Người vợ ngoại tình
Madame Bovary là tác phẩm đặc sắc nhất của nhà văn Gustave
Flaubert, và cũng là một cuốn tiểu thuyết được nhiều người đọc và suy luận nhất.
Mở đường cho Trường Văn Lãng Mạn Hiện Thực của văn chương Pháp vào cuối thế kỷ
19, những đặc điểm của Madame Bovary là tả thực, linh động, dí dỏm, chua cay,
đôi khi trữ tình rạt rào cảm xúc, đôi khi khô khan sống sượng như bản báo cáo
đánh lộn của một thầy đội xếp. Ảnh hưởng của Gustave Flaubert đã được thể hiện
rõ ràng trong những văn phẩm của Guy de Maupassant và đến bây giờ, vẫn còn được
kể là một tác phẩm kiểu mẫu với một kỹ thuật diễn tả thực tân kỳ, xứng đáng là ‘‘khuôn
vàng, thước ngọc’’ cho những nhà văn trẻ mới.
Năm 1857, khi tiểu thuyết Madame Bovary được tác giả xuất bản
ở Ba Lê (Paris), những tư tưởng mới của Gustave Flaubert và cốt truyện khác lạ
của Madame Bovary đã gây nên một dư luận sôi nổi trong giới văn nghệ Pháp. Người
ta công kích Gustave Flaubert và cốt truyện là ‘‘khiêu dâm, đồi trụy,
đầu độc tinh thần độc giả’’ v.v... Và người ta đã lôi nhà văn ra trước Tòa án để
xét xử. Nhưng may thay, xã hội nào cũng có những kẻ giả dối, đạo đức giả và những
người nhìn xa, thấy rộng, Gustave Flaubert được Tòa miễn tố và văn phẩm của ông
được kể là một tác phẩm đạo lý, xây dựng và giá trị nhất thời đại. Những nhân vật
của Madame Bovary, theo chúng tôi nghĩ: mội trăm năm sau, vẫn được kể là những
nhân vật điển hình của thời đại.
Hollywood đã thực hiện Madame Bovary thành một cuốn phim giá
trị do hãng Metro-Mayer, với các tài tử Jennifer Jones, Van Helftin và Louis,
Joudan.
NHÀ XUẤT BẢN
PHẦN THỨ NHẤT
CHƯƠNG I
HÔM ẤY, CHÚNG TÔI ĐANG ngồi học, ông Hiệu Trưởng bước vào
phòng, theo sau là một anh học trò mới ăn bận quần áo lịch sự kiểu nhà quê, và
một anh tống thơ văn khuân theo chiếc bàn nhỏ. Các cậu học trò đang ngủ gật bỗng
choàng dậy, rồi ai nấy đều vội vàng đứng lên như đang làm việc chăm chỉ lắm.
Ông Hiệu Trưởng ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống, rồi quay lại nói với thầy
giáo:
- Thưa thầy, ông nói nhỏ nhẹ - Tôi gởi thầy anh trò mới này
trò vào học lớp Đệ ngũ, nhưng nếu sức học của nó khá, thì sẽ được lên lớp trên,
cho đúng với số tuổi.
Đứng thụt vào trong góc cửa, anh trò mới là một thiếu niên
nhà quê, vào khoảng mười lăm, mười sáu tuổi, dáng người mập mạp ; cao lớn hơn bọn
chúng tôi nhiều. Tóc anh đã cắt ngắn để xõa trên trán, trông ngây ngô như những
chú nhỏ chuyên việc giúp lễ ở các nhà thờ làng, nét mặt có vẻ hiền lành và ngượng
nghịu. Mặc dầu vai anh ta không lấy gì làm lớn lắm nhưng người ta cũng rõ chiếc
áo dạ xanh có những chiếc khuy đen to tổ bố của anh cũng làm cho anh khó chịu
vướng víu ở khuỷu tay, ở nách, và để lộ ra hai cổ tay tròn trặn không quen có
áo. Anh bận một chiếc quần vàng, đi vớ xanh, và một đồi giày da sù sì.
Đến giờ thầy giáo gọi đọc bài. Anh ta ngồi yên, chăm chú như
người đang nghe giảng đạo, không dám cả vắt hai chân lên nhau hoặc chống khuỷu
tay lên bàn cho đỡ mỏi. Cho đến hai giờ sau, khi ba tiếng trống nhà trường báo
hiệu giờ ra chơi, ông thầy phải bảo anh ta đứng dậy, anh ta mới bước ra theo
chúng tôi.
Mỗi khi vào lớp, chúng tôi vẫn thường có cái lệ ném mạnh mũ
vào góc phòng để cho chân tay được rảnh rang. Vừa bước vào đến cửa đã thi nhau
ném mũ rồi, nhưng phải ném làm sao cho mũ vừa vặn chạm vào tường thì đứng lại
và làm bốc lên một đám bụi mù vừa đất lẫn phấn trắng. Đó là một lối chơi được
chứng tôi ưa thích.
Nhưng có lẽ vì chưa kịp để ý đến sự lạ ấy, hoặc không dám ném
mũ như chúng tôi, cho nên sau phút đọc kinh rồi, anh trò mới vẫn còn giữ khư
khư chiếc mũ vải ở trên đùi. Chiếc mũ ấy trông cũng ngô nghê như mái tóc của
anh ta, nhưng hãy còn mới, chiếc khuy đồng gắn trên mũ hãy còn sáng choang.
Ông thầy chỉ anh ta:
- Trò kia đứng dậy.
Anh ta luống cuống đứng dậy, cái mũ rơi bịch xuống đất. Cả lớp
cười ồ lên.
Anh ta cúi xuống nhặt mũ, nhưng chỉ một cái chạm tay rất khẽ
của gã học trò ngồi bên cạnh, cái mũ lại rơi bịch xuống đất. Anh ta lại cúi xuống
nhặt nữa.
Ông thầy nhanh trí nói:
- Thì bỏ cái mũ ra nào, đã ai lấy mất mà sợ?
Cả lớp cười ầm lên làm cho anh học trò mới càng thêm ngượng
nghịu, khổ sở. Anh cuống quít không biết nên bỏ mũ xuống đất, nên cầm tay hay
là đội luôn trên đầu. Sau cùng anh ngồi đại xuống ghế.
Ông thầy lại bảo:
- Đứng lên, tên trò là gì?
Anh trò mới lí nhí một câu trong miệng, không ai nghe rõ là
anh định nói gì. Ông thầy cau mày:
- Nhắc lại coi.
Anh ta lại lúng túng đáp, nhưng lần này cũng vậy, chẳng ai
nghe rõ tiếng gì vì cả lớp đang ồn ào vì anh. Ông thầy gắt:
- Nói lớn lên nào, nói lớn lên...
Thế rồi như một kẻ liều thu hết can đảm để làm một việc gì vĩ
đại, anh trò mới há hốc mồm, gân cổ la lên một câu:
- Trần... văn... Bô.
Thiên hạ phá lên cười, cười rú, cười hộc lên, không còn kiêng
nề ai gì hết. Mấy gã học trò ngỗ nghịch đấm bàn thùm thụp mà la lối om sòm:
‘‘Ông Bô. Ông Bô’’ Người ta cười gập đôi người xuống, cười bò ra bàn. Xong rồi
trận cười cũng im dần, sau cùng chỉ có vài anh thỉnh thoảng cười hấc hấc lên
vài tiếng.
Trật tự vãn hồi dưới những cú thước kẻ của ông giáo đập bôm bốp
trên bàn. Sau khi nghe rõ cái tên Trần văn Bô, ông ta bắt ngay Văn Bộ ra ngồi một
mình ở cái bàn kê trong góc dành riêng cho những gã nào không thuộc bài hoặc quấy
phá.
Lớp học yên tĩnh trở lại, những mái đầu xanh cúi xuống trên
những trang giấy trắng, Văn Bô ngồi ngay cán tàn như mặt khúc gỗ cho đến lúc
tan học. Chiều ấy, ra sân trường bọn học trò xúm lại vây lấy anh, Chúng vừa nhảy
vừa hát loạn:
- ‘‘ Ông Bô ơi! Bà Bô đái dầm.
Đái ướt hết giường chiếu, chăn bông;
Ông Bô điên cầm cây phất trần.
Đánh mấy cái vào đầu Bà Bô'',,
Nhưng cái tên hơi lạ: Văn Bô, và bài hát riêu theo điệu Orsay
cũng không làm cho Bộ cảm thấy ngượng nghịu hay khổ sở, bực bội hơn chút nào.
Anh chịu khó nghe giảng bài, học bài ra rả như cuốc kêu, và làm bài bên cuốn tự
vị to tướng, mỗi chữ lại giơ ra tra, vất vả như một kẻ nếu không được... vất vả
như thế thì chết mất. Nhờ ở thiện chí chăm chỉ làm việc ấy, anh ta thâu lượm được
cái kết quả xứng đáng là khỏi bị tống xuống lớp dưới. Bởi vì nếu thuộc rành các
mẹo luật văn phạm, anh cũng vẫn chẳng biết đặt câu ra làm sao cho xuôi tai. Ông
cha cố ở làng anh là người đã dạy anh học vỡ lòng; gia đình anh, vì hà tiện đã
cố gửi anh đến trường học càng muộn chừng nào càng tốt.
Ông già anh, ông Trần văn Bành, người vẫn được thiên hạ tôn
là quan Quản Bành đi lính từ năm mười tám tuổi, Ieo mãi từ cấp bậc binh nhì cho
đến chức Thượng Sĩ Chánh, khi vừa lên chức Quan... thì quan Quản lại bị Nhà Nước
bắt ép phải giải ngũ vì có dính líu một vụ ăn tiền, ăn nong gì đó. Vừa ra khỏi
quân đội; ông Quản Bành lập tức trả thù đời bằng cách cưới ngay một cô gái con
nhà hàng vải phải lòng mặt ông vì mê bộ râu cá chốt hiên ngang và chiếc lon
vàng của ông. Bảnh trai, tán gái khéo, dáng người cao lớn, hùng dũng, uy
nghiêm, ông Quản Bành đi giầy đinh gõ nghe kêu ‘‘tanh, tanh’’ ròn tan, bộ râu
cá chốt lúc nào cũng xanh, tốt và vểnh ngược, tay đeo hai; ba cái nhẫn, và ăn bận
thì lẳng lơ ra trò. Ông Quản đã làm cho cô con gái ông hàng vải phải lòng mê
tơi, và đem về cho ông một số của hồi môn khá lớn..
Sau khi cưới vợ rồi, ông Quản sống phây phây trong mấy năm bằng
cách lấy tiền hồi môn của vợ ra ăn dần. Ông ta dậy muộn, đi ăn hàng chuyên môn
ngồi uống rượu, hút ống ‘‘Píp’’ với thuốc lá Prince Albert,ở tiệm rượu, tối thì
đi coi xi nê, hoặc đi đánh bạc, la cà đêm nào cũng gần sáng mới về nhà,
Khi ông già vợ chết đi; để lại một số của ít ỏi, ông Quản
Bành, thấy thế làm bất mãn mới xoay ra buôn bán. Nhưng cuộc làm ăn phú quý giật
lùi chỉ làm cho bà Quản hết vốn, ông Quản liền rút về quê, quyết định xây dựng
sự nghiệp nơi vườn mộng. Nhưng vì chẳng biết cái mốc khô gì về canh nông, ông
Quản lại thích đi rong chơi, bắn chim bằng ngựa chứ không thích cho ngựa đi
cày, thích bắt gà vịt chim bồ câu ở trong trại ra quay đánh chén chứ không đem
bán, thích uống rượu chai chứ không thích để rượu đóng thùng cho người cất, bởi
vậy cho nên, cũng chỉ trong vài năm, ông Quản Bành đã sớm thấy rằng ông ta không
có số làm ăn, và cũng không nên làm ăn gì cả cho mệt xác.
Bỏ ra hai ngàn đồng, ông mua một cái trại nhỏ trong một làng
quê thanh vắng ở miền Gò Cô, rồi buồn rầu, giận đời, trách trời, hận đất, ghen
ghét tất cả mọi người, ông Quản Bành- từ năm mới bốn mươi lăm tuổi - đã
nhất định đóng cửa ở nhà, áp dụng triết lý ‘‘mũ ni che tai’’ mà sống ẩn dật như
một nhà hiền triết.
Bà Quản Bành ngày trước đã yêu thương chồng bằng một mối tình
say - đắm nồng nhiệt. Hồi còn trẻ bà vui vẻ, tươi tắn, hồn nhiên biết bao nhiêu,
thì lúc trở về già, bà lại cấm cản rầu rỉ, cay đắng bấy nhiêu giống như một
chai rượu để lâu hóa ra thành dấm chua, Bà đã đau khổ nhiều mà không hề hé môi
than thở lấy một tiếng. Trước hết, bà đau khổ vì thấy ông chồng chơi bời giăng
dện với những ả lẳng lơ, thấy chồng đi chơi hết đêm này qua đêm khác, rượu chè
be bét. Rồi lòng tự ái bà nổi dậy. Bà cố gắng nuốt hận không thèm than thở nửa
lời, nhưng giận chồng cho đến ngày xuống lỗ. Lúc nào bà cũng bận bịu, lo lắng
chật vật. Bà phải đi vay nợ, đi chạy hàng xách, ở nhà phải nấu nướng, giặt giũ,
trông nom trang trại, trong lúc đó thì ông chồng chẳng phải dúng tay vào một việc
gì, chỉ cả ngày uống rượu say lừ đừ, ngồi đâu thì gạt tàn thuốc và khạc nhổ
lung tung ra đấy, và động mở miệng ra thì y như rằng nói cấm cản như đấm vào
tai vợ.
Khi bà Quản sinh được một cậu con trai đó là cậu ấm Bô của
chúng ta đấy - thì bà đã có một lẽ sống cho cuộc đởi bớt tẻ lạnh. Cậu ấm Bô được
cưng chiều như một ông Hoàng con. Bà Quản nuôi cậu bằng kẹo bánh, ông Quản thì
cho cậu tự do chạy chơi chân không lêu lổng ngoài đồng. Và để tỏ ra ta
đây là một nhà ‘‘phi lô zốp (philosophe = triết gia)’’, ông còn tuyên bố có thể
cho con ở truồng đi ra đường… cho nó sống với thiên nhiên. Vì muốn huấn luyện
cho Bô trở nên một thanh niên ngang tàng, cứng rắn cho nên ông Quản bắt Bô uống
rượu, bắt đi ngủ không cho đắp mền và dạy Bô phỉ báng các cuộc cúng lễ, nhưng
vì bản tính nhu nhược, mềm yếu, thằng bé không thể chịu được sự huấn luyện sắt
kẽm của ông Quản, Hai nữa, bà Quản lúc nào cũng giữ rịt Bô ở bên mình. Bà dạy
Bô hát ru em; kể truyện cổ tích cho Bô nghe. Bao nhiêu giấc mơ đã tan vỡ của
bà, bà đều đặt cả vào Bô. Bà ước ao sau này Bô sẽ có một địa vị cao sang trong
xã hội, bà đã mơ thấy Bô lịch sự, bảnh trai, thông minh hơn người, Bô sẽ là kỹ
sư hoặc là bác sĩ. Bà dạy Bô tập đọc, tập viết và dạy cả Bô chơi vài bản nhạc
xưa trên chiếc đàn dương cầm cũ rích của Bà. Ông Quãn Bành, vốn là người vẫn
khinh bỉ văn nghệ từ trước đến nay, thường nhún vai cho rằng ‘‘học hành thì ăn
cái giải gì’’ liệu có tiền cho nó theo đuổi đến nơi đến chốn không? Hơn nữa,
theo ý ông ở đời này bất cứ thằng nào ngu dốt đến đâu, mà ma lanh một tí là vẫn
có thể thành công như thường
Trước những lý luận gàn bướng ấy của chồng, bà Quản Bành đành
cắn răng nín thinh, và để cho Bô lêu lỏng cả ngày khắp đồng.
Bô đi theo những người cày ruộng ra đồng chơi, dùng súng cao
su bắn những con sáo đã nhảy loi choi trên các luống cày. Bô theo chúng bạn
trèo me, bẻ sấu, mùa sim thì ra bờ sông ăn sim đến no, đến đau bụng, Bô thích cầm
một cái sào dài ra đầm chăn vịt, hoặc mùa gặt xách cái rổ đi mốt lúa, thích chạy
vào rừng cây bắt chim, đánh đu dưới cổng nhà thờ, và những ngày mưa, hoặc là
vào những ngày lễ lớn, thì nài nỉ xin chú Bô giữ nhà thờ cho leo lên gác
chuông, để được đu mình bịch bịch theo nhịp đập của quả chuông đồng.
Bởi vậy, Bô nhớn lên giữa cảnh đồng rộng, sông dài mạnh mẽ và
cứng rắn như một cây thông non đươc mọc giữa thiên nhiên. Mặt Bô hồng hào, tay
chân Bô rắn chắc.
Năm Bô mười hai tuổi, bà Quản Bành nhất quyết cho Bô đi học.
Bà long trọng nhờ ông cha Xứ giữ cái nhiệm vu dạy dỗ, mở mang tri óc cho Bô.
Nhưng những giờ học tập giữa ông thầy giáo ‘‘tài tử’’ và cậu học trò ‘‘bất đắc
dĩ’’ ấy cũng chẳng đem lại ích lợi gì mấy cho cả hai người. Ông cha Xứ quen dạy
Bô vào những lúc rãnh rỗi, trong nhà thờ, hai thầy trò đứng bên những cột đá,
ông lên lớp cho Bô một vài bài rồi lại vội vã đi làm lễ rửa tội hoặc là làm
phép cưới cho con chiên. Hoặc vào những buổi tối, khi không có việc phải đi
đâu, cha sai chú Bõ đi gọi trò Bô đến học. Hai thầy trò leo lên căn phòng nhỏ
trên lầu sau nhà thờ. Họ ngồi vào bàn, muỗi và thiêu thân mùa hè từ cửa sổ ùa
vào bay nháo nhào quanh ngọn nến. Trời oi bức, anh học trò ngủ gà ngủ vịt, và
ông thầy cũng thiu thỉu luôn, Hai tay chấp lên bụng, chẳng mấy lúc mà thầy ngáy
đều và trò cũng gục đầu lên cuốn sách đánh một giấc ngon lành.
Đôi khi trong những lúc ông cha Xứ về thăm người bệnh trở
về, ông thấy Bố đang chạy nhẩy trên cánh đồng bèn xách tai Bô đến dưới một gốc
cây cổ thụ nào đấy, bắt Bô đọc bản cửu chương hoặc là chia năm bẩy ‘‘vẹc bờ’’.
Nếu trời mưa thì hai thầy trò cùng chạy về làng. Hoặc có người quen đi qua, phải
tiếp chuyện thì anh học trò lỉnh mất. Nhưng mặc dầu vậy, ông cha Xứ vẫn hài
lòng về Bô như thường, ông vẫn khen rằng Bô là một thiếu niên thông minh và có
tương lai lắm. Nhưng sau cùng bà Quản Bành nhất định không để cho cậu con trai
lông bông như thế mãi. Ông Quản có lẽ cảm thấy tự thẹn, và cũng chán ngấy mọi
việc, nên để mặc bà vợ muốn làm gì thì làm. Bà Quản đợi thêm một năm nữa cho Bô
đủ sức nhớn rồi mới gởi Bô tới học trường Gò Ruần.
Đến bây giờ, chúng tôi vẫn còn nhớ rõ hình ảnh của Bô. Đó là
một thiếu niên tính nết ôn hòa, đùa nghịch trong giờ chơi, làm bài trong phòng
học, chịu khó nghe giảng trong lớp, ăn no, ngủ kỹ…v.v... Anh ta có một ông chủ
hiệu sắt vụn ở đường hàng Gang là chỗ thân tình nên mỗi tháng một lần, ông này
đến trường đón anh ta ra tỉnh chơi vào buổi chiều chủ nhật. Ông ta đưa Bô đi
chơi trên bến tàu, rồi chập tối lại đưa Bô về trường, trước giờ ăn bữa tối, Chiều
thứ năm nào cũng vậy, Bô viết cho bà mẹ một lá thư dài.
Vì cố gắng chăm chỉ học hành, cho nên tháng nào Bô cũng đứng
vào khoảng giữa trong bảng sắp hạng, có một lần anh được nhất về khoa Sử Ký.
Nhưng sau khi học hết năm thứ ba, ông bà Quản Bành cho Bô ra trường theo học Y
Khoa, ông bà cho rằng Bô thừa sức tự học để thi nốt cái bằng Tú Tài.
Bà Quản tìm thuê cho Bô một căn gác xép trên lầu một nhà thợ
nhuộm ở bờ sông. Ngoài cái bàn học và cái giường bằng gỗ gụ, bà mua thêm cho Bô
một cái lò sưởi nhỏ và chở từ Gò Cô ra cho Bô một mớ củi đủ sưởi trong mùa
Đông.
Ngày đầu tiên, khi đọc tấm chương trình các môn học, Bô cảm
thấy tối tăm mặt mũi, nào là khoa Sinh lý, khoa vật lý, cơ thể học..v..v... Cả
một lô danh từ tối nghĩa, làm cho Bô kinh hoảng, Mặc dù chăm chỉ, tuy chịu khó
nghe giảng Bô cũng chẳng hiểu là gì cả nhưng anh vẫn theo học đều đều như một
con ngựa bị người ta bịt mắt kéo xe, tuy vẫn bước đều nhưng chẳng biết là sẽ đi
về đâu hết cả.,
Trong những buổi chiều mùa hạ nên thơ, khi các dãy phố nóng nực
đã vắng người qua lại và những chị sen, cô ở tụm năm tụm ba ngồi trò chuyện
trên các ngưỡng cửa, Bô thường mở tung cánh cửa sổ nhìn ra dòng sông. Anh tựa
tay vào thành cửa mơ màng. Dòng sông nhỏ hẹp nước đục lờ đờ trôi làm cho Bô có
cái cảm giác đẹp như đang sống ở Venise. Bọn thợ thuyền đi làm về xuống sông rửa
chân tay, cười đùa vui vẻ. Ngay trước cửa nhà, dưới chân chiếc cầu đá xám, ông
thợ nhuộm chủ nhà Bô căng những sợi giây thừng để phơi vải lụa. Bên kia bờ
sông; sau những mái nhà màu nâu sẫm, nền trời trong vắt ửng hồng dưới ánh nắng
tàn. Trời ơi. Cuộc sống ở nơi đồng quê xa xôi kia vui sướng biết là chừng nào.
Buổi chiều ở dưới những vòm hoa lá tươi xanh chắc là vô cùng mát mẻ. Và Bô mở rộng
cánh mũi hy vọng để đươc hít thở một chút hương vị của đồng quê.
Bô gầy đi nhiều, người Bô dài ra, và nét mặt của Bô bỗng có một
vẻ mệt mỏi rất nghệ sĩ trông cũng hay hay.
Thế rồi, vì chán nản, vì lừng khừng, dần dần Bô quên hết những
sự bắt buộc của việc học. Một hôm anh lười không đến bệnh viện, rồi vài hôm
sau, anh ngủ quên bỏ một buổi học. Thấy cuộc sống vô tư dễ chịu hơn trước, Bô
sinh ra đi học lấy lệ cho có chừng, còn thì để dành thì giờ đi chơi bời.
Bô bắt đầu la cà trong các quán rượu, anh say mê đánh cờ. Tối
tối được ngồỉ lỳ trong một quán rượu công cộng bẩn thỉu trước một bàn cờ và bên
một ly la-ve, được cầm những quân cờ bằng sừng đập canh cách lên mặt gỗ, đối với
Bô là những hành động quý báu của sự tự do được sống theo như ý muốn. Và Bô tự
nhiên thấy mình có nhiều cái tài vặt khác. Anh tập hát những bài dân ca, biết
thưởng thức thế nào là vọng cổ, uống được rượu đế, và sau cùng... được biết
tình ái là gì.
Nhờ ở những sự học tập ấy, đến kỳ thi Bô bị đánh trượt ngay từ
vòng đầu. Trong lúc ấy thì ở nhà quê, người ta đã mổ heo làm gà sẵn để chờ ông
Đốc về ăn khao.
Bô lủi thủi về làng một mình. Tới đầu làng anh dừng lại dưới
gốc đa, nhờ người về nhà nhắn bà Quản ra thưa chuyện. Anh thú thật tự sự với mẹ,
bà Quản thương con không trách mắng gì nhưng xoay ra sỉ vả mấy ông giám khảo
cho rằng không vô tư, có đút tiền thì cho đỗ.. v.v... Rồi bà Quản đưa con về
nhà, tuyên bố là Bô đã đỗ, và người ta cứ ăn khao như thường. Ở nhà quê ai biết
đâu?
Năm sau, bà Quản lại gửi Bô ra Gò Ruân học lại. Lần này Bô học
thuộc lòng gần hết đề thi, và cuối cùng... thi đỗ. Bà Quản mừng đến ứa nước mắt
… Rồi bà lập tức tìm chỗ hành nghề cho Bô. Ở quận Ông Tố gần đó chỉ có một ông
Y Sĩ già gần kề miệng lỗ.Tuy rằng chưa chết, nhưng ông Tấn Y Sĩ Trần văn
Bô cũng cứ đến mở phòng khám bệnh để kế nghiệp như thường.
Nhưng chẳng phải lo cho Bô ăn học thành tài, tìm chỗ cho Bô
hành nghề như vậy là Bà Quãn đã xong công hết việc. Bà còn phảỉ lo cưới vợ
cho con nữa. Sau một thời gian tìm kiếm khá lâu, bà mới thấy ưng ý một bà góa
chồng, vợ của ông thừa phát lại đã thất lộc, bà này mới có ngoài bốn mươi cái
xuân xanh, và chừng chín, mười vạn bạc vốn.
Mặc dầu người gầy gò như cây sậy, mặt thì đầy mụn trứng cá,
và hàm răng thì cái ra, cái vô, bà Cả Bút - đó là tên chồng cũ của bà - cũng
không thiếu gì người dòm ngó muốn cưới về chung chăn, sẻ gối. Phải là có nhiều
thủ đoạn lắm, bà Quản Bành mới loại được ra ngoài vòng chiến những địch thủ lợi
hại của bà. Trong số đó, đáng kể nhất là một anh hàng thịt lợn, vì anh này được
ông Cha Xứ đỡ đầu.
Bô muốn lấy vợ cho xong đi vì anh cho rằng có gia đình riêng,
anh sẽ thoát được ra khỏi cái quyền bảo hộ quá chặt chẽ của bà Quản, Anh tưởng
rằng có vợ thì anh sẽ được tự do tiêu thì giờ và tiêu tiền hơn trước. Nhưng anh
lầm, bà Cả Bút …bây giờ thành ra là bà Bô, mới là người chỉ huy gia đình. Trước
mắt mọi người Bô phải giữ gìn ý tứ và ăn nói theo đúng ý muốn của vợ. Mỗi ngày
thứ Sáu, Bô phải ăn chay, không được uống rượu và ăn tỏi vì bà Bô không thích
ngửi mùi rượu và mùi tỏi. Theo lệnh vợ, Bô phải đòi tiền các thân chủ thiếu nợ
một cách gắt gao. Bà ta dò chừng các hành động của Bô, bóc thư từ của Bô ra kiểm
duyệt trước và lén nhòm qua một khe hở vào phòng khám bệnh xem chồng làm cái
trò trống gì khi có nữ thân chủ.
Mỗi buổi sáng, bà ta phải uống một ly sữa ‘‘sô cô la’’ nóng,
ăn hai trứng gà ‘‘ la cót = la coque’’, và bắt Bô phải chiều chuộng săn sóc
chăm nom đủ điều. Cả ngày bà ta chỉ than thở kêu rên vì nhức đầu vì đau ngực.
Những tiếng động mạnh làm cho bà khó chịu. Không có ai đến chơi cả thì bà ta buồn.
Người ta đến thăm luôn thì bà ta chắc Ià họ đến để chờ bà ta chết. Tối tối, khi
Bô đi thăm người bệnh về nhà, bà ta thò hai cánh tay gầy gò từ trong mền
ra choàng lấy cổ Bô, kéo Bô ngồi xuống cạnh giường và bắt đầu ‘‘tả oán’’:
Bô đã quên bà ta, Bô đã yêu người khác. Người ta đã bảo rằng nễu lấy Bô, thì thế
nào bà ta cũng đau khổ mà. Và sau cùng, bà ta đòi Bô rót một muỗng ‘‘si rô’’ uống
cho khoẻ và một tí… tình yêu nữa.
II
Một đêm kia, vào khoảng giữa đêm, hai vợ chồng Bô đang ngủ bỗng
thức dậy vì những tiếng vó ngựa dừng ngay trước cửa nhà. Đứa ở gái của ông bà
Bô mở chiếc cửa sổ trên gác xép ra hỏi xuống. Dưới đường, có một anh nhà quê đến
mời ông Đốc đi chữa bệnh gấp. Anh ta có một lá thư gửi cho ông Đốc. Cái Nụ
lạch cạch, vừa đi vừa run vì rét, xuống mò mẫm mở cửa, dẫn anh chàng nhà quê
vào phòng ông bà chủ, Anh này lột chiếc mũ dạ trên đầu ra, lấy lá thư kính cẩn
đưa lên ông Đốc. Cái Nụ cầm cây đèn dầu đứng ở đầu giường, và bà Đốc thì giả vờ
thẹn, quay mặt vào tường.
Bức thơ đó khẩn khoản mời ông Bô đến gấp một cái trại nhỏ ở
trong Quận, kêu là vùng Bà Tô, để chữa cho một ông chủ trại vừa bị té gẫy giò.
Từ Quận Ông Tố đến Bà Tô phải đi đến hơn mười cây số, lại qua mấy khu rừng nhỏ,
mà đêm thì tối như mực, Bà Bô sợ nguy hiểm cho chồng, Anh nông dân được sai về
trại trước chừng vài giờ đồng hồ nữa khi có trăng mọc ông Đốc Bô sẽ lên đường
sau. Anh nông dân sẽ dặn một thằng nhỏ ra chờ bên đường cái để dẫn ông Đốc vào
trại.
Vào khoảng bốn giờ sáng, mặc quần áo đại hàn như một người đi
thám hiểm miền Bắc Cực, Bô lên ngựa đi Bà Tô. Hãy còn ngái ngủ, Bô gật gù lắc
lư ngồi trên yên, theo nhịp đi êm êm của con ngựa, đến lúc ngựa tự động dừng lại
bên một cái hố ven đường thì Bô mới giật mình choàng dậy. Thế rồi chợt nhớ tới
cây chân gẫy phải chữa lát nửa đây, Bộ lẩm nhẩm ôn lại trong óc tất cả những
cái chân gẫy mà Bô đã gặp trong đời. Trời không còn mưa bụi nữa, Ngày đã bắt đầu
rạng nơi chân trời, và trên những cành cây khẳng khiu trụi lá, nhiều con chim đứng
ủ rũ, rỉa bộ cánh đẫm sương trước làn gió lạnh của buổi ban mai.
Miền đồng ruộng phẳng lặng chạy dài mãi đến chân trời, và những
lùm cây trơ trọi trên cánh đồng như những nét chấm phá điểm vào một bức tranh
thủy, mạc chỉ toàn một màu xám nhạt, Thế rồi, Bô lại thiu thỉu ngủ. Những cảm
giác mới cũ lộn xộn trong óc Bô.
Lúc thì Bô tưởng mình còn là sinh viên như ngày xưa, mùa thu
ôm sách đến trường đi trên những hè phố vắng lá vàng rụng đầy. Lúc thì anh mơ như
mình vẫn còn đang nằm lơ mơ trong chiếc giường nệm bông ấm áp. Mùi dầu nóng của
nhà thương phảng phất trước mặt anh, lẫn với mùi sương đêm. Bỗng nhiên, Bô thấy
một thằng bé ngồi chồm hổm bên đường:
- Ông có phải là ông Đốc không ạ?
Bô gật đầu. Thằng bé tụt đôi guốc gỗ ra cầm tay và bắt đầu chạy
vào một con đường nhỏ. Bô thúc ngựa theo sau. Dọc đường, nhờ sự dọ hỏi thằng
bé, Bô được biết thân chủ của anh tên là ông Năm Hòa một nông gia kiêm trại chủ
khá giả nhất vùng.
Hồi chập tối hôm qua trong khi đi nhậu ở nhà ông bạn về ông
Năm Hòa bị ngã ngựa gẫy chân. Ông ta góa vợ từ hai năm nay và hiện giờ chỉ có mỗi
một cô con gái trông nom cửa nhà.
Hai người đã đến trước cửa trại. Thằng bé vạch bờ rậu chui
vào sân, rồi ra mở cánh cổng gỗ cho Bô. Đó là một cái trại bề ngoài trông có vẻ
trù phú lắm. Một đàn gà vịt đang kiếm mồi trong sân, Phía sau nhà, Bô thấy hai
cái vựa chứa lúa mì thật lớn và một chuồng bò, chuồng ngựa khá rộng.
Anh nông dân đi mời hồi nẫy lăng xăng ra giữ lấy cương ngựa
và dẫn ông Đốc lên lầu thăm người bệnh. Ông Năm Hòa là một người chừng
năm mươi, da màu nâu tái mà lại rỗ hoa, trán hối và hai lỗ tai có đeo vòng theo
kiểu dân Bô Hê Miên (Bohémien), Ông Năm đang nằm trong giường, trên chiếc ghế gỗ
cạnh giường để sẵn một chai rượu đế, thỉnh thoảng ông lại tợp một ngụm cho đỡ
buồn.Từ chập tối đến giờ, tức là đã gần mười hai giờ đồng hồ ông chỉ nằm chửi
thề om sòm nhưng khi thấy Bô, thì ông lại nhăn nhó và rên khe khẽ ra cái điều
đau đớn.
Chỗ xương gẫy thật là tầm thường không có rắc rồi tí tẹo nào
cả. Bô không ngờ lại dễ chữa đến thế. Rồi nhớ lại dáng điệu trịnh trọng của các
Y Sư ngày xưa mà trong hồi đi học, anh đã thấy bên giường bệnh. Bô lựa lời an ủi
và khuyến khích bệnh nhân. Những câu nói có vẻ chân thành và làm bệnh nhân cảm
động tin tưởng ấy cũng là một phương pháp trị bệnh của các ông thầy thuốc.
Người ta vội chạy xuống chuồng bò tìm hai khúc cây, đem lên
phòng để ông Đốc Bô làm cái kẹp chân cho ông Năm Hòa. Dùng một miếng vỏ chai?
Bô khẽ cạo cho khúc cây được nhẵn nhụi. Mụ hầu gái già của ông Năm xé vải soàn
soạt để làm băng, khi cần vài cái gối nhỏ để làm nệm, người ta mời đến cô Ánh.
Ánh là cô con gái của ông Năm, Nàng bước vào phòng, tay cầm
giỏ đồ khâu, Bô chú ý đến trước nhất hai bàn tay có những ngón tay dài và những
móng tay trắng nhọn, cong cong của nàng, Rồi.Bô lại thấy một vẻ đẹp khác, Đó là
đôi mắt trong, to và đen lay láy của nàng. Dưới những hàng mi dài, đôi mắt ấy bỗng
nhiên làm cho tâm hồn Bô rung động,
Băng bố xong, Bô được ông Năm nhất định mời ăn điểm tâm một
chút xíu rồi hãy
về,.
Chàng xuống nhà dưới, trên chiếc bàn gỗ gụ dài đã bầy sẵn hai
đĩa thức ăn nguội và một chiếc bánh mì tròn vành vạnh kiểu nhà quê. Bô ngồi vào
bàn ăn uống qua loa. Vừa ăn, Bô vừa cảm thấy mùi xạ hương bay trong mùi đất ẩm,
và mùi rơm rạ nồng nồng từ ngoài sân theo nắng bay vào, Trong góc nhà có chất
vài bao lúa mì. Chàng được cô Ánh cho biết trong vụ gặt vừa qua, vùng Bà Tô được
mùa lúa. Vựa lúa của ông Năm không đủ chỗ chứa lúa. Trên bức tường vôi, chàng
thấy một bức tranh vẽ phong cảnh đồng quê bằng bút chì màu, dưới có đề hàng chữ
‘‘ kỷ niệm ngày về quê hương’’ và một nét ký tháu. Chàng đoán tác giả bức tranh
đó là cô Ánh.
Hai người trò chuyện về cái chân gẫy của ông Năm, qua đến vụ
gặt, đến cái rét lạnh mùa đông ở đồng quê và những con chó sói lảng vảng đêm
khuya quanh trại. Cô Ánh không thích đồng quê mấy, nhất là bây giờ, cô phải
thay ông già trông nom tất cả mọi việc. Buổi sớm mai hơi lạnh; thỉnh thoảng
nàng lại khẽ rùng mình. Bô để ý thấy hàm răng trắng xinh của nàng đôi lúc lại lộ
ra trên làn môi, hồng mịn.
Mái tóc đen huyền của Ánh chải rẽ đường ngôi ở giữa trán rồi
cuộn lại thành một lọn ở phía sau gáy. Cổ nàng trắng ngần như một đóa hoa sen
tươi mơn mởn. Và đó là lần đầu tiên, nhà y sĩ đồng quê của chúng ta để ý đến những
sợi tóc mây lòa xòa trên má của một người con gái. Bất giác Bô chợt nhớ đến mớ
tóc khô khan, cằn cõi và đã ngã màu tiêu của bà Bô già ở nhà.
Thế rồi, đáng lẽ sẽ trở lại thăm bệnh cho ông Năm sau ba ngày
nữa như đã hẹn trước, chỉ qua ngày hôm sau, Bô đã trở lại Bà Tô, rồi chàng trở
lại đều đều mỗi tuần hai lần đó là không kể những cuộc thăm viếng lặt vặt như
tình cờ đi qua tạt vào cho vui vậy.
Mọi việc đều êm đềm trôi qua, Cái chân gẫy của ông Năm
được chữa chạy theo đúng phương pháp, Vào khoảng chừng bốn mươi ngày sau, khi
thấy ông Năm khập khễnh chống nạng tập đi trước hiên nhà, thì người ta đã phải
công nhận rằng ông Đốc Bô là một tay cừ khôi số dách. Ngay chính ông Năm cũng
thường tuyến bố rằng những vị y sư danh tiếng lẫy lừng ở thủ đô cũng chỉ chữa
mát tay đến như ông Đốc Bô là cùng thôi.
Còn về phía Bô, chàng không bao giờ để ý tìm hiểu rằng tại
sao cìang lại có vẻ thích thú và chăm chỉ đến thăm ông Năm Hòa như thế. Nếu có
tìm hiểu, thì chàng sẽ cho sự chăm chỉ đó là nguyên do ở lương tâm nhà nghề của
chàng, hoặc vì hy vọng được bệnh nhân trả tiền hậu mà ra. Nhưng thật ra, có phải
đâu vì những lý do kém thơ mộng đó mà những cuộc viếng thăm Bà Tô của Bô đã trở
thành một nguồn vui sống cho cuộc đời trầm lặng của chàng. Những ngày ấy, chàng
dậy sớm hơn mọi ngày, phóng ngựa đi trong ánh nắng mai cũng hăng hái hơn mọi
ngày. Trước khi vào trại ông Năm, chàng xuống ngựa chùi đế giày lên nệm cỏ ướt,
rồi móc đôi bao tay bằng da đen trong túi ra mang vào tay. Chàng thích thúc ngựa
đi lộp cộp vào sân trại, được thấy thảm nắng vàng dưới chân cây hạt dẻ, rung
rinh lay động trên nền đất ẩm, mấy đứa nhỏ chạy ra tranh nhau giữ cương ngựa của
chàng. Chàng thích được ông Năm Hòa vỗ nhẹ vào vai và kêu to lên rằng chàng là
người cải tử hoàn sinh cho ông. Chàng thích được thấy những đôi guốc gỗ xinh
xinh, màu xanh, màu đỏ của cô Ánh xếp ngay ngắn dưới chân cầu thang, và những
chiếc áo mỏng của nàng phơi trên giây kẽm sau nhà.
Lúc chàng về, lần nào Ánh cũng tiễn chàng ra trước hiên nhà.
Trong lúc chờ bọn trẻ con mang ngựa đến, chàng và nàng đứng lặng bên nhau,
không nói năng. Gió lạnh mùa đông bao trùm lấy họ, thổi bay những sợi tóc phất
phơ trên má nàng. Một hôm trời bỗng nhiên ửng nắng sau một cơn mưa tuyết, tuyết
đóng trên mái nhà tan thành nước rỏ giọt xuống như mưa. Ánh sợ ướt cầm chiếc dù
ra dương lên, Ánh nắng xuyên qua làn lụa mỏng màu hồng của chiếc dù, lại càng
làm cho môi nàng, má nàng hồng thêm. Nàng xoay xoay cán dù trong tay và lơ đảng
mỉm cười, Bô nghe có tiếng nước rơi lộp hộp trên làn lụa mỏng căng.
Trong những ngày đầu tiên khi Bô đi chữa bệnh cho ông Năm
Hòa, bà Bô già ở nhà đã dành sẵn một trang giấy trắng tinh trong cuốn sổ đen của
bà cho ông Năm, Nhưng khi nghe đồn rằng ông Năm Hòa có một cô con gái, bà lập tức
mở một cuộc điều tra, và khi được biết rằng con gái lão Năm Hòa trẻ đẹp, có đi
học ở trường Nhà Trắng, biết đàn, biết hát, biết nhẩy đầm v..v... thì bà tức đến
điên người được. Bà nghiến răng nghĩ thầm:
- À... thì ra vì thế mà hắn ta có vẻ khoan khoái mỗi lần được
đi Bà Tô. Lần nào đi thăm nó hắn cũng đi giày mới, mặc áo mới, giời mưa, cũng
như giời nắng. A... con khốn nạn, con khốn nạn.
Tự nhiên bà thấy thù ghét cô gái nọ ngay từ phút đầu tiên. Bà
bắt đầu nói xa nói gần, nhưng Bô không hiểu những câu bóng gió ấy mấy. Đến khi
chàng hiểu được thì chàng lại lặng im, sợ cãi nhau to tiếng chẳng hay ho gì. Bà
Bô càng làm già, bà hỏi thẳng vào mặt Bô nhiều câu làm chàng cứng họng không trả
lời được.
- Tại sao Bô chăm đi chữa bệnh cho lão Năm Hòa thế? Tại sao
Ião Năm đã khỏi chân rồi mà Bô vẫn còn phải đến thăm bệnh cho lão? Mà lão lại
còn chưa trả tiền thuốc cho chàng nữa? Hừ … tại là vì ở đấy có người ta biết
nói chuyện, biết đàn, ca, hát xướng. Còn Bô thì chỉ híp mắt lại vì các cô tiểu
thư tân thời …
Rồi bà lại chề môi khinh bỉ:
- Con gái nhà Năm Hòa mà là tiểu thư à? Có tiểu thư vôi thì
có, bố lão Năm trước kia làm cái gì có biết không? Lão ta đi chăn trâu nghèo thấy
cha, thấy mẹ. Mới khá đây mà đã lên mặt. Mà giàu có gì cho cam kia chứ, năm
ngoái đây may mà được mùa chứ không thì lão Năm đã nợ đìa ra rồi. Bố thì đi cày
chai cả tay ra, mà con thì cứ làm bộ phấn sáp lòe loẹt, thật không biết xấu hổ
…
Trước dai dẳng của vợ, Bô đành hứa không đi Bà Tô thăm Ánh và
ông Năm chàngpha3ihànggià đã bắt chàng phải nghiêm trọng thề thốt nặng lời tay
đặt lên quyển Thánh Kinh, rằng chàng sẽ không đi Bà Tô nữa, sau một hồi bà khóc
lóc nức nở và hôn hít Bô ghê gớm. Bô tuân lời vợ, nhưng trong thâm tâm chàng có
một cuộc nổi dậy âm thầm, khinh bỉ sự tùng phục quá dễ dàng cùa chàng. Rồi giả
dối một cách ngây thơ Bô cho rằng có như thế chàng mới xứng đáng được yêu Ánh,
vì chàng đã chịu khổ vì nàng.
Những ngày ảm đạm lại bắt đầu đến với Bô. Chao ôi, Bà Bô già
gầy guộc như một cây tăm xỉa răng, răng bà ta dài lại có bợn vàng, suốt bốn mùa
bà ta khoác trên vai một chiếc khăn san mầu nâu sẫm bẩn, chân bà ta lúc nào
cũng sù sù đôi vớ len, dầy như vớ lính tẩy.
Thế rồi mùa Xuân năm ấy, một tấn thảm kịch bỗng nhiên xảy ra
trong cuộc đời gầy guộc của bà Bô, tức là cùa bà Cả Bút cũ. Một ông Luật Sư ở
Gò Ruân, người được trao trọng trách giữ tất cả số vốn của Bà, vào một buổi
sáng đẹp trời đã lên đường ẵm hết cả tiền bạc trong tủ sắt trốn đi đâu mất.
Ngoài số tiền bị cuỗm đó, bà Bô vẫn còn cái thuyền và một căn nhà. Nhưng cũng
chẳng đáng, là bao.
Ông bà Quản Bành nhất định tìm cho ra sự thật. Căn nhà của bà
Cả Bút nát đến nỗi gần sắp đổ và đã cầm cố lung tung từ lâu rồi. Còn cái thuyền
mà bà ta khoe rằng đáng giá đến sáu, bẩy chục ngàn ấy bây giờ đem bán lấy độ...
một ngàn đồng bạc cũng chưa chắc đã có người mua. Trong lúc giận dữ, ông Quản
Bành đập gẫy cả một cái ghế đẩu xuống sàn nhà mà kết tội bà Quản đã làm khổ Bô,
đã bắt Bô phải lấy một con ngựa già mà yên cương đã nát đến như bà Cả Bút. Ông
bà Quản hầm hầm đưa nhau đến nhà Bô để hỏi cho ra nhẽ…
Một cuộc cãi nhau xẩy ra, Bà Cả Bút vừa khóc, vừa mếu chạy lại
ôm lấy Bô, xin chàng che chở, Bô cãi hộ cho vợ, ông bà Quãn Bành giận bỏ về
Nhưng mà sự đã lỡ rồi. Vài ngày sau, trong lúc đứng
phơi quần ngoài sân, bà Bô bỗng thấy choáng váng, mặt mũi rồi miệng bà ộc ra một
chút máu tươi. Sáng hôm sau trong lúc Bô quay lưng đi để khép cánh cửa sổ, nằm
trong giường, bà khẽ rên: ‘‘ Trời ơi … trời’’ rồi ngất đi. Bà ta đã chết..
Ơ … lạ chưa kìa?
Khi mọi việc tang ma đều xong xuôi. Bô một mình từ nghĩa địa
trở về nhà. Không thấy ai ở nhà dưới, chàng đi thẳng lên lầu thấy chiếc
áo của vợ hãy còn vắt ở trên giường, Bô ra ngồi bên cửa sổ, dựa đầu vào thành
ghế, chàng mơ màng rầu rĩ cả một buổi chiều. Mặc dầu sao bà Bút cũng đã
yêu chàng…
Một hôm, ông Năm Hòa ra quận Ông Tố, đem trả Bô số tiền chữa
chiếc chân gẫy và một đôi gà. Trước cái tang vợ của Bô, ông cố sức an ủi chàng:
- Tôi biết mà? Tôi biết quá mà? Tôi cũng qua cái cảnh đoạn
trường như ông rồi. Cái ngày mà vợ tôi chết, tôi như điên như cuồng. Tôi chạy
ra ngoài đồng đập phá lung tung giận trời trách đất.
Rồi ông Năm gật gù cái đầu:
- Lúc ấy tôi muốn chết theo vợ tôi. Mỗi lúc nghĩ đến
người khác được vui thú với vợ mà vợ mình thì chết tôi lại như điên lên. Tôi
không ăn uống gì cả. Ai rủ tôi đi nhậu nhẹt là tôi chửi ngay. Thế rồi lâu
dần ông ạ... ngày nọ tiếp đến ngày kia, xuân qua rồi hạ tới sen tàn cúc lại nở
hoa mà lỵ… tôi quên dần đi. Nhưng mà lúc nào nhớ đến cũng còn là đau... đau ở
chỗ trái tim này này. Tôi muốn nói là nó lắng xuống. Nhưng mà người ta trước
sau ai cũng phải chết cả thì mình buồn phiền quá đáng nào có ích gì? Hai nữa
đâu có phải cứ thấy người khác chết là mình cũng muốn chết theo? Ông phải hoạt
động lên ông Đốc ạ! Thật đấy mà, ông nên nghe tôi đi. Rồi ông sẽ quên mà. Tôi mời
ông đến trại chơi, ở vài hôm đi bắn chim, đi câu cá cho khuây khỏa, Con bé nó cứ
nhắc đến ông luôn ; nó bảo rằng có lẽ ông không nhớ ra nó là ai rồi đấy. Hôm
nào ông đến, chính tay tôi sẽ quay một con thỏ, ông sơi rồi coi ông có ngán tài
tôi không?
Bô nghe theo lời khuyên của ông Năm, Chàng trở lại Bà Tô và
thấy cảnh vật y nguyên như ngày hôm qua, nghĩa là vẫn như cách đó năm tháng trước.
Những cây lê trong trại đã nở hoa. Ông Năm Hòa đã khỏi chân, suốt ngày chạy ra
chạy vào càng làm cho quang cảnh thêm rộn rịp.
Cho rằng mình có bổn phận phải tiếp đãi Bô thật ân cần, thật
đặc biệt vì cái tang đau buồn của Bô, ông Năm yêu cầu chàng cứ việc đội
mũ dạ và mang áo nỉ trong nhà, Ông lấy giọng nhỏ nhẹ trò chuyện với chàng, như
với một người ốm nặng. Đôi khi ông còn giả vờ nổi giận gắt mắng bọn người nhà,
vì bọn này không chịu để ý làm những món ăn riêng cho ông Đốc theo đúng lời dặn…v..v..
Trong bữa ăn, muốn làm cho Bô vui ông Năm kể vài chuyện Tiếu Lâm lẩm cẩm, bất
giác Bô cười khì khì. Rồi bỗng nhiên chợt nhớ đến cái chết của vợ, mặt Bô lại
sa sầm xuống, Nhưng chỉ một lát sau đến lúc uống cà phê, Bô lại quên ngay,
III
Lâu dần, Bô không nhớ đến bà Cả Bút mấy nữa. Chàng đã quen với
cuộc sống mới và thấy thích thú vì được tự do, Bây giờ, chàng có thể thay đổi
giờ ăn, giờ ngủ theo như ý muốn, đi về bất cứ vào giờ nào, khỏi cần giải thích
lý do với ai hết. Chàng hài lòng tiếp nhận sự an ủi thương cảm của mọi người,
cái tang vợ của Bô cũng có lợi cho nghề nghiệp, Trong suốt một tháng trường,
người ta đã nhắc nhở đến chàng với câu ‘‘Ông ấy góa vợ sớm thật là tội nghiệp’’.
Tên tuổi chàng được nhiều người biết, thân chủ kéo nhau đến đông hơn trước, và
chàng được tự do đi thăm ông Năm, Bô cảm thấy cuộc sống của chàng có một nỗi
vui lâng lâng, một niềm hy vọng mơ hồ, chàng mơ ước mà không biết là mơ ước gì?
Mỗi buổi sáng, khi đứng cạo râu trước tấm gương, Bô nhận thấy mặt mũi mình có vẻ
sáng sủa và dễ thương hơn trước.
Buổi chiều, sau mỗi lần đi Bà Tô thăm Ánh trở về nhà, Bô thường
ngồi mơ màng rất lâu về Ánh. Chàng cố nhớ lại những lời nàng đã nói, cả đến những
cái chớp mắt những làn môi hơi nhếch lên khi nàng cười. Lần nào chàng cũng đặt
ra câu hỏi: ‘‘Rồi đây cuộc đời của Ánh sẽ ra sao. Bao giờ nàng đi lấy chồng? Và
chồng nàng sẽ phải là một người như thế nào?’’ Chao ôi! Ông Năm Hòa cũng khá
giàu mà Ánh thì …đẹp quá! Bên tai Bô cả ngày như có tiếng ai văng vẳng nói: ‘‘Nếu
ta hỏi cưới Ánh? v..v..’’ Đêm đêm, Bô nằm trằn trọc khó ngủ. Chàng khát nước trở
dậy lịch kịch suốt đêm. Nhiều lúc chịu không nổi, chàng ra đứng bên cửa sổ. Trời
đêm lấp lánh đầy sao, làm gió nồm thổi qua, đưa những tiếng chó sủa từ x axa vọng
lại. Chàng quay mặt nhìn về phía Bà Tô.
Nghĩ rằng dù có hỏi cưới Ánh làm vợ mà không được thì cũng chẳng
thiệt hại gì, Bô tự hứa rằng nếu gặp cơ hội thuận tiện, chàng sẽ ngỏ ý muốn với
ông Năm ngay ; Nhưng lần nào cũng vậy, khi nhất định mở miệng nói về vấn đề
này, thì chàng cảm thấy sợ hãi đến ríu cả lưỡi …rồi..im luôn.
Trong thâm tâm, ông Năm Hòa cũng đang muốn thanh toán được cô
con gái sớm ngày nào hay ngày nấy. Ở nhà với Bô, cô Ánh cũng chẳng giúp đỡ ông
được việc gì đáng kể. Nhưng mặc dầu vậy, ông Năm cũng chẳng trách gì Ánh, vì
ông cho rằng một cô gái có học thức như nàng làm sao có thể lo lắng được công
việc đồng áng nặng nhọc cho được, Bởi vậy khi ông thấy ông Đốc Bô thường hay đỏ
mặt mỗi khi thấy Ánh, và có những cử chỉ ngây ngô đến là buồn cười bên nàng,
thì ông tin chắc rằng một ngày kìa thể nào ông Đốc Bô cũng xin cưới Ánh làm vợ.
Ông tính toán mọi việc trước cả Bô nữa. Ông thấy Bô hơi gầy gò, Bô không phải
là chàng rể lý tưởng mà ông muốn có, nhưng người ta cho rằng Bô có học, có địa
vị đàng hoàng không chơi bời và chịu khó cần kiệm, làm ăn và nhất là chàng sẽ
không riết róng mấy về số của hồi môn của vợ.
- Nếu hắn hỏi cưới con Ánh - ông Năm tự bảo thầm - ta gả cho hắn
ngay.
Trong dịp lễ Thánh Mi Xen, Bô đến chơi nghỉ dưỡng sức tại Ba
Tô trong ba ngày. Cũng như hai ngày trước, ngày cuối cùng đã sắp hết Bô vẫn ngần
ngại chưa dám nói đến cái chuyện mà chàng quyết định phải nói. Trước phút từ biệt
ra về, ông Năm và Bô đi tản bộ trên con đường mòn sau nhà.
Vừa đi, ông Năm vừa nói về những chuyện phải trái của con người
ta ở đời. Bô lặng yên nghe ngóng nhưng thực ra thì tâm trí chẳng để ở mãi tận
đâu đâu. Chàng thu hết can đảm, nhất định lúc đi tới đầu gốc cây gạo đầu đường
sẽ phải nói. Và... khi đã đi khỏi gốc cây một quãng khá xa, chàng mới lắp bắp:
- Ông Năm... tôi muốn thưa với ông câu chuyện...
Hai người ngừng lại. Bô đứng thộn mặt ra, mân mê cái roi ngựa
trong tay.
Ông Năm khe khẽ cười:
- Cái gì vậy, sao không nói đi? Bộ thầy tưởng tôi không biết
chi hết sao?
Bô lúng túng nhắc lại:
- Ông Năm... ông Năm...
- Tôi ấy à - Ông Năm đỡ lời chàng - thầy cũng biết là tôi
không mong muốn gì hơn. Tôi rất tán thành cuộc hôn nhân này. Chắc con bé cũng đồng
ý với tôi, nhưng dù sao, tôi cũng phải hỏi qua nó trước. Thôi được rồi, thầy cứ
yên trí về đi để tôi nói với nó cho.
Đây nhé, để cho thầy khỏi phải chờ đợi sốt ruột, tôi về nói
cho nó biết ngay. Thầy cứ đứng đây, nếu mọi việc xong xuôi cả, thì tôi sẽ
mở toang cánh cửa sổ sau nhà bếp kia ra cho thầy thấy.
Ông Năm vội vã trở về nhà. Bô buộc cương ngựa vào gổe cây gạo,
Chàng đứng cạnh hàng rào nhìn vào nhà bếp ông Năm cho đễ. Nửa giờ đồng hồ dài dằng
dặc trôi qua. Bô rút đồng hồ ra đếm thêm mười bảy phút nữa, Thế rồi bỗng nhiên
chàng giật nẩy mình: cánh cửa sổ sau bếp nhà ông Năm vừa bị một bàn tay bí mật
nào mở tung ra. Bô nghe tiếng móc sắt đập vào thành tường đá reo như tiếng
chuông, Chàng nhẩy phóc lên ngựa chạy về nhà như người bị mạ đuổi.
Sáng hôm sau, mới chín giờ sáng, Bô đã có mặt ở trại. Khi thấy
Bô, cô Ánh hơi đỏ mặt, nhưng cũng cười gượng lên mấy tiếng. Ông Năm Hòa vồn vã
ra đón chàng rể tương lai vào nhà. Người ta bắt đầu thảo luận đến chuyện cưới
xin. Nhưng chỉ bàn tính sơ sơ thôi, bởi vì còn rất nhiều thời giờ. Phải chờ cho
Bô hết tang vợ, tức là đến mùa Xuân năm sau, mới có thể cử hành lễ cưới.
Mùa đông lặng lẽ và êm đềm trôi qua trong sự đợi chờ và chuẩn
bị. Cô Ánh lo sửa soạn tư trang về nhà chồng. Mỗi lần Bô đến trại chơi, hết người
nọ đến người kia thay phiên nhau chất vấn Bô và trình bày ý kiến về đám cưới.
Nên bày tiệc ở đâu, nên ăn
những món gì cho ra trò..v..v..
Cô Ánh muốn cử hành lễ cưới vào khoảng nửa đêm trong ánh nến
lung linh và
những ngọn đuốc lửa bập bùng. Nhưng ông Năm không thể thông cảm
được cái ý muốn lãng mạn và nên thơ ấy của cô con gái. Ông quyết định tổ chức một
đám cưới phải có ít nhất là bốn mươi ba tân khách đến ăn nhậu, phải có một bữa
cỗ ăn uống dai dẵng đến mười sáu tiếng đồng hồ, và lai rai đến ba, bốn ngày sau
nữa...!
Hôm cưới, các thực khách dẫn bầu đoàn thê tử tới trại ông Năm
Hòa từ tảng sáng Họ chồng chất nhau trên những chiếc xe ngựa mới cũ đủ kiểu, có
nhà lại đi ăn cưới bằng xe bò. Người ta cho mời tất cả quan viên bà con hai họ.
Nhân dịp này, người ta làm lành với những kẻ thân thuộc cãi lộn, giận nhau từ
lâu và gửi thiếp mời cho cả những người đã bỏ làng đi tha phương lưu lạc mất
tích từ bao giờ.
Nhà Công Sở Quận Bà Tô ở cách trại ông Năm Hòa chừng hai cây
số. Đám cưới đi bộ đến Quận sau khi ký tờ hôn thú, họ đua nhau qua nhà thờ, rồi
lại đi bộ trở về trại. Đám người, thoạt tiên, đi đều như một giải lụa nhiều màu
sắc, lượn như sóng giữa cánh đồng, trên những con đường nhỏ ngoằn ngoèo chạy
qua những thửa ruộng lúa xanh rờn. Sau đó họ tản mát ra họp thành nhiều toán nhỏ.
Ông thầy đờn đi đầu tiên, cái đầu nghẹo trên cây đờn ‘‘ vi-ô-lông’’ cũ rích, vừa
đi vừa kéo cò cử, cô dâu chú rể đi theo ông thầy đờn. Tiếp đó, đến bà con hai họ.
Bọn trẻ con đi sau cùng chúng bận đuổi nhau bên vệ đường hoặc tạt vào vườn hái
hoa. Ông Năm Hòa đội một chiếc mũ dạ mới tỉnh hảo, chiếc áo nỉ màu nâu của ông
tay dài đến lấp mất cả ngón tay. Ông long trọng đi bên bà Sui Gia của ông, tức
là bên bà Quản Bành. Còn ông Quản, thì vốn có sẵn sự khinh thị, coi thường bọn
nhà quê, họ hàng nhà gái, nên đã tới dự lễ cưới với một bộ áo bành tô kiểu lính
tập có tám cái khuy bằng đồng sáng chói. Ông ta đi lùi lại phía sau, để được tự
do tán tỉnh một cô gái quê. Cô này mặt đỏ bừng bừng,thỉnh thoảng lại bụm miệng
cười rinh rích như người bị ai thọc lét. Những người khác thì vừa đi vừa trò
chuyện về đủ mọi vấn đề. Trong khi đó người ta vẫn nghe tiếng đờn ‘‘vi ô
lông’’ ò è vang trên cánh đồng. Ông thầy đờn lắc lư cái đầu lấy nhịp. Khi thấy
mình đã bỏ đám cưới quá xa, ông dừng lại bên vệ đường cặp cây đàn vào nách và lấy
cục nhựa thông, ra sát kỹ vào cây cọ đờn. Tiếng đờn làm bọn chim sẻ trong cánh
đồng hoảng sợ bay vù đi.
Tiệc cưới được bày trong nhà chứa xe bò. Mười chiếc bàn dài
kê sát vào nhau. Trên đó bày chừng năm con lợn sữa, hai mươi con gà quay, hai
mươi đĩa vịt tiềm, năm nồi thịt bò hầm... Rượu uống thả cửa. Người ta ăn uống từ
trưa mãi đến tận chiều vẫn chưa xong. Bác nào ngồi lâu mỏi lưng thì bỏ ra sân
đi tản bộ vài vòng, đấu láo dăm ba câu, rồi lại trở vào ăn nữa.
Vào khoảng hai ba giờ trưa, nhiều ông khách vừa say, vừa mệt
nằm gục ngay trên bàn, pho pho ngáy. Nhưng đến phút uống cà phê thì tất cả đều
tỉnh như sáo. Người ta bắt đầu ca hát, bắt đầu vật nhau và biểu diễn những trò
vặt. Tối đến, nhiều gia đình lục tục ra về. Những con ngựa ăn lúa mì no căng bụng
không chịu vào càng xe, lồng- lộn sân, dây cương đứt lung tung, mấy ông khách
quí, ông thì cười rỡn, ông thì cấu kỉnh văng tục om sòm. Và suốt đêmhôm ấy,
trong ánh trăng sáng vằng vặc trên các con đường quanh miền có nhiều chiếc xe
chạy long sòng sọc, nhẩy cả xuống ruộng, đâm cả vào các hàng cây. Bọn đàn ông
say mèm phải nhường cương ngựa và quyền lái xe cho các bà vợ,
Những vị khách ở lại Bà Tô thức suốt đêm để uống rượu và đánh
bạc trong nhà bếp. Bọn trẻ con ngủ lăn lóc như chó con dưới gầm bàn gậm ghế, xó
tủ.
Cô dâu mới, tức là cô Ánh đã khẩn khoản xin ông Năm Hòa tránh
cho cô khỏi phải chịu đựng những trò đùa dai của bà con. Nhưng vào khoảng nửa
đêm, khi cô dâu, chú rể vừa vào phòng thì một anh thợ hàn em họ của cô dâu đã
linh lỉnh đến ghé miệng vào lỗ khóa thổi nước phì phì vào phòng. May sao ông
Năm vừa đi tới cản lại kịp. Ông giải thích cho anh thợ hàn biết rằng vì địa vị
quan trọng của chú rể, người ta không có quyền được đùa rởn những trò cợt nhả bậy
bạ như thế, Trong thâm tâm anh thợ lập tức anh cho là lão Năm lên mặt làm kiêu,
khinh họ hàng. Và anh vội đến nhập bọn với năm bẩy anh khác - mấy anh này cũng
bất mãn vì trong bữa lễ đã không may ăn phải nhiều miếng thịt dai nhách – để ngồi
bí sị ra trong một xó mà rủa thầm cho gia chủ chóng được …sạt nghiệp.
Bà Quản Bành hờn mát bỏ ra về sớm hơn ai hết. Cả ngày cưới bà
chẳng nói chẳng rằng lấy được một lời Bà phẩn uất vì thấy không có ai đếm xỉa
gì đến bà. Người ta không thèm hỏi qua ý kiến của bà về bữa cỗ, về trang phục của
cô dâu v..v..
Ông Quản Bành mặc kệ bà về trước, ông ở lại Bà Tô để ngồi uống
rượu, hút sì gà suốt đêm, và dở nhiều trò lẩm cẩm khác.
Suốt ngày cưới, chú rể Bô cứ nghệt mặt ra. Ai nói đùa, nói riễu
gì Bô cũng nhe răng ra cười khì khì chẳng biết trả lời ra sao cả. Qua đêm tân
hôn đến sáng hôm sau, người ta thấy chú rể trẻ hẳn lại, chú cứ líu tíu bên cạnh
cô dâu. Trái lại, cô dâu tỏ vẻ phớt tỉnh như không có chuyện gì xẩy ra cả.
Hai ngày sau hôm cưới, đôi vợ chồng mới đưa nhau về quận Ông
Tố. Ông Năm Hòa lên xe đưa con gái ra đến tận đường cái quan. Tới đây, ông hôn
Ánh lần cuối rồi bước xuống đường. Ông đứng đấy nhìn theo mãi cho tới khi chiếc
xe ngựa chở con gái ông đi mất dạng trên con đường mòn, và ông thở dài. Rồi,
ông nhớ lại ngày cưới vợ của ông trước kia, khi ông còn trẻ tuổi, nhớ lại ngày
vợ ông có thai lần đầu tiên. Ông đã sung sướng biết bao nhiêu trong cái ngày
ông đón vợ ông từ nhà bố mẹ vợ về nhà ông. Ông còn nhớ rõ hôm ấy, là một
ngày vào mùa đông gần lễ Giáng Sinh, cánh đồng bát ngát phủ đầy tuyết trắng,
ông cưỡi ngựa, vợ ông ngồi đằng sau, một tay ôm ngang eo ếch chồng, một tay cô
dâu cầm cái giỏ đựng quần áo. Mỗi lần quay lại, ông lại thấy một khuôn mặt hồng
hào, tươi tắn và một đôi mắt trong đang nhìn ông trìu mến. Chao ôi, những giây
phút êm đềm ấy đã thành xưa cũ mất rồi. Nếu đứa con trai đầu lòng của ông còn sống,
năm nay hắn đã ba mươi tuổi.
Ông Năm quay lại nhìn theo bóng xe, ông chỉ còn thấy một con
đường quê vắng ngắt dưới bóng chiều ảm đạm. Ông bỗng thấy tâm hồn trống trải
như một căn nhà bỏ hoang. Những kỷ niệm êm đẹp ngày xưa lộn xộn trong óc ông,
chen lẫn với những ý tưởng đen tối ông muốn đi một vòng ra phía nhà thờ. Nhưng
sợ rằng cảnh vật càng làm cho ông buồn thêm nên ông đi thẳng về nhà
Ông bà Bô về đến Quận Ông Tổ vào khoảng sáu giờ chiều. Thiên
hạ gọi nhau ra
cửa để chờ xem mặt cô vợ mới của ông Đốc Bô.
Bà hầu gái già của ông Đốc Bô ra chào bà chủ mới. Trong khi
chờ đợi bữa ăn chiều, ông Bô dẫn bà Bô đi coi khắp nhà.
Ánh theo chồng bước vào căn phòng ngủ trên lầu. Giữa
phòng kê một chiếc giường gỗ gụ khá lớn trải nệm xanh và có mền xanh. Trên mặt
chiếc tủ ngăn gần đấy, nàng thấy một bó hoa buộc lụa xanh, đầy bụi phủ được cắm
trong một bình hoa bằng thủy tinh cạn khô cả nước: đó là bó hoa cưới của bà Bô
cũ. Chồng nàng trông thấy vội cầm bó hoa đem lên gác xép. Ánh đến ngồi trong
chiếc ghế bành kê bên cửa sổ, nghĩ đến bó hoa cưới của chính nàng đang nằm
trong chiếc hòm da và mơ màng tưởng tượng đến số phận nó sẽ ra sao nếu mai đây
lỡ nàng chết?
Trong những ngày đầu tiên, Ánh bận rộn lo sửa sang, sắp đặt lại
cửa nhà. Nàng thay hết các rèm cửa, rèm màn, mua giấy mới dán lại khắp các
phòng. Nàng cho sửa lại vườn hoa, cây cảnh và xây thêm một bồn nước nuôi cá
vàng ở giữa vườn, dưới chân bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách. Chồng nàng biết
ý vợ thích đi ch
IV
Bô sung sướng như một người đàn ông hạnh phúc nhất đời. Chàng
yên trí hưởng hạnh phúc bên cô vợ trẻ mà không phải bận tâm lo nghĩ đến một
chuyện cỏn con gì cả. Mỗi bữa ăn có nàng ngồi trước mặt buổi tối, chàng cặp tay
nàng dạo chơi dưới ánh trăng suông, một nụ cười của nàng, một cử chỉ rất tầm
thường của nàng như bàn tay vuốt nhẹ làn tóc mai... đó là những cái bất cứ lúc
nào cũng có thể làm cho Bô ngạc nhiên và sung sướng. Mỗi sáng ngủ đậy, chàng vẫn
nằm yên hé mắt nhìn ánh sáng từ ngoài cửa sổ lùa vào, lung linh trên gò má đầy
có những sợi lông tơ mịn của nàng. Gần nhau như thế, chàng thấy đôi mắt nàng đột
nhiên như to hơn, nhất là khi nàng chớp chớp mắt lúc vừa tỉnh dậy. Đôi mắt
nàng có mầu huyền khi nàng ở trong bóng râm, xanh đậm ngoài ánh nắng và lúc thì
như xanh nhạt, lúc thì nâu nâu khi nàng nằm trong giường Bô say sưa thành kính
nhìn vào đôi mắt ấy và sung sướng khi thấy bóng mình nhỏ tí in trong tròng mắt
nàng. Khi chàng ra đi, nàng ra đứng trên bao lơn giữa hai chậu hoa dạ lan hương
xinh xắn. Ở dưới đường, chàng lên mình ngựa, nàng dặn dò mấy câu và ngắt một
bông hoa đưa lên miệng cắn những cánh hoa theo gió bay lả tả xuống đầu chàng. Họ
gửi cho nhau những cái hôn trên đầu ngón tay. Chàng thúc ngựa ra đi trên những
con đường cát trắng, một mình đi sâu vào những cánh đồng lúa ngập đến ngang
mình ngựa, với ánh nắng mai rực rỡ trên đầu. Lúc nào nhớ đến nàng, chàng lại mỉm
cười. Đời chàng như vậy là hoàn toàn hạnh phúc.
