Tham luận do PGS Phạm Vĩnh Cư trình bày tại Hội thảo quốc tế
"Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu văn hóa khu vực và quốc tế".
Tranh: Bửu Chỉ
Chủ đề của tham luận này hẹp hơn rất nhiều so với cái tên của
nó. Quan hệ qua lại giữa văn học với các loại hình nghệ thuật khác ở nước ta là
một đề tài nghiên cứu khoa học lớn và liên ngành, đòi hỏi tập trung nhiều lực lượng
tinh nhuệ, nhiều học giả hiểu biết sâu rộng văn hóa - nghệ thuật nước nhà và thế
giới.
Trong bài viết này chúng tôi chỉ đề cập một cách qua loa đến
tương quan so sánh giữa văn chương và hội họa Việt Nam dưới hai góc độ: vị trí
của chúng trong đời sống xã hội và những cống hiến của chúng cho kho tàng văn
hóa nước nhà. Vì vậy xin xem những gì sẽ nói sau đây chỉ là đề cương chi tiết
cho một báo cáo khoa học.
Ngoảnh nhìn lại nền văn nghệ cổ truyền của nước ta, con người
Việt Nam ngày nay không thể không ngạc nhiên về vị trí rất đỗi chênh lệch giữa
một bên là văn chương và một bên là các ngành nghệ thuật khác. Từ thế kỷ này
sang thế kỷ khác, xã hội Việt Nam xưa kia chỉ coi trọng văn chương và xem nhẹ mọi
loại hình nghệ thuật khác.
Có kỹ năng sáng tác thơ văn hầu như là điều kiện nhất thiết
phải có ở những người thuộc giới "sĩ phu" - tầng lớp được trọng vọng
nhất trong xã hội. Từ "văn nhân" vừa có nghĩa là một trí thức nhân văn,
vừa có nghĩa là người cầm bút. Những sáng tác thơ văn hay của họ được công luận
tán tụng và phẩm bình rộng rãi.
Cùng với chúng tên tuổi các tác gia được lưu truyền cho hậu
thế để học tập, noi gương. Còn những nghệ nhân hoạt động trong các khu vực nghệ
thuật khác thì dù họ có tài đến đâu (thí dụ như kiến trúc sư Vũ Như Tô trong thế
kỷ 18) vẫn cứ bị xem là thợ. Họ không được đề tên dưới những tác phẩm của mình
và vì thế không được người đời sau biết đến.
Nếu chúng ta còn nhớ cái tên Vũ Như Tô và nhà văn hiện đại
Nguyễn Huy Tưởng đã có thể viết một bi kịch xuất sắc về ông thì đơn thuần chỉ vì
ông đã bị giết cùng với vua Lê Tương Dực trong một cuộc bạo loạn của binh sĩ và
dân chúng thành Thăng Long phẫn nộ về những phí tổn quá lớn cho việc xây dựng công
trình Cửu trùng đài.
Song những ai trong thế kỷ 18 đã chạm khắc nên những pho tượng
Phật và La Hán ở chùa Tây Phương giờ đây rất nổi tiếng và được du khách nước
ngoài ngợi khen, có lẽ mãi mãi chúng ta sẽ không bao giờ biết.
Giữa những loại hình nghệ thuật cổ truyền ở Việt Nam, hội họa
chiếm vị trí khiêm tốn hơn cả, có thể nói, hầu như vắng mặt. Những gì chúng ta
còn hiểu được cho đến nay là một số chân dung lý tưởng hóa thuộc thể loại tranh
thờ, một số hình họa trang trí cho những sắc phong và một số cảnh sinh hoạt nông
thôn - tất cả đều có giá trị nghệ thuật không cao và đều thuộc những thế kỷ gần
đây.
Hội họa cổ Việt Nam (ngoại trừ tranh Đông Hồ và tranh Hàng Trống
mà không thể liệt vào hội họa theo nghĩa chính xác của từ ấy) vắng mặt trong
trang trí nội thất của người Việt, kể cả những gia đình khá giả từ đời này đến đời
kia chơi đồ cổ, trong đó có tranh cổ.
Ngay trong cung điện của các vua nhà Nguyễn ở Huế, chúng ta cũng
chỉ thấy những tranh vẽ trên gương với chất lượng rất trung bình. Vua chúa Việt
Nam không khuyến khích và bảo trợ cho hội họa (trường hợp Trần Nhân Tông là một
ngoại lệ rất hiếm hoi).
Gió mùa hạ (Tranh: Phạm Hậu)
Vào thời buổi thịnh trị nhất của nhà nước phong kiến quân chủ
Việt Nam, Lê Thánh Tông lập hội Tao đàn nhị thập bát tú, cổ vũ sáng tác thơ văn
trong giới quan lại cung đình, chứ không lập "Đồ họa Hàn lâm viện" để
khuyến khích và bồi dưỡng những tài năng trong hội họa.
Hệ quả tất yếu là các văn nhân đất Việt thường ưa thích và biết
xướng họa thi ca nhưng chẳng mấy người nắm vững nghệ thuật hội họa (và cả thư
pháp). Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ thuở còn hàn
vi hay sau khi đã rũ áo từ quan thường gửi gắm tâm sự của mình vào thơ hoặc
tham gia ca hát với các kỹ nữ chứ không cầm cũng chiếc bút lông ấy, dùng cũng
thứ mực Tàu ấy vẽ lên cũng những tờ giấy ấy những tranh thủy mặc hay những bức
thư pháp. Nước Việt Nam ta không có những Tào Thực, Vương Duy, Tô Đông Pha, Ba
Tiêu (Ba Sô) - những nhà thơ lớn đồng thời là những danh họa và thư pháp gia.
Trong một nền văn hóa mà chỉ một nghệ thuật văn chương giữ địa
vị độc tôn, bản thân nghệ thuật ấy không phát triển được phong phú và muôn màu
muôn sắc do thiếu cọ sát, tương tác, thi sức với các nghệ thuật khác.
Trong bối cảnh như thế, không thể hình thành một nền phê bình
văn nghệ, chứ chưa nói đến lý luận và triết học nghệ thuật. Điều này sẽ gây ra
nhiều trở ngại rất khó khắc phục cho những ai ấp ủ kỳ vọng viết lịch sử mỹ học
Việt Nam hay lịch sử văn hóa Việt Nam nói chung.
Tình hình thay đổi hẳn nếu chúng ta ngoái nhìn sang các nước
"đồng văn" với chúng ta: Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên. Ở đấy, trước
tiên là ở Trung Quốc - trung tâm của thế giới Hán hóa (sinisé), nước láng giềng
liền núi liền sông đã ảnh hưởng tạo tác đến thế, đến toàn bộ nền văn hóa vật chất
và tinh thần của người Việt chúng ta - hội họa cũng như thư pháp được coi trọng
và khuyến khích phát triển không kém văn học. Như nhiều người biết, ở Trung Quốc,
bên cạnh những nhà thơ đại tài được hậu thế tôn là "thi thánh", có những
"họa thánh" và "thư thánh".
Thư pháp và hội họa là hai chị em ruột sinh hạ hầu như cùng một
lúc, trưởng thành trong sự giúp đỡ lẫn nhau, tương tác và liên kết với nhau
trong sự quan tâm, bảo trợ của nhà nước và xã hội. Nhiều hoàng đế Trung Hoa là
những họa sĩ và những thư pháp gia, hoặc là những nhà sưu tập nghệ thuật trứ
danh.
Họa viện được thành lập bên cạnh hoàng gia và hoạt động có
quy củ từ thế kỷ 8. Không chỉ thi tứ, mà cả thư họa đã sớm trở thành những thú
vui tao nhã của giới sĩ phu Trung Hoa, cả những người làm quan cũng như những
người tránh xa quan trường.
Chính do sự khác biệt giữa nghệ thuật cung đình - quan phương
với nghệ thuật của các sĩ phu tự do mà trong lịch sử nghệ thuật Trung Hoa đã hình
thành hai dòng hội họa trường tồn: "Viện thể họa" và "Văn nhân họa",
đối lập với nhau nhưng cũng ảnh hưởng, thẩm thấu lẫn nhau, cùng với sự tiếp thu
ảnh hưởng của nghệ thuật phương Tây trong nhiều thế kỷ bảo đảm sự phát triển năng
động, giàu thành tựu đa dạng của hội họa và mỹ thuật Trung Hoa nói chung.
Với những khác biệt tất yếu nhưng không cơ bản, bức tranh phát
triển hội họa và mỹ thuật ở Nhật Bản cũng hiện ra tương tự. Nơi đây, cũng như ở
Trung Quốc có, thơ ca, hội họa, thư pháp vừa phát triển đồng hành, vừa liên kết
với nhau chặt chẽ, đôi khi tạo thành những thể thống nhất không thể tách rời như
ở thể loại saiga.
Còn mức độ bắt rễ của chúng vào đời sống hàng ngày, vai trò tác
dụng của chúng trong việc nuôi dưỡng khiếu thẩm mỹ của con người Nhật thì được
thể hiện nổi bật thí dụ bằng sự hiện diện cái tokonoma trong nội thất của mọi
gia đình Nhật Bản.
Sang thời đại mới, trong cuộc gặp gỡ vĩ đại giữa văn hóa phương
Đông với phương Tây, hội họa và mỹ thuật cổ truyền Trung Quốc và Nhật Bản đã ảnh
hưởng tác thành thế nào đến nhiều ngành nghệ thuật Âu - Mỹ thế kỷ 19 -20, đã làm
giàu đến đâu kho tàng chung của nghệ thuật thế giới - về đề tài này đã có nhiều
công trình nghiên cứu đáng tin cậy được viết ở nhiều nước và bằng nhiều thứ tiếng.
Từ Trung Quốc, Nhật Bản và cả Triều Tiên chuyển sang nghiên cứu
mỹ thuật Việt Nam cổ truyền, các học giả phương Tây đầu thế kỷ 20 dễ có cảm tưởng
là ở người Việt không có "gen" hội họa.
Hạnh phúc thay những nghi ngờ ấy đã khá mau chóng được xua
tan bởi những tác phẩm hội họa được triển lãm ở Hà Nội, Paris, Tokyo, Hồng Kông...
của một loạt họa sĩ trẻ, báo hiệu sự ra đời tuy muộn màng nhưng gây ấn tượng của
một nghệ thuật hội họa Việt Nam đích thực.
Tất cả những họa sĩ ấy đều là sinh viên Trường Mỹ thuật Đông
Dương - một trường cao đẳng được thành lập năm 1925 và nằm trong hệ thống Đại học
Đông Dương được chính quyền Pháp bắt đầu xây dựng từ đầu thế kỷ 20.
Thiếu nữ (Tranh: Dương Bích Liên)
Nói đến Trường Mỹ thuật Đông Dương và vai trò của nó trong sự
hình thành và phát triển của hội họa Việt Nam tức là nói đến công lao rất to lớn,
đáng được ghi nhớ mãi mãi, của một họa sĩ người Pháp Victor Tardieu (1870 - 1937)
cùng các cộng sự của ông - những họa sĩ Pháp khác và những nhà nghiên cứu nghệ
thuật làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ (Inguimberty, De Fénis, Roger,
Goloubev, Besacier...).
Chính họ với nhiệt tình và lương tâm nghề nghiệp cao đã tuyển
chọn vào trường những thanh niên thực sự có năng khiếu để đào tạo thành những
nghệ sĩ tạo hình chân chính, truyền đạt cho họ những kiến thức vững chắc về những
nền nghệ thuật lớn của thế giới, với lịch sử lâu đời, quanh co khúc khuỷu, đầy
những biến đổi và dồi dào thành tựu của chúng.
Và điều quan trọng hơn cả, chính những người ngoại quốc ấy đã
khích lệ, hướng dẫn, giúp đỡ những họa sĩ trẻ Việt Nam tìm ra những con đường
nhiều hứa hẹn để trong một thời gian lịch sử ngắn sáng tạo nên một nền hội họa
vừa hiện đại vừa mang rõ dấu ấn dân tộc.
Trong lịch sử nghệ thuật Việt Nam, giai đoạn 1930 - 1945 là
buổi đơm hoa kết trái đầu tiên trong tiến trình văn hóa Việt Nam hội nhập văn hóa
thế giới. Nó được đánh dấu bằng nhiều biến chuyển lớn, trong đó có hai biến
chuyển kỳ diệu: sự phát triển gia tốc của văn xuôi nghệ thuật với một số đỉnh
cao cho đến giờ vẫn chưa được vượt qua và sự ra đời và sớm đạt độ chín muồi của
hội họa (tranh lụa của Nguyễn Phan Chánh, tranh sơn mài của Nguyễn Gia Trí và
Hoàng Tích Chù, tranh sơn dầu của Tô Ngọc Vân và Trần Văn Cẩn, nếu chỉ điểm những
thành công nổi bật nhất).
Phong trào Thơ Mới ở ta trong những năm 30 được gọi là
"cuộc cách mạng trong thơ ca" và hiện nay đã được nghiên cứu đến mức
vắt kiệt, theo chúng tôi lại không có được ý nghĩa to lớn và trường cửu như thế.
Cái đó thể hiện ở ngay ngôn ngữ và hình thức thi ca, mà rất
nhiều độc giả người Việt hôm nay, đặc biệt các nhà thơ, cảm thấy rõ ràng đó là
ngôn ngữ và hình thức của một thời đại đã qua và không bao giờ trở lại (chưa nói
đến thế giới cảm xúc và tâm tưởng mà dòng thơ lãng mạn ấy biểu tả).
Trong khi đó thì những truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Công
Hoan, Thạch Lam, Nam Cao..., ký của Vũ Trọng Phụng và Nguyễn Tuân, hai tiểu
thuyết Số đỏ và Sống mòn (cần thêm vào cả những kịch phẩm văn xuôi của Đoàn Phú
Tứ và Nguyễn Huy Tưởng), người đọc hôm nay vẫn thấy là mới, là hiện đại, tức là
chúng đạt được chất "cổ điển mới".
Nguyên nhân của sự phát triển lệch pha này so với những người
viết xuôi hay kịch nói, mà thiết nghĩ, ở sức mạnh của truyền thông, ở sức ỳ của
tư duy thơ ca được nuôi dưỡng bằng sức ỳ của thị hiếu công chúng mà bản thân những
người quyết tâm làm một cuộc cách mạng trong thơ thời ấy cũng chưa ý thức được đầy
đủ. Đối với sáng tạo nghệ thuật, truyền thống luôn luôn vừa là bệ đỡ vừa là rào
cản.
Theo cảm nhận của chúng tôi, đối với thơ Việt Nam thời mới thì
nó là rào cản nhiều hơn bệ đỡ, và nếu không xuất hiện những thiên tài xuất chúng
thì cần nhiều nỗ lực kiên trì và có ý thức của nhiều thế hệ nhà thơ nữa để cho
nền thơ nước nhà có thể đạt được chất "cổ điển mới". Chính sự không có
truyền thống hóa ra lại là một nhân tố quan trọng hỗ trợ sự trưởng thành nhanh
chóng của văn xuôi nghệ thuật và hội họa Việt Nam trong các giai đoạn đương nói
đến.
Song như ta sẽ thấy, cũng sự thiếu vắng truyền thống lâu đời,
vững chắc, với nhiều đỉnh cao không thể che lấp, sau này trong những bối cảnh lịch
sử đã đổi khác sẽ gây cho văn chương và hội họa nước nhà không ít khó khăn.
Nhìn nhận và so sánh hồi cố văn chương và mỹ thuật Việt Nam
giai đoạn 1945-1975, trước tiên cần luôn luôn nhớ rằng nền văn chương và mỹ thuật
ấy tồn tại và phát triển trong điều kiện cách mạng và chiến tranh. Như mọi người
đều biết, cách mạng Việt Nam vừa là cách mạng giải phóng dân tộc vừa là cách mạng
xã hội, và nó được tiến hành trong điều kiện 30 năm chiến tranh rất gian nan.
Như lịch sử cho thấy, mọi cách mạng xã hội và mọi cuộc chiến
tranh đều không thuận lợi cho sự phát triển liên tục, không đứt đoạn, không có
những đảo lộn giá trị văn hóa. "Ở đâu đại bác rền vang, nơi ấy các nữ thần
nghệ thuật câm lặng" - châm ngôn ấy của Goethe, phát ra trong những năm cuộc
Đại cách mạng Pháp làm chấn động cả châu Âu - với những đính chính nhất định,
xem ra có thể áp dụng cho mọi quốc gia và mọi thời đại.
Trong lịch sử văn học và nghệ thuật Pháp, giai đoạn 1789
-1815 là giai đoạn để lại những trang trắng, không phải vì trong thời kỳ ấy người
Pháp không sáng tác thơ, văn xuôi, kịch, hội họa, điêu khắc và những sáng tác ấy
không được cổ vũ, biểu dương, ghi công, mà vì tất cả chúng (trừ những ngoại lệ
hy hữu) đều không qua được thử thách của thời gian. Văn chương, nghệ thuật Pháp
chỉ bắt đầu hồi sinh từ thời Trung hưng (1915-1830).
Tình trạng văn nghệ Việt Nam trong ba thập kỷ đương nói đến
không giống như thế. Sẽ còn lại dài lâu với thời gian không ít những bài thơ và
đặc biệt những bài hát kháng chiến hay, những truyện ngắn và những bài ký thành
công, nhưng đáng tiếc rất thưa thớt những kịch phẩm và hoàn toàn thiếu vắng những
tiểu thuyết đã chứng tỏ có sức sống lâu bền.
Tự họa (Thành Chương)
Vậy đã có hay có thể có hay không một nền tiểu thuyết Việt
Nam hiện đại? Câu hỏi này đưa chúng ta trở về với ngày hôm nay của văn học nghệ
thuật nước nhà. Sau 20 năm đổi mới, từ 1986 đến nay, trong sáng tác tiểu thuyết
ở Việt Nam (không đề cập đến những cộng đồng người Việt hải ngoại) đã và đang
diễn ra những biến chuyển gì, đã xuất hiện những tác gia nào với những tác phẩm
nào mà hợp lực lại, đã hoặc trong tương lai gần có thể làm thay đổi cục diện văn
xuôi nước nhà?
Một mình chúng tôi không đủ sức để trả lời đầy đủ và thuyết
phục câu hỏi này. Trong giới nghiên cứu - phê bình khá phổ biến ý kiến cho rằng
nhìn chung tiểu thuyết ta vẫn đuối so với truyện ngắn (song truyện ngắn Việt
Nam đương đại thì cũng không thể tự hào rằng đã có nhiều tuyệt tác, bất chấp tuyên
bố của một vài người viết văn nói rằng truyện ngắn của ta hiện nay «ngang ngửa
với thế giới»).
Có một sự thật không thể phủ nhận: những người yêu chuộng văn
chương ở ta hiện nay, cũng như trước đây, vẫn phải thỏa mãn nhu cầu của mình chủ
yếu bằng cách tìm đọc văn học (truyện, tiểu thuyết) nước ngoài, và từ những
truyện, tiểu thuyết ngoại quốc chuyển sang những ấn phẩm tương tự của nội quốc,
người ta thường khó tránh khỏi cảm giác bực mình. Giải thích tình trạng này, không
ít người bất bình hay buồn rầu chỉ ra những nguyên nhân bên ngoài : sự chưa đủ
tự do sáng tác, quyền lực chưa được bãi bỏ của các lý thuyết giáo điều, vai trò
của kiểm duyệt của nhà nước v.v...
Những giải thích như vậy không sai, song lịch sử cho thấy cũng
trong những điều kiện bên ngoài tương tự, thậm chí còn khắc nghiệt hơn rất nhiều,
những nền văn hoá giàu sức mạnh nội tại vẫn phát triển thăng hoa. Dưới chính thể
toàn trị ở nước Nga sau 1917, vẫn nảy nở những tài năng siêu đẳng, làm gương
cho nhiều thế hệ đồng nghiệp noi theo, như Akhmatova, Pasternak, Mandelshtam,
Tvardovski, Zabolotski (thơ), Platonov, Bulgakov, Sholokhov (với Sông Đông êm đềm),
Solzhenitsyn, Bitov (văn xuôi), Malevich, Filonov, Sidur, Neizvestnyi (hội họa
và điêu khắc).
Ở Ba Lan, Tiệp Khắc, Hungari cũng không thiếu những hiện tượng
tương tự, chúng nói lên sức phản ứng sáng tạo chiến thắng cường quyền của những
nền văn nghệ dồi dào nội lực.
Iosif Brodski, một thi hào Nga nửa sau thế kỷ XX, đã nếm trải
đầy đủ mọi sự o bế, thậm chí bức hại, của nhà đương cục nước ông, rồi sau đó được
hưởng mọi tự do của một công dân Hoa Kỳ cộng với vinh quang của giải thưởng
Nobel và nhiều giải thưởng quốc gia Mỹ, đã buông một câu có cánh chứa đựng một
phần quan trọng của chân lý: «Các đế chế sản sinh ra thơ ca, các nền dân chủ đại
chúng sản sinh ra giấy lộn».
Tất nhiên, trong văn hoá hiện đại, ngay giấy lộn cũng có loại
hạng. Có giấy lộn thượng hạng (chẳng hạn không ít best-seller ở phương Tây) và
có giấy lộn mạt hạng - những sách giật gân đơn thuần hay khiêu dâm, khiêu bạo lực
hiện nay đầy rẫy trên thị trường sách ở nhiều nước phương Tây cũng như phương Đông
và cám dỗ ngay cả một số văn sĩ rất nổi tiếng).
Thiếu nữ (Bửu Chỉ)
Vậy tiền đề thiết yếu hơn cả là chính cái nội lực ấy của văn
hóa mà những yếu tố hun đúc nên nó, ngoài tài năng bẩm sinh và ý chí sáng tạo,
là độ sâu của tư duy, năng lực nhận thức và nhận thức lại thực tại, học thức nhân
văn, sự am hiểu văn học thế giới và nhiều điều kiện chủ quan khác ở người nghệ
sĩ.
Cái nội lực ấy xem ra còn chưa dồi dào lắm trong các nhà tiểu
thuyết Việt Nam đương đại. Chính vì thế cho nên trong 20 năm đổi mới vừa qua,
tiểu thuyết nước ta mặc dù đã đạt được một số thành tựu mới, được độc giả hoan
nghênh (mà trình độ văn hoá kéo theo mức độ đòi hỏi của độc giả nước nhà trong
những thập kỷ qua đã được nâng cao rất đáng kể), nhưng nó vẫn chưa cất mình lên
được lên một đẳng cấp mới, cho phép khẳng định sự tồn tại của một nền tiểu thuyết
Việt Nam.
Trong dòng tiểu thuyết nước nhà khá trù phú về lượng trong
hai thập kỷ qua, không thể không nhắc đến với niềm trân trọng Thời xa vắng và
Chuyện làng Cuội của Lê Lựu, Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Những nỗi buồn chiến
tranh của Bảo Ninh, Lão khổ và Đi tìm nhân vật của Tạ Duy Anh, Cõi người rung
chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Cơ hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà, Giàn thiêu
của Võ Thị Hảo và Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh (có thể còn có những tác
phẩm khác mà chúng tôi chưa có dịp đọc), song những thành công ấy vẫn chưa đạt được
độ hoàn hảo như nó đã từng có được trong Sống mòn của Nam Cao và Số đỏ của Vũ
Trọng Phụng.
Một vài bản thảo chưa được xuất bản mà chúng tôi có may mắn được
tìm hiểu báo hiệu sự khơi sâu tư duy tiểu thuyết ở những tác giả của chúng.
Song bên cạnh đó một loạt hiện tượng tiêu cực thể hiện khá rõ trong sản phẩm tiểu
thuyết đại trà hiện thời, không có trong những tiểu thuyết trình độ trung bình
trước đây: sự sa sút tài nghệ, sự chạy theo số lượng hy sinh chất lượng, sự tràn
ngập văn xuôi tiểu thuyết bởi ngôn ngữ và các thủ pháp báo chí, v.v..., thiết
nghĩ chưa cho phép nói một cái gì xác định về tương lai của tiểu thuyết Việt
Nam.
Cũng vì những lý do tương tự - nổi bật là sự lẻ loi, nhiều
khi không được biết đến của rất ít thơ mới về hình thức và sâu sắc về nội dung
giữa một biển thơ chất lượng trung bình hay xoàng xĩnh - mà rất khó đoán định
tiền đồ của thơ Việt Nam - một nền thơ có lịch sử ngàn năm.
Vậy bức tranh phát triển của hội hoạ Việt Nam trong hơn nửa
thế kỷ qua có những gì giống và những gì khác so với văn chương? Những cái giống
nhau không ít, nhưng những khác biệt cũng rất đáng kể. Chúng tôi sẽ không nói đến
những khó khăn vật chất cản trở sáng tạo nghệ thuật và những tổn thất về nhân tài
tất yếu trong chiến tranh, nhất là một chiến tranh lâu dài và gian khổ như ở nước
ta.
Xin chỉ đề cập đến một khía cạnh của vấn đề: những tiềm lực sáng
tạo được phát hiện, bồi dưỡng và tích lũy trong giai đoạn trước, sau 1945 đã được
phát huy như thế nào và đã làm nên những giá trị gì bổ sung cho kho tàng văn hóa như ta thấy không giàu có lắm mà cha ông ta để lại?
Chính ở đây đã sớm xuất hiện những dị biệt, những lệch pha
trong phát triển hội họa và văn chương. Ngay trong những năm đầu sau khi hoà
bình lập lại (1954 - 1960), khi mà dòng chảy văn học còn lững thững, phẳng lặng,
chưa có những sự kiện nổi bật hứa hẹn những bước phát triển mới về chất, báo hiệu
sự nở rộ lần thứ hai của những tài năng đã từng thể hiện mình rực rỡ trước cách
mạng hay sự ra đời của những văn tài mới, với những cá tính mạnh mẽ, những tìm
tòi kiên định hướng về những đích nghệ thuật mới, thì đời sống mỹ thuật lại diễn
ra sôi động, với những triển lãm hàng năm, nơi người xem nhận ra nhiều khuôn mặt
sáng tác trẻ, sung sức - tuyệt đại đa số họ là những cựu sinh viên tốt nghiệp
hay, nhiều hơn, chưa kịp tốt nghiệp những khoá cuối cùng của Trường mỹ thuật Đông
Dương hoặc những người vừa qua những lớp đào tạo trong kháng chiến.
Nhiều tác phẩm hội họa của họ cho thấy những nỗ lực lớn tiến
bước trên con đường đầy gian truân của một nghệ thuật còn rất non trẻ ở nước
ta, ý chí nâng cao tài nghệ, học tập các bậc thầy của hội họa thế giới và tìm
kiếm những phương cách và phương tiện mới để phát triển những thể loại đặc thù
của dân tộc hay khu vực.
Và những thành công đã sớm xuất hiện, đặc biệt trong thể loại
tranh sơn mài (Phan Kế An, Trần Đình Thọ, Nguyễn Văn Tỵ, Nguyễn Đức Nùng, Nguyễn
Tư Nghiêm...), đem lại niềm vui cho những người yêu chuộng nghệ thuật không chỉ
trong nước, mà còn ngoài nước (Triển lãm hội họa quốc tế ở Moskva năm 1958).
Từ cuối những năm 50 - đầu những năm 60 của thế kỷ trước, áp
lực của những lý thuyết văn nghệ chính thống, được vay mượn từ các nước đàn anh
khác cùng một ý thức hệ, yêu cầu văn nghệ nhất tề phục vụ những nhiệm vụ chính
trị - xã hội trước mắt đã ảnh hưởng tiêu cực trông thấy đến không chỉ văn chương
mà cả mỹ thuật nước nhà. Cái quý giá nhất mà không có nó thì không thể có nghệ
thuật hiện đại - tính độc đáo, «độc bản» của từng tài năng sáng tạo, thế giới
nghệ thuật không giống nhau của từng nghệ sĩ, sự không ngừng tìm kiếm cái mới,
không lặp lại không chỉ người khác, mà ngay cả bản thân mình - chính cái đó đã
nhiều phen bị hiến sinh trong những phong trào sáng tác tập thể nhằm đạt những
tác dụng xã hội rất nhất thời.
Những khuôn vàng thước ngọc hạn hẹp, chủ yếu được lấy từ chủ
nghĩa hiện thực cổ điển Nga thế kỷ 19 và nghệ thuật Xô viết chính thống, được
khuyến cáo đến mức áp đặt cho mọi văn nghệ sĩ, bóp méo và nhiều khi xoá nhoà
khuôn mặt sáng tạo của nhiều người, cản trở sự tìm hiểu, học tập kinh nghiệm của
nghệ thuật toàn thế giới.
Trong bối cảnh ấy, nội lực của văn hóa - nghệ thuật thể hiện
trước tiên ở ý chí và năng lực của những văn nghệ sĩ biết bạo gan bơi ngược dòng
chủ lưu, tìm ra cho bằng được con đường riêng của mình trong sáng tạo nghệ thuật,
làm nên những tác phẩm mà ban đầu rất có thể sẽ bị đón tiếp một cách ghẻ lạnh vô
cùng nhưng sau này sẽ trở thành những giá trị được cả xã hội thừa nhận, trở thành
cái «cổ điển mới».
Đáng tiếc, cái nội lực ấy công chúng biết thưởng thức nghệ
thuật ít tìm thấy trong văn chương nước ta trước thời kỳ đổi mới và như đã nói,
ngay bây giờ nó vẫn chưa dồi dào lắm. Nhưng trong hội họa thì không hẳn như thế.
Những thử nghiệm sáng tạo phản giáo điều, phản công thức, những tìm kiếm thầm lặng
nhưng kiên trì một ngôn ngữ hội họa mới, vừa phù hợp với thời đại vừa thể hiện được
bản sắc cá nhân và dân tộc của người nghệ sĩ giờ đây ta có thể thấy trên tranh
của không ít họa sĩ Việt Nam hoạt động trong những thập kỷ 60 - 80, nhưng tập
trung hơn cả, triệt để hơn cả và đạt được những thành tựu thuyết phục và chinh
phục hơn cả là trong sáng tác của ba danh họa: Bùi Xuân Phái (1920 - 1988),
Nguyễn Sáng (1922 - 1998), Nguyễn Tư Nghiêm (sinh năm 1922).
Sự khâm phục ba nghệ sĩ bậc thầy này sẽ tăng lên nếu chúng ta
nhớ lại những điều kiện vật chất và tinh thần cực kỳ khó khăn mà trong đó họ đã
phải sống và làm việc mấy chục năm liền. Sự xuất hiện của ba bậc thầy cách tân
trong hội họa được xã hội và nhà nước thừa nhận, ba nhà «kinh điển mới» rõ ràng
đã là một sức mạnh văn hóa, một điểm tựa đáng kể cho các họa sĩ Việt Nam ngày
nay trong những nỗ lực sáng tạo cái mới của họ .
Hiện nay, trong hơn một công trình khoa học đã được khẳng định
rằng trong nửa thế kỷ qua những thành tựu cao nhất của mỹ thuật Việt Nam tập
trung trong lĩnh vực hội họa. Nếu ta tính đến những cống hiến còn khiêm tốn của
văn chương và những khó khăn trong sự trưởng thành âm nhạc bác học ở ta, thì có
thể nói rằng những thành tựu cao nhất của hội họa cũng là những thành công cao
nhất của nghệ thuật Việt Nam từ sau 1945.
Rất khó đánh giá đúng đắn cái đương thời, cái hiện tại luôn
luôn dở dang, luôn luôn không tươm tất. Nếu chúng tôi nói rằng hiện nay hội họa
nước ta phá triển nhanh hơn và tiến xa hơn văn chương thì những người không đồng
ý với chúng tôi rất dễ chỉ ra một loạt điểm không thể chấp nhận trong sản phẩm
hội họa đại trà ở ta hiện nay. Song về trình độ phát triển của nghệ thuật nào cũng
nên phán xét theo những đỉnh của chúng, những đỉnh ấy đã có hay chưa, nếu có thì
còn quá ít hay đã tương đối nhiều.
Có hai hiện tượng giúp ta đánh giá công bằng trình độ và công
dụng xã hội của hội họa Việt Nam hôm nay. Thứ nhất, nhiều khách sạn mới, thượng
hạng ở nước ta trang trí cho mình một cách có «gu» bằng những họa phẩm nội địa,
không cần đến các họa sĩ ngoại quốc. Thứ hai, hàng chục họa sĩ Việt Nam trung
niên và trẻ tuổi thường xuyên tham gia những triển lãm quốc tế và bán được khá
nhiều tranh cho người nước ngoài theo giá không rẻ rúng.
Hội họa Việt Nam chưa có uy tín quốc tế, cho nên không thể
nghĩ rằng người nước ngoài tìm mua tranh Việt Nam vì thời thượng hay để kiếm lời
nhanh chóng. Chắc có những động cơ khác nghiêm túc hơn, đáng mừng hơn cho chúng
ta.
Chân dung tự họa (Bửu Chỉ)
Còn nếu nói về những họa sĩ Việt Nam đương thời thực sự có tài
và có những đóng góp độc đáo, không ai giống ai, cho nền hội họa đương hình thành
của nước nhà, thì danh sách khá dài, xin chỉ điểm một số tên theo trật tự tuổi
tác: Bửu Chỉ, Thành Chương, Nguyễn Quân, Đặng Xuân Hòa, Đinh Quân, Mai Hiên,
Kim Công Hoa, Đinh Thị Thắm Poong (ba người sau là nữ)... Về từng họa sĩ ấy cần
phải nói riêng, nhưng chúng tôi chỉ xin dừng lại trong giây lát ở Bửu Chỉ (1948
- 2002), một họa sĩ lớn theo chúng tôi còn chưa được đánh giá như anh xứng đáng.
Với Bửu Chỉ, nghệ thuật Việt Nam đã có một họa sĩ - nhà tư tưởng,
họa sĩ - triết gia. Ở anh, tài năng nghệ thuật không thể hồ nghi kết hợp nhuần
nhuyễn với một trí tuệ cao cường, sự mê đắm cái đẹp, sự thiết tha với cái thiện
song hành với sự nhạy cảm cao độ đối với cái ác và sự thấu hiểu sức mạnh khủng
khiếp của nó, tình yêu nồng nàn sự sống, quý giá từng khoảnh khắc cuộc đời hòa lẫn với nỗi đau khắc khoải về thân phận hữu tử do bản chất không hoàn hảo của
con người, nỗi khao khát cái tận Chân, tận Thiện, tận Mỹ nhuần thấm ý thức về sự
bất khả của chúng, nhu cầu khôn nguôi về ý nghĩa của sinh tồn tô đậm thêm cảm
quan thường trực về sự phi lý của tất cả...
Có thể yêu thích hay không yêu thích hội họa của Bửu Chỉ, nhưng
không thể phủ nhận là anh đã đạt được độ sâu rất đáng kể trong tư duy nghệ thuật
- cái độ sâu tư duy ấy (nó cũng là chiều cao tâm thức), đang cần lắm lắm cho toàn
bộ nghệ thuật nước nhà để có được những bước tiến mới, thực sự mạnh mẽ, vững chắc
và đồng bộ.
23/4/2013










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét