Chín mươi ba 1
Lời giới thiệu
Được giới thiệu Victor Hugo với bạn đọc Việt Nam lần này - và
lại bằng Chín mươi ba - mang lại cho tôi một cảm giác đặc biệt. Nó
làm tôi nghĩ lại sự rúng động khi lần đầu đọc Hugo lúc khoảng mười bốn tuổi, và
cũng là Chín mươi ba. Sau một thời gian nghiến ngấu tiểu thuyết cổ điển
Anh và tiểu thuyết lễ giáo Tàu mà tôi tuy rất thích nhưng luôn có cảm giác thế
giới của chúng có phần chật chội, thì Hugo giống như một tia chớp sáng lòa, làm
hiện ra một chân trời phóng khoáng. Nhờ cái tia chớp ấy, đứa trẻ mười bốn tuổi
là tôi bắt đầu lờ mờ hình dung về một xã hội "tự do, bình đẳng, bác
ái" và một cuộc đời "tự do, bình đẳng, bác ái" dù lúc đó kiến thức
lịch sử - xã hội của tôi hết sức hạn hẹp. Hình dung mơ hồ ấy trở thành động lực
- dù lúc đầu chỉ là một thứ động lực dạng linh cảm - cho hầu hết những điều tôi
làm, từ du học, viết sách, dịch sách, dạy học... Cho đến giờ, hình dung ấy chưa
bao giờ tắt. Có thể nói, chính Hugo chứ không phải ai khác dạy tôi trở thành một
người có lý tưởng (idealist - không phải theo nghĩa chính trị của từ này mà
theo nghĩa không từ bỏ việc theo đuổi một phiên bản cuộc sống đẹp nhất cho mình
và cho mọi người, kể cả khi người khác cho là huyễn hoặc. Bây giờ, đã lớn hơn,
tôi nhận ra đấy là điều quý giá nhất mà một con người có thể khơi gợi trong một
người khác. Hugo khẳng định: bất hạnh lớn nhất của con người - của từng cá thể
cũng như của một xã hội - là không tin vào hình dung kia và không phấn đấu biến
nó thành hiện thực.
Nhưng để nói tới sự rúng động ấy - mà tôi hy vọng bạn đọc, nhất
là các bạn đọc trẻ có thể cũng sẽ cảm thấy qua cuốn sách này - thì cần phải tóm
tắt một chút về Chín mươi ba. Ra đời năm 1874, Chín mươi ba là
cuốn tiểu thuyết cuối cùng của Victor Hugo, đại diện xuất sắc nhất và vĩ đại nhất
của văn học lãng mạn. Chín mươi ba kể một câu chuyện xảy ra vào năm
1793, năm cao trào và đẫm máu của Cách mạng tư sản Pháp, cuộc cách mạng tư sản
đầu tiên trong lịch sử loài người, với mục đích xóa bỏ chế độ vua chúa tập quyền
để thiết lập một nền cộng hòa dân chủ. Sau khi vua Louis XVI bị chính quyền cộng
hòa chém đầu, châu Âu già cỗi nhưng có chung quyền lợi trong sự tồn tại của chế
độ quân chủ đã liên minh lại để chống nền cộng hòa non trẻ bằng cách gửi quân đội
tới Pháp. Một nhóm bảo hoàng liên minh dưới sự chỉ huy của hầu tước sắt đá
Lantenac đã vào bờ biển Pháp và bắt đầu tạo các hoạt động phản cách mạng uy hiếp
nền cộng hòa. Từ Paris, chính quyền cộng hòa cử Cimourdain, một nhà cách mạng
già vốn từng là linh mục tới bắt Lantenac.
Trong lúc này, ở Brittany, quân cộng hòa dưới sự chỉ huy của
Gauvain, một người cách mạng trẻ đầy nhiệt huyết, vừa là cháu của Lantenac lại
vừa từng là học trò và gần như con nuôi của Cimourdain, đã dồn được Lantenac
vào một lâu đài. Bị tấn công dữ dội, Lantenac mở đường máu thoát khỏi lâu đài,
nhưng vì tiếng khóc của một người mẹ, ông ta quay lại lâu đài cứu ba đứa trẻ;
do đó mà rơi vào tay quân cách mạng. Cảm kích trước hành động của Lantenac,
Gauvain đã tới thăm ông ta trong tù rồi thả ông ta đi. Rất đau lòng nhưng
Cimourdain phải kết tội Gauvain phản quốc, với bản án tử hình. Cuốn sách kết
thúc ở cảnh Cimourdain ra lệnh đao phủ chặt đầu Gauvain để bảo vệ sự nghiêm
minh của cách mạng và nền cộng hòa; nhưng vào giây phút đầu Gauvain rơi xuống
thì "... người ta nghe thấy một tiếng nổ khác. Cimourdain vừa rút một
trong hai khẩu súng vẫn đeo bên thắt lưng, và đúng vào lúc đầu Gauvain lăn vào
hòm thì ông cũng tự bắn một viên đạn xuyên tim. Máu trào ra nơi miệng, ông ngã
ra chết. Và đôi linh hồn đồng điệu đau thương ấy cùng cất cánh bay, bóng đen của
linh hồn này hòa trong ánh sáng của linh hồn kia".
Hai mươi năm trước, đọc đến đây, tôi đã chảy nước mắt. Bây giờ
cũng vậy.
Bình luận về ý nghĩa tiểu thuyết Chín mươi ba và ca
ngợi văn của Hugo là thừa. Từ góc độ thưởng thức tác phẩm, cuốn sách này - cũng
như mọi cuốn sách của Hugo - là một đại tiệc ngồn ngộn kiến thức và cảm xúc.
Nhưng tôi chỉ xin nói điều lớn nhất khiến Hugo đã và vẫn còn lay động tôi: đó
là niềm tin sâu sắc vào sự chiến thắng của tình người, của độ lượng và khoan
dung trước bạo lực, hắc ám. Đây không phải một niềm tin ngây thơ (hơn bất cứ
ai, Hugo nói với ta: đừng sợ bị coi là ngây thơ, đừng dại dột đánh đổi nó lấy sự
thực dụng của người đời . Đây là một niềm tin đã qua thử thách; nó đến từ sự thấu
hiểu rằng: trong một thời điểm nhất định, con người có thể bị sợ hãi hay tham
lam chi phối mà chà đạp lên tình người nhưng khi dùng thứ công lý trường tồn mà
phán xét thì tình người luôn chiến thắng và là vũ khí mạnh nhất của con người.
Hugo nói: nếu đã sống, đã viết, đã làm bất cứ điều gì, thì phải làm trong hình
dung về cái trường tồn, dùng cái trường tồn kia làm động lực.
Mặc dù Những người khốn khổ là tác phẩm lớn nhất và
nổi tiếng nhất của Hugo, với cá nhân tôi, Chín mươi ba thể hiện một
Hugo hoàn chỉnh hơn. Là một nhà chính trị, nhà cách mạng, nhà triết học, nhưng
trước hết và trên hết là một nhà văn, Hugo bản chất là một người hiền, muốn
thay đổi xã hội bằng con đường nhân văn, thông qua giáo dục, nghệ thuật, tôn
giáo, v.v. thay vì thông qua bạo lực, đổ máu. Ta thấy rất rõ điều này ở Những
người khốn khổ và các tác phẩm trước đó. Nhưng Chín mươi ba có sự
quyết liệt mới. Ở cuốn sách này, Hugo khẳng định: đôi khi cần phải dùng bạo lực
cách mạng để chống lại bạo lực cách mạng. Điều phải làm thì phải làm, mà cái
chân - thiện - mỹ không suy giảm.
Đây là những lời của Gauvain về một xã hội anh muốn thấy và
cũng là của Hugo:
"Xã hội tức là thiên nhiên được vĩ đại hơn. Tôi muốn những
cái còn thiếu ở tổ ong, tổ kiến; tôi muốn đền đài, nghệ thuật, thơ ca, anh hùng,
thiên tài. Mang gánh nặng đời đời không phải là qui luật của kiếp người. Không,
không, không, tôi muốn không còn cùng khổ, không còn nô lệ, không còn khổ sai,
không còn đày đọa! Tôi muốn rằng mỗi một đặc trưng của con người là một tượng
trưng của văn minh, một mẫu mực của tiến bộ; tôi muốn tư tưởng tự do, tình cảm
bình đẳng, tâm hồn bác ái. Không còn gông cùm! Con người sinh ra không phải để
kéo lê xiềng xích mà để mở rộng đôi cánh..."
Tôi hy vọng bạn sẽ đọc Chín mươi ba, sẽ tin những điều
trên, và sẽ bắt đầu đặt chân - nếu như bạn chưa đặt chân - lên con đường hiện
thực hóa xã hội mà ở đó bạn và những người quanh bạn đều có "tư tưởng tự
do, tình cảm bình đẳng, tâm hồn bác ái".
Trân trọng giới thiệu tiểu thuyết Chín mươi ba của
Victor Hugo, qua bản dịch của dịch giả Châu Diên. M.
Phan Việt
Phần thứ nhất
Ngoài biển
Vào những ngày cuối tháng 5 năm 1793, một trong số những tiểu
đoàn quân Paris do Santerre đưa về Bretagne đang sục sạo khu rừng Saudraie khủng
khiếp ở vùng Astillé. Họ không còn quá ba trăm vì tiểu đoàn đã bị tiêu hao
trong cuộc chiến tranh ác liệt này. Đó chính là thời kỳ mà, sau Argogne,
Jemmapes và Valmy 1 , tiểu đoàn Paris thứ nhất từ sáu trăm
quân tình nguyện thì chỉ còn lại hai mươi bảy người; tiểu đoàn thứ hai còn ba
mươi ba, và tiểu đoàn thứ ba còn năm mươi bảy. Thời kỳ của những trận chiến đấu
anh hùng.
Những tiểu đoàn từ Paris đến Vendée gồm có chín trăm mười hai
người. Mỗi tiểu đoàn có ba khẩu đại bác. Các tiểu đoàn đó đã được tập hợp nhanh
chóng. Ngày 25 tháng 4, hồi ông Gohier đang làm Bộ trưởng Tư pháp và ông
Bouchotte làm Bộ trưởng Chiến tranh, phân bộ của Hội đồng dân ước đã đề nghị gửi
các tiểu đoàn quân tình nguyện đến Vendée; ông Lubain, ủy viên Công xã đã làm
phúc bẩm; ngày 1 tháng 5, Santerre đã sẵn sàng cho xuất phát một vạn hai nghìn
quân, với ba chục khẩu dã pháo và một tiểu đoàn pháo thủ. Các tiểu đoàn ấy xây
dựng rất nhanh mà lại rất tốt, nên ngày nay vẫn dùng làm kiểu mẫu; chính theo
cách cấu tạo đó mà người ta thành lập những đại đội chiến đấu; các tiểu đoàn ấy
đã thay đổi tỉ lệ cũ giữa số lượng binh sĩ và số lượng hạ sĩ quan.
Ngày 28 tháng 4, Công xã Paris 2 đã ra lệnh cho đoàn quân tình nguyện của
Santerre: Không dung tha, không để sống sót. Đến cuối tháng năm,
trong số một vạn hai nghìn quân từ Paris ra đi, tám nghìn đã tử trận.
Tiến sâu vào khu rừng Saudraie, tiểu đoàn luôn luôn đề cao cảnh
giác. Họ không vội vã. Họ nhìn bên phải, bên trái, trông trước, trông sau;
Kléber đã từng nói: Con nhà lính có một con mắt sau lưng. Họ hành
quân như thế cũng đã lâu. Lúc này, độ mấy giờ rồi? Còn sớm hay muộn? Kể cũng
khó nói, vì lúc nào trong những bụi rậm rất mực hoang dại đó cũng cứ lờ mờ, và
trong khu rừng này chẳng lúc nào sáng sủa cả.
Khu rừng Saudraie hồi đó thật bi thảm. Chính nơi đây, kể từ
tháng 11 năm 1792, cuộc nội chiến đã bắt đầu gây ra tội ác: Mousqueton, tên thọt
hung hãn, cũng đã xuất hiện từ những khu rừng rậm thảm khốc này: tính số vụ giết
người xảy ra ở đây cũng đủ dựng tóc lên. Chẳng còn nơi nào khủng khiếp hơn.
Binh sĩ tiến vào sâu một cách thận trọng. Khắp nơi ngập đầy hoa; xung quanh họ,
một bức thành kết bằng cành cây run rẩy, lá cây toát ra hơi mát thú vị; đây đó,
tia nắng xuyên qua những lớp bóng tối xanh rờn; dưới đất, hoa lay-ơn, hoa diên
vĩ, hoa thủy tiên dại, hoa giê-nốt - thứ hoa nhỏ này thường báo trước thời tiết
êm ả - và hoa nghệ mùa xuân thêu dệt, trang điểm một tấm thảm bằng cây cỏ,
trong đó mọc chi chít tất cả các loài rêu, từ thứ rêu trông như sâu róm đến thứ
rêu giống hệt ngôi sao. Binh sĩ tiến từng bước, lặng lẽ, nhẹ tay rẽ bụi. Chim
ríu rít trên đầu lưỡi lê.
Rừng Saudraie là một trong những cánh rừng rậm, ở đó, ngày
xưa, thời thái bình, người ta đã săn chim ban đêm; bây giờ ở đây, người ta săn
người.
Rừng toàn là cây phong, dẻ gai, sồi; mặt đất bằng phẳng; rêu
và cỏ mọc dày khiến đoàn quân tiến bước cũng không có tiếng động; chẳng có con
đường mòn nào, hay có rồi mất ngay; còn có cả cây ô-rô, mận dại, đuôi chồn, kim
hoa mọc thành hàng rào, những cây gai cao; dù có người cách mười bước cũng
không tài nào nhìn thấy. Đôi lúc, một con sếu hay một con cuốc bay qua cành
cây, tỏ ra cạnh đó có đầm lầy.
Binh sĩ vẫn tiến bước. Họ tiến không nhằm một đích nào cả, bồn
chồn, như sợ gặp phải cái mà họ đang tìm.
Thỉnh thoảng, họ gặp những dấu vết hạ trại, những khoảng đất
bị đốt cháy, cỏ bị xéo nát, những chiếc gậy cắm hình chữ thập, những cành cây
dính máu. Chỗ kia người ta đã nấu ăn, chỗ kia người ta đã cầu nguyện, chỗ kia
người ta đã băng bó thương binh. Nhưng những kẻ qua đây đã mất tích. Họ ở đâu?
Có lẽ xa lắm. Có thể ở kia, ngay bên cạnh, họ nấp kín, tay lăm lăm khẩu súng ngắn.
Rừng như hoang vắng. Tiểu đoàn càng thêm thận trọng. Trong cảnh quạnh hiu càng
phải cảnh giác. Họ không thấy ai; thêm một lý do nữa để đề phòng một kẻ nào đó.
Họ đang đối phó với một khu rừng nổi tiếng là nguy hiểm.
Họ có thể bị phục kích.
Ba chục khinh binh tách ra thành đội trinh sát và do một viên
đội chỉ huy, tiến lên trước, cách đại quân một quãng khá xa. Chị căng-tin 3 của tiểu đoàn cũng đi theo. Các chị
căng-tin thường thích nhập bọn với tiền đạo. Nguy hiểm thật đấy nhưng như thế
người ta lại có dịp chứng kiến nhiều chuyện lạ. Tính tò mò là một kiểu gan dạ của
đàn bà.
Đột nhiên, cả toán tiền tiêu nhỏ đó rùng mình như thường thấy
ở những người đi săn khi đến gần ổ thú. Họ thoáng nghe như có hơi thở giữa một
lùm cây rậm rạp, và hình như họ vừa trông thấy cái gì động đậy trong lá cây. Họ
ra hiệu cho nhau.
Việc tuần tiễu, kiểm tra giao phó cho đội trinh sát, sĩ quan
chẳng cần xen vào; việc phải làm tất nhiên họ sẽ làm được.
Trong nháy mắt, cái điểm có người cử động bị bao vây; một
vòng súng chĩa thẳng vào đấy; nhất loạt từ mọi phía, các khẩu súng đều nhắm vào
giữa bụi rậm tối mò, và binh sĩ, ngón tay đặt sẵn trên cò súng, mắt dán vào nơi
đáng nghi, chỉ còn chờ lệnh của viên đội là nhả đạn. Giữa lúc đó, chị căng-tin
chợt nhìn qua kẽ lá, và ngay lúc viên đội sắp hô: bắn, thì chị ta kêu lên:
khoan!
Và quay lại phía binh sĩ:
- Dừng bắn, anh em!
Rồi chị nhảy bổ vào lùm cây. Mọi người cùng ùa vào.
Quả là trong đó có người.
Giữa chỗ rậm nhất, kề bên một khoảng trống nhỏ hình tròn, nơi
người ta đã dựng lò đốt rễ cây để lấy than, trong một thứ hang kết bằng cành
cây, trông như một buồng ngủ bằng lá hé mở, một người đàn bà ngồi bệt trên rêu,
ôm trong lòng một đứa bé đang bú, và trên đùi, hai đứa trẻ tóc vàng hung hung gối
đầu ngủ.
Họ đã bị phục kích như thế đó.
Chị căng-tin kêu lên:
- Nhà chị này làm gì ở đây?
Người đàn bà ngẩng đầu lên.
Chị căng-tin nổi giận, tiếp:
- Chị điên hay sao mà ở đây?
Và chị tiếp luôn:
- Suýt nữa thì chị mất mạng!
Rồi quay lại phía binh sĩ, chị bảo:
- Một người đàn bà đấy thôi.
- Rõ khéo, chúng tôi cũng trông thấy rồi! - Một anh lính trả
lời.
Chị căng-tin lại tiếp:
- Vào rừng cho người ta giết! Ai lại dại dột đến thế!
Người đàn bà kinh ngạc, hoảng sợ, sững sờ, nhìn chung quanh
thấy những súng, những gươm, những lưỡi lê, những bộ mặt hung dữ đó như qua một
giấc mơ.
Hai đứa bé bỗng thức dậy và kêu lên:
- Con đói!
- Con sợ!
Đứa bé nhất vẫn bú.
Chị căng-tin bảo nó:
- Chú mày làm thế là phải đấy.
Người mẹ lặng người khiếp sợ.
Viên đội nói to với chị ta:
- Chị đừng sợ. Anh em đây đều là tiểu đoàn Mũ Đỏ.
Toàn thân người đàn bà run lên. Chị ta nhìn viên đội có bộ mặt
rắn rỏi, chị thấy lông mày, ria mép và đôi mắt như hai hòn than hồng.
Chị căng-tin nói thêm:
- Trước đây là tiểu đoàn Chữ Thập Đỏ.
Viên đội lại hỏi tiếp:
- Nhà chị là ai?
Người đàn bà khiếp sợ nhìn ông ta. Chị ta người gầy, trẻ,
xanh xao, rách rưới, đội chiếc mũ chụp rộng vành của phụ nữ nông thôn vùng
Bretagne và khoác một chiếc chăn len buộc vào cổ bằng một sợi dây. Chị ta để hở
vú với vẻ thản nhiên của người đã có con. Chân không, không tất, rơm rớm máu.
- Đây là một người nghèo. - Viên đội thốt ra.
Rồi chị căng-tin lại cất cái giọng lính tráng nhưng vẫn đàn
bà, ngụ vẻ dịu dàng:
- Chị tên là gì?
Người đàn bà lí nhí trong miệng, ngọng nghịu nghe không rõ:
- Michelle Fléchard.
Trong lúc đó, chị căng-tin đưa bàn tay thô kệch vừa xoa cái đầu
nhỏ xíu của đúa bé còn bú, vừa hỏi:
- Tí nhau này lên mấy rồi?
Người mẹ không hiểu. Chị ta hỏi gặng:
- Tôi hỏi chị, bé này lên mấy?
- À! Mười tám tháng. - Người mẹ nói.
- Già tháng rồi. Không nên cho bú nữa. Cai sữa đi thôi. Chúng
tôi sẽ cho nó ăn súp.
Người mẹ bắt đầu thấy vững dạ. Hai đứa bé mới tỉnh dậy, tò mò
hơn là sợ sệt. Chúng nó ngắm nghía những chùm lông mũ.
- Chà! Chúng nó đói lắm rồi - Người mẹ nói.
Rồi chị ta tiếp:
- Tôi chẳng còn giọt sữa nào.
Viên đội kêu lên:
- Người ta khắc cho chúng ăn, và cả chị nữa. Nhưng không phải
chỉ có thế. Chính kiến của chị thế nào?
Người đàn bà nhìn viên đội không trả lời.
- Có nghe rõ câu tôi hỏi không?
Chị ta lắp bắp:
- Tôi phải vào tu viện từ bé, nhưng rồi tôi lấy chồng, tôi
không đi tu. Các bà phước dạy tôi nói tiếng Pháp 4 . Người ta đã đốt làng. Mẹ con tôi chạy
tháo thân, không kịp xỏ nữa.
- Tôi hỏi chính kiến của nhà chị thế nào?
- Tôi không biết cái đó.
Viên đội tiếp luôn:
- Là vì có bọn đàn bà làm gián điệp. Đàn bà làm gián điệp, của
ấy thì chỉ có đem bắn. Thôi. Nói đi. Chị không phải là dân lưu đãng chứ? Tổ quốc
chị là gì?
Chị ta vẫn nhìn viên đội như không hiểu. Viên đội nhắc lại:
- Tổ quốc chị là gì?
- Tôi không biết. - Chị ta nói.
- Sao, chị không biết quê hương chị là gì à?
- À! Quê hương tôi. Có chứ.
- Ừ, quê hương chị là gì?
Người đàn bà trả lời:
- Ấp Siscoignard, trong giáo khu Azé.
Đến lượt viên đội sửng sốt. Suy nghĩ một lát, anh ta hỏi lại:
- Chị nói ở đâu nhỉ?
- Siscoignard.
- Đấy không phải là một tổ quốc.
- Là quê hương của tôi.
Rồi người đàn bà nghĩ ngợi một lát, nói tiếp:
- Thưa ông, tôi hiểu rồi. Các ông ở đất Pháp, còn tôi, tôi ở
Bretagne.
- Thì sao?
- Không cùng một quê hương.
- Cùng một tổ quốc đấy! - Viên đội nói to.
Người đàn bà chỉ trả lời:
- Tôi là người Siscoignard.
- Thôi được, người Siscoignard - Viên đội nói tiếp - Gia đình
chị ở đấy à?
- Vâng.
- Gia đình chị làm gì?
- Chết cả rồi. Tôi chẳng còn ai.
Viên đội, vốn tay khéo nói, tiếp tục cuộc thẩm vấn:
- Ai cũng có bố mẹ họ hàng, quỷ quái! Hoặc trước đây đã có.
Chị là ai? Nói đi.
Người đàn bà mất cả hồn vía khi nghe những tiếng hoặc
trước đây đã có 5 , giống tiếng kêu của loài thú hơn là tiếng
người.
Chị căng-tin thấy cần xen vào. Chị lại vuốt ve đứa bé đang bú
và tát yêu vào má hai đứa lớn, rồi chị hỏi:
- Cái đang bú tí tên gì? Con gái đây mà.
Người mẹ trả lời:
- Georgette.
- Thế đứa lớn? Nhóc ấy đúng là con trai.
- René-Jean.
- Và đứa em? Cũng là con trai, má lại phính nữa.
- Gros Alain. - Người mẹ trả lời.
- Các cháu bé này kháu lắm - Chị căng-tin nói - Ra mẽ người lớn
lắm rồi.
Nhưng lúc ấy viên đội hỏi gặng:
- Chị hãy trả lời đi đã. Chị có nhà cửa gì không.
- Trước đây cũng có nhà có cửa.
- Ở đâu?
- Ở Azé.
- Tại sao chị không ở nhà?
- Vì người ta đốt mất rồi.
- Ai đốt?
- Tôi không biết. Một trận đánh nhau.
- Chị từ đâu tới?
- Từ chỗ đó.
- Chị định đi đâu?
- Tôi không biết.
- Nói vào việc đi. Chị là ai?
- Tôi không biết.
- Chị không biết chị là ai à?
- Chúng tôi là những kẻ chạy trốn.
- Chị ở phe nào?
- Tôi không biết.
- Ở phe Xanh? Hay phe Trắng? Đi với ai? 6
- Tôi đi với các con tôi.
Một lát tạm ngừng. Chị căng-tin lại nói:
- Tôi thì tôi chẳng có con. Tôi không có thì giờ.
Viên đội lại tiếp:
- Nhưng còn bố mẹ chị! Nào, cho chúng tôi biết về bố mẹ chị
đi. Như tôi, tôi tên là Radoub; tôi đóng đội, tôi ở phố Cherche Midi, bố mẹ tôi
ngày trước cũng ở đó, tôi có thể nói rõ về bố mẹ tôi. Thế chị nói về các cụ đi.
Chị cho biết bố mẹ chị trước kia thế nào?
- Gọi là ông bà Fléchard. Thế thôi.
- Đành rồi, ông bà Fléchard thì gọi là ông bà Fléchard, cũng
như ông bà Radoub thì gọi là ông bà Radoub. Nhưng người ta ai cũng có một hoàn
cảnh. Hoàn cảnh bố mẹ chị là thế nào? Ngày trước hai cụ làm gì? Bây giờ làm gì?
Xem các cụ Fléchard nhà chị làm những cái thá gì nào 7 .
- Ông bà ấy làm ruộng. Bố tôi tàn tật chẳng làm được gì, bởi
vì ngài lãnh chúa, lãnh chúa của bố tôi, của chúng tôi, đã cho ông ấy một trận
đòn; thế còn là phúc đấy, vì bố tôi bắt trộm con thỏ, việc ấy đáng xử tội chết;
nhưng ngài lãnh chúa ra ơn và bảo: nện cho nó một trăm roi thôi; thế là bố tôi
què.
- Rồi sao nữa?
- Ông tôi theo Tân giáo 8 . Vì thế cha xứ đã cho đày ông đi làm khổ
sai chèo thuyền. Lúc đó tôi còn bé tí.
- Sao nữa?
- Bố chồng tôi làm muối lậu. Đức vua sai treo cổ.
- Thế còn chồng chị, anh ta làm gì?
- Dạo này anh ta đi đánh nhau.
- Cho ai?
- Cho đức vua.
- Ai nữa?
- Cho lãnh chúa.
- Ai nữa?
- Cho cha xứ.
- Mẹ kiếp! - Một anh khinh binh quát lên.
Người đàn bà giật mình kinh hãi.
- Đấy chị xem, chúng tôi là người Paris mà lị - Chị căng-tin
dịu dàng nói.
Người đàn bà chắp tay lại và kêu lên:
- Jésus Maria, lạy chúa tôi!
- Đừng có mê tín. - Viên đội lại bảo.
Chị căng-tin ngồi xuống bên cạnh người đàn bà, kéo thằng con
trai lớn vào lòng, thằng bé ngoan ngoãn theo chị. Con trẻ dễ yên tâm cũng như dễ
khiếp sợ, chả ai biết vì sao. Chẳng hiểu chúng nó có linh cảm thế nào.
- Này, bà chị địa phương hiền lành tội nghiệp, chị có những đứa
con xinh lắm, thôi thế cũng đỡ; cũng dễ đoán được tuổi chúng nó. Thằng cu lớn
lên bốn, thằng em lên ba. Còn cái đĩ con đang bú mẹ kia, háu ăn thật. Ái chà!
Quái con! Đừng có nhai mẹ như thế. Chị xem đấy, đừng sợ gì cả. Chị nên gia nhập
tiểu đoàn. Chị sẽ làm công việc như tôi, tôi tên là Houzarde 9 ; đó là tên đùa thôi. Ấy thế mà gọi là
Houzarde, tôi lại thích hơn gọi là cô Bicorneau, như mẹ tôi. Tôi là người bán
hàng căng-tin, nghĩa là người cho lính uống rượu khi họ bắn giết nhau. Nhộn vô
cùng. Chân chúng ta cũng gần bằng nhau, tôi sẽ cho chị đôi của tôi. Tôi cũng ở
Paris hôm 10 tháng 8. Tôi đã đem rượu cho Westermann 10 uống. Thế mà xuôi cả. Tôi được xem chém đầu
Louis XVI. Người ta gọi hắn là Louis Capet, hắn không muốn đâu. Chà! Tất nhiên
thôi. Đâu mới hôm 13 tháng 1, hắn còn sai luộc hạt dẻ và cười đùa với vợ con.
Lúc bắt hắn nằm lên cái người ta gọi là bàn chém, hắn chẳng còn áo, giày nữa; hắn
mặc mỗi chiếc sơ-mi, một áo cộc may chần, một chiếc quần dạ xám và đôi bít-tất
lụa xám. Chính tôi đã nhìn thấy, chiếc xe ngựa giải hắn đến sơn màu xanh lá cây
chị ạ. Anh em trong tiểu đoàn đi với chúng tôi đều tốt cả. Chị sẽ làm người bán
hàng căng-tin số hai. Tôi sẽ chỉ dẫn công việc cho chị. Ô! Đơn giản lắm! Với
chiếc bi-đông và một cái chuông con, ta đi giữa cảnh huyên náo, dưới làn đạn,
giữa tiếng đại bác, trong tiếng ồn ào mà reo lên: "Các cậu, ai muốn tợp một
ngụm nào?" Kể cũng chẳng vất vả gì. Tôi thì chuốc rượu cho tất cả mọi người.
Đúng thế đấy. Cho cả phe Trắng lẫn phe Xanh, mặc dù tôi ở phe Xanh. Mà là hạng
xanh trung kiên nữa kia. Nhưng tôi chuốc rượu cho hết thảy mọi người. Đã bị
thương thì ai chẳng khát. Người ta chết bất kể chính kiến. Những người chết phải
siết chặt tay nhau. Đánh nhau thật là khờ dại! Nhập bọn với chúng tôi. Tôi chết
thì chị thay tôi. Chị xem tôi như thế này nhưng hiền lành trung hậu. Đừng sợ gì
hết.
Chị căng-tin nói xong thì người đàn bà lẩm bẩm:
- Bà hàng xóm nhà tôi tên là Marie-Jeanne, còn chị giúp việc
chúng tôi tên là Marie-Claude.
Trong lúc đó, viên đội Radoub mắng anh khinh binh:
- Im đi! Cậu làm cho chị ta sợ. Không ai chửi rủa trước mặt
đàn bà.
- Thì đầu óc một người lương thiện nào mà không như chết điếng
đi khi thấy cái bọn rợ ấy, bố vợ thì bị chúa đất đánh què, ông nội thì bị cha xứ
đày đi khổ sai và bố đẻ thì bị vua treo cổ, thế mà, mẹ kiếp, lại đi đánh nhau,
đi làm loạn và đi chịu chết tan xương vì chúa đất, vì cha xứ và vì lão vua. -
Gã khinh binh cãi lại.
Viên đội quát lên:
- Hàng ngũ im lặng!
- Vâng, xin im, thưa ông đội - Anh lính vẫn nói - Nhưng làm
sao mà không ngán cho một người đàn bà xinh đẹp thế kia, lại đem thân đi chết để
đẹp lòng một gã ôm chân bọn thầy tu.
- Này cậu kia, đây không phải là câu lạc bộ của phân bộ
Pique 11 đâu nhé. Đừng hùng biện nữa.
Rồi viên đội quay lại hỏi người đàn bà:
- Thế còn chồng chị? Anh ta còn làm gì? Bây giờ anh ta ra
sao?
- Chẳng ra sao nữa, vì người ta đã giết anh ấy rồi.
- Ở đâu?
- Bên bờ dậu.
- Bao giờ?
- Đã ba hôm nay.
- Ai giết?
- Tôi không biết.
- Sao, chị không biết ai giết chồng chị à?
- Không.
- Quân xanh hay quân trắng?
- Một phát súng.
- Đã ba hôm rồi à?
- Vâng.
- Bắn từ phía nào?
- Phía Ernée. Chồng tôi ngã xuống. Thế đấy.
- Thế từ khi chồng chết, chị làm gì?
- Tôi đem các con đi.
- Đem đi đâu?
- Cứ phía trước mà đi.
- Ngủ ở đâu?
- Ngủ đất.
- Ăn gì?
- Chẳng ăn gì cả.
Viên đội bĩu môi kiểu nhà binh làm ria mép chạm vào mũi.
- Không ăn gì hết.
- Nghĩa là ăn mận rừng, quả dâu dại còn sót từ năm ngoái, hạt
sim, nõn cây đuôi chồn.
- Phải rồi, ăn thế cũng bằng không.
Thằng cu lớn có vẻ hiểu chuyện, nói: "Con đói rồi".
Viên đội rút trong túi ra một mẩu bánh lương khô chìa cho người
mẹ. Người mẹ bẻ mẩu bánh làm đôi, chia cho hai đứa con. Hai đứa trẻ nhai ngấu
nghiến.
- Không giữ lại phần mình - Viên đội lầu bầu.
- Chị ta không đói - Một người lính nói.
- Vì chị ta là mẹ - Viên đội đáp.
Lũ trẻ ngừng nhai bánh, kêu:
- Uống nước.
- Uống nước.
- Trong cái rừng chết tiệt này không có suối à? - Viên đội hỏi.
Chị căng-tin lấy chiếc ca bằng đồng đeo ở thắt lưng, cạnh chiếc
chuông con, vặn vòi chiếc bình vẫn đeo bên người, rót vài giọt vào đó rồi ghé
ca vào miệng lũ trẻ.
Đứa thứ nhất uống một ngụm rồi nhăn mặt lại.
Đứa thứ hai uống rồi nhổ ra.
- Ngon thế mà lại... - Chị căng-tin nói.
- Rượu cay à? - Viên đội hỏi.
- Đúng. Mà lại hảo hạng đấy. Nhưng chúng là con cái dân quê
mà.
Rồi cô ta lau ca.
Viên đội lại hỏi tiếp:
- Thế nhà chị cứ thế mà chạy trốn ư?
- Phải thế chứ!
- Chạy qua đồng như ma đuổi ấy à?
- Tôi chạy hết hơi, rồi tôi đi, rồi tôi ngã.
- Con chiên lành tội nghiệp - Chị căng-tin nói.
Người đàn bà ấp úng:
- Họ đánh nhau. Súng nổ chung quanh tôi. Chẳng hiểu họ muốn
làm gì nhau. Họ giết mất chồng tôi. Tôi chỉ hiểu có thế thôi.
Viên đội nện báng súng xuống đất thình thịch, và kêu lên.
- Cái chiến tranh khốn kiếp này! Chó đẻ!
Người đàn bà lại nói tiếp:
- Đêm qua, chúng tôi ngủ trong "hang cây".
- Cả bốn mẹ con?
- Cả bốn mẹ con.
- Ngủ?
- Ngủ.
- Tức là ngủ đứng - Viên đội nói.
Viên đội quay lại phía binh sĩ:
- Anh em ạ, một thân cây to, già cỗi, rỗng ruột, chết khô, một
người có thể chui vào như chui vào trong một cái phao, những người rợ kia gọi
nó là "hang cây". Biết làm thế nào? Không phải ai cũng là người
Paris.
Chị căng-tin thốt lên:
- Chao! Ngủ trong hốc cây! Với cả ba đứa con!
- Mà rồi... - Viên đội nói tiếp - Lúc bọn trẻ khóc rống lên,
ai đi qua đấy, chẳng nhìn thấy gì mà lại nghe cái cây gọi: "Bố ơi!",
"Bu ơi!" thì thật là kỳ quặc.
Người đàn bà thở dài nói:
- May sao bây giờ là mùa hè.
Chị nhìn xuống, nhẫn nại, đôi mắt ánh lên vẻ lâng lâng trước
tai biến.
Binh sĩ lặng lẽ vây quanh người khốn khổ ấy.
Một mẹ góa ba con côi, chạy trốn, bơ vơ, đơn độc, chiến tranh
gào thét bốn phương trời, đói, khát, chỉ còn cỏ để ăn, màn trời chiếu đất.
Viên đội đến cạnh người đàn bà, mắt đăm đăm nhìn đứa bé đang
bú. Con bé nhả vú, khẽ quay đầu lại, đôi mắt xanh biếc, xinh đẹp nhìn bộ mặt gớm
ghiếc, lông lá lởm chởm, hung hung đang cúi xuống nó, rồi nó nhoẻn miệng cười.
Viên đội ngửng lên và một giọt nước mắt to lăn xuống má rồi đọng
lại ở ngọn ria như một hạt châu.
Ông ta cất cao giọng nói:
- Anh em ạ, binh tình này, tôi cho rằng tiểu đoàn ta phải làm
cha chúng nó. Đồng ý chứ? Chúng ta nuôi ba đứa trẻ này.
- Cộng hòa muôn năm! - Binh sĩ đều hô lớn.
- Thế là ổn! - Viên đội nói.
Rồi ông ta chìa hai tay trên đầu người mẹ và ba đứa trẻ.
Ông nói:
- Đây là những đứa con của tiểu đoàn Mũ Đỏ.
Chị căng-tin vui mừng, nhảy lên reo:
- Ba cái đầu trong một cái mũ.
Rồi chị òa lên khóc, ôm hôn cuống quýt người đàn bà góa tội
nghiệp và bảo chị ta:
- Con bé ra vẻ hóm rồi đấy!
- Cộng hòa muôn năm! - Binh sĩ lại hô lần nữa.
Và viên đội bảo người đàn bà:
- Nữ công dân! Đi theo chúng tôi.
--------------------------------
|
Những vùng nổi tiếng do quân đội cách mạng đã chiến thắng
liên quân Áo - Phổ cuối năm 1792. |
|
|
Một hình thức chính quyền trong cách mạng tư sản Pháp tồn tại
từ 10-08-1792 đến 27-07-1794, không nên lầm với Công xã Paris, hình thức
chính quyền vô sản năm 1871. |
|
|
Người bán rượu và thức ăn. |
|
|
Dân Bretagne tuy là thuộc Pháp nhưng vẫn có thổ ngữ riêng.
Chỉ một số ít có học, hoặc hay đi ra ngoài mới biết nói tiếng Pháp. |
|
|
Ou on en a eu (nguyên văn phát âm rất khó nghe làm cho
người đàn bà sợ sệt. |
|
|
Phe Xanh là phe cách mạng vì họ mặc quân phục màu xanh, phe
Trắng là quân bảo hoàng ở Vendée mang cờ trắng. |
|
|
Qu’est ce qu’ils fléchardaient tes fléchards (nguyên
văn : Viên đội Radoub lấy họ Fléchard đặt thành động từ mới flécharder để câu
nói có vẻ hài hước. |
|
|
Thiên Chúa giáo cải cách do Calvain khởi xướng. |
|
|
Phát âm như housard hay hussard, nghĩa là
"khinh kỵ binh". |
|
|
Westermann (François Joseph : một danh tướng Pháp đóng vai
trò quan trọng trong cuộc tấn công lâu dài Tuileries ngày 10-08-1792, đánh thắng
nhiều trận ở Vendée và chết trên máy chém năm 1794 với các bạn trong phái
Danton. |
|
|
Một phân bộ thuộc phái Jacobin. |
Quyển hai
Chiến hạm Claymore
I
Anh và Pháp lộn sòng
Mùa xuân năm 1793, giữa lúc nước Pháp bị tấn công khắp biên
giới và đang xôn xao về việc phái Girondin 1 bị
lật đổ, thì tại quần đảo ngoài biển Manche xảy ra việc sau đây.
Buổi chiều ngày 1 tháng 6, một ngày đầy sương mù rất nguy hiểm
để đi biển nhưng lại thuận tiện để lẩn tránh, ở Jersey, trong vịnh Bonnenuit nhỏ
bé, vắng vẻ, độ một giờ trước lúc mặt trời lặn, có một chiến hạm nhẹ lên buồm
ra khơi. Thủy thủ trên tàu là người Pháp, nhưng thuộc hạm đội Anh, đang cắm neo
và như làm nhiệm vụ canh phòng ở mũi phía đông hòn đảo. Hoàng thân De La
Tour-d’Auvergne thuộc dòng họ Bourbon 2 đang
chỉ huy hạm đội Anh, và theo lệnh ông ta, chiến hạm được tách ra làm một nhiệm
vụ khẩn cấp và đặc biệt.
Ngày đăng ký ở Trinity-House, con tàu mang tên The
Claymore, bề ngoài là tàu vận tải, nhưng thực ra là một tàu chiến. Nó có dáng
đi bể nặng nề và thái bình của chiếc tàu buôn; nhưng chẳng nên tin bề ngoài ấy.
Tàu đóng nhằm hai mục đích, dùng mưu mẹo hoặc dùng vũ lực: đánh lừa, nếu có thể;
chiến đấu, nếu cần. Để làm nhiệm vụ, đêm hôm đó, hàng hóa trong hầm tàu thay bằng
ba chục khẩu pháo ngắn nòng cỡ lớn. Hoặc người ta vì dự phòng cơn bão sẽ đến,
hoặc muốn cho con tàu có bộ mặt hiền lành, mà ba chục khẩu pháo đó đều được cột
chặt trong tàu bằng ba vòng dây xích, và nòng súng thì dựa vào những cửa boong
tàu, chèn chặt bên ngoài, chẳng nhìn thấy gì; cửa sổ thành tàu được che kín;
cánh cửa đóng chặt; tất cả như khoác một chiếc màn che kín con tàu.
Những khẩu pháo này lắp bánh xe bằng đồng đen có đũa kiểu cổ
như kiểu hoa thị. Những chiến hạm làm nhiệm vụ hộ tống thì chỉ đặt đại bác trên
boong; chiếc tàu này, đóng ra để đột kích và phục kích, nên trên boong không có
súng ống, còn trong khoang tàu thì - như ta đã thấy - có cả một khẩu đội pháo.
Tàu Claymore hình thù to lớn nặng nề, tuy thế tàu vẫn đi nhanh; vỏ tàu vào loại
chắc chắn nhất trong hạm đội Anh, khi xung trận thì hiệu lực của nó gần bằng một
chiến hạm hạng lớn, tuy cột buồm sau bé nhỏ và cánh buồm sau cũng đơn sơ. Bánh
lái tàu, hình thù có vẻ lạ và tinh xảo, có một bộ phận cong cong như độc nhất,
phải đặt làm ở xưởng đóng tàu Southampton hết năm chục đồng bảng Anh.
Thủy thủ, toàn người Pháp, gồm những sĩ quan lưu vong và lính
thủy đào ngũ. Bọn này đã được chọn lọc kỹ; mỗi tay là một thủy thủ giỏi, một
tên lính cừ và một tên bảo hoàng trung kiên. Bọn chúng có ba điều cuồng tín:
con tàu, thanh kiếm và đức vua.
Ghép với số thủy thủ ấy, có nửa tiểu đoàn thủy quân lục chiến
để đổ bộ khi cần thiết.
Thuyền trưởng tàu Claymore từng được thưởng huân chương Thánh
Louis, chính là bá tước Du Boisberthelot, một trong những sĩ quan xuất sắc của
hải quân hoàng gia cũ, thuyền phó là kỵ sĩ La Vieuville, người đã từng chỉ huy
đại đội quân cận vệ có tướng Hoche 3 ,
khi ấy còn đóng chức đội, và hoa tiêu là Philip Gacquoil, người đảo Jersey, một
chủ thuyền rất tinh khôn.
Người ta đoán rằng chiếc tàu đó chắc phải làm điều gì phi thường.
Quả vậy, có một người vừa bước xuống tàu với phong thái như một kẻ bước vào một
cuộc phiêu lưu. Đó là một lão già, tầm vóc cao, to béo, nét mặt nghiêm nghị, một
con người rất khó đoán định được tuổi, vì hình như lão vừa có vẻ già lại vừa có
vẻ trẻ; một hạng người càng cao tuổi càng dồi dào sức lực, tóc bạc, mắt sáng quắc.
Một con người độ bốn chục tuổi kể về sinh lực, nhưng uy nghi như người tám mươi
tuổi. Lúc lão bước lên tàu, chiếc áo choàng đi biển hé mở, người ta thấy lão mặc
bên trong một chiếc quần chùng lối cổ gọi là bragou-bras, đi ủng cao tới đầu
gối và mặc một chiếc áo da dê mặt ngoài thêu chỉ lụa, còn mặt trong thì lông lá
bù xù như lông thú; toàn bộ trang phục thuộc kiểu nông dân vùng Bretagne. Loại
áo cộc kiểu cổ vùng Bretagne ấy dùng được hai việc trong ngày hội cũng như ngày
thường, lộn mặt trái là chiếc áo lông, lộn mặt phải là chiếc áo thêu. Cả tuần,
nom như tấm da thú, ngày chủ nhật, là chiếc áo sang trọng. Muốn cho có vẻ thật,
bộ quần áo nông dân lão đang mặc đã bị sờn ở đầu gối và khuỷu tay, như thể đã mặc
lâu rồi, còn chiếc áo choàng đi biển bằng vải thô lại giống hệt chiếc áo rách
mướp của dân chài. Lão đội một chiếc mũ tròn thời đó, vừa tròn, vừa cao, vành rộng;
loại mũ này nếu kéo sụp xuống thì ra vẻ thôn quê và nếu giải mũ đính huy hiệu
kéo lật một bên vành lên thì ra vẻ mũ nhà binh. Lúc ấy, lão đội chiếc mũ sụp xuống
theo lối dân quê, không có giải, không có huy hiệu.
Lord 4 Balcarras,
viên quan cai trị đảo cùng hoàng thân De La Tour-d’Auvergne đã thân hành tiễn
lão xuống tàu. Gélambre, nhân viên mật vụ của các hoàng thân, cựu sĩ quan cận vệ
của hầu tước D’Artois thân hành trông coi việc sửa soạn buồng riêng dưới tàu,
và mặc dù là dòng dõi quý tộc, ông ta chu đáo và kính cẩn đến mức tự mình xách
va-li theo sau lão kia. Lúc từ giã để trở lên bờ, ông De Gélambre đã cúi chào
lão dân quê kia hết sức cung kính; Lord Balcarras thì nói với lão: chúc tướng
công may mắn, còn hoàng thân De La Tour-d’Auvergne lại chào: tạm biệt ông anh.
Lão "dân quê", đó là cái tên mà thủy thủ dùng ngay
từ lúc ấy để chỉ người khách đi tàu kia trong những câu trao đổi cộc lốc giữa
những người đi biển; nhưng họ chẳng biết gì hơn, chỉ biết là lão dân quê đó chẳng
phải là dân quê, cũng như chiếc tàu chiến này chẳng phải là tàu vận tải.
Gió hiu hiu. Tàu Claymore rời vịnh Bonnenuit, đi ngang vịnh
Bulay chạy vát, còn trông rõ được một lúc; rồi càng về khuya con tàu càng mờ dần
và mất hút.
Một giờ sau, Gélambre trở về nhà ở Saint-Hélier 5 gửi
ngay bằng tàu tốc hành chạy đường Southampton cho hầu tước D’Artois, ở hành
dinh quận công York 6 bốn
dòng chữ sau đây:
"Thưa đức ông, cuộc khởi hành vừa xong. Chắc chắn thắng
lợi. Tám ngày nữa, cả vùng bờ biển từ Granville đến Saint- Malo sẽ rực lửa".
Trước đó bốn hôm, qua đường liên lạc mật, Prieur De La Marne 7 ,
đại biểu quốc hội đang công cán ở quân khu vùng bờ biển Cherbourg, và tạm trú lại
Granville, cũng đã nhận được bức thư sau, nét chữ giống hệt như ở bức thư nói
trên: "Công dân đại biểu, đến ngày 1 tháng 6, giờ nước lên, chiến hạm
Claymore với khẩu đội pháo ngụy trang sẽ nhổ neo đưa một người đổ bộ lên bờ bể
nước Pháp, với nhận đạng như sau: tầm vóc cao, già, tóc bạc, ăn mặc quần áo
nông dân, bàn tay quý phái. Ngày mai, tôi sẽ báo thêm chi tiết. Người đó sẽ đổ
bộ sáng ngày hai. Hãy báo cho hạm đội tuần tiễu chặn bắt chiếc chiến hạm, đưa
tên ấy lên máy chém".
II
Bóng tối trùm lên con tàu và người hành khách
Chiến hạm đáng lẽ theo hướng nam đi về Saint Catherine, lại
nhằm hướng bắc, sau lại ngoặt hướng tây, rồi băng vào giữa đảo Serk và đảo
Jersey, trong cái eo biển mà người ta gọi là con đường hiểm hóc. Thời kỳ
đó, chưa có chiếc đèn biển nào ở hai bên bờ.
Mặt trời đã lặn hẳn; đêm tối như mực, khác hẳn mọi đêm hè; một
đêm có trăng nhưng những đám mây rộng phủ đầy trời như từ phía xích đạo chuyển
lên chứ không phải từ chí tuyến tới, và xem chừng chỉ khi nào mặt trăng sắp lặn
sát chân trời thì mới có ánh sáng trăng. Vài đám mây sà xuống sát mặt nước khiến
mặt biển mù mịt.
Cảnh tối trời ấy thật là thuận tiện.
Ý đồ của Gacquoil là đi lướt giữa đảo Jersey và Guernesey rồi
mạo hiểm vượt qua các đảo Hanois và Douvres để ghé vào một cái vịnh nào đó thuộc
hải phận Saint-Malo, con đường này dài hơn đường qua Minquiers nhưng chắc chắn
an toàn hơn, bởi vì hạm đội tuần tiễu Pháp chỉ thường xuyên được lệnh tuần
phòng nghiêm ngặt nhất ở giữa Saint-Hélier và Granville.
Nếu thuận gió, không xảy ra biến cố gì và phủ kín vải lên con
tàu thì Gacquoil hy vọng cập bờ biển nước Pháp khoảng sáng sớm.
Mọi việc đều trôi chảy; vào khoảng chín giờ con tàu vừa mới
vượt dãy đá ngầm Gronet: trời có vẻ trở quẻ, nói theo tiếng con nhà thủy thủ, rồi
gió nổi, sóng cồn; nhưng gió vẫn xuôi và sóng tuy lớn mà không dữ dội. Tuy thế,
cũng đã có đôi ngọn sóng làm nước ập vào đầu mũi tàu.
Lão "dân quê" mà Lord Balcarras đã gọi là tướng
quân và hoàng thân De La Tour-d’Auvergne gọi là ông anh có cặp
giò con nhà thủy thủ, đi bách bộ trên boong tàu với một vẻ trang nghiêm, trầm lặng.
Lão có vẻ không nhận thấy con tàu lắc mạnh. Thỉnh thoảng lão lại rút trong túi
áo ra một thỏi sô-cô-la, bẻ từng miếng nhấm nháp; mặc dầu tóc lão bạc phơ nhưng
răng lão còn tốt chán.
Lão chẳng nói với ai, chỉ đôi khi rỉ tai ngắn gọn với viên
thuyền trưởng, ông này thì lắng nghe một cách cung kính và hình như ông coi vị
khách có quyền chỉ huy hơn cả ông nữa.
Tàu Claymore lái khéo, lần trong sương mù, đang men theo
quãng bờ dốc dài phía bắc đảo Jersey, cố đi sát bờ để tránh dãy đá ngầm nguy hiểm
Pierres-de-Leeq, giữa đảo Jersey và đảo Serk. Gacquoil, đứng ở vị trí hoa tiêu,
lần lượt báo hiệu các dãy đá ngầm Grèves de Leeq, Gros-Nez, Plémont, hướng cho
con tàu lướt qua, như thể mò mẫm, nhưng lại vững vàng như là ở nhà mình và biết
rành rọt mọi vật trên đại dương. Tàu không thắp đèn hiệu đằng mũi, sợ bị lộ
trên những khúc biển bị kiểm soát này. Người ta mừng thầm có sương mù. Tàu đến
Grande-Etaque; sương dày đến nỗi bóng dãy núi cao Pinacle chỉ thấy hiện lên mờ
mờ. Người ta nghe thấy tháp chuông Saint-Ouen điểm mười giờ, dấu hiệu con tàu vẫn
xuôi gió. Mọi sự vẫn tiến triển tốt; đến gần dãy núi Corbière, biển mới nổi
sóng mạnh hơn.
Độ hơn mười giờ, bá tước Du Boisberthelot và kỵ sĩ La
Vieuville đưa chân lão già mặc quần áo nông dân đến tận phòng riêng, nguyên là
phòng thuyền trưởng. Lúc vào trong phòng, lão hạ thấp giọng nói với hai người:
- Các ngài chắc đã biết, cần nhất là giữ bí mật. Im lặng cho
đến khi bùng nổ. Chỉ riêng hai ngài ở đây biết tên tôi thôi.
- Chúng tôi sống để bụng chết mang đi. - Boisberthelot trả lời.
- Còn tôi - Lão già nói tiếp - đến chết tôi cũng không nói
tên tôi.
Nói xong lão đi vào phòng mình.
III
Quý tộc lẫn với bình dân
Thuyền trưởng và phó thuyền trưởng trở lên boong tàu, vừa
bách bộ bên nhau vừa trò chuyện. Dĩ nhiên, họ đang bàn tán về người khách của họ,
và đây là gần đủ câu chuyện theo gió tản đi trong bóng tối.
Boisberthelot lẩm bẩm bên tai La Vieuville:
- Để xem có đáng mặt thủ lĩnh không?
La Vieuville trả lời:
- Đó là một bậc vương hầu.
- Gần như thế.
- Dòng quý tộc ở nước Pháp, nhưng là bậc vương hầu xứ
Bretagne.
- Như các dòng họ La Trémoille và Rohan.
- Mà ông ta cũng có thân gia với phía ấy.
Boisberthelot nói tiếp:
- Ở trong nước hồi còn đi xe ngựa của nhà vua thì lão ta mang
tước hầu cũng như tôi mang tước bá và ngài là kỵ sĩ.
- Còn lâu mới có xe ngựa! - La Vieuville nói - Bây giờ chúng
ta đi xe rác cả thôi!
Im lặng một lát.
Boisberthelot lại tiếp:
- Không có ông hoàng Pháp thì người ta kiếm một ông hoàng xứ
Bretagne vậy.
- Thiếu họa mi...
- Không, thiếu phượng hoàng kiếm quạ thay.
- Tôi thích một con diều hâu hơn - Boisberthelot nói.