Còn Ánh, trước khi về nhà chồng, mang hy vọng rằng nàng đã
yêu và đã được yêu. Nhưng sau đó, nàng hơi ngạc nhiên khi thấy nàng vẫn không
được sung sướng với một mối tình như vậy. Nàng nghĩ rằng nàng đã lầm, và cố moi
óc tìm hiểu người ta định nói gì khi dùng những danh từ yêu đương, hạnh phúc,
say đắm, thiết tha v.v... mà nàng vẫn thấy người ta diễn tả một cảch mê ly
trong các cuốn tiểu thuyết diễm tình.
Ánh đã đọc truyện Paul et Virginie và nàng đã mơ nhiều về căn
nhà tre nhỏ nằm ven rừng xanh, mơ đến chú mọi Domigo, đến con chó Fidèle, và nhất
là mơ đến tình yêu trong sạch của một người anh trai hiền lành nào đó, lúc nào
cũng sẵn sàng leo lên những ngọn cây cao chót vót để hái những trái chín thơm
lành, hoặc chớp lấy những tổ chim non, đem xuống dâng cho những cô em gái…
Khi Ánh được mười ba tuổi, ông Năm đích thân đưa nàng ra tỉnh
Gò Ruân, để gửi nàng vào học trong trường Nhà Trắng. Trong những ngày đầu tiên
sống trong trường, Ánh không thấy buồn rầu chút nào. Trái lại nàng còn vui
thích vì được gần gũi những Dì Phước hiền lành, khéo chiều chuộng. Các Dì thường
đưa nàng vào Nhà Thờ chơi. Nàng học rất khá. Chính nàng là người vẫn trả lời
trôi chảy ông Cha Sở về những câu hỏi giáo lý khúc mắc của ông.
Buổi tối, trước giờ đọc kinh, người ta thường đọc cho các cô
trò nhỏ nghe vài trang truyện đạo, Ánh say sưa nghe những lời than thở ngân
vang qua những trang sách, với những nỗi buồn vô biên, như lời than của cả ngàn
năm xưa cũ bỗng nhiên trở về nức nở trong tâm hồn rung động của nàng.
Nếu thời thơ ấu của Ánh đã trôi dài sau một cái quầy hàng
trong một cửa hiệu tạp hoa chật chội, tối tăm nào đó, chắc nàng đã say mê muốn
được sống giữa những cảnh trời cao, sông rộng nơi đồng quê, những cảnh mà người
thị thành chỉ được cảm, được thấy qua những trang tiểu thuyết, Nhưng Ánh đã biết
quá rõ cảnh sống nơi làng quê rồi, nàng đã chán ngấy với những chuyện đi cầy, gặt
lúa, vắt sữa bò v.v... Quen thuộc với những cảnh bình yên, phẳng lặng, Ánh lại
thích được sống giữa những cảnh náo động và sôi nổi.
Trong trường Nhà Trắng, nơi Ánh học, có một chị gái già thường
đén trường một tháng đôi lần để khâu và sửa soạn lại mùng mền quần áo. Được Cha
Cả che chơ và nâng đở vì chị ta thuộc một gia đình dòng dõi quí phái bị suy tàn
từ ngày cách mạng đến giờ, chị ta được phép ngồi ăn chung bàn với các bà Sơ, và
thường trò chuyện thân mật với các bà trước khi trở lên lầu làm việc. Bọn học
trò gái nhỏ thường lén rủ nhau lên xem chị ta khâu vá. Chị ta thuộc lòng những
bài ca tình tứ lãng mạn ngày xưa, và vừa đẩy những mũi kim khâu đi trên làn vải
dầy, chị ta vừa khe khẽ hát. Chị kể chuyện, chị loan những tin tức mới vừa xẩy
ra bên ngoài, nhận mua giùm những món vặt vãnh, nhận gửi thư và bí mật cho các
cô học trò lớn mượn vài cuốn tiểu thuyết tình. Chị ta thường mang theo luôn
luôn một cuốn truyện, dấu dưới đáy rổ may và lúc nào ngồi một mình, là dở ra đọc
ngấu nghiến từng trang dài. Đó là những cuốn truyện nói riêng về ái tình, về
Chàng và Nàng, về những người đàn bà đẹp bị đời hất hủi, hành hạ, ê chề, những
cô gái ngây thơ, kiều diễm ngất lịm đi giữa những cảnh lâu đài hoang vắng,
trong đó có những trận phi ngựa đuổi bắt, chém giết nhau đến kinh hồn giữa những
chàng trai trẻ hào hoa mã thượng, đánh nhau như máy vì đôi mắt đẹp của giai
nhân, có những cảnh rừng cây u tối, những trái tim rung động, những lời thề
nguyền đời này kiếp khác, những tiếng lòng nức nở, những giọt nước mắt long
lanh, và những chiếc hôn say đắm, nồng nàn, có những tiếng đàn thánh thót dưới
bóng trăng xanh, có tiếng chim ca tưng bừng trong hoa lá, có những chàng trai
trẻ kiêu dũng như những con sư tử, nhưng trước người đẹp lại hiền như những chú
cừu non, những con người hùng đức hạnh như là không ai có thể đức hạnh đến như
thế, lúc nào ăn bận cũng đàng hoàng, và thỉnh thoảng lại khóc như mưa như gió.
Khi Ánh lên mười lăm tuổi, trong vòng sáu tháng trời, nàng đã
sống, đã mơ màng trong cái thế giới của những quyển tiểu thuyết ái tình lâm ly ấy.
Sau đó, khi đọc những cuốn sách của văn hào Walter Scott Ánh bắt đầu mê
những chuyện lịch sử, mê những pháo đài, những hầm tù, những đoàn cung thủ và
những chàng hiệp sĩ mang giáp sắt. Nàng ao ước được sống trong một tòa lâu đài
nào đó, như những nàng kiều nữ ngày xưa, trong những tấm áo mầu, chỉ sống để u
buồn, ngồi bên cửa sổ, ngày ngày chờ đợi một bóng chàng hiệp sĩ mang kiếm thép,
đội mũ có dim lông chim trĩ trắng, cưỡi một con ngựa đen phỉ như bay qua cánh đồng
nâu xám ổẽũ trước lâu đài,
Vài cô bạn của Ánh dấu diếm đem vào được trong trường dăm quyển
tiểu thuyết diễm tình mới. Họ chia nhau đọc trộm, trong phòng ngủ, Trịnh trọng
dở nhẹ những mảnh bìa da cứng, Ánh vẫn thường trố mắt nhìn tên những vị tác giả,
đối với nàng là người không quen biết, nhưng tỏ ra gần gũi với nàng vô cùng, và
thường ký với những tước vị cao sang là Bá Tước, Công Tước hoặc là Tử Tước.
Nàng thường ghé môi thổi nhẹ cho những trang giấy lụa mỏng
tanh, nằm trên những bức tranh, trong cuốn sách, khẽ bay lên rồi lại từ từ rơi
xuống, Có những bức tranh vẽ cảnh một thanh niên khôi ngô tuấn tú, đứng bên một
nàng thiếu nữ xinh đẹp, ngây thơ một cách trinh bạch, dưới những vòm cây xanh
hoặc là những bức tranh vẽ hình những thiếu phụ vô danh, đôi mắt u buồn nhìn cuộc
đời dưới những hàng mi dài.
Và ánh sáng mờ ảo của ngọn đèn dầu treo giữa phòng đã lung
linh nhẩy múa trên những trang sách ấy, dưới mắt Ánh và trong cả tâm hồn nàng,
giữa cảnh tịch mịch của đêm trường nơi tu viện, Đôi khi Ánh nhắm mắt ngủ quên
đi, má đặt lên trang sách, bên tai nàng văng vẳng như có tiếng ngựa xe...
Khi mẹ nàng qua đời, Ánh đã khóc rất nhiều trong những ngày đầu.
Nàng lấy tóc của mẹ kết lại thành một chiếc vòng đen trước ngực, và trong một bức
thơ đầy lời lẽ bi ai sầu não gửi về Bà Tô, Ánh ngỏ ý muốn được chôn bên cạnh mộ
mẹ nàng khi nàng chết. Ông Năm Hòa tưởng con gái ốm, lật đật ra thăm. Trong
thâm tâm Ánh tự cảm thấy hài lòng, vì nàng đã đạt được đến một mức đau khổ lạnh
lùng, gần như lâng lâng thoát tục mà những kẻ tầm thường ở cõi đời này, không
thể nào có được. Nàng để mặc tâm hồn như một con thuyền bềnh bồng trôi nổi trên
những mặt hồ buồn của Lamartine, nghe những tiếng đàn huyền đọng trên sóng nước,
những tiếng chim chiều lẻ bạn kêu thương, tiếng gió thu hiu hắt thở dài qua khe
lá, tiếng lá rụng rơi êm trên thảm cỏ vàng, tiếng đập cánh của những nàng Trinh
Nữ bay về trời, và tiếng nói của Thượng Đế âm vang thuôn thuở trong những thung
lũng ngàn đời bất biến. Thế rồi nàng cũng cảm thấy chán ngấy và hơi ngạc nhiên
khi thấy mình chẳng còn buồn rầu một tí nào, cũng như trên trán nàng, chẳng có
một vết răn ưu tư nào cả.
Mấy bà Sơ, trước kia tỏ ra rất hài lòng về Ánh, nay bắt đầu
thấy cô học trò nhỏ trở nên kỳ dị và bướng bỉnh một cách khó chịu. Khi ông Năm
Hòa đến xin Ánh ra khỏi trường, người ta không lấy làm buồn mấy khi thấy nàng
ra đi.
Về nhà quê, trong những ngày đầu tiên, Ánh cảm thấy vui vui
vì được tự do sống theo ý muốn, được sai bảo bọn người nhà. Nhưng lâu dần nàng
lại thấy ngấy chán cảnh đồng quê và tiếc những ngày sống trong trường Nhà Trắng.
Khi nhà y sĩ Trần Văn Bô đến trại lần đầu tiên, Ánh tự cho rằng mình đã thất vọng
nhiều rồi, không còn cảm động, còn cần biết gì thêm nữa,
Trong tuần trăng mật, một đôi khi, Ánh cũng nghĩ rằng đó là
thời kỳ đẹp nhất của đời nàng, Nhưng nàng cho rằng, muốn hưởng thụ được tất
cả những hương vị êm đềm của hạnh phúc, nàng phải được theo chồng sống ở những
miền đất lạ xa xôi, nơi có những cái tên làm rung động lòng người, và những buổi
sớm mai sau đêm tân hôn ở đấy, những cặp vợ chồng, mới cưới sẽ được hưởng
những giây phút êm đềm, lười biếng thấm thía hơn. Nàng muốn được ngồi trong những
chiếc cáng có rèm che, nghe tiếng ca của những anh phu cáng hát theo nhịp chân
dẫm lên dốc núi hòa lẫn với tiếng chim kêu, vượn hú, và tiếng suối reo trên những
ghềnh đá bạc, Để đến những buổi chiều hoàng hôn, khi mặt trời gần lặn, chàng và
nàng đứng sát nhau trên những đỉnh núi cao, trong gió chiều thơm phức mùi hoa
cam, để rồi đêm tối, ngồi bên nhau trong bóng đêm những ngón tay nắm chặt lấy
nhau, họ nhìn lên trời đầy sao mà tính chuyện tương lai. Nàng thấy rằng hình
như chỉ có một vài miền trên trái đất này có thể làm cho con người có hạnh
phúc, tình yêu như một thứ cây đặc biệt chỉ có thể sống tươi tốt ở một nơi, hễ
đem ra trồng nơi khác là chết. Tại sao nàng lại không có thể sống trong một căn
nhà gỗ thông bên một mặt hồ mênh mông ở Thụy Sĩ hoặc dấu nỗi sầu trong một gian
nhà tranh vàng ở Tô Cách Lan? Tại sao chồng nàng lại không phải là một người bận
một chiếc áo bằng nhung đen có vaì bồng, đội mũ nỉ có dắt lông chim, đi giầy da
mềm như lụa, và ngón tay sao lại không đeo những chiếc nhẫn kim cương?
Có lẽ đôi khi, Ánh cũng muốn tâm sự với một người nào đó tất
cả những nỗi ước mơ lãng mạn ấy của nàng. Nhưng làm sao nàng có thể diễn tả được
một thoáng buồn vẩn vơ, một hình ảnh tan biến, thay đổi nhanh hơn những làn mây
mỏng trên trời và phảng phất như gió thổi? Nàng thiếu hoạt bát để diễn tả tư tưởng
ra thành lời, thiếu cơ hội, thiếu cả can đảm.
Trước những trạng thái tâm hồn ấy của vợ, Bô vẫn bình thản
như không. Chàng chẳng có ý kiến gì, chẳng có lập trường, chẳng có quan niệm gì
cả, hoặc nếu có, thì là ý kiến, lập trường và quan niệm của tất cả mọi người.
Tâm hồn chàng trơn tuột như một mặt vỉa hè mà gót chân ai cũng có thể qua được.
Chàng thú thật rằng trong những ngày còn đi học tại Gò Ruân, chẳng có lần nào
chàng đi xem hát do các kịch sĩ từ Ba Lê đến trình diễn? Bô không biết đàn,
không biết làm thơ không biết nghe nhạc, không biết thưởng thức văn chương,
không biết bơi lội, không biết bắn súng, và không biết cả một vài danh từ lãng
mạng hơi khó hiểu mà vợ chàng đã đọc thấy trong một cuốn truyện.
Buổi sáng Bô tiếp khách ở nhà, buổi chiều chàng đi thăm bệnh
cho các bệnh nhân trong vùng. Thường thường tối mịt chàng mới về đến nhà, có
khi nửa đêm không chừng. Con ở đã đi ngủ, Ánh xuống nhà dọn bữa cho chồng, Bô cởi
áo ngoài vắt lên thành ghế để ăn uống cho thoải mái; Vừa ăn, chàng vừa kề lại
những câu chuyện trong ngày cho vợ nghe, Sau khi ăn hết củ khoai răn reo, vét nốt
nồi súp, tráng miệng bằng một mẩu pho mát, Bô uống một ly rượu nhỏ rồi theo vợ
lên đi ngủ, Vừa ngả lưng xuống giường, chàng đã ngáy khò.
Vẫn như ngày xưa, mỗi lần có chuyện xô xát dữ đội với chồng
bà Quản Bành thường tạ sự đi thăm con để vắng mặt ít lâu cho đỡ giận, Nhưng bây
giờ bà Quản có vẻ hơi kỵ cô con dâu, Bà thấy Ánh có tật tiêu hoang than củi, mắm
muối trong nhà Bô tốn phí một cách quá đáng. Bà chỉ bảo cho Ánh cách, xếp đặt
quần áo cho ngăn nắp, và dạy nàng kiểm soát anh hàng thịt khi anh này mang thịt
đến bán. Ánh giả vờ ngoan ngoãn nghe lời mẹ chồng, Bà Quản Bành cố tình lên lớp
con dâu, những tiếng ‘‘thưa mẹ’’ và ‘‘con ạ’’ ngọt sớt trao đổi nhau suốt
ngày như những mũi tên nhọn có tẩm thuốc độc bắn đi bắn lại giữa hai kẻ tử thù
không đội trời chung.
Trong thời bà cả Bút, tức là bà Bô cũ, bà Quản Bành còn thấy
mình được Bố qúy mến hơn. Nhưng đến nay, trước mối tình của Bô đối với Ánh bà cảm
thấy như Bô đã lừa dối, đã phản bội bà, đã đem lại một cái gì đáng lẽ là của bà
đi cho người khác. Và bà yên lặng đứng ngoài cái hạnh phúc của đứa con trai duy
nhất một cách buồn rầu, như một kẻ bị khánh tận, bị vỡ nợ, đứng ngoài đường
nhìn qua cửa sổ thấy những người lạ mặt đang cười đùa, ăn uống trong căn nhà cũ
của mình. Bà nhắc lại cho Bô nghe những chuyện xưa, những nỗi khổ cực của bà đã
chịu đựng cho Bô để so sánh với sự thờ ơ, lãnh đạm của Ánh bây giờ, và để đi đến
kết luận rằng Bô cưng chiều vợ như vậy thật là vô lý.
Bô không biết trả lời bà Quản ra sao cả, chàng kính mến mẹ rất
mực và cũng yêu thương vợ vô cùng. Chàng cho rằng mẹ chàng nói bao giờ cũng
đúng, nhưng vợ chàng thì lại hoàn toàn không thể chê trách điều gì. Khi bà Quản
về rồi, Bô rụt rè nhắc lại một vài câu phê bình nhẹ nhất cho vợ nghe, nhưng chỉ
một câu nói, Ánh cho chồng thấy chàng đã lầm to, và gạt chàng về với mới cái bệnh
vặt.
Theo những lý thuyết mà nàng tin rằng sẽ thâu lượm được những
kết quả tốt đẹp, Ánh cố gắng đem lại ái tình trong đời nàng. Những đêm sáng
trăng, trong mảnh vườn nhỏ, ngồi sát bên Bô trên chiếc ghế đá, trước bồn nước
nhỏ, và bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách, Ánh rủ rỉ đọc cho chồng nghe tất cả
những bài thơ tình mà nàng thuộc lòng, nói cho chồng nghe tất cả những câu yêu
đương trong tiểu thuyết mà nàng còn nhớ, hát cho chàng nghe những bài ca mùi đứt
ruột, nhưng sau đó Ánh hơi ngạc nhiên khi thấy chính nàng cũng chẳng rung động
hơn trước tí nào, và Bô thì vẫn sì sì ra như cũ.
Sau khi đã mỏi tay quẹt diêm châm vào trái tim mà vẫn không
thấy bốc một ngọn lửa yêu đương nào cả, Ánh cho rằng chồng nàng là người không
thể nào có những tình cảm nồng nhiệt được. Yêu đương đối với chàng chỉ là một
thói quen, chàng yêu vợ có giờ giấc, có điều độ y như là người ta ăn bánh, uống
nước.
Một anh gác rừng trong miền được ông đốc Bô chữa cho khỏi bệnh
tức ngực, đem đến biếu bà Đốc một con chó giống Ý Đại Lợi thật xinh. Ánh thường
dắt chó đi chơi quanh quẩn ra khỏi Quận để đỡ phải chán mắt nhìn suốt ngày này
qua ngày khác mảnh vườn nhỏ hẹp có bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách bằng đá
trắng.
Trong những buổi chiều đi chơi thơ thẩn một mình như thế, Ánh
vẫn thường dắt chó ra tận chùa Bà Banh, một ngôi chùa bỏ hoang từ lâu ở phía đầu
quận. Trước cửa chùa có một cái hồ bán nguyệt thả sen và có dăm cây ngô đồng võ
vàng dựa trên bức tường xiêu đổ.
Nàng thường đến đây ngồi trên thềm cửa tam quan, mơ màng nhìn
ra cánh đồng và
những rặng cây xa nơi chân trời. Tâm trí nàng phất phơ như một
cánh bướm, bay lượn trên bụi cỏ, cành cây. Nhưng sau cùng, câu chuyện vợ chồng
bao giờ cũng trở lại ám
ảnh nàng:
- Trời ơi! tại sao ta lại lấy chồng? Ta lấy chồng để làm gì
nhỉ?
Ánh tự hối không hiểu có một phương tiện nào, một cơ hội nào
khác cho nàng gặp được một người đàn ông khác với chồng nàng hay không? Và nếu
có thể được, thì sự việc sẽ xảy ra như thế nào? Nàng tưởng tượng ra những cuộc
gặp gỡ kỳ dị: con người ấy sẽ khác hẳn với ông Đốc Bô, chàng đẹp trai, học thức,
lịch sự, có duyên, quyến rũ. Những cô bạn gái cùng học trong trường Nhà Trắng với
nàng trước kia chắc bây giờ đều đang sống với những người chồng dễ thương như vậy.
Bây giờ các bạn gái của nàng đang làm gì? Sống ở nơi châu thành rộn rịp ngựa
xe, tưng bừng ánh sáng, chắc họ phải có những cuộc sống sôi nổi rung động, mê hồn.
Trong khi đó thì cuộc đời nàng đang lạnh lẽo như một căn gác xép bỏ hoang có
chiếc cửa sổ mở ra hướng Bắc. Nàng nhớ lại những kỳ phát phần thưởng ngày xưa,
khi nàng e lệ bước lên khán đài lãnh những chồng sách thưởng. Với mái tóc tết
bím thả trên hai với, chiếc áo trắng và đôi giày hở gót, nàng có những điệu bộ
mắc cỡ đáng yêu của những cô gái dậy thì, làm cho mấy vị quan khách nửa ông, nửa
anh phải rù rì bàn tán. Sân trường trong những ngày cuối năm học ấy rộn rịp
khác thường, học trò gọi nhau, vẫy nhau qua các khung cửa xe. Ông thầy đờn xách
hộp ra về, gặp ai cũng ngả non chào ra vẻ nhà nghệ sĩ hay đãng trí. Thời gian
xa xưa biết chừng nào rồi.
Nàng gọi Lili, con chó nhỏ tới nơi âu yếm vuốt ve nó và trò
chuyện với nó như một đứa trẻ:
- Lili... em có thương cô không? Đời em nào có biết buồn là
gì nhỉ?
Buổi chiều, đôi khi có những trận gió lớn thổi từ miền biển
xa về, đem theo những hơi nước mặn. Những thân lau già cỗi ngả mình nằm rạp xuống
đất theo chiều gió, hai rặng phí lao sau chùa reo vi vu, buồn như những tiếng
thở dài não nuột, mấy lá ngô đồng xào xạc bay. Ánh ghì chặt chiếc khăn san trước
ngực, chậm rãi đứng dậy.
Trong lối cỏ, một vầng ánh sáng xanh rờn hắt từ vòm cây lá xuống
soi sáng đường rêu ẩm. Mặt trời lặn dần ráng chiều đỏ ối sau những thân cây về
hướng Tây. Ánh bỗng thấy rùng mình sợ hãi. Nàng vội vã dắt chó theo con đường lớn
về nhà, và cả buổi chiều hôm ấy nàng rũ rượi nằm trong chiếc ghế bành bên cửa sổ,
không nói nửa lời.
V
Đêm đêm, khi bọn lái buôn, trên những chiếc xe bò cộc cạch, vừa
đi vừa hát bài Marjolaine quá trước cửa nhà. Ánh bỗng thức giấc. Nàng lắng nghe
tiếng bánh sắt của đoàn xe nghiến trên con đường sỏi, tắt dần trong đêm khuya.
Nàng nghĩ thầm:
- Đến sáng mai, họ sẽ tới Ba Lê.
Nàng thả hồn đi theo đoàn xe, qua đồi, qua rừng, qua các làng
quê, trên con đường đá trắng dưới ánh sao lấp lánh cho đến lúc nàng mệt mỏi lại
ngủ thiếp đi.
Nàng mua một tấm bản đồ thành phố Ba Lê, rồi để ngón tay lần
theo mặt giấy, nàng tưởng tượng ra những đại lộ, ngần ngừ trước những ngã tư đường,
dừng lại trong những công viên. Đôi khi, nàng nhắm mắt lại và tưởng như đang
nhìn thấy trong bóng tối lấp lánh những ngọn đèn ven đường, và nghe tiếng vó ngựa
chạy lộp cộp truớc cửa những nhà hát lớn.
Nàng gửi mua năm tờ Tuần Báo Bạn Gái Tân Thời và tờ Trang Phục
Mới. Nàng đọc ngấu nghiến những trang Thời Sự Kịch Trường, chú ý đến từng chi
tiết nhỏ nhặt nhất của các đêm trình diễn đầu tiên các vở tuồng mới, theo rõi
cuộc đời ái tình và sự nghiệp của những cô đào hát đang nổi tiếng. Nàng nghiên
cứu những kiểu áo mới, những kiểu tóc mới. Nàng tìm đọc những tác phẩm của nhà
văn Eugène Sue để hiểu rõ Ba Lê hơn. Trước mắt Ánh, thành phố Ba Lê rộng lớn
hơn cả Đại Tây Dương huyền bí hơn cả rừng già Phi Châu, quyến rũ như một hình ảnh
thần tiên, mộng ảo. Và bởi vì nàng chưa từng sống ở Ba Lê ngày nào, cho nên
nàng chỉ được biết Ba Lê qua một vài trang sách, qua dăm bảy mẫu người. Chẳng hạn
như cuộc sống của những chính trị gia, của những nhà đại sứ, y phục- chỉnh tề
bước nhẹ trên những sân gỗ đánh si trơn láng trong những phòng khánh tiết dát
gương quanh tường, bên những chiếc bàn tiệc dài phủ khăn nhung đỏ. Đấy là nơi
có những chuyện gạ gẫm, đổi chác, những sợ hãi nấp sau những nụ cười khinh thường
đời. Rồi đến cuộc sống của những bà quí phải: các bà, các cô này phần đồng đều
võ vàng lả lướt, xanh xao, sống một lối sống khác thường: năm giờ sáng mới vào
giường ngủ, bốn giờ chiều mới trở dậy. Dưới bóng các bà, các cô này có những
người đàn ông lịch sự, tư cách, chẳng biết có tài cán gì không nhưng quanh năm,
suốt tháng chỉ sống để cờ bạc, đi săn, để rồi đến năm vào khoảng bốn mươi tuổi,
kết hôn với những cô gái nhà giàu. Trong những tiệm nhẩy, những hàng ăn đêm, dưới
ánh sáng huyền ảo của những ngọn bạch lạp, có những nhà văn, nhà thơ, nhà báo
cười nói hoặc trầm tư bên những cô đào hát, lớp người này tiêu hoang như những
ông Hoàng họ xài phí một cách ghê gớm tiền tài, tình cảm và cả đến cuộc đời của
họ. Đó là những cuộc sống siêu việt, trên tất cả những cái thường tình những cuộc
sống ở giữa đất và trời, mạnh bạo như bão tố.
Ánh chỉ mơ tưởng đến những cuộc đời như thế, còn thì nàng cố
tình quên hết những cảnh thực tế khác mà nàng cho là nghèo nàn, gò bó không
đáng sống. Trong cơn mê mộng, nàng lẫn lộn tình yêu với sự thèm muốn của xác thịt,
nàng lầm những tình cảm cao đẹp của tâm hồn với những sự sung sướng về vật chất.
Nàng chỉ thích được yêu đương với những tiếng thở than nức nở, dưới ánh trăng
xanh, giữa những căn phòng nhung lụa vàng son, gối chăn thơm phức.
Mỗi buổi sáng, một chú nhỏ làm tống thơ văn ở nhà bưu điện
trong quận đến nhà bà Bô dọn dẹp chuồng ngựa và thắng ngựa vào xe. Đó là chú mã
-phu mà bà Bô rất lấy làm bất mãn vì bà thấy chú không được tư cách như những
chú mã-phu, xà-ích tả trong tiểu thuyết. Chú đi guốc gỗ, áo thì thủng năm bảy lỗ.
Để thay thế cái Nụ bị đuổi vì tội hỗn xược với bà chủ, Ánh mướn
một đứa ở gái mới mười bốn tuổi và để tâm uốn nắn cho nó trở thành một đứa hầu
gái lý tưởng của nàng. Con Nhài, đứa ở mới, là một đứa trẻ mồ côi, mặt mũi ủ dột
và ít nói. Nó lại càng ít nói hơn khi được biết rằng chị ở trước nó chỉ vì nói
nhiều, lẩm cầm mà bị bà chủ đuổi. Ánh bắt khoan, bắt nhặt điều gì, con bé cũng
vâng dạ, để rồi tự an ủi bằng cách mỗi tối ăn trộm vài cục đường bỏ túi vào giường
ngủ nhấm dần, sau khi đã đọc ba kinh Kính Mừng.
Vào những buổi trưa nhàn rỗi, Nhài thường ra đứng trước cửa
trò chuyện với dăm anh thợ giặt ủi nhà bên. Bà Bô ở trên lầu, Đôi khi ngủ trưa,
đôi khi nằm đọc truyện.
Ánh thường bận một chiếc áo bằng voan mỏng, tay rộng. vai bồng,
phủ ngoài chiếc áo lót mình cổ tròn có thêu ren. Nàng thắt chiếc giây lưng bằng
nhung xanh, và đi một đôi giầy da mỏng mũi cong vuốt như kiều giầy của các cung-tần
Á Rập, Mặc dầu nàng không cấn viết lách gì cả, mà cũng chẳng có ai để viết thư,
Ánh cũng vẫn sắm một bộ bàn viết với đủ cả dụng cụ văn phòng, Nàng ra ngồi bàn,
soi bóng trong gương, cầm một quyển sách lơ đãng dở ra coi vài dòng, rồi buông
sách xuống lòng nàng mơ màng thả hồn theo những giấc mộng vẩn vơ, Nàng thèm muốn
được làm một chuyến đi về những xứ lạ xa khơi, hoặc là được trở về sống trong
tu viện. Nàng vừa mơ được sống ở Ba Lê, vừa chán đời muốn chết cho rảnh chuyện,
Trong lúc đó thì ông Bô, chồng nàng, vất vả cả ngày trên lưng
ngựa, giữa trời mưa tuyết hoặc là mưa bụi bay lạnh giá, mò mẫm, lặn lội đi khắp
mọi nơi trong miền. Chàng tới những trang trại hẻo lánh xa xôi nhất, kiên nhẫn
nghe người bệnh kêu rên, bạo tay sờ mó lên những ung nhọt, máu mủ không làm cho
chàng ghê tởm chút nào. Mỗi buổi chiều, khi trời chạng vạng tối, chàng về tới
nhà đã có sẵn một lò lửa hồng ấm áp chờ đợi chàng bên bữa ăn tối thịnh soạn,
ngon lành, và một cô vợ trẻ người thơm phưng phức, Bô không hiểu rằng những làn
vải mịn trắng tinh làm thành quần áo của vợ chàng kia đã làm cho da thịt vợ
chàng thơm tho, hay chính là da thịt của nàng đã làm cho quần áo có được cái
mùi dễ chịu đến như thế.
Bô càng ngày càng khỏe ra. Mặt mũi chàng tròn trặn, hồng hào
rõ ra là bộ mặt của một ông thầy thuốc theo đúng phép vệ sinh và được thánh cho
ăn lộc, Chàng đã tạo được một địa vị vững chắc trong địa phương. Dân miền quê
trong vùng thẩy đều có cảm tình với chàng, vì chàng không khinh khỉnh làm cao,
hoặc quan trọng hóa vấn đề như nhiều anh lang tây lẩm cẩm khác, Chàng thích trẻ
con và tỏ ra có đức tính chịu đựng trẻ con đáng kể. Chàng không la cà ở các
quán rượu, không đánh bạc, không hay nói tục hoặc bông đùa quá trớn. Nói tóm lại
Bô là một ông thầy thuốc hiếm có mà người ta có thể giao cho săn sóc đến sức khỏe
và cơ thể của vợ và con gái họ mà không sợ thiệt hại gì. Chàng nổi tiếng về
khoa trị ghẻ cóc và tức ngực. Vì lúc nào cũng bị ảm ảnh sự vô phúc làm chết con
bệnh, cho nên Bô thường cho uống thật nhiều thuốc bổ. Nhưng không phải vì vậy
mà Bô tỏ ra nhát sợ trước trường hợp giải phẫu cần đến dao kéo. Khi thấy cần phải
trích máu bệnh nhân, chàng vẫn khía hăng như chọc tiết bò, còn về mục nhổ răng,
thì chàng bạo tay không thể tả.
Để biết những tin tức mới về y tế, Bô cũng đặt mua năm tờ báo
Sức Khoẻ Trên Hết, một tờ báo mới ra đời mà chàng được người ta gửi giấy quảng
cáo đến tận nhà mời mua. Sau mỗi bữa ăn trưa, chàng thường lấy báo ra đọc.
Nhưng chỉ năm phút sau, chàng đã chập chờn lim dim cặp mắt lại rồi ngủ khò, tóc
sõa trên thành ghế. Nhìn chồng há hốc mồm ra ngủ, Ánh chỉ nhún vai ra cái điều
chán nản. Đáng lý ra chồng nàng phải là một người ít nói, ít cười, một người lầm
lì thuộc vào hạng người làm việc viết lách, sưu tầm, nghiên cứu thâu đêm, suốt
sáng. Nàng muốn tên tuổi của chàng, tức là tên Trần Văn Bô, phải được nổi tiếng,
phải được báo chí dư luận nhắc nhở đến luôn luôn, phải được quần chúng biết đến.
Nhưng Bô chẳng có một tí tham vọng nào cả. Được sống bình yên như vậy là chàng
đã hài lòng quá rồi. Một ông
thầy thuốc ở tỉnh bên, trong một cuộc gặp gỡ, đã nói dăm câu
đụng chạm đến chàng trước mặt một vài bệnh nhân. Buổi chiều về nhà, khi Bô kể
câu chuyện đó lại cho vợ nghe, nàng giận dữ sỉ vả ông bạn đồng nghiệp nọ của
chàng không tiếc lời. Thấy thế, Bô hơi cảm động, chàng hôn nhẹ lên trán vợ, mắt
rưng rưng ướt. Nhưng Ánh giận chồng điên lên vì xấu hổ. Nàng bỏ lên lầu, mở
toang cửa sổ ra cho gió lạnh lùa vào phòng, nàng cắn răng lẩm bẩm:
- Khốn khổ! … Người đâu mà đần độn khốn khổ.., khốn nạn!!!
Nàng bỏ không chơi đàn nữa. Đàn mà làm gì, ai nghe nàng đàn?
Nếu không bao giờ nàng có thể mặc một chiếc áo nhung đen hở ngực, ngồi dạo những
ngón tay ngà trên những phím trắng của một cây dương cầm Érard, trong một phòng
hòa nhạc chật nức những người thanh lịch, thì nàng tốn công học đàn mà làm gì
nhỉ? Nàng bỏ đồ khâu mốc meo trong tủ, cả hộp thuốc vẽ cũng vậy. Nàng chán cả đọc
sách. Thế rồi, nàng ngồi rầu rĩ suốt ngày trong phòng, xem củi cháy, tro tàn
trong lò sưởi hoặc ngồi âm thầm bên cửa sổ nhìn trời mưa.
Nhất là vào những buổi sáng chủ nhật! Trời ơi buồn biết là chừng
nào?Ánh thường ngồi ngây người ra nghe những tiếng chuông nhà thờ, buồn bã đổ hồi
trên dẫy phố tẻ lặng. Vài con mèo ốm thõng thượt đi lại trên các ống máng, hoặc
nằm dài sưởi nắng trên những mái ngói sáng. Gió thổi cuốn bụi bay mờ trên con
đường mòn. Xa xa, thỉnh thoảng lại có tiếng chó sủa vọng về.
Mùa Đông lạnh lẽo, âm thầm trôi qua. Mỗi buổi sáng, những
khung cửa kính bám đầy tuyết trắng. Có khi suốt ngày tuyết không tan. Mới bốn
giờ chiều, người ta đã phải thắp đèn.
Những hôm đẹp trời, Ánh ra vườn chơi. Sương đêm còn đọng lại
trên các nhánh cây thành những hạt lóng lánh như thủy tinh. Không một tiếng
chim kêu, cảnh vật như im lìm say ngủ. Dàn nho phủ rơm nằm ườn như một con rắn ốm.
Giữa vườn, bức tượng ông thầy tu đứng đọc sách đã gẫy mất một chân.
Ngày nào cũng vậy, cứ đến giờ ấy, ông thầy giáo ở trước cửa
nhà Ánh, long trọng xách cập đi dậy học, rồi ông cảnh sát đi qua, mũ miện chỉnh
tề, tay cầm cây gươm cán bạc. Mỗi ngày hai lần, ba con ngựa của nhà bưu điện lộp
cộp dẫn riệu đi uống nước ở bờ ao cuối phố. Thỉnh thoảng, người ta lại nghe thấy
tiếng chuông kêu leng keng trên cửa quán rượu gần đấy, và trong những buổi trời
nổi gió, có tiếng kẽo kẹt của tấm bảng hiệu treo trên cửa tiệm uốn tóc. Ông chủ
tiệm thường hay đứng tễu mặt ra bên cửa kính mà nhìn ra đường, mặt mũi ủ rầu rầu
vì vắng khách.
Nhưng Ánh cảm thấy khó chịu nhất là vào những giờ ăn. Trong
căn phòng chật hẹp gần nhà bếp giữa bốn tường vôi ám khói, trên nền nhà ướt át,
dưới các trần nhà long lở, rỉ nước, Ánh có cảm giác như tất cả những cái gì đắng
cay bần bách nhất của cõi đời này đều đã được đặt sắp hàng trước mặt nàng, để
bao vây lấy nàng, để bóp nghẹt tâm hồn nàng. Ánh trở nên khó tính, hay bẳn gắt.
Nàng nằm ỳ cả ngày ở trong phòng thỉnh thoảng lại bỏ cơm, uống toàn sữa hoặc là
hàng bình nước trà đặc.
Thấy vợ rầu rĩ, xanh xao, vàng vọt ra trông thấy, và nghe
nàng than thở về cuộc sống buồn bã ở quận này mãi. Bô cho rằng vợ chàng không hợp
với phong thổ địa phương, và quyết định tìm nơi khác để đi lập nghiệp, bà Bô cần
phải được đổi gió. Sau bốn năm trời sinh sống tại quận Ông Tố, nhất là khi địa
vị đã khá vững vàng, vì vợ, ông Đốc Bô phải bỏ ra đi.
Sau một thời gian tìm kiếm khá lâu, Bô được biết rằng ở
tỉnh bên có một quận lỵ khá đông đúc đang thiếu thầy thuốc tên là quận Bình Đô,
ông thầy thuốc cũ của địa phương này, một y sĩ người Ba Lan di cư, đã dọn nhà
trốn đi đâu mất từ hai tháng nay, Bô lập tức viết thơ hỏi thăm nhà trữ dược
viên - tức là ông bán thuốc tây sở tại – để hỏi thăm về các mục nhân số trong
quận nhiều ít là bao nhiêu, các thân chủ có được rộng rãi, dễ chịu về tiền nông
không v..v... Và trước những câu trả lời rất khả quan, Bô quyết định, sẽ dọn
nhà rời quận Ông Tố đi Bình Đô vào khoảng đầu xuân sang năm, nếu bệnh suy nhược
của vợ không suy giảm.
Một hôm, trong lúc thu xếp quần áo, tình cờ Ánh chạm tay vào
một vật nhọn và bén. Đó là sợi đây thép buộc bó hoa cưới của nàng, Ánh lấy bó
hoa ra khỏi ngăn tủ. Những cánh hoa xưa đã úa cong và đầy bụi phủ, mấy sợi bằng
sa-tanh đã bạc phếch cả màu. Nàng vứt bó hoa vào lò sưởi. Nhanh hơn cả một
cọng rơm khô, bó hoa phựt cháy trong nháy mắt, rồi chỉ còn là một đống tro tàn.
Vào khoảng tháng ba năm ấy, khi ông Đốc Bô dọn nhà đi nơi
khác, thi bà Bô đã có thai.
PHẦN THỨ HAI
CHƯƠNG I
BÌNH ĐÔ LÀ MỘT QUẬN LỴ dân cư trù mật, cách châu thành chừng
mười ba cây số, Quận có một bến sông, một cái chợ khá lớn, một ngôi nhà thờ khá
to, một cái nghĩa địa khá rộng và những hai nhà hàng ăn. Điều này chứng tỏ là
khách thường qua lại trên quận này khá nhiều. Đêm đầu tiên khi vợ chồng ông Đốc
Bô dọn nhà đến quận này, hai ông bà sẽ phải ăn bửa tối tại nhà hàng Sư Tử Vàng
của Bà Ba Bủng.
Sư Tử Vàng là tiệm ăn đông khách nhất ở Bình Đô. Bà Ba Bủng
ngoài nghề bán rượu, bán thức ăn và chứa trọ còn kiêm cả nghề vận tải chuyên chở
thuê. Chiếc xe song mã cổ lỗ sĩ chở khách chạy đường Bình Đô về tỉnh là xe của
bà. Bởi vậy, bao nhiêu hành khách đi xe tới Bình Đô đều là thực khách của Bà Ba
hết.
Nhưng nếu kể cửa hàng trông vui mắt nhất quận Bình Đô thì người
ta phải kể đến cửa hàng bán thuốc Tây của ông Cả Bài. Tiệm thuốc này ở ngay trước
cửa nhà hàng Sư Tử Vàng. Mỗi buổi tối khi ánh đèn trong tiệm đã bật lên, người
ta thấy hình dáng cao lớn nghiêm trọng của nhà Trữ Dược Viên Cả Bài sừng sững
hiện ra giữa những chồng chai lọ đủ sắc đỏ, màu xanh cao nghễu nghện, Trước cửa
tiệm một tấm bảng gỗ đập vào mắt người qua đường hai hàng chữ vàng “Hiệu Thuốc
Tây Trịnh Văn Bài’’, Trên mặt cửa kính, vẫn hai dòng chữ ‘‘Hiệu Thuốc Tây Trịnh
Văn Bài’’ ấy lại đập vào mắt người ta một lần nữa, nhưng lần này thì bằng chữ đỏ,
Rồi nếu bước chân vào tiệm, người ta còn phải giật gân vì hàng chục dòng chữ
‘‘Trịnh Văn Bài Dược Sư’’ nữa kẻ lung tung trên khắp các quầy hàng, mặt tủ với
đủ các cỡ chữ và màu sắc. Sau cùng, trong một góc phòng, người ta còn thấy trên
một cánh cửa gỗ nhỏ lúc nào cũng đóng kín dòng chữ ‘‘Phòng Thí Nghiệm’’
bằng đồng, và hai câu “ Cấm Vô’’ to tổ bố gắn ở dưới.
Buổi tối hôm ấy, trong lúc bà Ba Bủng đang bận rộn tíu tít
trong bếp, vì ngày mai đã là phiên chợ Quận, khách khứa đông, thì một người đàn
ông đẫy đà đẩy cửa bước vào phòng ăn của tiệm Sư Tử Vàng. Người đó là ông Cả
Bài, ông Trữ Dược Viên Trịnh Văn Bài. Ông ta đi đôi giầy vải ra cái điều
già lão, mặc áo choàng da đen, đội mũ nỉ che tai, mặt lại hơi điểm mấy nốt rỗ.
Ông Cả Bài đi thẳng tới đứng bên lò sưởi hồng. Khuôn mặt hồng hào, phì nộn của
ông biểu lộ một niềm yêu đời và vui đời mãnh liệt. Trông ông ta cũng hài lòng
và vô tư với cuộc đời chẳng kém gì con chim vẹt của bà Ba Bủng, đang gật gù ngủ
một mắt trong chiếc lồng tre treo gần đấy.
Phòng ăn của tiệm Sư Tử Vàng lúc ấy còn vắng tanh, chỉ có dăm
bác lái heo đang đánh ‘‘bi da’’, vừa uống rượu, vừa thọc bi, vừa cười nói ầm ỹ,
bà Ba Bủng than phiền vì chuyến xe về chậm, vừa thắc mắc vì bọn lái heo đùa cợt
tục tằn, ồn ào, sợ hai ông khách ăn cơm tháng là ông Xếp Phan và thầy Ký Lợi
không bằng lòng.
Đúng sáu giờ, ông Xếp Phan bước vào phòng. Ông này là một người
gầy gò, dong dỏng cao, vẻ mặt khắc khổ, lầm lì ít nói. Ông ta là nhân viên, phụ
trách việc thâu thuế trong Quận, trước kia Xếp Phan vốn là Cò Cảnh Sát ở nhà
quê. Ông ta sống cô độc, một thân một nhà, không họ hàng, và cũng chẳng thèm
giao du với ai hết. Cái thú tiêu khiển duy nhất của ông là chơi chim. Xếp Phan
nuôi đủ các thứ chim: bồ câu, họa mi, vẹt, yểng, sáo, khiếu, lồng chim đề lỉnh
kỉnh chật cả một sân gác.
Bà Ba Bủng phải ra nói khéo với ba anh lái heo để họ ngừng cuộc
chơi bi-da. Trong khi chờ đợi, Xếp Phan cũng đến đứng bên lò sưởi nhưng chẳng
nói, chẳng cười với ông Cả Bài lấy được một tiếng. Khi bàn đã dọn xong, Xếp ta
đi thẳng tới bàn, lật chiếc mũ cát két ra treo lên mắc, ngồi xuống ăn.
Ông Cả Bài khẽ chỉ trích thái độ khiếm nhã của Xếp với Bà Ba
Bủng bằng một giọng khinh bỉ, bà này đáp:
- Ấy, cái tính ông ấy vẫn ít nói thế đấy ông ạ, Cứ lì lì ra
thôi. Tối qua có hai ông thợ may đến ăn, họ kể nhiều chuyện tức cười lộn ruột vậy
mà ông ta cứ thản nhỉên như không ấy.
Ông Cả Bài bĩu môi phê bình:
- Hừ... người vô tình cảm, ngu si như gỗ đá. Tôi đã bảo hắn
không phải là người trí thức mà lỵ …
Bà Ba Bủng cải lại:
- Sao ông lại bảo ông ấy là người ngu si. Người ta cũng là
người có học thức đấy chứ?
- Học thức à…? Thằng cha đó mà học thức với ai? Có học với bọn
cu ly thì có.
Rồi như người căm thù Xếp Phan điều gì, ông Cả Bài gật gù nói
tiếp:
- À… Nếu một nhà thương mãi bận trăm công, nghìn việc bán
buôn, một luật sư thắc mắc với những tình tiết mờ ám, một nhà khoa học, một nhà
dược sư mãi lo chuyện cứu nhân, độ thế mà thành ra ít nói, lầm lì hay gắt
gỏng thì người ta còn hiểu được, chứ một anh thâu thuế hạng bét như hắn ta thì
có cái gì quan trọng mà cũng dám lên mặt khinh khỉnh? Nếu người ta ít nói thì
ít nhất người ta cũng phải bận suy tưởng một cái gì. Trong những phút trí óc
làm việc mạnh như thế, người ta phải đãng trí thì mới đúng. Như tôi đây chẳng hạn,
lắm lúc tôi cứ cuống cuồng lên tìm cái bút để viết mấy chữ mà thật trong lúc ấy
tôi vẫn dắt cây bút trên mang tai…
Nhưng Bà Ba Bủng không chú ý đến câu nói ba hoa của ông Cả
Bài nữa. Bà lắng tai nghe, trong đêm tối, văng vẳng có tiếng bánh sắt chạy lọc
cọc trên con đường đá. Rồi chiếc xe ngựa dừng ngay trước cửa nhà hàng Sư Tử
Vàng. Ông Cả Bài vội đi theo bà Ba ra cửa. MộT vài người trong quận đã túm tụm
quanh chiếc xe. Họ tíu tít hỏi thăm tin tức anh Tư Phèo. Tư Phèo là anh mã phu
giữ chân chạy xe ngựa cho bà Ba Bủng. Anh cũng là người giữ việc liên lạc, đem
thư từ, mua phẩm vật, và phân phát báo chí cho dân khắp cả quận. Một việc đáng
tiếc xảy ra làm cho chuyến xe ve-2 muộn: con chó Lili của bà Bô đã xổng mất
trong cánh đồng. Tư phèo phải dừng xe lại bên lề đường để chạy đi kiếm nó cả giờ
đồng hồ vẫn không thấy đâu cả. Bà Bô mất chó tức quá, khóc và kết tội ông Bô lười
không chịu ôm chó cho nó xổng mất … Ông Tấn Phát, một nhà bán tạp hóa và vải
vóc tơ lụa trong quận cùng đi chuyến xe hôm ấy, đã phải hết lời khuyên giải bà
Bô bằng đủ các loại chuyện chó khôn lạc đi mất rồi lại tìm về với chủ sau nhiều
năm dài. Ông quả quyết là có một con chó đã lần mò đi từ Bá Linh, thủ đô Đức Quốc,
đã về với chủ ở Ba Lê. Ông ta còn kể rằng chính ông thân sinh ra ông, có một
con chó bỗng bị lạc từ mười hai năm, một đêm đã nhảy sổ ra mừng ông già trong
lúc ổng đi nhậu nhẹt về nhà.
II
Bà Bô xuống xe trước nhất, rồi đến con Nhài và ông Tấn Phát.
Người ta phải bắt buộc đánh thức Bô dậy, vì chàng đã ngủ khò trong một góc xe,
Cả Bài bước ra trịnh trọng tự giới thiệu. Ông vui vẻ chào mừng
ông Đốc Bô như một người bạn thân tự lâu ngày. Và thân mật bảo cho họ biết rằng
ông ta sẽ ở lại dùng bữa tối với họ để hầu chuyện.
Khi Ánh bước vào phòng ăn của nhà hàng Sư Tử Vàng, nàng đi thẳng
lại phía lò sưởi hồng. Nàng khẽ kéo tấm áo ngoài và đặt chân lên thanh sắt hơ lửa
cho ấm. Chân nàng đi giầy da đen, đặt gần ngay con gà quay đang ửng hồng trên
lò than đỏ. Ánh lửa hồng soi sáng cả người nàng. Mắt nàng nhấp nháy vì chói và
khuôn mặt nàng thỉnh thoảng lại sáng bừng lên mỗi khi có làn gió thổi qua,
Cùng lúc ấy trong một góc phòng của nhà hàng Sư Tử Vàng có một
chàng trẻ tuổi trắng trẻo khôi ngô, có mái tóc dài đang lặng lẽ nhìn Ánh.
Thanh niên đó là thầy Ký Lợi ông khách ăn tháng thứ hai của
Bà Ba Bủng. Chàng làm thư ký trong văn phòng luật Sư của ông Văn Kỉnh và vì sống
ở quận Bình Đô quá tẻ lặng chẳng có mục gì giải trí, thầy Ký thường tự ý cho
lùi giờ ăn lại, hy vọng gặp được dăm người khách lạ từ xa đến có thể chuyện trò
cho đỡ buồn, và khỏi phải chịu đựng bộ mặt lầm lỳ lạnh như tiền cửa ông Xếp
Phan. Bởỉ vậy, khi được bà Ba Bủng mời ngồi ăn chung với ông bà Đốc Bô thì thầy
nhận lời liền. Bà Ba long trọng dựng một bàn tiệc cho bốn vị ngay giữa phòng.
Cả Bài xin phép được đội chiếc mủ nỉ trong lúc ăn, vì ông ta
sợ sổ mũi. Rồi, ông quay về phía Bô:
- Chắc bà hơi mệt một chút? Đường thì xa mà xe thì lại không
được êm lắm.
Ánh mỉm cười:
- Vâng… Nhưng vì được thay đổi phong cảnh cũng vui vui cho
nên tôi không lấy gì làm mệt lắm. Tôi vốn thích du lịch, đi đây đi đó.
Thầy Ký Lợi thở dài:
- Thưa vâng, thật chẳng có gì buồn bằng cứ phải ở hoài một chỗ...
Ông Bô xen vào một câu:
- Nếu ông ngày nào cũng bắt buộc phải leo lên lưng ngựa, như
tôi …chắc ông đã nghĩ khác.
Thầy Ký Lợi nhìn bà Bô:
- Nhưng thỉnh thoảng được đi đây, đi đó cũng thích. Có phải
không, thưa bà...?
- Hơn nữa, ông Cả Bài nói tiếp, sự thi hành nghề y sĩ trong
vùng của chúng ta đây không lấy gì làm vất vả lắm. Đường xá phần lớn đều tốt cả,
có thể đi xe ngựa được. Dân quê lại phong túc, trả tiền rất hậu, và nhất là lại
nhiều bệnh vặt. Nhưng ông Đốc cũng sẽ phải tranh đấu nhiều để thức tỉnh đám dân
ở đây, vì họ hãy còn mê tín lắm. Lúc đau ốm đáng lẽ phải chạy ngay đến ông thầy
thuốc, rồi qua phòng Bào Chế Thuốc, thì họ lại đi nhờ bùa ngải, nhờ mấy tay
lang băm láo lếu trong vùng...
Bà Bô khẽ hỏi thầy Ký Lợi:
- Trong Quận này có nhiều phong cảnh đẹp không ạ...?
- Ồ.... cũng không lấy gì làm đẹp lắm. Ở đầu cánh rừng gần
đây, có một chỗ người ta gọi là Nội Cỏ. Chỗ đó cũng khá nên thơ, nhiều khi, tôi
vẫn tới đấy ngồi một mình để
ngắm cảnh chiều tà.
Ánh mơ màng:
- Tôi thích ngắm cảnh hoàng hôn lắm. Không có gì đẹp, êm đềm và
thơ mộng cho bằng cảnh chiều hoàng hôn. Bóng tối dần xuống trên cảnh vật, như
xuống trên tâm hồn mình. Nhưng phải là buổi chiều hoàng hôn trên biển rộng
kia..
- Vâng, tôi cũng thích cảnh biển,
- Không biết ông có nhận thấy thế không, chứ tôi thì tôi thấy
rằng trước những cảnh bao la rộng rãi, tâm hồn ta cũng thấy phóng khoáng lâng
lâng như thoát tục..
- Trước những cảnh núi non hùng vĩ cũng vậy ạ. Thưa bà, người
anh họ tôi năm ngoái có du lịch qua Thụy Sĩ. Ảnh kể rằng người la không có thể
tưởng tượng được sự vĩ đại, sự hùng tráng, sự nên thơ của những hồ nước mênh
mông, những khối đá băng cao ngất, những thung lũng sâu thăm thẳm… Những cảnh
đó làm cho con người cảm thấy rung động, bởi vậy, tôi không lấy làm lạ khi biết
chuyện có nhiều nhà nhạc sỉ nổi danh, vẫn thường phải đến trước những cảnh núi
non hùng vĩ để sáng tác
Nàng hỏi:
- Ông có chơi nhạc không ạ?
Chàng đáp:
- Không ạ.. nhưng tôi thích âm nhạc lắm.
Đến đây, ông Cả Bài xen vào:
- Ấy... bà đừng có nghe lời hắn. Thầy ấy hay dấu tài lắm à.
Thầy nói sao thầy? Thầy không biết nhạc sao bữa nọ tôi nghe thầy hát bản ‘‘Thần
Hộ Mạng’’ mùi quá mà. Lúc thầy hát tôi đang ở trong phòng thí nghiệm, mới nghe
tôi lại cứ tưởng là có nhà danh ca nào biểu diễn ở đâu chớ?
Thầy Ký Lợi ở trọ trong nhà ông Cả Bài. Chàng hơi đỏ mặt sung
sướng trước lời khen tặng của nhà Trữ Dược Viên, trong lúc ông này đã quay sang
phía ông Đốc Bô để tiếp tục tường trình về hiện tình dân sự và bệnh tật trong
vùng. Sau đó, ông nói về căn nhà của Ông bà Bô:
- Thưa bà, như tôi vừa có cái hân hạnh trình bầy với ông nhà,
vì ông bác sĩ trước đã điên khùng bỏ miền này ra đi, ông bà được hưởng một căn
nhà đầy đủ tiện nghi nhất Bình Đô. Với một y sĩ thì tiện lợi nhất là nhà có một
cửa sau để ra vô khỏi bị ai để ý. Nhà này lại có vườn hoa, cây cảnh, nếu bà Bô
thích trồng hoa thì có thể...
Bô lắc đầu:
- Nhà tôi chẳng thích bận bịu vườn tược đâu. Tôi vẫn cứ bảo cần
phải hoạt động luôn, mà nhà tôi thì cứ thích nằm lỳ trong phòng để đọc sách.
Tôi cũng vậy - thầy Ký Lợi tiếp - thật chẳng có gì thần
tiên thú vị cho bằng buổi tối được ngồi bên lò sưởi hồng với một cuốn sách hay
trước mặt, nghe tiếng lửa reo tí tách trong lò, nghe tiếng heo may vi vu ngoài
cửa sổ...
Ánh dương đôi mắt trong đen của nàng nhìn đăm đăm chàng trẻ
tuổi:
- Có phải đúng như vậy không ạ?
- Ta không còn phải bận trí gì cả.Thời gian qua, ta vẫn ngồi
yên một chỗ mà vẫn được di chuyển qua những cảnh vật vô hình. Cảm giác của ta
như liền với cảm giác của của nhân vật trong truyện. Ta hồi hộp khi họ hồi
hộp, ta vui mừng khi họ vui mừng. Ta như đang sống trong một cuộc đời khác.
- Vâng đúng như thế đấy. Đúng như thế...
Giọng nói oang oang của ông Cả Bài làm cho Ánh giựt mình:
- Thưa bà, nếu bà thích đọc sách, thi tôi xin trân trọng mời
bà hạ cố đến tủ sách của tôi. Tôi có đủ các tác phẩm danh tiếng cua Voltaire,
Rousseau. Walter Scott lậi có tờ Tuần Báo Văn Nghệ Tiểu Thuyết và tờ Ngọn Cờ
Rouen do tôi thông tin này ở hạt này.
Bữa ăn kéo dài đến bảy giờ tối. Chị chiêu đãi của nhà hàng Sư
Tử Vàng dọn bàn chậm chạp với một dáng điệu lừng khừng của người ốm đói hoặc là
thiếu ngủ.
Trong lúc chuyện trò, vô tình, thầy Ký Lợi đã gác một chân
lên ghế của bà Bô. Chàng thấy chiếc cổ áo viền đăng-ten của nàng thật đẹp và hợp
với khuôn mặt tròn bầu bĩnh của nàng. Trong lúc ông Bô và ông Cả Bài mãi bàn
chuyện thuốc men, bệnh não, thì chàng và nàng cảm thấy thân mật nhau hơn, họ ngồi
gần vào nhau. Họ khẽ trao đổi ý kiến về những vở tuồng mới đang trình diễn tại
Ba Lê, về những cuốn truyện mới xuất bản, về các chuyện cũ của nàng ở quận Ông
Tố, về các chuyện mới mà nàng chưa biết tại Bình Đố. Đặc biệt là ý kiến của họ
đều đi một chiều, cho đến tận lúc ăn tráng miệng.
Sau khi uống cà phê, con Nhài đi qua bên nhà mới trước để dọn
dẹp phòng ngủ
cho ông bà chủ, các vị thực khách đứng dậy sau. Bà Ba Bủng ngồi
ngủ gật trong chiếc ghế kê gần lò sưởi anh người làm xách cây đèn bão đứng chờ
sẵn ở cửa để soi đường cho ông bà Bô về nhà. Mái tóc dài lù sù của anh có lẫn
vài cọng rơm, anh bị thọt chân trái,
Mấy dẫy phố vắng đã im lìm ngủ say. Những thân cột chợ nằm
ngã dài trên nền đất ẩm, trắng xám như mặt đất đêm mùa hè,
Căn nhà mới của ông bà Bô chỉ cách quán Sư Tử Vàng chừng độ
năm mươi thước. Người ta chia tay nhau trước cửa nhà, với những lời chúc tụng
và cảm tạ,
Mới bước vào nhà, Ánh đã cảm thấy hơi lạnh của chất đá rơi xuống
chùm lấy vai nàng như một mảnh vải ướt nước. Tường nhà mới quét vôi lại, những
bậc thang lầu cọt kẹt rên rỉ dưới gót chân. Trong căn phòng ngủ ở trên lầu, một
làn ánh sáng nhạt mờ hắt từ trời đêm bên ngoài qua khung cửa sổ không có rèm
che vào phòng. Ánh trông thấy những ngọn cây đứng ủ rũ trong đêm và xa nữa là
cánh đồng có lờ mờ ẩn hiện trong sương.
Trong đời nàng, đây là lần thứ ba Ánh ngủ đêm ở một nơi xa lạ.
Đêm đầu tiên là
đêm nàng đến trường Nhà Trắng, đêm thứ hai là đêm về nhà chồng
ở quận Ông Tố, và đây là đêm thứ ba, Sau mỗi đêm, nàng đều thấy rõ ràng là cuộc
đời nàng bước vào một giai đoạn mới, và trước khi chợp mắt ngủ, nàng hy vọng rằng
giai đoạn sắp đến này sẽ tươi sáng hơn.
III
Sáng hôm sau, khi ngủ đậy Ánh thấy thầy Ký Lợi đang đứng trước
công viên bên cửa chợ, Nàng bận áo ngủ. Chàng nhìn lên cửa sổ và chào nàng. Ánh
gật đầu chào lại rồi vội khép cánh cửa sổ.
Cả ngày hôm ấy thầy Ký Lợi sốt ruột chờ cho đến sáu giờ tối,
chàng hy vọng sẽ gặp lại vợ chồng ông Bô ở quán Sư Tử Vàng, nhưng khi đến nơi,
chàng thất vọng biết là chừng nào khi chỉ thấy có mỗi một Me Sừ Xếp Phan, ngồi
lầm lì trước dĩa súp.
Bữa ăn tối hôm qua đã là một sự việc trọng đại trong đời Lợi.
Từ trước đến nay chưa bao giờ chàng được ngồi nói chuyện suốt hai tiếng đồng hồ
liền với một bà lịch sự. Lợi vẫn có cộ tính nhút nhát, không biết phải ăn
nói làm sao trước mặt một người đẹp. Ở quận Bình Đô, dư luận
chung vẫn coi Lợi là thanh niên tư cách đàng hoàng lắm, chàng chịu khó nghe lời
giảng dạy của các vị có tuổi và không tỏ ra nhiệt thành về những vấn đề chính
trị mấy. Sau nữa chàng lại tỏ ra là người có tài, chàng biết vẽ tranh, biết đàn
hát, thỉnh thoảng lại nói chuyện văn chương. Ông Cả Bài trọng chàng vì chàng có
học, bà Cả Bài mến chàng vì chàng dễ dãi với bọn nhỏ. Đôi khi vào những buổi
chiều chủ nhật, chàng thường vui vẻ dẫn bọn Cả Bài con đi ra bờ sông dạo mát. Bọn
này gồm năm đứa bẩn thỉu, bê bối, hỗn láo, mất dạy và xanh bủng, xanh beo, vợ
chồng Cả Bài nuông chiều con ra mặt, và nuôi chúng bằng những phương pháp bất
chấp cả phép vệ sinh. Ngoài con ở ra để phục dịch bọn oắt con này, nhà Cả Bài
còn có thằng Chút, một đứa cháu họ xa của Cả Bài, Cả Bài đem nó về nuôi giúp việc
nhà, vừa khỏi phải trả tiền công ở, mà lại được tiếng là nuôi cháu.
Với vợ chồng Bô, lão Cả Bài tỏ ra là một người bạn láng giềng
tử tế nhất đời. Lão sốt sắng cho bà Bô biết những điều cần biết về bọn cung cấp
thực phẩm trong quận. Lão đặc biệt cho gọi nhà bán rượu cho lão đến tận nơi, uống
thử rượu, và mặc cả giá dùm bà Bô, rồi còn đốc thúc bọn phu phải đặt thùng rượu
cho thật ngay ngắn dưới hầm. Cả Bài tự trao cho lão cái trọng trách là phải săn
sóc phải giúp đỡ những việc vặt cho gia đình y sĩ mới đến, nhưng lão làm thế chẳng
phải là vì lão có tính hay giúp người, nhưng chính là lão có một mục đích.
Trước đây, đã có lần lão vì phạm đạo luật mười chín Ventose
XI, điều I/360. Điều này cấm ngặt những người không có bằng cắp y sĩ được quyền
xem mạch, kê đơn, khám bệnh cho người bệnh. Bởi vậy cho nên sau những lời tố
cáo của dăm ba kẻ xấu bụng, xấu dạ nào đó. Cả Bài đã bị biện lý cuộc ở tỉnh mời
đến để cảnh cáo. Ông Biện lý đã tiếp lão trong phòng lấy khẩu cung với một vẻ lạnh
nhạt và nghiêm khắc đáng sợ. Lúc ấy là giờ sắp xử án. Cả Bài nghe tứ phía vang
vang những tiếng giày đinh cồm cộp của lính cảnh sát đi lại ngoài hành lang và
hình như có cả tiếng xích sắt kéo lê sền sệt nữa. Lão sợ toát cả mồ hôi, lão đã
tưởng tượng cảnh lão bị tù đầy; bị hành hạ, gia đình lão tan nát, cửa tiệm của
lão về tay người khác..v..v... Vừa ra khỏi Tòa
án lão đã phải cấp tốc vào ngay tiệm nước uống một ly nước đá
chanh cho lại hồn.
Thế rồi lâu dần, những cảm giác kinh khủng phai nhạt đi, và Cả
Bài lại tiếp túc chẩn những bệnh vặt cho các bệnh nhân cảm mạo vớ vẩn au quầy
hàng của lão như cũ. Nhưng lão biết ông Quận Trưởng quận này thù lão, và trong
quận có nhiều kẻ ghen ghét lão, vì vậy lão phải cẩn mật đề phòng. Lão cố lấy cảm
tình của Bô để Bô khỏi làm điều gì có hại cho lão, nếu chẳng may chàng biết
rằng lão cũng khám bệnh như chàng tức là tranh khách, là đụng chạm tới nghề
nghiệp của chàng, và để tỏ cho thiên hạ biết rằng lão cũng có vây cánh. Do đó,
mỗi buổi sáng, lão đều cẩn thận bắt thằng Chút cầm tờ báo đưa qua cho ông Bô
coi trước rồi đến trưa, lão mới xin về coi sau, và buổi chiều, thỉnh thoảng
lão lại bỏ tiệm thuốc, tạt qua nhà ông Bô trò chuyện mấy câu, thân mật như người
nhà vậy,
Những ngày đầu tiên ở quận Bình Đô, Bô cảm thấy buồn bã vô
cùng: thân chủ không thấy đến. Chàng ngồi sì sì cả ngày, không nói, không cười,
buổi chiều chàng ngủ dài trong phòng khám bệnh, hoặc ngồi xem vợ khâu vá. Để
cho có việc làm, chàng vẽ chuyện sửa chữa, sơn phết lại nhà cửa. Nhưng những
chuyện thiếu hụt về tiền làm cho chàng rối trí. Chàng đã tiêu quá nhiều về căn
nhà cũ ở quận Ông Tố, về mục y phục mới cho vợ, về chuyện dọn nhà vừa qua,
thành thử cả số tiền hồi môn của vợ chàng đã tiêu tan hết, Rồi, lại thêm biết
bao nhiêu là cái hư hại, hoặc mất mát trong chuyến dọn nhà từ Ông Tố đến Bình
Đô, đó là chưa kể đến bức tượng ông thầy tu cụt một chân bị đứt dây buộc rớt xuống
đường vỡ tan ra từng mảnh.
Nhưng một nỗi lo ngại khác sung sướng hơn đã đến với Bô. Đó
là sự thai nghén của vợ chàng. Càng đến gần ngày sinh, chàng càng thương vợ
hơn. Khi chàng thấy nàng chậm chạp đi lại trong phòng bụng to, chân đi dép mỏng,
hoặc khi thấy nàng ngồi uể oải trên ghế, với một dáng điệu mệt nhọc, thì chàng
không thể nào dằn được sự sung sướng nữa. Chàng hôn nàng, chàng nựng nịu nàng,
kêu nàng là Má. Ý tưởng sắp có con làm cho chàng thấy đời chàng có một lẽ sống
thần tiên. Chàng không còn thiếu thốn gì hết cả.
Về phần Ánh, trước hết nàng cảm thấy là lạ khi biết mình có
thai, rồi nàng muốn cho chóng đẻ ngay để xem cảm giác làm Mẹ nó như thế nào.
Nhưng, vì không có đủ tiền để mua cho đứa bé sắp chào đời một chiếc nôi bằng gỗ
mun khảm xà cừ, với nệm gối bằng lụa sa tanh xanh, và chiếc mùng màu hồng,
trong một phút cay đắng, Ánh đặt mua một lô quần áo cho con tại nhà một chị thợ
may trong quận, nàng chẳng chọn lựa gì hết nữa. Nàng không chịu vui với những
công việc may sắm sửa soạn cho đứa con sắp ra đời như những người mẹ có con, vì
vậy, tình thương của nàng đối với đứa con, ngay từ phút đầu tiên, đã thiếu mất
một cái gì đáng quý rồi.
Nàng muốn có một đứa con trai, nàng muốn tóc nó sẽ đen, mắt
nó sẽ to và sáng, nó sẽ bạo dạn, sẽ hiên ngang, và nàng sẽ đặt tên cho nó là
Hùng hoặc Dũng. Ý muốn có con trai cũng là một niềm hy vọng được trả thù tất cả
những sự thua thiệt mà nàng đã phải chịu, vì nàng là con gái. Đàn ông, ít nhất
cũng được tự do sống theo ý muốn của mình, được có những ham mê, được đi đây đi
đó. Con người đàn bà như một chiếc mủ bị gió lộng muốn bay, nhưng còn có chiếc
giải mũ giữ lại...
Nàng sinh nở vào một buổi sáng chủ nhật, vào lúc sáu giờ khi
mặt trời vừa mọc.
- Con gái em à!
Nghe xong câu nói của chồng, Ánh kêu lên một tiếng rồi ngất
đi. Ngay lúc đó, bà Cả tất tả chạy đến, hỏi han tíu tít. Lão Cả Bài, tỏ
ra là người giữ ý tứ, chỉ nói vài lời chúc tụng qua cánh cửa. Lão đòi xem mặt đứa
bé và khen nó giống bố như đúc.
Mấy ngày sau đó, Ánh bận tâm tìm chọn một cái tên cho con.
Nàng lẩn quẩn vớí những cái tên hoa: Hồng, Huệ, Mai, Lan, rồi Nhung, Vân, Tuyết,
Ngọc, Bích v.v... Bô muốn đặt tên con gái cũng là Ánh, như tên mẹ, nhưng Ánh gạt
đi. Nàng giở lịch ra xem các tên thánh, và sau cùng hỏi ý kiến mọi người.
Lão Cả Bài bàn:
- Bữa nọ, nhân nói chuyện với thầy Lợi, tôi thấy thầy ấy có ý
muốn nói tại sao bà Đốc không chọn mấy cái tên có chữ Kiều đứng đầu, như Kiều
Oanh, Kiều Vinh chẳng hạn. Kiều tên ấy hợp thời gian.
Nhưng bà Quản Bành lại nhất định phản đối cái tên Kiều ấy,
bà cho rằng con gái mà đặt tên theo cô Kiều thì sau nầy lại phong trần như cô
Kiều mà thôi.
Thế rồi, chợt nhớ đến một cô bạn gái nhỏ nhắn dễ thương ngày
xưa ở trong trường Nhà Trắng tên là Quỳnh; Ánh liền chọn tên Quỳnh cho con gái.
Vì ông Năm Hòa ở xa không đến được, nên ông cả Bài được mời làm cha đỡ đầu. Ông
ta đem đến cho đứa bé một lô quà tặng gồm toàn các món đồ băng, bông gòn, phấn,
kẹo ế để mốc ra không bán cho ai được.
Nhân dịp có cháu nội, ông Quản Bành đến Bình Đô và ở lại chơi
cả tháng. Ông làm cho dân quận phải lóa mắt vì cái mũ nhà binh có năm bẩy ngôi
sao bạc và hai nhành dương liễu sáng chói mỗi buổi sáng ông vẫn đội ra ngồi uống
cà phê trước hiên quán cà phê Sư Tử Vàng. Buổi chiều, buổi tối, ông ra ngồi đây
hút thuốc ‘‘Píp’’ và uống rượu. Lẽ cố nhiên bao nhiêu tiền đều ghi vào sổ nợ của
ông con. Ở nhà, ông Quản xài gần hết mấy chai nước hoa của Ánh.
Ánh thích được nghe ông Bô chồng kể chuyện. Trước kia ông Quản
là người đã đi du lịch nhiều. Ông tả cho nàng nghe về sông Đa Nuýp, về
thành Bá Linh, về Ba Lê, về thời gian ông còn trẻ và làm sĩ quan, về những người
đàn bà đẹp mà ông đã được yêu, về những chuyện động trời mà ông đã được dự. Rồi
ông lại đùa cợt nàng, hay khen tặng nàng những câu làm cho bà Quản tái cả người.
Bà lo sợ cho hạnh phúc của con trai, và sợ rằng những câu chuyện của ông chồng
sẽ có ảnh hưởng xấu trên tư tưởng của cô con dâu, bà tức tốc dục ông Quản đi về
cho bằng được. Có lẽ bà sợ để lơ là sẽ có nhiều việc không đẹp xảy ra chăng? Vì
bà biết ông Quản Bành là người không kiêng nể gì cả.
Bữa ăn tối hôm qua đã là một sự việc trọng đại trong đời Lợi.
Từ trước đến nay chưa bao giờ chàng được ngồi nói chuyện suốt hai tiếng đồng hồ
liền với một bà lịch sự. Lợi vẫn có cộ tính nhút nhát, không biết phải ăn
nói làm sao trước mặt một người đẹp. Ở quận Bình Đô, dư luận
chung vẫn coi Lợi là thanh niên tư cách đàng hoàng lắm, chàng chịu khó nghe lời
giảng dạy của các vị có tuổi và không tỏ ra nhiệt thành về những vấn đề chính
trị mấy. Sau nữa chàng lại tỏ ra là người có tài, chàng biết vẽ tranh, biết đàn
hát, thỉnh thoảng lại nói chuyện văn chương. Ông Cả Bài trọng chàng vì chàng có
học, bà Cả Bài mến chàng vì chàng dễ dãi với bọn nhỏ. Đôi khi vào những buổi
chiều chủ nhật, chàng thường vui vẻ dẫn bọn Cả Bài con đi ra bờ sông dạo mát. Bọn
này gồm năm đứa bẩn thỉu, bê bối, hỗn láo, mất dạy và xanh bủng, xanh beo, vợ
chồng Cả Bài nuông chiều con ra mặt, và nuôi chúng bằng những phương pháp bất chấp
cả phép vệ sinh. Ngoài con ở ra để phục dịch bọn oắt con này, nhà Cả Bài còn có
thằng Chút, một đứa cháu họ xa của Cả Bài, Cả Bài đem nó về nuôi giúp việc nhà,
vừa khỏi phải trả tiền công ở, mà lại được tiếng là nuôi cháu.
Với vợ chồng Bô, lão Cả Bài tỏ ra là một người bạn láng giềng
tử tế nhất đời. Lão sốt sắng cho bà Bô biết những điều cần biết về bọn cung cấp
thực phẩm trong quận. Lão đặc biệt cho gọi nhà bán rượu cho lão đến tận nơi, uống
thử rượu, và mặc cả giá dùm bà Bô, rồi còn đốc thúc bọn phu phải đặt thùng rượu
cho thật ngay ngắn dưới hầm. Cả Bài tự trao cho lão cái trọng trách là phải săn
sóc phải giúp đỡ những việc vặt cho gia đình y sĩ mới đến, nhưng lão làm thế chẳng
phải là vì lão có tính hay giúp người, nhưng chính là lão có một mục đích.
Trước đây, đã có lần lão vì phạm đạo luật mười chín Ventose
XI, điều I/360. Điều này cấm ngặt những người không có bằng cắp y sĩ được quyền
xem mạch, kê đơn, khám bệnh cho người bệnh. Bởi vậy cho nên sau những lời tố
cáo của dăm ba kẻ xấu bụng, xấu dạ nào đó. Cả Bài đã bị biện lý cuộc ở tỉnh mời
đến để cảnh cáo. Ông Biện lý đã tiếp lão trong phòng lấy khẩu cung với một vẻ lạnh
nhạt và nghiêm khắc đáng sợ. Lúc ấy là giờ sắp xử án. Cả Bài nghe tứ phía vang
vang những tiếng giày đinh cồm cộp của lính cảnh sát đi lại ngoài hành lang và
hình như có cả tiếng xích sắt kéo lê sền sệt nữa. Lão sợ toát cả mồ hôi, lão đã
tưởng tượng cảnh lão bị tù đầy; bị hành hạ, gia đình lão tan nát, cửa tiệm của
lão về tay người khác..v..v... Vừa ra khỏi Tòa
án lão đã phải cấp tốc vào ngay tiệm nước uống một ly nước đá
chanh cho lại hồn.
Thế rồi lâu dần, những cảm giác kinh khủng phai nhạt đi, và Cả
Bài lại tiếp túc chẩn những bệnh vặt cho các bệnh nhân cảm mạo vớ vẩn au quầy
hàng của lão như cũ. Nhưng lão biết ông Quận Trưởng quận này thù lão, và trong
quận có nhiều kẻ ghen ghét lão, vì vậy lão phải cẩn mật đề phòng. Lão cố lấy cảm
tình của Bô để Bô khỏi làm điều gì có hại cho lão, nếu chẳng may chàng biết
rằng lão cũng khám bệnh như chàng tức là tranh khách, là đụng chạm tới nghề nghiệp
của chàng, và để tỏ cho thiên hạ biết rằng lão cũng có vây cánh. Do đó, mỗi buổi
sáng, lão đều cẩn thận bắt thằng Chút cầm tờ báo đưa qua cho ông Bô coi trước rồi
đến trưa, lão mới xin về coi sau, và buổi chiều, thỉnh thoảng lão lại bỏ
tiệm thuốc, tạt qua nhà ông Bô trò chuyện mấy câu, thân mật như người nhà vậy,
Những ngày đầu tiên ở quận Bình Đô, Bô cảm thấy buồn bã vô
cùng: thân chủ không thấy đến. Chàng ngồi sì sì cả ngày, không nói, không cười,
buổi chiều chàng ngủ dài trong phòng khám bệnh, hoặc ngồi xem vợ khâu vá. Để
cho có việc làm, chàng vẽ chuyện sửa chữa, sơn phết lại nhà cửa. Nhưng những
chuyện thiếu hụt về tiền làm cho chàng rối trí. Chàng đã tiêu quá nhiều về căn
nhà cũ ở quận Ông Tố, về mục y phục mới cho vợ, về chuyện dọn nhà vừa qua,
thành thử cả số tiền hồi môn của vợ chàng đã tiêu tan hết, Rồi, lại thêm biết
bao nhiêu là cái hư hại, hoặc mất mát trong chuyến dọn nhà từ Ông Tố đến Bình
Đô, đó là chưa kể đến bức tượng ông thầy tu cụt một chân bị đứt dây buộc rớt xuống
đường vỡ tan ra từng mảnh.
Nhưng một nỗi lo ngại khác sung sướng hơn đã đến với Bô. Đó
là sự thai nghén của vợ chàng. Càng đến gần ngày sinh, chàng càng thương vợ
hơn. Khi chàng thấy nàng chậm chạp đi lại trong phòng bụng to, chân đi dép mỏng,
hoặc khi thấy nàng ngồi uể oải trên ghế, với một dáng điệu mệt nhọc, thì chàng
không thể nào dằn được sự sung sướng nữa. Chàng hôn nàng, chàng nựng nịu nàng,
kêu nàng là Má. Ý tưởng sắp có con làm cho chàng thấy đời chàng có một lẽ sống
thần tiên. Chàng không còn thiếu thốn gì hết cả.
Về phần Ánh, trước hết nàng cảm thấy là lạ khi biết mình có
thai, rồi nàng muốn cho chóng đẻ ngay để xem cảm giác làm Mẹ nó như thế nào.
Nhưng, vì không có đủ tiền để mua cho đứa bé sắp chào đời một chiếc nôi bằng gỗ
mun khảm xà cừ, với nệm gối bằng lụa sa tanh xanh, và chiếc mùng màu hồng,
trong một phút cay đắng, Ánh đặt mua một lô quần áo cho con tại nhà một chị thợ
may trong quận, nàng chẳng chọn lựa gì hết nữa. Nàng không chịu vui với những
công việc may sắm sửa soạn cho đứa con sắp ra đời như những người mẹ có con, vì
vậy, tình thương của nàng đối với đứa con, ngay từ phút đầu tiên, đã thiếu mất
một cái gì đáng quý rồi.
Nàng muốn có một đứa con trai, nàng muốn tóc nó sẽ đen, mắt
nó sẽ to và sáng, nó sẽ bạo dạn, sẽ hiên ngang, và nàng sẽ đặt tên cho nó là
Hùng hoặc Dũng. Ý muốn có con trai cũng là một niềm hy vọng được trả thù tất cả
những sự thua thiệt mà nàng đã phải chịu, vì nàng là con gái. Đàn ông, ít nhất
cũng được tự do sống theo ý muốn của mình, được có những ham mê, được đi đây đi
đó. Con người đàn bà như một chiếc mủ bị gió lộng muốn bay, nhưng còn có chiếc
giải mũ giữ lại...
Nàng sinh nở vào một buổi sáng chủ nhật, vào lúc sáu giờ khi
mặt trời vừa mọc.
- Con gái em à!
Nghe xong câu nói của chồng, Ánh kêu lên một tiếng rồi ngất
đi. Ngay lúc đó, bà Cả tất tả chạy đến, hỏi han tíu tít. Lão Cả Bài, tỏ
ra là người giữ ý tứ, chỉ nói vài lời chúc tụng qua cánh cửa. Lão đòi xem mặt đứa
bé và khen nó giống bố như đúc.
Mấy ngày sau đó, Ánh bận tâm tìm chọn một cái tên cho con.
Nàng lẩn quẩn vớí những cái tên hoa: Hồng, Huệ, Mai, Lan, rồi Nhung, Vân, Tuyết,
Ngọc, Bích v.v... Bô muốn đặt tên con gái cũng là Ánh, như tên mẹ, nhưng Ánh gạt
đi. Nàng giở lịch ra xem các tên thánh, và sau cùng hỏi ý kiến mọi người.
Lão Cả Bài bàn:
- Bữa nọ, nhân nói chuyện với thầy Lợi, tôi thấy thầy ấy có ý
muốn nói tại sao bà Đốc không chọn mấy cái tên có chữ Kiều đứng đầu, như Kiều
Oanh, Kiều Vinh chẳng hạn. Kiều tên ấy hợp thời gian.
Nhưng bà Quản Bành lại nhất định phản đối cái tên Kiều ấy,
bà cho rằng con gái mà đặt tên theo cô Kiều thì sau nầy lại phong trần như cô
Kiều mà thôi.
Thế rồi, chợt nhớ đến một cô bạn gái nhỏ nhắn dễ thương ngày
xưa ở trong trường Nhà Trắng tên là Quỳnh; Ánh liền chọn tên Quỳnh cho con gái.
Vì ông Năm Hòa ở xa không đến được, nên ông cả Bài được mời làm cha đỡ đầu. Ông
ta đem đến cho đứa bé một lô quà tặng gồm toàn các món đồ băng, bông gòn, phấn,
kẹo ế để mốc ra không bán cho ai được.
Nhân dịp có cháu nội, ông Quản Bành đến Bình Đô và ở lại chơi
cả tháng. Ông làm cho dân quận phải lóa mắt vì cái mũ nhà binh có năm bẩy ngôi
sao bạc và hai nhành dương liễu sáng chói mỗi buổi sáng ông vẫn đội ra ngồi uống
cà phê trước hiên quán cà phê Sư Tử Vàng. Buổi chiều, buổi tối, ông ra ngồi đây
hút thuốc ‘‘Píp’’ và uống rượu. Lẽ cố nhiên bao nhiêu tiền đều ghi vào sổ nợ của
ông con. Ở nhà, ông Quản xài gần hết mấy chai nước hoa của Ánh.
Ánh thích được nghe ông Bô chồng kể chuyện. Trước kia ông Quản
là người đã đi du lịch nhiều. Ông tả cho nàng nghe về sông Đa Nuýp, về
thành Bá Linh, về Ba Lê, về thời gian ông còn trẻ và làm sĩ quan, về những người
đàn bà đẹp mà ông đã được yêu, về những chuyện động trời mà ông đã được dự. Rồi
ông lại đùa cợt nàng, hay khen tặng nàng những câu làm cho bà Quản tái cả người.
Bà lo sợ cho hạnh phúc của con trai, và sợ rằng những câu chuyện của ông chồng
sẽ có ảnh hưởng xấu trên tư tưởng của cô con dâu, bà tức tốc dục ông Quản đi về
cho bằng được. Có lẽ bà sợ để lơ là sẽ có nhiều việc không đẹp xảy ra chăng? Vì
bà biết ông Quản Bành là người không kiêng nể gì cả.
Ánh tìm ra căn nhà nhờ một cây hạt dẻ trước cửa. Đó là một
căn nhà thấp tối. Trên đà cửa ra vào, Ánh thấy vài bó hành khô treo lủng lẳng.
Đầu nhà có một giếng nước, và trước sân là năm bẩy luống rau sà lách. Một giây
phơi quần áo chăng dưới gốc cây hạt dẻ, trên vắt dăm ba bộ quần áo bẩn và mấy
chiếc tã trẻ con. Nghe tiếng cửa hàng rào xê động, chị vú bước ra xem ai. Chị bồng
một đứa nhỏ tay lại dắt một đứa trẻ nhỏ nữa đã chập chững biết đi. Hai đứa này
cũng là trẻ gửi chị nuôi hộ. Chị cung kính chào Ánh:
- Thưa bà, mời bà vô nhà, em bé đang ngủ ạ!
Con nàng đang ngủ trong một chiếc nôi bằng gỗ mộc, kê gần sát
đất. Nàng nhè nhẹ bế con lên, vừa đu đưa con, vừa khe khẽ hát.
Trong lúc đó, thầy Ký Lợi đi đi, lại lại trước hiên nhà,
chàng có vẻ lạ lùng khi thấy một bà lịch sự bận hàng nhung lụa, đứng giữa căn
nhà tồi tàn quá sức tưởng tượng. Bỗng nhiên bà Bô đỏ hồng mặt lên, thầy Ký Lợi
vội nhìn đi nơi khác. Thầy cho rằng đôi mắt soi mói của mình đã làm cho nàng mắc
cỡ. Ánh đặt con xuống nôi rồi bước ra sân.
Chị vú bước ra theo, chị kể lể dài giòng:
- Xin bà nói với ông hàng xén cho em lấy thêm chút xà bông.
- Được...
- Và xin bà cho em mỗi tuần một lạng cà phê. Cô bé hay khóc
đêm mà em thì buồn ngủ, mệt quá, chịu không nổi…
- Ừ, thì ra hiệu mà lấy cà phê, Để tôi bảo…
Hai người đã đi ra đến cổng, chị vú còn chạy theo nằn nì:
- Bà ăn tiêu về nhiều, em xin bà thêm một hũ rượu nho cho chồng
em uống. Tội nghiệp, lúc em uống cà phê, chả nhẽ để hắn ngồi không...
Sau khi hết nợ với chị vú, Ánh vịn tay vào Lợi, nàng bước vội
một quãng, rồi đi chậm dần lại. Hai người đi theo đường bờ sông về quận Bình
Đô. Đang giữa mùa nắng nực, hoa cỏ mộc xanh um ven dòng nước bạc. Nắng trưa
gieo xuống mặt sông phẳng lặng những gợn nước lấp lánh. Hàng liễu xanh ru buồn
trên những lớp cỏ bồng. Một sự tĩnh mịch vô biên bao trùm lên cảnh vật. Hai người
chỉ nghe thấy tiếng giày họ xiết trên đất dắn, tiếng họ trò chuyện với nhau và
tiếng vạt áo của nàng sột soạt theo bước đi.
Khi hai người về đến trước cửa nhà, Bà Bô đẩy nhẹ cánh cửa gỗ
vào vườn, rồi biến mất trên những bực đá. Thầy Ký Lợi lặng lẽ đi về văn phòng.
Ông chủ của chàng đi vắng, chàng nhìn qua mấy cái hồ sơ để trên bàn, ngồi buồn
gọt một cái bút chì rồi lấy mũ ra đi.
Chàng đi về phía Nội Cỏ, chàng nằm dài dưới những gốc
cây thông ở đầu cánh rừng, chàng nhìn trời xanh qua mấy ngón tay che trên mặt
và thở dài:
- Trời ơi, tại sao tôi buồn đến thế này? Sao tôi buồn đến thế
nầy hở trời?
Chàng đột nhiên thấy chán cái cảnh sống của chàng trong cái
quận lỵ nhỏ hẹp nầy, lão Cả Bài làm bè bạn, và me sừ Văn Kỉnh làm ông chủ. Me sừ
này vì bận bịu công việc, nên bất chấp cả một sự hợp lý về cách phục sức, ông
ta đeo mắt kính gọng vàng, để ria mép màu râu ngô, thắt cà vạt xanh có chấm đỏ
và đi giày màu da cam. Trước kia khi mới đến giúp việc cho Me Sừ Văn Kỉnh, Lợi
thấy ông ta có cái vẽ đạo mạo và lạnh lùng của người Ăng Lê. Nhưng bây giờ,
chàng biết rõ cái vẻ đó sở dĩ có là bởi vì ông ta bẩn tính và hà tiện đến cả lời
nói. Thế rồi chẳng còn nhân vật nào đáng kể ở Bình Đô nữa, ông Xếp Phan
thuộc về một hạng người riêng biệt, bà Cả Bài thì luộm thuộm bê bối, bà Ba Bủng,
vài nhà buôn bán vặt, rồi sau cùng đến sau cùng đến ông Văn Thình, Quận Trưởng
Bình Đô, với hai ông con trai một ông làm ủy viên Cảnh Sát, một ông làm trưởng
ban cứu hỏa, cả ba bố con cùng ngu đần, tục, cục, khó mà có người trò chuyện được,
Nhưng trên tất cả những bộ mặt quen thuộc và mất cảm tình ấy,
khuôn mặt kiều diễm của bà Bô vẫn phảng phẩt mơ hồ trước mắt Lợi như hình ảnh của
một nàng tiên. Chàng thấy như giữa chàng và nàng có những vực thẳm mà tình yêu
không thì nào vượt nổi.
Hồi đầu, Lợi thường theo ông Cả Bài sang chơi nhà nàng
luôn. Nhưng ông Bô tiếp chàng không lấy gì làm vồn vã lắm, và chàng trẻ tuổi
cũng không biết làm cách nào để được gần người mà chàng mơ tưởng nhiều hơn.
Khi những cơn gió lạnh đầu mùa vừa thổi báo hiệu mùa Đông đã
về gần. Ánh dọn phòng ngủ xuống dưới nhà, trong căn phòng sát với phòng ăn. Bên
khung cửa sổ vuông có một đàn hoa cánh đỏ. Ánh thường ngồi bên cửa, nhìn qua
khung kính, xem những hoạt động bên ngoài.
Mỗi ngày hai lần, nàng thấy thầy Kỷ Lợi đi từ văn phòng Văn Kỉnh
đến nhà hàng Sư Tử Vàng. Dáng người chàng cao gầy, lúc nào cũng mặc cùng một kiểu
y phục, lặng lẽ đi dài theo dẫy phố. Nhưng trong những buổi hoàng hôn, nhiều
khi đang ngồi mơ mộng một mình Ánh bỗng giật nẩy mình khi thấy bóng chàng trẻ
tuổi xuất hiện một cách đột ngột trên khung cửa. Nàng đứng dậy kêu con Nhài dọn
bàn ăn.
Lão Cả Bài lò mò đến vào giữa bàn ăn. Lần nào đến, lão cũng
buông một câu ‘‘chào cả nhà’’. Rồi, sau khi đã ngồi vào chiếc ghế dành riêng
cho lão ở bên cạnh bàn, giữa hai vợ chồng Bô, lão bắt đầu hỏi chuyện Bô về tình
hình các thân chủ. Sau đó hai người xoay qua những chuyện về tình hình chính trị
quốc tế và quốc nội, nói tóm lại là những chuyện đăng trong báo. Vào giờ đó, Cả
Bài gần như đã thuộc lòng mấy bài bình luận và xã thuyết của tờ Ngọn Cờ Rouen.
Lão kể lể dài giòng các câu chuyện, kèm theo những ý kiến của những người viết
làm như đó là ý kiến riêng của lão vậy. Nhưng câu chuyện cũng cạn dần, Cả Bài
xoay qua phê bình các món ăn trên bàn. Đôi khi lão hơi nhổm dậy, để chỉ cho bà
Bô coi miếng thịt nào ngon, miếng nào ‘‘coi thế mà bạc nhạc không ra gì’’
hoặc quay lại phía con Nhài, lão ba hoa dạy
nó về đủ mọi cách lóc thịt, nấu súp, phi hành tỏi..v.v... Đầu
óc Lão có khi còn nặng những danh từ gia vị hơn là những danh từ y dược. Lão biết
đủ các cách nấu nướng, làm mứt, hầm, ninh.. v.v... Và đặc biệt nhất là có một
phương pháp thần hiệu để giữ cho ‘‘phô mai’’ khỏi hư và cho rượu khỏi chua.
Vào khoảng 8giờ, thằng Chút xách đèn đến mời lão về để đóng cửa
hàng. Nếu con Nhài có mặt ở đấy, thì lão không quên nhìn hai kẻ đó bằng một đôi
mắt hóm hỉnh rồi nói bô bô lên:
- Thằng ranh con nhà tôi hồi này tỏ vẻ bất lương lắm rồi. Tôi
dám quả quyết nói rằng nó phải lòng với chị ở của ông bà rồi đó.
IV
Mỗi tuần vào tối thứ bảy, vợ chồng ông Bô sang chơi nhà Cả
Bài. Đó là buổi mà vợ chồng Cả Bài dành riêng để tiếp khách, nhưng vì tánh nết
gàn bướng, thích hơn người, hay vẽ chuyện đồn bậy và hay chỉ trích tôn giáo của
Cả Bài, nên dân trong quận Bình Đô cũng chẳng còn mấy ai thích lui tới trò chuyện
với vợ chồng lão. Trong những buổi tối thứ bảy này, thầy Ký Lợi thế nào cũng có
mặt ở nhà, khi nghe tiếng chuông cửa vừa gõ khi mở cửa, chàng đã vội chạy ra
đón. Chàng đỡ lấy chiếc khăn san, hoặc chiếc áo choàng của nàng treo lên mắc,
hay xếp lại cho ngay ngắn đôi giày đi tuyết của nàng bên góc cửa, trong những
đêm nào có tuyết phủ ngoài đường.
Họ ngồi vây quanh chiếc bàn tròn, dưới ngọn đèn ‘‘măng sông’’
ba dây rọi sáng, uống trà, nói chuyện, và hút thuốc, Sau đó Bô và Cả Bài dở bàn
cờ ra đánh. Bà Bô ngồi nói chuyện chợ búa, hoặc thêu thùa với bà Cả Bài, rồi lũ
trẻ con ngủ gà, ngủ gật trên ghế, bà Cả Bài phải đưa chúng đi ngủ, rồi bà cũng
nằm ngủ luôn, không ra tiếp chuyện khách nữa, Ánh và Lợi qua ngồi chiếc bàn con
bên cạnh. Nàng thường đem theo mấy cuốn tuần báo về y phục và các kiểu tóc từ
Ba Lê gởi đến, họ dở ra coi, lật nhẹ từng trang và phê bình từng kiểu một. Rồi
họ trò chuyện đến những sự việc đang xảy ra ở Ba Lê, những cuốn tiểu thuyết mới
xuất bản, những tuồng hát đang được trình diễn. Đôi khi Ánh ngỏ ý muốn được
nghe ngâm thơ. Lần nào Lợi cũng có sẵn một tập thơ để gần đấy, Chàng dở vội ra
khẽ đọc cho nàng nghe những bài thư tình. Tiếng nói cười ha hả của ông Cả Bài vẫn
làm cho chàng khó chịu, nhất là những lúc chàng đang đọc đến đoạn mùi mẫn. Ông
Cả Bài rất cao cờ, ván nào Bô cũng thua. Sau ba ván; hai người chán cờ
xoay ra nằm dài trên hai chiếc ghế bên lò sưởi, rồi chẳng mấy lúc mà cả hai
cùng ngáy khò khò. Ngọn lửa tàn dần trong lò, bình trà cạn tới đáy, gió thổi vù
vù bên ngoài, giọng thơ của Lợi trở nên trầm trầm tình tứ hơn, lãng mạn hơn,
Ánh ngồi im nghe, tay nàng vẫn đan một chiếc áo len, thỉnh thoảng lại ngừng tay
vặn nhẹ ngọn đèn dằu tây để trên bàn lên một chút. Chụp ngọn đèn bằng vải dầu
có vẽ những chàng kỵ sĩ và những nàng vũ nữ. Bỗng Lợi dừng lại, chàng chỉ tay
cho nàng coi đám cử tọa đang say ngủ, họ khẽ cười với nhau, giọng nói của họ nhỏ
lại. Cả hai cùng có cảm giác thân mật gần gũi nhau hơn vì không còn ai nhòm ngó
nữa.
Giữa hai người đã có một mối dây liên lạc mật thiết qua các
quyển tiểu thuyết và các bản nhạc, vì không có tánh ghen tương nên Bô cũng chẳng
có gì là lạ trong việc ấy cả.
Theo đúng như lối tiêu khiển của những người quý phái đang được
thịnh hành tại BaLê chàng và nàng cùng rủ nhau chơi hoa. Họ đặt đóng những giá
để chậu hoa bằng cây treo trước cửa sổ. Mỗi buổi sáng họ đều trông thấy nhau tưới
hoa.
Một buổi tối thứ bảy kia, Ánh giả vờ chóng mặt nhức đầu, nàng
không sang chơi nhà Cả Bài như mọi khi. Nằm một mình trong giường nàng tưởng tượng
ra sự thất vọng của Lợi khi không thấy nàng sang, nàng nhớ lại nét mặt đáng yêu
và giọng nói đầm ấm tình tứ của chàng. Nàng ghì chặt chiếc gối vào lòng tự hỏi:
- Chàng có biết yêu là gì không? Chàng yêu ai...? Ồ... chàng
yêu ta chứ còn yêu ai nữa?
Trái tim nàng chan hòa những tình cảm yêu đương. Những tia lửa
hồng trong lò sưởi lách tách reo vui. Ánh nằm ngả người trên giường, mắt nhắm lại
mơ màng.
Khi chồng về nhà và đang sửa soạn lịch kịch đi ngủ, nàng giả
vờ tỉnh giấc, kêu nhức đầu rồi hỏi qua xem hồi tối, ở bên ông Cả Bài có chuyện
gì lạ không? Bô đáp:
- Chẳng có gì, thầy Ký Lợi tối nay không thấy đâu cả.
Nàng phải nằm xoay mặt vào tường để dấu một nụ cười sung sướng
vừa nở trên môi, rồi nàng ngủ thiếp đi, hồn tràn đầy một niềm hoan lạc mới.
Chiều hôm sau, trong lúc Bô đi thăm bệnh vắng, ông Tấn Phát
nhà bán tạp hóa và các xa xỉ phẩm trong quận, đến thăm Ánh, Tấn Phát thuộc vào
loại lái buôn nhiều thủ đoạn, lúc nào cũng mềm dẽo, nhũn nhặn, khéo nịnh bợ. Bộ
mặt của lão dài như mặt ngựa, lúc nào cũng tái nhợt, nghĩa là một bộ mặt ‘‘hỉ nộ
bất xuất’’ giận hay mừng cũng chỉ lạnh nhạt như nhau thôi. Lão ăn nói ngọt như
mía lùi, cái lưng dài lúc nào cũng gù gù, khúm núm y như một kẻ đang xin xỏ hay
đang mời ai vậy.
Sau khi treo lên mắc cái mũ dạ có băng đen, Tấn Phát trịnh trọng
đặt một chiếc hộp ‘‘các tông’’ lên bàn rồi bắt đầu than thở rằng không được bà
Bô thèm đoái hoài lui tới cửa hàng của lão. Lão cũng dư biết là một cửa tiệm
xoàng xĩnh như tiệm lão, không đáng để cho một bà lịch sự như bà Bô để mắt đến,
nhưng nếu bà Bô muốn đưực coi bất cứ một thứ gì đặc biệt hiếm có, xin bà
cứ bảo lão một tiếng. Tuần nào lão cũng ra tỉnh cất hàng. Chiều nay vì bà Bô
không thèm tới hiệu, lão phải thân hành đem vài móm quà lạ tới để bà Bô xem trước
tiên. Lão mở chiếc hộp giấy lấy ra nửa tá khăn ren.
Ánh coi qua rồi lắc đầu:
- Cảm ơn ông, tôi không cần gì hết.
Tấn Phát lấy thêm ra ba chiếc khăn san màu hàng nhập cảng,
hai đôi dép rơm, vài cái lược đồi mồi khảm xà cừ chạm trổ bằng tay thật khéo.
Lão bày tất cả những phẩm vật ấy lên bàn ; miệng lão há hốc ra với một vẻ bần
tiện hiện ra trước mặt. Thỉnh thoảng lão lại lấy tay phẩy lên mặt hàng như phủi
bụi, Ánh chỉ chỗ khăn ren:
- Bao nhiêu một chiếc...?
- Ồ... thưa rẻ mạt. Xin bà cứ việc lấy dùng. Tiền bạc lúc nào
bà cho xin cũng được.
Ánh tỏ vẻ lưỡng lự hồi lâu rồi sau cùng, nàng lắc đầu cảm ơn
nhà bán tạp hóa. Tấn Phát chậm rãi xếp các món đồ vào hộp, và tươi cười từ biệt:
- Thưa bà, thế nào cũng có ngày bà tới bản hiệu. Với các bà
khó thế nào tôi cũng chiều được. Chỉ có bà nhà tôi là tôi chiều không nổi mà
thôi.
Chiều ấy, ông Bô đi thăm bệnh xa. Bà Bô ở nhà một mình. Trong
bóng chiều tĩnh. mịch bỗng có tiếng chân người lên cầu thang. Con Nhài vào thưa
với bà có thầy Ký Lợi đến thăm. Ánh vội rời chiếc ghế bành bên cửa sổ, đến đứng
bên cái tủ giữa phòng. Khi Lợi vào, nàng có vẻ đang bận rộn thu dọn nhà cửa.
Câu chuvện giữa chàng và nàng có vẻ nhạt nhẽo. Chàng ngượng
ngịu ngồi nhìn nàng đan áo, bối rối không biết nên gợi chuyện gì ra nói cho phải
phép. Sau cùng? chàng báo cho nàng biết là đến tuần sau, chàng có việc phải ra
tỉnh Rouen.
- Hạn mua năm tờ Văn Nghệ Tiểu Thuyết đã hết, bà có cần tôi đến
đóng thêm tiền mua không ạ?
- Thôi khỏi phiền ông- Nàng lạnh lùng
- Tại sao vậy?
- Tại vì.... hồi này tôi bận quá. Nhà cửa bề bộn? bao nhiêu
chuyện phải làm. Thì giờ đâu mà đọc tiểu thuyết.
Nàng nhìn đồng hồ luôn. Bô về muộn; nàng làm ra vẻ lo lắng.
Hai ba lần; nàng nhắc đi nhắc lại:
- Nhà tôi thật là vất vả vì vợ, vì con. Vậy mà chẳng bao giờ
ông than vản nửa lời.
Muốn tránh nhắc đến ông Đốc Bô, thầy Ký Lợi nói lảng sang
chuyện bà Cả Bài. Bà này với những chuyện bê bối vì cách phục sức, về lời ăn,
tiếng nói vẫn là một đề tài làm cho bà Bô cười vui. Nhưng lần này nàng chỉ nhếch
mép:
- Trang điểm mà làm chi ạ? Người đàn bà trước hết phải lo lắng
cửa nhà, phải hy sinh cho chồng con.
Thế rồi những ngày sau đó, người ta thấy tính nết Ánh gần như
đổi khác hẳn. Nàng tỏ ra lo lắng chăm nom đến cửa nhà, săn sóc đến chồng và con
gái. Đứa bé được đem về nhà. Mỗi buổi chiều về nhà ông Đốc Bô thấy đôi giày vải
của mình được để sẵn bên lò sưởi cho ấm, quần áo của ông được ủi, chải đàng
hoàng. Ông muốn gì vợ ông cũng làm vừa ý hết. Và; trong những buổi tối mùa đồng,
khi bên ngoài có tiếng gió reo xào xạc trong các phố vắng, thầy Ký Lợi thấy bà
Bô dịu dàng ngồi bên chồng bên lò lửa hồng, trong lòng bà là một chiếc áo len
đan dở, thỉnh thoảng thầy lại còn thấy đôi mắt đẹp của bà trìu mến nhìn chồng,
nhìn con. Thầy chán quá. Thầy thấy rõ là thầy không có một chút hy vọng. Con
người ấy tiết hạnh và đoan trang biết là chừng nào?
V
Vào một buổi chiều, trong lúc đang ngồi buồn bên cửa sổ ; Ánh
bỗng nghe ngân vang tiếng chuông nhà thờ đổ hồi trên mái phố.
Trời đang ở vào đầu tháng tư khi những nụ hoa hồng dại đã nhú
nở bên đường, những làn gió ấm đưa hương đồng nội từ những Iuống cày mới sới
ngoài kia vào trong thành phố, và những vườn cây cũng giống như những người đàn
bà đẹp đang đua nhau làm đẹp để chờ đón hè về.
Tâm hồn Ánh rung động theo những tiếng chuông êm ngân; những
kỷ niệm cũ của tuổi thơ ngây, của những ngày sống trong trường Nhà Trắng, âm thầm
theo nhau trổi dậy trong lòng nàng. Nàng nhớ ánh sáng lung linh của những cây bạch
lạp, những bình hoa trắng muốt đặt trước bàn thờ, và những khung cửa sổ cao vút
trên tường đầy màu sắc. Nàng muốn được sống lại những giây phút êm đềm ngày
xưa, khi giữa những dì phước nón trắng, áo đen, nàng quỳ gối trên giá gỗ, những
sáng chủ nhật trong nhà thờ, khi ngước mắt nhìn lên, nàng thấy khuôn mặt hiền từ
của Nữ Thánh Đồng Trinh hiện sáng sau làn hương trầm huyền ảo. Thế rồi một sự
xúc động mạnh mẽ đến xâm chiếm lấy tâm hồn Ánh làm cho nàng bồi hồi. Nàng cảm
thấy hồn nàng mềm và nhẹ như một sợi tơ đang quay cuồng trong cơn bão tố. Như một
kẻ mất hồn, nàng lững thững đi về phía nhà thờ. Nàng đang cần có một niềm tin
tưởng vô biên trong lòng nàng.
Bọn trẻ con đã tụ tập trước hiên nhà thờ. Hồi chuông vừa đổ
báo hiệu cho chúng biết giờ học kinh thánh đã đến. Chúng chạy nhảy nô đùa, đuổi
bắt nhau trên bức tượng đá. Tiếng chuông im dần rồi tắt hẳn. Bầy chim én bay
tíu tít quanh nóc nhà thờ đã trở về tổ của chúng trong gác chuông cao. Trong
nhà thờ, một ngọn đèn nhỏ như một hạt lửa rung rinh sáng. Ánh nắng vàng sậm chiếu
qua cửa sổ vào nhà thờ càng làm cho bóng tối thêm dầy đặc. Ánh hỏi một đứa bé đứng
gần nàng:
- Cha cả đâu em?
- Ổng sắp tới đó.
Vừa lúc đó Linh Mục Bỉnh từ một cánh cửa ngách bước ta. Bọn
trẻ bỏ chạy tán loạn vào nhà thờ. Linh Mục nhìn theo chúng lắc đầu:
- Bọn mất dạy này, lúc nào cũng phá phách được…
Rồi cha cúi xuống nhặt một cuốn sách rơi trên nền đá:
- Bọn chúng chẳng biết kính trọng gì hết.
Và khi trông thấy bà Bô đứng đấy, cha vội bỏ cuốn sách vào
túi:
- Xin lỗi bà, có chuyện chi đấy ạ? Tôi không trông thấy bà. Hồi
này, bà có được mạnh không ạ?
- Thưa cha, con không …
Ánh ngần ngừ nàng chưa biết dùng lời lẽ gì để diễn tả tâm trạng,
cha Bỉnh đã tiếp:
- Thưa vâng, tôi cũng vậy … hồi này, tôi cũng không lấy gì
làm khỏe lắm. Đầu mùa hè này, khí hậu thay đổi, bao giờ cũng thế, có phải không
ạ? Nhưng thưa bà, như Thánh Paul đã nói: chúng ta được sinh ra để mà chịu đau
khổ. Thế nhưng còn ông Đốc Bô…
- Thưa cha, nhà con mà biết gì…
Nghe Ánh nói một cách khinh khi như thế, cha Bĩnh trợn
tròn mắt ngạc nhiên:
- Ủa... ông không có cho bà dùng thuốc gì hết sao?
- Thưa cha, đâu có phải là những phương thuốc đời này chữa
cho con khỏi được?
Nàng muốn nói đến những phương thuốc tinh thần, nhưng cha Bỉnh
không nghe rõ nàng nói gì. Cha vốn nghễnh ngãng và đang mải để ý nhìn xem bọn
trẻ con đang làm gì trong nhà thờ. Rồi cha quay lại:
- Thưa bà còn ông Đốc? Chắc ông vẫn mạnh và vẫn nhiều công việc
như thường đấy chứ ạ? Chắc ở quận này, chỉ có tôi với ông là hai người bận việc
nhiều nhất Ông là thầy thuốc lo về thể xác, tôi là thầy thuốc lo về tinh thần.
Khi Ánh về đến nhà, bóng chiều đã xuống đầy trên mảnh vườn nhỏ.
Nàng mệt mỏi lên cầu thang, như một nàng công chúa bước lên đoạn đầu đài.
Nàng lại ngồi ủ rũ bên cửa sổ. Bức màn the theo gió nhẹ bay,
một đống tro tàn lụi trong lò sưởi nguội, chiếc đồng hồ quả lắc buông những tiếng
tích tắc đều đều, một sự im lặng vô biên đè nặng lên cảnh vật. Ánh cảm thấy rõ
ràng sự im lặng ấy, và nàng hơi ngạc nhiên khi so sánh sự tĩnh mịch của sự vật
bên ngoài với những nỗi bấn loạn trong tâm hồn nàng.
Bé Quỳnh đang bò chơi trong phòng, lê la tới bíu lấy chân
nàng. Ánh xô con ra:
- Buông ra nào...
Con bé ngã ngửa ra đằng sau, đầu đập vào chân bàn. Nghe tiếng
con khóc thét lên Ánh mới tỉnh cơn mê mộng. Nàng vội choàng dậy ôm con vào
lòng. Tối hôm ấy khi chồng về đến nơi, Ánh lo lắng báo tin:
- Khổ quá, con nó bị té đầu đập vào chân bàn. Em đã xoa dầu
nóng cho con rồi, mình thử lên coi con có làm sao không?
Ăn tối xong, Ánh lên ngay trên lầu ngồi ôm con ru ngủ như một
người mẹ hiền nhất đời. Nhưng nhìn đứa bé bụ bẫm nằm trong mền thỉnh thoảng lại
nấc lên vài tiếng nhẹ, Ánh bỗng thấy khuôn mặt của nó phì phị như mặt Bô và mắt
nó ti hí, môi nó thì dầy, nàng lẩm bẩm:
- Kỳ quá... Sao mà nó xấu quả trời như vầy...?
Trong lúc đó, ông Đốc Bô qua nhà Cả Bài chơi. Mặc dầu chàng
không tỏ vẻ gì là
xúc động lắm vì cái tai nạn vừa qua của bé Quỳnh nhưng lão Cả
Bài cũng tự trao cho mình cái bổn phận phải làm cho chàng đỡ lo, phải lấy lại
tinh thần cho chàng. Lão quay ra bàn về những tai nạn đe dọa bọn trẻ con, những
cái vô ý, những cái đoảng của bọn người làm, và những phương pháp thần hiệu để
đề phòng. Nào phải ai đâu xa lạ, chính bà Cả Bài, vợ lão, cũng là một nạn nhâm
của bọn người làm vô ý vô tứ ấy. Ngày xưa lúc còn nhỏ có lần bà bị chị vú để bò
chơi lê la bên chỗ ủi đồ làm bà đặt đít ngồi phải cái bàn ủi nóng, để đến tận
bây giờ cái chỗ ấy nó còn cái vết …?
Sau khi hoàn toàn thất vọng vì thái độ đoan chính đến gần như
cao kỳ của bà Bô, và nhất là sau khi đã ôm đồm quá nhiều hy vọng, thầy Ký Lợi cảm
thấy rằng thầy không còn có thể sống một cách âm thầm lặng lẽ ở Bình Đô như trước
được nữa. Thầy, bắt đầu mơ đến những đêm hoan lạc rộn rã tiếng cười, tiếng nhạc
trong những dạ hội trá hình của Ba Lê. Kinh thành Ánh Sáng với những màu sắc
huy hoàng quay cuồng trong óc thầy với hình ảnh những người con gái đẹp. Nghĩ rằng
trước sau gì mình cũng phải về Ba Lê để tiếp tục học cho hết ngành luật, thầy
liền viết thư xin phép bà mẹ cho rời Bình Đô ngay từ bây giờ. Lời đề nghị ấy được
chấp thuận liền. Cả ông Văn Kỉnh cũng tán thành ý kiện của Lợi. Suốt cả mùa
Đông năm ấy. Lợi, chuẩn bị cuộc di chuyển về BaLê một cách lừng khừng. Đến
lúc đó thầy mới thấy tiếc hận vì phải đi xa bà Bô.
Nhưng rồi cũng đến ngày Lợi phải lên đường. Trước phút
chia ly bà Cả Bài khóc như mưa, như gió, thằng Chút cũng sụt sùi còn ông Cả
Bài, muốn tỏ ra mình là người hùng, đã cố nén cảm động để xách chiếc cặp da của
Lợi tiễn chàng ra tận bến xe. Trong khi chờ đợi xe chuyển bánh, Lợi còn vừa vặn
thì giờ đến từ biệt bà Bô.
Lên đến thang lầu, Lợi dừng lại để thở. Nghe tiếng cửa
sịch mở. Ánh vội vàng đứng dậy. Hai người lặng nhìn nhau, đôi má của Ánh rực hồng
lên như má một nàng trinh nữ...Nàng đứng nghiêng nghiêng người, vịn tay vào chiếc
bàn tròn..
- Thưa bà, tôi đến chào ông bà...
- Nhà tôi đi vắng..,.
Và, như trong một giấc mơ, Ánh nghe thấy tiếng nói của nàng
âm vang trong không gian:
- Nhà tôi đi vắng....!
- Tôi muốn hôn bé Quỳnh một lần cuối cùng...
Ánh bước ra phía cửa cất tiếng gọi con Nhài, khi bé Quỳnh bước
vào phòng. Lợi cúi xuống ôm nó vào lòng và hôn lên mái tóc mịn màng của đứa nhỏ:
- Vĩnh biệt em! Em ở lại ngoan nhé...
Ánh ra đứng bên cửa sổ. Nàng ngước mắt nhìn lên bầu trời xám:
- Có lẽ trời sắp mưa...
- Tôi đã có áo...
Một phút im lặng trôi qua, hai người nghe rõ tiếng lá rơi xào
xạc ngoài trời và tiếng tích tắc đều đều của chiếc đồng hồ đặt trên mặt lò sưởi.
Lợi thở dài:
- Thôi xin chào bà...
- Vâng. Chúc ông được mọi sự may mắn.
Nàng đưa tay cho chàng bắt. Bàn tay nhỏ nhắn của nàng rung
chuyển trong tay chàng như một con chim non, như một sự rung động vô cùng của cảm
giác. Khi Ánh chớp mắt ngửng nhìn lên, chàng trẻ tuổi đã không còn đứng trước mặt
nàng nữa.
Khi Lợi ra đến chợ, chàng đứng lại sau một thân cột trắng
quay nhìn căn nhà của Ánh một lần cuối cùng: căn nhà trắng nằm giữa một vườn
cây xanh với bốn ô cửa sổ sơn màu lam nhạt. Sau khung cửa trên lầu, chàng
thoáng trông như có bóng người, nhưng rồi tấm rèm che sau cửa vẫn im lìm như một
bức tường, Lợi cắm đầu rảo bước, như người đi trốn một cái gì,
Cả Bài và Văn Kỉnh đứng chờ chàng bên chiếc xe ngựa. Cả
Bài rưng rưng nước mắt:
- Chúc bạn thượng lộ bình an. Này áo dạ của bạn, lọ dầu bạc
hà để sẵn đây. Bạn nên cẩn thận, nên giữ mình. Nhớ lời tôi dặn đừng có chơi bời
thái quá.
Chiếc xe khuất dần trên con đường đầu Quận, Cả Bài chắp hai
tay sau lưng, chậm chạp quay về,
Mây xám ùn lên từ chân trời. Trời đất âm u sầm lại, một trận
gió lớn thổi qua rồi những hạt mưa lộp bộp theo nhau rớt xuống, Mưa rơi rào rào
trắng xóa trên những mái nhà xám. Chừng nửa giờ sau, mưa tạnh dần, và sau
cùng mặt trời lại tưng bừng lộ ra sau những làn mây trắng mỏng,
Ánh mở cửa sổ nhìn ra vườn cây nàng nghĩ thầm:
- Chắc xe đã đi xa lắm rồi. Không hiểu vào giờ này, chỗ xe
chàng đi đang mưa hay là đang nắng.
Tối hôm ấy, như mọi khi, Cả Bài sang chơi vào giữa bữa ăn tối.
Đề tài nói chuyện chính của tối nay là vụ ra đi của thầy Ký Lợi.
Ông Bô lắc đầu:
- Tội nghiệp anh chàng! Về Ba Lê rồi hắn sống làm sao?Liệu có
nổi không chứ?
Bà Bô thở dài, ông Cả Bài tặc lưỡi:
- Ồ... rồi hắn ta sẽ quen đi chứ, ông tính cuộc sống độc thân
như hắn thiếu gì mục giải trí. Các dạ hội hóa trang khiêu vũ này, các buổi ăn
nhậu với bạn hữu. Tôi cam đoan là chỉ trong năm ngày, hắn đã quên hết mọi người
ở Bình Đô.
- Tôi chắc hắn không đến nỗi thế đâu.
Cả Bài vội chữa lại:
- Vâng đúng đấy ạ, hắn ta không phải là người ham chơi bời,
nhưng đôi khi hắn cũng bắt buộc phải vui với chúng bạn nếu hắn không muốn bị chế
riễu là thầy tu. Ấy là chưa kể đến lối sống bừa bãi của mấy cậu ở khu La Tinh với
các cô đào hát. Hai nữa bọn sinh viên được trọng vọng ở Ba Lê lắm. Họ được giới
thượng lưu quí phái đón tiếp niềm nở, được nhiều bà, nhiều cô có bạc ở khu
Saint Germain mê như điếu đổ, Lắm cậu như thế mà lấy được vợ giàu.
- Nhưng tôi sợ cho hắn là sợ rằng… ở Ba Lê…
Cả Bài vội ngắt lời:
- Ông nói đúng lắm. BaLê là một cái xã hội thu hẹp lại, với đủ
mọi hạng người. Nhất là bọn lưu manh, bất lương của Ba Lê thì thôi thôi, khỏi cần
phải nói. Lúc nào người ta cũng phải đề phòng giữ chặt ví tiền, bút máy, xểnh
ra một cái là biến. Ngày tôi còn trọ học ở Ba Lê, có lần tôi bắt được một thằng
ăn cắp diện còn bảnh hơn cả tôi nữa.
Rồi Cả Bài ngồi ba hoa về những chuyện lừa đảo lường gạt đểu
giả ở Balê, cho đến lúc thằng Chút xách đèn qua mời lão về pha gấp một ve thuốc
chữa ghẻ ruồi cho khách. Lão gẵt loạn lên ra cái điều bận rộn và bực tức lắm.
Khi ra đến cửa, lão còn nói vói lại một câu:
- Chà quên mất, ông bà đã biết sắp có chuyện gì lạ chưa?
- Gì vậy?
Lão Cả Bài nhướng đôi lông mày chổi sể làm vẻ quan trọng.
- Tôi vừa nghe có tin đồn là rất có thể kỳ Đại Hội Canh Nông
Mục Súc miền Hậu Giang năm nay sẽ được tổ chức tại quận Bình Đô. Đại Hội này tại
quận mình sẽ là một sự việc vô cùng quan trọng. Nhưng thôi để mai có tin tức gì
mới tôi sẽ lại xin báo để cho ông bà biết ngay. Thằng Chút đâu, soi đường mày.
VI
Ngày hôm sau ngày Lợi lên đường đối với Ánh là một ngày dài dằng
dặc trong sự buồn rầu áo não. Nàng thấy như tất cả cảnh vật quanh nàng đều bị
bao trùm trong một bức màn thê lương ảm đạm, và những nỗi u buồn theo nhau len
lỏi vào tâm hồn nàng với những tiếng rên rỉ êm đềm, nhữ những tiếng gió heo may
than thở trong những tòa lâu đài hoang vắng.
Trong tiềm thức nàng, hình ảnh của Lợi trở nên lãng mạn hơn,
đáng yêu hơn.
Mặc dầu chàng đã đi xa, nhưng hình ảnh của chàng vẫn còn như
phảng phất bên nàng.
Dòng sông nhỏ vẫn lững lờ trôi giữa đôi bờ cỏ xanh. Ven dòng
sông ấy, chàng và nàng đã đi dạo bên nhau nhiều lần, giữa những tiếng rì rào nỉ
non của hàng dương liễu và tiếng nước róc rách trôi xuôi.. Nhưng chàng đã đi rồi,
chàng đã đem tình yêu đi rồi, và không có tình yêu, cảnh vật nào cũng như là cảnh
vật chết. Rồi một nỗi tiếc hận mênh mang đến dầy vò tâm hồn Ánh. Tại sao?... Tại
sao trong những ngày tươi đẹp ấy, nàng lại quá làm cao, quá lãnh đạm với chàng?
Trước câu hỏi ấy, lòng tự ái của Ánh được vuốt ve: nàng đã từ
chối tình yêu để làm một người vợ hiền. Một người đàn bà đức hạnh như vậy có
quyền được chi tiêu một vài thứ theo ý thích của mình. Nàng đến tiệm tạp hóa của
lão Tấn Phát mua sắm lung tung, nàng chọn may những chiếc áo bằng những loại
hàng mới nhất, đắt tiền nhất. Mỗi ngày, nàng xài hàng nửa tá cam tươi để đắp da
mặt và đánh móng chân, móng tay. Rồi nàng nẩy ra ý định tự học tiếng Anh nàng gửi
Tấn Phát mua về mấy cuốn tự điển dầy cộm. Nàng xoay ra nghiên cứu những sách, dạy
về triết lý. Nhiều khi nửa đêm đang say ngủ, nghe tiếng vợ lịch kịch đốt đèn đọc
sách trong phòng tưởng có người đến mời đi thăm bệnh, ông Đốc Bô hốt hoảng
choàng dậy tung mền:
- Tôi đi đây! Chờ tôi một chút!
Một buổi sáng, Ánh đứng dựa bên cửa sổ nhìn ra phía chợ. Ở
các tỉnh nhỏ, những khung cửa sổ nhiều khi được dùng để thay thế cho những hàng
ghế lô ở rạp hát. Phiên chợ Bình Đô đang giữa giờ đông đảo nhất. Ánh bỗng thấy
một chàng trẻ tuổi, dáng người dong dỏng cao, bận chiếc áo dạ xám rất lịch sự,
nét mặt có vẻ quý phái, đi từ chợ đến thẳng phía nhà nàng, theo sau chàng là một
anh nông dân. Thấy thằng Chút đang đứng trước cửa trò chuyện với con Nhài, tưởng
đó là người nhà của ông Đốc Bôn chàng thanh niên nói t:
- Chú nói dùm với ông Đốc có thầy Bửu Quý ở ấp Hồng Hoa đến thăm
ông.
Hồng Hoa là một thôn ấp nhỏ ở gần quận Bình Đô. Bửu Quý vừa
mua lại ấp đó để trồng trọt các thứ cây ăn quả và nuôi gia súc. Chàng ở ngay
trong ấp. Chàng sống độc thân, không vợ con và tỏ ra khá dư giả về tiền bạc.
Xưng danh là chủ ấp Hồng Hoa, không phải Bửu Quý khoe khoang, chàng chỉ muốn
cho thiện hạ biết chàng cũng lo dân Bình Đô mà thôi.
Ông Đốc Bô vội ra tiếp khách. Bửu Quý đưa anh người nhà của
chàng đến nhờ ông Đốc mổ hộ cái nhọt ở tay. Bô dùng cồn rửa sạch mặt nhọt rồi
nhờ thằng Chút cầm hộ cái thau đồng hứng dưới tay, chàng nhấn mạnh mũi dao trên
làn da. Máu đỏ từng tia theo nhau vọt ra. Anh nhà quê trố mắt ra nhìn. Đang
hung hăng tỏ vẻ không sợ gì hết, anh bỗng tái mét mặt rồi ngất đi. Ông Bô vội
chặn miếng bông gòn lên mạch máu. Giữa lúc ấy chiếc thau đồng trong tay thằng
Chút cũng run bắn lên, hai đầu gối anh chàng từ từ sụm xuống Bô hốt hoảng kêu
lên:
- Em, em ơi! Xuống giúp anh với? Khổ quá cả hai người
cùng ngất một Iượt.
Ánh vội chạy xuống cầu thang, Bửu Quý đã đỡ lấy chiếc thau
trong tay Chút, và xốc nách Chút đặt ngồi yên trên ghế bành. Ánh cầm cái
khăn tẩm nước lạnh chấm lên hai bên thái dương Chút. Bửu Quỷ đứng yên nhìn những
ngón tay búp măng của nàng. Đấy là lần đầu tiên, chàng được gặp Ánh và chàng
chưa bao giờ ngờ rằng ở cái quận lỵ Bình Đô hẻo lánh này lại có một người đàn
bà đẹp đến như nàng.
Nghe tin anh cháu vừa bị ngất trong phòng bệnh của ông Đốc
Bô, lão Cả Bài chạy đến cứu cấp. Lão chạy co giò, văng cả giầy ra ở giữa đường
làm cho cả một dãy phố nháo lên tưởng như có trái bom sắp nổ trong nhà ông Đốc
Bô, Hai kẻ ngất đi hồi tỉnh lại, và tỏ ra khoẻ mạnh như thường. Sau hồi sỉ vả
thằng Chút về tội nhút nhát, lão Cả Bài tống anh cháu về nhà, rồi trở ra phòng
khách, uống với ông Đốc Bô và ông khách chủ ấp Hồng Hoa một ly rượu cho lại sức.
Trước sự điềm tĩnh của bà Bô, Cả Bài trầm trồ khen ngợi. Bửu Quý cũng tỏ vẻ
thán phục:
- Bà nhà thật là giỏi, đúng là vợ một ông bác sĩ. Tôi đã thấy
nhiều bà yếu bóng vía lắm. Có một bà bạn tôi chỉ trông thấy người ta cắt tiết
gà mà cũng ngất đi,..
Lão Cả Bài tiếp:
- Tôi thì trông thấy máu người khác đổ, tôi dửng dưng như
không; Còn như nghĩ đến máu của tôi đổ thì tôi ngán lắm. Chịu không nổi.
Bửu Quý cáo từ ra về. Chầng đăm đăm nhìn bà Bô trong lúc nàng
khẽ nghiêng đầu đáp lễ. Khi nàng lên lầu, qua khung cửa sổ, nàng thấy bóng
chàng thấp thoáng ẩn hiện sau những hàng dương liễu ven bờ sông, Chàng vừa đi vừa
suy nghĩ:
- Nàng xinh thật; Khá thật; Không hiểu cha thầy thuốc nhà quê
đó tìm đâu ra được nàng; Mắt đen răng trắng đều, da như trứng gà bóc, ăn nói dịu
dàng lịch sự chẳng kém gì gái BaLê.
Bửu Quý đã ba mươi bốn tuổi. Vốn là một thanh niên nhà giàu,
lại có học thức và tỏ ra hơi Sở Khanh một chút, chàng đã đụng chạm nhiều với
đàn bà và tạm hiểu thế nào là tâm lý đàn bà. Trong lúc đó, tâm trí chàng bị ám ảnh
bởi hình bóng người thiếu phụ chàng vừa được gặp. Chàng nghĩ tới nàng và lang
bang nghĩ đến chồng nàng.
- Chắc thằng cha ngu si đần độn lắm. Nàng chắc phải chán hắn.
Hắn ta để râu ba ngày không cạo, móng tay thì đen sì, mặt thì phị ra. Chồng con
bần như thế thì em chịu thế nào được? Trong lúc hắn ta vất vả đi thăm bệnh, thì
em ở nhà chắc là ngồi buồn mạng vớ vẩn lại mấy cát bít tất rách. Em muốn
được ở tỉnh thành, được lên xe xuống ngựa, được đi xem hát luôn luôn. Thật tội
nghiệp! Sau mỗi lần ái tình, chắc em lại nằm ngáp chán như một con cá chép nằm
ngáp trên mặt thớt. Chắc em đọc nhiều tiểu thuyết tình; chỉ cần nói ba câu cho
dịu dàng, êm tai là em chết mê chết mệt ngay,
Rồi chàng lập tức hoạch định một chương trình chinh phục. Nhiều
trở ngại hiện ra:
- Nhưng làm cách nào để gặp được nàng? Mà gặp nhau ở đâu mới
được chớ? Ở cái quận lỵ nhỏ bé này, việc gì cũng bị coi là việc trọng đại cả.
Thiên hạ nhàn công, rỗi việc chỉ thích nhòm ngó vào chuyện người khác...? Mất
thì giờ lắm? Sợ mang tiếng...
Nhưng khi nghĩ tới Ánh, chàng lại thở dài, chàng ngước mặt
lên nhìn trời:
- Nhưng mà bỏ qua thì uổng biết là chừng nào. Đôi mắt nàng
sao mà đẹp quá. Nàng nhìn như nhìn vào đến tận tâm hồn mình. Và,làn da của nàng
mới trắng làm sao, mình vẫn thích những em da trắng,
Khi về gần đến ấp Hồng Hoa, ý của Bửu Quý đã quyết:
- Ta chỉ cần tìm cơ hội để gần nàng thôi. Ta sẽ gửi biếu họ
quà cáp, gà vịt, hoa quả. Và nếu cần ta sẽ đến nhờ anh chàng chích dùm thuốc bổ
thận. Hai nữa, ngày Đại Hội Canh Nông sắp tới rồi. Thế nào nàng cũng tới dự hội,
đó là dịp để minh tấn công chắc chắn nhất.
VII
Rồi sau cùng, ngày Đại Hội Canh Nông được chờ đợi nhiều ấy đã
đến với dân Bình Đô. Người ta đã sửa soạn đại hội từ vài ba hôm trước. Cửa quận
Bình Đô được treo đèn kết hoa và lập một khán đài bằng gỗ khá lớn. Một tiểu đội
lính vệ binh từ quận Bình Tây được gửi tới để tăng cường đội lính Cứu Hỏa của
Bình Đô, vì quận này không có lính nhà nước. Hai đội lính thi nhau biểu diễn đi
lại rầm rập quanh chợ. Trong cánh đồng cỏ ven dòng sông, người ta dựng một lều
vải dùng làm chỗ đãi tiệc cho quan khách sau đại hội.
Từ tảng sáng, dân chúng khắp miền lũ lượt kéo tới Bình Đồ. Từng
đoàn xe ngựa, xe bò đậu chật cả đường phố quanh chợ. Ai nấy đều tỏ vẻ hớn hở,
chỉ riêng có bà Ba Bủng, chú quán Sư Tử Vàng là buồn, vì ban tổ chức không dùng
quán của bà làm nơi đãi tiệc, cũng không cần nhờ bà nấu nướng mà lại đi mượn một
lão đầu bếp đến làm.
Cho đó là một sự sỉ nhục đáng kể, bà Ba đứng rầu rĩ trước cửa
quán lẩm bẩm chỉ trích tất cả mọi người. Lão Cả Bài chợt đi qua, sáng nay lão
diện một bộ đồ lớn hách nhất, trịnh trọng điểm thêm cái mũ dạ đen và một cây
ba-toong tre cầm nơi tay.
- Kính chào bà Ba...
- Ông đi đâu thế ông Cả?
Cả Bài dừng lại, lão tỏ vẻ ngạc nhiên:
- Tôi đi dự dạ hội, thưa bà! Tôi có chân trong Ủy Ban Cố Vấn
Canh Nông.
Bà Ba trề môi:
- Ông mà cũng đi họp à? Ông thì biết gì về canh nông cơ chứ?
- Chết... chết, bà lầm, tôi là một bào chế sư, tức là một nhà
hóa học. Hóa học là một ngành không thể thiếu được trong địa hạt Canh Nông. Hai
nữa xin giới thiệu với bà tôi lại là tác giả một cuốn sách sưu tầm hữu ích về
canh nông nhan đề là ‘‘Quan điểm về mấy vấn đề phân bón’’ do tôi xuất bản hồi
tháng tư năm ngoái, hiện có trưng bầy tại Thư Viện Quốc Gia Rouen.
Từ vấn đề phân bón, bà Ba Bủng và Cả Bài chuyển qua vấn đề
đãi tiệc quan khách một cách không xứng đáng, trong gian lều vải, rồi đến chuyện
lão Tấn Phát đã đệ đơn kiện nợ nhà hàng cà phê Bình Đô, một quán ăn địch thủ
trong quận của bà Ba Bủng. Nhà cà phê Bình Đồ sắp phải treo bảng vỡ nợ và bị tịch
biên đem ra bán đấu giá đúng như sự mong ước của bà Ba. Nhưng bà này vẫn không
tiếc lời chỉ trích lão Tấn Phát, bà cho lão này là vô nhân đạo, chủ nợ bóc lột.
Bỗng bà chỉ tay bảo cả Bài:
- Kìa ông, nhà Tấn Phát kia kìa? Hắn đang chào bà Đốc Bô ở
phía đầu chợ. Mà bà Đốc Bô đi với ai thế kia nhỉ? Trông như ông Bửu Quý thì phải.
Lão Cả Bài vội rảo bước đến chào bà Bô, nhưng vừa lánh được
lão Tấn Phát, Bửu Quý vội dắt bà Bô rẽ vào một con đường nhỏ ra phía bờ sông để
tránh gặp lão Cả Bài. Tới bờ sông, họ đứng lại. Chàng quay nhìn về phía sau.
- Thế là thoát...
Nàng mỉm cười. Bàn tay nhỏ nhắn của nàng khẽ nắm lấy cánh tay
chàng. Cử chỉ ấy làm cho Bửu Quý suy nghĩ. Chàng liếc mắt quan sát diện mạo
nàng. Dưới chiếc mũ cói rộng vành, khuôn mặt thanh tú của nàng vẫn dịu dàng, vẫn
thản nhiên như không. Đôi mắt của nàng mở rộng nhìn ra dòng sông, làn mi dài
như hơi rung động trong gió sớm. Giải lụa xanh buộc trên mũ nàng lả lướt bay
theo chiều dương liễu. Nàng khẽ nói:
- Tại sao lại ra đây? Chúng ta đi dự hội kia mà...
- Vì tôi muốn được một mình gần bà trong giây phút...
Đôi má Ánh chợt đỏ hồng lên. Hàm răng trắng ngà của nàng cắn
nhẹ lên vành môi hồng, như người giận dỗi một chuyện gì. Bửu Quý không nói hết
câu vừa bỏ dở. Chàng chuyển qua chuyện trời đất, cỏ cây. Trong cỏ xanh vài bông
Marguerite đã nở. Chàng chỉ vào bông cúc bảo nàng:
- Đây là loài hoa của những người yêu nhau. Nếu tôi hái vài
bông, bà.sẽ nghĩ sao...?
- Tôi sẽ nghĩ rằng chắc ông đã yêu...!
Nàng cũng không nói hết lời, chàng tiếp:
- Có lẽ... có lẽ...!
Giữa lúc đó, Bửu Quý nhớ tới cô nhân tình mới nhất của chàng.
Đó là một cô đào hát ở Rouen. Mới yêu nhau có mấy tháng, chàng đã chán ngán rồi,
vì cô ả phấn sáp quá không được tươi trẻ như bà Bô. Cô ả lại có tật hay vòi
vĩnh vàng bạc. Hình ảnh của cô nhân tình ấy làm cho khuôn mặt của Bửu Quý có những
nét âu sầu, chán nản thật hợp thời hợp cảnh.
- Nhưng tôi chưa yêu ai bao giờ, và cũng chưa có ai thực tình
yêu tôi cả. Trong cuộc đời tôi thiếu thốn nhiều thứ quá. Nếu đời tôi có một mục
đích, nếu tôi đưọc gặp một người... Trời, tôi sẽ sống mạnh, sống hùng biết là
chừng nào? Tôi có thể san bằng tất cả mọi chướng ngại, vượt hết mọi trở lực, đập
tan tất cả...
- Tôi tưởng ông không còn có điều gì đáng phàn nàn nữa? Ông
đã tự do này, ông lại giầu có.....
- Tôi mà giầu à, xin bà đừng mỉa mai...
Ánh bỗng giật nẩy mình. Từ phía chợ, một loạt súng vừa nổ
vang, bảo hiệu ông Tỉnh Trưởng đến chủ tọa đại hội đã tới.
PHẦN THỨ BA
CHƯƠNG 1
MỘT CHIẾC XE SONG MÃ CỔ điển dừng lại trước khán đài.
Trên xe bước xuống một vị công chức đã có tuổi trán hói, râu mép ngả mầu hoa
râm, mắt mang kiếng trắng. Ông Quận Trưởng mang dây lưng cờ tam tài vội ra cúi
gập người xuống chào đón. Vị mới đến đó chỉ là một công chức đại diện cho ông Tỉnh
Trưởng. Thiên hạ chào nhau rồi đưa nhau lên khán đài. Đám đông, như một mặt
sông, sôi nổi lên trong vài phút, rồi lại lặng yên. Trong lúc đó, Bửu Quý đưa
bà Bô đi cửa sau vào nhà Hội đồng quận. Họ lên trên lầu, chàng đặt hai chiếc ghế
bên cửa sổ. Ngồi đó, họ nhìn được hết cả khán đài.
Ông Cố Vấn đứng dậy bước lên diễn đàn. Đến lúc đó, người ta
đã biết tên ông ta là Văn Phẩm, giữ chức Cố Vấn trong Hội đồng tỉnh lỵ Rouen.
Sau khi rút trong túi ra
mấy tờ giấy đưa lên mắt kính nhìn lại, ông bắt đầu đọc bản diễn
văn khai mạc:
‘‘Kính thưa quí vị,
‘‘ Trước hết, xin quí vị cho phép tôi được nói một đôi lời để
ca ngợi những công cuộc đã thực hiện được của chánh phủ ta, cùng những công đức
mà Quốc Vương ta đã ban ơn mưa móc cho tất cả mọi ngành, trong lúc Ngài lãnh đạo
con thuyền quốc gia vượt biển gian nguy tới bến vinh quang. Ngài là người đã biết
tôn trọng chiến tranh và hòa bình ngang nhau, và đã hiểu rõ sự quan trọng của
ngành canh nông trong xã hội ta...
Trên lầu, Bửu Quý bỗng nói:
- Có lẽ ta nên ngồi lùi lại một chút nữa thì hơn.
- Tại sao vậy?
- Tồi sợ ở dưới kia, người ta trông thấy tôi. Rồi bà lại mang
tiếng. Tôi bị người ta để ý nhiều lắm rồi..
- Ông cứ nói thế chứ...
- Không, thật đấy bà ạ. Người ta coi tôi là một gã nguy hiểm
lắm.
Giữa lúc ấy, giọng nói Ông Cố vấn bỗng hùng hồn vang lên:
- Thưa quí vị, những thời nội loạn hoang tàn đã hoàn toàn chấm
dứt trên đất nước chúng ta. Nhìn đâu, tôi cũng thấy diễn ra những cảnh sống
tưng bừng, phồn thịnh. Một nguồn tin tưởng mới đã đến trong tâm hồn tất cả mọi
người. Nước Pháp đã chỗi dậy trong một cuộc phục hưng mạnh mẽ…
- Có lẽ người ta đã hiểu lầm tôi - Bửu Quý chậm rãi tiếp - vì
người ta không hiểu rằng có những tâm hồn đau khổ bơ vơ lạc lõng trong cuộc đời.
Những tâm hồn ấy cần tìm những thú vui kỳ lạ, những cảm giác hiếm có. Trước
mắt những kẻ sống tầm thường, những con người lạc lõng ấy trở thành lạ đời, hoặc
bị coi là nguy hiểm.
Nàng nhìn chàng như nhìn một người viễn khách đã đi qua hàng
trăm núi đồi xa lạ. Và nàng tiếp lời chàng, như một lời than thở:
- Chúng tôi là đàn bà, chúng tôi còn không có cả quyền tự do
để sống...
- Tự do mà làm gì thưa bà, nếu được tự do mà người ta vẫn
không tìm được hạnh phúc?
- Hạnh phúc có thể nào tìm thấy được không?
- Người ta không thể đi tìm được hạnh phúc, nhưng có thể người
ta sẽ gặp hạnh phúc. Hạnh phúc đến một cách bất ngờ, giữa lúc người ta thất vọng
nhất. Đến lúc đó, những chân trời hoan lạc sẽ nở hoa vàng, một giọng nói thần
tiên sẽ cho ta biết: ‘‘Đây là người ta yêu! Đây là tình yêu!’’. Người ta nhìn
nhau và thông cảm nhau trong khóe mắt, trong những giây phút tình cảm rung động
nhất của tâm hồn. Tình yêu hiện trước mặt người ta, rung rinh như một ánh lửa dễ
dàng tan biến vô cùng. Và trước tình yêu, người ta sững sờ như một kẻ suốt đời ở
trong hầm tối bỗng nhiên được nhìn ánh sáng của thiên đàng.
Nói đến đây, Bửu Quý đưa hai tay lên che mắt, y như người bị
chóng mặt. Rồi, lúc buông tay xuống, chàng đặt tay lên tay Ánh. Nàng nhẹ nhàng
rút tay lại. Trong lúc đó, trên diễn đàn Ông Quận Trưởng Bình Đô đã lên tiếp lời
Ông Cố Vấn. Bài diễn văn của Ông Quận Trưởng ít danh từ huê mỹ hơn, nhưng kể lể
dông dài về sự tích của những ngành canh nông trong lịch sử, và sự tiến triển của
Canh Nông từ ngày loài người còn ăn lông ở lỗ đến nay. Bửu Quý và bà Bô bắt đầu
nói về những chuyện tiền định, những mối tình bắt nguồn từ kiếp trước?
- Như chúng ta đây chẳng hạn. Tại sao chúng ta lại gặp nhau?
Sự tình cờ nào đã run rủi cho chúng ta gặp nhau? Và gặp nhau để làm gì vậy? Phải
chăng chúng ta là hai dòng sông, tuy ở xa nhau, nhưng vì tìm nhau nên cùng chảy
về một chiều. Xa lắm nhưng cũng có ngày phải gặp nhau.
Chàng cầm lấy tay nàng, nàng không rút tay lại nữa.
Giọng nói của Ông Quận Trưởng vang trong không gian:
- Giải nhất cuộc thi hạt giống tốt về tay ông Tư Bột ở Canh
Căm Poa!
- Như hồi nẩy, khi tôi đến nhà bà, tôi đâu có biết rằng tôi sẽ
có cái diễm phúc được ngồi một mình với bà ở đây trong giờ phút này...?
- ….......
- Tôi... sẽ mang trong lòng tôi mãi hình ảnh của bà, tôi sẽ
nhớ mãi nụ cười dịu hiền một chiều nào đã nở trên làn môi hồng mịn của bà.
Nhưng bà thì sẽ quên tôi, tôi đi qua đời bà lặng lẽ như một cái bóng...
- Cuộc thi về lợn giống: hai giải nhất đồng hạng về các ông
Văn Thử và Văn Lang...
- Nhưng không... nhưng không. Tôi sẽ không đến nỗi nào bị bà
lãng quên chóng như vậy chứ?
Chàng nắm chặt lấy bàn tay nhỏ của nàng và cảm thấy bàn tay
nàng rung động như một con chim nhỏ đang vùng vẫy muốn bay đi. Không hiểu rằng
nàng muốn rút tay ra hay nàng cũng nắm lại tay chàng, chỉ biết những ngón tay
nhỏ ấy đã làm một cử động. Chàng kêu lên:
- Ồ... cám ơn bà! Bà đã không xua đuổi tôi. Bà đã thấy rõ mối
tình uẩn của tôi. Xin cho tôi được gần bà, cho tôi được chiêm ngưỡng bà là đủ.
Bửu Quý không nói nữa. Hai người nhìn nhau. Đôi mắt của họ
như lạc tinh thần, hai làn môi cùng rung động. Những ngón tay nắm chặt lấy
nhau.
- Bà Nguyễn thị Lành, ở Kẻ Sặt, làm công năm mươi bốn năm
trong một trại chăn
nuôi, được thưởng một cái huy chương bạc, giá hai trăm năm
mươi đồng...
Đến lúc đó, người ta thấy xuất hiện trên bục gỗ một bà già bé
nhỏ, dáng điệu sợ sệt, trông càng có vẻ rúm ró lại trong bộ y phục nghèo nàn.
Khuôn mặt của bà ta còn nhiếu nếp răn hơn cả một củ khoai tây héo úa. Đây là lần
đầu tiên bà ta phải ra đứng giữa một đám đông quan trọng đến như thế này, bà ta
không hiểu tại sao thiên hạ lại xô đẩy bà ta bước lên bục gỗ và tại sao các vị
có chức việc bận y phục đen, đội mũ cao lại cứ nhìn bà mà cười ruồi.
Ông Cố Vấn Văn Phẩm ngọt ngào bảo bà:
- Mời bà lại đây, bà Nguyễn thị Lành...
Nhưng bà Lành vẫn đứng đực ra một chỗ, Ông Quận Trưởng Văn
Thình đứng bật dậy, nói như hét vào tai bà ta:
- Bà có điếc không? năm mươi bốn năm làm việc gương mẫu được
thưởng một cái huy chương bạc, giá hai trăm năm mươi đồng. Đây huy chương của
bà đây....
Khi được cầm chiếc mề đay, khuôn mặt răn rúm của bà Lành nở một
nụ cười sung sướng. Người ta nghe thấy bà ta vừa đi vừa lẩm bẩm trong miệng:
- Tôi sẽ đưa biếu ông Cha ở trong làng để ông cầu nguyện cho
tôi...
Nghe được câu đó, ông Cả Bài nhún vai bảo ông Văn Kỉnh:
- Bà già này thật, là cuồng tín...
II
Cuộc phát phần thưởng đã chấm dứt. Bửu Quý đưa bà Bô về nhà.
Còn chàng một mình đi thơ thẩn ven bờ sông chờ giờ đến dự tiệc. Bữa tiệc biểu
diễn một cuộc ăn uống túi bụi trong gian lều vải. Người ta chen vai thích cánh
nhau trên những chiếc bàn dài. Vài chiếc ghế yếu quá, chịu không nổi sức nặng của
các vị thực khách thi nhau ụp xuống. Bửu Quý ngồi lặng yên trong một góc. Bên
chàng người ta cười nói ầm ầm, nhưng chàng không nghe, không thấy gì cả. Bên
tai chàng còn văng vẳng giọng nói êm đềm của nàng, trước mắt chàng còn phảng phất
nét mặt kiều diễm của nàng...
Buổi tối hôm ấy, trong lúc sắp đốt cây pháo bông chàng lại gặp
nàng, nhưng lần này, nàng đi với chồng nàng. Vợ chồng nàng đứng với gia đình
nhà Cả Bài. Nhà Dược Sư thích quan trọng hóa vấn đề nên tỏ vẻ lo sợ một cách rất
khoa học về những sự nguy hiểm có thể do pháo bông gây ra, nên thỉnh thoảng,
ông ta lại vù đi tìm ông Văn Thậm, tức là ông con trai ông Quận Trưởng Văn
Thình, người có trọng trách chỉ huy đội cứu hỏa Bình Đô, để dặn dò mọi việc đề
phòng.
Cây pháo bông do ông Quận Trưởng đi mua về, được ông ta cắt
quá kỹ tận dưới hầm rượu, cho nên bị ẩm, đốt tịt cả. Chỉ lâu lâu, người ta mới
thấy một nụ cà, nụ cải loé sáng trên nền trời. Đám dân đứng xem cùng há hốc mồm
reo lên một tiếng khoái lạc chung, trong đó có lẫn cả tiếng kêu của những người
đàn bà bị cù buồn trong bống tối.
Ánh đứng nép vào chồng. Ánh sáng tắt dần. Vài giọt mưa lất phất
rơi. Người ta tản mát ra về. Một lần nữa, lão Cả Bài lại chạy đến níu áo ông
Văn Thậm:
- Nếu không có gì trở ngại, tôi đề nghị Trung Úy nên cho vài
người đi một vòng...
Ông này đang mệt, đang muốn về nhà đi ngủ, bèn gắt:
- Ông vớ vẩn lắm. Tôi đã bảo không có chuyện gì xẩy ra hết mà
lỵ.
Lão Cả Bài trở lại nói với Bô:
- Ông cứ yên trí, Trung úy Thậm đã cam đoan với tôi là mọi việc
đều yên ổn cả. Người ta đã đề phòng sẵn cả rồi. Thôi, chúng ta về đi ngủ.
Bà Cả Bài ngáp dài
- Vâng, tôi buồn ngủ quá đi mất. Nhưng cả ngày hôm nay thật
là vui vẻ quá... Người ta bèn chào nhau và ra về.
Hai ngày hôm sau, trong tờ Ngọn Cờ Rouen, người ta được đọc một
bài tường thuật khá dài về ngày Đại Hội Canh Nông ở Bình Đô. Bài tường thuật do
thông tín viên Cả Bài viết gửi đăng trong một phút hứng bút ngay ngày hôm sau.
Trong bài tường thuật, lão tả đến những cảnh ‘‘biển người cuộn sóng, rừng cờ
bay phất phới, những bộ mặt hân hoan, biểu lộ những niềm tin tưởng vô bờ bến...’’.
Trong hàng quan khách, lão nhắc khéo đến sự hiện diện của ông Trịnh văn Bài,
Bào Chế Sư, tác giả cuốn khảo luận ‘‘ Quan điểm về mấy vấn đề phân
bón’’..v..v..
Hai tuần lễ sau ngày Đại hội, Bửu Quý mới trở lại gặp Ánh.
Khi gặp nhau, thấy mặt nàng tái đi, Bửu Quý biết rằng mình đã tính đúng một nước
cờ - Đó là sự kéo dài thời gian cho nàng phải chờ đợi, phải thắc mắc.
Nàng ngồi một mình trong phòng. Nắng chiều tắt dần bên những
rèm cửa sổ. Sự xúc động làm cho Ánh trở thành ít nói.
- Thưa bà, trong hai tuần qua, tôi không đến thăm ông bà được,
vì bận nhiều việc quá. Hai nữa, tôi lại đau...
Nàng kêu lên:
- Có nặng lắm không ạ?
Bửu Quý ngồi xuống gần nàng:
- Không, tôi không muốn nói dối nữa. Nếu tôi không trở lại,
là vì tôi không muốn gặp bà...
- Sao vậy?
- Bà không đoán được vì lý do gì sao?
Chàng nhìn nàng bằng một đôi mắt chan chứa yêu đương, nàng đỏ
mặt cúi đầu. Chàng khẽ nói:
- Ánh...
- Thưa ông...
- Đấy, bà thấy không?-Sau một phút lặng yên, chàng buồn rầu
nói tiếp - Nếu không trở lại, không phải là tôi không có lý, bởi vì cái tên người,
cái tên người đã làm tâm hồn tôi tràn ngập yêu đương ấy, tôi không được quyền
nói ra. Người ta không cho tôi được phép nhắc đến. Bà Bô...! Tôi chỉ được quyền
gọi bà là bà Bô! Như tất cả mọi người! Nhưng có phải đó là tên bà đâu! Đó là
tên người khác.
Chàng ôm đầu nhắc lại:.
- Tên người khác!
Và một lúc lâu sau, chàng mới lặng lẽ tiếp, như người vừa tìm
được một quyết định gì quan trọng.
- Vâng, tôi nghĩ đến Ánh nhiều quá. Đêm ngày lúc nào hình ảnh
của Ánh cũng mơ hồ ẩn hiện trước mắt tôi. Nhưng tôi biết rằng mối tình của tôi
đã sớm trở thành vô vọng, ngay từ phút ban đầu. Tôi đã muốn ra đi, đi thật xa,
đi để trốn hình ảnh của Ánh, để Ánh không bao giờ còn thấy tôi, còn phải nghe
ai nhắc đến tôi nữa. Nhưng vậy mà, không hiểu sao, tôi lại trở lại đây.
Có một sức mạnh gì thiêng liêng đã bắt tôi phải trở lại tìm Ánh...À… tôi hiểu rồi,
người ta làm sao cưỡng lại được số mệnh, nếu phải khổ đau để được gần Ánh, tôi
xin chịu khổ đau.
Đây là lần đầu tiên trong đời, Ánh được nghe những lời nói ngọt
ngào, êm tai đến như thế. Lòng tự ái của nàng nở ra, như một bông hoa hướng
dương trước ánh nắng mặt trời. Bên tai nàng, lời nói của Bửu Quý vẫn êm đềm
vang lên, như trong một giấc mơ:
- Tuy rằng tôi không dám trở lại thăm Ánh, nhưng tâm hồn tôi
vẫn luôn luôn ở bên
Ánh. Đêm đêm, tôi vẫn lẻn đến đứng dưới kia như một tên ăn trộm,
để nhìn vào nhà Ánh, Tôi vẫn thấy khung cửa sổ phòng Ánh sáng lấp lánh trong
ánh trăng, thấy những cành hoa lá trong vườn nhà rung rinh lay động trong gió
đêm, và đôi khi, thấy bóng một người đàn bà… một người đàn bà tôi yêu hiện ra
như một vị nữ thần bên cửa sổ Nhưng lúc ấy... có lẽ không bao giờ, chẳng có bao
giờ. Ánh lại ngờ rằng có một kẻ đau khổ đang đứng chiêm ngưỡng mình trong
bóng tối.
Vừa nói, Bửu Quý vừa cầm lấy tay Ánh. Chàng xiết chặt tay
nàng, Giữa lúc ấy, bên ngoài có tiếng chân ai lên cầu thang, họ vội ngồi xa
nhau ra. Cánh cửa sịch mở, Bô bước vào phòng, Bửu Quý đứng dậy:
- Kính chào Bác sĩ!
Được một người lịch sự trí thức như Bửu Quý kêu là bác sĩ, Bô
có vẻ hài lòng lắm, Chàng ấp úng nói vài lời văn hoa để ca tụng lại, Bửu Quý
xoay câu chuyện:
- Bà bác sĩ, theo ý tôi, có lẽ hồi này không được mạnh.,.
Đó là một vấn đề đang làm cho ông Đốc Bô bối rối, Bửu Quý liền
đề nghị nên để cho bà Đốc tập đi ngựa. Môn thể thao quý phái ấy có thể làm cho
bà khỏe lại được. Bô sốt sắng kêu lên:
- Hay lắm! Nên lắm! Ý kiến đó thật là hay. Em cần phải đi ngựa
mới được.
Thấy ông bà Bô không có ngựa, thầy Bửu Quý xin được phép cho
mượn một con ngựa giống rất hiền. Nhưng bà Bô từ chối ngay. Sau khi ông khách về
rồi, Bô hỏi vợ:
- Sao em không chịu mượn ngựa của hắn ta. Hắn có vẻ thành thật,
lịch sự đấy chứ?
Với một vẻ hờn dỗi đáng yêu, Ánh viện ra hàng trăm lý do để từ
chối, nhưng Bô không thấy một lý do nào đáng kể cả. Sau cùng, nàng cho rằng việc
ấy nó kỳ kỳ làm sao ấy. Bô gạt đi:
- Ồ... ăn thua gì! Miễn là em khoẻ mạnh, thì thôi chứ... Em lầm
lắm.
- Nhưng làm sao em đi ngựa được chứ? Em có bộ y phục Amazone
nào đâu?
- Em cần phải may một bộ!
Bộ y phục nữ kỵ mã ấy làm cho Ánh phải nhận lời. Khi mọi chuyện
sửa soạn đã xong, vào một buổi sáng tươi mát, thầy Bửu Quý đem hai con ngựa đẹp
nhất chuồng đến đón bà Bô đi chơi. Thằng Chút bỏ cả công việc chạy ra coi. Cả
Bài cũng đến dặn dò:
- Ông cẩn thận đấy nhé, Tai nạn xẩy ra dễ lắm đấy.
Vừa ra khỏi tỉnh, khi cảm thấy nền đất lạnh trải dưới vó, con
ngựa của Ánh phi nước kiệu, Bửu Quý giựt cương cho ngựa chạy lên ngang hàng,
Lúc đó, thời tiết vào khoảng cuối mùa thu, một màn sương mờ đăng trên những
hàng cây trụi lá ven rừng. Nền trời cao vẫn một màu xanh lơ. Hai người thúc ngựa
tiến vào rừng. Họ lên một ngọn đồi khá cao. Qua một khoảng trống, Ánh dừng ngựa
lại quay nhìn về phía Bình Đô, quận lỵ nhỏ bé nằm xa tít dưới kia, với những
mái nhà ngói xám, bao quanh một gác chuông nhà thờ, và một dòng sông nhỏ uốn
khúc giữa hai hàng dương liễu. Chàng đỡ nàng xuống ngựa, hai con ngựa được buộc
vào một gốc cây.
Chàng đưa nàng đến ngồi trên một khúc cây gần đó và bắt đầu kể
lể nỗi niềm tâm sự của chàng với một giọng buồn rầu đến gần như áo não, nhưng đến
khi chàng hỏi:
- Tại sao... tại sao cuộc đời của chúng ta lại không đi chung
một dòng? Tại sao chúng ta không yêu nhau được...?
Nàng đứng dậy bỏ đi. Chàng nắm tay nàng kéo lại. Nhìn nét mặt
chàng lúc ấy, nàng hoảng hốt kêu lên:
- Ông làm chi vậy…? Ông buông tôi ra…!
Trong giây phút, Bửu Quý thay đổi hẳn nét mặt. Chàng bình
tĩnh dịu dàng trở lại, hơi có vẻ ngượng nghịu và kính trọng nàng hơn nữa. Nàng
yên tâm vịn tay chàng đi trở lại phía buộc ngựa. Chàng khẽ nói:
- Với tôi, xin bà đừng sợ gì cả. Trong tâm hồn tôi, bà là một
vị nữ thần, một nữ thần trinh bạch. Nhưng tôi cần được gần bà để sống, tôi cần
được nhìn đôi mắt, được nghe tiếng cười, giọng nói của bà. Nếu không thể có được
tình yêu, xin ban cho tôi một tình bạn...
Chàng quàng tay ngang lưng nàng, đỡ nàng đi. Có tiếng ngựa hí
vang sau rặng cây, chàng dìu nàng qua lối khác:
- Xin đừng về vội. Hãy ở lại cùng tôi giây phút nữa…
Họ đi về phía dòng suối nhỏ. Gần đấy là một mặt hồ nước trắng
nằm yên dưới những lá sen tàn, cóc nhái nhẩy lao xao giữa những thân sậy khẳng
khiu. Nàng rên rỉ:
- Tôi lầm rồi… Lẽ ra tôi không được theo ông đến đây...
- Tại sao hở Ánh? Tại sao...?
Nàng thốt ra một tiếng thở dài,như một người đau khổ nhất đời,
rồi úp mặt vào hai bàn tay, nàng ngả người vào tay chàng.
Mặt trời lên cao dần. Qua những vòm cây lá, từng tia nắng
chói chiếu xuống thảm cỏ xanh, lung linh nhẩy múa theo nhịp lá rung rinh trong
gió. Một vẻ yên lặng vô biên tràn ngập khu rừng vắng. Có tiếng chim rừng văng vẳng
kêu đâu đây…
Nàng về đến nhà vào khoảng một giờ trưa, Bô vẫn ngồi bên bàn
ăn chờ vợ về ăn cùng. Chàng thấy nàng có vẻ khá, sắc diện hồng hào.
Chàng hỏi nàng về những chi tiết của cuộ đi chơi, nhưng nàng
có vẻ lơ đãng, ít nói. Sau bữa ăn, nàng lên thẳng trên phòng ngủ, đóng cửa lại
nằm nghỉ. Yên trí là vợ mệt vì cuộc đi ngựa bổ ích vừa rồi, Bô vui vẻ đi thăm
con bệnh.
Trong bóng tối lờ mờ của căn phòng, Ánh cảm thấy ngây ngất
như người đang trong cơn chóng mặt. Nàng nằm úp mặt lên chiếc gối thêu, mơ màng
nhớ lại tiếng nói êm đềm của người ấy, với vòng tay xiết chặt của chàng, và
bóng cây, tiếng lá reo xào xạc trong khu rừng vắng. Nàng nhìn vào trong gương,
và ngạc nhiên khi thấy đôi mắt nàng sao lại to đen và huyền bí đến như thế. Có
một cáí gì ghê gớm đã đến làm rung chuyển thân hình nàng, và làm thay đổi cả
nét mặt của nàng.
Ngày hôm sau là một ngày hoàn toàn thơ mộng và êm đềm đối với
Ánh. Họ gặp lại nhau và cùng nhau thề thốt nặng lời. Nàng kể cho chàng nghe những
nỗi buồn khổ của nàng, chàng an ủi nàng bằng những chiếc hôn say đắm. Họ nhìn
sâu vào mắt nhau, khẽ gọi tên nhau, để nhắc đi nhắc lại cả trăm lần rằng họ yêu
thương nhau. Nơi họ tình tự cũng là một chỗ kín đáo, khuất vắng ở ven rừng. Chỗ
ấy gần bờ suối nhỏ, có một bức tường đất thấp che sau lưng họ. Trên đầu họ là một
vòm cây xanh, dưới chân họ là một lớp lá khô dày, êm như trải nệm.
Bắt, đầu từ đó, mỗi tối, họ viết cho nhau một lá thư, Ánh đem
thư ra dấu ở một kẽ gạch ven bức tường trước vườn nhà nàng, Bửu Quý đến đấy lấy
thư đi và để lại bức thư của chàng vào đấy.
Một buổi sáng kia, nhân dịp ông Đốc Bô phải đi thăm bệnh từ bốn
giờ sáng, Ánh dậy sớm vào lúc trời mới ửng bình minh. Nàng bỗng nảy ra ý muốn đến
trại Hồng Hoa để gặp tình nhân ngay lúc ấy. Ý muốn lạ thường ấy làm cho nàng
như điên lên. Choàng một chiếc khăn san lên mái tóc, nàng mở cửa lẻn xuống đường
như một tên ăn trộm. Chỉ vài phút sau, nàng đã cắm đầu rảo bước trên con đường
có còn lóng lánh những hạt sương mai.
Nàng đến giữa lúc Bửu Quý còn đang say ngủ. Choàng tỉnh dậy
thấy nàng gần ngay trước mặt, chàng ôm ghì lấy nàng như người ôm một ảo ảnh
trong giấc mơ. Chàng ủ đôi bàn chân nhỏ lạnh giá sương mai của nàng trong bàn tay,
chàng thành kính cúi xuống hôn chân nàng. Cuộc sống đối với chàng tưng bừng như
là cả một mùa xuân đã theo gót chân nàng ùa vào phòng chàng sớm ấy.
Đến lúc phải chia tay nhau, họ mất đến nửa giờ để hẹn hò, để
thề nguyền, để âu yếm nhau rồi mới rời nhau ra được. Nhiều lần, Ánh khóc như
mưa, như gió. Nàng không muốn phải xa người yêu. Nàng muốn ở gần chàng mãi mãi.
Mùa đông năm ấy, nhiều đêm, Bửu Quý đến tận Bình Đô tìm Ánh. Ở
quận lỵ nhỏ, mới chín giờ đêm, nhất là những đêm trời rét người ta đã đóng cửa
đi ngủ cả. Chàng
đến đứng dưới tàng cây bên vườn nàng. Màu áo dạ đen của chàng
chìm lẫn trong tối. Chàng ném nhẹ một hòn sỏi nhỏ lên cửa sổ phòng ngủ của
nàng.
Họ dìu nhau đến chiếc ghế đá cuối vườn, dưới một vòm cây, kín
như một tổ chim ấm áp. Qua những cành cây khẳng khiu, trụi lá, họ thấy những
ngôi sao lấp lánh trên nền trời đêm. Sau lưng họ, có tiếng rì rào của dòng sông
nước chảy. Bóng tối làm cho họ gần gũi nhau hơn, những tiếng yêu đương thì thầm
của họ cũng nhiều âm vang, rung động hơn nữa.
Trong những đêm trời mưa, họ đưa nhau vào căn phòng khám bệnh
của ông Đốc Bô. Ánh thắp một ngọn nến nhỏ, dấu sau một chồng sách. Bửu Quý ngồi
trong chiếc ghế bành da của ông Đốc Bô, hút sì gà tự do cứ như ở nhà mình vậy.
Chàng phê bình về Bô nhiều câu làm cho chính Ánh cũng phải ngượng ngùng. Nàng
muốn chàng phải tỏ ra đứng đắn hơn, và nếu có thể, thì phải quan trọng hóa sự
việc đôi chút. Như trong một đêm, bỗng nghe như có tiếng chân người đi ngoài
hiên, nàng vội nắm lấy tay chàng:
- Có người mình ạ...
Chàng thổi tắt phụt ngọn nến, họ thì thầm trong bóng tối:
- Anh có mang súng theo không?
- Súng để làm gì?
- Để đề phòng lỡ ra...
- Để chống cự lại ông chồng em ấy à...?
Và chàng cười khẩy, như muốn nói:‘‘Chồng em thì anh bóp mũi
cũng chết!’’ Nàng tỏ vẻ thán phục sự can đảm, gan dạ của người yêu, nhưng nàng
thấy những câu nói của chàng có một vẻ gì cộc cằn, thô lỗ làm cho nàng khó chịu.
Nhưng Bửu Quý suy nghĩ nhiều về câu chuyện cần phải dắt súng
theo để đối phó với Me Sừ Bô. Chàng thấy đó thật là một chuyện lố bịch, vì
chàng thấy mình không có thù hằn ghen tuông gìvới Bô cả. Đó chỉ là do ý muốn
quan trọng hóa mọi vấn đề của Ánh... Chàng còn thấy Ánh, trong thời gian sau
này, đã trở nên lãng mạn một cách quá đáng. Chàng phải luôn luôn moi móc tìm những
câu thề thốt thật là nặng lời và mới mẻ để làm vừa lòng nàng. Chàng phải cắt
tóc trao đổi với nàng. Nhiều khi nàng, kể cho chàng nghe những chuyện về cõi
thiên đường, nơi những người yêu nhau được sống đời đời mãi mãi bên nhau, về tiếng
thở than của những buổi chiều nàng cô đơ..v..v... Nàng hay nói chuyện về mẹ
nàng và mẹ chàng. Và mặc dầu bà mẹ của Bửu Quý đã thất lộc từ hai mươi năm nay,
nàng âu yếm vỗ về chàng như với một thằng bé con mới vừa mất mẹ. Nhưng để đền
bù lại những điều lẩm cẩm ấy, chàng thấy nàng xinh đẹp và dễ thương biết là chừng
nào. Mối tình của nàng không gợn bẩn một chút so đo tiền bạc nào. Sự ngây thơ của
Ánh trong dục tình làm cho nàng khác hẳn với những người đàn bà đã qua trong cuộc
tình ái của Bửu Quý. Nhưng vì biết chắc chắn là mình đã được, nên chàng không
còn cần giữ ý tứ gì nữa. Dần dần, cách cư xử của chàng thay đổi hẳn.
Chàng không còn những câu nói yêu thương, êm đềm làm cho nàng
rung động đến ứa nước mắt như trước nữa. Chàng cũng không còn dùng đến cái vuốt
ve, âu yếm làm nàng đê mê rạo rực đến điên người như hồi vừa mới yêu nhau, Ánh
cảm thấy mối tình của chàng, như một dòng sông trước thì chảy thật mạnh, nhưng
sau cứ cạn dần. Sau sáu tháng vụng trộm yêu nhau, họ có cảm giác như đi trở
thành bình thường trong sự liên lạc xác thịt của đôi vợ chồng.
Dịp đó đúng vào dịp Ông Năm Hòa gửi biếu chàng rể một cặp gà
theo lệ như mọi năm, kể từ ngày ông được Bô chữa cho khỏi cái chân gẫy. Năm ấy,
ông Năm Hòa gửi theo cặp gà một bức thư. Bóc tấm phong bì giấy vàng dầy cộp lấy
tờ thư ra. Ánh lẩm nhẩm đọc:
‘‘Kính gửi ông Đốc Bô’’
‘‘Tôi gửi thư này hỏi thăm hai người và cháu Quỳnh được mạnh
khỏe. Còn về phần tôi thì vẫn được bình an như thường. Duy có sức khỏe thì tôi
hơi kém một chút. Đêm nọ ở nhà quê lại có bão lớn, tôi bị cảm ho mất mấy ngày.
Hai nữa, từ ngày em Ánh đi lấy chồng thì nhà neo người, tôi vất vả nhiều hơn
trước. Mùa lúa năm nay cũng không được mỹ mãn gì cho lắm...
Đến đây, bức thư có một khoảng cách trong những hàng chữ thô
to của ông lão nhà quê, như là ông đã ngừng bút trong vài phút để mơ tưởng đến
hình ảnh của cô con gái. Đọc xong lá thư, Ánh mơ màng mất một hồi lâu. Một chút
tro than trắng xám, từ tờ giấy rơi ra nằm trên vạt áo của nàng. Ông Năm Hòa đã
lấy tro thấm cho khô mực, Ánh tưởng tượng như thấy ông già đang cúi lom khom
trên bếp lửa trong căn phòng cũ vắng tanh. Đã lâu quá rồi nàng không được gần
ông, Nàng nhớ lại những buổi chiều mùa hạ ngày xưa ở quê nhà khi có tiếng chim
non kêu chiêm chiếp ngoài vườn, và những buổi sáng mùa đông trời nắng hanh, tuyết
tan làm ướt những nền đá trắng trên bức tường trước cửa phòng nàng. Thời ấy,
nàng sống sung sướng biết chừng nào với bao nhiêu là hy vọng ở tương lai. Tại
sao đến bây giờ, trong hồn nàng, không còn một chút yêu đời nào cả? Nàng đã
tiêu phí tất cả mọi hy vọng trong những giai đoạn đã qua của đời nàng, nhất là
trong giai đoạn làm vợ, y như một người khách bộ hành đã tuần tự bỏ lại những
phần hành lý của mình trong những quán trọ rải rác trên con đường đời.
Nhưng có sự gì xẩy ra đã là nguyên do che nổi khổ tâm ấy của
nàng? Nàng có chồng có con đàng hoàng. Nào nàng có phải thiếu thốn gì đâu.
Ngoài vườn, có tiếng trẻ cười lanh lảnh. Nàng giật mình nhìn ra cửa sổ. Bé Quỳnh
đang đùa chạy trong vườn. Nàng chạy ra ôm ghì lấy con:
- Con của mẹ ơi! Con cưng của mẹ.
Tối hôm ấy, trong phiên gặp nhau như thường lệ dưới vườn, Bửu
Quý thấy Ánh có vẻ kiêu kỳ và lạnh nhạt khác với mọi khi. Chàng nhún vai, bỏ
qua, cho đó chỉ là một sự làm cao nhất thời của Ánh. Nhưng chàng không ngờ rằng
đó chính là lúc mà lương tâm nàng đang trỗi dậy. Nàng đang hối hận trước tội
ngoại tình của nàng.
III
Sau khi coi nhiều bài báo bàn về phương pháp chữa chân thọt
thành ra chân lành đi được đàng hoàng như người thường: một phương pháp mới
phát minh của các nhà khoa học ở Ba Lê và nhân danh là một chiến sĩ vẫn luôn
luôn nhiệt tâm chiến đấu cho sự tiến bộ của nhân loại, nhà bào chế Cả Bài hăng
hái tuyên truyền rằng muốn theo kịp đà tiến của các địa phương khác, quận Bình
Đô cũng phải có một vài cuộc thí nghiệm cho thật là tối tân. Chẳng hạn như cuộc
thí nghiệm cắt gân chân anh Tư Phèo để chữa cho anh này khỏi thọt và người làm
cuộc thí nghiệm không ai xứng đáng hơn là ông y sĩ Trần văn Bô. Trong nửa tháng
trời liền, gặp bà Bô đâu, Cả Bài cũng mở cuộc vận động:
- Thưa bà, nào mình có thiệt hại gì đâu ạ? Bà thử tính xem -
Lão dơ ngón tay ra đếm những sự lợi hại – thành công thì gần như là cầm chắc
trong tay, người có tật sẽ đỡ đau khổ sẽ được nhắc nhở đến khắp mọi nơi. Tại
sao ông nhà lại không có thể làm một cuộc thí nghiệm chữa cho anh Tư Phèo ở nhà
bà Ba Bủng khỏi cái chân thọt của ảnh? Ảnh sẽ là một nhân viên tuyên truyền quảng
cáo rất ăn khách cho ông nhà. Với lại - nói đến đây, Cả Bài hạ thấp giọng ra vẻ
bí mật - ai cấm tôi viết một bài ca tụng ông nhà để đăng lên báo Ngọn Cở Rouen.
Báo chí đăng ra, người ta sẽ nói nhiều tới. Danh vọng kém gì ai? Kém gì ai?
Thật ra, Ánh thì tưởng rằng làm một cuộc thí nghiệm như thế
chồng nàng rất có thể thành công. Chàng tỏ ra khá thạo về khoa mồ xẻ... Nếu
chàng thành công, nàng sẽ được một mối khích lệ lớn lao là đã giúp chồng hoàn
thành một việc trọng đại có lợi cho danh vọng và công cuộc làm ăn mai hậu của
chàng. Nàng đang cần chồng nàng làm một hành động gì siêu việt, hơn người để có
thể nhờ đó mà giữ được lòng chung thủy với chồng,
Ông Đốc Bô, được bà vợ khuyến khích và nhà bào chế tuyên truyền,
đã xiêu lòng nhận lời mở cuộc thí nghiệm. Chàng gửi mua từ Rouen về một cuốn
sách của giáo sư Duval dạy về ‘‘Phương pháp cắt gân chữa người chân thọt’’, rồi
mỗi buổi tối, sau giờ ăn, trước khi đi ngủ, chàng chịu khó ngồi nghiên cứu từng
trang.
Trong lúc đó thì Cả Bài cũng vất vả không kém, lão phải qua
nhà hàng Sư Tử Vàng để thuyết phục anh Tư Phèo:
- Anh không thấy đau đớn gì hết. Tôi cam đoan với anh là
không có sự gì đau đớn hết. Chỉ nhói một cái là xong...
Tư Phèo há hốc mồm ra nghe. Đôi mắt ốc nhồi của anh ta mở ra
trắng dã. Cả Bài nhún vai làm ra vẻ lạnh nhạt:
- Ồ... mà tôi có ăn thua gì đâu mà tôi phải nói như cầu anh
nhỉ? việc này là vì anh, chỉ có lợi cho mình anh mà thôi. Tôi mất công giải
thích cho anh đây chỉ vì lòng nhân đạo. Tôi muốn thấy anh khỏi khổ sở, khỏi đi
cà nhắc mà thôi. Anh hiểu không?
Cả Bài xoay qua diễn tả những cảm giác nhẹ nhàng, sung sướng
của một người lành lặn ra để mê hoặc Tư Phèo. Lão tủm tỉm khôi hài rằng nếu Tư
Phèo mà lành lặn chắc là anh được đàn bà, con gái ưa lắm, vì anh đã có duyên sẵn.
Nghe đến đoạn này, Tư Phèo khoái trí nhe răng ra cười một cách ngây ngô. Rồi Cả
Bài lại đánh mạnh vào lòng tự ái của anh thọt:
- Mày có xứng đáng là một thằng đàn ông không chứ? Sao mà
nhút nhát quá thế? Nếu mày có vinh dự được gọi ra đầu quân chiến đấu vì Tổ quốc
thì mầy tính sao? Hả..?
Rồi lão chán nản quay đi, tuyên bố rằng lão đã chán ngấy vì sự
ngu si đần độn của Tư Phèo, một kẻ dại dột nhất định không chịu hưởng những lợi
ích của khoa học.
Nhưng rồi sau cùng, Tư Phèo cũng phải nhận lời. Vì cả Quận
Bình Đô, từ Xếp Phan là người ít nói không xen vào chuyện riêng của ai bao giờ,
đến bà Ba Bủng, bà Văn Thình, và cả ông Quận Trưởng Văn Thình nữa, cũng đều muốn
anh để cho ông Đốc Bô cắt gân. Mỗi lần anh thò mặt ra khỏi căn gác xép ở trên
chuồng ngựa sau nhà hàng Sư Tử Vàng là anh bị người ta xúm lại sỉ vả, lên lớp,
giảng dạy.. v.v...
Nhưng điều chính yếu làm cho anh nhận lời là điều trong vụ
này anh không phải ‘‘tốn kém một đồng xu nào cả’’. Tất cả mọi thứ chi phí
về thuốc men, về máy móc để chữa chân cho anh đều do bà Bô nhận đài thọ hết.
Sau khi đã nghiên cứu về các bộ phận của đủ các kiểu chân thọt
rồi, ông Bô đặt làm một cái ống bịt chân bằng gỗ nặng đến mười ký lô, với đủ cả
đai sắt lẫn đanh vít. Cái ống đó có nhiệm vụ giữ chặt lấy cái chân thọt của anh
Tư Phèo trong mười lăm ngày, thời gian anh bắt buộc phải nằm yên sau khi cắt
gân.
Ngày thí nghiệm long trọng đã đến. Đám đông dân tò mò vô
công, rồi nghề xúm xít trước cửa nhà hàng Sư Tử Vàng bỗng rạt cả ra, nhường chỗ
cho Nhà Bào Chế Trịnh văn Bài và y sĩ Trần Văn Bô bước vào nhà. Anh Tư được đặt
nằm trên một chiếc ghế dài. Bên cạnh anh là một chiếc bàn con để chật những cồn,
thuốc tím, bông gòn.. v.v... cảnh này đã được Cả Bài bầy ra với mục đích làm
lác mắt dân trong quận.
Ông Đốc Bô cầm lưỡi dao đến gần bệnh nhân, một tiếng động nhỏ
vang lên, sợi gân đã đứt. Cuộc giải phẫu thế là xong. Người ngạc nhiên nhất là
anh Tư Phèo, Anh níu áo ông Đốc Bô lại đễ tạ ơn nhưng anh hổn hển nói không ra
tiếng. Cả Bài vỗ nhẹ lên ngực anh:
- Thôi thôi- nằm yên nào. Bao giờ anh chạy được, anh nhẩy
được như người thường, anh đến cám ơn ân nhân anh cũng chưa muộn cơ mà.
Cái ống bịt chân vĩ đại bằng gỗ được bê lên đặt ôm lấy chân
anh Tư Phèo. Sau khi vặn đanh ốc lại cho chặt chẽ đàng hoàng, hai nhà khoa học
lặng lẽ ra về. Cả Bài còn bận đứng dưới đường tường thuật lại cuộc giải phẫu thần
diệu ấy với dân chúng, còn ông Đốc Bô thì xách hộp đồ nghề đi thẳng về nhà. Ánh
đứng chờ chồng bên cửa, Nàng bá lấy cổ chàng ôm hôn. Bữa ăn tối của họ hôm ấy
thật là êm đềm vui vẻ. Hai vợ chồng bàn về chuyện tương lai, Bô có cảm giác như
danh tiếng của chàng sắp sửa lẫy lừng mấy tỉnh, gia đình chàng sẽ sung túc hơn,
cô vợ trẻ của chàng vẫn yêu đương, chung thủy với chàng mãi mãi. Ánh cũng cảm
thấy sung sướng khác thường. Thỉnh thoang nàng cũng thoáng nhớ tới Bửu Quý. Những
lúc ấy, nàng vội đưa mắt nhìn chồng và ngạc nhiên mà nhận thấy chàng không còn
những vẻ thô lỗ, vô duyên như mội khi.
Hai vợ chồng đã vào giường ngủ lại phải trở dậy vì Cả Bài
sang chơi. Lão này cầm một tờ giấy vừa mới viết xong. Đó là bài báo tường thuật
cuộc giải phẫu mới thực hiện do chính Phóng Viên Cả Bài vừa viết xong và đem
qua khoe. Ông Bô bảo:
- Ông thử đọc coi nào.
Cả Bài sửa lại giọng rồi long trọng đọc:
- Mặc dầu một bầu không khí nghi kỵ, thù ghét vẫn bao trùm
lên khắp Âu Châu, ánh sáng của khoa học đã mạnh mẽ soi rọi vào tận những miền đồng
quê Pháp Quốc. Ngày thứ ba vừa qua, Quận Lỵ Bình Đô đã là nơi xẩy ra một cuộc
thí nghiệm về khoa học với những kết quả rất mỹ mãn. Bác Sĩ Trần Văn Bô, một
nhân vật tên tuổi...
Bô đỏ bừng mặt vì cảm động, chàng kêu lên:
- Chết... chết... ông viết quá lắm…
- Không ạ... có gì đâu. Lời văn như vậy là nhũn lắm. Để tôi
xin đọc nốt cho ông bà nghe... Bác sĩ Trần văn Bô, một nhân vật nổi danh trong
giới y khoa, đã thực hiện một cuộc giải phẫu hiếm có, bác sĩ đã cắt gân chữa
chân thọt cho một thanh niên trong vùng tên là Bùi văn Phèo, làm công trong
khách sạn Sư Tử Vàng.Cuộc giải phẫu đã được thực hiện đúng theo dự định. Điều đáng
ca ngợi nhất là bệnh nhân tỏ ra không đau đớn gì hết, và đang bình phục chóng
vánh. Chúng tôi sẽ theo rõi vụ này để cống hiến bạn đọc những tin tức mới lạ...
Nhưng mặc dầu những lời ca tụng hùng hồn như vậy, chỉ năm hôm
sau bà Ba Bủng cũng hốt hoảng chạy qua nhà ông Đốc Bô mà kêu ầm lên:
- Ông ơi, thằng Tư nó sắp chết... Tôi sợ quá...
Bô chạy vội qua quán Sư Tử Vàng, lão Cả Bài đang đứng phất
phơ trước cửa tiệm trông thấy thế cũng tất tả chạy sang theo. Lão tỏ vẻ lo sợ,
mặt mũi tái xanh, tái xám cả lại, lão lắp bắp hỏi bà Ba Bủng:
- Làm sao thế? Làm sao...? Người bệnh tên tuổi của chúng ta
làm sao vậy.
‘‘ Người bệnh tên tuổi’’ đó đang vật mình đùng đùng trên chiếc
giường gỗ. Tư Phèo kêu đau nhức trong xương chân không thể nào chịu nổi. Lão cả
Bài đè hắn nằm yên cho ông Đốc Bô mở cái hộp ép chân ra. Than ôi... cái chân thọt
của Tư Phèo đã biến thành một khúc thịt bầy nhầy, kinh tởm. Tư Phèo đã kêu bị
ngứa ngáy từ lâu, nhưng không ai thèm để ý tới lời hắn cả.
Sau khi để cho khúc chân thọt xả hơi một lát, hai nhà khoa học
tức là lão Cả Bài và Me Sừ Bô lại quyết định đóng bộ máy ép vào chân Tư Phèo.
Ba hôm sau, hai vị đó lại đến mở ra và hơi ngạc nhiên khi thấy kết quả: những vết
thương càng sâu thêm đã có mùi thum thủm và chảy ra một chất nước đen sì. Tư
Phèo rên la cả ngày lẫn đêm. Hai ngày sau nữa ‘‘người bệnh tên tuổi’’ đó đã có
những vết lở ăn lên đến tận bụng. Bà Ba Bủng là người rầu rĩ hơn ai hết. Một buổi
tối, bà đánh liều thưa chuyện với ông Đốc Bô là để xin phép ông cho bà mời ông
bác sĩ Quyền ở Rouen tới xem cho Tư Phèo. Bô khẽ gật đầu và lủi thủi ra về.
Bác sĩ y khoa có cấp bằng thật sự, ông Đốc Quyền là một ông
già tráng kiện chừng năm mươi tuổi. Ông cầm cương xe ngựa từ Rouen đến Bình Đô
và không ngần ngại gì mà cười mũi một cách kiêu ngạo, rồi tuyên bố ngay boong
là cần phải cưa chân ngay mới cứu được Tư Phèo. Ngoài ra không còn chữa chạy gì
được nữa.
Nói xong, ông đi thẳng đến tiệm bán thuốc tây của lão Cả Bài,
để nắm ngực áo lão này lại mà lớn tiếng sỉ vả những tên ngu si dốt nát ở nhà
quê, dám liều mạng sống của người ta để làm những chuyện mà thật tình, chúng
không biết mô tê gì hết. Cả Bài đứng thộn mặt ra mà nghe. Lòng tự ái của lão bị
tổn thương rất nặng, nhưng vì lỗi đìa ra, hai nữa, lão lại sợ ông Đốc Quyền sẵn,
nên lão đành nuốt hận nín khe không dám hở môi ra cãi nửa lời.
Sáng hôm sau, ông Đốc Quyền từ Rouen trở lại Bình Đô trên chiếc
xe ngựa sơn đen, đem theo một cái hộp bọc nỉ đỏ khá dài. Dân Bình Đô kéo nhau
ra đứng hết trên vỉa hè chờ xe ông Đốc Quyền đi qua, như là đứng chờ một chiếc
xe tang. Lão Cả Bài đã chờ sẵn trước cửa nhà hàng Sư Tử Vàng. Xe vừa đỗ lại,
lão lấy làm hân hạnh được ôm cái hộp đồ nghề của ông Đốc Quyền để đi theo ông
này vào nhà.
Trong lúc đó, Me sừ Bô ngồi mịt ở trong nhà không dám thò mặt
ra đến cửa sổ. Chàng ngồi ôm đầu ủ rũ trong chiếc ghế bành đặt bên lò sưởi lạnh
ngắt. Xui xẻo biết chừng nào? Chàng thở dài và nghĩ thầm một cách não nuột.
Chàng đã đề phòng đủ mọi cách...nhưng than ôi, thật là số mệnh. Người ta sẽ chê
cười, chế nhạo chàng. Không còn ai dám đến cho chàng điều trị nữa. Có thể Tư
Phèo sẽ kiện chàng. Có thể các y sĩ khác sẽ viết bài đăng báo công kích mạt sát
chàng. Biết trả lời làm sao..?..v.v...
Ánh ngồi trước mặt chồng, nàng chán nản nhìn con người vô
tích sự ấy và ngán ngẩm nghĩ rằng nàng đã lầm khi tin tưởng rằng hắn ta sẽ làm
được một chuyện ra hồn đáng kể. Anh chàng vô dụng ấy đâu có xứng đáng để cho
nàng yêu, để cho nàng hy sinh vì hắn..?
Trong cái bầu không khí yên lặng nặng nề bao trùm lên quận lỵ
nhỏ của buổi sáng nắng hanh vàng hôm ấy bỗng một tiếng hét thê thảm vang lên.
Bô giật nẩy mình, mặt chàng xám ngắt lại như người sắp ngất đi. Hai vợ chồng Bô
trừng mắt nhìn nhau, Ánh vội bỏ chạy xuống vườn. Nàng đóng sập cửa lại, chiếc
hàn thử biểu treo trên tường rớt xuống đất vỡ tan ra.
Tối hôm ấy khi Bửu Quý tới trong vườn đêm đầy bóng tối, chàng
đã thấy Ánh đứng chờ chàng dưới vòm cây. Họ ôm ghì lấy nhau và bao nhiêu nỗi giận
hờn của họ đã tiêu tan trong cái hôn say đắm đầu tiên, như một khối tuyết lạnh
chảy tan giữa sức nóng của hai mặt trời chụm lại.
IV
Hai người trở lại yêu nhau. Đôi khi giữa ban ngày, Ánh thấy cần
phải viết thư cho người yêu. Thư viết xong nàng ra hiệu cho thằng Chút bên cửa
hàng lão Cả Bài. Anh bé con mới nhớn này bỏ việc chạy sang liền để nhận thơ của
bà Bô đem vào ấp Hồng Hoa. Anh Chút đã trở thành con chim xanh của bà Bô vậy.
Thầy Bửu Quý vội ra Bình Đô, để nghe bà Bô than thở rằng bà chán đời, rằng chồng
bà làm bà chán ngấy và sống thế này thì chết mất.
Một hôm, chàng sốt ruột quá đến nỗi phải kêu lên:
- Em chán chồng em thì anh làm được gì chứ?
- A... nếu anh muốn,..
Nàng nói lửng lơ như vậy với một vẻ mặt mơ màng. Chàng thắc mắc
hỏi lại:
- Nếu anh muốn thì sao...?
Nàng thở dài:
- Thì chúng ta sẽ đưa nhau đi ở một nơi nào khác..,
- Em điên rồi... Anh với em trốn đi thế nào được!
Nhưng ý nghĩ đưa nhau đi trốn đó vẫn ám ảnh tâm trí Ánh. Nàng
gợi chuyện nhắc lại ý định ấy nhiều lần, nhưng Bửu Quý gạt đi. Chàng không muốn
đụng chạm lôi thôi đến cái vấn đề nguy hiểm ấy.
Ánh không cần gìn giữ nữa, nàng chi tiêu phung phí như một bà
hoàng. Nàng đến tiệm Tấn Phát mua một chiếc tầu thuốc lá bằng sừng và một chiếc
can bằng gỗ mun để tặng cho người yêu. Số tiền này, lẽ cố nhiên là ông Đốc Bô
phải è cổ ra trả. Bô còn phải trả cả tiền mua một cái chân gỗ đánh vẹc ni bóng
loáng, có lò xo êm và một chiếc giầy tây đàng hoàng, để tặng cho Tư Phèo. Việc
mua chân tặng này là do Ánh đề nghị. Nhưng anh Tư Phèo thấy cái chân gỗ đẹp
quá, đi vào để làm những việc vặt hàng ngày thì phí đi, anh vật nài xin với bà
Bô mua cho anh một cái chân khác, tầm thường hơn, để anh đi làm. Cái chân sau
này cũng do ông Bô trả tiền. Anh Tư lại chạy đây đó trong quận như trước, nhưng
lần này bước anh đi có thêm tiếng lộc cộc của cái cộc chân gỗ.Mỗi lần ông Đốc
Bô nghe thấy tiếng lộc cộc này đến gần là ông lại vội vàng quay sang phố khác.
Ngoài chiếc tẩu thuốc lá và chiếc can gỗ mun, thầy Bửu Quý
còn nhận được nhiều tặng phẩm nữa như khăn mùi soa, cà vạt.. v.v... Thầy từ chối
thì bà Bô không bằng lòng. Thầy thấy hồi này bà ta thường có những ý tưởng kỳ cục,
chẳng hạn như bà bảo:
- Đúng mười hai giờ đêm nay, khi chuông đồng hồ gõ mười hai
tiếng, em sẽ nghĩ đến anh, và anh sẽ phải nghĩ đến em...
Nếu thầy tuyên bố là đến lúc đó, thầy đã ngủ rồi hoặc quên
khuấy đi mất, thì nàng sẽ trách móc, sẽ khóc thút thít. Thầy sẽ phải dỗ dành, vỗ
về làm lành. Và cuộc giận hờn sẽ kết liễu bằng những câu muôn thuở:
- Anh có yêu em không?
- Anh yêu em...
- Anh yêu em nhất chứ?
- Anh yêu em nhất...
- Anh yêu em mãi mãi nhé... Đừng bao giờ bỏ em anh nhé...!
- Anh yêu em mãi mãi... không bao giờ anh bỏ em...!
Những lần trò chuyện có vẻ bi thảm như thế, lần nào Ánh cũng
khóc. Bửu Quý lại phải vỗ về, an ủi nàng. Đôi khi nàng nức nở:
- Em ghen anh ạ. Em ghen bởi vì em yêu anh quá. Lúc nào em
cũng muốn được gần anh, để giữ anh là của em mãi mãi. Những lúc xa nhau, em cứ
tưởng tượng rằng anh đang ở bên một người đàn bà nào khác, anh cười nói với người
khác, em lại điên lên. Nhưng... đó chỉ là những điều em tưởng tượng thôi có phải
không anh? Vì em yêu anh nhất; cả tâm hồn lẫn thể xác em đều thuộc về anh.
Ngoài em ra, không còn ai có thể yêu anh hơn được nữa.
Bửu Quý đã nghe quá nhiều những lời ‘‘tả oán’’ yêu đương ấy rồi,
đối với chàng, đó là những lời mè nheo không hơn không kém. Với những lời mè
nheo đó, Ánh đã bị chàng xếp vào loại những cô tình nhân cũ của chàng. Những
nét thanh tú, kín đáo của mối tình đã mất đi, đã rơi rụng như những làn vải
ngoài, để mối tình trở thành trần trụi, với những lời lẽ và những sự khát vọng
xác thịt giống y như nhau. Bởi vì chàng, được nghe quá nhiều làn môi dâm dục và
kiếm tiền nỉ non những lời ‘‘thề non, hẹn biển’’ấy, cho nên chàng không còn có
thể rung động.
Lối sống của Ánh cũng đổi thay với mối tình tội lỗi của
nàng. Đôi mắt của nàng trở nên dâm đãng và sắc hơn. Lời ăn tiếng nói của nàng
thành ra tự do quá trớn hơn khinh thường đời. Nàng liều đến nỗi dám cặp tay đi
chơi với Bửu Quý bên dòng sông, có khi lại vừa đi vừa hút thuốc lá, như là để
khiêu khích dân chúng Bình Đô. Dân trong quận không còn ai nghi ngờ gì về mối tình
vụng trộm giữa bà Bô và thầy Bửu Quý.
Bà Quản Bành, sau một trận cãi lộn với ông Quản lại theo lệ
cũ, đến ở với ông con trai ít lâu. Nhưng lần này có nhiều chuyện làm cho bà cụ
phiền lòng và bất mãn. Trước hết bà ức vì Bô không chịu nghe lời bà: chàng vẫn
để cô vợ tự do đọc tiểu thuyết tình như cũ. Rồi bà phê bình đến cách cô con dâu
trông nom nhà cửa. Một buổi tối bà gặp con Nhài đang rì rầm trò chuyện với một
gã đàn ông lạ mặt trong bếp. Thấy bà, gã nọ lỉnh ra vỉa hè mất. Trong bửa ăn,
bà Quản đem chuyện này ra nói... Trong lúc Bô còn đang thộn mặt ra chưa biết
nói năng làm sao thì Ánh đã phá lên
cười... Bà Quản xám mặt lại vì chuỗi cười ngạo mạn và vô lễ của
cô con dâu.. Bà giận điên lên, bà bậm môi ngồi yên một lúc rồi tuyên bố rằng: nếu
người ta có tính đĩ thõa thì ít ra người ta cũng giữ cái đĩ thõa ấy lại cho một
mình mình, đừng để bọn đầy tớ bắt chước. Ánh quắc mắt đứng phắt dậy:
- Bà nói ai..?
- Con nhà ai mất dạy...
Bô vội vã đứng dậy van xin cả hai người. Bữa ăn bị bỏ dở, cô
con dâu về phòng cô con dâu, bà mẹ chồng về phòng mẹ chồng. Vào phòng vợ, Bô thấy
nàng nghiến răng, dậm chân:
- Trời ơi người gì mà ngu độn, mà lắm điều đến thế chứ..?
Chàng chạy sang phòng mẹ, bà Quản đang thu xếp hành lý ra về:
- Tại mày đội vợ mầy lên đầu cho nên nó mới dám khinh bỉ cả mẹ
mày.
Bà ra đi ngay, nếu cô con dâu không chịu xin lỗi.
Bô trở lại phòng vợ, chàng van xin nàng nhượng bộ. Chỉ còn
thiếu có nước quì xuống lậy sống nàng- Sau cùng Ánh chấp thuận:
- Được rồi, nhưng tôi nói trước cho anh biết: lần nầy là lần
cuối cùng.
Rồi, với cái dáng điệu cao sang của một nàng công chúa lúc bước
lên đoạn đầu đài, nàng nghiêng đầu trước mặt bà Quản Bành:
- Thưa bà, xin bà tha lỗi.
Trở lên phòng, nàng úp mặt xuống gối, khóc như mưa như gió.
Sáng hôm sau, khi gặp được tình nhân, nàng vẫn dư rất nhiều nước mắt để khóc nức
nở với chàng. Bửu Quý vỗ về nàng:
- Em nên đề phòng. Chắc bả biết,..
- Em không cần. Em còn cần cho họ biết nữa... Đã bốn năm nay
em chịu đựng họ rồi. Em không còn sức chịu đựng hơn được nữa. Em chết mất...
Nàng ôm chặt lấy chàng. Mắt nàng đẫm lệ, ngực nàng rung lên
thổn thức. Chưa bao giờ Bửu Quý cảm thấy yêu thương nàng đến thế. Tâm trí chàng
cũng bấn loạn lên:
- Bây giờ phải làm sao...? Em muốn gì... Anh chiều em...
- Anh mang em đi...! Trời ơi, anh mang em đi, em van anh...
Nàng vội vã hôn chàng, như để đón lấy sự nhận lời của người
yêu trong cái hôn nồng cháy ấy. Một lát sau, chàng mới có dịp nói tiếp:
- Nhưng… còn con em...?
- Ta mang nó theo, cần gì!
Những ngày sau đó Ánh đổi hẳn tính nết. Bà Quản là người ngạc
nhiên nhất khi thấy cô con dâu đột nhiên trở lại lễ phép ngọt ngào và vâng lời.
Như một con bướm thu cánh lại trước khi bay bỗng ra ngoài trời rộng. Ánh can đảm
thu mình sống trong cái gia đình mà nàng ghét bỏ ấy trong một thời gian, miễn
là nàng được ra đi với người tình. Trước mắt nàng, chỉ còn có ngày trốn ra đi
chung sống với nhau mới là quan trọng.
Thời gian chờ đợi đó cũng là thời gian mà nhan sắc của Ánh
tươi đẹp lộng lẫy, quyến rũ hơn bao giờ hết. Đôi mắt trong đen của nàng sáng
long lanh hơn, má nàng đỏ hồng, làn môi nàng mộng như căng đầy mật ngọt. Da thịt
nàng mơn mởm xuân tình. Giọng nói của nàng trở nên êm đềm, huyền bí và tình tứ
hơn, Nhiều đêm đi chữa bệnh khuya về, Bô thấy vợ đã ngủ say, mái tóc đen huyền
của nàng xõa tung trên mặt gối, bộ ngực đầy đặn trắng ngần phập phồng lên xuống
theo nhịp thở êm đềm và làn môi hồng của nàng như chúm chím nở một nụ cười
trong giấc mơ, chàng cảm thấy hạnh phúc tuyệt vời. Chàng khe khẽ ngả lưng nằm
xuống bên vợ, không dám cả cựa mạnh sợ làm kinh động giấc ngủ của nàng. Rồi
chàng nằm mơ màng xây dựng tương lai. Bé Quỳnh đã nhớn... Nó sắp có thể đi học.
Chàng tưởng tượng ra lúc Bé Quỳnh đi học về, mấy ngón tay xinh lem đầy mực. Có
cả vết mực trên đôi má bầu bĩnh của cô học trò tí hon. Rồi sau đó, chàng phải
cho nó về tỉnh trọ học. Tổn phí sẽ mỗi ngày một tăng với số tuổi của Bé Quỳnh.
Chàng đặt một kế hoạch, Chàng sẽ tìm mướn một cái trại nhỏ trong vùng, vừa trồng
rau, trồng cây ăn trái và nuôi súc vật. Chàng sẽ tự lực trông nom trang trại mỗi
buổi sáng trước khi thăm bệnh. Chàng sẽ cố sức để dành tiền, để cho Bé Quỳnh có
thể có đủ phương tiện theo học đến nơi, đến chốn như một cô tiểu thư con nhà
khuê các. Chà… mười hai, mười ba năm nữa, nó sẽ xinh biết là chừng nào? Chắc nó
sẽ giống mẹ nó lắm. Mùa hè, cô con gái cũng mặc áo hoa mỏng, đội nón cói trắng
như bà mẹ. Hai mẹ con đi chơi trong cánh đồng đầy hoa nở, người ta sẽ tưởng là
hai chị em, Khi nó đến tuổi lấy chồng, chàng sẽ để ý kén chọn một chàng rể thật
thà, cần cù, biết yêu thương vợ..v..v..
Trong lúc đó, thật ra Ánh vẫn còn thức. Nàng chỉ giả vờ say
ngủ để khỏi phải trò chuyện với chồng. Khi nằm bên nàng, chàng thiu thiu ngủ đi
thì nàng âm thầm tỉnh dậy với những giấc mơ hoan lạc khác.
Nàng mơ với những móng ngựa phi rồn rập, nẩy lửa trên con đường
thiên lý trắng xóa dưới ánh trăng đêm, nàng nép bên người tình đi tới những
chân trời mới huy hoàng, nơi mà nàng sẽ sống mãi mãi, không bao giờ trở về.
Chàng sẽ đưa nàng đi..đi đi mãi. Đôi khi, ngựa dừng chân một đỉnh núi cao, nàng
sẽ đột nhiên thấy hiện ra dưới mắt nàng một kinh thành xa lạ nào đó, với những
lâu đài bằng đá trắng, những cây cầu sắt dài, những chiếc tàu biển nhả khói nằm
trong hải cảng, và những con đường hoa lá tưng bừng. Nàng như nghe thấy bên tai
vang vang tiếng chuông nhà thờ, với tiếng ngựa hí, tiếng suối nước reo róc
rách, và tiếng đàn trầm... Cho đến một buổi chiều vàng, chàng đưa nàng đến một
thôn xóm nên thơ nằm trên bờ biển vắng. Có những tấm lưới nâu căng trên bãi
cát, giữa những thân phi lao reo xào xạc trong gió hoàng hôn. Họ sẽ ở lại đấy để
sống, Nàng sẽ có một căn nhà gỗ thông nằm dưới rặng dừa, phòng nàng có một
khung cửa sổ nhìn ra ghềnh đá trắng, Cuộc đời của họ sẽ mênh mang như biển rộng,
trời cao, sẽ đầm ấm và đầy trăng sao như những đêm mùa hè trong cổ tích. Đến
lúc trời gần sáng, Ánh mới chợp mắt ngủ đi, trong tiếng ngáy đều của chồng.
Nàng đến gặp lão Tấn Phát và căn dặn:
- Tôi cần một chiếc áo choàng ngoài, Áo hai mặt bằng nỉ
nâu và đen. Rộng một chút…
Lão Tấn Phát ghi vội món ‘‘còm măng’’ của bà Bô lên cuốn
sổ dầy:
- Bẫm bà, bà sắp đi du lịch…?
- Không...! Tôi không đi đâu hết, nhưng tôi cần có áo ngay lập
tức. Ông phải hứa...
Sau cái cúi đầu thông cảm của lão tạp hóa, Ánh lại tiếp:
- Tôi còn cần thêm một chiếc rương, bằng sắt nhưng dễ mang, đừng
nặng lắm... Với một chiếc sắc da mềm.
Lão Tấn Phát nghĩ thầm:
- Chắc sắp có chuyện gây cấn xảy ra đây.
Bà Bô móc túi đưa ra một chiếc đồng hồ vàng. Lão Tấn Phát kêu
ầm lên, tiền nong... Nếu bà Bô chưa có sẵn, xin cứ để mặc lão lo liệu. Sau
cùng, lão cũng đành cầm chiếc dây vàng bỏ vội vào túi.
- Mọi thứ ông cứ để sẵn ở đây. Cả cái áo nữa. Lúc nào cần,
tôi sẽ đến lấy...
- Bẩm vâng.
Họ đã định ngày trốn đi vào đầu tháng sau. Nàng sẽ lên xe đi
về Rouen, như là người về tình mua sắm vài thứ vật dụng đầu tháng, Bửu Quý sẽ
chờ nàng ở khách sạn Đồng Lợi. Chàng mua vé xe sẵn để đi Ba Lê liền lập tức.
Nàng sẽ được ở lại Ba Lê bảy hôm, rồi tiếp tục lên đường đi Mạc Xây. Hành lý của
nàng, từ cửa tiệm của lão Tấn Phát sẽ được gửi thẳng tới khách sạn Đồng Lợi. Từ
đó trở đi người ta sẽ mất dấu nàng. Trong tất cả mọi sự sắp đặt ấy cả chàng và
nàng đều không đả động đến bé Quỳnh. Chàng hy vọng rằng nàng đã quên đứa con.
Đến cuối tháng, chàng yêu cầu hoãn lại mười lărn ngày nữa để
đủ thì giờ thanh toán cho xong vài chuyện. Mười ngày sau chàng yêu cầu nửa
tháng nữa. Rồi chàng kêu ốm. Cả tháng Tám chậm chạp trôi qua trong sự đợi chờ.
Rồi sau cùng cả chàrg và nàng cùng thỏa thuận rằng ngày cuối cùng phải ra đi là
ngày mùng bảy tháng Chín. Ngày đó là ngày chủ nhật.
Rồi sau cùng, ngày nhất quyết lên đường đã đến.
Tối hôm trước, Bửu Quý đến gặp người yêu sớm hơn thường lệ.
Nàng âu yếm hỏi chàng:
- Sẵn sàng cả rồi chứ mình?
- Sẵn sàng.
Hai người yên lặng đi bên nhau dưới những vòm cây thưa. Họ đến
ngồi trên một phiến đá ven bờ sông. Bửu Quý cúi nhìn dòng nước chảy.
- Sao anh buồn thế?
- Không! Tại sao anh lại buồn chứ?
- Có phải anh buồn vì phải rời bỏ nơi này không? Em hiểu anh
lắm, nhưng anh đừng buồn anh ạ. Vì có em ở bên anh, em sẽ mãi mãi yêu anh. Em sẽ
đền bù cho anh tất cả.
Chàng cảm động kéo sát nàng vào lòng:
- Em yêu của anh, không bao giờ anh quên được những lời em mới
nói...
Mặt trăng tròn vành vạch vừa lên cao trên nền trời, gió bắt đầu
thổi rì rào trong hoa lá. Có tiếng chuông đồng hồ ngân nga điểm mười hai tiếng,
vẳng đến tận chỗ hai người. Chàng đưa nàng về gần đến cửa. Nàng thì thầm:
- Sáng mai mình nhé...
- Ừ! sáng mai...
V
Nhưng cái ‘‘ngày mai’’ mong đợi ấy của Ánh không bao giờ đến
với nàng. Vì sau khi đứng chờ cho tà áo trắng của nàng biến mất như một bóng ma
trong đêm tối, Bửu Quý bỗng cảm thấy choáng voáng đến nỗi chàng phải vịn vào gốc
cây cho khỏi ngã. Chàng chửi thề rồi lẩm bẩm trong miệng:
- Mình điên quá đi mất. Tại sao mình lại hứa trốn đi kìa? Việc
gì mà phải trốn đi đâu? Lại thêm đèo bồng một đứa con gái nữa?
Bửu Quý lủi thủi đi về. Rồi như tức giận ai điều gì, chàng cầm
cây gậy tre đập lung tung vào những cây hoa dại bên đường.
Về đến nhà Bửu Quý đi thẳng lại bàn viết ngồi. Chàng định tâm
viết ngay cho Ánh một lá thư đoạn tuyệt, nhưng vừa cầm đến bút chàng lại buông
bút xuống bàn suy nghĩ một hồi. Đầu óc chàng trống trơn, không có cả một lời êm
dịu để mở đầu một bức thư tình.
Hình ảnh của Ánh đột nhiên mờ đi, như chìm sâu trong dĩ vãng.
Để nhớ lại nàng, chàng mở một ngăn kéo lấy ra chiếc hộp gỗ nhỏ đựng những thư từ
kỷ niệm của chàng. Trước hết, chàng thấy một chiếc khăn mùi soa của nàng. Chiếc
khăn mùi soa ấy, trong thời gian mới yêu nhau, một hôm đi ngựa vào rừng, nàng
đã đánh rớt xuống cỏ. Rồi một bức ảnh nhỏ của Ánh. Chàng thấy cái vẻ mơ mộng của
nàng trong ảnh thật là nhà quê và buồn cười. Sau đó, chàng đọc lại những bức
thư tình của nàng. Và dần dần, chàng đọc cả đến những bức thư tình của những cô
con gái khác, những người mà chàng đã yêu đã thương trước Ánh.
Có những bức thư dài thượt, có những bức thư cộc lốc, khô
khan, có những bức thư dịu dàng, tha thiết, chan chứa yêu đương,và cũng có những
bức thư ngớ ngẩn, vẩn vơ nhạt như nước lã. Chợt Bửu Quý vứt toạch nắm thư lộn xộn
ấy vào trong hộp:
- Toàn đồ ấm ớ cả, chẳng ra cái thể thống mẹ gì hết.
Câu nói đó biểu lộ tất cả quan niệm của chàng về các cô nhân
tình, chàng hăm hở cầm bút viết:
‘‘Em yêu dấu của anh. Em hãy can đảm lên! Hãy can đảm mà sống
em ạ. Vì anh yêu em anh không muốn làm cho đời em đau khổ!’’.
Dòng chữ đầu đã viết trôi rồi Bửu Quý đọc lại và lấy làm đắc
ý, Chàng tắc lưỡi nhủ
Thầm:
- Thật ra thì mình còn lương thiện lắm. Mình không muốn làm
cho em đau khổ thật tình.
Và chàng hoa bút viết tiếp:
‘‘Em có suy nghĩ một chút nào về quyết định thoát ly của em
chưa? Có một phút nào em nghĩ rằng với quyết định ấy anh sẽ có thể đưa em xuống
vực thẳm? Đưa em đến những cảnh đau khổ nhất của cuộc đời? Chắc chẳng bao giờ
em ngờ như vậy phải không em? Em yêu của anh, em ngây thơ và trong trắng quá’’.
Đến đây Bửu Quý lại ngừng bút để tìm một lý do:
- Hay là bảo với em là gia tài mình đã khánh kiệt? Nhưng
không, nói dối như vậy cũng không ăn thua gì. Em chẳng tin nào. Mình cần phải dứt
khoát mới được!


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét