn
Hưng Quốc, Nguyễn Vy Khanh... Có phải bút giả HTA có căn tính nộ lệ, thấy cái
gì của cường quốc cũng ưu việt hơn cây nhà lá vườn chăng? Có phải bút giả có
tinh thần vọng ngoại hết thuốc chữa chăng? Không đâu. Chúng ta nhận thấy một điều
không thể chối cãi rằng, đại văn hào Nga là một chiến sĩ, rành rẻ về trận mạc
và về cuộc đời cầm vũ khí đánh giặc. Trong khi đó, họ Doãn chỉ là một cán bộ
trong cuộc kháng chiến chống Pháp chứ không phải là một bộ đội khi tham dự các
trận mạc chống với binh sĩ Liên Hiệp Pháp. Còn họ Nguyễn chỉ là nhà giáo, dân
tháp ngà, nhìn bên ngoài qua khung cửa hẹp và chỉ biết cuộc chiến Quốc Cộng qua
đống tài liệu trong sách vở báo chí. Hơn nữa, Léon Tolstoi chăm sóc từng chi tiết
quyển truyện, ít khi để phần kể chuyện húng hiếp phần văn chương của tác phẩm.
Nghệ thuật tả cảnh tỉ mẩn và chi ly của Léon Tolstoi đẹp mê hồn. Lại thêm, chẳng
những ông cho mỗi nhân vật một nhân sinh quan cá biệt mà còn cho 3 nhân vật
chánh là Bá Tước Bézoukhov, Hoàng Thân André Bolkonski, Quận Chúa Maria
Bolkonski tư duy về tâm linh, tôn giáo và những vấn đề siêu hình. Đằng này, ông
Doãn và anh Nguyễn diễn tả cẩu thả, và lười lĩnh trong việc phơi bày tâm trạng
các nhân vật, huống chi dám động tới vấn đề tâm linh siêu hình vốn là hai lãnh
vực mà họ mù tịt. Nên nhớ, khi viết bộ Khu Rừng Lau, Doãn Quốc Sĩ chưa tìm hiểu
về Phật giáo, nhất là chưa nắm bắt được pháp môn Thiền học.
Chúng ta hãy nghe tiếp Vũ Nam trình bày nhân sinh quan của mình khi anh nhận định
vè tâm trạng và hoàn cảnh một nữ nhân vật:
Cuộc sống nàng như thành phố Austin nằm dưới lớp sương mù trong sáng nay khi Ngữ
đáp phi cơ để chuyển chuyến bay đi Cali. Nàng đâu có biết, chỉ chừng cao độ hai
ngàn mét nàng đã thấy nắng ấm và vùng trời xanh dương lồng lộng phía trên. Hóa
ra con người vẫn và lúc nào cũng có những điều ngoài tầm mắt, mà triết lý một
chút người ta gọi đó là sự vô minh Nhưng đâu phải chỉ Thiên là như vậy mà Ngữ
trách nàng. Còn chồng nàng và cả chàng không đang cùng một lúc đang quay tròn
trong đám mây mù đang bay thật thấp đó sao?
(trang 51)
Trong tác phẩm Một Đêm Ở Genève, Vũ Nam tuy không chăm chút ở
nghệ thuật miêu tả (tả cảnh, tà người, tả vật, tả tâm trạng nhân vật), nhưng
anh vẫn không bỏ sót vấn đề này. Có nhiều nhà văn mang tiếng nhà văn đã thành
danh (như Nguyễn Xuân Hoàng) hay nhà văn lớn (như Nguyễn Mộng Giác) mà lại viết
những truyện ngắn cóc cần miêu tả. Trong truyện ngắn Một Người Ngồi Trong Ghế
Bành, anh Hoàng không dựng được khung cảnh xung quanh chiếc ghế bành. Trong
truyện ngắn Giếng Ước, anh Giác kể chuyện tuồn tuột ở quán nước về đứa con gái
của ông ta. Như thế, hai anh rơi vào cái lối làm văn chương bằng cách kể truyện
mà Nguyễn Ngọc Ngạn, Võ Kỳ Điền đã từng làm. Chúng ta thử đọc các tác phẩm của
Hermann Hesse (chẳng hạn cuốn Demian) hay các tác phẩm của Dostoievski (qua các
cuốn L Idiot, Les Possédés) thì phần tả cảnh hơi ít, nhưng không hề vắng bặt
thiếu sót. Ông Hesse lẫn ông Gide phải bận bịu giải bày tư tưởng tâm linh hay
những vấn đề khúc mắc uyển chuyển như thái độ sống, nhân sinh quan thấp thoáng
tinh thần minh triết (giải phóng toàn diện con người, khuynh đão hoặc đặt lại vấn
tín ngưỡng, tìm chân lý ở chính mình) nên họ không có thời giờ đặt cái quan sát
ngoại giới các nhân vạt trong tác phẩm của họ. Họ chỉ thích đặt cái nhìn vào
trong đáy vực thẳm thẳm của tâm khảm con người, vào cái bí nhiệm của đời sống.
Như thế, họ có quyền lơ là ngoại cảnh và chỉ đem vài nét tiêu biểu của ngoại cảnh
vào văn chương mà thôi. Đằng này hai anh Nguyễn chỉ viết truyện tâm lý hoặc
truyện có hơi hướm truyện dị thường (conte extraordinaire) mà chỉ kể chuyện
thao thao, không chịu tả cảnh, tả người. Như thế thì hai truyện ngắn thường thường
bậc trung về giá trị văn chương nghệ thuật như Giếng Ước, Người Ngồi Trong Ghế
Bành kia khó mà lọt vào lãnh vực văn chương, không tìm được chút gì gỡ gạc hay
cứu vãn được chúng lên cung bậc cao hơn. Và chắc hẳn anh Hoàng chưa quên, dù viết
truyện dị thường nhưng nhà văn Mỹ Edgar Allen Poe vẫn chăm chút tả cảnh.
Những nhà văn gốc Nam Kỳ ở hải ngoại đa số chưa nắm bắt nhận định minh bạch thế
nào là viết văn, thế nào là thuyết thoại; cho nên họ lười biếng chểnh mảng việc
mô tả. Nhưng bù lại, họ kể truyện rất duyên dáng mặn nồng như trường hợp Nguyễn
Đức Lập, NguyễnVăn Ba, Phượng Khánh, Phương Hoài Nam, Tiểu Thu, chẳng hạn. Đó
cũng là trường hợp của Lê Xuyên. Có nhiều khi khung cảnh hoặc tư liệu văn
chương dù không được xuất hiện trên những dòng miêu tả, nhưng lại hiển hiện ở
những câu đối thoại. Riêng Vũ Nam trong Một Đêm Ở Genève khung cảnh được mô tả
trong phút hồi ức của nhân vật, chớ ít khi được mô tả ngay trước mặt nhân vật
khi nhân vật đóng vai trò dự khán.
Ngày bước chân vào xứ Đức trong mùa hè, buổi chiều được vị giám mục đưa lên xe
hơi, đi dạo cảnh. Trời mát và hơi lạnh, tôi thấy lòng mình rộn ràng với quang cảnh
đồng quê vùng Trung Âu này. Những đám ruộng, đồng cỏ xanh rì, chạy lượn, uốn
mình lên xuống, trong ánh nắng chiều vàng nhạt, cùng cơn gió heo may. Những con
bò Hòa lan đứng nhơi cỏ. Những căn nhà có mái đỏ tươi như gạch cua chín... Hình
ảnh mà hai mươi mấy năm ở quê nhà chỉ thấy qua sách báo và lịch treo tường.
Phút chốc thấy được hình ảnh thật hỏi sao lòng không nao nao hạnh phúc? Khi mùa
đông đến. Khi nhặt những bông tuyết rơi thật sự đầu tiên trong đời, cứ y như là
được chiếc đồng hồ đeo tay đầu tiên thuở cái tuổi mười hai lí lắc, nhỏ dại.
Nhưng dần dà khi mùa đông về, và mỗi năm đều phải bắt buộc nhìn lại bầu trời và
quang cảnh mang màu chì và trắng như bông gòn, dù công nhận tuyết phủ tuyệt đẹp
trên các cành cây và từng cánh hoa dồng cỏ nội, tôi cũng cảm thấy từ từ được sự
giá băng nào đó trông đời sống ở đây rồi! Ngoại cảnh cùng ngay cả trong tâm hồn.
(trang 92)
Trong mấy tác phẩm trước như Nơi Cuối Dòng Sông, Bên Dòng Sông Donau.., Vũ Nam
mô tả rất nhiều khung cảnh Quê Huơng Nước Ngọt, chốn sinh quán của anh. Nhưng
trong tác phẩm Một Đêm Ở Genève, anh thích mô tả khung cảnh ở ngoại quốc, nơi
anh định cư (miền Tây Nam nước Đức) hay những nơi anh đặt bước chân vãn cảnh.
Xin đọc khung cảnh cổ thành trên đảo Rodos và khung cảnh trên dỉnh núi Folimot
xứ Hy-lạp. Ở đây, nét tạo hình hiện trong nhãn quan người viếng cảnh chỉ được
diễn tả bằng vài nét phát thảo sơ sài, nhưng những đường nét tạo hình ấy được
xuất hiện trong các giai thoại, các câu chuyện truyền kỳ nhiều hơn. Tuy nhiên,
dù gì thì dù, những khung cảnh dưới ngòi bút anh vẫn làm xao xuyến tâm tư người
đọc.
... Cổ thành rất rộng ở bên trong. Xem chừng dân cả phường, cả xã có thể ở
được. Các lối đi đều rải lót bằng những viên đá tròn trịa, nho nhỏ, màu thẫm
đen. Trong cổ thành đầy những phòng lớn nhỏ. Chắc là ngày xưa, phòng vua chúa,
quan quân và cung tần mỹ nữ đều được phòng thủ chặt trong này. Và hiện nay,
hàng quán du lịch, cả những khu gái điếm, đèn đỏ đèn xanh, cũng nằm chật bên
trong.
Lựa một ngày có nắng, trời mát dịu, bạn đưa tôi lên xem trên đỉnh núi Folimot.
Đỉnh núi cao, có nhà thờ lớn và cây thánh giá thật to. Từ đây nhìn xuống sẽ thấy
được một phần lớn quang cảnh, phố xá của đảo Rodos. Nghe nói, đôi tình nhân ngoại
quốc nào du lịch đến đây, nếu sắp đến ngày làm lễ hỏi, sẵn dịp, họ đều lên trên
ngôi thánh đường cao trên đỉnh núi này để cử hành cuộc lễ. Họ tin vào một phép
mầu nào đó ở đây, cho cuộc tình họ được muôn đời bền chặt. Một niềm tin tốt đẹp!
Tôi còn nghe được bạn kể, ở Rodos vào tháng bảy, ngày hè, có những vùng rộng lớn
toàn là bướm và bướm. Không biết tại sao, và từ đâu chúng sinh ra, đổ về đây với
muôn màu và tung tăng bay lượn. Chắc là như những ngày hội hay ngày Tết xứ
mình. Lễ Đền Hùng. Đi Chùa Hương. Tết Nguyên Đán. Cũng đông và mặc quần áo đẹp
như vậy.
Ngoài ra tôi còn nghe kể về làng treo cổ Kemmati, về dấu tích của bức tuợng người
đàn ông trần truồng, thật khổng lồ, nếu không bị động đất chôn vùi khoảng hai
trăm năm trước Tây lịch, có lẽ nó được xếp vào một trong những kỳ quan của thế
giới. Và nghe nói Rodos cũng đã từng bị động đất chôn vùi, và sau đó lại nổi
lên.