La Vieuville đáp lại:
- Đúng! Cần một cái mỏ và những móng nhọn.
- Để rồi xem.
- Vâng, đã đến lúc cần phải có một thủ lĩnh - La Vieuville
nói tiếp - Tôi cũng đồng ý với Tinténiac: một thủ lĩnh và thuốc súng! Này
ngài thuyền trưởng ạ, tôi biết gần hết những ông lãnh tụ tạm được và những ông
bất thành lãnh tụ; những ông lãnh tụ hôm qua, hôm nay và cả ngày mai nữa; chẳng
có anh nào xứng làm đầu não chiến tranh như chúng ta đang cần. Trong cái xứ
Vendée bất trị này, cần có một vị vừa là tướng, vừa là khâm sai; phải làm cho kẻ
thù mất ăn mất ngủ, phải giành giật từng cái cối xay, từng bụi cây, từng cái hố,
từng hòn sỏi, phải quấy nhiễu, gây thiệt hại, lợi dụng mọi trường hợp, bao quát
mọi việc, tàn sát quyết liệt, khủng bố để đe dọa, làm cho chúng mất ăn mất ngủ,
không thương xót gì cả. Lúc này, trong hàng nông dân quân, anh hùng thì có mà kẻ
chỉ huy lại không. D’Elbée thì thất tài, Lescure thì ốm yếu, Bonchamp lại quá độ
lượng; anh ta tốt, thế là ngu. La Rochejaquelein chỉ là một thiếu úy xuất sắc;
Silz là một sỹ quan quen lối đánh trận địa, không thạo lối chiến tranh dùng mưu
mẹo, tùy cơ ứng biến, Cathelineau là một anh đánh xe bò khờ khạo, Stofflet là một
lính tuần phòng quỷ quyệt chuyên canh gác những nơi cấm săn bắn, Bérard thì vụng
về, Boulainvillers thì lố bịch, Charette thì ghê tởm. Ấy là tôi không nói đến
anh thợ cạo Gaston. Bởi vì mẹ kiếp! Sinh sự với cách mạng để làm gì, và giữa bọn
cộng hòa với chúng ta khác quái gì nhau, nếu chúng ta để bọn thợ cạo chỉ huy
quý tộc?
- Là vì cái cách mạng chó đẻ sau này cũng đã thâm nhập vào cả
bọn chúng ta rồi.
- Một thứ bệnh ghẻ của nước Pháp đấy.
- Bệnh ghẻ của đẳng cấp thứ ba đấy - Boisberthelot cãi lại -
Chỉ còn nước Anh là có thể lôi chúng ra thoát cảnh đó.
- Nước Anh sẽ lôi chúng ta ra thoát, đừng nghi ngờ gì cả,
ngài thuyền trưởng ạ.
- Hãy biết hiện nay tình hình chẳng ra quái gì!
- Quả vậy, đâu đâu cũng rặt một lũ bất tài; chế độ quân chủ
có tổng tư lệnh Stofflet là một anh lính canh giữ vườn săn của ngài De
Maulevrier thì cũng chẳng có gì đáng ganh tị với bên cộng hòa có ông Bộ trưởng
Pache là con trai tên gác cổng nhà quận công De Castries. Cuộc chiến tranh hiện
nay ở Vendée sao mà cân đối thế: bên này có Santerre nấu rượu bia, bên kia có
Gaston làm tóc giả 8 !
- Ông La Vieuville ạ, tôi có một chút ý kiến về gã Gaston ấy.
Hồi hắn chỉ huy ở trận Guéménée, hắn cũng khá đấy. Hắn dùng súng hỏa mai hạ thủ
rất đẹp một lúc ba trăm tên xanh sau khi bắt chúng tự đào lấy huyệt.
- Tốt lắm, nhưng tôi cũng có thể làm không kém gì hắn.
- Chắc vậy và tôi cũng thế.
- Trong chiến tranh, những việc lớn lao phải có tay của quý tộc
mới làm nên - La Vieuville tiếp - Đó là công việc của kỵ sĩ chứ không phải của
bọn thợ cạo.
- Tuy vậy trong đẳng cấp thứ ba cũng có những người đáng quý
- Boisberthelot tiếp - Thí dụ như anh thợ đồng hồ Joly. Anh ta đóng đội ở trung
đoàn Flandres. Về sau anh ta đã thành thủ lĩnh quân Vendée. Anh ta chỉ huy một
toán quân dọc bờ biển, đứa con anh ta lại ở bên cộng hòa, và trong lúc bố chiến
đấu cho bên trắng thì con chiến đấu cho bên xanh. Chạm trán. Đánh nhau. Bố bắt
được con làm tù binh và bắn vỡ sọ con ngay tức khắc.
- Anh chàng ấy thế là tốt. - La Vieuville nói.
- Một Brutus 9 bảo
hoàng. - Boisberthelot tiếp.
- Dẫu sao, để cho một tên Coquereau, một tên Jean-Jean, một
tên Moulins, một tên Focard, một tên Bouju, một tên Chouppes chỉ huy thì cũng
không chịu được.
- Ngài kỵ sĩ thân mến ơi! Bên kia, bọn chúng cũng tức bực như
thế đấy. Bên ta đầy rẫy bọn thị dân; bọn chúng cũng đầy rẫy quý tộc. Ngài thử
nghĩ xem đời nào bọn "cộng hòa" 10 ấy
lại chịu dưới quyền chỉ huy của bá tước De Canclaux, tử tước De Miranda, tử tước
De Beauharnais, bá tước De Valence, hầu tước De Custine và quận công De Biron.
- Thật là rắc rối!
- Lại còn quận công De Chartres nữa 11 !
- Con của Egalité. Ái chà, bao giờ cái của nợ ấy lên ngôi?
- Không bao giờ.
- Hắn lên ngôi đấy. Nhờ những tội ác mà lên.
- Nhưng lại do những thói hư tật xấu làm hỏng chuyện. -
Boisberthelot nói.
Lại im lặng một lúc, rồi Boisberthelot tiếp:
- Tuy thế, hắn vẫn định dàn hòa. Hắn đã tới yết kiến đức vua.
Hồi ấy tôi cũng có mặt ở Versailles, mọi người phỉ nhổ theo.
- Từ trên cầu thang lớn nhổ xuống à?
- Vâng.
- Thế là đúng.
- Chúng tôi gọi hắn là giống Buốc-bùn 12 .
- Hắn ta trán hói, đầy mụn nhọt, lại mưu sát đức vua, thật
ghê tởm!
Rồi La Vieuville thêm:
- Tôi đã ở với hắn ở Ouessant.
- Trên chiến thuyền Saint-Esprit?
- Vâng.
- Lúc đó, nếu hắn tuân lệnh đô đốc D’Orvilliers bảo lựa theo
chiều gió thì hắn đã chặn được bước tiến của quân Anh.
- Đúng thế.
- Có phải lúc đó hắn hoàn toàn bất lực?
- Không. Nhưng mà cũng phải nói thế.
Nói xong, La Vieuville phá ra cười.
Boisberthelot lại nói tiếp:
- Có lắm đứa ngu ngốc. Như thằng cha Boulainvilliers mà ngài
vừa nói, tôi hiểu rõ hắn lắm, biết tận mắt. Mới đầu, hắn bắt bọn dân quê vũ
trang bằng giáo mác; chẳng biết ai nhét vào đầu óc hắn ý định dạy cho bọn này
thành lính đánh bằng giáo! Hắn định dạy chúng những miếng võ về phép đánh giáo
đâm chếch và kéo rê. Hắn còn mơ ước biến bọn man rợ đó thành quân đội chính
quy. Hắn định dạy chúng cách tiêu hao bốn góc của thế trận hình vuông và thành
lập những tiểu đoàn rỗng bụng. Hắn nói sai bét các danh từ quân sự cũ rích: có
danh từ dùng từ thời Louis XIV. Hắn khăng khăng lập một trung đoàn gồm toàn những
tên đi săn trộm; hắn lập những đại đội chính quy, chiều chiều bắt các viên đội
sắp hàng quay tròn lại nhận khẩu lệnh hỏi và khẩu lệnh đáp của viên đội thuộc đại
đội thứ nhất của trung đoàn, viên đội này truyền cho viên đội bên cạnh, cứ thế
chúng ghé tai nhau truyền khẩu lệnh đến viên đội cuối cùng. Hắn cách chức một
sĩ quan vì người này không chịu đứng dậy và cất mũ đón khẩu lệnh do viên đội
phát ra. Đấy ngài tính như thế mà thành sự được. Thằng cha đần độn ấy không hiểu
rằng bọn dân quê thì thích dạy dỗ theo kiểu nhà quê, chẳng bao giờ có thể đem bọn
người rừng biến thành lính được. Vâng, tôi đã được biết cái tên Boulainvilliers
đó.
Họ đi vài bước, mỗi người theo đuổi ý nghĩ riêng.
Rồi câu chuyện lại tiếp tục:
- À nhân thể, có thật ông Dampierre bị giết không nhỉ?
- Vâng, ngài thuyền trưởng ạ.
- Ở Condé à?
- Ở trại Pamars; bị một quả đại bác. - Boisberthelot thở dài.
- Bá tước De Dampierre. Lại một người nữa của ta, trước kia ở
bên chúng!
- Đi cho mát mẻ! - La Vieuville nói.
- Còn các phu nhân 13 ? Hiện nay ở đâu?
- Ở Trieste.
- Vẫn ở đó?
- Vẫn ở đó.
Rồi La Vieuville kêu lên.
- A! Cái nợ cộng hòa này! Chả ra gì mà biết bao nhiêu thiệt hại!
Ai ngờ được, chỉ vì công quỹ hụt vài triệu đồng mà sinh ra cái nạn cách mạng
này!
- Chớ coi thường, những cái sẩy dễ nảy ra cái ung! -
Boisberthelot nói.
- Mọi việc hỏng bét - La Vieuville tiếp.
- Đúng. La Rouarie thì chết, Du Dresnay thì ngốc. Còn các
ngài giám mục nữa, những ông cầm đầu ấy thật đáng buồn, như cái ông Coucy, giám
mục xứ La Rochelle, ông Beaupoil Saint-Aulaire, giám mục xứ Poitiers, ông
Mercy, giám mục xứ Luçon, tình nhân của bà De L’Eschasserie!...
- Bà ta tên là Servanteau, ngài thừa biết L’Eschasserie là
tên đất.
- Còn cái lão giám mục giả hiệu ở Agra, không hiểu lão là cha
xứ địa phận nào.
- Ở địa phận Dol. Lão tên là Guillot De Folleville. Nói cho
cùng lão ta dũng cảm, lão có tham chiến.
- Hừ! Lúc cần lính, lại chỉ có thầy tu! Giám mục chả ra giám
mục! Tướng tá chả ra tướng tá!
La Vieuville ngắt lời Boisberthelot:
- Thưa thuyền trưởng, trong buồng ngài có báo Moniteur không?
- Có.
- Hiện ở Paris đang diễn vở gì?
- Vở Adèle và Paulin, và vở Sào huyệt.
- Muốn xem mấy vở ấy quá.
- Rồi ngài sẽ được xem. Nội một tháng nữa, chúng ta sẽ ở
Paris...
Boisberthelot ngẫm nghĩ một lát rồi thêm:
- Là chậm nhất. Ngài Windham đã nói với ngài Hood như thế.
- Thưa ngài, thế ra tình hình không đến nỗi xấu lắm à?
- Có thể tốt, với điều kiện phải chỉ huy cho khéo cuộc chiến
tranh ở Bretagne.
La Vieuville gật đầu hỏi tiếp:
- Thưa thuyền trưởng, có cho đổ bộ đơn vị thủy quân lục chiến
không?
- Có, nếu trên bờ ủng hộ ta; không, nếu trên bờ chống lại ta.
Đôi khi phải đánh thọc vào cửa ngõ và đôi khi cũng phải luồn cho khéo. Tiến
hành nội chiến thì luôn luôn phải có nhiều mưu mẹo trong túi. Có thể làm gì thì
làm nấy. Cần nhất bây giờ là vị thủ lĩnh.
Rồi Boisberthelot, vẻ trầm ngâm, nói thêm:
- Ngài La Vieuville ạ, theo ý ngài thì kỵ sĩ Dieuzie như thế
nào?
- Dieuzie Em ấy ư?
- Vâng.
- Cho ra chỉ huy à?
- Vâng.
- Tôi nghĩ lại thêm một ông nữa chỉ quen tác chiến ở đồng bằng
và trên trận địa. Rừng rậm chỉ quen thuộc với dân quê thôi.
- Thế thì ngài đành phải dùng các tướng Stofflet và
Cathelineau vậy.
La Vieuville mơ màng một lúc rồi nói:
- Đáng lẽ phải có một ông hoàng, ông hoàng Pháp, ông hoàng
chính tông. Một ông hoàng thực thụ.
- Để làm gì. Cứ nói đến ông hoàng...
- Là nói đến phường nhút nhát. Tôi biết thế, thưa ngài. Nhưng
có thế mới làm lóa được những con mắt ngu xuẩn.
- Ông kỵ sĩ thân mến ơi, các vị vương hầu đều tránh mặt cả.
- Không cần họ nữa.
Boisberthelot như một cái máy, đưa tay bóp trán như muốn vắt
ra một ý kiến.
Rồi ông ta nói:
- Thôi, hãy thử dùng cái ông tướng này.
- Đó là một nhà đại quý tộc.
- Liệu ông ta có đủ đáp ứng được công việc không?
- Được, miễn là lão ta có tài! - La Vieuville nói.
- Nghĩa là hung dữ. - Boisberthelot nói.
Bá tước và kỵ sĩ nhìn nhau.
- Thưa bá tước, ngài dùng đúng chữ quá. Hung dữ. Đúng, đó mới
là cái ta đang cần. Đây là một cuộc chiến tranh khốc liệt. Thời buổi này là của
những kẻ khát máu. Bọn cộng hòa chặt đầu vua Louis XVI, chúng ta phải chặt cả
tay chân của bọn chúng. Đúng, viên tướng mà ta cần bây giờ phải là ông tướng
tàn nhẫn. Ở Anjou và miền trên Poitoux, các tướng lĩnh làm ra vẻ cao thượng; họ
luẩn quẩn mãi trong cái hào hiệp rởm; chả làm được việc gì. Ở Marais và Retz
các tướng lĩnh rất tàn bạo, mọi việc đều chạy. Chính vì Charette hung dữ nên mới
đương đầu nổi với Parrein. Chó rừng chọi lại chó rừng.
Boisberthelot chưa kịp trả lời. Câu nói của La Vieuville bị cắt
đột ngột vì một tiếng thét tuyệt vọng, rồi cùng lúc đó nổi lên một tiếng động
khác hẳn mọi tiếng vẫn thường nghe.
Tiếng kêu và những tiếng động từ trong hầm tàu dội ra.
Thuyền trưởng, thuyền phó đâm bổ về phía hầm tàu, nhưng không
vào lọt. Tất cả lính pháo đang hoảng hốt kéo lên.
Một sự việc rùng rợn vừa xảy đến.
IV
Khí cụ chiến tranh
Một khẩu pháo cỡ hai mươi tư trong khẩu đội bị tuột xích.
Đây có lẽ là một biến cố đáng sợ nhất trên mặt biển. Không
còn gì đáng sợ hơn cho một chiến thuyền đang chạy hết tốc lực giữa biển khơi.
Một khẩu đại bác đứt dây buộc bỗng nhiên trở thành một con vật
dị thường. Một khí cụ bỗng hóa thành một con quái vật. Cả cái khối nặng ấy lăn
trên bánh xe, chuyển động như hòn bi trên bàn bi-da, nghiêng ngả theo nhịp
chòng chành của con tàu, đi tới, đi lui, dừng lại, có vẻ ngẫm nghĩ, rồi lại chạy,
lao như một mũi tên từ đầu tới cuối hầm tàu, nó xoay, nó tránh, nó lẩn, nó nổi
xung, nó húc, nó làm sứt mẻ, nó đè chết, nó nghiền nát. Đây là một thứ chiến cụ
thả sức phá một bức thành. Phải nói thêm: chiến cụ bằng sắt mà bức thành lại bằng
gỗ. Đây là vật chất được thả lỏng. Có thể nói vật nô lệ muôn đời ấy đang trả
thù; hình như cái tính ác vốn có trong cái gọi là những vật vô tri đã đột ngột
nổ bùng ra; có vẻ không nhịn nhục được nữa và phục thù một cách mù quáng, kỳ quặc;
không còn gì ác liệt hơn là cơn giận dữ của những vật vô tri. Cái khối sắt điên
rồ ấy nhảy chồm lên như con báo, nặng nề như con voi, nhanh nhẹn như con chuột
nhắt, ngoan cố như rìu đẵn cây, bất ngờ như sóng biển, giành giật như ánh chớp
và điếc như nấm mồ. Nó nặng hàng chục tấn nhưng lại nẩy bật đi như một quả bóng
trẻ con chơi. Những đợt xoay tròn đột ngột cắt thành những đường vuông góc. Làm
gì bây giờ? Giải quyết thế nào? Bão có thể ngớt, lốc có thể qua, gió có thể ngừng,
cột buồm gãy có thể thay, nước tràn qua lỗ thủng vào tàu có thể bịt lại, lửa
cháy có thể dập tắt; nhưng cái vật vô tri bằng đồng đen kia rồi sẽ ra sao? Làm
cách nào bây giờ? Anh có thể nói phải trái với con chó ngao, có thể làm kinh ngạc
con bò rừng, thôi miên một con trăn, làm khiếp sợ một con hổ, làm mủi lòng một
con sư tử; nhưng không có cách nào đối phó với con vật khổng lồ là khẩu đại bác
bị tuột xích này. Anh không giết nó được vì nó là vật chết rồi; nhưng đồng thời
nó vẫn sống. Nó sống một cuộc sống quái gở từ chốn vô cùng đưa lại. Dưới nó là
sàn tàu đang lắc lư. Gió làm biển động, biển làm nghiêng ngả con tàu, con tàu
làm cho nó lảo đảo. Cái vật tàn sát kia là một thứ đồ chơi. Con tàu, sóng biển,
gió, tất cả đang dựng cho nó sống dậy. Vì thế, cuộc sống của nó thật ghê sợ. Có
cách nào chống lại cả một thế dây chuyền như vậy? Làm thế nào cản lại cái khối
khí cụ khổng lồ dẫn đến đám tàu này? Làm sao biết trước các chiều đi tới, đi
lui, đứng lại, và va chạm của nó? Mỗi lần nó húc vào thành tàu có thể làm cho
tàu vỡ tan. Làm sao đoán biết những đường đi lắt léo rùng rợn ấy? Người ta đang
chạm trán với một viên đạn biết thay đổi ý kiến, một viên đạn có vẻ biết suy
nghĩ và chốc chốc lại đổi hướng đi. Làm sao có thể chặn đứng cái vật đáng lẽ ta
phải tránh đi? Khẩu đại bác khủng khiếp vẫn lồng lộn, tiến, lui, quật bên phải,
quật bên trái, lẩn tránh, vượt qua, nghiền nát những vật chướng ngại, đè bẹp
con người như con ruồi. Tình thế kinh khủng nhất là ở chỗ sàn tàu đang ngả
nghiêng, di chuyển. Làm sao có thể trị được một mặt phẳng nghiêng có những thay
đổi thất thường? Có thể nói sấm sét bị cầm tù trong lòng con tàu đang tìm cách
thoát ra. Khác nào như là sấm rền đang lúc động đất.
Trong khoảnh khắc, tất cả thủy thủ đều sẵn sàng. Lỗi này là
do người phụ trách khẩu pháo đã không cẩn thận khi vặn ốc nối xích buộc súng và
không chèn cẩn thận bốn bánh xe; vì thế đế và khung bị long ra, làm lệch hai
cái đĩa rồi cuối cùng kéo đứt tung dây neo. Đồ chèn pháo bị nát khiến khẩu pháo
không nằm chắc trên giá nữa. Thời đó, lại chưa biết dùng loại neo cố định ở
súng, giữ cho súng không giật lùi. Một đợt sóng ập tới đập vào mạn tàu, khẩu
súng vốn buộc không kỹ, lùi lại làm đứt xích, rồi cứ thế lồng chạy khắp hầm
tàu.
Để có một ý niệm về việc khẩu pháo lăn đi lăn lại một cách lạ
kỳ như thế, ta hãy hình dung một giọt nước lăn trên một tấm kính.
Lúc dây buộc bị đứt, tất cả pháo thủ vẫn ở dưới hầm pháo. Một
số quây quần thành từng nhóm, một số khác tản mác làm mọi việc mà con nhà thủy
thủ vẫn làm để phòng khi có lệnh tác chiến. Khẩu pháo theo đà con tàu chòng
chành, vụt xuyên qua khối người đó và nghiền nát ngay bốn người từ phát đầu, tiếp
đó, lại theo đà con tàu chòng chành mà lăn trở lại nghiền đứt đôi một kẻ xấu số
thứ năm và đập vào thành tàu bên trái, trúng một khẩu pháo khác làm cho khẩu đó
bị tháo tung ra. Chính bấy giờ là lúc nổi lên tiếng kêu thê thảm mà mọi người vừa
mới nghe thấy. Tất cả đổ xô lại cầu thang. Trong nháy mắt cả hầm pháo vợi hẳn
người.
Người ta bỏ mặc khẩu pháo đồ sộ ấy một mình. Tự nó cũng thả lỏng
cho nó. Nó là chủ lấy nó, đồng thời cũng làm chủ cả con tàu. Nó muốn làm gì thì
làm. Đoàn thủy thủ quen cười trong trận mạc lúc bấy giờ cũng run lên. Khó mà tả
thành lời cái cảnh kinh khủng ấy.
Thuyền trưởng Boisberthelot và phó thuyền trưởng La
Vieuville, hai người tuy dũng cảm, cũng phải dừng lại trên đầu cầu thang, im lặng,
tái người, ngập ngừng, nhìn xuống hầm tàu. Có ai đang lấy khuỷu tay rẽ họ ra và
đi xuống.
Đó là vị khách, lão "dân quê", con người mà họ vừa
nói tới lúc nãy.
Xuống đến bậc cuối cầu thang, lão dừng lại.
V
Sức mạnh tàn bạo và con người
Khẩu pháo vẫn lao qua lao lại trong hầm tàu. Có thể nói đó là
chiếc xe của Apocalypse 14 . Ngọn đèn đi biển lắc lư trong khoang hầm
súng làm cho cảnh tượng đó lúc tối, lúc sáng, nhìn càng chóng mặt. Khẩu pháo
lao nhanh dữ dội, không còn trông rõ hình thù nữa, chỉ thấy đen xì lúc nó lao
ra ngoài sáng, và ánh lên màu trắng đục mờ khi nó lẩn vào trong bóng tối.
Khẩu pháo vẫn tiếp tục hủy hoại con tàu. Nó đã phá vỡ thêm bốn
khẩu pháo nữa và chọc hai lỗ thủng ở thành tàu, may sao chỗ thủng ấy còn trên mực
nước, nhưng nếu bão nổi lên bất ngờ thì nước sẽ theo đó mà ập vào. Nó
đâm bổ vào khắp các bộ phận trong con tàu như điên như dại,
những tấm gỗ dày, ốp hai bên mạn tàu chịu đựng rất khỏe, nhất là loại gỗ uốn
cong càng có sức bền đặc biệt; thế nhưng người ta vẫn nghe tiếng gãy răng rắc,
vì bị cái chùy khổng lồ kia nện bốn phía, liên hồi. Bỏ một hạt chì vào trong
chai rồi đem xóc lên cũng không có những tiếng đập điên loạn và dồn dập như thế.
Bốn bánh xe lăn đi lăn lại trên những xác chết, cắt xé, băm ra từng mảnh, và
năm xác chết đã biến ra hai chục khúc thịt lăn lóc khắp hầm súng; những chiếc đầu
lâu như đang kêu la; những dòng máu chảy ngoằn ngoèo trên sàn theo nhịp chòng
chành của con tàu. Bộ phận ván lót phía trong còn tàu bị hư hỏng ở nhiều chỗ bắt
đầu hở toác ra. Tiếng động khủng khiếp vang khắp con tàu.
Viên thuyền trưởng đã trấn tĩnh ngay được, rồi theo lệnh ông
ta, người ta vứt xuống qua cửa hầm mọi thứ đồ vật có thể giảm tốc độ hoặc chặn
khẩu pháo bất kham lại, nào đệm, võng, buồm dự trữ, các cuộn dây chão, các bọc
hàng và các bao đựng những tín phiếu giả chở đầy trên tàu - trong thời chiến,
việc sử dụng các tín phiếu giả là một hành động đốn mạt, nhưng được người Anh
coi là chính nghĩa.
Nhưng những đống giẻ rách ấy làm nên trò gì? Không có ai dám
xuống chèn cho đúng cách, nên vài phút sau tất cả những đồ vật kia chỉ còn là một
đống giẻ vụn.
Lúc đó, sóng bể khá dữ dội, đủ cho tai nạn hoàn thành trọn vẹn
cuộc tàn phá. Một cơn bão đến đúng lúc ấy lại hóa hay; nó có thể lật khẩu pháo
chổng bốn vó, và khi đó người ta mới chế ngự được nó. Nhưng lúc này, cuộc tàn
phá càng tăng thêm. Cột buồm cũng bị sứt mẻ, bị gãy, vì gắn liền với sườn tàu
và chạy suốt các tầng, làm thành những trụ tròn lớn. Bị khẩu pháo đập vào tới tấp,
cột buồm đằng trước bị nứt nẻ, cột buồm chính cũng bị trầy trợt. Khẩu đội pháo
tan rã. Trong số ba chục khẩu pháo, mười khẩu đã thành vô dụng; lỗ thủng bên mạn
tàu ngày càng nhiều và nước đã bắt đầu tràn vào.
Người hành khách già bước xuống đến chân cầu thang đứng ngây
ra như tượng đá. Lão nhìn cảnh tàn phá với đôi mắt nghiêm nghị. Lão đứng không
nhúc nhích. Hình như lão không thể bước được bước nào nữa vào hầm pháo.
Mỗi một chuyển động của khẩu pháo thả lỏng càng đẩy thêm con
tàu đến chỗ tan tành. Chỉ lát nữa, con tàu sẽ bị đắm. Hoặc là chết, hoặc là phải
chặn đứng tai họa; phải chọn lấy một con đường, nhưng chọn đường nào?
Khẩu pháo quả là vô địch!
Phải chặn ngay con vật điên rồ khủng khiếp ấy.
Phải cột cái ánh chớp ấy lại.
Phải dập tắt cái tia sét ấy.
Boisberthelot hỏi La Vieuville:
- Ngài có tin Chúa không, ngài kỵ sĩ?
La Vieuville trả lời:
- Có. Không. Đôi khi.
- Trong bão tố thì sao?
- Có. Và nhất là trong những giờ phút thế này.
- Quả chỉ còn Chúa mới có thể cứu chúng ta thoát nạn này -
Boisberthelot nói.
Mọi người lại nín lặng, mặc cho khẩu pháo hoành hành phá
phách một cách ghê gợn.
Bên ngoài, sóng đập vào con tàu đáp lại những tiếng va chạm
bên trong của khẩu pháo. Có thể nói như hai chiếc búa luân phiên nện vào thành
tàu.
Bỗng nhiên, trong cái trường đấu không ai dám bén mảng ấy,
nơi khẩu pháo tuột xích đang lồng lộn, một người xuất hiện, tay cầm chiếc gậy sắt.
Đó là người đã gây ra sự biến này, người phụ trách khẩu pháo cẩu thả, nguyên
nhân của tai nạn, người chủ của khẩu pháo. Anh ta đã gây ra tai họa, anh ta muốn
sửa chữa. Một tay cầm gậy sắt, tay kia cầm dây thòng lọng, anh ta nhảy từ sân
trên của con tàu xuống sàn dưới.
Thế là bắt đầu một biến cố dữ dội; một cảnh tượng vĩ đại! Cuộc
chiến đấu giữa khẩu pháo và người pháo thủ; cuộc vật lộn giữa vật chất và trí
tuệ, cuộc đọ sức giữa một đồ vật và một con người.
Anh ta đứng thu vào một góc, gậy và dây nắm trong tay, lưng tựa
vào ván gỗ khoang tàu, chân vững như hai cột bằng thép, mặt xám xanh, bình
tĩnh, ghê rợn, anh đứng chờ như mọc rễ trên sàn.
Anh ta đợi khẩu pháo xông tới gần anh.
Người pháo thủ hiểu biết khẩu pháo của mình, và anh cảm thấy
rằng hình như khẩu pháo cũng hiểu biết anh. Anh đã sống bao nhiêu lâu bên khẩu
pháo đó. Biết bao lần, anh đã lùa tay vào mõm nó! Đây là con quái vật quen thuộc
của anh. Anh bắt đầu gọi nó như gọi con chó của mình.
- Lại đây. - Anh ta bảo nó. Có lẽ anh ta cũng mến nó.
Hình như anh ta mong nó đến với anh.
Nhưng nó tới chỗ anh ta có nghĩa là nó đè lên anh ta.
Mà thế thì anh ta mất mạng. Làm sao tránh cho khỏi bị nghiền
nát? Đó là vấn đề. Mọi người đều nhìn khiếp sợ.
Không còn một lồng ngực nào thở bình thường, trừ lão già là
người duy nhất đứng ở sàn dưới, người chứng kiến ghê rợn. Lão cũng có thể bị khẩu
pháo nghiền nát. Lão vẫn đứng im không nhúc nhích. Dưới chân hai người, sóng biển
vẫn mù quáng điều khiển cuộc chiến đấu. Đúng cái lúc anh pháo phủ nhảy vào
khiêu khích khẩu pháo để chấp nhận cuộc vật lộn ghê sợ đó, tình cờ biển bớt
chao động và khẩu pháo bỗng đứng lại một lúc như sửng sốt. "Lại đây
nào!" Người pháo thủ bảo khẩu pháo như thế. Khẩu pháo có vẻ nghe ngóng. Rồi
đột nhiên, khẩu pháo chồm vào người pháo thủ. Anh ta tránh thoát.
Cuộc chiến đấu bắt đầu. Cuộc chiến đấu kỳ dị. Cái mảnh khảnh
vật lộn với xương sắt da đồng. Người dạy thú bằng da bằng thịt đánh nhau với
con vật bằng đồng. Một bên là sức mạnh, một bên là linh hồn.
Cảnh đó diễn ra trong tranh tối tranh sáng. Giống như một cảnh
tượng siêu phàm, huyền ảo.
Một điều kỳ lạ là người ta tưởng như khẩu pháo cũng có một
linh hồn, nhưng là một linh hồn căm thù và điên dại. Cái vật đui mù đó như có mắt.
Con quái vật có vẻ đang rình con người. Ít nhất người ta cũng có thể ngờ rằng
cái khối đó có mưu trí. Nó cũng biết chọn thời cơ. Nó như một loại côn trùng khổng
lồ bằng sắt, hoặc ra vẻ có cái quyết tâm của loài ma quỷ. Thỉnh thoảng con châu
chấu khổng lồ ấy nhảy lên đụng vào cái trần thấp của hầm pháo rồi nó lại rơi xuống
đứng trên bốn bánh xe như một con hổ đứng trên bốn vuốt, sau đó nó lao đi đuổi
theo con người. Còn con người thì mềm mại, nhẹ nhàng, khéo léo, luồn, lách như
một con rắn qua những cử động sấm sét kia. Anh ta tránh cuộc chạm trán, nhưng
những đòn anh ta tránh được lại nện vào con tàu, làm cho con tàu hư hại thêm.
Một khúc dây xích đứt còn đeo vào khẩu pháo. Không biết vì
sao đoạn xích đó lại quấn vào cái vít ở nắp đáy súng. Một đầu xích bị mắc vào
giá súng. Đầu kia, tự do quay tít chung quanh nòng pháo khiến cho nòng pháo
càng vung vẩy mạnh. Cái vít như một bàn tay nắm chắc lấy dây xích và dây xích mỗi
lúc càng quật mạnh và làm tăng thêm sức phá của chân súng tiếp tục húc vào thành
tàu; đoạn dây xích ấy quay chung quanh nòng súng như một cơn lốc kinh hồn; một
nắm đấm bằng đồng quay tít một cái roi sắt. Dây xích ấy làm cho cuộc chiến đấu
thêm phức tạp.
Tuy thế, người pháo thủ vẫn chiến đấu. Đôi khi lại chính anh
ta tấn công khẩu pháo; anh ta trườn theo dọc mạn tàu, gậy sắt và dây chắc trong
tay; còn khẩu pháo có vẻ am hiểu, và như đoán được người ta đang rình bẫy nó
nên nó lẩn tránh. Con người dữ tợn vẫn rượt theo.
Những việc như thế không thể kéo dài mãi. Khẩu pháo bỗng như
tự bảo: phải thôi đi! Và nó dừng lại. Mọi người cảm thấy sắp tới lúc kết thúc.
Khẩu pháo hình như có hoặc có hẳn hoi, một ý đồ hung bạo; thực thế, vì ai cũng
coi nó như một sinh vật. Đột nhiên, nó nhảy xổ lên anh pháo thủ. Anh pháo thủ
né sang một bên, cho nó vụt qua, rồi anh ta cười, quát theo: "Làm lại!"
Khẩu pháo như giận dữ, lại đập vỡ một khẩu pháo khác ở bên mạn trái; rồi như bị
một cái ná vô hình bật đi, nó vùng lao sang bên phải, chồm lên anh pháo thủ,
anh pháo thủ tránh thoát. Ba khẩu pháo khác lại bị đập vỡ tung ra; rồi như mù
quáng và không còn biết gì nữa, khẩu pháo quay lưng về phía người pháo thủ từ
phía sau lao lên phá vỡ khung gỗ bọc tàu, rồi đến chọc thủng một lỗ ở bức thành
phía mũi tàu. Anh pháo thủ lúc đó đã lẩn kịp vào chân cầu thang, cách ông già
đang đứng chứng kiến mấy bước. Anh ta cầm cây gậy sắt đứng thủ thế. Khẩu pháo
hình như đã trông thấy và không cần quay lại nữa, nó nhảy lùi về phía anh pháo
thủ nhanh như một nhát rìu bổ xuống. Anh này bị dồn sát mạn tàu, không hy vọng
thoát khỏi. Tất cả thủy thủ trên tàu cùng kêu lên một tiếng.
Nhưng lão hành khách từ trước vẫn đứng im, bỗng vụt lên nhanh
hơn tất cả những tốc độ ghê rợn vừa diễn ra. Lão vớ một bọc tín phiếu giả, và
không kể đến thân mình có thể bị nghiền nát, lão đã vứt được cái bọc vào bánh
xe của khẩu pháo.
Một người được luyện tập theo đúng phương pháp đã mô tả trong
sách của De Durosel về cách sử dụng pháo trên mặt biển cũng không thể
hành động cương quyết, bất chấp nguy hiểm và chính xác như thế.
Cái bọc có tác dụng như một cái đệm. Một viên cuội kìm được một
khối đá, một cành cây đổi được hướng đi của một trận tuyết băng. Khẩu pháo lảo
đảo. Đến lượt anh pháo thủ lợi dụng được giây phút đáng sợ ấy, thọc gậy sắt vào
giữa những đũa bánh xe đằng sau. Khẩu pháo dừng lại.
Nó nghiêng về một bên. Anh pháo thủ sử dụng thanh sắt như một
đòn bẩy làm cho khẩu pháo chao đi. Rồi cả cái khối nặng nề ấy lật nhào, tiếng
kêu vang như một quả chuông đổ xuống, và anh pháo thủ, người mướt mồ hôi, lăn xả
vào, chòng nút thòng lọng vào cái cổ bằng đồng đen của con quái vật đã bị quật
ngã.
Thế là xong. Con người đã thắng. Con kiến đánh gục con voi cổ
đại: người chim chích đã tóm được ông sấm.
Binh sĩ và thủy thủ vỗ tay hoan hô.
Mọi người xô vào mang theo dây cáp, xích sắt và trong chốc
lát, khẩu pháo đã bị buộc chặt lại.
Anh pháo thủ chào vị hành khách già.
- Thưa ngài, ngài đã cứu sống tôi.
Lão già trở lại vẻ lạnh lùng và lão không trả lời.
VI
Trên cán cân công và tội
Con người đã thắng, nhưng có thể nói là khẩu pháo cũng thắng.
Con tàu thoát được nạn khỏi bị đắm trước mắt, nhưng cũng không thể cứu vãn được
nữa. Tàu bị hỏng gần như không thể chữa được. Mạn tàu thủng năm lỗ, một lỗ phía
trước thủng khá lớn. Trong số ba chục khẩu pháo thì hai chục nằm sóng soài
trong khung. Khẩu pháo mới kìm lại và đã bị xích cũng không còn dùng được: vít ở
núm nắp đáy bị đập, không thể lấy được đường ngắm nữa. Cả khẩu đội còn lại chín
khẩu. Nước chảy vào hầm tàu, phải cấp tốc sửa ngay những chỗ hư hỏng và bơm nước
ra.
Tầng giữa, bây giờ đã có thể nhìn vào, trông hết sức ghê rợn.
Một cái chuồng nhốt voi dữ cũng không thể bị tàn phá đến thế.
Việc giấu tung tích con tàu vẫn là điều cần thiết, nhưng bây
giờ điều khẩn cấp hơn là cứu vãn cho nó khỏi đắm. Phải thắp ngay mấy ngọn đèn
đi biển cắm rải rác trên thành mạn tàu để soi sáng mặt sàn.
Suốt thời gian xảy ra sự phân tán bi thảm kia, mọi người trên
tàu bị lôi cuốn vào giữa cái sống và cái chết, chẳng còn ai biết chuyện đã xảy
ra bên ngoài con tàu cả. Sương mù dày đặc thêm: thời tiết đã thay đổi; còn tàu
buông theo chiều gió, nó đã đi chệch đường, đi quá về phía nam, có thể nhận ra
từ Jersey và Guernesey; biển động. Từng đợt sóng lớn xô đến đặt những cái hôn,
những cái hôn đáng sợ, trên những vết thương rộng hoác dọc thân tàu. Biển chao
động thật đáng sợ. Gió nồm chuyển sang gió bấc. Một cơn dông, có thể là một cơn
bão, đang xuất hiện. Mắt không còn nhìn được quá tầm bốn đợt sóng trước mặt.
Trong lúc thủy thủ sửa chữa vội vã và sơ sài những chỗ bị phá
hủy ở tầng giữa, bịt những chỗ nước ùa vào, sắp đặt những khẩu pháo thoát khỏi
tai nạn thành khẩu đội, thì lão già lại trở lên boong tàu.
Lão tựa lưng vào cột buồm lớn.
Lão không để ý đến biến động vừa diễn ra trên tàu. Kỵ sĩ La
Vieuville đã ra lệnh cho lính thủy đánh bộ dàn thành đội hình tác chiến hai bên
cột buồm lớn, và sau một hiệu còi của đội trưởng, các thủy thủ đang điều khiển
con tàu đã xếp hàng đứng thẳng trên cái trục neo buồm.
Bá tước Boisberthelot tiến lại gần người hành khách.
Theo sau thuyền trưởng là một người dữ tợn thở hổn hển, áo quần
xốc xếch, nhưng nét mặt vẫn có vẻ khoái trá.
Đó là người pháo thủ vừa tỏ tài chinh phục quái vật rất đúng
lúc và đã chặn được khẩu pháo.
Bá tước chào lão già ăn mặc lối dân quê theo đúng kiểu chào
nhà binh, và nói:
- Thưa tướng quân, người ấy đây.
Anh pháo thủ đứng thẳng, mắt nhìn xuống, với thái độ của một
người lính hầu.
Bá tước Boisberthelot tiếp:
- Thưa tướng quân, trước việc người này đã làm, ngài có nghĩ
rằng cấp chỉ huy cần phải làm gì?
- Tôi cũng nghĩ thế. - Lão già trả lời.
- Xin tướng quân ra lệnh. - Boisberthelot tiếp.
- Ngài ra lệnh đi, ngài là thuyền trưởng.
- Nhưng ngài là tướng lĩnh. - Boisberthelot nói.
Lão già nhìn người pháo thủ bảo:
- Lại đây.
Người pháo thủ tiến lên một bước.
Lão già quay lại phía bá tước Boisberthelot, gỡ tấm huy
chương Thánh Louis của thuyền trưởng, gắn vào áo ngoài anh pháo thủ.
- Hoan hô! - Các thủy thủ reo lên.
Thủy quân bồng súng chào.
Và lão già chỉ vào anh pháo thủ lúc bấy giờ đang mặt mày rạng
rỡ, ra lệnh:
- Bây giờ hãy đem bắn tên này.
Nỗi sững sờ tiếp theo tiếng hoan hô.
Rồi giữa bầu không khí lặng ngắt như trong nhà mồ, lão già cất
cao giọng nói:
- Một hành động cẩu thả đã làm hại con tàu. Rất có thể vào giờ
này, con tàu đã bị nguy. Ở trên biển khơi tức là ở trước mặt kẻ thù. Một con
tàu vượt biển là một đội quân đang xung trận. Bão táp ẩn nấp, nhưng không vắng
mặt. Tất cả biển khơi là một cuộc phục kích. Phải xử tử hình mọi tội lỗi vi phạm
trước quân thù. Không có lỗi lầm nào có thể sửa chữa được. Lòng dũng cảm phải
được khen thưởng, tính cẩu thả phải bị trừng trị.
Từng lời hạ xuống chậm rãi, nghiêm khắc, không gì lay chuyển
nổi, như những nhát rìu bổ xuống cây sồi.
Rồi lão già nhìn đám binh sĩ, tiếp lệnh:
- Thi hành ngay.
Người kia, trên áo khoác long lanh chiếc huân chương Thánh
Louis, gục đầu xuống.
Theo hiệu lệnh của bá tước Boisberthelot, hai thủy thủ đi xuống
tầng giữa, rồi trở lên mang theo chiếc võng liệm; cha tuyên úy từ lúc tàu rời bến
vẫn ngồi cầu nguyện trong khoang sĩ quan, cũng theo hai thủy thủ lên; một viên
đội chọn trong binh sĩ ra mười hai người, xếp thành hai hàng, mỗi hàng sáu người;
anh pháo thủ không thốt ra một lời nào, đứng vào giữa hai hàng lính. Cha tuyên
úy tay cầm thánh giá đến bên cạnh anh ta. "Đi", viên đội hô. Tiểu đội
hành hình bước lên chậm chạp. Hai thủy thủ mang võng liệm đi theo.
Cả tàu lặng lẽ, não nề. Một cơn dông tố vù vù ở tận xa xa.
Lát sau, một loạt súng nổ vang trong bóng đêm, một luồng ánh
sáng lóe lên, rồi tất cả im lìm và người ta nghe thấy tiếng một xác người rơi
xuống biển.
Lão hành khách già vẫn tựa cột buồm lớn, tay khoanh lại, nghĩ
ngợi.
Boisberthelot giơ ngón tay trỏ bên trái về phía lão, nói nhỏ
với La Vieuville:
- Xứ Vendée đã có một thủ lĩnh.
VII
Ai ra khơi là chơi xổ số
Nhưng rồi con tàu sẽ ra sao?
Suốt đêm, mây cứ là là mặt biển, bây giờ mây càng sà thấp đến
nỗi tưởng như không còn chân trời nữa và biển cả như đang khoác một chiếc áo rộng.
Chỉ thấy toàn là sương mù. Ngay đối với một con tàu còn tốt, tình huống ấy vẫn
là nguy kịch.
Đã sương mù lại thêm sóng dữ.
Người ta đã tranh thủ thời gian, để cho con tàu được nhẹ
nhõm, người ta đã vứt xuống biển tất cả những vật bị khẩu pháo phá hủy, nòng
pháo hỏng, bệ súng vỡ, những bộ phận trên tàu đã long đanh hoặc cong vắt, những
mảnh ván, khúc sắt gãy vụn; người ta đã mở các cửa sổ thành tàu và đã dùng những
tấm ván để trút xuống bể những xác chết và những mảnh thây người nát vụn bọc
trong những túi vải bạt.
Mặt biển bắt đầu chuyển dữ dội. Cơn bão chắc chắn không đến
nhanh; trái lại, nghe như cơn bão đang chuyển ào ào và giảm dần ở phía sau chân
trời, luồng gió chuyển lên hướng bắc; tuy vậy, sóng biển dâng rất cao, đó là dấu
hiệu đáy biển động và con tàu ọp ẹp như thế không chịu nổi những cơn lắc mạnh,
gặp sóng to thì thật là tai hại.
Gacquoil vẫn đứng đăm chiêu ở tay lái.
Tươi tỉnh trước nguy nan, đó là thói quen của những người chỉ
huy trên mặt biển.
La Vieuville, người vốn vui tính ngay trong hoàn cảnh bi đát
nhất, đến bên Gacquoil. Ông ta bảo:
- Này, bác hoa tiêu, bão chuyển hướng khác rồi. Nó muốn hắt
hơi mà không được. Thế là thoát. Gió sẽ mạnh lên. Thế thôi.
Gacquoil nghiêm nghị, đáp:
- Còn gió là còn sóng.
Không vui, không buồn, con người thủy thủ là như vậy.
Câu trả lời có một ý nghĩa đáng lo ngại. Với một con tàu đã
ngấm nước, nói "còn sóng" tức là "chóng ngập nước".
Gacquoil hơi chau mày lại để nhấn mạnh thêm điều tiên đoán của mình. Có lẽ sau
câu chuyện tai hại về khẩu pháo và người pháo thủ, La Vieuville đã bông lơn quá
sớm. Còn ở ngoài khơi, còn nhiều điều gieo tai họa. Biển cả là bí mật; nào ai
lường được nó chứa chấp những gì. Phải đề phòng.
La Vieuville thấy cần trở lại nghiêm túc.
- Chúng ta đang ở đâu hoa tiêu? - La Vieuville hỏi.
Người hoa tiêu trả lời:
- Chúng ta đang ở trong ý muốn của Chúa.
Hoa tiêu là một người làm chủ; thường phải để mặc anh ta làm
và đôi khi để mặc anh ta nói. Vả chăng, hạng người ấy ít nói. La Vieuville bèn
bỏ đi chỗ khác.
La Vieuville vừa hỏi người hoa tiêu xong, chân trời như trả lời
ông ta.
Biển bỗng nhiên hiện rõ.
Sương mù đang phủ lê thê trên mặt biển bỗng rách từng mảng,
những đợt sóng tối sẫm trải ra xa tắp trong ánh sáng mờ mờ, và họ đã trông thấy
rõ.
Mây tụ lại như một cái vung trên trời; nhưng mây không sà thấp
xuống mặt nước nữa; phía đông, hiện lên một màu bàng bạc lúc sang ngày, phía
tây tái nhợt một màu bàng bạc lúc trăng lặn. Hai vệt sáng trắng nhờ nhờ đối diện
nhau ở hai phía chân trời giữa cảnh biển âm u và vòm trời tăm tối.
Trên hai vầng sáng đó, in rõ nhiều hình thù đen sẫm, sừng sững,
không nhúc nhích.
Phía tây, trên nền trời còn sáng ánh trăng, nổi bật lên hình
ba khối đá cao đứng sừng sững như những nham tự thạch từ đời Celte còn lưu lại 15 .
Phía đông, nơi chân trời tái nhạt ban mai, in hình tám chiếc
tàu buồm dàn thành tuyến tiếp cận nhau một cách đáng sợ.
Ba khối đá là dãy núi đá ngầm nổi lên giữa biển. Tám chiếc
tàu buồm kia là một hạm đội.
Như vậy, đằng sau họ là dãy Minquiers nổi tiếng nguy hiểm, và
đằng trước họ là hạm đội tuần tiễu Pháp. Phía tây là vực thẳm, phía đông là cuộc
tàn sát; họ đang bị kẹp giữa cái thế hoặc bị đắm tàu, hoặc phải chiến đấu.
Đối phó với đá ngầm, con tàu chỉ có một cái vỏ thủng, những
khí cụ rã rời, những cột buồm lung lay tận gốc; còn để giao chiến, một khẩu đội
ba chục pháo thì hai mươi mốt khẩu đã bị xộc xệch và những pháo thủ thiện chiến
nhất đã chết rồi.
Trời mới tờ mờ sáng, và phía trước vẫn còn mờ mờ bóng đêm. Có
thể còn lâu mới sáng rõ vì mây cao, dày và đen đặc, trông như một cái vòm vững
chãi. Cuối cùng gió đã cuốn hết những đám sương mù thấp là là và đang đẩy con
tàu đến dãy Minquiers.
Con tàu mệt mỏi và hư nát, hầu như không theo chiều lái, cứ
thế trôi băng băng, phó mặc cho sóng dồi.
Minquiers, một dãy đá ngầm ghê rợn, thời đó còn gập ghềnh hơn
ngày nay nhiều lắm. Bức thành của vực thẳm ấy có vô số cái tháp đã bị san bằng
vì sóng biển không ngừng cắt xén; hình dãy đá ngầm luôn luôn thay đổi; không phải
là vô hình mà sóng còn gọi là lưỡi dao, mỗi đợt thủy triều là một mạch cưa. Vào
thời đó, đụng vào dãy Minquiers là tự sát.
Về phía hạm đội tuần tiễu, đó là hạm đội Cancale, nổi tiếng từ
khi thuyền trưởng Duchesne chỉ huy, người mà Leskinio gọi là "bố
Duchêne" 16 .
Hoàn cảnh thật nguy ngập. Con tàu, trong khi xảy ra vụ tuột
xích pháo, đã đi chệch hướng về phía Granville chứ không phải về Saint-Malo mà
không biết. Dù nó còn có thể giương buồm vượt sóng thì dãy Minquiers cũng đã chặn
mất đường rút về đảo Jersey, và hạm đội tuần tiễu cũng đã chặn mất đường vào đất
Pháp.
Vả chăng, bão tuy không có, nhưng vẫn còn sóng, đúng như người
hoa tiêu đã nói. Đại dương cuồn cuộn dưới luồng gió hung dữ và trên một đáy biển
đang gào thét, trông thật tàn bạo.
Biển cả chẳng bao giờ chịu nói ngay cái mà nó muốn. Trong vực
thẳm có tất cả, kể cả sự lừa lọc. Hầu như có thể nói rằng biển có một thủ tục
riêng; tiến rồi thoái, đề nghị rồi thủ tiêu, phát ra một cơn bão tố rồi lại thôi,
dứ vực thẳm rồi lại ngừng, dương đông mà lại kích tây. Suốt đêm, tàu Claymore
chìm trong sương mù và sợ một cơn bão; nhưng biển vừa lật lọng một cách tàn bạo;
nó phác ra một trận bão nhưng lại đẩy con tàu đến chỗ đá ngầm. Rốt cuộc cũng là
nạn đắm tàu, dưới một hình thức khác.
Con tàu có thể vừa bị đắm vì đá ngầm, vừa bị tiêu diệt trong
chiến đấu. Kẻ địch nọ tiếp tay cho kẻ địch kia.
La Vieuville cười dũng cảm, kêu lên:
- Chỗ này tàu đắm, chỗ kia chiến trường. Ở cả hai phía chúng
ta đang chơi xổ số.
VIII
9 = 380
Con tàu gần như chỉ còn là một cái xác trôi bập bềnh.
Trong cái cảnh ánh sáng ban mai tản mát, nhợt nhạt, mây đen
thẫm, trong những chuyển động lờ mờ của chân trời, trong những lớp sóng nhăn
nhó, bí ẩn, có một vẻ trang nghiêm như trong nhà mồ.
Mọi vật im lặng, ngoài tiếng gió vù vù, hằn học. Từ vực thẳm,
tai họa hiện ra một cách oai nghiêm. Nó giống như ma quỷ hiện hình chứ không giống
như một cuộc công kích. Núi đá không có cái gì động đậy, trong các chiến hạm
không có cái gì nhúc nhích. Một thứ im lặng mênh mông. Trước mặt là cảnh thật
chăng? Tưởng như đó chỉ là một giấc mơ lướt trên mặt biển. Trong truyện cổ tích
vẫn có những cảnh huyền ảo như thế; con tàu như đang ở giữa dãy núi quỷ và hạm
đội ma.
Bá tước Boisberthelot ra lệnh khẽ cho La Vieuville và ông này
xuống khoang pháo ngay, rồi viên thuyền trưởng mang ống nhòm tới đứng bên cạnh
người hoa tiêu ở phía cuối tàu.
Gacquoil chỉ còn biết cố giữ cho con tàu đứng vững trong sóng
gió, bởi vì gió và sóng biển cùng đập vào sườn tàu, con tàu khó mà tránh khỏi bị
lật nhào.
- Hoa tiêu, chúng ta đang ở đâu? - Thuyền trưởng hỏi.
- Dãy Minquiers.
- Về phía nào?
- Phía nguy hiểm.
- Bề sâu ra sao?
- Đầy mỏm đá.
- Có thể neo lại được không?
- Lúc nào cũng có thể chết được - Người hoa tiêu trả lời.
Viên thuyền trưởng đưa ống kính về phía tây và quan sát dãy
Minquiers; rồi ông ta lại quay sang quan sát đoàn tàu buồm.
Người hoa tiêu tiếp, như nói với mình:
- Đây là dãy Minquiers, nơi dừng chân của giống hải âu nhí nhảnh,
khi từ đất Hà Lan bay đi và cũng là nơi nghỉ ngơi của giống hải âu lớn lông
đen.
Trong lúc đó, viên thuyền trưởng đã đếm đủ các tàu buồm.
Đúng tám chiếc tàu sắp hàng nghiêm chỉnh, dựng lên trên mặt
nước cái hình thù công kích của chúng. Giữa đoàn tàu, nổi lên hình cao lớn của
một chiến hạm ba tầng.
Viên thuyền trưởng hỏi hoa tiêu:
- Anh có biết các tàu đó không?
- Biết chứ! - Gacquoil trả lời.
- Gì vậy?
- Hạm đội.
- Của nước Pháp à?
- Của quỷ sứ.
Một lát im lặng. Viên thuyền trưởng tiếp:
- Tất cả hạm đội tuần tiễu ở đó phải không?
- Không phải tất cả.
Quả vậy, hôm 2 tháng 4, Valazé 17 đã báo cáo trước viện quốc ước là trên biển
Manche có mười tuần dương hạm và sáu chiến hạm làm nhiệm vụ tuần tiễu. Viên
thuyền trưởng chợt nhớ lại tin đó. Ông ta nói:
- Đúng rồi, hạm đội có mười sáu tàu, mà ở đây mới chỉ có tám.
- Số còn lại đang rải khắp bờ biển làm nhiệm vụ do thám -
Gacquoil nói.
Viên thuyền trưởng, vẫn không rời ống nhòm, lẩm bẩm:
- Một chiến hạm ba tầng, hai tàu hạng nhất, năm tàu hạng nhì.
Gacquoil làu bàu:
- Tôi cũng đã từng do thám chúng.
- Toàn là chiến thuyền tốt - Viên thuyền trưởng nói - Tôi
cũng đã được chỉ huy chúng ít lâu.
- Còn tôi - Gacquoil nói - tôi đã nhìn chúng tận mắt.
Tôi không thể lẫn cái nọ với cái kia được. Hình thù từng cái
đã in sâu trong óc tôi.
Viên thuyền trưởng đưa ống nhòm cho hoa tiêu.
- Hoa tiêu, anh có nhận ra chiến hạm có tầng cao kia không?
- Có, đó là tàu Côte-d’Or.
- Thay tên rồi - Viên thuyền trưởng nói - Ngày trước tàu đó
là Etats-de-Bourgogne. Một tàu mới. Trăm hai mươi tám khẩu đại bác.
Ông ta rút trong túi ra cuốn sổ tay, cái bút chì và ghi con số
128.
Ông ta tiếp:
- Hoa tiêu, còn chiếc tàu thứ nhất bên mạn trái?
- Expérimentée.
- Chiến hạm loại trung hạng nhất. Năm mươi hai đại bác.
Tàu này mới lắp súng hai tháng trước đây ở Brest.
Viên thuyền trưởng ghi vào sổ tay con số 52.
- Hoa tiêu, còn chiếc thứ hai bên mạn trái? - Ông ta hỏi tiếp.
- Dryade.
- Hạng trung loại nhất. Bốn mươi đại bác mười tám ly.
Tàu này đã qua Ấn Độ. Nó có lịch sử chiến đấu khá.
Rồi ông ta viết con số 40 dưới con số 52; viết xong, ông ta lại
ngửng đầu lên:
- Bây giờ, bên mạn phải.
- Thưa thuyền trưởng, toàn là tàu loại trung hạng nhì, có cả
thảy năm chiếc.
- Chiếc thứ nhất tính từ chiến hạm lớn?
- Résolue.
- Ba mươi hai khẩu mười tám ly. Cái thứ nhì?
- Richemont.
- Trang bị như chiếc trước. Còn chiếc sau?
- Athée 18 .
- Đi biển mà mang tên kỳ khôi như vậy. Chiếc sau?
- Calypso.
- Sau nữa?
- Preneuse.
- Năm tàu, mỗi tàu có ba mươi hai khẩu.
Viên thuyền trưởng ghi con số 160 xuống dưới hàng chữ số đã
viết.
- Hoa tiêu, anh nhận ra được cả chứ? - Thuyền trưởng hỏi.
- Thưa thuyền trưởng, ngài còn biết rõ hơn - Gacquoil đáp -
Nhận ra là một chuyện, biết được mới quan trọng.
Viên thuyền trưởng mắt chăm chú nhìn vào quyển sổ, miệng cộng
lẩm nhẩm.
- Trăm hăm tám, năm mươi hai, bốn mươi, trăm sáu mươi.
Vừa lúc đó, La Vieuville bước lên boong tàu. Thuyền trưởng bảo
ông ta:
- Ngài kỵ sĩ, chúng ta chạm trán với ba trăm tám mươi khẩu đại
bác.
- Được. - La Vieuville đáp.
- Ngài La Vieuville, ngài vừa kiểm tra xong; vậy dứt khoát
còn bao nhiêu khẩu bắn được?
- Chín khẩu.
- Được - Đến lượt Boisberthelot nói.
Ông ta lại lấy chiếc ống nhòm trong tay người hoa tiêu đưa
lên nhìn phía chân trời.
Tám chiếc tàu lặng lẽ và đen chũi vẫn như không nhúc nhích,
nhưng lớn dần lên.
Chúng xích lại gần nhau từng tí một.
La Vieuville chào theo lối nhà binh rồi nói:
- Thưa thuyền trưởng, tôi xin báo cáo. Tôi vốn không tin vào
chiếc chiến hạm Claymore này. Bỗng dưng xuống một chiếc tàu chẳng biết mình hoặc
chẳng ưa gì mình bao giờ cũng phiền toái. Khẩu pháo chó má kia đã chứng tỏ điều
đó. Tôi vừa đi xem xét qua. Neo tốt. Không phải loại sắt đúc sạch cặn mà làm bằng
các thanh sắt hàn lại, nện bằng búa máy. Ngạnh neo chắc. Giây cáp tốt, dễ thả,
chiều dài đúng kích thước quy định, trăm hai chục sải. Đạn dược đầy đủ. Sáu
pháo thủ chết. Mỗi khẩu còn có thể bắn một trăm bảy mươi mốt phát đạn.
- Vì chỉ còn chín khẩu thôi - Viên thuyền trưởng lẩm bẩm.
Boisberthelot lại chĩa ống nhòm về phía chân trời. Hạm đội vẫn
từ từ tiến đến.
Những khẩu pháo kiểu cổ có cái lợi là chỉ ba người cũng sử dụng
được; nhưng lại bất lợi là tầm bắn không xa và không chính xác bằng đại bác.
Như thế là phải đợi cho đoàn tàu kia tới tầm súng bên này. Viên thuyền trưởng
khẽ ra lệnh. Trên tàu im lặng. Người ta không khua chuông báo động mà chỉ thực
hiện lệnh báo động. Tàu Claymore đã không đủ sức chống chọi với người cũng như
với sông nữa. Người ta sử dụng triệt để cái thân tàn của con tàu. Họ tập trung
lại trên sàn tàu, gần chỗ dây chuyền bánh lái, và các dây thép dự trữ để khi cần
thì níu chặt cột buồm. Họ thu dọn chỗ cho thương binh. Theo cách sử dụng chiếc
thuyền thời đó, họ cho che boong tàu, làm cách đó thì chống được các đạn cỡ nhỏ,
nhưng không chống được đạn lớn. Họ đem khuôn đo cỡ đạn tới, tuy rằng đến bây giờ
mới đo thì cũng đã muộn; nhưng nào ai ngờ đã xảy ra đến bấy nhiêu chuyện. Mỗi
thủy thủ được phát một túi đạn và giắt ở thắt lưng hai khẩu súng lục và một con
dao găm. Họ xếp võng ngủ lại; họ lấy tầm cho súng lớn; họ dàn các tay súng trường
để bắn từng loạt; họ xếp sẵn rìu búa và móc sắt. Trong kho họ đã chuẩn bị xong
những túi thuốc súng và đạn đại bác, kho thuốc nổ được mở toang. Người nào về vị
trí người ấy. Họ làm các việc trên không nói một lời, như phục dịch trong buồng
người sắp chết. Thật nhanh và thật ảm đạm.
Rồi họ hạ neo. Tàu này có sáu neo như loại chiến hạm hạng
trung. Họ bỏ cả sáu neo, neo tiền, neo hậu, neo mạn nước dâng ở phía biển khơi,
neo mạn nước rút ở phía có đá ngầm, neo nhiều ngạnh ở mạn phải, neo cái ở mạn
trái.
Cả chín khẩu pháo còn sót lại đều được dựng dậy sẵn sàng chiến
đấu, cả chín khẩu chĩa về một phía, phía có quân địch.
Phía hạm đội, không kém lặng lẽ cũng đã chuẩn bị xong. Tám
chiếc tàu giờ đây hợp thành một cánh cung mà dây cung là dãy Minquiers. Tàu
Claymore bị vây trong cánh cung đó, ngoài ra còn bị neo của mình trói chặt, dựa
vào dãy đá ngầm, nghĩa là sẽ bị đắm.
Như một bầy chó săn vây quanh một con lợn lòi, không cất tiếng
mà chỉ nhe nanh.
Hình như đôi bên đều chờ đợi nhau.
Các thủy thủ tàu Claymore đều đã về vị trí pháo của mình.
Boisberthelot bảo La Vieuville:
- Tôi muốn nổ súng trước.
La Vieuville đùa:
- Cái thú làm đỏm đấy.
IX
Có một người thoát thân
Người khách vẫn đứng trên boong, thản nhiên quan sát tất cả.
Boisberthelot lại gần, nói:
- Thưa ngài mọi việc chuẩn bị đã xong xuôi. Giờ đây, chúng
tôi như đã bám chắc vào mồ rồi, chúng tôi sẽ không buông. Chúng tôi là tù nhân
của hạm đội hoặc của đá ngầm. Không còn cách nào khác, ngoài việc đầu hàng địch,
hoặc chìm đắm trong chỗ đá ngầm. Chỉ còn một con đường: chết. Thà chiến đấu còn
hơn là bị đắm. Tôi thích bị đạn nã hơn là chết đuối; cũng là chết tôi thích chọn
lửa hơn là nước. Nhưng chết là việc của chúng tôi, không phải là việc của ngài.
Ngài đã được các vương hầu tin cậy, ngài có nhiệm vụ trọng đại là điều khiển cuộc
chiến tranh ở Vendée. Mất ngài có thể là mất nền quân chủ; vậy ngài phải sống.
Vinh dự của chúng tôi là ở lại đây còn vinh dự của ngài là phải thoát khỏi đây.
Thưa tướng quân, ngài sẽ rời con tàu này. Tôi sẽ cắt cho ngài một thủy thủ và một
chiếc xuồng. Đi theo một con đường vòng để cập bờ không phải là không thể thực
hiện được. Trời chưa sáng rõ, sóng cao, biển tối, nhất định ngài sẽ đi thoát.
Có những trường hợp, trốn tức là thắng.
Lão già gật đầu, nghiêm khắc, tỏ vẻ bằng lòng.
Bá tước Boisberthelot cất cao giọng:
- Các binh sĩ và thủy thủ!
Mọi hoạt động đều dừng lại, và mọi người trên tàu quay về
phía thuyền trưởng.
Thuyền trưởng nói tiếp:
- Vị này là khâm mạng của đức vua. Người được giao phó cho
chúng ta, chúng ta phải bảo vệ Người. Người rất cần cho ngai vàng nước Pháp;
trong khi còn thiếu một vị hoàng thân, Người sẽ là thủ lĩnh vùng Vendée và đó
cũng là lòng mong đợi của chúng ta. Người là một vị đại tướng. Đáng lẽ người cập
bờ nước Pháp cùng với chúng ta, nhưng giờ đây, Người phải cập bờ thiếu chúng
ta. Cứu được thủ lĩnh là cứu được tất cả.
- Đúng rồi! Đúng rồi! Đúng rồi! - Mọi người trên tàu cùng trả
lời.
Thuyền trưởng nói tiếp:
- Người cũng còn phải vượt nhiều nguy hiểm nghiêm trọng nữa.
Cập được bờ không phải dễ dàng gì. Đáng lẽ chiếc xuồng phải lớn để đương đầu với
sóng to, vậy mà hiện giờ nó lại cần phải nhỏ để thoát khỏi hạm đội địch. Phải cập
vào một bến chắc chắn, tốt nhất là gần Fougères hơn là Coutances. Cần có một thủy
thủ vững vàng, chèo giỏi, bơi giỏi. Lại là người địa phương, thông tỏ đường lối
đi theo người. Bây giờ trời còn đủ tối để cho chiếc xuồng con rời khỏi tàu mà
không bị lộ. Rồi sau, khói súng sẽ che lấp chiếc xuồng đi thoát. Xuồng nhỏ có
thể thoát qua các mũi đá ngầm. Có lối đi, con báo thì mắc cạm nhưng con chồn lại
lọt. Chúng ta cùng đường, người vẫn còn lối thoát; mạnh tay chèo, chiếc xuồng sẽ
đi xa, tàu địch không thể trông thấy được; vả lại trong lúc đó, ở đây chúng ta
sẽ đùa với chúng một chập. Nói thế rõ chứ?
- Rõ! Rõ! Rõ! - Mọi người trên tàu cùng kêu lên.
Không để lỡ một phút, viên thuyền trưởng nói tiếp:
- Ai tình nguyện làm việc này?
Từ trong bóng tối, một thủy thủ tách khỏi hàng ngũ và nói:
- Có tôi.
X
Người đó thoát chăng?
Lát sau, một chiếc xuồng nhỏ gọi là you-you vẫn
dùng riêng cho các thuyền trưởng tách ra khỏi con tàu. Trong thuyền có hai người,
ngồi sau là người hành khách già, ngồi trước là anh thủy thủ "tình nguyện".
Trời hãy còn tối. Theo đúng lời dặn của thuyền trưởng, người thủy thủ ra sức
chèo xuồng về phía dãy Minquiers. Không còn con đường thoát nào khác. Người ta
đã đưa xuống xuồng một ít lương thực gồm một bao bánh bích quy, một miếng thịt
thăn bò hun và một thùng nước.
Lúc chiếc xuồng rẽ sóng lên đường, La Vieuville ngạo nghễ trước
vực thẳm, nhoài người qua trục lái tàu, nhoẻn miệng cười gửi lời chào vĩnh biệt:
- Để đi trốn thì tốt, và để chết đuối càng tuyệt.
- Thưa ngài - Người hoa tiêu nói - bây giờ chẳng nên cười nữa.
Chiếc xuồng lướt nhanh, không mấy chốc đã cách xa con tàu.
Thuận buồm xuôi gió, vững tay chèo, chiếc xuồng tiến nhanh dập dềnh trong ánh
sáng chạng vạng và khuất sau những đợt sóng cao.
Một cảnh chờ đợi ảm đạm bao trùm mặt biển, khó tả nên lời.
Bỗng nhiên, giữa cái thầm lặng mênh mông và hỗn độn những đại
dương, một giọng nói cất lên vang qua chiếc loa phóng thanh như thể qua chiếc mặt
nạ bằng đồng trong bi kịch cổ đại, tưởng như siêu phàm.
Chính là thuyền trưởng Boisberthelot đã cất tiếng. Ông ta kêu
lên:
- Thủy quân hoàng gia! Hãy đóng đinh lá cờ trắng lên trên ngọn
cột buồm lớn. Chúng ta sẽ chào mặt trời lần cuối cùng.
Rồi một phát đại bác từ tàu Claymore vụt bắn ra.
- Hoàng thượng vạn tuế! - Tất cả thủy thủ cùng hô.
Đồng thời, người ta cũng nghe thấy từ chân trời xa tít một tiếng
hô khác, âm vang, vời vợi, hỗn độn mà rõ từng tiếng:
- Cộng hòa muôn năm!
Rồi vang lên trên vùng đại dương sâu thẳm, một tiếng nổ như
ba trăm tiếng sét gộp lại.
Trận chiến đấu bắt đầu.
Mặt biển phủ đầy khói lửa.
Đạn rơi xuống biển, làm tung lên những cột bọt nước lốm đốm mặt
sóng khắp phía.
Tàu Claymore bắt đầu khạc lửa sang tám tàu chiến. Cùng một
lúc cả hạm đội tuần tiễu quây vòng bán nguyệt quanh tàu Claymore, toàn bộ các cỡ
súng cùng nổ. Chân trời đỏ rực, trông như một ngọn núi lửa phụt lên giữa biển.
Gió thổi xoắn cái khối đỏ rực mênh mông đó của chiến trường trong đó đoàn tàu
khi ẩn khi hiện như những bóng ma. Trên bình tuyến thứ nhất của bức tranh đó,
cái bộ sườn đen ngòm của tàu Claymore nổi bật lên trên nền đỏ sẫm.
Trên ngọn cột buồm lớn, trông rõ lá cờ có thêu hoa bách hợp.
Hai người ngồi trên chiếc xuồng nhỏ nín lặng.
Chân dãy núi Minquiers, hình tam giác, rộng hơn cả hòn đảo
Jersey, ngập dưới biển, đầy đá ngầm; biển phủ kín; nơi cao nhất là một bãi đá
ngay cả khi nước thủy triều dâng cao cũng không bao giờ bị ngập và tách ra về
phía đông bắc là sáu mõm đá xếp thành đường thẳng, nom từ xa giống hệt như một
bức thành bị sụp đổ từng quãng. Eo bể giữa bãi đá và mõm đá ấy chỉ có thuyền nhẹ
ván nông mới đi lọt. Qua khỏi con đường eo ấy là thông ra biển cả.
Người thủy thủ đã nhận đưa chiếc xuồng nhỏ trốn thoát, lái
cho xuồng đi vào đường eo ấy. Bằng cách ấy, anh ta chèo xuồng giữa dãy
Minquiers và nơi đang tác chiến. Anh ta chèo khéo léo theo con đường nước hẹp,
tránh các mỏm đá ở hai bên mạn xuồng; bây giờ những mỏm đá đã che khuất hẳn chiến
trường. Càng ra xa, ánh lửa phía chân trời và tiếng đại bác dữ dội càng yếu dần
đi; nhưng nghe tiếng nổ rền hồi nọ tiếp hồi kia, có thể biết được rằng tàu
Claymore vẫn đứng vững và định trút sạch tất cả trăm chín mươi mốt loạt đạn. Rồi
chiếc xuồng chèo ra được tới chỗ biển thênh thang tránh xa hẳn dãy đá ngầm,
tránh xa nơi xung đột, tránh xa tầm đạn.
Dần dần mặt biển sáng sủa thêm lên, những vệt lấp lánh thẫm
màu lan rộng ra, bọt nước vỡ tung thành những tia sáng, từng mảnh trắng bềnh bồng
trôi trên mặt sóng. Trời sáng rõ.
Chiếc xuồng đã tránh được tầm pháo địch, nhưng cái khó khăn
nhất vẫn còn. Thoát khỏi súng đạn nhưng chưa thoát khỏi bị đắm. Xuồng bắt đầu
ra khơi, sóng lớn, thân nhỏ bé, không boong, không buồm không cột, không la
bàn, chỉ trông cậy vào đôi mái chèo; trước biển cả sóng to gió lớn, thực là một
hạt nguyên tử nhỏ xíu phó mặc cho những sức mạnh khổng lồ.
Rồi ngay lúc đó, giữa cảnh mênh mông và tịch mịch ấy, người
ngồi đằng mũi xuồng bỗng ngẩng bộ mặt mà ánh sáng ban mai chiếu nhợt nhạt nhìn
thẳng vào mặt người ngồi cuối xuồng mà nói:
- Tôi là em của người mà ông đã ra lệnh bắn chết.
--------------------------------
|
Đại biểu của tư sản công thương nghiệp, nắm chính quyền sau
cuộc khởi nghĩa 10-08-1792, khoảng giữa 1793, thiên hữu, bênh vực phe bảo
hoàng và Louis XVI, nên bị lật đổ ngày 31-05-1793. Phái Jacobin lên thay. |
|
|
Dòng họ quý tộc Pháp. |
|
|
Hạ sĩ quan quân đội hoàng gia, về sau theo cách mạng lên đến
cấp tướng, trẻ và có tài, đã dẹp loạn Vendée. |
|
|
Chỉ người quý tộc hoặc nguyên lão nghị viện. |
|
|
Thủ phủ đảo Jersey. |
|
|
Tổng chỉ huy quân đội Anh ở vùng Flandres. |
|
|
Prieur De La Marne (1756 - 1827 : Đại biểu quốc hội của quận
Marne, ủy viên Ủy ban cứu quốc, đặc phái viên của chính quyền cách mạng tới dẹp
loạn ở Vendée. |
|
|
Gaston le merlan (nguyên văn có nghĩa là "Gaston
cá tẩm bột", gọi thế vì rắc phấn lên những bộ tóc giả cũng giống như tẩm
bột vào cá đem rán. Đây là một thành ngữ dân gian. |
|
|
Tên một nhân vật La Mã thời cổ, coi lý tưởng hơn tình cha
con. |
|
|
Sans-culolte (nguyên văn có nghĩa là "không mặc quần
chẽn". |
|
|
Duc-de-Chartres, con của Philippe-Egalité, sau làm vua
(1848 . Đó là vua Louis-Philippe. |
|
|
Bourbon trong Bourbon le bourbeux (nguyên văn là dòng họ
nhà vua, còn bourbeux có nghĩa là "bùn lầy hôi hám", một lối chơi
chữ. |
|
|
Đây là hai người chị dâu vua Louis XVI. |
|
|
Tên cuốn sách khó hiểu cuối bộ Tân Ước, thường được gắn với
chuyện tận thế. Gọi chiếc xe của Apocalypse là có ý muốn nói một vật gì to lớn
đáng sợ như một quái vật trong cảnh tận thế. |
|
|
Cư dân xưa ở châu Âu, còn di tích ở Pháp và ở Anh. |
|
|
Père Duchêne (phát âm như Duchesne : Tên một nhân vật
bình dân ở vùng Paris. Hồi này Hebert, một nhà cách mạng lấy tên ấy đặt cho một
tờ báo thiên tả do ông chủ trương. |
|
|
Charles Valazé (1751 - 1793 : Đại biểu Girondin trong quốc
hội Cách mạng Pháp. |
|
|
Vô thần. |
Quyển ba
Halmalo
I
Lời nói có thần linh
Lão già từ từ ngẩng đầu lên.
Người vừa nói với lão trạc ba mươi tuổi. Trán anh ta rám nắng
biển; đôi mắt kỳ dị, đó là cái nhìn tinh khôn của người lính thủy với con mắt
chất phác của người dân quê. Anh ta nắm chắc hai mái chèo trong tay. Trông có vẻ
hiền lành.
Ở thắt lưng anh ta có một con dao găm, hai khẩu súng lục và một
chuỗi tràng hạt.
- Ngươi là ai? - Lão già hỏi.
- Tôi vừa nói với ông xong.
- Ngươi muốn gì ta?
Anh thủy thủ buông mái chèo, khoanh tay và trả lời.
- Giết ông.
- Tùy ý ngươi - Lão già trả lời.
Anh thủy thủ cao giọng bảo:
- Ông chuẩn bị đi.
- Để làm gì?
- Để chết.
- Sao vậy? - Lão già hỏi lại.
Im lặng một lát. Người thủy thủ hình như bị câu hỏi làm cho sững
sờ giây lát. Anh ta nhắc lại:
- Tôi bảo là tôi muốn giết ông.
- Và ta hỏi ngươi rằng tại sao vậy?
Một tia sáng lóe trong đôi mắt anh thủy thủ:
- Vì ông đã giết anh tôi.
Lão già vẻ bình tĩnh, bảo:
- Lúc đầu ta đã cứu sống anh ngươi.
- Đúng, trước cứu rồi sau lại giết.
- Không phải ta giết hắn.
- Vậy ai giết?
- Lỗi lầm của hắn.
Anh lính thủy, mồm há hốc nhìn lão già, rồi đôi lông mày anh
ta nhíu lại dữ tợn.
- Ngươi tên là gì? - Lão già hỏi.
- Halmalo. Nhưng ông sắp chết bởi tay tôi thì cũng chẳng cần
biết tên tôi làm gì.
Vừa lúc ấy mặt trời mọc. Một tia nắng rọi thẳng vào mặt người
lính thủy, soi sáng rực bộ mặt man rợ của anh ta. Lão già ngắm nghía anh ta hết
sức chăm chú.
Tiếng đại bác vẫn kéo dài, bây giờ đã ngắt quãng và nấc lên
như người hấp hối. Một đám khói lớn ùn xuống phía chân trời. Chiếc xuồng mà người
lái đã buông chèo đang dạt theo làn sóng.
Người lính thủy tay phải rút một khẩu súng lục ở thắt lưng
ra, tay trái cầm chuỗi tràng hạt.
Lão già đứng thẳng dậy hỏi:
- Ngươi có tin ở Chúa không?
- Chúa Cha chúng ta ở trên trời - Người lính thủy trả lời.
Và anh ta làm dấu.
- Ngươi còn mẹ không?
- Có.
Anh ta làm dấu lần thứ hai. Xong anh ta bảo:
- Thế thôi. Tôi để cho ngài một phút nữa, thưa đức ông.
Rồi anh ta nạp đạn.
- Tại sao ngươi gọi ta là đức ông?
- Vì ngài là một lãnh chúa. Trông thì biết.
- Ngươi cũng có một lãnh chúa chứ?
- Vâng. Một lãnh chúa lớn. Ai sống mà không có lãnh chúa.
- Lãnh chúa của ngươi nay ở đâu?
- Tôi không rõ. Ngài đã xuất ngoại. Ngài tên là hầu tước De
Lantenac, tử tước De Fontenay, vương hầu xứ Bretagne, ngài là lãnh chúa vùng Bảy
Khu Rừng. Tôi chưa hề thấy mặt ngài, nhưng ngài vẫn là chúa của tôi.
- Vậy nếu ngươi trông thấy mặt ngài, ngươi có vâng lệnh ngài
không?
- Cố nhiên, không vâng lệnh ngài chẳng hóa ra tôi là kẻ vô đạo
ư? Người ta phải vâng lệnh Chúa Trời, lại phải vâng lệnh đức vua cũng như Chúa
Trời, rồi lại phải vâng lệnh lãnh chúa cũng như đức vua. Nhưng vấn đề không phải
ở chỗ đó, ngài đã giết anh tôi, thì tôi phải giết ngài.
Lão già trả lời:
- Trước hết, ta giết anh ngươi, ta đã làm đúng.
Người lính thủy nắm chặt khẩu súng lục.
- Nào - Anh ta bảo.
- Được - Lão già nói.
Rồi, vẫn thản nhiên, lão hỏi:
- Cha cố đâu?
Người lính thủy nhìn lão.
- Cha cố ư?
- Phải, cha cố. Ta đã cho mời cha cố rửa tội cho anh ngươi,
ngươi cũng phải mời một cha cố cho ta.
- Tôi không có cha cố. - Người lính thủy trả lời.
Và anh ta lại tiếp:
- Giữa biển làm gì có cha cố?
Tiếng súng nổ từng hồi của trận giao chiến nghe cứ xa dần.
Lão già nói:
- Những kẻ đang chết ngoài kia vẫn có cha cố.
- Đúng thế - Anh lính thủy lẩm bẩm - Họ có cha tuyên úy.
Lão già nói tiếp:
- Ngươi làm mất linh hồn ta, điều đó thật nghiêm trọng.
Người lính thủy cúi đầu, nghĩ ngợi.
Lão già lại tiếp:
- Làm mất linh hồn ta, ngươi cũng làm mất linh hồn ngươi.
Nghe đây, ta thương hại ngươi. Ngươi muốn làm gì thì làm. Còn ta, vừa rồi ta đã
làm nhiệm vụ của ta, trước hết cứu sống cho anh ngươi và sau đó giết hắn, và giờ
đây, ta làm nhiệm vụ cố cứu vớt linh hồn của ngươi. Nghĩ kỹ đi. Việc này có
quan hệ đến ngươi. Có nghe những tiếng súng nổ lúc này không? Ở nơi kia có những
người tử trận, có những người tuyệt vọng đang hấp hối, có những người chồng sẽ
không bao giờ thấy mặt vợ, có những người cha sẽ không còn trông thấy mặt con,
những người em cũng như ngươi sẽ không còn thấy mặt anh. Vậy do lỗi lầm của ai?
Lỗi tại anh ngươi cả. Ngươi tin ở Chúa, có phải không? Vậy thì ngươi nên biết rằng
lúc này, Chúa đang đau khổ! Chúa đau khổ vì người con rất ngoan đạo là đức vua
nước Pháp, cũng như Chúa Jésus là con của Chúa, người con ấy giờ đây đang bị cầm
tù ở trong tháp Temple; Chúa đau khổ vì giáo hội xứ Bretagne; Chúa đau khổ vì
các nhà thờ lớn bị tấn công, vì các bản thánh kinh bị xé nát, vì các nhà nguyện
bị xúc phạm; Chúa đau khổ vì các cha cố bị sát hại. Vừa qua chúng ta đã làm gì
trên con tàu mà giờ này đang chìm xuống đáy biển? Chúng ta đi cứu Chúa. Nếu anh
ngươi là tôi ngoan của Chúa, nếu anh ngươi làm tròn nhiệm vụ của một con người
khôn ngoan và có ích thì cái tai họa về khẩu pháo đã chẳng xảy ra, con tàu đã
không bị hư nát để không bị lạc hướng, đã không rơi vào hạm đội ma quỷ kia, và
có lẽ giờ đây, chúng ta đã đổ bộ lên nước Pháp. Tất cả chúng ta, trong tư thế
những chiến binh và thủy thủ anh dũng, gươm trong tay, cờ trắng phấp phới, đông
đảo, mãn nguyện, vui sướng và chúng ta còn có thể tới giúp đỡ những người dân
quê hiền lành vùng Vendée, để cứu nước Pháp, cứu đức vua, cứu Chúa. Đó là việc
chúng ta vừa làm, đó là việc chúng ta sẽ làm, đó là việc mà còn lại mình ta, ta
sắp làm. Nhưng ngươi chống lại những việc đó. Trong khi bọn phản đạo chống lại
các cha cố, bọn nghịch tặc chống lại đức vua, quỷ Satan chống lại Chúa, ngươi
đã đứng về phía quỷ Satan. Anh ngươi là kẻ thứ nhất giúp bọn ma quỷ, ngươi là kẻ
thứ hai. Anh ngươi đã mở đầu và ngươi đang làm nốt. Ngươi đứng về phía bọn tặc
đạo chống lại ngai vàng, bọn phản đạo chống lại giáo hội. Ngươi định triệt mất
cái phương sách cuối cùng của Chúa. Bởi vì ta, người thay mặt đức vua, nếu ta
không còn nữa, thì xóm làng còn bị thiêu hủy, các gia đình còn phải khóc than,
các cha cố còn phải đổ máu, xứ Bretagne còn bị đau thương, đức vua còn bị cầm
tù và chúa Jésus còn nguy nan. Và ai sẽ gây ra cảnh đó? Chính ngươi. Mặc, đó là
việc của ngươi. Ta tưởng trông cậy ở ngươi một việc làm trái lại kia. Ta đã lầm.
À đúng rồi, ngươi có lý, ta đã giết anh ngươi. Anh ngươi đã tỏ ra can đảm, ta
đã thưởng cho hắn, hắn đã phạm lỗi, ta đã phạt hắn. Anh ngươi không làm tròn bổn
phận, còn ta, ta không làm sai bổn phận. Điều ta đã làm, ta còn làm nữa. Và ta
thề trước bà thánh Anne D’Auray rằng, trong trường hợp tương tự, ta cũng có thể
giết con trai ta. Bây giờ, ngươi làm chủ tình thế. Phải, ta thương hại ngươi. Ngươi
đã lừa dối chỉ huy. Ngươi, một tín đồ Cơ Đốc, ngươi không có lòng tin; ngươi,
dân xứ Bretagne, ngươi không còn chút danh dự nào; ta được ủy thác cho ngươi,
con người trung nghĩa, nhưng lại được ngươi đón nhận bằng một tấm lòng phản trắc;
ngươi giết ta để đáp lại những người mà ngươi đã hứa cứu thoát ta. Ngươi có biết
ngươi sắp giết ai không? Chính là giết ngươi đấy. Ngươi cướp của đức vua tính mạng
ta rồi ngươi dâng kiếp vĩnh cửu của ngươi cho ma quỷ. Nào, hãy phạm tội ác đi,
được lắm. Ngươi coi rẻ phần được an nghỉ trên thiên đường. Nhờ ngươi ma quỷ sẽ
thắng, nhờ ngươi, nhà thờ sẽ còn đổ, nhờ ngươi, bọn vô đạo còn tiếp tục nung
chuông để đúc đại bác; đem vật dùng để cứu rỗi linh hồn mà bắn giết người trần
gian. Và trong lúc ta đang nói đây thì cái chuông đã từng rung lên trong lần rửa
tội lúc sinh ra ngươi, có lẽ đang giết mẹ ngươi. Nào, hãy tiếp tay cho ma quỷ
đi. Chớ chùn tay. Đúng, ta đã kết tội anh ngươi, nhưng nên hiểu rằng như thế là
tuân theo ý Chúa. A! Ngươi dám phán xét những phương tiện của Chúa! Ngươi sẽ
còn phán xét cả sấm sét trên thiên đình nữa chăng? Khốn nạn, ngươi sẽ bị sấm
sét phán xét. Hãy coi chừng việc ngươi sắp làm. Ngươi có biết là ta có Chúa phù
hộ không? Cứ làm đi. Muốn làm gì thì làm. Ngươi cứ vứt ta vào địa ngục rồi
ngươi cũng nhảy theo ta. Quyền đó ở trong tay ngươi. Kẻ chịu trách nhiệm trước
Chúa sẽ là ngươi. Ta và ngươi lúc này đối diện với nhau trong vực thẳm. Hãy tiếp
tục, làm cho xong, kết thúc đi. Ta già rồi và ngươi còn trẻ; ta tay không và
ngươi có vũ khí; giết ta đi.
Trong lúc lão già đứng tuôn ra những lời ấy, tiếng nói sang sảng
át cả tiếng sóng biển, những đợt sóng nhấp nhô làm cho lão thấp thoáng lúc
trong bóng tối, lúc ngoài ánh sáng; người lính thủy, mặt tái ngắt; trên trán
anh ta mồ hôi nhỏ giọt; anh ta run như chiếc lá; chốc chốc, anh ta hôn chuỗi hạt;
khi lão già nói xong, anh ta vứt khẩu súng lục và quỳ xuống. Anh ta kêu lên:
- Xin đức ông tha cho con! Tha lỗi cho con; đức ông nói như
Chúa phán. Con có lỗi. Anh con đã có lỗi. Con sẽ làm tất cả để chuộc tội cho anh
con. Đức ông cứ tùy ý sử dụng con. Đức ông ban mệnh lệnh đi. Con xin vâng theo.
- Ta tha thứ cho ngươi - Lão già nói.
II
Trí nhớ nông dân sánh với tài thủ lĩnh
Thức ăn dự trữ trên chiếc xuồng không phải là vô ích.
Hai kẻ trốn tránh vì phải đi đường vòng nên mất ba mươi sáu
tiếng đồng hồ mới vào được bờ. Họ qua một đêm trên biển; nhưng là một đêm đẹp
trời, tuy nhiên trăng hơi sáng quá đối với những người đang tìm cách tẩu thoát.
Lúc đầu họ phải rời xa đất Pháp và vượt ra khơi về phía
Jersey.
Họ nghe những tiếng súng sau cùng của con tàu bị xé tan như
tiếng rống cuối cùng của con sư tử bị người đi săn giết chết, giết trong rừng.
Rồi biển cả trở lại im lặng.
Tàu Claymore cũng đã đắm như kiểu tàu Le Vengeur 1 trước
đây, nhưng không chút vinh quang; chống lại tổ quốc thì anh hùng sao được.
Halmalo là một thủy thủ kỳ tài. Anh ta khéo léo và thông minh
lạ lùng; phải gọi là kiệt tác cái việc anh ta ứng biến nghĩ ra con đường quanh
co qua đá ngầm, sóng cả và cả con mắt của kẻ địch. Dần dần, biển lặng và sóng
yên, biển dễ vượt hơn.
Halmalo tránh hòn Caux thuộc dãy Minquiers, vòng qua hòn
Chaussée-aux-Boeufs, ẩn vào đó, nghỉ vài giờ trong cái vũng nhỏ về phía Bắc khi
nước xuống, rồi lại lần xuống phía nam, tìm cách vượt qua giữa Granville và các
đảo Chausey mà không hề bị tháp canh ở hai nơi này trông thấy. Rồi anh ta đưa
xuồng vào vịnh Saint-Michel, thật là táo tợn vì vịnh đó ở cạnh Cancale, nơi hạm
đội tuần tiễu thả neo.
Chiều hôm sau, độ một giờ trước khi mặt trời lặn, Halmalo
chèo xuồng bỏ dãy núi Saint-Michel lại sau, và ghé vào một bãi cát lẫn sỏi lúc
nào cũng vắng vẻ vì nơi này nguy hiểm; vào đây là bị sa lầy.
May sao lúc đó nước triều lên cao.
Halmalo đẩy xuồng tiến vào sâu, dò chỗ có cát, thấy chắc chắn
mới cho xuồng mắc cạn và nhảy xuống đất.
Lão già theo anh ta lên bờ, và quan sát chân trời.
Halmalo nói:
- Thưa đức ông, đây là cửa sông Couesnon. Bên phải là
Beauvoir, bên trái là Huisnes. Gác chuông đằng trước mặt là Ardevon.
Lão già cúi vào trong chiếc xuồng, lấy một chiếc bánh bích
quy bỏ túi rồi bảo Halmalo:
- Lấy nốt đi.
Halmalo bỏ vào bọc chỗ thịt và bánh bích quy còn lại, khoác
túi lên vai. Xong, anh ta nói:
- Thưa đức ông, con phải dẫn đức ông đi hay đi theo đức ông?
- Không phải dẫn cũng chẳng phải theo.
Halmalo sửng sốt nhìn lão.
Lão già tiếp:
- Halmalo, chúng ta chia tay thôi. Đi hai người chẳng ích gì.
Phải hàng nghìn, hoặc chỉ có một mình.
Lão ngừng lại, móc túi lấy ra một cái nơ bằng lụa xanh hơi giống
một cái huy hiệu đính vào mũ, ở giữa có thêu một bông hoa bách hợp bằng vàng.
Lão nói tiếp:
- Ngươi có biết đọc không?
- Thưa không.
- Tốt, một người biết đọc chỉ thêm phiền. Trí nhớ ngươi tốt
chứ.
- Thưa vâng.
- Tốt. Nghe đây, Halmalo. Ngươi đi về bên phải và ta rẽ bên
trái. Ta sẽ đi về phía rừng Fougères, ngươi đi về phía rừng Bazouges. Ngươi cứ
giữ cái túi cho có vẻ dân quê. Giấu kín vũ khí đi. Chặt lấy một cây gậy trong
các hàng rào. Bò qua các ruộng lúa mạch mọc cao. Luồn sau những bờ dậu. Bước
theo những giàn cây leo mà vượt khỏi cánh đồng. Đi cách xa những người qua đường.
Tránh đường cái và cầu cống. Đừng vào Pontorson. À! Ngươi sẽ phải qua sông
Couesnon. Qua bằng cách nào?
- Bơi qua.
- Tốt. Vả lại ở đó có chỗ cạn lội qua được. Có biết quãng nào
không?
- Giữa Ancey và Vieux-Viel.
- Tốt. Ngươi đúng là người địa phương.
- Nhưng sắp tối rồi. Đức ông ngủ ở đâu?
- Ta tự liệu. Còn ngươi, ngươi định ngủ ở đâu?
- Đã có các hốc cây. Trước khi đăng lính thủy, con là nông
dân.
- Hãy vứt chiếc mũ lính thủy đi, cái thứ ấy nó sẽ phản ngươi
đấy. Ngươi kiếm cho được một chiếc mũ dân chài.
- Ồ! Loại mũ cụp vành ấy đâu chẳng có. Gặp một anh thuyền
chài nào cũng mua được ngay.
- Tốt. Bây giờ nghe đây. Ngươi biết các khu rừng?
- Tất cả.
- Suốt cả xứ này chứ?
- Từ Noirmoutier đến tận Laval.
- Thuộc tên cả chứ?
- Con thuộc rừng, thuộc tên, thuộc tất cả.
- Ngươi sẽ không quên gì chứ?
- Không.
- Tốt. Bây giờ, chú ý đây. Một ngày ngươi đi nổi bao nhiêu dặm?
- Mười, mười lăm, mười tám, hai mươi, nếu cần.
- Cần đấy. Không được quên một lời nào ta dặn đây. Ngươi đến
rừng Saint-Aubin.
- Gần Lamballe?
- Phải. Ở rìa con ngòi giữa Saint-Rieul và Plédéliac có một
cây dẻ lớn. Ngươi sẽ dừng lại đó. Ngươi sẽ không thấy ai cả.
- Song không vì thế mà không có người nào. Con biết.
- Ngươi làm hiệu gọi. Ngươi có biết mật hiệu không?
Halmalo phùng má, quay ra phía biển, và người ta bỗng nghe tiếng
một con cú mèo kêu hu hu.
Tưởng chừng như tiếng kêu đó từ trong đêm thẳm vọng lại; thật
giống và thật ghê rợn.
- Tốt - Lão già nói - Ngươi làm được đấy.
Lão đưa cho Halmalo cái nơ lụa xanh.
- Đây là cái nơ chỉ huy của ta. Cầm lấy. Chưa cần cho ai biết
tên ta vội. Cái nơ này là đủ. Bông hoa bách hợp do bà Royale 2 thêu
trong nhà ngục ở lâu đài Temple.
Halmalo quỳ một gối xuống đất. Anh ta run run nhận lấy chiếc
nơ có bông hoa bách hợp và ghé sát môi; rồi bỗng anh ta ngừng lại như sợ hôn
như vậy chẳng biết có phải phép chăng. Anh ta hỏi:
- Con hôn được chứ?
- Được, vì ngươi cũng hôn thánh giá.
Halmalo hôn bông hoa bách hợp.
- Đứng lên - Lão già bảo.
Halmalo đứng lên và luồn chiếc nơ vào áo trước ngực.
Lão già bảo tiếp:
- Nghe kỹ điều này. Đây là mệnh lệnh: Nổi dậy đi. Không
cho sống sót. Vậy, đến rìa rừng Saint-Aubin ngươi làm hiệu gọi. Ngươi cứ
làm ba lần. Lần thứ ba ngươi sẽ thấy một người ở dưới đất chui lên.
- Từ một lỗ dưới các cây. Con biết rồi.
- Người đó là Planchenault, người ta còn gọi là
Coeurde-de-Roi. Ngươi đưa cái nơ này cho người đó xem. Hắn sẽ hiểu. Rồi ngươi
tiếp tục tìm lấy đường mà đến khu rừng Astillé. Ở đó ngươi gặp một người chân
vòng kiềng tên gọi là Mousqueton, hắn thì chẳng nhân từ với ai cả. Ngươi nói với
hắn rằng ta mến hắn và hắn hãy khuấy động khắp giáo khu của hắn. Rồi ngươi đi tới
rừng Couesbon cách Ploërmel một dặm. Ngươi lại làm hiệu cú mèo kêu, một người sẽ
từ trong lỗ chui ra; đó là ông Thuault, một quan chức ở địa phương, một người
đã ở trong cái gọi là Quốc hội lập hiến 3 ,
nhưng thuộc phái tốt. Ngươi nói với ông ta hãy vũ trang lâu đài Couesbon của hầu
tước Guer, hiện đang sống lưu vong. Hào rãnh, rừng cây, đường sá gập ghềnh, đó
là căn cứ tốt. Ngài Thuault là người thẳng thắn và khôn ngoan. Sau đó, ngươi tới
Saint-Ouen-les-Toits, ngươi sẽ nói chuyện với Jean Chouan, người này theo ý ta
đúng là một thủ lĩnh. Sau đó, ngươi tới rừng Ville-Anglose, ở đó ngươi gặp
Guitter mà người ta thường gọi là Saint-Martin, ngươi nói với ông này để ý theo
dõi một đứa tên là Courmesnil, con rể lão Goupil de Prefeln, là đứa cầm đầu bọn
Jacobin vùng Argentan. Nhớ kỹ tất cả. Ta không viết gì bởi vì không nên viết tí
gì cả. La Rouarie trước đây có chép cả một bản danh sách; rồi hỏng hết. Sau đó
ngươi tới rừng Rougefeu, ở đấy có ông Miélette, ông ta vẫn dùng một cây sào dài
để đu mình nhảy qua các khe hào.
- Cái đó gọi là ferte 4 .
- Ngươi biết dùng nó không?
- Vậy hóa ra con chẳng phải là người Bretagne, cũng chẳng phải
là nông dân nữa sao? Cây sào đó là bầu bạn của chúng con. Nó nối thêm tay, thêm
chân cho chúng con.
- Có nghĩa là làm cho kẻ địch bé đi và rút ngắn đường lại. Một
vật tốt.
- Một lần, với cây sào ấy, con chống lại ba tên lính đoan có
mang gươm.
- Từ bao giờ?
- Mười năm rồi.
- Dưới thời còn đức vua?
- Vâng.
- Ngươi đã đánh nhau dưới thời đức vua?
- Vâng.
- Chống lại ai?
- Thật ra, con chẳng biết. Lúc đó con làm muối lậu.
- Tốt.
- Người ta gọi là đánh lại bọn thuế muối. Bọn ấy có phải là
cũng như đức vua không?
- Ừ. Không. Mà ngươi cũng chẳng cần hiểu điều đó làm gì.
- Con xin đức ông tha lỗi vì đã dám hỏi lại đức ông.
- Ta tiếp tục. Ngươi có biết lâu đài Tourgue không?
- Con biết lâu đài Tourgue lắm! Con là người ở vùng ấy.
- Sao?
- Vâng, vì con là người vùng Parigné.
- Đúng thế. Ừ. Tourgue ở cạnh Parigné.
- Con biết lâu đài Tourgue lắm! Cái lâu đài tròn đồ sộ là của
gia quyến các lãnh chúa của con! Có một cái cửa sắt lớn ngăn tòa nhà cũ với tòa
nhà mới, đến đại bác cũng chẳng phá nổi. Trong tòa lâu đài mới ấy có cuốn sách
rất hay, nói về thánh Barthélemy, ai cũng tò mò tới xem cho biết. Vô số ếch
nhái dưới cỏ. Lúc còn bé tí, con đã đến bắt ếch chơi ở đấy. Lại còn con đường
ngầm nữa! Con cũng biết. Có lẽ chỉ còn một mình con biết con đường ngầm đó
thôi.
- Con đường ngầm nào? Ta không hiểu ngươi định nói gì?
- Đó là chuyện ngày xưa, lúc lâu đài Tourgue bị bao vây.
Người trong lâu đài đã trốn ra ngoài bằng một con đường ngầm
từ lâu đài thông ra rừng.
- Ừ, có kiểu đường ngầm đó ở các lâu đài Jupellière,
Hunaudaye và Champéon; nhưng ở lâu đài Tourgue thì làm gì có.
- Có đấy ạ, thưa đức ông. Mấy nơi đức ông vừa nói thì con
không biết. Con chỉ biết con đường ngầm ở lâu đài Tourgue vì con là người vùng ấy
mà lại. Hơn nữa, chỉ còn mình con đường đó. Chẳng còn ai nhắc đến nó nữa. Điều
đó bị cấm bởi vì con đường đó đã dùng trong chiến tranh thời ngài De
Rohan 5 .
Bố con biết điều bí mật đó và đem chỉ nó cho con. Con biết cách bí mật vào và
ra. Nếu con ở ngoài rừng, con có thể đi vào trong cái tháp và nếu con ở trong
tháp, con có thể ra rừng mà chẳng ai thấy được. Và đến khi quân địch vào thì chẳng
còn ma nào nữa. Đó, lâu đài Tourgue là như thế đấy. Chà! Con biết rõ lắm mà!
Lão già đứng im lặng một lát.
- Chắc ngươi lầm rồi; nếu có điều bí mật đó thì ta cũng phải
biết chứ.
- Thưa đức ông, con tin chắc như thế, rõ ràng là có một tảng
đá biết quay.
- À đúng rồi! Dân quê các ngươi, tin nhảm nhí những chuyện đá
biết quay, đá biết hát, cả chuyện ban đêm đá đi ra suối uống nước nữa. Trăm thứ
chuyện.
- Nhưng mà con đã được xoay tảng đá ấy, tảng đá...
- Thì cũng như những người khác đã nghe nó hát thôi. Anh bạn ạ,
Tourgue là một pháo đài chắc chắn và mạnh, phòng ngự dễ; nhưng kẻ nào định bám
vào một con đường ngầm để mà thoát ra thì thật là ngây thơ.
- Nhưng, thưa đức ông...
Lão già nhún vai.
- Thôi, đừng mất thì giờ nữa. Bàn công việc chúng ta thôi.
Giọng nói như ra lệnh đó cắt đứt không cho Halmalo nói thêm.
Lão già lại bảo:
- Ta dặn nốt. Nghe đây. Từ Rougefeu, ngươi tới rừng
Montchevrier, ở đó có ông Bénédicité, thủ lĩnh nhóm Mười hai 6 .
Đấy cũng là một người có tài. Trong lúc bắn người, ông ta không ngừng cầu kinh
Benedicite. Trong chiến tranh, không thể có tình cảm được. Rồi từ Montchevrier,
ngươi đi đến...
Lão bỗng ngừng lại.
- Ta quên mất chuyện tiền.
Lão lấy ở túi ra, đặt vào tay Halmalo một bọc tiền và một cái
ví.
- Trong ví này có ba mươi ngàn quan bằng tín phiếu, khoảng ba
bảng với mười xu; đây là tín phiếu giả, nhưng tín phiếu thật giá trị cũng vậy
thôi; còn trong bọc này thì cẩn thận đấy, có tất cả một trăm louis vàng.
Có bao nhiêu ta cho ngươi hết. Ở đây, ta không cần gì nữa. Vả lại, tốt hơn là họ
không thấy trong người ta có tiền. Ta nói nốt. Từ Montchevrier, ngươi đi
Antrain, ở đó ngươi gặp ông De Frotté; từ Antrain đi Jupellière, ở đấy gặp ông
Rochecotte; từ Jupellière đi Noirieux, ở đó gặp linh mục Baudouin. Ngươi nhớ tất
cả chứ?
- Nhớ như nhớ kinh Pater.
- Ngươi sẽ gặp ông Dubois-Guy ở Saint-Brice-en-Cogle, gặp ông
De Turpin ở Morannes, một thị trấn phòng thủ tốt, và gặp hoàng thân De Talmond ở
lâu đài Gonthier.
- Liệu một hoàng thân có nói chuyện với con không?
- Thì ta chả đương nói với ngươi là gì.
Halmalo ngả mũ chào.
- Mọi người sẽ tiếp đón ngươi trọng vọng khi họ nhìn thấy
bông hoa bách hợp của công chúa. Đừng quên rằng ngươi phải đi trong những vùng
có dân miền núi và những người hủ lậu. Cải trang đi. Điều đó rất dễ. Cái bọn cộng
hòa ấy hết sức ngu, chỉ cần mặc bộ áo xanh, cái mũ chào mào với huy hiệu tam
tài là đi đâu cũng lọt. Bọn chúng chẳng có trung đoàn, chẳng có quân phục, các
đơn vị cũng chẳng có số hiệu nữa; ai muốn khoác đồ tã gì cũng được. Thế rồi
ngươi đến Saint-Mhervé. Ở đó, ngươi gặp ông Gaulier, thường gọi là
Grand-Pierre. Rồi ngươi đến doanh trại Parné, ở đó, người nào mặt cũng nhọ
nhem. Họ thường nhét sỏi vào súng và bao giờ cũng nhồi gấp đôi số thuốc cho nổ
thật to. Bọn họ làm thế là tốt; nhưng tốt hơn hết là nhắc họ phải giết, giết,
giết nữa. Rồi ngươi tới trại Vache-Noire ở trên một ngọn đồi cao, giữa rừng
Charnie, rồi tới trại Avoine, rồi trại Vert, trại Fourmis. Ngươi còn phải tới
Grand-Bordage, cũng còn gọi là Haut-des-Prés ở đó có một người đàn bà góa có
con gái gả cho Treton, vẫn gọi là lão người Anh. Grand-Bordage ở trong khu vực
nhà xứ Quelaines. Ngươi sẽ gặp Epineux-le-Chevreuil, Sillé-le-Guillaume,
Parannes và tất cả những người bạn rồi ngươi sẽ phái họ tới ria rừng miền trên
và miền dưới sông Maine, ngươi sẽ gặp Jean Treton ở giáo khu Vaisges,
Sans-Regret ở Bignon, Chambord ở Bonchamps, anh em Corbin ở Maisoncelles và anh
chàng Petit-Sans-Peur ở Saint-Jean-sur-Erve. Người đó cũng tên là Bourdoiseau.
Xong những việc đó rồi và khi khẩu lệnh nổi dậy đi, không cho sống sót đã
truyền khắp nơi, khi gặp đại quân Thiên Chúa giáo và hoàng gia ở bất cứ chỗ nào
thì ngươi nhập vào. Ngươi sẽ được gặp các ngài D’Elbée, De Lescure, De La Rochejaquelein,
những người thủ lĩnh còn sống đến lúc đó. Ngươi đưa các ngài xem chiếc nơ chỉ
huy của ta. Các ngài sẽ hiểu hết. Ngươi chỉ là một thủy binh nhưng Cathelineau
cũng chỉ là anh đánh xe. Ngươi thay ta nói với họ thế này: Đã đến lúc tiến hành
cùng một lúc hai lối chiến tranh đại và tiểu quy mô. Chiến tranh đại quy mô thì
tiếng tăm hơn, chiến tranh tiểu quy mô thì kết quả nhiều hơn. Đánh theo lối
Vendée thì tốt, đánh theo lối bọn Chouan thì tồi; nhưng trong nội chiến thì cái
tồi lại hơn. Cái nhân nghĩa của một cuộc chiến tranh là ở chỗ nó gây ra nhiều tội
ác.
Lão ngừng lại.
- Halmalo, ta nói với ngươi ngần ấy điều. Ngươi không hiểu những
từ, nhưng ngươi hiểu sự việc. Ta đã tin ở ngươi khi nhìn ngươi điều khiển con
thuyền; ngươi không biết về hình học, nhưng ngươi hoạt động trên mặt biển thật
kỳ diệu; kẻ nào biết lái con thuyền, kẻ đó biết điều khiển một cuộc nổi dậy. Cứ
xem cách ngươi xoay xở trên mặt biển thì ta quyết là ngươi có thể làm tròn những
việc ta ủy thác. Ta nói nốt. Ngươi nói lại điều này với các thủ lĩnh, nói đại để
như ngươi hiểu, thế là tốt; rằng ta thích lối chiến tranh rừng rậm hơn là chiến
tranh đồng bằng. Ta không chủ trương xếp hàng trăm người dân quê ra hứng đạn của
lính áo xanh và trọng pháo của ông Carnot 7 .
Trong vòng non một tháng ta muốn có năm trăm nghìn tay súng phục kích các ngả rừng.
Quân cộng hòa là mồi săn của ta. Bán trộm cũng là chiến tranh. Ta là nhà chiến
lược của rừng rậm. Được, đó cũng là một danh từ mà ngươi không hiểu; không hiểu
cũng được, ngươi phải nhớ điều này: Không để sống sót, mà phục kích khắp
nơi! Ta thích lối đánh của bọn Chouan hơn lối Vendée. Ngươi hãy nói thêm
là người Anh ủng hộ chúng ta. Kẹp nền cộng hòa vào giữa hai hỏa lực. Châu Âu
giúp chúng ta. Chuyến này ta hãy thanh toán hết bọn cách mạng đi; phát động các
quốc gia để chống lại chúng; còn chúng ta huy động các giáo khu đánh nhau với
chúng. Ngươi sẽ nói thế. Hiểu không?
- Vâng, nghĩa là đốt sạch, giết sạch.
- Đúng thế.
- Không để sống sót.
- Không từ ai. Đúng thế.
- Con sẽ đi khắp nơi.
- Mà phải cẩn thận. Vì ở các xứ này, chết dễ như chơi.
- Chết, điều đó không quan hệ lắm. Ai đã bước đi được rồi thì
có thể dùng cho mòn hết đôi cuối cùng của mình.
- Ngươi thật là dũng cảm.
- Thế nếu người ta hỏi con về tên của đức ông?
- Người ta chưa cần biết vội. Ngươi cứ nói là không biết tên
ta, mà sự thật là như thế.
- Con gặp lại đức ông ở đâu?
- Ở nơi nào ta sẽ đến.
- Làm sao con biết nơi đó?
- Bởi vì mọi người sẽ biết nơi ta ở. Trong vòng trước tám
ngày, người ta sẽ bàn tán về ta, ta sẽ khủng bố để làm gương cho chúng, ta sẽ
trả thù cho đức vua và cho giáo hội, và ngươi sẽ nhận rõ rằng chính họ nói về
ta đó.
- Con hiểu.
- Không được quên điều gì cả.
- Đức ông yên tâm.
- Bây giờ thì đi đi. Xin Chúa dìu dắt cho ngươi. Đi thôi.
- Con sẽ làm mọi việc đức ông dạy. Con sẽ đi, con sẽ nói. Con
sẽ vâng lệnh. Con sẽ chỉ huy.
- Tốt.
- Rồi nếu con thành công...
- Ta sẽ thưởng ngươi huân chương Thánh Louis.
- Như anh con; và nếu con không thành công, đức ông sẽ cho bắn
con?
- Như anh ngươi.
- Rõ, thưa đức ông.
Lão già cúi mặt xuống và như đang rơi vào một giấc mơ nghiêm
trọng. Khi lão ngẩng lên, thì chỉ còn một mình lão. Halmalo chỉ là một chấm đen
đang dấn sâu vào nơi chân trời xa tắp.
Mặt trời vừa lặn.
Đàn chim hải âu lớn và giống hải âu chụp mũ đã bay về; biển
đã rút ra xa. Người ta cảm thấy trong không gian cái xốn xang trước khi trời sắp
tối; ếch nhái kêu ộp oạp, đàn rơi vừa lượn trên vũng nước vừa huýt gió, sơn ca
và quạ đủ các loài kêu ầm ĩ khi đêm xuống; chim trên bãi biển gọi nhau; nhưng
không có tiếng người. Cô quạnh sâu thẳm. Trong vịnh không một cánh buồm, trong
làng không một người dân. Xa tít là chân trời hoang vắng. Những cây gai to trên
đụn cát run rẩy. Trời bàng bạc lúc hoàng hôn rọi xuống bãi cát một thứ ánh sáng
nhợt nhạt. Xa xa, những đầm nước trên cánh đồng tối sẫm giống như những mảng
thiếc đặt trên mặt đất. Gió ngoài khơi thổi vào lồng lộng.
--------------------------------
|
Tàu của hạm đội Pháp không chịu hàng hạm đội Anh đã tự đánh
đắm. |
|
|
Con gái vua Louis XVI. |
|
|
Hình thức chính quyền Cách mạng Pháp từ 09-07-1789 kéo dài
tới 01-10- 1791 (trước Hội nghị lập pháp . |
|
|
Tiếng địa phương. |
|
|
De Rohan (1635 - 1674 : Là một quý tộc, tham gia chống
Louis XIV nên bị chặt đầu. |
|
|
Ủy ban mười hai người (Commission des Douze do Viện Quốc
ước lập ra để giám sát Công xã Paris từ 18 đến 31 tháng 5 năm 1793. Đó là thắng
lợi cuối cùng của nhóm Girondin đối với nhóm Montagnard. |
|
|
Lazarre Carnot (1753 - 1823 : Nhà bác học, có chân trong
chính quyền cách mạng, sáng lập đại bộ phận các đạo quân Cách mạng Pháp. Khi
Cách mạng thoái trào, ông bị đày ở Magdebourg và chết ở đó. |
Quyển bốn
Tellmarch
I
Trên đỉnh cồn cát
Lão già đợi cho Halmalo đi khuất, rồi nịt chặt chiếc áo khoác
đi biển vào người và bước đi. Lão bước thong thả, có vẻ suy nghĩ. Lão rẽ về
phía Huisnes, trong khi Halmalo đi về phía Beauvoir.
Đằng sau lão là núi Saint-Michel, một hình tam giác khổng lồ
đen sẫm, nổi lên giữa biển cả như kim tự tháp Chéops giữa sa mạc, với ngôi nhà
thờ hình ngọc miện và thành lũy, với hai tháp lớn về phía đông, một tròn, một
vuông, giúp cho núi chịu đựng sức nặng của nhà thờ và làng mạc.
Những luồng cát di động của vịnh núi Saint-Michel chuyển dịch
những đụn cát dần dần không thấy nữa. Thời kỳ đó, ở giữa Huisnes và Ardevon có
một cồn cát rất cao ngày nay đã biến mất. Cồn cát ấy, đã bị một luồng gió từ
xích đạo san bằng, thật hiếm có vì đã lâu đời mà trên đỉnh lại có một cái cột mốc
bằng đá dựng lên từ thế kỷ thứ mười hai để kỷ niệm Hội nghị giáo hội ở
Avranches chống lại bọn giết thánh Thomas ở Cantorbéry. Đứng trên cồn cát có thể
nhìn khắp vùng và định hướng được.
Lão già bước tới cồn cát và leo lên.
Lên tới đỉnh, lão dựa lưng vào cái cột mốc, ngồi lên một
trong bốn tảng đá đặt ở chân cột, rồi lão bắt đầu quan sát cảnh tượng bày ra dưới
chân lão, như một bản đồ. Hình như lão đang tìm một con đường trong một địa
phương đã quen thuộc từ trước. Cảnh bao la ấy mờ mờ trong bóng hoàng hôn, chỉ còn
thấy rõ đường chân trời, đen sẫm trên nền trời trắng.
Từ đỉnh núi người ta thấy rõ từng cụm mái nhà của mười một thị
trấn và làng mạc; cách mấy dặm cũng phân biệt rõ các gác chuông vùng bờ biển
xây rất cao, để có thể dùng làm tiêu điểm cho những người ở ngoài khơi nữa.
Lát sau, lão già như đã thấy trong bóng tối nhập nhoạng cái
mà lão định tìm; mắt lão dừng lại một nơi xung quanh có cây cối, tường và mái
nhà, nom còn hơi mờ mờ ở giữa cánh đồng bằng và rừng cây, chỗ đó là một cái ấp;
lão gật gù, với vẻ thỏa mãn của một người tự bảo thầm: Kia rồi! Xong, lão lấy ngón
tay phác ra trong không gian một con đường đi xuyên qua bờ lũy và đồng ruộng.
Chốc chốc, lão lại chăm chú nhìn một vật không rõ hình thù và mờ mờ đang lay động
trên ngôi nhà chính của ấp, và lão như tự hỏi: Cái gì kia? Vì giờ này đã tối
nên không còn rõ màu sắc và hình nét; không phải là cái phong tiêu vì nó bay phấp
phới. Nhưng cũng không thể là một lá cờ.
Lão thấy mệt mỏi muốn ngồi mãi trên tảng đá, lão buông mình
trong cái quên lãng mà những người mệt nhọc thường cảm thấy vào phút đầu tiên
được nghỉ ngơi.
Trong một ngày có khoảng thời gian như không tiếng động, đó
là giờ phút thanh tịnh lúc chiều hôm. Bấy giờ đúng là lúc ấy. Lão tận hưởng;
lão nhìn, lão nghe. Nhìn và nghe cái gì nhỉ? Cái yên tĩnh. Những kẻ hung dữ vẫn
có những phút giây ưu tư. Đột nhiên, có tiếng người, tiếng nói không làm náo động
bầu không khí đang yên tĩnh mà càng làm cho quạnh quẽ thêm; đó là tiếng nói của
đàn bà và trẻ con. Đôi khi, trong bóng tối lại có những tiếng vui bất ngờ vang
lên. Vì bụi rậm che khuất nên không trông rõ đám người đang nói, nhưng họ đang
đi dưới chân cồn cát về hướng cánh đồng và rừng cây. Những tiếng nói trong trẻo,
mát rượi vọng đến tai lão già đang trầm mặc; tiếng nói rất gần nên lão nghe tất
cả.
Một giọng đàn bà bảo:
- Nhanh lên, chị Fléchard. Có phải lối này không?
- Không, lối kia.
Rồi hai giọng nói, một cao, một rụt rè đang trao đổi câu chuyện.
- Cái ấp ta đang ở tên là gì nhỉ?
- Herbe-en-Pail.
- Còn xa không?
- Đến mười lăm phút nữa kia đấy.
- Nhanh lên còn về ăn bữa chiều.
- Chắc chắn là ta về muộn rồi.
- Phải chạy thôi. Nhưng mà mấy đứa trẻ mệt rồi. Có hai chị em
mình làm sao cõng được ba đứa bé. Mà chị cũng bế một đứa rồi. Thật nặng như
chì. Đã cai sữa cho con bé phàm ăn ấy rồi mà chị vẫn cứ bế nó mãi. Chị làm nó
quen thói mất. Cứ để nó đi cho tôi. Ái chà, mặc kệ, canh sẽ nguội mất.
- Này, đôi chị cho tôi thật tốt! Y như đóng cho tôi vậy.
- Tốt hơn lê chân không.
- Nhanh lên con, René-Jean.
- Chỉ tại chú này làm chị em mình trễ thôi. Gặp cô bé nào cậu
ta cũng gạ chuyện. Ra dáng người lớn rồi.
- Thì nó sắp lên năm đấy.
- Này, René-Jean, tại sao lúc nãy cháu lại bắt chuyện với con
bé trong làng ấy?
Một giọng trẻ con, giọng con trai, trả lời:
- Vì cháu quen nó mà.
Người đàn bà tiếp:
- Sao quen nó à?
- Vâng - Đứa con trai đáp - Vì sáng nay nó đem cho cháu mấy
con vật.
- Tay này khá thật! - Người đàn bà kêu lên - Mới tới đây có
ba hôm, người bằng nắm tay ấy mà đã có nhân ngãi rồi!
Tiếng nói xa dần. Mọi tiếng động vụt biến mất.
II
Có tai mà không nghe 1
Lão già ngồi không nhúc nhích. Lão chẳng nghĩ ngợi gì; có lẽ
lão chỉ hơi mơ màng. Xung quanh lão tất cả là thanh tịch, êm dịu, tin tưởng,
tĩnh mịch.
Trên cồn cát vẫn còn sáng như ban ngày, nhưng dưới cánh đồng
đã sắp tối và trong rừng thì đã tối hẳn. Trăng mọc ở phía đông. Vài ngôi sao điểm
trên vòm trời xanh nhạt. Con người ấy, trong lòng mặc dù bề bộn những băn khoăn
lo nghĩ mãnh liệt lúc này cũng thấy ngập vào cái nhân hậu rất khó diễn tả của
vô cùng. Trong lòng lão như bừng lên ánh lê minh, một niềm hy vọng, nếu như tiếng
"hy vọng" có thể áp dụng được vào những mong đợi ở cuộc nội chiến.
Trong lúc này, lão chỉ thấy thoát khỏi biển cả ngặt nghèo, đặt chân lên đất liền,
thế là mọi nguy hiểm đã tiêu tan. Chẳng ai biết tên lão, lão chỉ có một mình, đối
với kẻ thù lão đã mất tích, không để lại dấu vết vì mặt biển chẳng giữ lại tí
gì, lão đã ẩn kín, không ai biết lão, cũng chẳng nghi ngờ. Còn lão. Lão cảm thấy
thoải mái vô cùng. Chút nữa thì lão thiếp đi.
Đối với con người ấy, bề ngoài, cũng như trong tâm tư, đương
bị giày vò bởi bao nỗi xốn xang, cái gì đem lại một khoái cảm dị thường cho giờ
phút êm ả đương qua này, chính là dưới đất cũng như trên trời, một cảnh tĩnh mịch
sâu thẳm.
Người ta chỉ nghe thấy gió ngoài biển thổi vào, như một điệu
nhạc trầm trầm không dứt, rồi dần dần quen tai, nghe chẳng còn là tiếng động nữa.
Bỗng nhiên, lão đứng bật dậy.
Sự cảnh giác của lão vừa đột nhiên thức tỉnh, lão ngắm chân
trời. Mắt lão như dán vào một vật gì.
Lão đang nhìn gác chuông Cormeray đằng trước mặt, tận cuối
cánh đồng. Hình như có điều gì lạ thường trên cái gác chuông đó.
Bóng gác chuông hằn lên rõ rệt; phía trên nổi lên một cái
tháp nhọn, và ở giữa tầng dưới và cái tháp là cái lầu vuông đặt chuông, trống
trải, không có mái hắt, bốn mặt nhìn vào thông thống, kiểu gác chuông vùng
Bretagne. Cái lầu ấy mở rồi lại đóng đều đặn; cửa sổ cao trên lầu lúc sáng lúc
tối; nhìn sang bên kia có lúc thấy nền trời, có lúc không; cửa sổ lúc tỏ lúc mờ,
mở rồi lại đóng từng giây một, nhịp nhàng như búa nện xuống đe.
Gác chuông Cormeray ở trước mặt lão khoảng hai dặm; lão nhìn
qua bên phải thấy gác chuông Baguer-Pican cũng đứng thẳng tắp phía chân trời;
Gác chuông này cũng mở rồi khép như gác chuông Cormeray.
Lão lại quay sang trái, nhìn gác chuông Tanis, gác chuông này
cũng mở rồi khép như gác chuông Baguer-Pican.
Lão nhìn suốt lượt dãy gác chuông ở phía chân trời, bên trái
là các gác chuông Courtils, Précey, Crollon và Croix-Avranchin; bên phải là các
gác chuông Raz-sur-Couesnon, Mordrey và Pas; trước mặt là gác chuông Pontorson.
Cửa sổ tất cả các gác chuông đều lần lượt lúc đen lúc trắng.
Cái đó muốn nói gì?
Cái đó có nghĩa là tất cả các chuông đang rung lên. Mà phải
rung dữ dội lắm thì mới khi ẩn khi hiện như thế.
Chuông gì vậy? Chắc chắn là chuông cấp báo.
Người ta rung chuông cấp báo, rung lên điên cuồng, rung khắp
mọi nơi, ở mọi gác chuông, ở mọi giáo khu, ở mọi làng, vậy mà chẳng nghe thấy
gì cả.
Đó là vì ở xa, tiếng chuông không vọng tới và gió biển thổi
ngược lại át hết mọi tiếng động trên đất liền cuốn về phía chân trời.
Tất cả các chuông đang rung lên, cầu cứu khắp nơi một cách cuồng
loạn và cùng lúc đó bốn bề lại im lặng, thật không có gì ghê rợn hơn.
Lão già vẫn nhìn và nghe ngóng.
Lão không nghe được tiếng chuông cấp báo, nhưng lão đã nhìn
thấy. Nhìn chuông cấp báo, một cảm giác lạ lùng.
Những cái chuông uy hiếp ai?
Hiệu cấp báo chống lại ai?
III
Công dụng của cỡ chữ lớn
Chắc chắn là có kẻ nào đang bị lùng riết.
Ai vậy?
Con người sắt đá ấy bỗng rùng mình.
Không thể nào là lão được. Người ta không thể đoán được là
lão đã trở về đây; không có lẽ nào những ngài đại diện chính phủ đến công cán
đã được báo tin về lão; vì lão vừa mới đổ bộ thôi. Con tàu Claymore chắc chắn
đã bị đắm, không một người nào thoát. Mà ngay trong tàu thì ngoài Boisberthelot
và La Vieuville ra, chẳng còn ai biết tên lão.
Các gác chuông vẫn tiếp tục rung lên ghê rợn. Lão quan sát, đếm
từ cái nọ đến cái kia một cách máy móc và nghĩ ngợi lan man, suy diễn từ giả
thiết này sang giả thiết khác, tư tưởng trôi nổi bập bềnh từ một cảnh ổn định
tuyệt đối chuyển sang một trạng thái lo ngại khủng khiếp. Nhưng xét cho cùng,
tiếng chuông cấp báo đó có thể giải thích bằng nhiều cách, rồi lão trở lại yên tâm
và cuối cùng lão tự nhủ một mình: "Tóm lại, chẳng ai biết được ta đã về
đây và cũng không ai biết được tên ta".
Từ nãy, ở mé trên và sau lưng lão vẫn có một tiếng động nhè
nhẹ. Tựa như tiếng sột soạt của lá cây. Mới đầu, lão không để ý; về sau vì tiếng
động cứ dai dẳng, cứ như dán vào tai, nên lão đành quay đầu lại. Đó là một tờ
giấy. Trên đầu lão, gió đang bóc dần một tờ cáo yết rộng dán trên tấm bia đá. Tờ
cáo yết ấy cũng mới dán vì hồ còn ướt và phơi ra giữa gió cho gió đùa giỡn và
làm bong ra.
Lúc nãy, lão già leo lên cồn cát từ phía bên kia nên không
nhìn thấy tờ cáo yết. Lão bèn đứng lên cái mốc từ nãy lão vẫn ngồi, lấy tay đè
lên góc tờ cáo thị bị gió lật lên; trời quang đãng, hoàng hôn tháng sáu bao giờ
cũng dài; dưới chân cồn cát, đã tối mò nhưng trên đỉnh thì vẫn còn sáng; một phần
cáo thị được in bằng cỡ chữ lớn, và trời cũng còn đủ sáng để đọc được. Lão đọc
thấy thế này:
NƯỚC CỘNG HÒA PHÁP THỐNG NHẤT VÀ KHÔNG THỂ CHIA CẮT
Chúng tôi, Prieur De La Marne, đại biểu quốc hội công cán tại
binh đoàn bờ biển Côtes-de-Cherbourg, ra lệnh:
- Tên nguyên hầu tước De Lantenac, tử tước De Fontenay, tục xưng là hoàng thân
xứ Bretagne, lén lút đổ bộ lên bờ biển Granville, nay bị đặt ra ngoài vòng pháp
luật.
- Nay treo giải để bắt hắn.
- Ai đem nộp dù còn sống hay đã chết, cũng sẽ được thưởng số tiền là sáu mươi
ngàn bảng. Không trả bằng tín phiếu mà trả bằng vàng.
- Một tiểu đoàn thuộc quân đội vùng bờ biển Cherbourg sẽ được phái ngay lập tức
lùng bắt tên nguyên hầu tước De Lantenac.
- Các xã đều có nhiệm vụ giúp sức.
- Làm tại hội quán Granville ngày 2 tháng 6 năm 1793.
Ký tên
Prieur De La Marne
Dưới cái tên này còn một chữ ký nữa, in bằng cỡ chữ nhỏ quá,
không thể nào đọc được vì trời đã tối.
Lão già kéo sụp mũ xuống tận mắt, khép chiếc áo choàng đi biển
sát tận cằm rồi bước nhanh xuống dưới chân cồn cát. Cứ lẩn quẩn trên mỏm cao
sáng sủa lúc này quả là vô ích.
Có lẽ lão ở trên đó quá lâu; cồn cát chỉ còn đỉnh cao đó là
điểm duy nhất còn nom rõ.
Khi đã xuống dưới thấp và vào trong bóng tối, lão bước chậm lại.
Lão đi theo hướng đã tự phác ra về phía ấp có lẽ vì lão biết
chắc rằng đi về phía đó là được an toàn.
Xung quanh vắng ngắt. Vào giờ đó chẳng còn ai qua lại nữa.
Tới sau một bụi rậm thì lão dừng lại, cởi áo khoác ra, lộn
trái chiếc áo cộc đang mặc để mặt có lông xù ra bên ngoài, buộc lại vào cổ chiếc
áo khoác, nó chỉ còn là một tấm rách mướp thắt bằng một sợi dây thừng rồi lại
tiếp tục đi.
Trời sáng trăng.
Lão đi tới một ngã ba đường, ở đó có dựng một cái giá chữ thập
bằng đá đã lâu đời. Dưới chân giá cũng có một hình vuông trắng giống như tờ cáo
thị lão vừa được đọc. Lão tới gần bên.
- Ngài đi đâu?
Có một tiếng cất lên hỏi lão.
Lão quay ngay lại.
Một người đã đứng trong bờ lũy, thân hình cao như lão, già
như lão, tóc bạc như lão và lại rách rưới hơn lão nữa. Gần hoàn toàn giống lão.
Người kia chống chiếc gậy dài.
- Tôi hỏi xem ngài đi đâu?
- Trước hết đây là đâu? - Lão nói, với giọng bình tĩnh, gần
như trịch thượng.
Người kia bảo:
- Ngài đang ở trong lãnh địa De Tanis, mà tôi là kẻ ăn mày,
còn ngài là lãnh chúa.
- Tôi ấy ư?
- Vâng, chính ngài, thưa hầu tước De Lantenac.
IV
Người ăn mày
Hầu tước De Lantenac, từ nay chúng ta gọi đích danh ông ta,
trả lời giọng trang nghiêm:
- Thôi được. Đem nộp ta đi.
Người kia lại đáp:
- Hai chúng ta cùng ở vùng này, ngài ở trong lầu cao, tôi ở
nơi bờ bụi.
- Thôi đi. Làm gì thì làm. Đem nộp ta đi. - Hầu tước nói.
Người kia tiếp:
- Ngài định đi về ấp Herbe-en-Pail có phải không?
- Phải.
- Ngài đừng đến nữa.
- Tại sao?
- Vì có quân xanh ở đó.
- Từ bao giờ?
- Ba hôm rồi.
- Dân trại và dân xóm có kháng cự không?
- Không. Họ mở toang cửa ra đón.
- A! - Hầu tước thốt lên.
Người kia lấy ngón tay chỉ vào cái mái nhà trong ấp nhìn thấy
đằng xa, qua các ngọn cây.
- Ngài nhìn thấy cái mái nhà không, hầu tước?
- Có.
- Ngài thấy trên đó có gì chứ?
- Cái gì đang bay.
- Vâng.
- Một lá cờ.
- Tam tài - Người kia nói.
Có cái vật đó, lão hầu tước đã chú ý từ lúc còn ở trên cồn
cát cao.
- Hình như người ta kéo chuông cấp báo có phải không? - Hầu
tước hỏi.
- Phải.
- Vì lý do gì?
- Chắc chắn là vì ngài.
- Nhưng sao không nghe thấy?
- Tại có gió cản.
Người kia lại tiếp:
- Ngài đã trông thấy tờ cáo thị chưa?
- Rồi.
- Họ đang lùng ngài.
Rồi liếc mắt về phía ấp, người ấy nói thêm:
- Ở đó có nửa tiểu đoàn.
- Quân cộng hòa à?
- Người Paris.
- Thế thì ta đi thôi. - Hầu tước bảo.
Rồi lão cất bước về phía ấp.
Người kia giữ lấy tay lão.
- Ngài đừng đến đó.
- Thế ông định bảo tôi đi đâu?
- Về nhà tôi.
Lão hầu tước nhìn lão ăn mày.
- Thưa ngài hầu tước, nhà tôi không đẹp đâu nhưng an toàn. Một
cái lều thấp hơn một cái hầm. Sàn nhà trải rong biển, trần nhà là cành cây và cỏ
khô. Mời ngài đến. Về gấp, ngài sẽ bị bắn. Về nhà tôi ngài sẽ ngủ yên. Chắc
ngài mệt rồi, sáng mai quân xanh lại sẽ lên đường, ngài muốn đi đâu cũng được.
Hầu tước nhìn kỹ người kia.
- Ông ở phe nào? - Hầu tước hỏi - Ông là cộng hòa? Hay ông là
bảo hoàng?
- Tôi là một người nghèo.
- Không bảo hoàng, không cộng hòa?
- Có lẽ không.
- Ông ủng hộ hay chống lại đức vua?
- Tôi chẳng còn thì giờ để nghĩ đến việc đó.
- Ông suy nghĩ gì về các việc đang xảy ra?
- Tôi chẳng có gì ăn mà sống.
- Vậy mà ông còn cứu tôi.
- Vì tôi thấy ngài đã bị ở ngoài vòng pháp luật. Ừ, pháp luật
là cái gì nhỉ? Sao người ta lại có thể ở ngoài được. Tôi không hiểu nữa. Như
tôi, tôi ở trong vòng pháp luật ư? Tôi ở ngoài vòng pháp luật ư? Tôi chẳng biết
gì về những cái đó cả. Chết đói cũng là trong vòng pháp luật à?
- Ông chết đói từ bao giờ?
- Từ suốt đời tôi.
- Thế mà ông cứu tôi?
- Vâng.
- Tại sao?
- Tại vì tôi tự bảo: Lại có người còn khổ hơn mình. Ta còn có
quyền thở, người đó lại không có cả quyền đó nữa.
- Đúng. Ông cứu tôi thật à?
- Thật đấy. Chúng ta trở thành anh em rồi, thưa đức ông. Tôi
yêu cầu được ăn, đức ông yêu cầu được sống. Hai ta là hai kẻ ăn mày.
- Nhưng chắc ông đã biết là đầu tôi được treo giải chứ?
- Vâng.
- Vì sao ông biết?
- Tôi đọc tờ cáo thị.
- Ông biết đọc?
- Vâng. Và cả viết nữa. Tại sao tôi lại cứ phải là đồ ngu ngốc?
- Vậy thì, ông biết đọc, ông lại đã đọc tờ cáo thị, hẳn ông
biết rằng ai đem tôi đi nộp sẽ được món tiền sáu mươi nghìn quan?
- Tôi biết thế.
- Không trả bằng tín phiếu.
- Vâng, tôi biết, trả bằng vàng.
- Chắc ông cũng biết rằng sáu nghìn quan là cả một gia tài lớn?
- Vâng.
- Và nếu ai đem tôi đi nộp, sẽ trở nên giàu có?
- Thế thì sao?
- Giàu có!
- Đó cũng là điều tôi đã nghĩ tới. Mới gặp ngài, tôi đã tự bảo:
À, sẽ có kẻ đem nộp người này để kiếm sáu chục nghìn quan và làm giàu đây! Phải
giấu người đó đi cho mau.
Thế là lão hầu tước đi theo người nghèo khổ kia.
Họ đi vào một cánh rừng rậm. Cái hang thú của lão ăn mày ở
trong đó. Đó là căn phòng mà một cây sồi già cho người ăn mày; phòng đó đào sâu
dưới rễ cây và lợp bằng cành lá. Thật là tối tăm, lụp sụp, kín đáo, chẳng ai thấy
được. Có đủ chỗ cho hai người.
- Đấy, tôi đã biết trước là có lúc sẽ có một ông khách. - Lão
ăn mày nói.
Cái loại nhà đào dưới đất như thế ở Bretagne không hiếm như
ta tưởng, gọi theo tiếng thôn quê là carnichot. Những nơi ẩn nấp khoét
trong tường cũng gọi bằng tên đó.
Trong nhà bày biện vài cái bình, một nệm rơm hoặc rêu biển đã
rửa sạch phơi khô, một cái chăn to bằng vỏ cây và vài mồi vải thấm mỡ lừa với một
cái bật lửa cùng vài cành cây rừng rỗng ruột làm đóm.
Hai người phải lom khom bò một quãng, rồi mới vào được trong
phòng, trong đó rễ cây to ngăn ra thành từng ngăn con trông rất ngộ, rồi họ
cùng ngồi lên một đống rong biển khô dùng làm giường.
Khoảng cách giữa hai rễ cây làm cửa vào có lọt chút ánh sáng.
Đêm xuống rồi, nhưng mắt đã thích ứng với ánh sáng bên ngoài, nên rồi bao giờ
người ta cũng thấy đôi chút sáng sủa trong bóng tối. Ánh trăng hắt mờ nhạt rọi
lối vào. Ở góc nhà có một bình nước, một tấm bánh mì đen và nhiều quả hạt dẻ.
- Ta ăn thôi. - Lão già nghèo khổ mời.
Họ chia nhau hạt dẻ; hầu tước biếu ông bạn một miếng bánh
bích quy; họ cùng gặm chung mẩu bánh mì đen và lần lượt dốc bình nước uống.
Họ chuyện trò với nhau.
Hầu tước bắt đầu hỏi chuyện người kia.
- Vậy thì mọi sự xảy ra hoặc không xảy ra đối với ông cũng
như thế cả ư?
- Gần như thế. Các ngài là vua chúa. Đó là công việc của các
ngài.
- Nhưng mà cái đang xảy ra...
- Xảy ra trên mặt đất kia thôi.
Lão ăn mày nói thêm:
- Vả lại tôi còn quan tâm đến các việc khác, những việc xảy
ra cao hơn trên mặt đất, như mặt trời mọc, trăng tròn rồi khuyết.
Rồi lão uống một ngụm nước ở bình, xong lại nói:
- Mát quá!
Lão lại tiếp:
- Đức ông thấy nước này ra sao?
- Ông tên là gì? - Hầu tước hỏi.
- Tôi tên là Tellmarch, và người ta gọi tôi là Caimand.
- Tôi biết. Caimand là tiếng địa phương.
- Có nghĩa là ăn mày. Người ta cũng đặt cho tôi cái biệt hiệu
là Lão Già.
Lão nói tiếp:
- Đã bốn mươi năm nay họ gọi tôi là Lão Già.
- Bốn mươi năm! Nhưng ngày trước ông cũng có thời trẻ trung
chứ?
- Tôi chẳng bao giờ trẻ cả. Ngài thì bao giờ cũng trẻ, ngài hầu
tước ạ. Ngài có cặp giò của trai hai mươi tuổi, ngài còn leo lên cồn cát được;
tôi thì bắt đầu lê không nổi; đi được một phần tư dặm đã mệt. Hai ta cùng một
tuổi; nhưng người giàu thì hơn hẳn chúng tôi vì họ có ăn quanh năm. Ăn đủ là giữ
gìn được sức khỏe.
Lão ăn mày im lặng một lát rồi lại tiếp:
- Kẻ nghèo, người giàu, đó là một chuyện kinh khủng. Đó là
nguyên nhân gây ra các tai họa. Hoặc ít ra là tôi cảm thấy thế. Kẻ nghèo muốn
giàu, kẻ giàu thì không muốn nghèo. Tôi nghĩ đó có lẽ là vấn đề cơ bản. Tôi
không muốn dính vào đó. Việc đời là việc đời. Tôi chẳng muốn bênh con nợ cũng
không bênh chủ nợ. Tôi nghĩ rằng nợ thì phải trả. Thế thôi. Có lẽ tôi thích người
ta đừng giết vua, vì sao lại thích như thế thì thật khó nói. Về việc đó, người
ta trả lời tôi: Nhưng mà ngày trước chỉ vì một chuyện không đâu, người ta cũng
đã treo cổ dân lên cây. Chính tôi đây, tôi đã thấy chuyện này: chỉ vì một phát
súng bắn bậy vào con mang của nhà vua mà một người có vợ và bảy con bị treo cổ.
Cả đôi bên đều có thể viện lý nọ lẽ kia.
Lão ngừng lại rồi lại nói thêm:
- Ngài xem, tôi không hiểu rõ lắm, họ đến, họ đi, vô vàn sự
việc đang xảy ra; thế mà riêng tôi, tôi chỉ ngồi nhìn sao trên trời.
Lão Tellmarch ngừng một lát như mơ màng rồi nói tiếp:
- Tôi cũng hơi biết nắn xương, bốc thuốc, tôi biết các loại cỏ
cây và biết cách dùng, dân quê họ thấy tôi thơ thẩn, vẩn vơ thì họ cho tôi là
phù thủy. Vì tôi hay mơ màng, họ cho là tôi hiểu biết.
- Ông là người địa phương này chứ? - Hầu tước hỏi.
- Tôi không bao giờ ra khỏi vùng này.
- Ông biết tôi chứ?
- Biết. Lần cuối cùng tôi nom thấy ngài là cách đây hai năm,
cũng là lần cuối cùng ngài đi qua. Ngài đi từ đây sang nước Anh. Lúc nãy tôi
nhìn thấy một người trên cồn cát. Một người cao lớn. Người cao lớn ở đây hiếm
có; Bretagne là một xứ người nhỏ bé. Tôi nhìn kỹ, tôi lại đã đọc cáo thị rồi.
Tôi tự bảo: Ai kia? Và khi ngài đi xuống, nhờ có ánh trăng, tôi đã nhận ra
ngài.
- Thế mà tôi không biết ông.
- Ngài đã gặp tôi nhưng ngài chẳng bao giờ thấy tôi cả. 2
Và lão ăn mày Tellmarch nói thêm:
- Còn tôi, tôi đã trông thấy ngài. Người ăn mày và người qua
đường, mỗi người có một cách nhìn, không giống nhau.
- Thế ngày trước tôi có gặp ông ở đâu không?
- Gặp luôn, bởi vì tôi là người đã ăn xin ngài. Trước kia,
tôi là người nghèo khổ lang thang trên con đường mé dưới lâu đài của ngài. Ngài
cũng đã có dịp bố thí cho tôi; nhưng người cho thì không buồn nhìn, người nhận
của bố thí lại nhìn kỹ, quan sát kỹ. Ăn mày tức là dò la. Nhưng tôi, tuy có khi
buồn bực, tôi vẫn cố gắng để không đến nỗi là một người xấu. Tôi ngửa bàn tay,
ngài chỉ nhìn thấy bàn tay thôi, ngài vứt của bố thí vào, đó là cái mà buổi
sáng tôi lo kiếm ra để buổi tối tôi khỏi chết đói. Có khi cả ngày cả đêm không
có gì vào bụng. Đôi khi một xu cũng đủ cứu sống. Tôi ơn ngài mà sống, nay tôi
đem cái sống đền đáp ngài.
- Đúng rồi, ông cứu tôi.
- Vâng, tôi cứu ngài, thưa đức ông.
Và lời nói của Tellmarch trịnh trọng hẳn lên:
- Với một điều kiện.
- Gì vậy?
- Là ngài về đây đừng làm điều ác.
- Tôi tới đây để làm điều lành - Hầu tước nói.
- Chúng ta ngủ đi!
Hai người nằm cạnh nhau trên tấm giường bằng rong biển. Lão
ăn mày ngủ ngay. Hầu tước mặc dù mệt lắm cũng mơ màng một lúc, rồi trong bóng tối,
ông ta nhìn người ăn mày và nằm xuống. Nằm trên cái giường ấy tức là nằm xuống
đất; lão lợi dụng thế nằm ấy để dán tai xuống đất nghe ngóng. Dưới đất vọng lên
tiếng vo vo đều đều; chúng ta đều biết là âm thanh truyền lan rất sâu trong
lòng đất; lão nghe thấy tiếng chuông rung.
Chuông cấp báo vẫn tiếp tục.
Hầu tước ngủ thiếp đi.
V
Ký tên Gauvain
Khi lão hầu tước tỉnh dậy thì trời đã sáng rõ.
Lão ăn mày đứng thẳng, không phải là đứng trong hang vì trong
đó không thể nào đứng được, mà là đứng ngoài cửa. Lão chống chiếc gậy. Nắng chiếu
trên mặt lão.
- Đức ông ạ - Tellmarch nói - Chuông nhà thờ Tani mới điểm bốn
giờ sáng. Tôi nghe rõ bốn tiếng. Vậy là gió đã đổi hướng, thổi từ đất liền ra
biển; tôi không nghe thấy tiếng động nào khác; vậy là chuông cấp báo đã ngừng.
Mọi vật đều yên tĩnh, cả trong ấp và xóm Herbe-en-Pail. Quân xanh đang ngủ hoặc
đi rồi. Giờ phút nguy hiểm nhất đã qua; ta nên chia tay nhau thôi. Tôi cũng phải
đi bây giờ.
Lão chỉ vào một điểm ở chân trời:
- Tôi đi về lối này.
Rồi lão lại chỉ về phía ngược lại:
- Ngài hãy đi về lối này.
Lão ăn mày trịnh trọng giơ tay chào lão hầu tước.
Lão chỉ chỗ thức ăn bữa tối còn lại, nói thêm:
- Nếu ngài đói thì mang hạt dẻ đi.
Chỉ một lát sau, lão đã biến mất sau rặng cây.
Hầu tước đứng dậy, đi theo lối Tellmarch vừa chỉ. Đó là giờ
phút tươi đẹp trong ngày mà người dân quê phương bắc gọi là "cái giờ véo
von". Chim sẻ, chim khuyên, ríu rít trong các bờ lũy. Lão hầu tước đi theo
con đường nhỏ tối qua hai người đã đi vào. Lão ra khỏi rừng rậm và trở lại chỗ
đường rẽ có cây thập ác bằng đá đánh dấu. Tờ cáo thị vẫn còn, trắng trẻo và như
có ý trêu ngươi dưới ánh nắng sớm. Lão chợt nhớ ở dưới tờ cáo thị có những chữ
gì mà hôm qua lão không đọc được vì chữ nhỏ và trời tối. Lão đi về phía chân
cây thập ác. Đúng là phía dưới tờ cáo thị, dưới chữ ký Prieur De La Marne, có
hai dòng chữ nhỏ như sau:
Sau khi xác nhận rõ hình dạng của tên hầu tước De Lantenac,
thì đem hành hình ngay tức khắc. Ký tên: Tiểu đoàn trưởng, tư lệnh quân đoàn
chinh phạt, Gauvain.
- Gauvain! - Lão nhắc lại.
Lão lại bước đi, quay đầu lại, nhìn cây thập ác rồi lại trở lại
và đọc tờ cáo thị một lần nữa.
Rồi lão bước chậm rãi đi xa dần. Giá có ai ở sát bên lão, hẳn
phải nghe thấy lão lẩm bẩm trong miệng: "Gauvain!".
Ở con đường trũng lão đang lần đi, chẳng còn nhìn thấy nhà
trong ấp bị khuất về mé bên trái. Lão đi men một gò đất cao, đầy cỏ lác đang rộ
hoa. Trên gò đất cao ấy lại có một mỏm đất cao nữa, tiếng địa phương gọi là
"đầu lợn lòi". Đứng dưới chân gò tầm mắt mất hút trong cây cối. Lá
cây chan hòa ánh sáng. Thiên nhiên tràn ngập niềm vui nồng hậu của ban mai.
Bỗng dưng cái quang cảnh ấy trở nên ghê rợn.
Như có một trận phục kích đang xảy ra. Không hiểu cái gì như
một thác nước ào ào đầy những tiếng thét man rợ và những tiếng súng nổ ran trên
cánh đồng và rừng cây đầy ánh nắng, rồi cùng lúc đó, ở phía ấy thấy bốc lên một
làn khói sáng rực, y như thể cả xóm thôn trang trại chỉ là một bó rơm đang cháy
bùng lên. Thật là đột ngột và rùng rợn; đang thanh bình bỗng chuyển sang điên
loạn, một cảnh địa ngục bùng cháy giữa rạng đông, một cách khủng khiếp bất ngờ.
Đang đánh nhau ở phía Herbe-en-Pail. Lão hầu tước đứng lại.
Trong những trường hợp như vậy, ai cũng biết nguy hiểm mà vẫn
tò mò; dù có chết người ta cũng muốn xem thử ra sao. Lão hầu tước trèo lên đỉnh
gò cao, dưới chân gò là con đường trũng. Đứng trên đó có thể bị lộ, nhưng nhìn
lại rõ. Lão đứng hẳn lên cái "đầu lợn lòi" mấy phút. Lão nhìn.
Đúng là đang bắn nhau và có đám cháy. Nghe có tiếng kêu la và
nhìn thấy ngọn lửa. Hình như ấp trại là trung tâm của tai họa nào đây. Tai họa
gì thế? Ấp Herbe-en-Pail bị tấn công ư? Ai tấn công? Có phải đang đánh nhau
không? Hay chỉ là một cuộc hành binh trừng phạt? Quân xanh đã có sắc luật cách
mạng cho phép được đốt trang trại và xóm làng nào không chịu phục tùng; để nêu
gương họ đốt ấp trại và xóm làng nào không chịu đốn đủ số gỗ như luật định hoặc
không chịu mở đường trong rừng rậm cho kỵ binh cộng hòa. Mới đây, họ đã trừng
phạt như vậy giáo khu Bourgon, gần Ernée. Herbe-en-Pail có ở trong trường hợp
đó không? Rõ ràng là trong các khu rừng và trang trại này chưa mở ra những con
đường chiến lược do sắc luật quy định. Đây là một sự trừng phạt chăng? Hay là
đã có lệnh gì đưa tới cho tiền quân đóng ở ấp này. Cái đơn vị tiền tiêu ấy có nằm
trong các đơn vị chinh phạt gọi là "quân đoàn ác quỷ" không?
Xung quanh gò đất cao, chỗ lão hầu tước đứng quan sát là cả một
dải rừng rất rậm, rất rùng rợn. Rừng đó, người ta thường gọi là bụi bờ
Herbe-en-Pail, nhưng rộng lớn như một cánh rừng kéo dài tới sát ấp và cũng như
những rừng khác ở xứ Bretagne, che kín một hệ thống rào rãnh, đường mòn, đường
trũng, toàn là những lối đi khúc khuỷu quanh co, quân cộng hòa lọt vào sẽ lạc lối.
Cuộc hành binh trừng phạt vừa rồi, nếu quả thật như vậy tất
phải dữ dội vì xảy ra ngắn quá. Chớp nhoáng như bao nhiêu cảnh ác liệt khác. Nội
chiến tàn khốc thường có những cảnh man rợ như vậy. Trong lúc lão hầu tước phỏng
đoán hết mọi cách, trù trừ không biết nên đi xuống hay ở lại, trong lúc lão
nghe ngóng, dò xét, thì cái tiếng ồn ào tiêu diệt kia đã ngừng lại, hoặc nói
đúng hơn là đã tản đi. Lão hầu tước nhận ra trong rừng rậm như có cảnh tán loạn
của một đoàn người hung hăng và thích thú. Một đám người chen chúc dưới vòm cây
trông thật đáng sợ. Từ trong ấp họ đổ ra rừng. Có cả trống đánh nhịp tiến quân.
Họ không nổ súng. Bây giờ nghe như tiếng săn đuổi trong rừng; hình như họ sục sạo,
rượt theo, lùng bắt, chắc chắn là họ đang tìm một người nào; tiếng ồn ào không
rõ và ngân xa; nghe lẫn cả những lời đầy phẫn nộ và đắc chí; trong tiếng ồn ào
có cả tiếng gào thét; không thể phân biệt được gì hết, thế rồi bỗng dưng, như một
nét đậm vẽ lên đám khói, một cái gì nổi lên rõ ràng đậm nét giữa muôn tiếng ồn
ào: đó là một tên người, một tên người đang được nghìn người nhắc đi nhắc lại,
và lão hầu tước nghe rõ tiếng kêu:
- Lantenac! Lantenac! Hầu tước De Lantenac.
Họ đang tìm lão.
VI
Những diễn biến của nội chiến
Thế rồi bỗng nhiên xung quanh lão, cùng một lúc, khắp bốn
phía, nào súng ống, gươm, lưỡi lê dây rừng, một lá cờ tam tài hiện lên trong
ánh sáng mờ mờ, tiếng kêu "Lantenac" ran bên tai lão, và dưới chân
lão, qua các bụi gai và cành lá, xuất hiện những bộ mặt dữ tợn.
Lão hầu tước đứng một mình trên đỉnh gò, khắp nơi trong rừng
đều nhìn rõ. Lão khó nhìn thấy những người đang gọi tên lão, nhưng ai cũng nhìn
thấy lão. Nếu trong rừng có một nghìn mũi súng thì lão đứng đó như một tấm bia.
Trong rừng lúc này, lão không còn phân biệt gì khác ngoài những tròng mắt nảy lửa
nhìn chằm chằm vào lão. Lão bỏ mũ ra, lật vành lên, bứt một cái gai dài trong bụi,
rút trong túi ra một chiếc huy hiệu màu trắng rồi lấy gai găm vành mũ vào thành
mũ cùng với chiếc huy hiệu, xong lão đội lại chiếc mũ đã lật vành lên, phơi cái
trán và chiếc huy hiệu ra; lão nói to, nói cho cả khu rừng cùng nghe:
- Ta là kẻ mà các người đang tìm đây. Ta là hầu tước De
Lantenac, tử tước De Fontenay, vương hầu xứ Bretagne thống lĩnh quân đội nhà
vua. Không phải tìm kiếm nữa. Nhắm bắn! Bắn!
Rồi hai tay phanh chiếc áo da dê, lão ưỡn bộ ngực trần ra.
Lão nhìn xuống, đưa mắt tìm những mũi súng chĩa lên và lão thấy
nhiều người đang quỳ gối vây quanh lão.
Một tiếng ran lên: "Lantenac muôn năm! Đức ông muôn năm!
Tướng quân muôn năm!"
Cùng lúc đó, mũ tung lên trời, gươm khoa lên sảng khoái, và
khắp khu rừng, gậy gộc nhô ra, ở đầu gậy lắc lư những chiếc mũ chào mào bằng
len nâu.
Xung quanh lão là một toán quân Vendée.
Toán người đó vừa thấy lão đã quỳ cả xuống.
Theo truyền thuyết thì ngày xưa, ở các rừng rậm xứ Thuringue
có những giống vật khổng lồ, kỳ lạ, nửa người nửa ngợm, dân La Mã cho đó là những
con vật kinh tởm, còn người Germain lại cho là hiện thân của thần thánh, do đó
nếu gặp người La Mã thì họ bị giết, và nếu gặp người Germain thì họ được tôn thờ.
Lão hầu tước cũng cảm thấy mình tương tự như giống vật đó,
trong khi lão chờ đợi họ xử trí như đối với một con quái vật thì bỗng nhiên được
tôn lên như một vị thần.
Những cặp mắt sáng lên dữ dội đều chăm chắm nhìn lão hầu tước
như biểu lộ một mối tình yêu man rợ.
Cả đám đông lộn xộn đó trang bị bằng súng, gươm câu liêm sào,
gậy; mọi người đều đội mũ phớt rộng vành hoặc mũ chào màu nâu, mũ nào cũng đính
huy hiệu trắng, rất nhiều tràng hạt và bùa hộ thân, quần rộng có xẻ chỗ đầu gối,
áo khoác xù lông, ghệt bằng da, bắp chân để hở, tóc dài, có một số trong bọn
nom dữ tợn, còn tất cả đều có vẻ chất phác.
Một người trai trẻ, khôi ngô bước qua những người đang quỳ,
tiến nhanh tới chỗ lão hầu tước. Người này cũng ăn mặc như những người dân quê
kia, nghĩa là mũ phớt lật vành có đính huy hiệu trắng, mặc áo khoác xù lông,
nhưng anh ta có đôi bàn tay trắng trẻo và mặc áo sơ-mi mỏng, ngoài ra còn thắt
bên ngoài áo vét một cái dải bằng lụa trắng, đeo thanh kiếm chuôi nạm vàng.
Lên đến đỉnh đồi, anh ta vứt mũ xuống, tháo dải lụa ra, quỳ một
gối xuống đất, trình lên lão hầu tước thanh kiếm cùng dải lụa và nói:
- Chúng tôi tìm ngài, và cuối cùng đã tìm thấy ngài. Đây là
kiếm lệnh. Những người này giờ đây thuộc về ngài. Tôi đã chỉ huy họ, nay tôi được
thăng cấp, tôi là lính của ngài. Chúng tôi xin trân trọng kính chào đức ông.
Xin tướng quân ra lệnh.
Rồi anh ta ra hiệu và những người mang lá cờ tam tài tiến ra
khỏi rừng. Họ bước lên đến gần lão hầu tước, đặt lá cờ dưới chân lão. Chính lá
cờ này lúc nãy lão đã nhìn thấy qua cành lá.
- Thưa tướng quân, đây là lá cờ chúng tôi mới chiếm được của
bọn Xanh ở trại Herbe-en-Pail - Người trẻ tuổi vừa dâng dải lụa và kiếm nói -
Thưa đức ông, tôi tên là Gavard. Tôi đã có ở với hầu tước La Rouarie.
- Được - Lão hầu tước nói.
Rồi lão thắt dải lụa vào, hết sức bình tĩnh và trang nghiêm.
Sau đó lão rút kiếm ra, khoa trên đầu, hô:
- Đứng lên, đức vua muôn năm!
Mọi người đứng cả dậy.
Thế rồi người ta nghe thấy từ trong rừng thẳm những tiếng
thét cuồng loạn và đắc thắng: Đức vua muôn năm! Hầu tước của chúng ta muôn
năm! Lantenac muôn năm!
Lão hầu tước quay lại phía Gavard.
- Các người có bao nhiêu cả thảy?
- Bảy nghìn.
Rồi đám dân quê rẽ gai mở đường cho lão hầu tước Lantenac đi
xuống chân gò. Gavard cùng xuống với lão và nói tiếp:
- Bẩm đức ông, quả thật là đơn giản; chỉ nói một câu cũng rõ
sự tình. Mọi người chỉ chờ một tia sáng. Tờ cáo thị của bọn cộng hòa báo tin
ngài trở về đã thúc giục cả vùng nổi lên ủng hộ đức vua. Ngoài ra chúng tôi còn
được ông thị trưởng Granville là người của ta, mật báo; chính ông ta đã cứu tu
viện trưởng Olivier. Ngay đêm đó, chúng tôi đã nổi chuông cấp báo.
- Vì ai?
- Vì ngài?
- À! - Lão hầu tước kêu lên.
- Và bây giờ chúng tôi đã ở đây - Gavard tiếp.
- Các ngươi có bảy nghìn?
- Hôm nay. Ngày mai chúng tôi sẽ có mười lăm nghìn. Đó là khả
năng của xứ này. Hồi ngài Henri De La Rochejaquelein đi theo quân đội công
giáo, người ta cũng rung chuông cấp báo và chỉ một đêm cả sáu giáo khu ở vùng
này đã dẫn đến cho ngài mười nghìn người. Họ không có đạn dược, người ta đã tìm
được ở nhà một anh thợ nề sáu mươi cân thuốc mìn và ngài De La Rochejaquelein
đã lên đường với số thuốc mìn ấy. Chúng tôi đã nghĩ đúng là ngài ắt phải ở
trong rừng này, thế là chúng tôi đi tìm.
- Các anh đã đánh bọn Xanh ở Herbe-en-Pail à?
- Vì ngược gió nên bọn chúng không nghe rõ chuông cấp báo.
Chúng không nghi ngờ gì; dân xóm là những người cục mịch đã niềm nở đón tiếp
chúng. Sáng nay, chúng tôi vây ấp, bọn Xanh còn ngủ, thế là chỉ một loáng chúng
tôi giải quyết xong. Tôi có con ngựa. Rất mong tướng quân hạ cố.
- Được.
Một người dân quê dẫn đến một con ngựa bạch, thắng yên cương
đầy đủ theo kiểu nhà binh. Lão hầu tước, chẳng cần đến Gavard giúp, nhảy phắt
lên.
- Hurrah! 3 -
Những người dân quê hô vang lên. Lối hô bằng tiếng Anh rất thông dụng ở vùng bờ
biển Bretagne và Normandie, là những vùng thường xuyên quan hệ với các đảo trên
biển Manche.
Gavard chào kiểu nhà binh và hỏi:
- Đức ông định đặt tổng hành dinh ở đâu?
- Lúc đầu ở khu rừng Fougères.
- Đó là một trong bảy khu rừng của hầu tước.
- Cần có một cha cố.
- Chúng tôi có một vị.
- Ai?
- Cha cai quản nhà thờ Chapelle-Erbrée.
- Ta biết vị đó. Ông ấy đã có ra ngoài đảo Jersey.
Một thầy tu tách khỏi hàng ngũ và nói:
- Ba lần cả thảy.
Lão hầu tước quay đầu lại:
- Chào Cha. Cha sắp có việc làm rồi.
- Càng tốt ạ, thưa hầu tước.
- Cha sẽ có người tới xưng tội. Tùy người ta. Ta không bắt ép
ai cả.
- Thưa hầu tước - Thầy tu nói - Gaston, hồi ở Guéménée, bắt cả
bọn cộng hòa phải xưng tội.
- Lão ta là thợ làm tóc giả - Hầu tước nói - Chết thì phải được
tự do chứ.
Gavard vừa đi ra ngoài truyền mệnh lệnh, trở vào nói:
- Bẩm tướng quân, tôi chờ lệnh ngài.
- Trước hết, địa điểm tập trung quân ở khu rừng Fougères.
Mọi người phân tán rồi tới đó.
- Tôi đã truyền lệnh.
- Ngươi có nói với ta rằng bọn dân trại Herbe-en-Pail đã tiếp
đón niềm nở bọn Xanh phải không?
- Thưa tướng quân, đúng thế.
- Thế đã đốt trại chưa?
- Đã.
- Còn xóm dân cư đã đốt chưa?
- Chưa.
- Đốt nốt đi.
- Bọn Xanh cũng định chống cự; nhưng bọn chúng có trăm rưỡi,
còn chúng tôi đông những bảy nghìn.
- Bọn Xanh đó là bọn nào?
- Bọn Xanh của Santerre.
- Chính tên này đã chỉ huy đánh trống trong khi chém đầu đức
vua. Vậy thì đây là một tiểu đoàn từ Paris đến?
- Chỉ có một nửa tiểu đoàn.
- Tên tiểu đoàn đó là gì?
- Thưa tướng quân, đã có ghi trên cờ: tiểu đoàn Mũ Đỏ.
- Bọn thú vật hung hãn.
- Đối với bọn bị thương thì thế nào?
- Giết cho chết hẳn đi.
- Còn bọn tù binh?
- Bắn chết đi.
- Có khoảng tám chục tên.
- Bắn chết hết.
- Có hai tù binh đàn bà.
- Cũng bắn.
- Có ba đứa trẻ.
- Đem chúng đi, sau sẽ hay.
Nói xong, lão hầu tước thúc ngựa đi.
VII
Không tha<
(Khẩu lệnh của công xã
Không để sống sót
(Khẩu lệnh của các hoàng thân
Trong khi việc này xảy ra ở gần Tanis thì lão ăn mày đang đi
về phía Crollon. Lão lẩn trong hào sâu, dưới những vòm lá im lặng, thờ ơ với mọi
thứ, nhưng lại chú ý đến những cái vu vơ, như lão vẫn tự bảo, mơ mộng hơn là
nghĩ ngợi, vì nghĩ ngợi thì phải có chủ đích còn mơ mộng thì chẳng có đích gì;
lão cứ lang thang, lảng vảng, thỉnh thoảng dừng chân, ăn một cọng chua me rừng,
uống một hớp nước suối, chốc chốc lại ngửng lên nghe ngóng những tiếng động xa
xa, rồi lại trở vào trong cảnh thiên nhiên chói lòa quyến rũ, phơi bày áo quần
rách mướp dưới ánh nắng, tai có lẽ nghe thấy tiếng động của người, nhưng lại lắng
nghe tiếng chim hót.
Lão đã già và chậm chạp; lão không đi xa được; như lão đã nói
với hầu tước De Lantenac, lão chỉ đi một phần tư dặm là đã mệt; lão đi một vòng
đường ngắn đến Croix-Avranchin; khi lão trở lại thì đã chiều tàn.
Đi quá Macey một chút, con đường nhỏ đưa lão lên một đỉnh cao
trơ trọi, đứng đó trông được rất xa, nhìn khắp từ chân trời phía tây ra mạn bờ
biển.
Một đám khói bỗng làm lão chú ý.
Một làn khói, không gì hiền lành và cũng không gì đáng sợ bằng.
Có làn khói thanh bình và có những đám khói quái ác. Nhìn qua làn khói, màu sắc
và khối lượng thì thấy tất cả sự khác nhau giữa hòa bình và chiến tranh, giữa hữu
ái và hằn thù, giữa lòng hiếu khách của con người và vẻ lạnh lùng của ngôi mộ,
giữa cái sống và cái chết. Một làn khói tỏa giữa đám cây có thể là cảnh tươi đẹp
nhất trên đời, gia đình, hoặc cảnh ghê gớm nhất, cháy nhà; và tất cả hạnh phúc
cũng như đau khổ của con người đôi khi chứa đựng trong một làn khói tỏa bay
theo gió ấy.
Đám khói mà Tellmarch đang nhìn thật đáng lo ngại.
Đám khói màu đen đặc, có lúc đỏ rực như bốc lên từ than hồng
chốc chốc lại bùng cháy như sắp tàn, và đám khói ấy bốc lên trên ấp Herbe-en-Pail.
Tellmarch vội rảo bước đi về phía có đám khói. Lão mệt lắm
nhưng lão muốn xem có chuyện gì đã xảy ra.
Rồi lão đi tới đỉnh một quả đồi; trại và thôn xóm dựa vào sườn
đồi. Trại cũng như làng mạc không còn nữa. Một đống nhà đổ nát đang cháy dở đó
là Herbe-en-Pail.
Nhìn một lâu đài bốc cháy không đau xót bằng một túp nhà
tranh bị lửa thiêu. Cảnh một túp nhà tranh bốc cháy trông thật thê thảm. Tàn
phá trút lên nghèo khổ, con diều hâu sà xuống xéo chết con giun, một nghịch cảnh
làm người ta đau lòng thắt ruột.
Theo truyện cổ sấm truyền thì nhìn một đám cháy, con người có
thể hóa thành bức tượng; lão Tellmarch trong một lúc là bức tượng đó. Cảnh trước
mắt khiến lão lặng người. Cuộc tàn phá cứ lặng lẽ hoàn thành. Không một tiếng
kêu; không có một tiếng thở dài nào của con người lẫn vào trong khói; cái lò lửa
bốc cháy ngốn ngẫu cả làng này mà không có tiếng động nào ngoài tiếng rui, xà
nhà nổ răng rắc, tiếng tranh cháy lách tách. Đôi lúc làn khói tản ra, mái nhà ở
để lộ những căn phòng hổng toác, lò lửa để lộ ra những khối than hồng, những áo
tã nhuộm điều và đồ đạc cũ kỹ màu son trong những căn nhà đỏ rực, và lúc đó,
Tellmarch thấy choáng váng trước cảnh tàn phá thê thảm.
Vài cây trong vườn dẻ sát cạnh nhà cũng đã bắt lửa và bùng
cháy.
Lão nghe ngóng, cố lọc ra một tiếng người, một tiếng gọi, một
tiếng kêu la; trừ ngọn lửa ra không có vật gì còn nhúc nhích nữa; tất cả lặng
thinh, trừ đám cháy. Hay là mọi người đã trốn thoát cả?
Cái đám dân sống và lao động trong trại Herbe-en-Pail đã đi
đâu rồi? Bây giờ họ ra sao?
Tellmarch bước xuống chân đồi.
Trước mặt lão là một cảnh tang thương u uất. Lão từ từ tiến gần
lại, mắt nhìn chăm chú. Lão tiến đến chỗ đổ nát đó, lững thững như một cái
bóng; lão tưởng mình như một bóng ma trong cái mồ này.
Lão tới chỗ trước đây là cổng trại và nhìn vào trong sân bây
giờ không còn tường bao bọc nữa, đã lẫn lộn cả với xóm nhà ở vây quanh. Cảnh
thê thảm lão trông thấy trước đó chẳng nghĩa lý gì. Lúc nãy, lão mới nhìn thấy
cảnh ghê gớm, giờ đây lão mới thấy những cảnh rùng rợn.
Giữa sân, một đống đen nổi lên lờ mờ giữa ánh lửa và ánh
trăng; đó là đống người; họ đã chết rồi.
Xung quanh đám người đó là một cái ao đang bốc khói; ánh lửa
phản chiếu xuống mặt ao; nhưng cái ao đó chẳng cần ánh lửa mới nổi màu đỏ; vì
đó là ao máu.
Tellmarch lại gần. Lão xem xét lần lượt từng thân người sóng
soài; tất cả là xác chết.
Mặt trăng soi, ánh lửa bập bùng.
Những xác người đó là lính. Tất cả đều chân trần; họ đã bị lột
hết giày; họ cũng bị tước mất cả súng ống; họ chỉ còn mặc những bộ đồng phục
màu xanh; đó đây, giữa đống chân tay và đầu người, lão chỉ còn phân biệt được
đôi cái mũ thủng, gắn huy hiệu tam tài. Họ là quân cộng hòa. Đó là những người
lính Paris chiều qua vẫn còn sống, đóng doanh trại ở Herbe-en-Pail. Họ đã bị
hành hình, cứ xem cách họ nằm cạnh nhau đều đặn thì đủ biết; họ bị bắn tại chỗ,
rất chính xác. Họ đã chết cả. Trong đống người không còn tiếng rên rỉ nào nữa.
Tellmarch điểm một lượt đống xác chết không bỏ qua một xác
nào; xác nào cũng bị đạn bắn lỗ chỗ.
Kẻ giết họ chắc chắn là vội đi nơi khác nên không để thì giờ
chôn cất nữa.
Lão định trở về thì mắt bỗng nhìn vào một bức tường thấp
trong sân, có bốn cái chân thò ra ở một góc tường. Bốn chân này còn giày; trông
nhỏ nhắn hơn những bàn chân khác; Tellmarch lại gần. Đó là chân đàn bà.
Hai người đàn bà cũng bị bắn ngã gục nằm cạnh nhau đằng sau bức
tường. Tellmarch cúi xuống. Một người mặc quần áo na ná quân phục; cạnh chị ta
có cái bi-đông đã vỡ và cạn cả. Đó là một chị bán hàng căng-tin. Chị ta bị bốn
viên đạn vào đầu. Chị ta đã chết.
Tellmarch nhìn kỹ người đàn bà thứ hai. Đó là một người dân
quê. Da xám nhợt, mồm há hốc. Mắt chị ta nhắm nghiền. Đầu chị ta không bị vết
thương nào. Quần áo chị ta rách rưới có lẽ vì vật vã nhiều, đến lúc bị bắn ngã
lại rách rộng thêm làm cho nửa thân trên hơi lõa lồ. Tellmarch xé rộng thêm chỗ
áo rách ra và nhìn thấy ở bên vai một vết thương tròn vì đạn bắn; xương quai
xanh bị gãy. Lão nhìn đôi vú nhợt nhạt.
- Có con, đang nuôi con. - Lão lẩm bẩm trong miệng.
Lão sờ vào người chị ta. Chị ta chưa lạnh hẳn.
Chị ta không có thương tích nào khác ngoài vết thương ở vai
và xương quai xanh bị gãy. Lão đặt tay trên ngực thì thấy tim chị còn đập yếu ớt.
Thế là chị ta chưa chết.
Tellmarch bỗng vùng đứng thẳng và kêu lên kinh khủng:
- Có ai ở đây không?
- Lão đấy à, lão Caimand! - Một tiếng trả lời nghe trầm trầm
và rất khẽ.
Cùng lúc đó, từ một lỗ trong đống đổ nát, một cái đầu chui
ra. Rồi một bộ mặt khác ló sau túp nhà đổ.
Đó là hai người dân quê trốn thoát; chỉ còn hai người sống
sót. Tiếng nói quen thuộc của lão ăn mày làm họ yên tâm chui ra khỏi nơi ẩn
náu.
Họ đi lại phía Tellmarch, người vẫn còn run bần bật. Xúc động
quá Tellmarch hét to, nhưng không nói nên lời. Thường là thế khi người ta cảm
xúc quá đỗi.
Lão chỉ người đàn bà sóng soài dưới chân.
- Chị ta còn sống không? - Một người dân quê hỏi.
Tellmarch ra hiệu có.
- Chị kia còn sống không? - Người dân quê thứ hai hỏi.
Tellmarch ra hiệu không.
Người dân quê nhô đầu ra trước nhất hỏi tiếp:
- Những người khác chết cả phải không? Tôi nhìn rõ hết. Tôi ở
trong hầm rượu. Những lúc như thế, may mà không có gia đình. Thật đội ơn Chúa!
Nhà tôi cháy. Jésus Maria, lạy Chúa tôi! Họ giết sạch cả. Chị này có con. Ba đứa
còn bé tí! Bọn trẻ kêu: Mẹ ơi! Người mẹ kêu: Các con ơi! Thế mà người ta giết mẹ
và mang con đi mất. Trời ơi mắt tôi nhìn rõ cả! Bọn chúng giết sạch, phá sạch
và cút hết rồi. Chúng có vẻ thỏa mãn lắm. Chúng đem ba đứa trẻ đi và giết người
mẹ. Nhưng chị ta chưa chết, có phải không, chị ta chưa chết chứ? Nói đi,
Caimand, lão có tin là có thể cứu chị ta được không? Lão có muốn bọn tôi giúp
lão một tay khiêng chị ta về hang của lão không?
Tellmarch ra hiệu đồng ý.
Rừng ở kề bên. Họ làm ngay một cái cáng bằng cành lá và những
cây đuôi chồn. Họ đặt người đàn bà vẫn cứng đờ kia lên cáng, rồi đi vào rừng rậm,
hai người dân quê khiêng cáng, người đi trước người đi sau, còn Tellmarch giữ
tay người đàn bà vừa đi vừa bắt mạch.
Vừa đi, hai người dân quê vừa trò chuyện, và bên cạnh người
đàn bà máu me đầm đìa ánh trăng soi xuống, khuôn mặt xanh nhợt, họ trao đổi với
nhau những lời kinh hãi:
- Giết sạch!
- Đốt sạch!
- Lạy Chúa tôi! Sao bây giờ lại nên nông nỗi này?
- Tại lão già cao lớn muốn thế.
- Phải, chính lão là người chỉ huy.
- Lúc chúng bắn, tôi không thấy lão ta. Lão ta có đấy không?
- Không, lúc đó lão đi rồi. Nhưng đi hay ở cũng vậy, mọi việc
đều làm theo lệnh của lão cả.
- Thế thì chính lão gây ra tất cả.
- Lão đã nói: Đốt sạch! Giết sạch! Không để sống sót!
- Lão là một hầu tước!
- Đúng rồi, hầu tước của chúng ta đó.
- Lão tên gì nhỉ?
- De Lantenac.
Tellmarch ngước mắt nhìn trời, rít chặt hai hàm răng, than thở:
- Nếu ta biết nông nỗi này!
--------------------------------
|
Aures Habet, et non Audiet (nguyên văn, tiếng La-tinh
. |
|
|
Nguyên văn: "Ngài đã trông thấy tôi nhưng không nhìn
thấy tôi". |
|
|
Hoan hô! |
Phần thứ hai
Ở Paris
Quyển một
Cimourdain
I
Phố xá Paris thời ấy
Người ta sống giữa công chúng, kê bàn ăn ngay trước cửa, đàn
bà ngồi trên bậc thềm các nhà thờ làm những băng vải bó vết thương, vừa hát
bài La Marseillaise, vườn Monceaux và vườn Luxembourg thành nơi tập trận, ở
các ngã tư, xưởng võ khí làm việc tới tấp; người ta chế súng, khách qua đường
nhìn thấy, vỗ tay thích thú; ở cửa miệng mọi người, thường chỉ nghe thấy câu:
Kiên trì! Thời buổi cách mạng mà! Họ mỉm cười, hiên ngang. Họ đi xem kịch như ở
Athènes trong thời chiến tranh ở Péloponèse; quảng cáo dán khắp các góc phố: Hãm
thành Thionville - Bà mẹ được cứu thoát khỏi lửa thiêu - Câu lạc bộ những kẻ vô
tư lự - Jeanne, bà cả của các nữ giáo hoàng - Những triết gia mặc áo lính - Nghệ
thuật yêu đương ở nông thôn. Quân Đức đã ngấp nghé ở cửa ngõ thành phố;
tin đồn vua nước Phổ đã cho dành chỗ ở rạp Opéra. Cái gì cũng rùng rợn nhưng chẳng
ai sợ cả. Đạo luật đen tối về những người tình nghi 1 ,
tội ác của Merlin de Douais 2 ,
làm cho mọi người như thấy chiếc máy chém trên đầu. Một ông quan tòa, tên là
Séran, bị truy tố, chờ người tới bắt, vẫn mặc áo ngủ, đi giày vải, và thổi sáo
trước giá treo cổ. Hình như chẳng ai có thì giờ nhàn rỗi. Ai cũng vội vã. Không
chiếc mũ nào không có huy hiệu. Phụ nữ bảo: Đội chiếc mũ đỏ chị em chúng tôi
trông đẹp ra. Cả thành phố Paris như đang dọn nhà. Những người bán đồ cũ chất
ngổn ngang nào mũ miện của vua chúa, và giáo chủ, nào quyền trượng bằng gỗ thếp
vàng, nào những vật có hình hoa bách hợp, là những di vật của các cung điện. Đấy
là hình ảnh sụp đổ của chế độ quân chủ. Các loại áo lễ được đem bày bán ở cửa
hàng quần áo cũ. Ở cửa hàng Porcherons và Ramponneau có nhiều tay quấn đầy mình
áo lễ và những tấm vải thêu, ngồi ngất ngưởng trên những con lừa cũng choàng áo
lễ, tự mình rót rượu vào những chiếc bình trước kia dùng đựng bánh thánh ở các
nhà thờ lớn. Ở phố Saint-Jacques, mấy bác thợ lát đường, đi chân đất đã giữ lại
chiếc xe của một người bán hàng rong chở giấy đi bán, rồi góp tiền mua người
lăm đôi giày gửi lên Viện Quốc ước tặng cho quân đội cách mạng. Những tượng của
Franklin, Rousseau, Brutus và thêm cả Marat nữa, bày nhan nhản; dưới một tượng
bán thân của Marat ở phố Cloche-Perce có treo một bản kể tội Malouet, trong một
chiếc khung gỗ đen, lồng kính, với chứng cớ cụ thể và hai dòng chú thích ngoài
lề: "Những chi tiết này đều do một công dân yêu nước có cảm tình với tôi
là cô tình nhân của Sylvain Bailly cung cấp. Ký tên: Marat". Tại quảng trường
Hoàng Cung, hàng chữ La-tinh Quantos effundit in usus! 3 bị
che khuất sau hai bức tranh lớn vẽ bằng thuốc màu, một bức vẽ Cahier De
Gerville 4 tố
cáo lên Quốc hội mật hiệu cấu kết của bọn bảo hoàng ở Arles; bức kia vẽ vua
Louis XVI bị giải từ Varennes về, ngồi trong xe loan, phía dưới cỗ xe có một tấm
ván có dây chằng, hai đầu có hai người lính, lưỡi lê cắm đầu súng. Có ít hiệu
buôn lớn mở cửa; những xe hàng xén và đồ chơi trẻ con lưu động, do đàn bà kéo,
trên xe thắp nến, mỡ nến chảy nhòe nhoẹt trên mặt hàng; nhiều nữ tu sĩ mới hoàn
tục đội mớ tóc giả hung hung ngồi bán hàng giữa trời, có bà trước kia là nữ bá
tước nay ngồi vá thuê bít tất trong một gian nhà hẹp; có chị thợ may nguyên là
một bà hầu tước; bà De Boufleurs nay ở trong một cái gác xép, ngồi đó trông thấy
biệt thự cũ của bà ta. Bọn trẻ vừa chạy vừa rao mời mua "tờ tin tức".
Người ta gọi những anh chàng rụt cằm trong chiếc cà-vạt là "mắc bệnh tràng
nhạc". Những người hát rong chen chúc nhau. Dân chúng đả đảo Pitou, anh
chàng làm vè bảo hoàng, vốn can trường ra phết, vì hắn đã bị bỏ tù hai mươi lần
và bị đưa ra tòa án cách mạng về tội vừa vỗ đít vừa nói "yêu nước đấy";
khi thấy có thể bị mất đầu, hắn lại kêu lên: Chính cái bộ phận ngược với cái đầu
của tôi mới là thủ phạm! Cả tòa bật cười và tha cho hắn. Anh chàng Pitou này chế
giễu cái mốt hồi ấy đua nhau đặt tên Hy Lạp và La-tinh; bài thứ nhất của y viết
về một người thợ vá mà y đặt cho cái tên La-tinh là Cujus và đặt tên cho chị vợ
là Cujusdam. Người ta đua nhảy vòng tròn kiểu "cách mạng"; không ai
còn dùng những tiếng như chàng và nàng mà người ta gọi là nam công dân và nữ
công dân. Người ta nhảy trong những nhà tu kín hoang tàn, trên bàn thờ vẫn còn
những chiếc đèn cốc, trên vòm trần vẫn còn chiếc gậy kết chữ thập mang bốn cây
sáp, và dưới chỗ họ nhảy là hầm mộ. Họ mặc áo vét màu xanh thẫm. Họ đính những
kim cài áo sơ-mi kiểu "mũ tự do" làm bằng đá trắng, đá xanh đá đỏ. Phố
Richelieu 5 đổi
tên là phố Pháp Chế; ngoại ô Saint-Antoine đổi tên là ngoại ô Vinh Quang; ở quảng
trường Ngục Bastille dựng một bức tượng thần Thiên Nhiên. Người ta chỉ trỏ cho
nhau những kẻ qua lại quen thuộc như Chatelet, Didier, Nicolas, và
Garnier-Delaunay, đang canh gác ở cửa nhà người thợ mộc Duplay 6 ;
anh chàng Voullant không bao giờ vắng mặt trong những ngày xử chém, theo sau những
xe chở những người bị tử hình và gọi đó là "đi cầu lễ đỏ"; ông thẩm
phán cách mạng Monflabert, hầu tước, tự xưng là Dix-Août 7 .
Người ta đi xem sinh viên trường võ bị diễu binh, những sinh viên được các sắc luật
của Viện Quốc ước mệnh danh là "những chuẩn úy học viện Mars" còn dân
chúng lại gọi là "lính hầu cận của ông Robespierre". Người ta đọc những
bản thông báo truy tố những kẻ bị tình nghi tội hoạt đầu. Bọn bảo hoàng tụ tập
trước cửa tòa đốc lý, chế giễu những đám cưới không theo nghi lễ nhà thờ, xúm lại
lúc cô dâu chú rể đi qua và gọi họ là "vợ chồng thị chiếng" 8 .
Tại điện Thương Binh, tượng thánh và tượng vua đều đội mũ cộng hòa. Người ta
chơi bài cái mốc đặt ở ngã tư đường; cỗ bài cũng rất cách mạng; con vua thì đổi
bằng tên thiên thần, con đầm là con tự do, con bồi là con bình đẳng, con át là
con pháp chế. Người ta cày các công viên lên, cả ở vườn điện Tuileries 9 .
Chen lẫn với cảnh náo nhiệt trên đây là cái cảnh chán đời, kênh kệu của các phe
phái thất thế. Có người viết thư cho ông Fouquier-Tinville 10 :
"Nhờ ngài làm ơn cho tôi thoát khỏi cuộc đời này. Đây là địa chỉ của
tôi". Champcenetz 11 bị
bắt vì đứng giữa Hoàng Cung kêu rống lên: "Bao giờ thì cách mạng ở Thổ Nhĩ
Kỳ nhỉ? Tôi muốn thấy một chính phủ cộng hòa thay thế chính phủ ở Thổ" 12 .
Báo chí nhan nhản khắp nơi. Mấy chú thợ cạo uốn những mớ tóc giả của phụ nữ giữa
phố, trong lúc đó lão chủ cao giọng đọc báo Moniteur; một số khác múa tay
hoa chân giữa đám đông bình luận về tờ báo Chúng ta hãy đoàn kết lại của
Dubois Crancé hay Tiếng kèn của Bố Bellerose. Đôi khi thợ cạo kiêm cả
bán thịt; bên cạnh búp bê tóc vàng, họ lại treo từng chuỗi đùi lợn muối và dồi
lợn. Trên đường phố người ta bán các loại "rượu lưu vong"; có người
quảng cáo bán năm mươi hai loại rượu vang; có người buôn đồng hồ treo hình
đàn thất huyên và hình ghế xô-pha kiểu quận chúa; một anh thợ cạo treo tấm biển
như sau: "Tôi cạo cho giáo hội, tôi chải cho quý tộc, tôi sửa sang đẳng cấp
thứ ba". Người ta đến nhờ Martin bói bài ở số nhà 173, phố Anjou, trước gọi
là phố Quận Chúa. Bánh mì thiếu, than thiếu, xà phòng thiếu; người ta thấy hàng
đàn bò sữa từ các tỉnh kéo về. Ở khu Vallée, thịt cừu non bán mười lăm quan một
li-vrơ 13 .
Một thông cáo của Công xã quy định cứ mười ngày, mỗi nhân khẩu được mua một
li-vrơ thịt. Người ta phải sắp hàng nối đuôi trước các hiệu buôn; một "cái
đuôi" như vậy đã thành nổi tiếng vì kéo dài từ một cửa hàng xén phố
Petit-Carreau đến giữa phố Montorgueil. Nối đuôi, gọi là "chăng dây",
vì người ta phải sắp hàng, kẻ trước người sau cùng nắm vào sợi dây dài. Trong cảnh
thiếu thốn đó, phụ nữ tỏ ra rất dũng cảm và dịu dàng. Họ thức suốt đêm đợi
phiên mua bánh. Những phương sách cuối cùng đã đem lại kết quả; cách mạng vượt
qua được tình thế vô cùng nguy ngập bằng hai biện pháp nguy hiểm; tín phiếu và
giá tối đa; tín phiếu là đòn bẩy, giá tối đa là điểm tựa. Phương thuốc kinh
nghiệm ấy đã cứu vãn được nước Pháp. Kẻ thù, cả kẻ thù ở Coblentz lẫn kẻ thù ở
Luân Đôn đều đầu cơ tín phiếu. Bọn gái hư lang thang bán nước hoa, nịt bít tất,
bím tóc, và làm nghề buôn bạc; có những bọn buôn bạc ở bậc tam cấp phố
Vivienne, giấy bê bết bùn, tóc bôi sáp mỡ, đội mũ lông chỏm hình đuôi cáo, bọn
con buôn phố Valois, giấy đánh xi bóng lộn, miệng ngậm tăm, đầu đội mũ nhung,
cùng với bọn gái điếm xưng hô mày tao. Nhân dân săn chúng như săn kẻ trộm mà
phe bảo hoàng gọi là những "công dân tích cực". Nói cho đúng, rất ít
vụ trộm xảy ra. Quần chúng thiếu thốn ghê gớm, nhưng liêm khiết vô cùng. Những
người đầu trần chân trụi, bụng đói dạ khát, nghiêm trang cúi mặt đi qua các cửa
hàng vàng bạc. Trong một cuộc khám xét nhà Beaumarchais 14 của
trung đội Antoine, một người đàn bà vào vườn hái một đóa hoa; chị ta liền bị
dân chúng sỉ vả. Một bó củi giá bốn trăm quan, bằng bạc; trên đường phố, nhiều
người cưa giường để đun, mùa đông giếng nước đóng băng; mỗi gánh nước giá hai
hào; ai cũng tự túc xách nước. Đồng louis vàng giá ba nghìn chín trăm năm mươi
quan. Một chuyến xe ngựa giá sáu trăm quan. Sau một ngày đi xe, người ta nghe
thấy khách và người đánh xe trao đổi với nhau: "Bác xà ích, tôi phải giả
bác bao nhiêu?" "Sáu nghìn quan". Một chị bán cỏ mỗi ngày thu được
hai mươi nghìn quan. Một người ăn mày kêu: Xin ông bà làm phúc cứu tôi! Tôi còn
thiếu hai trăm ba mươi quan nữa mới đủ tiền mua. Ở các đầu cầu người ta thấy những
bức tượng khổng lồ do Davíd tạc và sơn, những bức tượng mà Mercier rủa: Những
con rối bằng gỗ kệch cỡm. Những bức tượng này tượng trưng khối liên minh và khối
đồng minh đã bị đánh đổ. Dân chúng không chút tuyệt vọng. Họ trầm ngâm nhưng
vui sướng đoạn tuyệt với các ngai vàng. Quân tình nguyện ùn ùn tới, hiến dâng lồng
ngực của mình. Mỗi đường phố cung cấp một tiểu đoàn. Cờ các quận diễu đi diễu lại,
mỗi lá cờ có một châm ngôn riêng, trên lá cờ quận Capucin, người ta đọc thấy
hàng chữ: Chẳng ai áp bức được chúng ta. Trên một lá cờ khác: Không
còn tầng lớp cao quý nữa, chỉ còn cao quý của lòng người. Trên các tường
nhan nhản những mảnh giấy, nhỏ có, to có, trắng, vàng, xanh, đỏ, in máy, viết
tay với những khẩu hiệu: Cộng hòa muôn năm! Trẻ con bập bẹ bài
hát Ta sẽ thắng.
Những chú bé ấy, chính là tương lai vĩ đại.
Sau này cái thành phố hà khắc thay cho cái thành phố bi thảm:
phố xá Paris có hai quang cảnh hết sức rõ rệt, trước và sau ngày 9 tháng
Nóng 15 .
Paris thời Saint-Just 16 nhường
chỗ cho Paris thời Tallien 17 .
Rõ ràng là một cơn điên loạn lôi kéo tất cả mọi người. Tám
mươi năm về trước cũng vậy. Người ta thoát khỏi Louis XIV cũng như thoát khỏi
Robespierre để thở cho nhẹ nhõm; do đó thế kỷ mở đầu với thời phụ chính và kết
thúc với thời đốc chính. Hai đợt truy hoan sau hai đợt khủng bố. Nước Pháp tự do
thoát khỏi nhà tu khổ hạnh và cũng đồng thời thoát khỏi nhà tu quân chủ với niềm
vui của một quốc gia được thả lỏng.
Sau ngày 9 tháng Nóng, thành phố Paris đã trở nên vui tươi,
nhưng lại quá trớn, tràn ngập một niềm hoan lạc độc hại. Qua cơn điên cuồng lao
vào cái chết, tiếp đến cơn cuồng loạn chạy theo cái sống, và cái vĩ đại đã lu mờ.
Có bọn hãnh tiến, có một nhân vật như Trimalcion 18 ,
tên là Grimod De La Reyière; có cuốn Niên lịch của những kẻ háu ăn. Buổi tối,
người ta tiệc tùng giữa tiếng nhạc nhà binh, ở gác điện Palais-Royal với những
dàn nhạc do phụ nữ đánh trống và thổi kèn. Hồi ấy thịnh hành lối khiêu vũ theo
điệu gấp, người nhạc công tay cầm cung đàn chỉ huy mọi người cùng nhảy. Người
ta mở tiệc đêm kiểu "phương đông" ở nhà Méot giữa những lư trầm hương
thơm nghi ngút. Họa sĩ Boze vẽ những người con gái ngây thơ và kiều diễm trong
tuổi mười sáu, theo kiểu "lên máy chém", nghĩa là ngực và vai để hở,
sơ-mi đỏ. Tiếp theo những điệu nhảy giật gân trong các nhà thờ hoang tàn là những
cuộc dạ vũ ở các lâu đài De Ruggieri, De Luquet, De Wenzel; kế tục những nữ
công dân nghiêm nghị cắt xé quần áo cũ để làm băng buộc vết thương là những gái
ăn chơi, mặc diêm dúa, lố lăng, lòe loẹt. Tiếp theo những bàn chân không, lấm
máu, lấm bùn, lấm bụi của quân đội là những gót chân trần của đàn bà trang sức
bằng kim cương; những cảnh vô sỉ, gian tà cùng tái diễn; trên thì có các chủ thầu,
dưới thì có trộm cắp; Paris kẻ cắp như rươi, ai cũng phải lo giữ lấy túi tiền;
một cách giết thì giờ hồi ấy là đến quảng trường Tòa Án xem kẻ trộm đàn bà bị
đem ra bêu ở đấy, váy buộc lại với nhau; ở cửa rạp hát, bọn trẻ ranh đã biết mời
khách lên xe với những câu: Nam nữ công dân ơi, có đủ chỗ cho hai người ngồi
đây. Bọn bán báo không còn rao tên các báo Le vieux Cordelier và Bạn
dân mà lại chỉ rao Thư của Polichinelle và Thỉnh nguyện của
nhãi nhép; hầu tước De Sade chủ trì ở sở cảnh sát thành phố, tại quảng trường
Vendôme. Sự phản ứng thật là vui nhộn và dữ dội. Đội quân chiến sĩ tự do năm
92 tái sinh dưới danh hiệu mới là Hiệp sĩ dao găm. Đồng thời xuất hiện
trên sân khấu một nhân vật điển hình, Jocrisse 19 ; có những phụ nữ "kỳ diệu" 20 hơn thế nữa, kỳ quái; người ta thụt lùi từ
Mirabeau 21 đến Bobèche 22 . Thành phố Paris diễn biến như vậy đó;
như một cái đồng hồ đồ sộ của văn minh từ cực này sang cực nọ. Sau năm 93, Cách
mạng bị lu mờ một cách kỳ quặc, thế kỷ hiện tại như quên làm trọn cái đã bắt đầu,
một lối sống trụy lạc đã xen vào, chiếm lĩnh vị trí hàng đầu...
Nhưng vào năm 93 mà chúng ta đang nói đây, phố xá Paris còn
giữ được tất cả quang cảnh vĩ đại và ghê rợn của buổi ban đầu. Hàng phố có những
nhà hùng biện như Varlet, đứng trên một chiếc xe lưu động để diễn thuyết trong
dân chúng; có những vị anh hùng mà một người được tôn làm "đại úy của những
gậy bịt sắt"; có những con cưng như Guffroy, tác giả bài đả kích Rougiff.
Một vài người có tiếng tăm thì nguy hiểm; còn những người khác thì trong sạch,
trong số đó, có một nhân vật vừa liêm chính, vừa tàn nhẫn: chính là Cimourdain.
II
Cimourdain
Cimourdain là một lương tâm trong sạch nhưng u sầu. Với ông,
cái gì cũng tuyệt đối. Ông đã từng là thầy tu, điều đó càng hệ trọng. Con người,
cũng như bầu trời, có thể có một thứ bình thản u ám; chỉ cần có một cái gì đó
gieo đêm tối vào tâm hồn. Nghề giáo sĩ đã làm cho tâm hồn Cimourdain càng tăm tối.
Ai đã làm thầy tu cũng đều thế cả.
Cái đã gieo đêm tối trong ta có thể để lại trong ta những vì
sao. Con người Cimourdain chất chứa đạo đức và chân lý, nhưng chỉ sáng ngời
trong bóng tối.
Lịch sử của ông cũng ngắn gọn. Ông đã từng làm cha xứ ở làng
và làm gia sư trong một nhà quý tộc; rồi được thừa hưởng một gia tài nhỏ, ông bắt
đầu sống tự do.
Trước hết, ông là người kiên trì. Ông trầm tư mặc tưởng chẳng
khác người ta sử dụng một chiếc kìm; ông cho rằng ông chỉ có quyền từ bỏ một ý
kiến sau khi đã suy nghĩ đến cùng; ông suy nghĩ ráo riết. Ông biết đủ các thứ
tiếng của châu Âu và của một ít nước khác; con người này học tập không mệt mỏi,
điều đó giúp ông giữ được tiết trinh; nhưng tự kiềm chế như vậy không gì nguy
hiểm bằng.
Khi còn là thầy tu, ông đã giữ được lời nguyền, có lẽ vì tự
ái, do ngẫu nhiên hay do tâm hồn cao thượng; nhưng ông đã không thể giữ được
tín ngưỡng. Khoa học đã làm sụp đổ lòng tin của ông; giáo lý cũng đã tàn lụi
trong lòng ông. Rồi, tự xét mình, ông cảm thấy như què quặt, và không thể từ bỏ
nghiệp tu hành. Ông cố gắng làm lại tư cách con người, nhưng lại quá hà khắc với
mình; người ta đã cướp mất của ông gia đình, ông lấy tổ quốc làm gia đình; người
ta không cho ông có vợ, ông lấy nhân loại làm bạn trăm năm. Tình trạng tràn đầy
mênh mông ấy thực ra chỉ là trống rỗng.
Bố mẹ ông, những người nông dân, khi gây dựng cho ông thành
thầy tu là muốn ông tách khỏi quần chúng; nhưng ông đã trở về với quần chúng.
Và ông đã trở về với quần chúng một cách say mê. Ông nhìn những
kẻ đau khổ với tấm lòng trìu mến dễ sợ. Từ một thầy tu, ông đã trở thành một
nhà triết lý, và từ nhà triết lý ông trở thành lực sĩ. Ngay từ hồi xưa vua
Louis XV còn sống Cimourdain đã cảm thấy mang máng mình là cộng hòa rồi. Cộng
hòa nào? Có thể là cộng hòa kiểu Platon 23 , và cũng có thể là cộng hòa kiểu
Dracon 24 .
Bị cấm thương yêu, ông quay ra thù ghét. Ông thù ghét những
điều dối trá, quân quyền, thần quyền và bộ áo thầy tu của ông; ông thù ghét hiện
tại, và ông lớn tiếng kêu gọi tương lai; ông đã linh cảm, đã thoáng thấy, đã phỏng
đoán được tương lai ấy vừa ghê sợ vừa huy hoàng; ông hiểu rằng để chấm dứt cảnh
bần cùng thê thảm của loài người, sẽ có cái gì như bàn tay báo oán đồng thời là
bàn tay giải phóng. Từ xa, ông đã tôn thờ cái tai họa ấy.
Năm 1789, cái tai họa ấy đã tới, ông đã sẵn sàng tiếp đón nó,
Cimourdain lao mình vào cuộc đổi đời vĩ đại ấy một cách lô-gích, nghĩa là quyết
liệt, hợp với một con người có bản lĩnh như ông; đã lô-gích thì không mềm yếu.
Ông đã sống những năm vĩ đại của cuộc cách mạng và đều đã rung cảm theo những
trận gió lùa. Năm 89 ngục Bastille đổ, chấm dứt những cực hình của nhân dân;
năm 90, ngày 19 tháng 6, chế độ phong kiến cáo chung; năm 91, Varennes 25 kết thúc nền quân chủ; năm 92, nền cộng
hòa thành lập. Ông đã trông thấy cách mạng nổi lên. Ông không phải là kẻ sợ sức
mạnh khổng lồ ấy; trái lại, mọi cái lớn lên đã tăng thêm sức sống cho ông; và mặc
dầu tuổi đã khá cao - ông đã 50 tuổi và thầy tu thường già sớm hơn người thường
- ông cũng lớn dần lên. Năm này qua năm khác, ông nhìn tình hình phát triển, và
ông trưởng thành theo. Lúc đầu, ông sợ Cách mạng đẻ non, ông theo dõi, khi Cách
mạng có đủ lý đủ quyền để tồn tại, ông đòi hỏi nó phải thành công; rồi, càng
ngày nó càng khủng khiếp thì ông cảm thấy yên tâm. Ông muốn rằng Minerve quấn
những vòng hoa đầy những ngôi sao sáng tương lai, đồng thời cũng phải là Pallas
sử dụng một chiếc khiên chạm đầy rắn 26 . Ông muốn khi cần thiết thì con mắt thần
tiên của cách mạng cũng phải rọi ánh sáng địa ngục đến lũ ma quỷ và dùng khủng
bố đáp lại khủng bố.
Thế rồi đến năm 93.
Năm 93 là cuộc chiến tranh của châu Âu chống lại nước Pháp và
nước Pháp chống lại Paris. Và Cách mạng là gì? Là nước Pháp chiến thắng châu Âu
và Paris chiến thắng nước Pháp. Do đó, cái giây phút kinh hoàng này, 93 bỗng lớn
lao hơn cả thời gian còn lại của thế kỷ.
Không gì bi thảm hơn là cảnh châu Âu đánh vào nước Pháp và nước
Pháp đánh vào Paris. Tấn bi kịch đó có tầm vóc của một bản hùng ca.
Năm 93 là một năm dữ dội. Năm ấy, dông tố nổi lên điên cuồng
nhất và cũng hùng tráng nhất. Sống trong đó, Cimourdain cảm thấy thoải mái. Cái
cảnh cuồng loạn, man rợ và tráng lệ ấy hợp với bản chất vĩ đại của ông. Ông giống
như loài diều hâu biển, bên trong rất trầm tĩnh, bên ngoài lại thích mạo hiểm.
Có những thiên tư bay bổng, hung dữ và điềm tĩnh, vốn sinh ra để sống với bão tố.
Có những tâm hồn bão táp.
Ông có riêng một tình thương yêu, chỉ dành cho những người khốn
khổ. Trước cảnh đau thương ghê rợn, ông thật tận tụy. Không có gì làm cho ông
ghê tởm được. Đó là kiểu từ thiện của ông. Ông cứu người một cách gớm ghiếc và
thần thánh. Ông tìm những ung nhọt để hôn. Những nghĩa cử không đẹp mắt lại khó
nhất; ông thích những việc ấy. Một hôm, tại nhà thương Hôtel Dieu, một người sắp
chết vì một cái nhọt chặn ngang cổ họng, nhọt hôi thối, kinh tởm, có thể truyền
độc và cần phải nặn gấp. Cimourdain ở đấy; ông ghé miệng vào cái nhọt hút mủ,
miệng đầy thì lại nhổ ra, cho đến khi kiệt mủ, và nhờ vậy cứu sống người kia. Hồi
ấy, ông còn khoác áo thầy tu, có người đã nói với ông: "Nếu cha làm thế
cho đức vua thì cha sẽ được thăng chức giám mục". "Với đức vua, tôi sẽ
không làm như thế". Cimourdain trả lời.
Việc làm và lời nói của ông làm cho ông được lòng dân chúng
trong những khu phố tối tăm của Paris.
Đến nỗi ông có thể làm cho những người đang đau khổ, đang
khóc lóc, đang hăm dọa nhau, cũng răm rắp nghe lời ông. Hồi quần chúng phẫn nộ
chống bọn đầu cơ tích trữ gây nên biết bao nhiêu là sai lầm, chính Cimourdain,
chỉ với một câu nói, đã ngăn cản được vụ cướp phá một chiếc tàu thủy chở xà
phòng đậu ở cảng Saint-Nicolas, và ông đã giải tán được những đám phẫn nộ tụ tập
để ngăn xe cộ ở cửa ô Saint-Lazare.
Chính ông, mười ngày sau ngày 10 tháng 8, đã cầm đầu quần
chúng đi lật đổ các tượng vua. Tượng đổ xuống làm chết người: ở quảng trường
Vendôme, một người đàn bà là Reine Violet bị tượng vua Louis XIV đè chết vì đã
buộc dây vào cổ tượng mà kéo. Pho tượng Louis XIV ấy đứng vững đã một trăm năm,
dựng lên ngày 12 tháng 8 năm 1692, đổ xuống ngày 12 tháng 8 năm 1792. Tại quảng
trường Hòa Hợp, tên Guinguerlot bị đánh chết tươi trên bệ tượng Louis XV vì hắn
gọi những người tới phá hủy là đồ súc sinh! Tượng bị đập nát. Ít lâu sau, người
ta dùng tượng để đúc xe. Còn lại cánh tay; đó là cánh tay phải của Louis XV giơ
lên như kiểu hoàng đế La Mã. Do đề nghị của Cimourdain mà một đoàn đại biểu
nhân dân đã mang cánh tay đó tặng Latude, người bị chôn sống đã ba mươi bảy năm
ở ngục Bastille. Khi mà Latude cổ đeo gông, thân mang xiềng, rũ mòn trong cái
ngục ấy theo lệnh của ông vua mà pho tượng nhìn bao quát cả thủ đô Paris, ai
dám bảo rằng nhà ngục kia sẽ đổ xuống, pho tượng ấy sẽ đổ xuống, rằng Latude từ
ngôi mộ sẽ bước ra và chế độ quân chủ sẽ nằm thế vào đó, rằng anh ta từ một người
tù, đã thành người chủ cánh tay đồng đen đã từng ký giấy giam anh ta và cả tên
vua bùn kia cũng chỉ còn có cánh tay đồng đen ấy nữa thôi!
Cimourdain thuộc hạng người trong lòng ấp ủ một tiếng nói thầm
kín, và lắng nghe tiếng nói ấy. Những người ấy bề ngoài coi bộ đãng trí; không;
họ rất chú ý.
Cimourdain vừa uyên bác vừa dốt đặc. Uyên bác về khoa học
nhưng lại dốt đặc về cuộc đời. Do đó, ông rất cương quyết. Mắt ông bị che như mắt
Thémis 27 trong Homère. Ông tin tưởng một cách mù
quáng như mũi tên chỉ thấy đích và cứ nhằm thẳng mà lao tới. Trong cách mạng,
không có gì đáng sợ bằng con đường thẳng.
Cimourdain tiến thẳng phía trước, không gì ngăn cản nổi.
Cimourdain tin rằng trong quá trình phát triển của xã hội, điểm
cực là khu vực vững chắc nhất; sai lầm của những đầu óc lấy luận lý thay cho lẽ
phải. Ông vượt quá Viện Quốc ước, ông vượt quá Công xã; ông ở phái Tòa giám mục.
Phái Tòa giám mục, sở dĩ đặt tên thế là vì phái ấy hội họp
trong một gian phòng của tòa giám mục cổ kính, một nhóm người phức tạp, ô hợp.
Đến dự họp ở đấy cũng như ở Công xã, có những kẻ ngồi lặng thinh nhưng rất tiêu
biểu, và nói như Garat, "có bao nhiêu túi là bấy nhiêu súng lục".
Phái Tòa giám mục là một tập đoàn hỗn độn kỳ lạ; có cả người Paris và người bốn
phương, hai điều này không loại trừ lẫn nhau, vì Paris là nơi có tiếng đập của
trái tim các dân tộc. Đây cũng là nơi cao trào dân chúng đang bùng lên sôi nổi.
Bên cạnh phái Tòa giám mục, Viện Quốc ước là nguội lạnh và Công xã là ôn hòa.
Phái Tòa giám mục là một trong những tổ chức cách mạng giống như những hòn núi
lửa; chứa đủ thứ, dốt nát có, ngu ngốc có, liêm chính có, anh hùng có, giận dữ
có, mật thám có. Tướng Brunswick 28 cũng có tay chân ở đấy. Có những người xứng
đáng với dân Sparte 29 và có những kẻ đáng phải tù đầy. Đa số
nóng nảy và thật thà. Phái Girondin, qua cửa miệng Isnard, chủ tịch nhất thời của
Viện Quốc ước đã nói một câu kinh khủng: "Dân Paris, hãy coi chừng. Rồi
đây sẽ chẳng còn lấy một viên đá của thành phố đứng vững và có ngày người ta sẽ
phải đi tìm cái chỗ xưa kia đã là Paris". Câu nói đó đã tạo ra phái Tòa
giám mục. Những con người, như chúng tôi vừa nói, những con người ở khắp bốn
phương, thấy cần phải kề vai sát cánh lại.
Nhóm này chống lại bọn phản động. Nó sinh ra từ yêu cầu dùng
bạo lực của quần chúng; đó là mặt đáng sợ và bí hiểm của các cuộc cách mạng. Dựa
vào sức mạnh ấy, phái Tòa giám mục đã tích cực hoạt động. Trong những đợt biến
động lớn của Paris, chính Công xã nã đại bác và phái Tòa giám mục kéo chuông cấp
báo.
Cimourdain với bản tính ngây thơ không bao giờ thay đổi tin rằng
tất cả mọi cái phục vụ cho chân lý đều là công minh; điều đó làm cho ông ta có
một cái thế đặc biệt để làm khuất phục các phái cực đoan. Những kẻ bất lương cảm
thấy ông ta chính trực, và lấy làm bằng lòng. Chúng núp dưới một bộ mặt đạo đức
để phạm những tội ác. Điều đó làm chúng lúng túng nhưng chúng lấy làm khoái
trá. Palloy, kiến trúc sư đã lợi dụng việc phá hủy ngục Bastille, đem tiền bán
các phiến đá bỏ túi riêng, rồi khi được giao việc quét vôi lại ngục giam Louis
XVI thì đã hăng hái vẽ vời khắp tường nào song sắt nào xiềng xích và gông cùm;
Gonchon, nhà diễn thuyết khả nghi ở ngoại ô Saint-Antoine, mà sau này người ta
mới tìm lại được các chứng từ; Fournier, người Mỹ, hôm 17 tháng 7 đã bắn một
phát súng lục vào Lafayette 30 , nghe nói lại chính do Lafayette thuê;
Henriot 31 ở nhà thương điên ra và đã từng làm đủ
nghề, nấu bếp, leo dây múa rối, trộm cắp, gián điệp, trước khi làm tướng, và
chĩa đại bác bắn vào Viện Quốc ước. La Reynie, nguyên làm phó giám mục xứ
Chartres đã thay kinh nhật tụng bằng tờ Père Duchesne; tất cả bọn người
này phải kiêng nể Cimourdain, và, đôi lúc, để ngăn những bọn tồi tệ giở trò thì
chỉ cần chúng thấy sừng sững trước mặt chúng con người tượng trưng cho niềm
trong trắng đáng sợ kia. Chính vì thế mà Saint-Just khiến Schneider phải khiếp
sợ. Đồng thời, đa số trong phái Tòa giám mục gồm chủ yếu những người nghèo và
những người sôi nổi; họ rất tốt, họ tin tưởng và theo Cimourdain. Ông ta có một
linh mục trợ tế, hay gọi là người hộ vệ cũng được, là thầy tu cộng hòa Danjou
được dân chúng yêu chuộng, vì vóc người cao, và vẫn gọi đùa là Cha Hai Thước.
Cimourdain lại có thể sai khiến viên tướng rất dũng cảm mà người ta gọi đùa là
tướng La Pique 32 cũng như tay ngổ ngáo Truchon tức Nicolas
Lớn, tay này đã định cứu bà Lamballe, và đã đưa tay dắt bà ta bước qua các xác
chết; y đã thành công nếu không bị tay thợ cạo Charlot chế giễu cay độc.
Công xã giám sát Viện Quốc ước, phái Tòa giám mục lại giám
sát Công xã; Cimourdain, đầu óc thẳng thắn, ghét lối mưu mô, đã từng phá tan
nhiều âm mưu của Pache mà Beurnonville gọi là "con người đen tối". Ở
phái Tòa giám mục, Cimourdain xử bình đẳng với mọi người. Dobsent và Momoro thường
xin ý kiến ông. Ông nói tiếng Tây Ban Nha với Gusman, tiếng Ý với Pio, tiếng
Anh với Arthur, tiếng Flandres với Peireyra, tiếng Đức với người Áo Proly, con
hoang một hoàng thân. Giữa đám người ấy, ông đã gây được sự nhất trí. Do đó ông
có một thế lực ngấm ngầm và vững mạnh. Hébert 33 cũng kiêng sợ ông.
Giữa những thời kỳ và những nhóm người bi tráng ấy,
Cimourdain có cái sức mạnh của những con người sắt đá. Ông là một nhân vật hoàn
toàn và rất tự tin không thể sai lầm. Chưa có ai thấy ông khóc. Một con người đức
hạnh tuyệt vời và giá lạnh. Một bậc công minh đáng sợ.
Trong cách mạng không thể có vị trí trung gian cho một nhà tu
hành. Một tu sĩ chỉ có thể lao mình vào cuộc phiêu lưu kỳ diệu hiển nhiên ấy với
những lý do hoặc đê tiện nhất hoặc cao cả nhất; chỉ có thể hoặc làm người hèn mạt
hoặc làm người cao siêu. Cimourdain cao siêu, nhưng lại trong cảnh cô độc,
trong cảnh cheo leo, cảnh xám ngắt chẳng dung người cao siêu giữa một vùng vực
thẳm. Những đỉnh núi cao thường có cái trinh khiết thảm đạm ấy.
Cimourdain có cái bề ngoài của một người bình thường, mặc những
bộ quần áo tầm thường, có vẻ nghèo khổ. Hồi trẻ, ông phải gọt tóc đi tu; đến
lúc già, đầu ông hói. Tí tóc còn lại đã ngả hoa râm. Trán ông rộng, trên trán ấy
người tinh ý sẽ thấy một dấu hiệu đặc biệt. Cimourdain có lối nói đột ngột, say
sưa và trịnh trọng; tiếng nói gọn, giọng đĩnh đạc; miệng ông buồn rầu, chua
chát; con mắt sáng và thâm trầm. Và trên toàn bộ khuôn mặt có cái vẻ gì như phẫn
nộ, bất bình.
Cimourdain là như thế.
Ngày nay, chẳng còn ai biết tên ông. Lịch sử thường có những
kẻ vô danh kinh khủng như vậy.
III
Con người ấy cũng có nhược điểm 34
Con người như thế có phải là người không? Người đầy tớ của
nhân loại có thể có tình thương yêu không? Phải chăng con người ấy quá thiên về
thần trí đến nỗi không thể có tình được? Mối tình rộng lớn bao quát mọi sự, mọi
người còn có thể giành cho một người nào chăng? Cimourdain còn có thể yêu
không? Xin thưa rằng: Có.
Hồi còn trẻ, làm gia sư trong một nhà quyền quý, ông có một cậu
học trò là con trai kế nghiệp của gia đình này và ông ta yêu cậu học trò ấy.
Yêu một đứa trẻ cũng dễ thôi. Có gì mà người ta không tha thứ cho một đứa trẻ?
Tha thứ cho nó cái chuyện nó là lãnh chúa, là hoàng thân, là vua. Cái tuổi thơ
ngây làm người ta quên những tội ác của dòng họ; cái thể chất yếu đuối khiến
người ta quên mất cái địa vị quá cao. Nó còn nhỏ quá nên người ta dễ tha thứ
cho nó cái quyền cao chức trọng. Người nô lệ tha thứ cho nó cái chuyện nó là chủ
nô. Đã có ông già da đen âu yếm thằng bé da trắng. Cimourdain say mê học trò
mình. Tuổi thơ ấu có điều này không giải thích được là ta có thể dốc cho nó tất
cả yêu thương của mình. Có thể nói tất cả những gì là tình thương Cimourdain đã
trút vào đứa bé này; đứa bé ngây thơ dịu dàng ấy đã thành một thứ mồi cho trái
tim kia đã từng bị dày vò trong cảnh cô đơn. Ông ta yêu mến nó cùng một lúc với
tất cả tấm lòng trìu mến của một người cha, một người anh, một người bạn, một
người sáng tạo. Nó là con ông; không phải là đứa con máu mủ của ông, mà là đứa
con của trí tuệ ông. Ông không phải là cha nó vì ông không sinh ra nó, nhưng
ông là thầy giáo và nó là công trình kiệt tác của ông. Từ một lãnh chúa nhỏ,
ông đã biến nó thành một con người. Biết đâu lại chẳng thành một vĩ nhân? Đấy
là những ước mơ. Có cần phải được phép rồi mới sáng tạo ra một trí tuệ, một ý
chí cương nghị, một tâm hồn thẳng thắn không? Trộm phép gia đình kia, ông đã
truyền thụ cho cậu tử tước trẻ tuổi, học trò ông, tất cả những tư tưởng tiến bộ
của ông; ông đã tiêm cho nó cái đạo đức đáng sợ của ông; ông đã truyền vào
trong mạch máu nó lòng tin, lương tâm, lý tưởng của ông; ông đã rót vào trong đầu
óc quý tộc kia tâm hồn của nhân dân.
Người gia sư truyền bá tư tưởng cũng như bà nhũ mẫu cho hài
nhi bú sữa. Có khi gia sư lại là cha hơn cả cha đẻ cũng như bà vú nuôi lại là mẹ
hơn cả mẹ đẻ nữa.
Mối liên hệ cha con về tinh thần ấy gắn bó Cimourdain với học
trò mình. Chỉ nhìn thấy đứa trẻ ấy là Cimourdain đã xúc động.
Xin nói thêm điều này: Cimourdain thay thế bố đứa trẻ một
cách dễ dàng, vì nó mồ côi cả cha lẫn mẹ; chăm sóc nó có bà nội mù và một ông
bác thường vắng nhà. Sau bà nội cũng qua đời; ông bác, chủ gia đình, một võ
quan đại quý tộc, có quyền cao chức trọng ở triều đình, bỏ dinh cơ ở quê nhà để
sống ở kinh đô, ra trận mạc luôn, bỏ mặc đứa trẻ mồ côi một mình trong lâu đài
cô quạnh, do đó vị gia sư trở thành ông thầy đúng với nghĩa đầy đủ nhất của tiếng
ấy.
Lại xin nói thêm nữa: Cimourdain đã được chứng kiến đứa bé, học
trò ông, lúc mới sinh. Mồ côi từ tấm bé, nó lại bị đau nặng. Cimourdain, trong
tình trạng nguy kịch ấy, ngày đêm trông nom nó; ông vừa là thầy thuốc chữa chạy
vừa là hộ lý chăm sóc và đã cứu được đứa trẻ. Học trò ông không những chịu ơn
ông về giáo dục, về học vấn, về khoa học; còn nhờ ông mà được hồi phục và khỏe
mạnh; không những học trò ông nhờ ơn ông mà biết tư duy; những còn nhờ ơn ông
mà được sống. Ta thường quý những kẻ chịu ơn; Cimourdain quý đứa trẻ ấy.
Thế rồi sự cách biệt tất nhiên của cuộc sống đã xảy ra. Công
cuộc giáo dục hoàn thành, Cimourdain phải xa rời cậu bé đã trở thành thanh
niên. Những cảnh chia ly ấy sao mà tàn nhẫn một cách lạnh lùng và vô tình đến
thế! Các gia đình thản nhiên biết bao khi cho thôi việc vị gia sư đã để lại tư
tưởng trong đứa trẻ, và người vú nuôi đã trút lại ruột gan mình! Cimourdain được
trả công, bước ra khỏi tầng lớp thượng lưu và trở về tầng lớp dưới; bức tường
ngăn kẻ quyền quý và người thấp hèn đã khép kín; cậu thanh niên quý tộc bẩm
sinh đã là sĩ quan và một bước được phong đại úy đã đi tựu ngũ ở một doanh trại
nào đó, còn vị gia sư thấp hèn, vốn đã là một thầy tu bất phục tùng vội bước xuống
tầng cuối cùng tối tăm của Giáo hội, tầng lớp tu sĩ lớp dưới, rồi Cimourdain vắng
bặt tin tức về học trò mình.
Cách mạng tới; kỷ niệm về đứa trẻ mà ông xây dựng nên người cứ
ấp ủ trong lòng ông một cách thầm kín, không nguôi, mặc dù ông bận rộn bao la
vì công việc chung.
Tạc một pho tượng và làm cho nó sinh động đẹp biết bao! Tạo
nên một trí tuệ và truyền cho nó chân lý, càng đẹp hơn. Như Pygmalion 35 , Cimourdain đã sáng tạo ra một tâm hồn.
Một trí tuệ có thể có một đứa con.
Người học trò ấy, người con ấy, đứa trẻ mồ côi nay là người độc
nhất mà Cimourdain yêu thương trên thế gian này.
Nhưng ngay cả trong mối tình yêu thương đùm bọc là vậy, con
người như thế có bị yếu ớt đi không?
Để rồi xem.
--------------------------------
|
Luật về tội tình nghi: Do Viện Quốc ước ban hành ngày
17-09-1793. Đó là một đạo luật vừa tỏ sức mạnh vừa tỏ thế yếu của Cách mạng
tư sản Pháp. Đạo luật đó coi những ai tỏ ra "ôn hòa", cả những ai
"không chống lại cách mạng mà cũng không làm gì cho cách mạng", là
tình nghi. |
|
|
Merlin de Douais (1754 - 1838 : Chủ tịch Viện Quốc ước, về
sau lại cộng tác với Napoléon. Bị đày năm 1815. |
|
|
Nghĩa đen: "Đã chảy bao nhiêu là nước cho người ta
dùng!" |
|
|
Trạng sư, làm Bộ trưởng Bộ Nội vụ năm 1791. |
|
|
Giáo chủ làm Thủ tướng thời vua Louis XIII, có công lớn
trong sự nghiệp xây dựng nền quân chủ ở nước Pháp. |
|
|
Thợ mộc thuộc phái Jacobin, sau làm ủy viên trong Tòa án
cách mạng, bạn thân của Robespierre và cũng là đồ đệ của Babeuf. |
|
|
Mười Tháng Tám (10-08-1792 : Ngày nhân dân Paris nổi dậy
làm áp lực cho cách mạng, kết quả là Quốc hội đã thông qua tổ chức Công xã
cách mạng và nền quân chủ bị sụp đổ hoàn toàn. |
|
|
Thị chính (nói chệch đi để chế giễu dựa theo cách chơi chữ
của tác giả ngụ ý mỉa mai những đám cưới cử hành ở tòa thị chính. |
|
|
Cung điện của nhà vua. |
|
|
Fouquier-Tinville: Công tố ủy viên của Tòa án cách mạng, đã
kết án tử hình nhiều người dưới thời khủng bố, năm 1795 bị xử chém. |
|
|
Champcenetz: nhà báo quý tộc, viết văn đả kích cách mạng, bị
xử tử năm 1794. |
|
|
A la Porte (nguyên văn có nghĩa là "ở Thổ Nhĩ Kỳ",
nhưng ở đây câu nói cũng ám chỉ "tôi muốn thấy chính phủ cộng hòa bị tống
khứ đi". |
|
|
Khoảng nửa ký. |
|
|
Beaumarchais (1732 - 1799 : Tác giả viết hài kịch nổi tiếng
đả kích phong kiến. Đồng thời là một tay làm giàu, có quan hệ với quý tộc, bị
chính phủ cách mạng bỏ tù năm 1792 cùng với một số nhân vật bảo hoàng. |
|
|
27-07-1794: Ngày mà nền chuyên chính dân chủ Jacobin dưới sự
lãnh đạo của Robespierre bị lật đổ. |
|
|
Một lãnh tụ của phái Jacobin, nhân vật quan trọng trong Viện
Quốc ước sau Robespierre, cũng bị sát hại với Robespierre. |
|
|
Một nhân vật phản cách mạng, chủ mưu lật đổ Robespierre. |
|
|
Một nhân vật trong vở kịch Satyricon của
Pétronius, chỉ một loại người hãnh tiến. |
|
|
Điển hình người ngốc. |
|
|
Chỉ những phụ nữ ăn mặc kỳ dị vào thời ấy. |
|
|
Một nhà hùng biện của Cách mạng Pháp 1789. |
|
|
Một vai hề nổi tiếng ở các chợ hồi ấy. |
|
|
Platon (429 - 347 TCN : Hiền triết Hy Lạp. |
|
|
Nhà lập pháp thành Athènes (Hy Lạp thế kỷ VII trước Công
Nguyên, nổi tiếng vì những đạo luật khắc nghiệt do ông lập ra. |
|
|
Nơi vua Louis XVI bị quân cách mạng bắt trên đường trốn ra
nước ngoài. |
|
|
Minerve là thần trí tuệ khôn ngoan. Pallas là thần chiến
tranh. |
|
|
Nữ thần tượng trưng cho công lý. |
|
|
Tướng Đức, tư lệnh liên minh quân đội Âu châu can thiệp vào
Cách mạng Pháp năm 1792. |
|
|
Một thành phố cổ Hy Lạp, thủ phủ của nước cộng hòa Sparte,
nổi tiếng về tinh thần thượng võ, và đạo đức khắc khổ. |
|
|
Lafayette (1757 - 1834 : Quý tộc Pháp đã từng tự sắm chiến
thuyền qua Bắc Mỹ chiến đấu giành độc lập cho nước Mỹ, và khi Cách mạng bùng
ra, được cử làm tổng tư lệnh quân vệ quốc. Vốn không có khả năng gì xuất sắc,
La Fayette dần dần quay ra cấu kết với bọn bảo hoàng và trở thành kẻ thù của
cách mạng. |
|
|
Chỉ huy quân vệ quốc đã từng cứu Robespierre thoát khỏi tay
bọn Tullier ngày 9 tháng Nóng (27-07-1794 . |
|
|
Tướng cấm thương. |
|
|
Một thủ lĩnh có uy tín của Công xã, sáng lập tờ báo cách mạng Père
Duchesne. Vào năm 1793, tờ báo này có tính chất một tờ báo bình dân chiến đấu,
yêu cầu trị tội những kẻ thù của cách mạng, mạt sát những linh mục và bọn quý
phái, những kẻ đầu cơ và lũng đoạn. Về sau Hébert chống lại Robespierre và bị
hành hình 14-03-1794. |
|
|
Nguyên ý: "Một phần cơ thể chưa nhúng nước sông
Styx". Sông Styx, theo thần thoại là con sông thiêng mà các vị thần vẫn
tới đó thề thốt. Mẹ của dũng sĩ Achille đã mang con nhỏ nhúng xuống nước sông
đó nên Achille thành bất tử, trừ gót chân Achille, chỗ mẹ cầm để nhúng con xuống
sông không được nhúng nước, nên chỗ đó là điểm yếu của Achille. Về sau bị bắn
vào gót chân, Achille thất trận. |
|
|
Một nhà điêu khắc nổi tiếng thời thượng. |
Quyển hai
Quán hàng phố Con Công
I
Ba vị quan tòa dưới Âm phủ 1
Ở phố Con Công có một quán cà phê. Quán đó có một hậu phòng,
ngày nay đã được ghi vào lịch sử. Tại phòng này, thời ấy, thỉnh thoảng có cuộc
gặp gỡ gần như bí mật của những người có rất nhiều quyền lực và được mọi người
hết sức theo dõi đến nỗi họ rất ngại trò chuyện với nhau trước công chúng.
Chính ở đó, ngày 23 tháng 10 năm 1792 đã có một cuộc gặp gỡ đầy
ý nghĩa giữa hai phái Montagnard và Girondin. Chính ở đó, Garat tuy không thú
nhận trong cuốn Hồi ký của ông, đã tới lấy tin tức trong cái đêm hãi
hùng ấy, và sau khi đã giam giữ Clavière ở phố Beaune, ông ta dừng xe trên cầu
Pont-Royal để nghe chuông cấp báo 2 .
Đến ngày 28 tháng 6 năm 1793, lại có ba người tụ họp quanh một
chiếc bàn trong hậu phòng này. Ghế họ ngồi không sát nhau; mỗi người ngồi một
phía để trống ở phía bàn thứ tư. Lúc đó độ tám giờ tối; ngoài phố trời còn
sáng, nhưng trong phòng đã tối sẫm, một ngọn đèn dầu treo trên trần, xa xỉ phẩm
hồi đó, tỏa ánh sáng xuống bàn.
Người thứ nhất trong bộ ba đó xanh rớt, còn trẻ, nghiêm nghị,
có đôi môi mỏng dính và cặp mắt lạnh lùng. Má có tật giật giật nên cười hơi
khó. Ông ta xoa phấn, mang tất tay, trang phục chải chuốt, cài kín khuy áo; màu
xanh nhạt không một nếp nhăn, quần chẽn lụa Nam Kinh, tất trắng, cà-vạt thắt
cao, phía ngực sơ-mi có nếp, có khuy bạc.
Hai người kia, một người cao lớn, một người lùn. Người cao lớn
mặc xuề xòa một chiếc áo dạ rộng màu đỏ, cổ hở, quàng một chiếc cà-vạt không thắt
nút trễ xuống phía ngực, chiếc áo khoác phanh ra để mất vài khuy, chân đi cổ bẻ,
tóc bờm xờm; tuy còn thấy chút ít dấu vết chải chuốt, bộ tóc giả của ông ta vẫn
có vẻ như bờm ngựa. Mặt ông ta rỗ hoa, lông mày nhíu lại như giận dữ, nếp nhăn
hiền hậu ở bên mép, môi dày, răng to, nắm tay chắc nịch, mắt sáng quắc. Người
bé nhỏ, nước da vàng khè, khi ngồi có vẻ dị tướng; đầu ông ta ngả ra sau, mắt đỏ
ngầu, mặt có từng vệt xanh nhợt, một chiếc khăn mùi xoa buộc mái tóc láng và dẹt,
trán thấp tẹt, còn miệng lại rộng trông phát sợ. Ông ta mặc quần dài, đi vải,
chiếc gi-lê hình như trước đây là xa-tanh trắng và ngoài chiếc gi-lê là một chiếc
áo rộng, dưới áo hằn lên một đường cứng và thẳng, người ta đoán đó là một chiếc
dao găm.
Người thứ nhất là Robespierre, người thứ hai là Danton, người
thứ ba là Marat.
Chỉ có họ trong căn phòng này. Trước mặt Danton đặt một cái cốc
và một chai rượu vang phủ đầy bụi, làm ta nhớ đến cốc rượu bia của Luther 3 ;
trước mặt Marat có một tách cà phê, trước mặt Robespierre là những giấy tờ.
Bên tập giấy tờ có một lọ mực bằng chì, hình tròn có nhiều đường
xoi dọc, ai đã là học sinh hồi đầu thế kỷ này đều nhớ đến kiểu lọ mực ấy. Một
cái bút đặt bên cạnh giá bút. Trên tập giấy tờ có một con dấu bằng đồng có khắc
mấy chữ đã làm và hình ngục Bastille.
Một bản đồ nước Pháp trải trên bàn.
Ngoài cửa phòng, có người hộ vệ của Marat là Laurent Basse đứng
cạnh; anh này đảm nhiệm những việc linh tinh ở nhà số 18 phố Cordelier; ngày 13
tháng 7, sau ngày 28 tháng 6 này chừng nửa tháng, chính anh ta đã giáng một chiếc
ghế lên đầu người đàn bà tên là Charlotte Corday 4 ,
lúc bấy giờ đang ở Caen. Laurent Basse là người liên lạc chuyển bản in thử của
báo Bạn dân. Tối ấy, anh được theo chủ đến quán cà phê phố Con Công để làm
nhiệm vụ canh phòng họp cho Marat, Danton và Robespierre, không để một ai vào,
trừ người của Ủy ban cứu quốc, của Công xã, hay của phái Tòa giám mục.
Robespierre không muốn đóng kín cửa đối với Saint-Just,
Danton không muốn đóng kín cửa đối với Pache và Marat không muốn đóng kín cửa đối
với Gusman.
Cuộc hội đàm kéo dài đã lâu rồi. Nội dung cuộc hội đàm đã ghi
trong những giấy tờ trải trên bàn mà Robespierre đã thuyết trình. Họ đã bắt đầu
to tiếng. Hình như ba người đã cáu kỉnh với nhau.
Bên ngoài, thỉnh thoảng lại nghe những lời chan chát dội ra.
Thời ấy, người ta quen dự những cuộc bàn cãi công khai nên hình như người ta có
quyền nghe tất cả. Đó là thời mà viên thư ký Fabricius Pâris ghé mắt qua lỗ
khóa nhìn công việc của Ủy ban cứu quốc. Nhân tiện nói qua là việc đó cũng
không phải vô ích vì chính Pâris đã báo trước các sự việc cho Danton đêm 30 rạng
31 tháng 3 năm 1794 khi nghe có quyết định hại tính mạng ông.
Lúc này, Laurent Basse dán tai sau cánh cửa phòng ba người
đang họp. Laurent Basse hộ vệ Marat, nhưng lại là người của phái Tòa giám mục.
II
Xin các người chứng minh cho
Bằng tiếng vang qua bóng tối 5
Danton vừa đứng lên; ông ta gạt mạnh chiếc ghế ra phía sau và
nói to:
- Các anh nghe đây, chỉ có một điều khẩn cấp là nền cộng hòa
đang lâm nguy. Tôi chỉ biết một việc là cứu nước Pháp thoát khỏi quân thù. Để đạt
mục đích ấy, tất cả các phương sách đều tốt. Tất cả! Tất cả! Tất cả! Khi tôi phải
đối phó với mọi nguy hiểm thì tôi tìm mọi kế, và khi tôi sợ tất cả thì tôi cũng
coi thường tất cả. Ý nghĩ tôi như một con sư tử cái. Làm cách mạng không thể nửa
vời, không thể dè dặt. Thần Báo oán không phải là một cô gái e lệ rụt rè. Chúng
ta phải tỏ ra đáng sợ và hữu ích. Có bao giờ con voi lại nhìn chỗ nó đặt chân
lên? Phải nghiến nát kẻ thù.
Robespierre đáp lại một cách dịu dàng:
- Tôi muốn thế lắm - Và ông nói thêm - Vấn đề là ở chỗ, biết
được kẻ thù ở đâu.
- Nó ở bên ngoài, và tôi đã tống cổ nó đi - Danton nói.
- Nó ở bên trong, và tôi đang theo dõi nó - Robespierre đáp lại.
- Tôi cũng sẽ tống cổ cả nó nữa - Danton tiếp.
- Người ta không đuổi được kẻ thù bên trong.
- Thế thì làm thế nào?
- Tiêu diệt.
- Tôi tán thành - Danton nói.
Rồi ông lại tiếp luôn:
- Robespierre, tôi đã nói là kẻ thù ở bên ngoài.
- Danton, tôi nói là chúng ở bên trong.
- Robespierre, chúng ở ngoài biên giới.
- Danton, chúng ở Vendée.
- Hãy bình tĩnh - Một tiếng thứ ba cất lên - Chúng ở khắp
nơi; nguy lắm rồi.
Người vừa nói là Marat.
Robespierre nhìn Marat và bình tĩnh tiếp:
- Xin miễn bàn phiếm. Đây là những dẫn chứng cụ thể.
- Lại ba hoa! - Marat làu bàu.
Robespierre đặt tay lên mớ giấy tờ trải trước mặt và tiếp tục:
- Tôi vừa thông báo những bức điện của Prieur De La Marne và
những tin tức mà Gélambre đã thu lượm được. Danton, phải biết là chiến tranh chống
ngoại xâm chẳng nghĩa lý gì đâu, nội chiến là tất cả. Chống ngoại xâm như sướt
tí da ở cùi tay thôi; nội chiến như mụn loét ăn ruỗng lá gan của chúng ta. Từ
các điều tôi đã thông báo có thể tóm lại như thế này: bọn phiến loạn ở Vendée
trước đây phân tán từ nay đã bắt đầu tập trung. Chúng sắp có một thủ lĩnh
chung...
- Một tên tướng cướp đầu sỏ. - Danton lẩm bẩm.
Robespierre tiếp:
- Chính là tên đã đổ bộ gần Pontorson ngày 2 tháng 6. Các
ngài đã biết nó là ai. Xin nhớ rằng cuộc đổ bộ ấy rất ăn khớp với việc quân phản
phúc Calvados bắt hai đại diện của chúng ta đang kinh lý ở Bayeux là Prieur De
La Côte-d’Or và Romme cùng ngày hai ấy.
- Cũng là ngày chúng chuyển giam hai người bị bắt sang lâu
đài Caen. - Danton nói.
Robespierre lại tiếp:
- Tôi tiếp tục tóm tắt các tin tức. Chiến tranh rừng rú đang
tiến hành trên một qui mô lớn. Đồng thời, bọn Anh đang chuẩn bị đổ bộ; bọn
Vendée và bọn Anh là một đồng một cốt 6 .
Những quân thô bỉ ở Vendée cùng nói một thứ tiếng với những thằng chó chết ở
Anh 7 .
Tôi đã đưa các ông xem một bức thư bắt được của Puisaye 8 ,
trong ấy có nói là "phát hai vạn chiếc áo đỏ cho những người khởi nghĩa là
sẽ thúc đẩy mười vạn người khác nổi dậy". Khi nào bọn dân quê đã nổi lên
khắp nơi thì bọn Anh sẽ đổ bộ. Kế hoạch thế này: các anh theo dõi ở bản đồ.
Robespierre đặt ngón tay lên bản đồ và nói tiếp:
- Bọn Anh đang chọn địa điểm đổ bộ từ Cancale đến Paimpol. Craig 9 muốn
đổ bộ lên vũng Saint-Brieuc, Cornwallis lại muốn lên vùng Saint-Cast. Đó là một
chi tiết. Tả ngạn sông Loire có quân phiến loạn Vendée canh giữ, còn hai mươi
tám dặm trống trải giữa Ancenis và Pontorson thì bốn mươi giáo khu Normandie đã
hứa hẹn hợp lực. Chúng sẽ đổ bộ ba chỗ, Plérin, Iffiniac và Pléneuf, chúng sẽ
tiến đến Saint-Brieuc, từ Pléneuf tiến đến Lamballe; ngày thứ hai, chúng chiếm
Dinan, ở đấy có chín trăm tù binh Anh và chúng sẽ chiếm luôn Saint-Jouan, và
Saint-Méen, rồi để kỵ binh lại đó: ngày thứ ba, hai cánh quân, một từ Jouan tiến
qua Bédée, một từ Dinan tiến qua Becherel, một pháo đài thiên nhiên, và ở đấy,
chúng sẽ đặt hai khẩu đội; ngày thứ tư, chúng tới Rennes. Rennes là chìa khóa của
xứ Bretagne. Ai chiếm được Rennes là chiếm được tất cả. Rennes bị chiếm thì
Châteauneuf và Saint-Malo thất thủ. Ở Rennes có một triệu viên đạn và năm mươi
cỗ dã pháo.
- Mà chúng sẽ đoạt tất. - Danton lẩm bẩm.
Robespierre tiếp:
- Tôi xin nói nốt. Từ Rennes, ba cánh quân sẽ tràn lên vùng
Fougères, Vitré, Redon. Các cầu đã bị phá nhưng các ông đã thừa biết là bọn giặc
sẽ dùng câu nổi ghép lại và chúng sẽ có liên lạc đưa kỵ binh qua những chỗ có
thể lội được. Từ Fougères chúng tỏa ra vùng Avranches, từ Redon chúng tỏa ra
vùng Ancenis, từ Vitré tỏa ra Laval. Nantes sẽ đầu hàng, Brest sẽ đầu hàng. Chiếm
Redon là chiếm được cả lưu vực sông Vilaine, chiếm Fougères là chiếm được đường
đi Normandie, còn vị trí Vitré mở đường tiến về Paris. Trong vòng mười lăm
ngày, quân giặc sẽ lên tới ba mươi vạn người, và tất cả xứ Bretagne sẽ lọt vào
tay vua Pháp.
- Nghĩa là vào tay vua Anh. - Danton nói.
- Không, vào tay vua Pháp.
Robespierre tiếp:
- Vào tay vua Pháp mới tệ hại. Chỉ cần mười lăm ngày là đủ đuổi
được bọn ngoại xâm, nhưng phải một ngàn tám trăm năm mới trừ được chế độ quân
chủ.
Danton ngồi xuống, chống cùi tay lên bàn, hai tay ôm lấy đầu,
mơ màng.
Robespierre nói:
- Các anh thấy nguy cơ đấy, Vitré mở đường cho bọn Anh xuống
Paris.
Danton ngẩng đầu lên, dằn hai nắm tay xuống bản đồ như lên
chiếc đe vậy:
- Này, Robespierre, Verdun chẳng mở đường cho bọn Phổ vào
Paris là gì?
- Thì sao?
- Thì ta sẽ đuổi bọn Anh như ta đã đuổi bọn Phổ.
Nói xong Danton lại đứng dậy.
Robespierre đặt bàn tay giá lạnh của mình lên bàn tay nóng hổi
của Danton:
- Danton, xứ Champagne trước đây không theo bọn Phổ. Còn xứ
Bretagne ngày nay lại theo bọn Anh. Giành lại Verdun là chống ngoại xâm; giành
lại Vitré là dẹp nội chiến.
Robespierre lẩm bẩm, giọng lạnh lùng và sâu sắc:
- Hai việc khác nhau xa.
Rồi tiếp luôn:
- Danton, hãy ngồi xuống, và nhìn rõ bản đồ chứ đừng đấm vào
nó.
Nhưng Danton vẫn trầm ngâm suy nghĩ.
- Thế mới quá quắt! - Danton thét lên - Tưởng là nguy cơ ở
phía tây khi nó ở phía đông. Robespierre, tôi đồng ý với anh là nước Anh thì ở
giữa đại dương; nhưng Tây Ban Nha ở phía Pyrénées, Ý ở phía Alpes, Đức ở phía
sông Rhin. Và phía sau kia là con gấu Nga to lớn. Robespierre anh thấy chưa?
Nguy cơ thắt lại thành một vòng tròn, và ta đang lọt ở giữa. Bên ngoài cấu kết,
bên trong phản bội. Phía nam, tướng Servant đang mở hé cửa nước Pháp cho vua
Tây Ban Nha. Phía bắc, tướng Dumouriez 10 chạy
sang hàng ngũ giặc. Vả lại, hắn từ trước vẫn đe dọa Hà Lan ít hơn là đe dọa
Paris. Tướng Nerwinde xóa mờ Jemmappes và Valmy. Tên triết gia Rabaut
Saint-Etienne tất nhiên một tín đồ Tin lành, phản trắc, vẫn liên lạc với tên nịnh
thần Montesquiou. Quân đội bị tiêu diệt. Không tiểu đoàn nào hiện nay còn trên
bốn trăm binh sĩ; trung đoàn anh dũng Deux-ponts chỉ còn một trăm năm mươi người;
đồn Pamars lọt vào tay giặc; ở Givet chỉ còn năm trăm bao bột; quân ta phải rút
lui về Landeau; Wurmser đang bám sát Kléber; Mayence anh dũng thất thủ, Condé đầu
hàng nhục nhã, Valenciennes cũng thế. Mặc dù thế Chancel, người bảo vệ
Valenciennes và ông già Féraud, người bảo vệ Condé vẫn xứng đáng là những anh
hùng, cũng như Meunier, người đã chiến đấu để bảo vệ Mayence đến cùng. Nhưng những
kẻ khác thì phản bội. Dharville phản bội ở Aix-la-Chapelle, Mouton ở Bruxelles.
Valence ở Bréda, Neuilly ở Limbourg, Miralda ở Maëstricht; Stengel, phản bội,
Lanoue, phản bội; Ligonnier, phản bội; Menou, phản bội; Dillon, phản bội; chúng
tiếp diễn hành vi phản bội xấu xa của tên Dumouriez. Phải trừng trị để làm
gương. Những cuộc hành quân đổi hướng của Custine thật đáng nghi, tôi ngờ
Custine đã muốn chiếm Francfort để mưu lợi hơn là chiếm Coblentz. Francfort có
thể nộp bốn triệu đồng binh phí, đồng ý. Nhưng bốn triệu thì thấm gì so với việc
tiêu diệt cái ổ lưu vong ở Coblentz. Phản bội, đúng thế. Meunier tử trận ngày
13 tháng 6. Chỉ còn trơ trọi Kléber. Trong khi chờ đợi thì Brunswick tăng cường
lực lượng và tiến quân. Hắn cắm cờ Đức trên tất cả những thành trì nước Pháp mà
hắn chiếm được. Thị trưởng Brandebourg bây giờ thành trọng tài của châu Âu; hắn
cuỗm các tỉnh của ta; hắn sẽ sáp nhập nước Bỉ cho mà xem; người ta có thể bảo
là bọn ta đang làm việc cho bọn Berlin; nếu tình trạng này cứ kéo dài, nếu
chúng ta không ổn định được trật tự thì cách mạng Pháp chỉ làm lợi cho Potsdam;
nó chỉ đưa lại kết quả duy nhất là mở rộng cái vương quốc nhỏ bé của Frédéric
II, và chúng ta đã giết vua nước Pháp để làm lợi cho vua nước Phổ.
Nói xong, Danton, vẻ dữ tợn, phá lên cười. Cái cười của
Danton làm cho Marat mỉm miệng.
- Mỗi anh có một định kiến; Danton thì bị nước Phổ ám ảnh;
Robespierre thì xứ Vendée. Đây là ý kiến của tôi. Các anh không thấy cái nguy
cơ thật sự; ấy là các quán cà phê và sòng bạc. Quán Choiseul thuộc phái
Jacobin, quán Patin thuộc phái bảo hoàng, quán Nơi Hẹn Hò chống quốc dân quân,
còn quán Cửa Ô Saint-Martin thì bảo vệ nó, quán Régence chống Brissot, quán
Corazza ủng hộ ông ta, quán Procope sùng bái Diderot, quán Nhà Hát Pháp sùng
bái Voltaire, ở quán Rotonde người ta xé tín phiếu, ở các quán phố
Saint-Marceau người ta tranh nhau mua tín phiếu, quán Manouri xôn xao về vấn đề
bột, ở quán Foy toàn những chuyện cãi lộn và ẩu đả, ở quán Perron bọn đầu sỏ
tài chính vo ve như bày ong. Nghiêm trọng là ở đó.
Danton không cười nữa. Marat vẫn cười mỉm. Cái cười mỉm của
con người lùn ấy còn thâm độc hơn tiếng cười rộ của con người khổng lồ.
- Marat, anh chế giễu à? - Danton to tiếng.
Marat giật giật bên hông, cố tật nổi tiếng của ông, nụ cười
biến mất trên môi.
- A, thật đúng là cái giọng của anh. Công dân Danton. Chính
anh ở giữa Viện Quốc ước đã gọi tôi là "tên Marat". Thôi, tôi cũng xá
cho anh. Chúng ta đang trải qua một thời buổi chẳng ra gì. Tôi chế giễu à? Vậy
tôi là người như thế nào? Tôi đã tố cáo Chazot, tôi đã tố cáo Pétion, tôi đã tố
cáo Kersaint, Moreton, Dufriche-Valazé, Ligonnier, Menou, Banneville, Gensonné,
Biron, Lidon và Chambon; tôi sai lầm chăng? Tôi thấy trước âm mưu phản bội ở một
tên phản phúc và tôi thấy cần phải tố cáo nó trước khi nó phạm tội. Tôi có thói
quen nói trước những điều mà người ta nói sau. Tôi là người đã đề nghị với Quốc
hội lập pháp một kế hoạch đầy đủ về pháp chế đại hình. Từ trước tới nay tôi đã
làm gì? Tôi đã yêu cầu huấn luyện quân đội để họ quen với kỷ luật cách mạng.
Tôi đã xét tha cho ba mươi hai người bị bắt oan, tôi đã đòi lại cho Nhà nước những
viên kim cương nằm trong tay Roland, tôi đã xác minh rằng phái ông Brissot đã
giao cho Ủy ban an ninh công cộng những tờ lệnh tống giam khống chỉ, tôi đã vạch
rõ những chỗ thiếu sót trong bản cáo trạng của Lindet về tội ác của tên vua
Capet, tôi đã thông qua bản án xử tử tên bạo quân trong hai mươi bốn tiếng đồng
hồ, tôi đã bênh vực các tiểu đoàn Mauconseil và Cộng Hòa, tôi đã cấm đọc thư của
bọn Narbonne và Malouet, tôi đã đưa ra một đề án về vấn đề thương binh, tôi đã
cho giải tán hội đồng sáu người, tôi đã dự đoán sự phản bội của Dumouriez trong
vụ xảy ra ở Mons, tôi đã yêu cầu bắt mười vạn thân nhân bọn lưu vong làm con
tin để thay thế cho những ủy viên đại diện của ta bị chúng phản bội bắt nộp cho
địch, tôi đã đề nghị tuyên bố phản quốc tất cả các nghị sĩ nào chạy sang hàng
ngũ địch, tôi đã lột mặt nạ nhóm phân liệt Roland trong vụ rối loạn ở
Marseille, tôi đã khẩn khoản treo giải thưởng lấy đầu tên Egalité Con, tôi đã
bênh vực Bouchotte, tôi đã định đặt vấn đề tín nhiệm để đuổi tên Isnard, tôi đã
đề nghị tuyên dương nhân dân Paris xứng đáng với Tổ quốc; do đó mà Louvet bảo
tôi là làm trò múa rối, quận Finistère đòi trục xuất tôi, thành phố Loudun yêu
cầu đày tôi biệt xứ, thành phố Amiens muốn bịt mõm tôi lại, Cobourg muốn tống
giam tôi, và Lecointe-Puiraveau yêu cầu Viện Quốc ước tuyên bố là tôi điên. Ái
chà! Công dân Danton, tại sao anh lại mời tôi tới đây họp với anh nếu không phải
là để lấy ý kiến của tôi? Có phải là tự tôi yêu cầu đến đây đâu? Không. Tôi chẳng
thích thú gì đối diện với những kẻ phản cách mạng như Robespierre, và anh. Vả lại,
Robespierre và anh đều không hiểu tôi, điều đó đáng lẽ tôi phải cầm chắc từ trước.
Không có ai đáng mặt chính khách ở đây sao? Lại phải dạy các anh tập đánh vần về
chính trị sao? Phải giải thích cho các anh từng li từng tí hay sao? Ý tôi muốn
nói thế này: cả hai anh đều đã nhầm. Nguy cơ không ở Luân Đôn như Robespierre
tưởng, cũng không ở Berlin như Danton tưởng. Nguy cơ ở ngay Paris. Nguy cơ là ở
chỗ thiếu sự thống nhất, ở chỗ ai cũng có quyền giành phần hơn về mình, bắt đầu
từ hai anh, ở chỗ làm cho nhân tâm phân tán, ý chí hỗn loạn...
Danton cắt ngang:
- Hỗn loạn, do ai gây ra nếu không phải chính anh?
Marat vẫn nói tiếp:
- Robespierre, Danton, nguy cơ ở cái đám quán cà phê, sòng bạc,
câu lạc bộ. Câu lạc bộ Người Da Đen, câu lạc bộ Liên Minh, câu lạc bộ Phụ Nữ,
câu lạc bộ Trung Lập, có từ thời Clermont-Tonnerre, tức là câu lạc bộ Quân Chủ,
có từ 1790 do tu sĩ Claude Fauchet lập ra, câu lạc bộ Mũ Len do nhà báo
Prudhomme lập ra, vân vân. Không kể câu lạc bộ Jacobin của anh, Robespierre, và
câu lạc bộ Cordelier của anh, Danton. Nguy cơ là ở nạn đói đã gây ra vụ gã
khuân vác Blin treo cổ người làm bánh mì ở chợ Palu, tên là Denis, lên cột đèn
trước Tòa thị chính, và ở tòa án đã treo cổ tên Blin đó lên vì tội đã treo cổ
người làm bánh mì Denis. Nguy cơ là giấy bạc bị hạ giá. Ở phố Temple một tờ tín
phiếu trăm quan rơi xuống đất và một thường dân qua đường đã nói: chẳng bõ nhặt.
Nguy cơ là ở bọn buôn bạc và bọn tích trữ. Kéo cờ đen trước Tòa thị chính, các
anh tưởng thế là đủ! Bắt tên nam tước Trenck cũng chưa đủ. Phải vặn cổ cái tên
cáo già ngồi tù mà vẫn âm mưu tác hại. Các ngài cứ tưởng khi ông chủ tịch Viện
Quốc ước đặt vòng hoa công dân lên đầu Labertèche sau khi người này đã bị chém
bốn mươi mốt nhát gươm ở trận Jemmapes và được Chénier hết sức tâng bốc, như thế
đã giải quyết được vấn đề ư? Hài kịch và trò hề. Đáng tiếc là các anh chẳng
nhìn đến Paris! Các anh đi tìm nguy cơ tận đâu đâu khi nó ở ngay sát nách. Bộ
máy cảnh sát của anh được tích sự gì. Robespierre! Đúng là các anh có tình báo
riêng, Payan ở Công xã, Coffinhal ở Tòa án cách mạng, David ở Ủy ban an ninh
công cộng, Couthon ở Ủy ban cứu quốc. Tôi biết rất rõ. Này, các anh nên biết:
nguy cơ ở ngay trên đầu các anh, nguy cơ ở ngay dưới chân các anh; người ta
đang mưu phản, mưu phản, mưu phản! Người ngoài phố đọc bảo cho nhau nghe và gật
đầu ra hiệu với nhau; sáu nghìn người không có thẻ công dân, bọn lưu vong trở về,
bọn bảo hoàng lén lút trong các hầm rượu, các gác xép, trong các dãy hành lang
gỗ ở Hoàng cung; người ta nối đuôi ở các cửa hàng bánh; các bà nội trợ đứng
trên bậc cửa chắp tay lại và nói: Bao giờ mới được yên vui? Các anh tha hồ rủ
nhau đóng kín cửa ngồi trong phòng của Hội đồng chấp chính, các anh nói với
nhau những gì trong đó, người ngoài đều biết cả; và, chứng cớ, Robespierre, đây
là những lời anh nói tối hôm qua với Saint-Just: "Barbaroux đã bắt đầu phệ
bụng, coi bộ khạng nạng khó chạy trốn đó". Vâng, nguy cơ ở khắp nơi, nhất
là ở nơi trung tâm này, ở Paris. Bọn thống trị trước đây đang mưu đồ làm loạn,
những người yêu nước đi chân không, bọn quý tộc bị bắt hôm 9 tháng 3 đã được thả
ra hết, những con ngựa sang trọng đáng lẽ phải đi kéo pháo ở biên giới thì lại
đang làm bắn bùn lên người ta trên các đường phố, chiếc bánh bốn bảng giá ba
quan mười hai xu, các rạp diễn những vở đồi bại, và nay mai, Robespierre sẽ đưa
Danton lên máy chém.
- Úi chà! - Danton đáp.
Robespierre vẫn nhìn chăm chú vào bản đồ.
Bỗng Marat kêu lên:
- Bây giờ phải có một tay độc tài. Robespierre, anh biết là
tôi muốn có một tay độc tài.
Robespierre ngẩng đầu lên:
- Tôi biết, Marat, anh hoặc tôi.
- Tôi hoặc anh - Marat đáp lại.
Danton làu bàu trong miệng:
- Độc tài! Cứ thử xem!
Đôi lông mày của Danton nhíu lại. Marat tiếp:
- Nào, hãy cố gắng một lần cuối cùng. Chúng ta hãy thỏa thuận
với nhau. Tình thế đòi hỏi như vậy. Chúng ta chẳng đã đồng ý với nhau về ngày
31 tháng 5 đó sao? Vấn đề toàn cục quan trọng hơn vấn đề Girondin, phe phái chỉ
là một chuyện nhỏ. Các anh cũng đã nói lên sự thật; nhưng sự thật, tất cả sự thật,
sự thật thật sự là điều tôi nói. Ở miền nam, phái liên hiệp; ở miền tây, phái bảo
hoàng; ở Paris có cuộc đọ sức giữa Viện Quốc ước và Công xã; ở biên giới,
Custine lui quân và Dumouriez phản bội. Như thế là cái gì? Ba bè bảy mảng.
Chúng ta cần gì? Thống nhất. Lối thoát là ở đó, mà phải gấp rút lên. Paris phải
nắm lấy chính quyền cách mạng. Nếu chúng ta chậm một giờ, ngày mai bọn Vendée sẽ
chiếm Orléans, bọn Phổ sẽ chiếm Paris. Tôi xin đồng tình với anh điều này,
Danton, tôi xin nhượng bộ anh điều kia, Robespierre. Được. Nhưng kết luận là phải
chuyên chính. Chúng ta nắm lấy chuyên chính, ba chúng ta sẽ đại diện chính quyền
cách mạng. Chúng ta là ba cái đầu của con Cerbère 11 .
Trong đó, cái đầu để ăn nói là anh, Robespierre; còn cái đầu để gầm thét là
anh, Danton...
- Còn cái đầu để cắn là anh, Marat. - Danton nói.
- Cả ba cái đều cắn. - Robespierre tiếp.
Một lát im lặng. Rồi cuộc đối thoại trở lại toàn một giọng gầm
gừ ám muội.
- Này, Marat, trước khi kết nghĩa thì phải hiểu nhau đã.
Thế nào mà anh biết câu tôi nói hôm qua với Saint-Just?
- Robespierre, đó là việc riêng của tôi.
- Marat!
- Đó là nhiệm vụ tôi phải tìm hiểu, và đó là việc tôi phải biết.
- Marat!
- Tôi thích biết.
- Marat!
- Robespierre, tôi biết anh nói gì với Saint-Just cũng như
tôi biết Danton nói gì với Lacroix; cũng như tôi biết được việc gì đã xảy ra ở
bến tàu Théatins, ở khách sạn Labriffe, cái ổ tiên nữ lưu vong; cũng như tôi biết
việc gì xảy ra ở nhà Thilles gần Gonesse, bây giờ là nhà của Valmerange, nguyên
giám đốc bưu chính, trước kia Maury và Cazalès hay lui tới đấy, từ hồi đó đến
nay thì có Sieyès và Vergniaud, và bây giờ thì người ta đi lại mỗi tuần một lần.
Khi nói đến tiếng người ta, Marat nhìn Danton. Danton
kêu lên:
- Nếu tôi có đôi chút quyền hành thì sẽ biết!
Marat tiếp:
- Robespierre, tôi biết anh nói gì cũng như tôi biết ở tháp
Temple họ đã nuôi béo tên vua Louis XVI đến nỗi chỉ trong tháng chín mà con sói
đực, con sói cái và bầy sói con đã ngốn hết tám mươi sáu giỏ đào. Trong khi đó,
dân chúng nhịn đói. Tôi biết việc đó cũng như tôi biết Roland được giấu trong một
gian nhà ngảnh ra sân sau ở phố Harpe; cũng như tôi biết sáu trăm ngọn mác ngày
14 tháng 7 là do bác thợ khóa của hầu tước Orléans, tên là Faure, làm ra; cũng
như tôi biết người ta làm gì ở nhà mụ Saint-Hilaire, tình nhân của Sillery; những
ngày có khiêu vũ, chính lão Sillery tự tay lấy phấn cọ sàn phòng tiếp khách màu
vàng ở phố Neuve-des-Mathurins; Buzot và Kersaint đã ăn uống ở đó. Saladin ăn ở
đó ngày 27, và ăn với ai, Robespierre? Với bạn anh là Lasource.
- Ba hoa! Lasource đâu phải là bạn tôi - Robespierre lẩm bẩm,
rồi vừa ngẫm nghĩ vừa tiếp - Hiện nay ở Luân Đôn có mười tám xưởng làm tín phiếu
giả.
Marat tiếp tục nói, giọng bình tĩnh, nhưng hơi rung một cách
ghê rợn:
- Các anh là nhóm yếu nhân. Vâng, tôi biết tất cả, cả những
điều mà Saint-Just gọi là bí mật quốc gia...
Marat lấy giọng nhấn mạnh vào mấy chữ ấy, nhìn Robespierre và
nói tiếp:
- Tôi biết người ta nói những gì ở bàn tiệc của anh những
ngày mà Lebas mời David đến thưởng thức bữa ăn do vợ chưa cưới của anh ta là
Elisabeth Duplay nấu nướng, cô em dâu tương lai của anh đấy, Robespierre. Tôi
là con mắt rộng lớn của nhân dân, và từ trong hầm nhà của tôi, tôi nhìn khắp
nơi. Vâng, tôi thấy, vâng, tôi nghe, vâng, tôi biết. Các anh hài lòng với những
cái lặt vặt. Các anh tâng bốc nhau. Robespierre thích được phu nhân Chalabre -
con gái lão hầu tước Chalabre - ca ngợi, lão Chalabre là người đã từng đánh bài
với Louis XVI tối hôm xử tử tướng Damiens. Vâng, người ta tự hào lắm.
Saint-Just đi đâu cũng cà-vạt. Legendre đĩnh đạc; nào áo mới, gi-lê trắng, ngực
giắt đăng-ten để cho người ta quên cái tạp-dề ngày trước của anh ta.
Robespierre đã tưởng đến chuyện để cho người đời sau biết anh mang một chiếc áo
lễ xanh màu ô-liu ở Quốc hội lập hiến và mang một chiếc áo xanh da trời ở Viện
Quốc ước. Anh treo chân dung anh lên khắp các tường trong phòng ngủ...
Robespierre ngắt lời với một giọng bình tĩnh hơn giọng Marat:
- Còn anh, Marat, chân dung anh thì cống rãnh nào cũng có.
Rồi họ lại tiếp tục với một giọng như là trò chuyện nhưng
càng chậm rãi thì lời đối đáp càng gay gắt và pha vào đủ giọng châm biếm lẫn
hăm dọa.
- Robespierre, anh đã mệnh danh những người muốn đánh đổ chế
độ quân chủ là những Don Quichotte của nhân loại.
- Còn anh, Marat, sau ngày 4 tháng 8, trong báo Bạn dân số
559, à, tôi nhớ rõ con số mới hay chứ, anh đòi trả lại tất cả tước vị cho bọn
quý tộc. Anh đã nói: Một quận công lúc nào cũng vẫn là một quận công.
- Robespierre, trong phiên họp ngày 7 tháng 12, anh đã bênh vực
mụ Roland chống lại Viard.
- Cũng như anh tôi đã bênh vực anh, khi người ta công kích
anh ở câu lạc bộ Jacobin. Cái đó chứng tỏ gì? Chẳng gì cả.
- Robespierre, người ta biết rõ cái phòng trong điện
Tuileries, nơi anh đã nói với Garard: Tôi đã mệt với cách mạng rồi.
- Marat, chính ở đây, trong quán này, ngày 29 tháng 10 anh đã
ôm hôn Barbaroux.
- Robespierre, anh đã nói với Buzot: Nền cộng hòa là cái gì vậy
nhỉ?
- Marat, chính trong quán này anh đã thết tiệc ba tay người
Marseille.
- Robespierre, anh dùng một tay khuân vác ở chợ cầm gậy đi hộ
vệ anh.
- Còn anh, Marat, trước hôm 10 tháng 8, anh đã nhờ Buzot giúp
anh trá hình làm người đánh xe ngựa để trốn xuống Marseille.
- Robespierre, trong những phiên tòa tháng chín, anh đã lánh
mặt.
- Marat, còn anh, anh đã vác mặt ra.
- Robespierre, anh đã vứt xuống đất chiếc mũ đỏ.
- Đúng, khi một tên phản bội đội nó. Cái gì trang điểm cho
Dumouriez thì làm nhục Robespierre.
- Robespierre, anh đã không cho lấy vải chụp đầu tên Louis
XVI lại khi đội quân của Chateauvieux đi qua.
- Tôi đã làm quá việc chụp đầu, tôi đã chặt đầu nó.
Danton nói chen vào, như lửa đổ thêm dầu:
- Robespierre, Marat, các anh bình tĩnh.
Marat không thích tên mình bị gọi sau tên người khác.
Ông ta ngoảnh lại:
- Việc gì đến anh, Danton?
Danton chồm lên:
- Việc gì đến tôi ạ? Việc thế này. Không nên huynh đệ tương
tàn; không nên tranh chấp giữa hai người cùng phụng sự nhân dân; chiến tranh chống
ngoại xâm đã đủ rồi, nội chiến đã đủ rồi, còn chiến tranh trong nhà nữa thì quá
lắm đấy; tôi đã làm nên cách mạng, tôi không muốn ai phá hoại nó. Đấy, tôi dây
vào là như thế đấy.
Marat trả lời, nhưng không to tiếng:
- Anh hãy tự xét mình trước đã.
- Tự xét! - Danton thét lên - Về tôi ư, anh hãy đi hỏi đèo
Argonne, xứ Champagne giải phóng, nước Bỉ bị thôn tính, những mặt trận mà ở đó
đã bốn lần tôi phơi ngực ra để đỡ đạn! Hãy đi hỏi về tôi ở quảng trường Cách Mạng,
ở đoạn đầu đài ngày 21 tháng 1, ở cái ngai vàng đã lật đổ, ở cái máy chém con mẹ
góa ấy...
Marat ngắt lời Danton:
- Máy chém là một cô gái đồng trinh; người ta nằm lên nó,
nhưng nó chẳng sinh sản đâu.
- Anh biết gì? Tôi, tôi sẽ làm cho nó phát triển - Danton cãi
lại.
- Rồi xem.
Marat trả lời xong lại cười mỉm.
Danton nhìn thấy nụ cười đó.
- Marat - Danton thét lên - Anh là con người ẩn nấp; còn tôi,
tôi là người của thanh thiên bạch nhật. Tôi ghét cuộc sống bò sát. Tôi không
thích sống như con bọ đất. Anh sống trong một cái hầm; tôi sống ngoài đường phố.
Anh chẳng liên lạc với ai; còn tôi, bất kỳ ai đi qua đều có thể gặp tôi, nói
chuyện với tôi.
- À, công tử, cậu có muốn tới nhà tôi không? - Marat lầu bầu
trong miệng.
Rồi không cười nữa, Marat lại cất giọng đĩnh đạc:
- Danton, anh hãy cho biết về số tiền ba mươi ngàn đồng écu 12 mà
Montmorin theo lệnh tên vua đưa cho anh, lấy cớ là thù lao cho anh về chức vụ
biện lý ở Châtelet.
- Tôi đã tham gia ngày 14 tháng 7 13 -
Danton trả lời kiêu hãnh.
- Còn kho tài sản? Và kim cương của bọn vua chúa?
- Tôi đã tham gia ngày 6 tháng 10 14 .
- Còn những vụ trộm của tên Lacroix, thân tín của anh, ở Bỉ?
- Tôi đã tham gia ngày 20 tháng 6 15 .
- Còn những số tiền cho Montansier vay?
- Tôi đã phát động dân chúng, khi Louis XVI bị điệu từ
Varennes về.
- Còn nhà Opéra được dựng lên với tiền ông xuất ra?
- Tôi đã sắm khí giới cho đội cảnh vệ Paris.
- Còn mười vạn quan quỹ mật của Bộ Tư pháp?
- Tôi đã tổ chức ngày 10 tháng 8 16 .
- Còn hai triệu đồng của Quốc hội để mật chi mà ông giữ một
phần tư?
- Tôi đã chặn bước tiến của quân thù và của bọn vua chúa cấu
kết với nhau.
- Đồ vô liêm sỉ! - Marat nói.
Danton đứng phắt dậy, nom ghê rợn:
- Vâng, tôi là của chung của thiên hạ, tôi đã bán mình, nhưng
tôi đã cứu sống nhân loại.
Robespierre lại gặm móng tay. Ông không thể cười hoặc mỉm cười
được. Ở ông, thiếu cái cười rộ như tia chớp của Danton và cái nhếch miệng như
mũi kim châm của Marat.
Danton lại nói tiếp:
- Tôi như biển cả; thủy triều có lúc lên xuống; khi nước xuống,
người ta thấy tôi phẳng lặng, khi nước lên, người ta thấy tôi cuồn cuộn như sóng
cồn.
- Thấy anh sùi bọt mép - Marat ngắt lời.
- Thấy tôi như bão táp - Danton tiếp.
Cùng một lúc với Danton, Marat đứng thẳng dậy. Chính ông cũng
nổi giận. Con rắn nước bỗng biến thành con rồng.
- À! Robespierre! Danton! Các anh không muốn nghe tôi! Này,
tôi nói cho các anh biết, các anh chết đến nơi rồi.
Chính sách của các anh đi đến chỗ đường cùng; các anh chẳng
còn lối thoát nữa; các anh đã cùng đường, chỉ còn con đường đi xuống mồ thôi.
- Đó là vinh dự của chúng tôi - Danton nói. Rồi ông ta nhún
vai.
Marat tiếp:
- Danton, coi chừng. Vergniaud trước cũng miệng rộng, môi dầy,
lông mày dữ tợn; Vergniaud cũng rỗ hoa như Mirabeau và như anh; cái đó cũng
không ngăn được sự kiện 31 tháng 5. Chà! Anh nhún vai! Đôi khi nhún vai làm cho
đầu rơi đấy. Danton, tôi nói cho anh biết, anh to tiếng, cà-vạt anh bỏ trễ, đôi
bốt anh mềm mại, những bữa ăn ngon, những túi áo rộng, những cái đó chỉ có cô
Louisette ưa thôi.
Louisette là tên đùa Marat dùng để chỉ máy chém.
Marat tiếp:
- Còn anh, Robespierre, anh là người ôn hòa; nhưng cái đó chẳng
ích gì, anh cứ đánh phấn đi, đội mũ vào, chải chuốt đi, tự đắc với những bộ quần
áo mới, luôn luôn thay đổi, làm dáng đi, uốn tóc và chải đầu cho mượt, anh cũng
chẳng đi đâu cho thoát cái quảng trường Grève 17 ;
anh đã đọc bản tuyên ngôn của Brunswick 18 ,
rồi anh cũng được xử trí chẳng kém gì Damiens 19 âm
mưu giết vua, bây giờ hãy cứ ăn mặc tề chỉnh đi, đợi ngày bốn ngựa phanh thây!
- Đúng giọng lưỡi bọn Coblentz 20 !
- Robespierre nói, hàm răng rít lại.
- Robespierre, đây không phải giọng lưỡi ai cả, đây là tiếng
nói của tất cả mọi người. Chà! Các anh còn trẻ lắm. Anh bao nhiêu tuổi, Danton?
Ba mươi tư. Anh bao nhiêu tuổi, Robespierre? Ba mươi ba. Còn tôi, tôi bất tử,
tôi là nỗi khổ đau lâu đời của nhân loại, tôi sống đã sáu ngàn năm.
- Đúng rồi - Danton đáp, từ sáu ngàn năm nay, Caïn bị giữ chặt
trong oán thù như con cóc trong tảng đá, đến khi đá nứt, Caïn nhảy ra giữa loài
người và đó là Marat vậy 21 .
- Danton! - Marat thét lên. Và một tia sáng xanh nhợt lóe lên
trong khóe mắt ông ta.
- Cái gì nào? - Danton hỏi.
Ba con người dễ sợ nói năng với nhau như thế đấy. Cuộc giao
tranh của sấm động.
III
Chuyển động tâm can
Cuộc đối thoại ngừng lại một chốc; ba nhân vật vĩ đại mỗi người
theo đuổi ý nghĩ riêng của mình.
Sư tử lo ngại rắn độc. Robespierre mặt xanh mét, còn Danton
thì đỏ gay. Cả hai đều rùng mình. Tròng mắt hung dữ của Marat đã dịu xuống; sự
trầm tĩnh, sự trầm tĩnh kiêu kỳ trở lại trên mặt ông ta, khiến những kẻ đáng sợ
cũng phải sợ.
Danton cảm thấy mình thua trận, nhưng vẫn không chịu hàng.
Ông ta nói tiếp:
- Marat nêu rất cao vấn đề chuyên chính và vấn đề thống nhất.
Nhưng anh ta chỉ có một mãnh lực là phá hoại.
Robespierre hé đôi môi vẫn mím chặt, tiếp:
- Tôi, tôi đồng ý với Cloots 22 .
Tôi nói: không Roland 23 cũng
không Marat.
- Còn tôi - Marat đáp - Tôi nói: không Danton, cũng không
Robespierre.
Marat lại nhìn chăm chắm hai người và nói tiếp:
- Danton, anh cho phép tôi khuyên anh một lời. Anh đa tình lắm,
anh đang lo lấy vợ kế, không nên nhúng vào chính trị nữa, nên khôn ngoan thì
hơn.
Rồi, lùi một bước về phía cửa để bước ra, Marat chào một cách
ghê rợn:
- Xin vĩnh biệt các vị.
Danton và Robespierre đều rùng mình. Cùng lúc ấy, từ góc
phòng, một tiếng người cất lên:
- Marat, anh sai rồi!
Mọi người ngoảnh lại. Trong lúc Marat đang nổi xung, họ không
nhận thấy có một người từ cửa thông cuối phòng đi vào.
- Công dân Cimourdain. Chào anh. - Marat nói.
Đúng là Cimourdain.
- Marat, tôi nói anh sai rồi - Cimourdain nhắc lại. Mặt Marat
biến sắc, tái đi.
Cimourdain tiếp:
- Anh rất hữu ích, nhưng Danton và Robespierre rất cần thiết.
Sao lại dọa dẫm họ? Đoàn kết, đoàn kết, các công dân ơi! Nhân dân đòi hỏi ta phải
đoàn kết.
Sự nhập cuộc đó có hiệu lực như một gáo nước lạnh, như có người
lạ bước vào trong một gia đình đang cãi cọ nhau làm cho bề ngoài có vẻ lắng xuống
mặc dù bên trong vẫn còn sóng gió.
Cimourdain tiến đến bên bàn.
Danton và Robespierre biết ông ta. Trong khán đài dành cho
công chúng ở Viện Quốc ước, họ đã thường để ý đến con người vô danh có uy tín,
được dân chúng hoan nghênh. Tuy vậy, Robespierre, tính nguyên tắc, vẫn hỏi:
- Này, công dân, ông làm cách nào mà vào được đây?
- Ông ấy ở phái Tòa giám mục. - Marat đỡ lời bằng một giọng
như có vẻ khúm núm.
Marat coi thường Viện Quốc ước, cầm đầu Công xã và e sợ phái
Tòa giám mục.
Đấy là một quy luật.
Mirabeau cảm thấy Robespierre ngầm ngấm hoạt động,
Robespierre cảm thấy Marat cựa quậy, Marat cảm thấy Hébert cựa quậy, Hébert cảm
thấy Babeuf cựa quậy. Hễ những lớp đất dưới chân yên tĩnh thì nhà chính trị có
thể vững bước nhưng các nhà cách mạng triệt để nhất, táo bạo nhất, cũng phải dừng
lại lo âu, khi họ cảm thấy dưới chân cái chấn động mà họ đã gây ra trên đầu.
Biết phân biệt chấn động nào xuất phát từ những tham vọng với
chấn động nào từ nguyên tắc, để rồi đánh bại cái này và nâng đỡ cái kia lên, đó
là thiên tài và đạo đức của các nhà đại cách mạng.
Danton thấy Marat chịu khuất phục, liền nói:
- Ồ! Có thêm công dân Cimourdain ở đây không thừa đâu.
Ông bắt tay Cimourdain và nói tiếp.
- Thôi, ta hãy nói rõ tình hình với công dân Cimourdain. Ông ấy
đến đúng lúc. Tôi thay mặt cho phái Montagnard, Robespierre thay mặt cho Ủy ban
cứu quốc, Marat thay mặt Công xã, Cimourdain thay mặt phái Tòa giám mục.
Ông ấy sẽ giải quyết chuyện nhùng nhằng giữa chúng ta.
Cimourdain nói, nghiêm trang và giản dị:
- Vâng, việc gì nào?
- Việc Vendée - Robespierre trả lời.
- Vendée! - Cimourdain nói.
Rồi ông tiếp luôn:
- Đó là mối đe dọa lớn nhất. Nếu cách mạng thất bại thì chính
vì Vendée. Một Vendée đáng sợ hơn mười nước Đức. Muốn nước Pháp còn, phải tiêu
diệt Vendée.
Câu nói này làm cho Robespierre có cảm tình ngay. Tuy vậy
Robespierre vẫn hỏi:
- Ông trước có làm linh mục phải không? Phong thái thầy tu
không lọt qua con mắt Robespierre.
Suy mình, ông ta hiểu người.
Cimourdain đáp:
- Vâng, đúng thế.
- Cái đó có hề gì? - Danton nói - Thầy tu mà tốt thì còn hơn
những người khác. Thời buổi cách mạng, thầy tu cũng biến thành công dân như
chuông đúc thành xu và thành đại bác. Danjou là thầy tu, Daunou là thầy tu.
Thomas Lindet là giám mục địa phận Evreux. Robespierre, ở Viện Quốc ước, anh ngồi
sát bên cạnh Massieu làm giám mục địa phận Beauvais. Phó giám mục Vaugeois ở
trong Ủy ban khởi nghĩa ngày 10 tháng 8. Chabot là thầy dòng, linh mục Gerle tổ
chức cuộc tuyên thệ ở câu lạc bộ Jeu-de-Paume; chính linh mục Audran đã vận động
tuyên bố quyền lực Quốc dân đại hội cao hơn nhà vua. Chính linh mục Goutte đã
yêu cầu Quốc hội lập hiến lột cái tàn trên ngai Louis XVI; chính linh mục
Grégoire đã thúc đẩy việc thủ tiêu chế độ quân chủ.
Marat cười gằn:
- Được anh hề Collot-d’Herbois ủng hộ. Cả hai đã làm xong việc:
thầy tu lật đổ ngai vàng, anh kép hát quật ngã tên vua.
- Xin trở lại vấn đề Vendée - Robespierre nói.
- Việc gì thế? - Cimourdain hỏi - Vendée đã gây sự gì rồi?
Robespierre đáp:
- Thế này: Vendée đã có thủ lĩnh. Miền ấy sắp trở thành nguy
hiểm.
- Thủ lĩnh đó là ai, hở công dân Robespierre?
- Đó là một tên nguyên là hầu tước De Lantenac, tự xưng là
hoàng thân xứ Bretagne.
Cimourdain giật nẩy mình. Ông nói:
- Tôi biết người ấy. Tôi đã làm mục sư ở lãnh địa của hắn.
Ông ta trầm ngâm một lát, rồi tiếp:
- Đó là một tay sành gái trước khi là một tướng lĩnh.
- Cũng như Biron, trước là Lauzun 24 .
- Danton nói.
Cimourdain ngẫm nghĩ và nói tiếp:
- Vâng, đó là một tay đã quen ăn chơi. Tay này phải biết là dữ
tợn.
- Kinh khủng - Robespierre nói - Hắn đốt nhà, giết thương
binh, tàn sát tù binh, bắn chết phụ nữ.
- Cả phụ nữ?
- Vâng. Hắn đã đem bắn nhiều phụ nữ trong đó có một bà mẹ có
ba đứa con. Người ta không rõ ba đứa trẻ về sau ra sao. Ngoài ra đó còn là một
tên có tài thao lược.
- Đúng thế - Cimourdain trả lời - Hắn đã từng tham gia chiến
tranh chống Phổ ở Hanovre và binh sĩ đã từng nói: Bề ngoài là Richelieu, bên
trong là Lantenac. Chính Lantenac đã là kẻ thống lĩnh quân đội thật sự. Ông cứ
hỏi bạn đồng nghiệp của ông là Dussaulx thì rõ.
Robespierre suy nghĩ một lát rồi hai người lại tiếp tục câu
chuyện.
- Ấy đấy, công dân Cimourdain, người ấy hiện ở Vendée.
- Từ bao giờ?
- Đã ba tuần nay.
- Phải truy nã tên ấy.
- Làm rồi.
- Phải treo giải thưởng lấy đầu nó.
- Làm rồi.
- Phải thưởng nhiều tiền cho ai bắt được nó.
- Làm rồi.
- Không thưởng bằng tín phiếu.
- Làm rồi.
- Bằng vàng.
- Làm rồi.
- Và phải đưa lên máy chém.
- Sẽ làm.
- Ai làm?
- Ông làm.
- Tôi à?
- Vâng, ông sẽ là đặc phái viên của Ủy ban cứu quốc với toàn
quyền hành động.
- Tôi xin nhận. - Cimourdain nói.
Robespierre rất linh hoạt trong việc lựa chọn người, đó là đức
tính của nhà chính trị. Ông lấy trong tập hồ sơ để trước mặt một tờ giấy trắng
trên có in sẵn tiêu đề: Cộng hòa Pháp thống nhất và không thể chia cắt. Ủy
ban cứu quốc.
Cimourdain tiếp tục:
- Vâng, tôi xin nhận. Khủng bố chống khủng bố. Lantenac hung
bạo, tôi sẽ hung bạo. Phải sống chết với hắn. Tôi sẽ giải cứu nền cộng hòa, nếu
ý Chúa là như vậy.
Ông ta ngừng lại, rồi tiếp:
- Tôi là thầy tu; cái đó chẳng hề gì, tôi tin ở Chúa.
- Chúa đã già cỗi rồi. - Danton nói.
- Tôi tin ở Chúa. - Cimourdain thản nhiên nói.
Robespierre nét mặt hung dữ, gật đầu đồng ý.
Cimourdain lại hỏi:
- Tôi sẽ được đặc phái đến bên cạnh ai?
Robespierre trả lời:
- Bên cạnh viên chỉ huy đoàn quân chinh phạt chống Lantenac.
Có điều, tôi xin báo trước, viên chỉ huy ấy là quý tộc đấy.
Danton nói:
- Điều đó chẳng quan hệ gì! Quý tộc? Thì đã sao? Quý tộc thì
cũng như thầy tu. Khi họ tốt thì họ là hạng xuất sắc. Vấn đề quý tộc là một
chuyện thành kiến; nhưng ta không nên có thành kiến đó nữa, dù là phản đối hay ủng
hộ cũng vậy. Robespierre nên nhớ là Florelle De Saint-Just chẳng phải là quý tộc
đó sao? Cloots cũng là tử tước. Bạn thân chúng ta là Charles Hesse không bỏ một
buổi họp nào của câu lạc bộ Cordelier là một hoàng thân và là em lãnh chúa xứ
Hesse-Rothenbourg. Montaut, bạn thân của Marat, là hầu tước. Trong Tòa án cách
mạng có một quan tòa là thầy tu Vilate, và một quan tòa là Leroy quý tộc, tức
là hầu tước De Montflabert. Hai người này rất bảo đảm.
- Và ông quên - Robespierre thêm - ông trưởng đoàn hội thẩm
Tòa án cách mạng...
- Antonelle?
- Là hầu tước Antonelle. - Robespierre tiếp.
Danton nói tiếp vào:
- Chính một nhà quý tộc là Dampierre vừa hy sinh vì nền cộng
hòa trong khi giao chiến ở Condé, và chính một nhà quý tộc là Beaurepaire đã tự
sát chứ không chịu mở cửa thành Verdun ra hàng quân Phổ.
Marat lẩm bẩm:
- Ấy thế mà hôm Condorcet phát biểu: Anh em Gracques là quý tộc 25 ,
thì chính Danton đã thét lên: Tất cả quý tộc đều là quân phản bội, bắt đầu từ
Mirabeau và cuối cùng là anh.
Tiếng nói nghiêm trang của Cimourdain cất lên:
- Công dân Danton, công dân Robespierre, các ông có thể có lý
do để tin cậy; nhưng nhân dân thì cảnh giác, và cảnh giác như vậy không phải là
thừa. Khi chính một tu sĩ được ủy nhiệm theo dõi một nhà quý tộc thì trách nhiệm
nặng gấp đôi và tu sĩ phải cứng rắn.
- Đúng thế. - Robespierre nói.
Cimourdain tiếp:
- Và không gì lay chuyển được.
Robespierre lại tiếp:
- Rất phải, công dân Cimourdain ạ. Ông sẽ khuyên bảo một
thanh niên. Ông sẽ có uy tín đối với anh ta, vì tuổi ông gấp đôi. Cần phải lãnh
đạo nhưng lại phải dìu dắt anh ta. Hình như anh ta có tài thao lược, tất cả các
báo cáo đều thống nhất về anh ta như thế. Anh ta ở một đơn vị thuộc đoàn quân
sông Rhin được điều đến Vendée. Anh ta từ biên giới tới, ở đó anh ta đã tỏ ra rất
thông minh và dũng cảm. Anh ta chỉ huy rất giỏi đoàn quân chinh phạt. Đã nửa
tháng nay, anh ta thắng tên hầu tước già De Lantenac. Anh ta đã trấn áp và đuổi
Lantenac ra tận biển và quật lão xuống đó. Lantenac có cái xảo quyệt của một tướng
lão thành, còn anh ta có cái táo bạo của một người chỉ huy trẻ tuổi. Người chỉ
huy trẻ tuổi ấy đã có những kẻ thù địch và những người ghen ghét. Phó tướng
Léchelle ghen với anh ta.
Danton ngắt lời:
- Léchelle muốn làm đại tướng tổng chỉ huy! Anh ta chỉ xứng
đáng với câu chơi chữ này thôi: Phải có thang để leo lên xe 26 .
Trong khi đó, Charette đánh thắng anh ta.
Robespierre tiếp:
- Ngoài anh ta ra, anh ta không muốn cho ai đánh bại Lantenac
cả. Cái tai hại của cuộc chiến đấu ở Vendée là ở những vụ tranh chấp như thế.
Binh sĩ của ta anh hùng, nhưng bị chỉ huy tồi. Một đại úy kỵ binh là Chérin tiến
vào thành Saumur với một lính kèn thổi bài Mọi việc sẽ tốt đẹp; anh ta chiếm
được thành; anh ta có thể thừa thắng tiến lên chiếm cả thành Cholet, nhưng
không được lệnh nên phải dừng lại. Phải chấn chỉnh hệ thống chỉ huy ở Vendée.
Các đơn vị ấy rải rác, lực lượng phân tán; một đội quân tản mác là một đội quân
tê liệt; đáng lẽ phải là một khối, người ta lại đem biến thành cát bụi. Ở đồn
Paramé chỉ còn lều vải. Giữa hai cứ điểm Tréguier và Dinan, hàng trăm đồn nhỏ
vô ích ấy có thể tập trung lại thành một sư đoàn để bao quát khắp bờ biển. Được
Parein yểm hộ, tướng Léchelle đã rút hết quân ở bờ biển phía bắc, lấy cớ là để
bảo vệ bờ biển phía nam, và do đó đã mở cửa nước Pháp cho quân Anh vào. Một nửa
triệu dân quê nổi lên đồng thời với cuộc đổ bộ của quân Anh, đó là kế hoạch của
Lantenac. Người chỉ huy trẻ tuổi của đoàn quân chinh phạt đã thúc kiếm vào hông
tên Lantenac, dồn lão và đánh bại lão, tuy không có lệnh của Léchelle; mà
Léchelle lại là chỉ huy của anh ta; vì vậy Léchelle đã vạch tội anh ta. Có nhiều
nhận định trái ngược về người thanh niên này. Léchelle thì muốn đưa anh ta ra xử
bắn. Còn ông Prieur De La Marne thì muốn cất nhắc anh ta lên làm phó tướng.
Cimourdain nói:
- Người thanh niên ấy xem chừng có nhiều đức tính lớn.
- Nhưng anh ta có một tật xấu.
Câu cắt ngang này là của Marat.
- Tật gì? - Cimourdain nói.
- Khoan hồng. - Marat nói.
Rồi Marat tiếp:
- Anh ta ra trận thì rất kiên quyết, nhưng sau đó lại nhu nhược.
Anh ta rộng lượng, hay tha thứ, ban ơn, che chở cho cô mụ, các bà phước, cứu vớt
vợ và con gái bọn quý tộc, thả tù nhân, phóng thích thầy tu.
- Lỗi nặng đây. - Cimourdain lẩm bẩm.
- Tội ác đấy. - Marat nói.
- Đôi khi thôi. - Danton nói.
- Thường là thế. - Robespierre nói.
- Hầu như luôn luôn là thế. - Marat tiếp.
- Đối với kẻ thù của Tổ quốc mà hành động như vậy thì luôn
luôn là tội ác - Cimourdain nói.
Marat quay lại phía Cimourdain:
- Nếu một ông tướng cộng hòa thả một tên tướng bảo hoàng thì
ông xử trí thế nào?
- Tôi theo ý kiến của Léchelle, tôi cho bắn.
- Hoặc chém đầu. - Marat nói.
- Tùy đó. - Cimourdain nói.
Danton cười:
- Tôi thì cách nào cũng được.
- Anh thì chắc chắn sẽ được một trong hai cách đó. - Marat lẩm
bẩm.
Nói xong Marat thôi nhìn Danton, quay lại Cimourdain:
- Công dân Cimourdain, vậy nếu một vị tướng cộng hòa mà sa
ngã thì anh chặt đầu.
- Trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ.
- Thế thì - Marat lại tiếp - tôi đồng ý với Robespierre nên cử
công dân Cimourdain làm ủy viên đại diện Ủy ban cứu quốc bên cạnh viên chỉ huy
đoàn quân chinh phạt vùng bờ biển. Viên chỉ huy tên là gì nhỉ?
Robespierre trả lời:
- Đó là một người nguyên là quý tộc.
Rồi ông ta lục hồ sơ.
- Cứ giao quý tộc cho thầy tu giữ - Danton bảo - Tôi không
tin thầy tu khi chỉ có một mình họ; tôi không tin quý tộc khi chỉ có một mình họ.
Hai bên cùng ở với nhau thì tôi không sợ; bên này theo dõi bên kia, và thế là ổn.
Cimourdain, lúc bực mình thường cau mày, lúc này lại nhíu mày
mạnh hơn; nhưng rồi cũng thấy câu nhận xét căn bản là đúng, nên ông ta không
quay lại phía Danton và cất giọng nghiêm khắc:
- Viên tướng cộng hòa giao cho tôi giám sát mà sa ngã thì tử
hình.
Robespierre mắt nhìn hồ sơ, nói:
- Có tên đây rồi. Công dân Cimourdain, viên chỉ huy mà ông được
toàn quyền ủy thác là một tử tước lên là Gauvain.
Cimourdain tái mặt.
- Gauvain! - Ông ta thốt lên.
Marat đã thấy mặt Cimourdain tái đi.
- Tử tước Gauvain! - Cimourdain nhắc lại.
- Vâng - Robespierre nói.
- Thì sao? - Marat vừa hỏi vừa chăm chú nhìn Cimourdain.
Một lát sau, Marat tiếp:
- Công dân Cimourdain, theo những điều kiện mà chính anh đã
nêu ra, anh có nhận nhiệm vụ ủy viên đại diện bên cạnh viên chỉ huy Gauvain
không? Được chứ?
- Được! - Cimourdain trả lời.
Ông ta mỗi lúc một xanh nhợt thêm. Robespierre cầm chiếc bút
đặt ở bên cạnh, viết chậm rãi và nắn nót bốn hàng chữ trên tờ giấy có in sẵn
tiêu đề Ủy ban cứu quốc và ký tên rồi chuyển cả giấy bút cho Danton;
Danton ký tiếp; sau cùng là Marat, từ nãy vẫn không rời mắt khỏi nét mặt tái nhợt
của Cimourdain.
Robespierre cầm lại giấy, ghi ngày, rồi trao cho Cimourdain.
Ông này đọc:
CỘNG HÒA NĂM THỨ II
Nay trao toàn quyền cho công dân Cimourdain, ủy viên đại diện của Ủy ban Cứu quốc
bên cạnh công dân Gauvain, chỉ huy đội quân chinh phạt thuộc binh đoàn duyên hải.
Robespierre - Danton - Marat
Và dưới các chữ ký:
Ngày 28 tháng 6 năm 1793
Cuốn lịch cách mạng, cũng gọi là lịch phổ thông, hồi bấy giờ
chưa chính thức dùng, mãi đến ngày 5 tháng 10 năm 1793 mới được Viện Quốc ước
thông qua theo đề nghị của Romme 27 .
Trong lúc Cimourdain đọc, Marat vẫn nhìn ông ta. Marat nói nhỏ
như nói với mình:
- Phải đem xác định cái đó bằng một sắc luật của Viện Quốc ước
hoặc một nghị định đặc biệt của Ủy ban cứu quốc. Cần phải bổ sung đấy.
- Công dân Cimourdain, anh ở đâu? - Robespierre hỏi.
- Tòa án thương mại.
- Kìa, tôi cũng ở đấy, anh là láng giềng của tôi - Danton
nói.
Robespierre tiếp:
- Thì giờ gấp rút. Ngày mai anh sẽ nhận được lệnh ủy nhiệm
theo đúng thể thức có chữ ký của tất cả các thành viên Ủy ban cứu quốc. Giấy
này xác định lệnh ủy nhiệm, lệnh ấy sẽ đặc biệt giới thiệu anh với các vị đại
biểu đang công cán ở dưới ấy như Philippeaux, Prieur De La Marne, Lecointre,
Alquier và những người khác. Chúng tôi biết anh như thế nào rồi. Quyền lực của
anh là vô hạn. Anh có thể đề bạt Gauvain làm đại tướng hoặc đưa anh ta lên máy
chém. Anh sẽ nhận ủy nhiệm thư ngày mai, đúng ba giờ. Bao giờ thì anh đi?
- Đúng bốn giờ. - Cimourdain trả lời.
Và họ chia tay nhau.
Về nhà, Marat báo trước cho Simonne Evrard 28 ngày
hôm sau ông ta sẽ đi họp ở Viện Quốc ước.
--------------------------------
|
Minos, Eaque, et Rhadamante (nguyên văn là tên ba vị
quan tòa dưới âm phủ theo thần thoại Hy Lạp. |
|
|
Garat là Bộ trưởng Bộ Nội vụ. Clavière là Bộ trưởng Bộ Tài
chính. Trong nội các đầu tiên của phái Girondin, bị bắt với các bạn hữu, ông
ta tự sát. Cái đêm hãi hùng nói ở đây là đêm trước ngày sụp đổ của phái
Girondin ngày 31 tháng 5 năm 1793. |
|
|
Luther (1483 - 1546 : Tu sĩ người Đức chủ trương cải cách
Cơ Đốc giáo. |
|
|
13-07-1793: Marat bị Charlotte Corday hạ sát bằng dao găm
khi đang tắm để trả thù cho những người thuộc phái Girondin bị Marat khủng bố. |
|
|
Magna tes tantur voceper umbras (nguyên văn, tiếng
La-tinh có nghĩa là "xin các người chứng minh cho, bằng tiếng lớn vang
qua bóng tối". Tác giả chuyển một câu thơ của Virgile trong tập Enéide
VI. Một người bị hành tội ở địa ngục gọi những người xung quanh làm chứng
"với giọng lớn âm vang trong bóng tối". Câu này ăn khớp với tiêu mục
trước, nói đến ba vị quan tòa ở âm phủ. |
|
|
Nguyên văn: "Dân Vendée và bọn Anh, đó là Bretagne với
Bretagne". Nước Anh trong tiếng Pháp là Grande-Bretagne. |
|
|
Nguyên văn: "Những quân thô bỉ ở Finistère nói cùng một
thứ tiếng với bọn chó chết ở Cornouailles". Finistère là miền duyên hải
xứ Vendée, đối diện với nước Anh, Cornouailles là một địa phương nước Anh. |
|
|
Một trong những người cầm đầu bọn Chouan. |
|
|
Tướng Anh. |
|
|
Tướng Pháp. Sau khi thắng quân Phổ năm 1792 ở Valmy và
Jemmapes, ông ta kéo quân sang chiếm luôn nước Bỉ. Bị viện Quốc ước cách chức,
ông ta quy hàng giặc. |
|
|
Chó giữ cửa âm phủ trong thần thoại Hy Lạp. |
|
|
Một đồng écu bằng ba đồng franc. |
|
|
Ngày quần chúng cách mạng phá ngục Bastille. |
|
|
06-10-1789: Ngày nổ ra cuộc biểu tình khổng lồ của quần
chúng Paris. Đoàn biểu tình tiến về Versailles. Vua Louis XVI trước đó vẫn cứ
ở Versailles, sau ngày này đã phải về ở điện Tuileries, gần sự kiểm soát của
Paris hơn. |
|
|
20-06-1792: Ngày nổ ra cuộc biểu tình lớn của nhân dân
Paris bao vây điện Tuileries, vua Louis XVI hôm đó phải đội mũ đỏ cộng hòa và
hô to khẩu hiệu hoan nghênh Cách mạng. |
|
|
10-08-1792: Nhân dân Paris nổi dậy chiến đấu gây áp lực với
Viện Quốc ước. Kết quả trực tiếp là tổ chức công xã cách mạng ra đời, nền
quân chủ sụp đổ hoàn toàn. |
|
|
Từ 1806 đã trở thành quảng trường Tòa Thị Chính, nơi đây hồi
trước xử tử những kẻ trọng tội. |
|
|
Bản tuyên ngôn do quận công Brunswick, đại tướng nước Phổ,
tổng chỉ huy các lực lượng chiến đấu chống Cách mạng Pháp. Bản tuyên ngôn này
rất láo xược, đã làm cho quần chúng và Quốc hội lập pháp (1792 bất bình, do
đó đã dẫn đến hành động quyết liệt ngày 10-08-1792. |
|
|
Mưu sát Louis XV, bị xử tội ngựa xé xác. |
|
|
Một thành phố Đức sát biên giới Pháp, nơi tập trung quý tộc
lưu vong và quân đội nước ngoài can thiệp vào Cách mạng Pháp. |
|
|
Theo kinh thánh, Caïn là con cả của Adam và Eva. Phạm tội
giết em, Chúa phạt Caïn làm cho ở trán có khắc câu hỏi: "Caïn, ngươi đã
làm gì anh ngươi?" Caïn bị lương tâm đày đọa suốt đời. |
|
|
Anacharsis Cloots (1755 - 1794 : Quý tộc Pháp, nguồn gốc là
người Phổ, đại biểu trong Quốc hội quốc ước, bị xử tử cùng với Hébert, người
chủ trương báo Père Duchesne. |
|
|
Roland (1734 - 1793 : Chồng bà Roland, Bộ trưởng Bộ Nội vụ
năm 1792, nghe tin vợ bị xử tử cũng tự tử theo. Hai vợ chồng cùng ở phái
Girondin. |
|
|
Quý tộc, trước là một tay ăn chơi, về sau theo Cách mạng,
làm đến chức tướng, đổi tên là Biron. |
|
|
Tức là anh em Tiberius và Caius, nhân vật chính trị cổ La
Mã đã có những cải cách chính trị và xã hội, nhất là cải cách về chế độ chiếm
hữu ruộng đất. |
|
|
Léchelle trùng âm với từ "cái thang", và
Charette, một tướng Vendée, trùng âm với từ "xe chở có càng". |
|
|
Charles Romme (1750 - 1795 : Đại biểu trong Viện Quốc ước,
có sáng kiến làm lịch cách mạng. Các tháng chia theo nông lịch hoặc thời tiết
như: tháng Sương Mù, tháng Nảy Mầm, tháng Nóng Nực v.v... |
|
|
Tình nhân của Marat. |
Quyển ba
Viện Quốc ước
I
Viện Quốc ước
1.
Chúng ta đến gần cái đỉnh cao vĩ đại.
Đấy là Viện Quốc ước.
Tầm mắt sững lại khi đứng trước ngọn núi ấy.
Chưa hề có cái gì xuất hiện với tầm cao hơn thế, trên đường
chân trời của loài người.
Có đỉnh Himalaya và có Viện Quốc ước.
Viện Quốc ước có lẽ là đỉnh cao nhất của lịch sử.
Hồi còn sinh thời, Viện Quốc ước - vì một nghị hội cũng có đời
sống của nó - không ai biết rõ nó ra sao. Cái mà người đương thời bỏ sót chính
lại là tầm vĩ đại của nó; người ta khiếp sợ quá nên bị quáng mắt. Tất cả cái gì
vĩ đại cũng có một vẻ ghê sợ thiêng liêng. Ngắm những cái tầm thường và những
ngọn đồi là một việc dễ; nhưng nhìn thật sát cái gì cao quá, một thiên tài hoặc
một ngọn núi, một nghị viện hoặc một kiệt tác, tất phải ngốt sợ. Đỉnh cao nào
cũng hình như là một sự thái quá. Trèo lên rất mệt. Leo dốc thì đứt hơi; xuống
dốc thì trượt chân, đá lởm chởm là thắng cảnh đấy nhưng đụng đến thì trầy da
rách thịt; thác nước nổi bọt báo trước những vực sâu, mây dù che khuất đỉnh
núi; trèo lên cũng khủng khiếp như khi ngã xuống. Do đó, mà kinh sợ hơn là
chiêm ngưỡng. Người ta cảm thấy tâm trạng kỳ dị này, lòng ác cảm đối với cái lớn
lao, thấy vực thẳm không thấy cảnh hùng vĩ, thấy quái vật không thấy thần kỳ.
Buổi đầu người ta đánh giá Viện Quốc ước như vậy. Viện Quốc ước sinh ra cho những
con đại bàng ngắm nghía, nhưng lại bị những kẻ cận thị trố mắt nhìn.
Ngày nay, thuộc về viễn cảnh, Viện Quốc ước đang vẽ lên trên
nền trời sâu thẳm, trong một xa xăm yên tĩnh và bi đát cái bóng dáng vĩ đại của
cuộc Cách mạng Pháp.
2.
Ngày 14 tháng 7 đã giải phóng.
Ngày 10 tháng 8 1 đã
giáng đòn sấm sét.
Ngày 21 tháng 9 2 xây
dựng.
Ngày 21 tháng 9, ngày thu phân, ngày ổn định. Libra. Cân
đối. Theo nhận xét của Romme, nước cộng hòa được thành lập dưới biểu tượng Bình
Đẳng và Công Lý. Một chùm sao sáng báo trước sự kiện đó.
Viện Quốc ước là hóa thân đầu tiên của nhân dân. Chính từ đó,
một trang sử mới mở và từ đó bắt đầu một ngày mai đổi mới.
Bất kỳ một tư tưởng nào cũng phải có một vỏ ngoài trông thấy
được; bất kỳ nguyên tắc nào cũng cần một hình thức chứa đựng; một ngôi nhà thờ,
đó là Chúa ở giữa bốn bức tường; bất kỳ giáo lý nào cũng cần có điện thờ. Khi
Viện Quốc ước hình thành, một vấn đề đầu tiên phải giải quyết, đó là vấn đề trụ
sở.
Đầu tiên, người ta lấy cung Quần Ngựa, sau đến điện
Tuileries.
Ở đó người ta dựng lên một cái khung, một cảnh trí, một bức họa
lớn màu xám do David vẽ, xếp những hàng ghế cân đối, một diễn đàn hình vuông,
những hàng trụ vuông song song, những bộ kê chân cột như những cái thớt, những
lớp ván ghép thẳng tắp ngăn thành những ô vuông thường đông nghịt người và được
gọi là khán đài công chúng, bên trên căng rạp kiểu nhà hát La Mã, xung quanh
che màn rủ xếp nếp kiểu Hy Lạp; bên trong những góc vuông và đường thẳng ấy,
người ta đặt Viện Quốc ước; trong cái khung hình học ấy người ta làm mưa làm
bão. Trên diễn đàn đặt chiếc mũ đỏ sơn màu xám. Phái bảo hoàng mới đầu chế diễu
cáu mũ đỏ xám, căn phòng giả tạo, tòa lâu đài bằng bìa cứng, điện thờ bằng giấy
ép, đền đài bằng bùn và nước bọt ấy. Tất cả những cái trò chẳng mấy chốc mà tan
tành! Cột thì bằng vỏ thùng ghép lại, trần khum khum lát gỗ mỏng hình chạm nổi
bằng mát-tít, xà bằng gỗ thông, tượng bằng thạch cao, đá hoa vẽ bằng sơn, tường
bằng vải. Và trong cái tạm bợ ấy, nước Pháp đã làm nên sự nghiệp vĩnh cửu.
Khi Viện Quốc ước mới đến họp, tường vách của cung Quần Ngựa
còn phủ đầy những khẩu hiệu đã từng làm ngập cả thành phố Paris vào thời kỳ
Louis XVI bị bắt từ Varennes về. Có những khẩu hiệu như: Vua trở về - Ai vỗ
tay sẽ đánh đòn. Ai lăng mạ sẽ treo cổ - Yên lặng. Cứ để nguyên mũ trên đầu. Nó
sắp phải ra tòa - Vua đã nhằm bắn vào quốc dân. Y đã bắn không chùn tay; bây giờ
đến lượt quốc dân bắn - Pháp luật! Pháp luật! Chính giữa những bức tường ấy,
Viện Quốc ước đã xử án Louis XVI.
Ở điện Tuileries, nơi Viện Quốc ước tới họp ngày 10 tháng 5
năm 1793, và được gọi là Cung Điện Quốc Gia, phòng họp chiếm cả khoảng từ cung
Đồng Hồ, đổi tên thành cung Thống Nhất, tới cung Marsan, từ nay gọi là cung Tự
Do. Còn cung Flore nay gọi là cung Bình Đẳng. Một cầu thang lớn, do Jean
Bullant vẽ kiểu, dẫn tới phòng họp. Dưới tầng gác làm phòng họp là một phòng
dài chất đầy những bó súng dựng chụm nòng vào nhau và giường nằm của đủ các binh
chủng bảo vệ cho Viện Quốc ước. Quốc hội có một đội danh dự gọi là "đội
pháo thủ của Viện Quốc ước".
Một tấm băng tam tài ngăn cách lâu đài, là nơi hội họp, với
vườn hoa, nơi dân chúng qua lại.
Hãy nói nốt về phòng họp ấy. Trong cái phòng ghê gớm ấy, cái
gì cũng hấp dẫn.
3.
Cái mà, mới bước vào, ai cũng phải chú ý đến ngay là bức tượng
thần Tự Do cao lớn đặt đứng giữa hai khung cửa sổ rộng.
Bốn mươi hai mét chiều dài, mười mét chiều ngang, mười một
mét chiều cao, đó là kích thước của cái nơi xưa kia là vũ đài của nhà vua, và
ngày nay là vũ đài của cách mạng. Căn phòng lịch sự và lộng lẫy, vốn được
Vigarani xây dựng cho bọn quần thần đến năm 93 biến mất dưới bộ khung nhà man rợ
để đương lấy sức nặng của quần chúng. Một chi tiết đáng ghi ở đây là bộ khung
nhà, trên đặt khán đài công chúng, chỉ có một cây cột chống đỡ. Cột ấy là một
cây gỗ nguyên, cao tới mười thước. Ít có cột nhà nào mà đã phải làm việc nặng
nhọc bằng cây cột ấy; bao năm ròng nó đã phải chịu đựng sức xô đẩy của bao cuộc
cách mạng: hoan hô có, nhiệt thành có, nguyền rủa có, có những lúc ồn ào, hỗn độn,
giận dữ và cả bạo động nữa. Nó vẫn đứng vững. Sau Viện Quốc ước, nó còn được chứng
kiến Hội đồng kỳ cựu 3 .
Đến ngày 18 tháng Sương Mù mới thay cột khác.
Lúc bấy giờ Percier 4 đem
thay cột gỗ bằng những cột cẩm thạch, những cột này lại chẳng được bền bằng cái
cột gỗ cũ.
Quan niệm của các nhà kiến trúc đôi khi thật độc đáo; nhà kiến
trúc phố Rivoli thích kiểu đường đạn đại bác, nhà kiến trúc ở Carlsruhe thích
kiểu lài quạt; kiểu ngăn kéo tủ ngăn khổng lồ có lẽ là kiểu lý tưởng của nhà kiến
trúc đã xây dựng phòng họp Viện Quốc ước khai mạc ngày 10 tháng 5 năm 1793; nó
vừa dài, vừa cao, lại vừa phẳng lì. Dựa vào một cạnh của hình bình hành ấy, có
một khoảng rộng hình bán nguyệt, đó là hội trường xếp đầy ghế dài cho đại biểu
ngồi, chẳng có bàn, có yên viết gì cả; Garan-Coulon, vốn hay viết, cứ phải tỳ
lên đầu gối mà ghi; trước các dãy ghế là diễn đàn; đằng trước diễn đàn là tượng
bán thân của Lepelletier - Saint-Fargo 5 ;
đằng sau diễn đàn là ghế của chủ tịch. Đầu bức tượng cao hơn bàn diễn đàn một
chút; do đó ít lâu sau người ta cất bức tượng ấy đi.
Hội trường gồm có mười chín chiếc ghế dài hình vành cung xếp
cái sau cao hơn cái trước; lại có những chiếc ghế dài mở rộng thêm hội trường
ra hai góc phòng.
Phía dưới, trong vành móng ngựa ở ngay chân diễn đàn là chỗ
các tùy phái viên.
Ở một bên diễn đàn, trong một khung gỗ đen có đóng áp tường một
tấm bảng cao chín pi-ê 6 vẽ
hai trang sách giữa có hình quyền trượng, trên đó ghi bản Tuyên ngôn Nhân quyền;
ở phía bên kia là khoảng trống, về sau này cũng có một cái khung tương tự chép
Hiến pháp năm thứ II, giữa hai trang hiến pháp vẽ một thanh kiếm. Bên trên diễn
đàn, trên đầu diễn giả, từ một phòng hai ngăn đầy dân chúng, nhô ra ba cây cờ
tam tài rất lớn xếp gần như nằm ngang tựa trên một chiếc bàn thờ, ở đó có viết
hai chữ: Pháp Luật. Đằng sau bàn thờ dựng một chiếc rìu cổ La Mã 7 cao
bằng một cây cột, trông giống như một người lính bảo vệ tự do ngôn luận.
Những bức tượng lớn dựng thẳng vào tường đối diện với các đại
biểu. Bên phải chủ tịch; là tượng của Lycurgue và bên trái là của Solon, trên đầu
chỗ phái Montagnard ngồi là bức tượng của Platon 8 .
Những bức tượng ấy có những bệ đơn giản đặt trên một đường gờ
xây nhô ra ngoài và làm thành một dãy vành đai quanh phòng họp, ngăn dân chúng
với hội nghị. Khán giả ngồi chống cùi tay vào cái gờ tường ấy.
Trên đầu các bức tượng có đặt những vòng lá sồi và lá nguyệt
quế xen lẫn nhau.
Một tấm màn màu lục nhạt cũng vẽ những vòng hoa đó bằng màu lục
đậm hơn, từ mô tường rủ xuống những nếp lớn che kín xung quanh hội trường. Phía
trên bức màn ấy, tường trắng toát và lạnh lẽo.
Khán giả ở tầng dưới đứng tràn bên ngoài hoặc xúm lại cả ở những
chỗ xây chạm nổi. Tầng trên có một thanh sắt dài gắn thật vững vừa tầm tay vịn
và giữ cho khán giả khỏi bị người ở tầng dưới xô lên chen lấn. Tuy vậy, đã có lần
có người bị đẩy rơi xuống giữa hội nghị; người đó ngã vào Massieu, giám mục xứ
Beauvais, may mà không chết lại còn đùa: "Ồ! Thì ra một giám mục cũng có
khi được việc đấy chứ!"
Phòng họp của Viện Quốc ước có thể chứa được hai nghìn người,
và trong những ngày biến động lớn, có thể chứa được ba nghìn.
Viện Quốc ước họp hai buổi, một buổi sáng, một buổi tối.
Ghế vị chủ tịch hình tròn, đóng đanh mạ vàng.
Trên bàn chủ tịch có một cái chuông lắc khá lớn, gần bằng một
cái chuông treo, một bình mực to bằng đồng và một quyển sổ biên bản khổ rộng
đóng bìa da.
Đầu những kẻ bị chém cắm vào những ngọn dáo dài, đã từng nhỏ
máu lên trên bàn này.
Người ta trèo lên diễn đàn bằng một cái thang chín bậc. Bậc
cao và dốc, rất khó lên; một hôm, Gensonné trèo lên bị vấp. Ông ta nói:
"Đúng là cầu thang lên đoạn đầu đài!" Carrier đáp lại: "Cứ tập dần
đi".
Trong các góc phòng, ở những chỗ tường có vẻ trống trải, các
nhà kiến trúc đã trang trí thêm những nghi trượng với lưỡi rìu đặt quay ra
ngoài.
Ghế đại biểu sắp hàng gần sát gờ tường khán đài, đại biểu và
dân chúng có thể trò chuyện với nhau. Lối ra của các khán đài ăn thông vào các
dãy hành lang khúc khuỷu chằng chịt, đôi khi đầy những tiếng ồn ào ghê sợ.
Viện Quốc ước đóng chật cung điện và tràn ra các dinh thự bên
cạnh; dinh Longueville, dinh Coigny. Cứ theo một lá thư của nhà quý tộc Anh
Bradford, thì sau hôm 10 tháng 8, người ta chuyển hết đồ đạc của Louis XVI sang
dinh Coigny. Phải hai tháng mới dọn hết cung điện Tuileries.
Các ủy ban cũng bố trí ở gần phòng lớn; các ban lập pháp,
canh nông và thương mại ở cung Bình đẳng; hải quân, thuộc địa, tài chính, tín
phiếu, Ủy ban cứu quốc ở cung Tự Do; Ủy ban chiến tranh ở cung Thống Nhất.
Ủy ban tổng an ninh liên lạc thẳng với Ủy ban cứu quốc qua một
đường hành lang tối om suốt ngày đêm phải thắp một ngọn đèn dầu, ở đây thường
lai vãng bọn mật thám của các phe phái. Người ta chỉ thì thầm với nhau.
Các vị đại biểu vào thẳng trong phòng lớn qua một cái cửa
nhìn ra chỗ phái Feuillant 9 .
Phòng lớn, ban ngày thì ánh sáng lọt qua cửa sổ rọi vào mờ mờ,
chập tối thì ánh đèn nến vàng nhợt, nên khi nào cũng như ban đêm. Ánh sáng mờ mờ
ấy cộng với bóng tối buổi chiều làm cho những buổi họp dưới ánh đèn có vẻ ghê rợn.
Người ta chẳng nhìn thấy nhau; từ đầu phòng đến cuối phòng, từ tả qua hữu, những
nhóm người không rõ mặt nhau cũng cứ chửi nhau. Họ gặp nhau nhưng chẳng nhận ra
nhau. Một hôm, Laignelot chạy lên diễn đàn, vấp phải một người đang đi xuống, vội
kêu: "Xin lỗi, Robespierre!" "Anh cho tôi là ai?" Một giọng
khàn khàn đáp lại. Laignelot tiếp: "Xin lỗi, Marat".
Ở tầng dưới, bên phải và bên trái chủ tịch có hai khán đài đặc
biệt; vì điều lạ là ở Viện Quốc ước vẫn có những vị khách có đặc quyền tới tham
dự. Chỉ những khán đài này mới có màn diềm; từ trên đầu tường cuốn hai núm tua
vàng buộc vén bức màn đó lên. Chỗ nhân dân ngồi để trần.
Toàn cảnh trông dữ dội, man rợ và nghiêm trang. Vẻ chỉnh tề
trong cái hung dữ; một phần nào cũng là hình ảnh của tất cả cuộc cách mạng.
Phòng họp của Viện Quốc ước là kiểu mẫu đầy đủ nhất của cái mà các nghệ sĩ gọi
là "kiến trúc Messidor 10 "
vừa đồ sộ, vừa mảnh dẻ. Hồi đó, các kiến trúc sư lấy cân đối làm đẹp. Thời
Louis XV là đỉnh cao nhất của nghệ thuật phục hưng và bây giờ đã có những quan
điểm ngược lại. Người ta đã đẩy cái thanh cao đến chỗ nhạt nhẽo, và sự thuần
khiết đến chỗ buồn tẻ. Trong khoa kiến trúc cũng có chuyện e dè, nghiêm cẩn.
Sau những thời kỳ no say hình sắc lộng lẫy chói mắt của thế kỷ thứ mười tám,
nghệ thuật bèn chuyển sang chay tịnh, đạm bạc, và chỉ tự cho phép dùng có đường
thẳng mà thôi. Cái lối tiến bộ này đưa đến xấu xí. Nghệ thuật rút lại còn bộ
xương, sự tình là vậy. Đó là tai hại của những thứ khôn ngoan và tiết chế kia;
kiến thức đơn giản đến nỗi trở thành gầy gò.
Ngoài tất cả các cảm xúc chính trị, và chỉ nhìn về nghệ thuật
kiến trúc, một cảm giác rùng mình toát ra từ cái phòng họp này. Người ta mang
máng nhớ lại cái nhà hát cũ, nào là những căn phòng kết hoa, trần nhà xanh đỏ,
thứ đèn nhiều ngọn nhiều mặt kính nhỏ, những cọc đèn lấp lánh như kim cương, những
tấm màn thắt cổ bồ câu, hình vẽ đầy rẫy thần ái tình và lâm tuyền tiên nữ trên
các màn che, trướng rủ, tất cả bản tình ca vương giả vẽ thành tranh, chạm hình
nổi thiếp vàng, đã đem nụ cười tươi tắn lấp đầy cái khung cảnh nghiêm trang
này; giờ đây, người ta chỉ thấy quanh mình những góc cạnh cứng, thẳng, lạnh
lùng và sắc như thép; như thể Boucher 11 bị
David 12 chém
đầu.
4.
Ai được tham dự hội nghị thì không tưởng gì tới phòng họp nữa.
Ai theo dõi tấn kịch thì không nghĩ tới nhà hát nữa. Chẳng có gì dị hình dị tướng
và hùng vĩ bằng. Vô số anh hùng, một bầy hèn nhát. Một đàn thú dữ trên rừng, một
bầy rắn rết trong đầm lầy, những chiến sĩ giờ đây đã thành người thiên cổ đã
chen chúc nhau, thích cánh nhau, khiêu khích nhau, hăm dọa nhau, chống lại nhau
và cùng sống ở nơi đây.
Một tập thể vĩ đại.
Bên hữu là phái Girondin, đội ngũ những nhà tư tưởng, bên tả
là phái Montagnard, nhóm lực sĩ. Một bên, có Brissot, người đã tiếp nhận chìa
khóa ngục Bastille; Barbaroux, người được dân Marseille phục tùng; Kervélégan,
nắm trong tay tiểu đoàn Brest đóng ở ngoại ô Saint-Marceau; Gensonné, người đã
thiết lập ưu thế của các nghị sĩ trong các tướng lĩnh; Guadet, con người nguy
hiểm, một đêm kia trong điện Tuileries đã được hoàng hậu cho xem hoàng tử đang
ngủ, đã hôn trán đứa bé và sau đó làm rơi đầu người cha; Salles, người đã vu
cáo hão huyền sự liên hệ mật thiết giữa phái Montagnard và nước Áo; Sillery,
anh thọt của phe hữu cũng như Couthon là anh què của phe tả; Lause-Duperret,
người đã bị một nhà báo gọi là gian hùng, mời ngay nhà báo kia đi ăn rồi bảo:
"Tôi biết gian hùng chỉ có nghĩa rất đơn giản là người không
suy nghĩ như chúng ta"; Rabaut-Saint-Etienne, người đã mở đầu quyển thông
lịch năm 1790 bằng câu: "Cách mạng đã chấm dứt"; Quinette, một trong
những tay lật đổ Louis XVI; Camus thuộc giáo phái Janséniste, người thảo ra điều
ước công dân của giáo sĩ, mê tín những phép lạ của thầy trợ tế Pâris 13 và
đêm nào cũng quỳ trước một bức tượng Đức Chúa cao bảy pi-ê đóng ở trên tường
trong phòng ông ta; Fauchet, một thầy tu đã cùng Camille Desmoulins tổ chức
ngày 14 tháng 7; Isnard, người đã phạm tội vì đã nói: "Paris sẽ tan
nát", cùng lúc với tên tướng Phổ Brunswick nói: "Paris sẽ bị thiêu hủy";
Jacob Dupont, người đầu tiên đã kêu lên: "Tôi là vô thần" và đã nghe
Robespierre trả lời: "Vô thần là quý tộc". Lanjuinais, một đầu óc cứng
rắn, khôn ngoan và dũng cảm, quê ở Bretagne; Ducos, Euryale 14 của
Boyer- Fonfrède 15 ;
Rebecqui, Pylade 16 của
Barbaroux, đã từ chức chỉ vì Robespierre chưa bị chém; Richaud, đã chống lại việc
lập những tiểu đội cảnh vệ thường trực; Lasource, người đã tung ra câu châm
ngôn nguy hiểm: "Tai vạ cho những dân tộc biết ơn!" và khi sắp bước
lên đoạn đầu đài lại tự nói trái lại bằng một câu nói kiêu hãnh ném vào mặt
phái Montagnard: "Chúng tôi chết vì dân chúng còn mê ngủ, và các anh sẽ chết
vì dân chúng sẽ thức tỉnh"; Biroteau, đã đưa ra lệnh hủy bỏ quyền bất khả
xâm phạm của nghị sĩ và như vậy, đã vô tình rèn lưỡi dao và dựng đoạn đầu đài
cho chính mình; Charles Villatte, người đã biết bảo vệ lương tâm mình dưới câu
phản kháng: "Tôi không muốn bỏ phiếu dưới lưỡi dao"; Louvet, tác giả
cuốn Faublas cuối cùng phải mở hàng bán sách ở Hoàng Cung cùng với
Lodoïska ngồi quầy thu tiền; Mercier, tác giả cuốn Cảnh Paris, đã kêu lên:
"Tất cả các vua chúa đã cảm thấy ngày 21 tháng 1 17 ở
trên gáy họ"; nhà báo Carra, người đến dưới chân máy chém rồi còn nói với
đao phủ: "Chết thì phiền thật. Tôi còn muốn xem tiếp đoạn sau";
Vigée, người tự xưng là pháo thủ ở tiểu đoàn hai quận Mayenne-et-Loire, khi bị
công chúng ở các khán đài đe dọa đã kêu lên: "Tôi yêu cầu hễ có tiếng rì rầm
ở các khán đài thì chúng ta sẽ rút lui hết và tay cầm kiếm tiến ngay tới điện
Versailles"; Buzot, người đã bị xử bắt phải chết đói; Valazé, sau này sẽ tự
sát với con dao của mình; Condorcet, về sau chết ở phố Bourg-la-Reine, sau đổi
tên là phố Bình Đẳng, vì tội bỏ quyển sách Horace trong túi; Pétion,
mà số phận là được quần chúng tôn thờ vào năm 1792 và bị chó sói ăn thịt vào
năm 1794; hai mươi người nữa, Pontécoulant, Marboz, Lidon, Saint-Martin,
Dussaulx, người dịch sách Juvénal và đã dự trận Hanovre, Boileau, Bertrand,
Lesterp-Beauvais, Lesage, Gomaire, Gardien, Mainvielle, Duplantier, Lacaze,
Antiboul, và đứng đầu phái này là Barnave, thường gọi là Vergniaud.
Bên kia, có Antoine-Louis-Léon Florelle Saint-Just, người
xanh xao, trán thấp, đứng đắn, mắt bí hiểm, u sầu, hai mươi ba tuổi; Merlin de
Tionville, người mà quân Đức gọi là "quỷ lửa"; Merlin de Douai, kẻ thủ
phạm đã thảo ra đạo luật trừng trị những người bị tình nghi; Soubrany, người đã
được dân chúng Paris, ngày 1 tháng Thảo Nguyên 18 yêu
cầu giữ chức tướng; Lebon, nguyên là thầy tu mà bàn tay trước đầy rẫy nước
thánh bây giờ lại cầm kiếm; Billaud-Varennes, người đã dự đoán tổ chức tòa án
tương lai sẽ không có quan tòa mà chỉ có trọng tài; Fabre D’Eglantine, người đã
có một sáng kiến thú vị là cuốn lịch cộng hòa cũng như Rouget de Lisle đã có một
cảm hứng siêu việt là bài ca Marseillaise, nhưng cả hai người sau đó chẳng làm
được gì hơn; Manuel, chánh án của Công xã, người đã nói: "Một tên vua chết
đi chẳng phải là bớt đi một người"; Goujon, người đã từng tiến quân vào
Tripstadt, Newstadt và Spire, và đã thấy quân Phổ thua chạy; Lacroix, trạng sư
trở thành đại tướng và được thưởng bội tinh Thánh Louis sáu ngày trước ngày 10
tháng 8; Fréron-Thersite, con trai của Fréron-Zoïle; Rulh, có duyên tiền định với
cuộc tự sát vĩ đại của nền cộng hòa, sau này tự vẫn ngày cộng hòa sụp đổ; Fouchet,
tâm địa quỷ quái, mặt như xác chết; Camboulas, bạn của bố Duchesne, người đã từng
nói với Guillotin 19 :
"Anh thì ở phái Feuillant, mà cô con gái anh 20 thì
ở phái Jacobin"; Jagot, người đã trả lời những ai than phiền về việc tù
nhân không có quần áo: "Nhà tù đã là áo bằng đá rồi"; Javogues, con
người ghê tởm chuyên khai quật mồ mả ở nghĩa địa Saint-Denis; Osselin, người
truy nã bọn phản bội mà lại che giấu một người tình nghi là vợ Charry trong nhà
mình; Bentabolle mỗi lần ngồi chủ tọa vẫn cứ ra hiệu cho cử tọa hoan hô hoặc la
ó; nhà báo Robert, mà cô vợ là tiểu thư Kéralio đã từng viết: "Cả
Robespierre lẫn Marat, chẳng ai tới nhà tôi; Robespierre rồi sẽ tới, khi ông muốn,
Marat thì chẳng bao giờ"; Garan-Coulon, người đã khẳng khái yêu cầu đại hội
không thèm đọc bức thư của một tên vua nọ bênh vực cho một tên vua kia hồi Tây
Ban Nha can thiệp vào vụ án của Louis XVI; Grégoire, giám mục, lúc đầu thật xứng
đáng với nhà thờ nguyên thủy nhưng về sau, dưới thời đế chế, ông ta từ bỏ con
người cộng hòa của mình để trở thành bá tước Grégoire; Amar, người đã nói:
"Cả trái đất này kết án Louis XVI. Còn chống án lên đâu? Lên các hành
tinh"; Rouyer, người chống lại việc bắn súng đại bác ở Pont-Neuf ngày 21
tháng 1 và nói: "Một cái đầu vua rơi xuống cũng không được chấn động nhiều
hơn đầu kẻ khác"; Chénier, anh của André; Vadier, một trong những người hễ
bước lên diễn đàn là đặt súng lục lên bàn; Panis, người đã nói với Momoro:
"Tôi muốn Robespierre và Marat hôn nhau trong bàn tiệc ở nhà tôi".
"Anh ở đâu?" "Ở Charenton 21 ".
Momoro trả lời: "Ở nơi khác thì tôi mới ngạc nhiên"; Legendre, anh
hàng thịt của cách mạng Pháp, cũng như Pride là anh hàng thịt của cách mạng
Anh, đã có lần bảo Lanjuinais: "Lại đây ta đập chết mi". Ông này bèn
trả lời: "Hãy ra sắc luật bắt ta làm con bò đi đã"; Collot D’Herbois,
một kịch sĩ ghê rợn, đeo cái mặt nạ thời cổ có hai lỗ miệng biết nói Có và
Không cùng một lúc, vừa bài bác vừa tán thành, người đã làm nhục Carrier ở
Nantes và thách thức Châlier ở Lyon, đưa Robespierre lên máy chém và đưa Marat
vào điện Panthéon 22 ;
Génissieux, người đã đòi xử tử tất cả những ai đeo huy hiệu Louis XVI bị
khổ hình; Léonard Bourdon, giáo học, người đem nhà mình cho ông già ở
Mont-Jura; Topsent, thủy binh; Goupilleau, trạng sư; Laurent Lecointre, lái
buôn; Duhem, thầy thuốc; Sergent, người tạc tượng; David, họa sĩ,
Joseph-Egalité, hoàng thân. Còn những người khác nữa: Lecointe Puiraveau, người
đòi ra sắc luật tuyên bố Marat "ở trong tình trạng hỗn loạn thần
kinh"; Robert Lindet, người đã sáng tạo ra hình ảnh con bạch tuộc ghê gớm,
mà cái đầu là Ủy ban tổng an ninh, tỏa khắp nước Pháp đến hai mươi mốt ngàn
cánh tay mà người ta gọi là những Ủy ban cách mạng; còn Leboeuf, người đã được
nhà thơ Girey-Dupré tả trong bài Đêm Noël của những kẻ yêu nước giả hiệu là:
"Lebeuf thấy Legendre và kêu bò ò ò". 23
Thomas Payne, người Mỹ, và nhân từ; Anacharsis Cloots, người
Đức, là bá tước, triệu phú, vô thần, theo phái Hébert, hồn nhiên; Lebas, người
ngay thẳng, bạn của Duplay; Rovère, một trong số những người hiếm có ác để mà
ác, cũng như quan điểm nghệ thuật vị nghệ thuật vẫn có mà ta chẳng ngờ;
Charlier, người muốn người ta gọi bọn quý tộc là ông; Tallien, một người sướt
mướt và hung bạo, sau này sẽ làm cuộc đảo chính ngày 9 tháng Nóng vì tình yêu;
Cambacérès, một ông quan tòa cách mạng về sau trở thành hoàng thân; Carrier,
cũng là một ông quan tòa, về sau trở thành hung dữ như con cọp; Laplanche, người
đã có lần thốt ra câu: "Tôi đòi quyền ưu tiên cho khẩu đại bác báo động";
Thuriot, người đã đề nghị các hội thẩm của Tòa án cách mạng phải biểu quyết
công khai; Bourdon De L’Oise người đã thách đọ súng với Chambon, tố cáo Payne,
về sau lại bị Hébert tố cáo; Fayau, người đề nghị gửi một "đoàn quân
chuyên đốt phá" đi Vendée; Tavaux, trong ngày 13 tháng 4 gần như là một
người đứng giảng hòa giữa phái Girondin và phái Montagnard; Vernier, người đã đề
nghị các thủ lĩnh phái Girondin cũng như phái Montagnard đi chiến đấu làm lính
trơn; Rewbell nằm lỳ ở tỉnh Mayence; Bourbotte, trong khi công phá thành
Saumur, ngồi trên ngựa, ngựa bị trúng đạn chết gục dưới chân; Guimberteau, chỉ
huy binh đoàn Bờ Biển Cherbourg; Panvilliers, chỉ huy binh đoàn Bờ Biển La
Rochelle; Lecarpentier, chỉ huy hạm đội Cancale; Roberjot, người sẽ bị phục
kích ở Rastadt; Prieur De La Marne trong các trại lính vẫn mang lon tiểu đội
trưởng cũ; Levasseur De La Sarthe, chỉ nói một tiếng cũng đủ làm cho Serrant,
chỉ huy tiểu đoàn Saint-Amand phải hy sinh; Reverchon, Maure, Bernard De
Saintes, Charles Richard, Lequinio, và đứng đầu cả nhóm đó là một thứ
Mirabeau 24 tên
gọi là Danton.
Đứng ra ngoài hai phái này và buộc họ phải nể, phải sợ mình,
là Robespierre.
5.
Bên dưới là những hạng người cúi rạp xuống, hoặc là nỗi kinh
hoàng, có thể là cao quý, hoặc vì nỗi sợ hãi hèn hạ. Dưới những dục vọng, những
cử chỉ anh hùng, những gương hy sinh tận tụy, những cơn thịnh nộ, là cái đám ảm
đạm gồm những người vô danh. Tầng lớp dưới của Quốc hội gọi là phái Đồng Bằng. Ở
đó có tất cả những cái gì bập bềnh, những kẻ hoài nghi, do dự, lùi bước, bỏ cuộc,
rình mò, sợ sệt lẫn nhau. Phái Montagnard là tầng lớp tinh hoa, phái Girondin
là tầng lớp tinh hoa, phái Đồng Bằng là đám người tầm thường. Phái Đồng Bằng
rút lại và kết tinh trong Sieyès 25 .
Sieyès, con người sâu sắc đã trở thành con người trống rỗng.
Ông ta dừng lại ở đẳng cấp thứ ba và chưa hề vươn được tới nhân dân. Có nhiều đầu
óc sinh ra để đứng ở lưng chừng như vậy. Sieyès gọi Robespierre là con hổ,
Robespierre gọi Sieyès là chuột chũi. Nhà học giả siêu hình này cuối cùng đã tiến
tới không phải là khôn ngoan, nhưng cẩn thận. Ông ta là người xu nịnh chứ không
phải là công bộc của cách mạng. Ông ta cũng cầm xẻng theo công chúng ra làm việc
ở công trường Mars, nhưng lại cùng đẩy xe với Alexandre De Beauharnais. Ông
khuyên người ta cần có nghị lực mà chính ông lại không có. Ông ta nói với phái
Girondin: "Hãy bắc súng của các anh lên". Có những nhà tư tưởng đồng
thời là những chiến sĩ như Condorcet, với Vergniau, hoặc Desmoulins, với
Danton. Nhưng có những nhà tư tưởng chỉ ham sống như Sieyès.
Thùng rượu tốt nhất cũng có cặn. Dưới phái Đồng Bằng lại còn
phái Đồng Lầy. Cái ao tù nước đọng ấy để lộ không biết bao nhiêu là con người
ích kỷ. Ở đó, những kẻ yếu bóng vía run cầm cập, lặng im chờ đợi. Không gì khốn
nạn bằng. Vô vàn điều ô nhục mà không một ai hổ thẹn; người ta phẫn nộ một cách
âm thầm; phản kháng dưới sự khuất phục, khiếp sợ một cách vô liêm sỉ, có tất cả
cái can đảm của những con người hèn nhát, thích phái Girondin nhưng lại chọn
phái Montagnard; kết cục là tùy ở họ nhưng họ hùa theo phái thắng thế; họ đã
giao Louis XVI cho Vergniaud, rồi giao Vergniaud cho Danton, giao Danton cho
Robespierre và giao Robespierre cho Tallien. Họ bêu riếu Marat khi còn sống, và
tôn lên bậc thánh khi ông ta đã chết. Họ ủng hộ tất cả cho đến ngày họ lật đổ tất
cả. Họ có cái bản năng xô đẩy cho lật nhào những cái gì đang lung lay. Theo họ,
có vững chắc thì họ mới cộng tác, lung lay là phản lại họ. Họ là số đông, họ là
sức mạnh, họ là những người nhút nhát. Từ đó sinh ra tính liều lĩnh khiến họ
làm những việc bỉ ổi.
Do đó mà có những ngày 31 tháng 5, ngày 11 tháng Nảy Mầm,
ngày 9 tháng Nóng; thắt nút các tấn bi kịch là những con người vĩ đại và mở nút
là lũ thấp hèn.
6.
Trong số những kẻ đầy dục vọng ấy lẫn lộn những con người đầy
mộng tưởng. Cái không tưởng ở đây thật thiên hình vạn trạng dưới hình thức quá
khích tán thành máy chém, dưới hình thức ôn hòa xóa bỏ tội tử hình; đối với vua
chúa, họ là ma quỷ, đối với dân chúng, họ là thiên thần. Đối diện với những đầu
óc chiến đấu là những đầu óc ấp ủ những mộng lớn. Có những người luôn nghĩ đến
chiến tranh, có người chỉ nghĩ đến hòa bình; một bộ não như Carnot đẻ ra mười bốn
quân đoàn; một bộ não như Jean Debry nghiền ngẫm một liên bang dân chủ toàn thế
giới. Giữa những tràng hùng biện sôi sục, giữa những tiếng gầm thét, có những
cái lặng lẽ làm nên sự nghiệp. Lakanal lặng thinh và trù tính một nền giáo dục
quốc gia; Lanthenas lặng thinh và mở các trường tiểu học; Révellière-Lépeaux lặng
thinh và mơ ước nâng triết học lên ngang địa vị của tôn giáo. Một số khác đảm
nhiệm những vấn đề chi tiết, nhỏ nhặt hơn, thực tiễn hơn. Guyton-Morveau nghiên
cứu cách tẩy uế các nhà thương, Maire nghiên cứu sự hủy bỏ những hình thức nô lệ
trong thực tế, Jean-Bon-Saint-André nghiên cứu hủy việc bỏ tù những con nợ và
hình phạt câu thúc thân thể, Romme nghiên cứu đề nghị của Chappe 26 ,
Duboë nghiên cứu cách sắp xếp hồ sơ lưu trữ, Coren-Fustier nghiên cứu việc mở
phòng giải phẫu và viện bảo tàng vạn vật học, Guyomard nghiên cứu việc giao
thông đường sông và đập nước sông Escaut. Nghệ thuật cũng có những tín đồ của
nó; ngày 21 tháng 1, trong khi cái đầu của nền quân chủ rơi xuống ở quảng trường
Cách Mạng thì Bézard, đại biểu quận Oise, đi xem một bức họa của nhà danh họa
Rubens tìm được trong một đống đồ lặt vặt ở phố Saint-Lazare. Các nghệ sĩ, các
nhà hùng biện, các nhà tiên tri, những người khổng lồ như Danton những người ti
tiện như Cloots, các võ sĩ và triết gia, tất cả đều đi tới một đích chung là sự
tiến bộ. Không có gì lay chuyển được ý chí họ. Cái vĩ đại của Viện Quốc ước là
đã tìm thấy thực tiễn trong cái mà mọi người gọi là không thể. Ở một cực, có
Robespierre nhìn chằm chằm vào quyền hạn, ở một cực khác, Condorcet mắt dán vào
nhiệm vụ.
Condorcet là một con người mơ mộng và sáng suốt. Robespierre
là một con người thực hành; và đôi khi, trong những cơn khủng hoảng cuối cùng của
những xã hội đã già cỗi, thì thực hành có nghĩa là tiêu diệt. Các cuộc cách mạng
đều có hai sườn: sườn đi lên, sườn đi xuống, và trên các sườn đó có đủ các mùa,
từ mùa băng tuyết đến mùa hoa nở. Mỗi vùng nảy sinh ra những con người hợp với
khí hậu của nó từ những kẻ sống trong nắng ấm cho đến những kẻ sống trong sấm
sét.
7.
Người ta chỉ trỏ với nhau cái ngách hành lang bên trái, ở đó
Robespierre đã rỉ vào tai Garat, bạn của Clavière câu nói đáng sợ:
"Clavière thở ở đâu là âm mưu ở đó". Cũng ở góc đó, nơi thuận tiện
cho những cuộc trao đổi thì thầm và những cuộc giận dỗi khẽ tiếng, Fabre
D’Eglantine đã gây sự với Romme và trách Romme vì chuyện thay đổi tên một tháng
ở cuốn lịch ông ta đã sáng tạo ra, Fervidor đổi là Thermidor 27 .
Người ta chỉ cho nhau cái góc bảy vị đại biểu miền Thượng Garonne ngồi sát cửa,
được mời đến đầu tiên phát biểu án quyết về Louis XVI, đã trả lời: - Mailhe: Tử
hình. - Delmas: Tử hình. - Projean: Tử hình. - Calès: Tử hình. - Ayral: Tử
hình. - Julien: Tử hình. - Desaby: Tử hình. Đó là tiếng vọng muôn đời vang dội
cả lịch sử, và từ khi loài người đặt ra công lý thì âm vang của nhà mồ đã dội
lên trên tường các tòa án. Trong đám đông đúc hỗn độn, người ta chỉ trỏ những
con người khi kết án đã lao nhao tuôn ra những biểu quyết bi thảm; Paganel:
"Tử hình! Một ông vua chỉ chết đi mới có ích"; Millaud: "Hôm
nay, nếu không có thần chết, thì phải tạo ra"; ông già Raffron Du
Trouillet: "Tử hình mau!"; Goupillot: "Lên máy chém tức khắc!
Càng chậm cái chết càng thêm nghiêm trọng"; Sieyès, ngắn gọn một cách thảm
đạm: "Tử hình"; Thuriot bác bỏ đề nghị kêu gọi dân chúng của Buzot:
"Sao! Còn phải mở những hội nghị sơ bộ! Sao! Còn phải qua bốn vạn tư tòa
án nữa! Xử án không hạn định à? Đợi cho cái đầu ở Louis XVI bạc phơ ra rồi mới
chém à?"; tiếp lời Robespierre Anh, Augustin-Bon Robespierre kêu lên:
"Tôi không biết cái nhân đạo cắt cổ nhân dân và tha cho bạo chúa. Tử hình!
Xin hoãn hành hình tức là thay thế cuộc chống án trước nhân dân bằng cuộc chống
án trước bọn bạo chúa"; Foussedoire, người thay thế nhà văn Bernardin De
Saint-Pierre, nói: "Tôi rất sợ máu người chảy, nhưng máu vua không phải là
máu người. Tử hình"; Jean-Bon-Saint-André: "Bạo chúa không chết, dân
chúng không có tự do"; Lavicomterie đã tuyên bố công thức này: "Bạo
chúa mà còn thở thì tự do còn ngột ngạt. Tử hình"; Chateauneuf-Randon:
"Tử hình tên Louis Cuối Cùng"; Guyardin: "Đem ngai vàng ra xử trảm";
Tellier: "Hãy đúc súng theo cỡ cái đầu Louis XVI mà bắn địch". Còn
đây là những kẻ khoan hồng: Gentil: "Tôi bỏ phiếu cấm cố. Giết vua thì đẻ
ra độc tài 28 ";
Bancal: "Đưa đi đầy. Tôi muốn thấy lần đầu tiên trên thế giới có một ông
vua tự làm lấy mà sống"; Albouys: "Trục xuất. Để cho cái bóng ma sống
đó đi thất thểu quanh các ngai vàng khác"; Zangiacomi: "Tội giam. Để
làm gương cho kẻ khác"; Chaillon: "Cho nó sống. Tôi không muốn nó chết
để rồi tòa thánh La Mã lại tôn nó lên làm thánh".
Trong khi những lời tuyên án ấy tuôn ra từ những cửa miệng
nghiêm khắc, rồi lần lượt biến dần vào lịch sử thì trên các khán đài những bà mặc
áo hở cổ và trang điểm diêm dúa theo dõi từng người nói và lấy kim đánh dấu lên
một danh sách cầm trên tay.
Bi kịch tới đâu thì những cảnh khủng khiếp và đau thương tồn
tại ở đó.
Nhìn vào Viện Quốc ước ở giai đoạn nào cũng thấy lại vụ xử án
tên Capet 29 cuối
cùng; sự kiện ngày 21 tháng 1 hình như lẩn quất trong tất cả các hoạt động của
Viện Quốc ước, cái hội nghị đáng sợ này đầy những hơi thở ghê rợn thổi tắt ngọn
đuốc quân chủ già cỗi nhen lên từ mười tám thế kỷ nay; vụ xử án quyết định vận
mệnh tất cả các vua chúa trong một ông vua, như là bắt đầu cuộc chiến tranh vĩ
đại chống quá khứ; bất kỳ cuộc họp nào của Viện Quốc ước, người ta cũng thấy hiện
lên bóng cái máy chém đã chặt đầu Louis XVI; những người đã dự cuộc còn kể lại
chuyện các đại biểu Kersaint, Roland xin từ chức hồi đó, hoặc chuyện đại biểu
quận Deux-Sèvres là Duchâtel ốm nặng gần chết còn bảo người khiêng tới để bỏ
phiếu cho vua sống, việc này làm cho Marat bật cười; và người ta đưa mắt tìm một
vị đại biểu, mà ngày nay lịch sử đã quên lãng, dự phiên tòa ấy suốt ba mươi bảy
giờ liền, mệt mỏi quá, nằm ngủ lăn trên ghế, đến khi mõ tòa đánh thức dậy bỏ
phiếu thì hấp háy con mắt, hô to: tử hình, rồi lại ngủ.
Giữa lúc họ kết án tử hình Louis XVI thì Robespierre cũng chỉ
còn sống mười tám tháng nữa, Danton mười lăm tháng, Vergniaud chín tháng, Marat
năm tháng và ba tuần, Lepelletier-Saint-Fargeau một ngày. Hơi thở con người sao
mà ngắn ngủi và ghê sợ đến thế!
8.
Để theo dõi Viện Quốc ước, quần chúng có một cửa sổ mở, những
khán đài công chúng và, khi cửa sổ ấy không đủ nữa, họ mở toang cửa lớn, người
ngoài đường phố ập vào hội nghị. Cái cảnh quần chúng xâm nhập nghị viện như vậy
thật là một trong những cảnh kỳ lạ trong lịch sử. Thông thường những cuộc đột
nhập ấy đều thân thiện. Đường phố gắn bó với tòa án tối cao. Nhưng đây là một
hiện tượng thân thiện đáng sợ của quần chúng, những người đã từng, trong ba tiếng
đồng hồ, đoạt hết đại bác ở điện Thương Binh và bốn vạn khẩu súng. Chốc chốc lại
có những đoàn đại biểu vào làm gián đoạn hội nghị; những đoàn đại biểu đưa đơn
thỉnh nguyện, đạt lời chúc tụng hoặc tặng quà. Phụ nữ ngoại ô Saint-Antoine rước
vào hội trường cây dáo danh dự của khu phố. Có những người Anh hiến hai vạn đôi
cho những bàn chân trần của quân đội chúng ta. Báo Moniteur đăng tin:
"Linh mục Arnoux ở xứ Aubignan chỉ huy tiểu đoàn Drôme xin tiến quân ra
biên khu và xin giữ nguyên chức linh mục địa phận". Những đoàn đại biểu
các phân khu tới, mang theo không biết ba nhiêu là đĩa, cốc, bình thờ vàng, bạc,
ngọc, cúng cho tổ quốc; họ đại diện cho đông đảo những người nghèo rách tả tơi
và chỉ xin được phép nhảy múa một điệu carmagnole ngay trước viện Quốc
ước. Chenard, Narbonne, và Vallière tới xin hát bài ca tụng phái Montagnard.
Phân khu Mont-Blanc mang đến bức tượng bán thân của Lepelletier, và một chị phụ
nữ đội lên đầu vị chủ tịch Viện Quốc ước chiếc mũ đỏ, ông chủ tịch ôm hôn chị
ta; "các nữ công dân phân khu Mail" tung hoa vào các "nhà lập
pháp"; "đoàn học sinh của Tổ quốc" có đội nhạc dẫn đầu, đến cảm
ơn Viện Quốc ước "đã chuẩn bị cho sự thịnh vượng của thế kỷ"; đoàn phụ
nữ phân khu cận vệ quân đến tặng hoa hồng; đoàn phụ nữ phân khu Champs-Elysées
tặng vòng hoa lá sồi; đoàn phụ nữ phân khu Temple đến tuyên bố chỉ kết
duyên với những người cộng hòa chân chính; đoàn đại biểu phân khu Molière dâng
một huân chương mang hình Franklin mà một sắc lệnh cho phép treo lên vòng hoa của
tượng thần Tự do; đoàn trẻ mồ côi, mệnh danh là Con của Nhà nước cộng hòa mặc đồng
phục diễu qua; đoàn nữ thanh niên phân khu Chín Mươi Hai mặc áo dài trắng thướt
tha tới chào và ngày hôm sau báo Moniteur đăng tin: "Chủ tịch nhận
một bó hoa từ những bàn tay trong trắng của một mỹ nhân trẻ tuổi". Các đại
biểu chào quần chúng; thỉnh thoảng họ nịnh khéo: "Bạn không thể sai lầm được
không thể chê trách được, thật là cao siêu"; quần chúng cũng có khía cạnh
trẻ con và thích các loại kẹo ngọt ấy. Đôi khi có cuộc biểu tình qua hội trường,
khi vào thì dữ dội, khi ra thì êm dịu, giống như sông Rhône chảy vào hồ Léman,
khi vào thì đầy bùn, khi ra thì trong xanh.
Thỉnh thoảng cũng không được hòa bình lắm, và có lần Henriot
đã mang tới trước điện Tuileries cả lò nung đạn đại bác.
9.
Đồng thời phát sinh ra cuộc cách mạng, hội nghị này sản sinh
ra nền văn minh. Lò lửa, nhưng là lò rèn. Trong cái thùng ấy khủng bố đang sôi
sục thì tiến bộ đang lên men. Từ cảnh hỗn độn của bóng tối và mây đen đã vút
lên những tia sáng mênh mông song song với những định luật vĩnh cửu. Những tia
sáng ấy vẫn còn mãi ở chân trời và mãi mãi còn thấy rõ trên bầu trời các dân tộc,
đó là công lý, là khoan dung, là nhân từ, là lẽ phải, là chân lý, là tình yêu.
Viện Quốc ước đưa ra câu định lý vĩ đại này: "Tự do của người công dân này
chấm dứt ở chỗ tự do của người công dân khác bắt đầu"; câu ấy đã tóm tắt lại
trong hai dòng chữ tất cả ý thức xã hội nhân quần. Viện Quốc ước tuyên bố nghèo
khổ là thiêng liêng, mù, câm, điếc là thiêng liêng và những người tàn tật ấy là
con nuôi của Nhà nước, sinh con hoang là thiêng liêng và người mẹ được chính phủ
an ủi và nâng đỡ, trẻ mồ côi là thiêng liêng và chúng được tổ quốc nuôi dưỡng,
người bị cáo trắng án là trong sạch là thiêng liêng và phải được bồi thường. Viện
Quốc ước lên án việc buôn người da đen, tuyên bố hủy bỏ chế độ nô lệ, ban hành
đạo luật liên đới trong quan hệ xã hội, chính sách giáo dục không mất tiền, tổ
chức nền giáo dục quốc gia với trường sư phạm ở Paris, trường trung học ở quận
lỵ và trường sơ cấp ở thôn xã, lập ra các trường chuyên nghiệp và các viện bảo
tàng, ra sắc lệnh thống nhất luật pháp, thống nhất đo lường, thống nhất tính
toán theo hệ số thập phân, lập nền tài chính của nước Pháp và thay thế nạn phá
sản ngân sách thường xuyên của chế độ quân chủ bằng nền tín dụng công cộng. Viện
Quốc ước đem lại cho ngành giao thông hệ thống điện tín, cho tuổi già những viện
dưỡng lão có trợ cấp, cho ngành y tế những bệnh viện đã tẩy uế, cho ngày giáo dục
trường bách khoa, cho khoa học phòng kinh tuyến và cho trí tuệ con người viện
khoa học. Viện Quốc ước vừa có tính chất quốc gia vừa mang tính chất quốc tế.
Viện Quốc ước đã ban hành một vạn một ngàn hai trăm mười sắc luật thì một phần
ba có mục đích chính trị hai phần ba có mục đích nhân đạo. Viện Quốc ước tuyên
bố đạo đức phổ biến là nền tảng xã hội và lương tâm phổ biến là nền tảng của
pháp luật. Với tất cả những cái đó, ách nô lệ bị xóa bỏ, lòng bác ái được đề
cao, lòng nhân đạo được bảo vệ, lương tâm con người được tu chỉnh, luật lao động
trở thành pháp quyền, tài sản quốc gia được vững chắc, tuổi trẻ được học hành
và nâng đỡ, văn học và khoa học được truyền bá rộng khắp, ánh sáng tỏa trên khắp
các đỉnh cao, những cảnh cùng khổ được giúp đỡ, các nguyên tắc được công bố. Tất
cả những cái đó, Viện Quốc ước đã làm, mặc dù nó còn mang trong lòng con quái vật
là loạn Vendée và trên vai một bầy hùm beo là bọn vua chúa.
10.
Đây là nơi vĩ đại. Tất cả các hạng người nhân đạo, vô nhân đạo
và siêu nhân đều có mặt. Cả một mớ mâu thuẫn hùng tráng. Guillotin lánh mặt
David, Bazire chửi Chabot, Guadet chế giễu Saint-Just, Vergniaud khinh bỉ
Danton, Louvet công kích Robespierre, Buzot tố cáo Egalité, Chambon sỉ nhục
Pache, tất cả căm ghét Marat. Và biết bao nhiêu tên tuổi nữa cần phải ghi lại!
Armonville mệnh danh là Mũ Đỏ vì lần nào đến hội nghị cũng đội mũ cộng hòa, bạn
của Robespierre mà lại đòi: "Sau Louis XVI phải chém đầu Robespierre cho
cân đối"; Massieu, bạn đồng nghiệp và giống hệt cái ông giám mục
Lamourette 30 ,
có cái tên đáng lưu lại cho một cái hôn; Morbihan hay thóa mạ những thầy tu xứ
Bretagne; Barère là người của các phe đa số, ngồi ghế chủ tọa khi Louis XVI đến
trước vành móng ngựa, và ông ta có quan hệ với Paméla cũng y như Louvet với
Lodoïska; tay hùng biện Daunou hay nói: "Chúng ta hãy tranh thủ thời
gian"; Dubois-Crancé, mà Marat đã cúi xuống ghé tai thì thầm; hầu tước
Chateauneuf, Laclos và Hérault de Séchelles, ông này gặp Henriot vừa lùi vừa
kêu: "Pháo thủ, hãy trở lại vị trí pháo!"; Julien thường so sánh phái
Montagnard với những người ở Thermopyles; Gamon đòi có diễn đàn riêng cho phụ nữ;
Laloy đã thay mặt hội nghị tuyên dương ông giám mục Gobel vì ông này đến trước
Viện Quốc ước bỏ mũ tu hành và đội mũ đỏ; Lecomte đã kêu lên: "Thế là các
ông thầy tu đua nhau mà hoàn tục!"; Féraud, mà sau này Boissy-d’Anglas
chào cái đầu lâu bêu trên mũi dáo, để lại cho lịch sử câu hỏi này:
"Boissy-d’Anglas chào cái đầu là người bị nạn hay chào cái dáo là kẻ sát
nhân?"; hai anh em Duprat, người theo phái Montagnard, người theo phái
Girondin, thù ghét nhau như hai anh em Chénier.
Ở nơi diễn đàn ấy người ta đã từng thốt ra những lời nói rùng
rợn, đôi khi chính người thốt ra cũng không biết là nó có giọng báo truyền họa
phúc, và tiếp sau những lời đó, các sự việc bỗng nhiên có vẻ như bất bình và mê
muội, như thể chúng giận dữ vì những điều vừa nghe thấy; tai vạ đôi lúc xảy ra
cũng chỉ vì lời nói. Cũng tỉ như ở trong núi, chỉ cần một tiếng cất lên đủ làm
cho núi tuyết đổ sụp. Một lời thêm thắt có thể sinh ra nạn sụp đổ; nếu không
nói có thể chẳng xảy ra việc gì cả. Đôi khi tưởng chừng như các sự việc cũng sẵn
sàng nổi giận. Chính vì thế, vì một câu nói vô tình bị hiểu lầm mà đầu bà
Elizabeth đã bị rơi.
Ở Viện Quốc ước, nói năng vô độ là quyền của mọi người.
Trong cuộc tranh cãi, những lời hăm dọa bùng lên và giao nhau
như ngọn lửa trong đám cháy.
PÉTION: - Robespierre, hãy nói vào sự việc.
ROBESPIERRE: - Sự việc chính là anh, Pétion ạ. Tôi sắp nói đến,
rồi anh sẽ thấy.
MỘT NGƯỜI KHÁC: - Giết Marat!
MARAT: - Ngày mà Marat chết thì không còn Paris nữa, và ngày
Paris không còn thì nền cộng hòa cũng chấm dứt.
BILLAUD-VARENNES đứng dậy và nói: - Chúng tôi muốn...
BARRÈRE ngắt luôn: - Anh nói như bọn vua chúa ấy.
Một hôm PHILIPPEAUX kêu lên: - Một đại biểu rút kiếm đòi đâm
tôi đấy.
AUDOUIN: - Yêu cầu chủ tịch bắt tên sát nhân phải giữ trật tự.
CHỦ TỊCH: - Chờ đã.
PANIS: - Ông chủ tịch, tôi yêu cầu ông phải trật tự đấy. Thế
là cũng được mẻ cười.
LECOINTRE nói: - Vị linh mục ở Chant-de-Bout phàn nàn về việc
giám mục Fauchet cấm ông ta lấy vợ.
MỘT TIẾNG NÓI KHÁC: - Tôi không hiểu tại sao giám mục Fauchet
có khối nhân tình mà lại cấm kẻ khác lấy vợ!
MỘT TIẾNG KHÁC: - Thầy tu ơi, lấy vợ đi!
Quần chúng ở khán đài cũng tham gia cuộc đối đáp. Họ cũng anh
anh tôi tôi với hội nghị. Tuy vậy, có một lần, trong cuộc lộn xộn ngày 1 tháng
4 năm 1793, chủ tịch phải cho bắt một kẻ ngắt lời ở khán đài.
Một hôm, trong một phiên họp, có Buonarotti chứng kiến,
Robespierre thuyết trình liền trong hai tiếng đồng hồ, mắt cứ nhìn Danton, khi
thì nhìn chằm chằm, cái đó thật nghiêm trọng, khi thì liếc ngang, thế lại càng
tệ hơn. Ông ta đả kích thẳng thừng rồi kết thúc bằng những lời đầy công phẫn và
khốc liệt: "Người ta đã biết những kẻ thủ đoạn mưu mô, những kẻ mua chuộc
và người bị mua chuộc, những kẻ phản trắc; chúng có mặt trong phòng họp này.
Chúng đang nghe chúng ta nói. Chúng ta nhìn thấy chúng và không rời mắt theo
dõi chúng. Chúng hãy ngước mắt nhìn lên, chúng sẽ thấy lưỡi gươm pháp luật treo
lủng lẳng trên đầu; chúng hãy nhìn vào lương tâm và sẽ thấy sự hèn mạt của
chúng. Bọn chúng hãy coi chừng". Khi Robespierre nói xong, Danton mặt ngửa
lên trần, mắt lim dim, một tay buông thõng bên thành ghế, ngả người ra sau và
hát nho nhỏ:
Cadet Roussel đọc diễn văn,
chẳng dài thì ngắn, chẳng ngắn thì dài,
ngắn dài cũng mặc, chẳng ai nghe nào.
Những câu nguyền rủa đối đáp nhau: "Đồ mưu phản!"
"Đồ giết người!" "Đồ hiểm độc!" "Đồ phiến loạn!"
"Đồ ôn hòa!" Người ta tố cáo nhau dưới bức trượng của Brutus. Họ réo
nhau, chửi nhau, thách nhau. Không ít những cặp mắt giận dữ, những nắm tay giơ
lên, những súng lục thập thò, những dao găm rút nửa chừng. Diễn đàn như một đám
cháy lớn. Vài người đang nói mà như đã đặt lưng lên máy chém rồi. Đầu người nhấp
nhổm như sóng dợn, khiếp sợ và dữ dội. Phái Montagnard, phái Girondin, phái
Feuillants, phái Ôn Hòa, phái Khủng Bố, phái Jacobin, phái Cordelier, mười tám
linh mục đồng tình giết vua.
Tất cả những người ấy! Như những luồng khói tỏa ra khắp các
ngả.
11.
Những đầu óc bị gió cuốn.
Nhưng gió đây là ngọn gió thần kỳ.
Làm một đại biểu của Viện Quốc ước như là một ngọn sóng trong
biển cả. Và điều này càng đúng đối với những đại biểu vĩ đại nhất. Sức thúc đẩy
từ trên cao dội xuống. Trong Viện Quốc ước có một ý chí, ý chí của mọi người,
không phải là ý chí của riêng ai. Ý chí ấy, một ý niệm không gì khuất phục được,
lớn lao quá khổ, thổi trong tối tăm, từ trên trời xuống. Chúng ta gọi đó là
Cách mạng. Khi ý niệm ấy đi qua, nó quật kẻ này xuống, bốc người kia lên; người
thì cuốn thành bọt nước, kẻ thì bị đá ngầm xé tan xác. Ý niệm ấy biết rõ nó đi
đâu, và đẩy vực thẳm phía trước nó. Quy cách mạng cho những con người cũng như
quy thủy triều cho sóng.
Cách mạng là hành động của cái Chưa Biết. Gọi nó là việc tốt
hay xấu là tùy ảnh hưởng về tương lai hay quá khứ, nhưng hãy nên để mặc nó cho
kẻ làm ra nó. Cách mạng hình như là sự nghiệp cộng đồng của những biến cố lớn
và của những cá nhân vĩ đại hòa lẫn với nhau, nhưng thực ra nó là lực tổng hợp
của các biến cố. Biến cố tiêu pha, con người phải trả nợ. Biến cố ra lệnh con
người ký tên. Ngày 14 tháng 7 ký tên Camille Desmoulins, ngày 10 tháng 8 ký tên
Danton, ngày 2 tháng 9 ký tên Marat, ngày 21 tháng 9 ký tên Grégoire, ngày 21
tháng 1 ký tên Robespierre, nhưng tất cả: Desmoulins, Danton, Marat, Grégoire,
Robespierre chỉ là những viên ký lục mà thôi. Tác giả khổng lồ và ghê sợ của những
trang sách vĩ đại này có một cái tên là Chúa và một cái mặt nạ là số mệnh.
Robespierre tin ở Chúa. Cố nhiên!
Cách mạng là hình thức biểu hiện của một động lực nội tại
thúc bách ta và ta gọi là Tất Yếu.
Trước những lợi ích và đau khổ phức tạp và bí ẩn, dựng lên
câu hỏi Tại Sao của lịch sử.
Bởi vì. Câu trả lời này của kẻ không biết gì cũng là câu
trả lời của kẻ biết tất cả.
Đứng trước những tai họa chu kỳ nó đang phá phách và tiếp sức
cho văn minh, người ta ngần ngại không dám phê phán chi tiết. Căn cứ vào thành
quả mà chê khen con người cũng gần như căn cứ vào tổng số mà chê khen các con số.
Cái gì phải trôi qua, thì cứ trôi đi, cái gì phải thổi thì cứ thổi lên. Cảnh
thanh bình vĩnh cửu không ngại gì những cơn lốc ấy. Bên trên những cuộc cách mạng
là chân lý và công bằng như bầu trời đầy sao bên trên những trận bão táp.
12.
Cái Viện Quốc ước quá lớn ấy là như thế; đó là dinh lũy của
loài người bị các lực lượng đêm tối tấn công, cùng một lúc, đó là những ngọn lửa
đốt trong đêm khuya của một đạo quân tư tưởng bị vây hãm, đó là doanh trại bao
la của đạo quân trí tuệ trên một sườn dốc đổ xuống vực thẳm. Trong lịch sử,
không có gì so sánh được với tổ chức ấy, vừa là một nghị viện, vừa là một tổ chức
của quần chúng, vừa là phòng họp kín, vừa là ngã tư đường, vừa là tòa án tối
cao, vừa là quảng trường công cộng, vừa là quan tòa, vừa là bị cáo.
Viện Quốc ước đã luôn luôn uốn mình trước gió; những ngọn gió
ấy là từ miệng quần chúng thổi ra và cũng là hơi thở của Chúa.
Và ngày nay, sau tám mươi năm trôi qua, mỗi lần Viện Quốc ước
hiện ra trước tâm trí con người, dù là ai, sử gia hay triết gia, người đó cũng
phải dừng lại và trầm ngâm. Không thể không chú ý đến cuộc diễu hành vĩ đại của
những linh hồn đó.
II
Marat trong hậu trường
Như ông ta đã báo trước với Simonne Evrard, ngày hôm sau buổi
gặp gỡ ở phố Con Công, Marat đi họp Viện Quốc ước.
Tại Viện Quốc ước thuộc phái Marat có hầu tước Louis De
Montaut, người về sau tặng Viện Quốc ước một chiếc đồng hồ treo, bên trên có tượng
bán thân của Marat.
Lúc Marat bước vào, Chabot cũng vừa tới bên Montaut.
- Thưa cựu thần 31 ...
Montaut nhìn lên:
- Sao ông lại gọi tôi là cựu thần?
- Bởi vì ngài là cựu thần.
- Tôi à?
- Bởi vì ngài trước kia là cựu thần.
- Không bao giờ.
- Chà!
- Cha tôi đi lính, ông nội tôi làm thợ dệt.
- Ông đùa đấy chứ, ông Montaut?
- Tôi không phải là Montaut.
- Thế ông tên là gì?
- Tôi là Maribon.
- Kể ra thì - Chabot nói - Đối với tôi cũng chẳng quan hệ gì.
Và ông ta lẩm bẩm:
- Bây giờ thì đua nhau để không phải là cựu thần.
Marat đã dừng ở hành lang bên trái, nhìn Montaut và Chabot.
Lần nào Marat bước vào cũng có tiếng xì xào; nhưng ở xa ông
ta. Còn quanh ông ta thì im phăng phắc. Marat không chú ý đến điều đó. Ông ta
khinh bỉ "tiếng ộp oạp trong đồng lầy".
Trong những hàng ghế tranh tối tranh sáng phía dưới, nào là
Conpé De L’Oise, Prunelle, Villars, một giám mục về sau được vào Viện hàn lâm
Pháp, Boutroue, Petit, Plaichard, Bonet, Thibaudeau, Valdruche đang chỉ trỏ
Marat cho nhau.
- Kìa Marat!
- Ông ta không ốm à?
- Có chứ, vì ông ta vẫn mặc quần áo ngủ.
- Mặc quần áo ngủ à?
- Ừ, đúng rồi!
- Ông ta tự tiện thật!
- Dám mặc thế mà đến Viện Quốc ước!
- Bởi vì có ngày ông ta tới đây đầu đội vòng hoa danh dự thì cũng
có thể mặc áo ngủ mà đến đây thôi!
- Mặt bóng như đồng và răng bựa rỉ đồng.
- Cái áo ngủ của ông ta coi bộ còn mới.
- Bằng gì nhỉ?
- Vải rep 32 .
- Có kẻ sọc.
- Nhìn ve cổ áo xem!
- Bằng da.
- Da hổ đấy.
- Không, da rái cá.
- Giả đấy.
- Ông ta đi tất!
- Lạ nhỉ.
- Lại đi có khuy.
- Bằng bạc.
- Cái ấy thì những người đi guốc như Camboulas không tha thứ
đâu.
Trên nhiều ghế khác, người ta giả vờ như không thấy Marat. Họ
nói chuyện khác. Santhonax lại bên Dussaulx.
- Ông có biết không, Dussaulx?
- Gì?
- Cựu hầu tước Brienne.
- Cùng bị giam ở khám lớn với cựu quận công Villeroy có phải
không?
- Vâng.
- Tôi có biết cả hai. Mà sao?
- Họ sợ quá đến nỗi chào tất cả những người đội mũ đỏ và lính
gác cửa nhà giam và một hôm họ từ chối không dám đánh bài vì cỗ bài có con vua
và con hoàng hậu.
- Rồi sao?
- Mới bị chém hôm qua.
- Cả hai?
- Thế trong tù chúng ra sao?
- Hèn nhát.
- Thế lúc lên máy chém?
- Can đảm.
Và Dussaulx than:
- Chết dễ hơn sống.
Lúc ấy Barère đang đọc báo cáo: vấn đề Vendée. Đã có chín
trăm người từ Morbihan, có cả đại bác, đi cứu thành phố Nantes. Thị trấn Redon
bị bọn dân quê nổi loạn uy hiếp. Paimboeuf bị tấn công. Một đơn vị thủy quân tuần
phòng ở Maindrin để ngăn những cuộc đổ bộ. Từ Ingrande đến Maure, suốt tả ngạn
sông Loire dựng lên nhan nhản súng ống của bọn bảo hoàng. Ba ngàn dân quê đã
làm chủ Pornic. Chúng hô: "Người Anh muôn năm!" Barère đọc lên bức
thư của tướng Santerre gửi Viện Quốc ước, cuối thư viết: "Bảy ngàn dân quê
đánh phá thị trấn Vannes. Chúng tôi đã đánh lui và chúng đã để lại bốn khẩu đại
bác..."
- Và bao nhiêu tù binh? - Một tiếng cắt ngang.
Barère đọc tiếp: "Tái bút: Chúng tôi không có tù binh, bởi
vì chúng tôi không bắt nữa".
Marat vẫn đứng im, không nghe gì cả. Ông ta như đang tập
trung suy nghĩ một điều gì quan trọng.
Ông ta cầm trong tay và vò nát giữa các ngón một tờ giấy, nếu
ai mở ra sẽ đọc được mấy dòng này, nét chữ của Momoro và chắc hẳn đó là câu trả
lời cho một câu hỏi của Marat:
Không có cách gì chống lại với quyền uy vô hạn của các ủy
viên đại diện, nhất là của các đại điện Ủy ban cứu quốc. Trong cuộc họp ngày 6
tháng 5, mặc dù Génissieux đã phàn nàn: "Một ủy viên còn hơn một tên
vua", nhưng chẳng tác dụng gì. Họ có quyền sinh quyền sát. Massade ở
Angers, Trullard ở Saint-Amand, Nyon ở bên cạnh tướng Marcé, Parrein ở quân
đoàn Sables, Millier ở quân đoàn Niort, họ đều có quyền hạn rất lớn. Thậm chí
Parrein đã được phái Jacobin cử làm thiếu tướng. Hoàn cảnh miễn thứ cho tất cả.
Một đại diện Ủy ban cứu quốc át hẳn quyền một tướng tổng chỉ huy.
Marat đã vò xong tờ giấy bỏ vào túi và lặng lẽ tiến tới bên
Montaut và Chabot, hai người đang tiếp tục trò chuyện, không biết Marat vào.
Chabot nói:
- Này, Maribon hoặc Montaut, nghe này. Tôi vừa ở Ủy ban cứu
quốc ra.
- Thế ở đó người ta làm gì?
- Người ta giao cho một thầy tu theo dõi một tay quý tộc.
- A!
- Một tay quý tộc như anh...
- Tôi không phải quý tộc. - Montaut nói.
- Giao cho một thầy tu...
- Như anh.
- Tôi không phải thầy tu. - Chabot nói.
Cả hai người cùng cười.
- Anh hãy nói rõ đầu đuôi. - Montaut tiếp.
- Chuyện thế này. Một thầy tu tên là Cimourdain được cử làm đại
diện toàn quyền bên cạnh một tử tước tên gọi là Gauvain; tử tước này chỉ huy
quân đoàn chinh phạt vùng ven biển. Mục đích là ngăn tay quý tộc khỏi lừa lọc
và thầy tu khỏi phản trác.
- Rất đơn giản - Montaut trả lời - Chỉ việc đem chuyện chết
chóc gieo vào việc này!
- Tôi đến đây cũng vì việc ấy đấy - Marat nói.
Hai người ngẩng đầu lên.
- Chào anh, Marat, anh ít dự những cuộc họp của chúng tôi. -
Chabot nói.
- Thầy thuốc bảo tôi tắm để chữa bệnh. - Marat trả lời.
Chabot nói tiếp:
- Đừng có tin lối chữa ấy; ngày xưa Sénèque chẳng chết trong
khi tắm đó sao?
Marat cười:
- Chabot ạ, đây không có Néron 33 .
- Nhưng đã có anh.
Một tiếng khác giọng ồ ồ xen vào. Đó là Danton đi qua và bước
lên chỗ ngồi trên ghế dài.
Marat không ngoảnh lại.
Ông ta ghé đầu giữa Chabot và Montaut:
- Này, tôi tới bàn một việc quan trọng, một người trong ba
chúng ta hôm nay phải trình bày một dự án sắc lệnh trước Viện Quốc ước đấy.
- Tôi thì không, chẳng ai nghe tôi, tôi là hầu tước - Montaut
nói.
- Còn tôi - Chabot nói - Không ai nghe tôi, tôi là thầy tu.
- Còn tôi, không ai nghe tôi, tôi là Marat.
Ba người im lặng.
Khi Marat đang có việc suy nghĩ thì khó hỏi chuyện.
Tuy vậy Montaut cũng hỏi liều.
- Marat, ông muốn sắc lệnh gì?
- Sắc lệnh kết án tử hình bất kỳ vị chỉ huy quân sự nào để
cho một tên phiến loạn bị cầm tù thoát ngục.
Chabot nói vào:
- Sắc lệnh đó có rồi, đã thông qua cuối tháng tư.
- Như vậy là sắc lệnh đó xem như chưa hề có - Marat nói - Bởi
vì khắp nơi ở Vendée người ta đua nhau thả tù, và ai che chở giấu diếm cũng chẳng
bị tội gì cả.
- Marat, thế là sắc lệnh đã không có hiệu lực nữa.
- Chabot, phải làm cho nó có hiệu lực lại.
- Hẳn rồi.
- Và muốn thế, phải trình lên Viện Quốc ước.
- Marat, Viện Quốc ước không cần lắm, chỉ cần Ủy ban cứu quốc
là đủ.
Montaut tiếp:
- Mục đích đạt được nếu Ủy ban cứu quốc cho yết bản sắc lệnh
trong tất cả các thôn xóm miền Vendée và trừng trị vài ba vụ làm gương.
- Lấy những ông to đầu ra làm gương. - Chabot nói - Những ông
tướng.
Marat lẩm bẩm:
- Đúng vậy, thế là đủ.
- Marat - Chabot nói - Anh cứ đi nói với Ủy ban cứu quốc.
Marat nhìn xoáy vào Chabot, điều đó làm người ta khó chịu,
ngay cả Chabot.
- Chabot ạ, đến Ủy ban cứu quốc là đến nhà Robespierre; tôi
không đến Robespierre.
- Tôi đi cho. - Montaut nói.
- Được. - Marat đáp.
Hôm sau đã tung đi khắp các nơi một mệnh lệnh của Ủy ban cứu
quốc bắt phải dán lên khắp các thành phố, thôn xã ở vùng Vendée và phải thi
hành nghiêm chỉnh sắc lệnh xử tử hình tất cả những tội thông mưu để cho bọn phạm
nhân là quân cướp và quân phiến loạn trốn thoát.
Sắc lệnh ấy chỉ là bước đầu; Viện Quốc ước còn phải đi xa hơn
nữa. Mấy tháng sau, ngày 11 tháng Sương Mù năm thứ hai (tức là tháng 11 năm
1793 nhân việc thị trấn Laval mở cửa đón bọn bảo hoàng ở Vendée trốn tránh, Viện
Quốc ước đã ra sắc lệnh rằng tất cả những thành phố nào dung dưỡng bọn giặc sẽ
bị triệt hạ hoàn toàn.
Mặt khác, các vua chúa châu Âu trong bản tuyên ngôn của tướng
Phổ là quận công Brunswick, dựa theo ý bọn lưu vong và do một hầu tước là De
Linnon thảo ra, tuyên bố rằng bất kỳ người Pháp nào bị bắt đang cầm súng trong
tay sẽ bị xử bắn và nếu một sợi tóc trên đầu nhà vua rụng xuống thì cả thành phố
Paris sẽ bị san phẳng.
Man rợ chọi với tàn bạo.
Chú thích:
|
1. |
10-08-1792: Ngày khởi nghĩa của nhân dân Paris, dẫn đến việc
thành lập Công xã. |
|
2. |
21-09-1792: Ngày tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Pháp. |
|
3. |
Từ 1795 cơ quan chấp chính gồm có hai hội đồng, Hội đồng kỳ
cựu có 250 đại biểu tức Thượng nghị viện và Hội đồng năm trăm người tức Hạ
nghị viện. Bị bãi bỏ sau ngày 18 tháng Sương Mù năm 1799. |
|
4. |
Kiến trúc sư hồi ấy. |
|
5. |
Lepelletier - Saint-Fargo (1760 - 1793): Chủ tịch Quốc dân
đại hội năm 1790, về sau lại được bầu vào Viện Quốc ước. |
|
6. |
Một pi-ê bằng 0,3248 mét. |
|
7. |
Chiếc rìu cổ La Mã tượng trưng cho quyền lực dùng trang trí
những nơi có xử án, tuyên án. |
|
8. |
Lycurgue, Solon, Platon: Các nhà hiền triết Hy Lạp. |
|
9. |
Nhóm "ôn hòa" bảo hoàng trong Quốc hội Cách mạng
Pháp. Trụ sở nhóm trong khu vực hoàng cung cũ. |
|
10. |
Messidor: Tháng thứ mười của chính thể cộng hòa. |
|
11. |
Boucher (1703 - 1770): Họa sĩ nổi tiếng về tranh đề tài đồng
nội và thần thoại, màu sắc tươi sáng, mỹ miều, rất có giá trị trang trí. |
|
12. |
David (1748 - 1825): Họa sĩ nổi tiếng thời Cách mạng, có
chân trong Viện Quốc ước. |
|
13. |
Francois de Paris: Trợ tế dòng Janséniste, nổi tiếng vì những
trò ngông cuồng, những trò gọi là phép lạ mà những "con đồng" làm ở
trên mộ của ông. |
|
14. |
Một trong ba nữ thần Hy Lạp có tài nhìn vật gì cũng khiến vật
đó hóa đá. |
|
15. |
Đại biểu trong viện Quốc ước, bị xử tử năm 1793. |
|
16. |
Bạn thân của Oreste trong thần thoại Hy Lạp. |
|
17. |
21-01-1793: Ngày xử tử vua Louis XVI. |
|
18. |
Ngày bọn khủng bố âm mưu cướp chính quyền. |
|
19. |
Người sáng chế ra máy chém. |
|
20. |
Tức là cái máy chém. |
|
21. |
Trong ngôn ngữ dân gian, "trọ ở Charenton" nghĩa
là "điên". |
|
22. |
Nơi chôn các danh nhân Pháp. |
|
23. |
Đây là một lối chơi chữ: Leboeuf phát âm giống từ "con
bò" và Legendre phát âm giống từ "ông chủ hiệu thịt". |
|
24. |
Quý tộc lưu vong, bị đồng bọn đưa về nước họp Quốc dân đại
hội, có tài diễn thuyết. Bị bắt vì tình nghi có liên lạc với vua. |
|
25. |
Sieyès (1748 - 1836): Giám mục và nhà chính trị, một trong
những người lập ra phái Jacobin. Năm bùng nổ cách mạng, ông ta nổi lên vì tài
liệu nghiên cứu về đẳng cấp thứ ba. Trong quá trình cách mạng, ông cứ thụt
lùi dần. |
|
26. |
Người phát minh phương pháp điện báo bằng đường dây. |
|
27. |
Tháng Nóng. |
|
28. |
Nguyên văn: "Tạo ra Charles I tức là tạo ra
Cromwell". Chỉ biến cố xảy ra ở nước Anh thế kỷ thứ mười bảy. Charles I,
vua nước Anh từ năm 1625, sau việc xử tử một cận thần đã làm cho nội chiến có
cơ hội bùng nổ. Charles I về sau rơi vào tay Cromwell, một người mà sử gia tư
sản vẫn coi là độc tài trong Cách mạng tư sản Anh. |
|
29. |
Dòng họ Capet. Vua Capet cuối cùng lúc đó là Louis XVI. |
|
30. |
Đồng âm với từ l’amourette trong tiếng Pháp nghĩa là
"tình vụn". |
|
31. |
Ci-devant (nguyên văn chỉ những người trước Cách mạng
có địa vị, chức tước... Tạm dịch là cựu thần. |
|
32. |
Sénèque (2 - 65) là triết gia cổ La Mã, dạy vua Néron (37 -
68), về sau bị Néron giết chết bằng cách buộc phải tự sát. |
|
33. |
Vải len hoặc tơ, dày, thường dùng để căng đệm ghế. |
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét