Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Âm thanh và cuồng nộ 2

Âm thanh và cuồng nộ 2

7. Cuối cùng tôi cũng thoát được hắn, nhưng mỗi lần toan lấy thư ra xem là lại có việc đến. Thiên hạ kéo đàn kéo lũ ra tỉnh xem triển lãm, vung tiền ra mua những thứ chẳng mang lại lợi lộc gì cho tỉnh mà cũng chẳng để lại gì ngoài khoản mà bọn tham nhũng ở Toà thị chính sẽ chia chác hết với nhau, còn Earl thì đi tới đi lui như gà mắc đẻ, miệng nói "Vâng thưa bà, ông Compson sẽ hầu bà. Jason, cậu đưa bà ấy xem cái đánh bơ với cái móc treo màn giá một xu kia kìa".


Hừ, Jason hám việc lắm. Tôi bảo tôi không bao giờ vào đại học vì ở Harvard họ dạy người ta cách đi bơi đêm mà không cần biết bơi và ở Sewanee thậm chí nước họ cũng không bảo cho biết là cái gì. Tôi nói mẹ có thể gửi tôi đến đại học tiểu bang, có lẽ tôi sẽ học cách làm đứng đồng hồ bằng một cái hắt hơi rồi mẹ có thể gửi Ben vào hải quân, tôi nói, hay kỵ binh cũng được, trong kỵ binh họ dùng cả những tên hoạn đấy. Rồi khi chị ấy đem cả Quentin về nhà cho tôi nuôi, tôi nói thế nào cũng được, thay vì tôi phải đi lên miền Bắc kiếm việc thì họ sẽ gửi việc xuống đây cho tôi và rồi mẹ bắt đầu khóc và tôi nói chả phải tôi không muốn có nó trong nhà này, nếu nó làm mẹ hài lòng thì tôi sẽ nghỉ việc và tự tay chăm sóc nó để mẹ với Dilsey lo sao cho đầy thùng bột, hay Ben cũng được. Đem nó cho một gánh xiếc thuê, thế nào chả có người bỏ ra vài xu để xem, rồi bà lại càng khóc và cứ nói tội nghiệp thằng bé khốn khổ và tôi nói phải nó sẽ đỡ đần mẹ nhiều khi nó cao không phải chỉ có gấp rưỡi tôi bây giờ và bà nói chẳng bao lâu nữa bà sẽ chết và rồi chúng tôi sẽ thoát nợ và thế là tôi nói thôi được rồi, được rồi, mẹ cứ làm theo ý mẹ. Nó là cháu của mẹ, nó chẳng có ông bà ngoại nào tốt hơn cái đó có thể nói chắc. Chỉ có điều tôi nói chỉ có điều đó là vấn đề thời gian. Nếu tôi cứ tin chị ấy sẽ làm những gì chị ấy nói và không để tâm đến, thì tôi quả là đại ngốc vì đây là lần đầu tiên cứ luôn miệng cảm ơn Chúa vì con không phải là một Compson trừ cái tên, bởi vì con là tất cả những gì mẹ còn lại, con và Maury, và tôi nói ôi dào bản thân tôi cũng chẳng cần cậu Maury và rồi họ đến bảo là đã sẵn sàng. Thế là mẹ ngưng khóc. Bà buông mạng che mặt và chúng tôi đi xuống nhà. Cậu Maury từ phòng ăn đi ra, khăn tay ấp lên miệng. Họ đứng lại chừa một lối đi nhỏ và chúng tôi ra cửa vừa kịp lúc để thấy Dilsey đang đuổi Ben và T.P. Vòng qua góc nhà ra phía sau. Chúng tôi đi xuống bậc thềm và lên xe. Cậu Maury luôn miệng nói tội nghiệp chị, tội nghiệp cho chị, nói miệng vậy thôi và vỗ vỗ tay bà. Nói không thế để chẳng để làm gì.

"Con đã đeo băng tang chưa?" bà nói. "Sao họ không đi đi, để thằng Benjamin lại ra làm trò cười cho thiên hạ bây giờ. Tội nghiệp thằng bé. Nó chẳng biết gì. Nó cũng không nhận thức được nữa".

"Nào, nào" cậu Maury nói, vỗ vỗ tay bà, nói miệng thôi. "Thà thế còn hơn. Đừng để nó biết những chuyện buồn trừ khi nó buộc phải biết".

"Người ta còn có con cái an ủi những lúc thế này" mẹ nói.

"Chị còn có Jason với tôi mà" cậu nói.

"Thật khủng khiếp quá" bà nói "Hai người trong không đầy hai năm".

"Thôi thôi" cậu nói. Một lúc sau cậu lén đưa tay lên miệng rồi vứt ra ngoài cửa sổ. Vậy là tôi biết từ nãy đến giờ tôi ngửi thấy mùi gì. Mùi đinh hương. Tôi nghĩ chắc cậu tưởng ít ra cậu cũng có thể làm thế trong đám tang của bố hay có lẽ cái tủ rượu tưởng cậu vẫn là bố và khi cậu đi qua nó bắt hồn cậu. Như tôi nói, nếu bố phải bán cái gì đó cho Quentin đi học ở Harvard, thì mẹ kiếp phúc đức cho bọn tôi hơn hết là ông bán cái tủ rượu ấy rồi lấy một phần tiền mà mua một cái áo bó tay. Tôi nghĩ tất cả gia sản nhà Compson trôi dạt đi đến đâu hết trước khi đến được tay tôi như mẹ nói, thì cũng là vì ông uống rượu. ít nhất tôi cũng chưa bao giờ nghe ông tính bán cái gì cho tôi đi Harvard cả.

Vậy là cậu vẫn vỗ vỗ tay mẹ nói "Tội nghiệp chị quá" vỗ lên tay bà bằng đôi găng đen mà bốn ngày sau chúng tôi nhận được hoá đơn bởi vì hôm ấy là ngày hăm sáu bởi vì trong ngày ấy tháng trước bố đến đó và đón con bé về nhà và chẳng nói gì về chuyện mẹ nó ở đâu hay gì cả và mẹ khóc và nói "Ông cũng chẳng buồn gặp thằng ấy à? Ông cũng không thèm bắt hắn chịu tiền nuôi dưỡng à" và bố nói "Không tôi sẽ không đụng đến tiền của thằng ấy một xu cũng không" và mẹ nói "Luật pháp sẽ buộc hắn. Hắn chẳng có chứng cớ gì trừ khi, Jason Compson" bà nói "hay là ông gàn dở tới mức nói ra".

"Im đi Caroline!" bố nói rồi ông sai tôi đến giúp Dilsey lôi cái nôi cũ từ trên gác xép xuống và tôi nói:

"Chà, hôm nay người ta còn đem việc về nhà cho tôi làm thêm nữa" bởi vì lúc nào chúng tôi cũng hy vọng sẽ dàn xếp ổn thoả và hắn sẽ giữ con bé bởi vì mẹ luôn nói rằng ít ra chị ấy cũng phải nhìn tới gia đình một chút để đừng có làm mất dịp may của tôi sau khi chị ấy và Quentin đã được lo lắng chu đáo.

"Thế nó là con ai mới được chứ?" Dilsey nói "Ai sẽ nuôi nó ngoài tôi ? chả phải một tay tôi nuôi các cô các cậu hết người nọ đến người kia đấy sao?"

"Phải, mẹ kiếp, mammy nuôi khéo lắm" tôi nói. "Dầu sao bây giờ bà cũng có cái để lo" Thế rồi chúng tôi đem nôi xuống và Dilsey thu dọn chỗ cho nó trong căn phòng cũ của chị ấy . Rồi dĩ nhiên mẹ lại bắt đầu.

"Nín đi cô Caroline" Dilsey nói. "Cô sắp làm nó dậy bây giờ".

"Ở đây à?" mẹ nói. "Để lại bị ô nhiễm bởi cái bầu không khí ấy à? Không thế nó cũng sẽ khó bảo lắm rồi, với cái dòng máu ấy".

"Im đi" bố nói. "Đừng có ngốc".

"Sao nó không ngủ trong này được?" Dilsey nói. "Ở phòng này đêm nào tôi chả đặt mẹ nó lên giường đến khi lớn tướng mới tự đi ngủ được".

"Chị không biết" mẹ nói "có con gái bị chồng bỏ là như thế nào. Chỉ tội nghiệp con bé con thơ ngây" bà nhìn Quentin "Cháu sẽ chẳng bao giờ biết cháu đã gây ra bao đau khổ".

"Im nào, Caroline" bố nói.

"Sao cô cứ muốn giày vò Jason thế?" Dilsey nói.

"Tôi vẫn cứ cố giữ gìn cho ông ấy" mẹ nói. "Tôi vẫn cố giữ cho ông ấy khỏi chuyện đó. Ít ra tôi cũng có thể cố sức để lo lắng cho con bé".

"Ngủ trong phòng này thì con bé bị làm sao, tôi chẳng biết" Dilsey nói.

"Tôi cũng không rõ" mẹ nói. "Tôi biết tôi chỉ là một bà già lắm chuyện. Nhưng tôi biết người ta chẳng thể nào tránh được trời quả báo".

"Vớ vẩn" bố nói. "Thì đặt nó trong phòng cô Caroline vậy, Dilsey".

"Ông cứ bảo là vớ vẩn" mẹ nói. "Nhưng nó sẽ không bao giờ được biết. Con bé sẽ không bao giờ được nghe cái tên ấy. Dilsey, tôi cấm từ nay không được nhắc đến cái tên ấy trước mặt nó. Nếu như nó lớn lên mà không biết rằng nó có một người mẹ thì tôi xin tạ ơn Chúa".

"Đừng có điên rồ như thế" bố nói.

"Tôi chưa bao giờ xen vào chuyện ông dạy dỗ con cái" mẹ nói. "nhưng bây giờ thì tôi không chịu nổi nữa rồi. Tôi với ông phải quyết định chuyện này ngay bây giờ, ngay tối nay. Hoặc là cái tên ấy không được nhắc đến nữa, hoặc nó phải đi, hoặc tôi đi. Ông chọn đi".

"Im đi nào" bố nói. "Bà lại nghĩ quẩn rồi. Đặt nó vào đây, Dilsey".

"Ông cũng sắp ốm đấy " Dilsey nói. "Trông ông đờ đẫn lắm. Ông đi nằm đi, tôi sẽ pha cho ông một ly rượu nóng xem có ngủ được không. Chắc ông mất ngủ từ hôm ấy đến tận bây giờ".

"Không" mẹ nói. "Chị không biết bác sĩ bảo sao à? Lại còn xúi ông ấy uống nữa? Đấy chính là bệnh của ông ấy. Như tôi đây này, tôi cũng đau khổ, nhưng tôi chưa yếu đuối đến mức tự tử bằng rượu mạnh đâu".

"Bậy bạ" bố nói. "Bác sĩ thì biết cái gì? Họ kiếm ăn bằng cách bắt người khác làm những cái mà họ chẳng bao giờ làm ít khi không tiến hoá cũng biết được chừng ấy. Lần sau bà phải gọi một mục sư đến mà giữ tay tôi". Rồi mẹ khóc và ông đi ra. Ông xuống nhà, và rồi tôi nghe thấy tủ rượu mở. Tôi tỉnh dậy lại thấy ông đi xuống lần nữa. Ông cũng cố nhẹ nhàng, vì tôi không nghe tiếng ông, chỉ thấy vạt áo ngủ và đôi chân trần của ông trước tủ rượu.

Dilsey xếp gọn nôi, thay quần áo cho nó và đặt nó vào nôi. Nó vẫn không thức giấc từ lúc ông đem nó về.

"Nó nằm chật cả nôi đây này" Dilsey nói. "Nào cô. Tôi sẽ đặt cái nệm rơm của tôi ngoài hành lang, như thế cô khỏi phải thức đêm".

"Tôi cũng chả ngủ được" mẹ nói. "Chị cứ về đi. Tôi không sao đâu. Còn sống ngày nào để lo cho nó là tôi vui rồi, giá mà tôi ngăn được ".

"Nín đi nào" Dilsey nói. "Mình sẽ chăm sóc nó. Còn cậu cũng đi ngủ đi" bà quay sang nói với tôi. "Ngày mai cậu còn phải đi học chứ".

Rồi tôi đi ra, rồi mẹ gọi tôi lại và khóc với tôi một lúc nữa.

"Con là hy vọng duy nhất của mẹ" bà nói. "Đêm nào mẹ cũng cầu Chúa cho con". Trong khi chúng tôi đợi họ khởi hành, bà nói ơn Chúa dù Ngài gọi ai thì Ngài cũng đã con lại cho mẹ chứ không phải Quentin. Ơn Chúa con không phải dòng Compson, bởi vì tất cả những gì mẹ còn l.ai là con và Maury và tôi nói, ôi dào bản thân con chẳng cần gì cậu Maury. Phải, cậu thì vừa vỗ vỗ tay bà với đôi găng đen ấy vừa quay đi nói chuyện với người khác. Cậu bỏ găng ra khi đến lượt cậu cầm xẻng. Cậu đi vượt lên ngang với đám người che ô, thỉnh thoảng lại dậm chân rũ bùn khỏi giày và lúng túng với cái xẻng đến nỗi làm cho nó long ra, nói mấy câu giả dối khi đất rơi trên đó, và khi tôi đi vòng ra sau cái xe tang tôi thấy cậu đứng khuất sau một ngôi mộ, tợp thêm một ngụm rượu nữa. Tôi nghĩ chắc cậu sẽ uống không ngừng bởi vì tôi cũng có dịp mặc bộ đồ mới, may sao bánh xe không dính nhiều bùn lắm, chỉ có mẹ thấy thế và nói chẳng biết bao giờ con mới có được bộ đồ khác và cậu Maury nói "Không sao, không sao. Chị đừng lo gì cả. Lúc nào chị cũng có tôi bên cạnh chị mà".

và chúng tôi có cậu. Lúc nào cũng có. Lá thư thứ tư là của cậu. Nhưng chẳng cần phải mở. Tôi cũng có thể viết lại y hệt như thế, hoặc đọc thuộc lòng cho bà, thêm mười đô la nữa cho ăn chắc. Nhưng tôi có linh cảm về lá thư kia. Tôi cũng cảm thấy như chị sắp giở trò gì đây. Chị khôn ra nhiều sau lần ấy. Chị hiểu rất nhanh rằng tôi chẳng phải dòng dõi bố. Khi họ bắt đầu đắp cao lên dĩ nhiên mẹ lại khóc, vì thế cậu Maury đưa bà lênxe và cho xe đi. Cậu bảo cháu lên xe với ai đó, chắc là họ sẽ vui lòng cho cháu đi nhờ. Cậu phải đưa mẹ cháu đi và tôi đã định nói, vâng lẽ ra cậu phải đem hai chai chứ không phải một có điều tôi nghĩ lại mình đang ở đâu, nên tôi để họ đi. Họ cũng chẳng cần biết tôi ướt như thế nào, rồi họ sẽ lại lo cuống lên là tôi đến bị sưng phổi mất thôi.

Tôi nghĩ vẩn vơ và nhìn họ ném đất vào đó, đắp đất lên cao như thể trát vữa hay xây hàng rào, và tôi bỗng cảm thấy cơ cực và vì thế tôi quyết định đi dạo một lát. Tôi nghĩ nếu tôi đi về phía thị trấn họ sẽ đuổi kịp và thế nào chả bảo tôi lên xe, nên tôi trở lại khu nghĩa trang da đen. Tôi đi dưới rạng bạch dương cho đỡ mưa, chỉ thỉnh thoảng lộp độp vài giọt, từ chỗ đó tôi thấy họ xong việc và bỏ đi. Một lúc sau họ đã đi hết, tôi đợi thêm vài phút rồi đi ra.

Tôi phải dò dẫm theo con đường mòn để tránh cỏ ướt nên mãi đến khi đã khá gần tôi mới thấy chị đứng đó, mặc áo choàng đen, nhìn những vòng hoa. Tôi biết ngay đó là ai, trước khi chị quay lại nhìn tôi và vén mạng lên.

"Chào em, Jason" chị nói, chìa tay ra. Chúng tôi bắt tay nhau.

"Chị làm gì ở đây?" tôi nói. "Tôi tưởng chị đã hứa với mẹ là sẽ không trở lại đây nữa mà. Tôi tưởng chị phải biết điều hơn chứ".

"Cái gì?" chị nói. Chị nhìn lại mấy bó hoa. Chỗ ấy phải đáng năm mươi đô la. Có ai đã đặt một bó lên mộ Quentin. "Cậu nói sao?"

"Dù sao tôi cũng chẳng ngạc nhiên" tôi nói. "Cái gì chị chẳng dám. Chị cần gì ai. Kệ xác mọi người, chị cần quái gì".

"Ờ" chị nói. "chuyện đó" chị nhìn nấm mộ. "Chị tiếc về chuyện đó, Jason".

"Chị tiếc là phải" tôi nói. "Chị nói thì nghe lành như đất ấy. Nhưng chị chả cần về làm gì. Chả còn gì đâu, cứ nhìn cậu Maury thì biết, nếu chị không tin tôi".

"Chị chẳng cần gì cả" chị nói, nhìn xuống nấm mộ. "Sao không ai cho chị biết?" chị nói. "Chị tình cờ đọc được trên báo. Ở trang cuối. Chỉ tình cờ thôi".

Tôi chẳng nói gì. Chúng tôi đứng đó nhìn nấm mộ và rồi tôi nghĩ tới ngày chúng tôi còn bé và đủ thứ chuyện, và tôi bỗng lại thấy kỳ cục, điên điên khùng khùng sao đó, nghĩ đến chuyện giờ đây lúc nào chúng tôi cũng có cậu Maury quanh quẩn trong nhà điều khiển công việc theo cái kiểu để mặc tôi đội mưa đi về một mình thế này. Tôi nói:

"Chị quan tâm quá đấy. Bố chết là lẻn ra đây ngay. Nhưng chẳng được gì đâu. Chị đường tưởng có thể lợi dụng dịp này mà về. Đã lấy ngựa mà không cưỡi nổi thì phải đi bộ thôi". Tôi nói. "Ở nhà không ai biết đến cả tên chị" tôi nói. "Chị biết thế không? không còn ai biết chị và hắn và cả Quentin nữa" tôi nói. "Chị biết thế không?"

"Chị biết" chị nói. "Jason" chị nói, vẫn nhìn nấm mộ "nếu cậu thu xếp để chị thấy con bé một phút thôi, chị sẽ biếu cậu năm mươi đô la".

"Chị lấy đâu ra năm mươi đô la?" tôi nói.

"Cậu chịu không?" chị nói, không nhìn tôi.

"Cho xem đã" tôi nói. "Tôi không tin chị có nổi năm mươi đô la".

Tôi thấy tay chị lần dưới áo choàng, rồi chị chìa tay ra. Mẹ kiếp nó đầy tiền. Tôi thấy hai, ba đồng vàng.

"Hắn vẫn đưa tiền cho chị à?" tôi nói. "Hắn gửi cho chị bao nhiêu?"

"Chị sẽ cho cậu một trăm" chị nói. "Chịu không?"

"Một phút thôi nhé" tôi nói "và đúng như tôi dặn. Mẹ mà biết thì một ngàn đô la tôi cũng không thèm".

"Phải" chị nói. "Sẽ đúng theo lời cậu. Chị chỉ cần nhìn nó một phút thôi. Chị sẽ không đòi hỏi điều gì nữa. Chị sẽ đi ngay lập tức".

"Đưa tiền tôi đã" tôi nói.

"Chị sẽ đưa cậu sau" chị nói.

"Chị không tin tôi hả?" tôi nói.

"Không" chị nói. "Chị biết cậu lắm. Chị lớn lên với cậu mà".

"Nói chuyện tin người với chị thì hay thật đấy" tôi nói. "Bởi vậy" tôi nói "tôi phải đi không mưa ướt hết. Chào chị". Tôi làm như bỏ đi thật.

"Jason" chị nói. Tôi dừng lại.

"Cái gì?" tôi nói. "Nhanh lên. Tôi ướt hết rồi".

"Thôi được". Chị nói. "Đây". Không có ai thấy. Tôi quay lại và lấy tiền. Chị vẫn giữ nó. "Cậu sẽ làm chứ?" chị nói nhìn tôi qua tấm mạng. "Cậu hứa chứ?"

"Đưa đây" tôi nói. "Chị muốn người ta tới và cũng thấy à?"

Chị buông ra. Tôi nhét tiền vào túi. "Cậu sẽ làm chứ Jason?" chị nói. "Giá như có cách nào khác, chị sẽ không phiền cậu".

"Chị nói đúng lắm, chả còn cách nào khác" tôi nói. "Chắc chắn tôi sẽ làm. Tôi đã nói là làm. Có điều là chị phải theo đúng những gì tôi dặn".

"Được" chị nói. "Chị sẽ theo". Thế là tôi nói địa điểm cho chị rồi đến chỗ cho thuê ngựa. Tôi đi gấp đến nơi vào lúc họ đang tháo ngựa. Tôi hỏi họ đã được trả tiền chưa họ nói chưa và tôi nói bà Compson còn quên chút việc và cần có ngựa một lát, nên họ để tôi lấy xe. Mink-cầm cương. Tôi cũng cho anh ta một điếu xì gà và thế là chúng tôi loanh quanh đi phố đến khi trời đổ tối ở các ngõ hẻm không còn nhìn rõ được ai với ai nữa. Rồi Mink nói anh ta phải đem ngựa về chuồng và thế là tôi nói tôi sẽ mua cho anh ta một điếu xì gà nữa rồi chúng tôi rẽ vào ngõ và tôi đi qua sân vào nhà. Tôi đứng ở trong hành lang tới khi nghe tiếng mẹ và cậu Maury trên gác, rồi tôi xuống bếp. Con bé và Ben đang ở đấy với Dilsey. Tôi bảo mẹ muốn bế nó và tôi đem nó lên nhà. Tôi tìm thấy cái áo khoác của cậu Maury và bọc quanh con bé rồi bế nó ra phía cửa lớn và lên xe. Tôi bảo Mink đánh xe đến nhà ga. Anh ta ngại đi qua tàu ngựa nên bọn tôi phải đi vòng, tôi thấy chị ấy đứng ở góc đường dưới ánh đèn và tôi dặn Mink đi sát lề đường, khi nào tôi bảo chạy thì quất ngựa thật mạnh. Rồi tôi bỏ áo khoác ra và đưa con bé tới cửa sổ xe. Caddy trông thấy nó và chị muốn nhảy chồm lên.

"Quất ngựa, Mink!" tôi nói. Mink ra voi vun vút và chúng tôi chạy vụt qua chị như một chuyến xe lửa. "Bây giờ lên tàu như chị đã hứa đi" tôi nói. Qua cửa hậu tôi thấy chị chạy theo xe. "Quất ngựa đi, Mink!" tôi nói "mình về nhà". Khi chúng tôi ngoặt ở góc phố chị vẫn còn chạy.

Rồi tối hôm đó tôi đếm lại chỗ tiền cất đi, và cảm thấy chẳng đến nỗi nào. Tôi chắc là chị đã biết tay tôi. Tôi nghĩ hẳn là chị biết rằng chị không thể không giữ lời hứa và không đi chuyến tàu đó. Nhưng hồi ấy tôi còn chưa biết nhiều về con người, tôi cũng chẳng khôn ngoan cho lắm người ta nói sao thì tôi tin vậy, bởi vì sáng hôm sau, mẹ kiếp chị đi thẳng vào cửa hàng, còn may là biết điều kéo mạng xuống và không nói chuyện với ai. Đó là sáng thứ Bảy, bởi vì tôi ở cửa hàng, và chị đi thẳng đến bàn giấy của tôi, bước vội vã.

"Đồ dối trá" chị nói. "Đồ dối trá".

"Chị điên hả?" tôi nói. "Chị muốn gì? Sao lại tự tiện vào đây như thế?" Chị định mở miệng nhưng tôi chặn họng ngay. Tôi nói "Chị đã làm tôi mất việc một lần rồi, chị muốn làm tôi mất việc ở đây nữa hay sao? Nếu chị cần nói gì với tôi tôi sẽ gặp chị vào buổi tối. Chị cần nói gì với tôi ?" tôi hỏi. "Chẳng phải tôi làm đúng những gì tôi nói à? Tôi bảo nhìn nó một phút thôi, đúng không? chị cũng nói thế, đúng không? " chị chỉ đứng nhìn tôi, lắc đầu lia lịa như lên cơn sốt rét, hai bàn tay co quắp giật giật. "Tôi chỉ làm đúng những gì tôi hứa" tôi nói "Chị mới là người dối trá. Chị hứa sẽ đi chuyến tàu ấy. Chị có hứa không, có không ? chị tưởng chị có thể đòi lại tiền, thì cứ thử xem. Dù có là một ngàn đô la đi nữa chị cũng vẫn còn nợ tôi khi tôi đã liều lĩnh như thế. Và nếu tôi còn thấy hay nghe nói chị ở lại sau chuyến 17" tôi nói "tôi sẽ nói với mẹ và cậu Maury. Lúc đó thì cứ gắng nói mà đợi ngày thấy lại con bé". Chị chỉ đứng đó, nhìn tôi, hai tay xoắn vào nhau.

"Thằng chết bằm". Chị nói. "Thằng chết bằm".

"Hẳn rồi" tôi nói. "Thế cũng được. Giờ thì nhớ những gì tôi vừa nói. Sau chuyến 17, là tôi sẽ kể với họ".

Chị đi rồi tôi thở phào. Tôi nói tôi tưởng là chị phải nghĩ kỹ trước khi hất tôi khỏi chỗ làm người ta đã hứa với tôi chứ. Hồi đó tôi vẫn còn trẻ con. Người ta hứa làm sao thì tôi tin vậy. Từ đó đến nay tôi học được nhiều. Hơn nữa, như tôi nói tôi nghĩ mình chẳng cần ai giúp mới sống nổi, tôi có thể tự lực cánh sinh như xưa nay vẫn thế. Rồi đột nhiên tôi nhớ đến Dilsey và cậu Maury. Tôi nghĩ chị ấy sẽ nài nỉ Dilsey, còn cậu Maury ấy thì cứ cho mười đô la là chuyện gì cũng xong. Còn tôi thì ở đó, ngay cả bỏ cửa hiệu chạy về bảo vệ mẹ mình cũng không được. Như bà nói, nếu có đứa nào trong cáccon bị gọi đi thì ơn Chúa đã để con lại cho mẹ mẹ có thể nương tựa vào con và tôi nói phải chết tôi cũng chẳng đi đâu xa hơn cái cửa hiệu đến nỗi mẹ không gọi được. Phải có người giữ lấy chút gì còn lại của mình chứ, tôi nghĩ thế.

Nên vừa về đến nhà là tôi thu xếp với Dilsey. Tôi bảo Dilsey là chị ấy bị hủi và tôi lấy Kinh Thánh ra đọc đoạn có người bị thối rụng chân tay ra sao và tôi bảo bà rằng nếu chị ấy nhìn mammy hay Ben hay Quentin là lây bệnh cả đám đấy. Thế rồi tôi cứ tưởng mọi việc đã ổn thoả cho đến hôm đó khi tôi về nhà và thấy Ben đang khóc rống, gào rú như ma quỷ và không ai dỗ nổi. Mẹ nói "Thôi, lấy cho nó chiếc dép vậy". Dilsey làm ra vẻ không nghe thấy. Mẹ nhắc lại và tôi bảo tôi đi đây ồn ào khốn kiếp thế này ai mà chịu nổi. Như tôi nói tôi có thể chịu đựng được đủ thứ tôi chẳng mong đợi gì ở ai nhưng nếu tôi phải làm quần quật suốt ngày ở cái cửa hiệu chó chết ấy thì mẹ kiếp tôi tưởng mình cũng có quyền hưởng chút yên tĩnh mà nuốt trôi bữa chiều chứ. Nên tôi bảo tôi đi đây và Dilsey vội nói "Jason!"

À, thoáng một cái tôi biết ngay chuyện gì, nhưng để cho chắc tôi đi lấy dép đem lại, và đúng như tôi nghĩ, khi nó thấy chiếc dép người ta tưởng như chúng tôi đang chọc tiết nó. Rồi tôi bắt Dilsey nói thật, rồi tôi kể cho mẹ. Chúng tôi phải dìu bà về giường và sau khi đã im ắng được đôi chút tôi mới đưa Chúa ra doạ Dilsey. Với bọn đen chỉ thế là tiện nhất. Đến bực mình với lũ đầy tớ da đen là khi chúng ở với mình lâu năm chúng đâm ra tự mãn đến mức không đáng lấy một xu. Chúng tưởng chúng cai quản cả gia đình chắc.

"Tôi muốn biết cứ để cô ấy thăm nom con bé thì có hại gì" Dilsey nói "Nếu ông Jason mà còn sống thì đã khác".

"Nhưng ông Jason không còn nữa" tôi nói "Tôi biết mammy không coi tôi là gì cả, nhưng tôi tưởng mammy còn biết nghe lời mẹ chứ? Mammy cứ làm bà lo lắng thế này, chả mấy chốc mammy cũng đưa bà ra nghĩa địa luôn, bấy giờ mammy tha hồ đem cái lũ rác rưởi ấy về đầy nhà. Nhưng tại sao mammy lại để cho cái thằng khùng khốn nạn gặp chị ấy làm gì chứ?"

"Cậu Jason, cậu là người sắt đá, nếu quả cậu là con người" bà nói. "Ơn Chúa, tôi sống còn có tình hơn thế, dù đó là tình của dân đen".

"Ít ra tôi cũng là người đủ để giữ cho thùng bột đầy" tôi nói. "Và nếu mammy còn làm thế nữa, thì mammy đừng có ăn cái thứ bột ấy".

Nên lần sau tôi bảo chị ấy nếu chị còn lợi dụng Dilsey nữa thì mẹ sẽ đuổi Dilsey rồi gửi Ben đi Jackson và đưa Quentin đi nơi khác. Chị ấy nhìn tôi một lúc. Không có ngọn đèn đường nào ở gần và tôi không nhìn rõ mặt chị. Nhưng tôi cảm thấy chị đang nhìn tôi. Khi chúng tôi còn bé mỗi lần chị còn không biết phải làm thế nào, môi trênchị thường giật giật. Mỗi lần nó giật răng chị lại hé ra một chút, và suốt thời gian đó chị cứ đứng ngây ra như tượng, không hề nhúc nhích chỉ có môi trên giật giật để hở răng mỗi lúc mỗi cao. Nhưng chị không nói gì cả. Chị chỉ bảo:

"Được rồi. Bao nhiêu?"

"Thì cứ mỗi lần nhìn qua cửa xe là một trăm" tôi nói. Lần sau đó chị có phần biết điều, chỉ có một lần chị đòi xem tài khoản ở ngân hàng.

"Tôi biết có ký nhận của mẹ đàng sau" chị nói. "Nhưng tôi muốn xem tài khoản ở ngân hàng. Tôi muốn tận mắt thấy các ngân phiếu ấy đi đâu".

"Đó là chuyện riêng của mẹ" tôi nói. "Nếu chị cho là chị có quyền nhòm nhỏ vào việc riêng của mẹ, tôi sẽ nói lại với bà rằng chị bảo là những ngân phiếu kia bị biển thủ và đòi kiểm tra vì chị không tin bà".

Chị không nói gì cũng không nhúc nhích. Tôi nghe tiếng chị lẩm bẩm đồ khốn nạn ôi quân khốn nạn ôi quân khốn nạn.

"Nói hẳn ra đi" tôi nói. "Tôi tưởng chị với tôi thì biết nhau quá rồi có gì mà phải giấu. Chắc chị muốn đòi tiền lại?" tôi nói.

"Nghe này Jason" chị nói. "Đừng có dối tôi. Về con bé ấy. Tôi không đòi xem gì cả. Nếu thế chưa đủ, hàng tháng tôi sẽ gửi thêm. Chỉ cần cậu hứa là nó - là nó - Cậu có thể làm thế mà. Những thứ vặt vãnh cho nó. Thương nó với. Những cái nhỏ nhặt mà tôi không thể, họ không thể...nhưng cậu chắc là không đâu. Có bao giờ có một giọt máu nóng trong lòng cậu. Nghe này" chị nói "nếu cậu nói với mẹ sao cho tôi lấy lại được con bé, tôi sẽ cho cậu một ngàn đô la".

"Chị lấy đâu ra một ngàn đô la?" tôi nói. "Tôi biết chị chỉ nói láo".

"Có, tôi có. Tôi sẽ có. Tôi có thể kiếm ra".

"Và tôi biết chị làm cách nào để có" tôi nói "Chị lo kiếm tiền bằng cách chị đã có con bé chứ gì. Và khi nào nó đủ khôn lớn" Rồi tôi nghĩ chắc chị sắp đánh tôi, rồi tôi không biết chị định làm gì nữa. Trong giây lát, trông chị như món đồ chơi bị lên dây cót quá chặt muốn vỡ tung ra.

"Ôi tôi điên mất" chị nói. "Tôi loạn óc mất. Tôi không có được nó. Giữ nó. Tôi đang nghĩ gì nhỉ? Jason". Chị nói, cầm lấy tay tôi. Tay chị nóng như đang lên cơn sốt. "Cậu phải hứa sẽ chăm sóc nó, sẽ - nó là cháu cậu, máu mủ ruột thịt của cậu mà. Hứa đi, Jason. Cậu cùng tên với bố, cậu xem có bao giờ tôi phải xin ông tới hai lần? Ngay cả một lần thôi?"

"Thì ra thế" tôi nói. "Thì ra ông cũng có để lại cho chị cái gì đó. Chị muốn tôi làm gì" tôi nói. "Mua yếm dãi với xe tập đi à? Tôi đâu có lôi chị vào chuyện này" tôi nói. "Tôi còn mạo hiểm hơn chị nhiều, bởi vì chị có bị đe doạ gì đâu. Vậy thì chị chờ".

"Không" chị nói, rồi chị bắt đầu cười và đồng thời cố kìm lại. "KHông, tôi chẳng bị đe doạ gì cả". Chị nói, vẫn cười thành tiếng, đưa tay lên che miệng. "Khô-ông khô-ông không gì cả" chị nói.

"Này" tôi nói "Thôi đi!"

"Tôi đang cô ố" chị nói, đưa cả hai tay lên bịt miệng. "Ôi trời ơi! Trời ơi!"

"Tôi đi đây" tôi nói. "Tôi không muốn ai thấy tôi ở đây. Chị đi khỏi tỉnh ngay. Chị nghe không?"

"Đợi đã" chị nói, túm lấy tay tôi. "Tôi nín rồi. Tôi không cười nữa. Cậu hứa đi, Jason?" chị nói, và tôi cảm thấy mắt chị như muốn bật tung ra đụng vào mắt tôi. "Cậu hứa chứ? Này - chỗ tiền ấy - nếu thỉnh thoảng nó có cần gì - Nếu tôi gửi ngân phiếu cho nó đến chỗ cậu, những cái khác ngoài mấy cái kia, cậu sẽ đưa cho nó chứ? Cậu không nói ra chứ? Cậu sẽ lo sao cho nó không thua kém bạn bè chứ?"

"Chắc chắn rồi" tôi nói. "Chừng nào chị biết điều và làm theo lời tôi".

Rồi khi Earl ra cửa trước mũ úp trên đầu và nói "Tôi ghé qua tiệm Roger kiếm cái gì nhét vào bụng. Mình không đủ thì giờ về nhà ăn trưa đâu, tôi nghĩ thế".

"Làm gì đến nỗi không có thì giờ?" tôi nói.

"Thì tại cái buổi diễn gì đấy" hắn nói. "Họ định cho diễn cả buổi chiều nữa, và thiên hạ ai cũng muốn mua bán cho xong để còn đi xem. Nên mình cứ chạy qua đàng Roger cho tiện".

"Được rồi" tôi nói "anh đói thì cứ đi. Nếu anh muốn làm nô lệ cho công việc thì tôi cũng đành chịu".

"Chắc hẳn cậu không làm nô lệ cho công việc nào cả" hắn nói.

"Ngoại trừ công việc của Jason Compson" tôi nói.

Nên khi tôi mở thư điều duy nhất làm tôi ngạc nhiên là một tờ bưu phiếu cứ không phải ngân phiếu. Vâng đúng thế đấy.

Làm sao mà tin cái ngữ ấy được. Sau bao nhiêu lần mạo hiểm như thế, rồi lo mẹ biết chuyện chị ấy vẫn về đây một năm đôi ba lần và tôi cứ phải nói dối mẹ chuyện đó. Người ta trả ơn mình như vậy đấy. Và tôi chẳng lạ gì khi chị yêu cầu bưu điện không đưa tiền cho ai ngoài nó. Một co nranh con như thế mà cho những năm mươi đô la. Ngay như tôi mãi đến năm hai mươi mốt tuổi mới thấy tờ năm mươi đô la trong khi bạn bè nghỉ buổi chiều và cả ngày thứ Bảy thì tôi phải quần quật ở cửa hiệu. Tôi đã bảo mà, còn ai dạy được nó nữa khi mẹ nó lén cho nó tiền sau lưng mình. Nó cũng ở cùng nhà với mình, cũng được nuôi nấng như mình. Tôi nghĩ mẹ phải biết nó cần gì hơn chị chứ, chị có phải lo chuyện nhà cửa bao giờ. "Nếu chị muốn cho nó tiền" tôi bảo "thì chị cứ đưa cho mẹ, đừng cho thẳng nó. Nếu cứ vài tháng tôi lại phải liều một lần thế này thì chị phải nghe tôi, không là cắt đứt".

Cũng tới lúc tôi sửa soạn để đi và nếu Earl tưởng rằng tôi sẽ nháo nhào ra phố nuốt vội vai miếng đến nghẹn vì lo kiếm lời cho hắn thì hắn quả là một gã đại ngốc. Có thể tôi không được ngồi gác chân lên bàn gỗ quý nhưng tôi ăn lương là để làm việc trong nhà và nếu ngoài giờ làm tôi không được sống cho ra sống thì biến đi đâu được là tôi biến ngay. Tôi có thể tự lực cánh sinh, tôi chẳng cần bàn gỗ quý của ai nâng đỡ tôi nên cũng đã tới lúc tôi sửa soạn để đi. Tôi sắp lại phải bỏ mọi thứ đấy để ra bán cho một anh cổ cày vai bừa một xu đinh hay cái gì đó, và Earl ở ngoài kia nuốt chửng miếng sandwich và đang trên đường về, cứ như không có gì xảy ra, và rồi tôi thấy mấy tờ khống phiếu đã hết sạch. Tôi nhớ lại là mình đã định đi xoay vài cái, nhưng giờ thì quá muộn rồi, tôi ngẩng lên và thấy Quentin đi thẳng vào. Bằng cửa sau. Tôi nghe nó hỏi già Job có tôi ở đây không. Tôi chỉ còn vừa đủ thời gian nhét tất cả vào ngăn kéo và đóng lại.

Nó đi vòng tới chỗ bàn giấy. Tôi nhìn đồng hồ.

"Mày về ăn trưa rồi đấy à?" tôi nói. "Mới đúng mười hai giờ, tao vừa nghe chuông. Mày định bay về nhà rồi quay lại trường ngay hay sao?"

"Tôi không về nhà ăn trưa" nó nói. "Hôm nay tôi có thư không?"

"Mày chờ thư à?" tôi nói. "Mày mà có một thằng bé biết viết sao?"

"Của mẹ" nó nói. "Tôi có cái thư nào của mẹ không" nó nhìn tôi.

"Bà có một cái thư của mẹ mày" tôi nói. "Tao chưa mở. Mày phải đợi bà mở đã. Tao tưởng thế nào bà chả cho mày xem".

"Cậu Jason, xin cậu" nó nói, hờ hững. "Tôi có thư không?"

"Chuyện gì vậy?" tôi nói. "Tao chưa bao giờ thấy mày trông mong ai. Mày đợi tiền mẹ mày chứ gì?"

"Mẹ tôi bảo" nó nói. "Xin cậu, cậu Jason" nó nói. "Có thư không ?"

"Dù sao hôm nay mày cũng có đi học thì phải" tôi nói. "Ở đâu mà họ lại dạy mày biết xin xỏ thế. Khoan đã, đợi tao hầu xong ông khách này".

Tôi đi ra phục vụ khách. Khi tôi quay lại nó đã lúi húi ở phía sau bàn. Tôi chạy lại. Tôi vòng ra sau bàn và túm được nó ngay khi tay nó vừa rút ra khỏi ngăn kéo. Tôi giằng lá thư trong tay nó, đập mắt cá tay nó xuống bàn đến khi nó chịu buông ra.

"Mày dám thế à?" tôi nói.

"Đưa cho tôi" nó nói. "Cậu đã mở rồi. Đưa thư cho tôi. Cậu Jason, xin cậu. Thư của tôi. Tôi thấy tên mà".

"Tao sẽ cho mày một cái dây cương" tôi nói. "Tao sẽ cho mày cái ấy đấy. Dám lục giấy tờ của tao".

"có tiền trong đó không?" nó nói, cố với lấy thư. "Mẹ bảo sẽ gửi tiền cho tôi. Mẹ hứa sẽ gửi. Đưa cho tôi đì!"

"Mày cần tiền để làm gì?" tôi nói.

"Mẹ nói sẽ gửi" nó nói. "Đưa thư cho tôi. Xin cậu, cậu Jason. Tôi sẽ không bao giờ hỏi xin cậu cái gì nữa, nếu cậu cho tôi lần này".

"Tao sẽ đưa, nếu mày để từ từ" tôi nói. Tôi lấy bức thư và tờ bưu phiếu, đưa cho nó bức thư. Nó chồm lên cố giật tờ bưu phiếu mà không buồn liếc qua lá thư. "Mày phải ký vào đây trước đã" tôi nói.

"Bao nhiêu?" nó nói.

"Đọc thư đi" tôi nói. "Tao chắc thư có nói".

Nó đọc rất nhanh, chỉ liếc qua hai lượt.

"Thư không nói" nó nói, ngước nhìn tôi. Nó vứt thư xuống sàn. "Bao nhiêu?"

"Mười đô la" tôi nói.

"Mười đô la?" nó nói, nhìn tôi chằm chằm.

Mày được thế là sướng chán rồi còn gì" tôi nói. "Nhãi ranh như mày. Sao bỗng dưng mày sùng sục lên đòi tiền thế?"

"Mười đô la à?" nó nói, như thể nó đang nói mơ. "Chỉ có mươi đô la thôi?" nó đưa tay giật tờ bưu phiếu. "Cậu nói láo" nó nói. "Đồ ăn cướp!" nói nói "Đồ ăn cướp!"

"Mày dám thế à?" tôi nói, đẩy nó ra.

"Đưa cho tôi !" nó nói. "Của tôi mà. Mẹ gửi tiền cho tôi. Tôi phải xem. Tôi phải xem".

"Mày phải xem à?" tôi nói, giữ tay nó. "Mày làm cách nào mà xem?"

"Tôi chỉ xem thôi, cậu Jason" nó nói. "Xin cậu. Tôi sẽ không đòi cậu cái gì nữa".

"Mày bảo tao nói láo phải không?" tôi nói. "Chỉ thế thôi mày cũng đã không đáng được xem".

"Nhưng chỉ có mười đô la" nói nói. "Mẹ bảo là mẹ sẽ - mẹ bảo là - cậu Jason, xin cậu van cậu lạy cậu. Tôi phải có tiền. Tôi phải có. Đưa cho tôi đi, cậu Jason. Đưa cho tôi đi rồi cậu bảo gì tôi cũng nghe".

"Nói tao biết mày cần tiền làm gì?" tôi nói.

"Tôi phải có" nó nói. Nó đang nhìn tôi. Rồi bỗng dưng nó không nhìn tôi nữa, mắt mở lớn không chớp. Tôi biết nó sắp nói láo. "Tôi nợ người ta một ít tiền. Tôi phải trả nợ. Tôi phải trả ngay hôm nay".

"Trả ai?" tôi nói. Nó xoắn hai tay lại. Tôi thấy rõ nó đang nghĩ cách nói dối. "Mày lại mua chịu ở cửa hàng chứ gì?" tôi nói. "Mày chả phải mất công bảo tao thế. Khắp cái thị trấn này tao đã dặn trước rồi mà lại còn có người bán chịu cho mày thì cứ đem đầu tao ra mà chặt".

"Đấy là một con bạn" nó nói. "một con bạn. Tôi vay tiền của nó. Tôi phải trả. Cậu Jason, đưa tiền cho tôi. Xin cậu. Tôi sẽ làm mọi việc. Tôi phải có tiền. Mẹ sẽ trả cậu. Tôi sẽ viết thư bảo bà ấy trả cậu và tôi sẽ không xin xỏ gì bà ấy nữa. Cậu muốn xem thư thì xem. Xin cậu, cậu Jason. Tôi phải có tiền".

"Nói cho tao biết mày cần tiền làm gì, rồi tao sẽ cho xem". Tôi nói. "Nói đi!" nó chỉ đứng đó, hai tay vò nhàu áo. "Thôi được " tôi nói. "Nếu mày chê mười đô la quá ít, tao sẽ đem về cho bà, rồi mày sẽ thấy chuyện gì xảy ra. Dĩ nhiên nếu mày giàu mày đâu cần mười đô la".

Nó chỉ đứng đó cúi gầm mặt nhìn xuống đất, lẩm nhẩm trong miệng "Mẹ nói mẹ sẽ gửi cho mình ít tiền. Mẹ bảo mẹ gửi tiền đến đây còn cậu lại bảo mẹ không gửi gì. Mẹ bảo mẹ gửi rất nhiều tiền về đây. Mẹ bảo tiền gửi cho mình. Để mình có tiền tiêu. Còn cậu bảo mình chả có đồng nào".

"Mày cũng biết rõ chuyện đó như tao" tôi nói. Mày đã thấy các ngân phiếu ấy ra sao rồi đấy thôi".

"Phải" nó nói, nhìn xuống đất. "Mười đô la" nó nói. "Mười đô la".

"Mười đô la còn hên đấy con ạ" tôi nói. "Đây" tôi nói. Tôi đặt bưu phiếu úp xuống mặt bàn, chặn tay lên. "Ký đi!"

"Cậu cho tôi xem có được không?" nó nói. "Tôi chỉ muốn xem thôi. Dù bao nhiêu tôi cũng chỉ lấy mười đô la thôi. Còn thì cậu lấy. Tôi chỉ muốn xem thôi".

"Mày láo thế đâu được" tôi nói. "Mày phải học lấy một điều là khi tao bảo mày làm gì, mày phải làm cái đó. Mày ký tên vào chỗ này này".

Nó cầm lấy bút, nhưng thay vì ký, nó cứ đứng sững đầu cúi gục như cũ và cây bút rung bần bật trong tay. Hệt như mẹ nó. "Trời ơi!" nó nói "trời ơi!"

"Phải" tôi nói. "Nếu mày chưa học được điều gì bao giờ thì hãy học lấy điều đó. Ký vào đây , rồi đi cho khuất mắt tao".

Nó ký tên. "Tiền đâu?" nó nói. Tôi lấy tờ bưu phiếu thấm khô mực rồi bỏ vào túi. Rồi tôi đưa cho nó mười đô la.

"Bây giờ mày trở lại trường học chiều nay đi, nghe không?" tôi nói. Nó không trả lời. Nó vò tờ bạc trong tay như vò mảnh giấy lộn hay gì đó và đi ra cửa trước vừa đúng lúc Earl đi vào. Một khách hàng vào cùng với hắn và họ dừng lại ở quầy. Tôi thu dọn rồi đội mũ và đi ra ngoài quầy.

"Nãy giờ bận lắm hả?" Earl nói.

"Không bận lắm" tôi nói. Hắn nhìn ra phía cửa.

"Xe cậu để đàng kia phải không?" hắn nói. "Tốt hơn đừng về ăn nhà. Thế nào cũng bận túi bụi một đợt nữa trước buổi diễn. ăn qua loa ở đàng Roger và bỏ một cái vé vào ngăn kéo ấy!"

"Đa tạ" tôi nói. "Tôi nghĩ là tôi vẫn còn đủ sức nuôi cái thân tôi

Và hắn cứ đứng ở đó, chòng chọc nhìn ra cửa như một con diều hâucho đến khi tôi trở lại bước vào cửa. Hừm, thì hắn cứ việc nhìn ra cửa, tôi đã làm hết sức tôi rồi. Lần trước tôi đã bảo tờ này là tờ chót, mình phải nhớ kiếm vài tờ khác ngay. Nhưng cứ bận rối lên thế này ai mà nhớ được việc gì. Rồi buổi diễn thổ tả kia lại nhè đúng ngay cái ngày mà tôi phải lùng sục khắp tỉnh cho ra một tờ khống phiếu, đã thế lại còn bao nhiêu việc nhà việc cửa khác mà Earl thì cứ đứng canh cửa như một con diều hâu.

Tôi đến xưởng in và bảo rgtg muốn đùa một người bạn, nhưng họ nói họ không có. Rồi họ bảo tôi đến tìm chỗ nhà hát cũ xem, ở đó người ta tồn trữ cả đống giấy tờ phế thải của Ngân hàng Nông thương khi nó phá sản, thế là tôi lại chạy xe ngược mấy con hẻm ngoắt ngoéo để Earl không thấy và cuối cùng tìm được ông già Simmons để lấy chìa khoá rồi lên đó lục lọi. Cuối cùng tôi tìm thấy một xấp của ngân hàng San Louis. Dĩ nhiên cho chị ấy chọn ngân hàng này thử một lần xem sao. Ờ, nó được việc chán.tôi chả còn thời gian đâu mà chần chừ.

Tôi trở lại cửa hàng. "Quên mấy thứ giấy tờ. Mẹ tôi cần tới ngân hàng". Tôi nói. Tôi trở lại bàn làmgiả tấm ngân phiếu. Tôi làm vội vàng cho xong, bụng bảo dạ cũng may là mắt bà cụ kém rồi, chứ với cái con đĩ ranh ấy ở trong nhà, một bà già sùng đạo nhẫn nại như mẹ thì. Tôi bảo mẹ cũng biết rõ như tgrr nó sẽ ra cái thứ gì nhưng tôi nói đó là việc của mẹ, nếu mẹ muốn dung dưỡng nó ở nhà thì cũng chỉ vì bố. Rồi bà lại bắt đầu khóc và nói nó là máu mủ của bà nên tôi chỉ nói. Được rồi. Mẹ cứ làm theo ý mình. Mẹ chịu được thì tôi cũng chịu được.

Tôi sửa lại lá thư, dán phong bì như cũ và đi ra.

"Cô gắng về sớm một chút đỡ tôi một tay" Earl nói.

"Được rồi". Tôi nói. Tôi đến bưu điện. Mấy thằng cha láu cá đã ở đó cả.

"Các cậu đã ai kiếm được triệu nào chưa?" tôi nói.

"Kiếm chác gì ở cái thị trường như thế này?" Doc nói.

"Sao rồi?" tôi nói. Tôi vào xem. Thấp hơn lúc mới mở cửa ba điểm. "Các cậu để cho cái trò vặt như thị trường bông này đánh gục à?" tôi nói. "Tôi tưởng các cậu khôn ngoan có thừa chứ?"

"Khôn ngoan cái quỷ gì" Doc nói. "Lúc mười hai giờ xuống mười hai điểm làm mình nhẵn túi".

"Mười hai điểm?" tôi nói. "mẹ kiếp sao không ai cho tôi biết? sao không báo cho tôi?" tôi hỏi tay trực tổng đài.

"Tôi chỉ biết có tin thì tôi nhận" anh ta nói. "Tôi đâu phải cửa hàng bán thùng".

"Anh ma mãnh nhỉ?" tôi nói. "Tôi cho anh tiền mà anh không gọi cho tôi một tiếng được hay sao? Chắc là cái công ty chó chết của anh lại thông đồng với bọn cá mập biển Đông chứ gì?"

Anh ta không nói gì. Anh ta làm ra vẻ hết sức bận rộn.

"Anh mặc cái quần hơi quá cỡ đấy" tôi nói. "Trước tiên nên nhớ rằng anh phải kiếm miếng ăn bằng cách nào".

"Chuyện gì vậy?" Doc nói. "Cậu còn được ba điểm mà".

"Phải" tôi nói. "nếu tôi bán. Tôi nghĩ là tôi chưa hề thông báo ý định đó. Các cậu sạch túi chưa?"

"Tôi bị hai cú rồi". Doc nói. "May mà xoay xở kịp".

"Hừ" I.Ó. Snopes nói. "Tôi thì đã lãnh đủ. Thỉnh thoảng nó lại chơi mình một vố thế này thật ớn".

8

Thế rồi tôi để mặc cho họ mua bán với nhau mỗi điểm một đồng kền. Tôi túm được một gã đen và sai gã đi lấy xe cho tôi còn tôi đứng đợi ở góc phố. Vì đứng đây tôi không nhìn thấy cửa hiệu nên tôi cũng không thấy Earl ngó ngược ngó xuôi ra đường , một mắt vẫn liếc đồng hồ. Có lẽ phải đến cả thế kỷ sau gã đen mới đem xe tới.

"Mày trốn ở đâu mà lâu thế?" tôi nói. "Đánh một vòng làm le với gái hả?"

"Tôi lái thẳng lại đây chứ" gã nói. "Tôi phải đi vòng qua quảng trường vì vướng mấy cái xe ngựa".

Tôi chưa thấy một thằng mọi đen nào lại không có tài viện lý do lý trấu cho bất kỳ việc gì nó làm. Nhưng cứ hễ giao xe cho đứa nào là đứa đó làm một màn trình diễn ngay. Tôi lên xe và vòng qua quảng trường. Tôi thoáng thấy Earl qua khe cửa bên kia quảng trường.

Tôi đi thẳng xuống bếp và bảo Dilsey dọn bữa gấp.

"Quentin chưa về" bà nói.

"Thế là thế nào?" tôi nói. "lần sau chắc mammy bảo tôi đợi cả thằng Luster nữa hả? Quentin nó biết nhà này ăn vào giờ nào. Mammy dọn bàn nhanh lên!"

Mẹ ở trong phòng. Tôi đưa thư cho bà. "Nào" tôi nói. "Đốt cho xong. Không mẹ lại khóc".

Bà cầm diêm nhưng không đánh lửa. Bà cứ ngồi đó nhìn tờ ngân phiếu. Thật đúng như tôi nói.

"Mẹ không muốn làm thế" bà nói." Thêm gánh nặng cho con vì con Quentin…"

"Tôi nghĩ mình vẫn xoay xở được mà" tôi nói. "Nào, làm cho xong đi!"

Nhưng bà cứ ngồi thừ ra cầm tờ ngân phiếu. "Tờ này lại ở ngân hàng khác" bà nói. "Các tờ trước đều là ở ngân hàng Indianapolis".

"Phải" tôi nói. "Đàn bà cũng có quyền làm thế".

"Làm gì?" bà nói.

"Gởi tiền vào hai ngân hàng" tôi nói.

"Ừ" bà nói. Bà nhìn tờ ngân phiếu một lúc. "Mẹ mừng thấy nó cũng …nó cũng khá… Chúa chứng giám là mẹ làm đúng", bà nói.

"Nào" tôi nói "làm đi. Làm cho thanh thản".

"Thanh thản à?" bà nói "Khi mẹ nghĩ"

"Tôi tưởng mỗi tháng mẹ đốt hai trăm đô la thế là thanh thản chứ" tôi nói. "Nào, mẹ để tôi đánh diêm nhé?"

"Mẹ nghĩ có nhận cũng không sao" bà nói. "Thì cũng cho con cái. Mẹ không phải khái tính gì".

"Mẹ chẳng bao giờ vừa lòng" tôi nói. "mẹ biết thế mà. Mẹ đã quyết định thế nào thì cứ để mọi việc như thế. Mình vẫn có thể xoay xở được".

"Mẹ để con quyết định mọi việc." bà nói. "Nhưng đôi khi mẹ sợ là làm như vậy mẹ đã tước đoạt của con những gì mà con có quyền hưởng. Có lẽ rồi mẹ sẽ phải trả giá cho chuyện đó. Nếu con muốn mẹ sẽ dẹp mọi tự ái mà nhận tiền".

"Bây giờ mới bắt đầu thì còn hay ho gì nữa , khi mẹ đã đốt cả mười lăm năm trời?" tôi nói. "Nếu mẹ tiếp tục đốt thì mẹ chẳng mất gì cả. Nếu mẹ bắt đầu nhận coi như mẹ đã mất năm vạn đô la. Cho đến giờ mình vẫn xoay xở được, phải không nào?" tôi nói. "Mẹ vẫn chưa phải vào viện tế bần mà".

"Phải" bà nói. "Họ Bascomb chúng ta đâu cần ai bố thí. Nhất là lại của một đứa con gái sa đoạ".

Bà đánh diêm châm vào tờ ngân phiếu và để nó vào xẻng, rồi cả lá thư nữa và nhìn lửa cháy.

"Con không bao giờ biết được" bà nói "Ơn Chúa con sẽ không bao giờ biết được nỗi lòng của một người mẹ ra sao".

"Trên đời này thiếu gì đàn bà con gái chẳng hơn gì chị ấy" tôi nói.

"Nhưng họ không phải con gái mẹ" bà nói. "Không phải vì mẹ" bà nói "mẹ sẵn lòng để nó trở về, dù nó có tội lỗi gì, nó là đứa con mẹ dứt ruột đẻ ra mà. Chỉ vì con Quentin…"

Rõ thật là, tôi có thể bảo rằng còn ai làm con Quentin hư thêm được nữa, nhưng như tôi nói, tôi chẳng mong gì ngoài việc được yên thân đừng có mấy người đàn bà trong nhà hết cãi nhau rồi lại khóc lóc.

"Cả vì con nữa" bà nói "Mẹ biết con nghĩ gì về chị con".

"Cứ để chị ấy về" tôi nói. "Tôi thì sao cũng được".

"Không" bà nói. "Mẹ làm thế là để yên lòng bố con".

"Nhất là khi bố lúc nào cũng thuyết phục mẹ cho chị ấy về lúc Herbert tống cổ chị ấy ra khỏi cửa chứ gì?"

"Con không hiểu" bà nói "Mẹ biết con không cố ý làm cho mẹ thêm khó xử. Nhưng con dại cái mang" bà nói. "Mẹ có thể chịu đựng được mà".

"Theo tôi nghĩ thì mẹ hay tự giày vò không cần thiết". Tôi nói. Giấy đã cháy hết. Tôi đem đổ vào lò. "Tôi thấy đốt đi những khoản tiền có ích này cũng không phải" tôi nói.

"Cầu cho mẹ không bao giờ thấy ngày con phải nhận nó. Thứ tiền dơ bẩn của tội lỗi" bà nói. "Thà mẹ thấy con nằm trong quan tài thì hơn".

"Tuỳ mẹ thôi" tôi nói. "Mình ăn bữa chiều luôn thể chứ?" tôi nói. "Vì nếu không tôi phải đi làm đây. Hôm nay nhiều việc lắm". Bà đứng lên. "Tôi đã bảo mammy rồi" tôi nói. "Nhưng hình như bà ấy còn đợi Quentin hay Luster hay ai đó. Thôi mẹ, để tôi gọi. Chờ chút đi". Nhưng bà đã đi đến cầu thang và gọi.

"Quentin nó chưa về" Dilsey nói.

"Thôi tôi phải đi đây" tôi nói. "Tôi có thể ăn tạm miếng sandwich dưới phố. Tôi không muốn xen vào việc của Dilsey" tôi nói.

Chỉ có thế là bà lại bắt đầu khóc, còn Dilsey thì khập khiễng đi tới đi lui lẩm bẩm.

"Được rồi, được rồi. Tôi sẽ dọn thật nhanh ngay đây".

"Mẹ đã cố làm vừa lòng tất cả" bà nói. "Mẹ đã cố làm sao cho các con được thoải mái".

"Tôi có kêu tướng gì đâu?" tôi nói. "Có đúng là tôi chỉ sống tôi phải trở lại cửa hàng không?"

"Mẹ biết" bà nói "mẹ biết con không được may mắn như mấy đứa kia, con phải chôn chân ở một cửa hiệu nhà quê, vặt vãnh. Mẹ cũng muốn con được tiến thân. Mẹ biết bố con không bao giờ chịu hiểu rằng chỉ con là có đầu óc kinh doanh, và rồi mọi sự đổ vỡ cả, mẹ cứ tin là sau khi chị con cưới, và Herbert…nó đã hứa…"

"Thôi, có lẽ anh ta cũng nói dối" tôi nói. "Có khi anh ta cũng chẳng có ngân hàng ngân hiếc gì đâu. Và giá như có, tôi nghĩ anh ta chẳng dại gì đến tận Mississippi này để thuê người".

Chúng tôi ngồi ăn một lúc. Tôi nghe tiếng Ben ở dưới bếp. Luster đang cho nó ăn. Như tôi nói, nếu phải cáng đáng thêm một miệng ăn nữa mà bà lại không chiịu nhận thứ tiền kia, sao không gửi quách nó đi Jackson cho rảnh nợ. Ở đấy với những thằng như nó, có khi nó lại sung sướng hơn. Tôi nói có Chúa biết nhà này chả còn sĩ diện vào đâu được nữa, nhưng đâu phải cứ mắc bệnh sĩ mới không muốn thấy một gã đàn ông ba mươi tuổi chơi rong ngoài sân với một thằng nhãi đen, chạy đi chạy lại dọc hàng rào và rống lên mỗi lần người ta đánh golf bên kia. Tôi bảo nếu cho nó đi Jackson ngay từ đầu thì bây giờ mình đã khá hơn. Tôi bảo mẹ đã làm tròn trách nhiệm của mẹ với nó rồi, mẹ đã làm tất cả những gì người ta chờ đợi ở mẹ và chẳng phải ai cũng làm được như mẹ, vậy sao không gửi nó vào đó và hưởng cái lợi của những thuế má mà mình đã đóng. Rồi bà nói chả mấy lúc mà mẹ chết mẹ biết mẹ chỉ là gánh nặng cho con và tôi nói mẹ nói chuyện ấy bao lần rồi đến nỗi tôi cũng bắt đầu tin đấy chỉ có điều tôi nói mẹ nên hiểu rõ và đừng báo cho tôi biết là mẹ đi vì ngay đêm đó tôi sẽ cho nó lên chuyến tàu số 12 và tôi nói tôi nghĩ là tôi còn biết một nơi họ nhận cả con bé kia nữa và đấy chẳng phải phố Sữa hay đại lộ Mật gì đâu. Rồi bà bắt đầu khóc và tôi nói được rồi được rồi tôi cũng hãnh diện về dòng dõi của mình như ai dẫu ngay cả họ từ đâu tới tôi cũng không biết.

Chúng tôi ăn được một lúc. Mẹ lại bảo Dilsey ra cửa trước tìm Quentin.

"Tôi đã nói với mẹ bao lần là nó không về ăn đâu mà" tôi nói.

"Nó phải biết chứ" mẹ nói. "Nó phải biết rằng mẹ không cho phép nó la cà ngoài đường vào giờ ăn chứ. Dilsey xem kỹ chưa?"

"Thì đừng cho nó đi" tôi nói.

"Mẹ biết làm sao" bà nói. "Các con đứa nào chả coi thường mẹ. Xưa nay vẫn thế".

"Nếu mẹ không can thiệp vào, tôi đã dạy cho nó biết" tôi nói. "Chỉ một lần thôi là đâu vào đấy ngay".

"Con sẽ quá tay với nó" bà nói. "Con nóng nảy giống cậu Maury".

Câu ấy nhắc tôi nhớ đến bức thư. Tôi lấy ra đưa cho bà. "Mẹ khỏi cần mở" tôi nói. "Ngân hàng sẽ báo cho mẹ biết lần này là bao nhiêu".

"Địa chỉ gửi cho con mà" bà nói.

"Mẹ cứ mở ra đi" tôi nói. Bà mở thư đọc và đưa cho tôi.

"Cháu thân mến" thư viết.

"Chắc cháu cũng mừng nếu biết rằng hiện giờ cậu đang có khả năng nắm được một cơ hội mà, vì những lý do cậu sẽ giải thích cho cháu sau, cậu không đi vào chi tiết để một dịp khác cậu sẽ tiết lộ cho chắc hơn. Kinh nghiệm kinh doanh của cậu đã dạy cậu là chỉ nên chuyển giao những điều riêng tư qua một phương tiện truyền đạt cụ thể hơn là ngôn ngữ, và sự thận trọng tối đa của cậu trong trường hợp này đủ cho cháu một ý niệm về giá trị của nó. Chắc cháu cũng biết, cậu vừa hoàn tất một cuộc khảo nghiệm hết sức gay go về mọi mặt, và cậu không hề lưỡng lự cho cháu hay rằng đây là cơ hội vàng chỉ đến một lần trong đời, và giờ đây cậu thấy rõ trước mắt mình cái đích mà cậu đã mong mỏi và theo đuổi không nản chí, tức là củng cố lần chót công cuộc của cậu nhờ đó cậu có thể khôi phục địa vị chính đáng của gia đình mà cậu có vinh hạnh là kẻ nối dõi duy nhất còn lại, cái gia đình mà lúc nào cậu cũng bao gồm thân mẫu của cháu và các con bà.

Nhưng cũng ngẫu nhiên mà cậu không hoàn toàn có đủ lợi thế để tận dụng triệt để cơ hội này như nó đã hứa hẹn chắc chắn, nên thay vì tiến hành độc lập với gia đình, cậu xin rút ở tài khoản của mẹ cháu một số tiền nhỏ vừa đủ để bổ sung vào số đầu tư ban đầu của cậu, và vì thế cậu gửi kèm đây, gọi là đúng luật, chứng từ vay nợ của cậu với lãi suất tám phần trăm mỗi năm. Cũng chẳng cần nói rằng đó chỉ là vấn đề hình thức, để dự phòng an toàn cho mẹ cháu trong trường hợp con người chỉ là món đồ chơi của tạo hoá. Và dĩ nhiên cậu sẽ đầu tư số tiền đó như tiền của cậu và nhờ thế mẹ có thể được hưởng cái cơ hội mà cuộc khảo nghiệm gay go của cậu cho tôi đó là một mỏ vàng - cho phép cậu được nói nôm na - trinh nguyên nhất và tinh ròng nhất.

Đây là chuyện riêng tư, chắc cháu cũng hiểu, giữa những nhà kinh doanh với nhau, rồi chúng ta sẽ có đất đai trại ấp riêng chứ phải không cháu? Cậu biết sức khoẻ mẹ cháu không được tốt, lại tính nhút nhát của các mệnh phụ miền Nam quen sống trong nhung lụa và cái thiên hướng hay tiết lộ những vấn đề này khi chuyện vãn, nên cậu đề nghị cháu đừng cho bà biết gì. Nghĩ cho kỹ cậu khuyên cháu nên làm vậy. Đơn giản là cứ một ngày nào đó hoàn lại số tiền vào ngân hàng, nghĩa là cả những khoản lặt vặt khác mà cậu còn nợ bà, và không nói gì hết thì tốt hơn. Bổn phận của chúng ta là tránh cho bà khỏi phải dính dấp với thế giới vật chất nhơ bẩn này được chừng nào hay chừng nấy.

Cậu thân yêu của cháu,

Maury L. Bascomb"

"Mẹ nghĩ sao về chuyện này?" tôi nói, quẳng bức thư qua bàn.

"Mẹ biết con bực mình vì mẹ cho cậu ấy" bà nói.

"Tiền đó là của mẹ" tôi nói. "Mẹ muốn ném cho chim chóc thì cũng là việc của mẹ".

"Cậu ấy là em ruột của mẹ" mẹ nói. "Cậu ấy là người cuối cùng của dòng họ Bascomb. Khi nào mẹ và cậu chết đi là không còn ai nữa".

"Nghe mà nẫu ruột" tôi nói. "Được rồi, được rồi. Tiền của mẹ. Mẹ muốn làm gì thì làm. Mẹ muốn tôi bảo ngân hàng chi ra không?"

"Mẹ biết con bực cậu ấy lắm" bà nói. Mẹ thấy con nặng gánh gia đình thế nào. Khi mẹ đi rồi con sẽ thoải mái hơn".

"Ngay bây giờ tôi cũng thoải mái chứ sao" tôi nói. "Thôi được rồi, được rồi, tôi không nhắc lại chuyện đó nữa. Mẹ muốn lập cả cái bệnh viện tâm thần ở đây cũng được".

"Nó là em ruột con" bà nói "dù nó có bệnh hoạn gì".

"Tôi lấy sổ tiết kiệm của mẹ" tôi nói. "Hôm nay tôi gửi tiền".

"Anh ta bắt con đợi những sáu ngày" mẹ nói."Con có chắc là công việc ở đấy sẽ suôn sẻ không ? mẹ thấy la. Một điều là việc làm ăn trôi chảy mà người ta lại không có tiền trả cho nhân viên ngay".

"hẳn không sao đâu" tôi nói. "An toàn như nhà ngân hàng vậy. Tôi đã bảo hắn khỏi phải lo gì cho tôi đến khi quyết toán cuối tháng xong xuôi. Vì thế mà đôi khi muộn tiền".

"Mẹ sẽ không chịu đựng nổi nếu con lại mất nốt chút vốn liếng mẹ thu góp được cho con". Bà nói "Mẹ cứ nghĩ Earl chả phải tay làm ăn cừ. Mẹ biết, anh ta chẳng tin cậy con đến mức bảo đảm cho cả những khoản đầu tư của con đâu. Mẹ phải nói chuyện với anh ta mới được".

"Thôi mẹ cứ mặc hắn" tôi nói. "Đấy là việc của hắn".

"Con bỏ vào đó những một ngàn đô la kia mà".

"Mẹ cứ mặc hắn" tôi nói. "Tôi sẽ trông chừng mọi việc. Tôi có giấy uỷ quyền của mẹ rồi. Chẳng sao đâu".

"Con không biết con là nguồn an ủi thế nào đối với mẹ" bà nói. "Con vẫn là niềm hãnh diện và niềm vui của mẹ nhưng khi tự ý con cứ nhất định gửi lương tháng của con vào tài khoản của mẹ, thì mẹ cảm tạ Chúa đã để con lại cho mẹ khi Chúa gọi đi những người khác".

"Họ cũng được mà" tôi nói. "Họ đã làm hết sức mình còn gì".

"Khi con nói thế là mẹ biết con còn oán bố con lắm" bà nói. "mẹ nghĩ con có quyền oán trách. Nhưng nghe con nói mẹ cứ đứt từng khúc ruột".

Tôi đứng lên. "Nếu mẹ định khóc" tôi nói "thì mẹ sẽ phải khóc một mình đấy, vì tôi phải đi làm. Tôi lấy sổ tiết kiệm".

"Để mẹ lấy" bà nói.

"Mẹ cứ ngồi" tôi nói "Tôi sẽ lấy". Tôi lên gác lấy cuốn sổ tiết kiệm trong ngăn kéo của bà và ra phố. Tôi đến ngân hàng gửi chỗ tiền trong ngân phiếu và bưu phiếu cộng với mười đô la nữa, và rẽ qua bưu điện. Cao hơn lúc mở cửa một điểm. Tôi đã mất tới mười ba điểm chỉ vì con ranh ấy đến gây chuyện ở đó lúc mười hai giờ, rầy rà tôi về lá thư.

"Thông báo này đến lúc nào?"

"Một giờ trước " hắn nói.

"Một giờ trước?" tôi nói. "Vậy chúng tôi trả tiền cho anh để làm gì?" tôi nói. "Báo cáo hàng tuần chắc? thế này thì anh mong người ta làm ăn kiểu nào đây? Cả lũ mẹ kiếp có sạt nghiệp cũng không biết chứ đừng nói".

"Tôi chẳng mong các ông làm kiểu nào cả" anh ta nói. "Người ta đổi đạo luật về việc đầu cơ thị trường bông rồi".

"Đổi rồi à?" tôi nói. "Sao tôi không nghe? Chắc là họ đã gửi thông báo đến Liên hiệp miền Tây?"

Tôi trở về cửa hàng. Mười ba điểm. Mẹ kiếp, tôi tin chắc chẳng có ma nào biết chuyện này trừ mấy thằng cha ngồi ở văn phòng New York nhìn lũ ngốc tứ phương đến xin dâng tiền cho chúng. Hừm, một tay mơ thì đào đâu ra lòng tin, và như tôi nói đấy nếu không nghe theo lời khuyên của họ thì trả tiền cho họ để làm gì. Hơn nữa, bọn họ ở trong cuộc, họ biết rõ đầu đuôi xuôi ngược. Tôi sờ thấy bức điện trong túi áo. Tôi còn phải chứng minh rằng họ dùng công ty điện tín để lừa gạt thiên hạ. Rồi nó sẽ thành một thứ cửa hàng bán thùng. Và tôi cũng chẳng cần phân vân lâu đến thế đâu. Chỉ có điều một công ty kếch xù như Liên hiệp miền Tây mà không thể có thông báo kịp thời thì quả là lạ. ít ra cũng nhanh bằng phân nửa thời gian họ gửi cho mình bức điện Tài khoản của ông đã có. Nhưng họ cần có gì đến ai. Họ thông đồng với bọn New York. Ai chả thấy.

Khi tôi bước vào, Earl nhìn đồng hồ. Nhưng hắn không nói gì cả đến khi người khách hàng đã đi khỏi. Rồi hắn nói:

""Cậu về nhà ăn trưa hả?"

"Tôi phải đến nha sĩ" tôi nói bởi vì việc tôi ăn ở đâu nhằm nhò gì đến hắn mà là việc tôi sẽ phải trông cửa hàng với hắn suốt buổi chiều kia. Miệng hắn cứ lèm bèm liên tục mặc dù tôi đã chịu đựng đến thế. Cứ bốn gã chủ hiệu ở cái xó nhà quê này thì phải có hai gã coi năm trăm đô la lớn bằng năm vạn.

"Sao cậu không bảo tôi trước?" hắn nói "Tôi tưởng cậu đi rồi về ngay".

"Tôi đổi cho anh cái răng này các thêm mười đô la nữa đấy" tôi nói "nếu anh không thích tôi như thế thì anh làm gì chứ làm".

"Cũng có lúc tôi đã nghĩ vậy" hắn nói "Nếu không sợ bà cụ cậu thì tôi đã làm từ lâu rồi. Bà cụ là một người đàng hoàng, tôi rất mến, Jason ạ. Có điều là tôi biết nhều người sẽ không để vậy đâu".

"Thì cứ việc giữ lấy cái cảm tình của anh" tôi nói. "Khi nào cần chúng tôi sẽ báo anh biết trước thật dài ngày".

"Jason, tôi đã che chắn cho cậu chuyện ấy từ lâu" hắn nói.

"Thế à?" tôi nói, đợi hắn tiếp tục. Để xem hắn nói gì trước khi tôi khiến hắn câm họng.

"Tôi dám chắc tôi biết rõ hơn bà cụ là cái xe kia ở đâu ra"

"Anh nghĩ thế hả?" tôi nói. "Khi nào thì anh sẽ đi rêu rao rằng tôi ăn cắp tiền của mẹ tôi đấy?"

"Tôi không nói vậy" hắn nói. "Tôi biết cậu có giấy uỷ quyền của bà cụ. Và tôi cũng biết bà cụ vẫn tin rằng một ngàn đô la kia là bỏ vào cửa hiệu này".

"Được rồi" tôi nói. "Anh đã biết rõ thế thì tôi còn cho anh biết rõ hơn, anh cứ đến ngân hàng hỏi xem mười hai năm nay cứ vào ngày đầu tháng tôi gửi một trăm sáu chục đô la vào tài khoản của ai".

"Tôi không nói gì hết" hắn nói "Tôi chỉ bảo cậu từ nay trở đi nên cẩn thận hơn".

Tôi không bao giờ nói hơn điều gì. Vô ich. Tôi hiểu ra rằng một khi người ta đã sa lầy tốt nhất là cứ mặc xác người ta. Và khi người ta đã nhất định rằng người ta nói ra là có lợi cho mình thì thôi, xin chào. Tôi cũng thấy mừng là mình không có cái lương tâm để cứ phải nâng niu ấp ủ suốt ngày như một con chó cưng ốm. Tôi mà lại chi li tính toán như hắn, co bèo gạt tép để ăn tám phân lãi thì thật chán. Tôi nghĩ chắc hắn chẳng dám tính lời quá tám phân vì sợ bị truy tố là cho vay nặng lãi. Chôn chân ở cái xó này với công việc như thế thì đến mãn kiếp chưa ngóc đầu lên được. Cái cửa hiệu của hắn, chỉ một năm nữa tôi sẽ mua lại còn hắn cứ việc ngồi đó mà hưởng, chỉ có điều là trước sau gì hắn cũgn đem cúng cho nhà thờ hoặc đâu đó hết thôi. Cái thứ làm cho tôi sôi máu là quân đạo đức giả khốn kiếp. Kẻ nào nghĩ rằng những chuyện mà hắn không hiểu rõ ất giáp ra sao hẳn phải là những chuyện bịp bợm thì hễ có dịp thế nào hắn cũng ngồi lê đôi mách những chuyện chẳng dính dáng gì đến hắn bằng một giọng đầy đạo đức. Như tôi nói đấy giả sử như có một người nào đó làm điều gì mà ta không hiểu tường tận rằng điều đó có phải là bịp bợm hay không thì đã có sổ sách kia mà tôi thiết tưởng chẳng đến nỗi khó khăn lắm mới rõ chẳng cần phải chạy đi kể lể với ai những chuyện hai năm rõ mười ấy, cứ theo như tôi biết giờ đây thiên hạ còn hiểu rõ chuyện ấy hơn tôi nhiều, mà giả sử như họ không hiểu cũng chẳng việc quái gì đến tôi và hắn nói "Sổ sách của tôi ai xem cũng được. Bất kỳ ai có yêu sách gì hay tưởng rằng có thể yêu sách gì trong chuyện này thì cứ lại mà xem xin mời".

"Hẳn rồi, anh sẽ không nói" tôi nói. "Anh đâu có hối lộ lương tâm cái kiểu đó được. Anh đưa người ta đến để người ta tự tìm. Chứ như anh thì đời nào anh nói ra"

"Tôi không cố xen vào việc của cậu đâu" hắn nói. "Tôi biết cô đã cũng mất mát ít nhiều như Quentin trước kia. Nhưng số phận mẹ cậu kể ra cũng không may, và nếu bà cụ có lại đây hỏi tại sao cậu bỏ việc thì tôi cũng đành nói chứ sao. Không phải vì một ngàn đô la. Cậu biết đấy. Mà là vì sổ sách không rõ ràng thì làm ăn sao được. Vả lại tôi sẽ không nói dối ai hết, dù vì mình hay vì người".

"À ra thế" tôi nói "Tôi nghĩ chắc cái lương tâm ấy của anh là một thằng thư ký mẫn cán hơn tôi, nó không phải về nhà ăn trưa. Có điều đừng để nó làm tôi ăn mất ngon", tôi nói bởi vì tôi làm gì cho ra hồn được, với cái gia đình khốn nạn này và bà cụ không hề cố gắng kiểm soát con bé hay bất cứ ai, giống như có lần bà vô tình thấy một thằng hôn Caddy và suốt ngày hôm sau bà mặc áo đen đeo mạng rồi ngay cả bố cũng không cạy răng bà ra được một lời bà chỉ khóc và nói rằng đứa con gái bé bỏng của bà đã chết và Caddy lúc đó khoảng mười lăm tuổi có điều cứ đà ấy thì chỉ ba năm sau chắc là bà sẽ phải mặc áo vải gai hay áo giấy nhám. Thử nghĩ làm sao tôi chịu nổi khi nó lang thang ngoài đường với bất kỳ thằng đánh trống nào đến thị trấn này, tôi nói, rồi thằng đến trước mách thằng đến sau rằng tới Jefferson muốn có món bở thì tìm ở đâu. Tôi chẳng phải sĩ diện, chuyện đó tôi không kham được, lại còn nuôi một bếp ăn đầy bọn mọi đen và cướp của nhà thương điên tiểu bang một ngôi sao mới mọc nữa. Huyết thống, tôi nói thống đốc với chả đại tướng. Mẹ kiếp, phúc bảy mươi đời là con chưa đẻ ra vua hay tổng thống đấy, không thì cả nhà chắc đã xuống Jackson đuổi bướm. Tôi bảo giá như tôi khùng cứ không phải nó cũng đã đủ mạt rồi, điều ra cũng còn biết chắc khởi đầu là thằng khốn ấy, còn bây giờ thì đến cả Chúa cũng không dám chắc.

Rồi một lúc sau tôi nghe thấy dàn nhạc bắt đầu chơi, và rồi mọi người biến đâu sạch. Đi xem hát tuốt, không chừa ai. Mặc cả một sợi dây cương hai mươi xu, để rồi có một bọn Yankee nào đến là sẵn sàng ném ra cả mười đô la để được yêu cầu một bản nhạc. Tôi đi ra phía sau.

"Hừm" tôi nói "nếu lão cứ ngóng cổ ra ngoài, cái bù loong đó sẽ mọc chồi vào tay lão đấy. Rồi tôi sẽ phải lấy rìu mà chặt. Lão không lấy máy xới ra bán cho người ta làm vụ bông tới thì rồi người ta lấy gì mà ăn?" tôi nói. "Nhai ngải cứu chắc?"

"Bọn gánh hát đang thổi kèn" lão nói. "Có thằng cha chơi nhạc bằng cái cưa như chơi đàn banjo ấy".

"Nghe này" tôi nói. "Lão biết bọn gánh hát ấy phải trả bao nhiêu cho thị trấn này không? mười đô la" tôi nói. "Mười đô la ấy thằng cha Buck Turpin bây giờ đã đút túi rồi".

"Họ đưa ông Buck mười đô la để làm gì?" lão nói.

"Để được diễn ở đây" tôi nói. "Lão thấy là họ chơi những gì chứ?"

"Ông nói họ phải trả mười đô la để được diễn ở đấy?" lão nói.

"Đúng thế" tôi nói. "Lão có biết bao nhiêu…"

"Chà chà" lão nói. "Ông bảo là họ phải trả tiền mới được diễn? Tôi mà có tiền, tôi chi ngay mười đô la để gã kia chơi nhạc bằng cái cưa cho tôi nghe. Cứ thế th` đến sớm mai tôi vẫn còn nợ họ chín đô la sáu xu ấy chứ".

Và rồi một tay Yankee lên nói nghe nhức cả đầu rằng phải giúp dân đen tiến bộ. Giúp chúng tiến bộ, chuyện gì thế nhỉ. Giúp chúng tiến bộ để rồi cho chó săn lùngkp miền nam Louisville này cũng không ra một thằng. Bởi vì khi tôi bảo lão chỉ một đêm thứ Bảy họ đã vơ vét được của thị trấn này một ngàn đô la, lão nói:

"Tôi thấy chả làm sao. Tôi cũng có được hai đồng".

"Hai đồng quỷ nào" tôi nói. "Ăn nhằm gì. Hai đồng ấy hay với mười lăm xu lão sẽ mua một hộp kẹo hay thứ gì đó chỉ đáng hai xu. Còn thời gian mà lão đang phí phạm để dài cổ lên nghe cái ban nhạc ấy nữa chứ".

"Đúng thế" lão nói. "Ờ, nếu mười hai giờ tôi về thì họ còn được thêm hai đồng nữa ở cái tỉnh này".

"Thế thì lão là đồ ngốc" tôi nói.

"Hừm" old nói "Tôi thấy chẳng làm sao. Nếu đấy là một tội thì bọn đeo xiềng đã chẳng phải toàn dân đen".

Thì đúng lúc đó tôi vô tình nhìn ra đường và thấy con bé. Tôi bước lùi lại và xem đồng hồ nên lúc đó tôi không nhìn rõ thằng kia là ai bởi vì tôi mải xem đồng hồ. Hai giờ rưỡi, không ai trừ tôi mong thấy nó ngoài đường sớm những bốn mươi lăm phút như thế này. Vì thế khi tôi nhìn qua có lẽ cái đầu tiên đập vào mắt tôi là chiếc cà vạt đỏ trên cổ thằng kia và tôi nghĩ một thằng thắt cà vạt đỏ là loại người gì. Nhưng nó đang len lén đi ngoài phố, mắt canh chừng cửa, nên tôi không để ý đến thằng kia đến khi chúng đi khuất. Tôi tự hỏi liệu nó còn coi trọng tôi chút nào không khi mà nó không những bỏ học đi chơi mà còn dám ngang nhiên đi qua trước cửa hiệu để thách tôi thấy nó. Có điều nó không thể nhìn thấy gì trong cửa hiệu vì ánh nắng soi thẳng vào, chẳng khác nào nhìn qua đèn pha xe hơi, vì thế tôi đứng đó thấy nó đi ngang qua, mặt mũi bôi xanh bôi đỏ như mặt hề và tóc chải keo xoắn tít và cái áo thì quả thực hồi tôi còn nhỏ mấy mụ ở đường Gayoso hay Beale mặc ra đường mà không có cái gì che đậy chân cẳng thì co mà đi bộ. Mẹ kiếp chúng nó ăn mặc như thể mời mọc tất cả đàn ông trên nẻo phố chúng đi qua đưa tay ra vỗ lên đó. Và lúc tôi đang nghĩ một thằng đeo cà vạt đỏ là loại người chó chết nào thì đột nhiên tôi hiểu rằng nó là một thằng trong gánh hát chắc như chính nó bảo tôi vậy. Hừm, tôi tài chịu đựng lắm, chứ không thì mẹ kiếp tôi đâu thoát khỏi một mớ bòng bong, thế nên chúng vừa rẽ góc phố là tôi nhảy ra đi theo. Tôi, đầu không mũ, ngay giữa trưa, đi rình hết ngõ này đến hẻm kia cũng chỉ vì cái danh thơm của bà mẹ tôi. Như tôi nói nó nta làm gì được với một đứa con gái như thế. Nó đã có cái máu ấy trong người thì quả thật vô phương cứu chữa. Chỉ có cách là tống cổ nó đi, mặc xác nó sống với cái loại như nó.

Tôi đi ra đường cái, nhưng chúng đã biến mất. Còn tôi thì đứng đó, đầu không mũ, trông chẳng khác gì thằng điên. Người ta hẳn phải nghĩ thế, chứ một thằng khùng một thằng nhảy sông tự tử còn một con bị chồng đá ra đường, những kẻ còn lại không điên sao được. Lúc nào tôi cũng thấy có đứa hau háu rình tôi như diều hâu, chờ dịp là phán. Đấy, biết ngay mà, thì tôi vẫn nghĩ nhà ấy toàn những đồ điên. Bán đất để gửi anh ta đi Harvard và nai lưng ra đóng thuế cho đại học tiểu bang mà tôi chẳng hề thấy gì ngoài hai trận bóng chày và không cho ai nhắc đến tên cô con gái ở đây đến khi ít lâu sau bố cũng không ra phố nữa chỉ ngồi ở nhà suốt ngày với cái bình rượu tôi thấy vạt áo ngủ với hai chân trần của ông và nghe thấy cái bình rượu lanh canh cuối cùng T.P. Phải rót cho ông và bà nói con không kính trọng vong linh bố con và tôi nói tôi không biết sao lại không chắc chắn là điều đó được bảo tồn đến cùng chỉ có điều nếu tôi cũng điên nốt thì có Chúa biết sẽ làm gì chỉ có nhìn nước thôi tôi cũng xây xẩm mặt mày rồi tôi cũng uống xăng như uống whisky và Lorraine bảo bạn bè rằng anh ấy không rượu chè nhưng mày bảo anh ấy không phải đàn ông thì để tao chỉ cho mày biết cách biết nàng bảo nếu em mà bắt được anh đi với một đứa nào thì anh biết em sẽ làm gì không em sẽ xé xác nó túm lấy nó mà xé chừng nào em còn thấy nó nàng nói và tôi nói anh uống hay không là chuyện riêng của anh nhưng em đã thấy bao giờ anh không biết điều chưa tôi nói nếu em muốn anh sẽ mua bia về cho em tắm bởi vì tôi biết tôn trọng một con điếm lương thiện bởi vì sức khoẻ của mẹ và cái địa vị mà tôi đang bám giữ qcó được nàng với những gì tôi cố làm cho nàng chẳng thể tỏ ra tôn trọng nàng hơn là giữ sao cho tên nàng và tên tôi và tên mẹ tôi đừng thành chuyện đàm tiếu trong tỉnh.

Nó đã biến đâu mất. Chắc nó thấy tôi đi ra và lẩn vào một con hẻm khác, lượn lờ khắp đường ngang ngõ tắt với một thằng kép hát đeo cà vạt đỏ để bàn dân thiên hạ dòm ngó xì sầm cái thứ người thắt cà vạt là thứ người gì. Thằng bé vẫn nói với tôi và tôi cầm bức điện tín mà không biết là mình đã cầm. Tôi không hiểu chuyện gì đến khi tôi ký nhận xong. Tôi bóc ra mà cũng chẳng buồn đọc. Tôi biết thừa nó nói gì rồi. Thì chỉ có chuyện ấy chứ còn chuyện gì nữa, nấn ná đợi khi ngân phiếu được vào sổ.

Tôi không hiểu sao một thành phố chỉ lớn bằng New York mà lại chứa đủ những tên bòn rút tiền bạc của bọn tay mơ thập phương chúng tôi. Làm như trâu như ngựa suốt ngày, gửi tiền cho chúng để rồi nhận lại một mảnh giấy báo. Kết toán tài khoản của ông là 20.62. Ve vãn mình chán rồi nhử mình chút lời lãi trên giấy, rồi đùng một cái! Kết toán tài khoản của ông là 20.62. Thế đã đủ đâu, còn phải trả mười đô la mỗi tháng cho một thằng khốn cho nó chỉ dẫn mình cách trắng tay sao cho nhanh, hoặc nó chẳng biết cái cóc khô gì hoặc nó đã móc ngoặc với công ty điện tín cũng nên. Thôi, tôi cũng xin chào thua chúng. Chúng rút ruột tôi lần này lần chót. Trừ những đứa khùng đi tin lời bọn Do Thái cứ ngu mấy cũng thấy ngay rằng thi trường vẫn đang khởi sắc, khi cả vùng hạ du sắp bị lụt và bông lại bật gốc trôi sạch như năm ngoái. Mùa màng của người ta thì cứ mặc cho mất trắng trong khi đó ở Washington họ vẫn chi mỗi ngày năm vạn đô laq duy trì đạo quân ở Nicaragua hay đâu đó. Hẳn nhiên là vụ này mất sạch rồi, và giá bông sẽ khoảng ba mươi xu một cân. Hừm, tôi chỉ muốn giã cho chúng một trận và đòi lại tiền. Tôi không muốn giết chóc, chỉ có dân cờ bạc tỉnh lẻ mới ưa sự giết chóc, tôi chỉ muốn lấy lại tiền mà bọn Do Thai khốn nạn đã gạt tôi bằng những tin mách nước bảo đảm. Xong là thôi chúng cứ việc liếm gót giày tôi may ra thì được một xu.

Tôi trở lại cửa hàng. Đã gần ba giờ rưỡi. Không còn thời gian để làm một việc gì, nhưng tôi cũng quen rồi. Chẳng cần phải tới Harvard mới học được điều đó. Ban nhạc đã ngừng chơi. Người ta đã vào chật rạp, họ hơi đâu mà thổi mãi. Earl nói:

"Nó tìm thấy cậu không? nó vừa dem tới đây lúc nãy. Tôi nghĩ cậu đứng đâu đó phía sau".

"Phải" tôi nói "Tôi cầm rồi. Làm sao họ giữ được tôi cả buổi chiều? Thị trấn bé xíu ấy mà. Tôi phải về nhà một lát" tôi nói. "Anh cứ trừ lương tôi nếu muốn".

"Cứ đi đi" hắn nói "Tôi xoay xở một mình cũng xong. Không có chuyện gì bực mình chứ?"

"Anh đến bưu điện mà hỏi" tôi nói. "Họ sẽ nói anh biết. Tôi không có thời gian".

"Tôi chỉ hỏi vậy thôi" hắn nói. "Bà cụ cậu biết là có thể tin ở tôi".

"Bà cụ cảm ơn anh" tôi nói. "Xong việc là tôi về ngay".

"Cứ thoải mái" hắn nói. "Bây giờ một mình tôi cũng đủ. Cậu cứ đi đi".

Tôi lấy xe về nhà. Một lần buổi sáng, hai lần buổi trưa, lại bây giờ nữa, với bà già thì như thế, phải chạy theo rình mò nó khắp tỉnh để rồi về xin họ cho mình ăn chút gì trong khi mình còng lưng ra nuôi họ. Đôi khi tôi nghĩ những cái đó để làm gì. Gặp toàn những chuyện như thế mà vẫn tiếp tục sống thì tôi quả là điên. Và bây giờ tôi nghĩ mình về nhà thật đúng lúc qchạy như bòra sau một thúng cà chua hay gì đó suốt chặng đường dài rồi phải lộn về thị trấn sặc sụa mùi xí nghiệp long não khiến đầu tôi như sắp nổ tung trên vai. Tôi vẫn bảo bà cụ rằng aspirin chẳng có cái quái gì, ngoài bột hoà với nước cho những con bệnh tưởng. Tôi nói mẹ không biết nhức đầu là như thế nào đâu. Tôi nói mẹ tưởng tôi cứ ngồi trên cái xe quỷ ấy suốt ngày là vì tôi thích thế chắc. Tôi nói tôi không có xe cũng chẳng sao tôi quen không có nhiều thứ rồi nhưng nếu mẹ muốn phó thác cái mạng mình cho chiếc xe ngựa cà tàng kia với một thằng nhãi đen thì cũng được thôi bởi vì tôi nói Chúa phù hộ Ben, Chúa phải biết làm gì cho nó nhưng nếu mẹ tưởng tôi sẽ giao một cỗ máy tinh vi hàng ngàn đô la cho một thằng nhãi đen hoặc ngay cả một thằng đen lớn xác thì tốt nhất mẹ nên tự mua lấy một chiếc bởi vì tôi nói mẹ thích đi xe mẹ biết mẹ thích mà.

Dilsey nói mẹ ở trong phòng. Tôi đi vào hành lang và lắng nghe, nhưng chẳng thấy gì cả. Tôi lên gác nhưng ngay khi tôi đi qua cửa phòng thì bà gọi.

"Mẹ chỉ muốn biết ai đó thôi" bà nói. "Mẹ ở đây một mình lâu quá nên mẹ cứ lắng nghe mọi tiếng động".

"Ai bắt mẹ ở đây đâu" tôi nói. "Sao mẹ không đi đây đó thăm hỏi mọi người như các bà ấy, nếu mẹ muốn". Bà đi ra cửa.

"Mẹ nghĩ có lẽ con ốm" bà nói. "Ăn uống tất tưởi như thế".

"Lần sau chắc may mắn hơn" tôi nói. "Mẹ cần gì không?"

"Có chuyện gì vậy?" bà nói.

"Chuyện gì được?" tôi nói. "Sao cứ hễ tôi về nhà buổi chiều là thấy nhà cửa loạn cả lên?"

"Con có thấy Quentin không?"

"Nó ở trường" tôi nói.

"Hơn ba giờ rồi" bà nói. "Mẹ nghĩ chuông đánh cũng phải nửa tiếng trước. Giờ này lẽ ra nó phải có mặt ở nhà".

"Lẽ ra?" tôi nói. "Có khi nào mẹ thấy nó về trước khi trời tối không?"

"Lẽ ra nó phải về rồi" bà nói. "Hồi mẹ còn bé…"

"Thì mẹ có người dạy bảo mẹ" tôi nói. "Nó thì không".

"Mẹ làm gì được với nó?" bà nói. "Mẹ đã cố mãi rồi".

"Chẳng hiểu tại sao mẹ không để tôi thử" tôi nói. "Lẽ ra mẹ phải hài lòng chứ?" tôi đi tiếp về phòng mình. Tôi vặn nhẹ chìa khoá và đợi đến khi tay nắm cửa xoay. Rồi bà nói:

"Jason!"

"Gì ạ?" tôi nói.

"Mẹ nghĩ chắc có chuyện không hay".

"Không phải ở đây" tôi nói. "Mẹ lầm chỗ rồi".

"Mẹ không định làm phiền con" bà nói.

"Nghe vậy mà tôi mừng" tôi nói. "Tôi không dám chắc. Tôi cứ tưởng tôi lầm. Mẹ có cần gì không?"

Một lát sau bà mới nói "Thôi. Không có gì cả". Rồi bà bỏ đi. Tôi lấy cái hộp xuống, lấy tiền ra đếm rồi giấu cái hộp vào chỗ cũ và mở khoá cửa đi ra. Tôi nghĩ đến mùi long não, nhưng dù sao cũng quá muộn rồi .và tôi đã phải chạy xem một vòng. Bà đứng đợi ở cửa.

"Mẹ có cần mua gì dưới phố không?" tôi nói.

"Không" bà nói. "mẹ không muốn xen vào công việc của con. Jason, nhưng chẳng may mà con gặp chuyện gì không biết mẹ sẽ ra sao".

"Tôi không sao" tôi nói. "Chỉ hơi nhức đầu".

"Mẹ muốn con uống vài viên aspirin" bà nói. "Mẹ biết co ndw có chịu rời chiếc xe".

"Xe thì dính dáng gì?" tôi nói. "Xe khiến người ta đau đầu làm sao được?"

"Con biết đấy, con đâu có chịu được mùi xăng" bà nói. "Từ hồi bé con đã thế. Mẹ muốn con uống vài viên aspirin".

"mẹ cứ việc muốn" tôi nói. "Chuyện ấy chả hại gì".

Tôi chui vào xe và trở lại thị trấn. Tôi vừa rẽ vào phố chính thì thấy một chiếc xe Ford phóng như bị ma đuổi về phía tôi. Đột ngột nó dừng lại. Tôi nghe cả tiếng bánh xe trượt nghiến rồi chiếc xe lộn lại phóng đi và đúng lúc tôi đang nghĩ không hiểu người ta định giở trò gì thì tôi thấy chiếc cà vạt đỏ. Rồi tôi nhận ra khuôn mặt nó ngoái lại qua cửa sổ xe. Nó ngoặt vào một con hẻm nhưng khi tôi tới đó thì nó đã biến mất hút, chạy như bị ma đuổi vậy. Tôi giận ứ máu. Lại thấy chiếc cà vạt đỏ sau khi tôi đã cạn lời với nó, tôi không còn nhớ gì nữa. Tôi quên cả nhức đầu tới lúc đến ngã ba đầu tiên và phải dừng xe lại. Mình đã đóng góp không biết bao nhiêu tiền để sửa đường sửa xá vậy mà mẹ kiê"p chẳng khác gì đi xe trên mái tôn lượn sóng. Ngay cả xe cút kít cũng chưa chắc đã giữ được thăng bằng. Tôi giữ gìn xe tôi lắm, tôi đâu có vừa đi vừa phá đến khi nó tan từng mảnh như chiếc xe Ford kia. Có khi đấy là xe chúng lấy cắp được, thế thì chúng cần quái gì. Tôi đã nói mà, huyết thống là thế đấy . Một khi người ta đã mang cái dòng máu như vậy thì cái gì mà người ta chẳng dám làm. Tôi bảo dù mẹ có bổn phận gì với nó thì mẹ cũng đã làm trọn, tôi bảo từ nay mẹ chỉ có thể tự trách mình thôi vì mẹ thừa biết nếu mẹ khôn ngoan thì phải làm thế nào. Tôi nói nếu tôi phải bỏ một nửa thời gian đi làm cái trò thám tử chết tiệt ấy thì thà tôi tìm chỗ nào họ trả lương cho tôi làm việc đó.

Tôi phải dừng ở ngã ba ấy. Rồi tôi chợt nhớ đến chuyện nhức đầu. Tôi cảm thấy như có ai đang nện búa trong đầu tôi .tôi bảo tôi cố giữ cho mẹ khỏi buồn vì nó, tôi bảo nếu phải tay tôi thì nó có muốn xuống địa ngục cũng mặc, càng sớm lại càng hay. Tôi bảo mẹ mong gì nữa ngoài mấy thằng đánh trống với kép hát rẻ tiền mò đến đây còn ngay cả mấy thằng đĩ đực dưới thị trấn cũng chán nó rồi mẹ không biết chuyện gì đang xảy ra tôi nói mẹ không nghe người ta dè bỉu mẹ chỉ biết bắt tôi làm họ câm mồm. Tôi bảo ở đấy ai cũng có nô lệ vậy mà cửa hiệu chỉ bằng cái lỗ mũi còn đất đai chẳng thằng mọi đen nào thèm ngó ngàng.

Giá mà chúng chịu cày cấy. May là Chúa còn dồi dào ơn phúc cho cái xứ này, cứ mấy thằng dân ở đây nào có làm gì cho nó. Chiều thứ Sáu đứng đây nhìn ra tôi thấy hàng dặm đất chưa hề được vỡ. Và bao nhiêu gã đàn ông sức dài vai rộng trong tỉnh đều kéo nhau ra phố xem hát. Giả sử tôi là kẻ từ xa tới sắp chết đói muốn hỏi thăm đường đến thị trấn cũng chẳng có ma nào mà hỏi. Còn bà cụ thì bắt mình uống aspirine. Tôi bảo khi nào đến bữa thì tôi vào bàn. Tôi bảo mẹ cứ kể lể rằng mẹ phải ăn nhịn để dành cho con cái ra sao trong khi tiền mua hàng đống thuốc chết tiệt kia đủ sắm mỗi năm mười bộ đồ. Thuốc với men mà làm gì tôi chỉ cần được nghỉ ngơi yên tĩnh không phải khổ sở chịu đựng họ nhưng chừng nào tôi còn phải làm mười tiếng một ngày để một ổ mọi đen dưới nếp sống theo cái lề thói của chúng xưa nay đã vậy còn phải cho chúng tiền đi xem hát như cả lũ đen trong tỉnh, chỉ có điều thằng đen kia đến muộn mất rồi. Lúc hắn đến thì người ta đã diễn xong.

Một lát sau hắn đến cạnh xe và cuối cùng khi tôi nhồi được vào cái đầu hắn câu hỏi có thấy hai người trên chiếc Ford đi qua đây không thì hắn bảo có. Nên tôi đi tiếp và khi tới chỗ đường tàu rẽ thì tôi thấy vết bánh xe. Ab Russell đang đứng trên khu đất nhà hắn nhưng tôi không buồn hỏi và khi chuồng bò của hắn chưa khuất tôi đã thấy chiếc Ford. Chúng đã cố giấu chiếc xe. Nó giấu cũng giỏi như nó làm những việc khác.

Như tôi nói chẳng phải tôi khó dễ gì, có lẽ nó không thể hơn khác, chẳng qua là vì nó đâu có thèm quan tâm gì đến gia đình để mà phải thận trọng giữ gìn. Chỉ sợ rồi có lúc tôi tóm được chúng nó ngay giữa phố hay dưới gầm xe trên quảng trường như hai con chó thôi.

Tôi dừng xe và bước ra. Giờ thì tôi phải đi quanh và băng qua một thửa ruộng đã cày, thửa ruộng cày duy nhất mà tôi gặp từ lúc rời thị trấn, mỗi bước đi như có ai ở đàng sau đập chày vào đầu. Tôi cứ nghĩ rằng qua khỏi thửa ruộng ít ra đất cũng bằng phẳng, không đến nỗi mỗi bước lại như chui tụt xuống địa ngục thế này, nhưng khi tôi đến bìa rừng thì cây cối rậm rạp khiến tôi phải đi vòng vèo và tới một cái hào đầy những bụi gai. Tôi đi dọc hào một lúc, nhưng cây càng ngày càng rậm và bất cứ lúc nào Earl cũng có thể phôn về nhà hỏi tôi đâu và mẹ lại sắp lo cuống lên.

Cuối cùng khi tôi thoát được đám cây đó tôi đã lạc hướng đến mức phải dừng lại và đoán xem chiếc xe ở phía nào. Tôi biết chúng không đi đâu xa, chỉ ở bụi cây nào đó quanh đây thôi vì vậy tôi quay lại và lần mò trở ra đường cái. Rồi không biết mình đã đi bao xa, tôi phải dừng lại lắng nghe, và như thế chân tôi không còn cần đến máu nữa nên máu dồn lên đầu khiến đầu tôi muốn nổ tung lập tức, và mặt trời lặn vừa đúng tầm để xói thẳng vào mắt tôi và tai tôi ù lên khiến tôi không nghe thấy gì cả. Tôi đi tiếp, cố bước thật êm, rồi tôi nghe tiếng một con chó hay cái gì đó và tôi biết rằng nếu nó đánh hơi thấy tôi nó sẽ bổ nhào tới như quỷ sứ và thế là hỏng bét.

Bọ xít, cành khô và rác rưởi rơi đầy trên người tôi, vào cả quần áo và giày và khắp nơi, và rồi khi nhìn quanh tôi vô tình quờ tay phải bụi gai độc. Có điều tôi không hiểu tại sao lại chỉ là cành gai độc mà không phải là con rắn hay cái gì khác. Nên tôi cũng không buồn nhấc tay ra. Tôi chỉ đứng đó tới khi con chó bỏ đi. Rồi tôi lại đi tiếp.

Giờ thì không còn biết cái xe nằm ở đâu nữa. Tôi cũng không nghĩ được gì ngoài cơn đau đầu, và tôi cứ đứng chôn chân ở đó băn khoăn không biết tôi có thấy chiếc Ford thực hay không, và tôi cũng chẳng cần biết mình có thấy hay không nữa. Như tôi đã bảo, cứ mặc xác nó lang chạ với bất cứ cái thứ gì mặc quần trong thị trấn này chẳng việc quái gì đến tôi. Tôi chẳng nợ nần gì cái đứa không coi tôi ra gì, khốn nạn là nó lại để chiếc Ford ở đó và làm tôi mất toi một buổi chiều và Earl không chừng lại đưa bà cụ tới cửa hiệu và cho bà xem sổ sách chỉ vì hắn quá đạo đức so với cái thế giới này. Tôi bảo anh có lên thiên đàng cũng sẽ thấy chán phè vì chẳng có công việc của ai để anh chõ mũi vào có điều đừng để tao bắt quả tang , tôi nói, tao nhắm mắt làm ngơ cũng vì bà ngoại mày, nhưng mày mà để tao tóm được mày làm bậy một lần thôi ở đây ở cái nơi mẹ tao đang sống. Bọn nhãi ranh đầu láng ấy cứ mong muốn làm ma làm quỷ gì cũng được chắc, thì để tao cho chúng biết ma quỷ nó thế nào tôi nói cả mày nữa. Tao sẽ cho thằng ấy thấy rằng cái cà vạt đỏ của nó sẽ là sợi dây lôi cổ nó xuống địa ngục, nó tưởng rằng nó có thể dắt cháu gái tao vào rừng làm trò khốn nạn được à?

Nắng chói làm tôi hoa cả mắt và bốc máu lên đầu tôi cứ nghĩ đầu tôi sẽ vỡ tung lúc nào không biết và thế là xong, với gai góc và đủ mọi thứ móc vào người, rồi tôi cũng đến được rãnh cát chỗ chúng ẩn trước đó và tôi nhận ra cái cây nơi xe đậu, và tôi vừa bước ra khỏi rãnh cát và chạy đến thì tôi nghe tiếng xe rồ máy. Nó phóng vụt đi, bóp còi ầm ĩ. Chúng vẫn bóp còi như thể chiếc xe đang reo hò. Yah. Yah. Yaaaahhhhh. Rồi biến. Tôi ra đến đường cái chỉ kịp thấy chúng mất hút.

Lúc tôi đến được chỗ xe tôi đậu thì vệt bụi của chúng cũng không còn, chỉ văng vẳng tiếng còi. Tôi cũng chẳng nghĩ đến điều đó ngoài việc nhủ thầm Chạy. Chạy về thị trấn. Chạy về thị trấn và trấn an bà rằng tao không hề thấy mày trên chiếc xe ấy. Cố làm cho bà tin rằng tao không biết thằng ấy là thằng nào. Cố làm cho bà tin rằng không phải tao chỉ chậm mười bước nên tóm hụt mày ở cái rãnh đó. Cố làm cho bà tin rằng mày cũng đang đứng.

Tiếng còi vẫn kêu Yahhhh, Yahhhh, Yaaaahhhhh nhỏ dần. Rồi hết hẳn và tôi nghe tiếng bò rống ở chuồng gia súc nhà Russell. Và tôi vẫn chẳng nghi ngờ gì. Tôi đến bên xe mở cửa và đặt chân lên. Tôi thoáng nghĩ rằng chiếc xe nghiêng hơn độ dốc của đường, nhưng không nhận ra mãi đến khi tôi lên xe nổ máy.

Thế là tôi ngồi đấy. Trời đã sâm sẩm và thị trấn cách chừng năm dặm. Chúng không đủ can đảm để chọc thủng hay cắt bánh xe. Chúng chỉ xì hơi. Tôi đứng sững một lúc nghĩ đến cả một nhà bếp đầy bọn đen mà không một đứa nào thèm nhấc một cái bánh xe lên giá hay siết vài con ốc cho mình. Kể cũng khôi hài vì ngay cả con ranh con chắc cũng không tính xa đến mức lấy cái bơm đi trừ khi nó chợt nghĩ đến điều đó lúc thằng kia đang xì hơi bánh xe. Có lẽ đứa nào đó lấy cho thằng Ben làm súng xịt nước thì chắc hơn, bởi vì nó mà đã đòi thì chúng dám tháo cái xe ra từng mảnh lắm và Dilsey nói, Ai đụng vào xe của cậu? ai ngu mà muốn đụng vào nó? và tôi bảo mammy là dân đen mammy có phước lắm mammy biết không? Tôi nói tôi sẵn sàng đổi chỗ với bà bất cứ lúc nào vì làm một người da trắng có được gì ngoài chuyện điên đầu vì hành động của một con đĩ ranh.

Tôi đi bộ đến chỗ Russell. Hắn có bơm. Chắc hẳn chúng không nghĩ ra điều này. Có điều tôi vẫn không tin rằng nó táo gan đến thế. Tôi cứ nghĩ ngợi linh tinh. Tôi không hiểu tại sao hình như tôi không học được một điều là không có gì đàn bà lại không dám làm. Tôi vẫn nghĩ, mình hãy quên đi trong chốc lát cả những gì tao nghĩ về mày và mày nghĩ về tao: tao sẽ không chơi mày như thế. Tao sẽ không chơi lại mày dù mày đã chơi tao những vố như thế nào. Vì như tôi nói huyết thống là huyết thống làm sao tránh khỏi. Đây đâu phải trò đùa của một đứa bé lên tám, mà là việc để chính cậu của mày thành một trò cười cho một thằng thắt cà vạt đỏ. Chúng đến tỉnh này và gọi chúng ta là một lũ nhà quê và cho rằng cái tỉnh này quá nhỏ để dung nạp chúng. Hừm, hắn đâu ngờ rằng hắn nói quá đúng. Và cả con ranh kia nữa. Nếu nó cũng cảm thấy thế thì nên xéo ngay đi và thế là rảnh nợ.

Tôi dừng lại trả bơm cho Russelll và lái xe về thị trấn. Tôi đến hiệu thuốc làm một ly Coca Cola rồi tạt qua bưu điện. Nó đứng ở 12.21, xuống bốn mươi điểm. Bốn mươi lần năm đô la, như thế thì còn mua cái gì nữa và nó sẽ nói, tôi phải có tiền tôi cần phải có và tôi sẽ nói cái đó thì quá tệ chắc mày phải hỏi ai khác thôi, tao làm gì có tiền, tao còn lúc nào rảnh để mà kiếm tiền.

Tôi chỉ nhìn hắn.

"Tôi sẽ nói cho anh một vài tin tức" tôi nói "Anh sẽ lấy làm lạ là tôi quan tâm đến thị trường bông" tôi nói. "Anh có bao giờ nghĩ thế chưa?"

"Tôi đã cố hết sức giao nó cho ông" hắn nói. "Tôi đã thử đến cửa hàng hai lần và gọi điện về nhà ông, nhưng không ai biết ông ở đâu" hắn nói, lục lọi trong ngăn kéo.

"Giao cái gì?" tôi nói. Hắn đưa tôi một bức điện . "Cái này đến lúc nào?" tôi nói.

"Khoảng ba giờ rưỡi" hắn nói.

"Và bây giờ là năm giờ năm phút" tôi nói.

"Tôi đã cố giao nó cho ông" hắn nói. "Tôi không tìm được ông".

"Nghĩa là đâu phải lỗi tại tôi, đúng không?" tôi nói. Tôi mở ra chỉ cốt để xem lần này họ bịp mình thế nào. Có hoạ là bọn vét đĩa mới phải đến tận Mississippi này để ăn cắp mỗi tháng mười đô la. Bán đi, bức điện viết. Thị trường sẽ hỗn loạn có xu hướng hạ. Đừng hoảng hốt làm theo thông báo của chính phủ.

"Bức điện này hết bao nhiêu?" tôi nói. Hắn bảo tôi.

"Họ trả rồi" hắn nói.

]"Vậy thì tôi nợ họ chừng đó" tôi nói. "Tôi biết tin ấy rồi. Gửi cho tôi bức điện này". Tôi nói và lấy một tờ mẫu. Mua, tôi viết, thị trường sắp đến điểm bùng nổ. Thỉnh thoảng lại nhốn nháo để câu thêm vài thằng nhà quê ngu dốt chưa kịp đến bưu điện. Đừng hoảng hốt. "Ghi người nhận trả" tôi nói.

Hắn nhìn bức điện rồi nhìn đồng hồ. "Thị trường đóng cửa một giờ trước" hắn nói.

"Hừm" tôi nói. "Cái đó cũng đâu phải lỗi tại tôi. Tôi đâu có bày ra cái trò này, tôi chỉ mua một ít và có cảm tưởng rằng công ty điện tín sẵn sàng báo cho tôi biết mọi chuyện đang xảy ra".

"Lúc nào có thông báo là bọn tôi dán lên ngay" hắn nói.

"Tôi đã đổi ý từ lâu" tôi nói. Tôi viết thêm một bức nữa và đếm tiền. "Cả bức này nữa, nếu anh biết đánh vần chữ m-u-a".

Tôi trở lại cửa hàng. Tôi nghe thấy ban nhạc đang chơi ở cuối phố. Cấm rượu là một cái hay. Trước kia họ thường đến vào thứ Bảy cả nhà có dộc một đôi giày ông bố đi và họ kéo nhau đến bưu cục tốc hành lấy hàng, bây giờ tất cả bọn họ chân đất đi xem hát, đám nhà buôn đứng trong cửa như một lũ hổ trong chuồng nhìn họ đi qua. Earl nói:

"Tôi hy vọng không có gì nghiêm trọng".

"Cái gì?" tôi nói. Hắn nhìn đồng hồ. Rồi hắn đi ra cửa nhìn đồng hồ toà án. "Anh nên sắm lấy cái đồng hồ một đô la" tôi nói "Chẳng đến nỗi đắt để anh tin nó mỗi lầ nó nói dối anh".

"Cái gì?" hắn nói.

"Chẳng có gì" tôi nói. "Hy vọng là tôi không làm phiền anh".

"Cũng không bận lắm" hắn nói. "Họ đi xem hát cả. Không sao".

"Nếu có sao" tôi nói "anh định làm gì cứ làm".

"Tôi bảo không sao mà" hắn nói.

"Tôi nghe rồi" tôi nói. "Nếu có sao, anh định làm gì cứ làm".

"Cậu muốn bỏ việc à?" hắn nói.

"Đấy không phải chuyện của tôi" tôi nói. "Ý muốn của tôi đâu có quan trọng. Nhưng anh đừng nghĩ rằng anh giữ tôi lại là che chở tôi".

"Này Jason, nếu cậu muốn cậu có thể trở thành nhà kinh doanh tài ba đấy".

"Ít ra tôi cũng biết lo việc tôi và để mặc việc người" tôi nói.

"Tôi không hiểu sao cậu cứ muốn làm tôi phải đuổi cậu" hắn nói. "Cậu biết là cậu có thể nghỉ việc lúc nào cũng được và giữa chúng ta vẫn chẳng có sứt mẻ gì".

"Có lẽ vì thế mà tôi không nghĩ" tôi nói. "Chừng nào tôi còn làm tròn bổn phận, anh còn trả lương tôi mà". Tôi đi ra đàng sau uống nước và xuống luôn cửa hậu. Cuối cùng thì già Job cũng lắp xong mấy cái máy xới. Ở đây yên tĩnh nên chỉ một lát sau đầu tôi đỡ nhức. Tôi nghe tiếng họ hát, rồi ban nhạc lại chơi. Hừm, thì cứ để bọn họ vét sạch những đồng kền đồng xu ở cái xứ này, chả can gì đến tôi. Tôi đã làm hết sức mình rồi, đã sống đến tuổi này mà còn không biết lúc nào cần nghỉ việc hoạ có là thằng ngốc. Nhất là khi chẳng phải việc của tôi. Nếu nó là con giá tôi thì chuyện đã khác, bởi vì nó sẽ không có thì giờ, nó sẽ phải làm quần quật để nuôi mấy đứa điên khùng quặt quẹo với một lũ mọi đen nhưng tôi còn mặt mũi nào đưa ai về nhà nữa. Tôi phục sát đất ai làm được điều đó. Tôi là một thằng đàn ông, tôi chịu đựng được, đó là máu mủ của tôi, và tôi muốn nhìn tận mặt kẻ nào dám coi thường một người đàn bà là bạn tôi chính những người đàn bà tử tế đáng thương ấy mới làm được thế thử xem có người đàn bà ngoan đạo nay lễ mai bái nào bằng nửa Lorraine chưa, điếm với chả điếm. Như tôi nói nếu tôi lấy vợ thì mẹ sẽ sướng lên mây và mẹ biết thế mà và bà nói mẹ muốn con hạnh phúc có gia đình riêng chứ đâu muốn con suốt đời phải cực nhọc vì cái nhà này. Nhưng chẳng lâu nữa đâu mẹ sẽ chết rồi con có thể cưới vợ nhưng con sẽ chẳng bao giờ tìm thấy một người đàn bà nào xứng đáng với con và tôi nói có chứ. Mẹ sẽ dậy từ dưới mồ nếu mẹ biết. Tôi nói thôi cảm ơn mẹ giờ thì tôi chẳng thiếu đàn bà để chăm sóc nếu tôi mà lấy vợ nữa thì e vợ tôi cũng thành một đứa xì giữ hay gì đó mất thôi. Nhà này chỉ còn thiếu có thế, tôi nói.

Mặt trời đã xuống phía sau nhà thờ Giám lý, đàn bồ câu lượn quanh tháp chuông, và khi ban nhạc ngừng chơi tôi nghe tiếng chim gù. Từ Giáng sinh đến nay cũng đã phải bốn tháng mà đàn bồ câu vẫn đông. Tôi nghĩ giờ này chắc Parasol Walthall đã ních chim đầy bụng rồi. Nói ra lại mang tiếng kể xấu thiên hạ, nhưng lão ta miệng thì thuyết giáo mà tay cứ lăm lăm khẩu súng bắn bồ câu. Vậy mà lải nhải nào là hoà bình trên Trái Đất, điều lành cho mọi người ngay cả một con sẻ cũng được yên thân. Nhưng lão thì cần gì đàn chim đông hay không, lão có bổn phận nào đâu, cũng chẳng cần quan tâm đến thời giờ. Lão không phải đóng thuế, quanh năm chẳng mất một xu lau chùi chiếc đồng hồ toà án mà nó vẫn chạy. Người ta vẫn phải bỏ ra bốn mươi lăm đô la để trả công lau chùi nó.

Tôi đếm đến hơn một trăm con mới ra ràng đậu dưới đất. Không hiểu sao chúng ngu đến mức không bỏ cái tỉnh này mà đi. Tôi vẫn bảo là may mà tôi không bị ràng buộc gì hơn một con chim câu.

Ban nhạc lại chơi, một điệu nhanh và ồn ào, có vẻ như để giải tán. Chắc bây giờ thì ai cũng mãn nguyện cả rồi. Có lẽ cũng đã đủ để người ta khoan khoái đánh ngựa nhanh mười lăm dặm về nhà rồi tháo yên cương trong bóng tối. Sau đó cho gia súc ăn và vắt sữa. Thế nào chả huýt sáo theo điệu nhạc vừa nghe và nói đùa với lũ bò ngựa trong chuồng, rồi thử tính nhẩm là nếu không đưa gia súc đi xem hát thì tiết kiệm được bao nhiêu tiền. Một gia đình có cả thảy năm đứa con với bảy con la sẽ mất toi một đồng tư nếu như cả người lẫn la cùng đi xem hát. Đúng thế đấy. Earl trở lại với hai gói hàng.

"Có mấy thứ này để gửi đi" hắn nói. "Già Job đâu rồi?"

"Chắc lại chuồn đi xem" tôi nói. "Không canh chừng lão là không xong".

"Lão không đi đâu" hắn nói. "Có thể tin lão được".

"Anh nói cạnh tôi đấy à?" tôi nói.

Hắn đi tới cửa nhìn ra ngoài, lắng tai nghe.

"Ban nhạc này chơi được đấy" hắn nói. "Chắc cũng đến giờ giải tán rồi, tôi đoán thế".

"Nếu như họ không ngủ đêm luôn tại đó" tôi nói. Chim chóc bắt đầu bay ra, và tôi nghe thấy đàn sẻ lách chách tụ tập trong tán cây bên sân toà án. Chốc chốc chúng lại bay vù lên lượn trên mái nhà, rồi bay đi. Theo tôi thì chúng cũng khó chịu chả khác gì bồ câu. Ngay cả ngồi ở sân toà án cũng không yên với chúng. Lập tức đánh bịch một cái. Đúng vào mũ mình. Giá thử có bỏ năm xu là bắn được một con thì phải triệu phú mới dám. Chỉ cần rải ít thuốc độc ra quảng trường thì sau một ngày là thoát nợ, còn như một gã lái ngựa mà không biết giữ ngựa khỏi chạy lung tung thì tốt nhất ngoài đuổi gà ra gã chỉ nên buôn một thứ gì không phải ăn, như máy cày hay hành tây. Và nếu người ta không cần đến chó giữ nhà thì bởi vì người ta không thích nuôi chó hoặc là người chả có gì để mà canh với giữ. Như tôi nói nếu tất cả các tay buôn thành phố lại làm ăn theo kiểu nhà quê thì đấy sẽ là một cái thành phố nhà quê.

"Nếu tan rạp bây giờ kể cũng bất tiện" tôi nói. "Người ta phải đóng ngựa và về nhà vào lúc nửa đêm".

"Ờ" hắn nói "họ lại thích thế. Thỉnh thoảng cũng phải để họ có chỗ giải trí và tiêu tiền một chút chứ. Nông dân vùng trung du làm thì cực mà kiếm chẳng được là bao".

"Ai bắt họ phải lên đồi làm ruộng" tôi nói "hay phải làm ở nơi này nơi nọ đâu".

"Nếu họ không ở đấy thì tôi với cậu ở đâu?" hắn nói.

"Thì bây giờ đã ở nhà" tôi nói "nằm dài mà chườm nước đá lên đầu rồi".

"Lúc nào cũng thấy cậu đau đầu" hắn nói. "Sao cậu không khám răng cho cẩn thận? cả buổi sáng cũng không khámxong à?"

"Ai khám?" tôi nói.

"Cậu bảo sáng nay cậu đến nha sĩ mà".

"Anh không cho tôi được phép nhức đầu trong giờ của anh chắc?" tôi nói. "Giải tán thật à?" Người ta đang băng qua hẻm từ phía rạp hát.

"Họ đến kia kìa" hắn nói "Để tôi ra đàng trước". Hắn đi ra. Thật kỳ cục chẳng biết mình bị làm sao mà một thằng cha thì cứ bảo mình đi khám răng còn một bà già thì cứ xui mình lấy vợ. Toàn những người chẳng làm nên trò trống gì lại cứ đi dạy khôn mình. Như cái bọn giáo sư đại học không có tiền mua một đôi tất lại dạy người ta cách vớ bạc triệu chỉ trong mười năm, và một mụ đàn bà không kiếm nổi tấm chồng lại dạy người ta cách cai quản gia đình.

Già Job đánh xe về. Một lúc sau lão mới quấn xong sợi dây vào cán roi.

"Thế nào" tôi nói "diễn hay chứ?"

"Tôi đã xem đâu" lão nói "Nhưng tối nay thế nào tôi cũng phải chui vào cái lều ấy mới được".

"Lão mà chui vào thì trời sập" tôi nói. "Lão đi từ lúc ba giờ. Ông Earl vừa đến đây tìm lão đấy".

"Tôi bận công việc" lão nói. "Ông Earl phải biết tôi ở đâu chứ"

"Lão cứ việc gạt ông ta" tôi nói. "Tôi không tố cáo lão đâu".

"Nếu thế thì chỉ có mỗi ông ấy là tôi phải gạt thôi" lão nói. "Tôi phí thì giờ đi gạt một người mà tôi chả cần biết có gặp tối thứ Bảy không làm gì? Tôi chả gạt ông đâu" lão nói. "Ông thì khôn quá rồi. Cả tỉnh này có ai khôn bằng ông. Ông còn gạt được một người khôn đến mức lừa được cả chính mình kia" lão nói, leo lên xe và tháo dây cương.

"Ai vậy?" tôi nói.

"Đó là ông Jason Compson" lão nói. "Đi nào, Dan!"

Một bánh xe gần như long khỏi trục. Tôi đứng xem lão có ra đến đường trước khi nó văng ra hay không. Cứ giao xe cộ cho bọn mọi đen là như thế đấy. Tôi nói lão già ba hoa này đúng là cái gai trong mắt, còn mình cứ việc đứng chờ trong nhà xe dễ đến cả trăm năm để thằng nhãi ấy mỗi tuần một lần rong xe đến nghĩa trang. Tôi nói nó đâu phải đứa đầu tiên phải làm những điều nó không muốn. Tôi sẽ bắt nó ngồi xe cho đàng hoàng không thì ở nhà. Nó làm sao biết được nó đang đi đâu hay nó đang cưỡi trên cái gì, còn chúng tôi thì phải sắm xe ngựa để nó đi dạo chiều Chủ Nhật.

Lão Job thì cần gì biết bánh xe có long ra hay không miễn sao không phải cuốc bộ một quãng xa là được. Như tôi nói chỗ cho chúng là ở ngoài đồng, nơi chúng phải còng lưng từ lúc tinh mơ đến tối mịt kia. Chúng đâu có đáng được hưởng sự sung túc hay công việc nhẹ nhàng. Hễ đứa nào sống quanh quẩn với người da trắng ít lâu là y rằng đổ đốn. Chúng sẽ bịp mình, trốn việc ngay trước mắt mình, như Roskus đã phạm cái lỗi lầm duy nhất của lão là một lần lão cẩu thả và bỏ mạng. Trốn việc, ăn cắp và ngày càng láo xược đến lúc người ta phải lấy chày nện vào đầu. Hừ, đó là việc của Earl. Nhưng tôi ghét chuyện của mình bị đem kháo khắp tỉnh từ miệng một thằng khọm đen đi không vững với một cái xe mà mỗi lần rẽ tưởng đâu sắp văng ra từng mảnh.

Bây giờ ánh nắng đã hắt ngược lên trời và trong nhà bắt đầu tối. Tôi ra cửa trước. Quảng trường vắng tanh. Earl ra phía sau khoá tủ sắt và chuông đồng hồ bắt đầu điểm.

"Cậu khoá giùm cửa sau" hắn nói. Tôi xuống khoá cửa rồi trở lại. "Tối nay cậu đi xem chứ?" hắn nói. "Hôm qua tôi đưa cậu hai vé rồi phải không?"

"Phải" tôi nói. "Anh muốn lấy lại hả?"

"Không, không" hắn nói "Tôi quên không biết đã đưa cho cậu chưa. Đừng bỏ phí".

Hắn khoá cửa và nói về nhé rồi đi. Đàn sẻ vẫn nhốn nháo trong tàn cây, nhưng quảng trường đã vắng ngắt chỉ còn vài chiếc xe. Trước hiệu thuốc có một chiếc Ford, nhưng tôi chẳng buồn nhìn. Tôi biết lúc nào là lúc tôi chán ngấy mọi sự.chẳng phải tôi ngại cứu vớt nó, nhưng tôi chán quá rồi. Tôi nghĩ mình có thể dạy thằng Luster lái xe, rồi ai muốn theo rình nó suốt ngày thì theo, còn mình sẽ nằm nhà chơi với thằng Ben.

Tôi bước vào mua hai điếu xì gà. Rồi tôi nghĩ có khi mình lại sắp lên cơn nhức đầu nữa cũng nên và tôi đứng lại nói chuyện với họ một lúc.

"Thế nào?" Mac nói. "Tôi đoán năm nay chắc cậu lại cá tụi Yankee".

"Cá cái gì?"

"Đoạt Pennant 1" hắn nói. "Không đội nào trong Liên đoàn địch nổi bọn ấy đâu".

"Chuyện tào lao" tôi nói. "Bọn ấy sụm rồi, có ai mà gặp may mãi được".

"Đâu phải chuyện gặp may" Mac nói.

"Tôi nhất định không cá trận nào có thằng cha Ruth chơi" tôi nói. "Dù trận đó chắc thắng mấy đi nữa".

"Sao vậy?" Mac nói.

"Trong liên đoàn có hàng tá cầu thủ chơi hay hơn hắn"

"Sao cậu kỵ thằng cha Ruth đến thế?"

"Kỵ gì đâu" tôi nói. "Tôi chẳng có chuyện gì với hắn, cái mặt hắn tôi cũng chẳng buồn nhìn nữa là". Tôi đi ra. Phố đã lên đèn và người ta vội vã về nhà. Đôi khi phải đến tối mịt bầy chim sẻ mới im tiếng. Vào cái đêm họ mắc dây đèn mới quanh sân toà án, chúng bị mất giấc ngủ, bay tán loạn và đâm đầu vào đèn suốt đêm. Cứ thế hai ba đêm liền, rồi một buổi sáng chúng kéo nhau đi sạch. Thế rồi khoảng hai tháng sau chúng lại về đông đủ.

Tôi lái xe về nhà. Đèn trong nhà chưa bật, nhưng chắc ai cũng ngóng ra ngoài cửa sổ, và Dilsey đang lầm bầm dưới bếp như thể bữa chiều mà bà phải ủ nóng chờ tôi là của bà không bằng. Nghe bà nói chắc người ta tưởng trên thế giới này chỉ có một bữa chiều duy nhất và đó là bữa mà bà phải dọn chậm vài phút vì tôi. Chà, ít ra cũng có một lần tôi được về nhà mà không phải thấy thằng Ben và thằng mọi kia đu lên cánh cổng như một con gấu với một con khỉ nhốt chung một chuồng. Hễ cứ chiều xuống là nó đâm đầu ra ngõ như con bò cái lần về chuồng, rồi đu lên cánh cổng gục gặc đầu và rền rĩ một mình. Đúng là cái nợ truyền kiếp. Giả sử tôi cũng như nó cũng đánh đu ở cánh cổng như thế thì tôi còn dám vác mặt nhìn ai nữa. Tôi thường tự hỏi không biết nó nghĩ gì khi đu ở cánh cổng nhìn bọn con gái đi học về, cố ao ước một cái gì mà nó không nhớ ra mà nó không muốn nữa mà có muốn cũng chẳng được nữa. Và nó nghĩ gì khi người ta cởi quần áo cho nó và rồi vô tình nhìn thấy chính mình nó oà lên khóc như thế. Nhưng như tôi nói người ta biết thế nào là đủ. Tôi nói tôi biết mẹ cần gì, mẹ muốn người ta làm gì với thằng Ben thì mẹ bảo. Và nếu mẹ không hiểu tôi nói gì, mẹ hỏi Dilsey khắc rõ.

Phòng mẹ có ánh đèn. Tôi cất xe rồi xuống bếp. Luster và Ben đang ở đó.

"Dilsey đâu rồi?" tôi nói. "Chưa dọn bữa à?"

"Mammy ở trên gác với cô Cahline" Luster nói. "Họ lại ầm ĩ ở trên ấy. Suốt từ lúc cô Quentin về đến giờ, mammy phải giữ cho họ đừng đánh nhau. Gánh hát chưa đến hả cậu Jason?"

"Rồi" tôi nói.

"Cháu nghe tiếng kèn" nó nói. "Ước gì được đi xem nhỉ" nói nói. "Có đồng kền là cháu đi ngay".

Dilsey bước vào. "Cậu về đấy à?" bà nói. "Cả buổi chiều cậu đi đâu? Cậu biết tôi bận thế nào chứ ? sao cậu không về đúng bữa?"

"Có lẽ tôi đi xem hát" tôi nói. "Sắp ăn chưa?"

"Ước gì mình được đi" Luster nói. "Có đồng kền là tha hồ".

"Mày không có xem hát xem hiếc gì hết" Dilsey nói. "Vào nhà rồi ngồi yên đấy" bà nói. "Đừng có lên gác để rồi người ta lại ầm ĩ nữa nghe chưa".

"Chuyện gì vậy?"

"Quentin về ban nãy bảo cậu đi theo dõi nó cả buổi chiều thế là cô Cahline la nó. Cậu không để mặc nó được à? Cậu cháu ruột ở cùng nhà mà cứ phải dằn vặt nhau thế à?"

"Tôi dằn vặt nó sao được?" tôi nói "từ sáng đến giờ tôi có thấy mặt mũi nó đâu? Nó định đổ vạ gì cho tôi nữa đây? tại tôi bắt nó đi học chắc? hết chịu nổi rồi" tôi nói.

"Cậu cứ lo việc của cậu còn để mặc nó" Dilsey nói "nếu cậu và cô Cahline cho phép thì cứ để nó cho tôi. Cậu lên trên kia đi và đừng gây chuyện gì cả để tôi dọn bữa chiều".

"Giá như tôi có một đồng kền" Luster nói "thì tôi đã đi xem hát".

"Và giá thử mày có cánh mày bay lên thiên đàng chắc". Dilsey nói "Tao không muốn nghe câu nào nhắc đến hát hỏng nữa đâu đấy".

"Mày nhắc tao mới nhớ" tôi nói "tao có hai cái vé người ta cho". Tôi lấy trong túi áo ra.

"Cậu có định đi không ?" Luster nói.

"Tao thì không" tôi nói "cho ta mười đô la tao cũng không thèm đi".

"Cậu Jason, cho cháu một cái đi" nó nói.

"Tao bán cho mày đấy" tôi nói. "Thế nào?"

"Cháu có tiền đâu" nó nói.

"Vậy khỏi" tôi nói. Tôi vờ bỏ đi.

"Cậu Jason, cho cháu một cái đi" nó nói. "Cậu cần gì tới hai cái".

"Câm miệng" Dilsey nói "mày không biết là cậu ấy chẳng cho không cái gì bao giờ à?"

"Cậu bán bao nhiêu?" nó nói.

"Năm xu" tôi nói

"Cháu làm gì có nhiều thế" nó nói.

"Mày có bao nhiêu?" tôi nói.

"Cháu chẳng có gì cả" nó nói.

"Thì thôi" tôi nói. Tôi bỏ đi.

"Cậu Jason" nó nói.

"Mày có câm ngay không?" Dilsey nói. "Cậu ấy trêu mày đấy. Cậu ấy cũng dùng đến chứ? Đi đi Jason, mặc kệ nó".

"Tao chẳng dùng đến" tôi nói. Tôi tới gần lò. "Tao vào đây để đốt nó đi. Mày có mua mỗi vé một xu không?" tôi nói, nhìn nó và mở nắp lò.

"Cháu không có tiền" nó nói.

"Thôi vậy", tôi nói. Tôi vứt một tấm vào lò.

"Cậu Jason" Dilsey nói. "Cậu không biết xấu hổ hả?"

"Cậu Jason" nó nói. "Cháu xin cậu. Cháu sẽ trông coi bánh xe hàng ngày cho cậu một tháng liền".

"Tao cần tiền mặt" tôi nói. "Mày cứ đưa đây một xu là có".

"Câm ngay Luster!" Dilsey nói. Bà kéo nó lại. "Đốt đi!" bà nói. "Ném vào lò kia đi! Đốt đi! Cho xong chuyện".

"Mày chỉ đưa một xu là có" tôi nói.

"Đốt đi!" Dilsey nói. "Nó không có xu nào đâu. Đốt đi! Ném vào lò đi!"

"Thôi vậy" tôi nói. Tôi ném vào lò và Dilsey sập nắp lò xuống.

"Lớn đầu như cậu" bà nói. "Ra khỏi bếp đi! Câm miệng!" bà bảo Luster. "Mày sắp làm Benjy khóc bây giờ. Tối nay tao sẽ xin Frony một đồng cho mày rồi tối mai mày đi xem. Giờ thì im ngay".

Tôi đi lên phòng khách. Tôi không nghe trên gác có động tĩnh gì cả. Tôi giở tờ báo. Một lát sau Ben và Luster vào. Ben đi đến chỗ tường bị vết ố nơi trước kia treo tấm gương, xoa xoa tay lên đó rồi khóc sướt mướt và rên rỉ. Luster bắt đầu cời lửa.

"Mày làm gì đấy?" tôi nói. "Tối nay đâu cần đốt lửa".

"Cháu dỗ cậu ấy nín" nó nói. "Phục sinh bao giờ cũng lạnh".

"Nhưng hôm nay đâu phải Phục sinh" tôi nói. "Kệ nó đấy!"

Nó cất thanh cời lò và lấy cái nệm ghế của mẹ cho Ben, rồi nó ngồi co ro trước cửa lò và nín thinh.

Tôi đọc báo. Trên gác vẫn không một tiếng động khi Dilsey vào đuổi Ben và Luster xuống bếp và bảo bữa chiều đã dọn.

"Được rồi" tôi nói. Bà đi ra. Tôi cứ ngồi đó đọc báo. Một lát sau tôi cảm thấy Dilsey đứng ở cửa nhìn vào.

"Sao cậu không xuống ăn?" bà nói.

"Tôi đợi dọn bàn" tôi nói.

"Dọn lên bàn rồi" bà nói. "Tôi đã bảo cậu rồi mà".

"Thế à?" tôi nói. "xin lỗi. Sao tôi không nghe thấy ai xuống cả?"

"Họ không xuống đâu" bà nói. "Cậu đi ăn đi, để tôi còn đem lên cho họ".

"Họ ốm à?" tôi nói. "Bác sĩ bảo sao? Hy vọng không phải lên đậu chứ?"

"Xuống ăn đi, Jason" bà nói. "Để tôi còn dọn dẹp".

"Được rồi" tôi nói, lại cầm tờ báo lên. "Tôi chờ".

Tôi cảm thấy bà đứng ở cửa nhìn tôi. Tôi vẫn đọc báo.

"Cậu định làm trò gì thế?" bà nói. "Cậu phải biết là tôi cũng đã đủ chuyện buồn bực rồi chứ?"

"Nếu mẹ ốm hơn mọi ngày không xuống ăn được thì thôi" tôi nói. "Nhưng chừng nào tôi còn phải nuôi các ông trẻ bà trẻ thì các ông trẻ bà trẻ ấy phải xuống bàn mà ăn chứ. Bao giờ dọn bàn xong hãy gọi tôi" tôi nói và lại đọc báo. Tôi nghe tiếng bà lên cầu thang, kéo lê chân và càu nhàu rên rỉ như thể cầu thang dựng đứng và mỗi bậc cách nhau cả thước vậy. Tôi nghe tiếng bà ở phòng mẹ, rồi bà gọi Quentin, có vẻ như cửa khoá, rồi bà trở xuống phòng mẹ và mẹ đi ra nói với Quentin. Rồi họ xuống cầu thang. Tôi vẫn đọc báo.

Dilsey trở lại cửa. "Đi ăn đi" bà nói "cậu lại sắp nghĩ ra những trò ma quỷ nữa bây giờ. Tối nay mấy người cứ tự hành hạ mình".

Tôi đi sang phòng ăn. Quentin ngồi đầu cúi gằm. Nó lại tô mặt vẽ mày nữa. Mũi nó bóng như cái ống sứ cách điện.

"Tôi mừng là mẹ vẫn đủ sức xuống phòng ăn" tôi nói với mẹ.

"Xuống nhà ăn cho con vui đâu có đáng kể gì" bà nói. "Dù mẹ có bệnh thế nào đi nữa, mẹ cũng hiểu rằng một người đã làm việc quần quật suốt ngày thích được ngồi ăn tối quây quần cả gia đình. Mẹ muốn làm vui lòng con. Mẹ chỉ ước gì con với Quentin hoà thuận hơn. Được thế mẹ sẽ yên tâm".

"Chúng tôi có chuyện gì với nhau đâu" tôi nói. "Nó có khoá cửa giam mình trong phòng cả ngày cũng không sao. Nhưng tới bữa ăn tôi không muốn thấy cái cảnh nhốn nháo sưng sỉa thế này. Tôi biết như vậy là đòi hỏi ở nó quá nhiều, nhưng sống trong nhà của tôi là phải như thế. Ý tôi muốn nói là nhà của mẹ".

"Nhà này của con" mẹ nói "giờ thì con là chủ nhà".

Quentin không ngẩng đầu lên. Tôi xúc thức ăn vào đĩa và nó bắt đầu ăn.

"Thịt ăn được không ?" tôi nói. "Nếu không tao lựa cho miếng khác ngon hơn".

Nó không nói gì cả.

"Tao hỏi thịt có được không?" tôi nói.

"Cái gì?" nó nói. "À, được rồi".

"Cần thêm không?" tôi nói.

"Không" nó nói.

"Để tao lấy cho ít nữa" tôi nói.

"Tôi đủ rồi" nó nói.

"Không có gì" tôi nói. "Cứ tự nhiên".

"Con đỡ đau đầu chưa?" mẹ nói.

"Đau đầu à?" tôi nói.

"À," tôi nói. "Không, về sau không đau nữa. Bận túi bụi cả buổi đến nỗi quên phắt chuyện đó".

"Có phải vì thế mà con về muộn không ?" mẹ nói. Tôi nhìn thấy Quentin đang lắng nghe. Tôi nhìn nó. Dao nĩa của nó vẫn hoạt động nhưng tôi bắt gặp nó liếc nhìn tôi, rồi lại cúi xuống đĩa. Tôi nói:

"Không. Tôi cho một thằng bạn mượn xe lúc ba giờ và phải đợi nó quay lại" tôi ngồi ăn một lúc.

"Ai thế?" mẹ nói.

--------------------------------

1

Pennant: cờ luân lưu trao cho hai đội bóng chày đứng đầu hai liên đoàn bóng chày (National và American) của Mỹ thời đó .

9

"Một đứa trong gánh hát" tôi nói. "Hình như anh rể nó đi với cô nào dưới phố, nó muốn dò theo".

Quentin ngồi im phăng phắc, chỉ cử động hàm.

"Con không nên cho những người như thế mượn xe" mẹ nói. "Con dễ dãi những chuyện ấy quá. Cũng vì thế bất đắc dĩ lắm mẹ mới nhờ đến xe con".

"Mới đầu tôi cũng nghĩ vậy" tôi nói. "Nhưng rồi nó quay lại, thôi cũng được. Nó nói nó đã tìm thấy cái nó cần".

"Cô nào thế?" mẹ nói.

"Tôi sẽ nói với mẹ sau" tôi nói. "Tôi không muốn kể những chuyện như vậy trước mặt Quentin".

Quentin đã bỏ ăn. Chốc chốc nó lại uống nước, rồi nó ngồi đó bóp vụn những mẩu bánh quy, mặt cúi gằm xuống đĩa.

"Phải" mẹ nói. "Mẹ nghĩ những người đàn bà sống ru rú trong nhà như mẹ làm sao biết được chuyện ngoài đường ngoài phố".

"Phải" tôi nói. "Làm sao mà biết được".

"Thời mẹ còn trẻ khác hẳn bây giờ" mẹ nói. "Ơn Chúa mẹ không biết đến những tội lỗi như thế. Mẹ cũng không muốn biết đến nữa. Mẹ không như phần đông người ta".

Tôi không nói gì thêm. Quentin vẫn ngồi đó bẻ vụn bánh quy đến khi tôi ăn xong, nó mới nói:

"Tôi đi được chưa?", cũng không nhìn ại

"Cái gì?" tôi nói. "Hẳn rồi. Mày cứ đi. Mày hầu chúng tao hay sao?"

Nó nhìn tôi. Nó đã bóp vụn chiếc bánh quy, nhưng tay nó vẫn đang bẻ và mắt nó như lác xệch sang một bên, nó bắt đầu cắn môi như thể bị đầu độc vì lớp son đỏ chót ấy.

"Bà" nó nói. "Bà".

"Mày muốn ăn thêm chút gì hả?" tôi nói.

"Sao cậu ấy lại tàn tệ với con như thế hở bà?" nó nói. "Con có bao giờ làm gì cậu ấy đâu".

"Mẹ chỉ muốn các con hoà thuận với nhau" mẹ nói, "Các con là tất cả những gì còn lại, và mẹ thực lòng chỉ muốn các con hoà thuận hơn".

"Lỗi tại cậu ấy" nó nói "Cậu ấy không để con yên mà con thì chỉ cần thế. Nếu cậu ấy không muốn con ở đây nữa, sao cậu ấy không để con về với.."

"Đủ rồi" tôi nói. "Đừng thêm một lời nào nữa".

"Vậy sao cậu ấy không để con yên?" nó nói. "Cậu ấy, cậu ấy chỉ"

"Cậu ấy gần như là cha của cháu" mẹ nói. Cả bà và cháu đang ăn miếgn bánh của cậu ấy. Cậu ấy có quyền được thấy cháu vâng lời."

"Lỗi tại cậu ấy" nó nói. Nó đứng phắt lên. "Cậu ấy khiến con làm thế. Nếu cậu ấy chỉ" nó nhìn tôi, mắt lác xệch, hai tay run bần bật bên sườn.

"Nếu tao chỉ làm sao?" tôi nói.

"Tôi làm cái gì cũng là lỗi tại cậu" nó nói. "Tôi hư, đó là vì tôi phải hư. Cậu làm tôi hư. Tôi chỉ muốn chết cho xong. Tôi ước gì tất cả chết hết đi". Rồi nó bỏ chạy. Tôi nghe tiếng nó chạy lên gác. Rồi tiếng cửa đóng sầm lại.

"Đến bây giờ nó mới nói một câu nghe được" tôi nói.

"Hôm nay nó không đi học" mẹ nói.

"Sao mẹ biết?" tôi nói. "Mẹ xuống phố à?"

"Mẹ biết" bà nói. "Mẹ muốn con đối xử với nó nhẹ nhàng hơn".

"Nếu thế thì tôi phải có dịp thấy mặt nó hơn một lần mỗi ngày", tôi nói. "Mẹ phải làm sao để tới bữa ăn là nó ngồi vào bàn. Mỗi lần như thế tôi sẽ cho nó thêm một miếng thịt"

"Có những cái vặt vãnh con có thể bỏ qua được" bà nói.

"Chẳng hạn như không buồn để ý khi mẹ bảo tôi xem nó có đi học hay không chứ gì?" tôi nói.

"Hôm nay nó không đi học" bà nói. "Mẹ chỉ biết là nó không đi học. Nó nói chiều nay nó đi xe hơi chơi với một đứa bạn và con đi theo rình nó".

"Làm sao rình nó được" tôi nói, "trong khi người ta mượn xe tôi cả buổi chiều. Chuyện hôm nay nó có đến trường hay không đã qua rồi" tôi nói. "Nếu mẹ lo thì hãy lo thứ Hai tới đây này".

"Mẹ muốn con và nó hoà thuận hơn" bà nói. "Nhưng nó thừa hưởng cái tính bướng bỉnh di truyền ấy. Quentin cũng vậy. Lúc đó mẹ nghĩ nó đã thừa hưởng cái bản tính ấy thì mẹ đặt tên cho nó như thế. Đôi khi mẹ nghĩ nó là bản án mà Caddy và Quentin dành cho mẹ".

"Trời ơi" tôi nói. "Mẹ nghĩ hay thật đấy. Thảo nào mà đau ốm suốt đời".

"Cái gì?" bà nói. "Mẹ không hiểu".

Tôi lại mong như vậy" tôi nói. "một người đàn bà tử tế mà phải chịu đựng nhìều mất mát thì không nên biết những cái đó làm gì".

"Cả hai đứa đều thế" bà nói. "Khi mẹ định dạy dỗ chúng nó thì chúng nó làm áp lực với bố con để chống lại mẹ. Lúc nào bố con cũng nói không cần kiểm soát chúng nó, rằng chúng nó đã biết thế nào là trong sạch và ngay thẳng, và người ta chỉ cần học có thế. Giờ đây chắc bố con đã thoả lòng".

"Mẹ còn có thằng Ben để trông cậy" tôi nói. "Mẹ vui lên đi".

"Người ta cố tình ngăn mẹ dạy dỗ chúng nó" bà nói. Lúc nào cũng là nó với thằng Quentin. Tất cả lo lắng vào hùa chống lại mẹ. Chống lại cả con nữa. Dù con còn bé có hiểu gì đâu. Người ta luôn coi mẹ và con như người ngoài, như với cậu Maury vậy. Mẹ vẫn bảo với bố con rằng chúng nó được tự do quá nhiều, chúng nó gần gũi nhau quá nhiều. Khi Quentin bắt đầu đi học là năm sau cũng phải cho nó đi, để hai đứa có nhau. Thấy con làm gì mà nó không làm được là nó không chịu nổi. Nó đầy kiêu căng và tự ái hão huyền. Và khi nó bắt đầu gây chuyện mẹ biết ngay thằng Quentin cũng cảm thấy phải làm một trò gì đó tương tự. Nhưng mẹ không ngờ rằng nó lại ích kỷ đến mức…Mẹ không ngờ nó…."

"Có lẽ anh ấy biết trước sẽ là con gái" tôi nói. "Thêm một đứa như thế nữa làm sao anh ấy chịu nổi".

"Nó có thể bảo được em nó" bà nói. "nó hầu như là người duy nhất mà con bé còn biết nghe lời. Nhưng mẹ nghĩ âu cũng là cái nghiệp báo".

Phải" tôi nói. "Khổ một nỗi rằng đó là anh ấy chứ không phải tôi. Không thì mẹ đã khá hơn nhiều".

"Con nói thế làm mẹ đau lòng" bà nói. "Mẹ cũng đáng phải chịu lắm. Khi bắt đầu bán đất cho thằng Quentin đi Harvard mẹ đã bảo bố con phải dành một phần như thế cho con. Rồi khi Herbert đề nghị đưa con vào làm ở ngân hàng mẹ bảo, giờ thì Jason có nơi có chốn rồi, đến khi nợ nần chồng chất mẹ phải bán đồ đạc và cả phần đất còn lại mẹ viết thư cho nó ngay bởi vì mẹ đã nói là nó sẽ hiểu ra rằng nó và thằng Quentin đã hưởng phần mình và cả phần của thằng Jason nữa và tùy nó nghĩ sao cho phải mà đền bù cho em nó. Mẹ nghĩ chắc là nó sẽ nghe lời vì nó biết điều. Lúc ấy mẹ tin như thế. Nhưng mẹ chỉ là một bà già khốn khổ, mẹ được dạy dỗ để tin rằng người ta ai cũng sẵn sàng quên mình vì máu mủ ruột thịt của mình. Đó là lỗi tại mẹ. Con trách mẹ cũng phải".

"mẹ tưởng là tôi cần phải ai giúp mới sống nổi hay sao?" tôi nói. "Đừng nói gì một người đàn bà không biết con mình đẻ ra là giọt máu của ai".

"Jason" mẹ nói.

"Thôi được" tôi nói. "Tôi không có ý nói thế. Dĩ nhiên không".

"Mẹ đã đau khổ lắm rồi, nếu mẹ còn tin chuyện ấy là thật nữa thì…"

"Dĩ nhiên không" tôi nói. "Tôi không có ý nói thế".

"Mẹ hy vọng ít ra là mẹ cũng không phải chịu nỗi đau ấy" bà nói.

"Hẳn thế rồi", tôi nói "nó giống cả hai người quá làm sao không ngờ cho được".

"Mẹ không thể chịu đựng được chuyện đó" bà nói.

"Vậy thì đừng nghĩ đến nữa" tôi nói. "Nó còn bắt mẹ lo lắng về chuyện nó đi chơi đêm nữa không?"

"Không. Mẹ nói cho nó hiểu rằng chẳng qua cũng là vì nó và một ngày nào đó nó sẽ cảm ơn mẹ. Nó đem sách theo và ngồi học khi mẹ khoá cửa. Có đêm mẹ thấy nó để đèn đến mười một giờ".

"Làm sao mẹ biết nó có học hay không?" tôi nói.

"Mẹ đâu biết, ngồi trong ấy một mình nó còn làm gì khác" bà nói. "Nó có bao giờ đọc sách gì khác đâu".

"Không đâu" tôi nói. "Mẹ không biết đâu. Thế là mẹ may mắn đấy", tôi nói. Có điều nói ra thì lợi lộc gì. Chỉ khiến bà lại sụt sùi kể lể thôi.

Tôi nghe tiếng bà lên gác. Rồi bà gọi Quentin và Quentin nói gì hả bà qua khe cửa. "Ngủ ngon nghe cháu" mẹ nói. Rồi tôi nghe tiếng chìa khoá xoay trong ổ, và mẹ đi về phòng.

Khi tôi hút xong điếu xì gà và đi lên gác, đèn vẫn còn sáng. Tôi thấy lỗ khoá trống, nhưng tôi không nghe động tĩnh gì. Nó học lặng lẽ. Có lẽ nó học được điều ấy ở trường. Tôi chúc mẹ ngủ ngon rồi về phòng mình và lấy cái hộp ra đếm lại tiền. Tôi nghe thấy gã Người Mỹ Lại Cái Vĩ Đại ngáy như một xưởng xẻ gỗ. Tôi có đọc ở đâu đó rằng người ta thiến đàn ông để họ có giọng đàn bà. Nhưng có lẽ nó cũng không biết người ta làm gì nó. Tôi nghĩ nó không biết ngay cả điều mà nó cố làm hay tại sao ông Burgess lại vác cọc rào nện nó bất tỉnh. Và nếu người ta cho nó hít thuốc mê rồi chở đi Jackson nó cũng chẳng thấy có gì khác. Nhưng một người họ Compson mà chỉ nghĩ được có thế thì quá tầm thường, phải phức tạp gấp đôi thế may ra mới đủ. Phải đến khi nó vượt hàng rào đuổi theo một con bé ngoài phố mà bố con bé lại trông thấy và nện nó. Hừm, như tôi đã nói, họ không bao giờ tiến hành thiến ngay đâu, và họ cũng kết thúc nhanh quá. Tôi biết có ít nhất hai đứa nữa cũng cần cái gì đại loại như thế, và một đứa chỉ ở cách đây chưa tới một dặm. Nhưng rồi tôi nghĩ ngay cả làm thế cũng không ích gì. Tôi đã bảo mà cái thứ điếm đàng ấy thì vô phương. Cứ cho tôi hai mươi bốn giờ đồng hồ gk có những tên Do Thái New York khốn kiếp xui khôn xui dại tôi thế này thế kia. Tôi chẳng muốn giết chóc, để chuyện đó cho bọn cờ bạc bịp. Tôi chỉ cần có một cơ hội công bằng để lấy lại tiền của tôi. Và khi lấy lại được tiền rồi thì dù họ có muốn đem cả cái nhà thổ phố Beale hay bệnh viện tâm thần về đây dù hai đứa chúng nó chiếm giường tôi mà ngủ còn một đứa khác chiếm ghế tôi mà ngồi ăn tôi cũng mặc xác.

10

MÙNG TÁM THÁNG TƯ, 1928

Ngày mới rạng, lạnh lẽo và ảm đạm, một bức tường ánh sáng xám di động từ phía đông bắc, thay vì tan thành hơi ấm dường như lại rã ra thành những phân tử li ti và độc như một đám bụi, và khi Dilsey mở cửa lều chui ra, chúng chích vào da thịt bà, không đọng lại thành hơi ấm mà thành một chất từa tựa dầu loãng chưa đông hẳn. Bà đội một chiếc mũ rơm cứng quèo trên vành khăn quấn đầu, và khoác thêm ngoài chiếc áo dài lụa màu tía một chiếc áo choàng nhung màu hạt dẻ viền một thứ lông thú xơ xác không thể xác định được, bà đứng ở cửa một lúc ngước bộ mặt nhăn nhúm hốc hác lên hứng sương gió, bàn tay gầy guộc nhợt nhạt như bụng cá, rồi bà phanh áo choàng ra, ngắm nghía ngực áo dài.

Chiếc áo rủ xuống buồn thảm từ vai đến bộ ngực chảy nhẽo, bó lại phía trên bụng, rồi lại rủ xuống trên những váy lót mà bà sẽ cởi bỏ từng lớp khi xuân tới hẳn với sắc màu vương giả và suy tàn. Trước kia bà là một phụ nữ to lớn, nhưng giờ đây khung xương đã nhô lên dưới lớp da bùng nhùng, tuy nhiên, lớp da này một lần nữa thít lại trên cái bụng gần như phù thũng, như thể cơ và mô một thời từng là can đảm và chịu đựng ngoan cường đã bị năm tháng gặm mòn cho đến khi chỉ còn bộ xương bất khuất trồi lên như một tàn tích hay một cột mốc dựng trên can trường và đờ đẫn, và trên nữa là khuôn mặt sụp xuống khiến người ta có cảm tưởng như xương ở ngoài da, gương mặt ngước lên đón một ngày cuồn cuộn với vẻ vừa an phận vừa như một đứa trẻ thất vọng ngỡ ngàng, rồi bà quay vào lều và đóng cửa.

Khoảnh đất ngay trước cửa trơ trụi. Nó nhẵn bóng, như thể đã được mài bằng gót chân trần của bao thế hệ, như đồng bạc cũ hay bức tường nhà đất trát bằng tay của người Mexico. Cạnh nhà là ba cây dâu, toả bóng vào mùa hè, những chiếc lá đã xanh mướt xoè ra êm ả như những bàn tay mềm mại lật trở theo từng luồng không khí. Một đôi chim giẻ không biết từ đâu đến, lượn vòng trong gió như hai mảnh vải hay giấy sặc sỡ rồi đậu xuống những cây dâu, nơi chúng chuyền qua chuyền lại và đâu khẩu bằng giọng khàn khàn rồi đứng yên, kêu rít lên, gió xé tiếng kêu khàn khàn của chúng thành từng mảnh như vải hay giấy. Rồi có ba con nữa nhập đàn, chúng cùng nhau bay nhảy và cãi cọ trong đám lá cành xoắn xuýt , cùng kêu rít chói tai. Cửa lều mở và Dilsey chui ra lần nữa. Lần này bà đội một cái mũ nỉ của đàn ông và mặc một chiếc áo lính, bên dưới là cái váy vải bông kẻ xanh lồng phồng, lụng thụng quanh bà khi bà đi qua sân và leo lên những bậc thềm tới cửa bếp.

Một lúc sau bà trở ra, tay cầm chiếc dù đã mở nghiêng nghiêng chắn gió, bà đi tới cạnh đống củi và đặt chiếc dù vẫn mở xuống. Rồi ngay lập tức bà chụp lấy dù, đứng yên một lát, nhìn xung quanh. Rồi bà khép dù đặt xuống và xếp củi lên tay, ghì vào ngực và lại nhặt dù lên, cuối cùng bà cũng mở được nó và trở lại bậc thềm, bà vừa giữ ôm củi chênh vênh vừa cố khép dù và để vào góc nhà cạnh cửa. Bà vứt củi vào cái thùng sau lò. Rồi bà bỏ áo khoác và mũ ra, lấy chiếc tạp dề bẩn trên tường xuống mặc vào và nhóm lò. Trong lúc bà làm việc đó, vỉ lò và nắp lò lách cách loảng xoảng thì bà Compson gọi trên đầu cầu thang.

Bà mặc một áo xa tanh kép đen, giữ cổ áo sát lên tận cằm. Tay vương bà cầm một bình nước nóng bằng cao su màu đỏ và bà đứng ở đầu cầu thang sau, gọi "Dilsey", tiếng gọi cách quãng đều đặn và đơn điệu vọng vào lòng cầu thang im ắng đi xuống bóng tối hoàn toàn và lại trổ ra ở một khung cửa sổ xám. "Dilsey" bà gọi bằng giọng không âm điệu, không nhấn câu cũng không vội vã, như thể bà không hề chờ tiếng trả lời. "Dilsey".

Dilsey đáp và ngưng lách cách nắp lò, nhưng bà chưa kịp ra khỏi bếp thì bà Compson lại gọi, và trước khi bà đi qua hết phòng ăn rồi tựa đầu vào cánh cửa sổ xám nghỉ lấy hơi, lại một tiếng gọi nữa.

"Được rồi" Dilsey nói. "Được rồi, tôi đây. Có nước nóng là tôi sẽ đổ đầy bình ngay". Bà vén váy và leo lên cầu thang, che khuất cả luồng ánh sáng xám. "Cô đặt bình xuống đó và về giường đi".

"Tôi không hiểu có chuyện gì" bà Compson nói. "Tôi nằm thao thức ít ra cũng cả tiếng đồng hồ mà không nghe động tĩnh gì dưới bếp".

"Cô cứ đặt bình xuống đó và đi nằm ngay đi" Dilsey nói. Bà khổ sở leo lên cầu thang, ì ạch và hổn hển. "Một lát nữa là có lửa, thêm một lát nữa là có nước nóng".

"Tôi nằm đây cũng cả tiếng đồng hồ rồi" bà Compson nói. "Tôi tưởng chị đợi tôi xuống nhóm lửa chứ".

Dilsey lên tới đầu cầu thang và lấy bình nước. "Tôi sẽ đổ đầy bình ngay" bà nói. "Sáng nay thằng Luster dậy muộn vì hôm qua nó đi xem hát tới nửa đêm. Tôi phải nhóm bếp. Đi vào đi, không cô lại sắp đánh thức cả nhà dậy bây giờ, để tôi sửa soạn nào".

"Chị để thằng Luster bê trễ công việc thì chị phải chịu" bà Compson nói. "Jason mà nghe thấy chuyện này là lại bực mình. Chị biết thế chứ?"

"Nó đi xem có mất xu nào của cậu Jason đâu" Dilsey nói. "Mấy khi có buổi diễn". Bà đi xuống cầu thang. Bà Compson về phòng. Nằm vào giường rồi bà vẫn nghe tiếng Dilsey xuống cầu thang từng bước chậm chạp khổ sở, ghê gớm khiến người ta phát điên lên được nếu như nó không chấm dứt sau tiếng ken két nhỏ dần của cánh cửa phòng ăn.

Bà vào bếp cời lửa cháy và chuẩn bị bữa sáng. Nửa chừng bà ngừng tay tới cửa sổ nhìn về phía lều của mình, rồi bà đi mở cửa và gọi to vào khoảng không đầy gió và lạnh lẽo.

"Luster!" bà gọi to rồi đứng nghe ngóng, nghiêng mặt tránh gió. "Luster, mày đấy hả?" bà lắng nghe rồi khi bà sắp gọi nữa thì Luster xuất hiện từ đầu nhà bếp.

"Mammy gọi gì con?" nó nói một cách vô tội, đến nỗi Dilsey đứng lặng nhìn nó một lúc, với vẻ mặt không phải chỉ là ngạc nhiên.

"Mày ở đâu?" bà nói.

"Chả ở đâu cả" nói nói. "ngay dưới hầm rượu đây này".

"Mày làm gì ở dưới đó?" bà nói. "Đừng có đứng như thế, đồ ngốc", bà nói.

"Chả làm gì cả" nói nói. Nó leo lên bậc thềm.

"mày vào mà không ôm theo được một ít củi à?" bà nói. "Xem tao đã phải lấy củi và nhóm bếp cho mày rồi đây này. Tao đã bảo là tối qua mày đừng có đi đâu trước khi thùng củi đầy đến miệng cơ mà".

"Con lấy rồi" nó nói. "con đã lấy đầy rồi mà".

"Thế củi đi đâu?"

"Con không biết. Con đâu có đụng vào".

"Bây giờ xếp cho đầy thùng đi" bà nói. "Rồi lên gác xem Benjy thế nào".

Bà đóng cửa lại. Luster đi lại đống củi. Năm con chim giẻ lượn trên nóc nhà, kêu khàn khàn the thé, rồi bay vào đám lá dâu. Nó đứng ngắm chim. Nó nhặt một hòn đá và ném chúng. "Xuỳ" nó nói. "Bay đi đâu thì đi đi, đồ quỷ. Đã đến thứ hai đâu!" 1

Nó ôm một đống củi có ngọn. Nó không nhìn thấy đường, loạng choạng leo lên thềm và vấp chân làm củi rơi lỏng chỏng. Rồi Dilsey ra mở cửa cho nó và nó loạng choạng đi qua bếp. "Luster!" bà kêu lên, nhưng nó đã ném củi vào thùng đánh rầm một cái. "Ái chà!" nó nói.

"Mày định đánh thức cả nhà dậy hay sao đấy?" Dilsey nói. Bà bợp vào gáy nó. "Lên gác mặc quần áo cho Benjy ngay đi".

"Vâng ạ" nói nói. Nó ra cửa sau.

"Mày đi đâu đấy?" Dilsey nói.

"Con tưởng phải đi vòng ra cửa trước mà vào, để khỏi đánh thức cô Cahline với mọi người".

"Mày đi thẳng lên gác như tao bảo và mặc quần áo cho Benjy" Dilsey nói. "Nào đi đi".

"Vâng ạ" Luster nói. Nó quay lại và đi qua phòng ăn. Một lúc sau cánh cửa ngưng kèn kẹt. Dilsey chuẩn bị làm bánh quy. Trong khi bà lắc đều chiếc rây bột trên khuôn bánh, bà hát, lúc đầu nho nhỏ trong cổ họng, một giai điệu mơ hồ và không rõ lời, lặp đi lặp lại, than vãn, phiền muộn và đơn điệu trong khi bà vẫn rải đều một lớp bột mỏng trắng muốt lên khuôn bánh. Bếp lò đã bắt đầu suởi nóng căn phòng, tiếng củi cháy xèo xèo, và bà cất giọng cao hơn, như thể giọng bà tan ra nhờ hơi ấm, và rồi trong nhà vọng ra tiếng bà Compson gọi. Dilsey ngẩng đầu lên tưởng như mắt bà có thể nhìn xuyên qua tường và trần nhà và thấy bà già trong chiếc áo kép đứng ở đầu cầu thang gọi tên bà đều đều như máy.

"Trời ơi" Dilsey nói. Bà để chiếc rây xuống kéo vạt tạp dề để lau tay và cầm cái bình trên ghế rồi lại lấy vạt tạp dề để lót quai chiếc ấm đang phun phì phì. "Chút nữa thôi" bà nói với lên. Nước sắp sôi rồi".

Tuy nhiên, bà Compson đâu cần bình nước, bà nắm cổ bình như nắm một con gà chết, Dilsey đến chân cầu thang ngước mắt nhìn.

"Luster đã lên với cậu ấy chưa?" bà nói.

"Luster chưa vào nhà. Tôi nằm nghe ngóng nó từ nãy. Tôi biết nó sẽ dậy trễ nhưng tôi mong Luster tới kịp để giữ cho Benjamin đừng làm mất giấc ngủ của Jason vào ngày duy nhất trong tuần Jason được ngủ muộn".

"Tôi không hiểu làm sao có ai ngủ yên được khi vừa tảng sáng cô đã đứng giữa nhà la lối mọi người như thế". Dilsey nói. Bà bắt đầu lên thang, nặng nề ì ạch. "Tôi đã bảo thằng ranh ấy lên đây cả nửa tiếng đồng hồ rồi mà".

Bà Compson đứng nhìn theo Dilsey, kéo áo lên kín cổ. "Chị định làm gì?" bà hỏi.

"Mặc áo quần cho Benjy rồi đem cậu ấy xuống nhà để khỏi làm mất giấc ngủ của Jason với Quentin" Dilsey nói.

"Chị làm bữa sáng chưa?"

"Tôi sẽ làm" Dilsey nói. "Cô nên về phòng nằm đi rồi Luster sẽ đốt lò sưởi cho cô. Sáng nay trời lạnh quá".

"Tôi biết" bà Compson nói. "Chân tôi cóng như nước đá. Lạnh quá tôi không ngủ được" bà đứng nhìn Dilsey leo cầu thang. Mất một lúc lâu, bà mới lên hết cầu thang. "Chị biết bữa sáng mà muộn Jason sẽ bực thế nào rồi đấy".

"Tôi đâu có ba đầu sáu tay" Dilsey nói. "Cô về nằm nghỉ đi. Sáng nay tôi lại bận cả cho cô nữa".

Nếu chị vứt hết mọi việc dưới đấy để lên mặc quần áo cho Benjamin, chắc tôi phải xuống làm bữa sáng. Chị cũng biết như tôi là Jason sẽ rầy rà thế nào nếu ăn sáng muộn mà".

"Cô làm thì ai mà nuốt nổi?" Dilsey nói. "Cô nói xem nào. Về phòng đi" bà nói, ì ạch leo lên. Bà Compson đứng nhìn bà lên từng bước, một tay vịn tường còn tay kia giữ váy.

"Chị định đánh thức nó để mặc quần áo cho nó à?" bà hỏi.

Dilsey dừng lại. Một chân còn đặt lên bậc thang trên, tay vịn tường, sau lưng là khung cửa sổ màu xám, bà đứng đó nhìn lên.

"Cậu ấy chưa dậy à?" bà nói.

"Lúc tôi ngó vào thì nó chưa dậy" bà Compson nói. "Nhưng quá giờ nó dậy rồi. Nó không bao giờ ngủ quá bảy giờ rưỡi, chị biết chứ".

Dilsey lặng thinh. Bà không hề nhúc nhích nhưng mặc dù chỉ thấy lờ mờ một hìn hthù gần như tròn và dẹt, bà Compson cũng biết rằng Dilsey đã hơi cúi mặt xuống và đứng sững ở đó như con bò cái dưới trời mưa, tay cầm cổ cái bình không.

"Chị đâu phải là người duy nhất chịu đựng" bà Compson nói. "Đâu phải bổn phận của chị. Chị đi đi. Chị việc gì phải còng lưng gánh vác hết ngày này sang ngày khác. Chị đâu có nợ nần gì chúng nó, nợ nần gì vong linh ông Compson. Tôi biết chị đâu có thương thằng Jason. Chị cũng chẳng giấu điều ấy bao giờ".

Dilsey vẫn lặng thinh. Bà chậm chạp quay người và đi xuống, đặt chân xuống từng bậc một như một đứa bé, tay bám vào tường. "Co cứ đi đi, để mặc cậu ấy ngủ" bà nói. "Đừng vào đấy nữa, tôi thấy Luster bảo nó sẽ lên ngay. Bây giờ cứ để mặc cậu ấy".

Bà trở lại bếp. Bà nhìn vào lò, rồi bà cởi tạp dề qua đầu và khoác chiếc áo lính vào và mở cửa sau nhìn quanh sân. Gió lạnh tạt vào da thịt bà, rát và thấm thía, nhưng bốn bề vắng tanh không một bóng người hay vật. Bà bước xuống thềm, rón rén, như cố giữ không một tiếng động, và đi vòng qua góc bếp. Vừa lúc ấy Luster chui nhanh ra từ cửa hầmrz với vẻ vô tội.

Dilsey đứng lại. "Mày lại giở trò gì đấy?" bà nói.

"Có gì đâu" nó nói. "Cậu Jason bảo con vào hầm rượu xem nước ở đâu chảy ra".

"Cậu ấy bảo mày từ hồi nào?" Dilsey nói. "Tết năm ngoái chắc?"

"Con định vào xem trong lúc họ ngủ" Luster nói. Dilsey đi đến cửa hầm rượu. Nó né sang một bên và bà liếc vào cái tối tăm nồng nàn mùi đất ẩm, mùi mốc và mùi cao su.

"Hừm" bà nói. Bà lại nhìn Luster. Nó nhìn lại bà với vẻ ngoan ngoãn ngây thơ và vô tội. "Tao không biết mày định giở trò gì, nhưng mày không có việc gì ở đây cả. Sáng nay người ta gây chuyện với tao nên mày cũng gây chuyện với tao phải không? Mày lên nhà trông Benjy nghe chưa?"

"Vâng ạ" Luster nói. Nó nhanh nhẹn đi về phía cửa bếp.

"Này" Dilsey nói. "Nhân tiện mày còn ở đây thì lấy thêm cho tao ít củi".

"Vâng ạ" nó nói. Nó đi ngang qua bà đến đống củi. Một lúc sau, ôm lù lù một đống củi che khuất cả mặt, nó không thấy đường và lại va vào cửa, Dilsey ra mở cửa và giữ chặt nó dẫn qua bếp.

"Mày ném bừa vào thùng xem nào" bà nói. "Cứ ném thử xem".

"Thì phải vậy" Luster nói, thở hổn hển. "chứ còn làm thế nào được nữa".

"Cứ đứng im một lát đã" Dilsey nói. Bà nhấc xuống từng thanh củi một. "Hôm nay mày mắc chứng gì thế hả? Những lần trước tao sai mày lấy củi mày có bao giờ lấy quá sáu thanh, vi sợ nhọc cái thân xác mày. Tao không biết rồi mày làm trò gì. Cái gánh hát ấy đã đi chưa?"

"Dạ đi rồi".

Bà vứt thanh củi cuối cùng vào thùng. "Bây giờ lên gác trông Benjy như tao đã bảo" bà nói. "Và tao không muốn ai đứng trên nhà mà hét vào mặt tao cho đến khi tao rung chuông. Mày nghe rồi chứ?"

"Vâng ạ" nó biến mất sau cánh cửa xoay. Dilsey bỏ thêm củi vào lò và quay lại bàn làm bánh. Bà lại cất tiếng hát.

Căn phòng ấm dần lên. Chẳng mấy chốc nhìn da Dilsey có vẻ bong bẩy MỠ màng hơn, chả bù lúc nãy trông bà và Luster sạm như tro, và bà đi lại trong bếp, sắp xếp quanh mình đủ thứ để làm bữa sáng. Trên tường phía trên chạn là một chiếc đồng hồ quả lắc kêu tích tắc, hầu như vô hình, trừ ban đêm khi có ánh đèn đường, và ngay cả lúc ấy trông nó vẫn có vẻ huyền bí vì chỉ có độc nhất một cây kim, rồi với tiếng rền rền mở đầu như thể hắng giọng, nó gõ năm tiếng.

"Tám giờ" Dilsey nói. Bà ngừng tay ngẩng đầu lên nghe ngóng. Nhưng không có âm thanh nào khác ngoài tiếng đồng hồ và tiếng lửa. Bà mở lò nhìn vào chảo bánh, rồi cúi xuống nghe tiếng chân ai đó xuống cầu thang. Bà nghe tiếng họ đi qua phòng ăn, rồi cánh cửa xoay bật ra và Luster đi vào, theo sau là một anh chàng cao lớn trông như nặn bằng một thứ vật chất không chịu dính kết vào nhau hoặc dính vào cái khung xương đỡ nó. Da dẻ hắn nhợt nhạt như da người chết và không có lông, trông như bị phù thũng, hắn đi lết chân như con gấu trong rạp xiếc. Tóc hắn nhợt màu và mịn màng. Mớ tóc trước trán chảy mượt xuống chân mày như tóc trẻ con trong các tấm hình chụp. Đôi mắt trong trẻo, màu xanh nhạt dịu dàng của hoa ngô, miệng dày há hốc, hơi chảy dãi.

"Cậu ấy có lạnh không?" Dilsey nói. Bà lau tay vào tạp dề và sờ tay hắn.

"Nếu cậu ấy không lạnh thì là con lạnh" Luster nói "Hễ Phục sinh là lạnh. Chả bao giờ sai. Cô Cahline bảo nếu mammy không có thì giờ đun nước nóng thì thôi không sao".

"Trời ơi" Dilsey nói. Bà kéo một chiếc ghế vào khoảng giữa lò sưởi và thùng củi. Hắn ngoan ngoãn lại đó ngồi. "Vào phòng ăn xem tao để cái bình đâu đó" Dilsey nói. Luster lấy cái bình bên phòng ăn và Dilsey đổ đầy nước rồi đưa cho nó "Đi nhanh lên" bà nói. "Xem cậu Jason dậy chưa. Bảo họ là xong cả rồi".

Luster chạy đi. Ben ngồi cạnh bếp lò. Hắn ngồi sõng sượt, hoàn toàn bất động chỉ trừ cái đầu lắc lư liên tục trong khi hắn vẫn nhìn Dilsey qua lại với ánh mắt lơ đãng dịu dàng. Luster trở lại.

"Cậu ấy dậy rồi" nó nói. "Cô Cahline bảo là để lên bàn". Nó đến bên cạnh lò xoè tay trên nắp lò. "Cậu ấy cũng dậy rồi" nó nói. "Sáng nay cậu ấy có vẻ cáu kỉnh lắm".

"Lại chuyện gì nữa?" Dilsey nói. "Lui ra chỗ khác. Mày đứng chắn trước lò tao còn làm ăn gì được?"

"Con lạnh" Luster nói.

"Sao lúc xuống hầm rượu mày không kêu" Dilsey nói. "Cậu Jason làm sao?"

"Bảo con với Benjy nậy cánh cửa sổ phòng cậu ấy".

"Cửa bị nậy à?" Dilsey nói.

"Cậu ấy bảo thế" Luster nói. "Bảo là con nậy".

"Làm sao mà mày nậy được? cậu khoá kỹ cả ngày lẫn đêm mà".

"Bảo con lấy đá đập vỡ" Luster nói.

"Thế mày có nậy không?"

"Không hề" Luster nói.

"Đừng nói dối tao con ạ" Dilsey nói.

"Con không bao giờ làm chuyện ấy" Luster nói. "Hỏi Benjy thì biết. Con chưa lại gần cái cửa ấy lần nào".

"Ai mà nậy được cái cửa ấy nhỉ?" Dilsey nói. "Cậu ấy lại làm ồn để đánh thức Quentin chứ gì?" bà nói, lấy khay bánh quy ra khỏi lò.

"Chắc thế" Luster nói. "Mấy người này đến là kỳ cục. May mà mình không phải là họ."

"Không phải là ai?" Dilsey nói. "Này thằng nhãi con, tao bảo cho mày biết, mày cũng có trong người cái máu quỷ quái của dòng họ Compson như bất cứ ai trong bọn họ. Mày không nậy cái cửa sổ ấy thật chứ?"

"Con nậy để làm gì?"

"Thế mày làm những trò quỷ của mày để làm gì?" Dilsey nói "Trông cậu ấy đây này, không cậu ấy lại bỏng tay, để tao dọn bàn".

Bà vào phòng ăn, và chung nghe thấy bà loay hoay trong đó, rồi trở lại đặt một cái đĩa lên bàn bếp và xúc thức ăn vào đĩa. Ben nhìn bà, miệng chảy dãi, khẽ kêu ư ử thèm khát.

"Được rồi cưng" bà nói. "Bữa sáng của cưng đây. Đem ghế lại nào, Luster!" Luster đem ghế đến và Ben ngồi vào, vẫn lè nhè và chảy dãi. Dilsey buộc khăn quanh cổ hắn và cầm góc khăn chùi miệng hắn. "Để xem lần này mày có làm bẩn quần áo cậu ấy hay không" bà nói và đưa cho Luster một cái thìa.

Ben thôi khóc. Hắn nhìn cái thìa đưa lên miệng hắn. Như thể cái háo hức biến thành xương thành thịt hắn cùng với cái đói câm lặng không được biết tới. Luster khéo léo và lơ đãng cho hắn ăn. Thỉnh thoảng nó mới để tâm trở lai vừa đủ để nhử cái thìa cho Ben đớp hụt không khí, nhưng rõ ràng đầu óc nó đang ở đâu đâu . Tay kia nó để trên lưng ghế và trên cái mặt gỗ vô tri ấy tay nó lặp lại một cử động tinh tế khéo léo, như thể nó đang bắt lấy một giai điệu âm thầm từ hư vô, và có lúc nó quên cả trêu chọc Ben bằng cái thìa trong khi tay nó gõ lên mặt gỗ chết những hợp âm rải lặng câm và phức tạp cho đến khi Ben lại khóc ư ử để nhắc nó.

Dilsey đi đi lại lại trong phòng ăn. Rồi bà rung một cái chuông nhỏ từng hồi rành rọt, ở trong bếp Luster nghe tiếng chân bà Compson và Jason đi xuống, và giọng của Jason, và nó trợn ngược mắt lên nghe ngóng.

"Phải rồi, tôi biết chúng không nậy" Jason nói "Phải rồi, tôi biết thế. Có lẽ thời tiết thay đổi làm nó vỡ".

"Mẹ không hiểu tại sao lại vỡ được" bà Compson nói. "Phòng con khoá chặt cả ngày lẫn đêm, suốt từ lúc con rời nhà xuống phố. Ở nhà có ai vào đấy làm gì, trừ ngày chủ nhật để quét dọn. Mẹ cũng muốn để con biết rằng nơi nào không cần thì mẹ không bao giờ đặt chân đến v mẹ cũng không cho phép người khác đến".

"Tôi có bảo mẹ nậy cửa đâu,đúng không?" Jason nói.

"Mẹ không muốn vào phòng của con" bà Compson nói. "Mẹ tôn trọng sự riêng tư của người khác. Dù mẹ có chìa khoá mẹ cũng không bước chân qua ngưỡng cửa đâu".

"Phải" Jason nói. "tôi biết chìa khoá của mẹ không khớp. Vì thế tôi mới thay khoá. Tôi chỉ mới biết tại sao cánh cửa sổ lại bị nậy".

"Luster nói nó không làm" Dilsey nói.

"Chẳng cần hỏi nó tôi cũng biết thế" Jason nói. "Quentin đâu?"

"Ở chỗ mà sáng chủ nhật nào nó chẳng ở" Dilsey nói. "Mấy hôm naycj làm sao thế?"

"Thế này thì phải thay đổi hết thôi" Jason nói. "Lên bảo nó là bữa sáng đã dọn xong".

"Cậu Jason, cậu để nó yên" Dilsey nói. "Sáng nào nó cũng dậy ăn sáng, còn chủ nhật cô Cahline cho nó ngủ muộn. Cậu biết rồi mà".

"Tôi không thể nuôi cả một lũ người chỉ để chiều chuộng nó, dù tôi có muốn đi nữa" Jason nói. "Lên bảo nó xuống ăn sáng".

"Có ai phải chờ nó đâu" Dilsey nói. "Tôi để phần nó trong lò hấp và nó.."

"Bà có nghe tôi nói gì không?"

"Tôi có nghe" Dilsey nói. "Khi nào có cậu ở nhà là tôi chẳng nghe thấy ai khác. Nếu không phải là cậu gây sự với Quentin, thì là với Luster và Benjy. Cô Cahline, cô để cậu ấy ngang ngược thế là thế nào chứ?"

"Chị nên làm theo lời nó bảo" bà Compson nói. "Giờ nó là chủ cái nhà này. Nó có quyền bắt chúng ta phải tôn trọng các ý muốn của nó. Tôi đã cố gắng và nếu tôi làm được thì chị cũng làm được ".

"Tự nhiên cáu kỉnh vô lối. Bắt con Quentin dậy sớm để chỉ thoả mãn ý riêng của mình" Dilsey nói. "Có lẽ cậu ấy tưởng nó nậy cửa sổ chắc".

"Nó mà nghĩ ra thì nó cũng dám làm đấy" Jason nói. "Bà cứ làm theo lời tôi nói".

"Nó có nậy tôi cũng chẳng trách" Dilsey nói, đi về phía cầu thang. "Cậu ở nhà lúc nào là cậu quạu với nó lúc ấy".

"Im đi, Dilsey" bà Compson nói. "Cả tôi và chị đều không có tư cách để bảo Jason phải làm gì. Đôi khi tôi cũng thấy nó sai, nhưng tôi cố gắng làm theo mọi ý muốn của nó cho tất cả được yên ổn. Tôi còn đủ sức xuống bàn ăn được thì Quentin cũng xuống được".

Dilsey đi ra. Họ nghe thấy bà lên cầu thang. Họ nghe tiếng chân bà trên các bậc thang rất lâu.

"Mẹ nuôi toàn những đầy tớ thượng hạng cả" Jason nói. Hắn lấy thức ăn cho mẹ hắn và cho mình. "Mẹ đã nuôi được đứa nào đáng đem làm thịt chưa nhỉ? chắc cũng phải có vài đứa từ hồi tôi chưa đủ lớn để nhớ chứ".

"Mẹ phải chiều ý mọi người" bà Compson nói. "Mẹ bị phụ thuộc hoàn toàn vào người khác. Mẹ lại ốm đau bệnh tật. Giá như mẹ mạnh chân khoẻ tay. Giá như mẹ có thể làm hết việc nhà cho con. Ít ra mẹ cũng đỡ được cho con phần nào cái gánh nặng ấy".

"Và nhà này thì đỡ như một cái chuồng heo" Jason nói. "Nhanh chân lên, Dilsey" hắn hét lên.

"Mẹ biết con trách mẹ" bà Compson nói "vì đã cho họ nghỉ để đi nhà thờ hôm nay".

"Đi đâu?" Jason nói. "Thế là gánh hát chết tiệt ấy chưa đi à?"

"Đi nhà thờ" bà Compson nói. "Người da đen có một buổi lễ Phục sinh đặc biệt. Cách đây hai tuần mẹ đã hứa với Dilsey cho họ nghỉ".

"Thế nghĩa là mình sẽ phải ăn đồ nguội" Jason nói "hoặc là không có gì mà ăn hết".

"Mẹ biết lỗi tại mẹ" bà Compson nói. "Mẹ biết con trách mẹ".

"Trách cái gì?" Jason nói. "Mẹ có làm Kitô phục sinh đâu, phải không?"

--------------------------------

1

Người da đen ở vùng này tin là những con chim giẻ xuống địa ngục từ ngày thứ Tư đến ngày thứ hai. Sáng thứ hai chúng trở lại trần gian.

11

Họ nghe tiếng Dilsey lên tới đầu cầu thang, rồi tiếng chân bà chậm chạp lết phía trên đầu.

"Quentin" bà nói. Bà vừa cất tiếng gọi Jason liền bỏ dao nĩa xuống và hai mẹ con ngồi hai bên bàn dường như chờ nhau với điệu bộ y hệt, kẻ thì lạnh lùng tinh quái, với mái tóc nâu gợn sóng chải xuống thành hai cái móc bướng bỉnh ở hai bên trán như một anh bồi quầy rượu, với đôi mắt màu hạt dẻ và hai con người đen láy tròn xoe như hai hòn bi, người thì rầu rĩ than thở, với mái tóc bạc trắng và đôi mắt có quầng sưng húp và chảy xệ và tối đen đến mức tưởng như chỉ toàn tròng đen hay chỉ có con ngươi.

"Quentin" Dilsey nói "Dậy đi cưng. Mọi người chờ cưng xuống ăn sáng kìa".

"Mẹ không hiểu làm sao cánh cửa sổ ấy gãy được" bà Compson nói. "Con có chắc là nó gãy hôm qua không? Trời nóng thế này, có khi nó gãy từ lâu rồi. Nhất là cái cánh cửa góc trên, sau tấm rèm ấy".

"Tôi nhắc lại với mẹ lần cuối cùng rằng nó gãy hôm qua" Jason nói. "Phòng tôi ở sao tôi lại không biết? cửa sổ gãy thủng một lỗ bằng bàn tay chẳng lẽ ở cả tuần mới biết" giọng hắn bỗng khựng lại, im bặt, hắn chằm chằm nhìn bà mẹ một lúc với đôi mắt hoàn toàn trống rỗng. Đôi mắt hắn như thể đang nén giữ hơi thở của cả hai trong khi mẹ hắn nhìn lại hắn vẻ yếu đuối và phiền muộn, sâu thẳm, thấu suốt nhưng đờ đẫn. Giữa lúc họ ngồi như thế Dilsey lại lên tiếng:

"Quentin, đừng đùa nữa cưng. Xuống ăn sáng đi. Cả nhà đợi cưng kìa".

"Mẹ không hiểu" bà Compson nói. "Cứ cho là có người cạy cửa vào nhà" Jason nhảy chồm dậy. Chiếc ghế bật ngửa kêu răng rắc. "Cái gì?" bà Compson nói, trố mắt nhìn hắn chạy ngang qua bà và nhảy lên cầu thang, nơi hắn đụng phải Dilsey. Mặt hắn bị khuất trong bóng tối. Và Dilsey nói:

"Nó dỗi. Má cậu chưa mở khoá". Nhưng Jason chạy qua bà dọc theo hành lang đến một cái cửa. Hắn không gọi. Hắn nắm quả đấm và cố vặn, rồi hắn đứng giữ quả đấm trong tay và đầu hơi cúi, như thể hắn đang lắng nghe một cái gì mơ hồ ở đâu đó bên kia căn phòng sau cánh cửa, cái mà hắn đã từng nghe. Dáng điệu của hắn là dáng điệu của kẻ làm ra vẻ lắng nghe để tự lừa mình rằng mình đã nghe lầm. Sau lưng hắn, bà Compson đang lên thang, miệng gọi tên hắn. Rồi bà thấy Dilsey và thôi không gọi hắn nữa mà quay sang gọi Dilsey.

"Tôi đã bảo cậu là bà chưa mở khoá kia mà" Dilsey nói.

Trong khi đó thì hắn quay lại chạy đến chỗ bà, nhưng giọng hắn đã thực sự trầm tĩnh trở lại. "Bà ấy cầm chìa khoá theo?" hắn nói. "Bây giỜ bà ấy vẫn giữ chìa khoá, tôi muốn nói, hay là bà ấy sẽ".

"Dilsey" bà Compson đứng ở cầu thang nói.

"Cái gì thế?" Dilsey nói. "Sao cậu không để"

"Chìa khoá" Jason nói "của cái phòng đó. Bà ấy lúc nào cũng đem theo chìa khoá chứ? Mẹ à" rồi hắn thấy bà Compson và hắn chạy xuống thang đến chỗ bà. "Đưa chìa khoá cho tôi" hắn nói. Hắn nhào tới túm lấy túi áo của chiếc áo dài đen bạc thếch bà đang mặc. Bà giằng lại.

"Jason" bà nói "Jason! Con với Dilsey lại định bắt mẹ nằm liệt giường nữa à?" bà nói, cố gạt hắn ra. "Ngày chủ nhật, mẹ cũng không được yên à?"

"Chìa khoá" Jason nói, túm lấy bà. "Đưa chìa khoá đây!" hắn quay lại nhìn cánh cửa, như thể hắn mong nó bật tung ra trước khi hắn trở lại với chiếc chìa khoá mà hắn chưa có.

"Dilsey!" bà Compson nói, quấn chặt áo quanh người.

"Đưa chìa khóa đây, bà già lẩn thẩn!" Jason bỗng hét lên. Hắn lôi từ trong túi bà ra một chùm chìa khoá to tướng đã gỉ sét móc vào một cái vòng sắt như một cái xiềng thời trung cổ và chạy lên hành lang với hai người đàn bà theo sau.

"Con, Jason!" bà Compson nói. "Nó làm sao tìm được đúng chìa khoá đó" bà nói. "Chị biết tôi có bao giờ cho ai đụng vào chìa khoá của tôi đâu, Dilsey" bà nói. Bà bắt đầu rên rỉ.

"Nín đi" Dilsey nói. "Cậu ấy không làm gì được nó đâu. Tôi không để cậu ấy như thế đâu".

"Nhưng lại đúng vào sáng chủ nhật, ngay trong nhà tôi" bà Compson nói "trong khi tôi đã cố hết sức để nuôi dạy chúng thành những con chiên của Chúa. Jason, để mẹ tìm chìa khoá cho" bà nói. Bà đặt tay lên cánh tay hắn. Rồi bà giằng co với hắn, nhưng hắn xô bà văng ra bằng khuỷu tay và quay nhìn bà một lúc, đôi mắt lạnh lùng và bực bội, rồi hắn quay lại với cánh cửa và chùm chìa khoá rắc rối.

"Nín đi nào" Dilsey nói. "Cậu Jason!"

"Chắc đã xảy ra chuyện gì kinh khủng lắm" bà Compson rên rĩ "Tôi biết thế mà, Jason à" bà nói và lại nắm lấy tay hắn. "Một căn phòng trong nhà tôi mà nó cũng không để tôi tìm chìa khoá!"

"Thôi nào, thôi nào" Dilsey nói "Có chuyện gì đâu? Tôi ở đây rồi. Tôi không để cậu ấy làm gì nó đâu, Quentin" bà cao giọng "Đừng sợ cưng. Có tôi đây".

Cửa mở tung. Hắn đứng chặn giữa cửa một lúc, che khuất căn phòng rồi bước sang bên cạnh. "Vào đi!" hắn nói, giọng nhỏ và khản đặc. Họ bước vào. Đó không phải là phòng một cô gái. Cũng không phải là phòng của bất cứ ai, mùi son phấn rẻ tiền thoang thoảng và vài vật dụng đàn bà cùng một vài bằng chứng khác của sự cố gắng sống sượng và vô vọng để phụ nữ hoá căn phòng chỉ khiến nó càng trở nên vô danh, mang lại vẻ tạm bợ vô hồn và rập khuôn của các căn phòng trọ. Giường nệm vẫn chưa ai đụng đến. Một chiếc váy lót bằng lụa rẻ tiền màu hồng đậm lay lắt trên sàn, một chiếc tất lơ lửng buông thõng từ mép một ngăn kéo rút ra nửa chừng. Cửa sổ mở toang. Một cây lê mọc ngay đó, sát vào tường nhà. Cây đang độ nở hoa và cành lá cọ vào tường ràn rạt, gió ào ào tràn qua cửa sổ mang vào phòng mùi hương bị bỏ rơi của hoa lê.

"Thế nào?" Dilsey nói. "Tôi đã bảo nó không sao mà".

"Không sao à?" bà Compson nói. Dilsey theo bà vào phòng và khẽ chạm tay vào người bà.

"Bây giờ cô về nằm nghỉ đi" bà nói. "Mười phút nữa tôi sẽ tìm ra nó".

Bà Compson hất tay bà ra. "Tìm bức thư" bà nói. "Hồi trước khi thằng Quentin đi nó cũng viết thư để lại".

"Được rồi" Dilsey nói. "Tôi sẽ tìm. Cô về phòng đi!"

"Tôi biết chuyện này sẽ xảy ra ngay từ khi người ta đặt tên cho nó là Quentin" bà Compson nói. Bà đi tới bàn học và bắt đầu lục lọi những đồ dùng bừa bộn - mấy lọ nước hoa, một hộp phấn, một chiếc bút bị gặm đầu , cây kéo gãy một lưỡi nằm trên một chiếc khăn quàng đan dính đầy phấn và loang lổ vết son. "Tìm tờ giấy" bà nói.

"Tôi sẽ tìm" Dilsey nói. "cô đi đi. Tôi và Jason sẽ tìm. Cô về phòng đi!"

"Jason" bà Compson nói. "Jason đâu rồi?" bà đi ra cửa. Dilsey đi theo. Bà ra ngoài hành lang, đến một cánh cửa khác. Cửa đóng chặt. "Jason" bà gọi qua cửa. Không có tiếng trả lời. Bà vặn thử quả đấm cửa, rồi lại gọi. Vẫn không có tiếng trả lời, vì hắn đang lúi húi hất tung đồ đạc trong tủ ra sau lưng: quần áo, giày dép, cả một chiếc vali. Rồi hắn chui ra mang theo một đoạn ván có mộng đã bị cưa và đặt nó xuống rồi lại chui vào tủ và bê ra một cái hộp sắt. Hắn đặt cái hộp trên giường sững sờ nhìn ổ khoá gãy, hắn móc chùm chìa khoá trong túi ra và chọn một cái chìa, và hắn lại sững một lúc lâu nữa nhìn chằm hcằm vào ổ khoá gãy, tay cầm chìa khoá, rồi hắn bỏ chùm chìa khóa vào túi và cẩn thận nghiêng hộp đổ ra tất cả những gì bên trong lên giường. Vẫn cẩn thận như thế hắn phân loại giấy tờ, nhấc từng tờ một lên và rũ rũ. Đoạn hắn dốc ngược cái hộp và lắc thật kỹ rồi chậm chạp xếp lại giấy tờ và lại đứng nhìn ổ khoá gãy, với cái hộp cầm trong tay và đầu cúi gục. Ngoài cửa sổ hắn nghe tiếng mấy con chim giẻ bay tới rít lên khàn khàn, rồi bay đi, tiếng kêu xé gió, một chiếc xe chạy qua đâu đó và bặt dần. Mẹ hắn gọi tên hắn bên ngoài cửa, nhưng hắn không nhúc nhích. Hắn nghe tiếng Dilsey dìu bà đi dọc hành lang và rồi một cánh cửa khép lại. Hắn để chiếc hộp vào tủ như cũ, quăng quần áo vào rồi xuống thang tới máy điện thoại. Trong khi hắn đứng đấy, ống nghe áp tai và chờ đợi, Dilsey xuống thang. Bà nhìn hắn không dừng chân và đi tiếp.

Đường dây được nối. "Jason Compson đây" hắn nói, giọng hắn gay gắt và khản đặc đến nỗi tự hắn phải lặp lại "Jason Compson" hắn nói, cố nén giọng. "Chuẩn bị sẵn một chiếc xe, với một viên cảnh sát trong mười phút nữa, nếu ông không đi được. Tôi sẽ đến đó - Cái gì? - Ăn trộm. Trong nhà tôi. Tôi biết đó là ai - Tôi bảo là ăn trộm. Chuẩn bị một chiếc xe. Cái gì? Ông không phải ăn lương để thi hành luật pháp à? - phải, năm phút nữa tôi sẽ ở đó. Chuẩn bị xe để đi ngay tức khắc. Nếu không tôi sẽ trình lên ông thống đốc".

Hắn đặt ống nghe xuống và đi qua phòng ăn, nơi bữa sáng hiếm khi bị bỏ đang nguội lạnh trên bàn, và vào bếp. Dilsey đang đổ đầy bình nước nóng. Ben ngồi yên lặng và trống rỗng. Bên cạnh, Luster như một con chó nhỏ, tỉnh táo canh gác. Nó đang ăn cái gì đó. Jason đi qua bếp.

"Cậu không ăn sáng à?" Dilsey nói. Hắn không buồn để ý đến bà. "Jason, ăn sáng đi đã". Hắn đi tiếp. Cánh cửa ngoài đóng sầm lại sau lưng hắn. Luster đứng dậy đi ra cửa sổ nhìn.

"Chà" nó nói "Trên ấy có chuyện gì thế? Cậu ấy lại đánh cô Quentin phải không?"

"Mày câm mồm đi" Dilsey nói. "Mày mà làm Benjy giở chứng thì tao đập vào đầu. Mày trông cho cậu ấy yên đến khi tao quay lại". Bà văn nắp bình và đi ra. Chúng nghe tiếng chân bà lên cầu thang, rồi tiếng Jason chạy xe qua nhà. Rồi trong bếp không còn âm thanh nào khác ngoài tiếng thầm thì nghèn nghẹt của ấm nước và chiếc đồng hồ.

"Cậu biết tôi cuộc điều gì không?" Luster nói . "Tôi cuộc là cậu ấy vừa đánh cô ấy. Tôi cuộc là cậu ấy đánh cô ấy vào đầu và bây giờ phải đi gọi bác sĩ. Tôi cuộc là thế đấy". Chiếc đồng hồ kêu tích tắc, trịnh trọng và thâm trầm. Có lẽ đấy chính là nhịp đập khô khốc của ngôi nhà đang tàn tạ này, một lát sau nó kêu rè rè, hắng giọng và đánh sáu tiếng. Ben ngước nhìn lên, rồi nhìn bóng cái đầu hình viên đạn của Luster trên cửa sổ và hắn bắt đầu gục gặc đầu, miệng chảy dãi. Hắn khóc thút thít.

"Nín đi, ông khùng" Luster nói mà không quay lại. "Cứ thế này thì hôm nay mình chẳng được đi nhà thờ nào mất". Ben ngồi ở ghế, hai bàn tay to lớn mềm oặt buông thõng giữa hai đầu gối, rên rỉ khe khẽ. Bỗng nhiên hắn oà khóc, một tiếng rống chậm rãi, vô nghĩa và kéo dài. "Câm ngay" Luster nói. Nó quay lại và đưa tay lên. "Cậu muốn ăn đòn hả?" nhưng Ben nhìn nó, mỗi lần thở ra lại rống lên chậm rãi. Luster đến gần và lay người hắn. "Có nín ngay không?" nó hét lên. "Lại đây" nó nói. Nó lôi Ben ra khỏi ghế và kéo ghế lại phía trước lò, mở cửa lò và đẩy Ben ngồi xuống ghế. Trông chúng như một chiếc tàu đẩy thúc mũi vào chiếc tàu chở dầu kềnh càng trong một bến cảng chật hẹp. Ben lại ngồi xuống trước bếp lò đỏ rực. Hắn nín. Rồi chúng lại nghe tiếng đồng hồ, và Dilsey chậm chạp xuống thang. Khi bà bước vào hắn lại bắt đầu khóc thút thít. Rồi hắn khóc lớn hơn.

"Mày lại làm gì cậu ấy thế?" Dilsey nói. "Sao cả buổi sáng nay mày không để cậu ấy yên được hả?"

"Con có làm gì cậu ấy đâu" Luster nói. "Cậu Jason làm cậu ấy sợ, có thế thôi. Cậu Jason không giết chết cô Quentin chứ?"

"Nín đi Benjy" Dilsey nói. Hắn nín. Bà đi đến cửa sổ và nhìn ra. "Mưa tạnh rồi à?" bà nói.

"Vâng" Luster nói. "Tạnh lâu rồi".

"Vậy chúng mày ra ngoài chơi một lúc đi" bà nói. "Tao phải dỗ cô Cahline khỏi khóc".

"Mình có đi nhà thờ không?" Luster nói.

"Khi nào đến giờ thì tao bảo. Mày giữ cậu ấy chơi ngoài kia đến khi tao gọi".

"Con ra đồng cỏ được không?" Luster nói.

"Được. Miễn là mày giữ cậu ấy chơi ngoài đó. Tao hết chịu nổi rồi ".

"Vâng ạ" Luster nói. "Cậu Jason đi đâu thế hả mammy?"

"Chuyện của mày đấy à?" Dilsey nói. Bà bắt đầu dọn bàn. "Nín đi Benjy, Luster dẫn đi chơi bây giờ đấy".

"Cậu ấy làm gì cô Quentin hả mammy?" Luster nói.

"Chẳng làm gì cả. Chúng mày có đi khỏi đây ngay không?"

"Con cuộc là cô ấy không có nhà" Luster nói.

Dilsey nhìn nó. "Sao mày biết cô ấy không ở nhà?"

"Con và Benjy nhìn thấy cô ấy leo ra cửa sổ đêm hôm qua. Đúng không Benjy?"

"Mày thấy à?" Dilsey nói, nhìn nó.

"Đêm nào con cũng thấy cô ấy làm thế" Luster nói "Trèo xuống chỗ cây lê ấy".

"Thằng nhãi con, mày nói láo với tao hả?" Dilsey nói.

"Con không nói láo. Hỏi Benjy thì biết".

"Thế sao mày không kể ra?"

"Đâu phải chuyện của con" Luster nói. "Con không muốn dính vào chuyện của dân trắng. Lại đây Benjy, mình đi chơi thôi".

Chúng ra ngoài. Dilsey đứng cạnh bàn một lúc, rồi bà đi ra dọn dẹp đồ ăn còn trên bàn, và ăn sáng và dọn bếp. Đọan bà cởi tạp dề treo lên và đi đến chân cầu thang lắng nghe một lúc. Không một tiếng động. Bà mặc áo khoác, đội mũ và đi về lều.

Mưa đã tạnh. Gió thổi từ phía đông nam, xé toạc ra từng mảnh trời xanh trên đầu bà. Trên một đỉnh đồi đàng sau những rặng cây, mái nhà và tháp chuông của thị trấn, ánh nắng trải dài như một tấm vải nhợt nhạt, rồi bị xoá đi. Một tiếng chuông rung động trên không, rồi như theo một hiệu lệnh, các tiếng chuông khác hoà âm và lặp lại.

Cửa lều mở và Dilsey chui ra, lại mặc chiếc áo lụa tím và quàng khăn màu hạt dẻ, mang đôi găng trắng bẩn dài đến khuỷu tay, và lần này bà bỏ khăn trùm đầu. Bà đi ra sân và gọi Luster. Bà đợi một lúc, rồi đi lên nhà, vòng sang phía cửa hầm rượu, nép sát tường và nhìn vào cửa hầm. Ben ngồi ở bậc thềm. Trước mặt hắn Luster ngồi xổm trên nền đất ẩm. Nó giữ một cái cưa bằng tay trái, lưỡi cưa oằn cong do nó ấn mạnh tay và nó đang đập lưỡi cưa bằng cái vồ gỗ cũ mà bà đã dùng để dập bánh quy hơn ba mươi năm nay. Lưỡi cưa phát ra một tiếng tăng tăng uể oải đơn điệu, rồi tắt ngấm khô khan, chỉ còn lại một đường cong mỏng mảnh giữa tay Luster và mặt đất. Lưỡi cưa vẫn uốn cong bí hiểm.

"Anh ta làm như thế đấy" Luster nói. "Có điều tôi chưa tìm được đúng cái để đánh vào lưỡi cưa".

"Thì ra mày chơi trò này?" Dilsey nói. "Đưa cái vồ cho tao" bà nói.

"Con có làm hỏng nó đâu?" Luster nói.

"Đưa đây" Dilsey nói. "Lấy cưa ở đâu thì cất vào đấy như cũ".

Nó cất cái cưa đi và đưa cái vồ cho bà. Rồi Ben lại rền rĩ, dằng dặc và vô vọng. Chẳng là cái gì cả. Chỉ là một tiếng kêu. Có lẽ tất cả thời gian bất công và đau khổ cùng một lúc cất thành tiếng bởi sự giao hội của các vì tinh tú.

"Nghe cậu ấy kìa" Luster nói. "Cậu ấy cứ thế từ lúc mammy bảo ra ngoài chơi đến giờ. Chả hiểu sáng nay có cái gì nhập vào cậu ấy".

"Dẫn cậu ấy lại đây" Dilsey nói.

"Lại đây, Benjy" Luster nói. Nó bước xuống mấy bậc thềm và nắm tay Ben. Ben ngoan ngoãn đi theo và rền rĩ, cái tiếng kêu chậm rãi khàn khàn như tiếng tàu thuỷ, dường như nó cất lên trước khi tiếng kêu bắt đầu, và tắt lặng trước khi tiếng kêu chấm dứt.

"Đi lấy mũ cho cậu ấy" Dilsey nói. "Đừng làm ồn kẻo cô Cahline nghe thấy. Nhanh chân lên. Mình đi muộn rồi đấy".

"Bà ấy sẽ nghe thấy bây giờ, nếu mammy không dỗ cậu ấy nín ngay đi".

"Mình cứ đi là cậu ấy nín" Dilsey nói "Cậu ấy đánh hơi thấy rồi. Đúng như thế".

"Đánh hơi thấy cái gì hả mammy?" Luster nói.

"Mày đi lấy mũ đi", Luster đi. Họ đứng ở cửa hầm rượu. Ben đứng dưới bà một bậc thềm. Trời vỡ ra thành từng mảng mây trôi dạt kéo nhanh những bóng râm ra khỏi khu vườn tiều tuỵ, qua hàng rào đổ nát và qua sân. Dilsey xoa đầu Ben, đều đều chậm chậm vuốt mớ tóc trước trán hắn. Ben khóc lặng lẽ và chậm rãi. "Nín đi" Disley nói. "Nào nín ngay. Mình đi bây giờ đây. Nin ngay!" Hắn vẫn rền rĩ từng đợt âm thầm.

Luster quay lại, đội một chiếc mũ rơm cứng mới tinh có dải băng màu và cầm trong tay một chiếc mũ vải. Chiếc mũ rơm dường như tách biệt với cái đầu của Luster, nó nổi bật lên như một ngọn đèn sân khấu trong mắt khán giả, dưới mỗi bình diện và góc cạnh riêng biệt của nó. Hình dáng cái mũ độc đáo một cách kỳ dị đến mức mới thoạt nhìn người ta tưởng chiếc mũ ở trên đầu một ai đó đứng sau Luster. Dilsey nhìn chiếc mũ.

"Sao mày không đội cái mũ cũ?" bà nói.

"Con không tìm thấy"Luster nói.

"Tao biết ngay là mày không tìm thấy. Tao cuộc là đêm hôm qua mày đã giấu đi để không tìm được. Mày cố tình làm hỏng nó mà".

"Kìa mammy" Luster nói. "Trời có mưa nữa đâu".

"Làm sao mày biết? mày đi về lấy cái mũ cũ và cất cái mới này đi".

"Kìa, mammy"

"Thế thì đi lấy dù".

"Kìa mamy".

"Mày chọn đi" Dilsey nói. "Đội mũ cũ không thì mang dù. Thế nào cũng được."

Luster đi về lều. Ben lặng lẽ rền rĩ.

"Đi nào" Dilsey nói. "Rồi chúng sẽ đuổi kịp mình. Mình đi sớm nghe hát". Họ đi vòng qua nhà, ra ngoài cổng. "Nín đi", Dilsey chốc chốc lại nói trong lúc họ đi ra ngõ. Họ ra tới cổng. Dilsey mở cổng. Sau lưng họ Luster cũng đã ra tới ngõ, tay cầm dù. Một người phụ nữ đi bên cạnh nó. "Chúng kia rồi" Dilsey nói. Họ ra khỏi cổng."Nào, đi!" bà nói. Ben thôi khóc. Luster và mẹ nó đuổi kịp họ. Frony mặc chiếc áo lụa màu xanh sáng và đội mũ đính hoa. Cô gầy và có gương mặt mỏng khả ái.

"Mày khoác lên người phải đến sáu tuần lương" Disley nói. "Nhỡ mưa thì sao?"

"Thì ướt chứ sao" Frony nói. "Con có ngăn được mưa đâu".

"Mammy lúc nào cũng lo mưa" Luster nói.

"Tao không lo cho chúng mày thì ai lo cho." Dilsey nói. "Đi thôi, mình đến muộn mất".

"Hôm nay mục sư Shegog thuyết giáo" Frony nói.

"Thế à?" Dilsey nói. "Ông ấy ở đâu tới?"

"ông ấy từ Saint Louis tới" Fron nói. "Giảng hay lắm".

"Dào" Dilsey nói. "Cái cần thiết là người nào có thể khiến lũ nhãi ranh báng bổ này biết sợ Chúa".

"Hôm nay mục sư Shegog sẽ giảng" Frony nói. "Người ta bảo thế".

Họ đi trên phố. Dọc con đường yên tĩnh, đây đó từng nhóm người da trắng mặc những bộ đồ sáng sủa đi về phía nhà thờ, dưới tiếng chuông lộng gió, và trong nắng sớm tràn trề. Gió thổi từng cơn từ phía đông nam tới, lạnh và buốt sau những ngày ấm áp.

"Gía như mammy đừng đưa cậu ấy đi nhà thờ" Frony nói. "Người ta bàn tán".

"Người ta bàn tán cái gì?" Dilsey nói.

"Con nghe người ta nói" Frony nói.

"Tao biết đó là loại người nào rồi" Dilsey nói. "Bọn dân trắng rác rưởi chứ còn ai nữa. Họ nghĩ nó không xứng đáng vào nhà thờ trắng, mà nhà thờ đen cũng không xứng cho nó vào".

"Họ vẫn nói" Frony nói.

"Bảo họ đến nói với tao đây này" Dilsey nói. "Bảo họ là Chúa đâu cần biết nó khôn hay dại. Ngoài lũ rác rưởi ấy ra thì ai cần".

Bên tay phải là một ngã rẽ vuông góc, đổ dốc và lầy bùn. Hai bên lề đường trũng hẳn xuống, một bãi đất rộng bằng phẳng lác đác những mái lều dãi dầu mưa nắng chỉ cao bằng mặt đường. Lều dựng trên những khoảnh đất nhỏ rải đầy các vụn vỡ, gạch bể, ván gãy, mảnh sành, những thứ đã từng một thời hữu dụng. Chỉ có cỏ dại mọc được ở đó, còn cây cối toàn là dâu, thích và sung - tất cả như cùng chia sẻ vẻ khô cằn bẩn thỉu bao quanh các túp lều, những cây cối mà mỗi chồi non dường như là tàn dư buồn thảm và ương ngạnh của tháng Chín, như thể mùa xuân đã đi qua, bỏ mặc chúng sống nhờ vào cái mùi ngột ngạt không thể lẫn được của người da đen ở nơi chúng mọc.

Những người da đen đứng ở cửa lều cất tiếng chào khi họ đi qua, thường là chào Dilsey.

"Bà Jibson! Hôm nay bà khoẻ chứ?"

"Tôi vẫn bình thường. Bà có khoẻ không ?"

"Tôi cũng vậy. Cảm ơn".

Từ các túp lều, họ chui ra và khó nhọc leo dốc lên mặt đường - đàn ông mặc đồ đen hoặc nâu sẫm trang trọng, với dây đồng hồ vàngvv vài ba người cầm can, thanh niên mặc màu xánh choé rẻ tiền hay kẻ sọc và đội những chiếc mũ thời trang, đàn bà mang váy xoè cứng quèo, còn trẻ con mặc đồ cũ mua lại của người da trắng, nhìn Ben với vẻ vụng trộm của những con thú ăn đêm.

"Tao đố mày dám lại sờ nó".

"Sao không dám?"

"Tao cuộc là mày không dám. Nó làm mày sợ".

"Nó không hại ai đâu. Nó khùng mà".

"KHùng mà không hại ai?"

"Thằng này thì không. Tao sờ nó rồi".

"Bây giờ mày chẳng dám đâu".

"Nhỡ cô Dilsey thấy thì sao?"

"Dù sao mày cũng không dám".

"Nó không hại ai đâu. Nó khùng mà".

Những người lớn tuổi chuyện trò với Dilsey, nhưng nếu họ không già lắm, Dilsey cho phép Frony tiếp chuyện.

"Sáng nay mammy không được khoẻ".

"Vậy à? nhưng mục sư Shegog sẽ chữa cho. Ông ấy sẽ giúp bà cụ được thanh thản và bình an".

Con đường lại lên dốc, dẫn đến một cảnh trí như bức phông vẽ. Nó bị chặn ngang như một dải băng bị cắt, đâm thẳng vào một khu đất sét đỏ bao quanh bởi những cây sồi. Bên cạnh đó, ngôi nhà thờ dột nát vì mưa nắng với những tháp chuông kỳ cục vươn cao như một ngôi nhà thờ vẽ, và toàn bộ quan cảnh trông dẹt và thiếu chiều sâu như một bức tranh đặt sát mép tận cùng của mặt đất, đối diện với không gian đầy nắng gió tháng Tư và một buổi sáng muộn màng vang vọng tiếng chuông. Họ kéo nhau từng đám về phía nhà thờ với vẻ đủng đỉnh cố tình của ngày Chủ Nhật. Đàn bà và trẻ con đi thẳng vào trong, đàn ông dừng lại bên ngoài và túm năm tụm ba rì rầm trò chuyện đến khi chuông ngừng rung. Rồi họ cũng vào.

Nhà thờ được trang hoàng bằng những bó hoa lưa thưa hái ngoài vườn rau hay hàng rào, và những băng giấy kếp sặc sỡ. Phía trên bục giảng treo một quả chuông Giáng sinh méo mó, cũng xứng với khung cảnh đổ nát xung quanh, bục giảng còn trống, nhưng ca đoàn đã vào chỗ, phe phẩy quạt dù trời không nóng.

Phần lớn đàn bà tụ tập ở một phía. Họ trò chuyện. Rồi chuông gióng một tiếng và họ tản về chỗ, tất cả ngồi im lặng chờ đợi một lúc lâu. Ca đoàn đứng lên và bắt đầu hát, mọi người đồng loạt quay đầu lại, khi sáu đứa bé - bốn bé gái bím tócthắt nơ bướm bằng vải, hai bé trai tóc hớt ngắn - bước vào và đi lên hai phía bàn thờ, chúng nối nhau thành hàng bằng một dây lụa trắng kết hoa. Theo sau chúng là hai người đàn ông đi thành hàng một. Người thứ hai cao lớn, nước da màu cà phê, bệ vệ trong chiếc áo lễ thắt nơ trắng. Đầu ông uy nghi và thâm trầm, cổ ông bị cổ áo đẩy lên thành nhiều nếp gấp. Nhưng ông đã quá quen thuộc với họ nên họ cũng không quay đầu nhìn theo khi ông đi ngang, đến khi ban đồng ca ngừng hát họ vẫn chưa nhận ra rằng vị khách mời đã bước vào, và khi họ nhìn thấy người đàn ông đi trước mục sư của họ và đang tiến thẳng lên bục giảng, một âm thanh không diễn tả nổi trỗi dậy, một tiếng thở dài, một tiếng kêu ngạc nhiên và thất vọng.

Vị khách quá thấp bé, mặc một chiếc áo vải len alpaca, gương mặt đen đủi nhăn nheo như một con khỉ già loắt choắt. Và suốt thời gian đó ca đoàn lại hát, rồi sáu đứa bé đứng dậy nối lời bằng một giọng thì thầm lạc điệu và the thé vì sợ hãi, họ kinh ngạc nhìn người khách tầm thường ngồi lọt thỏm ở đó và càng có vẻ quê mùa hơn bên canh vị mục sư cao lời bệ vệ của họ. Họ vẫn còn nhìn ông với con mắt kinh ngạc và ngờ vực khi vị mục sư đứng dậy giới thiệu ông bằng một giọng đầy đặn uyển chuyển như càng nhấn mạnh vẻ tầm thường của vị khách.

"Vậy mà người ta mời bằng được từ Saint Louis đến" Frony thì thào.

"Tao biết Chúa còn sử dụng những công cụ lạ lùng hơn thế nhiều" Dilsey nói. "Nín đi nào" bà nói với Ben. "Họ lại hát ngay mà".

Khi vị khách đứng dậy để nói, ông phát âm như một người da trắng. Giọng ông bằng phẳng và lạnh lùng. Nó quá lớn với một người như ông và đầu tiên họ nghe vì tò mò, như thể nghe một con khỉ nói. Rồi họ bắt đầu nhìn ông như nhìn một người đi trên dây. Rồi họ quên mất cái vẻ ngoài tầm thường của ông trước tài hùng biện khi dồn dập khi chao đảo khi vút lên trên sợi dây căng thẳng và lạnh lùng của giọng ông và rồi sau cùng, khi giọng ông buông lướt xuống để nghỉ bên cạnh chiếc bàn đọc với một cánh tay duỗi dài trên bàn ở tầm ngang vai và cái hình hài loài khỉ của ông trở nên bất động hoàn toàn như một xác ướp hay một con tàu rỗng, cử toạ thở dài như vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ cộng đồng và khẽ nhúc nhích tại chỗ. Đàng sau bục giảng ca đoàn vẫn phe phẩy quạt. Dilsey thì thào "Nín ngay nào. Họ hát liền bây giờ mà".

Rồi một giọng nói cất lên "Các anh em"

Nhà thuyết giáo đứng im lìm. Cánh tay ông vẫn đặt ngang bàn, và ông giữ nguyên tư thế đó trong khi giọng ông tắt đi giữa những tiếng vang của các bức tường. Khác hẳn với giọng ông lúc trước như ánh ngày và bóng tối, nó buồn bã và lanh lảnh như một cây kèn alto, thấm vào trái tim họ và lại cất lên ở đó khi nó đã ngưng trong những âm vang chất chứa và lụi tàn.

"Các anh chị em" nó lại cất lên. Nhà thuyết giáo thu cánh tay lại và bắt đầu đi tới đi lui trước bàn, tay chắp sau lưng, cái hình thể khẳng khiu, còng gập xuống như một kẻ đã trường kỳ kháng cự với đất chẳng chịu buông tha mình. "Tôi có hồi ức và máu huyết của Con Chiên!" ông đều đều đi tới đi lui dưới chuỗi hoa giấy và quả chuông Giáng sinh, người lom khom, tay chắp sau lưng. Ông giống như một tảng đá bé nhỏ mỏi mòn bị chìm lấp dưới những làn sóng liên tiếp của giọng mình. Tưởng chừng như ông nuôi dưỡng giọng nói ấy cắn ngập răng vào da thịt ông. Và cử toạ tưởng chừng đang chứng kiến tận mắt giọng nói ấy ăn mòn ông, đến khi ông không còn gì nữa và họ không còn gì nữa cũng không còn cả cái giọng, chỉ còn lại trái tim họ đang nói với nhau qua những nhịp hát không cần đến lời, khi ông tới dựa vào bàn để nghỉ, khuôn mặt loài khỉ của ông ngước lên và toàn bộ dáng điệu của ông như của người bị hành hình trên cây thập tự, bình thản siêu việt, vượt lên trên sự tiều tuỵ và tầm thường, một tiếng rên dài thoát ra khỏi lồng ngực của họ, và một giọng nữ cao đơn độc thốt lên "Vâng, Jesus!"

Khi ngày đã đứng bóng, những khuôn cửa sổ bẩn thỉu chập chờn mờ tối như bóng ma. Một chiếc xe chạy qua ngoài đường, lạo xạo trên cát rồi im bặt. Dilsey ngồi thẳng người, tay bà đặt trên đầu gối Ben. Hai dòng lệ chảy xuống đôi má xệ của bà, vô số những giọt lóng lánh của hy sinh của xả kỷ và của tuổi tác.

"Các anh em" vị mục sư nói bằng một giọng thì thầm gay gắt, không động đậy.

"Vâng, Jesus!" giọng đàn bà chưa tắt hẳn.

"Các anh chị em!" giọng ông lại vang lên, như tiếng kèn. Ông thu tay lại và đứng thẳng người rồi giơ hai bàn tay lên cao. "Tôi có hồi ức và máu huyết của Con Chiên!" Họ không để ý là từ lúc nào, thanh điệu của ông, ngữ âm của ông đã trở thành của người da đen, họ chỉ hơi cựa quậy một chút trên ghế khi cái giọng nói ấy hớp hồn họ.

"Trong những năm dài, lạnh lẽo - ôi, tôi nói cùng anh chị em, trong những năm dài, lạnh lẽo - tôi thấy ánh sáng và tôi thấy lời nói, kẻ tội lỗi khốn khổ! Họ bỏ mình ở Ai Cập, những chuyến xe lảo đảo, bao thế hệ đã bỏ mình. Kẻ giàu có ư: họ đâu rồi, hỡi anh em? Kẻ nghèo khổ ư: họ đâu rồi, hỡi chị em? Ôi tôi nói cùng các người, nếu các người không có được dòng sữa và hạt sương của cứu rỗi xưa khi những năm dài, lạnh lẽo trôi qua!"

"Vâng, Jesus!"

"Tôi nói cùng các anh em, và tôi nói cùng các chị em, sẽ có lúc họ tới. Kẻ tội lỗi khốn khổ nói: Hãy để tôi nằm xuống với Chúa, hãy để tôi đặt xuống gánh nặng của tôi. Rồi Jesus nói gì, hỡi anh em? Hỡi chị em? Ngươi có hồi ức và máu huyết của Con Chiên chăng? Nếu ta không từ trên trời xuống?"

Ông thò tay vào túi áo ngoài và lấy ra một chiếc khăn tay và lau mặt. Một hoà âm trầm trổi dậy từ cử toạ: M m m m m m ! giọng đàn bà nói "Vâng, Jesus! Jesus!"

"Các anh em! Hãy nhìn con trẻ đang ngồi kia. Jesus đã từng là con trẻ như thế. Mẹ ngài đã đón nhận bao vinh quang và đau khổ. Đôi khi không chừng bà bế ngài trên tay khi đêm xuống trong lúc các thiên thần hát ru ngài ngủ, không chừng bà nhìn ra cửa và thấy lính La Mã đi qua. "Ông đi tới đi lui, lau mặt. "Hãy nghe đây các anh em. Tôi thấy ngày ấy. Bà Mary ngồi ở cửa với Jesus trong lòng, Jesus hài đồng. Tôi nghe thấy các thiên thần hát những bài ca thanh bình và vinh quang. Tôi thấy những đôi mắt khép, thấy Mary đứng phắt dậy, nhìn vào mặt tên lính. Chúng ta sẽ giết! chúng ta sẽ giết! chúng ta sẽ giết thằng bé Jesus của ngươi! Tôi nghe thấy tiếng khóc và lời than vãn của người mẹ khốn khổ mà không có cứu rỗi và lời của Thiên Chúa".

"H m m m m m m m m! Jesus! Jesus hài đồng!" và một giọng nói khác cất lên:

"Tôi thấy, ôi Jesus! Ôi tôi thấy!" và lại một giọng nói nữa, không rõ lời, như bong bóng nổi lên từ đáy nước.

"Tôi thấy cái đó, các anh em! Tôi thấy cái đó! Thấy cảnh tượng chói loà, loá mắt! Tôi thấy Calvary, với các cây thiêng,thấy kẻ trộm và kẻ sát nhân và từng người một, tôi nghe thấy tiếng quát tháo doạ nạt, nếu ngươi là Jesus, hãy nhổ cây của ngươi lên và bước đi! Tôi nghe thấy tiếng rền rĩ của những người đàn bà và lời than vãn buổi chiều tà, tôi nghe thấy tiếng khóc thầm và lời kêu và gương mặt quay đi của Thiên Chúa, chúng đã giết Jesus, chúng đã giết con của Ta!"

Hm m m m m m m m! Jesus! Tôi thấy, ôi Jesus"

"Ôi kẻ tội lỗi mù loà! Các anh em, tôi nói cùng các người, các chị em, tôi nói cùng các người, khi Thượng Đế quay khuôn mặt uy nghi của ngài đi, phán, Ta sẽ không làm chật thiên đàng! Tôi có thể thấy Đức Chúa Cha mất con đóng cánh cửa của Ngài, tôi thấy hồng thuỷ cuồn cuộn ở giữa, tôi thấy bóng tối và cái chết không ngừng ngự trị trên các thế hệ. Và rồi, kìa! Các anh em! Vâng, các anh em! Tôi thấy gì? Tôi thấy gì? Ôi kẻ tội lỗi! Tôi thấy phục sinh và ánh sáng, thấy Jesus nhân từ phán bảo: chúng giết Ta để các ngươi sẽ sống trở lại, Ta chết để những gì các ngươi thấy và tin sẽ không bao giờ chết. Các anh em, ôi các anh em! Tôi thấy tối tăm nứt vỡ và tiếng kèn vàng vọng xuống vinh quang và những kẻ chết đứng dậy, những kẻ có máu huyết và hồi ức của Con Chiên!"

Ở giữa những giọng nói và những bàn tay, Ben ngồi, ánh mắt xanh biếc dịu dàng nhìn chăm chú. Dilsey ngồi thẳng người bên cạnh, khóc day dứt và lặng lẽ trong nỗi nung nấu và máu huyết của Con Chiên được hồi tưởng.

12

Khi họ đi dưới nắng trưa chói chang, ngược con đường cát với những nhóm người tản mát đã lại chuyện trò râm ran, bà tiếp tục khóc rấm rứt, không buồn nói chuyện.

"Ông ấy đúng là một nhà thuyết giáo, hay thật. Lúc đầu trông chẳng có vẻ gì như thế, vậy mà"

"Ông ấy thấy được quyền lực và vinh quang"

"Vâng, đúng thế. Ông ấy thấy cái đó. Ông ấy thấy cái đó tận mắt".

Dilsey lặng thinh, gương mặt bà không chút rung động khi những dòng lệ chảy dài trên hai gò má hóp và nhăn nheo, bà ngẩng cao đầu bước đi, chẳng buồn lau nước mắt.

"Sao mammy khóc mãi thế?" Frony nói. "Người ta nhìn kìa. Mình sắp đi qua chỗ dân trắng đấy".

"Tao đã thấy từ đầu đến cuối" Dilsey nói. "Mày cứ mặc kệ tao".

"Từ đầu đến cuối cái gì?" Frony nói.

"Mặc kệ tao" Dilsey nói. "Tao đã thấy cái bắt đầu, và bây giờ tao thấy cái kết thúc".

Tuy nhiên, trước khi họ ra tới phố, bà dừng lại và kéo vạt váy chấm khô mắt. Rồi họ đi tiếp. Ben lêu nghêu đi bên cạnh Dilsey, nhìn Luster múa may phía trước, cây dù trong tay và chiếc mũ rơm mới nghiêng nghêng ngang tàng trong ánh nắng, như một con chó ngây ngô to gộc nhìn một con chó nhỏ tinh khôn. Họ tới cổng và đi vào. Tức thì Ben lại bật khóc thút thít và cả bọn đứng lại một lúc nhìn lối đi qua sân, ngôi nhà tróc lở với cánh cổng mục nát.

"Hôm nay trên ấy có chuyện gì thế?" Frony nói. "Chắc có chuyện gì".

"Chả có gì cả" Dilsey nói. "Mày lo việc mày còn việc của dân trắng để mặc họ".

"Chắc có chuyện gì" Frony nói. "Mới sáng ngày ra đã nghe thấy tiếng cậu ấy. Dẫu sao cũng chẳng phải việc mình".

"Tôi cũng biết là chuyện gì" Luster nói.

"Mày biết cũng chả để làm gì" Dilsey nói. "Mày không nghe Frony nói chẳng phải việc mình hay sao? Mày đưa Ben ra đàng sau và giữ cậu ấy yên đến khi tao làm xong bữa trưa".

"Con biết cô Quentin ở chỗ nào kia" Luster nói.

"Biết thì giữ lấy" Dilsey nói. "Bao giờ Jason cần mày dạy khôn, tao sẽ cho mày hay. Bây giờ đi ra đàng sau chơi hết đi".

"Mammy có biết chuyện gì sẽ xảy ra khi người ta bắt đâu chơi bóng ở đàng ấy không?" Luster nói.

"Người ta chưa chơi ngay đâu. Đến lúc ấy thì T.P. Đã về để đánh xe đưa cậu ấy đi chơi. Này, mày đưa cái mũ mới ấy cho tao".

Luster đưa bà chiếc mũ mới rồi nó và Ben đi ra sân sau. Ben vẫn thút thít, nhưng chỉ khe khẽ. Dilsey và Frony đi về căn lều. Một lát sau Dilsey chui ra, bà lại mặc chiếc áo vải in hoa bạc phếch, và đi tới nhà bếp. Lửa đã tắt ngấm. Trong nhà không một tiếng động. Bà đeo tạp dề và đi lên gác. Đâu đâu cũng lặng ngắt. Phòng của Quentin vẫn nguyên như lúc nãy. Bà bước vào nhặt cái quần lót lên và nhét chiếc tấtvào ngăn kéo rồi đóng lại. Cửa phòng bà Compson đã khép. Dilsey đứng cạnh cửa một lúc, lắng tai nghe. Rồi bà mở ra và bước vào, giữa mùi long não nồng nàn tràn ngập. Những tấm rèm đã hạ xuống, căn phòng tranh tối tranh sáng, và ở giường thoạt tiên bà nghĩ là bà Compson đã ngủ và bà định đóng cửa lại thì nghe tiếng nói.

"Hả?" bà Compson nói. "Cái gì thế?"

"Tôi đây" Dilsey nói. "Cô có cần gì không?"

Bà Compson không trả lời. Một lúc sau, đầu không hề nhúc nhích, bà nói ""Jason đâu rồi?"

"Cậu ấy chưa về" Dilsey nói. "Cô cần gì không?"

Bà Compson không nói gì cả. Giống như những người vốn mệt mỏi ốm yếu, khi cuối cùng phải đối mặt với một tai họa không sao tránh khỏi, không biết bà đã đào đâu ra một thứ sức mạnh và lòng quả cảm. Trng trường hợp của bà đó là sự khẳng định bất di bất dịch khi nhìn nhận sự kiện mơ hồ kia. "Ờ" ba nói tiếp "chị tìm thấy không?"

"Tìm cái gì? cô nói gì kia?"

"Cái thư. Ít nhất nó cũng biết nghĩ để lại một lá thư chứ. Ngay thằng Quentin cũng còn làm thế".

"Cô nói chuyện gì vậy?" Dilsey nói. "Cô biết là nó làm sao nào? tôi bảo là thế nào nó cũng về đây trước buổi tối".

"Chuyện vớ vẩn" bà Compson nói. "Cái máu nó thế. Giống cô dì chú bác nó. Hay là mẹ nó. Tôi không biết còn có cái gì tồi tệ hơn. Tôi cũng chẳng bận tâm nữa".

"Cô cứ nói nhăng nhít thế để làm gì?" Dilsey nói. "Nó làm như vậy để được cái gì chứ?"

"Tôi không biết. Vậy sao thằng Quentin lại làm như vậy? trời đất ơi sao nó lại làm như thế kia chứ? lẽ nào chỉ để làm nhục làm khổ tôi. Chúa nào đi nữa cũng không tha thứ điều đó. Tôi là một người đàng hoàng. Chị không tin là con cháu tôi lại như thế, nó tôi tin".

"Cô cứ đợi xem như thế nào" Dilsey nói. "Đến đêm nó lại về, rồi lại vào giường ngủ thôi mà". Bà Compson im lặng. Miếng vải tẩm long não nằm trên trán bà. Chiếc áo đen rủ xuống chân giường. Dilsey đứng để tay lên quả đấm cửa.

"Nào" bà Compson nói. "Chị còn muốn gì nữa? chị có đi sửa soạn bữa trưa cho Jason với Benjy không?"

"Jason chưa về" Dilsey nói. "Tôi sẽ làm ngay đây. Cô không cần gì nữa chứ? chai nước của cô còn nóng không?"

"Chị đưa cho tôi cuốn Kinh Thánh của tôi ".

"Tôi đã đưa cho cô sáng nay, trước lúc tôi đi rồi mà".

"Chị đặt ở mép giường. Chị định để nó ở đấy đến bao giờ?"

Dilsey tới bên giường mò mẫm trong bóng tối dưới thành giường và tìm thấy quỷên Kinh Thánh nằm úp mặt xuống đó. Bà vuốt phẳng những trang quăn góc và lại đặt ở cạnh giường. Bà Compson vẫn nhắm mắt. Tóc bà và cái gối cùng một màu, bên dưới mảnh khăn tẩm thuốc đắp trán trông bà giống như một dì phước già đang cầu nguyện. "Đừng để nó ở đó" bà nói, mắt vẫn nhắm nghiền. "Chỗ ấy lúc nãy chị đã để. Chị định bắt tôi phải ra khỏi giường để nhặt nữa hay sao?"

Dilsey cầm quyển sách lên và để vào khoảng giường trống. "Sao mà cô đọc được?" bà nói. "Cô có muốn tôi kéo rèm lên một chút không ?"

"Không. Cứ để nguyên như thế. Đi đi và lo sửa soạn cái gì cho Jason ăn".

Dilsey đi ra. Bà đóng cửa và quay lại nhà bếp. Lò gần như lạnh ngắt. Trong lúc bà đứng đó, chiếc đồng hồ phía trên chạn gõ mười tiếng. "Một giờ" bà nói lớn. "Jason vẫn chưa về. Mình đã thấy cái đầu tiên và cái cuối cùng" bà nói, nhìn vào bếp lò lạnh lẽo. "Mình đã thấy cái đầu tiên và cái cuối cùng". Bà dọn ra bàn mấy món ăn nguội. Vừa đi đi lại lại bà vừa hát một bản thánh ca. Bà hát lại hai câu đầu rồi bắt vào đoạn kết. Bà sắp xếp bàn ăn rồi lại đi ra cửa gọi Luster, và một lúc sau Luster và Ben vào. Ben vẫn khóc ti tỉ, như cho riêng mình.

"Cậu ấy chẳng lúc nào hết nhè" Luster nói.

"Cả hai đứa lại ăn đi" Dilsey nói. "Jason không về ăn trưa đâu". Chúng ngồi xuống bàn. Thức ăn đặc thì Ben có thể tự xúc ăn tử tế ngon lành, nhưng bây giờ ngay cả với đồ nguội trước mặt hắn, Dilsey cũng buộc một chiếc khăn ăn quanh cổ hắn. Hắn và Luster ăn. Dilsey loay hoay trong gian bếp, hát hai câu đầu của bài thánh tướng mà bà còn nhớ được. "Cả hai đứa cứ tiếp tục ăn đi" bà nói "Jason vẫn chưa về".

Lúc ấy hắn đã ở xa cả hai chục dặm. Rời khỏi nhà, hắn phóng xe ra thị trấn, vượt qua những nhóm người đi lễ nhàn tản và những hồi chuông gióng giả vang trong bầu không khí rạn vỡ. Hắn băng qua quảng trường vắng tanh và rẽ vào một phố hẹp đột nhiên yên tĩnh hẳn, rồi dừng xe trước một ngôi nhà gỗ và theo một lối đi viền hoa dẫn tới hàng hiên. Bên trong khung cửa che rèm có tiếng người đang nói chuyện. Khi hắn đưa tay định gõ cửa thì nghe tiếng chân bước, hắn bỏ tay xuống, một người đàn ông to lớn mặc quần vải đen áo sơ mi hồ cứng không có cổ cồn ra mở cửa. ông ta có mái tóc màu xám thép rậm rạp bù rối và đôi mắt tròn xoe long lanh như mắt trẻ con. Ông cầm tay Jason vừa kéo vào nhà vừa lắc.

"Vào đây đã" ông nói. "Vào đây đã".

"Bác đã sẵn sàng để đi chưa?" Jason nói.

"vào đây" ông ta nói, nắm khuỷu tay hắn kéo vào trong căn phòng có một người đàn ông và một người đàn bà đang ngồi. "Anh biết chồng của Myrtle không nhỉ? Vermon à, đây là Jason Compson".

"Vâng" Jason nói. Hắn cũng chẳng buồn nhìn người đàn ông trong khi viên cảnh sát trưởng quận lôi một chiếc ghế ngang qua phòng, người đàn ông nói:

"Chúng tôi ra ngoài để các vị nói chuyện. Đi nào, Myrtle!"

"Không, không" viên cảnh sát nói. "Ai ngồi yên đấy. Tôi nghĩ chắc không có gì nghiêm trọng chứ, Jason? Ngồi xuống đi!"

"Tôi sẽ nói với bác trên đường đi" Jason nói. "Bác cứ đội mũ và mặc áo khoác vào".

"Chúng tôi ra ngoài kia" người đàn ông nói và đứng dậy.

"Anh cứ ngồi đấy" viên cảnh sát nói. "Tôi và Jason sẽ ra ngoài hiên".

"Bác lấy mũ với áo khoác đi" Jason nói. "Chúng đã chuồn được mười hai tiếng đồng hồ rồi". Viên cảnh sát dẫn hắn ra ngoài hiên nhà. Một người đàn ông và một người đàn bà đi qua nói chuyện với ông. Ông trả lời bằng một cử chỉ duyên dáng thân mật. Chuông vẫn vang rền, từ phía khu nhà có tên là Hang Da Đen. "Lấy mũ đi, bác cảnh sát trưởng" Jason nói. Viên cảnh sát kéo hai chiếc ghế.

"Ngồi xuống đây và kể tôi nghe chuyện lôi thôi thế nào".

"Tôi đã nói với bác qua điện thoại rồi mà" Jason nói và vẫn đứng. "Tôi làm như thế để tiết kiệm thời gian. Chả lẽ tôi phải viện đến luật pháp để buộc bác làm cái bổn phận mà bác đã tuyên thệ nữa sao?"

"Anh cứ ngồi xuống và kể chuyện đó cho tôi" viên cảnh sát nói. "Tôi sẽ chú ý nghe".

"Chú ý cái quái quỷ gì" Jason nói. "Bác gọi như thế là chú ý nghe tôi đấy hả?"

"Anh đang làm mất thì giờ của cả hai chúng ta" viên cảnh sát nói. "Anh cứ ngồi xuống và kể chuyện đó cho tôi nghe".

Jason kể với ông ta, cái ý tưởng về tổn thương và bất lực nuôi dưỡng giọng nói của hắn vì thế một lúc sau hắn đã quên cả sự vội vã trong cơn bực dọc chất chứa của những lời tự bào chữa và của nỗi sỉ nhục. Viên cảnh sát bình thản nghe hắn với cặp mắt lạnh lùng long lanh.

"Nhưng anh đâu biết là họ làm điều đó" ông nói. "Anh chỉ nghĩ là như thế".

"KHông biết?" Jason nói. "Khi tôi mất cả hai ngày trời khốn kiếp để lùng sục nó khắp đường ngang ngõ tắt, cố lôi nó ra khỏi thằng kia, sau khi tôi đã đe nó là tôi sẽ làm gì nếu tôi bắt gặp nó với thằng kia, vậy mà bác bảo là tôi không biết rằng cái con đ"

"Này, thôi" viên cảnh sát nói. "Thế được rồi. Thế cũng đủ rồi đấy". ông nhìn sang bên kia đường, hai tay đút túi.

"Và bây giờ tôi đến bác, một viên chức được uỷ quyền thực thi pháp luật" Jason nói.

"Tuần này gánh hát ở Mottson" viên cảnh sát nói.

"Phải" Jason nói "Giá như tôi tìm được một nhân viên công lực hiếm hoi nào quan tâm bảo vệ những người đã bầu ông ta vào chính quyền, giờ này chắc tôi cũng ở đó rồi". Hắn lặp lại câu chuyện, hằn học kết luận, như thể rút ra được một khoái cảm thực sự từ nỗi sỉ nhục và bất lực của mình. Viên cảnh sát như không để tâm lắng nghe gì hết.

"Jason" ông nói. "Anh làm cái gì mà giấu những ba ngàn đô la ở trong nhà?"

"Cái gì?" Jason nói. "Tôi để tiền của tôi ở đâu là việc của tôi. Việc của bác là giúp tôi lấy lại chỗ tiền đó".

"Bà cụ anh có biết anh giấu nhiều tiền đến thế không?"

"Này bác" Jason nói "nhà tôi bị mất trộm. Tôi biết kẻ nào làm điều đó và tôi biết chúng ở đâu. Tôi đến bác, một viên chức được uỷ quyền thực thi pháp luật, và tôi yêu cầu bác lần nữa, bác có định cố gắng giúp tôi thu hồi tài sản của tôi hay không?"

"Nếu anh tóm được chúng anh sẽ làm gì con bé?"

"KHông gì cả" Jason nói. "Không một tí gì. Tôi sẽ không đụng đến nó. Cái con đĩ đã khiến cho tôi mất một việc làm, một cơ hội để tôi tiến thân, đã giết cha tôi và làm mẹ tôi mòn mỏi từng ngày, làm tên tuổi tôi thành trò cười trong tỉnh. Tôi sẽ không làm gì nó hết" hắn nói. "Không một tí gì".

"Anh đã đẩy con bé đến chỗ phải trốn đi, Jason à" viên cảnh sát nói.

"Tôi điều khiển gia đình tôi thế nào đâu phải việc của bác" Jason nói. "Bác có định giúp tôi hay không nào?"

"Anh đã đẩy con bé đến chỗ phải bỏ cửa bỏ nhà" viên cảnh sát nói. "Và tôi có chút ngờ vực rằng số tiền đó thuộc về người nào nhưng tôi nghĩ mình không biết chắc".

Jason đứng đó, chậm chạp bóp vành chiếc mũ cầm ở tay. Hắn nói bình thản. "Vậy là bác không định cố gắng bắt chúng cho tôi?"

"Đó không hề là việc của tôi, Jason à. Nếu anh có một chứng cớ thật sự nào đó, tôi đành phải hành động. Bằng không tôi chẳng hơi đâu, đó không hề là việc của tôi".

"Câu trả lời của bác là như thế phải không?" Jason nói. "Nghĩ kỹ đi!"

"Đúng thế đấy, Jason à".

"Được" Jason nói. Hắn đội mũ lên. "Bác sẽ hối tiếc về chuyện này. Tôi không phải không có ai giúp đỡ. Đây cũng không phải nước Nga để bất cứ kẻ nào đeo cái phù hiệu con con bằng sắt cũng có thể bất chấp luật pháp". Hắn đi xuống bậc thềm, chui vào trong xe và nổ máy. Viên cảnh sát nhìn hắn lái xe, vòng lại và chạy ngang qua ngôi nhà về phía thị trấn.

Tiếng chuông lại vang rền, cao tít trong nắng trưa thành từng dải âm thanh hỗn độn và chói sáng. Hắn dừng ở trạm xăng để bơm bánh xe và đổ xăng.

"Ông định đi xa à?" gã da đen hỏi hắn. Hắn không trả lời. "Dù sao cũng có vẻ sẽ đi xa" gã da đen nói.

"Xa cái con khỉ" Jason nói. "Mười hai giờ thế nào cũng mưa như dưới địa ngục". Hắn nhìn trời, nghĩ đến cơn mưa, đến những đoạn đường đất sét trơn trượt, hắn sa lầy nơi nào đó cách thị trấn hàng dặm đường. Hắn nghĩ đến điều ấy với một cảm giác đắc thắng, nào là hắn sẽ mất toi bữa trưa, nào là bây giờ mới khởi hành và để thoả nỗi sốt ruột, hắn sẽ ở đúng khoảng cách xa nhất giữa hai thị trấn vào buổi trưa. Dường như đối với hắn, trong việc này, hoàn cảnh đã ngáng trở hắn, nên hắn bảo gã da đen:

"Anh làm trò quỷ gì vậy? người ta thuê anh giữ xe tôi ở đây càng lâu càng tốt phải không?"

"Cái bánh xe này chả còn tí hơi nào cả" gã da đen nói.

"Vậy thì tháo cái của nợ ấy ra và đưa tôi cái ruột bánh xe kia" Jason nói.

"Lên rồi đây này" gã da đen nói và đứng dậy. "Ông có thể đi được rồi".

Jason chui vào xe, nổ máy và lái đi. Hắn vào số hai, động cơ phụt hơi hổn hển, hắn rồ máy, dận lút ga và kéo dây van khí một cách hung hãn. "Lại sắp mưa" hắn nói "chỉ nửa đường là sẽ mưa như trút". Và hắn phóng xe ra khỏi tiếng chuông và ra khỏi thị trấn, tưởng tượng mình đang lội bì bõm trong bùn, đi lùng một cỗ ngựa. "Lũ chó chết đứa nào đứa nấy đi hết nhà thờ" hắn hình dung cuối cùng hắn tìm thấy một ngôi nhà thờ và lấy đi cỗ ngựa như thế nào, rồi chủ của nó chạy ra, hô hoán lên và hắn đánh anh ta gục xuống. "Tao là Jason Compson đây. Xem mày có cản nổi tao không. Xem mày có bầu ra được một thằng nào cản nổi tao không?" hắn nói, hình dung mình bước vào toà án với một tốp linh và lôi cỏ viên cảnh sát ra.

"Thử nghĩ xem lão ta lại ngồi ì ra đó khoanh tay mà nhìn mình mất việc làm. Mình sẽ cho lão ta biết mất việc là như thế nào". Hắn tuyệt nhiên không nghĩ gì đến cháu gái hắn, ngay cả đến cái giá trị võ đoán của đồng tiền. Cả tiền bạc lẫn cháu gái hắn đối với hắn đều chưa từng óc thực thể hay cá tính gì suốt mươi năm qua, cả hai thứ đó chỉ đơn thuần biểu trưng cho cái việc làm ở ngân hàng mà hắn bị cướp đoạt trước khi hắn có được.

Trời đã hửng, những bóp rợp bay qua từng đám như ở mặt trái, và đối với hắn dường như cái việc trời trong trẻo hơn là một đòn quỷ quyệt mà kẻ địch tung ra, một mặt trận mới mở mà hắn thì đầy mình những thương tích cũ. Từng lúc hắn vượt qua các giáo đường, những ngôi nhà gỗ mộc với những gác chuông lợp tôn, xung quanh là những cỗ ngựa bị buộc và những chiếc xe hơi tồi tàn, và đối với hắn dường như mỗi thứ là một trạm gác nơi những toán hậu quân của Hoàn Cảnh ẩn nấp rình rập sau lưng. "Cả ngươi nữa đồ khốn kiếp" hắn nói "xem ngươi có cản nổi ta không" hắn tưởng tượng ra hắn và tốp lính của hắn dẫn độ viên cảnh sát bị còng tay tới kéo cổ Đấng Toàn Năng từ trên ngai của Gã xuống nếu cần, tưởng tượng ra các đạo quân của cả thiên đàng và địa ngục hỗn chiến, hắn lao xe qua đó và cuối cùng tóm được con cháu gái đào tẩu của hắn.

Gió thổi từ hướng đông nam. Nó tạt đều đều trên má hắn. Hắn cảm thấy làn gió như vươn dài ra và đâm xuyên qua sọ hắn, rồi một linh cảm vụt trở lại hắn đạp thắng dừng xe và ngồi chết sững. Rồi hắn đưa tay lên cổ và bật chửi thề, và hắn ngồi đó, lẩm bẩm rủa bằng giọng khản đặc. Mỗi khi phải lái xe đi đâu thật lâu hắn thường dự phòng một chiếc khăn tay tẩm long não và buộc quanh cổ khi ra khỏi thị trấn để hít mùi hương, nên hắn ra khỏi xe nhấc nệm xe lên xem có còn sót chiếc khăn nào ở đó không. Hắn nhìn bên dưới cả hai chiếc nệm và lại đứng một lúc, chửi thề, thấy mình bị cười nhạo bởi chính cái đắc thắng của mình. Hắn nhắm mắt, tựa người vào cửa xe. Hắn có thể quay lại lấy long não bỏ quên ở nhà, hoặc có thể đi tiếp, trường hợp nào thì đầu hắn cũng đau muốn vỡ, tuy nhiên ở nhà ngày chủ nhật chắc là có thể tìm được long não, còn đi tiếp thì chưa chắc. Nhưng nếu quay lại, hắn sẽ tới Mottson muộn mất một tiếng rưỡi đồng hồ. "Có lẽ mình sẽ đi thật chậm" hắn nói. "Mình có thể đi thật chậm, nghĩ một chuyện gì khác".

Hắn vào xe nổ máy."Mình sẽ nghĩ đến chuyện khác", hắn nói và hắn nghĩ tới Lorraine. Hắn tưởng tượng hắn ở trong giường với nàng, chỉ nằm cạnh nàng thôi, cầu xin nàng giúp đỡ, rồi hắn lại nghĩ đến món tiền, rằng hắn đã thua trí một con đàn bà, một con ranh. Giá như là một thằng đàn ông trộm tiền của hắn cho cam. Lại còn bị trộm món tiền mà hắn coi là để đền bù cho cái việc làm bị mất, món tiền mà hắn kiếm được qua bao nhiêu nỗ lực và mạo hiểm, do chính biểu trưng cccái việc làm bị mất ấy, và tệ hại hơn hết, do một con điếm ranh. Hắn lái xe đi, kéo một góc áo khoác lên che mắt trước ngọn gió thổi đều đều.

Hắn như nhìn thấy những thế lực đối địch của số phận hắn cùng với ý chí của hắn song hành vùn vụt, tới một giao điểm không sao cưỡng được, hắn trở nên khôn ngoan. Mình không được sai lầm ngớ ngẩn, hắn tự nhủ. Hoặc đúng khác không, có thể thôi, và hắn phải làm đúng. Hắn tin rằng cả hai đứa chỉ thoạt thấy hắn là nhận ra ngay, còn hắn chắc sẽ nhận ra con bé trước trừ phi thằng kia vẫn còn đeo cà vạt đỏ. Và chỉ nguyên việc hắn phải phụ thuộc vào chiếc cà vạt đỏ ấy cũng dường như là kết toán của cái tai hoạ lơ lửng, hắn có thể ngửi thấy, cảm thấy điều đó ở cơn nhức nhối giần giật trên đầu hắn.

Hắn leo lên ngọn đồi cuối cùng. Khói ngập thung lũng, những mái nhà và một vài gác chuông nhô trên rặng cây. Hắn lái xe xuống đồi và vào thị trấn, chầm chậm, bụng bảo dạ là phải cẩn thận, đầu tiên là tìm xem lều bạt dựng ở đâu. Bây giờ hắn nhìn cũng không rõ nữa, nhưng hắn biết là nếu cứ đâm bổ đi kiếm cái gì giải quyết cơn nhức đầu thì sẽ hỏng bét. Ở một trạm xăng, người ta bảo hắn là lều bạt chưa dựng, nhưng xe cộ của gánh hát đậu ngay cạnh bến xe. Hắn lái xe tới đó.

Hai chiếc xe ngủ Pullman sơn vẽ loè loẹt đậu trong con hẻm. Chưa vội ra khỏi xe, hắn thám sát chúng. Hắn cố thở thật nhẹ để máu đỡ giần giật trong đầu. Rồi hắn ra ngoài và men theo bức tường bên, canh chừng những chiếc xe. Có mấy bộ quần áo phơi bên ngoài cửa sổ, ướt sũng và nhăn nhúm, như vừa giặt xong. Trên mặt đất cạnh bậc lên xuống của một chiếc xe có ba cái ghế bố. Nhưng tuyệt nhiên hắn không thấy một dấu hiệu nào của sự sống đến khi một người đàn ông đeo chiếc tạp dề bẩn thỉu đi ra cửa xe và vung tay hắt xoong nước rửa bát, nắng lấp lánh trên thành xoong, rồi lại trở vào trong xe.

Bây giờ mình phải bất thần chộp lấy lão ta, không để lão báo động cho chúng, hắn nghĩ. Hắn chẳng hề nghĩ là có thể chúng không có ở trong xe. Nếu chúng lại không ở đó, nếu toàn bộ kết quả lại không xoay quanh việc hoặc hắn thấy chúng trước hoặc chúng thấy hắn trước, thì thật là phản lại toàn bộ tự nhiên và mâu thuẫn với tiến trình tổng thể của các sự kiện. Và hơn thế nữa, hắn phải thấy chúng trước, lấy lại số tiền, rồi chúng làm trò gì cũng chẳng quan trọng chút nào đối với hắn, nếu không thì toàn thế giới phải biết rằng hắn, Jason Compson, đã bị mất trộm bởi vì Quentin, cháu gái hắn, một con đĩ.

Hắn lại thám sát, rồi hắn đi tới chiếc xe, bước lên bậc, nhanh nhẹn và khẽ khàng, và dừng ở cửa. Ngăn bếp tối mò, sặc mùi thức ăn thiu. Người đàn ông là một đám trắng mờ đang hát bằng một giọng nam cao gãy vỡ và run rẩy. Một lão già, hắn nghĩ, lại chẳng to con bằng mình. Hắn vào trong xe và người kia ngước nhìn lên.

"Hử?" người kia nói và ngưng hát.

"Chúng nó đâu?" Jason nói. "Nói mau. Trong xe ngủ hả?"

"Ai ở đâu?" người kia nói.

"Đừng có nói láo với tôi" Jason nói. Hắn mò mẫm xông tới trong tối tăm lộn xộn.

"Cái gì thế?" người kia nói. "Anh bảo ai nói láo?" và khi Jason túm được vai lão, lão la lên "Coi chừng đấy, anh bạn!"

"Đừng có nói láo" Jason nói. "Chúng ở đâu?"

"Làm sao, đồ con hoang này" người kia nói. Cánh tay lão gầy gò yếu ớt trong bàn tay Jason. Lão cố giằng ra, đoạn lão quay người lại và quờ quạng ngã lên chiếc bàn bừa bộn phía sau.

"Nói đi" Jason nói "chúng ở đâu?"

"Tao sẽ bảo mày chúng ở đâu" người kia thét lên để tao tìm con dao phay của tao".

"Này" Jason nói, cố ghì người kia "tôi chỉ hỏi lão một câu thôi".

"Đồ con hoang" người kia thét lên, quờ quạng trên bàn. Jason cố ghì lão trong cả hai cánh tay, cố chế ngự cơn cuồng nộ yếu đuối của lão. Cơ thể lão đã già nua ốm yếu như thế, lão lại cứ khăng khăng một cách cố chấp khiến Jason lần đầu tiên nhìn thấy rõ ràng sáng tỏ cái tai họ mà hắn đang lao vào.

"Thôi nào!" hắn nói. "Này! Này! Tôi sẽ ra. Khoan chút đã, rồi tôi ra".

"Bảo tao nói láo à?" người kia vẫn gào. "Buông tao ra. Buông tao ra một phút thôi. Tao sẽ cho mày biết".

Jason ghì chặt lão, nháo nhác nhìn quanh. Ngoài kia trời hửng nắng, mau lẹ sáng ngời và thoáng đãng, và hắn nghĩ thiên hạ sắp nhàn nhã trở về nhà với bữa trưa chủ nhật, tiệc tùng vui vẻ, còn hắn thì đang cố ghì lão già nhỏ thó cố chấp rồ dại này mà hắn không dám buông ra dù chỉ một lúc để quay lưng và chạy.

"Lão có yên trời lát để tôi ra không?" hắn nói. "Có yên không?" nhưng người kia vẫn giãy giụa, và Jason buông một tayra và nện lên đầu lão. Một quả đấm vụng về, hấp tấp và yếu ớt, nhưng người kia gục xuống tức khắc làm nồi niêu xoong chảo rơi loảng xoảng trên sàn. Jason đứng bên trên lão, hổn hển, nghe ngóng. Rồi hắn quay đầu chạy ra ngoài xe. Ra tới cửa, hắn kìm mình, chậm chạp bước xuống và đứng lại ở đó. Hơi thở của hắn cứ thoát ra ha ha ha, và hắn đứng đó cố nén xuống, đưa mắt ngó ngược ngó xuôi, khi có tiếng xô đẩy sau lưng, hắn quay phắt lại thấy lão già loắt choắt lóng ngóng và hung hăng nhảy bổ ra từ gian ngoài, tay vung một lưỡi rìu nhỏ han gỉ

Hắn tóm lấy lưỡi rìu, không cảm thấy cú đập nhưng hắn biết mình đang ngã xuống và nghĩ thôi thế là hết, hắn tin chắc mình sắp chết và khi có cái gì nện mạnh vào sau gáy, hắn nghĩ lão nện mình vào chỗ đó như thế nào nhỉ? Có lẽ lão nện mình từ lâu rồi kia, hắn nghĩ, và bây giờ mình mới cảm thấy, và hắn lại nghĩ. Mau lên. Mau lên. Cho xong đi, và rồi một ước muốn điên cuồng không chịu chết đã chụp lấy hắn và hắn chống cự, còn nghe thấy lão già gào thét và chửi rủa bằng cái giọng gãy vụn của lão.

Hắn vẫn chống cự khi có người kéo hắn đứng dậy, nhưng người ấy giữ chặt hắn và hắn thôi.

"Tôi chảy nhiều máu không?" hắn nói. "Sau gáy tôi. Có chảy máu không?" hắn vẫn nói khi cảm thấy đang bị lôi đi vội vã, nghe giọng the thé hung hăng của lão già văng vẳng sau lưng. "Nhìn đầu tôi xem" hắn nói. "Khoan, tôi"

"Khoan cái con khỉ" người đang giữ hắn nói. "Con ong nọc loắt choắt khốn kiếp ấy sẽ giết anh. Cứ đi đi. Anh không sao đâu".

"Lão đánh tôi" Jason nói. "Tôi có chảy máu không"

"Đi đi mà" người kia nói. Anh ta dẫn Jason đi vòng qua góc bến xe, đến một bãi đất trống có một chiếc xe tốc hành đang đậu, cỏ mọc lởm chởm trong một ô đất viền những luống hoa cứng ngắc và một tấm biển bằng đèn điện: Hãy để đến Mottson, lỗ hổng ở chữ mắt được thay bằng hình vẽ một con mắt người có lắp bóng điện. Người kia buông hắn ra.

"Bây giờ" anh ta nói "Anh đi khỏi đây và đừng trở lại. Anh định làm gì vậy? muốn tự tử à?"

"Tôi đang tìm hai người" Jason nói. "Tôi chỉ hỏi lão xem chúng ở đâu thôi".

"Anh tìm ai?"

"Một đứa con gái" Jason nói "và một thằng con trai. Hôm qua ở Jefferson nó thắt một cái cà vạt đỏ. Nó ở gánh hát này. Chúng ăn trộm của tôi".

"À" người kai nói. "Ra là anh. Này, chúng không ở đây đâu".

"Tôi nghĩ vậy" Jason nói. Hắn đứng tựa vào bức tường, đưa tay sờ gáy rồi nhìn lòng bàn tay. "Tôi tưởng mình bị chảy máu" hắn nói "Tôi tưởng lão lấy rìu chém tôi".

"Anh đập đầu vào lan can" người kia nói. "Anh nên đi đi. Chúng không ở đây đâu".

"Phải. Lão ta cũng bảo là chúng không ở đây. Tôi tưởng lão nói dối".

"Anh có nghĩ là tôi nói dối không?" người kia nói.

"Không" Jason nói. "Tôi biết chúng không ở đây".

"Tôi đã bảo chúng xéo đâu thì xéo, cả hai đứa" người kia nói. "Tôi không có những loại như thế trong đoàn tôi. Tôi chỉ đạo một đoàn diễn đứng đắn với một dàn diễn viên đứng đắn".

"Phải" Jason nói. "Ông không biết chúng đi đâu à?"

"Không. Và tôi cũng không muốn biết. Không một thành viên nào trong đoàn diễn của tôi lại có thể dung nạp một thứ đồ bỏ như thế. Anh là - anh con bé?"

"Không" Jason nói. "Chẳng thành vấn đề. Tôi chỉ muốn gặp chúng. Ông chắc lão ta không chém trúng tôi chứ? Chắc là không chảy máu".

"Sẽ có máu nếu tôi không đến kịp. Bây giờ anh rời khỏi đây đi. Lão con hoang loắt choắt ấy sẽ giết anh. Xe anh kia à?"

"Phải".

"Thôi, anh lên xe về Jefferson đi. Nếu anh tìm thấy chúng, chắc sẽ không phải trong đoàn tôi. Tôi chỉ đạo một đoàn diễn đứng đắn. Anh bảo là chúng ăn trộm của anh à?"

"Không" Jason nói. "Chẳng có chuyện gì đâu." Hắn đi tới chiếc xe và chui vào. Mình phải làm gì đây? hắn nghĩ. Rồi hắn nhớ lại. Hắn nổ máy và lái chầm chậm ngược phố đến khi tìm thấy một hiệu thuốc. Cửa khoá. Hắn đứng một lúc, tay đặt trên quả đấm cửa và đầu hơi cúi xuống. Rồi hắn quay lại và một lát sau có người tới hắn hỏi xem có hiệu thuốc nào mở cửa hay không, nhưng không có. Rồi hắn hỏi khi nào xe lửa mạn bắc chạy, và người kia bảo hắn là lúc hai giờ ba mươi phút. Hắn băng qua vỉa hè, chui vào xe và ngồi đó. Một lát sau có hai thằng bé da đen đi qua. Hắn gọi chúng.

"Có đứa nào trong chúng mày biết lái xe không?"

"Dạ biết"

"Lái xe đưa tao về Jefferson mày lấy bao nhiêu?"

Chúng nhìn nhau, thì thầm.

"Tao trả một đô la" Jason nói.

Chúng lại thì thầm. "Không đi xa thế đâu" một đứa nói.

"Chúng mày bận việc gì?"

"Mày đi được không?" đứa này nói.

"Tao không đi được đâu" đứa kia nói "Sao mày không lái xe cho ông ấy đến đó? Mày có bận việc gì đâu?"

"Có, tao bận".

Chúng lại thì thầm và cười.

"Tao cho chúng mày hai đô la" Jason nói. "Đứa nào cũng được".

"Cháu cũng không đi được" đứa đầu tiên nói.

"Vậy thôi" Jason nói. "Đi đi"

Hắn ngồi đó một lúc lâu. Hắn nghe đồng hồ gõ nửa giờ, rồi thiên hạ bắt đầu đi qua, diện những bộ đồ Chủ nhật và lễ Phục sinh. Một vài người nhìn hắn khi đi ngang, nhìn con người ngồi im lìm sau tay lái chiếc xe nhỏ, với đời sống vô hình đan kết xung quanh hắn như một chiếc tất đã sờn rách.

Một lát sau một gã da đen mặc quần yếm đi tới.

"Ông có phải là người muốn đi Jefferson không?" gã nói.

"Phải" Jason nói. "Anh lấy tôi bao nhiêu?"

"Bốn đô la".

"Tôi trả anh hai".

"Dưới bốn không đi được" người trong xe ngồi lặng lẽ, cũng không buồn nhìn gã. Gã da đen nói "Ông có cần tôi hay không?"

"Thôi được" Jason nói. "Lên xe đi".

Hắn dịch sang bên và gã da đen ngồi vào sau tay lái. Jason nhắm mắt. Mình có thể kiêm cái gì để chữa ở Jefferson, hắn tự nhủ, thả lỏng mình theo nhịp xóc, mình có thể kiếm cái gì ở đó. Chiếc xe chạy dọc các phố xá, nơi thiên hạ đang thư thả trở về nhà với bữa trưa Chủ nhật, và ra khỏi thị trấn. Hắn nghĩ đến điều đó. Hắn không nghĩ đến nhà, nơi Ben và Luster đang ngồi ăn đồ nguội ở bàn bếp. Một cái gì đó - sự ẩn hiện của tai hoạ, đe doạ, trong bất kỳ hiểm nguy thường trực nào - giúp hắn quên đi Jefferson như một nơi chốn hắn chưa hề thấy trước đó, nơi mà cuộc đời hắn lại phải tiếp tục.

Khi Ben và Luster ăn xong Dilsey đuổi chúng ra ngoài. "Xem mày có giữ yên cậu ấy được hơn bốn tiếng không nào. T. P. Sắp về đấy".

"Vâng ạ" Luster nói. Dilsey ăn bữa trưa và dọn dẹp bếp núc. Rồi bà tới chân cầu thang lắng nghe, nhưng không thấy động tĩnh gì. Bà trở lại đi qua bếp ra cửa ngoài và dừng ở bậc thềm. Không thấy Ben và Luster đâu cả, nhưng lúc đứng đó bà lại nghe thấy tiếng tăng tăng uể oải từ phía cửa hầm rượu và bà tới cửa hầm nhìn xuống thấy cái cảnh ban sáng lặp lại.

"Anh ta làm đúng như vậy" Luster nói. Nó ngắm nghía lưỡi cưa bất động với một vẻ chán ngán đầy hy vọng. "Tôi không tìm được đúng cái để đánh vào nó" nó nói.

"Và mày sẽ chẳng bao giờ tìm được ở đây đâu" Dilsey nói. "Mày đưa cậu ấy ra ngoài nắng kia. Chúng mày chui xuống nền đất ẩm thế này đến bị sưng phổi mất thôi".

Bà đứng đợi và nhìn chúng đi qua sân tới khóm cây tuyết tùng cạnh hàng rào. Rồi bà đi về lều.

"Này, cậu đừng có mà giở trò nhé" Luster nói. "Hôm nay tôi cũng đủ khổ sở với cậu rồi". Có một cái võng làm bằng những chiếc đai thùng gỗ bện với dây thừng. Luster nằm xuống đung đưa, nhưng ben cứ cắm đầu đi thẳng chẳng biết đi đâu. Hắn lại bắt đầu khóc thút thít. "Nin đi nào", Luster nói "Tôi đánh đòn bây giờ". Nó lại nằm xuống đung đưa. Ben đã đứng lại nhưng Luster vẫn nghe thấy hắn thút thít. "Cậu có nín đi không nào?" Luster nói. Nó đứng dậy đi theo và đến chỗ Ben đang ngồi xổm trước một mô đất nhỏ. Ở mỗi đầu mô đất chôn một cái chai rỗng bằng thuỷ tinh xanh trước kia để đựng hoá chất. Trong một chai có cây hoa cà đã héo. Ben ngồi xổm trước cây hoa, rền rĩ, một âm thanh chậm rãi, mơ hồ. Hắn vừa rền rĩ vừa ngó quanh tìm một cành cây cắm vào cái chai kia. "Sao cậu không im đi?" Luster nói. "Cậu muốn tôi làm cái gì cho cậu khóc một thể không ? giả sử tôi làm thế này này" Nó quỳ xuống và bất thần nhổ phắt cái chai lên giấu sau lưng. Ben ngừng rền rĩ. Hắn ngồi xổm, nhìn vào cái hố nhỏ nơi chôn chai, rồi khi hắn hít vào đầy lồng ngực, Luster lại đưa cái chai ra. "Nín!" nó rít lên. "Cậu đừng giở trò rống lên nữa. Thôi đi. Đây này. Thấy không? Đây. Ngồi chỗ này là lại nhè. Đi nào, đi xem họ có đánh bóng đàng kia không". Nó nắm cánh tay Ben và kéo hắn dậy rồi chúng đi tới hàng rào đứng sát bên nhau, ghé mắt nhòm qua bụi cây kim ngân chưa nở hoa.

"Đấy" Luster nói. "Có người đến đấy. Thấy không?"

Chúng xem bốn người chơi trên thảm cỏ xanh và họ đi ra, rồi đến chỗ giao bóng và vụt. Ben nhìn, rền rĩ và chảy dãi. Khi bốn người kia đi, nó bám theo dọc hàng rào, lúc lắc đầu và khóc thút thít. Một người nói:

"Này, caddie. Xách túi đi".

"Nín đi, Benjy" Luster nói, nhưng Ben cứ lóng ngóng chạy, bám lấy hàng rào, rên rỉ bằng cái giọng khàn khàn vô vọng của hắn. Người kia đánh quả bóng rồi đi, Ben chạy theo anh ta đến chỗ hàng rào ngoặt vuông góc và hắn cứ bám lấy hàng rào nhìn theo người kia đi khuất.

"Có nín đi không nào?" Luster nói."Nín ngay không?"

Nó lắc cánh tay Ben. Ben bám lấy hàng rào rền rĩ khàn khàn từng đợt. "Cậu không thôi hả?" Luster nói. "Hay cậu lại muốn?" Ben nhìn chằm chằm qua hàng rào. "Được rồi" Luster nói. "Cậu muốn có cớ để rống hả?" nó nhìn qua vai về phía nhà. Rồi nó thì thào "Caddy! Rống lên nào. Caddy! Caddy! Caddy!"

Một lát sau, ở quãng ngừng chậm chạp giữa tiếng rống của Ben, Luster nghe thấy Dilsey gọi. Nó kéo cánh tay Ben và chúng đi qua sân về phía bà.

"Con đã nói với mammy là cậu ấy sẽ nhè mà" Luster nói.

"Đồ khốn!" Dilsey nói. "Mày làm gì cậu ấy hả?"

"Con chẳng làm gì cả. Con đã nói với mammy là khi người ta bắt đầu chơi bóng thế nào cậu ấy cũng nhè mà".

"Chúng mày lại đây" Dilsey nói. "Nín đi, Benjy. Nín đi nào!" Nhưng hắn không nín. Cả ba đi thật nhanh qua sân tới lều và chui vào. "Chạy đi lấy chiếc dép ấy đi" Dilsey nói. "Đừng có làm rộn cô Cahline nghe không. Nếu cô hỏi gì thì bảo là tao trông cậu ấy. Đi đi nào. Mày làm đúng như thế được chứ?" Luster đi ra. Dilsey đưa Ben tới giường, kéo hắn ngồi xuống cạnh bà và ôm hắn lắc lư, lau cái miệng dớt dãi của hắn bằng vạt váy của mình. "Nín đi nào" bà nói và xoa đầu hắn. "Nín đi. Dilsey đây mà". Nhưng hắn vẫn rống chậm rãi, hèn mọn, không có nước mắt, cái tiếng kêu trầm trầm vô vọng của tất cả những khốn khổ âm thầm dưới ánh mặt trời.

Luster trở lại, cầm một chiếc dép xa tanh trắng. Giờ đây nó đã ngả vàng, vừa gãy vừa bẩn, và khi đặt nó vào bàn tay Ben, hắn nín một lát. Rồi hắn lại gào lên và giọng hắn bắt đầu ré lên.

"Mày xem có thấy T.P. ở đâu không?" Dilsey nói.

"Hôm qua cậu bảo là hôm nay cậu ấy đi St John. Bảo là bốn giờ mới về".

Dilsey lắc lư và xoa đầu Ben.

"Lâu quá, ôi lạy Chúa" bà nói."Lâu quá".

"Con đánh cái xe ấy được mà, mammy" Luster nói.

"Để mà chết cả hai đứa à" Dilsey nói. "Mày thì quỷ quái lắm. Tao biết mày cũng đủ khôn ngoan. Nhưng có điều tao không tin được mày. Nín đi nào!" bà nói. "Nín đi! Nín đi!"

"Con không lam gì đâu" Luster nói. "Con vẫn đánh xe cùng với T.P. Mà" Dilsey lắc lư, ôm Ben. "Cô Cahline bảo là nếu mammy không dỗ được cậu ấy nín, cô sẽ dậy để xuống nhà làm việc ấy".

"Nín đi, cưng" Dilsey nói và xoa đầu Ben. "Luster con à" bà nói. "Con thương mammy già yếu của con mà đánh xe cho cẩn thận, được chứ?"

"Vâng ạ" Luster nói. "Con đánh xe y như T.P. Được mà".

Dilsey xoa đầu Ben, lắc lư. "Tôi đã làm hết sức mình" bà nói. "Chúa biết điều ấy. Lấy xe đi nào" bà nói và đứng dậy. Luster chạy biến. Ben cầm chiếc dép, khóc. "Nín đi nào, Luster đi lấy xe ngựa đưa cưng đến nghĩa trang. Không thể để cưng đi đầu trần được đâu", bà nói. Bà đi tới ngăn chứa đồ được che bằng một tấm màn vải hoa treo ở góc phòng và lấy ra chiếc mũ dạ cũ của bà. "Thiên hạ đâu biết là nhà mình sa sút đến thế này" bà nói. "Dẫu sao cưng cũng là con của Chúa. Và tôi cũng là con Ngài. Từ xưa, ơn Chúa. Nào". Bà đội mũ và cài khuy áo khoác cho hắn. Hắn khóc thút thít đều đều. Bà cất chiếc dép và họ đi ra. Luster tới, đánh chiếc xe cà tàng đã xệ một bên với một con ngựa trắng già nua.

"Mày sẽ cẩn thận chứ, Luster?" bà nói.

"Vâng" Luster nói. Bà đỡ Ben lên ghế sau. Hắn đã thôi khóc, nhưng bây giờ lại bắt đầu thút thít.

"Cây hoa của cậu ấy" Luster nói. "Khoan đã, để con lấy cho cậu ấy một cây".

"Cứ ngồi đấy" Dilsey nói. Bà tới và nắm lấy dây hàm thiếc. "Nào, lấy cho cậu ấy một cây hoa, mau lên!" Luster chạy vòng qua nhà tới vườn. Nó trở lại với một bông thuỷ tiên.

"Bông này gãy rồi," Dilsey nói "Sao không lấy cho cậu ấy một bông tử tế?"

"Con chỉ thấy mỗi một bông này thôi" Luster nói. "Mammy hái hết cả hôm thứ Sáu để trang hoàng nhà thờ rồi còn gì. Khoan đã, để con sửa lại bông này". Thế là trong lúc Dilsey giữ ngựa, Luster lấy một cành cây nhỏ và hai mẩu dây để làm nẹp cho cây hoa rồi đưa cho Ben. Đoạn nó leo lên xe và cầm dây cương. Dilsey vẫn giữ cương.

"Mày có biết đường không?" bà nói. "Đi ngược phố, vòng qua quảng trường, tới nghĩa trang, rồi đi thẳng về nhà".

"Vâng ạ" Luster nói. "Tế lên, Queenie!"

"Mày cẩn thận đấy, nghe không?"

"Vâng ạ" Dilsey buông cương.

"Ấy, mammy" Luster nói.

"Đưa đây tao" Dilsey nói, đến sát bánh xe. Luster miễn cưỡng đưa cho bà.

"Làm sao thúc được con Queenie chạy bây giờ?"

"Mày khỏi lo chuyện đó" Dilsey nói. "Con Queenie nó biết hơn cả mày là nó sẽ đi đâu. Mày chỉ việc ngồi đấy mà giữ chặt dây cương. Mày biết đường chứ?"

"Vâng ạ. Vẫn con đường Chủ nhật nào T.P. Cũng đi mà".

"Vậy thì Chủ nhật này mày cứ thế mà làm".

"Hẳn thế rồi, con đã chả đánh xe cho T. P. Hơn trăm lần rồi hay sao?"

"Vậy cứ thế mà làm" Dilsey nói. "Đi nào. Mày mà làm ngã Benjy, thằng nhãi đen kia, không biết tao sẽ làm gì đây. Mày cùng một giuộc với bọn đeo xiềng, nhưng tao sẽ tống mày đến đấy cho bọn đeo xiềng chúng trị mày".

"Vâng ạ" Luster nói. "Tế lên Queenie!"

Nó giật dây cương, đập lên cái lưng rộng của con Queenie và chiếc xe lảo đảo chuyển bánh.

"Này, Luster!" Dilsey nói.

"Tế lên, thế!" Luster nói. Nó lại giật dây cương. Với những tiếng ầm ầm dưới lòng đất, con Queenie chạy nước kiệu chầm chậm xuống ngõ và đi vào phố, nơi Luster thúc nó vào một nước chạy trông như lơ lửng và ngã dài về phía trước.

Ben thôi rền rĩ. Hắn ngồi giữa ghế, cầm ngay ngắn cây hoa đã sửa trong bàn tay, đôi mắt bình thản khôn tả. Ngay trước hắn, cái đầu hình viên đạn của Luster chốc chốc lại ngoái lại cho đến khi ngôi nhà khuất dạng nó mới dừng xe bên lề đường và trong lúc Ben nhìn nó, nó tụt xuống và bẻ một nhánh cây mềm ở bờ dậu. Con Queenie cúi đầu tìm gặm cỏ đến khi Luster leo lên xe lôi đầu nó lên và thúc nó chạy tiếp, rồi Luster khuỳnh tay, nó vung cao nhánh cây và sợi dây cương lấy điệu bộ ngang tàng chẳng ăn nhập gì với tiếng gõ móng lộp cộp khoan thai của con Queenie và nhịp thở trầm trầm như đàn đại phong cầm của con vật đệm trong tiếng vó. Những chiếc xe hơi vượt qua chúng, người đi bộ cũng vậy, có cả một bọn choai choai da đen:

""Luster kìa. Mày đi đâu đấy, Luster? Đến nghĩa trang hả?"

"Hây" Luster nói. "Không phải chúng mày cũng đến nghĩa trang đấy hay sao? Tế lên, voi!"

Chúng đến gần quảng trường chỗ tượng đài anh lính Liên bang ngước cặp mắt trống rỗng dưới bàn tay bằng đá nhìn đăm đăm vào mây gió. Luster cao hứng lấy nhánh cây quất cho con Queenie bình thản một roi, và đưa mắt nhìn quanh quảng trường. "Xe cậu Jason đàng kia" nó nói rồi lại trông chừng một bọn choai choai da đen khác. "Cho tụi nó thấy mình chơi oách cỡ nào nghe không, Benjy?" nó nói. "Cậu bảo sao?" nó quay lại nhìn. Ben ngồi, nắm chặt cây hoa trong lòng bàn tay, ánh mắt trống rỗng và bình yên. Luster lại quất con Queenie và lái nó sang phía bên trái tượng đài.

Bỗng Ben ngồi sững trong một quãng lặng hoàn toàn. Rồi hắn rống lên. Rống lên liên tục, giọng hắn cao vút, thỉnh thoảng mới ngừng để thở. Có cái gì hơn cả sự kinh hoàng trong giọng hắn, đó là sự khủng khiếp, choáng váng, là nỗi thống khổ mù loà, câm nín; chỉ là một tiếng kêu, và Luster đảo lia lịa cặp mắt trắng dã. "Trời đất ơi" nó nói. "Nín! Nín! Trời đất ơi!" nó lại quay cuồng và lấy nhánh cây quất con Queenie. Nhánh cây gãy nó vứt đi và khi giọng Ben vút lên với cường độ không tin nổi, Luster túm chặt dây cương và ngoài người ra đàng trước thì Jason nhảy bổ qua quảng trường và leo lên bậc xe.

Bằng cú tát trái, hắn gạt Luster sang một bên, giằng lấy dây cương và giật con Queenie hết bên phải lại bên trái rồi chập đôi sợi dây cương lại và quất ngang mông ngựa. Hắn quất liên tiếp thúc nó phi nước đại, trong lúc nỗi thống khổ khàn khàn của Ben gầm lên, và lái nó sang phía bên phải tượng đài. Rồi hắn đấm lên đầu Luster.

"Mày không biết làm trò gì hơn là đưa nó sang phía bên trái à?" hắn nói. Hắn với tay ra đàng sau đánh Ben, làm cây hoa lại gãy gập. "Câm mồm!" hắn nói. "Câm mồm!" hắn giật con Queenie đứng lại và nhảy xuống. "Xéo ngay về nhà với nó. Mày còn đưa nó qua cái cổng ấy lần nữa, tao sẽ giết mày!"

"Dạ vâng ạ!" Luster nói. Nó cầm cương và lấy đoạn cuối của dây cương quất con Queenie. "Ngồi dậy! Ngồi dậy, Benjy, vì Chúa!"

Giọng Ben gầm mãi lên. Con Queenie lại chạy, bốn vó lại bắt đầu lộp cộp đều đặn và Ben nín bặt. Luster ngoái cổ nhìn thật nhanh qua vai, rồi đánh xe đi. Cây hoa gãy gục trên nắm tay Ben và đôi mắt hắn lại trống rỗng xanh ngắt và bình thản khi những gờ mái và mặt tiền nhà lại một lần nữa lướt qua êm ái từ trái sang phải, cột và cây, cửa sổ và lối ngõ, rồi bảng hiệu, vật nào chỗ nấy.

Phụ lục

COMPSON: 1699 - 1945

IKKEMOTUBBE. Một ông vua Mỹ bị thất nghiệp. Được gọi là "L Homme" (và đôi khi "de l homme") bởi anh nuôi của ông, một Hiệp sĩ Pháp quốc sinh ra quá muộn nếu không đã có thể thuộc loại sáng chói nhất trong thiên hà lấp lánh những kẻ khốn kiếp thượng võ là các thống chế của Napoleon, người đã dịch cái danh hiệu bằng thổ ngữ Chickasaw có nghĩa là "Con Người" ra tiếng Pháp như trên, cách dịch này lại được chính Ikkemotubbe - vốn cũng là người thông minh, giàu trí tưởng tượng cũng như có óc nhận xét sắc sảo về tính cách, kể cả tính cách mình - đẩy xa hơn và Anh hoá nó thành "Doom" (Định mệnh). Người đã sang nhượng từ lãnh thổ bao la hoang phí của mình một dặm vuông ngon lành thuộc vùng đất hoang Bắc Mississippi vuông thành sắc cạnh như bốn góc của một chiếc bàn đánh bài (hồi ấy là rừng vì đó là những ngày xa xưa trước năm 1833 khi xuất hiện sao băng và Jefferson Mississippi còn là một ngôi nhà dài một tầng dựng láo nháo bằng gỗ súc trát bùn làm trụ sở của Đại Lý Chickasaw và thương điếm của ông) cho cháu của một người tị nạn Sctotland đã bị mất quyền lợi dòng dõi do gắn bó số phận mình với một ông vua bị phế truất. Khoản này là để chuộc lại phần nào quyền được đi lại yên ổn, bởi bất cứ phương tiện nào mà ông và dân chúng của ông thấy thích hợp, đi bộ hoặc cuỡi ngựa miễn là ngựa Chickasaw, đến miền tây hoang vu bây giờ gọi là Oklahoma: lúc đó chưa biết đến dầu mỏ.

JACKSON. Một tổ phụ da trắng vĩ đại với một thanh gươm. (Một đấu sĩ kỳ cựu, một con sư tử già gây gổ còm nhom hung dữ xác xơ bền bỉ bất diệt người đặt sự an lạc của quốc gia lên trên Nhà Trắng và đặt sự lành mạnh của chính đảng mới của mình lên trên cả hai vai và trên tất cả không phải là danh dự của vợ mình mà là cái nguyên lý khẳng định rằng danh dự phải được bảo vệ cho dù có hya không bởi vì đã được bảo vệ tức là có cho dù có hay không). Người chứng thực đóng dấu và phê chuẩn việc sang nhượng bởi chính tay mình trong căn lều vàng của mình ở Wassi Town, cũng chưa biết đến dầu mỏ: để một ngày kia những hậu duệ vô gia cư của kẻ bị phế truất sẽ rong ruổi say ngất ngư và hôn mê tuyệt vời ở nơi ẩn náu bụi bặm đã dành phần cho các lóng xương của họ trong những chiếc xe tang đặc chế sơn đỏ và những đầu máy xe lửa.

Đây là những người trong dòng họ Compson:

QUENTIN MACLACHAN. Con trai một chủ nhà in ở Glasgow, mồ côi và được họ hàng bên mẹ ở cao nguyên Perth nuôi lớn lên. Từ Culloden Moor chạy trốn sang Carolina với một thanh kiếm và một chiếc áo vải len kẻ ô ngày mặc đêm đắp, và chẳng có gì khác.

Năm tám mươi, bởi đã từng chống lại một vua Anh và thất trận, ông không muốn mắc phải sai lầm đó lần nữa nên lại đào thoát vào một đêm năm 1799, với đứa cháu trai thơ dại và chiếc áo len kẻ ô (thanh kiếm đã mất, cùng với con trai ông, cha của đứa cháu, trong một trận đánh của các trung đoàn Tarleton trên chiến trường Georgia khoảng một năm trước) tới Kentucky nơi một người láng giềng tên là Boon hoặc Boone gì đó đã lập một khu định cư.

CHARLES STUART. Bị kết tội, trục xuất và xoá tên tuổi cùng cấp bậc trong quân đoàn Anh. Bị bỏ lại vì đã chết trong một đầm lầy Georgia bởi chính đạo quân rút lui của mình và sau đó bởi một đội tiền quân Mỹ, nhưng cả hai đều lầm. ông vẫn giữ được thanh kiếm ngay cả lúc lê chiếc chân gỗ làm lấy và cuối cùng tìm thấy người cha và đứa con trai của mình bốn năm sau ở Harrodsburg, Kentucky, chỉ vừa kịp chôn cất cha và bước vào một thời kỳ dài tồn tại như một nhân cách phân lập trong khi vẫn cố là một nhà giáo, điều mà ông tin là sở nguyện của ông,đến khi rút cuộc vứt bỏ để trở thành một con bạc ông mới thực sự là mình và điều đó dường như không một Compson nào nhận thức được là mình mang sẵn cái máu cờ bạc liều lĩnh khát nước và chơi chì của dòng họ.

Cuối cùng ông cũng thành công trong cú liều không chỉ cái cổ họng mình mà cả an ninh của gia đình và sự toàn vẹn của tên tuổi mình để lại, bằng cách gia nhập một liên minh do một người quen biết tên là Wilkinson cầm đầu (một kẻ có tài năng đáng kể, có ảnh hưởng, trí tuệ và quyền lực) trong một mưu đồ tách rời toàn vùng thung lũng Mississippi khỏi Liên bang và sát nhập vào Tây Ban Nha. Đào thoát khi cái bong bóng vỡ tung (ai cũng biết nó sẽ vỡ ngoại trừ nhà giáo Compson), ông làm mình thành người duy nhất đào thoát khỏi xứ sở trong số những kẻ âm mu: chẳng thành phố do sự trả thù hay trừng phạt của chính quyền quốc gia mà ông mưu toan chia cắt mà là do sự trở cờ điên rồ của những kẻ liên minh trước kia giờ đây cuồng lên vì an toàn của bản thân. Ông không bị trục xuất khỏi Liên bang, ông tự rao lên là vô tổ quốc và ông bị tống cổ đi thực ra không phải vì tội mưu phản mà vì cái luận điệu om sòm ấy, đốt bằng mồm từng cây cầu sau lưng mình ngay cả khi chưa kiếm được chỗ nào xây cây cầu kế tiếp: vì vậy chẳng phải cảnh sát hiến binh hay một cơ quan dân sự nào mà chính là những kẻ đông đảng trước kia đã tung ra một chiến dịch đòi đuổi ông khỏi Kentucky và khỏi Liên bang, và nếu họ tóm được ông, chắc là sẽ đuổi ông ra khỏi thế giới nữa . Đào thoát trong đêm tối, theo đúng truyền thống gia đình, với đứa con trai và thanh gươm cũ và chiếc áo len kẻ ô.

JASON LYCURGUS. Người có lẽ bị thúc đẩy bởi cái tên hào nhoáng được đặt bởi một ông bố cẳng gỗ bất khuất nhạo báng chua chát kẻ mà có lẽ trong thâm tâm vẫn tin rằng sở nguyện của mình phải là một nhà giáo cổ đỉên, vào một ngày năm 1811 đã tới Natchez Trace với một đôi súng ngắn tốt, và một cái túi yên lép kẹp trên lưng một con ngựa cái thon nhỏ nhưng chạy khoẻ có thể sải hai furlong (khoảng 201m) đầu chưa đến nửa phút và hai furlong tiếp theo cũng gần tương tự, mặc dù chỉ có thế. Nhưng như vậy cũng đủ: ông đến Đại lý Chickasaw ở Okatoba (mà năm 1860 vẫn còn gọi là Cựu Jefferson) và không đi xa hơn nữa.

Người mà chỉ sau sáu tháng trở thành thư ký cho Đại lý, sau mười hai tháng thành cổ đông, tuy chính thức vẫn là thư ký mặc dù ông chủ thực sự của một nửa cơ ngơi mà giờ đây là một cửa hiệu bề thế được cuộc sau chặng đua của con ngựa cái với lũ ngựa của các thần dân trẻ tuổi của Ikkemotubbe, cuộc đua mà ông Compson, luôn thận trọng giới hạn trong một phần tư hay nhiều nhất là ba furlong, và nó mtp theo thì Ikkemotubbe sở hữu con ngựa cái nhỏ còn Compson sở hữu dặm vuông đất ngon lành về sau gần như là trung tâm thị trấn Jefferson hồi đó là rừng và hai mươi năm sau vẫn là rừng mặc dù đã có vẻ một công viên hơn là rừng rú với những khu lán trại của nô lệ, chuồng gia súc, vườn rau, thảm cỏ, lối đi dạo, tạ đình, được vẽ kiểu cũng bởi kiến trúc sư đã xây ngôi nhà có dãy cột và hàng hiên, đồ đạc được chở bằng tàu thuỷ từ Pháp và New Orleans sang và đến năm 1840 vẫn là dặm vuông đất nguyên vẹn (với không chỉ một ngôi làng da trắng giới hạn nó mà là cả một quận da trắng gần như bao quanh nó vì chỉ một vài năm là các hậu duệ và các thần dân của Ikkemotubbe không còn nữa, những kẻ sót lại không còn là những chiến sĩ hay thợ săn mà như những người da trắng - như những nông dân không còn du cư hoặc, ở một vài nơi, là chủ nhân những gi mà họ gọi là đồn điền và là kẻ sở hữu đám nô lệ cũng không còn du cư, những kẻ bẩn hơn người da trắng một chút, lười hơn một chút, tàn bạo hơn một chút - rốt cuộc ngay cả dòng máu hoang dã cũng biến mất chỉ còn đôi lúc xuất hiện ở hình dáng cái mũi của một gã da đen trên một toa chở bông hay một thợ xẻ gỗ da trắng hay một người bẫy thú hay thợ đốt lò đầu máyxe lửa), rồi được gọi là lãnh địa Compson, từ đó nó sinh ra đủ thứ hoàng thân, chính khách, tướng lãnh, giám mục, phục hận cho những Compson bị truất phế từ Culloden đến Carolina và Kentucky, rồi được gọi là dinh Thống đốc vì chắc cũng đến lúc nó sản xuất ra hay ít nhất cũng đẻ ra một thống đốc - lạii Quentin Maclachan, trùng tên với tổ phụ Culloden - và vẫn được gọi là dinh Cựu thống đốc ngay cả sau khi nó đã đẻ ra (1861) một tướng lãnh - (được gọi như thế theo thoả thuận và nhất trí từ trước của toàn thị trấn và toàn quận, như thể người ta đã biết ngay lúc đó và trước đó rằng ông cựu thống đốc là Compson cuối cùng kẻ động đến bất cứ việc gì cũng không hề thất bại ngoại trừ tuổi thọ, hoặc tự tử) - thiếu tướng Jason Lycurgus II, kẻ bại trận ở Shiloh năm 62 và lại bại trận mặc dù không đến nỗi tệ hại ở Resaca năm 64, kẻ đầu tiên cầm cố dặm vuông đất còn nguyên vẹn cho một tay đầu cơ chính trị người New England năm 66, sau khi thị trấn cũ bị tướng Liên bang Smith đốt cháy và thị trấn nhỏ mới, lúc đó phần lớn cư dân không phải là hậu duệ của dòng họ Compson mà là dòng họ Snopes, đã bắt đầu lấn sang và gặm dần nó khi ông thiếu tướng bại trận suốt bốn mươi năm sau đó bán dần từng mảnh, còn lại bao nhiêu đem cầm cố nốt; đến một ngày năm 1900, ông chết lặng lẽ trên một chiếc giường vải quân đội tại nơi cắm trại để săn thú và câu cá ở hạ lưu sông Tallahatchia nơi ông sống hầu hết những ngày cuối đời.

Và bây giờ ngay cả ông cựu thống đốc cũng đã bị quên lãng, những gì còn lại của dặm vuông xưa kia nay chỉ còn được gọi là khu Compson - tàn tích mọc đầy cỏ dại của những thảm cỏ và lối đi dạo xưa kia, ngôi nhà lẽ ra đã phải sơn lại từ rất lâu, dãy cột tróc lở ở hàng hiên nơi mà Jason III (được nuôi dưỡng để thành một luật sư và thực ra ông cũng có mở một văn phòng trên căn gác ở quảng trường, nơi chôn vùi trong những tủ hồ sơ bụi bặm một số tên tuổi kỳ cựu nhất trong quận - Holston và Sutpen, Grenier và Beauchamp và Coldfield - mỗi năm một phai mờ giữa những mê cung không đáy của pháp đình: và ai biết được giấc mơ trong trái tim bất diệt của thân phụ ông, giờ đây hoàn tất cái thứ ba trong ba hoá thân - một là con trai của một chính khách lỗi lạc và phong nhã, hai là vị tướng lãnh của những con người can đảm và hào hùng, ba là một thứ nguỵ - Daniel Boone - Robinson Crusoe được ưu đãi, người đã không trở lại tuổi thanh xuân vì thực ra ông cũng chưa hề rời khỏi tuổi thanh xuân ấy - rằng cái văn phòng luật sư đó lại là tiền sảnh của dinh Thống đốc với vẻ tráng lệ xưa kia) ngồi suốt ngày với một bình whisky và một chồng những Horace và Lyvi và Catullus đã quăn mép, soạn (nghe nói vậy) những bài tán tướng châm biếm và giễu cợt những kẻ đồng hương còn sống cũng như đã chết ,người đã bán mảnh đất cuối cùng của sản nghiệp, ngoại trừ ngôi nhà, vườn rau chuồng gia súc đổ nát và một căn lều cho gia nhân nơi có gia đình Dilsey trú ngụ, cho một câu lạc bộ golf để lấy tiền cho cô con gái Candace làm đám cưới linh đình hồi tháng Tư năm 1910 và cậu con trai Quentin học một năm ở Harvard để rồi tự tử vào tháng Sáu tiếp theo, được gọi là khu Compson Cũ ngay cả khi gia đình Compson vẫn còn sống ở đó vào một buổi tối mùa xuân năm 1928 khi mà cô cháu chắt mấy đời của ông cựu thống đốc mới mười bảy tuổi không có họ cha hư hỏng sa đoạ ăn trộm của nam thân nhân cuối cùng còn lành mạnh của mình (ông cậu Jason IV) khoản tiền mà hắn bí mật kí cóp rồi leo xuống đường ống máng và bỏ trốn theo một gã bán hàng rong trong một gánh hát lưu diễn vỉa hè, và vẫn được gọi là khu Compson Cũ rất lâusau khi tất cả các dấu vết của dòng họ Compson đã tuyệt tích: sau khi bà mẹ goá mất và Jason IV, giờ đây không cần nể sợ Dilsey, tống đứa em trai khùng của hắn là Benjamin tới nhà thương điên tiểu bang ở Jackson và bán ngôi nhà cho một nông dân để anh ta làm nhà ăn trọ cho các nghị viên hội thẩm và các gã lái buôn lừa ngựa, và vẫn được gọi là khu Compson Cũ ngay cả sau khi ngôi nhà ăn trọ (và hiện nay cũng là sân golf) đã biến mất và dặm vuông xưa kia lại nguyên vẹn với hàng dãy những nhà trệt bằng gỗ bé nhỏ nửa thị tứ của tư nhân xây cất cẩu thả chen chúc.

Và đây:

QUENTIN III. Người đã yêu không phải cái thân xác của em gái mình mà là một vài khái niệm về phẩm giá của dòng họ Compson đặt một cách bấp bênh (anh ta biết thừa) và nhất thời vào cái màng trinh bé xíu mong manh của cô em như thể một mô hình thu giảm của cả quả địa cầu bao lao có thể giữ thăng bằng trên mũi một con hải cẩu được huấn luyện. Người đã yêu không phải cái ý tưởng về tội loạn luân mà anh ta không muốn phạm, mà là một vài khái niệm có tính cách trưởng lão về hình phạt đời đời kiếp kiếp của tội loạn luân: anh ta chứ không phải Thượng Đế, có thể bằng cách đó khiến mình và em gái mình cùng đoạ địa ngục, nơi anh ta có thể bảo vệ em gái mình mãi mãi và giữ em gái mình nguyên vẹn mãi mãi trong ngọn lửa vĩnh hằng.

Nhưng là người yêu cái chết hơn hết, người chỉ yêu cái chết, yêu và sống trong một sự tiên liệu có cân nhắc và hầu như đồi truỵ về cái chết như một kẻ tình nhân yêu và thận trọng kiềm chế trước cái thân xác đợi chờ ưng thuận thân thuộc dịu dàng không tin được của người mình yêu, đến khi anh ta không thể chịu đựng lâu hơn không phải sự kiềm chế mà là sự câu thúc và thế là quăng ném, lao mình, buông thả, chìm đắm. Tự tử ở Cambridge, Massachusetts, tháng Sáu, 1910, hai tháng sau đám cưới của cô em gái, trước hết còn đợi hoàn tất niên học dang dở cho bõ khoản học phí đóng trước, chẳng phải vì anh ta có các tổ phụ Culloden và Carolina và Kentucky xưa kia mà vì mảnh sót lại của dặm đất Compson cũ đã bán để chi phí cho đám cưới cô em gái và một năm học Harvard của anh ta, chưa kể cũng cô em gái ấy và cảnh tượng một ngọn lửa bùng cháy mà đứa em út của anh ta, khùng bẩm sinh, đã yêu thích.

CANDACE (CADDY). Bạc phận và biết điều đó, chấp nhận số phận không kiếm tìm cũng không trốn tránh. Yêu anh trai mình bất chấp anh, không phải chỉ yêu anh mà yêu trong con người anh đấng tiên tri cay đắng và viên phán quan không lay chuyển được không lung lạc được về điều mà anh ta cho là danh dự và định mệnh của gia đình, khi anh ta tưởng là mình yêu nhưng thực ra là thù ghét ở cô em gái mà anh ta xem như là cái bình mỏng manh thiên định để chứa niềm hãnh diện của gia đình và cái công cụ bẩn thỉu của nỗi ô nhục gia đình; không những thê, cô yêu anh không chỉ ở niềm thù hận mà còn ở một sự thật rằng anh không có khả năng yêu, chấp nhận rằng anh đánh giá cao hơn hết không phải là cô mà là sự trinh tiết của cô, cái mà chính cô là người gìn giữ và chẳng coi ra gì, cái chỗ nghẽn vật lý mỏng manh ấy đối với cô chẳng hơn gì một vảy móng tay.

Biết anh trai yêu cái chết hơn hết thảy và không ghen tị, dám (có lẽ do tính toán cân nhắc về cuộc hôn nhân của mình) đưa thuốc độc cho anh nếu phải làm như vậy. Có mang hai tháng với người đàn ông khác cô đã đặt tên cho đứa bé bất kể trai hay gái là Quentin theo tên anh trai mà cả hai (cô và anh trai) biết là kể như đã chết, khi cô lấy (1910) một thanh niên Indiana đủ các điều kiện lý tưởng mà cô và bà mẹ gặp trong một lần nghỉ mát ở French Lick mùa hè năm trước. Ly dị theo yêu cầu của người chồng năm 1911. Năm 1920 lấy một nhà sản xuất phim cỡ trung ở Hollywood California. Thoả thuận ly dị ở Mexico năm 1925. Biến mất ở Paris vào thời Đức chiếm đóng năm 1940, vẫn xinh đẹp và chắc cũng vẫn giàu có kể từ lúc cô biến mất suốt mười lăm năm đến nay đã bốn mươi tám tuổi, không ai nghe thấy tin gì về cô nữa.

Ngoại trừ một người đàn bà bé nhỏ và xám xịt như con chuột, chưa bao giờ lấy chồng, học cùng lớp với Candace Compson quatc những trường trung học thành phố và rồi suốt đời lo gìn giữ cuốn Hổ phách vĩnh cửu hết lớp bìa này đến lớp bọc khác rồi Jurgan và Tom Jones khởi tay bọn học sinh trung học lớp dưới rồi lớp trên chúng có thể với tay rút xuống từ các giá sách phía sau mà chẳng cần kiễng chân trong khi cô ta phải đứng trên một cái hộp để giấu sách đi. Một ngày năm 1943, sau gần một tuần lễ lơ đãng gần như ngẩn ngơ, mà ai bước chân vào thư viện lúc nào cũng thấy cô vội vã đóng ngăn kéo bàn và khoá lại, khiến cho các phu nhân của các ông chủ ngân hàng, các bác sĩ và các luật sư, vài người trong số đó cũng cùng từng học lớp trung học xưa kia, những người tới và rời khỏi thư viện vào các buổi chiều với những cuốn Hổ phách vĩnh cửu và các tập truyện của Thorne Smith gói ghém cẩn thận trong những tờ nhật báo Memphis và Jackson để không ai thấy, tin rằng cô ta sắp ốm và có lẽ sắp mất trí, cô đóng cửa thư viện và khoá lại vào giữa buổi chiều, xắc tay kẹp chặt dưới nách, hai gò má thường ngày nhợt nhạt bỗng ửng đỏ như lên cơn sốt vì quyết tâm, cô bước vào cửa hiệu cung cấp nông cụ nơi mà Jason IV đã khởi đầu bằng chân thư ký và giờ đây là ông chủ chuyên buôn bán bông sơi, đi thẳng vào cái hang tối om nơi chỉ có đàn ông bước chân vào - một cái hang lộn xộn kín mít và treo như thạch nhũ đủ cả nào cày nào dĩa nào bừa nào đai nào dây xích nào gióng xe nào cổ lừa nào thịt sườn nào giày rẻ tiền nào đồ thắng xe ngựa nào bột nào mật, tối om vì chứa đầy hàng hoá không bày ra mà lại giấu đi bởi người cung cấp cho các nhà nông Mississippi hay ít nhất là các nhà nông da đen Mississippi để chia một phần vụ mùa đã không muốn, đến khi mùa màng xong xuôi v vj ước lượng được gần đúng giá trị của nó, bày ra cho họ thấy những gì mà họ có thể nhận ra là mình cần nhưng chỉ cung cấp cho họ theo yêu cầu đặc biệt những gì mà họ không đến nỗi kêu cứu nhưng thật cần - và đi tới tận lãnh địa riêng biệt Jason phía sau: một khu vực có lan can vây quanh bừa bộn nào kệ nào hộc tủ chứa đầy biên lai cắm vào xiên sắt để bẫy bụi và xơ vải nào sổ sách nào mẫu bông với mùi pho mát mùi dầu hoả và mùi dầu yên cương nào cái lò sắt kinh tởm mà bã thuốc lá nhai nát đã được nhổ vào đấy gần một thế kỷ, cô đi tới cái quầy dài cao và dốc mà Jason đứng phía sau và, không nhìn lại những người đàn ông mặc quần yếm đã lặng lẽ thôi trò chuyện và thôi cả nhai khi cô bước vào, với vẻ đánh liều miễn cưỡng cô mở xắc tay và lục lọi lấy ra một cái gì đó rồi mở nó trên mặt quầy và đứng run rẩy hổn hển trong khi Jason cúi xuống xem - một tấm hình, một bức ảnh màu rõ ràng là cắt ra từ một tạp chí quảng cáo - tấm hình đầy những xa hoa tiền bạc và ánh nắng - một phông nền Cannebìere với núi non hàng cọ rặng bách và biển cả, một xe hơi thể thao mui trần mạ kền loại đắt tiền động cơ mạnh, gương mặt của người đàn bà để đầu trần nổi bật giữa những khăn choàng và áo khoác sang trọng, trẻ đẹp, lạnh lùng, bình thản và mê hoặc, bên cạnh là một người đàn ông đứng tuổi mảnh khảnh khôi ngô mang ngù vai và quân hiệu tướng tham mưu Đức - và cô gái già loắt choắt và xám xịt như chuột run rẩy và khiếp đảm vì sự táo gan của mình, nhìn đăm đăm qua anh chàng không vợ không con kẻ kết thúc một dòng họ dài dặc những con người hào hoa và kiêu hãnh ngay cả sau khi họ đã bắt đầu đánh mất sự chính trực và niềm kiêu hãnh để trở thành phù phiếm và tự thương hại, từ kẻ biệt xứ phải lìa bỏ quê cha đất tổ không có gì ngoài mạng sống của mình nhưng vẫn từ chối chấp nhận thất bại, đến kẻ đã hai lần thử thời vận bằng tính mạng và tên tuổi của mình cả hai lần đều thua cuộc vvj nghiêng mình chấp nhận kết cục đó, rồi đến kẻ chỉ với một góc con ngựa bé nhỏ tinh khôn làm phương tiện phục hận cho cha ông bị phế truất của mình đã đoạt được một lãnh địa, rồi đến ông thống đốc lỗi lạc và phong nhã rồi vị tướng lĩnh mặc dù thất bại trên chiến trường khi chỉ huy những con người gan dạ và hào hùng, ít ra cũng đã liều cả sinh mạng mình trong thất bại, đến kẻ nghiện rượu học thức và bán mảnh đất cuối cùng của di sản cha ông không phải để mua rượu mà để một trong những hậu duệ của mình ít ra cũng có một cơ hội tốt đẹp nhất trong cuộc đời theo như mình nghĩ.

"Caddy đấy!" cô thủ thư thì thào. "Mình phải cứu vớt chị ấy!"

"Cad đấy, phải!" Jason nói. Rồi hắn cười phá lên. Hắn đứng đó, cười sặc sụa trên tấm hình, trên gương mặt lạnh lùng xinh đẹp giờ đây đã quăn góc và nhàu nát sau một tuần cư trú trong ngăn kéo và xắc tay. Và cô thủ thư biết vì sao hắn cười, cô vẫn gọi hắn không gì khác hơn là ông Compson suốt ba mươi hai năm nay, kể từ cái ngày năm 1911 khi Candace, bị chồng đuổi, đã mang đứa con thơ về nhà, để con lại và ra đi ngay chuyến tàu sau, không trở lại lần nào nữa, và không chỉ có bà bếp da đen Dilsey, mà cả cô thủ thư cũng đoán ra chỉ bằng bản năng rằng Jason thế nào cũng lợi dụng cuộc đời đứa trẻ và cả cái vị thế bất hợp pháp của nó để tống tiền mẹ nó không những phải rời bỏ Jefferson suốt cuộc đời mà còn phải chỉ định hắn là người duy nhất toàn quyền giám hộ khoản tiền mà chị hắn sẽ gửi về để nuôi dưỡng đứa con, và đã từ chối nói bất cứ chuyện gì về hắn kể từ một ngày năm 1928, khi con bé leo xuống đường ống máng và trốn đi cùng gã bán hàng rong.

"Jason!" cô kêu lên. "Mình phải cứu vớt chị ấy! Jason! Jason!" - và vẫn kêu ngay cả khi hắn kẹp tấm hình giữa ngón cái và ngón trỏ ném qua quầy trả lại cô.

"Candace?" hắn nói. "Đừng làm tôi cười chứ. Con điếm này chưa tới ba mươi. Con kia bây giờ đã năm mươi rồi".

Và thư viện vẫn khoá suốt ngày hôm sau, vào hồi ba giờ chiều, chân đau và rã rời nhưng vẫn không nản lòng vẫn kẹp chặt xắc tay dưới nách, cô rẽ vào một mảnh sân nhỏ ngăn nắp thuộc khu cư xá da đen ở Memphis và leo lên những bậc thềm một ngôi nhà nhỏ sạch sẽ và rung chuông rồi cửa mở và một người đàn bà đen chạc tuổi cô nhìn cô lặng lẽ. "Frony phải không?" cô thủ thư nói. "Cô nhớ tôi chứ - Melissa Meek ở Jefferson".

"Vâng" cô da đen nói. "Mời chị vào. Chị muốn gặp má tôi?" và cô bước vào phòng, cái phòng ngủ sạch sẽ mà lộn xộn của một người da đen già, đầy mùi người già, đàn bà già, đàn bà da đen già, nơi người đàn bà ấy ngồi trong ghế xich đu cạnh lò sưởi mặc dù là tháng Sáu một ngọn lửa vẫn âm ỉ cháy - một người đàn bà vốn to béo mặc chiếc áo vải in hoa sạch sẽ đã lợt màu và một chiếc khăn trắng tinh quấn quanh đầu trên đôi mắt mờ đục giờ đây gần như đã loà - và đặt tấm hình quảng cáo vào đôi bàn tay đen đủi, giống như tất cả những người đàn bà cùng chủng tộc, vẫn mềm mại và thanh tú như xưa, lúc bà ở tuổi ba mươi hoặc hai mươi thậm chí mười bảy.

"Caddy đấy!" cô thủ thư nói. "Đúng mà! Dilsey! Dilsey!"

"Cậu ấy bảo sao?" bà già da đen nói. Và cô thủ thư biết bà gọi ai là "cậu ấy", cô thủ thư cũng chẳng ngạc nhiên khi không những bà già da đen biết người mà bà gọi là "cậu ấy" là ai, mà bà còn biết ngay lập tức là cô đã đưa tấm hình cho Jason xem.

"Bác biết hắn nói sao không?" cô khóc. "Khi biết chị ấy đang gặp nguy hiểm hắn bảo đúng là chị ấy đấy, cho dù cháu không đưa một tấm hình nào cho hắn xem. Nhưng sau khi hắn biết rằng có một ai đó, bất kỳ ai, ngay cả cháu, muốn cứu vớt chị ấy hoặc sẽ cố gắng để cứu vớt chị ấy, hắn lại bảo đây không phải chị ấy. Nhưng đúng mà! Nhìn xem!"

"Nhìn mắt tôi đây này" bà già da đen nói. "Làm sao tôi nhìn tấm hình này được?"

"Gọi Frony!" cô thủ thư khóc. "Cô ấy sẽ nhận ra ngay!" nhưng bà già da đen đã gấp cẩn thận tấm hình quảng cáo theo nếp gấp cũ và đưa trả lại.

"Mắt tôi không còn thấy gì nữa" bà nói. "Tôi không nhìn được". Và thế là hết. Vào lúc sáu giờ cô chen lấn qua đám đông ở bến xe bus, xắc kẹp chặt dưới nách, tay kia cầm cuống vé tháng, và bị quét vào bãi đợi xe ầm ầm náo động như thuỷ triều suốt ngày đêm nơi chỉ có một ít dân thường đứng tuổi còn hầu hết là lính tráng và thuỷ thủ nhập ngũ hoặc về phép hoặc ra trận và những thiếu phụ vô gia cư, cùng gia quyến của họ, những người mà hai năm nay đã sống ngày này qua ngày khác trong những toa xe ngủ Pullman và nhà trọ nếu như gặp may và trong những toa xe lửa ngày chạy đêm nghỉ hoặc xe bus hoặc sân ga hoặc hành lang hoặc những chỗ nghỉ công cộng nếu không gặp may, dừng lại ít lâu đủ để đẻ rơi đẻ vãi trong những viện tế bần hay đồn cảnh sát rồi lại bỏ đi, và cô cố chen lên chiếc xe bus, nhưng vì bé nhỏ hơn hết thảy nên chân cô thỉnh thoảng mới chạm được xuống sàn xe tới lúc một bóng người (một người đàn ông mặc kaki, cô không nhìn rõ ai cả vì cô vẫn đang khóc) đứng dậy nhấc cả người cô lên đặt vào một cái ghế cạnh cửa sổ, ở đó, vẫn khóc lặng lẽ, cô có thể nhìn ra những phố xá trôi lướt qua rồi ở lại phía sau và giờ đây cô lại về nhà, yên ổn ở Jefferson nơi mà cuộc đời cũng sống với tất cả những đam mê náo động đau buồn cuồng nộ và thất vọng không thể hiểu nổi của nó, nhưng ở nơi đây vào lúc sáu giờ người ta có thể trùm chăn lên nó và ngay cả bàn tay nhẹ bỗng của một đứa trẻ cũng có thể cất nó lên các kệ sách vĩnh viễn êm ả giữa những phân loại mơ hồ rồi xoay ổ khoá đóng kín toàn thể và đêm không mộng mơ. Phải cô nghĩ và khóc lặng lẽ đúng là bà ấy không muốn nhìn không muốn biết đây có phải là Caddy hay không bởi vì bà ấy biết Caddy không muốn được cứu vớt không có bất cứ cái gì đáng được cứu vớt không có cái gì đáng để mất mà chị ấy không để mất.

JASON IV. Compson lành mạnh đầu tiên kể từ trước Culloden và (một kẻ độc thân không con cái) như vậy là người cuối cùng. Logic duy lý dè dặt và hơn nữa là một triết gia theo truyền thống khắc kỷ xưa: hắn không bận tâm chút nào đến Thượng Đế kiểu này hay kiểu nọ và chỉ nể cảnh sát do đó e ngại và tôn trọng duy nhất có bà già da đen, người nấu ăn cho hắn, kẻ thù truyền kiếp của hắn từ ngày hắn sinh ra đời và kẻ thù sống mái của hắn từ cái ngày năm 1911 khi bà ta cũng chỉ nhờ trực giác mà đoán biết rằng hắn lợi dụng cái vị thế bất hợp pháp của đứa cháu gái thơ dại để tống tiền mẹ nó. Kẻ không chỉ tách ra và đương đầu với những Compson khác mà còn cạnh tranh và đương đầu với những người họ Snopes là những kẻ đã chiếm cứ cái thị trấn nhỏ bé vào đầu thế kỷ khi những dòng họ Compson và Sartoris cùng quyến thuộc phai mờ dần ở đó (không phải Snopes, mà chính Jason Compson ngay khi bà mẹ mất - cô cháu gái đã leo xuống đường ống máng trốn đi khiến Dilsey không còn con chủ bài nào để nắm được hắn nữa - đã tống khứ đứa em trai khùng của mình cho nhà nước lo và bỏ ngôi nhà cũ, trước hết đem ngăn các phòng thênh thang từng một thời lộng lẫy thành những thứ mà hắn gọi là các căn hộ và bán tuốt cho một gã nhà quê mở làm quán trọ), mặc dù điều đó chẳng mấy khó khăn vì đối với hắn thì cả thị trấn cả thế giới và cả nhân loại nữa ngoại trừ hắn đều là Compson, chẳng thể giải thích nhưng hoàn toàn có thể thấy trước là không thể nào tin cậy họ được.

Bởi tất cả tiền bán đồng cỏ đã chi vào đám cưới của chị hắn và năm học Harvard của anh hắn, nên hắn phải dùng số tiền chính hắn bủn xỉn ky cóp từ khoản lương còm thư ký cửa hiệu để tự gửi mình theo học một trường ở Memphis dạy phân loại và đánh giá bông và từ đó tạo lập doanh nghiệp của mình, sau cái chết của ông bố nghiện ngập, hắn đảm nhận toàn bộ gánh nặng của một gia đình mục nát trong một ngôi nhà mục nát, nuôi dưỡng đứa em trai khùng cũng vì bà mẹ, hy sinh những lạc thú lẽ ra hắn có quyền và cũng đáng được hưởng và ngay cả những gì thiết yếu cho một kẻ độc thân ba mươi tuổi, để đời sống của mẹ hắn có thể được tiếp tục gần như trước kia, mà như vậy chẳng phải vì hắn yêu gì bà, mà (một kẻ lành mạnh luôn luôn như thế) chỉ vì hắn sợ bà bếp da đen người mà hắn không thể buộc thôi việc, ngay cả khi hắn cố tình không trả công hàng tuần cho bà, và mặc dù phải gánh vác tất cả, hắn vẫn xoay sở để dành được gần ba ngàn đô la (2840,5 đô la) như hắn trình báo vào cái đêm cháu gái hắn ăn trộm số tiền đó, những đồng xu đồng kền đồng nửa đô la khổ sở ky cóp, khoản tích luỹ không gửi vào ngân hàng vì đối với hắn ngay cả gã chủ ngân hàng cũng là một Compson, mà đem giấu vào ngăn kéo bàn giấy khoá chặt trong phòng ngủ hắn tự tay thu dọn giường nệm vì lúc nào hắn cũng khoá kín cửa phòng chỉ trừ lúc hắn ra vào.

Sau vụ thằng em khùng của hắn định loạng quạng với một con bé đi ngang qua cổng, hắn tự chỉ định mình làm giám hộ tên khùng mà không cho bà mẹ biết rồi nảy ra sáng kiến thiến tên khùng trước khi mẹ hắn biết thì người ngoài đã hay, và sau cái chết của bà mẹ năm 1933 là hắn rũ nợ vĩnh viễn chẳng những thoát khỏi thằng em khùng và ngôi nhà mà cả bà già da đen nữa, hắn dọn đến hai gian văn phòng với một loạt cầu thang bên trên cửa hiệu cung cấp chứa đầy sổ sách và mẫu bông, nơi mà hắn cải tạo thành phòng ngủ kiêm bếp kiêm buồng tắm, rồi cứ đến ngày nghỉ cuối tuần người ta lại thấy một người đàn bà to béo đẫy đà tóc hung mặt mũi tươi tỉnh suồng sã không còn trẻ lắm, đội những chiếc mũ tròn vẽ hoa cà (vào mùa lạnh) mặc áo lông thú giả, cả hai, gã lái bông trung niên và người đàn bà ở thị trấn người ta gọi đơn giản là cô bạn Memphis của hắn, tối thứ Bảy đi xem chiếu bóng trong phố sáng Chủ nhật leo lên cầu thang căn hộ với những túi giấy của hiệu tạp hoá đựng nào bánh mì nào trứng nào cam nào hộp súp, đầm ấm, âu yếm, quấn quýt, cho đến chiều hôm sau xe bus lại đưa cô ta về Memphis. Giờ đây hắn được giải thoát. Hắn tự do. "Năm 1865", hắn thường nói, "Abe Lincoln giải phóng bọn da đen khỏi những Compson. Năm 1933, Jason Compson giải phóng những Compson khỏi bọn da đen".

BENJAMIN. Tên cúng cơm là Maury, theo tên người em trai duy nhất của bà mẹ: một gã độc thân bảnh trai khoe khoang khoác lác vô công rồi nghề, kẻ vay mượn tiền nong của bất cứ ai, ngay cả Dilsey cho dù bà là một người da đen, gã vừa rút tay ra khỏi túi vừa hùng biện với bà rằng trong con mắt gã bà không chỉ là một thành viên trong gia đình chị gã, mà bà còn có tướng mệnh phụ dù sống ở đâu đi nữa và trong con mắt ai đi nữa. Sau cùng ngay cả bà mẹ cũng nhận thấy hắn như thế nào rồi v vkhóc lóc đòi phải đổi tên cho hắn, tên thánh đặt lại của hắn là Benjamin do Quentin anh trai hắn đặt (Benjamin, con út của chúng tôi, đã bán sang Ai Cập). Hắn yêu ba thứ: cánh đồng cỏ bị bán để làm đám cưới Candace và gửi Quentin đi học Harvard, Candace chị hắn, ánh lửa. Hắn chẳng mất thứ nào vì hắn đâu có nhớ chị hắn mà chỉ là sự mất chị, ánh lửa vẫn chập chờn ngời sáng như thế khi đi ngủ, còn cánh đồng cỏ bán đi lại hay hơn vì giờ đây hắn và T.P. Không những có thể đi men hàng rào vô thời hạn theo các cử động của những bóng người vung gậy golf với hắn chẳng có ý nghĩa gì, mà T.P. Còn dẫn chúng đến những bụi cỏ khóm cây nơi sẽ đột ngột xuất hiện trong bàn tay T.P. Những quả cầu nhỏ màu trắng có thể ganh đua với và thậm chí khắc phục được cái mà hắn cũng không biết là trọng lực và tất cả những định luật bất biến khi buông tay cho nó rớt xuống mặt sàn lát ván hay tường nhà sấy hay lối đi bằng bê tông. Bị thiến năm 1913. Bị gửi đến nhà thương điên tiểu bang ở Jackson năm 1933. Hắn chẳng có gì để mất lúc ấy nữa vì, cũng như với chị hắn, hắn đâu có nhớ cánh đồng cỏ mà chỉ là sự mất cái đó, và ánh lửa vẫn chập chờn ngời sáng như thế trong giấc ngủ.

QUENTIN. Kẻ cuối cùng. Con gái của Candace. Không có cha chín tháng trước khi chào đời, không tên khi sinh ra và đã mang cái phận số không chồng ngay từ giai đoạn phân bào quyết định giới tính. Lúc mười bảy tuổi, vào dịp kỷ niệm lần thứ một ngàn tám trăm chín mươi lăm ngày trước phục sinh của Thiên Chúa Chúng Ta, nó bám theo một ống máng từ cửa sổ căn phòng mà cậu nó đã khoá nhốt nó buổi trưa, sang cái cửa sổ gài chốt của căn phòng ngủ vắng người và khoá chặt của ông cậu, nậy một tấm ván và leo vào qua cửa sổ rồi dùng que cời lửa làm bật tung ngăn kéo bàn giấy đã khoá để lấy món tiền (không phải 2840,50 đô la mà khoảng bảy ngàn đô la và làm Jason phát cuồng lên, cơn điên giận bừng bừng không sao chịu nổi đêm hôm ấy và cứ định kỳ lại tái phát mà chỉ giảm bớt chút điều hoặc không chút nào suốt năm năm sau, làm hắn tin chắc rằng nó sẽ đánh gục hắn bất cứ lúc nào không hay, giết hắn chết tươi như bị đạn bắn hay sét đánh: mặc dù hắn bị mất trộm không phải ba ngàn đô la vặt vãnh mà là gần bảy ngàn đô la hắn cũng đành nín thít không dám hé răng với ai, bởi hắn bị mất trộm bảy ngàn đô la thay vì chỉ có ba mà chẳng thể nào chẳng khi nào được chứng thực - hắn không cần cảm thông - từ những kẻ không vô phúc đến mức đã có một con điếm làm chị lại có một con điếm khác làm cháu, cũng không thể trình báo cảnh sát, vì hắn mất bốn ngàn đô la không phải thuộc về hắn, thậm chí cũng không thể lấy lại ba ngàn kia bởi bốn ngàn trước không những là tài sản hợp pháp của cháu gái hắn như một phần số tiền mà mẹ nó gửi để nuôi dưỡng nó suốt mười sáu năm qua, mà số tiền ấy cũng không tồn tại ở đâu hết, chúng được ghi nhận chính thức là đã chi tiêu và xoá sổ trong báo cáo hàng năm hắn đệ trình lên Toà án quận, theo yêu cầu của những người chấp nhận cho hắn làm kẻ giám hộ và nuôi dưỡng; như vậy là hắn bị mất trộm không chỉ những khoản hắn ăn cắp được mà cả những khoản hắn dành dụm được nữa, lại bởi chính nạn nhân của hắn; hắn bị mất trộm không chỉ bốn ngàn đô la hắn đã ky cóp với cái giá của hy sinh và khước từ, mỗi lần một đồng kền một đồng xu suốt một thời gian gần hai chục năm trời, và cú này không thành phố fchỉ là do chính nạn nhân của hắn mà còn là một con ranh nó làm đánh vèo một cái, chẳng phải suy tính hay lập kế hoạch gì hết, thậm chí cũng chẳng biết hoặc chẳng để ý là sẽ vớ được bao nhiêu khi nó nậy tung cái ngăn kéo, và giờ đây hắn cũng không thể nhờ cảnh sát giúp đỡ; hắn đã luôn luôn tôn trọng cảnh sát, không bao giờ làm phiền đến họ, đóng thuế hàng năm cho họ ăn không ngồi rồi báo hại, không những thế, hắn cũng không dám tự săn lùng con mồi vì hắn có thể tóm được nó rồi nó sẽ tố ra, vậy là hắn chỉ còn phương cách duy nhất là mơ mộng hão huyền cứ thế trằn trọc đêm đêm mồ hôi ướt đẫm suốt hai năm, ba năm thậm chí bốn năm sau biến cố, đến khi hắn buộc phải quên giấc mơ ấy (là bất ngờ tóm cổ con bé, từ trong bóng tối vồ lấy nó, trước khi nó tiêu nhẵn món tiền và giết nó trước khi nó kịp há miệng kêu) rồi leo xuống cũng ống máng ấy trong bóng tối nhá nhem và bỏ trốn theo gã bán hàng rong đã bị kết án vì tội lấy hai vợ. Và rồi biến mất, dù nó có làm bất cứ trò trống gì đi nữa cũng sẽ không có chuyện cưỡi Mercedes mạ kền, dù nó có chụp hình gì đi nữa cũng sẽ chẳng có tướng tham mưu.

Và đó là tất cả. Những người sau đây không phải là Compson. Họ là những người da đen.
T.P. Trên phố Beale ở Memphis, diện những bộ đồ bảnh bao rực rỡ rẻ tiền kiên định do các ông chủ xí nghiệp hút máu ở Chicago và New York sản xuất riêng cho gã.
FRONY. Lấy một anh phu khuân vác trên xe Pullman, và tới sống tại St. Louis rồi sau đó trở lại Memphis sống cùng với mẹ khi Dilsey từ chối không chịu đi xa hơn.
LUSTER. Một gã trai, mười bảy tuổi. Không những có thể trông nom chu đáo và an toàn một anh khùng gấp đôi tuổi mình và gấp ba cỡ mình mà còn có thể thường xuyên giải trí cho hắn.
DILSEY.
Họ nhẫn nại.
William Faulkner
Dịch giả: Phan Đan và Phan Linh Lan
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu thương tha thiết của Xuân Quỳnh

"Mẹ của anh" - Tiếng lòng yêu thương tha thiết của Xuân Quỳnh Mở đầu là lời khẳng định “Mẹ của chúng mình” và kết thúc bài thơ “...