Ngày cuối cùng trước khi lên phi cơ về lại Đức vào chín giờ đêm, tôi đi dạo phố
một lần cuối. Nắng vàng rực rỡ trong ngày. Chóp ngôi thánh đường đạo Hồi ngất
ngưỡng, nhưng cô đơn, trong xóm vắng người Thổ. Những hàng cá mực tươi rói được
dựng lên dã chiến bên đường để bán cho khách vãng lai. Những chiếc xe lên xuống
đồi phản chiếu đầy những ánh nắng như kim tuyến. Hôm ấy nắng thật đầy, khung cảnh
thật ấm, nhưng vẫn gợi trong tôi nỗi ngậm ngùi, tự nhủ với lòng rằng nơi đây
cũng là nắng ấm, nhưng ấm sao bằng nắng ấm Quê hương...
(các trang 97, 98)
Một Đêm Ở Genève gồm 11 truyện ngắn gồm có dăm ba truyện
tình, vài truyện hiện thực. Nhưng bài Đoản Văn Cho Quê Hương Và Cho Luyến cùng
bài Nắng Nơi Đây Cũng Là Nắng Ấm không có cốt truyện dồi dào biến động như các
truyện ngắn, nhưng với lối hành văn đẹp, gợi trong ấn tượng độc giả những hình ảnh
buồn man mác, chúng có thể thăng hoa và hóa thân thành những bài thơ đẹp bằng
văn xuôi.
* Nắng Đây Cũng Là Nắng Ấm nói lên chuyến du lịch của tác giả trên đảo Rodos của
xứ Hy-lạp, một xứ có niều đảo nhất thế giới. Đây là một bài du ký nho nhỏ nói
lên chí phấn đấu lập nghiệp của người bạn tác giả. Khi thoát ly khỏi bức màn
tre của Cộng Sản, đương sự bắt buộc phải chọn Hy-lạp làm xứ sở định cư mà đương
sự không hề biết tiếng bản xứ cùng phong tục, lối sống và trạng thái tinh thần
của dân Hy-lạp. Vậy mà bây giờ đương sự đã là chủ nhân tiệm ăn, có thể nói trôi
chảy tiếng Anh, tiếng Hy-lạp. Tuy nhiên tùy theo nhu cầu mùa du lịch, đương sự
có thể theo bước chân du khách di chuyển từ đảo này sang đảo nọ trên vùng biển
Địa Trung Hải để mở nhà hàng .
Xứ Hy-lạp nổi danh từ thời Thượng Cổ có một nền văn minh rực rỡ. Trong lãnh vực
văn chương, truyện Thần Thoại Hy-lạp (La Mythologie Grecque) với một ông Thượng
đế giả tưởng Jupiter và các vị thần giả tưởng như Nữ thần Thiên hậu Junon, Nữ
thần Nhục cảm Vệ Nữ, Nữ thần Hòa bình Hạnh phúc Minerve Nam thần Thái dương
Apollon, Nữ thần Thái âm Diane, Nam thần Chiến tranh Mars, Nam thần Ngoai giao
và Thương mãi Mercure, Tửu thần Baccus... Tất cả đều ở trên Thiên cung tọa lạc
tận tuyệt đỉnh của núi Olympia. Dù là Thượng đế hay thần tiên giả tưởng như Bà
Chúa Thượng Ngàn, Bà Chúa Đền Sòng, Cô Ba Thoải Phủ, ông Hoàng Bơ bên Việt Giáo
ngoài đất Bắc xứ ta, nhưng trong thói mê tín của dân Hy-lạp thời Thượng Cổ, họ
được sùng bái lập đền thờ. Bây giờ trên đất nước Hy-lạp hay trên các đảo nhỏ vẫn
còn nhiều di tích đền thờ các vị thần trong thần thoại và truyền kỳ, tất cả đều
đổ nát, chẳng hạn như đền thờ Athène (đền Nhã- diển) thờ nữ thần Minerve.
Thần thoại cùng Thượng đế và chư thần giả tưởng dù là bịa đặt, dối láo nhưng tất
cả kết hợp thành cái nôi vĩ đại và diễm kiều cho các nghệ sĩ đủ bộ môn nghệ thuật
bên Âu Châu và tràn qua Mỹ Châu. Ngày nay dân Hy-lạp theo đạo Thiên Chúa Chính
Thống (l Orthodoxe). Cho nên về phương diện tín ngưỡng và tâm linh, họ không
thích nhắc những bậc siêu phàm giả tưởng ấy nữa.
Theo bước nhàn du của Vũ Nam, độc giả chúng ta sẽ thấy xứ Hy-lạp nghèo nàn, sống
bằng nghề đón tiếp khách vãn cảnh trong những chuyến du lịch mà thôi. Nhưng
Rodos chỉ là một hải đảo trong vùng hải phận của hai xứ sở thù ngịch là Hy-lạp
và Thổ-nhỉ-kỳ. Nhưng anh có thể viếng thăm cổ thành, có thể sưởi nắng ấm và hứng
gió biển mát mẻ, có thể mường tượng tới bươm bướm từng đàn bay về theo lời người
bạn của anh kể.
* Đoản Văn Cho Quê Hương Và Cho Luyến tuy là một đoản văn về phương diện hình
thức, nhưng lại có tinh thần và phong thái của một bài thơ bằng văn xuôi. Các bạn
nữ độc giả nào có tâm hồn được tuới tẩm bằng cơn mưa trữ tình, bằng hơi sương
lãng mạn có thể xem đây là một truyện tình với một cuộc tình mới tượng hình mà
chưa kịp thành hình để rồi tan biến trong thời cuộc nhiễu nhương.
Cốt truyện chẳng có gì hấp dẫn đâu. Tác giả không cho độc giả biết tình yêu của
nhân vật xưng anh (có thể là tác giả) với cô giáo tên Luyến xảy ra từ lúc nào.
Nhưng khi từ Sài Gòn về Bà Rịa trên chuyến xe đò, nhân vật xưng anh đã gặp Luyến
cưỡi xe đạp ngược gió về tỉnh. Hình ảnh đó ghi một ấn tượng sâu đậm vào ký ức
đuơng sự.
Xe chạy qua rồi anh còn cố gắng quay lại nhìn em. Và chắc một điều là em không
bao giờ thấy anh. Xe chạy bằng máy nên nhanh quá, trong khi đó em phải dùng sức
để lăn chuyển bánh xe của đời em thì làm sao nhanh được. khi em từng biết em là
kẻ chân yếu tay mềm! Vì thế mà không bao lâu sau đó em đã bỏ đất nước này, bỏ
thị xã nhỏ bé đó để lên đường ra biển. Ngay chiều hôm ấy anh muốn kêu người tài
xế cho anh xuống để cùng đạp với em trên quãng đường còn lại, như anh đã từng
ao ước được đạp cùng với em những chông gai cho cả cuộc đời của hai đứa mình,
nhưng sao anh lại cứ ngập ngừng y như ngập ngừng không dám nói lời cầu hôn với
em, và chiếc xe đạp cứ lao đi chứ có chờ đợi ai đâu! Phải chi anh xuống để đạp
chở em đi một đoạn đường, chắc có lẽ anh đã biết ý định của em sẽ ra đi trong
những ngày sau đó. Dù sao thì nếu biết trước anh vẫn thấy đỡ xót xa hơn, lòng đỡ
quặn thắt hơn.
(các trang 68, 69)
Đó là buổi gặp gỡ sau cùng của cả hai. Nhưng Luyến không thấy đương sự trong
xe. Rồi Luyến vượt biên. Sau đó đương sự cũng vượt biên. Luyến định cư trên đất
nước Hợp Chúng Quốc, còn đương sự định cư trên nước Đức. Nhưng suốt 18 năm qua,
mỗi lần viéng các tiểu bang đông đúc kiều bào, đương sự có thể gặp dân vùng ven
biển Bà Rịa. Trong vùng đó có cái ấp sinh quán của anh là ấp Nước Ngọt mà anh
thường gọi một cách âu yếm là Quê Hương Nước Ngọt Nhưng không bao giờ anh gặp lại
Luyến. Nàng đâ trở thành bóng chim tăm cá trong cuộc đời anh mất rồi!
* Những Áng Mây Ngày Cũ không phải là một truyện ngắn mà là một đoạn hồi ký tuổi
thơ và tuổi hoa niên của tác giả lồng trong cái bối cảnh vào thuở bình minh cuộc
nội chiến Quốc Cộng. Ở giai đoạn đầu, gia đình tác giả ở ấp Nước Ngọt thuộc xâ
Long Hải, một vùng bất an ninh mà có một dạo dân chúng Miền Nam Việt Nam gọi là
vùng xôi đậu. Ông trưỏng ấp bị Việt Cộng buộc phải bỏ chức trưởng ấp. Nhưng ông
ta không nghe lời bọn hắn nên bị bọn hắn chém đầu. Còn cha tác giả thì bị ở tù
vì tội bán nhu yếu phẩm cho Việt Cộng. Vào lúc tác giả 7 tuổi, gia đình anh phải
bỏ ấp sang định cư tại xã Long Hải, nơi đây thuộc vùng được phe Quốc Gia kiểm
soát, nên tương đối an ninh hơn. Mẹ tác giả phải bương chải buôn gánh bán bưng
để nuôi năm đứa con (bốn gái một trai).
Sau một năm ngồi khám, cha tác giả được trở về với gia đình, làm nghề đi biển.
Khi có vốn khá, ông mới mở tiệm bán cà phê cho dân vùng biển. Và khi Phước Hải
trở thành vùng xôi đậu thì bọn Việt Cộng đêm đêm về thu thuế cư dân, bắt họ đi
dân công. Có người bị bắt đi luôn. Có kẻ được cho về nhà, trong số người được
may mắn có một người chị của tác giả.
Dù sống trong giai đoạn dầu sôi lửa bỏng của một góc trời nhỏ bé tưởng chừng
như bị thế nhân lãng quên ngờ đâu lại bị xáo trộn trong giai đoạn nhiễu nhương
của lịch sử, vậy mà tác giả vẫn vui sống, hồn nhiên hưởng một thời thơ ấu thơ mộng
bên bờ vùng biển mặn. Nhưng tai họa gia đình chưa chấm dứt đâu. Người chị thứ
tư của anh, một cô nữ sinh lớp Đệ Lục chết vì chứng bịnh phong đòn gánh (người
Bắc thì gọi là sài uốn ván). Rồi cuộc sống lại tiếp tục sau một thời gian tang
tóc. Tác giả cùng trẻ nít xóm giềng bày nhiều trò chơi hấp dẫn, cùng dàn trận
đánh lộn với lũ chăn trâu. Trong khi đó, chung quanh họ thời cuộc tiếp tục căng
thẳng. Lại thêm một sự bất hạnh. Người chị trưởng trong gia đình sinh một lượt
ba đứa bé gái, nhưng chúng chỉ là những hài nhi hữu sinh vô dưỡng.
Thời hoa niên của tác giả chấm dứt khi anh học xong lớp Đệ Lục. Thế là anh phải
lên tỉnh Bà Rịa tiếp tục học hành. Nhưng đất nước lại càng xảy ra nhiều cơn khủng
hoảng khi chiến tranh toàn thể Miền Nam Việt Nam càng ngày càng gia trọng.
Những truyện ngắn trong Một Đêm Ở Genève thường lấy đề tài những
người đàn ông chạnh nhơ tình xưa, tìm về kỷ niệm bên cạnh người yêu đầu đời. Kỷ
niệm được gói trong cuộc tình ít khi tạo cơ hội cho tác giả có cái nhìn rộng lớn
phóng chiếu lên cuộc sống phồn tạp và đa dạng. Nhưng Vũ Nam vẫn làm cho chúng
ta bàng hoàng trước lớp sóng phế hưng dâu bể kéo tràn lên lịch sử dân tộc ta để
chúng ta hoài niệm đến bài Thăng Long Hoài Cổ của Bà Huyện Thanh Quan với hai
câu thơ: Đá vẫn trơ gan cùng tuế nguyệt/ Nước còn cau mặt với tang thương.
* Truyện ngắn cùng tựa với tập truyện Một Đêm Ở Genève nói về mối tình giữa nam
nhân vật tên Thanh và nữ nhân vật tên Phương lớn hơn Thanh 4 tuổi Thưở ấy Thanh
15 tuổi nên Phương xem đương sự nhu một cậu em ngoan. Còn Thanh yêu nàng bằng mối
tình đơn phương thầm kín. Trong cuộc cắm trại, Thanh được Phương cho ngủ chung,
Nhung rồi:
Nửa đêm, không biết có phải từ giấc mơ, hay một hành động vô tình Thanh ôm ấp
chị Phương trong người, bàn tay tìm kiếm... Khi chị Phương tỉnh giấc, cậu bé
cũng chợt tỉnh từ cơn mơ. Từ đó, kể từ đêm đó chị Phương không bao giờ nói chuyện
với Thanh nữa. Khi đi ngang qua nhà Thanh chị chỉ cúi đầu để đi.
(trang 16)
Rồi đó, cả hai cùng bước vào đời, dĩ nhiên chuyện cũ cũng đã bị mài dũa hết những
sần sượng gai góc, những góc cạnh thô nhám và tác giả cho biết: ...
Mỗi khi hai người gặp nhau, chị Phương làm như đã quên chuyện cũ, chuyện trò đằm
thắm với Thanh như thuở nào. Còn Thanh, lần vuốt ve chị Phương trong đêm tối
như một vết thẹo. Vết thẹo đầu đời, trần tục, đớn đau.
(trang 17)
Sau đó Thanh cưới vợ cùng trang lứa với chàng. Chị Phương kết hôn với một sĩ
quan hải quân. Sau khi Mièn Nam Việt Nam rơi vào tay Cộng quân miền Bắc, chồng
chị Phương bị đi học tập cải tạo, chết trong tù. Thanh cùng vợ con vượt biển
truớc, sang định cư bên Tây Đức. Còn chị Phương vượt biên sau, được người bạn
chồng bảo lãnh nên chị định cư bên Thụy-sĩ. Chị kết hôn với đương sự. Chị viết
văn, xắn từng mảnh đời khổ lụy của mình đưa vào tập truyện ngắn của mình. Hôm
chị ra mắt sách có mời Thanh qua Thụy-sĩ tham dự.
Sau đó, Thanh được vợ chồng chị mời về nhà nghỉ ngơi. Tối hôm đó vào lễ Quốc
Khánh của nước Thụy sĩ, hai chị em cùng xem lễ đốt pháo bông. Chị Phương kể lể
chuyện đất nước cùng chuyện gia đình của mình cho Thanh nghe.
Hôm sau, Thanh về nhà vào lối 10 giờ tối, bắt gặp mọt cảnh tuợng kỳ thú:
... Cả nhà đã đi ngủ. Chỉ cậu con trai mười bốn tuổi còn thức, đang đứng
bên cửa sổ nhà nhìn xuống đường xem hai cô gái Đức khoảng mười sáu tuổi đánh vũ
cầu. Trời mười giờ, trong mùa hè chưa tối hẳn, nhưng đèn đường đã được bật lên,
ánh sáng đèn đường vàng chiếu rọi xuống con suối bên cạnh nhà, phản chiếu lại
làm khung cảnh chơi của hai cô gái đẹp lạ lùng. Cậu bé hơi ái ngại khi thấy ba
mình bắt tại trậnmình đang nhìn trộm hai cô gái. Thanh lại bắt gặp hình ảnh
mình qua hình ảnh đứa con trai cách đây hai mươi lăm năm. Nhưng ở dưới kia
không ai là chị Phương cả! Thanh mong sao con trai mình đừng có những mộng mị tầm
thường như mình khi tuổi vừa mới lớn.
(trang 37)
Cái đề tài mối tình ngây thơ của cậu bé trai đang độ hoa niên yêu cô thiếu nữ lớn
tuổi hơn mình đã có nhiều nhà văn khai thác rồi. Ở đây, tác giả Vũ Nam dàn dựng
một chị Phương có thái độ úp mở cực kỳ quyến rũ. Chị có thực tình giận Thanh
sau đêm ngủ chung không? Hay chỉ là phản ứng bề ngoài của cô thiếu nữ con nhà lễ
giáo? Cớ sao chị lại quay mặt lạnh nhạt với Thanh lúc đầu để rồi sau đó ít lâu
lại đối xử với Thanh thật hồn nhiên thân ái như thuở trước? Tác giả để độc giả
tự phán đoán lấy. Mỗi người có một phán đoán riêng, một giải thích riêng. Do đó
truyện ngắn có một chiều sâu hun hút và tâm hồn chị Phương có một chút bí mật kỳ
diệu riêng.
* Truyện ngắn Buổi Chiều Trên Thành Phố Lạ cũng vẫn là một chuyện tình xa xưa
mà đôi tình nhân gặp lại nhau dưới bầu trời nắng ấm Nam Cali. Sau khi đất nước
đổi cờ, cả hai cùng vượt biên. Ngữ, nam nhân vật định cư bên Thụy-sĩ, sính làm
thơ, nhưng tác giả không khẳng định nghề tay mặt của chàng là nghề gì. Thiên, nữ
nhân vật định cư ở Nam Cali. Nàng là vợ một doanh thương khá giả. Nàng phiền muộn
vì ông chồng không bao giờ tìm hiểu nỗi niềm cô đơn của nàng. Cho nên nàng tìm
sự an ủi ở mối tình xưa qua sự trao đổi thư từ với Ngữ. Tối hôm đó, nàng muốn
chàng nghỉ đêm ở nhà vợ chồng nàng. Nhưng chồng Thiên có thể vì ghen một phần,
nhưng cũng muốn cắt đứt những giây mơ rễ má đang vướng víu loạn xạ trong trái
tim của Thiên nên bảo Ngữ:
- Từ lâu tôi đã có đọc đưọc thư từ qua lại của anh và nhà tôi, dù nhà tôi
cố giấu. Lúc đầu thì tôi hơi ghen, nhưng thú thật với anh rồi từ từ tôi thấy
không có gì để ghen tức nữa. Nhà tôi cứ sống trong mơ mộng. Gặp anh cũng là người
mà theo tôi chỉ biết mộng mơ. Nhà tôi âm thầm chê tôi là người kém hiểu biết
hơn nàng, thì ắt hẳn phải khen anh. Nhưng anh đến đây rồi anh mới thấy. Ở Mỹ
không chỉ khư khư ôm chuyện mơ mộng, chuyện văn chương làm lẽ sống. Phải thực tế
một chút chứ! Con cái đã lớn rồi. Nhưng cái tôi không ngờ là anh cũng cố gắng
ghé thăm vợ tôi, trong khi đáng lẽ anh không nên ghé thăm. Có ích lợi gì? Đúng
như trong thư anh hay viết hai chữ phù phiếm. Đúng, anh phù phiếm lắm! Hôm nay
tôi về trước một giờ là để muốn cho anh một bài học. Có thể chuyện viết thư tôi
dở hơn anh, nhưng chắc chắn là tôi không mơ mộng lẩm cẩm như anh đâu. Vợ của
người khác mà các anh cũng đem lòng thương nhớ mới thật là kỳ. Những mối tình
thời học sinh ai lại không có, bao giờ lại không đẹp. Nhưng đừng có lấy nó để
làm tan hoang hạnh phúc hiện tại của kẻ khác...
(các trang 52, 53)
Cái tình ý ẩn giấu sau lưng mặt chữ của câu chuyện là cái mơ mộng phù ảo đẹp lộng
lẫy chạm trán với cái thực tế cứng cỏi, thô tháp và phũ phàng. Cái bạc nhược
làm sao chống chọi nổi với cái thô cứng? Cho nên Ngữ đành trở về khách sạn mà
chàng đã thuê phòng trước khi tìm gặp Thiên. Chàng không hờn chồng Thiên, chỉ
giữ lại trong ký ức mình giọt nước mắt của Thiên vào phút đầu tiên gặp chàng.
* Truyện ngắn Tìm Lại Hư Không là truyện tình thơ mộng ở 4/5 câu chuyện. Phần
còn lại là câu chuyện có thể là quái dị mà cũng có thể là nói lên cái ám ảnh
hay cái tự kỷ ám thị của nam nhân vật chính.
Truyện rằng từ Âu Châu (tác giả không nói rõ nước nào) Đạt qua Houston (tiểu
bang Texas) rồi đến tiểu bang Florida để tìm Xuyén, người tình cũ của chàng khi
cả hai còn ở Bà Rịa. Đây cũng là dịp chàng tìm một cuộc tình mà đoạn cuối lại
có cảnh ly tan. Xuyến có chồng một sĩ quan Hải Quân, để rồi sau khi Cộng Sản cưỡng
chiếm Miềm Nam Việt Nam, cả hai (Đạt và Xuyến) lạc loài nhau, mỗi người định cư
trên một đất nước riêng trong bốn phương trời hải ngoại. Tìm người yêu cũ vẫn
là vấn đề then chốt trong cuộc bút trình của Vũ Nam. Nhưng sau lưng những nhân
vật thường có bối cảnh Bà Rịa lót nền và chung quanh họ nổi bật biết bao kỷ niệm
của ngày xưa thân ái, của cuộc tình đầu đời thơ mộng trong vùng trời nước bao
la:
Thị xã nhỏ bé Bà Rịa lại trở về với Đạt. Hình ảnh Xuyến lại trở về. Những con
đường nhỏ có lá me bay. Với Phòng Thông Tin đầy én lượn. Thị xã tí hon nầy như
một nhịp cầu cho khách nhàn du trong những ngày cuối tuần khi từ thành phố Sài
Gòn muốn đi về tắm biển Vũng Tàu, Long Hải. Khách nhàn du qua rồi lại, đến rồi
đi, chớ ít có ai để ý hay nhớ gì đến nó một khi đã đi qua. Và chỉ ai có lớn lên
trong cái thị xã bé nhỏ này, khi xa nó mới nhớ đến nó. Cũng giống như ai đã từng
lớn lên ở Vũng Tàu, Nha Trang thì khi xa lại nhớ về miền thùy dưong cát trắng,
có sóng biển nhấp nhô, với Hòn Chồng, với Cầu Đá...; ai đã ở Đà Lạt mới nhớ đến
những đồi thông, thác nước, bầu trời buổi sáng ẩm ướt mù sương... Còn Đạt và
Xuyến chắc khi nhớ đến Bà Rịa duy chỉ còn nhớ đến những con đường nho nhỏ, những
hàng quán im lìm, thơ mộng, thậm chí có một vài hàng quán trông tồi tàn với những
ngọn đèn trong đêm hiu hắt: tiệm hủ tiếu, quán chè, quán cà phê, và những con đường,
công sở, tàn cây, ngôi trường học..., đâu đâu trong thị xã vẫn nổi hằn nét nhỏ
nhắn, bình dị, êm đềm.
(trang 151)
Tại một thành phố biển của tiểu bang Florida, Đạt và Xuyến vừa dạo chơi vừa ôn
chuyện cũ. Nhưng khi tới chỗ người câu cá sát ven tưòng, Xuyến giục chàng rời
khỏi ngay. Nàng kể luôn, cũng tại chỗ này, nàng đã xô chồng mình xuống biển lởm
chởm đà để giết chết chồng.
Thế rồi trong chuyến trở về nhà, Đạt chớt thấy một cảnh tượng quái dị:
Đạt đâm ra sợ như không còn muốn ngồi gần bên Xuyến nữa. Trong bóng đêm giờ Đạt
tưởng tượng ra chắc gương mặt Xuyến bây giờ mang vẻ hung tợn lắm. Với giọng nói
có âm hưởng cộc cằn, dữ tợn. Chàng vì uất ức, dù là sợ nhưng cố làm gan để hỏi
Xuyến cho ra lẽ:
- Nhưng tại sao em lại giết Tường?
- Tại ảnh đào hoa quá! Hết cô tình nhân này, đến cô tình nhân khác. Tại vì ảnh
đã phụ bạc em. - Té ra mọi chuyện cũng chỉ vì tình. Nhưng em có thể xin ly di
kia mà.
- Thôi bỏ chuyện cũ đi. Chuyện dông dài. Ly dị với không ly dị. Trời đã khuya rồi.
Hay bây giờ anh muốn xuống lại biển?
- Thôi cô! Tôi sợ biển rồi!
- Ha...ha... ha.
Giọng cười Xuyến, Đạt nghe sao lãnh lót!
Chiếc xe bỏ cảnh biển ban đêm sau lưng. Đến một khúc quanh, đường không còn một
ánh đèn, trong xe tối như đêm ba mươi, Đạt quay qua thấy người ngồi bên cạnh
mình bây giờ không phải là Xuyến nữa, mà là Tường. Rõ ràng là Tường. Mặt đầy
máu me. Đạt ú ớ la lên.
(các trang 164, 165)
Đây là một truyện ngắn tuyệt vời trong những truyện ngắn hay nhất của Vũ Nam.
Nhưng nó làm cho chúng ta bàng hoàng dao động tâm tư nếu không bảo là thảng thốt
kinh dị ở đoạn cuối. Đứng chung với các truyện ngắn êm đềm, buồn bã và thơ mộng
khác, nó có vẻ lạc loài thế nào ấy! Có lẽ anh nên xếp nó vào cuốn tập truyện
khác gồm toàn những truyện dị thường (contes extraordinaires) hay truyện quái dị
(contes fantastiques) thì đúng chỗ hơn.
* Truyện ngắn Những Vì Sao Lạc nói về cái đam mê của ông Tham đối với một thiếu
phụ trẻ đẹp người Đức tên Himmel. Số là Himmel, Tâm và ông Tham cùng làm việc
trong hảng Hugo. Cả ba đều có gia đình. Nhưng Himmel có tánh đong đưa, bắt tình
với Tâm cùng trang lứa với nàng. Tâm thạo khoa ăn nói, thạo viết thư tình rất
mùi mẫn du dương. Còn ông thì nhút nhát. Himmel có một cuộc sống song đôi
(double vie) rất kỳ lạ. Xin đọc:
... Lúc ở nhà Himmel xứng đáng là một người vợ, người mẹ, ai cũng nói như
vậy. Trong hảng nàng có tiếng là người nữ công nhân tốt, siêng năng và đầy
trách nhiệm. Nhưng nếu là người tình trong đêm họp mặt cuối năm vui chơi trong
hãng, hay những đêm về nơi quán vắng cùng những bạn đồng nghiệp, mà trong đó có
hiện diện một bóng người tình thì sao? Mọi người đều cho rằng Himmel rất tuyệt
vời trong tất cả các vai, và vì thế nếu nàng có bị chồng ghen thì ít hay nhiều
cũng có cái lý do của nó!
Nàng yêu Tâm, Tâm yêu nàng, cả hai đều biết, ai ai trong hãng cũng đều biết, dù
họ có lén yêu nhau. Nhưng nàng sẵn sàng lả lơi liếc mắt đưa tình ngay với một
người đàn ông đồng nghiệp nào đó, nếu ông ta hoặc anh ta tỏ ra quá si mê nhan sắc
nàng, ngay cả trước mặt Tâm hoặc các xếp lớn. Đến đỗi đôi khi Tâm còn phải tâm
sự với ông Tham, nàng có quyền yêu bất cứ ai nếu nàng thích, mình có phải chồng
nàng đâu mà ghen...
(các trang 136, 137) ...
Nghe Tâm kể, lúc anh còn làm việc ở đây, đã có lần anh rủ Himmel đi Paris chơi
trong hai ngày cuối tuần, nhưng nàng không bằng lòng. Nàng nói với Tâm : Tôi rấr
sợ đi xa như vậy vì ông xã tôi ghen ! Chúng mình chỉ yêu nhau trong giới hạn!
Cũng như Tâm đã thất vọng khi hẹn sẽ gặp Himmel vào một ngày hè nào đó trên bờ
biển ở đảo Kreta của Hy-lạp, vì theo Himmel đó là một sự phiêu lưu mạo hiểm cho
Tâm, cả cho nàng. Tâm vội bỏ Đức Quốc, bỏ Himmel, mang vợ con đoàn tụ với cha mẹ
ở Úc theo diện di dân như thể trốn chạy những lời trêu ghẹo có thể xảy ra của bạn
đồng nghiệp trong hãng. Hoặc trước sau gì mọi việc rồi cũng đến tai người vợ đã
cùng chung với mình vui buồn, chăn gối trong gần mười năm qua.
(các trang 138; 139)
Tâm bỏ đi, rồi Himmel cũng đổi chỗ làm vì tiếng đồn bất lợi lan rộng trong
hãng. Ông Tham chuẩn bị ve vãn nàng, thường đến thăm nàng ở một siêu thị mà nàng
làm việc với chức vụ bán hàng. Lần sau cùng, khi nàng tan việc trong ngày, ông
rủ nàng đi uống cà phê thì nàng hẹn hôm khác. Nhưng...
... Trước khi chia tay, như một sự lợi dụng mơ hồ, ông nắm vội bờ vai Himmel, để
đôi má hơi nhăn nheo của mình lên đôi môi hồng hào son phấn của nàng. Nàng chấp
nhận thật an nhiên với nụ cười thật tươi. Có thể nàng xem đó như một nụ hôn từ
giã, hay một dấu hiệu mối tình vừa chớm nở. Nhưng cùng lúc ấy cặp đèn xe của
người nào sáng hoắc rọi thẳng vào hai người đang đứng. Một người đàn ông Đức to
lớn bước xuống xe và tiến lại phía hai người. Himmel nói nhỏ: mein Mann! Chồng
tôi! Ông tham chỉ còn kịp nghe người này nói với ông một câu: Ông
T..T..a..a..m, tôi nghe đến ông lâu rồi nay có dịp gặp! Chào! Hẹn tái ngộ!
Sau đó chồng Himmel nắm tay Himmel dẫn nàng đi khuất vào bóng đêm. Ông Tham
không nhận ra kịp chồng Himmel đã kêu tên ông hay tên Tâm. Trong đời, chưa bao
giờ ông thấy đêm nào trời lạnh như đêm nay! Trên trời, mùa đông không có sao,
nhưng ông thấy hình như có một vì sao vừa băng.
(trang 146)
Người Âu Châu hay Hoa Kỳ đều gọi tên Tâm và tên Tham bằng Tham như nhau. Ở đây,
có lẽ Himmel thường hay nhắc nhở Tâm hoặc nhắc nhở ông Tham hay nhắc nhở cả hai
trước mặt chồng mình, coi như nhắc nhở những người đồng nghiệp, thế thôi. Sau
khi vợ chồng Himmel đi khuất, ông Tham có thể nghĩ rằng mình gỏ cửa gọi Tình
Yêu không đúng chỗ vì mình tìm sai địa chỉ nên không tới gặp ngôi đền Tình Ái
mà chỉ gặp nhà xác. Nhưng tác giả lại cho biết, sau khi đặt má mình kề đôi môi
Himmel, ông Tham lẫn Himmel bàng hoàng. Độc giả cũng bàng hoàng theo họ. Ông
Tham bàng hoàng vì say tình. Himmel bàng hoàng vì lẽ gì không ai hiểu rỗ. Con độc
giả bàng hoàng vì băn khoăn tự hỏi, cử chỉ đột ngột của Ông Tham liệu có chinh
phục trái tim Himmel không? Hay là nàng cảm ứng động tình trong giây phút ngắn
ngủi để rồi sau đó nàng lấy lại sự thăng bằng cho chính mình. Himmel không phải
là gái cao sang quyền quý hoặc có học vấn cao hay có trình độ kiến thức vượt bực
hơn kiến thức các cô gái thuộc thành phần trung lưu cấp thấp. Nàng không nết
na, khi ra khỏi nhà và khi tan sở là hiện nguyên hình một phụ nữ thác loạn về
tình dục (la nymphomane) . Nàng có thể nhận biết mối tình si của ông Tham mỗi lần
ông đến thăm viếng nàng. Nhưng nàng không tỏ thái độ gì ngoài sự ân cần thân mật.
Không ai có thể hiểu nàng cho nên không ai có thể đoán đưọc số phận cuộc giao
du của cả hai sẽ có sắc thái gì khác hơn và sẽ kéo dài được bao lâu. Hay tới
đây cái thọ mạng nó coi như chấm dứt? Đây là một kết cuộc lửng lơ con cá vàng
rất thú vị.
* Truyện ngắn Cuối Xuân là câu chuyện thời đại. Mừng và Hà gặp
nhau ở Tiệp-khắc. Cả hai cùng là lao nô, đồng hội đồng thuyền, đồng thanh tương
ứng nên yêu nhau. Trong khi đó, Mới, hôn thê của Mừng ở quê nhà vẫn kiên trinh
đợi ngày chàng về sẽ kết hôn với mình. Ở khách địa, Mừng bị tai nạn xe cộ, phải
nằm nhà thương và khi xuất viẹn được Hà ân cần săn sóc. Sau đó cả hai từ Tiệp
chạy sang Tây Đức khi bức tường Bá-linh sụp đổ. Nhưng chánh phủTây Đức phải trả
chàng về Việt Nam, còn Hà được ở lại vì có người đàn ông Đức cưới nàng làm vợ.
Mừng về quê, tưởng rằng Mới sẽ mừng ở cuộc tái ngộ trùng phùng. Nhưng Mới bảo:
Chị Hà nào đó có viềt thư cho tui! Tui có ý định gặp anh mới nói. Bây giờ tui
rút lại lời hứa hẹn của tui lúc truớc ới anh, để anh yên tâm. Chị Hà nói chỉ lấy
chồng Đức vì việc riêng của chỉ, nếu hợp chỉ ở, còn không chỉ sẽ xin ly dị. Khi
đó chỉ sẽ bảo lãnh anh qua Đức đoàn tụ. Chỉ mong tui nhường anh lại cho chỉ hoặc
chờ chỉ vì chỉ thật lòng thương anh, có nhiều kỷ niệm với anh từ lúc hai người
còn ở Tiệp lận. Tui thấy giải quyết như vậy là tốt nhất. Đời sống của một người
như anh, ở đây rất khổ. Anh biết ở đây, bây giờ mà! Ở Đức còn hơn. Tui quyết định
là sẵn sàng hy sinh...
(trang 62)
Mừng có hai người tình tuyệt vời. Cuộc đời dưới mắt Vũ Nam dù có móng vuốt
chông gai cũng được cái nhìn nhân hậu của anh chà láng. Truyện thì ngắn, phần kể
ruyện hơi lấn lướt phần miêu tả, nhưng đọc đến đâu chúng ta đều ngậm ngùi đến
đó. Nhưng trong nỗi dao động se sắt của tâm tư, lòng chúng ta dấy lên khúc hoan
rộn ràng niềm tin yêu đối với thế nhân nói chung đói với dân tộc ta nói riêng.
Những truyện ngắn ở phân đoạn trên lấy bối cảnh ở ngoại quốc. Truyện ngắn Một
Đêm Ở Genève lấy bối cảnh ở Thụy-sĩ, còn những truyện ngắn kia lấy bối cảnh
tren đất nước Hợp Chúng Quốc như Nam California, Texas, Florida...
Những truyện ngắn còn lại lấy bối cảnh trên đất nước Việt Nam. Nhưng truyện ngắn
Cuối Xuân chỉ lồng bối cảnh Việt Nam ở phần cuối, còn các phần đầu lại lấy bối
cảnh bên Tây Đức. Tuy nhiên, các bối cảnh nầy không hiện trước mắt độc giả bằng
những nét tạo hình. Nó chỉ được nhắc nhở ở một vài câu sơ sài. Tác giả chỉ lo
săn sóc cốt truyện tình sao cho ướt át tâm sự, sao cho tâm hồn nhân vật thêm
cao thượng nên anh hơi rẻ rúng phần miêu tả. Khi Mừng hồi hương về nơi chôn
nhau cắt rún, tác giả cũng không nói rõ ở địa danh nào.
Xin cùng đọc đêm Mừng và Hà từ biệt nhau, cùng ngắm những nét tạo hình trên bức
tranh vẽ bãi đất trống, nơi hẹn hò của cặp tình nhân ấy. Bức tranh được diễn tả
bằng lối phác thảo nguệch ngoặc nhưng vẫn ghi sâu vào ấn tượng người đọc vì
trong cảnh có tình, trong tình có lồng bối cảnh:
... Tuyết trắng xóa còn đọng cả khu vực. Xa xa đám trẻ nhỏ Đức đang ồn ào với
trò chơi trượt tuyết. Nhưng nơi hai người đang đứng thật yên tĩnh và lạnh. Mừng
nắm tay dẫn Hà vào nơi căn nhà gỗ nhỏ nơi để trẻ em trốn những cơn mưa bất thần.
Lúc đầu anh chỉ nghĩ nơi này kín đáo, dễ dàng cho hai người tâm sự, nhưng khi vừa
vào trong lều, như có sức mạnh vô hình nào thật mãnh liệt lôi kéo anh sa ngay
vào thân thể Hà. Anh để nụ hôn dài trên môi cô. Anh hồ đồ ham muốn vì anh biết
anh không còn dịp nào nữa để gặp Hà khi cảnh sát Đức đến trại chở anh đi ra phi
trường trong ngày mai như họ đã gửi giấy hẹn. Hà đứng yên chấp nhận nụ hôn thật
bình thản, y như chấp nhận cuộc hôn nhân mới trong nay mai khi Mừng rời khỏi đất
nước đầy sương tuyết này để trở về vùng nắng ấm.
Rời căn nhà gỗ, đêm ấy hai người cứ đi lang thang ngoài đường dù trời đang lạnh
cắt da. Đi để mà đi chớ không có mục tiêu. Gặp một chòi tranh trong vườn ai họ
ngừng lại vào trong, rồi ôm nhau hôn hít, trò chuyện. Sau đó hai người lại tiếp
tục đi trên những bờ ruộng. Càng xa đường xe chạy càng tốt. Gặp những cuộn rơm,
mặc dù chung quanh đóng đầy tuyết, họ cũng ban sạch tuyết rồi ngồi xuống dựa
vào, lại tiếp tục hôn hít, trò chuyện. Cảm giác họ như là trời không bao giờ
sáng, mặt rời sẽ không lên, và đêm sẽ xuyên suốt. Trong đêm, những âm thanh từ
xa thỉnh thoảng vọng về nhưng vẫn không kéo được hai người về thực tại phũ
phàng của ngày mai đang chờ đón.
(các trang 60, 61)
* Truyện ngắn Gánh Chè Ngày Cuối Năm nói lên tấm lòng lưu luyến của người tình
cũ. Thoa là cô gái thuộc giai cấp bình dân, tuy muốn thành đào hát cải lương,
nhưng vì không có tiền trả học phí cho lớp đào tạo ca cổ nhạc nên chị đành dẹp
mộng đẹp qua một bên, cam phận bán chè độ nhật. Thoa và Liêu yêu nhau. Trước
ngày 30/4/1975 vài hôm, Liêu rủ Thoa vượt biên. Nhưng Thoa từ chối.
Liêu đã chạy đi Mỹ vào ngày hai mươi tám tháng tư năm bảy mươi lăm. Ngày đó anh
có rủ chị nhưng chị nào có chịu đi. Đã cưới hỏi gì đâu mà theo trai nhu vậy,
ông bà già la chết. Bác Sáu cũng biết việc của chị và con trai bác, nên sau
ngày đó mỗi khi gặp mặt, chị và bác chào hỏi bình hường, nhưng đặc biệt chị
chưa bao giờ hỏi tin túc gì về Liêu, con của bác. Chị coi đó là chuyện của quá
khứ.
(các trang 79, 80)
Nhưng rồi sau 20 năm xa đất nước, Liêu về quê nhà thăm mẹ, đem cả vợ con theo để
ăn một cái Tết đoàn viên. Thoa bán chè đi ngang qua nhà bác Sáu. Vợ chồng và
con cái Liêu kêu mua chè. Thoa không nghĩ ngợi xa xôi gì hơn là bán chè, không
buồn tiếc vì để lỡ cơ hội theo Liêu sang Mỹ và để được làm vợ Liêu. Nhưng Liêu
lựa lúc vợ vắng mặt, tăng 100 Mỹ kim cho Thoa.
Năm sau Liêu không về xóm cũ ăn Tết, nhưng anh không quên người tình đầu của
mình. Cũng vào ngày cuối năm, Thoa gánh chè ngang qua nhà bác Sáu, vẫn không
nghe có tiếng ai gọi mua.
Thế là cái hy vọng của chị đành tieu tan theo mây khói! Chị lại cảm thấy mắc cỡ.
Nghèo mà ham! Chị tiếp tục gánh chè đi, đành bỏ nhà bác Sáu lại sau lưng.
Thình lình bác Sáu từ trong nhà người hàng xóm kế bên nhào ra chận đường chị lại:
- Thoa! Chờ bác một chút! Có cái này cho cháu đây.
Chưa hết giây phút ngạc nhiên, bác Sáu vừa vô nhà lại ra ngay, trên tay có cầm
cái bao thơ:
- Đây, của thằng Liêu gởi cho cháu. Định nhờ người mang qua nhà cháu thì cháu tới.
Thiệp chúc Tết... lại có... Thôi, cháu mở ra rồi sẽ biết. Bác chúc cháu vui vẻ
trong năm mới nha. Bác phải vô ngay để mấy bả khỏi chờ. Đánh tứ sắc cho vui
trong ba ngày Tết mà cháu.
Gánh chè rời khỏi nhà bác Sáu, lựa một chỗ vắng rồi chị Thoa mới dám đứng lại để
mở bao thơ ra coi. Chị hồi hộp quá chừng. Bỗng nhiên chị hoa mắt bởi tờ giấy bạc
một trăm Đô mới tinh, được kẹp trong tấm thiệp xuân màu mè xanh đỏ. Bên cạnh một
tờ giấy trắng nằm riêng, trong đó có tuồng chữ của Liêu: Trong năm nay anh phải
về quê vợ để ăn Tết, ở Sa Đéc lận! Anh có nghe ba má kể về hoàn cảnh của em từ
năm ngoái. Vì tình cũ nghĩa xưa, năm nay anh lại gửi tặng em một trăm Đô để ăn
Tết. Chúc em năm mới nhiều vui vẻ với chồng con. Anh Liêu. Người tình cũ.
(các trang 83, 84)
Trong truyện Gánh Chè Ngày Cuối Năm, chúng ta cũng không biết nơi ăn chốn ở của
cô Thoa tại đâu. Có lẽ đó là chốn thị thành sầm uất kẻ bán người buôn, như thủ
đô Sài Gòn hay như tỉnh lỵ nào hoặc như quận lỵ nào đó.
Chuyện nghĩa cũ tình xưa thường làm cho độc giả ngậm ngùi, man mác, nhất là phải
đẹp phải thủ sẵn khăn mù-soa để lau nước mắt. Nhưng nếu tác giả gán cho Thoa
cái tâm trạng lưu luyến tình xưa thì câu chuyện rập khuôn với mọi tác phẩm văn
chương theo ý tình hai câu ca dao: Tóc mai sợi ngắn sợi dài/ Lấy nhau chẳng đặng
thương hoài ngàn năm. Đằng này, chị ta chỉ nghĩ tới bán hết nồi chè và được tặng
tiền. Cuộc sống thiếu thốn vật chất biến đổi con người có tâm tình gọn gàng đơn
giản như thế sao?
Nhân vật Thoa không làm cho độc giả phải tốn công xót xa ai hoài lâu lắc đậm
đà. Nhưng chúng ta vẫn buồn bã vì lý do: chế độ xô đẩy dân tộc nghèo đói, nên
mài dũa khá nhiều nhân phẩm con người hà huống chi tâm sự, tình cảm của thời
yêu đương hoa mộng cũ. Nhân vật Liêu xuất hiện trước gánh chè chỉ nói chuyện với
vợ và nháy mắt với Thoa. Nhưng trong khi ăn chè, anh buồn bã xót xa. Thái độ đó
cùng bức thư kèm theo tờ giấy 100 Mỹ kim và tấm thiệp xuân cũng đủ giúp độc giả
vui vẻ ăn Tết nếu truyện Cuối Xuân này được đăng trên bất cứ tờ đặc san Xuân
nào. Qua truyện ấy, Liêu chiếu sáng trong tâm tư độc giả một người tình tuyệt vời.
Nhân vật này xuất hiện thì ít, chỉ được nhắc nhở loáng thoáng đôi ba dòng trong
câu chuyện kể, nhưng anh làm cho toàn thể truyện ngắn có không khí nồng nàn ấm
cúng như nhang khói đêm giao thừa.
* Truyện ngắn Những Cánh Chim Di lại là câu chuyện tình buồn.Tác giả lấy bối cảnh
quận Cai Lậy (thuộc tỉnh Mỹ Tho). Không hiểu có phải là vào năm nào mà nơi đây
bắt đầu lột xác, cảnh đồng không mông quạnh đổi thành nơi thị tứ mới.
Xe lại qua những con đường cũ mà ngày xưa vận đã có lần đi qua. Bây giờ đã đuợc
sửa sang, rộng hơn và đổi khác. Những ngày xưa, trên con đường này là đồng ruộng
và gió chiều man mát, bây giờ đầy ngập cửa nhà, có cả những nhà máy to lớn, chạy
ầm ĩ. Đất nước vươn mình và dân số cũng tăng theo dữ dội! Ở cuối đường khác,
ngày xưa là những vườn chuối thỉnh thoảng xen lẫn với những cánh rừng chồi, cỏ
cây hoang dại, nay cũng đầy những mái nhà. Buổi trưa hè nơi đây vẫn oi nồng,
lòng đường vẫn đầy bụi khi có một chiếc xe hơi chạy qua.
(các trang 125, 126)
Tại Cai Lậy này, sau khi đất nước Miền Nam Việt Nam bị bọn giặc cờ đỏ miền Bắc
bạo chiếm, Vận theo vợ người Việt gốc Hoa về đây làm vườn. Nhưng vợ anh lại bỏ
chồng và hai con (một trai một gái) đi vượt biên theo diện bán chính thức. Anh
vẫn an phận gà trống nuôi con, không hề phiền trách vợ. Nhưng rồi, anh lại tự
mình đưa mình vào một ngả rẽ mới:
Vận đã ghé thămTính khi nghe tin chuyện chồng vợ nàng gãy đổ. Ban đầu, anh
không có ý định hàn gắn một cuộc tình đã qua đi hơn hai mươi năm. Anh chỉ ghé
thăm vì nghĩ rằng dẫu thế nào thì Tính cũng là cô gái đã bước vào đời anh với
những đêm thao thức vì những giấc chiêm bao đầy hình ảnh của nàng. Lần đến thăm
này trong đầu Vận mang ý nghĩ để cám ơn cô gái đã cho anh những giấc ngủ đầy mộng
mị nhưng êm đềm của thời mới lớn. Bạn bè nói không sai. Chồng Tính đã đi Mỹ từ
tháng tư bảy mươi lăm, để lại cho nàng một đứa con. Mãi đến giờ vẫn không bảo
lãnh Tính đoàn tụ, vì thế mà nàng vẫn còn ở một mình nuôi con gái đang học
trung học.
(trang122)
Vậy là bắt đầu một cuộc tình muộn màng giữa hai kẻ cô đơn và bất hạnh trong
tình yêu lẫn trong hôn nhân. Tuy nhiên, Vận lại được tin vợ của anh ở nước Pháp
muốn bảo lãnh hai con qua Pháp đoàn tụ với nàng. Anh không biết tính sao cho phải.
Anh cũng toan hỏi Tính làm vợ, nhưng sau đó thì cuộc diện lại xoay chiều, hoàn
cảnh lại lượn qua một khúc quanh khác:
Một tuần sau Vận gọi điện thoại lại nhà Tính. Không gặp Tính, chỉ gặp má nàng.
Không biết là ý nghĩ của ai, chỉ biết rằng Vận đã nghe rõ ràng giọng nói từ má
Tính:
- Con Tính nhờ tôi nói với cậu là đừng tìm nó nữa! Nó vừa nhận được tin là chồng
nó sẽ về Việt Nam trong mùa hè tới để bảo lãnh hai mẹ con nó đi Mỹ.Thôi, chào cậu!
Nghe xong Vạn thấy tim mình như ngừng đập, lòng bồi hồi. Nhưng sau ít phút,
bình tĩnh lại chàng thấy vậy mà hay. Chàng không từng ao ước cho cuộc đời Tính
được tốt đẹp hay sao. Giờ nàng sắp được những điều tốt đẹp tại sao Vận lại
không mừng cho nàng. Cuối cùng rồi Vận cũng thấy như đã từng thấy trong bao năm
nay, cứ ai sắp có tin được phép rời khỏi đất nước này để ra đi ở luôn ở ngoại
quốc thì đó là niềm vui vô cùng vô tận cho họ. Họ sẵn sàng bỏ tất cả những gì
còn ở lại nơi đây để chỉ ra đi, huống hồ gì những chuyện tình cảm lăng nhăng nhỏ
mọn. Bây giờ thì chính chàng cũng bắt được chiếc chìa khóa để giải quyết vấn đề
mình. Chàng sẽ để hai con ra đi đoàn tụ với mẹ chúng, để hai con được hòa mình
vào dòng sống bao la đầy niềm vui của nhân loại. Riêng chàng, chàng sẽ sống suốt
cuộc đời còn lại của mình trên đất nước này và cố sống vui, vì chàng nghĩ đó chẳng
qua là số phận đã an bài.
(các trang 130, 131)
Nếu chúng ta bắt gặp một anh chàng Vận ích kỷ, nhẹ dạ, dở chịu dựng thì chúng
ta không thể an tâm khi đọc xong truyện ngắn này vì chúng ta sẽ lo sợ anh tự tử
vì khó kham nhẫn trước số phận bị bỏ rơi của mình. Anh chàng Vận ở đây được lý
trí và lòng vị tha soi sáng nên anh sống an phận một cách hồn nhiên, không cố gắng.
Độc giả cảm phục anh dù anh có kéo cờ trắng đầu hàng số mệnh khốc liệt trái
ngang của anh; nhưng cuộc đầu hàng ở đây không bị người đời cho là yếu hèn nhục
nhã mà là một thái độ quên mình để chia sẻ niềm vui của tha nhân.
Cuộc sống gay go bất trắc thường bộc lộ bản năng của hai hạng người. Hạng đầu
thì oán trời, trách đất, thù hằn người đời và đôi khi nhúng tay vào tội ác để
báo phục cái thua thiệt của mình. Còn hạng sau thì biết tự chế để tìm lối thoát
trong hoàn cảnh bế tắc. Và hơn nữa họ đem cái Thiện trị cái Ác; họ biết vui với
cái may mắn của tha nhân. Trong pháp môn Tứ Vô Lượng Tâm của Phật giáo là Từ,
Bi, Hỷ, Xả thì họ đạt được cá tâm thứ ba tức là Tâm Hỷ. Họ tìm ra cái hạnh phúc
của chính mình trong cái hạnh phúc của kẻ khác để soi sáng lý tưởng của mình. Vận
đạt được cái Tâm Hỷ ấy dù tác giả không nói anh có tu theo pháp môn Tứ Vô LượngTâm
hay không...
* Truyện ngắn Tình Già nói lên cái đam mê ám ảnh của một nhân vật tên Lân, 55
tuổi, quê làng Nhơn Trạch thuộc thị xã Vinh, hiện đang định cư trên đất nước Hợp
Chúng Quốc, và được thành công về phương diện sinh cơ lập nghiệp. Vào thời trẻ
trung, khi đi đại tiện ngoài đồng, đuơng sự thường bắt gặp cô thiếu nữ tên
Hoàng ngồi phóng uế, quần cô trật ra, phơi bày cái mông trắng nõn. Do đó mà
hình ảnh cái mông đẹp kia chiếm một khoảng quá rộng trong tâm tư, trong nội giới
ông ta suốt gần nửa chặng đời.
... Năm mươi lăm tuổi qua nhanh như giấc mộng. Lại hơn nửa đời người mà ông Lân
vẫn chưa có người hôn phối, quả là việc làm ông càng lo lắng hơn. Mộng không
thành ở lứa tuổi thanh xuân đã gậm nhấm những ước mơ để tạo cho mình một đời sống
ngừng lại và ổn định. Cộng mối tình thời mới vừa lớn lại dở dang làm ông điêu đứng
mấy chục năm.
Ước gì bây giờ xem lại được mông của con Hoàng! Ông nói như rít một mình. Xem
mông của con Hoàng thì không có gì thích bằng. Tổ cha chỉ ghét mấy thằng phu đi
nhặt cứt làm sao mà sớm thế! Phải ôm đít mà chạy cả lũ. Nhiều buổi sáng chưa được
xem gì cả!. Những ngày ỉa đồng xa xưa, và cái mông trắng toát ngày ấy ông Lân lấy
làm tiếc còn hơn công danh ông không đạt được trong tuổi đời. Và chắc chắn cái
mông cô Hoàng ngày nào bây giờ sẽ không bằng cái mo cau khô của một bà già đang
giữ cháu cho đứa con gái đi làm ở làng Nhơn Trạch, Nghệ Tĩnh xa xưa. Ở Mỹ mấy
năm mà khi nghĩ về tình yêu thời niên thiếu ông Lân đã không nghĩ gì khác hơn
được ngoài những ngày đi ỉa đồng để xem đít con Hoàng.
(các trang 167, 168)
Vậy là ông Lân tìm về thăm làng Nhân Trạch. Cảnh vật đổi thay, khác với tình
yêu do niềm si mê hóa thân của ông. Ôngchẳng tìm về kỷ niệm nào khác hơn cái
mông trắng toát của cô Hoàng. Nó trở thành một hình ảnh da diết thân thương
trong tâm tưổng ông; ngoại cảnh của địa danh Nhơn Trạch không dội vào tâm thức
ông những dao động gì nhiều.
Con đường làng ngày xưa rộng thênh thang giờ còn chỉ đủ cho hai người đi song
song. Tượng Đức Mẹ ngày đó được cất thành kính trang nghiêm trên vuông đất rộng
rãi, giờ mái bếp của nhà ai đã tiếp sát vào lưng người. Chính bức tượng cùng
chung gánh vác những biển dâu thay đổi của trần thế! Ngôi trường ngày xưa ông học
giờ vẫn còn y nguyên. Vẫn cũ kỹ và không lớn hơn một chút nào, nhưng sao trẻ
con đâu mà đông thế? Ngày xưa làng đã không đủ lớp cho bọn học trò như ông để học.
Giờ con nít chạy đầy như ong vỡ tổ thì lấy gì mà đàn đúm chữ nghĩa cho nhau
đây?...
(trang 170)
Ông Lân gặp lại một bà Hoàng ốm yếu, tay bồng đứa cháu ngoại. Ngoài ra còn một
lũ cháu khác, thấy khách túa ra xem. Sau đây là câu chuyện giữa hai người:
- Cám ơn Hoàng tôi vẫn mạnh. Trở về lại đây chỉ vì tôi muốn thăm lại Hoàng! Gần
bốn mươi năm còn gì!
Bà Hoàng khóc. Mấy đứa nhỏ đã ra sân giờ nhìn bà ngoại khóc lại tò mò đứng ngay
cửa ra vào để nhìn vô hai người. Đứa cháu trên tay thấy bà ngoại khóc nó lấy
tay vuốt nước mắt cho bà.
- Anh được mấy mụn con rồi? Chị nhà đang ở Mỹ? - Anh vẫn chưa có vợ thì nói gì
đến chuyện có con.
-!?
- Hoàng, tôi muốn hỏi thật Hoàng một câu. Và Hoàng phải trả lời thật với tôi. Đồng
ý chứ?
- Đồng ý.
- Ngày xưa tôi yêu Hoàng chắc Hoàng đã biết. Còn Hoàng có yêu tôi không?
- Có.
- Thôi như vậy là đủ rồi. Tôi sẽ trở về Mỹ và sẽ... cưới vợ.
- Tôi cầu chúc cho anh. Cưới xong có dịp anh lại dẫn chị về đây để giới thiệu với
tôi và bà con ở trong làng.
(trang 172)
Nhưng ông Lân về Mỹ lo thủ tục giấy tờ để cưới bà Hoàng, để đem bà qua Mỹ. Câu
chuyện cũng khá ly kỳ. Bà Hoàng về làm vợ ông Lân chắc gì đem cái mông trắng
phau phau của mình làm của hồi môn. Nhưng ông Lân vẫn yêu bà, vẫn ghi khắc hình
ảnh cái mông đẹp năm xưa của bà vào tận chỗ sâu kín của tâm tư mình. Và suốt đời,
ông chỉ thờ phụng cái hình ảnh ấy.
Ngày xưa Lan Khai có viết một truyện ngắn đại khái là anh chàng nọ say mê một
cô gái. Nhưng khi thấy cô gái tốc váy tênh hênh để tiểu tiện thì cái hình ảnh
toàn diện của cô ta bị cử chỉ phàm tục kia bôi rửa cậu thả khỏi ấn tượng của y
ta. Hình ảnh đẹp đẽ của cô ta trở nên nham nhở, lem luốc. Trái lại, trong truyện
ngắn Tàn Cơn Mộng Ẳo, đại thi hào Rabindranath Tagore viết về một nàng công
chúa của vương quốc Hồi Giáo bên xứ Ấn Độ đã chứng kiến một vi sa-môn thuộc
Bà-la-môn giáo mỗi sáng đọc kinh và trầm tư bên bờ sông Hằng rồi tắm trong nước
con sông thiêng kia. Nàng si mê chàng, đeo đuổi theo chàng trong cuộc chiến giữa
hai đạo Bà-la-môn và Hồi Giáo cho tới khi nàng già nua phai úa dung nhan, còn
chàng thì nghèo nàn yếu đuối già khụ và đã có cháu nội rồi. Vậy thì một hình ảnh
nào đó tuy tầm thường hoặc thô tục mà vẫn có thể khuấy động một cái mãnh liệt
sâu xa trong nội giới của người ngắm hay ngưòi bất chợt thấy được. Riêng ở truyện
Tình Già, nhà văn Vũ Nam kết luận:
Hóa ra đôi khi những kỷ niệm thật nhỏ nhặt vẫn có thể làm cho một người nào đó
nhớ hoài đến gần như đổi cả một đời người chỉ đổi lấy những điều nhỏ nhặt như
thế. Nhưng hề gì. Chẳng ai là không thương cảm cho tấm lòng thủy chung như nhất.
(trang 173)
Vũ Nam là mẫu người điềm đạm, hiền lành. Hai đức tính đo hiện
rõ rệt ở văn phong và ở đường lối cùng khuynh hướng văn chương của anh. Các nhà
văn bên nhà thơ Đức cũng khá phồn thịnh, chẳng như: Mai Vi Phúc, Đan Hà, Tùy
Anh, Huy Giang, Thế Dũng, Lê Trọng Phương...(thơ), Thế Giang, Ngô Nguyên Dũng,
Thế Dũng, Vũ Nam, Lê Minh Hà, Hoàng Nga (văn). Tuy nhiên, hiện giờ chỉ có Ngô
Nguyên Dũng, Thế Dũng, Vũ Nam (nam), Lê Minh Hà và Hoàng Nga (nữ) vừa có chân
tài căn bản lại còn dài hơi để đeo đuổi văn nghiệp của mình. Trong nhóm dài hơi
thừa sức ấy, Vũ Nam đi khoan thai, nhưng cần mẫn và miệt mài nhất. Văn chương
anh không khua động để rồi sớm nở tối tàn. Anh viét văn bằng phong thái đôn hậu,
không cần phô trương kiến thức, chữ nghĩa gì ráo. Nhưng cùng với Thế Dũng anh
có vốn liếng đi và sống vô cùng phong phú. Không uyên bác như Ngô Nguyên Dũng,
không tinh vi xảo diệu như Thế Dũng và Lê Minh Hà, không truyền cảm thiết tha
như Hoàng Nga, nhưng anh dàn rải tấm lòng nhân hậu bao la cùng niềm chân thành
hiếm quý trong mọi tác phẩm của anh. Văn chương anh không cần màu mè riêu cua
mà vẫn đạt tới một nấc thang khả quan của nghệ thuật. Và cùng với Ngô Nguyên
Dũng, Thế Dũng, Lê Minh Hà, Hoàng Nga, anh cộng tác với các tạp chí văn chương
có giá trị ở hải ngoại như Văn, Gió Văn, Thế Kỷ 21, Làng Văn (khi nguyệt san
này vào thời cực thịnh trong 5 năm cuối của thập niên 80 cho tới 5 năm đầu của
thập niên 90). Cho nên anh không chôn vùi tên tuổi ở các tờ báo lá cải và các tờ
báo biếu thuộc loại quảng cáo thương mãi bá láp tầm phào.
Chương Mười Bốn
"Chú Tư Cầu" của Lê Xuyên, một kho tàng
ngôn ngữ của đất Nam kỳ lục tỉnh
Troyes ngày, 19 tháng 08 năm 2007
Bạn hiền thân mến,
Trong một bức thư, bạn có bảo tôi rằng bạn đang thèm nghe một ngôn ngữ miệt vườn
trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh của chúng ta mà phải là một giọng rặc ròng thổ ngữ
từ miền Bình Định vào tận miền Nam trước năm 1975, tức là vào thời kỳ khởi đầu
cơn gió bụi trên dải đất Đông Dương.
Hôm nay, tôi có dịp tâm sự với bạn đây.
Khi viết xong quyển bút khảo Quê Nam Một Cõi thì tôi cũng vừa nhận được một ấn
bản của quyển Chú Tư Cầu của Lê Xuyên do chị Dư Thị Diễm Buồn từ Sacramento gửi
tặng. Quyển sách do nhà xuất bản Tiếng Vang tái bản, in trên giấy quý màu vàng
tái của hoa kim liên. Tôi sẽ không nhận xét chi ly tỉ mỉ quyển này trong cuốn
bút khảo Quê Nam Một Cõi của chúng ta đâu. Tôi phải để dành nó cho một cuốn bút
khảo khác vào một vào dịp khác, cũng vẫn viết về văn chương của các cây bút gốc
Nam Kỳ.
Tôi nhớ mang máng vào năm 1964 1965 gì đó, các làn sóng dư luận xôn xao về các
cuốn tiểu thuyết của các nhà văn Chu Tử, Văn Quang, Thanh Nam, Tuấn Huy và những
cuốn võ hiệp tiểu thuyết của Kim Dung chưa lắng dịu hẳn. Thì đùng một cái, những
truyện dài đăng từng kỳ của Lê Xuyên đăng trên các nhật báo nổi tiếng ở Thủ Đô
Sài Gòn bắt đầu gây một tiếng vang dữ dội. Cho nên trong cuộc viếng thăm nhà
văn Võ Phiến, tôi được nghe họ Võ bảo:
- Viết đối thoại rặc tiếng Nam Kỳ có ai bằng Lê Xuyên đâu.
Ông Lê Châu, chủ bút kiêm chủ nhiệm tạp san Bách Khoa đã tấm tắc với Thụy Vũ và
tôi trong dip tôi theo chị tôi đến tòa soạn Bách Khoa lấy tiền nhuận bút:
- Lê Xuyên viết đối thoại quyến rũ nhất. Eo ơi, hễ đọc tác phẩm của ông ấy là
như gặp lời ăn tiếng nói mọi tầng lớp người Nam Kỳ.
Quyển tiểu thuyết của Lê Xuyên mà tôi đọc trước nhất là Vợ Thầy Hương, sau đó mới
tới quyển Chú Tư Cầu, và sau hết là quyển Rặng Trâm Bầu. Không khí trong 3 quyển
đó căng thẳng, khí hậu ngột ngạt. Nếu không nhờ lối viết đối thoại tinh tế tuyệt
vời thì các tác phẩm của anh tuy đạt được phẩm chất nghệ thuật cao nhưng chỉ
quyến rũ độc giả một cách chừng mực mà thôi.
Vào năm 1966, tôi tháp tùng chị Thụy Vũ tôi và ký giả Lê Phương Chi đi xi-nê tại
rạp Rex để xem phim gì mà tôi quên tựa mất rồi. Hôm đó Lê Xuyên đi chung với cặp
Nhã Ca & Trần Da Từ. Từ khi quyển Mèo Đêm của chị tôi trình làng thì cặp Từ
Nhã và chị tôi là chỗ đồng nghiệp quen thân. Lê Xuyên có vóc dáng nho phong,
khuôn mặt dịu dàng của một nhà mô phạm, nụ cười hiền lành, nhưng ánh mắt thật
linh hoạt. Anh ăn mặc quá đơn giản: quần màu vỏ trái ô-liu đậm, áo sơ mi cụt
tay trắng, đôi giày màu sô-cô-la, cườm tay trái đeo đồng hồ. Con người mát lành
ngọt dịu như vậy mà văn chương lại cuồng phong bạo vũ đầy dao súng, máu me, ác
mộng và tinh khí. Luôn tiện chị Nhã giới thiệu cho chị em tôi biét nhà văn Lê
Xuyên. Để tỏ ra thân mật, chị tôi gọi anh bằng chú Tư Cầu. Còn anh gọi chị tôi
bằng Mèo Đêm. Nếu gặp những bà nữ sĩ ưa cố chấp như chị Đỗ Phương Khanh (vợ Nhật
Tiến) hay chị Thanh Phương thì họ sẽ bắt lỗi anh dám liệt họ vào hạng gái bán
snack-bar cho lính Mỹ. Trong Mèo Đêm, Thuỵ Vũ có hai truyện ngắn viết vê các cô
gái buông hương bán phấn hoặc gái gọi (call girls) trá hình các cô chiêu đãi
viên trong các snack-bar ở Sài Gòn. Và chị ban cho họ cái hổn danh "mèo
đêm", tức là những kẻ săn tình vào lúc đêm về. Hôm đó, chị tôi vẫn cười
nói vui vẻ với Lê Xuyên :
- Chú Tư, hẹn hôm khác mình gặp nhau, nói chuyện nhiều hơn. Phim sắp
chiếu rồi. May quá, hôm nay tình cờ Thụy Vũ mới gặp một chú Tư Cầu bằng xương bằng
thịt.
Anh Lê Xuyên vui vẻ:
- Hôm khác nghen cô Mèo Đêm.
Khi xem phim xong, tôi bảo Lê Phương Chi:
- Ông Lê Xuyên có vẻ hiền lành mà viết văn dữ dằn. Đây là thứ nước trà
màu vàng lợt mà là thứ trà quạu... Uống nó vào là chúng ta sẽ mất ngủ vì nó sẽ
trở thành trà Thái Đức làm ẩm khách thức đái suốt đêm.
Trong cuốn 3 của bộ Văn Học Miền Nam, Võ Phiến nhận xét tổng quát về văn chương
như sau :
Trong thời kỳ 1954-1975, các nhà văn gốc Nam khi nói đến chiến tranh trên đất
nước thường chỉ nói về cuộc chiến chống Pháp mà tránh cuộc chiến chống cộng. Viết
truyện như Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, viết ký như Vũ Bình, đều thế. Đến lượt Lê
Xuyên, ông cũng thế. Mặt khác, các vị gốc Bắc thì chuyên về cuộc sống và con
người đô thị, còn các vị gốc Nam thường viết về nông dân nông thôn. Lê Xuyên
cũng thế.
Chuyện ấy dễ hiểu. Người Nam chưa biết qua chế độ cộng sản thì không mặn nồng với
việc chống cộng ; người Bắc di cư, bao nhiêu văn nhân, nghệ sĩ trí thức vào Nam
đều sống ở đô thị nên chỉ biết viết về đô thị.
Như vậy cốt truyện Lê Xuyên, thường xảy ra trong kháng chiến trước Genève, thường
diễn ra ở miền quê, nhân vật thường là những nam nữ nông dân chất phác, ít học.
Lê Xuyên đặt các chuyện trong khung cảnh kháng chiến không phải là để nói về
kháng chiến. Không có vậy đâu. Ông không hợp với các vấn đề chính trị. Trong
khung cảnh thời đánh nhau với Pháp ông nói chuyện nam nữ yêu nhau thôi. Trong
chuyện yêu nhau ông không chú trọng tới lòng thầm kín giấu giếm trong các ngóc
ngách của quả tim, như các ông Hoàng Ngọc Phách, Khái Hưng khi viết Tố Tâm, Hồn
bướm mơ tiên. Lê Xuyên, ông ấy chủ về phía tình yêu xác thịt theo cung cách hồn
nhiên nhất (nhân vật nông dân mà).
Về chuyện xác thịt, ông không chủ trương những phô bày bạo tợn như D.H.
Lawrence, Henry Miller... Lê Xuyên không làm mích lòng sở Kiểm duyệt. Ông chú
trọng nhất là ở những màn biểu diễn bằng mồm. Đừng nên lẩn lộn ông Lê với chuyện
giữa Clinton và Monica Lewinsky; cái yêu đương bằng mồm của ông Lê tức là những
trang đối thoại dài dằng dặc xung quanh mục tiêu chính của ái tình. Khi nam nữ
đã dàn binh bố trận xong thì tác giả lánh mặt. Trong những Chú Tư Cầu, Vợ thầy
Hương, Rặng trâm bầu v.v..., sự tình rộn ràng ríu rít, đầy lời như thế.
Vậy Lê Xuyên viết truyện có chiến tranh mà không phải truyện chiến tranh, có
nông dân lầm than mà không phải truyện xã hội, có ái tình mà không phải truyện
tình cảm. Chẳng qua là chuyện "gay cấn" để độc giả đọc chơi lúc buồn
tình, đọc cho nóng máy trong chốc lát rồi bỏ qua thôi chứ gì.
(Chương Lê Xuyên, các trang 843, 844)
Chú Tư Cầu là tác phẩm đầu tay của Lê Xuyên. Chàng viết về cuộc
đời tình ái của một chàng nông dân ngây thơ, nhân hậu, có số đào hoa, không ve
vãn gái mà gái vẫn chạy theo quyến rũ chàng rần rần. Trước hết là cô Phấn, bạn
gái cùng quê của chàng ở Rạch Chiếc (gần quận lỵ Trà Ôn). Cô vốn táo bạo, dám
hiến thân cho chàng không cần lịnh mẹ, rồi rủ chàng lên Sài Gòn để xây tổ uyên
ương, cốt tránh cuộc hôn nhân cưỡng ép do mẹ cô sắp đặt khi bà chưa qua đời.
Nhưng khi tới Cần Thơ, cô bị tên Khách Trú trẻ tuổi tên Lâm Sanh quyến rũ. Hắn
bàn điều hơn lẽ thiệt cho cô nghe vì chốn thị thành không phải làm chốn dung
thân của một kẻ đôn hậu, quê mùa như Tư Cầu. Cho nên vì tương lai của Tư Cầu,
Phấn dùng kế gạt chàng xuống tàu để trở về quê. Dè đâu, chàng đi lộn tàu lên Nam
Vang. Còn Phấn không còn mặt mũi nào để trở về quê nên đành theo làm vợ người
Khách Trú kia. Thật ra, trước phong vận thanh tân của kẻ thị thành như tên ngoại
kiều kia, Phấn cũng xiêu lòng làm vợ hắn.
Dọc đường, Tư Cầu gặp một ông khách đồng hành đứng tuổi xưng là chú Bảy. Chú ta
cám cảnh thương tình Tư Cầu nên khi tới Nam Vang chú giới thiệu chàng giúp việc
cho tiệm cơm người chị ruột chú là cô Năm. Tại Nam Vang, Tư Cầu có nhiều dịp tiếp
xúc với phường trộm cắp, phường dao búa, và được lòng cô Ba Xá Lỵ một gái nặc
nô xinh đẹp, uy trấn một góc xã hội du côn nho nhỏ trên đất Chùa Tháp này. Cô
ta mê chàng vì tấm lòng nhân hậu và hào hiệp của chàng, tìm mọi cách để quyến
rũ chàng. Rồi cả hai tằng tịu say mê nhau. Nhưng sau một thời gian sống hạnh
phúc trên đất Chùa Tháp, vì nhớ quê, Tư Cầu xin trở về quê; chàng có rủ cô Ba
theo, nhưng cô ta biết rằng chốn ruộng đồng không phải là chốn môi sinh thích
thú của mình nên từ chối.
Tư Cầu về quê, được mẹ chàng cho chàng biết Phấn lấy chồng Khách Trú giàu, có về
đây vài lần và lần nào cũng đến thăm hỏi chàng. Cô ta giúp đỡ gia đình chàng
trong cơn ngặt nghèo nên bà rất cảm kích cô ta lắm. Rồi cha mẹ chàng buộc chàng
phải cưới cô Thơm làm vợ. Cô này vốn là gái Việt gốc Miên rất được chàng yêu
thương quý trọng. Cuộc sống lứa đôi của chàng tạm bình yên hạnh phúc.
Nhưng cơn gió bụi bắt đầu xảy ra trên đất nước. Sài Gòn bị dội bom. Phấn về quê
để gặp Tư Cầu, rủ chàng đến chỗ khác xây dựng lại cuộc sống lứa đôi đã từng
dang dở. Cô cũng cho chàng biết đứa con trai của cô vốn là con ruột của chàng.
Cô Thơm bắt gặp quả tang cả hai lén lút tâm sự nhau nên ghen lồng lộn. Rốt cuộc
Phấn phải trở về Sài Gòn, tiếp tục sống với người chồng ngoại kiều của mình như
cũ.
Rồi đó, trong các Sóc Thổ, người Miên nổi dậy phong trào "cáp duồng"
(với mục đích giết sạch người Việt). Cô Thơm dù vốn là gốc Miên nhưng đã từng
được cha mẹ Việt Nam nuôi từ thở ấu thơ, rồi khi lớn lên lấy chồng Việt Nam nên
cũng bị người Miên cho là thứ Miên gian. Trong một chuyến về quê thăm cha mẹ
nuôi, cô bị bọn miên hãm hiếp và bị chúng hạ sát. Tư Cầu điên tiết giết chúng để
báo thù cho vợ.
Rồi Tư Cầu nghe theo lời Ba Kiên gia nhập vào nhóm du kích kháng chiến, bị bắt
giải lên Sài Gòn, rồi được chuyển qua dinh cơ của một trung úy người Pháp có phận
sự canh giữ các tù nhân trước khi giải họ đi Côn Đảo. Không ngờ viên sĩ quan
này là chồng hờ của cô Ba Xá Lỵ. Tình cũ gặp nhau, cô Ba Xá Lỵ hết lòng giúp đỡ
Tư Cầu để được gần gũi ân ái với chàng. Chàng chỉ làm tạp dịch nhẹ nhàng thôi.
Nhưng rồi một hôm nọ, Tư Cầu theo nhóm tù nhân đến tiệm bán cây mà viên trung
úy đã đặt tiền mua để chất cây lên đoàn vận tải quân xa đem về nhà hắn. Tình cờ
Tư Cầu gặp Phấn, vợ tên Khách trú Lâm Sanh, bây giờ hắn ta trở thành chủ nhân
tiệm bán cây ấy. Phấn gạn hỏi nguồn cơn người yêu cũ của mình, rồi hiệp cùng cô
Ba Xá Lỵ giúp đỡ Tư Cầu vượt vòng phong tỏa của viên trung úy chồng hờ của cô
Ba. Tại nhà riêng do Phấn thuê, Tư Cầu bị lính tuần tiễu bố ráp nên bị bắt đưa
về bót cảnh sát Catinat để cho bọn bao bố nhìn mặt. Những tên chỉ điểm đội bao
bố kia (để khỏi bị ai biết mặt) vì không biết chàng có dính dáng với bọn Việt
Minh công tác ở thành phố hay không nên không thể xác nhận chàng là Việt Minh nội
thành và cho nên chàng được tha.
Tư Cầu lại về quê. Tình hình ở đây căng thẳng nên chàng nhập vào toán du kích
kháng chiến địa phương. Trong cuộc tấn công quân xa của lính Tây, Tư Cầu cùng đồng
bọn hạ sát được tên chồng sĩ quan hờ của cô Ba Xá Lỵ. Nhưng chàng không cứu được
cô. Tên chánh trị viên giết cô ta. Tư Cầu toan báo thù cho người yêu của mình
nhưng hắn đã kịp thời cao bay xa chạy mất rồi.
Nhớ lồi dặn chú Bảy trên chuyến tàu đi Nam Vang năm xưa, Tư Cầu lên Châu Đốc
tìm chú và làm vườn cho chú. Chàng chiếm được trái tim cô Thắm, và được chú Bảy
gả con gái cưng của chú cho chàng. Nhưng rồi chàng đi theo lực lượng kháng chiến
để rồi chết trong trận đánh Tây theo chiến thuật du kích. Trong khi đó ở quê
nhà, cô Phấn mang thai. Rồi đứa con trai của chàng chào đời. Nhưng dù sao chàng
cũng đuợc an ủi vì trong lúc lâm chung, thằng em vợ của chàng đọc cho chàng
nghe bức thư báo tin mừng của vợ.
Như bạn biết: theo truyền thống các cây bút Nam Kỳ Lục Tỉnh của
chúng ta, Lê Xuyên dù không có khuynh hướng tải đạo, nhưng anh thường cho các
nhân vật chánh của anh ăn ở theo đạo nghĩa, phô bày tấm lòng nhân hậu, bao dung
một cách hồn nhiên, không cố gắng. Trên đất Nam Vang, Tư Cầu chống cự với kẻ mạnh
độc dữ để binh vực kẻ yếu hiền lành. Chàng bao dung kẻ thù toan hãm hại chàng
làm cho kẻ thù hồi tâm kính mến chàng. Tư Cầu vốn dốt nát, chỉ biết đọc quọt quẹt
năm ba chữ quốc ngữ, nào có biết nhân, nghĩa, lễ, trí tín hay tam cang ngũ thường
do ông Khổng Tử bày ra đâu. Anh không đọc kinh Phật bao giờ, nhưng anh không
làm ác, không lấy oán trả oán. Vợ anh bị bọn Miên cưỡng hiếp và hạ sát, nhưng
khi thấy cô gái Miên bị Ba Kiên, anh trai của chàng toan bề cưỡng dâm chàng phản
kháng ngay, không muốn anh mình gây ác nghiệp. Cho nên Ba Kiên phải buông tha
cô thiế nữ Miên. Trong thời kỳ Nhật đảo chánh, có hai tên lính Tây bị chìm tàu
tắp vào Rạch Chiếc, Ba Kiên toan đi báo cho nhà chức trách, nhưng Tư Cầu hợp
cùng nhóm người nhân từ đòi phóng thích lính Tây. Khi được Cô Ba Xá Lỵ giúp
chàng vượt ngục, chàng nằng nặc cô giúp luôn chú Tám, người bạn tù đã cùng cùng
đồng cam cộng khổ với chàng.
Tư Cầu theo toán du kích kháng chiến chống Tây là cảm thấy mình phải làm theo
thiên lương soi sáng mình một cách hồn nhiên, không nghĩ xa, không nghĩ gần,
cũng không được ai huấn luyện lòng ái quốc thương dân. Do đó, chàng gần ông
Thích Ca Cồ Đàm cùng ông LãoTử và ông Trang Tử hơn ông Khổng Tử. Chàng lạc loài
với các ông chuộng trí thức Tây Phương cùng dân khoa bản. Chàng cũng không thể
là thần tượng huy hoàng cho các cô ôm lý tưởng môn đăng hộ đối và có thói ưa
chuộng phi cao đẳng bất thành phu phụ. Chàng là người tình lý tưởng của các cô
gái táo tợn, liều lĩnh, nhưng có thiên lương trong sáng, biết nắm bắt được cái
giá trị chân thật của con người, không cần tính toán chi ly, không cần so sánh
dài dòng. Hồ Biểu Chánh khi viết văn theo kiểu văn dĩ tải đạo còn dựa theo
khuôn nếp, nguyên tắc, lời khuyên răn dạy bảo của các bậc thánh hiền. Lê Xuyên
không theo ông hiền triết nào, không nương tựa rêu rao theo khuynh hướng đạo
nghĩa nào. Anh viết khơi khơi mà vẫn làm cho độc giả xúc động, yêu mến lớp dân
quê hiền làngh, lòng ngay dạy thẳng, không có chút ý nghĩ quanh co đo đắn trước
những công việc phải làm.
Lê Xuyên không viết văn dài dòng : không cần tả cảnh, tả người, tả vật, tả tâm
tâm trạng, tức là không tả những cái mà giới bình dân cho là lòng vòng không hợp
với khiếu thưởng ngoạn của lớp độc giả với lòng dạ rổng rang, suông thẳng nhưng
ống nứa ống tre. Anh thích kể chuyện, ưa cho các nhân vật của mình chuyện trò
vòng vo Tam quốc, cằn nhằn dai dẳng, cà khịa rỉ rả, cãi lẫy tưng bừng, có khi
chửi bới huyên náo. Anh không cần viết văn đâu. Anh cũng thích kể chuyện lắm
đâu. Anh chỉ thích cho các nhân vật của mình có nhiều dịp đối thoại tuồn tuột,
ngon ơ. Lời nói của các nhân vật biểu lộ cá tính của các đương sự luôn cả chân
dung của họ cùng bối cảnh chung quanh họ hiện mập mờ vài nét tạo hình khái
quát, nhưng cũng đủ chạm khắc vào ấn tượng độc giả sành điệu. Trong Chú Tư Cầu,
Lê Xuyên dùng ngôn ngữ Nam Kỳ Lục Tinh vào thuở tiền chiến, không pha ngôn ngữ
của thời Đệ nhất Cộng Hòa hay vào thời Đệ nhị Cộng Hòa. Thí dụ: rắc rối
không biết đâu mà rờ (tức là không thể đoán trúng được), làm cho xất
bất xang bang (tức làm cho khổ sở điêu đứng), đụng đâu xâu đó (tức
là hễ gặp dịp là nắm lấy ngay không cần biết tốt xấu, lợi hại), mấy con nập
nợn (tức là mấy cô thiếu nữ dâm đảng lẳng lơ), anh làm cái điệu đó
thì mụ nội em cũng lìa (tức là làm cho em điêu đùng, gặp cảnh gia đình ly
tán)... Anh không pha thêm những tiếng lóng ( les patois) mà người Bắc di cư
và người Nam bản xứ pha trộn nhau như: sức mấy, bỏ qua đi Tám, lấy le, thằng
cà chớn, oan ôi ông Địa, lạng quạng, mút mùa lệ thủy, đi ăn chè ở nhà Bè (tức
là lén lút đi ngoại tình, cụm tư này lấy sự tích nhạc sĩ Phạm Duy cùng nữ ca sĩ
Khánh Ngọc đi Nhà Bè để ngoại tình; nhưng khi bi lính kiểm tục và thừa phát lại
bắt đuợc, cả hai khai rằng họ đi Nhà Bè để ăn chè)...
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét