Quê Nam một cõi 1
Chương Một
Hồ Biểu Chánh, ánh hoàng hôn cựu trào qua
truyện dài "Tơ hồng vương vấn"
Nhắc tới Hồ Biểu Chánh, chúng ta nghĩ tới một tiểu thuyết gia
theo khuynh hướng "văn dĩ tải đạo", lấy việc răn đời làm gốc. Nhưng
đây cũng là kẻ viết theo khuynh hướng tâm lý ái tình, tuy nhiên đó là thứ tâm
lý đóng khung trong lễ giáo, chết cứng và hóa thạch trong luân lý Khổng Mạnh,
không thể vượt thoát ra một khung trời cao rộng gồm thiên hình vạn trạng nhân
sinh quan phóng khoáng hơn và cởi mở hơn.
Hồ Biểu Chánh, bậc tiền bối của các cây bút Nam Kỳ chúng ta khởi nghiệp văn
chuơng vào những năm cuối của thập niện 20 (của thế kỷ 20). Đuờng lối viết lách
của tiên sinh trước sao sau vậy, qua tới giữa thập niên 50 vẫn không thay đổi một
mảy lông sợi tóc nào trong vấn đề nhân sinh quan, lý tưởng, trong cuộc sống phồn
tạp và tiến bộ về văn hóa, tư tưởng, trong đường lối giáo dục của mọi tầng lớp
hậu sinh của cụ.
Chúng ta phải tự hỏi, sau bao nhiêu vận nước nổi trôi, trải qua bao nhiêu thời
đại, bao nhiêu thế hệ, vậy mà văn chương của Hồ Biểu Chánh vẫn còn được nhiều lớp
độc giả hậu sinh chiếu cố? Có phải chăng tài hoa của cụ vượt dòng đào thải của
thời gian? Có phải nó là tiếng đồng vọng lảnh lót và vang xa của cái thời đại
mà cụ đã sống, đã cầm bút? Thật khó mà trả lời. Như chúng ta cũng thừa biết cái
cấu trúc và cách dựng truyện của Hồ tiền bối cẩu thả, cách diễn tả của cụ thật
bộc trực nếu không bảo là luông tuồng. Cụ ít khi viết văn, ít khi tả cảnh tả
người chu đáo, thường là vài nét khái quát. Cũng như nhà văn Lê văn Trương, cụ
hay thuyết lý, ưa trình bày cái nhân sinh quan của mình. Nhưng nhân sinh quan của
cụ lâu lâu mới le lói một vài nét đặc thù của mình. Tuy nhiên, khi đọc tiểu
thuyết của cụ, cớ sao người thưởng ngoạn bị cụ thôi miên hồi nào không hay. Cái
chân tình, cái nhiệt thành của tình ý cụ lẫn cái nồng nàn của của bút pháp cụ
quyến rũ người đọc một cách dị kỳ; cái thô vụng của cụ trở thành đậm đà tuyệt vời,
cái bộc trực, cái xí xọn trong những lời đối thoại của từng nhân vật trở nên
duyên dáng mặn mà khó tả.
Cái ngôn ngữ dí dỏm, chót chét trong văn phong của Hồ Biểu Chánh thường làm cho
chúng ta bật cười một cách thống khoái, dù cụ có cằn nhằn chì chiết nhân tình
thế thái đi nữa. Chúng ta cảm nhận ngay sự thành khẩn của cụ. Chúng ta vụt cảm
thấy tận đáy sâu của ngôn ngữ cụ, tận cái thiết tha của tình ý cụ có một hấp lực
kỳ đặc, không dễ gì tìm gặp ở bút pháp kẻ khác:
Thợ trời thiệt là khéo léo, hóa sanh muôn loài, không bỏ sót loài nào, đã sanh
con voi to, mà còn sanh con muỗi nhỏ, đã sanh con cọp để giết người, mà còn
sanh bò heo để nuôi người. Mà thợ trời cũng thiệt trớ trêu, mỗi loài lại sanh
nhiều thứ, hình dáng, màu sắc tánh chất đều không giống nhau, sanh rắn độc mà
cũng sanh rắn hiền, sanh hoa thơm mà cũng sanh hoa thúi. Sanh loài người, Tạo
hóa cho có mặt, có tay, có chưn, có gan, có ruột như nhau, mà cắc cớ sơn cho
nhiều màu da, người thì trắng, kẻ thì vàng, người thì đen, kẻ thì đỏ. Mà dầu đồng
một màu da với nhau đi nữa, tâm tánh cũng bất đồng, kẻ hiền người dữ, kẻ ngay
người gian, kẻ dại người khôn, kẻ sáng nguời tối. Có một điểm, loài người dù
đen, đỏ, trắng, vàng, dầu dữ, hiền, khôn, dại, phần nhiều đều giống nhau. Ấy là
thói say mê tiền bạc, say mê đến nỗi không kể tội lỗi, không biết thúi hôi,
không sợ chê khen, không màng phải quấy, áp nhau bu lại mà giựt dành, nếu giựt
cho được rồi chết cũng vui lòng, mà nếu giựt không được lại phải chết cũng
không sợ.
(Tơ Hồng Vương Vấn, các trang 148, 149)
Viết theo văn dĩ tải đạo, bên Pháp đã có Delly, bên Anh đã có nữ sĩ Barbarra
Cartland; họ ăn khách kinh khủng. Delly là bút hiệu của bà Jeanne Petitjean de
La Rosière (sanh tại Avignon năm 1875, chết tại Versailles năm 1947) và ông
Fréderic Petitjean de La Rosière (sanh tại Vannes năm 1875 chết tại Versailles
năm 1949). Cả hai sáng tác lối 30 tác phẩm. Còn Barbarra Cartland viết lối 400
quyển tiểu thuyết. Nhưng đọc tác phẩm của họ, độc giả chỉ tìm được dăm ba tiếng
đồng hồ để giải trí, rồi quên luôn những thú vị của mình đã trang trải trên những
trang sách. Cặp Delly thường lấy tinh thần Bác Ái và Bao Dung của đạo Thiên
Chúa làm nền tảng của câu chuyện, để đánh bóng thêm cho các nhân vật hiền lương
mà Cộng Sản gọi là các nhân vật chánh diện thêm phần lộng lẫy. Nhưng đa số tác
phẩm của Hồ Biểu Chánh thì không như thế. Ngoài chuyện tôn vinh quan niệm tích
ác phùng ác, tích thiện phùng thiện, chúng còn có nhiều điều gì khác làm độc giả
sống lại một đoạn đời quá khứ của mình hay giúp độc giả mường tượng cách sống của
những lớp người thuộc những thế hệ trước thế hệ mình.
"Tơ Hồng Vương Vấn" là một cuốn tiểu thuyết thấm
nhuần đạo Phật lấy chuyện luân hồi quả báo làm căn bản để triển khai cái sở trường
văn dĩ tải đạo của Hồ Biểu Chánh. Vai chánh là cậu học sinh Phan Vĩnh Xuân sinh
vào thời Nho mạt nơi chợ Giồng Ông Huê (Gò Công). Cậu là họ trò của ông Giáo
Huân, một thầy đồ Nho khả kính. Cậu được sư phụ mình cho biết vận nước biến
suy, dù phải chuyển qua Tây học để gọi là kiếm cơm nuôi mẹ, dù gì thì dù cũng
phải giữ tấm lòng chính trực, liêm khiết. Nước mất nhà tan, ham chi hư danh quyền
tước để hãnh diện với thiên hạ. Bạn học của cậu là cô Lý Thị Tư, được thầy ban
cho cái biệt danh Cúc Hương, vốn là gái chánh trực, lại thông minh, xinh đẹp.
Vĩnh Xuân và Cúc Hương yêu nhau, lén lút tư ước với nhau. Cả hai hẹn hò gặp
nhau ở nhà chị Hai Tỷ, một phụ nữ Việt kết hôn với tài phú Sấm, người Trung
Hoa. Ngờ đâu cha mẹ Cúc Hương tham giàu ép buộc Cúc Hương lấy chàng công tử bột
xuất thân gia đình giàu có ở hương thôn. Cúc Hương quyết tâm bỏ sinh mệnh để giữ
tròn đạo nghĩa. Truớc ngày vu quy, cô giao 50 đồng bạc cho Hai Tỷ, bảo rằng với
số tiền này, cộng với tiền trợ cấp của chánh phủ, Vĩnh Xuân có thể ăn học
trong vòng 3 năm cho đến khi thành tài. Cô cũng gửi tấm lụa có viết chữ nho
"Xả Thân Nhi Thủ Nghĩa" (bỏ thân để giữ tròn đạo nghĩa) cho chàng để
chàng nhìn bút tích mà nhớ tới cô. Cô cũng không quên gửi một xấp lãnh và một xấp
xuyến cho bà Hương văn Thanh, mẹ của Vĩnh Xuân may quần áo, gọi là quà tặng của
cô dâu... hụt. Cô dặn Hai Tỷ phải khuyên Vĩnh Xuân chí thú ăn học, để cô được
toại nguyện. Rồi cô uống nha phiến pha trộn với dấm thanh để tự tử.
Vĩnh Xuân tuy đau khổ nhưng nhờ lời khuyên của ông Giáo Huân và Hai Tỷ nên theo
lời dặn của Cúc Hương chí thú ăn học, đậu bằng Thành Chung, rồi thi vô ngành ký
lục cũng đậu luôn. Chàng về nhà vào ngày 25 tháng chạp tức là ngày 23 tháng
Janvier. Bữa sau chàng đi viếng mộ Cúc Hương thì vào quá 12 giờ khuya, chàng nằm
chiêm bao thấy Cúc Hương từ giã chàng đi đầu thai và cho chàng biết kiếp sau
nàng sẽ được tái ngộ cùng chàng, để kết hôn với chàng.
Vĩnh Xuân được thuyên chuyển qua Mỹ Tho làm việc ở Tòa Bố (tức là Tòa Hành Chánh
về sau). Chàng kết thân với ông Kinh Lịch Lương, đuợc ông dạy đàn, dạy làm thơ
để rồi cả hai trở thành đôi bạn vong niên thân thiết. Chàng từng thố lộ với bà
Kinh như sau:
- Thưa bà, vì nghèo cực nên cực chẳng đã tôi phải theo tân học đặng làm việc
lãnh lương nuôi mẹ. Tôi muốn ngồi yên trong một góc bàn mà biên chép, chờ cuối
tháng lãnh lương ăn vậy. Tôi thưa thiệt với ông bà, tôi không ham danh lợi, ham
lợi, nhứt là danh không chánh đáng và thứ lợi không hạp nữa. (trang 187)
Bà Kinh rất thuơng mến Vĩnh Xuân cố tình làm mai cho chàng cưới cô Cẩm Nhung,
con gái út của Bà Chủ Thiệu ở Chợ Cũ (bên kia Cầu Quây). Vi sợ mẹ buồn nên
chàng phải cưới Cẩm Nhung, một cô gái xuất thân từ gia đình giàu có, lại có
bóng sắc chói chang. Đây là một cuộc hôn nhân miễn cưỡng vì chàng không sao
quên được Cúc Hương. Còn Cẩm Nhung không quen làm vợ và làm dâu trong một gia
đnh thanh bạch mà cách ăn ở sinh sống thiếu tiện nghi, nên cô đâm ra thất vọng.
Lại nữa, gặp ông chồng thiếu nồng nàn, tình tứ nên cô thường về ở bên nhà mẹ, rồi
sanh tâm ngoại tình, có thai với tình nhân. Vĩnh Xuân không muốn làm cho gia
đình bên vợ mang tiếng xấu vì dầu sao Cẩm Nhung cũng đã sanh cho chàng một đứa
con trai. Cho nên chàng khuyên Ba Khai, người anh trưỏng của vợ buộc Cẩm Nhung
đút đơn vô tòa án xin ly dị, như thế cái tội ngoại tình của nàng sẽ được giấu
nhẹm. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai cảm cái đức quân tử của chàng nên âm thầm giúp đỡ
chàng, vẫn xem chàng như con rể trong gia đình họ. Chàng vẫn gọi bà Chủ Thiệu bằng
má trước sao sau vậy. Bà Chủ Thiệu và Ba Khai âm thầm giúp đỡ cách sống cho
chàng được tiện nghi. Họ trừng phạt Cẩm Nhung, cấm không cho nàng ra khỏi nhà,
cấm không cho nàng léo hánh lên nhà trên (tức là trung đường), cấm không cho
nàng mặc quần hàng áo lụa, phải mặc vải bô thô xấu.
Nhờ giỏi tiếng Pháp, tại Tòa Bố chỉ một thời gian ngắn Vĩnh Xuân làm thông ngôn
cho quan Phó Tham Biện người Pháp, rồi làm thông ngôn cho quan Chánh Tham Biện
(về sau gọi là Tỉnh Trưởng) cũng người Pháp. Rồi chàng thi đậu trong cuộc thi
tuyển tri huyện. Trong bữa tiệc ăn mừng Vĩnh Xuân thành công trên đường hoạn lộ
do bà Chủ Thiệu khoản đãi, Vĩnh Xuân xin bà và Ba Khai rộng dung hình phạt cho
Cẩm Nhung. Chàng nhận lỗi rằng chính cái cách cư xử dung túng nhưng thiếu nhiệt
tình của mình đối với vợ đã xô đẩy Cẩm Nhung vào con đường quấy.
Sau đó ít lâu, Vĩnh Xuân được vinh thăng tri phủ phải qua Cần Thơ nhận nhiệm sở
mới. Mọi việc sắp đặt chỗ ở mới cho quan huyện Vĩnh Xuân do chính Ba Khai đảm
nhiệm. Trước khi qau Cần Thơ, bà Hương Văn Thanh và Vĩnh Tân (con của Vĩnh
Xuân)có đến Chợ Cũ từ giã bà Chủ Thiệu. Tại đây, Cẩm Nhung ra mặt nhìn con của
mình. Thấy nàng dâu cũ của mình hương phai phấn lợt vì bao năm bị gia pháp trừng
phạt lại thấy cô bi lụy thảm thiết, bà Hương Văn Thanh an ủi Cẩm Nhung hứa sẽ dạy
dỗ Vĩnh Tân không quên công sinh thành của mẹ và hứa hễ có dịp là cho Vĩnh Tân
về Chợ Cũ thăm mẹ và bên ngoại.
Năm đó quan Phủ Vĩnh Xuân lúc đó đã 40 tuổi, trong buổi nhàn du tình cờ ông gặp
cô Hưởng, con gái ông Hương Nhì Tồn từ hình dung tiếng nói đến dáng đi cử chỉ đều
giống hệt Cúc Hương. Ông dò la biết được cô Hưởng sanh vào lối 3 giờ khuya,
đúng là hai giờ sau lúc nửa đêm Cúc Hương từ giã ông để đi đầu thai. Tin chắc
cô Hưởng là hậu kiếp của Cúc Hương nên ông xin cưới cô. Và muốn cho chắc ăn điều
nhận nhận xét của mình, sau đám cưới chàng đưa vợ về quê hương của mình để xem
nàng có nhớ được gì không? Quả nhiên vừa tới Chợ Giồng thì người vợ trẻ của
quan Phủ Vĩnh Xuân nhớ hết những người thân trong quá khứ trong đó có vợ chồng
ông Giáo Huân và chị Hai Tỷ.
Trong truyện dài "Tơ Hồng Vương Vấn", người xấu (mà bọn Cộng Sản gọi
là nhân vật phản diện) chỉ có vợ chồng Hai Mỹ (song thân của Cúc Hương). Họ vô
tình giết con gái mình vì họ chuộng thói tham phú phụ bần. Còn ngoài ra người tốt
thì đông đảo hùng hậu. Ngoài mẹ con của bà Hương Văn Thanh, còn có Cúc Hương, vợ
chồng ông Kinh Lịch Lương, bà Chủ Thiệu, Ba Khai, bà Giáo Huân, chị Hai Tỷ đều
là những kẻ mến đức chuộng tài. Họ mở tấm lòng hào hiệp đối đãi với Vĩnh Xuân.
Còn ông Giáo Huân thì ra công rèn luyện đức dục cho Vĩnh Xuân, vun quén thiên
lương và đức độ của chàng được mãi mãi sáng rực rỡ như gương. Cẩm Nhung cũng
không phải là người xấu. Nếu cô sống vào thập niên 60 trở về sau thì cô sẽ đuợc
người đời không cho cô là tội nhân mà là một nạn nhân của nền luân lý cổ quá
cay nghiệt khắc khe. Luân lý ấy dìm cô vào mặc cảm tội lỗi làm cô nghĩ rằng
mình có tội nặng, chứ thật ra chẳng những tội cô quá nhẹ mà cô còn đáng cho
chúng ta ai hoài thương xót. Rất may, dù bị ảnh hưởng luân lý của Nho Giáo,
nhưng Vĩnh Xuân cảm thông được nỗi éo le của vợ nên xin mẹ vợ và anh vợ nương
tay trừng phạt cho vợ.
Chuyện duyên nợ theo vòng luân hồi quả báo không phải chỉ có Hồ Biểu Chánh tiên
sinh là kẻ tiền phong xướng ra trong văn chương. Vào thuở tiền chiến, trong hai
quyển "Kho Vàng Sầm Sơn" và "Đồng Tiền Vạn Lịch", nhà văn
Tchya đã viết cuộc tình của Nguyễn Anh Tề, con trai của Nguyễn Hữu Chỉnh, và Quận
Chúa Võ An Trinh, con gái Võ văn Nhậm vào thời Tây Sơn dựng nghiệp. Cả hai trắc
trở việc hôn nhân nên cùng sống thác với tình, hẹn kiếp sau sẽ thực hành cuộc
tình duyên dang dở. Câu chuyện đó được gói ghém trong quyển "Kho Vàng Sầm
Sơn". Khi qua quyển "Đồng Tiền Vạn Lich" thì Nguyễn Anh Tế thác
sinh vao dòng dõi Nguyễn Hữu Chỉnh trở thành Nguyễn Hữu Tề, còn Quận Chúa Võ An
Trinh đầu thai vào dòng họ Võ Văn Nhậm trở thành Võ Ái Trinh. Sau bao phen xung
đột để chiếm đồng tiền Vạn Lịch mà họ cho rằng đó là cái chìa khóa mở kho vàng
mà Nguyễn Anh Tề và Võ An Trinh chôn giấu ở Sầm Sơn. Nhưng họ chỉ tổ hoài công
thôi. Họ không tìm được kho tàng mà tìm được dấu vết tình yêu giữa đôi bên với
nhau từ thuở tiền kiếp.
Nữ sĩ ngươi Anh Elizabeth Goudge có viết trong quyển "Tiếng Gọi Của Quá Khứ"
("L'Appel du Passé") cặp tình nhân dang dở thời tiền kiếp chết đi.
Qua kiếp tái sinh chàng vẽ bức họa phong cảnh lâu đài mà cả hai đã từng sống.
Nhờ vậy, hậu thân của nàng được phục hồi ký ức, nhớ lại cố nhân và cuộc sống xa
xưa bên kia nẻo luân hồi để tìm đến chàng. Tin hay không tin thuyết luân hồi và
thuyết thác sinh, nhưng nó cũng đã đóng góp cho văn nghiệp nữ sĩ Elizabeth
Goudge một tác phẩm diễm lệ và cực kỳ thơ mộng. Nó đã giúp cho Tchya và Hồ Biểu
Chánh thuyết phục một số độc giả suy nghĩ về cái thần bí của bánh xe luân hồi
di chuyển không ngừng nghỉ trên vạn pháp và trên các hiện hữu.
Hồ Biểu Chánh viết tiểu thuyết theo lối thuyết thoại (la
narration). Như đã nói, cụ kể chuyện tuồn tuột, ngon ơ, ít khi dùng óc quan sát
để tả cảnh vật, tả ngoại hình các nhân vật. Thường là những nét phác thảo sơ
sài, khái quát.
Đây là cảnh đi đò dọc từ chợ Mỹ Tho qua chợ Giồng Ông Huê (thuộc tỉnh Gò Công):
Đò lui. Hành khách chỉ có bốn người nên rộng rãi ai cũng nằm được. Gặp nước
xuôi lại có gió xuôi bởi vậy ra khỏi vàm rồi trạo phu trương buồm mà chạy, khỏi
chèo. Mặt trời vừa trịch bóng, đò đã tới Vàm Giồng, gặp nước lớn đi vô vàm, đi
xuôi nữa. Chủ đò đoán trước bữa nay về tới chợ Giồng sớm lắm, chừng nửa buổi
chiều.
Vĩnh Xuân nghe nói vậy bèn ngồi dậy. Bây giờ đò vô rạch Vàm Giồng, hai bên cây
cối tập rạp, án gió không bọc buồm lên được. Trạo phu hạ buồm rồi gay chèo mà
chèo, nhờ nước xuôi nên ghe đi lẹ lắm. (trang 93)
Đây là cảnh quan phủ Vĩnh Xuân đi chơi chợ Bình Thủy tình cờ gặp cô Hưởng (hậu
thân của Cúc Hương) nên ông heo dõi cô thiếu nữ kia đến cầu Rạch Cam:
... Vĩnh Xuân vẫn theo coi nhà cô ở chỗ nào. Đi chừng một trăm thước thì tới
một thớt vườn không lớn nhưng sạch sẽ dựa lộ, có hàng rào bằng cây trà, trong
sân có trồng hoa, rồi sau sân ấy có một nhà lá ba căn xông, vách ván, cửa ván,
nền cao, hai bên nhà dừa với mận trồng sum suê, còn phía sau thì cau chuối tịch
mịch. (trang 406)
Những bối cảnh do tác giả dựng lên để lót nền cho cuộc tình sử giữa Vĩnh Xuân
vá Cúc Hương cũng không được miêu tả chu đáo. Vẫn là nghệ thuật thuyết thoại
theo lối văn chương trong các quyển địa dư, trong các quyển địa phương chí.
Nhưng chính ở những dòng kể chuyện ấy, độc giả cũng có thể mường tượng những
nét tạo hình ẩn trong cuộc bút trình của tác giả:
Rạch Vàm Giồng bên Cửa Tiểu, nhờ có kinh đào đi ngang qua chợ Giồng rồi thông với
rạch Gò Công bên sông Bạo Ngược là sông Vàm Cỏ, bởi vậy địa thế giúp cho chợ Giồng
biến thành một thị trường lúa gạo trong hạt Gò Công. Ở đây có nhiều người cất vựa
trử lúa, trử gạo, từ ngoài đồng đem vô bán. Họ mua để bán lại cho những lúa gạo
chở lên Chợ Lớn mà bán ngay cho mấy nhà máy hoặc cho mấy tàu khậu làm trung
gian cho nhà máy.
Hồi đó, hễ đến mùa gặt lúa, thì chợ Giồng phồn thạnh lắm. Dưới kinh, ghe mua
lúa đậu chật. Còn trên bờ, từ nửa buổi chiều cho tới canh một, ở ngoài đồng họ
gánh gạo vô bán kể đến máy trăm người, mỗi xóm đi chung một tốp, lại có năm ba
xe bò chở lúa đem vô nữa. Chợ lúa gạo nầy buổi chiều nhóm tại dốc cầu sắt. Đờn
bà con gái dọn ngồi bên đường mà bán dầu lửa, nước mắm, hộp quẹt, trà tàu, cá
khô, bánh trái, thúng rỗ, nón guốc, nia đệm, nghĩa là bán đủ thứ cần dùng ở chốn
thôn quê. (trang 37)
Hồ Biểu Chánh ưa bàn luận nhân tình thế thái theo một bình diện phẳng, tức là dựa
vào cái chung chung của cuộc sống rồi triển khai rộng ra, ít khi đào sâu vào những
gì mà cụ tư duy.
Tự căn bản, "Tơ Hồng Vương Vấn" chỉ là một pho diễm tình trà trộn
bóng dáng tâm linh huyền hoặc. Cái giá trị văn chương của nó chẳng có bao
nhiêu, nhưng bối cảnh lịch sử của nó làm chúng ta phải lưu ý. Đó là giai đoạn
giao thoa giữa nền Nho mạt và văn hóa Tây phương sau khi Pháp thuộc địa hóa đất
Nam Kỳ và đặt nền Bảo Hộ lên Bắc Kỳ và Trung Kỳ.
Hồ Biểu Chánh là con bậc thâm nho. Lúc nhỏ, cụ theo Nho học, nhưng sau đó cụ
chuyển qua Tây học, rồi ra làm việc cho chánh phủ Thuộc địa. Do đó, cụ bị các bậc
cựu nho eo sèo mai mỉa. Chính cụ cũng áy náy và ngờ ngợ hành xử và cuộc mưu
sinh của mình có điều gì không ổn. Chính ở quyển "Tơ Hồng Vương Vấn"
cụ mới có thể giải bày tâm sự và những điều khoắc khoải của mình:
Thế cuộc vần xoay, hết suy tới thạnh, nhơn quần tấn hóa, đổi cựu ra tân. Đó là
định luật dĩ nhiên, dầu muốn dầu không ai ai cũng phải chịu, không làm sao sửa
được.
Nhớ lại mà coi sau khi đánh phá đại đồn Chí Hòa rồi, binh đội Pháp lần lần xâm
chiếm tất cả sáu tỉnh của đất Gia Định. Từ hạng nông phu cho tới học thức thảy
đều tức tửi mà quay đầu về Phú Xuân, thì triều đình dường như im lìm bỏ xụi;
còn chong mắt ngó vào đám anh hùng nghĩa sĩ thì các cụ Trương Công Định, Nguyễn
Trung Trực, Thiên Hộ Dương, Thủ Khoa Huân lần lượt thất bại tiêu tan.
Đứng trước ngả ba đường như vậy đó, phải đi ngả nào? Nếu cương quyết giữ
nền nếp cũ thì lấy chi mà nương náu, còn nếu đổi thái độ cho xuôi dòng thì lỗi
với tổ tiên, mà thẹn cùng cây cỏ. Trong lúc dân trí phân vân như vậy, nhà cầm
quyền Php khôn ngoan, nên chăm lo gây thiện cảm với nhân dân. Người ta biết
thâu phục đất đai thì dễ, nhứt là gặp xứ không có binh đội tổ chức hoàn bị; còn
như thâu phục nhơn tâm là điều khó khăn, phải hay đổi văn hóa, phải un đúc tâm
hồn, mấy viẹc đó phải dầy công phu, phải nhiều thế kỷ thì mới làm nên được.
(các trang 7, 8)
Xin nghe cuộc đối đáp giữa quan Phủ Vĩnh Xuân và thầy Cai Tổng, tại một khách sạn
tỉnh Cần Thơ:
- ... Tôi nghe nói thuở xưa quan thanh liêm đi phó nhậm chỉ có một cây đờn cầm với
một con hạc thế mà tới đâu cũng bố đức cho dân lạc nghiệp an cư. Đời nay không
có hạc thì quan lớn đi phó nhậm với một cây đờn, tôi tưởng cũng đủ rưới âm đức
cho nhơn dân xứ Cần Thơ nhuần gội.
- Thầy Cai đem tôi mà sánh với quan đời xưa sao được. Nước đã mất chủ quyền,
dân đã thành tôi mọi. Tôi làm quan, song cũng là tay sai của người ta, lịnh
trên dạy phải làm sao tôi phải làm như vậy. Tôi cũng như anh đầu bếp nấu canh.
Chủ nhà đưa mắm muối biểu nêm cho thiệt mặn. Tôi tráo trở làm cho lạt bớt đặng
để ăn. Đó cũng đã đủ nát trí khôn rồi. Khỏi bị quấy rầy, bị quở phạt ấy là may,
mong gì làm cho ngươi ăn khen canh ngon ngọt được. (trang 393)
Cúc Hương và Vĩnh Xuân tuy học theo đàng cựu dở dang nhưng cũng đã từng học các
quyển "Minh Tâm Bửu Giám", Ấu Học Tầm Nguyên", "Tứ Thơ Thể
Chú", "Đại Học", "Trung Dung", "Luận Ngữ"... Vĩnh Xuân có thể giải nghĩa
rành rọt sách Mạnh Tử cho Cúc Hương nghe. Nhưng vì nhà nghèo, nếu đeo đuổi theo
cái học của thời mạt điệp của ngành Nho học thì làm sao chàng kiếm tiền nuôi mẹ
khi mẹ già yếu? Chàng chuyển sang Tân học. Vào thuở đó tại tỉnh Gò Công tình trạng
Tân học ở bậc tiểu học như sau:
Trong khoảng đó, người ta nhận thấy tại Châu Thành Gò Công nhà nước có một trường
sơ đẳng học, gồm năm lớp có một quan Đốc học người Pháp với năm giáo viên người
Việt. Từ lớp nhứt đến lớp tư thì dạy Pháp văn nhiều hơn Việt văn, còn lớp năm
là lớp chót thì giao cho một thầy nho biết chữ Quốc ngữ dạy trẻ đồng ấu học vần
xuôi, vần ngược, rồi tập đọc, tập viêt quốc văn.
Học trò cả thảy chừng một trăm rưỡi, lớp chót được lối năm mươi trò, còn mấy lớp
trên chung vài ba chục, tới lớp nhứt chỉ còn mười đến mười lăm là nhiều. Lại học
trò toàn là con trai, chớ không có con gái, cha mẹ ở tại chợ, hoặc trong mấy
xóm làng xung quanh cách chợ lối vài ba ngàn thước.
Muốn lấy thêm học trò đông, lại cũng muốn Pháp ngữ được thông dụng trong mấy
làng xa, Tham Biện mới mở tại bốn chợ trong bốn tổng, mỗi chợ một làng dạy Pháp
văn gọi là "Trường tổng" gồm hai lớp: lớp nhỏ dạy cho biết đọc, biết
viết chữ quốc ngữ, rồi lên lớp lớn bắt đầu dạy Pháp văn. Trong lúc nói đây,
trong hạt có bốn trường tổng đặt tại bốn chợ: Rạch Giá (Đồng Sơn), Giồng Ông
Huê (Vĩnh Lợi), Cửa Khâu (Tăng Hòa) và chợ Tổng Châu (Tân Niên Tây)... (các
trang 10, 11)
Trong sự nghiệp văn chương nguy nga đồ sộ của Hồ Biểu Chánh,
bút giả HTA chọn quyển "Tơ Hồng Vương Vấn" thay vi những quyển tiểu
thuyết nổi tiếng lừng lẫy khác của cụ như "Nặng Gánh Cang Thường"
(phóng tác theo vở bi kịch "Le Cid" của Corneille), "Ngọn Cỏ Gió
Đùa" (phóng tác theo quyển "Le Misérables" của Victor Hugo),
(phóng tác theo quyển "Chút Phận Linh Đinh" của Hector
Malot),"Cay Đắng Mùi Đời" (phóng tác theo cuốn "Sans
Famille" cũng của Hector Malot), "Kẻ Thất Chí" (phóng tác theo
quyển ("Crime et Châtiment" của Dostoievski)... Bút giả nhận thấy
"Tơ Hồng Vương Vấn" ngoài chuyện gay cấn éo le đã từng thôi miên và
mê hoặc độc giả mà còn phản ảnh được một giai đoạn lịch sử, một chuyển biến gần
như lột xác về phương diện văn hóa.
Tác giả đã xắn ra một mẩu đời của mình để đưa vào tác phẩm. Tác giả lại còn xắn
tim óc của mình để rải vào tác phẩm. Cái văn dĩ tải đạo của cụ có thể đã lỗi thời.
Nhưng người thưởng thức có đầu óc sáng suốt, cótinh thần tìm hiểu chuyện quá
vãng theo kiểu "ôn cố nhi tri tân" sẽ chấp nhận mọi cách giải bày tâm
sự, hoài bảo, khuynh hướng, lý tưởng của cụ. Ngoài ra song song với tấm lòng
thành khẩn của cụ, người ta còn bắt gặp cái tinh thần tồn cổ một cách khả ái của
cụ, chứ họ không kinh hãi cái nệ cổ đi đến mức cuồng tính một cách ngoan cố của
các bậc hủ nho khác.
Trong quyển "Le Pavillon des Femmes" ("Ngôi Nhà Lầu Phụ Nữ"),
nữ sĩ Pearl S. Buck có bàn về quyển "Kim Bình Mai". Đại ý rằng nếu ai
thích tìm thú nhục cảm thì "Kim Bình Mai" là quyển dâm thư đúng
nghĩa. Nhưng nếu ai muốn tìm xã hội tham nhũng thối nát dưới triều đại Nam Tống
do Hoàng Đế Tống Cao Tôn trị vì thì quyển truờng giang tiểu thuyết này cũng sẽ
đáp ứng nhu cầu tìm hiểu của đương sự. Như thế, tùy theo mục đích thưởng ngoạn
của kẻ đọc sách. Riêng về quyển "Tơ Hồng Vương Vấn" của Hồ Biểu
Chánh, nếu ai muốn tìm thú giải trí theo thị hiếu bình dân thì đây là quyển diễm
tình hấp dẫn. Còn nếu ai muốn biết xã hội Việt Nam vào buổi giao thời thì đây
là quyển sách bồi bổ kiến thức cho đương sự. Có điều đáng chú ý là vào thời
Pháp thuộc, Hồ tiền bối của chúng ta không dám bộc bạch tâm trạng kẻ sĩ của
mình qua nhân vật Vĩnh Xuân vì cụ sợ chánh quyền Thực dân gây trở ngại cho bước
tiến thủ trên hoạn lộ của cụ. Phải đợi tới thuở bình minh của nền Đệ Nhất Cộng
Hòa, cụ mới dám bộc bạch mọi nỗi niềm u ẩn của mình.
Chương Hai
Xuân Vũ, ngòi bút tái sinh cuộc đời
Một danh kỹ qua truyện dài "Cô Ba Trà"
Xuân Vũ viết về cuộc xâm lăng của Cộng Sản Bắc Việt; bọn
chúng vượt Trường Sơn để vào đánh phá và cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam. Xuân Vũ
viết tiểu thuyết đồng quê về cuộc đất Nam Kỳ vào thời tiền chiến. Xuân Vũ đặt
thơ lai rai nhưng không cho xuất bản thành sách. Anh là một cây bút sáng tác có
sức mạnh vũ bão nhất, có vốn liếng đi và sống phong phú nhất. Sách anh bán chạy
thuộc hàng đầu, tạo cho anh một ngôi vị cao chót vót và lộng lẫy nguy nga, làm
vẻ vang cho tập đoàn các cây bút gốc Nam Kỳ từ trong nước, trước năm 1975 và
các cây bút gốc Nam Kỳ ở bốn phương trời hải ngoại.
Chưa hết đâu. Xuân Vũ còn moi móc tài liệu trong các xó xỉnh của lịch sử cận đại
để viết quyển tiểu thuyết nửa sống thực nửa giả tưởng về cuộc đời một danh kỹ sắc
nước hương trời chói rạng Hòn Ngọc Viễn Đông và lan ra khắp ba miền Nam Bắc
Trung. Đó là cô Trần Ngọc Trà mà thời nhân gọi là cô Ba Trà, còn giới ăn chơi gọi
cô là Yvette Trà và báo giới gọi là Huê Khôi Nam Kỳ, là Ngôi Sao Sài Gòn.
Cô Ba Trà khi chui vào tác phẩm truyện dài của Xuân Vũ có một cuộc đời như sau:
Má cô xuất thân từ một gia đình khiêm tốn và thanh bạch. Cha cô xuất thân gia
đình khá giả, có lễ giáo. Nhưng cha cô hay ghen. Tình cờ ông ta bắt được thư
rơi cho biết má cô ngoại tình với một kẻ khác mới sanh ra cô. Thế là vì ghen
tương, ông ta thổ huyêt, rồi hành hạ vợ. Má cô không chịu nổi sự rẻ rúng và sự
trừng phạt của chồng nên đưa cô về tá túc ở quê ngoại cô. Nhưng ông bà ngoại
không chứa mẹ con cô. Túng thế, má cô gá duyên với ông Khách trú xấu xí, làm
nghề mở tiệm hút thuộc phiện lậu. Vì thù hận người chồng cũ nên má cô ghét bỏ
cô, đày xắc và hành hạ cô rồi bán cô cho người Chà-và để lấy 400 đồng qua trung
gian mụ tú bà mà tác giả gọi là dì Hảo. Khi tên Ấn kiều về nước, dì Hảo dàn cảnh
để gả cô cho con trai một nghiệp chủ Hoa kiều giàu sụ nhờ nghề buôn cá phơi
khô. Nhưng người Tàu vốn ưa lấy vợ còn trinh, cho nên cậu con ông nghiệp chủ
kia dù có mê say nhan sắc cô Ba Trà, nhưng vẫn bị sự mất trinh của cô trước khi
về làm vợ hắn ám ảnh hoài hoài nên hắn đâm ra khinh khi cô và cặp xách với nhiều
cô gái đẹp khác. Cô Ba Trà bỏ trốn và về tá túc nhà dì Hảo. Dì lập mưu lập kế để
đưa cô vào nghề mãi dâm. Dì gạt gẫm cô để cô bị lính kiểm tục băt giam, rồi tống
cô đi khám bịnh phong tình (đi lục xì) tại nhà thương Bạc Hà tức là bịnh viện
bài trừ bệnh hoa liễu. Đó là cách rúng ép cô ký giấy giao kèo hành nghề mãi
dâm, để biến cô thành con điếm có môn bài ( une fille publique cartée). Thời
may, cô đuợc ông bác sĩ bệnh viện đứng tuổi cứu giúp cô thoát khói lưới bẫy của
mụ đàn bà bất lương kia. Rồi cô trở thành tình nhân ông ta. Trong cuộc thi sắc
đẹp tại Sài Gòn, ông ta có đưa cô đến xem. Ai ngờ cô gái dự thi trúng giải hoa
hậu tên Lê thị Liễu lại xin nhường chức nữ hoàng các mỹ nhân cho cô. Ban giám
khảo không biết tính sao vì lời đề nghị cô Liễu sái nguyên tắc. Rồi theo lời
quan Biện Lý Thành Phố (người Pháp), họ chỉ bằng lòng tặng cho cô Ba Trà cái
danh hiệu Ngôi Sao Sài Gòn. Tên tuổi cô bắt đầu lừng lẫy từ đó. Ông bác sĩ nhân
từ kia lại muốn cô Ba được kết hôn với kẻ xứng lứa vừa đôi nên bằng lòng nhường
cô lại cho người con trai ông giám đốc Đông Dương Ngân Hàng thuộc chi nhánh ở tỉnh
Cần Thơ. Nhưng anh ta có vợ nên khi công việc bí mật đổ bể, hắn phải hủy hôn với
cô. Cô lại được một họa sĩ nghèo say mê, chọn cô làm tình nhân kiêm người mẫu.Thế
rồi tranh có vẽ chân dung cô đưọc trưng bày tai Đại Lục Lữ Quán do cựu danh kỹ
Tư Hồng Mao cai quản. Cô Tư này còn gọi là Tư Ăng-lê vì theo lời đồn chồng của
cô ta là người Anh-cát-lợi. Những bức tranh này bị cô Tư Hồng Mao làm trành làm
tréo sang đoạt, rồi lại được Bạch Công Tử mua hết. Bạch Công Tử tên là Lê Công
Phước mà thời nhân gọi là Phước Georges. Cậu vốn là con quan Đốc Phủ Sứ Lê Công
Sủng ở Mỹ Tho vốn là đại điền chủ. Quan Đốc Phủ Sủng ngoài những bât động sản
to tát khác, còn là chủ nhân Cù Lao Rồng, thuộc hạng tiền rừng bạc biển.
Trong dịp tiếp đón quan Thống Đốc Nam Kỳ tại Đại Lục Lữ Quán có đại điền chủ Trần
Trinh Trạch, đại thương gia Quách Đàm (người Tàu), thì cô Ba Trà xuất hiện ký
tên tặng tranh cho quan Thống Đốc. Từ đó, tên tuổi cô Ba Trà vang lừng khắp
Đông Dương. Cô được chuyền từ tay Bạch Công Tử rồi sang tay Hắc Công Tử và tay
Sáu Ngọ... Hắc Công Tử tên là Trần Trinh Qui, con ông Hội Đồng Quản Hạt Trần
Trinh Trạch. Ông Trạch là chủ nhân 20.000 mẫu ruộng lúa và 2.000 mẫu ruộng muối
ở Bạc Liêu. Còn Sáu Ngọ là vua các sòng bạc ở Sài Gòn và ở các thành phố vùng
phụ cận Sài Gòn có thể tặng nhiều lần cho cô Ba rất nhiều tiền, mỗi lần gồm cả
bao to đựng giấy bạc. Ông ta còn tặng cho cô kim cương thuộc loại hảo hạng nữa.
Cô Ba còn được ông Hoàng Ngự Đệ bên nước Xiêm La đề nghị cưới cô làm vợ, nhưng
cô không ưng. Trong thời gian làm việc ở Đại Lục Lữ Quán, có cô danh kỹ Tư Nhị
từ Nam Vang xuống xin làm em kết nghĩa với cô Ba. Lại thêm cô Quế Anh vừa đẹp vừa
có học thức, cô đầm rặc Danielle vốn là em chồng cô Tư Hồng Mao cũng nhập bọn
đàn em cô Ba. Chính Tư Nhị dạy cô Ba dùng ngãi nghệ để rù quến khách tìm hoa.
Thế rồi trong chuyến theo Bạch Công Tử ra viếng Hà Nội, cô Ba gặp cô Đốc Sao nổi
tiếng là nữ hoàng sắc đẹp trong giới hát ả đào ở khu phố Khâm Thiên. Nhưng trước
đó không lâu, cô Đốc Sao giải nghệ để kết hôn với nhà báo Hoàng Tích Chù. Tuy
ông ta không giàu có gì, nhưng có thể xây dựng cho đương sự một đời sống lứa
đôi hạnh phúc, một cuộc hoàn lương vững vàng. Gặp cô Ba Trà, cô Đốc Sao khuyên
cô nên tìm cách xa lánh cuộc đời bán dạng thuyền quyên để sau này tránh khỏi thảm
cảnh bị khách tìm hoa bỏ rơi khi hương phai phấn lợt. Rồi cô Ba Trà gặp tên thầu
khoán giàu sụ cưới cô làm "vợ hờ", xây cất cho cô một chốn ăn chơi đồ
sộ và huy hoắc tên Nguyệt Tiên Cung. Nơi đây, cô tuyển lựa các giai nhân mỹ nữ
để tiếp khách thuộc hạng tiền giàu nức vách đổ tường. Nhưng thét rồi cô đâm ra
chán ngán cuọc sống dật lạc. Bỗng cô sực nhớ lời khuyên cô Đốc Sao nên cô tìm một
người chồng công chức bậc trung, lương tháng 120 đồng. Chàng rất thành thật và
chất phác. Đó là thầy Cò-mi họ Vương, người đã yêu cô từ khi chàng hãy còn là học
sinh trường Pétrus Ký và đã từng chiêm ngưỡng hình cô chưng tại tiệm Saigon
Photo. Thế là cô Bà Trà vì muốn che đậy cái dĩ không đẹp của cha mẹ mình và cái
thân thế điếm nhục của mình nên tạo ra cuộc đám cưới có cha giả mẹ giả, mà bà mẹ
không ai khác là dì Hảo. Dì này sau khi để cô Ba Trà vuột khỏi tay mình, bị chồng
bội bạc, chịu cảnh nghèo vô gia cư, vô định sở nên túng thế đến Nguyệt Tiên
Cung tìm cô Ba và được cô dung thứ, nuôi duỡng tử tế.
Về sống với Vương ít lâu, cô Ba Trà mời mẹ và hai em chàng lên ở chung. Cô tìm
được hạnh phúc trong cảnh làm vợ hiền, dâu thảo, và chị dâu tử tế... Nhưng ông
cậu vợ phát giác được tung tích của cô Ba Trà và tung tích cha mẹ giả của cô
nên ông ta xuối mẹ của Vương tìm cách cắt đứt duyên chồng vợ chồng của cô. Thế
là cô ra đi, rồi trở về Nguyệt Tiên Cung với niềm tuyệt vọng. Cô dùng độc dược
để quyên sinh. Đoạn cuối, cô được tỉnh dậy, nhưng tác giả không cho độc giả biết
cô có đưộc cứu sống hay không? Hay là có phải đó là phút hồi dương ngắn ngủi để
rồi sau đó cô khép mắt thả hồn vào giấc ngủ thiên thu? Tác giả để mặc cho độc
giả đoán già đoán non ra sao cũng được
Thật ra, trong tiểu sử của cô Ba Trà, thì cô được cứu sống để rồi rước khách, để
rồi thua bạc nhiêu lần, rồi tự vận mấy phen nữa. Rồi có một lần, cô ăn bạc to.
Lần này cô xuất tiền ra tìm một người chồng trẻ hơn cô rất nhiều tuổi, chẳng những
đẹp trai mà lại có học thức, có tư cách. Anh ta tuổi Thìn, nên cụ Vương Hồng Sển
trong cuốn "Sài Gòn Tả Pín Lù" gọi là Thìn để giấu tên thật của đuơng
sự. Nhưng cuộc sống lứa đôi của cặp vợ già chồng trẻ không bền. Sau đó, Thìn
qua Pháp du học. Còn cô Ba Trà gá duyên với ông Trưởng Tòa Trương Văn Tỷ cũng
thuộc hạng Vương Khải, Thạch Sùng. Cô tiếp tục đánh bạc cho tới khi nhan sắc
héo úa, phải bỏ nhà ông Tỷ và mai danh ở tích ở nơi cùng thôn tuyệt tái bí mật
nào đó. Cho nên từ đó về sau, kẻ quen biết coi cô như bóng chim tăm cá, không
tìm gặp được dấu tích của cô.
Ở bài "Đôi Lời Tác Giả" trong quyển truyện dài
"Cô Ba Trà" xuất bản vào năm 1996, Xuân Vũ cho biết:
Cô Ba Trà sinh năm 1906, cách đây gần 100 năm. Sắc đẹp của cô được các nhà văn
nhà báo mô tả như "Ngôi sao Sài Gòn" (Étoile de Saigon) hoặc
"Huê khôi Nam Kỳ"; người tình của Cô Ba cũng là những nhân vật thật
như các đại điền chủ, đại công tử như cậu Tư Phước Georges biệt hiệu Bạch Công
Tử, con trai quan Đốc Phủ Sứ Lê Công sủng, chủ nhân Cù Lao Rồng ở Mỹ Tho, cậu
Ba Qui biệt hiệu Hắc Công Tử con trai của đại điền chủ Trần Trinh Trạch ở Bạc
Liêu mà Thống Đốc Nam Kỳ goị băng Papa (bố). Bên cạnh hai công tử kể trên còn
có công tử Bích, con chủ nhà băng Đông Dương (chi nhánh Cần Thơ) một người dám
cho cô Ba 70.000 đồng trong lúc lúa 2 cắc 1 giạ. Các đại trí thức như quan tòa
Trần Văn Tỷ, Thầy Kiện Dương văn Giáo, Bác Sĩ Lê Quang Trinh, Nguyễn Văn Áng,
Vua Cờ Bạc chủ các sòng bạc Sài Gòn: Sáu Ngọ v.v... Đó cũng là những nhân vật
lịch sử như cô Ba đã tạo nên những giai thoại được ngưòi đời truyền tụng cho đến
ngày nay.
Sở dĩ tôi nói vòng vo Tam Quốc như vậy là để xin thưa lại một điều này: Viết về
Cô Ba Trà DỄ mà KHÓ. Dễ là vì cốt tượng cũ mỹ nhân đã có sẵn, chỉ cần tu bổ sơn
phết lại là thành bức tượng. Nhưng làm sao cho bức tượng hoạt động, nói năng
như người thật hoặc trở thành người thật? Cũng không khó. Cái khó là mỹ nhân đó
phải là Cô Ba mà không được ai khác. Đọc sách xong, độc giả phải nghĩ đó là cô
Ba chứ không ai khác thì mới được. Người viết tiểu thuyết về Cô Ba - nói nôm
na, giống kẻ chèo đò giữa hai bờ sông, một bên là SỰ THẬT, một bên là BIA ĐẶT
(nói theo văn học là sáng tạo, hư cấu). Phải chèo cách nào cho người ngồi trên
xuồng thấy cây cỏ bên này lẫn đồng ruộng bên kia. Muốn làm cho khách hài lòng kẻ
chèo đò không được đụng bờ bên này hoặc chạm bờ bên kia sẽ bể mũi xuồng, mà phải
luôn luôn chèo giữa dòng.
(các trang 10, 11)
Đúng vậy, Xuân Vũ kiến trúc nhân vật Trần Ngọc Trà thật tinh vi, thật sống động,
dù đôi lúc vì cao ứng anh pha chút xíu cường điệu đi nữa. Nhưng phần cốt lõi,
anh tương đối thành công.
Sau đây là cảnh Tư Nhị giúp Ba Trà đưa bùa ngải vào thân thể:
- ... Còn bùa nầy nữa. Em chỉ chuộc đuợc có một ít thôi, em nhường cho chị. Chị
vén bắp vế lên đi.
- Chi vậy?
- Để em vẽ bùa rồi đeo. Ông thầy ổng không cho một miếng vải dính da em. Ổng vẽ
bùa khắp người em, mà ổng vẽ bằng lưỡi. Lưỡi ổng tẩm ngải chị ơi! Ổng vẽ tới
đâu em nghe nóng rực tới đó, nhứt là ổng vẽ gần tới đây. Em rùng mình, ổng nói
đó là ngải nhập vô mình em rồi.
- Xí, vẽ bùa mà bằng lưỡi, thuở nay tao mới nghe!
- Chị vén bắp vế lên đi, em vẽ bằng tay thôi. Em nói rõ tên tuổi của chị rồi ổng
dạy em để về truyền lại cho chị. Chị hổng tin bùa ngải thiệt hả?
Trà ngồi im. Nhị lại moi thêm một lá bùa, nói:
- Để em đọc thần chú vô bùa thử, chị có tin không?
Nói xong bèn bắt ấn quyết, hớp một hơi khí thổi vào mặt Trà và lâm râm đọc:
Tam nguyên chi hạ, hình ảnh du du
Giai nhân cử bộ giản phàn du du
Ngô lịnh do nhữ vô kế khả câu
Suy khí nhất khẩn, lõa thể xuất tu
Ngô phụng: tam sơn cửu hầu tien sinh luật lịnh niếp.
Xong rồi lấy bùa buộc vào lưng Trà, bảo:
- Chị ngồi yên nghe bùa nhập!
Xong Nhị lập lại câu thần chú đến lần thứ 9 thì Trà bắt đầu thấy ngứa ngáy. Nhị
quơ tay hít thở phù phù vào ngực vào lưng Trà liên tục. Trong chốc lát Trà vùng
đứng dậy chầm chậm cởi lưng nút áo, tuột áo vứt xuống đất rồi ôm chầm lấy Nhị.
Nhị tiếp tục đọc thần chú và làm phép... Chỉ một thoáng sau, Trà hoàn toàn lõa
thể và làm những cử chỉ ân ái với Nhị như với nam giới. Nhị thấy thân hình Trà
tuyệt diệu thì vồ vập và rên rỉ:
- Chị ba ơi! Sao chị đẹp làm vầy! Em còn phải mê huống hồ đàn ông! Chị để em thưởng thức chút nghe! Kẻo để người ta chiếm hết thì uổng quá!
Và Nhị ắt đầu vẽ bùa theo kiểu ông thầy. Từ trên núm cặp đào tiên xoáy vòng khu
ốc hồi lâu rồi vạch một đường ngoằn ngoèo xuống đúm cỏ xanh ngăn ngắt và dừng lại
hai mép ngọc tuyền. Trà đang đê mê bỗng kêu lên:
- Em làm... gì vậy... Nhị?
- Chị để e... em coi chú... út!
- Coi cái gì?
- Coi chị có ngọn "cỏ hồng" mọc ngược như của em không?
- Cỏ gì mọc ngược?
- Chị mở mắt ra coi nè...! Chị không có "cỏ hồng" nhưng có nốt ruồi ở
một bên, thấy chưa?
- Thôi đi! Mày làm tao phát khùng lên! Buông tao ra!
Miệng Trà nói vậy nhưng tay lại ôm đầu Nhị không buông, nên Nhị cứ tấn tới.
Nàng nói:
- Con Quế Anh nó có nốt ruồi bên trái, còn chị bên phải. Em không biết nó nghĩa gì ? Để bữa nào em đi hỏi mấy ông thầy tướng.
(các trang 417, 418)
Cái pha hai cô danh kỹ từ trước đã giao hợp với đàn ông, bây giờ làm tình với
nhau thì đối với độc giả hơi vô lý. Nhưng mà vào Thời Đại Mỹ Lệ (thập niên 10 của
Thế kỷ 20), hai nàng danh kỹ thượng thặng là Liane de Pougy và Émilienne
d'Aleçon đã từng ăn nằm với các vua chúa, các nhà quý tộc, các kỹ nghệ gia Mỹ
thuộc hạng tỷ phú, triệu phú. Thế mà họ có nhiều dịp ăn nằm với đàn bà. Có thể
họ là những kẻ lưỡng tính luyến ái (les bisexuelles) chẳng những xơi tái đàn
ông mà còn thiếm xực cả đàn bà. Có lẽ ở thể chất họ có cái gène dị tính luyến
ái (l'hétérosexualité/ thích làm tình với kẻ khác phái tính) và có luôn cái
gène đồng tính luyến ái ( l'homosexualité/ thích làm tình với kẻ đồng phái
tính) chăng? Dù gì thì dù, đây là thứ cường điệu thật dễ thương, pha một chút
huơng vị nồng mặn của tình dục.
Ngoài ra, cuộc sống tình cảm, tính nết, nhân sinh quan của nhân vật Ba Trà đều
được tác giả khai thác chăm chút. Xã hội hoặc nghiệp lực gì đó đã đưa đẩy cô
vào xã hội ăn chơi trác táng, nhưng thật ra cô la người phụ nữ có thiên lương
có tấm lòng rộng rãi với kẻ giúp việc, với người khốn khó. Ngoài ra, cô không
thù dai những kẻ xô cô vào cạm bẫy đoạn trường, không oán cha oán mẹ dù mẹ cô
đày đọa cô rồi bán đứng cô. Lúc nào cô cũng muốn về sống với mẹ. Trong truyện,
Xuân Vũ thêm một vận sự như sau: có một ông già đến nhận là cha thật của cô.
Đương sự vốn là bạn của cái người gọi là chồng đầu tiên của mẹ cô Đương sự say
mê mẹ cô khi mẹ cô chưa xuất giá. Rồi vì thấy người mình yêu trở thành vợ của bạn
mình nên đương sự tức tối muốn chiếm đoạt lại mẹ cô nên dùng bùa ngải cốt để
gây cho vợ chồng mẹ cô xào xáo nhau, rồi dụ dỗ mẹ cô bỏ nhà theo đương sự.
Nhưng bùa ngải vô hiệu nghiệm nên đương sự dùng thơ nặc danh để phá cuộc hôn
nhân của mẹ cô. Ở đây, tác giả thuật chuyện rất mơ hồ, độc giả không hiểu đương
sự làm cách nào để giao hợp với mẹ của cô Ba Trà và để bà sinh cô ra vì bùa ngải
vô hiệu nghiệm, mẹ cô đâu có dịp nào gặp đương sự. Tuy nhiên, đương sự tìm gặp
cô Ba Trà để thú tội ăn năn trước khi dọn linh hồn chờ ngày chết thì vẫn được
cô tha thứ, được cô gọi bằng ba và được cô chầm lấy khóc sướt mướt. Như vậy, dù
là kẻ chỉ biết đục đẻo tiền bạc của khách làng chơi, nhưng cô vẫn là người có tấm
lòng vàng ngọc, có tâm hồn bao la, có trái tim mẫn cảm.
Ngoài ra, cô Ba Trà là kẻ biết người biết ta, có sự công bình từ trong tư tưởng
ra ngoài hành động. Sau đây là câu chuyện tâm tình giữa Ba Trà và Tư Nhị sau
chuyến Ba Trà đi viếng thăm Hà Nội trở về Sài Gòn:
Trà vui vẻ trở lại:
- Ở ngoải có nhiều người đạp ghê mầy à!
- Mấy người mà nhiều?
- Để coi nè! Cô Bạch Yến, cô Thục Oanh, cô Thái trắng Lô Lô, cô Bùi Tuông, cô
Chinh, cô Mường Vin. Nhưng tao cho rằng cô Đốc Sao đẹp nhất. Tao chưa thây ai đẹp
bằng.
- Đẹp như thế nào? Đẹp bằng chị không?
- Tao chỉ đứng dưới gót người ta thôi. Nét đẹp của chỉ tao không nói được.
- Sao không rủ bả vô trong nầy nhập bọn với mình cho vui?
- Người ta có chồng con, ai đi lang thang như mình mà rủ? Gặp chỉ tao hết muốn
cái cảnh nầy rồi.
- Bộ chị muốn chồng lắm hả?
- Con quỷ nầy!
- Thì thộp ông Hoàng Xiêm La đi. Muốn chồng mà ai cũng chê hết ráo!
- Không phải tao chê mà người ta có vợ.
- Vậy mấy cậu Ba, cậu Tư, thầy Sáu không có vợ sao?
- Mấy ổng có đòi cưới tao bao giờ đâu! Họ chỉ xạo qua đường.
- Chị hổng chịu sao chị cứ đi chơi với người ta hoài?
- Đi thì đi, bộ mầy tưởng hễ đi với ai là ưng người đó làm chồng à?
- Vậy ông thầu khoán muốn cưới chị, cất nhà, mua nhà hàng cho chị thì sao?
- Ổng mua nhà hàng, xây nhà cho tao là vì ổng muốn dùng tay tao hốt bạc cho ổng,
hơn nữa ổng cũng có vợ con dùm đề rồi chớ phải tay trơn đâu mà tao nhào vô!
- Thì chị bảo ổng thôi vợ phức đi!
Trà lõ cặp mắt:
- Chuyện thất đức như vậy mà mầy bảo tao làm à? Hồi trước chồng tao có vợ bé tao biết ghen, tao tìm tới ẩu đả một trận, bây giờ tao lại đi quơ chồng
người ta sao? Của mình ôm tro tro, của người lấy mo mà hốt. Ở đời sao có chuyện
lạ vây?
- Chị đi ngoài đó kỳ nầy bị ông nào bỏ ngải rồi, nên ca Xàng Xê câu nào cũng đâm hơi hết.
(các trang 423, 424)
Viết một quyển tiểu thuyết một ngoại sử hay một quá khứ có thật, Xuân Vũ cũng
đã tốn công tra cứu biết bao tài liệu lịch sử Xin đọc ở trang 490 tức là trang
cuối của quyển "Cô Ba Trà", chúng ta sẽ thấy những gì đã cung cấp cho
tác giả hoàn thành văn phẩm ấy?
Chân thành cảm tạ các vị cho tôi nguồn tài liệu phong phú sau đây để viết quyển
sách này:
1 -"Nam Hải Dị Nhân" của Phan Kế Bính,
2 -"Hơn nửa đời hư" của Vương Hồng Sển,
3 -"Năm mươi năm mê hát" của Vương Hồng Sển,
4 -"Sài Gòn tả pín lù" của Vương Hồng Sển,
5 -"Nam Kỳ lục tỉnh I" của Hứa Hoành,
6 -"Nam Kỳ lục tỉnh II" của Hứa Hoành,
7 -"Nam Kỳ lục tỉnh III" của Hứa Hoành,
8 - "Nam Kỳ lục tỉnh IV" của Hứa Hoành,
9 - "Sau bức cấm thành nhà Nguyễn" của Hứa Hoành,
10-"Bùa mê ngải lú" của Lê văn Lân,
11 "Văn minh miệt vườn" của Sơn Nam,
Và thơ riêng của Hứa Hoành, Hồ Trường An, Lê văn Lân.
Tôi không biết nhà văn Nguyễn Triệu Luật khi viết "Bà Chúa Chè" (tức
là Tuyên Phi Đặng Thị Huệ), "Chúa Trịnh Khải" cùng nữ sĩ Mộng Tuyết
Thất Tiểu Muội khi viết "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp" (tức là bà Nguyễn
Phù Cừ, sủng thiếp của Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tứ) lấy tài liệu ở đâu mà viết
thật sống động từ bối cảnh lịch sử, đến chuyện trong triều chính, trong quân
cơ, trong lễ lạc tế đàn, trong thâm cung lẫn trong hương khuê tú các. Nguyễn
Triệu Luật và nữ si Mộng Tuyết viết tỉ mỉ hơn, văn chuơng hơn anh Xuân Vũ. Bất
cứ chi tiết lịch sử nào khi được họ miêu tả cũng được chăm sóc kỹ lưỡng và đào
sâu hơn. Việc làm của họ cũng giống như việc làm của nữ sĩ Kathleen Windsor
(người Anh) khi viết quyển "Ambre" ("Nàng Hổ Phách"). Bà nữ
sĩ này đã bỏ ra hằng năm sưu tầm và nghiên cứu tài liệu lịch sử và bối cảnh dưới
triều đại vua George Đệ Nhị của Anh Quốc.
Tài liệu trong quyển "Cô Ba Trà" qua các biến chuyển, các vận sự quá
tươi rói, quá phồn thịnh, nhưng hơi tiếc một điều là Xuân Vũ trám vào sách quá
nhiều cuộc đối thoại dí dỏm, những vận sự trào lộng nên không có thời giờ đào
sâu và mổ xẻ những điều thâm thúy một cách chi ly, tỉ mỉ.
Vào thập niên 10 ở Sài Gòn hoa lệ, ngoài cô Ba Trà là nữ hoàng trong hàng danh
kỹ, còn có thêm 3 vương hậu trong giới ăn chơi (société demi- mondaine) như Tư
Nhị, Hai Thời, Sáu Hương. Nhưng Xuân Vũ chỉ nói tới cô Marianne Tư Nhị, tuy
nhiên trong tác phẩm của Xuân Vũ, vai trò cô Tư chỉ là vai phụ, không mấy đặc sắc.
Cô ta theo phò tá cô Ba Trà, cười đùa giỡn hớt nhộn nhàng mà không có cuộc sống
riêng tư, không có một tiểu sử huy hoàng trong việc chài bẫy các vương tôn công
tử. Ngoài ra, Xuân Vũ còn thu hẹp vai trò của cô Tư Ăng-lê. Cô ta vẫn còn có một
cuộc sống riêng tư rất sôi nổi, làm tổn thương biết bao con tim say mê cô ta. Bằng
cớ là Bạch Công Tử Phước Geoges ăn ở với nữ minh tinh kịch trường Bảy Phùng Há,
sau đó say mê cô Tư Ăng-lê, không ngó ngàng tới gánh hát Huỳnh Kỳ mà ông ta gầy
dựng cho cô Bảy. Ông ta bỏ mặc luôn hai đứa bé gái song sinh của ông ta và của
cô Bảy đang vật lộn rồi đầu hàng với Tử Thần trong cơn bịnh thương hàn. Khi Nhật
đảo chính Pháp để chiếm ĐôngDương, Cô Tư Ăng-lê cặp xách với nhiều công chức
cao cấp cùng các tướng cá tá của Nhật.
Nhân vật Quế Anh vẫn là một gái giang hồ phóng đảng, tuy thuộc hạng tân học, lại
biết làm thơ thất ngôn bát cú một cách rựa ràng. Nhưng nhan sắc cô ta chỉ giúp
cô ta quyến rũ các công chức bậc trung thôi. Nếu không nhờ một thời dan díu với
học giả Vương Hồng Sển, được họ Vương đua vào quyển "Năm Mươi Năm Mê
Hát" thì làm sao có ai biết tới cô ta?
Dù gì thì dù, đã là viết tiểu thuyết, tác giả có thể bỏ người này, viết thả
giàn cho người kia. Nhưng một khi đã biến họ thành nhân vật trong tác phẩm
mình, thì tác giả phải chăm sóc họ, ban cho họ một đời sống đặc thù, dù họ là
nhân vật chánh hay nhân vật phụ đi nữa. Độc giả sành điệu sẽ rất tiếc không được
theo dõi hành trình của cô Tư Ăng-lê, của cô Marianne Tư Nhị hay của cô Quế
Anh. Trừ cô Tư Ăng-lê ra, Marianne Tư Nhị và Quế Anh vì quá truy hoan trác táng
nên hương sắc chóng phai tàn. Cô Tư Nhị phải đi ăn mày, tay chân đầy ghẻ lở.
Còn cô Quế Anh trở nên khật khùng, nhưng cô vẫn còn sáng suốt, không trở lại
ông Vương Hồng Sển để được ông bao che, đùm bọc. Cô sợ cuộc đời lầm lỡ xấu xa của
mình phương hại đến cuộc đời vẻ vang của người yêu nên cô rời khỏi Sài Gòn và
chui rút ở một xó xỉnh tối tăm nào mà giới phong lưu của thủ đô hoa lệ Sài Gòn
không tìm gặp dấu tích.
Trong quyển tiểu thuyết "Cô Ba Trà", tác giả chỉ lấy 3 phần 4 cuộc đời
của cô đưa vào sách. Có lẽ vì mải mê theo dõi chuyện ngồi lê đôi mách của các
cô bán phấn buôn hương, chuyện ngải nghệ, chuyện bài bạc khá dài nên tác giả
đành phải chấm dút khi quyển sách leo lên tới gần 490 trang. Trong quyển
"Gone With The Wind", bà Margaret Mitchell cũng đã làm thiên hạ sốt
ruột qua những loại chuyện ngồi lê đôi mách dài dòng, nhất là chuyện châm chích
cãi lẫy nhau giữa chàng Rhett Butler và cô nàng Scarlette O'Hara vốn là hai
nhân vật chánh nên không khí lẫn khí hậu cốt truyện loãng mất tánh chất nghệ
thuật đi. Tác giả "Cô Ba Trà" cũng đi theo ít nhiều dấu vết nữ sĩ
Margaret Mitchell, nhưng các cuộc ngồi lê đôi mách của các nữ nhận vật của anh
tuy có làm độc giả sốt ruột thật đấy , nhưng ít ra chúng cũng còn có thể giúp họ
ít nhiều kiến thức về cuộc sống bí mật của các cô gái chơi bời.
Ngoài ra, tác giả Xuân Vũ quên công việc tái lập một Sài Gòn của giới ăn chơi
phóng đảng vào thập niên 20, 30 với Cột Cờ Thủ Ngữ (nơi tụ họp các nhà báo, các
giới phong lưu đến uống rượu), như Lăng Tô, suối Xuân Trường, hồ tắm An Đông,
tiệm bách hóa Charner... là những nơi các dân trưởng giả du hí và mua sắm... Lại
còn có xe điện (le tramway), xe kiếng (xe có cửa kiếng) do con ngựa kéo, xe
xì-gà thuộc loại thể thao của nhân vật Hoàng Ngọc Ẩn trong cuốn tiểu thuyết
trinh thám "Châu Về Hiệp Phố" của Phú Đức nữa chi.
Cô Ba Trà sống oanh liệt trong xã hội mông-đen tức là trong
xã hội ăn chơi xài tiền như nước của giới thượng lưu vào thập niên 20 của thế kỷ
20. Bên Pháp, thời nhân gọi là Những Năm Điên Cuồng (Les Années Folles), nhưng
các cô danh kỹ trên đất Pháp không còn hoạt động lẫy lừng nữa.
Những nàng danh kỹ của nước Pháp nói riêng, của Âu Châu nói chung có Trà Hoa Nữ
(la Dames aux Camélias, tên là Alphosine Plessis) dưới triều đại vua Louis
Philippe, có Cora Pearl, Giulia Barucci, Mogador, Blanche d'Atigny, Anne Deslions,
Alice Orzy, Valtesse de la Bigne vào thời Đệ nhị Đế Quốc do Hoàng Đế Napoléon Đệ
Tam trị vì. Bước sang thời Đệ Tam Cộng Hòa thì đã có Liane de Pougy, Caroline
Otéro, Emilienne d 'Aleçon, Lina Cavalieri... Những danh kỹ cầm bút viết văn,
làm thơ đã có Mogador, Valtesse de la Bige, Liane de Pougy (văn) Émilienne
d'Aleçon (thơ). Caroliene Otéro nổi danh ca múa, Lina Calieri là một nữ danh ca
có tài nghệ căn bản... Tuy nhiên các nàng viết văn làm thơ chỉ đứng ngoài vòng
văn học sử nước Pháp. Riêng hai nàng danh kỹ Trung Hoa vào thuở Thịnh Đường là
Tiết Đào và Ngu Huyền Cơ chẳng vạn cổ lưu phương trong lịch sử thi ca mà còn
gây biết bao truyền kỳ và huyền thoại cho các phong lưu tài tử hậu thế trong buổi
trà dư tửu hậu.
Ba Trà, Tư Nhị, Hai Thời, Sáu Hương, Tư Ăng-lê chẳng có tài nghệ gì trong giới
văn học nghệ thuật. Nhưng họ đã gợi hứng cho Hồ Biểu Chánh tạo ra nữ nhân vật
Hai Thục trong quyển tiểu thuyết "Nợ Đời", cho Phú Đức tạo ra nữ nhân
vật Lệ Thủy trong cuốn "Châu Về Hiệp Phố", Sim Xờ Rây trong cuốn
"Bách Si Ma Hiệp Liệt", cho Lê Văn Trương tạo ra nữ nhân vật tên Nữ
trong "Một Trái Tim".
Cuộc đời của cô Ba Trà đã được Vương Hồn Sển và Hứa Hoành viết theo kiểu biên
chép. Nhưng chính Xuân Vũ mới chính thức đưa cô vào quyển tiểu thuyết, không
thay tên đổi họ cô, làm sống lại khá nhiều biến cố trong cuộc đời cô song song
với các vận sự hư cấu để tiểu thuyết hóa một tác phẩm hiện thực. Và chính ở quyển
"Cô Ba Trà", nhà văn Xuân Vũ lột trần ít nhiều cái mặt nạ huy hoàng
đã từng ngụy trang cái xã hội ăn chơi tàn nhẫn và điếm nhục của giới thượng lưu
vào thập niên 20. Đó là cái xã hội phù phiếm u mê, mà kẻ lặn ngụp trong đó
không đếm xỉa gì đến tổ quốc dưới ách đô hộ của Thực dân Pháp.
Chương Ba
Phi Vân, nhà văn mở rộng dải đất tân bồi
qua tập truyện phong tục "Đồng quê"
Độc giả khó tính thường cho rằng văn chương các nhà văn gốc
Nam Kỳ như Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu (còn có bút hiệu Mộng Huê Lầu), Hồ Biểu
Chánh, Bửu Đình 1, Phi Bằng Cao Minh Chiếm, Nam Đình, Phú Đức viết
tiểu thuyết phi văn chương. Họ chỉ kể truyện chứ không dựng những khung cảnh sống
thực trong tác phẩm của mình, cho nên họ không thể là những nhà văn đúng nghĩa,
đúng mức. Thế có nghĩa là họ là những người kể chuyện (les narrateurs) hay người
biên chép (les chroniqueurs). Những cái tai hại đó Nguyễn Ngọc Ngạn, Võ Kỳ Điền
đã từng vấp phải. Cả Kiệt Tấn trong truyện dài độc nhất "Lớp Lớp Phù
Sa"cũng chưa dựng được những khung cảnh nơi Cột Cờ Đỏ (Bạc Liêu), nơi mà
đương sự mở mắt chào đời.
Vào năm 1943, Hội Khuyến Học Cần Thơ có trao giải thưởng cuộc thi văn chương
cho cuốn "Đồng Quê" của Phi Vân. Nhưng tác giả khiêm tốn cho rằng đây
là những bài phóng sự và tiểu thuyết phóng sự của mình góp chung thành một tập.
Dù thể loại của tác phẩm ra sao đi nữa, nhưng "Đồng Quê" vẫn
là tác phẩm văn chương đúng nghĩa. Nó đã từng khai sáng cho văn chương đất nước
Nam Kỳ, mở đầu cho những cây bút lừng danh sau này như Bình Nguyên Lộc, Sơn
Nam, Lê Xuyên, Vân Trang 2, Nguyễn Thị Thụy Vũ... Đây là một tác phẩm
phong tục có thể đương đầu với các tác phẩm phong tục của Nguyễn Công Hoan, Tô
Hoài, Trần Tiêu, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư vào thời tiền chiến trên đất Bắc.
Phi Vân có dựng khung cảnh lẫn bối cảnh lịch sử cho tác phẩm mình. Anh còn soi
rọi tâm tình, cá tính các nhân vật bằng những nét khái quát. Nhưng những nét tạo
hình của anh, những diễn tả nội giới các nhân vật của anh vẫn đập mạnh vào ấn
tượng độc giả, mở con đường rộng để cho họ nhìn vào cái thế giới mường tượng
bao la của họ.
Xin đọc một đám rước dâu bằng đò máy trong truyện ngắn "Trao Thân Con Khỉ
Mốc":
Tàu chạy hôm nay là hai hôm rồi: sông Ông Đốc, kinh xáng Bà Kẹo, Đầm Cùn, kinh
xáng Thọ Mai, nhưng xóm Kiến-Vàng hãy còn xa lơ xa lắc.
Họ đàng trai đã mệt nhọc ngồi trong chiếc tàu chật hẹp. Người ta đã ăn ba lượt
bánh mì với thịt quay mua ở Cà Mau. Chú rể ngày đầu còn khăn đóng áo dài, hôm
sau đã cổi dẹp qua một bên, mặc chiếc áo thun giả ngồi ở truớc mũi tàu ngong
ngóng, thỉnh thoảng vươn vai hít không khí rồi cú rủ nhìn lũ trẻ trong xóm chạy
theo tàu trên bờ sông vỗ tay reo: "Ê! Đám cưới!...
"Đi họ"còn có ba cô gái: áo tím, áo xanh, "bọt -đê" dài thườn
thượt.
Các cô tỉ-mỉ từng chút, luôn sẽ nhặt sống áo và lai quần hàng thẳng bóng để đôi
giày cuờm khỏi vương mà làm lấm hư đi.
Hôm xuống tàu, ba cô chọn một chỗ sạch, ngồi nói chuyện với nhau khe khẽ, ai mời
gì cũng từ chối, thỉnh thoảng đưa cái bóp đầm lên soi kiếng, sửa lại cái vành
môi.
Nhưng hôm nay ông Chánh Khá đã vắt cái áo đen trên vai và gói cái khăn đóng lại;
ông chủ hôn Cai Sót đã nằm ngáp trên chiếc sập con, thì các cô đành chia nhau
ăn mấy khúc bánh mì còn sót lại.
Son môi đã hoen ố, phấn trên má cũng phai đi từng khoảng. Chiếc khăn mù soa đã
được nằm trong túi, không còn đeo đẳng với tay nữa. Vì hai bên bồ, rừng tràm và
dừa nước, muỗi nó kêu vang như khát máu, đập bằng tay có hiệu nghiệm hơn, chớ cầm
khăn mà chặm chặm thì nó không thấm tháp vào đâu cả. (các trang 36, 37)
Cũng xin đọc luôn tâm trạng người tù trở về quê quán trong đoạn kết của phần tiểu
thuyết. Đây là nhân vật tá điền xưng tôi can tôi giết cường hào ác bá.
Năm năm tù và mười năm biệt xứ không dài bao nhiêu, nhưng nó thay trọn cuộc đời
tôi. Tôi muốn người ta cho tôi ngồi trong khám mãi để mà quên đi, quên biệt,
còn hơn cho tôi trở về với người đời.
Năm năm trong tù, tôi học rành chữ quốc ngữ và mon-men được chút đỉnh chữ Tây.
Mười năm biệt xứ khiến tôi có dịp dày dặn với cuộc đời và nới rộng tầm con mắt.
Tù hạn trả xong, tôi lần về làng cũ. Cảnh vật không còn như xưa nữa. Ông và bà
thầy pháp đã vào cảnh Tiên, Phật; thằng Út đi theo cải lương, con tám Én đã có
chồng với một dọc con dài, chồng nó là thằng tư Bồ.
Tôi cất tạm một căn nhà trên hòn Đá-bạc. Ở đó, ngày ngày nghe tiếng gió thét sống
gầm mới an ủi được lòng tôi.
Và chiều chiều, khi vừng thái-dương sắp chìm vào nước biển, tôi leo lên một mỏm
đá cao chót-vót đứng nhìn về phía đất liền.
Sau rặng cây xanh bên ấy, chạy dài đồng nầy sang đồng khác. Trong những đồng rộng
mênh-mông, hiền-lành đó, ẩn-trú biết bao nhiêu là tá điền, chủ điền...
Mà thôi, dĩ vãng đã chết, còn nhắc lại làm gì nữa!...
Họ không phải là người gây nên tội ác, họ chỉ là nạn nhân của một hoàn cảnh
xã hội và của một thời kỳ. (các trang 233, 234)
Phi Vân có một bút pháp dí dỏm và lôi cuốn. Nó đượm hơi hướm ngôn ngữ của các
cô thiếu nữ ưa chót chét xí xọn rất duyên dáng, của các thím, các mợ đỏng đảnh
dễ thương, của các bà già trầu tía lia tuy đắng ngoài mà lại ngọt trong, của
các bợm nhậu khề khà bộc trực, của các ông già ống vố ó đâm nhưng cận nhân tình
thế sự.
"Đồng Quê" gồm có 2 phần: phần đầu là "Phóng Sự Ngắn", phần
thứ hai là "Tiểu Thuyết Phóng Sự". Nhưng dù là lối diễn tả của
Phi Vân tuy gảy gọn, tuy không chuốc lọc, nhưng rất gợi hình lẫn gợi tình. Đây
là một tác phẩm văn chương được xếp loại vào truyện ngắn phong tục và tiểu thuyết
phong tục.
Phần truyện ngắn phong tục gồm có những bức tranh đồng quê thuộc loại tả
chân hoặc thuọc loại hoạt kê gồm những nét hí họa lẫn biếm họa.
* Hai truyện ngắn"Muốn Ăn Trứng Nhạn" và "Tiếng Hò
Trong Đêm Vắng": viết về bọn cướp trên sông rạch, nhắm vào những chuyến thủy
trình của lương dân. Truyện đầu xảy ra trong dịp đám cưới rước dâu bằng ghe
thuyền. Truyện thứ nhì trong dịp hai chiếc ghe hò đôi đáp trên sông, ghe cô gái
là ghe bọn cướp, ghe chàng nam nhân là ghe thương hồ.
* Hai truyện ngắn"Đổng-Trác Biết Sập Giàn" và "Chợ Hay
Quê,": viết về các gánh hát bội địa phương khi họ trình diễn vở tuồng
"Phụng Nghi Đình". Truyện đầu vì khán giả chen chúc trên sân khấu quá
đông nên giàn phải sập. Nam nghệ sĩ đóng vai Đổng Trác phải ngưng diễn tuồng để
hét la báo động. Ở truyện thứ hai, cô đào chánh đóng vai Điêu Thuyền bị mang
thai nên có cô đào khác kém sắc hơn thay thế nên bị một khán giả thuộc loại hàm
hồ kêu lên: "Ê! Cái mặt Chung Vô Diệm". Cô đào thay thế kia liền tạm
ngưng trình diễn, trả đũa liền: "Xin lỗi quý ông quý bà, khốn nạn cái anh
nào nói tôi là Chung Vô Diệm!".
* Hai truyện ngắn "Châu Xương Cử Thanh Long Đao!" và "Ông
Tướng "Thầy Ba": Ở truyện đầu tác giả phơi bày chuyện mê tín của
dân quê. Có ông ở Rạch Cóc xưng là xác của mình được hồn của Đức Quan Thánh Đế
Quân (QuanCông) nhập vào để trị bịnh tà ma cho bá tánh. Mỗi khi trong nhà có kẻ
ngã bịnh, gia chủ luôn nghĩ rằng bịnh nhân bị vong linh tà má quấy nhiễu nên rước
y ta về nhà để đuổi tà ma ra khỏi thân xác người bịnh. Cứ mỗi lần rước y ta về
nhà như thế, gia chủ phải nạp cho y ta một con heo quay nặng đúng một tạ. Tên
Năm Quấy (bạn của tác giả) biết y ta mị dân dối thế để bóc lột dân quê nên thừa
lúc y ta xưng là hồn Quan Công nhập xác để múa đao nên Năm ta cũng nhảy vào,
xưng là hồn Châu Xương (tùy tướng của Quan Công) nhập xác mình. Rồi Năm ta huơi
đao múa loạn xạ nhưng đẹp mắt như Sơn Đông mãi võ, và thì thầm với xác Quan
Công đòi chia hai con heo và được ông xác kia phải nhượng bộ.
Ở truyện thứ hai, Năm Quấy được thể, nhảy ra làm thầy pháp trị bịnh con nít lẫn
người lớn vì theo y ta thì các bịnh nhân bị "con sát" hoặc "con
trùng" (thuộc loại tà thần ác quỷ) khuấy phá. Hắn bảo rằng nhờ có
"ông tướng thầy ba" mà y có thể chữa cho các nạn nhân lành bệnh.
Nhưng khi chữa trị cho một nữ bệnh nhân, Năm Quấy động lòng dơi dạ chuột, trổ
thói dê đực ôm siết cô ta, bị cô ta phang guốc lên đầu. Thế là Năm Quấy cùng
tác giả nhục nhã, phải bỏ làng Rạch Cóc để đến chỗ khác tha phương cầu thực.
* Truyện ngắn "Trao Thân Con Khỉ Mốc": đây là một vụ cưới gả khá
phức tạp; ông trưởng tộc đằng gái làm khó, bắt chẹt đàng trai trong giờ rước
dâu đủ mọi điều. Cho nên ông Hương Ba (rể phụ) sau phần lạy họ, bảo ông tộc trưởng
tộc đằng trai xin kiếu từ ra về liền, không cần ở lại ăn tiệc. Cho nên khi cô
dâu chú rể lễ lạy vừa xong, đằng trai quây quần hộ tống cô dâu xuống tàu thủy
ra về. Ông tộc truởng đàng gái tru tréo bảo phải đợi làm lễ trao thân gởi phận
xong đã... Chàng rể phụ Hương Ba khi cùng đằng trai và cô dâu sau khi xuống
tàu, trả lời cộc lốc: "Trao thân con khỉ mốc!".
* Truyện ngắn "Cành Tre Cũ Cặp Giò Xưa": Trong đêm tối, nghe bên
nhà ông điền chủ Bá có tiếng báo động: "Ăn cướp! Ăn cướp!", nhân vật
xưng tôi núp sau bụi bông phướn, khi thấy bóng đen chạy đến anh ta bèn dùng
cành tre quất mạnh vào giò đương sự. Nhưng đó không phải là kẻ gian phi mà là
cô con gái anh Bá. Nhân vạt xưng tôi đành cõng cô ta về nhà để cô ta dưỡng thương,
chờ coi tình hình động tịnh trong xóm ra sao. Thì ra ông Bá lợi dụng thằng Tư Rổ
ở rể để bắt nó làm tôi tớ không công suốt một thời gian dài rồi đuổi nó đi,
không chịu gả con cho nó. Tức quá, nó xông vào nhà, hăm dọa giết ông rồi bắt cô
con gái ông theo nó. Nhưng khi cô gái vừa chạy ra khỏi nhà thì bị nhân vạt xưng
tôi dùng cành tre phang vào chân té quỵ. Nội vụ được giải ra thầy hương quản, rồi
được giải lên quận để phân xử. Cô gái không hề hé răng khai rằng mình bị nhân vật
xưng tôi đánh nặng. Nhưng từ đó hễ gặp nhân nhân vật xưng tôi là cô gái cười
chúm chím rất ngụ ý ngụ tình làm anh ta phải bỏ làng ra đi. Có lẽ anh ta sợ
mình sẽ gặp hoàn cảnh éo le của thằng Tư Rổ chăng?
* Truyện ngắn "Đạo": Trong bữa tiệc rượu, ông Chủ vốn là nhà Nho
lỡ vận cùng Phó Xã Việt bàn bạc và giải thích chữ ĐẠO. Họ có nhiều ý kiến lẫn
kiến thức khác nhau Họ giai thích chữ ĐẠO bằng cách chiết tự, và moi móc những
ý nghĩa ẩn mật thâm thúy trong chữ ấy. Các thính giả dần dà ngấm men say, nghe
riết rồi lăn đùng ra ngủ mê mệt. Riêng ông Chủ cho nhập cảng rượu và mồi nhắm
vào miệng không hiểu ít hay nhiều trong lúc giải hích chữ ĐẠO, nhưng vào lúc mọi
người đang ngáy ồ ạt thì ông cho mấy thứ vào mồm lúc nảy xuất cảng ra hết ngoài
cửa khẩu. Chuyện có vẻ đơn giản, nhưng rất ngậm ngùi thời mạt điệp của giới
đàng cựu nói chung, của Nho học nói riêng.
* Truyện ngắn "Quỷ Vương": Trong cách dựng truyện, vấn đề thời
điểm vẫn là vấn đề then chốt. Ở đây, tác giả chỉ nói tới "điểm" tức
là làng Thới Bình bên dòng sông Trẹm, Nhưng về vấn đề "thời" thì câu
chuyện xảy ra trong khoảng thời gian mù mịt. Thường ông già bà cả Nam Kỳ hay bảo
nhau lúc Việt Minh (cái tên đầu tiên của Cộng Sản ở Việt Nam) ra đời là thời Quỷ
Vương lộng hành có nắng lửa mưa dầu. Đêm đêm, chúng gỏ cửa xét nhà rồi bắt người
(hào phú, địa chủ) cho mò tôm (một hình thức thủ tiêu). Chuyện đó xảy ra trước
khi Nhật rút lui khỏi Đông Dương và Việt Minh lên nắm chánh quyền. Đó cũng là
lúc Việt Minh tuyên truyền truyền dân chúng ở đô thị lẫn ở thôn quê nếp sống tự
do dân chủ. Tuy nhiên, tác giả không nói rõ khoảng thời gian ấy.
Quỷ vương ghé lại chợ Thới-Bình với gương mặt đầy kiêu hãnh.
Làng Thới Bình không còn vang lặng như xưa.
Người ta lấy làm lạ sao thằng Chột con ông Bính đổi tên là Hoàng Hoa, lần lần
thằng Phinh cháu ông Phó Tám đổi tên là Tuấn Nghĩa, thằng Tích em Tuần Danh là
Vân Mộng, cho đến con Đẹt con gái chú Phồi cũng xưng là Thúy Liễu và con Út con
ông Phó Cao là Kiều Nga.
Chúng thường đi cặp từng năm lũ ba thả rểu quanh chợ bất cứ đêm ngày, và hễ gặp
nhau là cúi đầu rất sâu, chìa tay ra siết chặt:
- Vân Mộng xin kính chào Kiều Nga!
Hay:
- Thúy Liễu nầy đa tạ huynh ông Tuấn Nghĩa!
Rồi họ cùng nhau bàn-tán vang trời những tiếng Văn-minh, Hủ-lậu, Nữ-quyền, Giác
ngộ v.v... (các trang 86, 87)
Cái văn minh tân tiến của bon Quỷ Vương địa phương làm gai mắt phụ huynh của
chúng. Nên thừa lúc bọn chúng tụ họp đàn đúm với nhau, họ xông vào đánh tan
chúng như phá nát chòm ong lũ kiến. Từ đó làng Thới Bình trở lại nếp sống hiền
hòa yên tĩnh.
*Truyện ngắn: "Các Trò Ơi, Thầy Phen Nầy Thọ Tử": Câu chuyện xảy
ra thuộc ấp Kiến Vàng, làng Tân Hưng Đông. Nhân vật xưng tôi đến dạy học tại
đây gặp lũ học trò tinh ma quỷ quái, thạo chuyện bắt chim và các loài bò sát (ếch,
rùa, rắn, kỳ nhông, rắn mối). Chúng còn giỏi nghề bắt cá. Như thế, trên đất hoặc
dưới nước, nơi nào cũng để cho chúng săn tìm món ăn phong phú ê hề. Sau bao
phen bị chúng thử thách tài nghệ trên đất duới nước, đương sự khắc phục được
chúng và chúng coi anh ta như Tổng tư lịnh. Nhưng trong dịp săn được con heo rừng
có thai, tai họa lại đến. Thai heo được các cụ Nam Kỳ ta gọi là heo hà nàm, được
móc ra tiềm với thuốc Bắc cho nhân vât xưng tôi tẩm bổ. Nhưng khi ăn xong, anh
ta ngã bịnh, tưởng toi mạng nên trối trăn với bọn đồ đệ của mình. Tuy nhiên,
khi bọn học trò rước lang y trị bịnh cho đương sự thì mới hay heo hà nàm là món
thuốc bổ, có tánh hàn. Đương sự ăn thứ đó không tiêu, lại uống rượu nhiều. Rượu
và thai heo kỵ nhau nên đương sự mới thọ bịnh như thế.
* Truyện ngắn "Sanh Nghề Tử Nghiệp": "Mét Văn Quang"
(Maitre Văn Quang) là thầy bói ở tận mũi đất Cực Nam của đất nước Nam Kỳ, dùng
cái miệng lanh lợi, cái lưỡi uyển chuyển tráo trở, lấy việc đoán quá khư vị lai
để gạt gẫm nguơi mê tín. Công việc làm ăn của đương sự đang xuôi mát mái, bỗng
gặp tai nạn: đương sự đoán vận mệnh cho một tên điền chủ hung hăng, bảo rằng y
ta lừa bạn giật tiền, trong vòng 2 ngày sau sẽ bị nắm chóp. Tên điền chủ nổi giận
đánh "mét Văn Quang" chí chết. Hai ngày sau, y ta chưa bị ai nắm
chóp. Nhưng "mét Văn Quang" không đoán nổi vận số của mình: Hai ngày
đương sự trút linh hồn vì trận đòn quá nặng tay, gây chấn thương trong lục phủ
ngũ tạng.
Vào thời tiền chiến, các tay thầy bói nổi danh như Tư Nên, Fraçois Lư đều xưng
mình là "professeur" (professor/ giáo sư) nên khách hàng gọi họ bằng
"thầy" (maitre). Trong thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt
Minh có "maitre" Khánh Sơn từ ngoài Bắc và Sài Gòn mở phòng bói toán
nên dân Nam Kỳ Lục Tỉnh gọi đương sự bằng "maitre Khánh Sơn". Thật ra
thiên hạ gọi các luật sư bằng "maitre", chớ nhưng kẻ không mê tín
không bao giờ gọi mấy ông mấy bà lốc cốc tử bằng "maitre" một cách trọng
vọng như thế.
Phần thứ hai là phần phóng sự tiểu thuyết (nói theo tác giả)
có cái tựa là "Dưới Đồng Sâu". Thật ra đây là quyển tiểu thuyết đồng
quê thuộc loại phong tục và tả chân xã hội. Nó gồm có những truyện ngắn dưới
hình thức từng chương một như sau: "Câu Cá", "Cá Mắc Câu",
"Tôn Sư", "Đạo Phù Thần", Ôm Ma Xơ Rốp...",
"...Ma Ha Xơ Rốp", "Oan...!","... Nghiệt!",
"Muộn Màng", "Tử Thù", "Hận Nghìn Đời", "Đoạn
Kết".
Truyện rằng: Nhân vật Sáu Đờn Kìm đến nhà ông Chủ Trần Háo Nghĩa xin mưón ruộng.
Nhưng chàng ta bị tên điền chủ ác ôn này bóc lột thẳng tay Xin cùng đọc:
Tờ lãnh làm ruộng giao
Nay tôi có lãnh làm 50 công ruộng cho ông chủ Trần Háo Nghĩa tiền công tôi lấy
trước phân nửa là 20$. Còn 20$ chờ đã cấy xong, giao ruộng, tôi lãnh tất.
- Bẩm Chủ, tôi xin mướn ruộng, chớ không lãnh ruộng giao.
- Ậy, việc mướn chác thì mình biết với nhau, còn giấy-tờ phải làm như vậy cho
đúng phép. Phỏng như làm tờ mướn rồi nửa chừng mầy trốn có phải lòng-dòng cho
tao thêm không? Làm như vầy mầy lãnh làm công, rồi có muốn trốn, ruộng của tao,
bất quá tao gặt trừ. Tao ngừa như vậy, tá điền tao đứa nào có kêu ca gì đâu!
Bây giựt của tao thì có, chớ tao, ruộng đất mênh mông, chẳng đời nào tao giựt của
bây!
- Bẩm Chủ, còn tiền lấy thêm: Hai chục đồng, tôi đâu có hỏi?
- Mầy quê lắm. Tiền đó lá tao buộc phải vay, tới mùa, tao đong lúa trừ. Tao
tính mỗi giạ, năm cắc. Phải vay mới có mà ăn đặng chớ, không lẽ mầy cạp đất mà
cày ruộng sao?
- Nhưng... giá lúa bây giờ đến hai đồng một giạ.
- Thì hai đồng bây giờ. Đây ra giêng còn tới bốn năm tháng nữa, chừng đó giá
lúa lên cao tao nhờ, sụt tao chịu. Tao dám "cho" như vậy mà mầy còn
chê mắc chê rẻ... Thôi, không bằng lòng, để ruộng đó lại cho tao! (các trang
147, 148)
Sáu Đờn Kìm chịu làm ruộng giao cho ông Chủ Trần Háo Nghĩa. Dè đâu ông ta thấy
mẹ của chàng ta hãy còn bóng bẩy nên ve vãn ráo riết. Một hôm, thừa lúc Sáu Đơn
Kìm vắng nhà, ông ta toan bề cưỡng bức mẹ của Sáu thì thình lình bà vợ ông ta
nhảy vào đánh người đàn bà đáng thương kia một trận đòn chí mạng. Sáu Đờn Kìm
khi trở về thì thấy mẹ mình đang hấp hối. Chàng ta thề quyết báo thù.
Ở đoạn kết, chúng ta được thấy Sáu Đờn Kìm trở về cố hương sau 5 năm tù, 10 năm
biệt xứ vì can tội sát nhân. Giết ai? Giết ông Chủ Nghĩa hay giết vợ ông ta?
Hay giết chết cả hai? Tác giả không nói rõ.
Trong phần tiểu thuyết, tác giả có lồng vào bốn mối tinh và bốn tâm sự. Cô Yến
con ông thầy phù phép yêu Sáu Đờn Kìm. Chàng ta cũng có chút vấn vưong với cô,
nhưng cô ta lại yểu mệnh. Cô Tám Én yêu Sáu Đờn Kìm; tình yêu đôi bên nẩy sinh
sau hận thù và ngộ nhận.Thằng Tư Bồ yêu đơn phương cô Tám Én, nhưng khi Sáu Đờn
Kìm sa vào vòng tù tội thì cô ta trở thành vợ của nó. Ngoài ra thằng Út, em
trai cô Yến cũng say mê Sáu Đờn Kìm, vắng mặt chàng ta là nó nhớ thương khắc
khoải. Bản chất mối tình của nó ra sao? Tác giả không phân tích rõ. Có thể là
nó mê giọng hát ngọt, ngón đàn tươi của Sáu. Mà cũng có thể đây là thứ đồng
tính luyến ái mù mờ mà nó không nhận định ra (l'homophilie latente).
Chuyện tình yêu được coi như một bản nhạc đệm (musique de fond) cho một vở kịch
hay một cuốn phim. Nhưng đây là một khúc giao hưởng thống thiết (symphonie
pathétique).
Ngoài ra, còn có vụ bùa chú ngải nghệ. Ông Thầy, cha cô Yến nổi danh là thầy
pháp cao tay ấn trong việc tróc quỷ trừ yêu Nhưng ông không thể cứu sống con
gái ông chết vì bệnh mà ông đổ hô là cô Yến bị Quỷ Vương ám nhập để hành bịnh
con mình. Sáu Đờn Kìm là học trò môn bùa chú của ông. Còn Tư Bồ là học trò môn
võ thuật của ông Cho nên khi xáp trận với Tư Bồ, lần nào Sáu Đờn Kìm cũng đại bại,
mình mẩy mang đầy thương tích, thần chú không giúp ích cho chàng được chút nào
cả. Trong bóng tối rừng tràm và vùng mới hai hoang, tác giả không giăng mắc
không khí huyền bí, mà soi rọi ý thức vào những mê tín đáng thương của lớp người
đang ở vào thời kỳ xa ánh sáng văn minh của thị thành.
Ở truyện "Đồng Quê", Phi Vân thực sự viết văn một
cách nghiêm chỉnh, dù anh dùng một bút pháp dí dỏm, những ngôn từ đơn giản đến
chỗ thiếu chăm sóc, thiếu chọn lựa tỉ mẩn. Diễn biến mọi truyện không có chút sắp
đặt mọt cách công phu nhưng giả tạo nào. Mọi việc tuần tự xảy ra một cach hồn
nhiên. Điều này khác hẳn những cấu trúc tiểu thuyết của những cây bút tiền bối
của anh như Nguyễn Chánh Sắt, Lê Hoằng Mưu, Phi Bằng Cao Minh Chiếm, Bửu Đình,
Hồ Biểu Chánh, Phú Đức, Nam Đình...
Trong "Đồng Quê", truyện ngắn "Quỷ Vương" sẽ làm bọn Cộng Sản
nhột nhat xốn xang vì truyện ngắn này móc xỏ, nhạo báng sự ra đời của chủ nghĩa
của chúng. Nhưng chúng cũng có thể lợi dụng truyện ngắn "Cành Tre Cũ Cặp
Giò Xưa" và truyện vừa (tiểu thuyết phong tục) "Dưới Đồng Sâu" để
làm lợi khí tuyên truyền của chúng. Rằng: lớp địa chủ là loại giai cấp thống trị
chuyên môn bóc lột giai cấp bị trị là thành phần tá điền đáng thương.
"Đồng Quê" là cái chìa khóa mở đường cho các cây bút đi sau Phi Vân
hình thành loại tiểu thuyết phong tục hay loại tiểu thuyết hiện thực rất văn
chương đúng nghĩa sau này.
Chú thích:
|
Chánh quán và sinh quán ngoài Huế, nhưng trưởng thành ở Sài
Gòn, cưới vợ Gò Công và bị nam kỳ hóa 100%. Ông chống Pháp bị đày ở Con Đảo rồi kết bè vượt
biển qua Xiêm, nhưng mất tích luôn ngoài biển khơi. Ông sáng tác 2 truyện dài
nỏi danh là "Mảnh Trăng Thu" và "Cậu Tám Lọ". |
|
|
Nhà văn nữ, gốc ngưòi Rach Giá, đã từng cọng tác cho hai tạp
chí Bách Khoa, Mai trong 2 thập niên 50, 60. Bà gom các truyện ngắn đã đăng
báo của mình in thành tác phẩm "Một Lá Thư Tình" do Phù Sa Xuất bản. |
Chương Bốn
Sơn Nam, ngòi bút thả trôi trên dòng mực qua
quyển tạp bút "Một mảnh tình riêng"
Độc giả chúng ta yêu thích Sơn Nam qua những quyển
tập truyện phong tục như: "Hương Rừng Cà Mau", "Hai Cõi U
Minh", "Vọc Nước Giỡn Trăng".... Nhưng anh còn viết những truyện
dài có nghệ thuật cao hơn, cảm hoài thân thế cho những kẻ sinh bất phùng thời,
làm cho người đọc không sao khỏi ngậm ngùi như "Chim Quyên Xuống Đất",
"Hình Bóng Cũ"...
Sơn Nam là một nhà văn rất sâu sắc về nhân tình thế thái. Tư tưởng và ý tình
trong văn chương của anh không cần dựa một hệ thống tư tưởng triết học nào, một
sở tri về tâm linh của một tôn giáo nào. Anh đi đây đi đó nhiều, nhất là đi
ngao du khắp miền Hậu Giang, thu thập rất nhiều kinh nghiêm sống. Anh chiếm
nghiệm những lời nói các bô lão về cuộc khai hoang khẩn đất ở miền Cực Nam và
Tây Nam đất nưóc qua các quyển "Tìm Hiểu Đất Hậu Giang", "Đồng Bằng
Sông Cửu Long", "Văn Minh Miệt Vườn", "Lịch Sử Khẩn Hoang
Miền Nam"... Anh rút tỉa những nhận xét đầy kinh nghiệm sống của họ, đầy sự
luyện đạt nghệ thuật sinh tồn và ý chí khắc phục thiên nhiên của họ trong công
việc mở rộng chiều dài của đất nước. Rồi đó anh đưa những điều ghi nhận của
mình gán vào miệng những cụ già của ống vố dễ thương hay trám vào mồm những
nhân vật cà chớn. Nhưng những lời của kẻ thông minh tinh nhuệ hay những ý nghĩ
của kẻ thật thà chất phác một khi được Sơn Nam đua vào tác phẩm của anh cũng
giúp cho chúng ta suy nghĩ về công trình của lớp tiền nhân trong cuộc Nam tiến
để tìm đất mới. Cái thâm trầm sâu sắc của Sơn Nam trong nề nếp tư duy tương phản
cái bộc trực thành khẩn của Bình Lộc quá rõ rệt.
Sau những quyển sách mà bút giả HTA đã kể trên, tài nghệ của Sơn Nam giảm thiểu
rõ rệt. Các quyển "Vạch Một Chân Trời", "Bà Chúa Hòn" là những
quyển tiểu thuyết phiêu lưu, phóng tác theo kiểu mượn đầu cá vá đầu tôm các cuốn
truyện hay các cuốn phim phiêu lưu ngoại quốc, phần kể truyện húng hiếp và lấn
át phần viết văn.
"Một Mảnh Tình Riêng" do nhà xuất bản Văn Nghệ
Thành Phố HCM (1993) trình làng. Đây là một cuốn tạp bút , không đề cập những vấn
đề cùng chung một chủ đề hay cùng chung một hệ thống vận sự. Đây chỉ là quyển sổ
tay văn nghệ được chi tiết hóa, ghi nhận những điều gì thoáng qua đầu óc tác giả,
vần vũ khá lâu rồi sa mưa trong cõi cảm hứng của anh. Cho nên Sơn Nam phân trần:
Tập sách nầy, tôi tạm gọi là bút ký, nhớ chuyện xưa rồi viết theo sự nhận định
theo tình cảm ngày nay. Hồi ký thường là loại sách dành cho người làm chính trị.
Về phần tôi chưa bao giờ được ai giao phó cho ký tên, đóng dấu văn kiện nào cả
(nếu được giao ắt làm không xong). Về văn chương, sự nghiệp văn là "sương
khói mờ nhân ảnh". Tôi cố gắng giữ cái gọi đại ngôn là "dũng cảm nhỏ",
tức là cái liêm sĩ tối thiểu, qua nhiều hoàn cảnh éo le. Khổ nhất là văn chương
phải in thành sách, in công khai cho người đương thời đọc. Làm văn chương mà
mãn đời không viết một chữ, để giữ tiết tháo đuợc chăng? Nên tin độc giả. (các
trang 152, 153)
Lời trần tình (hay lời biện hộ đây?) chứng tỏ Sơn Nam viết cuốn sách này lâm
vào thế kẹt. Muốn nó được Nhà Xuất Bản Thành Phố HCM chấp nhận xuất bản, anh phải
vâng theo chỉ thị của Nguyễn Quốc Thủ (chịu trách nhiệm xuất bản) và Đinh Quang
Nhã (chịu trách nhiệm bản thảo). Cho nên Sơn Nam dùng nhiều tiếng khó nghe, chẳng
hạn ngày Sài Gòn bị bọn Cộng Sản cưỡng chiếm, anh dùng tiếng "ngày miền
Nam được giải phóng". Anh gọi phe Quốc gia là "địch". Và anh
không quên chêm vào đoạn tố chính quyền Quốc Gia:
... Nhớ lại trước ngày Giải Phóng, vụ ký giả ăn mày, tôi bị bắt vì tình nghi
cán bộ nằm vùng, thật ra, về tổ chức, tôi chẳng bao giờ nằm vùng, chẳng qua tôi
làm nghĩa vụ con dân. Địch tra tấn, nhắc lại làm gì. Tra tấn để cho mình mất
nhân phẩm, đã mất nhân phẩm rồi thì phải khai (để bảo vệ cái gì đây?). Ấy thế
mà phải ký tên thú tội vu vơ. Tôi nghĩ rằng giới chuyên điều tra thuở ấy không
bao giờ tin lời khai của tội nhân nếu chưa tra tấn. Tra tấn, ắt khai thác được
thêm điều bất ngờ. Bị tra tấn rồi mình khai là chúng yên tâm... (trang 74)
Đây rõ ràng là sự nhượng bộ, sư hy sinh phế bỏ cái "dũng cảm nhỏ" của
anh Sơn Nam. Anh phải ngắt véo phe Quốc Gia chút đỉnh để đuợc in sách. Cái liêm
sĩ của anh bị trầy trụa hay bị sứt mẻ, nhưng chưa mất sạch sành sanh. Công bình
mà nói, chính quyền ở các nước tự do nào cũng có việc thận trọng khi lập ra
pháp lý luật lệ. Song song đó vẫn đầy nhan nhản kẻ hành pháp vi phạm luật lệ vì
sai lầm hoặc vì hối mại quyền thế. Anh không chửi thẳng tay chính quyền cũ và
ca tụng chế độ mối một cách trơ trẻn và đê tiện, khác biệt với Xuân Diệu và Huy
Cận đã từng nã súng cối vào xã hội Miền Nam Việt Nam để đánh bóng chế độ Cộng Sản.
Anh chỉ viết cảnh anh bị nhốt tù vì tội xuống đường theo giới báo chí nổi loạn
chống ông Hoàng Đức Nhã. Chúng ta cũng thừa biết ông Nhã đã từng hà hiếp báo giới
làm cho các ký giả phải điêu đứng trong việc hành nghề mưu sinh, sắp chống gậy
ăn mày.
Ở "Một Mảnh Tình Riêng" tác giả phân trần và giải thích về công việc
viết chuyện xưa của mình. Quan niệm và nhận định của anh giúp anh trội hơn nhân
sinh quan trong các tác phẩm của những cây bút gốc Nam Kỳ kỳ cựu:
Viết lại chuyện xưa, theo ngẫu hứng, như người say rượu đời, bổng dưng muốn đốt
ngọn nến nhỏ để lục lạo trong hang tối của ký ức. Gặp nào mảnh giấy vụn, cây
bút cũ, những tấm thiệp của bạn bè mời đám tiệc, quyển sách nào đó bị chuột,
dán gậm nhấm vài trang. Đi tới đi lui, như bóng ma, vách hang ẩm ướt, thỉnh thoảng
đạp nhằm cái búa, cây đinh chẳng biết đó là món gì vì đã sứt gãy nhưng không
đành ném bỏ, nhưng để dành mà làm món đồ chơi cho trẻ con, vân vân và vân
vân... Ngọn nến đã tắt, nhưng bóng ma của ta cứ lầm lũi bước tới, bỗng dưng sẩy
chân, rơi vào hố thăm thẳm. Ta đi suốt cái hố sâu ấy, dè đâu lại trở lên mặt đất.
Đôi mắt hoa lên, như kẻ mất hồn, ngỡ hồn mình còn bị giam hãm trong hang. Hang
động nầy cạn nhưng xoáy trôn ốc, đủ chiều, chợt bắt gặp quyển Agenda mà năm
tháng đã mờ nhạt, trong ghi lung tung vài địa chỉ, số điện thoại ai đó. Gặp cái
đồng hồ đã ngừng chạy, nhưng thử đặt sát vành tai, như đứa bé dạo chơi bãi biển,
bắt gặp cái vỏ ốc, đặt vào tai nghe tiếng nhạc, ngỡ là tiếng ru của biển cả. Đứa
bé cười thỏa mãn: mình phát hiện một hiện tượng độc đáo mà những người lớn tuổi
đang đùa giỡn với sóng biển, đang bấm máy ảnh chưa bao giờ biết thưởng thức. Một
kiểu tham quan chốn chốn âm phủ. Cái Thiên đàng mà mình mơ ước có hay không có?
Nó ở đâu? Làm sao tham quan?
Cái Thiên đàng ấy là hiện tại cuộc sống, và địa ngục cũng xen lẫn trong đó.
Trong bài tán đức Phật có câu: "Tọa bồ đề tòa, đại phá ma quân" Ngồi
bên gốc
bồ đề ngài đánh tan lũ ma quái, những dâm nữ lõa lồ múa ca uốn éo. Nghệ thuật,
trong đó có bộ môn văn thơ, kịch... là cách nói láo dựa vào chút ít thực tế,
cho ra láo để rồi ta dựng nên một tác phẩm thật hơn sự thật, một thế giới riêng
bay lơ lửng trong không gian với những hình ảnh khi mờ khi tỏ, tan hòa vào
trong tiềm thức của con ngưòi là độc giả, khán giả. Kiểu đúc kết nầy có lẽ nhiều
nhà lý luận đã nói hết rồi, nhưng tôi tâm đắc theo kiểu của tôi. Cuộc sống hằng
ngay là một Thiên đường, nhưng là Thiên đuờng nát ra từng mảnh vụn, không trọn
vẹn, may ra đến chết ta mới ráp lại được. (các trang 36, 37)
Gặp bất kỳ quyển sách nào của Sơn Nam, loại truyện dài, loại
truyện ngắn hay loại biên khảo, chúng ta chỉ muốn tìm hình ảnh vùng Hậu Giang
vì có ai khai thác vùng đất ấy trong văn chương bằng anh? Quyển tạp bút "Một
Mảnh Tình Riêng" cũng có nhắc tới một vài địa danh ở đất Hậu Giang, nhưng
tác giả áp dụng cách diễn tả bằng văn chương trong các quyển địa phương chí.
Văn chương như thế không làm thỏa mãn những độc giả chuộng cách hành văn miêu tả
đầy nét tạo hình mà chỉ làm phì nhiêu mảnh đất kiến thức của độc giả mà thôi.
Xin đọc một đoạn tác giả nói về quê quán của mình. Đó là một xóm nhỏ ở rạch
Tràm Chẹt:
Mẹ tôi đi làm dâu nơi xa nhà hàng năm mươi mấy cây số ngàn, đường giao thông hồi
đầu thế kỷ khó khăn, vượt rừng, qua hai con sông đầy sóng gió. So với rừng U
Minh là quê cha tôi, xứ của mẹ tôi tương đối văn minh hơn, nhờ ảnh hưởng của nước
ngọt quanh năm từ sông Hậu đổ xuống. Gọi thứ nước ấy là "nước bạc",
theo nghĩa trắng đục, không đỏ vì phù sa sông Hậu đã lắng bớt dọc đường; nhờ nước
ngọt mà trồng được cây cảnh, thí dụ như nguyệt quí, ngâu, vạn thọ. Dưới rạch
thêm vài loại cá nước ngọt như cá tra, cá mè vinh mà phía nước mặn không có.
Lâu năm lắm mẹ tôi mới về quê thăm xứ một lần, tình trạng nầy tôi thử hư cấu,
qua truyện ngắn Gả Thiếp Về Rừng, "Má ơi đừng gả con xa, chim kêu vượn hú
biết nhà má đâu?". Qua sông Cái Bé thì dễ, nhưng gian nan nhứt là qua sông
Cái Lớn, hai bên rừng rậm với cây bần cổ thụ. Tôi nhớ rõ: Khỉ và gà rừng ra đến
tận mé sông, khỉ dạn dĩ đến mức ném trái bần xuống để xua đuổi ghe xuồng đậu
bên bờ lúc ăn cơm. Lại đồn rằng thỉnh thoảng sóng thần hiện lên, nhận chìm ghe
lớn nhỏ. Sông Cái Bé và sông Cái Lớn chảy song song nhau, khi gần ra biển có
con rạch nhỏ ăn thông qua lại gọi là Tắc Cậu, rạch Tắc này nổi danh với ngôi miếu
thờ Cậu, tức là thờ con bà Chúa Xứ, ghe buôn khá giả khi ngang qua thường đốt
pháo để xin phép, cầu xin Cậu ban ơn. Vượt qua sông Cái Lớn vẫn là nan giải,
vàm sông khá rộng, gần đấy, mặt biển dâng cao, luôn đầy sóng gió. Qua được nửa
sông, rủi gặp giông, chẳng tài nào trở vào bờ cho kịp. (trang 8)
Theo dõi cuộc bút trình của Sơn Nam qua quyển tạp bút "Một Mảnh Tình
Riêng", đối với độc giả thích tìm thú giải trí trong các quyển tiểu thuyết
diễm tình, trinh thám, kiếm hiệp... họ sẽ thấm mệt đến hụt hơi. Trong 150 trang
sách với kiểu chữ vừa (corps 10), anh gói ghém biết bao là vận sự, biết bao là
vấn đề, biết bao là nhân sinh quan. Anh bàn qua Phật giáo ở quyển "Trường
Bộ Kinh", ở "Diệu Pháp Liên Hoa Kinh" (tức là "Kinh Pháp
Hoa"), rồi bàn đến cái nét tiêu cực của dân tộc Việt Nam qua mẩu chuyện bà
Phiếu mẫu biếu cơm cho Hàn Tín khi ông ta chưa gặp thời thanh vân đắc lộ. Và từ
đó, anh nhảy qua việc đi khẩn hoang, rồi chuyện anh hùng Nguyễn Trung Trực
kháng Pháp, chuyện sáng tác văn chương, chuyện cụ Phan Bội Châu, chuyện bà vú
Miên của anh, chuyện quê ngoại của anh, chuyện đứa bé ngồi bất động trong căn
chòi lá bên dòng rạch Trâm Bầu, chuyện bão lụt năm Thìn... Tới đây, chúng ta
nhìn kỹ lại số trang, mới hay chúng ta chưa đọc hết 10 trang sách.
Nẻo về của ý của tác giả có nhiều lối rẽ, có nhiều khúc quanh theo kiểu dây
chuyền, hết chuyện cây cà bắt qua dây rau muống, hết đầu Ngô bước qua đuôi Sở.
Cái nguồn cảm hứng của anh chuyền từ vấn đế này sang vấn đề khác như con vượn
chuyền cành. Cái ý tưởng của anh phóng vùn vụt như con tuấn mã phi nưóc đại
trên dăm ngàn thênh thang, băng qua miền thảo nguyên bao la.
Cách viết những mẫu chuyện vụn vặt theo kiểu địa phương chí như chuyện chào đời
và cáo chung của tạp san Nông Cổ Mín Đàm, chuyện Phan Xích Long dùng bùa phép
khởi nghĩa chống Tây... đã từng đưọc Vương Hồng Sển nói tới trong quyển
"Sài Gòn Ngày Nay" và do Hứa Hoành đưa vào bộ "Nam Kỳ Lục Tỉnh",
cho nên đối với độc giả tìm hiểu chuyện xưa không còn là chuyện lạ nữa.
Ở quyển "Một Mảnh Tình Riêng", chúng ta bị Sơn Nam quyến rũ không ở
cái nghệ thuật tái sinh nếp sống Hậu Giang từ thuở khai hoang dựng đất cho tới
5 năm đầu của thập niên 40. Chúng ta có cơ hội thích thú theo dõi những nhân
sinh quan của anh một cách thống khoái. Những nhân sinh quan ấy bắt nguồn từ những
kinh nghiệm sống của anh. Và cũng có thể là những ý nghĩ vụn vặt mà anh đã gặt
hái trên sách vở để rồi anh phân tích hoặc tổng hợp thành ý tình và quan niệm
riêng của anh. Tuy nhiên những nếp suy nghĩ dù là của ai, nhưng một khi đuợc
anh tổng hợp thành ý nghĩ và được anh đưa vào trang sách cũng phải dựa vào kinh
nghiệm của anh, chúng phải được lột xác để gần gũi với cái Chân, cái hợp lý và
cận nhân tình.
Về tập tục và tín ngưỡng, Sơn Nam viết:
Người nông dân Việt trong số có người từ khắp miền đến lập nghiệp, lần hồi trở
thành dân Sài Gòn, trọng Trời đất quỉ thần. Thờ nhiều vị thần như chư vị ngũ
hành, bà chúa Xứ, cá Ông. Điểm nầy khác hẳn với tín ngưỡng phương Tây. Tin nhiều
vào quỉ thần đến mức mê tín vẫn là đồng nghĩa với "không quá tin vào cái
gì cả". Nhiều vị cai tổng, đốc phủ sứ hoặc Việt gian hạng nặng vẫn bám giữ
thần thánh để tìm nơi nưong tựa. Từng làm nô bộc cho thực dân Tây Phương, hưởng
bổng lộc nhưng khi về già họ lại tin vào đình miếu, Lăng Ông Bà Chiểu, sát nách
Sài Gòn phải chăng để cân bằng với nhà thờ Đức Bà ở đầu đường Catinat và những
chùa Ông, chùa Bà ở Chợ Lớn? Nhiều người theo thực dân nhưng vẫn thích hát bội,
hát cải lương, ăn cơm với đũa, với tô canh công cộng, không thích muỗng nỉa và
cái lệ trải náp bàn ăn. Thích ăn bánh mì thịt vào buổi sáng (không tốn chén
đũa, nước mắm), thích thụt bi-da như người Pháp vì gọn gàng, hấp dẫn, nhưng chỉ
đến mức ấy mà thôi. Ngày Tết đốt pháo, rước ông bà, chưng nhánh mai vàng, ăn
bánh tét, bánh in. Ăn Tết cổ truyền, đi đình chùa nhưng vui chơi, dịp lễ Noel,
ăn sinh nhật cho con, bắt chước thổi tắt mấy ngọn nến. Để tang màu trắng, với
nhà sư tụng kinh. Hiếu thảo với cha mẹ, giữ nghĩa với bạn bè... (các trang 103,
104)
Quan niệm về nghệ thuật của Sơn Nam vẫn là quan niệm vừa sâu sắc vừa dí dỏm như
quan niệm của Võ Phiến. Anh không phải là nhà văn tư tưởng. Nhưng văn chương
anh rất cận nhân tình, gây lý thú bất ngờ cho người đọc qua những lồi khề khà của
một bợm nhậu hào sảng trong lúc rượu vào lời ra. Nhưng coi chừng đó, những lời
theo hơi men tuôn ra từ cửa miệng anh thưòng làm chúng ta nghĩ ngợi:
Nàng Nghệ thuật luôn giữ nụ cười ỡm ờ, mơ hồ. Hỏi: Tôi xứng đáng là nghệ sĩ
chưa? Nàng Nghệ thuật cười. Hỏi thêm: Tôi không xứng đáng là nghệ sĩ, phải vậy
chăng? Vẫn nụ cười, nhưng lạnh lùng, đối với tất cả mọi người. Đã dấn thân rồi,
người nghệ sĩ không thể rút lui. Có lẽ khi gần nhắm mắt mới thấy nàng nghệ thuật
từ xa, đến với nụ cười khó hiểu. Xin hẹn kiếp sau.
Vì vậy từ ngàn đời trước đến ngàn đời sau, Nghệ thuật vẫn còn đó, đỉnh cao vẫn
chưa ai đạt đến. Người leo núi kiểu nầy, theo con đường này, kẻ theo kiểu khác
quanh co. Như những nhà khoa học, những bác sĩ nghiên cứu bệnh SIDA. "Tôi
muốn được chết một cách tuyệt vọng, trong cơn tuyệt vọng". A Gide đã viết
như thế.
Ý nghĩ tự sát đã đến với vài nhà văn. Gérard de Nerval đã cao hứng, thắt cổ
ngoài đường cái. Nhưng khi chết vì tự sát, có gì chắc được nàng Nghệ thuật đón
rước, tặng bằng khen? Bởi vậy, nhiều người thích sống, ăn uống, rượu thịt bất
chấp nhục vinh, dư luận để... tự tử chậm, kiểu tự tử nầy dường như dễ chịu hơn.
Vừa hèn nhát, vừa can đảm. (trang 60)
Còn về vấn đề tài năng văn chương mà người đời tâng bốc lên mức thiên tài thì
sao? Sơn Nam trình bày cho chúng ta thấy góc độ cái nhìn của anh như sau:
Về đời tư người làm văn nghệ, thỉnh thoảng tôi nghe vài người bình phẩm: Chàng
nầy bịp bợm, thiếu khiêm tốn, cô hay bà nọ thích lăng nhăng, thế kia Người làm
văn nghệ ưa uống rượu, nhưng đâu phải chàng say nào cũng là nhà văn, nhà thơ giỏi.
Một bạn trẻ bất hạnh, mắc bịnh phong (cùi, hủi) đã nói trong lúc vui miệng:
"Nếu làm thơ, mình sẽ là nhà thơ quá dở, nhưng lấy làm hân hạnh là Hàn Mặc
Tử cũng từng mang bịnh phong. Cũng là bằng cớ khiến cho thiên hạ thấy kẻ bịnh tật
lắm khi có tài năng lớn!". Cách đây vài mươi năm, chưa ai nói đến trăm
năm, nước nào cũng có vài nghệ sĩ xuất sắc, bỗng dưng im hơi lặng tiếng. Vài
nhà phê bình đã chứng minh chẳng qua nghệ sĩ ấy bi quan, bị hành hạ vì bịnh
"hoa nguyệt". Trước khi có phát sinh thuốc trụ sinh, bịnh nầy là nan
y. Chẳng lẽ ta đặt giả thiết nếu không mang bịnh ngặt, chàng nọ sẽ là kẻ bất
tài vô tướng. Trong giới văn nghệ, vài bạn đầy thiện tâm, thiện chí nhưng chọn
lầm con đường: thay vì làm giáo viên dạy Việt văn xuất sắc, anh ta lại sáng tác
rồi trở thành nhà phê bình cay đắng, hằn học, với thái độ tự tôn. Rằng nếu ta
chịu làm văn nghệ, ta sẽ giỏi hơn người đã bị ta phê bình. Trường hợp vài người
đã lớn tuổi, có con, có cháu, làm ăn không khá, nhưng khoe khoang: Thằng Giáp nọ
thằng Ất kia hồi ở Việt Nam làm ăn dở, còn thiếu nợ tôi, nếu tôi vượt biên, tôi
sẽ làm giàu gấp mười nó. (các trang 115, 116)
Trong quyển "Một Mảnh Tình Riêng" có hai vận sự
đáng chú ý như chuyện gánh Kim Thoa vừa sau Hiệp Định Genève trình diễn vở
"Lấp Sông Gianh" bị một quân nhân tung lựu đạn trên sân khấu, chuyện
nhà văn Bình Nguyên Lộc sáng tác truyện ngắn "Rừng Mắm".
Hình như vào năm 1955 thì phải, nữ nghệ sĩ Kim Thoa một trong 4 cô đào chánh đại
ban ca kịch cải lương Phụng Hảo (gồm Phùng Há, Thanh Tùng, Kim Thoa, Bích Thuận)
sau khi gánh này giải thể, cô ta bèn dựng nên đoàn ca kịch Kim Thoa. Vở tuồng
khai trương là "Lấp Sông Gianh". Nhưng vừa trình diễn thì trái lựu đạn
tung lên sân khấu, giết chết nam nghệ sĩ Ba Cương và làm cho soạn giả kiêm kịch
sĩ Duy Lân bị thương nặng phải cưa một giò. Kỳ trình diễn khai trương áy, Sơn
Nam theo thi sĩ kiêm soạn giả cải lương Kiên Giang Hà Huy Hà được mời vào xem.
Theo anh tường thuật thì:
... Lấp Sông Gianh, tự cái nhan đề gợi ý thức xóa bỏ phân chia Bắc-Nam, người
Việt cùng chung dân tộc. Trên sân khấu, từng đoàn người dùng thúng đựng đất đổ
xuống con sông tượng trưng rồi một diễn viên nói to: "Chúng ta là nạn nhân
của một chế độ đau lòng" Tức thì một tiếng nổ ầm, lóe sáng, đèn sân khấu vụt
tắt. Có tiếng kêu rú. Tôi nắm tay anh Kiên Giang: " Lạ quá, mình chạy
ra". K.G nói tỉnh táo: "Ảo thuật trên sân khấu". Nhưng rồi mọi
ngươi ùn ùn tuôn ra đường cái. Lựu đạn nổ! Ai là thủ phạm? Dễ hiểu quá. Hôm
sau, phía "Quốc Gia" tung dư luận, đó là sự căm thù tự phát của một
anh "lính Quốc gia", lén đem lựu đạn vào rạp. Sau đó, chẳng nghe truy
tầm, công bố tên họ thủ phạm. (trang 26)
Như chúng ta biết, Bình Nguyên Lộc sinh trưởng ở Tân Uyên (Biên Hòa). Cho nên
văn chương của anh lấy những địa danh miền Đông Sài Gòn làm bối cảnh như: Biên
Hòa, Tân Uyên, Đất Bái, Bình Dương, Lái Thiêu, Lò Chén Chòm Sao ở xã Hưng Định
(Lái Thiêu). Thế mà trong truyện ngắn "Rừng Mắm", anh lại lấy khung cảnh
vùng duyên hải Cực Nam đất nước. Truyện nầy gây tiếng vang dữ dội, thắp sáng
huy hoàng cho văn nghiệp của anh. Xin hãy nghe Sơn Nam kể lại hành trình ngòi
bút của Bình Nguyên Lộc từ thuở thai nghén và sinh đẻ ra truyện ngắn bất hủ
này:
... Truớc kia trong tuần báo Nhân Loại, anh (tức là Bình Nguyên Lộc) hỏi về
khung cảnh vùng biển phía Tây, đặc biệt là mũi Cà Mau. Và thú nhận anh chỉ đi đến
chợ Cần Thơ, bờ sông Hậu mà thôi. Vì yêu mến phía Rạch Giá, Cà Mau mà nhiều người
cho rằng kém cỏi về văn hóa, anh nhờ tôi cung cấp vài tư liêu cần thiết về cây
đước, cây măm. Tôi bảo rằng mắm là lính tiên phong giữ đất, cây đước xuất hiện
sau lưng cây mắm. Và để gây không khí, tôi tìm đến anh bạn Trần Tán Thanh từ
chiến khu về, từng là chủ lò than ở Cà Mau. Anh Thanh bèn tìm giấy bồi thứ cứng,
loại cạt tông cách nhiệt; vài hôm sau anh trao cho tôi bức tranh đơn sơ: nước
gần bờ đục ngầu, ngoài khơi thì xanh, thấp thoáng bóng dáng Hòn khoai, vẽ miễn
phí. Đem ức tranh tới nhà anh B.N.L, tôi thấy mình đã làm xong sứ mạng, giữa bạn
bè văn nghệ, tạo cho nhau nguồn hứng là sự đóng góp quí giá nhất. Một tuần sau,
anh viết xong chuyện Rừng Mắm, tôi nhớ lần đầu tiên ra mắt ở tạp chí Bách Khoa,
anh ghi lời: "Tặng họa sĩ Trần Tấn Thanh". Như tiếng sét vang, truyện
nầy tạo thanh thế cho anh, bạn bè nể mặt, mãi đến nay, người thuộc lứa tuôi 60
cứ nhắc nhở... (trang 24)
Sơn Nam là một nhà văn có tài, một nhà văn lớn. Vào hai thời
kỳ Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam, anh mang tiếng là kẻ nằm
vùng. Nhưng hoạt động của anh cho Cộng Sản không mấy quan trọng, hầu như không
có. Vào cuộc đổi đời chắc anh cũng sáng mắt vì dù được bọn Cộng Sản đãi ngộ,
nhưng anh vẫn không được tự do cầm bút như thuở xưa. Vẫn phải sống theo chế độ,
nhưng anh không hoàn toàn buông xuôi. Anh gắn gượng níu lại chút liêm sĩ cuối
cùng để khỏi ca tụng xả láng chủ nghĩa mà anh đã từng lầm lạc theo đuổi từ đầu
mùa khói lửa vào giữ thập nien 40.
Sơn Nam không có cái sĩ khí lẫm liệt như nhà văn Lao Xá trước bạo lực của cuộc
Cách Mạng Văn Hóa do Giang Thành cầm đầu. Anh cũng không hèn nhát như Quách Mạt
Nhược chạy theo bạo quyền, ca tụng mụ Giang Thanh và nhóm Vệ Binh Đỏ không hề
biết tiết kiệm lời tâng bốc, để rồi khi Giang Thanh bị hạ bệ, Quách văn gia
quay lại công kích kẻ mà ông đã từng suy tôn ca tụng.
Bút giả nghe nói gần đây nhà cầm quyền Cộng Sản cho phép dựng tượng Sơn Nam
trong đô thành Sài Gòn, nhưng không rõ ở đâu. Ước mong sau này, nếu phe Quốc
Gia chúng ta giành lại chủ quyền trên đất nước, tượng ấy sẽ không bị phá hủy.
Sơn Nam là kẻ đáng thương hơn đáng ghét đáng khinh dù phẩm tiết anh vấy bùn lam
nham đi nữa. Cái tài hoa cùng cái công trình văn chương của anh làm sao chúng
ta có thể phủ nhận?
Các quyển biên khảo chế độ cũ đã từng dựng tượng cho Sơn Nam trong khu vườn văn
chương của Miền Nam Việt Nam từ lâu rồi. Dù cái tượng bằng đá hoa cương hay bằng
xi-măng cốt sắt của anh có bị phá hủy đi nữa thì những trang sách viết về Sơn
Nam cũng đủ làm thành những bức tượng nguy nga tráng lệ cho anh rồi.
Chương Năm
Song Thi với tâm sự thiết tha qua
tuyển tập thơ Văn "Dỗ giấc đêm dài"
"Dỗ Giấc Đêm Dài" là tác phẩm văn chương thứ hai của
nữ sĩ Song Thi. Đây là một tuyển tập thơ văn bát ngát tình người, tình quê
hương tổ quốc. Và dưới ngòi bút của chị, tiềm lực đấu tranh chống bạo lực luôn
luôn thao thức; ngọn lửa chính khí vẫn cháy âm ỉ, hễ gặp cơ hội thuận tiện là
chúng bùng lên, soi rõ cái hoài bảo và cái tâm nguyện của tác giả đối với đất mẹ
quê cha.
Dù dưới hình thức thơ hay văn xuôi, dù là ở mỗi tác phẩm nào, Song Thi vẫn là một
cây bút đem tấm lòng nhân hậu, đem thiên lương ra chống đối cái Ác, cái dối láo
bất lương. Chị không chạy theo cam ngôn mỹ từ ngụy trang những điêu ngôn xảo ngữ,
hay những tư tưởng uốn éo cầu kỳ để nhận định tình trạng khốn cùng của đất nước
và hoàn cảnh lầm than của dân tộc. Có như thế, chị khỏi rơi vào lưới bẫy của kẻ
thù chúng ta là bọn Cộng Sản. Chị nhìn thời cuộc, chủ nghĩa, chính kiến bằng
trái tim chân thành, bằng ý thức đơn giản nhưng rất thù thắng, bằng một trực
giác trong sáng tuyệt vời. Những cây bút đấu tranh như chị càng ngày càng hiếm
hoi. Nhưng dân tộc chúng ta nói chung, kiều bào chúng ta nói riêng không hoàn
toàn tuyệt vọng đâu. Trước đây chúng ta đã có Tạ Ty, Bắc Phong, Vũ Kiện, Lê Khắc
Anh Hào, Hồ Công Tâm, Nguyễn Mạnh An Dân, Võ Kỳ Điền, Diệu Tần, Vũ Nam...
(nam), Thanh Phương, Vi Khuê, Nhã Ca, Điệp Mỹ Linh, Linh Linh Ngọc, Trần Mộng
Tú, Hoàng thị Đáo Tiệp... (nữ). Gần đây, bên các đấng râu mày bỏ cuộc rất nhiều
chỉ còn Hồ Công Tâm, Hải Bằng, Lê Khắc Anh Hào, Thy Lan Thảo... Riêng bên nữ giới
còn có thêm Song Thi, Trương Anh Thụy, Ngô Minh Hằng, Dư thị Diễm Buồn, Ý
Nga... Niềm tin tất thắng, sự tồn tại của chính nghĩa, sự bại vong của cái Ác
làm sao tắt lịm trong cuộc bút trình của Song Thi và của những bạn đồng hành của
chị được?.
Trước hết chúng ta hãy bàn về thơ của Song Thi trong "Dỗ
Giấc Đêm Dài".
Về hình thức, "Dỗ Giấc Đêm Dài" không phải gồm nhiều bài thơ suông đuột.
Tác phẩm vẫn có tình ý sâu sắc, có ngôn từ không trơn nhẵn tầm thường. Trong
văn chương của vài cây bút đấu tranh cho chính nghĩa, những tình ý, những ngôn
từ tuy đã vào được cõi thơ nhưng vẫn không vùng vẫy được trong môi trường thơ,
không thể thắp hào quang cho thơ được. Song Thi vốn không chọn nhiều ngữ pháp
hoa lệ, không nhiều cụm từ mới lạ, không có luôn cách diễn tả cầu kỳ. Nhưng chị
vẫn săn tìm những tình ý rất đặc biệt làm cho thơ lồng lộng nét sáng tạo, làm
cho từng câu theo reo lảnh lót trong cõi ấn tượng và cõi thưởng ngoạn của độc
giả. Như thế khi làm thơ hay viết văn xuôi, Song Thi không làm một người thợ
thêu, đưa đẩy từng mũi kim tinh xảo trên nền lụa óng ả. Chị không thích hình
thành những bức tranh thêu kết hợp bằng thứ chỉ ngũ sắc lòe loẹt . Chị cũng
không làm một nghệ nhân kim hoàn chạm trổ những nét ti mỉ chăm chút trên món
trăng sức bằng bạc, bằng vàng hay bằng bạch kim. Chị làm thơ trơn ngọt, thống
khoái như con én đưa thoi trong ánh thiều quang tươi sáng, thoải mái như con cá
vẫy vùng dưới lớp nước trong vắt, làm cho độc giả không vật lộn một cách quá mệt
nhọc với chữ nghĩa và với ý tưởng của chị.
Anh đừng tìm anh trong thơ tôi viết
Góc hồn hoang không có mặt anh đâu
Vần tên anh tôi quên mất từ lâu
Dấu hỏi ngã không dấu nào ghi đúng
Vùng kỷ niệm anh như trang giấy mỏng
Gió sang mùa cũng đủ chóng bay đi
Khúc sông dài tôi không thấy vết ghi
Mặt biển rộng sao vết tăm chẳng thấy?
("Chớ Tìm", trang 77)
Một vùng sương muối mênh mông
Một vùng gió lạnh, một vùng thông reo.
Một vùng chân núi lưng đèo
Mây thương khắc khoải còn treo ngọn ngành.
Rưng rưng cất bước viễn hành
Một trời ảo ảnh ai dành cho tôi!
Buồn sao thương nhớ không nguôi
Tôi qua biển Bắc nhắn người biển Nam.
Nhắn cồn cát mịn giùm thăm
Dã tràng giúp đếm, sóng gầm giúp nghe?
Non cao nhắc đón gió hè
Suối sông nhắc đợi chuyến về hồi hương...
Sầu riêng nghìn mối trăm thương
Miên man trở giấc đêm trường ngẩn ngơ.
("Ẳo Ẳnh", trang 152)
Chớ dẫn tôi về trên đường xưa
Rợp bóng tre già che nắng trưa
Gió chao tà áo người yêu cũ
Nước đọng ân tình trên vũng mưa.
Đừng vội bảo tôi thăm suối sông
Nuối tiếc hương xưa lạc giữa giòng
Đem lưới chài trăm câu ước hẹn
Vớt ngàn thương nhớ buổi chiều đông.
Tôi chưa về thăm biển của tôi
Vết bước chân xưa đã mất rồi
Mượn dấu dã tràng mong vẽ lại
Thủy triều rồi cũng xóa mà thôi.
("Ngủ Yên", trang 80)
Thư xưa vỏn vẹn mấy hàng:
Báo tin Mẹ mất ngút ngàn từ đây!
Áo tang không đủ vải may
Khăn tan không xé, củi thay hương trầm
Ván thô sáu miếng vừa tầm
Khít khao đủ lịm Mẹ nằm duỗi chân.
Mẹ đi không tiếc dương trần,
Em đi chỉ tiếc một lần tiễn đưa.
("Thư Chị", trang 148)
Ngôn ngữ của thơ Song Thi không bí hiểm, ý tình trong trẻo. Nhưng ngôn ngữ
không quá dễ dãi, ý tình không quá hở hang bộc tuệch. Bởi đó, đọc phớt qua thơ
chị, chúng ta không bắt gặp ngay những điều gì chị muốn nói. Phải bỏ một chút
thời gian, chúng ta mới tìm ra những gì tác giả đang nói và sắp sửa nói. Chỉ cần
một chút suy nghĩ, chúng ta mới bắt gặp trọn vẹn những ý tình chị đã diễn tả.
Như vậy, chị đã thành công một phần nào trong công việc sáng tác. Nếu đọc thơ của
ai đó, chúng ta hiểu ngay tức khắc ý tình của tác giả, chúng ta không còn thú vị
nữa. Miếng cơm càng nhai lâu chúng ta mới khám phá ra cái hậu vị ngọt ngào của
nó. Nhưng nếu gặp loại thơ hủ nút, ý tình chôn giấu kỹ quá, chúng ta chỉ có nước
nhức đầu và mệt hốc hác mà thôi. Thời tiền chiến, nếu đọc thơ của các bà Hằng
Phương, Vân Đài, Anh Thơ, Thu Hồng, ta hiểu tức khắc thế giới thi ca của họ.
Nhưng khi đọc thơ của Mộng Tuyết, Ngân Giang và Mộng Sơn, chúng ta phải ngẫm
nghĩ mới tìm thấy cái ẩn mật kỳ thú trong ngôn ngữ của thơ họ.
Lại nữa, chúng ta thấy gì qua những đoạn thơ mà bút giả vừa trích ở trên. Phải
chăng điệu thơ lục bát của Song Thi chẳng những rất tha thiết mà còn đượm một
chút ngọt ngào của tình ý ca dao, một chút đậm đà của thơ Nguyễn Bính? Thử hỏi
chúng ta khi làm thơ lục bát, nếu thơ chúng ta không đượm hơi hướm mộc mạc của
ca dao và của Nguyễn Bính thì thơ chúng ta cũng phảng phất một chút khói sương
của thơ Huy Cận, của thơ Cung Trầm Tưởng. Cho nên, chỉ có loại thơ tám chữ mới
hoàn toàn là thơ của Song Thi, mới thuần chất sáng tạo của chị. Dù sao, thơ lục
bát của chị vẫn phản ảnh trung thực tâm tình của chị (qua bài "Ẳo Ẳnh")
và cũng vẽ nên một cách sống động những cảnh bi thảm trên quê hương (qua bài
"Thư Chị").
Trong thế giới thi ca của Song Thi, chúng ta đôi lúc bắt gặp một không gian bao
la lồng trong thơ. Hoặc cũng có thể thơ của chị mở một không gian bát ngát
trong tâm hồn và trong trái tim người đọc:
Triều dâng sóng cuốn xa khơi
Tôi đi giữa sóng mồ côi một mình
Triều dâng sóng dậy bình minh
Tôi đi giữa sóng với nghìn nhớ thương
Triều dâng sóng vọng quê hương
Tôi đi giữa sóng vấn vương nỗi niềm...
("Sóng Triều", trang 52)
Không gian rộng khi tấm lòng thương yêu của nhà thơ mở rộng. Song Thi họa hoằn
lắm mới viết về tình yêu đôi lứa. Chị trải nguồn cảm hứng của mình lên tình yêu
những đối tượng rộng rãi hơn, những đề tài lớn hơn: đó là non sông nước Việt nằm
bên bờ Thái Bình dương:
Tôi vẫn yêu một người yêu bé nhỏ
Nằm trải dài đón gió muôn phương
Tình kết chung muối mặn đại dương
Xõa tóc rối cho Thái Bình nổi sóng
Tôi yêu Người vì Người là mộng
Là Biển xanh, là Mây bổng trên trời
Là Núi cao, là Sông nước quê tôi
Là chữ S ân tình ghi nét đậm
Ngưòi Yêu ơi, dẫu cách xa vạn dặm
Tôi yêu Người, Người cũng vẫn yêu tôi...
("Tôi Có Người Yêu", trang 32)
Về phần nội dung, thơ của Song Thi trong "Dỗ Giấc Đêm
Dài" vẫn là phần nội dung trong thi tập "Đất Tạm Dung". Có thể bảo
phần thơ ở quyển sau là phần nối dài của quyển trước. Bởi vậy đường lối sáng
tác của chị là đuờng lối nhất quán, trước sao sau vậy. Quân thù của chúng ta
hãy còn lộng hành trên đất nước Việt Nam. Dĩ nhiên một kẻ ưu thời mẫn thế như
chị Song Thi thì làm sao không còn thao thức trong đêm đen của lịch sử bị tổn
thương? Làm sao không chờ đợi hoài hoài một bình minh tươi sáng của dân tộc?
Chẳng lẽ đi hoài đêm ba mươi?
Lạc lõng chân mềm có hổ ngươi?
Đếm thêm tóc bạc sầu vong quốc
Pháo đón giao thừa hận chẳng vơi.
Chẳng lẽ đi hoài đêm ba mươi?
Bao nhiêu năm bảng lảng qua rồi?
Nén nhang ai đốt đêm trừ tịch?
Gió quyện hương cùng mây nước trôi...
Khắc khoải buồn ơi, đêm ba mươi!
Nhà ai kín cửa dửng dưng thôi
Khói sương đan phủ lòng thương nhớ
Tuyết lấp hồn đau tê cứng môi.
Chẳng lẽ đi hoài đêm ba mươi
Ngày mai rạng sáng ở bên trời
Quê xa rực rỡ mùa sum họp
Trở bước tôi về non nước tôi.
("Đêm Ba Mươi", trang 162)
Quê hương còn dưới bạo quyền, nhưng kiều bào chúng ta đa số quên quốc hận, lơ
là với quốc nhục. Tuy vậy Song Thi vẫn không quên. Tinh yêu nước của chị trước
sau như một. Đó là thứ giấy hồng cẩm tiên điểm sao kim nhũ dùng để viết liễn Tết,
dù gió mưa sương giá vẫn không làm nó phai lạt sắc thắm rực rỡ như nước mực son
tươi. Trong khi đó, lòng ái quốc của đa số nhà thơ bừng lửa tranh đấu lúc đầu
và trong một thời gian ngắn ngủi, tắt lịm dễ dàng. Lòng son của họ giống như giấy
hồng đơn đằm thắm màu đỏ trộn sắc xám trân châu, hay như giấy kim tương lộng lẫy
màu hồng quê, cũng điểm sao kim nhũ; nhưng cả hai thứ giấy này không dẻo dai và
mau chóng phai màu lợt sắc.
Đếm những lần xuân... Lại đếm thêm!
Bao nhiêu Xuân gối mỏi chân mềm
Ghe neo bến lạ mong trừ tịch
Thuyền ghé lạc bờ đợi nửa đêm.
Hỏi nước, nước đau niềm cá nổi
Gạn non, non xót cảnh chim chìm
Đón đưa Xuân sắc thêm lần nữa
Nhốt kín giao thừa tận cuối tim.
("Đếm Những Lần Xuân", trang 195)
Song Thi và những người bạn chung tâm huyết với chị làm sao khỏi đau lòng trước
đa số những kẻ khi ra hải ngoại chỉ với mục đích trốn cộng mà không có ý nghĩ
chống cộng? Khi an cư lạc nghiệp hoặc vinh thân phì gia trên đất nước tạm dung
rồi thì họ chỉ nghĩ tới hưởng thụ. Nhục nhã nhất là bọn lòn cúi kẻ thù để được
về thăm Việt Nam cốt khoe của cải và cốt chơi bời trụy lạc chứ không phải cốt
viếng thăm, giúp đỡ người thân còn sống sót hay viếng thăm mái từ đường xưa
cùng mồ mả tổ tiên.
Về cầm bó bạc trên tay
Mua Thương bán Khó kéo dài khổ đau
Xua tình cốt nhục đi mau
Đón tên cướp nước chia nhau miếng đường.
Em về đón gió một phương
Em về dẫm nát mảnh vườn quê cha
Em mang gấm vóc lượt là
Nối tay cho giặc cướp nhà tổ tiên.
Em đi cho hết ba miền
Vỗ tay cười cợt vung tiền làm vui
Thù chung năm cũ đã vơi.
Hận chung em cũng đã nguôi lâu rồi.
("Hỏi Thăm", trang 106)
Đối với những kẻ vong bản ấy, chị chỉ than van, bộc lộ nỗi niềm của mình tuy bằng
một giọng chì chiết đắng cay, nhưng chị không để tình cảm bung vỡ thành những lời
gào thét phẩn nộ. Chị biết tự chế để khỏi vừa bù lu bù loa vừa nguyền rủa, chửi
bới bọn chúng. Vốn là một nhà thơ tình lý đồng cân, chị giải bày cho họ hiểu nỗi
đau khổ lầm than của đồng bào chủng tộc, những u uất mang nặng canh cánh bên
lòng của mình:
Em có thương về cho núi sông
Mười lăm năm nước chảy xuôi dòng
Mười lăm năm đá chau mày khóc
Mây phủ ngang trời, em biết không?
Em có thương và em có hay
Bao nhiêu năm nước mắt đong đầy
Cây xanh héo úa vì cay nghiệt
Ruộng bỏ hoang tàn em có hay?
Em có thương và có xót xa
Phong ba vùi dập chốn quê nhà
Đau thương loang lổ tươm thành máu
Cùng cực in hằn trên lớp da.
Em đã xa và em đã quên
Hai mươi năm chửa cạn ưu phiền
Thêm bao năm đá tan thành cám
Nước chảy xuôi dòng trôi mất tên.
Em ngất ngư chìm trong biển quên
Buồn cho phố cũ đổi thay tên
Xóm thôn thay xác nên tù ngục...
Em sống quê người, thương gác bên.
("Em Có Thương?", các trang 90, 91)
Có những kiều bào về thăm Việt Nam, thấy các thành phố có những chung cư nguy
nga, những tòa kiến trúc tráng lệ nên đổ hô là đất nước đã phú cường, đã lột
xác thành đất nước văn minh tân tiến. Họ có biết đâu ở thôn quê hay ở các xó xỉnh
tối tăm trên đất nước, đa số lê dân nghèo khó, ốm đói, sống lây lất như lũ ma
đói. Cái thiên đường mà họ rêu rao đối với tác giả Song Thi vẫn chỉ là một
thiên đường giả. Đó cũng như khuôn mặt rỗ chằng chịt của một cô gái già được lớp
son phấn dầy cui tô trét lên. Đó cũng như tấm thân còi cọc đầy vết sẹo của cô
gái xấu xí được y phục bằng nhung gấm lộng lẫy, được nữ trang bừa bộn hào
nhoáng đấp điếm lên.
Cái gọi là Xã Hội Chủ Nghĩa được xây dựng trên ảo tưởng điên khùng của ông Karl
Max, trên ác mộng của dân lành thì thực tế làm sao đáp ứng cho bọn Cộng Sản
hoang tưởng và cuồng tín thành sự thật? Đó chỉ là cái phù du giả tạo ẩn núp sau
những hình người cười toe toét trong những tấm tranh cổ động, trong khi đó tác
giả những tấm tranh ấy nghèo túng thiếu ăn. Chúng chỉ gợi cho kẻ nhẹ dạ, kẻ mê
muội cái hình bóng phất phơ của thiên đường, cái ảo ảnh rực rỡ trong giấc mơ
phù phiếm mà thôi.
Thành quách em đang thấy ở xa
Chừng như đô thị sắc nguy nga
Em ơi có biết thiên đàng đó
Là chốn âm hồn chứa bóng ma.
Bước lại gần đi, mở mắt trông
Em ơi có thấy máu loang hồng
Khổ đau thấm ướt vành khăn lệ
Người khóc cho người giữa hố chông.
Sặc sỡ cờ treo như rủ rê
Sáng đèn nhung lụa chốn âm mê
Hồn trơn, ý trợt, tình đi lạc
Giận kẻ ngu ngơ hối hả về.
Thảm máu em về cứ dẫm lên
Máu từ đồng nội góc trời quên
Máu trên thành phố người đông đúc
Đó chốn "thiên đàng" không có tên.
("Thiên Đàng Giả", trang 121)
Cái thiên đường đích thực xa xưa đã thật sự mất rồi. Người lưu vong trở về
thaăm lại ngơ ngác trước cuộc đổi thay; Xin đọc:
Có người đứng giữa cơn mưa
Dang tay đứng đợi nắng mưa trở về.
Ngõ hoang xóm vắng cận kề
Soãi chân muốn bước bên lề phố đông.
Chèo ghe trên nước ngược dòng
Đêm đen tối mịt tưởng trong ánh đèn.
Ngẩn ngơ giữa chợ đua chen
Ngỡ như đóng cổng cài then quanh mình.
Bước chân lên thác xuống ghềnh
Tưởng đi suốt cuộc hành trình gấm nhung.
Dò đây hỏi đó mông lung...
Có ai biết được tên khùng mất quê.
Ra đi mất lối quay về
Thất thơ giữ một chân hề lưu vong.
("Hề Lưu Vong", trang 102)
Rải rác đâu đó những hình ảnh thân thương trên đất nước, những
kỷ niệm hạnh phúc len lỏi vào thi ca của Song Thi. Đó là những ám ảnh không
nguôi trong ký ức của chị như vết xâm bám chặt suốt đời trên da. Và đó cũng là
những ngọn lửa thiêng giúp chị nuôi vững bền tình yêu đối với giang sơn chủng tộc
để chị tranh đấu chống bạo quyền không bằng súng ống giáo gươm mà bằng ngòi bút
nhiệt thành vấn vương linh hồn Tổ Quốc. Chị xứng đáng là kẻ đi theo những bậc
thi nhân ái quốc tiền bối trong đo có nhà chí sĩ Nguyễn Đình Chiểu với hai câu
thơ lục bát bất hủ: "Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm"/ "Đâm
mấy thằng gia bút chẳng tà".
Nhớ gốc đa bên bờ dậu xanh
Làng xưa ẩn bóng khóm tre lành
Một mái hiên đình sơn thếp bạc
Một rặng dừa đón ánh trăng thanh.
Nhớ tiếng chuông chùa ngân vẳng xa
Trầm hương thơm thoảng cõi ta bà
Áo nâu cung kính bên bàn Phật
Bài kinh chiều gợi nhớ thiết tha.
Nhớ cánh đồng trải ngàn lúa non
Hồn quê ấp ủ chén cơm ngon
Áo ai tay xắn trong mùa gặt
Chiều mục đồng ca hát véo von.
Nhớ đô thành con đường Duy Tân
Đường mang tình ái tuổi thanh xuân
Gốc me đón đợi giờ tan học
Lá rụng vàng non, lá bâng khuâng 1.
Nhớ nhịp cầu bắc nối sang sông
Hôm xưa áo trắng có còn không?
Có đủ sáu vày mười hai nhịp
U uất tràn khuấy đục nước trong 2.
Nhớ biển xanh nước trời bao la
Ngút ngọn thùy dương trên bãi xa
Bọt biển có tràn trên cát mịn?
Có dã tràng đợi ngắm sao sa 3.
Nhớ gió đồi thông thoảng mặt hồ
Non cao rày phủ đắp khăn sô
Có ai lên viếng vùng cao đó
Hái giúp nụ hồng đã héo khô 4.
("Thư Tình Đêm Xuân", các trang 164, 165)
Đã có những ngày xa xưa, có lẽ vào thuở tác giả đang độ hoa niên hay vào thời kỳ
thanh xuân, chị đã từng tuần tự phơi lụa tím, lụa xanh, lụa đỏ trong nắng đẹp
miền Nam, đã sống trong tình yêu thơ mộng, đã bơi lội trong biển hạnh phúc bao
la với ngươi yêu. Nhưng rồi giông bão tràn tới quê hương đất nước, chị phải ra
hải ngoại. Kỷ niệm cũ vẫn sống mãi trong ký ức của chị. Nhưng trên đất khách chị
không còn phơi những thứ lụa có màu thuở trước nữa. Chị phơi lụa trắng với tâm
nguyện để tang cho Tổ Quốc. Chị phơi lụa vàng với hoài bão dựng lại ngọn cờ
xưa. Với tấm lòng thành khẩn thiết tha, chị mong rằng khi bóng cờ đỏ không còn
trên giang san gấm vóc của chúng ta, chị sẽ trở về Việt Nam, làm lại từ đầu, tức
là phơi màu khăn tím trong xóm cũ làng xưa.
Bạt gió trời lên cơn bão giông
Giây phơi khăn đỏ máu loang hồng
Tình ngưng không kết thành mơ ước
Nắng trở đem buồn cho nhớ mong.
Khăn trắng mang phơi thấy xót xa
Ai phơi tang khó trắng quê nhà?
Dung xứ tạm người chan chứa hận,
Nhục nhằn dầu dãi bước Kinh Kha.
Đất tạm hong phơi tấm lụa vàng
Cờ bay trong gió nắng xuân sang
Sào giây nối thẳng ba đường máu
Quốc hận vơi đầy chung ý mang.
Ai mơ chút nắng buổi hoàng hôn
Nắng chở mây xa trở nước nguồn
Khăn đỏ đi rồi thôi ác mộng
Tôi về phơi lụa tím cô thôn.
("Phơi Lụa", các trang 108, 109)
Chúng ta đã từng đọc loại thơ văn dĩ tải đạo nói chung, loại văn thơ ái quốc
nói riêng, chúng ta chỉ bắt gặp những đường cũ lối mòn, những ngôn từ quen thuộc,
những ý tình như đúc cùng một cái khuôn. Ở thi ca của Song Thi, chúng ta vẫn thấy
những yếu tố, những tính chất mà tôi vừa kể. Nhưng chị vẫn tạo cho thơ mình những
cái kỳ đặc hơn, le lói thần trí sáng tạo lấp lánh hơn. Chị biết trồng vài thứ kỳ
hoa dị thảo hai bên đương cũ lối mòn. Chị canh cải đôi chút ngôn từ cho đặc sắc
hơn mà khỏi cần thêu hoa dệt gấm. Chị nhìn sâu vào niềm rung cảm của mình để
tìm những ý tình thâm thúy hơn. Nhưng dù gì thì dù, chị vẫn giữ nguyên vẹn cái
văn dĩ tải đạo của mình như một tín đồ ngoan đạo giữ vẹn tấm lòng tín nguỡng kiến
cố của mình. Như người trinh nữ trong điện thánh Hỏa Giáo bên xứ Ba Tư giữ mãi
vết thủ cung sa đỏ thắm trên cánh tay trắng nõn như ngó sen ngó cần của mình.
Sau đây là bài "Áo Thêu" nói lên nỗi niềm tha thiết, cái tâm nguyện của
kẻ hướng về một lý tưởng, một đất nước và một ngọn cờ. Xin đọc:
Chị gửi cho em chiếc áo dài
Thêu cành hoa bướm với mây bay
- Hoa tươi có nở trời bên ấy
Bướm có sụt sùi, mây có bay?
Chị gửi cho em chiếc áo vàng
Thêu cành hoa cúc đón xuân sang
- Sao không thêu áo màu tơi tả
Loang lổ trên nền thước gấm sang?
Chị gửi sang em chiếc áo rồng
Đếm bao nhiêu vẩy, mấy chờ mong
Thiên Long uốn khúc vờn châu ngọc
- Thừa chỉ kim nào thêu núi sông?
Một chiếc áo thêu màu lúa thơm
Đồng xanh vương thắm buổi chiều hôm
Lụa thêu trên áo tròn như mộng...
- Lúa lép bên nhà có đủ cơm?
Chị gửi sang em tà áo bay
Của người thiếu phụ mắt hoen cay
Khóc con vượt biển mồi cho cá
Chồng chốn lao lung vướng đọa đày
Xin chị thôi đừng gửi áo thêm
Quê hương bày bán dưới đèn đêm
Te tua vá víu màu sang cả
Gạt lũ chim non yếu cánh mềm.
Chị nhé thôi đừng gửi áo thêu
Lầm than phủ giấu lớp nhiễu điều
Gấm nhung không ấm lòng cô lữ
Chị gửi sang giùm tiếng quốc kêu.
Chị nhé xin thôi đừng gửi áo!
Giữ gìn mà phủ bọc giang san
Đau thương kết chỉ luồn trong máu
Kim nào thêu được nét tan hoang?
(các trang 84, 85)
Bước sang tản văn, Song Thi vẫn không buông bỏ đường lối,
khuynh hướng đả phá cái Ác để duy trì và phát huy cái Thiện của mình. Giọng điệu
văn chương miền Nam thường véo von, bộc trực, xí xọn đượm hơi hướm của ngôn ngữ
dân quê. Văn phong của Hồ Biểu Chánh, Vương Hồng Sển, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam,
bà Vân Trang, bà Nguyễn Thị Thụy Vũ, nhất là của Lê Xuyên đều quê rít quê rang
nhưng rất quyến rũ mặn mà, gây cho độc giả ngoài cái kiến thức uyên bác, còn
thêm niềm thú vị đậm đà. Văn phong của lớp sau như Xuân Vũ, Phạm Thăng, Hồ Trường
An, Kiệt Tấn, Nguyễn Văn Sâm, Võ Kỳ Điền, Phùng Nhân, Nguyễn Văn Ba, Nguyễn Tấn
Hưng, Sĩ Liêm...(nam), Phượng Khánh, Phương Hoài Nam, Nguyễn Thị Ngọc Nhung, Tiểu
Thu, Hồng Lan, Dư Thị Diễm Buồn... (nữ) cũng quê mùa không thuốc chữa, nhưng vẫn
mở đầu tiếng nói của một thế hệ đau thương mất mát vì chiến tranh, vì hoàn ảnh
vong gia khứ quốc. Đó cũng phản ảnh được tiếng nói vang vọng từ lòng đất nước
Nam Kỳ Lục Tỉnh thân thương. Cho nên họ cũng không cần thuốc chữa làm gì. Trái
lại, dù áp dụng ngôn ngữ Nam Kỳ nhưng văn phong trong thơ Song Thi, bút pháp
trong văn xuôi của chị, chẳng những không quê mùa mà đôi lúc còn đượm âm sắc
cao sang thanh thoát. Chị không cần chuốc lọc mà văn phong bút pháp chị vẫn
trong sáng như pha lê và óng ả như mặt gỗ cẩm lai, gỗ giáng hương, huỳnh đàn giồi
bóng. Chị không õng ẹo mà bút pháp vẫn quyến rũ ở giọng điệu đoan trang thùy mị.
Phần văn xuôi có những bài tùy búy như "Kỷ Vật Trong Đời", với tính
chất thuyết thoại (la narration) trộn lẫn hồi ức (flash back), nhắc lại thuở học
trò với quyển lưu bút cùng các khuôn mặt bạn bè của tác giả. Chị cũng nhắc lại
quyển lưu bút ghi bút tích các văn nghệ sĩ , nhắc luôn thời kỳ tác giả viết
văn, làm báo, làm phóng viên chiến trường và vài món kỷ vật lúc chi cùng chồng
con vượt biên.
Tập lưu bút thuở học trò mang cái tên "văn vẻ đượm mùi học trò": Lưu
Bút Ngày Xanh mà thời kỳ tôi còn trung học gần như đứa học trò nào cũng có. Tập
lưu bút của tôi thật dầy với hàng trăm nét bút kỷ niệm, ngay trang đầu là ảnh của
"chủ nhơn" với mái tóc kết hai chiếc bím dài và nụ cười thật tươi, thật
vô tư. Bạn bè của tôi suốt những năm trung học hầu hết đều có mặt trong đó. Ẳnh
người nào cũng được trang trí hoa hòe bằng những tấm carte postale thuở đó có cảnh
tuyết mùa đông, lá mùa thu, có hoa mùa hè sáng rỡ lấp lánh đày kim tuyến. Miền
NamViệt Nam của tôi không có bốn mùa nhưng tập lưu bút có đủ hình ảnh Xuân Hạ
Thu Đông! Cho đến bây giờ, đã mấy mươi năm qua, từng trang lưu niệm vẫn hiển hiện
rõ trong trí nhớ tôi: ảnh Cao thị Nhung, bạn lớp nhì, đôi mắt mơ màng, tô màu
son thật đậm; ảnh Nguyễn thị Chỉnh, cũng môi son đậm nhắc tôi tiếng cười trẻ hơ
năm học lớp nhất; ảnh "học trò ngoan nhất lớp" Đào thị Lê trong bộ y
tá trắng có chữ thập trên mũ (dạo đó có phong trào chụp ảnh giả trai, giả tá
v.v..., không ngờ sau này Lê cũng đi vào ngành y tế để trở thành nữ hộ sinh bệnh
viện Từ Dũ); ảnh Lý thị Thảo, hai chị em Nguyễn thị Nâu và Nguyễn thị Kim Liên,
ảnh Hồ thị Ngọc, Nguyễn Ngọc Ninh và nhiều lắm, nhiều lắm... Các bạn nam cũng đầy
đủ: Trưởng lớp Nguyễn Huy Phú đội nón hướng đạo cười vui; Nguyễn Hiếu Tín nước
da bánh mật, "đi khu" trong Phong Trào Bảo Vệ Hòa Bình, sau anh trở về
Sài Gòn trở thành con sâu rượu vì bất mãn lỡ ngu dại lao đầu vào " đảng cướp";
Lý Thanh Điền vắn số chết trận, có cặp chân mày châu lại rất gần; Phạm Văn Ne,
Nguyễn Hữu Kỳ, Nguyễn văn Hội và Giang văn Vui bốn "yên hùng" không
bao giờ thiếu mặt trong những cong tác văn nghệ xã hội... Còn nhiều, nhiều nữa...,
những bạn học trò mà ngày nay có đứa còn ở lại quê nhà, có đứa trôi giạt khắp
Năm Châu, có đứa thất lạc mất tung mất tích...
Thời gian "lăn lộn" trong làng báo và giới văn nghệ, tôi có thêm một
tập lưu bút khác. Tập lưu bút này rất trang nhã không có ảnh nhưng có thủ bút
các nhà văn, nhà thơ, nhà báo như Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Ang Ca, Giang Tân, An
Khê, Lý Cẩm Tâm, Ngô Tỵ, Anh Quân, Ngọc Linh v.v... Tập kỷ niệm đầy những trang
chưa viết thì biến cố 75 xảy đến.
("Kỷ Vật Trong Đời", các trang 314, 315)
* "Chuyện Những Dòng Sông" cũng là thiên tùy bút nhắc nhở người bạn
gái đồng nghiệp tên Phương khi cả hai cộng tác cho Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (đài
VOA). Chúng ta thừa biết đó là nữ sĩ Thanh Phương, người cầm bút hơn 3/ 4 cuộc
đời. Tác giả và chị Thanh Phương trước kia ở bên nhánh sông Đồng Nai từ sông từ
Biên hoà chảy ngang thành phố Sài Gòn, ra Nhà Bè rồi tuôn ra biển. Chẳng biết
có phải con sông có nối liền số mệnh cả hai trong việc cầm bút, trong côn việc
làm phóng viên cho Đài Tiéng Nói Hoa Kỳ hay không? Nhưng nó nối liền tấm lòng cảm
thông của cả hai với nhau dù tác giả sống bên bờ biển thuộc tiểu bang Oregon
(Hoa Kỳ), còn chị Thanh Phuơng sống bên bờ sông Seine trên nước Pháp:
Hai đứa tôi ở cách nhau hai đầu cầu và một dòng sông. Phương ở bên kia cầu
Trương Minh Giảng, tôi ở bên này sông cầu Kiệu. Dòng sông thì không có tên nào
nhất đinh: ở hướng Càu Kiệu thì gọi là sông Cầu Kiệu, hướng Trương Minh Giảng
thì cứ gọi là sông Trương Minh Giảng. Tựu trung, đây là nhánh sông nhỏ chi lưu
của sông Đồng Nai, đổ từ Biên Hòa xuống Thủ Đức, Cầu Sơn, mạch lớn chảy qua Thị
Nghè, hợp lưu với sông Sài Gòn chảy vòng dưới dạ cầu Tân Thuận, qua Nhà Bè để
ra cửa Soài Rạp và tuôn ra biển.
Mạch sông nhỏ len lỏi đổi hướng chảy về Càu Bông làm gạch nối giữa Đa kao và
Gia Định, men về phía Tân Định làm ranh giới cho Xóm Chùa và một vùng ruộng lúa
nhiều lau lách. Tôi biết rõ đám ruộng này vì thuở học lớp Đệ Thất, Đệ Lục, tôi
vẫn thường theo mấy đứa bạn vào Chùa Vạn Thọ trong Xóm Chùa để lạy Phật mỗi khi
chuẩn bị kỳ thi lục hay tam cá nguyệt. Chúng tôi kéo nhau ra sân sau chùa ngồi
học bài. Chùa ở sát bờ sông, nhìn qua bên kia đám ruộng lúa, ở tít mù xa, đám bạn
tôi nói đó là hướng đường Chi Lăng Phú Nhuận, và có vài lần, chúng tôi mạo hiểm
mướn xuồng băng qua sông hái lúa trộm, ép trong sách học trò..., nhưng chứa bao
giờ tôi được đi ngả tắt đó mà đến Phú Nhuận cả.
Từ Xóm Chùa, con sông nhỏ tiếp tục chảy luồn dưới gầm cầu Kiệu, lằn gạch nói giữa
Tân Định và Phú Nhuận, như mối liên hệ giữa đường Hai Bà Trưng và Võ Di Nguy.
Nhánh sông nhỏ càng đi tới càng khó khăn khi phải chen lách giữa những khu nhà
sàn càng ngày càng bành trướng. Khúc sông cuối cùng bị nghẽn lối sau khi đã cố
gắng chui qua cho được thêm hai chiếc cầu Công Lý và Trương Minh Giảng.
(các trang 273, 274)
Gặp lại nguời bạn gái đồng nghiệp năm xưa bên dòng sông Seine chảy thao thao,
có thuyền chở du khách ngoạn cảnh hai ben bờ sông (bateau mouche), tác giả được
chị Thanh Phương cho biết con sông chảy qua khúc cầu Trương Minh Giảng đã nghẹt
ứ vì rác rến lấp đầy. Cả hai cùng buồn cảnh quốc phá gia vong và cảnh tha hương
ngộ cố nhân. Dòng sông bị bít lối ở đây ẩn dụ hay tượng trưng cho một điều gì?
Có phải là mạch cảm thông của tình đồng bào, của mạch sống dạt dào của Đất Mẹ
thiêng liêng bị ngăn chận bởi bạo quyền của chế độ hiện tại trên cố quốc hay
không?
* "Người Bán Trăng": nói về cảnh khốn cùng của một người mù hát dạo
trong chuyến xe buýt sau cuộc đổi đời. Anh hát bài thơ "Hàn Mặc Tử" của
Trân Thiện Thanh với 2 câu mở đầu: "Ai mua trăng? Tôi bán trăng cho"/
"Không bán tình duyên ước hẹn hò".Sau đó, anh ta hát trong Sở Thú bên
cạnh loại ác thú bị giam cầm. Đất nuớc nghèo, thú trong chuồng thiếu ăn, ngưòi
ăn mày ốm đói. Chỉ có các anh nón cối thấy loài thú lạ mà từ bấy lâu nay dưới
chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa ở ngoài Bắc không có, tỏ ra thích thú thôi.
* "Người Nghệ Sĩ Tên Nhơn": Chàng họa sĩ tên Nhơn tuy cùng vợ đã đến
định cư trên đất nước Hoa Kỳ, nhưng anh không thích ứng với đời sống hiện tại ở
đây. Anh không đủ sức làm phu khuân vác, anh không có vốn liếng Anh ngữ để học
ngành điện tử. Anh đành thất nghiệp, vẽ tranh bán lai rai. Anh rất ghét màu đỏ
vì đó là màu cờ Cộng Sản nên anh cố tránh đưa màu máu dữ dằn này vào các họa phẩm
của anh. Cuối truyện, anh lại chết vì bạo bệnh.
"Người Nghệ Sĩ Tên Nhơn" cũng như "Người Bán Trăng" là hai
bức tranh xã hội rất sống động trên hai xứ sở khác nhau. Nhưng cả hai truyện ngắn
đều có một mẫu số chung: sự điêu đứng của những kẻ mất nước.
* "Con Thằn Lằn": Nhân vật tên Lân mắc bịnh suyễn kinh niên, chạy chữa
thuốc Tây, thuốc ta đều vô hiệu nghiệm. Khi chàng đi quân dịch, có một lần nhờ
ngườii bạn tên Ánh giúp chàng qua cơn bệnh suyễn ngặt nghèo bằng cách cho chàng
nuốt con thằn lằn bạch. May mắn cho Lân vào ngày hấp hối của chế độ Cộng Hòa của
Miền Nam Việt Nam, chàng cùng Ánh qua đảo Guam và rồi định cư ở Hoa Kỳ. Ở hai
nơi này, chàng không có con thằn lằn bạch để trị suyễn. Trên đất nước Hoa Kỳ chỉ
có con thằn lằn xanh vì đưọc nuôi bằng rau cỏ, trông gớm ghiếc, không thể nuốt
trôi. Ánh gửi thư về Việt Nam xin thằng bạn khác tên Sơn gửi qua con thằn lằn bạch
cho Lân. Nhưng Sơn chỉ gởi xác khô con thằn lằn dán ở góc bức thư? Sơn cho biết
ở Việt Nam bây giờ, thằn lằn khó kiếm. Các nhà tối tân có máy điều hòa không
khí rất kín mít nên thằn lằn không thể chui vào. Còn trong các nhà nghèo, người
không có đủ cơm ăn thì đâu có gì để dành cho loài vật.
* "Sợ Chuột": Đây là chuyện tai nạn nhưng là chuyện vui. Tác giả sợ
chuột từ nhỏ, dù là thứ chuột đồng nuôi sống bằng lúa nếp có thịt tinh khiết
thơm ngon. Khi định cư trên đất nướcHợp Chúng Quốc, tác giả khổ vì chuột hí lộng
trong nhà mình nên chị tìm cách trừ chuột. Nhưng không ngờ, chị giết được vợ chồng
con chuột cuối cùng bằng thứ thuốc làm chúng khát nước nên rời tổ để uống nước
tới căng bụng mà chết. Chúng dể lại lũ con trong ổ chuột dưới sàn ván trong căn
bếp. Bầy chuột con chết vì thiếu sữa mẹ, mùi thối tha bốc lên khó chịu. Trải
bao ngày vợ chồng chị phải chịu trận, không kiếm được chỗ nào để tìm ra chuột
chết. Sau cùng, cạy sàn ván lên, chị mới hay nguyên do tự sự. Cơn ác mộng chấm
dứt, nhưng dù trong cơn ác mộng hay vào lúc kết cuộc của cơn ác mộng ấy chị diễn
tả bằng lối văn ôn nhu lẫn dí dỏm để thay đổi khong khí u trầm, thê thiết của
các mẩu truyện khác.
* "Học Trò": Nhân vật xưng tôi (có thể là tác giả) ngày xưa đi dạy lớp
bình dân học vụ cho các bậc lão nhiêu mù chữ, được họ "dạ thưa cô" một
cách cung kính dù đương sự van xin họ nên gọi mình băng con hay bằng cháu.
Nhưng họ không nghe vì họ tôn trọng lời dạy Đức Khổng Tử qua câu "quân sư
phụ", làm cô thầy thì chỉ có dưới vua mà thôi.
Trên đất Mỹ, nhân vật xưng tôi dạy tình nguyện miễn phí tiếng Việt cho lũ choai
choai thuộc hạn đầu bò bướu cổ. Nhưng nhờ sụ tận tâm và sự tế nhị của đương sự
mà lớp học được suông sẻ. Không hiểu có phải do hồn thiêng Tổ Quốc và do tiền
nhân phù hộ, hoặc do dòng máu chủng tộc luân lưu trong huyết quản của lũ học
trò hay không mà chúng học mau giỏi tiếng mẹ đẻ, chẳng những chúng nói rựa ràng
tiếng Việt mà còn có đứa viết thư về Việt Nam cho bà ngoại bằng tiếng Việt nữa.
Món quà thưởng tinh thần này làm nhân vật xưng tôi hạnh phúc đến nỗi không sao
cầm được nước mắt.
* "Sue": Đây là người bạn đồng nghiệp Mỹ của tác giả tên Sue khi cả
hai làm việc tại hảng điện tử Textronix tại Oregon. Đây là người phụ nữ da trắng
giàu lòng từ thiện, không phân biệt chủng tộc màu da. Chị ta lấy chồng gốc người
Phi Châu. Chị ta giúp đỡ dân tị nạn Đông Dương và những ai đang khốn khó. Chị
ta đã nuôi đứa bé Căm-bốt mồ côi, nuôi luôn hai thằng bạn lạc loài của nó. Hơn
10 năm trước, Sue đã ly dị chồng vì anh ta đã tằng tịu với một phụ nữ khác.
Nhưng chị vẫn ở vậy để nuôi ba đứa con ruột, ba đứa con nuôi và một bà mẹ già.
Khi tác giả viết truyện ngắn này thì Sue đã thiên cư về New York. Mẹ chị ta đã
chết. Chị ở chung với cô trưởng nữ cũng lấy chồng gốc Phi Châu như chị ta. Rồi
một hôm, Sue gọi điện thoại cho tác giả để hàn huyên, để nhắc nhở những ngày
cùng làm việc chung với tác giả ở hảng Textronix.
Đây là một khúc hoan ca tán tụng một tâm hồn thu nhỏ tự ái (kết hôn với người
đàn ông da màu mà không mặc cảm, giúp tha nhân mà còn bị eo sèo bởi miệng lằn
lưỡi mối, ly dị người chồng phản bội mà không thù oán). Sue thu nhỏ tự ái vẫn
chưa đủ mà còn nới rộng tình bác ái thêm bao la. Một nhân vật như thế chúng ta
khó gặp ở trong cuộc đời. Nhưng đối với cây bút tin cậy cuộc đời như Song Thi
thì mới có được cơ duyên kỳ diệu đưa đẩy tới để chị kết bạn với đương sự . Có vậy,
tác giả mới có dịp viết về cuộc đời của đương sự để rọi ánh sáng tin yêu vào
tâm hồn độc giả giữa cuộc sống lọc lừa, dối trá và tàn ác này.
* "Thư Không Niêm": Đây là chuyện tình bạn bè của 5 học sinh gồm có
Tin, Vui, Ne, Kỳ, Hội và cô nữ sinh Phạm thị Minh Trí (tên cúng cơm của tác giả).
Họ là những học sinh tràn trề nhiệt huyết, thường làm công tác từ thiện cho xã
hội và công tác văn nghệ cho nhà trường. Thật ra, Tín hoạt động hăng say cho Mặt
Trận Giải Phóng Miền Nam, bị bắt, trốn tù và chạy vào mật khu. Sau ngày sụp đổ
của Miền Nam Việt nNam, Tín trở về Sài Còn với thân vóc gầy gò, khuôn mặt tiều
tụy, thường xa lánh các bạn cũ. Vui, Kỳ, Hội nghĩ rằng Tín không muốn dây dưa với
bạn cũ vì hắn không muốn họ lợi dụng tình bạn cố tri để khỏi bị họ xin xỏ điều
này điều nọ với hắn. Nhưng thật ra, Tín chán ngán chế độ mà trước kia hắn cho
là lý tưởng cao quý của đời mình. Khi tác giả vượt biên và được định cư trên đất
nước HợpChúng Quốc, được nghe bạn cũ kể lại rằng Tín bây giờ dùng rượu để quên
nỗi thất vọng vì đi sai lầm đường để rồi đút đầu vào một chủ nghĩa không đáp ứng
được cái lý tưởng xa xưa của mình.
Bức thư không niêm của tác giả viết cho Tín vẫn là bức thư thông cảm để chị
chia sớt nỗi khổ tâm của người bạn cũ. Niềm thông cảm của chị đối với người bạn
xưa không vì chính kiến, chủ nghĩa mà hao hớt, lụn tàn. Nguyễn Hiếu Tín, Phạm
văn Ne, Nguyễn Hữu Kỳ, Giang văn Vui được tác giả nhắc lại trong truyên ngắn
"Kỷ Vật Trong Đời".
* "Chiếc Quan Tài Quỳnh Đàn": người bác của tác giả là một trưởng giả
có hai đứa con trai đầu theo Cộng Sản. Nhưng người con thứ ba là một chiến sĩ
phe chủ nghĩa Quốc Gia. Cô con gái kế là giáo sư Hội Việt Mỹ; còn cô út thuộc
thành phần tiểu tư sản, có sạp vải ngoài chợ Đa Kao. Người bác chỉ mong có ngày
đất nước thanh bình, con cái bác sẽ quay về dể bác chia gia tài gồm ngôi nhà đồ
sộ của mình. Nhưng khi Cộng Sản bạo chiếm Miền Nam thì nhà bác bị sung công, tụi
chúng dành cho bác căn phố nhỏ có thể bày cổ hậu sự bắng gỗ huỳnh dàn. Tác giả
đã nhắn nhủ với người bác ấy như sau:
Con vẫn nhớ rõ một buôi trưa nắng cháy, lũ nửa người nửa ngợm thao dượt
"đánh trận trong thành phố" đã leo theo ống máng xối lên nóc nhà Bác
và trổ xuống theo đường nhà tắm, cầu tiêu. Bác giận dữ đi tìm tên chỉ huy để phản
đối, khiếu nại về hành động xâm nhập gia cư mà không xin phép, thằng chỉ huy tuổi
đáng cháu ngoại Bác đã hách dịch hỏi ngược Bác: ngày chúng tôi đánh vào Sài Gòn
chúng tôi có cần xin phép "chú" hay không?
(trang 284)
Đây chỉ là một trong muôn ngàn thí dụ điển hình của bọn cướp được chủ nghĩa tồi
tệ ủng hộ (cướp đất, cướp nhà, cướp gia sản, cướp cả tự do suy nghĩ, tự do tín
ngưỡng...). Xưa kia, nhà thơ ngụ ngôn La Fontaine có bảo: "Lý luận kẻ mạnh
bao giờ cũng thắng thế".Có lẽ câu ấy đúng trong trường hợp của tên chỉ huy
kia
* "Đóa Hồng Cho Quê Hương": Đó là thời gian tác giả làm việc cho hãng điện tử Textronix. Vào chiều 30 tháng Chạp, chị nhớ cái Tết nơi quê nhà nên
khóc tức tưởi các bạn đồng nghiệp ngơ ngác không hiểu vì sao chị khóc như thế.
Tới chừng rõ nguồn cơn tự sự, ông Ted Wollam, xếp của chị hôm sau đến chị một
bình có cắm hai đóa hồng vàng và tấm thiệp Happy New Year.
Hai mươi năm sau, tác giả về hưu. Ông Wollam cũng đã hồi hưu trưóc đó khá lâu.
Các bạn đồng nghiệp của chi phân rẽ tứ tán, nhưng hai đóa hồng còn sáng mãi
trong ký ức và trong niềm cảm khái sâu xa của chị. Lại nữa, đây là một câu chuyện
tin yêu giữa con người với con người, nhất là con người có tổ quốc đối với con
người mất nước sống nơi khách địa với tâm trạng bơ vơ lạc loài.
* Sau hết, chúng ta có thể xem các truyện ngắn "Thư Gửi Chị",
"Chị Hai Tôi", "Hiếu Bình", "Mối Lo Của Người Chị"
thành 4 chương của một truyện vừa. Chuyện kể: người chị lớn của tác giả (trong
truyện gọi là Chị Hai) khi còn ở Việt Nam, sau cái chết của anh học sinh Trần
văn Ơn, chị cùng nhóm sinh viên học sinh chống chính quyền Thuộc địa Pháp.
Nhưng chị sa vào lưới bẫy của bọn Việt Minh, thứ Cộng Sản trá hình mượn chiêu
bài chống Tây để dụ dỗ những kẻ ái quốc chân chính theo chủ nghĩa chúng. Chị
Hai bị chánh quyền Tây bắt giam, nhưng nhờ ông thân sinh của chị vốn là bạn
thân của Thủ Tướng Nguyễn văn Tâm dàn xếp, chị được phóng thích và được sang
Pháp du học. Trên đất Pháp, chị vẫn mê say chủ nghĩa Việt Cộng để chống Mỹ mà
chị cho rằng đó là bọn Đé Quốc bởi vì chị nghe lời tuyên truyền xảo trá của Việt
Công về vụ Mỹ dội bom B 52 trên đất Bắc. Sau khi đỗ bằng kỷ sư ngành dêt, chị về
Miền Bắc với tinh thần phục vụ quê hương. Trước đó, chị lấy chồng ở Pháp, nhưng
sinh đứa con độc nhất là Hiếu Bình trên đất Bắc. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975,
Miền Nam rơi vào tay giặc Cộng, chị trở về Sài Gòn phục vụ cho "bọn họ".
Chị có vẻ thất vọng vì những lý do như sau:
Hai vợ chồng chị ở trong một chung cư chỉ tiêu vừa rộng hơn một sàn gỗ trải chiếu
đủ hai người nằm; chiếc thùng dựng xe đạp chở từ Pháp về được dựng lên vừa làm
vách phòng, vừa làm kệ tủ. Bếp là một lò duy nhất kê sát tường lâu ngày ám khói
đen kịt. Cầu tiêu là cầu công cộng để người ta lấy phân bón rau cải. Chị vui,
hãnh diện vì thời gian đầu "nhà nước" đưa chị và các bạn Việt Kiêu
yêu nước" của chị lên mút tầng mây bằng những lần tuyên dương các chị là
những "phụ nữ bắn máy bay Mỹ" Suốt thời gian ở Hà Nội, chị không hề
được ăn nước mắm, nước mắm của chị là loại nước tương pha thêm muối, chị không
dám ăn một miếng thịt vì chỉ tiêu của hai vợ chồng gom lại chỉ đủ mua thịt cho
thằng con cưng Hiếu Bình.
Cũng theo lời chị tiết lộ trong những lúc vui miệng: chỉ "tuyên
dương" được vài năm đầu, "nhà nuớc" bắt đầu bỏ rơi những
"Việt kiều yêu nước". Không những "nhà nước" làm lơ với những
hy sinh cao đẹp của chị cùng các bạn chị, mà cứ đôi ba tháng, công an cứ
"gọi" chị đến văn phòng để vấn nạn chị một câu được lập đi lập lại
nhiều lần: "Chị ở Pháp được đầy đủ tiện nghi, đời sống sung túc... Chị về
đây làm gì? Chị là thành phần cộng sản Pháp, có phải chị về để làm gián điệp
cho Pháp chăng?".
("Chị Hai Tôi", trang 302)
Chị Hai có phải người Cộng Sản thuần túy không? Có lẽ là không. Chị vẫn còn nặng
óc gia đình, đó là cái óc lụn bại của thành phẩn tiểu tư sản đối với Cộng Sản.
Chị vẫn thương yêu cô em Minh Trí ương ngạnh của mình vì đương sự luôn tôn thờ
chủ nghĩa Quốc Gia. Chị sau khi định cư ở Sài Gòn, vẫn tìm việc làm cho tác giả
nhưng tác giả không thấy thích hợp ngành nghề nào mà chị Hai đề nghị. Riêng tác
giả vẫn thương yêu thằng cháu Hiếu Bình của mình, vẫn vừa thương vừa giận người
chị ruột của mình. Thế rồi tác giả cùng chồng con vượt biên, được định cư ở tiểu
bang Oregon, trên đất nước Hợp Chúng Quốc.
Tác giả vẫn thừa biết một điều: trong tận cùng sâu kín của ý thức, chị Hai vẫn
thấy mình lầm. Nhưng tác giả cảm thấy thất vọng vì người chị ấy luôn bám riết
cái lý tưởng sai lầm của mình và vào cái ảo ảnh của thiên đường cộng sản. Cho
nên trong truyện "Thư Gửi Chị", tác giả đã viết:
Tiếc rằng hai chị em mình chọn hai con đường khác nhau, hai ý thức hệ đối nghịch,
hai chị em mình cách biệt hai chiến tuyến, dù chị Hai biết sự chọn lựa mình là
sai lầm chị vẫn tiếp tục nhắm mắt phục vụ, không "phản bội đảng", sự
lì lợm, ương ngạnh đó là do giòng máu của Ba chúng mình để lại, em không chấp
nhận con đường chị đi nhưng đôi khi em phân vân không biết mình nên chê trách
hay nghiêng mình kính phục chị ở sự trung thành, dù biết mình lầm nhưng vẫn
không đón gió, trở cờ. Thôi đành vậy, đường ai nấy đi, em vẫn tự hứa "nhất
định không về khi CS còn ngự trị trên đất nước Việt Nam của chúng mình".
Hai mươi lăm năm, chị em mình như người xa lạ, không một bức thư thăm hỏi,
không một gói quà chia xẻ những khó khăn chật vật mà em nghe về chị Hai, có nhiều
lúc em tàn nhẫn tự bảo lòng: chị đã chọn thì chị phải chịu trách nhiệm về sự chọn
lựa của mình...
("Thư Gửi Chị", trang 294).
Nhưng bởi sợi dây huyết thống thiêng liêng, bởi lòng vị tha mãnh liệt, bởi niềm
thông cảm dạt dào, cho nên khi nghe thằng cháu Hiếu Bình của mình điện thoại
báo tin chị Hai nằm bệnh viện chờ chết, tác giả vội vã về Việt Nam thăm chị lần
chót để khỏi ân hận suốt đời. Và đương sự vẫn thương yêu thằng cháu như hồi 25
năm về trước.
Chị Hai lạc đường là do lý tưởng tôn thờ sự công bình nhân ái đối với nhân loại,
do sư yêu chuộng nền tự do độc lập dành cho xứ sở của chúng ta mà ra. Ở đây có
một vận sự đau lòng mà chị Song Thi không nêu ra. Trên đất Pháp, sinh viên của
nền Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam đã từng khổ sở điêu đứng bởi bọn đại sứ và bọn
ngoại giao của hai nền Đệ nhất và Đệ nhị Cộng Hòa gây ra. Đó là bọn ngu xuẩn với
căn tính ti tiện trên đội dưới đạp, làm nhơ nhuốc danh nghĩa ngành Ngoại Giao của
đất nước Miền Nam Việt Nam. Chúng khinh rẻ sinh viên Việt Nam nghèo, ưa làm khó
dễ đối với họ để nịnh bợ bọn con ông cháu cha. Trong khi đó, bọn đại sứ và bọn
ngoại giao của phe Cộng Sản luôn o bế và giúp đỡ các sinh viên nghèo, dụ dỗ họ
vào đảng hoặc gieo cho họ lý tưởng và mầm mống thiên tả, hay gieo cái ảo tưởng
thiên đuờng được xây dựng tên Xã Hội Chủ Nghĩa của bọn chúng. Do đó mà các sinh
viên Việt Nam trên đất Pháp bị lừa phỉnh. Kẻ nào hồ hỡi về phục vụ Việt Nam sau
khi bọn giặc phương Bắc cưỡng chiếm Miền Nam Việt Nam, mới bật ngửa ra: mình
đút cổ vào tròng dây thòng lọng. Như thế, cái nguyên nhân chính yếu, cái gốc rễ
của hậu quả đắng cay đó có phải là do bọn ngoại giao, bọn đại sứ phe quốc gia
gây ra không? Hỏi tức là trả lời vậy.
Thưởng thức văn chương của Song Thi, tôi liên tưởng tới văn
chuơng của nũ sĩ Pearl S; Buck (đoạt giải Noobel văn chương năm 1939). Cả hai đều
có bút pháp thiết tha, văn phong điềm đạm. Cả hai lại còn chân thành và thằng
thắn, nhìn cuộc sống bằng trực giác, bằng thiên lương. Cho nên lối diễn tả của
họ đều dồi dào trực tính, không ngụy trang lời dối gian hay che đậy những điều
giả tạo. Thế có nghĩa là họ thấy sao viết vậy, không dùng lối văn uốn éo ruột rồng,
lòng vòng rột rắn, lắn quắn ruột dê để làm dáng trí thức, hay ca tụng cái phù
phiếm, cái se sua thối tha, hoặc vun quén cái thói đê tiện ác tâm của kẻ ngụy
quân tử. Chúng ta thử đọc toàn bộ"Good Earth' gồm 3 quyển; "Good
Earth ("Đất Lành", năm 1931), "Sons" (Những Người Con
Trai", năm 1932), " và "A House Divided" ("Ngôi Nhà
Chia Cắt", năm 1935). Chúng ta thấy nữ sĩ Pearl S. Buck ca tụng cái đảm
đang hiền lành của lớp nông dân, sự tận tụy của những bà vợ quê mùa, những
thanh niên ưu tư với vận mạng tổ quốc. Song song đó, bà công kích kẻ đầu cơ trục
lợi, bọn thổ phỉ, bọn mất gốc chỉ thích hưởng thụ truy hoan, những kẻ cuồng tín
theo Cộng Sản v. v....
Song Thi không cốt ý theo dấu chân của Pearl S. Buck khi chị làm thơ mang nặng
trách nhiệm với quê hương chủng tộc. Nhưng chị giống bà Pearl S. Buck là không
ưa thi ca ủy mị, thi ca tán tụng cái đẹp phù phiếm, hời hợt, rổng tuếch. Trong
cuốn thứ ba của bộ "Đất Lành", bà Pearl S. Buck đả kích thơ của anh
chàng Wang Seng (Vương Tiên ) khi anh ta sáng tác loại thơ ca tụng cái đẹp chết
chóc của cô gái tóc vàng trên một hải đạo tưởng tượng nào đó dưới ánh trăng.
Song Thi cùng với Nhã Ca, Linh Linh Ngọc, Ngô Minh Hằng, Ý Nga, Tạ Tỵ, Diệu Tần,
Hà Thúc Sinh, Lê Khắc Anh Hào, Hồ Công Tâm, Bắc Phong, Vũ Kiện, Phạm Quang Ngọc,
Nguyễn Mạnh An Dân, Vũ Nam... là những chiến sĩ can trường trong cõi văn chương
cũng như Nguyệt Ánh và Việt Dũng, Trương Sĩ Lương, Nguyễn Quyết Thắng... là các
chiến sĩ đầy nhiệt huyết trong thế giới âm nhạc.
Chú thích:
|
1. |
Sài Gòn, |
|
2. |
Huế |
|
Nha Trang |
|
|
Đà Lạt |
Chương 6
Tiểu Thu, nhà văn nữ đi vào
khu vườn kỷ niệm qua tập truyện
"Tiếng hót vành khuyên"
Tiểu Thu là một nhà văn gốc Nam Kỳ, chuyên viết về kỷ niệm những ngày chị
sống ở Cao Lãnh, Kontum và Ngả Năm Bình Hòa (Sài Gòn). Lác đác có vài truyện xảy
ra trong khung cảnh thành phố Montréal (Gia-nã-đại). Nhưng từ thành phố định cư
ấy, chị không quên viết những ngày hoa mộng ở trên 3 địa danh của đất nước Việt
Nam mà tôi vừa kể.
Tập truyện "Tiếng Hót Vành Khuyên" là tác phẩm thứ hai của
nhà văn nữ Tiểu Thu, sau quyển "Sóng Nước Tình Quê" xuất bản vào năm
2003. Trong khi giao cho tôi bản thảo của tác phẩm thứ hai vừa đóng thành tập rất
đẹp, tác giả có cho biết rằng chị đang đem in nó thành sách. Đây là công trình
thập thúy tầm phương (gom góp lông chim trã và tìm hoa thơm) của tác giả. Chị
đã kết tập những truyện ngắn đăng trên vài tạp san ở Canada, đặc biệt là tam cá
nguyệt san Cỏ Thơm ở Virginia. Đây là sự đóng góp tích cực vào mùa văn chương ở
hải ngoại dù đang lúc suy thoái, nhưng dù sao cũng vẫn còn tiềm lực như mớ than
hồng âm ỉ cháy dưới lớp tro mỏng.
Cũng như ở tác phẩm đầu tay, mạch văn của Tiểu Thu ở quyển sau vẫn trơn tru và
thơm ngát tình quê gợi trên dòng liên tưởng người đọc các loại hương du như dầu
mù u, dầu dừa chẳng hạn, khi dùng chúng thắp đèn thì ngọn lửa sáng trắng và tỏa
hương thơm man mác. Văn phong của Tiểu Thu thao thao như nước khe ngòi ở đồng
rưộng, từ gò nổng nhấp nhô tuôn xuống trũng thấp, xuống ao, bàu, lung, vũng, bật
tiếng reo thánh thót và trong sáng. Chị viết văn rất dễ dàng, rất thoải mái,
tràn đầy hứng khởi như cánh diều, dải phướn, lá cờ uyển chuyển bay trong cơn
gió giữa thinh không bát ngát. Chị ít khi dùng tới lối viết miêu tả (la
description) mà thường dùng lối thuyết thoại (la narration). Cũng như cụ Hồ Biểu
Chánh hay cụ Vương Hồng Sển , chị kể chuyện tuồn tuột và ngon ơ, như nước trà
Huế từ bình tích được rót ron rỏn vào chén sứ mỏng tráng men bạch ngọc. Lối kể
chuyện của chị thật hồn nhiên, thật nhí nhảnh và duyên dáng. Nhưng trong lối kẻ
chuyện ấy, biết bao hình ảnh kỷ niệm thân thương được hiện ra từng nét tượng
hình tuy khái quát mà thật sắc sảo; những lời thuật sự tía lia, vo vảnh một
cách nồng mặn.
Đây là đoạn văn trong truyện ngắn "Dấu Ấn Cuộc Đời"; hai người bạn
gái tâm sự dưới mái nhà ở thành phố Montréal, sau nhiều năm xa cách. Họ nhắc lại
thời trung học:
Trầm ngâm một chút Lan chợt hỏi Thư:
- Mầy còn nhớ con Lệ Quân không? Nhà nó gần kho gạo.
- Tao lạ gì. Hồi xưa nó học lớp tao. Rất thông minh. Cặp mắt nó vừa đen vừa
sáng, lóng lánh như hai viên ngọc.
- Tội nó lắm mầy ơi. Sau 75, tụi tao đã khổ mà nó còn khổ hơn. Vì chồng nó sĩ
quan, lương còn chưa đủ sống, sau đó bị đi cải tao, nó làm vất vả nuôi con, bữa
đói bữa no. Thằng chồng nó được thả về bèn vượt biên, hứa sẽ bảo lãnh vợ con
sang sau. Ai ngờ qua được bên Mỹ, gặp mụ nặc nô cũng bỏ chồng. Hai đứa hạp nhau
về cái món ... "gì" thì mầy biết rồi đó, bèn bỏ luôn vợ con bên nhà,
đang mong ngóng từng ngày. Sau cùng con Lệ Quân rứt ruột cho con gái theo dì vượt
biên. Chẳng hiểu lên tàu làm sao, mà con nhỏ rớt xuống biển hồi nào không ai
hay! Thảm một cái là tới giờ, mỗi lần em nó viết thơ về, vẫn phải nói dối là
con bé bình yên, khỏe mạnh. Không ai dám nói thật, vì nó có thể chết đi được
Tôi nghiẹp, nó đâu còn trẻ trung gì để làm lại cuộc đời hả mầy. Cả đám tròm
trèm nửa thế kỷ hết trơn rồi!
- Ừ, ngày xưa nhìn nó lúc nào cũng cười, khoe hai cái răng khểnh, cặp mắt có
đuôi. Ai ngờ đời nó thảm thương như vậy.
- Chưa đâu mầy ơi! Mầy còn nhớ con Lan Đài bên lớp tao không? Con nhỏ tóc dài tới
thắt lưng, điệu rơi điệu rụng đó. Sau này lấy tên Thanh, anh của nhỏ Hoàng lớp
mầy. Sau 75, tên Thanh chạy tuốt qua Mỹ. Gia đình nhỏ Hoàng bị kiểm kê hết.
Nghèo khủng khiếp! Mẹ nó từ một bà mệnh phụ phải gánh hàng ra chợ bán. Nhưng
sau chịu không thấu, hai ông bà đều bịnh nặng. Túng cùng, con Lan Đài phải hy
sinh lấy cán bộ dể đem tiền nuôi bố mẹ chồng. Nghe cứ như là chuyện cổ tích mầy
há?
Thư bùi ngùi:
- Tao chỉ mong đây là những chuyện không có thật.
Sau những tiếng thở dài sườn sượt thương cho số phận không may của đám bạn còn
kẹt bên quê nhà. Cả hai im lặng một lúc, chợt Lan cười hi hí:
- Con Lan Đài mặt coi hiền mà một cây đó mầy ơi. Tao nhớ năm đệ lục, đứa nào cũng ngố ơi là ngố! Một bữa, giữa giờ ra chơi, bốn năm đứa vây quanh
nó, dĩ nhiên trong đó có tao, nó bèn lấy giọng nghiêm trọng: - Tụi bây phải nhớ
cho kỹ. Đừng bao giờ để cho tụi con trai hôn lên má. Biết tại sao không? - Cả
đám ngố lắc đầu, nó giơ một ngón tay lên điểm điểm trong không khí và gằn từng
tiếng cốt để cho những lời vàng ngọc của nó đi sâu vào đầu óc ngu ngơ đang chờ
đợi kia: - là vì khi được hôn lên má bên nầy, nó sẽ hôn tiếp má bên kia. Rồi
nó sẽ hôn xuống miệng và lần lần xuống cổ... và sau đó (con bé dài giọng ra)...
mình sẽ không biết gì nữa..! - Cả đám ngố nhìn nó một cách vừa khâm phục vừa sợ
hãi.
Thư hình dung ra cái cảnh một lũ nhóc hỉ mũi chưa sạch, mặt nghệt ra vì sợ trước
cái viễn ảnh bị con trai hôn mà cười chảy nước mắt. Nhứt là sự diễn tả của nhỏ
Lan Đài tếu không chịu được. Chẳng bù với tụi nhỏ thời nay. Ở phòng mạch bác sĩ
Quân, nhiều đứa mới 12 tuổi đầu mẹ đã phải dẫn tối xin thuốc ngừa thai.
Lối miêu tả một vận sự dưới ngòi bút chạy thoăn thoắt như ngựa phi nước đại của
Tiểu Thu chỉ gồm vài nét khái quát rồi bắt chuyền qua lối miêu tả một vận sự
khác. Cũng có thể chúng ta nghĩ rằng tác giả trong lúc kể chuyện, có áp dụng một
nghệ thuật tả cảnh tàng hình, nghĩa là chị không trình bày những nét tạo hình
biểu kiến (có thể để cho chúng ta thấy được) của bối cảnh. Nhưng trong lúc kể
chuyện, chị vẫn có đủ năng lực đưa độc giả đứng trước một khung cảnh hay một hoạt
cảnh linh động, một và nhân vật sống thực v.v.... Cứ như thế, chị có thể lần lượt
tập hợp thành một bức tranh dù đơn sơ nhưng vô cùng linh hoạt. Đó là cách viết
văn của các cây bút gốc Nam Kỳ rất hợp với tầng lớp độc giả có khiếu thưởng ngoạn
đơn giản: họ chỉ cần thưởng thức cốt truyện, chỉ muốn thả tâm tư mình trôi theo
từng diễn biến cốt truyện, không cần đi sâu vào những chi tiết miêu tả chi ly,
tỉ mẩn đến độ mà họ cho là rườm rà vô ích. Với lối hành văn như thế này, Tiểu
Thu đã có bạn đồng hành như Hải Bằng, Nguyễn Văn Ba... (nam), Phương Hoài Nam,
Phượng Khánh... (nữ).
Rồi vừa làm bếp, Thư vưa hồi tưởng lại thuở còn con gái, ở cái xứ Kontum xa tít
mù khơi. Quãng đời đo sao mà êm đềm, vô tư lự! Ai chưa ghé qua Kontum, sẽ tưởng
rằng nơi đó chỉ có núi rùng trùng điệp, cùng đám người thiểu số (mà dân Việt
thường gọi là Mọi cà răng căng tai). Nhưng nếu ở qua, thì sau này, dù có đi tận
chân trời góc biển nào, một phần trái tim cũng đã bị xứ Kontum nhỏ bé đó giữ lại!
Dân nơi đây là một sự pha trộn của ba miền Nam- Trung - Bắc. Phong cảnh đẹp một
các thơ mộng với con song Dakbla bao bọc chung quanh thành phố (có thể thật hiền
hòa vào mùa nắng và rất hung hãn vào mùa mưa. Những cơn lũ lụt lắm khi cuốn
trôi cả nhà cửa lẫn súc vật hai bên bờ) và thật hùng vĩ với những núi xa xa,
mau xanh lam, thuộc dãy Trường Sơn trùng điệp. Cảnh đẹp và lòng người hiền hòa.
Cao nguyên lạnh nên con gái cũng da trắng má hồng, không thua gì các tiểu thơ xứ
Hoa Anh Đào. Điểm đặc biệt nữa là Kontum cát trắng, không giống Pleiku, dù chỉ
cách 50 cây số, mà đất lại đỏ quạch. Mùa mưa rât dơ, mỗi bước đi, cặp chân cứ
muốn dính chặt xuống mặt đuờng. Thư theo ba mẹ lên Kontum năm 12 tuổi, đúng lúc
vào Đệ thất trường sơ. Những ngày đầu phải diện chiếc áo dài trắng, bước chân
đi sao vướng lạ lùng.
Đối với bé Thư ngây thơ đó, các chị Đệ ngũ, Đệ tứ, chị nào cũng đẹp như tiên.
Nhưng vì tinh lẻ, nên sau lớp cao nhất là Đệ tứ, phần lớn các chị... theo chồng
bỏ cuộc chơi hết trơn! Chẳng là Kontum có sư đoàn 22 Bộ Binh đóng. Sĩ quan
đông, nên chỉ cái e lệ gật đầu là các cô trở thành bà úy, bà tá ngay (học nhiều
làm gì cho nó mau tàn phai nhan sắc!).
Nếu đã từng đọc qua "Sông Nước Tình Quê" rồi đọc "Tiếng Hót Vành
Khuyên", chúng ta sẽ thấy Tiểu Thu yêu thích tuốt luốt những địa danh, những
xứ sở mà chị đa từng định cư như Cao Lãnh (Sa-Đéc), Kontum, Ngả Năm Bình Hòa
(Sài Gòn), Montréal (Canada). Bất cứ địa danh nào mà chị cư ngụ trong một thời
gian dù dài dù ngắn cũng cho chị nhiều kỷ niệm thân thương, niềm lưu luyến sâu
đậm huống hồ la những món trân cam giai nhục cùng thổ sản thủy sản ở những nơi
đó.
Trừ Montréal ra, các địa danh kia khi đi vào văn chương của Tiểu Thu mang ít
nhiều bóng dáng tuổi trăng lên hoa nở của chị. Trăng phì mỹ và sáng như gương
chiếu trọn tấm lòng thanh thản, hoa phô sắc bừng hương khắp một góc nhỏ của vườn
đời của một cô nữ sinh yêu nồng nàn cuộc sống.
Tập truyện "Tiếng Hót Vành Khuyên" gồm 10 truyện
ngắn. Xin tóm lược mỗi truyện ngắn như sau:
* "Cô Nam Kỳ Đáng Yêu": Đây là cảnh gia đình bà quả phụ Tân thuộc hạng
địa chủ. Bà có 3 người con: Cậu trai lớn lưu học ở Sài Gòn. Cô cô gái kế tên
Trang sau khi học xong lóp nhứt, lại phải ở nhà lo trau giồi nữ công phụ xảo
theo truyền thống của các thiếu nữ theo lễ giáo gia phong thuở cựu trào. Còn cô
con gái út tên Cúc thì còn ở quê nhà học bậc tiểu học. Vào dịp nghĩ Tết, Thanh
rủ anh ban thân người Bắc tên Huy xuống quê mình ăn Tết với gia đình mình. Tại
đây, Huy và Trang phải lòng nhau. Dù ngôn ngữ bất đồng, dù có thành kiến lệch lạc,
nhưng cả hai vẫn yêu nhau và đi đến cuộc hôn nhân hạnh phúc. Kết cuộc câu chyện
đẹp như chuyện cổ tích Đông Phương lẫn Tây phương hay như chuyện thiên phương dạ
đàm của xứ Ba Tư. Ở đây, tác giả làm sống lại cái Tết cổ truyền trên dải đất
Nam Kỳ Lục Tỉnh:
Những ngày sau đó Thanh, Huy dọn dẹp nhà cửa đón Tết. Trước sân nhà ông nội có
cây lão mai. Năm nào Thanh cũng xin một cành cắm vào cái độc bình da rạn có vẽ
bát tiên màu xanh, đặt bên cạnh bàn thờ ông Tân. Chiéc lư đồng được đánh bóng
ngời. Mâm ngũ quả chưng trái cây tuơi hực hỡ. Trang o bế nồi thị kho nước dừa với
trứng, cá lóc thiệt ngon để ba ngày Tết ăn với bánh tét. Vui nhứt là chiều ba
mươi, cả nhà thức canh nồi bánh. Bánh tét nấu trong chảo đụn. Hai người mới
khiêng nổi cái chảo đặt trên ba ông đầu rau ngoài sau hè. Phải canh chừng cẩn
thận vì đôi khi bánh không cánh mà bay đi mất tăm, chủ nhà chỉ có nước đứng chửi
đổng cho đỡ tức! Bốn người ngồi chung quanh nồi bánh. Củi khô nổ tí tách, thỉnh
thoảng văng tàn đỏ như pháo bông. Thanh và Huy thay nhau kể chuyện vui khiến
Trang và nhỏ Cúc cười lăn chiêng, quên cả buồn ngủ. Tới giao thừa thì bánh vừa
chín. Bà Tân cúng giao thừa đón năm mới, rồi mọi người đi ngủ.
Sáng hôm sau khỏi cần kêu réo, ai cũng tự động dậy thiệt sớm để sửa soạn. Hai
tên đực rựa chỉ diện quần tây, áo sơ-mi là xong. Thanh pha hai ly cà phê rồi ngồi
nhâm nhi với Huy trong khi chờ đợi phái nữ làm đẹp. Bà Tân coi cũng khá mặn mà trong
chiếc áo dài gấm màu huyết dụ, nổi bông mai lan cúc trúc vàng ánh. Cổ đeo chuỗi
hột vàng, bông tai vàng. Chiếc cà rá hột xoàn chiếu lấp lánh nơi ngón áp út Mái
tóc muối tiêu bới như thường ngày, chỉ có giắt thêm cây trâm vàng tám cẩn hột
trai óng ánh. Nhỏ Cúc từ trong phòng chạy ào ra như cơn lốc:
- Anh hai, anh Huy coi em đẹp không nè?
Thanh chọc em:
- Nhỏ nầy miệng còn hôi sữa... bò mà đã điệu quá trời!
Cúc chu mỏ:
- Xí em mà còn hôi sữa hả? Cho anh hay trong lớp em...
Huy lật đật chen vô:
- Anh Thanh trêu bé thoi. Bảo đảm bé Cúc của anh xinh nhát. Chiếc áo đầm thêu hoa cúc tuyệt quá. Trông bé xinh như cô Công Chúa Bạch Tuyết.
Cúc ngơ ngác:
- Công Chúa Bạch Tuyết là ai vậy anh Huy?
- Là cô Công Chúa trong chuyện cổ tích. Thôi, để lần sau anh sẽ mang về tặng
Cúc quyển "Bạch Tuyết và Bảy Chú Lùn".
Đang nói chợt Huy ngưng ngang, mắt nhìn sững về phía buồng của hai cô gái.
Trang từ trong đó bước ra. Huy nhắm mắt lại rồi mở to ra tự nhủ có thể nào là
cô Trang của những ngày trước đây??? Cô nàng thấy Huy nhìn mình đăm đăm thì mắc
cở hai má đỏ hồng. Thanh quay qua thấy mặt Huy thộn ra coi thiệt tức cười, bèn
đưa bàn tay quơ qua quơ lại trước mặt bạn, miệng hô lên:
- Bớ ba hồn chín vía thằng Huy. Có lạc ở đâu thì về cho mau.
Trang mắc cở:
- Anh hai. Bộ hổng chọc người khác anh ăn mất ngon hả?
Huy đập vai ban:
- Thôi mày. Bữa nay mồng một, cấm chọc giận người khác.
Thanh làm bộ ngó trời ngó đất:
- Thiệt la quá, đâu có mưa gió gì mà sao có người bị sét đánh trúng vậy kìa? Phải
không Huy?
Huy cười đáp lững lờ:
- Ừ, thì cũng có chút chút!...
Từ trước tới giờ, Thanh vẫn coi hai cô em còn nhỏ dại lắm. Bữa nay thấy thằng bạn
thân bị em mình hớp hồn, Thanh mới để ý dòm kỹ và bỗng cảm thấy lần đầu chàng mới
thật sự nhìn thấy em. Cái áo nhung màu hồng đào tôn làn da trắng mịn của Trang
đẹp lên bội phân. Cặp lông mày nhổ khéo khiến đôi mắt đen huyền như to hơn.
Nàng đánh phớt một lớp phấn hồng lên má và đôi môi cũng được tô lớp son hồng lợt.
Cổ chỉ đeo cây kiềng vàng trơn. Tai đeo đôi bông hột xoàn nhỏ nhưng chiếu lấp
lánh. Ngón tay giữa đeo chiéc cà rá nhận hột trai thật đơn sơ. Tóc chải kiểu
tango phồng trước trán và mái tóc bữa nay được kẹp bằng chiếc nơ cùng màu áo. Ử,
con nhỏ coi cũng đẹp quá, hèn chi...
* "Tiếng Hót Vành Khuyên": Đây là hồi ức của cô Mai, sau khi nghe bài
hát "Trường Làng Tôi" trong buổi tối văn nghệ trường Chu Văn An.
Khi còn thơ ấu, cô bé Mai học ở các trường tại làng Tân An thuộc quận Cao Lãnh.
Trường gồm hai lớp chót do thầy Tánh đảm nhiệm. Muốn đi đến truờng phải trẩy đò
ngang do người cha nuôi của Mai đưa đò. Sau đó là ngôi trường chỉ có lớp năm do
chú họ của Mai tên Thuận dạy. Chú vừa dạy học vừa hành nghề xem mạch hốt thuốc.
Năm sau, Mai không rõ vì nguyên nhân gì mà chú Thuận dẹp trường. Nguời chú họ
khác tên Sáu Lân mở trường gồm ba lớp. Trường có cô giáo Bích và cô giáo Liêu.
Cô Bích và ông hiệu trưởng Sáu Lân phải lòng nhau. Nhưng cha mẹ chú bắt chú cưới
cô gái nhà giàu tên Thu làm vợ. Chú đành chiều theo cha mẹ, nhưng vẫn còn thậm
thụt dan díu với cô Bích. Bà vợ nổi ghen đánh ghen một trận, cô Bích phải xin đổi
đi tỉnh khác.
Khi Mai lên lớp nhì, phải theo mẹ qua Phong Mỹ để tiếp tục việc học. Trường có
bốn lớp năm, ba, tư, nhì. Thầy Hiệu trưởng Lương người Bắc tốt nghiệp trường Sư
Phạm, khi đổi về Phong Mỹ có mẹ theo. Bà cụ nhứt định cưới cô Bạch thùy mị đoan
trang cho con trai mình. Nhưng thầy đang tự tình với chị Kim Sa cùng ngồi lớp
nhì với Mai. Đám cưới vừa tổ chức thì gia đình Kim Sa thưa với Hội Đồng Xã là
thầy Lương dụ dỗ chị Kim Sa tơi nỗi chị mang bầu. Thầy bằng lòng bãi hôn với chị
Bạch và chịu cưới Kim Sa, chịu trách nhiệm là tác giả cái bầu... giữa tiếng
khóc bù lu bù loa của bà mẹ. Thì ra thầy âm mưu với Kim Sa tạo ra cái bầu chỉ ở
cái miệng gia đình của Kim Sa mà không hề có cái thai nằm trong cái bầu. Và chẳng
hiểu cả hai có làm cái vụ tiền dâm hậu thú hay không? Thế là bà cụ đành cưới chị
Kim Sa cho con trai mình.
Truyện ngắn này được diễn tả bằng lời thuật véo von, nêm thêm mắm muối, rắc
thêm tiêu tỏi hành ớt, đủ cả... Tác giả không quên kể luôn thằng bạn trong lớp
ve vãn Mai, ngoài cách vẽ hình hoa lá rất đẹp mà còn ngó lén cô bé nũa. Văy Mai
là ai? Hỏi tức là trả lời rồi. Vì có ai ngoài cô bé tiền thân của nữ sĩ Tiểu
Thu chớ ai trồng khoai đất nầy?
* "Thằng Luợm": Đây là đứa con nuôi của vợ chông Sáu Hiến. Vợ thì
thương yêu nó bằng tám lòng ngưòi mẹ, còn chồng thì chẳng đối xử khắc bạc gì với
nó, phiền một nỗi mỗi khi say rượu ưa về nhà đánh chưởi vợ con. Chú Sáu không
có việc làm nên ngày ngày đặt trúm, nôm cá để kiếm ăn. Còn thím Sáu giúp việc
cho ông bà Hội Đồng Vị. Bạn thơ ấu của Lượm là con Hiếu. Cha của Hiếu nuôi rẻ
con trâu của Hương Quản Cư. Trâu chết, cha của Hiếu không có tiền bồi thường,
phải ngồi tù. Mẹ Hiêu bắt con chị lớn của Hiếu ở đợ dể lấy tiền độ nhật Đã vậy
mụ sanh tâm ngoại tình với chú Tư Lầu. Biết Hiếu nghèo khổ, bữa đói bữa no, Lượm
tìm cách giúp đỡ con Hiếu bằng cách san sẻ miếng ăn cho Hiếu.
Tình cờ trong lúc gây gỗ với thằng bạn cùng lớp, Lượm bị nó chửi là con hoang Về
nhà Lượm hỏi mẹ. Thím Sáu xác nhận vì không con nên bà xin đúa con trai người bạn
của anh mình trên Nam Vang để nuôi lấy hên, để mai sau mình sẽ được chửa ghén
sanh nở. Thằng con nuôi đó chính là Lượm vậy.
Nhà ông bà Hội Đồng Vị có cô con gái tên Tố Oanh cùng chồng con từ Sài gòn về
chơi, lại còn rủ thêm bà bạn tên Ái Loan. Lượm được đề cử lau chùi bàn ghế để
đón khách và nhứt là bậu bạn với con gái bà Ái Loan tên Cúc Phương lên mười
cùng hai con cô Tố Oanh là con bé Tố Ái lên tám và thằng bé Linh lên mười. Lượm
bày đủ trò chơi cho 3 đùa trẻ nên được chúng nó mén. Riêng bà Ái Loan cũng cảm
thấy mình quyến luyến thương yêu thằng Lươm mà không hiể tại sao? Một hôm nọ vì
muôn hái bông sen cho Tố Ái, Lượm ngã xuống ao sen, mình mẩy ướt mem. Bà Ái
Loan cổi áo nó, lau mình mẫy cho nó, khám phá cái bớt son trên ngực nó. Bà sực
nhớ thuở xưa mình là người đẹp tỉnh Bình Dương đã từng yêu một thanh niên tên
Sơn; cả hai dan díu nhau, cô thiếu nữ Ái Loan kia có bầu. Cha mẹ nàng bảo bà vú
đưa nàng lên Đà Lat sanh nở rồi đem con trai tư sinh kia cho một cặp vợ chồng ở
tận Nam Vang và bắt buộc nàng phải lấy Thuần, bạn của Hưng (anh của nàng) vì
cha mẹ Thuần và cha mẹ Ái Loan đã đính hôn cho hai trẻ.
Vụ cưỡng hôn chỉ tạo tấm thảm kịch đồng sàng dị mộng cho Ái Loan. Ròi sau đó Ái
Loan mang bầu, Thuần khám phá ra vợ mình đã có con với người khác trước khi kết
hôn với mình. Đứa con trong bụng nàng không phải là con đầu lòng của nàng, mà
là thứ con rạ. Ái Loan sanh cho Thuần đứa con gái đặt tên Cúc Phương. Cả hai cứ
gay cấn lục đục với nhau đi đến chỗ ly dị khi Sơn cùng dạy chung trường trung học
với Hưng và tìm cách thăm Ái Loan với tư cách người bạn. Thuần ghen tưông dằn
thúc nàng nên nàng xin ly dị, sống quãng đời cô đơn với con gái.
Thấy được bớt son trên ngực Lượm, bà Ái Loan liền về Sài Gòn hỏi bà vú của mình
về việc cha mẹ mình đem con mình cho người khác ở nơi thật xa. Bà vú khai thiệt
mọi sự. Á i Loan tìm gặp lại Lượm. Tác giả Tiểu Thu đã thay thế Ngọc Hoàng Thượng
Đề giũ sổ một cuộc hôn nhân cưỡng ép và làm cho mẫu tử được trùng phùng. Chưa hết
đâu, trong lúc Lượm đi ra đám bắp, chị thay Ngọc Hoàng bày cho nó gặp một cảnh
đánh đô vật ạch đụi giữa chú Tư Lầu và má con Lượm trong ruộng bắp. Eo ơi, chị
có bao giờ để cặp mắt nghịch ngợm của chị thoát khỏi chuyên lạ lùng đối với trẻ
nít nhưng rất... hấp dẫn đối với người lớn đâu?
... Ăn cơm trưa xong, thằng Luợm theo lời dan của má nó, đi ra ruộng bắp của
chú Tư Lầu mua một chục. Nó băng qua lộ mới thì tới ruộng bắp xanh rờn. Những
trái bắp no tròn nằm xiên xiên trên những cái lá dài, uốn éo, phất pho theo chiều
gió. Lượm tới cái chòi lá nhưng không thấy chú Tư Lầu đâu cả. Nó nghĩ chắc chú
đang hái bắp đâu đây, nên cứ vạch lá đi theo luống dất giữa hai hàng cây thẳng
tắp. Đang đi bỗng nghe có tiếng gì là lạ nên nó dừng lại ngó dáo dác. Hình như
có tiếng rên rỉ đâu đây. Lượm vảnh lỗ tai lên nghe, rồi lần lần theo tiếng rên
đi tới. Bỗng nó sựng lại vì cách chừng đó hai ba luống bắp, thấp thoáng sau những
cây bắp sai oằn trái, rõ ràng là chú Tư Làu và má con Hiếu đang... dánh nhau!
Hình như tiếng rên đau đớn là của má con Hiếu. Thằng Lượm hoảng hốt thối lui ra
khỏi ruộng bắp, chạy một mạch về kiếm con Hiếu. Con nhỏ đang ngồi truớc hàng ba
nhìn vơ vẩn ra đường, mặt lộ vẻ buồn thiu. Thằng Lượm vừa kéo tay con nhỏ vừa lắp
bắp:
- Theo tao lẹ lên. Má mầy với chú Tư Làu đang vạt lộn ngoài đám bắp.
* " Mình Ơi!". Đây là hai câu chuyện hôn nhân của một người đẹp tên Thanh Mây ở Đốc Vàng. Cô là con của bà Hương Hào Bá, chủ nhân tiệm bán hàng vải
khá giàu. Qua cô bạn Ngọc Châu, cô được quen với cậu Út Nhơn, con ông bà Hội Đồng
Đáng ở Long Xuyên nổi tiếng giàu có danh giá. Cậu tìm cách ve vãn Thanh Mây và
kỳ kèo với mẹ để cưới Thanh Mây cho bằng đưọc. Bà Hội Đồng Đáng cũng chiều con
nên đi dạm hỏi Thanh Mây cho con. Nhưng bà Hội Đồng Đáng tỏ lời chê bai với má
của Ngọc Châu rằng bên bà Hương Hào Thi không môn đăng hộ đối với gia đình
mình. Lời chê đó lọt vào tai cô Kim Anh, cô nầy từ lâu vốn thèm thuồng được làm
vợ cậu Út Nhơn. Kim Anh tìm cách thuật lại lời miệt thị của bà Hội Đồng cho
Thanh Mây nghe. Vì tự ái và cũng vì chưa yêu Út Nhơn sâu đậm nên Thanh Mây buộc
mẹ hồi hôn. Sau đó ít lâu, qua trò mai mối của người bác dâu, Thanh Mây được bà
Cả Trọng dắt con trai là cậu Tư Tân đến nhà bà Hương Hào Bá để coi mắt Thanh
Mây cho cậu Tư. Cậu Tư nầy quá đẹp trai gặp một cô nàng Thanh Mây yêu kiều diễm
lệ thì dĩ nhiên hai bên gây cú sét nổ rầm rĩ cho nhau. Thế là cuộc hôn nhân
thành tựu tốt đẹp.
Nhưng khi về nhà bà Cả Trọng làm dâu, Thanh Mây mải mê lo việc quán xuyến tề
gia nội trợ mà thiếu mặn nồng với chồng. Cậu Tư Tân ngoại tình với cô Kim Phụng.
Cô này là con người tá điền của ông Cả Trọng. Mợ Tư Tân được cô em chồng thóc
mách nên tìm cách bắt quả tang chồng mình tổ chức làm đám... cưới lén lút với
Kim Phụng mà lễ cưới chỉ có chú rể và cô dâu. Mợ toan làm dữ thì ông chồng lẹ
tay xớt vợ lên xe đạp đưa vợ về nhà để năn nỉ xin vợ tha tội.
Thấy vợ chịu mở miệng, cậu Tư mừng húm, đi bằng hai đầu gối, sấn tới:
- Thôi, thôi mình tha thứ cho anh nghen mình. Anh thề mà. Cô Phụng thì cũng là chơi qua đường. Anh chỉ thương một mình thôi. Anh nói láo Bà bắn.
Mợ Tư trề moi, xí một tiếng dài thòn đượm mùi khinh bỉ:
- Thiệt tình, Tiết Đinh San cầu Phàn Lê Huê hồi xưa chắc cũng còn thua anh xa. Bữa nay rán mà suy nghĩ lại đi. Hồi nào tới giờ anh hứa, anh thề có bao
nhiêu lần, mà có lần nào anh giữ lời được hay không?
Mợ càng nói càng tức tưởi. Cậu Tư vẫn còn quỳ, thấy vợ nói vậy thì lật đật ôm
giò của mợ đang thòng dưối đất:
- Không không, lần nầy anh nói thiệt. Anh thề độc cho mình tin.
- Thôi đi. Độc tới cỡ nào tui cũng đã nghe đầy hai lỗ tai rồi. Nếu lần nầy anh
thành tâm thì rán quỳ đó cho tới sáng.Tui mệt lắm rồi. Bây giờ để yên cho tui
ngủ.
Mợ nói xong thì nhẹ hất cặp giò để rút khỏi vòng tay ông chồng đang ôm cứng ngắt.
Không ngờ cậu cũng quyết bám trụ tới cùng, không chịu buông ra. Hai bên giằn co
níu kéo một hồi, cái quần lãnh Mỹ A lưng thun láng mướt chống cự không nổi... Cậu
thừa thắng xông lên , vì biết đây là cơ hội cuối cùng có thể làm xiêu lòng bà vợ
đang giận cậu tái tê! Con bé Thanh My ra đời chín tháng mười ngày sau đó.
Vẫn là một đề tài cũ của các cây bút viết truyện đồng quê, vẫn là cách diễn tả
nghịch ngợm với giọng điệu líu lo trong bút pháp của tác giả, nhưng cái hấp dẫn
của câu truyện như lúc nào cũng mới đối với kẻ tha hương ôm nặng tình cố hương
thuở còn bán khai với tập tục cổ truyền và với thứ tình cảm đơn giản mà lại đượm
đà niềm thiêt tha của dân tộc.
* "Thoáng Hương Xưa": Cùng với "Dấu Ấn Cuộc Đời", truyện ngắn
này
là đề tài sâu sắc nhất trong tập truyện. Truyện đầu như sau: cô Kim, thư ký của
Bác sĩ Thanh. Trong cuộc du ngoạn ngắn, cô đi ngang qua ngôi nhà đóng cửa kín
mít của cặp vợ chồng bổn xứ là Jacques và Marie Trudeau. Họ đã lần lượt qua đời
cách đây ba tháng. Cả hai cứ cãi vả hà rầm suốt trên 60 năm chung sống. Thế mà
sau khi chôn cất chồng xong, bà Marie nhứt định không ăn uống để từ từ theo chồng
về bên kia thế giới.
Trở về phòng mạch, Kim gặp người da đen tên Valentin làm việc ở Caisse Populaire
đến xin khám bịnh nhức đầu vì theo lời hắn, dù làm việc siêng năng, nhưng tại
sao hắn vẫn bị mấy cô bạn đồng nghiệp da trắng chê hắn ta lười biếng. Hắn nhứt
đầu vì lời chê bất công ấy đã đành mà cũng có thể hắn nhức đầu vì tại sao người
da trắng khinh thường người da đen.
Người đến thứ hai là ông già Phan. Ông cho Kim biết vợ chồng ông về viếng tỉnh
Châu Đốc, nổi tiếng có nhiều mắm ngon nhất Việt Nam. Bà vợ mê ăn đủ thứ mắm nên
bị đứt mạch máu chết đi để ông ở lại cô đơn.
Rồi tên Jacques Gagné vốn là dân Canadien 100 % và cũng vốn là thứ ký sinh
trùng ăn bám xã hội. Thân thể, tóc tai hắn bẩn thỉu; mùi hôi nồng nặc tỏa ra
tùm lum tà la. Hắn đến xin thuốc ngủ vì từ ngày chí tối, hắn chỉ coi Tivi và uống
bia lu bù.
Đang lúi húi xếp hồ sơ thì Kim nghe cô bạn Mai báo tin gia đình vợ chồng cô Nga
tan nát vì bà mẹ chồng ó đâm dèm pha để gây xào xáo cho vợ chồng con trai mình.
Cho nên từ chỗ cãi vả đi đến chỗ thằng con điên tiết đánh đập vợ thừa chết thiếu
sống. Nga phải nhờ cảnh sát can thiệp và được cùng đứa con tạm trú nơi cơ quan
bảo vệ phụ nữ. Còn ông chồng bị đưa vào bịnh viện tâm thần. Ác nghiệt cho hoàn
cảnh hơn nữa là Nga đang mang bầu được 3 tháng.
Về những tấm thảm kịch gia đình kiều bào, Kim nhớ lại một ông già nọ được con bảo
lãnh qua Canada. Ông vui sống với công việc làm vườn. Dè đâu một ngày nọ ông bị
cảnh sát hỏi tội vì ông đái bậy trên sở vườn của mình nên bị người hàng xóm
thưa với các đấng "bạn dân" rằng ông cốt ý "khoe của". Ông
già tức giận đòi về Việt Nam để được tự do "tưới cây", chẳng sợ ai
làm mỏng làm dầy, làm khó làm dễ...
Người khách sau cùng là cô nữ quái bụi đời vốn dân bản xứ đến xin thuốc ngủ lẫn
thuốc an thần vì thằng bồ của ả đánh cướp nhà băng bị tù nên thần kinh ả căng
thẳng.
Cuối truyện là Kim bắt gặp mùi nước hoa ở đâu thoảng đến. Kim nhớ đến cô bạn
chí thân ngày xưa tên Lệ Hồng. Cô ta chỉ thích nước hoa hiệu Tabu, không chịu
thay dổi thứ nào khác. Kim nhớ luôn bao kỷ niệm giữa Kim và cô ta trên đất nước
quê hương trong tuổi thanh xuân lãng man mộng mơ.
*"Dấu Ấn Cuộc Đời:" Trong truyện ngắn này, tác giả Tiểu Thu dựng hai cảnh
chị em thỏ thẻ trong đêm dưới mái nhà của cô Thư tại thành phố Motréal
(Gia-nã-đại). Lần đầu, Thư và Lan đôi bạn cũ học trường sơ ổ Kontum sau nhiều
năm xa cách được dịp hàn huyên trong chuyến Lan đến Montréal viếng Thư. Lan kể
hoàn cảnh bi đát của hai cô ban chung là Lệ Quân và Lan Đài. Xin xem lại đoạn kể
được bút giả trích ra ở phần đầu bài viết này. Trong đêm tâm sự đó Thư có nhắc
tới Kim Ánh, cô bạn chung thứ ba vốn là đầm lai xinh đẹp. Trước đó, Kim Ánh có
phone từ Mỹ cho Thư có hẹn qua Motréal thăm Thư. Ít lâu sau đó, cũng lại có màn
chị em thỏ thẻ đêm thanh vắng. Kim Ánh kể lại cuộc đời ba chìm bảy nổi chín cái
lênh đênh của mình cho bạn nghe. Truyện kể như sau: Kim Anh nghe lời đường mật
và tin tưởng cái xảo kế điêu mưu của Minh để gặp cảnh chồng chúa vợ tôi, gặp bà
mẹ chồng lựu đạn nên cực nhục trăm bề. Khi Cộng Sản xâm lăng miền Nam, Minh đi
học tập. Bà mẹ chồng sợ con dâu lai Âu của mình sẽ gây cho bọn Cộng Sản làm khó
dễ mỉnh nên đuổi 8 mẹ con Kim Ánh ra khỏi nhà. Sau thời gian điêu đứng, Kim Ánh
gặp quới nhơn giúp đỡ buôn bán thuốc Tây nên sống khá vững. Cô gặp được anh
chàng quân tử tên Phương giúp cho hai đứa con trai đầu của cô vượt biên bằng đuờng
bộ. Còn hai đứa con kế trong chuyến 6 mẹ con vượt biên bằng đường biển thất bại,
bị mất tích. Sau đó, Kim Ánh được Hội Hồng Thập Tự cho biết hai đứa con mất
tích kia đã được một gia đình bên Mỹ bảo lãnh. Lần vượt biên thứ ba, Kim Ánh lại
bị thất bại, bị tù, nhưng nhờ chàng quân tử tên Phương kia tim cách giúp cô được
phóng thích để cùng nhau trở thành vợ chồng và cùng vượt cbiên trót lọt qua Mỹ.
Sau thời gian lận đận trong cuộc mưu sinh tại xứ người, nhờ nghề bán fastfood với
các món ăn Việt Nam mà Kim Ánh trở nên giàu có dể nuôi 10 đứa con (8 đứa con
em, 1 đứa con anh và 1 đứa con của chúng ta).
Bao giờ cũng vậy, Tiểu Thu không bao giờ ly khai lối viêt tếu đậm tếu lợt. Xen
giữa từng đoạn kể lể từng tấm thảm kịch kinh hoàng trong cuộc đời, hễ được dịp
tốt là chị xỉa vài câu trào lộng, vài cụm tu hoặc vài ngữ pháp nghịch ngợm,
ranh mãnh ranh mương. Cho nên những kẻ nào "lỡ" đọc văn chương của chị,
bút giả bảo đảm chẳng có ai có thể ngủ gục trên trang sách cả. Đó là cái triết
lý vui sống luôn luôn tươi rói của chị: Dù đời có ra sao thì hãy cứ vui lên,
vui được lúc nào hay lúc ấy, dù vui một ngày, dù vui một giờ, "dẫu một phần
ba phút, góc tư giẫy" (nói theo Nguyễn Bính) đi nữa.
* "Dưới Cội Sung Già": Truyện gồm hai thế hệ: đời bố mẹ và đời con. Số là Hậu và Lãng là đôi bạn thân; cả hai cùng đeo đuổi Cẩm Vân. Rốt cuộc, Hậu chiếm
được trái tim người đẹp và cưới Cẩm Vân làm vợ. Lãng đau khổ, cưới Mai làm vợ
nhưng không yêu vợ. Cẩm Vân sanh cho Hậu một trai, đặt cho nó cái tên Tú. Còn
Mai sanh cho Lãng một trai tên Đức và một gái tên Liễu Nhu. Nhưng khi sanh đứa
thứ ba xong, Mai chết trong lúc Lãng ở sòng bạc. Chàng quyết tâm báo thù Hậu, dụ
dỗ Hậu bài bạc. Cẩm Vân tìm Lãng năn nỉ Lãng đừng đưa chồng mình ngã vào bức tường
thứ ba trong tứ đổ tường (tửu, sắc, tài phiến). Nhưng vốn đa lập tâm báo thù
thì Lãng vẫn tiếp trục đẩy bạn vào con đường cùng của thú đỏ đen. Rốt cuộc, vì
tiêu tan sự nghiệp và thiếu nợ như chúa Chổm, Hậu tự tử. Cẩm Vân kìa khỏi tỉnh
nhà, sau khi thống trách Lãng dữ dội. Ngôi nhà của Hậu bỏ hoang, người trong
xóm đồn rằng đêm đêm có vong linh Hậu hiện về.Vài năm sau, Cẩm Vân tái giá với
một phú thương Hoa Kiều ở Nam Vang, nuôi con trai là Tú ăn học thành tài.
Tú trở về sửa sang căn nhà của thân phụ, nhưng giấu người lối xóm tên thật của
mình. Chàng xưng là Hoàng, tìm cách quen biết Liễu Nhu, con gái của Lãng và
Mai. hiện giờ cô thiếu nữ ôn nhu xinh đẹp kia đang ở chung với bà nội và người
vú. Vtrong khi quyết chiếm đoạt trái tim của nàng. Tú nhận thấy Liễu Nhu là một
cô thiếu nữ hiền hậu, giàu lòng nhân từ, thường giúp đỡ dân nghèo trong xóm.
Lúc đó chàng mới thú thật mình là Tú rắp tâm về Sa Đéc để quyến rũ nàng ô danh
xú tiết bằng cách đưa nàng vào cảnh mang hoang thai để báo thù kẻ làm hại cho
chàng tự tử, cua nhà chàng tan nát. Chàng còn cho Liễu Nhu biết rằng sau khi
suy đi nghĩ lại, việc báo thù rửa hận chỉ gây thêm cái ác nghiệp oan oan tương
báo mà thôi; huống hồ chàng chân thành yêu nàng bằng cả con tim nguyên vẹn. Vả
lại, Tú cũng đuọc biết ông Lãng cũng đã từng tỏ lời hối hận với bà Cẩm Vân trước
khi bà bồng con đi xa. Tú xin cưới Liễu Nhu làm vợ và được nàng nhận lời.
Cốt truyện hơi giống các cuốn phim tình cảm xã hội Ý-đại-lợi đã từng đưa tên tuổi
các diễn viên Ý và diễn viên Âu Châu, Mễ-tây-cơ lên đài vinh quang như Marta
Toren, Maria Félix, Yvonne Sanson, Yvonne Furneaux, Nadia Gray, Anna Maria
Ferrrero, Gianna Maria Canale, Lucia Bose, Eleonora Drossi Drago, Eva Bartok,
Rossana Podesta, Silvanna Pampanini, Antonella Lualdi... (nữ), Amédéo Nazzari,
Ettore Manni, Jacques Sernas, Franco Interlenghi, Tomas Milan, Pierre Crossoy, Vittorio
Gasmann, Pedro Armendariz (nam)... Nhưng ở đây, tác giả tiết kiệm súng đạn,
gươm giáo, máu me và ác mộng hơn. Nhờ cái kết cuộc chói chan màu hồng hạnh phúc
nên các độc giả bà già trầu têm cho mình một miếng trầu ngon, các độc giả ông
già ống vối nhồi thêm thuốc lá Gò Vấp vào tẩu thuốc, các người trẻ tuổi trổi giọng
du dương ; họ vừa hút thuốc hoặc ăn trầu, ca hát vừa hả hê thưởng thức cái hậu
tốt lành của truyện kể dưới ngòi bút của nhà văn nữ đất Cao Lãnh này.
* "Đời Còn Có Nhau": Đây là tình sử của cậu Út Hào, con ông Hội Đồng Phú, tốt nghiệp trường Đại Học Dược Khoa về quê vinh quy bái tổ. Cha mẹ cậu đã
chọn cô Thu Thảo dung nhan sắc sảo, con gái bác sĩ Đương cho con mình cưới làm
vợ. Nhưng khi về quê nhà, cậu nhận thấy Lụa, con gái mụ tớ Hai Nhiên trổ mã mỹ
miều, đâm ra thèm khát cô ta nên tìm cách quyến rũ cô ta, chiếm đoạt tấm băng
trinh cô ta. Sau đó, cậu cưới Thu Thảo. Hai vợ chồng chẳng những môn đăng hộ đối,
lại còn đẹp đôi nên cả hai mê man tàng tịch với nhau. Lụa sau lần ân ái với cậu
Út Hào lỡ mang thai. Ông bà Hội Đồng cho mẹ con thím Hai Nhiên một số tiền bảo
họ bỏ đi cho thật xa.
Ai dè trong chuyến đi ra Vũng Tàu hứng mát, cậu Út Hào bị tai nạn xe hơi, rồi bị
chứng bất lực sinh lý. Từ đó vợ chồng cậu sống trong cảnh đồng sàng dị mộng.
Thu Thảo thường vắng nhà để lui tới với người ban trai cũ. Bà Hội Đồng Phú buồn
rầu lo sợ con mình bị tuyệt tự và hối hận đã đuổi Lụa ra đi nên gia đình bà bị
Trời trả báo. Về phần Lụa, nàng đã yêu Hào khi vừa mới lớn. Tuy bị Hào đánh trống
bỏ dùi nhưng nàng tự hứa sẽ ở độc thân suốt đời để nuôi con nên người. Không được
làm vợ Hào, nhưng có một đứa con với Hào là nàng đủ mãn nguyện rồi. Lụa sanh một
đứa con trai đặt tên là Hiệp. Ai ngờ má con của thím Hai Nhiên ăn nên làm ra,
có cơ ngơi vững chắc, tuy không giàu có gì. Tình cờ, Hào gặp Lụa, hiện làm chủ
sạp vải ở ngoài chợ Bến Thành. Cuộc tái ngộ dần dà đi đến chỗ thông cảm nhau, mọi
sần sưọng gút mắc tan rã. Nhưng Hào nghĩ mình bất túc sinh lý nên không dám đòi
hỏi gì ở Lụa, chỉ mong được nhìn nhận Hiệp là con chính thức của mình. Nhưng Lụa
gieo cho chàng một hy vọng rằng nàng sẽ đưa chàng tới ông danh y giỏi khoa cham
cứu để giúp chàng lấy lại một thể chất bình thường. Câu chuyện chấm dứt ở đây.
Ở truyện ngắn này, Tiểu Thu đề cao tấm làm cao đẹp của mẹ con thím Hai Nhiên.
Chị không đả kích hay buộc tội Thu Thảo. Hào dưới ngòi bút chị là kẻ không luyện
đạt nhân tình thế thái. Khi du học ra ngoại quốc, chàng đã làm tình với Mylène,
em gái của bạn chàng, sống cuộc đời tình dục phóng khoáng, không yêu nhau nữa
là anh đi đường anh, tôi đuờng tôi. Với Lụa, chàng chơi hoa cho biết mùi hoa, rồi
bỏ mặc nàng gánh vác hệ lụy mà chàng quên rằng ở xứ ta, người đàn bà sa ngã khó
làm lại cuộc đời. Vậy mà Lụa can đảm gánh vác cái tình yêu đơn phương của mình,
không oán trách Hào. Còn thím Hai Nhiên bị tên hào phú cưỡng bức mới sinh ra Lụa,
cũng không oán trời trách đất. Gặp được chú Hai Nhiên cưới làm vợ rồi ít lâu lại
gặp cảnh góa bụa, thím nhận nuôi thằng Cầm, đứa con riêng của chồng, coi nó như
con ruột. Và dù bị bà Hội Đồng cho một ít tiền rồi đuổi đi, thím cũng không oán
trách bà vì thím chỉ nghĩ lúc thím chửa hoang đẻ lạnh, bà đã ra tay cứu giúp
thím.
Đàn bà Việt Nam dưới ngòi bút của Tiểu Thu trội hơn đàn ông Việt Nam nhiều.
* "Hạnh Phúc Nơi Nào?": Đây là cuộc đời của Hoa, một thiếu nữ bạc phuớc,
đa truân đa khổ lụy. Sớm mô côi mẹ phải ở với cậu ruột, bị mợ dâu ngược đãi.
Sau đó, đuợc bà Năm, một nghiệp chủ giúp đỡ cưu mang nên khi lớn lên, từ con
Xíu ốm o lu lít trở thành một cô Hoa xinh đẹp. Rồi cô yêu một tên Chệt lai đẹp trai tên Hiếu, bị bà mẹ y ta chửi mắng bêu xấu nên cả hai phải
chia tay. Cô yêu hắn chân thành sâu đậm, còn hắn yêu cô hòi hợt. Sau đó cô yêu
tên Hưng, cũng bảnh trai, cũng hời hợt. Khi cô mang thai, hắn toan bỏ mặc cô với
cái bào thai, nhưng nhờ bà Năm can thiệp, hắn phải cuới cô, rồi lén lút đi đêm
với một cô chiêu đãi viên ở quán Chiều Tím. Sự tan vỡ không sao tránh khỏi. Bà
Năm giúp Hoa mở cái sạp bán cơm ngoài góc chợ. Rồi cô lại yêu một tên trung sĩ
từ Nha Trang đổi vào. Hắn có vợ nhưng bảo rằng vợ chết. Cả hai ăn ở nhau rất hạnh
phúc. Rồi mụ vợ hay đuợc đến phá tan nát ổ uyên ương. Văy là mối tình thứ ba kết
liễu một cách tức tưởi. Trong số thực khách ăn cơm ở sạp có chàng đạp xích-lô
tên Minh thì rrái lại yêu Hoa chân thành. Cảm tình của hai nhen nhúm dần dà mới
tượng hình thành tình yêu. Cả hai toan đi tới hôn nhân. Nhưng Minh gặp tai nạn
xe cộ: một chiếc quân xa đụng chiếc xích lô của Minh. Đầu Minh bị đập vào chân
cột đèn. Tác giả buông lửng ở ây, không cho biết Minh sống chết ra sao.
Đây là một truyện ngắn duy nhất có cái kết cục bi thảm trong tập truyện
"Tiếng Hót Vành Khuyên". Hoa, cô gái luôn đi tìm kiếm hạnh phúc không
nhàm mỏi. Nhưng hạnh phúc như bức thư trao lầm hết địa chỉ nầy sang địa chỉ nọ.
Nhưng tới khi thư trao trúng địa chỉ thì người nhận thư chưa kịp đọc hoặc chỉ đọc
sơ qua thì bị định mệnh tàn ác giáng xuống đương sự một cú ngã quỵ. Trong pham
vi truyện ngắn, tác giả có nhiều tài liệu, nhiều chất liệu nên khó phô diễn văn
tài. Cho nên chị đành dùng văn pháp thuyết thoại. Nếu "Hạnh Phúc Nơi
Nao?" được trình bày tỉ mẩn hơn và diễn tả chi ly hơn sẽ hành một truyện
dài.
* "Đời Vẫn Đẹp": Chàng thanh niên tân học tên Phát và cô Xẩm
lai (cha Tàu mẹ Việt) yêu nhau. Phát muốn cưới Mỹ Linh, nhưng ông bố Chệt Xương
đã hứa gả con gái mình cho anh chàng Chệt Quân. Vả lại, người Tàu vốn chủ
trương thà cưới vợ dị chủng cho con trai mình , còn con gái mình thì phải kết
hôn với người đồng chủng. Dù được bà vợ năn nỉ cho tới gảy lưỡi, dù Mỹ Linh có
kháng cự cách nào đi nữa, nhưng lão Chệt Xương vẫn giữ lòng dạ cứng hơn gang và
dẻo hơn thép. Túng thế, Tâm người anh con nhà bác của Phát bày kế cho Mỹ Linh
khai dối với cha rằng nàng đã có mang với Phát. Văy là nhờ cách liều lĩnh của Mỹ
Linh mà ông cha đành hồi hôn với Chệt Quân.
Đề tài của truyện ngắn này cũng chỉ tầm thường thôi, nhưng tác giả xen lác đác
trong lối kể chuyện của mình vài đoạn tả cảnh, tả người. Vả lại, lối diễn tả mọi
tình tiết của tác giả rất duyên dáng nên câu chuyện có một hấp lực mặn mà. Như
vậy, chị Tiểu Thu cho chúng ta biết rằng: trong lối hành văn, chọn đề tài không
quan trọng bằng diễn tả đề tài. Đề tài dù có hay ho cho cách mấy thì cũng như một
miếng thịt tươi ngon mà cách diễn tả vụng về thì món ăn sẽ dở tệ. Còn đề tài
xoàng xĩnh mà được diễn tả khéo léo thì đó cũng như miếng thịt kém phẩm chất
nhưng nhờ gặp tay đàu bếp cừ khôi, nó sẽ biến thành một món ăn ngon như đuợc
làm bằng giai nhục trân cam.
Cái đặc điểm trong văn chương của Tiểu Thu là cảnh vợ chồng
âu yếm nhau. Thường là bà vợ nũng nịu còn ông chồng thì mơn trớn vuốt ve, vỗ về.
Cảnh lứa đôi mùi mẫn với nhau một cách mặn nồng như diễn ra trước mắt người đọc
làm họ có thể liên tưởng đến Điêu Thuyền õng ẹo với Lữ Bố trong tuồng "Phụng
Nghi Đình", đến màn Tây Thi giỡn nhột vua Ngô Phù Sai trong vở "Tây
Thi Gái Nước Việt". Tác giả dùng lối đối thoại đậm đà kịch tính để thêm mặn
muối cay gừng và xông ướp thơm tho mùi trầm hương ngọc quế vào câu chuyện.
Đây là một pha vợ Nam chồng Nam đùa cợt nhau trong truyện ngắn "Cô Nam Kỳ
Đáng Yêu". Tác giả không vẽ ra một hoạt cảnh với những cử chỉ những động
tác gơi hình, mà chỉ dùng lời nói bông đùa, pha lửng một cách nghịch ngợm. Đó
là những lời đối thoại trong các vở hài kịch nhẹ nhàng, nhưng ý tình nào kém nồng
mặn:
Cúc như chọt nhớ ra điều gì, cặp mắt chợt sáng như hai đèn pha:
- Anh ơi, em nhớ ra rồi. Năm nay vừa đúng 40 năm đám cưới chị Trang.
Tụi mình sẽ dành cho ảnh chỉ một "sự ngạc nhiên" thích thú. Em sẽ tổ
chức một bữa tiệc kỷ niệm tưng bừng. Mời đám bạn bè của tụi mình tới hát
karaoké cho vui. Anh thấy vợ anh có sáng kiến hay chưa?
Hưng giở giọng Út Trà Ôn:
- Hỡi ơi, có ai hiểu vợ anh hơn anh nữa??? Ừa, anh thấy cái hổn danh mà
hồi anh Thanh với chị Trang đặt cho em "nhỏ Cúc xí xọn" sao mà đúng
"một chăm phần chăm"...
Cúc véo vô bắp vế Hưng một cái đau điếng:
- Cho chừa cái tật nói xấu vợ! Thôi, ra coi hockey đi cho em dọn dẹp.
Chuyện chị Trang hạ hồi phân giải.
Hưng đứng lên một cái rột:
- Xin tuân lịnh... bà lớn!
Cúc trợn mắt:
- Nè, bộ muốn có... bà nhỏ hay sao mà bữa nay phong tui lên chức bà lớn vậy cà?
Nói thiệt đi cho tui liệu... mua xăng!
- Chi vậy cưng?
- Chèn đéc ơi! Bộ anh quên chuyện cô Hườn rồi hả?
Nghe tới đây Hưng vội vàng đưa tay lên trời:
- Xin Thượng Đế làm chứng cho con. Đời con chỉ yêu có một nàng. Đó chính là
"cô Cúc xí xọn"!
Cúc cười xòa:
- Thôi được rồi. Tha cho anh.
Hai đứa nhỏ đưa mắt nhìn nhau: Thiệt hết ý hai cái ông bà già nầy!!!
Còn đây là cảnh vợ Nam chồng Bắc đang âu yếm cũng bằng ngôn ngữ ỡm ờ, vui nhộn
trong truyện ngắn "Tiếng Hót Vành Khuyên". Ông chồng có lẽ là Bắc di
cư sống lâu ngày trên đất nước Nam Kỳ Lục Tỉnh, cố tập nói tiếng Nam Kỳ cho đẹp
lòng người vơ gốc Nam Kỳ. Nhưng đương sự nói không hoàn toàn bằng ngôn ngữ Nam
Kỳ, thỉnh thoảng chen một vài tiếng Bắc. Điều đó cũng như trong mớ giá sống có
lẫn lộn vài sợi rau muống chẻ:
Sáng hôm sau dậy trễ, Mai ra bếp đã thấy Tiến đang ngổi nhâm nhi ly cà phê phin
bốc khói thơm lừng, vừa đọc báo. Thấy vợ ra Tiến buông tờ báo xuống hỏi:
- Làm gì mà đêm qua cứ lăn lộn hoài vậy cưng?
Mai bưng ly cà phê của chồng uống một hớp:
- Nghe bài "Trường Làng Tôi", em nhớ tới những mái trường xưa dưới
quê lúc còn nhỏ. Nhớ muốn chết luôn!
Tiến giả bộ hốt hoảng:
- Ấy ấy, nhớ thì cứ nhớ nhưng đừng chết. Bỏ tui cu ky một mình tội lắm à nha!
Mai xì một tiếng:
- Người ta nói vậy thôi, chớ bộ ngu sao chết! Còn anh nữa, sao không bao giờ
em thấy anh nói nhớ về miền Bắc?
Tiến lấy giọng bi thảm:
- Ối giời, bà xã yêu quý, bộ bà tưởng ông chồng bà có trái tim bằng sắt hay sao
chứ? Nhiều khi tui nhớ da nhớ diết cái xứ Hưng Yên. Nhất là vào mùa hè, mỗi khi
bà mua nhãn về ăn, là lòng tui đứt ra từng đoạn (?!) vì nhớ tới mấy cây nhãn
ngon không thể tả trong vườn bà ngoại ngày xưa...
- Thơ mộng dữ hôn! Nhớ gì mà không nhớ, chỉ nhớ mấy cây nhãn!
Tiến cười hà hà:
- Cưng ơi, cổ nhân có phán rằng: có thực mới vực được đạo. Chà, nói đến đây anh
lại cảm thấy đói bụng. Thôi, đi hâm nồi bún riêu đi cưng.
Mai vừa mở tủ lạnh vừa nói:
- Thưa ông tướng có ngay. Trong khi chờ đợi, gọi dùm mấy nhóc tì ăn luôn.
Tiến đứng dậy cái rụp:
- Xin tuân lệnh bà nội... tướng!
Ngôn ngữ và nghệ thuật đối thoại trong các tác phẩm truyện ngắn của Tiểu Thu là
thứ ngôn ngữ phổ thông trong giới trung lưu cấp thấp trở xuống, nhưng vì chúng
duyên dáng quá đỗi nên giới thượng lưu dùng để đùa nghịch cùng với những bạn bè
chí thân hay trong khuê phòng với người yêu của mình. Chỉ có Lê Xuyên hồi trước
1975 và Nguyên Đức Lập ở hải ngoại mới đạt được thứ ngôn ngữ và nghệ thuật đối
thoại thắm thiết hồn thiêng đất nước Nam Kỳ như thế. Bên phái nữ chỉ có Tiểu
Thu mà thôi. Xin đọc tiếp đoạn chót của truyện ngắn "Mình Ơi!":
Tối đó, dọn dẹp xong xuôi, mợ Tư vô buồng ngồi trước bàn phấn, xõa mớ tóc đen
mun ra chải. Cậu Tư vô sau, rón rén tới đứng sau lưng vợ, đưa tay vén mớ tóc,
cúi xuống hôn lên cái gáy trắng ngần như ngó sen. Mợ Tư dựa đầu vô ngực chồng,
cặp mắt lim dim, cảm thấy niềm hạnh phúc dâng lên rào rạt. Có tiếng cậu thì thầm
bên tai:
- Anh có cái này tặng cho mình. Anh đưa trước để tới Tết mình đeo.
Nghe nói vậy mợ Tư bừng mắt, ngồi thẳng lên. Trên tay cậu Tư có cái hộp bằng
nhung đỏ. Cậu mở nắp hộp, đưa tới trước mặt vợ. Đôi bông tai nhận hột xoàn chiếu
lóng lánh. Mợ Tư cầm cái hộp từ tay chồng mà cảm động đến nghẹn lời. Cặp hột
xoàn nhỏ hơn đôi bông hồi xưa bà Hội Đông Đáng đi cho mợ rất nhiều. Nhưng đây
là quà tặng của người chồng mà mợ thương yêu nhứt đời. Nhớ lại hồi đám hỏi rồi
đám cưới với cậu Tư, bà Cả cho mợ đồ trang sức bằng vàng y. Bạn bè, chị em
trong gia đình ai cũng chê là nhà quê, nhưng mợ đâu có thèm để ý. Miễn mợ lấy
được cậu Tân là hạnh phúc rồi. Những thứ khác chỉ là chuyện nhỏ! Bây giờ mợ đã
có hột xoàn để chưng diện với chị em. Có thua gì ai đâu? Hột xoàn lớn nhỏ thì
quan trọng gì, miễn cậu yêu thương nhau nồng nàn là đủ.
Mợ Tư đưa cặp mắt ướt rượt nhìn chồng thỏ thẻ:
- Mình ơi, Tết nầy em là bà vợ sung sương nhứt. Em sẽ đeo đôi bông nầy cho mấy
con em xí xọn của em hết chê bai nhún trề. Tụi nó chê em đeo vàng quê quá là
quê! Cám ơn mình.
- Cám ơn suông thôi sao? Phải có cái gì cụ thể hơn mới được.
Cậu Tư vừa nói vừa mơn trớn bờ vai tròn trịa của vợ. Mợ Tư đặt cái hộp nhung
lên bàn phấn, quay lại đưa hai cánh tay nuột nà ôm lấy cổ chồng nũng nịu:
- Mình biết lúc nào em cũng chìu mình mà... Mình thích là em vui rồi.
- Vậy anh tắt đèn à nghe.
Cău vừa dứt lời thì ngọn đèn ống khói để trên bàn tắt phụt. Trong phòng vẫn còn
sáng lờ mờ của ánh trăng mươi sáu chiếu qua rèm cửa sổ. Còn mười lăm ngày nữa
là Tết, mợ nghĩ thầm. Chưa bao giờ mợ mong cái Tết đến sớm như bữa nay. Cậu Tư
nửa dìu nửa ẳm vợ lại giường.
Có tiếng mợ Tư cười khúc khích, rồi kêu lên: Mình ơi!!!
Vẫn là một đề tài cũ của các cây bút viết truyện đồng quê, vẫn là cách diễn tả
nghịch ngợm với giọng điệu líu lo của tác giả, nhưng cái hấp dẫn của câu truyện
như lúc nào cũng mới đối với kẻ ta hương ôm nặng tình cái cố hương thuở còn bán
khai với tập tục cổ truyền và với cái tình cảm đơn giản mà lại đượm đà tình ý
thiết tha của dân tộc.
Những truyện ngắn của Tiểu Thu giống như truyện dài của Hồ Biểu
Chánh, của Duyên Anh, của Nguyễn Đình Thiều đều có ngôn ngữ điện ảnh (langage
cinématographique) từ diễn biến câu chuyện đến lời đối thoại. Nếu nhà viết kịch
bản (le scénariste) nào đó có thể kéo dài một ít chi tiết trong truyện thì có
thể đưa cho điện ảnh gia thực hiện thành một cuốn phim với đủ hỷ, nộ, ái ố. Điều
này thì đâu phải là vấn đề khó khăn. Những truyện dài án mạng của nữ sĩ Agatha
Christie có thể thực hiện thành phim dễ dàng đã đành, mà truyện ngắn "Le
Miroir"của bà chẳng hạn khi thực hiện thành phim qua sự diễn xuất của nữ
minh tinh Jane Seymour cũng hay luôn!
Những nhà văn nữ thường có vài tật chung: nếu sắc diện họ không ngoạn mục, để
bù đắp sự hụt hẩng về phương diện tâm lý, họ chăm sóc và trang điểm câu văn nếu
không làm dáng trí thức cũng o bế cho ngôn từ hoa lệ, chuốt ngót văn phong cho
uốn éo cầu kỳ. Và có nhiều bà rất tiện tặn về cách ăn xài, nhưng không bao giờ
tiết kiệm về chuyện phô trương kiến thức lẫn phong độ trí thức của mình.
Tiểu Thu không như thế. Khi viết văn chị không thích lối văn uyển chuyển đến độ
ưỡn ẹo, chị không tô điểm màu sắc đến độ lòe loẹt rườm rà cho văn phong của
mình. Đúng là lối viết Nam Kỳ, hơi cẩu thả một chút, nhưng cực kỳ phóng khoáng.
Chị nghĩ sao viết vậy, văn viết gần giống văn nói 80 %. Chúng ta có thể liên tưởng
đó là những loại man thảo bò chằng chịt trên mặt đất hoặc leo trên lùm bụi cây
khô còn trơ những nhánh chà. Nhưng mà, man thảo có loại dẻo dai hơn thép như
dây choại, dây mây trong rừng tràm Cà Mau âm u. Man thảo có những loại trổ hoa
đẹp như dây bìm, dây sắn với bông hoa hình chuông màu xanh thúy ngọc hay mau
tím nhạt, như dây phấn trang trổ hoa màu hồng đào kết từng chùm. Man thảo cũng
có loại trổ hoa thơm ngát không kém lá loài phương thảo; đó là dây thiên lý với
chuông hoa màu xanh nõn, như dây dạ lý hương trổ từng chùm hoa ngọc thạch lún
phún như pháo bông...
Trong cuộc bút trình trơn như mỡ, lưu loát như tuôn mưa rào rào trên mái ngói
mái tranh, Tiểu Thu dựa vào kỷ niệm thời con gái để làm sống lại hình ảnh cố
hương. Trên đất nước định cư ở hải ngoại, rất có thể vì cuộc sống hối hả, chúng
ta quên biết bao hình ảnh giang sơn gấm vóc trên cố hương. Nhưng chúng như những
mảnh thủy tinh của lọ, của chén dĩa bị vứt đâu đó trong bụi rậm hoang sơ, mà
bình thường chẳng ai để ý đến. Nhưng rồi một phút hoài niệm hiển linh nào đó đến
mạch cảm hoài chúng ta. Nó như ánh nắng tơ vàng, như ánh trăng trắng êm dịu chiếu
sáng lên những mảnh vụn thủy tinh ấy. Chúng nổi bật lên, sáng lóng lánh như được
giát vàng giát bạc. Những cái vụn vặt hèn mọn kia trong lúc được ánh nắng hay
ánh trăng chiếu cố tới, kêu gọi chúng ta nghĩ về sự hiện hữu và sự trường tồn của
chúng. Cũng thế, văn chương của Tiểu Thu đúng là ánh nắng, ánh trăng soi từng mảnh
vụn của cuộc đời chị, biến chúng thành mẫu số chung cho biết bao hồi ức và tình
hoài hương của kiều bào trên đất khách.
(Hồ Trường An. Quê Nam Một Cõi - Chương 9: Tiểu Thu, Nhà văn nữ đi vào khu
vườn kỷ niệm qua tập truyện "Tiếng Hót Vành Khuyên")
Chương Bảy
Phương Triều, người lữ hành đi vào bí nhiệm
cuộc sống qua tập thơ
Sa Đéc là một tỉnh nhỏ xinh xinh nằm bên bờ Sa Giang êm đềm,
một phụ lưu của dòng Tiền Giang. Tôi không nghĩ rằng đây là một chốn địa linh
nhân kiệt. Nhưng về nghệ thuật sân khấu, nữ nghệ sĩ Năm Sa Đéc được vang danh
khắp Nam Kỳ Lục Tỉnh. Bà nổi danh từ bộ môn hát bội, rồi hát cải lương, sau hết
là ở lãnh vực thoại kịch và điện ảnh. Bà là kiện tướng của nghệ thuật trình diễn
không nhờ thanh sắc mà ở nghệ thuật diễn xuất. Nhắc tới bà, chúng ta nghĩ tới nữ
nghệ sĩ Françoise Rosay của Pháp, hay nữ nghệ sĩ Marguerith Rutherford của Anh,
Judith Anderson của Mỹ. Và ngoài ra, vào đầu thế kỷ 20 có 2 tay kiện tướng khoa
bản như Luật sư Trần Ngươn Hanh, Kỷ sư Lưu văn Lang (xuất thân từ trường Đại Học
Bách Khoa Trung Ương tại Pháp). Về văn chương trước năm 1975 có Sa Giang Trần
Tuấn Kiệt nổi tiếng về thơ. Bên văn xuôi có chị Linh Trang (tác giả tập truyện
Mưa Chiều) và Phương Triều. Nhưng lúc đó công việc sáng tác của họ chỉ như hoa
chớm nụ, trăng vừa tròn gương. Cả hai chỉ tung hoành bên báo chí nhiều hơn.
Vận nước đổi thay, cơ trời xoay chuyển. Khi ra hải ngoại, bên văn xuôi, hai nhà
văn gốc tỉnh Sa Đéc là Nguyễn văn Ba, nữ sĩ Tiểu Thu tung ra những tập truyện
viết về phong tục trên đất nước quê hương với bút pháp dí dỏm nồng mặn. Còn
Phương Triều bắt đầu khởi sắc ở nghệ thật sáng tác thi ca. Bởi anh không cộng
tác với các báo văn học nổi tiếng như Văn, Văn Học, Thế Kỷ 21, Khởi Hành v.v...
nên không đuợc giới sành điệu biết đến nhiều.
Văn nghiệp của Phương Triều gồm có: Còn Nhớ Còn Thương (tập truyện, 1966), Tiếng
Hát Hoàng Hôn (tập truyện, 1966), Sầu Hương Phấn (tập truyện, 1972), Thơ Phương
Triều (thi tập, 1995), Trăm Bài Thơ Xuân (thi tập, 2000), Xóm Mộ (thi tập,
2001), Giọt Sữa Đất (thi tập, 2002). Và sau hết là Xương Rồng Đen (thi tập,
2004).
Xếp lại tập thơ Xương Rồng Đen, tôi bất đầu ngáp dã dượi. Không phải tôi không
thích thú khi đọc nó. Không phải tôi chán ngấy với cái ý tình huyền bí mông
lung của anh. Không phải thơ anh không mở cho tôi một cánh cửa, một lối đi, một
dòng sông để tôi viễn du vào trong đó. Tôi chỉ sợ khi bình thơ anh, tôi không đủ
khả năng diễn tả cái cảm nhận của tôi đối với thơ anh.
Những bạn văn của tôi như hai nhà thơ nữ Thụy Khanh, Nguyễn Thị Thanh Bình và anh
Vũ Tiến Lập có cho tôi biết Phương Triều là một trong các nhà thơ trội nhất
trong các nhà thơ gốc Nam Kỳ hiện định cư khắp bốn phuơng trời hải ngoại. Anh
dù không thể song hành với Trần Tuấn Kiệt, Tô Thùy Yên khi còn ở trong nước,
nhưng anh vẫn bước vào loại thơ có lác đác một vài tư tưởng mà vẫn giữ nguyên vẹn
vóc dáng và cốt tủy của thơ. Anh không có sở tri thâm hậu về Phật pháp như Võ
Chân Cửu qua các tập thơ Đại Mộng và Thảng Lai Thi, không thuần túy sáng tác loại
thơ bề ngoài là Trử Tình Ca, nhưng bên trong chói rạng tinh thần Bát-nhã chẳng
hạn như Như Chi Lê Thị Hiền (qua thi tập Thơ Hiền). Tuy nhiên, thơ anh vẫn phảng
phất bóng dáng tư tưởng về cái ảo ảnh của cuộc phù thế, về cái khao khát niềm hạnh
phúc vĩnh cửu của con người qua thơ của Ngô Nguyên Dũng, của Đặng Thị Quế Phương.
Có một điều đáng nói là các thơ gốc Nam Kỳ là Phan Ni Tấn và Lâm Hảo Dũng dù
không phải là thơ tư tưởng mà là thơ cảm hoài, nhưng thơ của cã hai phản ảnh được
tâm trạng thế hệ của một lớp người khổ đau, chịu nhiều hệ lụy, chứng kiến biết
bao cảnh tang thương và chịu nhiều mất mát về phương diện tinh thần. Cũng vậy,
cái đề tài của thơ Phưong Triều cũng không thoát ra ngoài cái quỹ đao của hai
anh Phan, Lâm để tạo cho mình một cương vị sáng sủa trong thi giới. Một lẽ dễ
hiểu: anh đã từng sống đọa đày dưới chế độ mới, đã nghiệm chứng được cái đau khổ
của con người mình bị tướt đoạt, đã chứng kiến mọi giá trị tinh thần bị cơn bão
thời đại làm sụp đỏ. Anh cũng đã đau khổ vì mọi cái quý báu của lý tưởng, của
những giấc mưa vừa chớm hình thành mà vẫn chưa có cơ hội nào thực hiện nổi nên
đành bị dập tắt một cách tức tưởi. Riêng thi tập Việt Nam Thương Khúc của Kiệt
Tấn là một tác phẩm của dân tháp ngà học đòi làm giang hồ kiếm khách, làm chiến
sĩ xông pha trước mũi đạn lằn tên. Đương sự chỉ dùng lối thơ song thất lụcbát
viết lại những thảm trạng trên quê hương qua các sách vở, chớ không có dịp dấn
thân vào cuộc sống vào thời giông bão nhiễu nhương. Đó là đương sự làm thơ qua
đống tài liệu chết, qua những câu truyện truyền khẩu dược tượng trưng bằng những
cái xác ướp lâu đời trong các ngôi cổ mộ. Đã vậy, ngôn từ của thơ anh ta ít có
công phu sáng tạo, ngôn ngữ thơ thiếu chất men quyến rũ. Tập thơ này thua xa
tác phẩm đầu tay rất dễ thương của đương sự là tập thơ Điệp Khúc Tình Yêu Và
Trái Phá.
Trở về thi tập Xương Rồng Đen, trong số chúng ta sẽ có ngưòi tự hỏi: Những tư
tưởng nào mà được Phương Triều đưa vào thơ? Triết lý hiện sinh hay triét lý
nhân bản? Phật pháp hay triết học Lão Trang? Thật khó xác định được. Thơ anh
bàng bạc nhiều thứ tư tưởng triết học lẫn tâm linh, không có tư tưởng nào rõ
nét và kéo dài tràng giang đại hải. Có như thế tư tưởng trong thơ anh khỏi trở
thành một thứ vay mượn lộ liễu. Song moi tư tưởng anh đi vào thơ không nhắm vào
cái rối reng khuc khuỷu của hiện tượng, mà như những mũi tên nhắm vào bản thể
hiện hữu. Nếu nhà văn hay nhà thơ cứ đào xới cái uyển chuyển, cái éo le, cái phức
tạp của hiện tượng thì chỉ có thể khai thác những nhân sinh quan của mình. Đi
vào bản thể, người cầm bút mới đào sâu vấn đề triết học và tư tưởng tâm linh.
Chúng ta thử đọc bài khai đề cùng tựa với thi tập của Phương Triều: Hoa Xương Rồng
Đen:
Bụi xương rồng trong chậu
Nở được nụ hoa đen
Mong đợi kẻ thắp đèn
Soi mặt mình hớn hở!
Mùa đông tưới nước sôi
Mùa hè dội nước đá
Hoa xương rồng nghiêng ngả
Theo vận đời nổi trôi...
Buổi tối ma vương về
Nhìn quanh cuời hả hê
Gai xương rồng có thật
Nhưng hoa là cơn mê!
(trang 3)
Đây có phải là bản tuyên ngôn ẩn núp sau bài thơ giáo đầu cho ý tình trong toàn
thể thi tập chăng? Hoa đen chỉ là cơn mê biểu tượng cho cái gi và điều gì?
Gai nhọn có thật thì lại được ẩn dụ cho cái gì và điều gì? Có phải chăng cuộc
đời dưới ánh sáng Bát-nhã của nhà Phật là cơn đại mộng dẫy đây hoàn cảnh đen tối
để trở thành ác mộng đói với kẻ lún sâu vào cơn mê lầm? Cuộc đời vốn là huyễn
mộng Và bởi nó là mộng nên các chúng sinh mới thấy nỗi đau khổ, mọi tai ương hoạn
nạn (những gai độc đấy!) đều là có thật.
Trong thi tập Xương Rồng Đen, tư tưởng nhà Phật bảng lảng ở rất nhiều câu thơ
hoặc ở nhiều đoạn trong bài thơ. Tác giả không đè đầu đè cổ Phật pháp để ép uổng
chúng vào thi ca đâu. Một khi ngọn bút anh nở hoa, bóng Phật và bóng Bồ-tát nuờm
nượp hiện về. Dù là cái bóng, dù dưới thiên hình vạn trạng khác biệt nhau đều sản
sinh từ một thực thể cả.
Xuôi mút dòng sông chưa thấy biển
Nghe chừng chân trợt hóa hư vô
Lỡ tay moi hết từng mê hoặc
Từ đáy hồn reo tiếng bão xô!
Rót bao nước đủ cho đời khát?
Rửa mât hiền nhân đặc sáp khô
Kéo thêm chỉ nối diều hoan lạc
Dẫu một trùng dương cũng hải hồ!
Cho chút trăng xưa về bến cũ
Mắt già thôi lạnh nếp khăn sô
Tiếng ai ầm ỉ ngày chiêu niệm
Còn chút từ tâm cũng ý đồ!
Ghé qua hương gió cười xanh mộng
Ngọn tóc hài nhi nắng nhấp nhô
Đời bắt đầu dư năm tháng lạnh
Như đời có thật giữa hư vô!
(Có Thật, trang 57)
Cái mà chúng ta thấy biết qua năm giác quan, qua khái niệm chỉ là cái thấy biết
dựa trên cái vô thường huyễn hoặc. Cho nên tác giả hoài nghi những khuôn mặt
thánh hiền chỉ là cái mặt nạ bằng sáp. Con người vốn có dục vọng to tát và bất
tuyệt thì làm sao họ nắm bắt sự thật tuyệt đối. Ngay cả cái chút từ tâm của con
người chưa chắc phải là lòng bác ái chân thật mà là một ý đồ cầu danh hay cầu lợi
gì đó. Cuộc đời ở cõi Ta bà nầy không phải là cái có thật tuyệt đối vì trong sắc
có không, trong không có sắc (như đời có thật giữa hư vô). Nếu hiểu được như thế,
chúng ta mới có thể khởi hành vào chứng ngộ.
Lộn đêm thành giấc ngủ ngày
Kéo theo bóng mộng mệt nhoài giữa trưa
Nắng vàng chưa kịp xanh dưa
Đã rơi rụng xuống chỗ vừa mưa qua!
Mời trăng ngủ nán hiên nhà
Tiếng thơ thủy mạc hương trà thủy tiên!
Bút đâu vấy mực hảo huyền
Vung tay vẽ lối đào nguyên kẹt đường!
Xe đò chạy sớm tinh sương
Bồn binh kẻ chợ thảm thương vật vờ
Lạc từ ngọn cỏ phất phơ
Từng con bướm mộng bơ vơ giữa đời...
(Bóng Mộng, trang 8)
Bài thơ nói lên cái trái trắc đảo điên trong cuộc sống Trong cõi phù du nhốn
nháo và trái trắc đó, có những điều chưa kịp thành hình mà phải chịu cảnh dập tắt
một ách tức tuởi (Nắng vàng chưa kịp xanh dưa/ Đã rơi rụng xuống chỗ vừa mưa
qua). Ở đây chúng ta có thể nghĩ đén những con người chưa kịp trưỏng thành mả
phải yễu mệnh chết non. Và cũng trong cõi ấy, mọi thưởng ngoạn, mọi sáng tác của
người nghệ sĩ cũng trở nên huyễn hoặc và sa vào ngõ bí (xin đọc phân đoạn thứ 2
của bài thơ). Nhưng dù có bị đưa đẩy bởi nghiệp lực như ngọn cỏ phất phơ trong
gió, con người vẫn cứ mộng, chưa thúc tỉnh để nhận diệni cái bản lai diện mục của
hiện hữu (xin đọc hai câu cuối của bài thơ).
Từ đó vong thân vào nghiệp chướng
Mặt đời ràn rụa bóng chiêm bao
Đêm đen tròng mắt ngày râu trắng
Từng lớp môi khô bật máu đào.
Xúm nhau diễn tới cùng im lặng
Rồi bật cười như mới được đau!
Neo hồn thương tích vào thương tật
Rồi lại buồn như chẳng thể nào...
(Nẻo Hồn, trang 85)
Như thế, còn mê là còn trầm luân trong bể khổ. Đây là hồi chuông cảnh tỉnh
gióng giã của Đức Phật đưa con người tránh khỏi Neo hồn thương tích vào thương
tật/ Rồi lại buồn như chẳng thế nào...
Con người nếu có cuộc sống bình ổn, nếu mọi ao ước của ai đó được thực hiện bằng
cách này hay cách khác, đương sự thường săn tìm những mộng ước mới. Y ta không
có thời giờ nhìn sâu vào những hiện tượng của mọi hiện hữu trong cuộc đời huống
hồ là cái bản thể chung của mọi hiện tượng. Chính những con người đau khổ mới
có dịp tư duy, mới có dịp nhìn sâu vào những hiện tượng tiêu cực của đời sống:
những tai ương, những đau khổ, những tan vỡ của mọi ước vọng, những tranh chấp
và mâu thuẩn trong xã hội, cái phù du huyễn hoặc của kiếp nhân sinh... Do đó, họ
tìm tòi ra cái nguồn gốc tiêu cực lẫn tích cực chung của vạn hữu. Từ đó, vấn đề
tâm linh và vấn đề triết học mới được họ quan tâm.
Ở truờng hợp Phương Triều, dưới chánh thể Việt Nam Cộng Hòa ở Miền Nam Việt
Nam, anh sống tương đối thoải mái. Nhưng sau cuộc đổi đời kể từ sau ngày 30/4/1975 cho tới khi ra hải ngoại, cuộc sống của anh đã trở thành khổ ải lầm than.
Anh mới có dịp nìn sâu vào cái góc rễ của niềm bất hạnh mình, cái trầm luân của
nhân sinh. Dù có tiếp xúc với hai bộ môn triết học và tâm linh hay không, anh vẫn
phải tìm cho mình một hệ thống nhân sinh quan nào đó để trực diện với hoàn cảnh
mới, để đương đầu với mọi trắc trở truớc một cuộc sống tối đen đầy cạm bẫy. Do
đó, thơ anh không còn đơn giản và thấm ướt mạch trữ ình lãng mạn nữa. Nó lột
xác thành một loại thi ca có chiều sâu hun hút, choáng ngợp cái bí nhiệm của cuộc
sống.
Khi giấc ngủ không còn mộng được
Trái trời xanh rụng trắng mặt đêm hoang
Tiếng trống vọng xôn xao vào ngõ ruột
Vỗ hồn khôn thảng thốt gọi trăng tàn!
Cuối lưu vực sỏi chao dòng nghịch thủy
Vác nhục nhằn sông lặng xuống đa mang
Tay cõi thế nối mưa vào đọt nõn
Bởi kỳ dư gốc gác đẫm sương tan!
Tay vấy đậm những lần rơi rớt vụn
Người vô tư ngồi giữa mộng vô vàn
Miếng vinh nhục mấy khi mà lơ láo
Chút dây thòng sao thắt đủ nghiệt oan?
Tiếng trống chợ tưỏng đâu mùa tựu học
Cắt trầm luân chia đủ giọng rao hàng
Ông Tám hôm qua bà Ba bữa trước
Tắm rửa bao lần chưa tới được cao sang!
Chơi bản ruột sao đờn theo trật ý?
Rớt nhịp mơ hồ sao cất giọng lên ngang?
Bao tội vạ đổ lên đầu tội nghiệp
Nước sông đầy sao đáy ruộng khô khan?
(‘Bản Ruột, 50, 51)
Chúng ta hãy ngưng bước viễn du vào các lãnh vực tư tưởng,
hãy hượm đừng vội vào các môi trường nhân sinh quan của nhà thơ Phương Triều.
Bây giờ có nhiều người tự hỏi: Phương Triều oằn vai gánh vác tư tưởng vào thơ,
nhưng thơ có chấp nhận chúng không? Thơ anh có bị dị ứng với những ý tưởng chỉ
có thể hiện diện trong các cuốn biên khảo triết học và tâm linh không? Có phải
đó là những ý tưởng không thể phù hợp với môi trường thi ca làm cho thi ca
không thể tiêu hóa chúng nổi và phải thượng thổ hạ tả chúng ra ngoài không? Xin
thưa, Phương Triều trước khi đưa tư tưởng hay nhân sinh quan vào thơ của mình
thì anh đã biến ngôn ngữ của hai môn học khô khan ấy thành ngôn ngữ tạo hình rất
gợi cảm và thơ mộng, tức là ngôn ngữ của thơ. Như thế, đã là ngôn ngữ thơ thì lẽ
nào lại chui vào thơ một cách khó khăn hay sao? Lẽ nào con cá không thể chuồi
vào nước để được bơi lội vẫy vùng hay sao?
Nhưng mà ngôn ngữ thơ của Phương Triều không quá giản dị, bôc trực và nhất là
không suông đuột như thân thể cô gái già ốm yếu chẳng có ngực, không có mông tức
là không có nét gồ ghề ngoạn mục gì ráo trọi. Trái lại, nó được canh tân, được
cải tiến, được mỹ lệ hóa để đuợc trở thành một thứ ngôn ngữ thuần óc sáng tạo,
thuần túy... phương triều, không trùng lẫn ngôn ngữ thơ của ai khác.
Xé một chỗ mọc lành trăm ghẻ lạnh
Đêm địa cầu da thịt đất đâm gai
Bẫy rập vô tư khuôn vàng thước ngọc
Chân đạp nhằm bóng mộng xác xanh phai.
Mưa hào sảng hư từ trên miệng thế
Nụ cười đen xối xả mặt u hoài
Một lẽ sống có muôn vàn nhiễu sự
Thân nhọc nhằn lê lết nỗi chua cay!
Người dở chết mím môi ghìm ngấn lệ
Kẻ tồn sinh hồi hộp thở hương phai
Mặt thỏ hôm qua mặt mèo hôm trước
Thêm miệng lằn lưỡi mối giọng bi ai!
Cá ngộp thở ngậm rong vàng giữa bụng
Kịch trường đen chợt trắng mặt bi hài
Nối tao võng ru xanh ngày tĩnh mịch
Chút tàn tro lồ lộ máu xương ai!
Chưa kịp tới tưởng đâu còn kịp lúc
Tới kịp rồi hồi hộp chỗ lung lay!...
(Nụ Cười Đen, trang 148)
Đây là một bài thơ đưa chúng ta đối diện với cái bi đát của con người, cái
ngang trái nhục nhằn của cuộc sống, cái thảm thương của những kẻo lao thân vào
cạm bẫy tai ương, chắc có lẽ vì mê say một ảo ảnh nào đó. Ngôn ngữ thơ mờ mờ
nhân ảnh, xen vài câu thơ huyền bí rất thơ rất mộng chẳng hạn như: Nối tao
võng ru xanh đời tĩnh mịch. Nhưng nó cũng không hủ nút như thơ của nhóm Xuân
Thu Nhã Tập, như thơ của Bùi Giáng. Nó được che phủ bởi một màn sương mỏng, vừa
đủ để hiện le lói những chấm đèn lửa quạnh hiu. Có vậy, nó mới làm cho hơi thơ
thêm se sắt ngậm ngùi, làm cho ý tình thêm thâm thúy, và nhất là khơi dậy óc
liên tưởng của người đọc thêm dằng dặc bao la. Chúng ta ngờ ngợ ẩn sau mặt chữ,
tác giả còn có điều gì muốn nói mà không thể nói ra vì chữ nghĩa vón bất lực,
chưa đủ khả năng diễn tả những ý tình, những thâm u ẩn mật của sự thật toàn vẹn
và rốt ráo.
Vũng đựng trăng nghiêng ngày nước cạn
Mặt bùn ửng lại sắc nghi trang
Dò ra tăm tích đường đô hội
Vỡ vụn trăm lần một nát tan!
Có phải thềm xưa thành vũng mới
Hay bóng đời trôi vào ngõ hoang
Bàn tay buồn bã rời guơng lược
Mà hốt đầy vơi chút bụi tàn?
Nhặt cánh hồn trôi vào vất vưởng
Gói tròn cơ cực ủ lầm than
Mắt vô sinh ngó trời hoang mộng
Sao bật rèm mi ngấn lệ tràn?
Chân mây chạm rát triền vai gió
Làm bật đường tơ khúc lỡ làng
Mặt bùn nhuộm ánh trăng khuya lạnh
Người gượng vui cùng khóc lạc quan!...
(‘‘Chân Mây, trang 73)
Ở đây, ngôn ngữ thơ đen đậm đặc hơn, nhưng cách sắp xếp chữ vẫn tinh vi và gợi
cảm như ngôn ngữ trong toàn thi tập, hình ảnh được săn tìm và chọn lọc cho thơ
vẫn quyến rũ như tự bao giờ. Đó là ngôn ngữ dành riêng cho thơ, mà phải là thơ
của Phương Triều. Chẳng hạn: Bàn tay buồn bã rời gương lược/ Mà hốt đầy vơi
chút bụi tàn. Và chẳng hạn: Nhặt cánh hồn trôi vào vất vưởng/ Gói tròn cơ cực ủ
lầm than. Tôi đố ai giải thích những câu thơ đẹp ấy cho đúng ý tình của tác giả.
Và dù chúng ta không HIỂU THẤU nhưng ai cấm chúng ta không CẢM NHẬN? Cái hiểu thấu chắc gì thù thắng băng cảm nhận dù hai cái đều là những cái tiếp
thu hay hấp thụ vạn hữu bằng trực giác.
Mai đi mốt lại ngập ngừng
Quay ra chưa kịp nửa chừng trở vô
Ván đầu đâu đã tri hô
Chút thương tích cũ hồ đồ kêu oan!
Bé em nhỏ nhẹ tiếng đàn
Sao tưng bừng những rộn ràng tới lui?
Nén buồn nhẫn nhịn mua vui
Tới khi vui lại bùi ngùi nỗi riêng!
Ghép lòng theo mảng biến thiên
Thấy nhau hồi hộp ngửa nghiêng tấc lòng
Nửa ngoài còn ở ngoải không
Nửa trong ở trỏng sao còn trống trơn?
Nỗi đời chỗ thiệt chỗ hơn
Chút hơn thiệt cũng giận hờn thiệt sao?
Không từ không thể có nhau
Nên không dẫu có thế nào cũng không!
(Cũng Không, trang 151)
Đi hay ở, được hay thua, đừng vội hồ đồ la toáng lên. Buồn hay vui đều tùy lúc,
có khi buồn mà phải giả bộ vui; cái vui đó không thật. Có khi vui, nhưng trong
cái vui đó còn lởn vởn cái ngậm ngùi riêng tư. Thôi thì hãy tùy theo cái biến
thiên của hoàn cành, của thế sự. Vì sao? Vì dưới mắt tác giả cái gì cũng có cái
phân nửa ở ngoài và cái phân nửa ở trong. Nhưng anh lại tự hỏi: cái ở ngoài lẫn
cái ở trong quả có thật hay không? Ngoài và trong là hai điều mà tác giả cho
chúng ta cái ý niệm về hư vô, về huyễn hoặc
Lác đác đâu đó, một vài cảnh nghèo cực trong một góc phố u buồn
xen vào thơ. Chẳng hạn bài Con Phố Đen vẫn chỉ là một hình ảnh cư ngụ của lớp
người ở cấp bậc thấp trong cái xã hội chốn thị thành. Nhưng nó đựợc diễn tả bằng
một phong thái mới với ngôn từ mới:
Con phố màu đen ngủ mùa đông xám
Ngách hẹp ngõ tàn chuột chạy bơ vơ
Con phố đêm đêm xong mùi chua rác
Người vắng hơi người thương nhớ ngẩn ngơ!
Con phố màu đen ngủ ngày vất vả
Cơn bệnh mùa đông nhuốm mặt xuân sơ
Trên lớp phấn son có màu gió bụi
Ngày xuân xanh... tím lạnh vết bơ phờ!
Con phố màu đen vặn mình trốn bão
Bếp lửa xuân về leo lét thờ ơ
Chút cháo hâm chiều húp lại bâng quơ!
Con phố màu đen rêu dài lưng ngói
Nỗi nhớ thương khô cháy vào ngấn lệ
Đêm gục đầu âm vọng gió se tơ!...
(trang 77)
Bài thơ Hơi Cơm Cháo cũng là một hột trong xâu chuỗi thơ hiện thực của Phương
Triều. Trước đây, văn hào Dostoievski sông trong hoàn cảnh khó khăn về mặt tài
chánh. Ông mới có dịp được gần gũi người thất bại, những kẻ thất thời thất chí; ông lân la với những kẻ bần hàn và nhất là những bậc trí thức có cuộc sống đạm
bạc. Đó là những kẻ có óc chống đối với hoàn cảnh hiện tại, chống đối với niềm
tin tưởng về phương diện tâm linh, mặc dù các đương sự ấy yêu thương cuộc sống,
yêu thương tha nhân và hay thắc mắc những vấn đề siêu hình cùng vấn đề thần
linh. Điều này báo hiệu cho chúng ta biết trước cái thế giới văn chương của
Dostoievski đầy dẫy những nhân vật khó thể thỏa hiệp với đời sống. Họ sống bằng
những bản năng thô bạo, bằng khao khát những vấn đề siêu hình; trong bọn họ có
lắm kẻ thác loạn thần kinh. Cái phần tối tăm, dữ dằn của họ chiếm rộng trong
cái nội giới bị ít nhiều thương tích của họ. Riêng Phương Triều trước năm 1975
chỉ viết những truyện ngắn hiền lành. Sau thời gian bị tù đày dài dằng dặc, anh
còn phải sống thiếu thốn cơ cực dưới chế độ Xã Hội Chủ Nghĩa, gánh vác biết bao
hệ lụy oan khiên. Sau khi ra hải ngoại, anh vẫn còn bị ác mộng kinh hoàng trên
quê hương ám ảnh. Thi ca của anh lúc đầu còn bát ngát niềm hoài cảm, nhưng dần
dần những cơn ác mộng trong tiềm thức đen sâu trồi ra đưa đẩy nguồn sáng tác của
anh vào trong cái thế giới đen tối hơn, có những cái bí nhiệm kỳ đặc hơn, tạo
cho anh một loại thi ca làm bàng hoàng người đọc.
Bài thơ Nước Đen vẫn nằm trong đề tài nói về cảnh nghèo nàn thiếu thốn. Nhưng ở
trường hợp này, nó không phải chỉ là bức tranh xã hội để tác giả triển lãm cho
độc giả ưa thích thơ văn hiện thực hay thơ văn tân hiện thực thưởng ngoạn mà là
để cho những ai thích tìm về những cái siêu hình trong cuộc sống, trong mọi cá
thể của thế nhân. Anh đưa bức tranh xã hội vượt cao hơn thơ của trường phái hiện
thực hay trường phái tân hiện thực nhiều cung bậc. Xin đọc:
Có loài cỏ còn cao hơn cỏ dại
Nhánh chìa tay đơm những giọt sương tan
Chao ngọn gió thổi ngang bình địa mộng
Dắt hồn lên đường ngược cõi điêu tàn!
Nên bất chợt lãnh nguyên đòn trái trắc
Đời chơi khăm hay đời vẫn ngược ngang
Người keo kiết trách than người biển lận
Vớt trăng tàn soi lại ngõ đêm hoang...
Nên tự tiện kề môi lên khóe mộng
Hôn phù du níu vội bóng mây ngàn
Mưa gõ lá lại nghe chừng long óc
Rỗ mặt đời xanh ngọn gió cường toan!
Bao đói lạnh cứ mong kỳ ngộ lúa
Hột trời cho thành mộng ước cao sang
Đem bán rẻ tuổi vàng cho kẻ chợ
Rồi hồn nhiên ăn uống bữa đàng hoàng:
Từ vực kiếp vang vang lời phẩn nộ
Suối hồn đơn cuồn cuộn nước đen tràn...
(trang 128)
Bài thơ Giấc Lúa phơi bày vài nét khái quát cảnh thiếu thốn của những kẻ ở thôn
quê, nhưng nếu ta xếp nó vào loại thơ hiện thực thì không mấy xứng cái tài sáng
tạo ngôn ngữ vừa mới mẻ vừa truyền cảm của Phương Triều. Đọc xong bài thơ này,
chúng ta có thể nhìn sâu vào cảnh ngộ, vào thân phận con người hơn loại thơ hiện
thực:
Thêm nhưn nặng chỗ tay bồi
Hột muối tiện dịp đắng đời khổ qua
Đắng dùm cho ngọt xót xa
Miếng cơm đất lạnh đắng ra miệng người!
Thêm vui trên miệng thiếu cười
Trẻ thơ bú mớm nửa vời rụng răng!
Hạ về dắt gió xua trăng
Miếng bánh không tuởng cũng bằng không ngơ!
Thêm mơ vào mộng vật vờ
Ngủ quên giấc lúa sân chờ thóc xưa
Tay chiều chải mượt tóc mưa
Trán sơn thủy ướt chỗ vừa rát đau!
Se chung gốc ngọn hồi nào
Tơ duyên rời rã dính nhau chỗ buồn!
(trang 54)
Bài thơ Bóng Tối cũng phơi bày sơ sơ cảnh nghèo, cảnh lọc lừa gian trá, cảnh đổi
thay ông hóa ra thằng, thằng hóa ra ông mà tác giả vừa làm chứng nhân vừa lặn hụp
sống trong đó. Chính những cảnh đau thương như vậy chẳng những tạo cho anh lối
thơ hiẹn thực có tầm vóc mà còn đẩy nếp tư duy anh đi xa hơn, vào một khung trời
tư tưởng để nguời đọc có dịp chia sẻ với anh:
Đêm ru đường chia nhau bóng tối
Không chắc gì... no đói bữa sau!
Người tất tả đi để không còn ngồi lại
Thêm bước lạc loài đâu vội có nhau!
Thân trúc chẻ ra làm cây tăm nhỏ
Manh áo thời danh mưa gió cũ nhàu
Vệt máu mênh mông chảy từ vết bụi
Hồn bút vật vờ rỏ mực thương đau!
Kẻ sĩ xuôi tay kê đầu lên sóng
Mẹ trùng dương về rửa mộng hư hao
Đứa trẻ năm xưa mặt mày non nớt
Giờ nhăn nheo cằn cỗi giống quân nào!
Treo bảng phấn bán rao đồ giả hiệu
Thiếu viện mồ côi thơ ấu bôn đào
Lão pháp sư buồn sửa câu thần chú
Lờn mặt từ trong tiếng gọi mày tao!
Ngưòi xếp ga chiều đón thêm tàu chợ
Thiên hạ âm thầm bán rẻ đời nhau
Két học đôi ngày thành danh hốt bạc
Chúa chổm quay về vay nợ ăn khao!
Khói cay rộ niềm đau của củi
Tre già khô che ngọn bích đào
Thế kỷ hoang mang từ năm thứ nhứt
Người sống thiệt thà giống chuyện tào lao!
Người còn đốt lá soi tìm thanh sử
Bảng hiệu đèn khuya sáng rộ chỗ nào?
(các trang 136, 137)
Thơ Phương Triều trong thi tập Xương Rồng Đen có rất nhiều vấn
đề để tác giải bày giải nỗi ư tư của mình. Nói thế các bạn sẽ thắc măc bút giả:
Ủa ngộ dữ không! Làm thơ là để hưởng cái đẹp của cuộc đời, để được hạnh phúc
trong nếp sống thường nhật, để tinh thần được thăng hoa vào cõi mộng tuyệt vời,
vào bầu tâm cảnh không còn liên lạc với đời sống bon chen, hổn độn và lầm than
này. Cớ sao ông lại dám cho rằng Phương Triều tròng cái trọng lương nặng nề vào
thơ như người nông phu tròng cái ách vào cổ con trâu? Làm thơ và viét văn là để
thưởng ngoạn chớ đâu phải để suy tư. Sao ông cầu kỳ, phiền phức và rườm rà như
vậy?.
Xin thưa, khiếu thiếu ngoạn của những kẻ sành thơ bây giờ đã đổi khác, đâu quá
đơn giản như kẻ làm loại thơ tô hồng chuốc lục cho ảo tưởng mình độc giả như
thơ của truờng phái duy mỹ vào thời đại xa xưa nào đó. Nó thích những cái gì phản
ảnh được những điều bí nhiệm của cuộc sống, ngoài cái sinh hoạt của xã hội hiện
tiền. Nắm bắt được những đièu đó, chẳng những người sáng tác sung sướng ở công
trình khám phá của mình mà những độc giả cũng khoái lạc vì kiến thức mình được
bồi bổ. Độc giả lại còn tưởng chừng mình có thể tìm được một vài cánh cửa để
phóng mắt vào những chân trời mới mà trong cuộc sống trước đó họ đã từng đóng
chúng bưng bít.
Ngay những chuyện tầm thường trong cuộc sống gối chăn của anh cũng đã có vài vấn
đề nho nhỏ, tuy không làm anh tổn thương hay bực dọc, nhưng làm anh bỡ ngỡ sơ
sơ và lo nghĩ chút chút nên anh phải bật ra những câu dí dỏm:
Phía bên kia khóc là cười
Ở trong rộn rịp có người ngủ quên
Ta từ xác mộng khiêng lên
Làm con bướm rụng cánh trên vai đời...
Đêm chơi trò ngủ hai nơi
Nhọc nhằn phiên thức ru người gối chăn
Cứ đêm mỏi gối hai lần
Ăn gian mấy được một phần nghỉ ngơi!
Nhân danh tình nghĩa không dời
Trái tim ngàn lượng rụng rời năm trăm!
Ái ân lỡ dịp ăn nằm
Nằm ăn đứng ngủ bởi nhằm phiên quên!...
(Hù, trang 130)
Còn vô số vấn đề quan trọng hơn, bi đát hơn buông vô số câu
tra vấn, vô số phiền não cho con người có ý thức về sự hiện hữu. Có ý thức đươc
sự đau khổ trong cơn đại mộng trên trần thế, con người mới bắt đầu tìm kiếm cái
chân hạnh phúc đồng hóa với cái bản thể của hiện hữu. Đó là sự giải phóng vĩ đại
để chúng ta thoát ra bể khổ, để chúng ta tìm gặp sự an lạc vĩnh viễn. Nhưng ở
đây, Phương Triều chỉ ở chặng đầu của con nguời ý thức về cuộc sống. Cho nên
anh ngơ ngác trước bao hệ lụy tràn ngập trên đường đời. Đó là cái đau khổ chung
cho những nhà thơ mới tiếp nhận một tia lóe sáng trong đêm tối bao la vốn đã từng
che lấp tâm thức con người sống lêu bêu, không thèm đặt vấn đề về cái ẩn mật
trong cuộc sống.
Điểm mặt hồn nhiên nét mộng cười
Đốm trăng huyền thoại gạt người chơi
Nai lưng mà vác từng cơ cực
Rồi tận tình vui tới hụt hơi!
Quán nhỏ bâng khuâng chiều thở bụi
Ngó người ảo mộng thịt da phơi
Chút chi gai góc trên tròn trịa
Như nỗi buồn dư giữa thắm tươi!
Gõ trống bày thêm trò thưởng phạt
Tiện tay vẽ lai kiểu môi cười
Có khi đau quá đời vô vọng
Mà vội vàng rao bán mặt người!
Đất cũ đêm hoang ùn gió bão
Cội mai nào hé nụ xinh tươi?
Miếng cơm vừa nuốt chưa qua cổ
Đã nghẹn lòng đau tận rã rời!
Đâu một lần Xuân không vội Tết
Đời qua như thể hết Xuân người!...
(Xuân Người, trang 5)
Tác giả vẽ nên cảnh cô đơn của một ông lão đờn cò đã góa vô, đã giải nghệ, hiện
sống trong cảnh tuổi già yếu, thiếu thốn vật chất và rất cô đơn. Ông chia sớt nỗi
lòng cùng con dế tật nguyền vì đã gảy cánh nên gáy không ra tiéng. Sự tuơng lân
tương ái nẩy sinh giữa người và con côn trùng trong đêm mưa gió. Hoàn cảnh bi
đát có thể nối liền qua sự giao cảm tuyệt vời của cả hai chỉ có một nhân chứng
tuyệt vời duy nhất như Phương Triều mới hiểu thấu bằng trực giác thần diệu. Trực
giấy ấy hóa thân thành bài Đốm Sương:
Ông lão đờn cò cười khô miệng móm
Chiếc răng cuối cùng dính bọt cháo hoa
Hột muối mặn xé buồn trong ruột lạnh
Ông lão bâng khuâng ngồi nhớ lão bà!
Nấm mộ sần sùi trên vồng đất lở
Con dế thẩn thờ gặm đốm sương sa
Đôi cánh tật nguyền gáy không thành tiếng
Từng đêm thao thức như đôi bạn già!
Ông lão sững nhìn đôi tay tĩnh vật
Sợi dây đờn xưa giờ ở đâu xa
Âm hưỏng mơ hồ điệu ru của gió
Từ trong mịt mờ vọng tiếng mưa qua...
Sấm nối đuôi về gầm rung lều cỏ
Thân vẫn như người hay đã tiêu ma
Tấm thân từ đất còn nhiều nợ đất
Tay đất ôm người lẩn lộn thịt da!
Đôi bạn già chơi trò câm lặng
Đất vặn mình đau bao nỗi ruột rà
Cây lá lộn hồn từ phương thất thổ
Mưa lại chợt về cho cỏ đơm hoa!...
(trang 30)
Hoàn cảnh giữa lão già và tác giả Phương Triều vốn khác biệt nhau. Nhưng một kẻ
hay nhìn sâu vào những thân phận cô đơn của tha nhân, nên tác giả nhiều lúc cảm
thấy mình cũng khốn khổ cô đơn vì tưởng chừng mình mất một số điểm tựa tinh thần
nào đó. Những lúc ấy, trong tâm tưởng, anh cũng cảm thấy mình hóa thân thành
lão già.
Theo thói thường của những kẻ cô đơn khốn khổ thường mượn men rượu giải sầu.
Phương Triều thì mượn men rượu để thắt chặt tình bạn đồng nghiệp trong giới
làng văn trận bút. Thét rồi anh đâm ra nghiện. Cái hậu quả của men say vẫn có
khía cạnh tiêu cực lẫn tích cực. Men rượu đưa người vào cơn nghiện trầm kha để
phá hỏng cuộc đời họ. Nhưng men rượu cũng có thể giúp cho các nghệ sĩ biết bao
cảm hứng lai láng và phồn thịnh. Thuở truớc, thi hào Omar Khayyam xứ Ba-tư và
thi hào Lý Bạch xứ Trung Hoa há không phải thuộc hạng túy tửu phiên vương hay
sao? Văn hào Francis Scott Fitzgerald há không phải là ông thần ve chai cự
phách hay sao? Các nhà văn Việt Nam nổi tiếng như Vũ Khắc Khoan, Mai Thảo, Thanh
Nam cùng nhạc sĩ Phạm Đình Chương há không phải là nhưng tên tuổi sáng chói
trên văn đàn nhạc giới hay sao? Riêng ở trường hợp Trần Tuấn Kiệt và Phương Triều,
rượu dìu họ vào một thế giới thi ca lạ lẫm và bí nhiệm mà ít có nhà thơ nào can
đảm lẫn kiên nhẫn ghé mắt tới
Người ngủ đêm vàng trên sóng rượu
Không thấy ngày thức vội hôm sau
Ngàn cân rót nhẹ ly hồ hải
Buồn vạn lần đổi một vui sao?
Gối đá nằm co say tĩnh vật
Nhà hoang tưởng dậy bước chiêm bao
Nắng khô lá nõn màu vàng đọt
Biển dội tràn sông ngọn sóng nào?
Khép đôi tay ấm vào chân lạnh
Chút nhiệt tình dư ủ hụt hao
Tiếng mộng vo ve từng huyễn hoặc
Xương tàn cốt rụi cỏ xanh xao!
Dạo chơi vào ngõ hồn hiu quạnh
Thây chữ nằm co lại dáng đau
Thơ như vần điệu tuôn nhầm chỗ
Nên vận vui buồn xiên xỏ nhau!
Đất trú chiều dâng chân gió bão
Ngựa qua cầu nhỏ nắng lao xao
Môi lạt thèm thơm hơi lục bát
Vần đau ghép vội nỗi đau nào?
(Đất Trú, các trang 110, 111)
Các bạn độc giả thân mến, nhà thơ Phương Triều của chúng ta
dù mê say dong ruỗi trên những ngã rẽ hào hứng của thi ca, nhưng anh không bao
giờ quên các bạn, quên cái tuổi trẻ mộng mơ của chúng ta, không quên luôn thời
kỳ tình tự yêu đương khi tóc anh còn xanh mướt, khi mắt anh vẫn long lanh sáng
với ý tình khi một bóng ý trung nhân đang đi sâu ào khắp ngỏ ngách của trái tim
anh. Do đó, những bài thơ lãng mạn mới có dịp hồi sinh trong quyển thi tập
chuyên chở quá nhiều tư tưởng như thi tập Xuơng Rồng Đen này. Nhưng anh kiến
thiết ngôn ngữ tình yêu trong thơ. Mỗi bài thơ vẫn có như câu và những chữ lẩm
cẩm rất thơ, xen vào đó là những câu có ngôn ngữ tân kỳ. Những câu, những chữ lẩm
cẩm ấy biểu dương nồng độ yêu đượng thật đậm đà, thật thắm thiết. Trong cơn yêu
dấu, ai đó nói những câu quá tỉnh táo, những câu sáng suốt thì ý tình sẽ nguội
lạnh và loãng nhạt đi.
Một lần đi tưởng đi luôn
Vừa qua gặp mặt lại tuồng như quên!
Tưởng rằng được vậy đã hên
Dè đâu bởi vậy cho nên mới buồn!
Dẫu gì cũng lỡ nhớ thương
Dẫu rằng lỡ vậy, vậy luôn mới buồn!
Bột về thắc mắc hỏi khuôn
Sao trên mặt bột rải đường khác nhau?
(trang 4)
Cái thời thơ mộng và hiền như mực tím (nói theo Nhã Ca) là thời cắp sách đến
trường, vào ngưỡng cửa tuổi hoa niên. Những mối tình học trò lấy bối cảnh sân
trường lớp học, bảng phấn tường vôi đã được nhiều nhà thơ từ tiến chiến tới nay
khai thác bấy bầy rồi. Bây giờ vẫn có Vũ Thi An tiếp tục viết những vần thơ
tình học trò qua hai thi tập Tình Quê Tình Thơ và Cuối Đường Hạnh Phúc. Thường
là những bài thơ rất... học trò, nếu không săn tìm được những hình ảnh độc đáo,
những tứ hơ kỳ đặc, và nếu không canh tân ngôn ngữ cho thơ thì nên đưa những
bài thơ ấy vào quyển nhật ký hay quyển lưu bút mới thích hợp hơn. PhươngTriều
dù đã gần tuổi thất tuần, nhưng anh không dị ứng với loại thơ thời mơ tuổi mộng,
không ngại quay về dĩ vãng để khơi lại nguồn thơ đầu mùa của mình.
Mưa về cho nắng hạ trong
Cho thắm phượng hồng đỏ sắc môi em!
Góc ngồi tay múa que kem
Nhìn ra mộng mị đời lem luốc buồn!
Điệu ve nhịp guốc sân trường
Mực xanh lưu bút dễ thương chừng nào?
Ngõ đời sóng chợt lao xao
Bạn từ hôm đó lạc nhau lần hồi...
Trăng nào thắp đuốc tuổi tôi
Nhởn nhơ đom đóm ngồi chơi khắp vườn
Se lòng nhăn gió nhủ sương
Ngóng em chừng đỗi dễ thường nguôi ngoai!
Mưa dầm không ướt kẽ tay
Còn chen chân chỗ khô ngoài ướt trong!...
(trang 20)
Để mai lỗi hẹn thành ra mốt
Ta lạc nhau từ hẹn bữa qua
Người đi như thể không về kịp
Mà kịp về không kịp cách xa!
Xô nhau thức giữa ngày Thu ngủ
Một chút trăng non bỗng sáng lòa
Người đưa tay hứng sương Thu tới
Mà tưởng chưa hề Hạ chớm hoa!
Nên chi phượng cũ không về nữa
Trường lớp mưa giăng bóng nhạt nhòa
Tiếng trống trường xưa dồn tĩnh mịch
Nghiên sầu bút lạnh giữa phôi pha...
(Lỡ Hẹn, trang 26)
Những bài thơ tình của Phương Triều chẳng những có vóc dáng riêng biệt mà còn
có ý tình đặc thù. Loại thơ này không mặc đồng phục với các bài thơ tình yêu của
kẻ khác. Thuần chất sáng tạo là đây!
Những kẻ có tình yêu đơn phương hay trong tình yêu nhạt nhẽo thường tra vấn cái
nguyên do tình cảm của mình lẫn của người đối tượng. Họ còn thắc mắc hoàn cảnh
nào mà cái cung không đáp ứng trọn vẹn cái cầu, cái hệ lụy nào khiến cho hạnh
phúc dậm chân tại chỗ hay cất cánh bay đi. Nói theo Xuân Diệu là: Cho rất nhiều
song nhẫn chẳng bao nhiêu/ Nguời ta phụ hay thờ ơ chẳng biết. Các đương sự cứ hỏi
lung tung, cứ thắc mắc liên tu bất tận, nhưng rồi ra vẫn ở trong ngõ bí, trong
mê cung hoặc trong bát quái đồ hình.
Yêu lâu rồi mà như chưa yêu
Cho bao nhiêu mà như chưa nhiều
Lấy ra đếm lại rồi đem cất
Nên bấy nhiêu thành chẳng được nhiêu!
Dẫu cho thí tỉ mà như vậy
Thì cứ yêu dầu chẳng được yêu
Dẫu gì cũng chẳng buồn cho lắm
Thì chút buồn kia chẳng đáng nhiêu!
Hết yêu đâu lẽ còn yêu được
Dẫu có yêu hoài cũng bấy nhiêu!
Dẫu rằng đã vậy thì thôi vậy
Mà chút yêu thôi cũng lụy nhiều!
Hỏi rằng tới tuổi bao nhiêu
Thì quên được hết những điều chưa quên!...
(Nhiêu, trang 78)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét