Người Thăng Long 3
Chương 13
Thấm thoắt đã hai năm qua. Hai mùa đông đã về. Mùa đông năm
nay nữa với những ngày nắng hanh vàng suộm và những đêm mưa phùn gió bấc cắt thịt
cắt da lại cũng là mùa bội thu.
Hai năm qua, những người dân cày các lộ làm lụng cần mẫn trên
những cánh đồng màu mỡ, những gia nô các trang trại ven biển lọc nước chạt,
phơi muối, đánh cá và làm cá mắm, những người lính luyện tập bắn cung múa giáo
trong Giảng Võ đường. Hai năm qua, các ông Học sĩ thuộc các viện và các đường
thảo chiếu, chế, cáo, biểu... phê trát cho liêu thuộc môn hạ.
Trong hai năm ấy Trần Nhật Duật hầu như không có một ngày rảnh
rang. Nay ông ở Thăng Long, mai ông đã ra một cửa biển để rồi vài ngày sau đó
đã có mặt ở lộ Quy Hoá. Chiêu Văn vương lập Mạc phủ trấn thủ lộ Quy Hoá Giang ở
chợ Ngọc bên bờ con sông Chảy. Ông thường mặc áo chiến ngắn vạt bằng vải chàm
đi tuần thú trong lộ cùng với các tướng người sơn cước. Tướng quân Hà Đặc và em
là Hà Chương, tước Quản quân Phụng ngự các động, các sách ở đạo Phù Ninh thường
được Chiêu Văn vương chọn làm tướng theo hầu. Cũng chính từ lộ Quy Hoá, nhiều
người được Chiêu Văn vương lựa chọn, đã trá hình lên đường, bí mật vượt ải sang
nước giặc. Họ là tai mắt của triều đình. Họ được lựa chọn rất kĩ lưỡng và được
đối đãi như bậc quốc sĩ anh hùng.
Trong hai năm ấy, Trần Nhật Duật chỉ làm được có một việc
riêng: Đó là việc bãi trồng dâu ở cái làng ven biển nên thơ mà ông yêu dấu.
Theo lời tâu của ông, Quan gia hạ chỉ ban lệ Tiệt Cước. Lệ này “cắt chân” những
phần đất phong của tất cả các vương hầu, phi tần, phu nhân. Thể lệ này, nếu
sông nước bồi đắp thêm cho các bãi bồi thì số đất bãi được bồi đắp thêm ấy sẽ
thuộc phần đất công của các làng xã. Tuy thế, Trần Nhật Duật vẫn lấy phần đất của
mình ở bãi sông Cơ Xá ngay cạnh kinh thành Thăng Long để bù cho bà cung phi triều
trước.
Hôm nay một buổi sáng hanh giá, Trần Nhật Duật dẫn một đội
quân riêng trở về đến kinh thành. Đội quân của ông được lệnh của phủ Tiết chế
đóng lại ở rừng bàng phía bắc Thăng Long. Tuy rừng bàng xa Thăng Long mấy chục
dặm đường nhưng người kinh thành vẫn rủ nhau lên để xem đội quân kì lạ của đức
ông Chiêu Văn.
Rừng bàng vào những ngày này đang trút lá. Cây đã phô bộ cánh
gân guốc còn sót lại những chiếc lá cuối cùng màu tím đỏ.
Hồ Dâm Đàm phủ một làn sương mỏng. Bóng thuyền của những người
đánh cá lờ mờ, huyễn hoặc như trong một tích truyện xưa. Gió bấc hun hút. Trời
lạnh lắm.
Nhưng từ sáng sớm những người lính của Chiêu Văn vương đã làm
náo động cảnh rừng già tiêu sơ. Họ gom lá bàng khô, nhóm lửa đốt sưởi. Khói lam
đặc toả ra mù mịt. Lính hoả đầu khoét bếp thổi cơm. Chỗ này một đám vật lợn, chỗ
kia một đám làm thịt trâu. Lính các đô đã mang quang thúng đứng chực sẵn để
chia thịt. Họ chuyện trò vui vẻ bằng nhiều thứ tiếng sơn cước. Họ mặc nhiều kiểu
áo chiến khác nhau may bằng vải nhuộm chàm. Họ đi những đôi dép cỏ gọn nhẹ đan
lấy. Có những người đeo vòng vía ở tay, có người đeo ở cổ. Thật là những người
lính chất phác và dũng mãnh. Họ dùng những thứ binh khí rất lạ: những lưỡi kiếm
mỏng chuôi gỗ, vỏ gỗ, những lưỡi giáo ngắn, những cây dòng sắt hai ngạnh ngược
chiều, những chiếc nỏ cánh luồng hun đen bóng, những ống suy đồng bắn những mũi
tiêm thuốc độc. Thỉnh thoảng trong lúc đi lại, ống quần chàm bay lên để lộ chót
bao dao găm đeo sát bắp chân họ. Nhưng họ cũng là những người lính thật tài
hoa. Họ có những bộ lục lạc đồng thau đeo ở cổ tay, khi hai tay họ rung lên, tiếng
lục lạc ròn tan, rậm rựt. Có người thổi kèn lau, có người thổi tiêu trúc, có
người gõ bộ trống sáu chiếc. Họ chơi những khúc nhạc rất vui, trong khi đó một
điệu múa thoáng nhìn tưởng như chậm chạp đã diễn ra trước những cặp mắt say mê
của người kinh thành.
Chiêu Văn vương giao quyền chỉ huy đội quân cho viên phó quan
rồi dẫn một ngũ lính hộ vệ cưỡi ngựa về kinh thành. Ông về qua phủ đệ Chiêu Văn
để thay áo tiến triều. Đến vương phủ, Chiêu Văn vương xuống ngựa. Viên tì tướng
coi việc canh giữ cổng phủ mừng rỡ ra lệnh đánh mộc đạc báo cho mọi người trong
phủ biết tin mừng vương gia đã trở về. Tiếng mõ nổi ran lên, lính gia đồng, thư
nhi và kẻ ăn người làm reo mừng ra cổng lớn đón Chiêu Văn vương. Trần Nhật Duật
đi vào rất nhanh. Ông hỏi lớn:
- Quản gia đâu? Sao chính đường lại đóng cửa im ỉm thế kia? Mở
ra, mở tất cả cửa ra!
Vừa đi, Trần Nhật Duật vừa ra lệnh. Ông sai sắp gạo rượu bò lợn
đem lên rừng bàng khao thưởng đội quân sơn cước đã giữ vững bộ ngũ trên đường về
kinh. Ông sai sắp ban chiêng trống để dạy quân sơn cước nhạc quân. Ông sai hái
hoa cắm vào các lọ trong chính đường, sai thay các rèm lụa bằng rèm gấm thổ,
sai thị nữ sắp áo chầu, sai sửa tiệc cho cả vương phủ ăn mừng chủ đi xa về
khang kiện. Thế là cả bấy nhiêu người chuyển vận như đèn cù. Vương phủ Chiêu
Văn náo động, vui vẻ.
Khi vào chính đường, Chiêu Văn vương chợt đứng sững lại. Ông
thấy một đám người đứng chực hầu. Đứng trước là Hoàng Mãnh, Trịnh Mác. Điều này
cũng không lạ, chắc vì hai viên tướng này theo Chiêu Quốc vương dẫn cánh quân
sông Đà về kinh. Nhưng đằng sau hai người là cha con Mơ cùng với ba bô lão tóc
bạc phơ.
Họ vái lạy cung kính:
- Kính lạy đức ông, kính chúc đức ông thiên tuế!
Trần Nhật Duật vội đáp lễ và sai gia đồng mang đôn mời các bô
lão ngồi.
Thị nữ mời trà, mời trầu. Trần Nhật Duật bắt thị nữ phải giã
ba miếng trầu thật nhỏ để riêng mời các bô lão. Ông câu đương họ Trương thưa:
- Kính lạy đức ông, dân bản xã chúng tôi đồng thanh cử ba cụ
đây đem đầu đến tạ ơn đức ông đã ban cho miếng no miếng ấm.
Ba cụ đùn đẩy nhau, cuối cùng ông cụ cao tuổi nhất phải đứng
ra nói bằng một giọng thành thật chất phác:
- Thưa đức ông, lão là người già nhất làng. Lão được cả làng
cử lên kinh xin đức ông cho tên tuổi chức tước để đem về làng thờ.
Trần Nhật Duật giật mình vừa cảm động vừa buồn cười mà không
tiện cười. Ông hỏi lại tên tuổi các cụ. Ông cụ già nhất đã tám mươi tư tuổi,
người làng quen gọi là cụ đồ Bành mặc dù ông cụ chưa hề dạy học cho một ai cả.
Hai cụ kia trên bảy mươi tuổi, đều là những lão nông mang những cái tên hết sức
dân dã: cụ Mừng, cụ Cót. Trần Nhật Duật vừa hỏi han các cụ vừa muốn lảng khéo
cái chuyện xin tên tuổi để lập bài vị thờ sống đi. Với ông hoàng trẻ, cái chuyện
ấy thật hài hước.
Ông bảo Hoàng Mãnh đưa các cụ đi xem phố phường kinh thành.
Sau đó, Trần Nhật Duật thay triều phục vào cung. Cổng thành có treo biển “Miễn
triều” nhưng Trần Nhật Duật là thân vương có biển “Nhập nội” vua ban nên vẫn
vào cung được. Ở cửa nội cung Trần Nhật Duật gặp quan tướng Nguyên suý trấn điện
Bảo Nghĩa hầu. Hai anh em vái chào nhau. Bảo Nghĩa hầu cho biết hai vua đang
bàn việc với các đức ông Chiêu Minh và Hưng Đạo trong cung Thánh Từ. Trần Nhật
Duật còn đang lưỡng lự không biết mình có nên vào cung chầu hầu không thì một
viên quan nội giám ra tuyên chỉ Nhân Tông cho gọi ông. Thì ra mỗi ai qua cửa Đại
Hưng, các quan trấn điện đã tâu vua biết ngay rồi.
Trần Nhật Duật sụp lạy hai vua làm lễ triều kiến. Trần Nhân
Tông ban đôn gấm cho ông ngồi chầu hầu. Thượng hoàng Thánh Tông nói:
- Em Sáu đến vừa hay. Em biết tin giặc xuất quân chưa?
- Thưa anh, giặc gọi loa trên đường từ hành doanh Kinh Hồ về
cho tới biên giới nước ta, ra lệnh cho quân dân nước chúng chữa đường chữa cầu
để đạo quân viễn chinh đi đánh Chiêm Thành.
Thượng hoàng nhìn em mỉm cười:
- Vậy à?
Trần Nhật Duật cũng mỉm cười.
- Thưa anh nếu chỉ có vậy thì giặc quá ư hèn nhát.
Nhưng rồi cả hai nụ cười cùng tắt trên môi hai anh em. Trần
Nhật Duật đưa mắt rất nhanh. Vẻ đăm chiêu thoáng vần trên vầng trán của tất cả
những người có mặt. Trần Quang Khải hỏi Trần Nhật Duật về thế giặc. Là một
trong mấy đức ông được vua giao mệnh theo dõi từng cái nhấc chân nhấc tay của
giặc, Trần Nhật Duật nhận biết được mối hoạ xâm lăng cực kì hiểm nghèo đang đe
doạ giang sơn xã tắc. Giặc động binh năm chục vạn người cả lính lẫn phu. Đây là
một đạo quân lớn do những tướng độc ác và thông thạo trận mạc chỉ huy. Âm mưu của
chúng là chiếm lấy đất Việt chia thành quận huyện, đặt ách đô hộ lâu dài. Âm
mưu này có cả cái khát máu của những bộ tộc du mục chỉ biết làm cỏ và phá sạch
lẫn cái thâm độc của bọn vua chúa Trung Quốc luôn luôn giương danh “con trời”,
sinh ra để đè đầu cưỡi cổ các dân tộc khác.
- Giặc đánh ta chứ không phải để tiếp viện cho đạo quân của
chúng ở Chiêm Thành. Nếu đúng như vậy, chỉ vài ngày nữa, chúng sẽ cho sứ giả
sang ta mượn đường và vay lương.
Trần Thánh Tông trỏ ngay vào mớ giấy trên long án:
- Còn sẽ gì nữa: Thư Thoát Hoan đã đến Thăng Long từ hôm qua.
Chúng ta đang bàn kế đối phó với chúng đây.
Trần Nhật Duật trợn mắt nổi giận:
- Thằng nhãi nhép miệng còn hơi sữa mà đã dám láo xược vậy
sao!
Ông tâu vua những tin tức lượm lặt được về quân giặc. Những
tin tức này do những do thám gan dạ trá hình làm lái buôn người Đại Lý đã đem về
cho ông. Thoát Hoan đã lên đường hơn một tháng nay nhưng quân Thát Đát lần này
phải tiến theo kiểu cuốn chiếu vì chúng đem theo nhiều lính đi bộ và các chiến
cụ nặng nề dùng để công thành và vượt sông. Ngoài số quân kị là người Thát Đát,
phần lớn đạo quân này gồm quân bộ và quân thuỷ đều là người Hán phương Nam.
Nguyên chúa đã sai một thân vương xuống Kinh Hồ hành tỉnh phủ dụ bọn quân tướng
xuất chinh và đặc cách giao cho Trấn Nam vương Thoát Hoan ngọn giáo vàng truyền
quốc.
- Thưa anh, ngọn giáo này đúc bằng vàng nữ trang của các
hoàng hậu, phi, tần những nước đã bị quân Thát Đát làm cỏ. Trao giáo cho Thoát
Hoan có nghĩa là ra lệnh cho thằng này đập tan nước Việt ta.
Trần Nhật Duật lần lượt nói những điều hiểu biết của ông về đạo
quân xâm lược. Trần Quốc Tuấn cũng nói những tin tức thu được bằng đường biển
và đường đông bắc. Tất cả đã minh chứng rằng cuộc chinh chiến ắt phải xảy ra.
Trần Nhật Duật tâu:
- Tâu bệ hạ, cái thế không thể tránh khỏi chiến tranh rồi,
xin bệ hạ xuống chiếu cần vương.
Trần Quang Khải nói:
- Chúng ta đang bàn việc đó thì em đến. Đây là sớ của Đức ông
Tiết chế.
Trần Quang Khải đưa lá sớ của Trần Quốc Tuấn cho Chiêu Văn
vương. Trần Nhật Duật đón lá sớ mở rộng ra đọc. Vẻ mặt chăm chú của ông mỗi lúc
mỗi hào hứng, mừng rỡ. Trần Quốc Tuấn bằng những lời đanh thép đã vạch trong sớ
kế sách phá giặc: Lấy núi sông làm thành luỹ, huy động cả nước làm binh! Trăm họ
nước Việt sẽ vun góp ý chí chung thành một toà thành vững chắc không gì phá nổi.
Trần Quốc Tuấn tâu vua cho triệu mỗi hương một bô lão tuổi cao đức trọng về
kinh để vua dụ hỏi.
Trần Nhật Duật vốn sáng ý. Ông hiểu ngay rằng cuộc triều hội
của bô lão cả nước vừa làm bền chặt ý chí quyết thắng của triều đình vừa tuyên
dụ ý chí đó trở về trăm họ. Chợt nhớ tới mấy bô lão châu Ái đang ở chơi trong
vương phủ Chiêu Văn, Trần Nhật Duật càng thấu hiểu rằng cần phải có sự gắn bó
giữa triều đình với trăm họ. Chiến chinh sẽ diễn ra dữ dội trên đất nước, tình
nghĩa keo sơn của cả nước sẽ là nền tảng cho mối đại thống họ Đông A và mệnh trời
giao cho họ Đông A phải giữ cho vẹn toàn đất nước.
Ông đứng dậy, hướng về phía Trần Quốc Tuấn kính cẩn vái hai
vái:
- Họ ta thật đại phúc. Anh trưởng quả là thanh kiếm thần trời
ban cho nước Việt để giữ nước.
Sự sôi nổi và thành thật của Trần Nhật Duật làm cho Trần Quốc
Tuấn phải đứng dậy lúng túng đáp lễ.
Sau đó, Trần Quang Khải đích thân thảo chiếu thay lời vua
Thánh Tông cho triệu mỗi hương một cụ bô lão đức trọng nhất về kinh triều hội để
nhà vua hỏi về việc lớn của đất nước.
Đến sẩm tối hôm ấy, Trần Nhật Duật sau khi ăn cơm xong, chợt
thấy lòng vẩn vơ bồi hồi như tưởng nhớ tới một thói quen nào đó bị bỏ quên chưa
làm. Thoạt tiên ông nghĩ rằng sự có mặt cô gái vùng biển ở Thăng Long đã làm
cho lòng ông xốn xang bồn chồn. Nhưng sau khi mình lại hỏi mình, Trần Nhật Duật
thấy không phải đấy là nguyên cớ. Với Mơ, lòng ông đã trầm lắng xuống, lòng ông
đã vào cõi sâu xa, có tình nhưng có nghĩa, có ước hẹn ba sinh dù cho bảy nổi ba
chìm. Ông đã hiểu rằng về sau này dù hai người có gặp gỡ nhau hoặc chia tay
nhau đột ngột đến đâu chăng nữa thì lòng ông vẫn giữ được yên bình.
Thế rồi Trần Nhật Duật nghĩ rằng lòng mình bồn chồn vì cuộc gặp
gỡ với Hoàng Mãnh quá ư ngắn ngủi chăng? Nhưng nghĩ kĩ thì cũng không phải vì
thế. Người đời thường tô vẽ quá mức sự gắn bó âm dương giữa hai anh em đồng nhũ
đồng tuế. Sự gắn bó đó có thật nhưng đâu đến nỗi làm lòng người bồi hồi đến thế!
Mà Hoàng Mãnh đi đâu tối nay ông cũng đã biết. Chính ông là người đã bảo Hoàng
Mãnh đưa Trịnh Mác đi uống rượu nghe hát trên một con thuyền nào đấy thả lửng
lơ trên sông Tô Lịch.
Mùa đông trăng lạnh, uống rượu bên một hoả lò than rừng rực
trong khi đó gió bấc bên ngoài mui lá thổi rít lên thì tuyệt thú. Nếu không bận
nhiều việc quá thì đêm nay ông cũng mặc áo thường đi chơi với hai gã ấy rồi.
Nếu không phải vì vắng mặt Hoàng Mãnh và Trịnh Mác thì là vì
ai? Chiêu Quốc vương! Đúng rồi. Vì thiếu Chiêu Quốc Vương Trần Ích Tắc.
Thôi đúng rồi. Tất cả những lần trở về Thăng Long trước đây mỗi
khi đi xa, bao giờ Trần Nhật Duật cũng đến thăm Chiêu Quốc vương. Những ngày
sau đó là những cuộc du hí diễn ra liên miên với hai người: một cuộc đua ngựa
ngoài bãi sông để thử sức một con ngựa non nào đó, một cuộc săn đuổi bằng chó
săn, hai phủ Chiêu Quốc và Chiêu Văn có những đàn chó sát thú lạ thường, đi săn
với những con chó quý ấy là một thú mê mẩn đến quên ngày quên buổi: hoặc một cuộc
cờ để thử lối xuất quân mới; một sớm vãn cảnh chùa ngắm các công nương đi dâng
hương, một bữa rượu lầm lì, một trận cầu náo động... Gặp nhau, du hí với
nhau... phải chăng đó là điều làm ông bồn chồn như người đến cơn nghiện?
Không phải. Không phải thế. Ông bồn chồn vì ông cảm thấy mình
đang như người sốt vỡ da. Những người sốt vỡ da, sau những cơn lâm bệnh ấy hay
có những thay đổi về thể chất và về tâm tính ông cảm thấy mình hình như đang có
những thay đổi tương tự. Nhưng ông chưa hiểu, chưa mường tượng được mình sẽ
thành một người như thế nào. Và đàng sau cảm xúc mơ hồ ấy, phảng phất một nỗi
lo âu về những thay đổi sau một cơn sốt vỡ da của một người mẹ với đứa con. Ôi
những nỗi lo âu của một bà mẹ có linh cảm kì diệu!
Thực ra, điều ông không tìm ra được chính là vì sự thay đổi của
ông biểu hiện sự tách rời dần dà giữa ông với vùng ảnh hưởng của tính cách
Chiêu Quốc vương. Nó cũng là sự lớn mạnh về tính cách của ông, sự lớn mạnh nhằm
vươn tới một tâm tính riêng biệt trí lự.
Không muốn ngồi suy nghĩ mung lung nữa, Trần Nhật Duật sai
gia đồng thắp đèn lồng theo mình ra chơi phố. Ông ra bến Đông, lấy thuyền của
quân thuỷ để sang sông đến rìa rừng đa. Nơi ấy có một trại quân bí mật thuộc
quyền coi quản của ông. Đó không phải là một trại quân bình thường mà nó là một
trong mấy trạm chỉ huy phong đoàn, thứ quân coi giữ việc tuần sát lùng bắt bọn
gian tế và gián điệp của giặc phái sang trà trộn để dò la binh dân bên ta.
Trần Nhật Duật đến trại lúc canh hai đã sắp hết nhưng ở đây
người ta vẫn thức để làm việc công. Viên tì tướng giữ trại ra đón Trần Nhật Duật
và đưa ông vào ngôi nhà lá cuối trại.
Trần Nhật Duật bước vào căn phòng nhỏ. Trong phòng có hai người
mặt mũi lẫn quần áo đều kì dị đang ngồi lim dim trên chiếc chiếu cói trắng. Họ
ngửng nhìn và nhận ra đức ông Chiêu Văn, họ vui mừng giơ hai tay úp mu xuống và
cúi lạy Trần Nhật Duật. Đó là hai người Hồi Hột già, lái buôn chè và hương liệu
rất thông thạo con đường từ Đại Đô qua Tây Trúc đến tận những nước xa lạ phương
Tây.
Trần Nhật Duật đáp lễ, ông ngồi xuống chiếu trước mặt hai người
lái buôn Hồi Hột. Ông dùng tiếng Hồi Hột nói chuyện với họ. Quân hầu bưng vào
những đĩa bánh và hoa quả. Theo tôn giáo Hồi Hột, họ không uống rượu, không uống
trà chỉ uống nước lã. Hai người Hồi Hột này vốn đã đi buôn bán nhiều lần sang
nước ta. Những lần ấy Chiêu Văn vương vẫn giúp đỡ họ, che chở cho họ khi họ ở
Thăng Long và cả trên đường đi đường về của họ cho nên hai người lái buôn ấy rất
nhớ ơn Trần Nhật Duật. Hồi đầu năm nay, họ nhận lời giúp Chiêu Văn vương trong
việc dò xét động tĩnh mặt nước Đại Lý xưa. Nơi ấy bây giờ là một tỉnh của Trung
Quốc. Nguyên chúa Hốt Tất Liệt giao cho con trai mình là Hốt Kha Xích làm trấn
thủ và đặt tên tỉnh là Vân Nam. Vì thế vương hiệu của Hốt Kha Xích là Vân Nam
vương.
Một người Hồi Hột nói:
- Ô! Tướng Ô Man đã dựng nêu. Trai tráng Ô Man đã cầm giáo đến
họp ở chân nêu. Đó là ý muốn của Thượng Đế.
Họ nói rất nghiêm trang, cách nói kiểu cách hô hoán như cách
gọi gió gọi mưa của một pháp sư. Họ kể rằng quân Ô Man đã lên đường xuống phía
tây bắc nước ta, một cánh quân bộ không đông lắm nhưng rất thông thạo việc đánh
nhau ở trong rừng núi. Trần Nhật Duật hỏi viên tướng cầm đạo quân ấy tên là gì
nhưng hai người lái buôn này không biết. Ông lại hỏi cánh quân ấy có bao nhiêu
người thì họ trả lời là có mười tướng to chỉ huy một trăm tướng nhỏ, mỗi tướng
nhỏ chỉ huy mười tên lính Ô Man. Mỗi người lính lại có một tên phu người Hán tải
gạo, tải cỏ khô, cá thịt khô và chiến cụ.
Một người Hồi Hột nói tiếp:
- Ô. Những người phu họ khổ lắm, roi vọt, trăng trói, ăn
không đủ no, mặc chiếc áo rách mà đi không biết ngày về. Mà cha mẹ vợ con họ
còn khổ hơn.
Trần Nhật Duật nhíu mày suy nghĩ. Thế là mặt này, giặc có một
vạn quân Ô Man và một vạn phu. Đám quân Ô Man này có sở trường và sở đoản.
Chúng đánh bộ và trèo núi giỏi nhưng không quen khép mình vào quân kỉ. Lúc thắng
thế thì chúng đánh tràn đi như nước vỡ bờ, lúc thất thế thì lại xô nhau, giày
xéo lên nhau cướp đường mà chạy. Trần Nhật Duật đã từng đi tuần thú ở biên giới
tây bắc, ông đã đứng trên đồn cao nhìn sang bên kia biên giới xem lính Ô Man tập
trận. Chúng tiến, lui theo hiệu chiêng không gắn bó được đội ngũ nhưng về bắn nỏ
thì đó là những tay nỏ giỏi ghê gớm. Chúng lại thiện nghệ món mộc mây ken và kiếm
ngắn. Kiếm Ô Man là một loại kiếm rất mỏng, hơi cong, rất nhẹ và sát thương đối
phương nhờ ở đường kiếm đi thật nhanh. Nói về chiến đấu ở vùng rừng rậm thì kiếm
và mộc mây chính là loại vũ khí thích hợp nhất.
Ngoài ra lúc tiến quân có thể chúng sẽ dùng thêm một vài ngàn
quân kị dùng thứ ngựa Đại Lý thấp nhỏ nhưng chân chắc đi đường núi dai sức,
không sợ bóng cây ánh đá. Hai người Hồi Hột còn nói thêm là đội quân bộ của giặc
chỉ có một số ít ngựa dùng của các tướng nhưng chúng lại có nhiều lừa, một giống
lừa thấp nhỏ, chạy chậm nhưng bền sức và chúng chuyên dùng để thồ chiến cụ và
lương thực.
Đó là đối thủ tương lai của Trần Nhật Duật ở mạn Quy Hoá.
Chúng không phải là lũ giặc tầm thường, nhưng dù sao đây cũng chỉ là mũi tiến
công phụ và chẳng những không có một đội kị binh Thát Đát làm lõi cốt mà tướng
giỏi cũng không có nốt. Bởi vì nếu có tướng giỏi nổi danh thì những người lái
buôn Hồi Hột này phải biết rõ tên của chúng.
Sự so sánh mạnh yếu với đội quân của giặc làm cho Trần Nhật
Duật hơi tiếc. Thế là ông không có dịp chọi nhau với bọn kẻ cướp nổi danh và kẻ
thù truyền kiếp hung hãn thâm hiểm nhất để xem cái danh tiếng vô địch quân
“thiên triều” của chúng là thực hay hư.
Trần Nhật Duật lại sai quân hầu bưng ra hai tảng trầm hương
và hai túi sạ tặng cho hai người lái buôn Hồi Hột. Ông từ biệt họ và ra ngoài
căn phòng nhỏ. Ông đến một dãy nhà khác của trại quân ở giáp dãy tường hậu. Chỗ
này là nơi ở của Triệu Trung, viên hổ tướng nhà vong Tống. Viên tướng này biểu
thị một tấm lòng yêu thật tha thiết những người Hán bần hàn và cũng vì vậy
Trung căm thù bọn thống trị Trung Quốc, Trung hăm hở lập công trong một đội
quân Việt. Trần Nhật Duật bàn việc suốt đêm với Triệu Trung về kế sách hành
binh ở miền rừng, về việc thông hiệu trong đêm tối hoặc khi có sương mù, về những
đòn tấn công sẽ dùng để đánh vào lòng mê tín dị đoan của bọn quân tướng Ô Man
quá ư lạc hậu.
Chương 14
Từ mười chín tháng chạp, bô lão nhiều hương đã về đến kinh
thành theo chỉ tuyên triệu của Thượng hoàng. Hương Hoằng cử cụ Bành thay mặt. Cụ
Bành vừa tới kinh thành thì Chiêu Văn vương đã sai gia tướng đón ông cụ về phủ
đệ khoản đãi và ở đấy chờ đến ngày đại hội tiến triều. Chiêu Văn vương cũng muốn
qua cụ Bành, tìm hiểu lòng người ở cái hương xinh đẹp ven biển thân thiết với
ông.
Cụ Bành lần này lên kinh thành mang theo nhiều món lễ vật của
dân hương Hoằng biếu Chiêu Văn vương: bóng cá thủ, vây cá, mực Thanh, nước mắm
vò đầu thơm sánh, đều là hải sản quý. Dân hương còn cho mang lên một chiếc áo lụa
màu tía để xin Chiêu Văn vương đổi cho một chiếc áo khác ông đang mặc. Chiêu
Văn vương hiểu rằng sau khi ông không chịu cho tên tuổi, dân hương Hoằng lập mẹo
lấy cho được một chiếc áo có hơi hướng của ông để đem về thờ trong đình làng.
Nhưng cầm chiếc áo lụa tía lên xem kĩ, Trần Nhật Duật chợt thấy lòng bồi hồi.
Chiếc áo được may rất khéo, đường kim mũi chỉ chẳng những của
một cô gái có bàn tay kì diệu mà rõ ràng người may áo đã dùng cả tơ lòng mình
vào công việc đó. Ông dùng gang tay đo thử cổ áo, vai áo. Ông chợt mỉm cười kín
đáo. Người may áo đã không đo người ông mà sao chiếc áo đúng kích thước đến thế.
Đôi mắt Chiêu Văn vương thoáng láng ướt. Hồi đầu tháng chạp này, nhân một buổi
lên phường Yên Hoa tra soát những người ngoại quốc an tháp ở đấy, ông đã giục
ngựa đi thêm một đoạn đường nữa để đến vãn cảnh chùa làng Nghi Tàm. Ừ, phải rồi,
hôm ấy là mùng một tháng chạp, người kinh thành theo đạo Phật đi lễ các chùa,
dâng hương, niệm Phật... Bấy giờ đã gần trưa, chùa Nghi Tàm yên lặng soi bóng
xuống mặt nước hồ Dâm Đàm phẳng lặng như mặt gương. Trần Nhật Duật để những người
tuỳ tùng lại trên đê, ông đi qua sân chùa trên. Mùi hương trầm ngào ngạt, tiếng
mõ trầm mạc, tiếng tụng kinh của một lão ni mơ hồ như từ Thiên Trúc đưa về làm
cho Trần Nhật Duật cảm thấy như mình đã trút tất cả bụi đời. Chùa trên rất sâu
nên ánh sáng yếu. Trần Nhật Duật đứng một lúc mới quen mắt. Ông nhận ra đằng
sau lão ni ngồi tụng kinh, có một người con gái chân ngồi xếp thẻ đang thành
kính chắp hai tay khấn khứa. Người con gái ấy là Mơ. Không có một sự hò hẹn nào
trước cả nhưng hai người không cảm thấy đột ngột chút nào và cũng không hề lạ
lùng chút nào ở cuộc gặp gỡ này. Hình như họ yên trí con tạo đã hiểu lòng họ và
vạch sẵn đường đời đôi bên đi phải gặp nhau. Mơ khẽ khàng bước ra khỏi chiếu, xỏ
chân vào đôi dép cong.
Vườn sau chùa Nghi Tàm nhìn chéo ra khoảng hồ Dâm Đàm rộng
mênh mông. Sương bay là là trên mặt nước chỉ hơi gợn sóng. Những con sít, những
con sâm cầm vừa ngụp lặn kiếm ăn vừa đuổi nhau, ghẹo nhau.
- Kính lạy đức ông, mai sớm em xuôi thuyền về phủ Thiên Trường.
Em chúc đức ông ở lại được an khang.
Trần Nhật Duật dịu dàng nhìn cô gái, ông muốn dặn dò cô gái rất
nhiều, ông muốn bộc bạch lòng ông nữa nhưng không hiểu sao ông chỉ nói rất ít.
- Bọn giặc tràn xuống đến nơi rồi, mọi việc là hẵng tạm xếp lại
đã. Mong em hiểu lòng ta.
Mơ chảy nước mắt, những giọt nước mắt vừa xót xa vừa sung sướng.
Trần Nhật Duật tháo trong ngực áo ra một chiếc khánh vàng. Đó là chiếc khánh
ông đeo từ năm lên một tuổi. Mặt khánh chạm bốn chữ rất tinh tế: “Chiêu Văn đồng
tử”. Ông đưa chiếc khánh cho Mơ.
- Cái này của mẹ cho. Em giữ lấy nó cũng như giữ lời nguyền của
ta.
Hôm sau, cô gái lên thuyền xuôi hương Hoằng. Bây giờ thấy
trong lễ vật bày ra trước mặt có chiếc áo lụa tía may rất khéo, Trần Nhật Duật
chợt thấy lòng bồi hồi. Ông nói với cụ Bành:
- Thôi được! Mọi việc sẽ đâu có đó. Bây giờ cụ cứ ở đây. Triều
hội chưa đến ngày. Cụ cứ ăn cơm, uống rượu rồi đi thăm phố phường cho biết.
Ông lại sai gia nô đưa cụ Bành đi thăm phố phường Thăng Long.
Ông bảo quản gia đưa tiền cho người dẫn đường đưa cụ Bành đi và dặn hễ cụ xem
ra thích cái gì thì cứ việc mua luôn biếu cụ. Ông cũng sai mua the màu đại hồng
may cho ông cụ một chiếc áo dài tay thụng để làm áo tiến triều. Và, mặc dù cụ
Bành chưa phải cậy đến một cây gậy chống, Chiêu Văn vương vẫn sai gia nô đi kén
ở phường Tàng Kiếm một cây gậy trúc đùi gà đẹp tuyệt trần. Chiếc gậy có bịt mấy
vòng khâu bạc chạm chữ thọ.
Nửa đêm ngày mười chín, có chỉ vua kèm thẻ phù vàng chạm chìm
hình hai đầu hổ triệu Chiêu Văn vương vào cung. Vua Nhân Tông trao cho hai anh
em Chiêu Minh, Chiêu Văn hai trọng trách. Đức ông Chiêu Minh sẽ là quan tướng
điển nghi coi về mọi mặt lễ tiết trong buổi triều hội long trọng sắp tới. Đức
ông Chiêu Văn là quan tướng trấn thủ kinh thành trong những ngày trước, đang và
sau cuộc triều hội. Quyền trấn thủ kinh thành bao gồm việc sắp xếp đặt nơi ăn
chốn ở cho các bô lão bốn phương, việc định chỗ đóng quân cho các vương hầu các
lộ về dự triều hội, việc phòng giữ và yên dân, việc phòng cháy và nạn trộm cắp...
Nhưng thú vị nhất là công việc trấn áp quán sứ của gã Đạt Lỗ Hoa Xích. Bây giờ
không còn là lúc phải dè nể gì thằng này nữa. Nhân Tông muốn nhân dịp này mượn
mồm tên Đạt Lỗ Hoa Xích để nhắn với Thoát Hoan câu trả lời của nước Đại Việt: Sẵn
sàng giáng như sấm sét bất kì bọn giặc xâm lăng nào! Ý muốn của Nhân Tông có
đôi chút xốc nổi nhưng các đức ông Chiêu Minh và Chiêu Văn cũng chiều ý cháu
mình.
Thế là ngay sáng hôm hai mươi, Chiêu Văn vương ra lệnh cho Dã
Tượng, viên chỉ huy đội tượng binh của phủ Hưng Đạo, đem một đàn voi bốn mươi
tư con đến buộc ở bãi cỏ bên cạnh quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Những con voi trận gầm
gừ cả ngày. Chúng kéo lê xích chân kêu loảng xoảng. Chốc chốc chúng lại ré những
tiếng như gọi bạn rừng xa xôi. Tiếng voi ré làm cho đàn ngựa trong tàu của quán
sứ Đạt Lỗ Hoa Xích sợ cuống lên. Chúng cắn thừng, giằng thừng, đá vào dóng gỗ
chắn cửa chuồng ầm ầm. Những thằng dũng thủ Thát Đát đứng trong hàng rào nứa của
quán sứ hầm hầm nhìn ra. Những thằng thơ lại Hán thì chửi đổng bằng thứ tiếng
ngọng líu ngọng lô. Thoạt đầu chúng định cho người ra đuổi đội tượng binh đi,
nhưng sau Buyan Têmua nhìn thấy những tốp kị binh thương giáp sáng loà đi tuần,
Buyan Têmua đâm ra sợ. Gã Đạt Lỗ Hoa Xích đã hiểu rằng việc buộc voi bên cạnh
quán sứ không phải là do viên tiểu tướng chỉ huy đội voi mà là do lệnh từ cao
hơn thế nhiều đưa xuống, vậy thì có nói cũng chẳng ăn thua gì. Hơn nữa ngay
sáng hôm ấy, Buyan Têmua được tin quan tướng trấn thủ kinh thành đã nã bắt tất
cả những kẻ vẫn thường ra vào quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Gã Đạt Lỗ Hoa Xích mới đầu
sửng sốt rằng tại sao cái lũ “An Nam” man mọi này lại dám chống lại “thiên triều”.
Hắn tự nói thầm rằng từ xửa từ xưa tất cả các lũ Man, Di, Địch, Phiên chống lại
“thiên triều” là chỉ có chết, nước mất nhà tan, chỉ trừ... à, trước hết hãy trừ
ra cái bọn rợ Đột Quyết, cái bọn này đã cho “thiên triều” bao phen nghiêng ngửa.
Ừ, rồi thì lại phải trừ cái bọn Nữ Chân cũng làm cho “thiên triều” khốn đốn, rồi
đến năm cái bọn rợ Phiên, rồi đến cái bọn đã bắt cả hai vua Tống bắt đem về
giam trong một cái giếng cạn, thí cho một mớ giẻ rách mà che thân chống lại cái
lạnh băng tuyết của rừng cây lá tùng phương bắc, chúng đã làm hai vua Tống quên
mất mình là phận trời giao, thân là con trời. “Thiên tử” đâu phải chuyện chơi.
“Thiên tử ” là vua của tất cả các vua, là vua của tất cả mọi dân tộc, là cha của
cả thiên hạ, kể cả cái lũ đông Địch, bắc Phiên, tây Di, nam Man cũng phải là
con đỏ của “thiên tử”. Nó giam vua Tống tức là giam bố chúng nó.
Nhưng mà cứ phải trừ ra, trừ ra... như thế nhiều quá. Cái lũ
man di mọi rợ này sao mà đông quá lắm thế. Chúng thời nào cũng làm cho “thiên tử”
đau đầu. Lần này không khéo cái bọn “Nam Man” này cũng lại làm cho “thiên tử”
đau đầu một lần nữa chăng.
Có một điều chắc chắn rằng Buyan Têmua đau đầu. Gã Đạt Lỗ Hoa
Xích vội sai một tên thư lại thảo một bản cáo để gửi về nước. Đề phòng bản cáo
lọt vào tay quan tướng nước Việt, Buyan Têmua sai viên quan thông đạt phải học
thuộc lòng bản cáo, còn bản cáo thì đốt ngay trước mặt Đạt Lỗ Hoa Xích. Chiều
ngày hai mươi, Buyan Têmua cho viên thông đạt cầm thẻ phù sơn đỏ chạm rồng của
Nguyên chúa lên đường về nước. Nhưng tên này chưa đi hết địa phận kinh thành
Thăng Long thì đã bị bắt ở bên kia bến Đông. Tên này bị lôi đến trước mặt quan
tướng trấn thủ và hắn đã trổ tài học thuộc lòng để mong được Chiêu Văn vương
tha tội chết. Bản cáo thế là đến tay các tướng giữ các trọng trách của triều
đình nước Việt.
Chiêu Văn vương cười nói với Hoàng Mãnh:
- Thật bõ với lúc chúng mình bị nó ngáng giáo chặn lại ở ngã
ba phường Cổ Vũ.
Hoàng Mãnh chỉ cười. Anh ta đang có ý định xui Dã Tượng giả vờ
đánh sổng voi, xua nó chạy vào sứ quán Đạt Lỗ Hoa Xích để “xem cái ổ nhặng xanh
ấy nó vi vo thế nào?” Nhưng ý định ấy không được đem ra dùng. Chiều hôm đó,
Hoàng Mãnh được lệnh Chiêu Văn vương đem quân tuần sát các khu trong kinh thành
có người ngoại quốc ở để sinh sống hoặc lánh nạn. Hoàng Mãnh sai truyền loa
nghiêm cấm các người nước ngoài đang cư ngụ tại Thăng Long không được rời kinh
thành nếu không có thủ lệnh kèm theo tín bài của quan tướng trấn thủ Trần Nhật
Duật.
Chỉ một ngày mà không khí kinh thành sôi động hẳn lên. Người
ta dọn đồ quý về quê. Người ta đưa các cụ già và trẻ nhỏ ra khỏi kinh thành.
Người ta mua sắm võ khí. Ngay cả những đám cưới mà đồ lễ dẫn cũng phải có võ
khí.
Ba ngày liên tiếp, quang cảnh náo nhiệt diễn ra ở khắp các phủ
đệ kinh thành. Các bô lão đại diện cho các hương lên kinh theo chỉ tuyên triệu
của hai vua. Những hương gần kinh thành, đường gần nên các bô lão về sớm. Lên đến
Thăng Long, các vương hầu trấn thủ các lộ đã cho gia tướng đón các cụ về phủ đệ
khoản đãi trọng hậu. Cụ nào cũng đã có bộ cánh mới do dân hương may sắm cho
nhưng các vương hầu vẫn kén the lụa thượng hạng may quần chùng áo dài, tay thụng
cho các cụ. Và mỗi cụ phải có một chiếc gậy chống vừa đẹp vừa lạ. Thôi thì đủ
các loại gậy trúc đùi gà, trúc xương cá, gậy lụi, gậy lõi mun, gậy gụ, gậy song
xanh, gậy song vàng...
Ba ngày này, Trần Nhật Duật làm việc không biết mệt mỏi. Người
ta thấy quan tướng trấn thủ có mặt ở khắp nơi. Ông đến các đồn binh đôn đốc việc
tuần phòng và tra soát kẻ lạ mặt. Thực ra công việc này dù có làm kĩ đến đâu
cũng không ai an tâm.
Ngày hai mươi hai, Trần Nhật Duật sai tì tướng vào quán sứ Đạt
Lỗ Hoa Xích mời gã ta đến tướng phủ Chiêu Văn ăn tiệc. Đây cũng là cách dò xét
tình ý một cách trực tiếp lòng dạ viên Đạt Lỗ Hoa Xích. Khi tiệc tan, Chiêu Văn
vương mời Buyan Têmua ra cửa Giang Khẩu xem đua thuyền. Chiêu Văn vương cho các
loại thuyền thoi, thuyền chiến nặng có lầu, thuyền nan cỡ nhỏ, cỡ to... đua.
Các đô thuỷ của lính tứ sương đã làm cho Buyan Têmua biết thế nào là sở trường
sông nước của người phương nam.
Sáng hôm hai mươi ba tháng chạp, đúng lúc các gia đình phường
phố đang sửa soạn cúng tiễn ông Táo lên chầu trời, quan tướng điển nghi Chiêu
Minh đại vương ra mệnh lệnh khẩn cấp:
- Lính đô Thần Sách được lệnh ra quét dọn điện Hô Trà bên cạnh
bến Đông Bộ Đầu. Lính phòng thành được lệnh quét dọn và làm cỏ sạch sẽ con đường
trồng hoè dẫn từ bến Đông về tới cửa Đông hoàng thành. Bến thuyền cũng phải
sang sửa kĩ lưỡng, nhất là các bậc lên xuống thì phải phẳng phiu dễ đi.
- Các nội giám, cung nữ làm việc trong bếp ngự được lệnh sửa
soạn đại tiệc cho một ngàn người dự. Đặc biệt là các món nấu phải thực chín thực
nhừ, rượu phải kén thứ cốt chính cống kẻ Mơ.
- Các nội sai cung Thánh Từ được lệnh đem lính đô Hổ Dực đến
điện Diên Hồng để trần thiết sao cho cực kì trang nghiêm tráng lệ.
Sẩm tối hôm hai mươi ba, đức ông quan tướng trấn phủ Chiêu
Văn vương sai thét loa cho khắp sáu mươi mốt phố phường kinh thành biết tin
sáng ngày mai, Thượng hoàng và Quan gia sẽ thiết triều hội trọng thể các bô lão
cả nước để hỏi về việc tối quan trọng của nước nhà. Loa cũng truyền lệnh của Trần
Nhật Duật cấm ngặt các tôn thất, quan lại và thế dân không được tụ bạ gây nhốn
nháo trong phố phường. Ban đêm nếu ai có việc ra phố thì phải mang đèn và phải
có tín bài của đội trưởng phòng thành mới được đi từ phường này sang phường
kia.
Trần Nhật Duật đã phi ngựa qua cổng quán sứ để chính mắt xem
xét động tĩnh trong quán sứ. Tuy nhiên để đề phòng viên Đạt Lỗ Hoa Xích gây nhiễu
loạn trong kinh thành, Trần Nhật Duật sai nhiều đô lính cưỡi ngựa tuần hành qua
quán sứ của gã Đạt Lỗ Hoa Xích để đe nẹt gã.
Tờ mờ sáng ngày hai mươi bốn, trên sông Cơ Xá xuất hiện nhiều
thuyền bè cắm cờ cắm phướn đỏ rực sông. Có thuyền từ mạn xuôi lên. Có thuyền từ
cửa sông Thiên Đức thuận dòng lao vun vút về bến Đông.
Cả một mặt sông bao la đầy buồm gấm. Những con thuyền đủ loại
của tất cả các miền xa lạ của đất nước. Đấy là loại thuyền mũi vươn cao cong
như cần cổ thiên nga, hai bên mạn cặp những cây luồng to làm phao. Trần Nhật Duật
nhìn thấy bóng dáng quen thuộc của các bô lão miền Quy Hoá đứng trên mũi những
con thuyền đó. Đây là loại thuyền mình dài như con thuồng luồng trong thần thoại,
hai bên thuyền những cặp bơi chèo chìa ra đều tăm tắp quạt nước. Đây là loại
thuyền biển vùng Vân Đồn, vỏ tròn trái dưa, bồng bềnh lướt trôi như không chạm
nước. Đây là loại thuyền nan có mui lá nhẹ nhàng, đơn sơ của vùng ruộng trũng đồng
chiêm phủ Thiên Trường. Đây là loại thuyền đinh vuông vức, bề thế, chắc chắn
trước sóng biển, sóng lừng của các phủ Diễn Châu, Hoan Châu. Những con thuyền từ
nhiều lộ đưa bô lão và các vương hầu về Thăng Long dự yến vua ban.
Đoàn thuyền hộ tống Trần Quốc Tuấn từ sông Thiên Đức rẽ qua
sông Cơ Xá lúc trời bình minh. Trần Quốc Tuấn đứng trên mui thuyền say sưa ngắm
cảnh trời nước mênh mang. Cảnh trí và không khí sớm mai trong lành gợi cảm xúc
lâng lâng trong tâm hồn vị tướng già.
Hôm nay, Trần Quốc Tuấn về kinh chầu vua. Cụ Uẩn lo lắng về
tuổi cao của Trần Quốc Tuấn nên đã nài ông phải khoác thêm chiếc áo bông vỏ may
bằng nhiễu kì cầu trước khi rời thang mộc ấp Mai Hiên. Đáng như mọi lần cụ Uẩn
sẽ là người giữ lái thuyền tướng nhưng lần này thì không bởi vì cụ đã được dân
hương và thái ấp Vạn Kiếp cử làm người thay mặt lên kinh hầu chỉ vua. Trần Quốc
Tuấn đã sai gia nô đội Yết Kiêu đem mười chiếc thuyền to có lầu, đưa cụ Uẩn và
các bô lão các hương ven hai bờ sông Lục Đầu về Thăng Long. Những chiếc thuyền ấy
đang giương buồm thênh thang mé trước mặt vị tướng già và ông có thể nhận ra
bóng dáng thấp nhỏ rụt rè của cụ Uẩn.
Chân trời đàng đông bừng sáng lên. Thăng Long vụt hiện ra lộng
lẫy với muôn ngàn cờ xí. Trên dòng sông bao la, thuyền các lộ chen nhau như lá
tre.
Bình minh trên sông thật khoáng đạt. Cây cỏ hai bờ một màu
xanh non và những con cò trắng tinh khôi sợ hãi bay tít trên cao tránh tiếng hò
khoan nhặt của thuỷ thủ. Tiếng hò bát ngát trên sông chen tiếng ốc trầm đục của
thuỷ thủ lộ Hải Đông gợi không khí hội hè thượng võ.
Trần Quốc Tuấn đăm đăm nhìn Thăng Long yêu dấu. Kinh thành
hôm nay bừng tươi lên. Đội trống đồng của cấm quân đang đánh điệu mừng.
Kìa, đỉnh tháp Báo Thiên xa lắc và mé ngoài là cửa Giang Khẩu
rộng thêng thang. Kìa, là nóc vọng lâu của cửa Đông, bên trên bay phấp phới lá
cờ đại bái chỉ dùng trong những lễ lớn hoặc lúc xuất quân. Còn đây là những nóc
nhà cao, thấp lô nhô của phố phường nơi ông đã từng rong chơi những ngày còn trẻ.
Trần Quốc Tuấn chợt thấy yêu Thăng Long biết bao nhiêu. Thăng
Long là một kinh thành chứng kiến biết bao vinh quang của dân tộc. Thăng Long
lưu giữ quá nửa tâm hồn của ông. Trần Quốc Tuấn nhớ tới những trại trồng hoa với
những cô gái quê chất phác, những cô gái có đôi tay kì diệu vun xới nên những
đoá hoa lộng lẫy ngát hương. Ông nhớ tới những đêm thả thuyền trên hồ Dâm Đàm,
nghe những cô phường làm giấy vừa hát vừa giã dó đêm khuya. Ông nhớ tới những
ngày rằm tháng giêng ngào ngạt khói hương cửa Phật. Những cụ bà, những người mẹ
đi lễ chùa xin lộc cầu phúc cho con cháu và đó cũng là những ngày ông cưỡi ngựa
rong chơi xem cỏ non mới mọc. Ông nhớ cả những phố phường đông đúc, người bán,
kẻ mua, nhớ tiếng ồn ào, tiếng gọi, tiếng cãi nhau, nhớ cả những bận rượu say
chếnh choáng từ Hoàng Mai lần về vương phủ.
Những ngày trai trẻ ấy qua đi đã lâu nhưng vẫn in đậm trong
tâm hồn ông khiến cho ông lưu luyến say mê cái kinh thành mà mỗi bước chân đi
người ta lại tìm ra một điều chi mới lạ...
Thuyền dồn cửa bến, sóng dềnh lên làm cho những con thuyền
chao nhẹ. Trần Quốc Tuấn nhìn chung quanh. Các thuyền khác đang dẹp lối để nhường
thuyền của ông cặp bến trước. Ông quát to:
- Các thuyền quân hãy giạt ra để các bô lão lên bộ trước!
Ông im lặng nhìn các con thuyền chở các bô lão đi qua trước mặt
mình.
Có tiếng xôn xao hỏi nhau:
- Ai đấy? Ai đấy?
- Quốc công Hưng Đạo vương chứ ai.
Thế là tiếng chào ran lên:
- Kính lạy đức ông.
- Kính lạy Quốc công.
Trần Quốc Tuấn tủm tỉm cười đáp lễ. Các bô lão vẫn lần lượt
đi qua trước mặt ông. Cụ nào cũng mặc áo mới. Ông nhìn thấy cụ Uẩn xúng xính
trong tấm áo the hoa chữ thọ nhuộm thâm. Tấm áo này do dân hương Vạn Kiếp cử
người sành sỏi về tận làng La Khê kén the tốt may cho cụ Uẩn. Trần Quốc Tuấn gọi
to sang thuyền ông cụ:
- Cụ ơi! Nhớ lời uỷ thác của dân hương nhá!
Tất cả các bô lão bên con thuyền ấy cũng ồn lên:
- Quốc công cứ yên trí. Chúng tôi cứ xin Quan gia gọn một chữ
“Đánh!”
Thuyền các bô lão lần lượt cặp bến Đông. Trần Quốc Tuấn nhìn
thấy quan tướng điển nghi Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải chỉ huy các quan
kinh thành ra đón các bô lão. Chiêu Minh đại vương đứng bên dưới cái nghi môn
vóc đỏ, chắp tay chào các bô lão. Các quan chia nhau mời các bô lão lên võng. Mỗi
cụ ngồi riêng một võng bên trên che hai chiếc lọng xanh. Phường Hoè Nhai đông
kín người.
Khi thuyền Trần Quốc Tuấn vào bến, đoàn bô lão đã đi gần
xong. Ông ra lệnh cho tất cả số quân về hôm nay phải chỉnh bị hàng ngũ. Các chiến
thuyền đỗ theo từng quân, mũi quay ra sông sẵn sàng rời bến. Thuỷ thủ không được
rời thuyền và ai đứng vào chỗ nấy. Ông ra lệnh cho quân bộ và quân kị xếp thành
từng khối vuông vức hai bên đường hoè. Đội nào đem phướn của đội ấy lên đầu
hàng quân. Sau đó Trần Quốc Tuấn sai cắm ngọn cờ Tiết chế lên đài cờ.
Lúc ấy, mặt trời lên. Nắng chiếu vào thế trận uy nghi, lập
loè ánh binh khí. Quân sĩ đứng im phăng phắc, chỉ thỉnh thoảng có tiếng ngựa
chiến nện vó hục hặc. Nhìn một lượt thật chậm, thật kĩ lưỡng, Trần Quốc Tuấn
hài lòng. Quân sĩ các lộ khoẻ mạnh. Binh khí sắc bén, quần áo đủ ấm. Có những
chiến sĩ như thế này một tướng giỏi có thể đánh thắng một kẻ địch hung hãn, thiện
chiến tưởng như vô địch. Trần Quốc Tuấn ra lệnh đánh một hồi chiêng, cho quân
sĩ nghỉ tại chỗ. Nguyễn Địa Lô dắt con ngựa tía mật đến cho ông nhưng Trần Quốc
Tuấn không lên yên. Ông đưa cây gậy xương cá cho Dã Tượng và đi bộ về cửa Việt
Thành, theo sau là Nguyễn Địa Lô và con tía mật.
Với trọng trách quan tướng trấn phủ, Chiêu Văn vương cưỡi con
Bão Đêm đem một đoàn tuỳ tùng đi đôn thúc việc tuần phòng. Phía trước Chiêu Văn
vương có một kị sĩ giương một lá cờ đỏ đề dòng chữ Khâm sai Trấn phủ. Ngựa
Chiêu Văn vương đến bến Đông. Ở cửa bến, bên dưới cái nghi môn vóc tía, Chiêu
Minh đại vương Trần Quang Khải đã dẫn đầu một đoàn vương hầu trọng chức đứng chờ
đón các bô lão. Dàn trống đồng của quân Thánh Dực đã bày sẵn ở cửa đường hoè.
Bên cạnh đó một đài cờ đắp cao chờ làm lễ tế. Quan tướng thay cho các lộ đã chỉnh
bị đội ngũ ở ba mặt đài cờ. Chiêu Văn vương nhìn thấy Hoàng Mãnh và Trịnh Mác dẫn
đầu cánh quân áo chàm, vai đeo nỏ cánh én của lộ Đà Giang. Ông cũng nhìn thấy hầu
tước Hoài Văn, năm nay nom đã chững chạc, dẫn đầu đội quân gia đồng rất trẻ,
kéo một lá cờ đề sáu chữ: “Phá Cường Địch Báo Hoàng Ân”. Nhìn thấy Chiêu Văn
vương sắp phóng ngựa qua, Hoài Văn hầu sẽ rê cương cho con ngựa của mình nhún
nhảy để gợi sự chú ý của Chiêu Văn vương. Quả nhiên Chiêu Văn vương chú ý,
nhưng ông cũng đoán ra cái ranh mãnh của hầu tước Hoài Văn. Ông tế ngựa đến trước
đội quân cất tiếng hỏi:
- Quân của ai đây?
Hoài Văn hớn hở đáp:
- Bẩm của cháu!
Nhưng Chiêu Văn vương nghiêm nghị:
- Trong việc quân việc nước sao tướng quân lại xưng hô chú
cháu?
- Bẩm... bẩm đức ông trấn phủ, đây là đội quân gia đồng của
phủ Hoài Văn do tôi làm tướng.
Chiêu Văn vương khẽ nheo mắt nhìn chàng thiếu niên mặt đỏ
gay, nói năng ấp úng, ông hỏi dồn:
- Vậy thì đội quân của tướng quân có bao nhiêu nghĩa sĩ?
- Bẩm, khoảng sáu trăm.
- Khoảng sáu trăm! Vậy là bao nhiêu? Sáu trăm ba mươi mốt,
sáu trăm ba mươi hai hay là năm trăm chín mươi tám, là bao nhiêu nói cho chính
xác.
Trần Quốc Toản đứng đực mặt ra. Trần Nhật Duật chau mày:
- Có bao nhiêu giáo?
-...
- Bao nhiêu nỏ?... Nỏ bảy yến bao nhiêu chiếc?
Trần Quốc Toản không trả lời được. Trần Nhật Duật chau mày:
- Có bao nhiêu ngày lương?
Câu này thì Trần Quốc Toản sung sướng đáp lại ngay:
- Bẩm đức ông trấn phủ, đội quân của tiểu tướng có thừa lương
ăn cả năm cũng không hết.
Trần Nhật Duật nhìn đăm đăm chàng thiếu niên hào kiệt. Ông vừa
quý vừa buồn cười. Như thế này thì nếu cứ đóng ở Thăng Long đội quân của phủ
Hoài Văn sẽ được vỗ béo, nhưng cứ rời kinh đô hành tiến ba ngày là họ đã đói rã
họng ra bởi vì cứ thử đoán chơi cũng đủ biết họ chưa hề chuẩn bị một chút lương
khô nào, xe tải, ngựa tải, thuyền tải,... cũng chưa sửa soạn chứ đừng nói chi đến
hạt muối, con cá khô, đến cỏ khô cho ngựa, đến ít quả trứng, ít thịt khô bò cho
lính ốm nữa. Ông bảo Trần Quốc Toản:
- Tiểu tướng quân phải tự hào về đội quân kia! Thật là những
người lính có cốt cách. Nhưng tiểu tướng quân phải học phép cầm quân mới được...
Đã có cuốn Binh thư yếu lược chưa? Cuốn sách của Quốc công Tiết chế đó mà.
- Dạ... đã có rồi ạ
- Đã có rồi mà sao cầm quân lỏng lẻo thế này. Quân bao nhiêu
cũng không nhớ, vũ khí bao nhiêu cũng không hay, lương ăn bao nhiêu ngày cũng
không biết.
Trần Quốc Toản đành ấp úng thú nhận rằng cậu đã nhận được cuốn
Binh thư yếu lược nhưng bận tíu tít việc mua sắm võ khí, việc tập ngựa, tập
cung, việc chiêu mộ hào kiệt, việc đến nói với cha anh nhà cậu này cậu nọ để
xin cho cậu ta được nhập ngũ, việc mua thừng mua chão để trói tù binh... nên
chưa đọc kĩ cuốn sách đó.
- Phải đọc và nghiền ngẫm cho kĩ. Đọc rồi làm theo chỉ dẫn
trong cuốn sách ngay. Việc binh trước tiên là hiểu mình, rồi hiểu địch thì mới
mong tranh thắng được. Tiểu tướng quân nên nhớ có tráng chí nhưng phải có thao
lược nữa mới được.
Trần Nhật Duật cười lớn, ông tế ngựa qua cánh quân lộ Thượng
Quy Hoá của ông. Ông thấy Triệu Trung đứng bên trái hàng quân đầu tiên ngay bên
dưới lá cờ lệnh nhỏ của đội quân cưỡi ngựa. Viên tướng đó hôm nay mặc quân phục
Tống, đội chiếc mũ cỏ rộng vành, vai khoác chiếc cung đại. Triệu Trung không
đeo kiếm mà cầm một cây trường thương cán hun đen bóng. Ông nghĩ thật quái lạ.
Cái dân tộc của Triệu Trung, người trung thì trung với cả cái mũ, đôi giày của
vua mặc dù gã vua đó ăn máu hút tuỷ của trăm họ, ngu trung đến mức giết cả bố
giết cả vợ con để chiều theo ý thích của gã hôn quân vô đạo; còn phản nghịch
thì phản nghịch cũng đến nơi đến chốn, mở cửa quan hiểm trở dẫn đường cho quân
xâm lăng tiến vào, chỉ chỗ giấu bài vị hoàng tộc, chỉ ngôi mộ giấu một ông
hoàng tử lên năm đã chết rồi, chỉ cho quân giặc một đường tiến quân bí mật, chỉ
cho quân giặc một cách đánh sở trường của dân tộc. Cái trung, cái phản của dân
tộc này đều ở đỉnh cao.
Trần Nhật Duật không ngừng lại trước đoàn quân của mình nữa,
ông trở lại đường hoè. Bấy giờ các bô lão đã lên bộ rồi. Những cụ lai kinh từ mấy
hôm trước cũng được gia tướng các hầu phủ, vương phủ đưa ra bến Đông để cùng tiến
cung luôn thể. Hôm nay trông cụ nào cũng xúng xính. Họ phần lớn đều là người
cao tuổi nhất trong hương mà họ đi thay mặt. Như thế các cụ cũng là những người
cao tuổi nhất nước.
Khi Trần Nhật Duật trở lại bến Đông, các bô lão và các quan
văn võ trọng chức đang vái nhau tứ tung hai bên cái nghi môn vóc đỏ. Trần Nhật
Duật nhìn thấy Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc mặt lạnh tanh vái tả vái hữu vô
tri vô tình như cái cần cối nước lộ Lạng Giang. Ông chắc chắn đức ông Chiêu Quốc
nhìn thấy ông nhưng không biết tại sao lại cứ giả tảng là không trông thấy.
Ít lâu nay, Chiêu Quốc vương tránh mặt ông, không đến thăm
ông. Nếu hai người gặp nhau ở chỗ đông người hoặc vắng người thì thái độ của
Chiêu Quốc vương cũng xa vắng, thờ ơ mặc dù có câu nào nói với nhau thì cũng là
những lời nói ngọt ngào. Chiêu Văn vương cảm thấy áy náy trong lòng. Hình như
việc ông được Quan gia sủng ái thêm lên, đồng thời dù muốn hay không cũng là giảm
đi quyền uy của đức ông Chiêu Quốc. Cứ xem trọng trách quan tướng trấn phủ ông
đang nắm giữ thì đủ rõ. Đúng ra, trọng trách này phải nằm trong tay Chiêu Quốc
vương. Có khi với cách điệu nho nhã nổi tiếng sẵn có, Chiêu Quốc vương còn được
Quan gia trao cho quyền quan tướng điển nghi buổi triều hội long trọng hôm nay
nữa kia. Trần Nhật Duật hơi buồn. Ông có nhiều anh em nhưng xưa nay ông vẫn gần
gũi với đức ông hoàng Năm hơn cả. Đó là người dạy dỗ ông nhiều điều, đã dẫn ông
đi từng bước trở thành một ông hoàng quý phái, phong nhã và tài hoa.
Nhưng thực ra, Chiêu Văn vương chưa tìm hiểu đến đáy sâu cùng
của mối quan hệ đó. Chiêu Văn vương trưởng thành dần dần từ thiên lương đôn hậu
và hồn nhiên. Chiêu Quốc vương cũng trưởng thành dần dần nhưng từ khát vọng
riêng tư hết sức kiêu sa và mãnh liệt. Sự khác nhau đó chính là cơn cớ dẫn đến
sự rã rời của mối quan hệ tưởng như khăng khít giữa hai người.
Dân Thăng Long đốt pháo mừng làm cho con ngựa của Chiêu Văn
vương bồn chồn. Con Bão Đêm không sợ tiếng động, tiếng nổ nhưng tiếng động tiếng
nổ kích thích con tuấn mã máu hăng và hiếu động. Nó vươn cái cổ dài như cổ
thiên nga hí một tiếng rậm rựt. Trần Nhật Duật vỗ vào cổ ngựa mấy cái. Ông rê
cương chạy dọc đường hoè ra lệnh cho một tì tướng thông hiệu:
- Báo lên quan tướng điển nghi là các bô lão đã lên võng hết
cả. Thông báo luôn cả cho quan tướng Nguyên suý trấn điện Bảo Nghĩa hầu như thế
nữa.
Viên tì tướng tuân lệnh tế ngựa luôn về cửa hoàng thành. Đám
rước các bô lão cũng vừa diễu qua đầu ngựa Chiêu Văn vương. Hôm nay Thượng
hoàng muốn tỏ bụng kính lão đã dùng toàn võng che màn đại hồng để rước các cụ
già thượng khách của triều đình. Mỗi chiếc võng lại được che một đôi lọng xanh
rủ thao đen kết chỉ kim tuyến mặc dù hôm nay trời cuối đông nắng đã nhạt lại là
nắng sớm. Trên một chiếc võng cụ Bành nhìn thấy đức ông hoàng Sáu. Cụ cố nhổm để
ngồi thẳng vái chào Chiêu Văn vương nhưng ngồi thẳng trên võng làm sao được.
Ông cụ cứ đành nằm co như thế, giơ hai tay vái. Chiêu Văn vương cũng vội chập
cương ngựa, vái đáp lễ. Sau võng cụ Bành là võng cụ Uẩn, người lái đò già bến
Bình Than, một trong những tay kiếm hộ thân xưa của đức ông Phụng Kiền, người
là thầy của tất cả gia tướng gia nô hương Vạn Kiếp, người đã từng thết Chiêu
Văn thân vương một bữa rượu gỏi cá kì lạ nhớ đời. Cụ Uẩn đi thay mặt cho dân
hương Vạn Kiếp.
Sau đoàn võng các bô lão là đoàn ngựa các vương thân, đại thần.
Chiêu Văn vương nhìn thấy đức ông Thượng tướng Thái sư và đức ông Tĩnh Quốc. Quốc
công Hưng Đạo vương thì lại đứng sang một bên nhường đường cho đoàn người dài dằng
dặc kéo đi mãi mới hết. Chiêu Văn vương nhìn thấy Quốc công sai Dã Tượng cắm lá
cờ nguyên soái lên đài cờ, ra lệnh cho binh sĩ nghỉ tại chỗ rồi đức ông đi bộ về
hoàng thành, sau lưng là các tướng tuỳ thân hộ vệ. Chiêu Văn vương cũng quay về
hoàng thành. Ông xuống ngựa, giao ngựa cho thị mã cận vệ rồi vào cung. Bấy giờ
các bô lão trong điện Thiên An đang đi lại xem cung, xem điện. Các đức ông giữ
trọng trách hai cung Thánh Từ và Quan Triều đã vào hậu cung để phò ngài ngự ra
điện.
Cụ Uẩn ngày xưa đã từng được ra vào cung điện nhiều lần nên dẫn
các bạn già đi xem điện. Các cụ bàn về đức Nhân của Quốc công Hưng Đạo vương và
cứ cãi nhau mãi về biết rõ và chưa biết rõ đức Nhân ấy. Cuối cùng các cụ rủ
nhau đến bờ hồ Dưỡng Ngư xem cá. Vào mọi buổi sáng cữ này, nội giám vẫn rắc bỏng
cho cá ăn. Cá quen lệ, chúng lên cả mặt nước đuôi phe phảy, đớp bọt ăn chậm chạp.
Một cụ bảo:
- Gớm cái giống cá đâu mà quý thế. Giếc đâu mà giếc dài đến
hơn một gang tay.
Cụ Uẩn bảo:
- Ấy, cái giống giếc đuôi đỏ này đem từ lộ Đà Giang về đấy.
Giống nó đẻ kìn kìn, mau ăn mau lớn lắm. Ngày xưa, tôi còn ở Hoàng thành, cứ mỗi
năm lại đánh cá một lần dâng Quan gia. Lần nào Quan gia cũng chia cho quân tứ
sương mỗi đô vài thúng.
Một cụ thích thú:
- Thế thì tốn rượu nhể? Giá quê mình cũng có nhể?
Nhưng rồi một cụ khác lại hoài nghi:
- Nhưng chẳng biết rõ nó có nhiều thịt không? Chứ như cái giống
ngão ta bè ngang mà...
Thế là mấy cụ rủ nhau xuống tận bậc lên xuống để xem cá cho
rõ hơn. Bầy cá dạn người, thế mà chúng cũng không lặn xuống dưới nước. Chúng
còn ve vẩy đuôi bơi sán lại quanh bậc thềm, miệng hớp hớp đám bọt nổi, con nào
con nấy béo thừa môi ra. Những cái vây, những cái đuôi đỏ nom thật là đẹp.
Mấy cụ đùn đẩy nhau để xem, thình lình một cụ trượt rêu trơn
lạng người hẩy ngay cụ Uẩn ngã đánh tùm một cái xuống hồ. Các cụ xúm lại hè
nhau kéo ông cụ ngã dưới nước lên bờ. Thôi thì quần áo, râu tóc ướt lướt thướt
hết cả. Chòm râu thưa bết nước tóp lại, cái khăn tam giang tụt xuống cổ lòng
thòng một đầu, nước rỏ tong tong...
Đúng lúc ấy, chuông vàng đánh chín hồi báo hiệu nhà vua ra điện.
Chuông vàng đã đánh tới hồi thứ chín. Buồi triều hội này,
Quan gia Nhân Tông với quyền uy là đương kim hoàng đế sẽ nói câu quyết định cuối
cùng nhưng đứng ra triệu mời và tiếp đãi lại là Thượng hoàng Thánh Tông với cái
lẽ là người già mời người cao tuổi để hỏi ý kiến khuyên bảo đàn con cháu.
Cửa hậu cung mở toang ra sau tiếng chuông cuối cùng của hồi
thứ chín. Đô Hổ Dực dàn quân từ cửa hậu cung ra tới điện Thiên An. Hai vua xuất
cung giữa một đám lọng vàng lộng lẫy. Theo sau hai vua là các thân vương giữ những
chức vụ quan trọng nhất trong triều, những thân vương có biển nhập nội, có thẻ bài
“hộ giá tuỳ sai”, hàng ngày vào chầu vua bàn việc lớn của nhà nước và binh gia
trong hai cung Thánh Từ hoặc cung Quan Triều.
Chiêu Minh đại vương Thượng tướng quân Thái sư Trần Quang Khải,
người đang cầm đầu các quan văn võ trong triều với nhiệm vụ tể tướng, đi trước
các thân vương. Sau đó đến Quốc công Tiết chế chư quân Hưng Đạo vương Trần Quốc
Tuấn, đến Tĩnh Quốc đại vương Trần Quốc Khang; trấn thủ các lộ phía nam, đến
Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc, trấn thủ lộ Đà Giang đồng thời là quan tướng chỉ
huy một cánh quân mạnh sẵn sàng đánh sâu vào sau lưng địch nếu chúng khởi quân
lấn đất ta, đến Nhân Huệ vương Phó Đô tướng quân Trần Khánh Dư chỉ huy toàn bộ
quân thuỷ, các đảo, các cửa sông, các bến trại và các xưởng chiến thuyền, đến
Điện tiền Nguyên soái phò mã Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng chỉ huy tất cả cấm
quân nhưng hiện đang cứ một hai từ chức Điện soái để xin ra chỉ huy quân trên
biên ải, đến Tá Thiên vương Trần Đức Việp, tướng trẻ hăng hái lẫm liệt trong
các vương hầu...
Trần Nhật Duật vô cùng xúc động trước quang cảnh trên năm
trăm cụ già râu tóc trắng phau đang làm lễ chúc thọ vua. Nhân Tông không ngồi
trên điện Thiên An. Nhà vua xuống thềm đi thăm hỏi từng cụ và nhìn thấy cụ Uẩn
quần áo ướt bèn sai nội giám vào hậu cung lấy quần áo khô mới cho cụ thay. Lát
sau họ mang ra cho ông cụ Bình Than một chiếc áo vóc tía mới tinh khôi. Các bô
lão vái chúc hai vua. Mỗi cụ tiêu biểu cho đạo đức, nhân tài, vật lực của một
hương và tất cả các cụ tượng trưng cho chí khí anh hùng của nhân dân Đại Việt.
Vần thơ đầy tráng chí của lão danh tướng tiền bối Lý Thường
Kiệt bỗng vang lên trong tâm hồn Trần Nhật Duật. Đức ông hoàng Sáu đột nhiên thấy
tầm vóc của nhân dân trăm họ vô cùng to lớn. Hôm nay, các bô lão cả nước sẽ nói
lên tiếng nói của dân hương mình trước nạn xâm lăng rằng: “Đánh hay hàng?”
Trần Nhật Duật hiểu và tin rằng các bô lão sẽ quyết đánh. Lịch
sử dân tộc lại một lần chứng minh ý chí toàn dân kiên định giữ nước, gan góc chống
giặc. Xưa kia, trước đây hàng ngàn năm, vua tổ Hùng Vương đã từng triệu các bô
lão về núi Hy Cương để hỏi ý dân trước nạn xâm lược đe doạ. Các bô lão đã xin
đánh. Vua Hùng đã nghe theo và nước Văn Lang đã chiến thắng quân Tần hung dữ.
Bây giờ cũng vậy, các bô lão sẽ lên tiếng, tiếng nói lẫm liệt của cả nước:
Đánh!
Trần Nhật Duật tin chắc các bô lão sẽ xin đánh nhưng ông vẫn
muốn nhìn tận mắt, nghe tận tai tiếng thét đồng thanh và cảnh ấy. Chức quan tướng
trấn phủ lại buộc ông phải đôn thúc việc trị an trong kinh thành. Vì vậy khi
nhà vua mời các bô lão sang điện Diên Hồng để khoản đãi và hỏi ý thì Trần Nhật
Duật phải đi làm công vụ ở bên ngoài kinh thành. Điều đó làm cho đức ông hoàng
Sáu nổi giận. Thấy đô Long Dực đang chực hầu ở cửa hoàng thành, Trần Nhật Duật
quát to ra lệnh:
- Lên ngựa!
Đô Long Dực lên ngay ngựa. Đô này gồm toàn dũng thủ túc vệ
Thượng đô, võ nghệ cung kiếm giỏi tuyệt trần, trán được thích ba chữ chàm
“Thiên tử binh”. Những binh tướng đô này vốn có mối hận cũ với bọn giặc nhà
Nguyên. Năm thằng Sài Thung sang sứ nước ta, nó hống hách qua cửa Đại Hưng
không thèm xuống ngựa. Vào đến cửa Dương Minh nó cũng định cưỡi ngựa qua. Khi ấy
lính đô Long Dực canh cửa Dương Minh đã ngáng giáo chắn đường thằng sứ thần nhà
Nguyên hỗn xược. Thằng này lại còn dùng cả roi ngựa đánh mấy người lính Long Dực
chảy cả máu đầu. Nếu không biết sợ phép nước mệnh vua thì hôm ấy họ đã bóp chết
tươi cái thằng Sài Thung hung hãn hỗn hào rồi.
Trần Nhật Duật dẫn đầu đô Long Dực phi ngựa qua các phố phường
kinh thành về phía quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích. Ông muốn xét động tĩnh trong quán sứ
và cũng muốn kiếm chuyện với nó cho hả giận. Đó cũng là một cách đe nẹt thằng Đạt
Lỗ Hoa Xích đồng thời trêu cho nó tức giận “chơi”.
Lính Long Dực đoán được ý Trần Nhật Duật, họ giơ cao ngọn
giáo sáng loáng, họ rướn mình trên bàn đạp, miệng hô tiếng hô chiến đấu: “Xông
lên! Giết! Xông lên! Giết”
Quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích đóng cổng kín mít. Những tên quân
canh cũng rút cả vào trong. Đằng sau kẽ ván gỗ cánh cửa quán sứ chắc có những
tên đứng trong nhìn ra. Trần Nhật Duật cho ngựa phi quanh quán sứ ba vòng thật
nhanh rồi vòng thứ tư cho ngựa đi bước một. Đàn ngựa phi đang hăng, chưa phỉ
chí bị ghìm cứ hậm hực hí. Chúng lần lượt cong đuôi ỉa tung toé ra đường. Lính
Long Dực cười ồ cả lên. Quán sứ Đạt Lỗ Hoa Xích đâm ra hôi hám như chuồng thú.
Trần Nhật Duật dẫn quân đi tra soát mấy đồn phong đoàn chính
yếu của kinh thành. Những đồn phong đoàn là nơi đóng quân của lính tuyển phong
chuyên việc dò giặc, bắt trộm, trị cướp, ngăn chặn các việc làm trái pháp luật
của nhà nước. Tra soát xong, Trần Nhật Duật quay trở lại hoàng cung. Ông cho
lính xuống ngựa nghỉ và ông vào nội cung bằng cửa Vân Hội. Ông bước lên thềm điện
Diên Hồng lúc các bô lão ùa lên nói với Trần Quốc Tuấn:
- Sao Quốc công lại quá khen cái lũ giặc ấy thế?
Trần Quốc Tuấn phò hai vua đưa các bô lão sang điện Diên Hồng.
Bữa nay điện này được trang trí rất khéo. Điện không có những
hàng cột thếp vàng lộng lẫy và những bức tường ghép gỗ dạ hương chạm nổi như điện
Thiên An. Điện cũng không có những bậc thềm rộng mà người lên hoặc xuống thềm cảm
thấy thăm thẳm triền miên. Diên Hồng là một ngôi điện rộng làm từ triều trước,
lúc nhà Trần vừa lên ngôi còn nguyên cái hồn hậu của dân dã, cái vũ dũng của những
tráng sĩ đi mở nước. Diên Hồng có một vẻ đẹp trầm mặc, hùng vĩ với lớp mái vảy
cá chót cong vừa phải và hàng cột chò chỉ trơn, màu đã xuống với thời gian. Nền
điện trải toàn chiếu cạp điều sát vào nhau và nhà vua đã sai bày tiệc lên đó để
thết đãi các bô lão.
Trong lúc Nhân Tông và Trần Quang Khải mời các cụ vào điện Trần
Quốc Tuấn chợt nhớ ra một điều, ông đi ra cửa Việt Thành. Ông thấy Trương Hán
Siêu đang túc trực ở đấy. Vị tướng già ra lệnh bằng giọng gấp gáp:
- Cháu cầm lấy cái này về ngay vương phủ họp thư nhi bên ta
và bên phủ Chiêu Minh sao cho ta làm năm nghìn bản. Hẹn lúc mặt trời lặn chiều
nay phải đem tới bến Đông.
Trần Quốc Tuấn trao cho Trương Hán Siêu một cuộn giấy. Ông mở
to mắt, bảo Trương Hán Siêu:
- Bản hịch của ta đó. Đi cho mau.
Khi Trần Quốc Tuấn quay trở về tới điện Diên Hồng thì tiếng
hô “Đánh! Đánh!” đang vang ầm hoàng cung. Ông bước lên thềm điện, thấy Nhân
Tông đứng giữa, các bô lão đang ngoảnh mặt về nhà vua. Một số cụ ngồi mé xa nhấp
nhổm quỳ gối lên và những cụ ngồi tận cùng thì đứng cả dậy để nghe và nhìn cho
rõ hơn.
- Đây rồi, Quốc công Tiết chế đây rồi. Quốc công hãy nói cho
bô lão rõ về sức ta và sức địch đi!
Trần Quốc Tuấn từ từ bước vào, đường bệ trong bộ áo chiến đại
trào và chòm râu lốm đốm bạc rủ dài xuống mảnh đồng thau hộ tâm hình chữ nhật
chạm phù hiệu quân Thánh Dực. Một cụ hô lớn:
- Xin Quốc công cho đánh.
Toàn điện Diên Hồng lại rung lên. “Đánh! Đánh!”. Vị tướng già
mắt sáng lên, sung sướng trong không khí tin tưởng anh hùng. Ông nói:
- Cần phải biết mình biết địch. Hốt Tất Liệt hiện nay không
chỉ là vua của đám dân du mục chỉ biết phi ngựa bắn đốt. Hắn còn là vua của
hàng trăm triệu người biết cắm rễ sâu xuống những cánh đồng phì nhiêu nằm trên
lưu vực Hoàng Giang và Trường Giang. Hốt Tất Liệt không chỉ âm mưu diệt dân ta,
hắn còn muốn chiếm giữ lâu dài, chia thành quận huyện, đặt ách đô hộ ngàn đời
lên cổ dân ta. Kẻ địch của chúng ta có quân kị thiện chiến, quân bộ thiện chiến,
lương thảo dồi dào, chiến cụ dồi dào...
Có một cụ ngắt lời ông:
- Sao Quốc công lại quá khen cái lũ giặc ấy thế?
Chính vào lúc đó, Trần Nhật Duật trở về. Điện Diên Hồng đang
trong lúc không khí căng thẳng. Trần Quốc Tuấn vẫn điềm tĩnh:
- Xin các cụ nhớ cho kẻ địch của chúng ta đã thiện chiến lại
thâm hiểm vô cùng...
Nhưng cụ Uẩn lại ngắt lời ông một cách rất bất ngờ:
- Chúng ta đã chọi giáo với lũ giặc ấy rồi.
Trần Quốc Tuấn suýt bật cười khi thấy ông già thấp nhỏ trong
chiếc áo vóc tía.
- Đúng, chúng thiện chiến mà ta cũng thiện chiến. Nhưng chiến
trường diễn ra trên đất ta sao tránh khỏi những tổn thất cho trăm họ...
Thế là các bô lão ùa lên nói với Trần Quốc Tuấn:
- Mất nước là mất hết. Xin Quốc công cho đánh!
Rồi họ hướng về phía vua Nhân Tông hô to:
- Xin Quan gia cho đánh!
- Hương Quắc chúng tôi xin đánh!
- Hương Tức Mạc chúng tôi cũng xin đánh!
- Hương Hoằng chúng tôi xin đánh!
...
Trần Nhật Duật nhìn thấy cụ Bành. Ông cụ già vùng biển tuổi
vào loại cao nhưng còn khoẻ lắm. Ông cụ đứng hẳn dậy giơ hai tay nắm chặt ra
trước mắt:
- Thưa Quan gia, thưa các đàn anh. Hương Hoằng chúng tôi cũng
như cả nước xin quyết đánh và quyết thắng. Thưa các đàn anh, nước Việt chúng ta
có bao giờ chịu nhục. Xin là đánh và quyết thắng.
Tất cả các bô lão cùng gào lên:
- Xin đánh! Đánh cho tan bọn kẻ cướp phương Bắc.
Điện Diên Hồng lại rung lên hai tiếng Sát Thát. Các vương hầu
và lính cấm vệ đứng canh cũng thét theo ầm ầm.
- Sát Thát! Xin đánh! Sát Thát! Xin Quan gia cho đánh. Thà chết
chứ không chịu mất nước!
Trần Nhật Duật và Trần Bình Trọng cũng thét to xin đánh. Hai
quan tướng trấn phủ và trấn điện cũng quên khuấy mất nhiệm vụ của mình mà cứ
hét lên. Nhân Tông muốn cân nhắc kĩ nên nhà vua mời các bô lão uống một chén rượu.
Nhưng các bô lão nhất định không chịu uống. Họ trả lời rằng Quan gia chưa hạ chỉ
đánh thì không ai an tâm uống chén rượu ấy. Trần Nhật Duật nhìn thấy Nhân Tông
đứng sừng sững, mặt xúc động, đôi mắt hừng hực từ từ khép lại. Thình lình nhà
vua trẻ mở to mắt, cất tiếng sang sảng đầy vẻ quả quyết:
- Vậy thì... ta truyền chỉ. Các cụ hãy uống với ta chén rượu
nguyền một lòng chống giặc. Ta truyền đánh!
Các bô lão, vương hầu, tướng lĩnh, binh sĩ cùng gầm lên:
- Đánh! Đánh! Đánh!
Trần Nhật Duật thấy mắt mình nhoà đi. Ông nghe có tiếng cụ
nào đó khóc rống lên sung sướng. “Quan gia cho đánh rồi! Quan gia cho đánh rồi!”
Trăm họ là gốc của xã tắc! Chân lí ấy rạng rỡ, chốt chặt
trong lòng Trần Nhật Duật. Đức ông quan tướng trấn phủ nguyền thầm sẽ giữ gìn ý
chí sắt son để khỏi phụ lòng trăm họ. Ông chưa hề nghĩ tới trong mấy trăm con
người đứng trong điện Diên Hồng lúc đó, những ai là người anh hùng?
Nhanh quá. Xong xuôi nhanh quá. Trần Quốc Tuấn sai Nguyễn Địa
Lô về ngay vương phủ Hưng Đạo hẹn chính ngọ đã phải có bản hịch của ông ở ngoài
bến Đông.
Gần trưa, Chiêu Minh đại vương hộ tống nhà vua tiễn Tiết chế
ra bến Đông làm lễ xuất sư. Quân Long Dực, Hổ Dực mở đường. Lính hai quân Tả và
Hữu Thánh Dực dưới quyền chỉ huy của Trần Bình Trọng hộ vệ hai bên kiệu vua.
Sau kiệu là Trần Quốc Tuấn hiên ngang trên lưng con Tía Mật. Sau đó là Chiêu
Minh đại vương cùng các quan văn võ và các bô lão kéo dăng dăng trên con đường
hoè từ cửa Việt Thành đến bến Đông.
Nắng hanh.
Cờ rực rỡ. Trống đồng bến Đông đánh thì thùng. Nắng lập loè đầu
ngọn giáo, nắng lập loè trên mảnh hộ tâm của các tướng. Nắng long lanh trong mắt
binh sĩ.
Đến bến Đông, Nhân Tông xuống kiệu. Nhà vua lại trước đầu ngựa
của Trần Quốc Tuấn, giữ cương cho vị tướng già xuống yên. Nhân Tông cầm tay đưa
Trần Quốc Tuấn lên trên đài cờ. Không khí trang trọng đến tức thở. Chỉ nghe tiếng
cờ bay phần phật và tiếng sóng vỗ mạn thuyền ì ùm.
Nhân Tông vái Trần Quốc Tuấn và phán:
- Từ nay việc an nguy của nước nhà, trẫm xin giao cho Quốc
công.
Trần Quốc Tuấn nghiêm trang đáp lễ:
- Lão thần thề không để nhục mệnh bệ hạ.
Đối với Nhân Tông, Trần Quốc Tuấn là bác ruột, đồng thời là bố
vợ, là thầy yêu. Tình cảm nhiều bề quyến luyến. Nhân Tông ban kiếm Thượng
Phương trao quyền chém trước tâu sau cho Trần Quốc Tuấn và quyền ban tước tới vị
hầu cho ông. Nhà vua chăm chú nhìn vị tướng già và thấy quả là một người quắc
thước lạ lùng.
Từ trên đài cờ, Trần Quốc Tuấn lặng nhìn các đội quân hàng
ngũ chỉnh tề bên dưới. Này đây quân Thánh Dực túc vệ Thượng đô của Bảo Nghĩa hầu
Trần Bình Trọng. Vừa qua vị Nguyên soái trấn điện này đã tha thiết xin vua cho
ra trận. Nhà vua đã chuẩn y. Trần Bình Trọng sẽ dẫn quân Thánh Dực theo ông ra
trận tiền lập công. Này đây đội quân cưỡi ngựa của Chiêu Văn vương ăn mặc áo
chiến ngắn tay nhuộm chàm nom hùng vĩ và bí mật như rừng núi. Này đây đội quân
thiếu niên của Trần Quốc Toản đứng dưới ngọn cờ mang sáu chữ kiêu hãnh “Phá giặc
dữ, báo ơn vua”. Này đây đội tượng binh của hương Vạn Kiếp xếp thành khối đen
to và hục hặc. Này đây đội quân thuỷ của Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư vác những
cây câu liêm ba ngạnh kì dị. Này đây đội quân gia đồng của Chiêu Minh đại vương
đứng nghiêm chỉnh sau lá mộc vẽ chòm sao Bắc Đẩu của đức ông hoàng Ba. Này đây
đội quân tinh luyện người Thăng Long của Trung Thành vương, con người lịch sự
nhất kinh kì. Này đây đội quân của Hưng Ninh vương, đội quân của Hưng Võ vương,
của Hưng Nhượng vương...
Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa
truyền lại nâng cao chí khí của ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mạng
nặng nề.
Ông thét lớn:
- Bớ ba quân!
Quân lính dạ ran kinh thành sông nước. Trần Quốc Tuấn thét tiếp:
- Quan gia đã hạ chỉ cho ta lĩnh cờ Tiết chế cùng các ngươi
ra quân giết giặc. Kiếm Thượng Phương đây! - Ông giơ cao kiếm lên khỏi đầu - Ai
trái lệnh phản dân hại nước ta sẽ nghiêm trị không tha.
Quân sĩ lại dạ ran. Nhân Tông cầm cây gậy xương cá trong tay
Dã Tượng lại gần trao cho Trần Quốc Tuấn:
- Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ
mà giữ gìn sức khoẻ.
Sau đó Trần Quốc Tuấn ra lệnh cho đạo quân bộ lên đường. Khi
các cánh quân bắt đầu chuyển, Trần Quốc Tuấn cũng xuống bến thuyền. Ngoài cửa bến,
Trần Quốc Tuấn thấy đức ông Chiêu Minh đứng chờ sẵn ở đó. Sau lưng Chiêu Minh đại
vương là thư nhi hai phủ. Trần Quang Khải tặng Trần Quốc Tuấn tập thơ Lạc Đạo gồm
những bài ông làm gần đây do chính tay ông chép lại. Ông nói với Hưng Đạo vương:
- Ba quân đã trảy, xin mời Quốc công lên thuyền.
Trần Quốc Tuấn vái từ vua rồi quay sang Trần Quang Khải:
- Hịch đã viết xong. Phiền Thượng tướng quân sai truyền đi
các lộ ngay.
Thuyền tướng từ từ kéo buồm. Ngọn cờ tiết chế uy nghi trên
mũi thuyền. Nhân Tông để tay vào đuôi thuyền khẽ đẩy. Thuyền tướng rời bến. Mặt
sông la liệt buồm và cờ. Dàn trống đồng đánh nhịp xuất quân. Tiếng trống rạo rực
và thôi thúc.
Quân chèo thuyền cất cao giọng:
Dò hò này...
khoan ơi hò khoan
Dò hò... này
Cùng nhau... ý a
Tiếng hò náo nức lòng người xiết bao. Trần Quốc Tuấn đứng
trên mũi thuyền thấy sông bao la chan hoà ánh nắng. Thăng Long từ từ xa dần và
trong lòng vị tướng già bỗng đinh ninh lời thề khải hoàn với kinh thành yêu dấu.
Trần Quốc Tuấn trầm ngâm ngắm đêm sông Thiên Đức đầy sao. Đốm
lửa cuối thuyền của cụ Uẩn chỉ còn le lói mé xa xa như lửa đóm. Các bô lão sau
yến vua ban đã chia tay nhau trở về quê quán. Trần Quốc Tuấn còn nghe văng vẳng
trong tai lời một bô lão cao tuổi nhất:
- Bẩm Quan gia! Chúng tôi sẽ kể cho con cháu chúng tôi nghe.
Tôi con cả nước sẽ vững lòng chống giặc.
Cụ Uẩn về Bình Than, nửa đường cụ rẽ vào Mai Hiên chào Trần
Quốc Tuấn. Mai Hiên là thái ấp ngày xưa của đức ông Phụng Kiền, về sau Quan gia
ban cho Hưng Đạo vương làm ấp thang mộc, để cho đức ông Hưng Đạo có nơi tắm gội
sạch sẽ gần kinh thành mỗi bận tiến cung chầu vua.
Trần Quốc Tuấn giữ ông cụ Bình Than lại thái ấp và đãi ông cụ
một bữa rượu say tuý luý trước lúc lên đường xuôi Bình Than. Ông cụ say đến nỗi
không xách được cái thúng khảo sơn trong có nước và một đôi cá giếc đuôi đỏ ra
bến thuyền. Đôi cá này là vật vua ban cho tất cả các cụ có mặt trong tiệc Diên
Hồng. Khi các cụ bô lão chia tay nhau, gia nô hương Vạn Kiếp trông thấy cụ Uẩn
mặc áo vóc tía, đều kinh ngạc sững sờ rồi kêu lên: “Úi chao ôi! Cụ được Quan
gia phong tước hầu thượng vị cơ à?”. Cụ Uẩn trả lời không phải, nhưng gia nô
hương Vạn Kiếp không tin bởi vì chỉ tước Thượng vị hầu mới được mặc áo tía. Trần
Quốc Tuấn cũng suy nghĩ và không hiểu rõ ý Nhân Tông. Có lẽ Quan gia phong tước
này cho cụ Uẩn thật chăng? Ban phong cho để thưởng công cụ đã có kế hay ương cá
các nơi làm lương ăn cho quân dân no nê đủ sức đánh lâu dài. Hay Quan gia cho
ông cụ áo tía chỉ vì trong hoàng cung chỉ dùng có hai màu áo: màu vàng của nhà
vua và màu đỏ của thái giám trong cung? Nhưng có thể Quan gia phong tước cho
người lính già này thật đấy, mà như thế cũng không có gì là quá với ông cụ.
Trần Quốc Tuấn mỉm cười nhớ tới trí lự của Nhân Tông, học trò
và con rể của mình. Trong khi tiệc Diên Hồng đang diễn ra sôi nổi, lính quân Thần
Sách được lệnh đem lưới đến hồ Dưỡng Ngư đánh cá. Bộ Hộ cũng được lệnh của hoả
tốc biện bằng đủ năm trăm chiếc thúng sơn. Khi Quan gia tiễn bô lão ra cửa Việt
Thành, các cụ được vua ban nhiều quà, nào là chày cối giã trầu, nào là hộp quả
đào đựng trầu vỏ, nào là quế quý và mỗi cụ được một đôi cá giếc. Nhân Tông ân cần
dặn:
- Các cụ về nuôi cho khéo. Có khi đánh giặc cũng lâu. Các cụ
nuôi làm sao cho cá đầy đầm đầy ao, dân có cá ăn, quân có cá ăn.
Trần Quốc Tuấn thấy lòng lâng lâng. Ông đột nhiên nghĩ rằng
giờ đây trên mọi nẻo đường, các bô lão đang nâng niu đôi cá giống mang về tới
thôn xóm hẻo lánh nhất, truyền cho trăm họ ý chí quyết đánh quyết thắng của triều
đình.
Ông nghĩ tới bao người đang âm thầm làm công việc sửa soạn chống
giặc. Đỗ Vỹ đã lên đường. Bây giờ anh ấy đang ở một nơi nào đó bên kia biên giới,
âm thầm, gan góc làm công việc khó khăn ông đã giao cho. Ông nghĩ tới Trần Bình
Trọng, con người luôn luôn nghĩ mình làm tướng cần ở chốn biên thuỳ. Bảo Nghĩa
hầu đã xin vua thôi chức Nguyên suý trấn điện để lĩnh quân lên ải bắc. Bây giờ
Bảo Nghĩa hầu đang cùng quân hành tiến ở triền sông nào đây?
Bỗng Trần Quốc Tuấn mở to mắt nhìn về phía nguồn sông. Ông thấy
những đốm sáng ông đang chờ đợi. Những đốm sáng to dần trở thành những ngọn lửa
đuốc cắm trên mũi những con thuyền mang bản hịch của ông truyền đi các lộ. Trần
Quốc Tuấn lắng nghe binh sĩ reo hò:
- Bớ làng chạ hai bờ! Triều đình đã xuất quân. Làng trên chạ
dưới lắng nghe tôi truyền chỉ vua. Triều đình đã xuất quân phá giặc. Bớ làng chạ
hai bờ...
Đoàn thuyền truyền hịch rất đông, kéo dài hàng mấy khúc sông,
lốm đốm lửa đuốc như con rồng sáng. Từ thôn làng hai bờ sông Thiên Đức, tiếng
lao xao to dần, dân làng cũng bật hồng kéo ra, ngắm cảnh nửa đêm truyền hịch.
Trần Quốc Tuấn nhìn sang phải, sang trái. Đâu đâu cũng thấy
hàng nghìn bó đuốc cháy bập bùng. Ông có cảm giác cả nước hôm nay không ngủ. Cả
nước cùng thức với ông nghe bản hịch dậy lòng chống giặc.
Ông nghiêng mái đầu lắng nghe. Mé bên kia sông, có tiếng ai
sang sảng. Bên ấy bài hịch của ông đang vang lên từng tiếng rành rọt, đanh
thép. Ông lẩm bẩm:
- Đạo quân của Hoài Văn hầu và của Trung Thành vương đây.
Ban chiều ông đã thấy hai đạo quân này cắm lều trận trên cái
bãi sa bồi bên kia sông. Bây giờ quân sĩ xếp từng đô vuông vức, nổi đuốc lên
nghe hịch...
“... Huống chi ta với các ngươi, sinh ra giữa buổi rối ren, lớn
lên nhằm thời nguy cấp, mắt thấy sứ giặc đi lại đường sá nghênh ngang, uốn lưỡi
cú diều sỉ mắng triều đình, đem thân dê chó làm nhục tể phụ...”
Trần Quốc Tuấn cười gằn nghĩ tới Sài Thung. Nó chưa phải là kẻ
thù hung hãn nhất. Lần này ra quân, phân thắng bại ở chiến trường, chính là lúc
ông sẽ diệt tan nguồn gốc bạo lực kiêu hãnh của giặc. Cả nước sẽ cùng xốc tới
theo ngọn cờ của ông dìm giặc xuống đáy các dòng sông nước Việt.
Bên kia sông, tiếng hịch càng to hơn:
“... Các ngươi ở dưới trướng ta đã lâu, nắm giữ binh quyền,
không có áo thì ta cho mặc, không có cơm thì ta cho ăn, thăng chức, cấp lương,
cấp thuyền, cấp ngựa...”
Thốt nhiên hàng loạt hình ảnh thân thiết, vũ dũng, hiên
ngang, nhân ái diễu nhanh qua trước mắt ông. Chiêu Minh đại vương với đôi mắt
trầm tư sâu sắc. Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật dẫn đầu một cánh quân kị sơn
chiến gọn ghẽ, sắc sảo nhưng vẫn lịch sự duyên dáng. Hoài Văn hầu với khí thế
tuổi trẻ nuốt trâu dẫn đầu sáu trăm gã thiếu niên hào kiệt, tươi vui và nhộn nhạo.
Ông nhớ tới Đỗ Vỹ, con người tài hoa, bản lĩnh, tới Dã Tượng, Yết Kiêu, những
gia tướng trung trinh, cụ Uẩn, người lái đò già đã từng là tay kiếm hộ vệ của
cha ông, tới thư nhi Trương Hán Siêu, tới ông già chép sử Lê Văn Hưu, bậc thầy
và tham quân trí lự của Chiêu Minh vương... tới tất cả những con người anh hùng
của nước Việt anh hùng...
“... Bởi vì như vậy tức là các ngươi không hề nghĩ tới mối
thù chung, điềm nhiên không lo rửa nhục, không nghĩ đến việc dẹp giặc, không
siêng năng luyện rèn sĩ tốt. Như thế là trở giáo hàng giặc. Rồi đây khi đánh
tan giặc, các ngươi sẽ phải để thẹn muôn đời, còn mặt mũi nào đứng giữa trời đất
nữa?
Vì vậy cho nên ta viết hịch này để cho các ngươi biết bụng
ta...”
Thốt nhiên có tiếng reo dậy đất. Bãi sông bên kia xôn xao ông
cảm thấy có một sự việc trang trọng đang diễn ra bên đó. “Hãy khắc lên da thịt
cho hai chữ ấy nhuyễn vào xương máu chúng ta. Giết giặc!”
Sự việc gì thế nhỉ? Đột nhiên Trần Quốc Tuấn ao ước có phép
thần để có mặt lúc này tại khắp nơi trên đất nước, hoà tình cảm riêng với hào
khí của cả dân tộc Việt. Trần Quốc Tuấn chợt thấy dạ cứ nao lên và ông tự hứa
thầm sẽ làm hết sức mình để tạ lại những tấm lòng trung trinh, nhân ái ấy.
Chương 15
Mùa xuân. Những hạt mưa nhỏ nhẹ, bay la đà đậu cả lên khăn
chiến, lên vai áo chẽn của binh lính. Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh giơ cao lá cờ
lệnh. Từ chỗ đứng, viên tướng Nguyên có thể nhìn thấy các đội quân Hán, Ô Man,
Thát Đát... đang chiếm lĩnh các vị trí xuất quân trong trận đánh quyết định sắp
tới. Cuộc Nam chinh thế là đã bắt đầu hơn một tháng rồi.
Nạp Tốc Lạt Đinh chỉ huy một mũi phụ tiến từ nước Đại Lý cũ
vào tây bắc nước Đại Việt. Mũi tiến công này dùng cốt lõi là một nghìn quân kị
mã Thát Đát cưỡi những con ngựa Đại Lý thấp nhỏ nhưng bền sức và vó chắc quen
thuộc đường rừng, nhưng lực lượng rộng rãi gồm hơn một vạn quân Hán và quân Ô
Man đánh bộ ở vùng rừng núi rất giỏi.
Nạp Tốc Lạt Đinh dẫn đội quân kị từ hành doanh của Đại nguyên
soái Thoát Hoan về đây. Y đã được dự bàn kế tấn công vào nước Đại Việt với tư
cách là một tướng chỉ huy một mũi. Nạp Tốc Lạt Đinh đang say sưa với niềm khát
vọng cuồng nhiệt và y tin chắc sẽ được dự phần công lớn. Đại nguyên soái Thoát
Hoan thật là một tướng giỏi tuy tuổi trẻ mà vẫn xứng đáng dòng dõi danh tướng.
Đại nguyên soái đã vạch ra một kế hoạch tấn công kì diệu bằng bốn mũi:
- Mũi tấn công mé tây bắc nước Việt, Nạp Tốc Lạt Đinh được
vinh dự làm tướng. Mũi này nhằm buộc quân Việt phải chia ra thụ địch ở nhiều hướng.
- Mũi tấn công từ mé Chiêm Thành đánh úp vào sau lưng nước Việt.
Mũi này do Nguyên soái Toa Đô làm tướng.
- Mũi tấn công bằng cả thuỷ lẫn bộ vào phía đông nước Đại Việt.
Mũi này dùng nhiều quân Hán tuyển chọn ở Quảng Đông, Phúc Kiến, dùng cả bọn cướp
biển mới quy hàng. Tướng mũi tấn công này là viên tướng Hán là Vạn hộ hầu Lý
Bang Hiến.
- Đại nguyên soái Trấn Nam vương Thoát Hoan và Binh chương A
Lý Hải Nha chỉ huy đạo quân chính đánh vào phía bắc nước Việt. Thực ra, linh hồn
của đạo quân này chính là Phó Nguyên soái A Lý Hải Nha. Mà thực ra gã này cũng
chính là bộ não của cả đạo quân Nam chinh nhà Đại Nguyên.
Năm mươi vạn cả lính lẫn phu là một đội quân cực mạnh. So với
thời Đại Hãn đội quân này không nhanh bằng nhưng có sức bền tiến hàng năm xa đất
gốc và có đủ chiến cụ để vượt qua các luỹ, vượt qua những dòng sông phương nam
mùa nào cũng mênh mông, đủ sức và đủ phương tiện để tiến hành đánh các thành
trì đắp đất hoặc xây gạch. Một đội quân với trình độ tổ chức cao, có đủ binh
phù ấn tín, có phương tiện thông tin bằng ngựa, bằng thuyền, bằng hiệu cờ, hiệu
đèn, hiệu khói lửa. Lại thêm có cốt lõi là kị binh Thát Đát và thuỷ binh hải tặc
cũ ven biển Quảng Đông, Phúc Kiến.
Nạp Tốc Lạt Đinh đã nửa đời chinh chiến, ăn ngủ trên lưng ngựa
nhưng chưa lần nào y thấy say sưa như lần này. Ôi cái nước Việt như trong truyện
thần tiên, một năm ba mùa lúa chín, cá đầy sông hồ biển suối, ngọc trai, trầm
hương, sừng tê, vàng vớt lên từ suối, ngọc lấy từ bờ khe mà con gái thì đẹp như
tiên, dệt những tấm lụa mặc vào người rồi mà vẫn tưởng cởi trần...
Phía trước mặt Nạp Tốc Lạt Đinh là một đạo quân Việt quen thuộc
rừng núi do một tướng nghe đâu là một bậc thân vương thao lược của nước Việt chỉ
huy: Trần Nhật Duật. Những tên do thám sừng sỏ lão luyện của triều Nguyên đã
đánh giá về viên tướng Việt này như sau: Một tướng giỏi, thận trọng nhưng vô
cùng gan dạ. Và rất thông minh, quả là rất thông minh. Nạp Tốc Lạt Đinh đã lập
mẹo để bắt sống bằng được viên tướng đó. Trần Nhật Duật có tám nghìn quân sơn
cước, một lực lượng xấp xỉ với đội quân của y nhưng viên tướng Việt đã phải
chia một nửa số quân ấy sang tiếp sức cho mé đông bắc rồi. Quân Việt không mắc
mẹo chia quân thụ địch nhiều hướng mà còn tập trung cho chiến trường chính.
Nhưng như thế lại có lợi cho Nạp Tốc Lạt Đinh. Y đã sai thám mã giỏi đi dò xét
quân Việt. Xem khói nấu cơm, xem bụi bốc ở chỗ đóng quân người Việt, bọn thám
mã đoán chắc quân của Trần Nhật Duật không quá bốn nghìn người. Nạp Tốc Lạt Đinh
liền cho quân kị chọc sâu vào sau lưng quân Việt để chẹn hậu. Trong khi đó y
đánh cầm chừng ở mặt chính. Căn cứ vào tính nết của viên tướng Việt, Nạp Tốc Lạt
Đinh phán đoán quân Việt sẽ ngoan cường giữ vững mặt trận và như vậy khi vòng
vây khép hậu, Nạp Tốc Lạt Đinh sẽ bắt sống tướng đối phương, làm tròn tướng mệnh
cho mũi tấn công tây bắc của y.
Nạp Tốc Lạt Đinh nhớ tới lời giao hẹn của Đại nguyên soái
Thoát Hoan: tướng mũi nào làm tròn tướng mệnh cũng được tính công đầu! Nạp Tốc
Lạt Đinh đinh ninh y sẽ lập công đầu lần này, tên ghi sách vàng, phong hầu một
phiên trấn, trở thành ông vua con ở Vân Nam.
Những đội quân Hán, Ô Man, Thát Đát dùng mọi thủ đoạn để tỏ
ra ít và yếu. Chúng dùng một số quân rất nhỏ tiến ban ngày để mở đường còn quân
chủ lực cứ xế chiều mới ra đi. Nạp Tốc Lạt Đinh còn sai người đốt lửa ở các mỏm
núi cao để nghi binh làm như quân Nguyên vẫn đóng lại chưa dám tiến. Kì thực thế
trận bao vây đã mau chóng hình thành.
Theo mẹo của y, quân Nguyên sẽ mở cuộc tấn công lớn vào mờ
sáng ngày mai, dồn quân Việt xuống đáy cái túi đã có quân kị mã thiện chiến chực
sẵn đánh lối cất vó. Nạp Tốc Lạt Đinh lên ngựa. Đội hộ vệ của y cũng lên ngựa.
Đoàn người ngựa xuống núi đi về phía nam.
Xa xa, phía quân Việt, những làn khói nấu cơm vẫn bốc lên. Nạp
Tốc Lạt Đinh cười nhạt. Bọn ấy đâu biết được diệu kế của y, Vạn hộ hầu, danh tướng
nhà Đại Nguyên!
Nạp Tốc Lạt Đinh vẫn tính vừa quá cao vừa quá thấp lực lượng
của đối phương. Theo tính toán của Quốc công Tiết chế Trần Quốc Tuấn, mặt tây bắc
rừng núi rậm rạp hiểm trở, đường lương thảo rất khó vận chuyển, giặc có kéo
sang cũng chỉ là mũi nghi binh. Trần Quốc Tuấn đã tập trung binh lực nhằm đánh
mòn địch ở mặt trận đông bắc. Ông nhận định: mặt trận này mới là mặt trận
chính. Nhưng Trần Quốc Tuấn đã đặt một cánh quân mạnh ở Đà Giang và Tam Đái
Giang. Cánh quân này do Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc chỉ huy sẽ tiến qua mặt
trận của Trần Nhật Duật chọc thẳng vào sau lưng địch, hình thành thế địch đánh
ta vào sâu đất ta, ta lại tiến quân đánh vào sâu đất địch, phá mưu của Thoát
Hoan. Phá cái mưu đem cuộc chiến vào đất ta bằng cách đem cuộc chiến vào giữa đất
địch. Cánh quân của Trần Ích Tắc có viên phó tướng là Văn Chiêu hầu Trần Văn Lộng
nguyên giữ chức trấn thủ lộ Tam Đái Giang. Toàn bộ cánh quân được lệnh ém kín
trong rừng. Vì vậy ở lộ Quy Hoá, Trần Nhật Duật chỉ giữ có hai nghìn quân, dùng
toàn binh khí nhẹ để tiện di chuyển chiến đấu ở vùng rừng núi. Ông đã được giao
tướng mệnh: Đánh kiềm chế nếu giặc tiến quân cả mặt này. Nếu chúng không sang
mũi này thì đem dân binh sang quấy rối vùng sau lưng địch ở mạn đông bắc làm bức
tường dựa cho cánh quân của Trần Ích Tắc sẽ đánh sâu vào trong đất địch.
Chính lúc này, trên một mỏm núi cao, Trần Nhật Duật cũng đang
quan sát thế trận và nghiền ngẫm mẹo phá giặc. Ông cũng đang băn khoăn về cánh
quân của Trần Ích Tắc không hiểu vì lí do gì mà chậm trễ chưa tiến quân qua. Trần
Nhật Duật còn nhớ hôm xuất sư. Hôm ấy sau khi tiệc Diên Hồng kết thúc, hai vua
và triều đình long trọng tiễn các bô lão ra bến Đông để trở về các lộ. Ngay lúc
đó, Quốc công làm lễ tế cờ xuất sư. Chiêu Văn vương dẫn quân bản bộ lên đường
đi Quy Hoá. Đêm đó ông đóng quân nghỉ trên một vùng bãi sa bồi bên bờ sông Nguyệt
Đức. Đằng sau trại đêm của ông là trại đêm của Trung Thành vương và Hoài Văn hầu.
Nửa đêm hôm đó, hịch của Quốc công Tiết chế được truyền đi. Trên sông Nguyệt Đức
thăm thẳm hùng vĩ, đoàn thuyền truyền hịch từ sông Thiên Đức tiến sang đốt đuốc
dăng hàng dọc như một con rồng lửa. Hai ven sông, quân lính và trăm họ trang trọng
đứng im lặng nghe loa truyền hịch.
“... ngó thấy sứ nguỵ đi lại đường sá nghênh ngang...”
Hà! Trần Nhật Duật thừa hiểu thế nào là sứ giặc đi lại đường
sá nghênh ngang... Nhưng quân thù đâu phải chỉ là mấy tên sứ thần hỗn hào láo
xược mặc dù chúng đã làm ông và các tướng triều đình lắm phen căm gan tím ruột.
Quân thù thực sự, nguồn gốc bạo lực, kiêu hãnh và hung hãn của chúng là binh là
tướng hiếu sát tàn ác, đến lúc này mới nhe nanh giương vuốt xuất đầu lộ diện. Hịch
của Quốc công nhắc nhở mọi người ghi nhớ mối thù không đội trời chung và ghi nhớ
cả nỗi nhục sâu xa.
Trần Nhật Duật mường tượng vẻ mặt nhân hậu của Quốc công khi
nghe tiếp lời hịch:
“...Ra trận cùng nhau sống chết, ở nhà cùng nhau nói cười.”
Đấy! Đấy chính là lẽ keo sơn trong đạo quân phụ tử của nước
Việt, chính là sức mạnh tất thắng của đạo quân ấy. Khi hịch truyền xong, binh
tướng trong đạo quân của ông và của các trại đêm bên cạnh cùng hăm hở xăm lên bắp
tay lên bả vai những chữ: “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc”. Vì nghĩa quên
thân là đền ơn nước. Ý nghĩa thật sâu xa.
Mờ sáng hôm sau, Trần Nhật Duật dẫn quân lên đường. Ông gặp
Quốc công Tiết chế xuôi thuyền về hành trung doanh Vạn Kiếp. Trần Quốc Tuấn cho
thuyền nhỏ đón ông lên chơi trên thuyền tướng. Ông nói:
- Anh trưởng cứ yên tâm, em quyết làm tròn tướng mệnh.
Trần Quốc Tuấn cầm tay ông, trầm ngâm giờ lâu. Quốc công vốn
yêu mến và tin tưởng tài đức của Trần Nhật Duật, nhưng lần này là một thử thách
cực kì to lớn cho nên cẩn trọng bao nhiêu đi nữa cũng không phải là thừa. Trần
Quốc Tuấn dặn ông:
- Chúng ta chỉ có một con đường là quyết thắng. Lẽ ấy gắn bó
đến sự tồn vong của đất nước ta. Con đường chiến thắng ấy không phải ít gian
nan nguy hiểm. Chúng ta phải vượt qua những cửa quan cực kì khó khăn.
- Anh trưởng thương em mà dặn dò, em xin gìn giữ lời căn dặn
của anh trưởng. Cửa quan nào em cũng quyết vượt qua.
- Ta tin là em sẽ làm được nên mới sai em giữ mặt tây bắc.
Người ta thường nghĩ mặt trận này không quan trọng nhưng thực ra phải do một tướng
có bản lĩnh trấn giữ. Bởi vì nó là một mặt trận riêng biệt, ai trấn mặt này sẽ
phải quyết định một mình việc đánh, giữ, tiến, lùi. - Trần Quốc Tuấn ngừng lại
một lát, trầm lặng nhìn Trần Nhật Duật trước khi nói tiếp: - Em còn nhớ không,
đã có một lần anh em ta bàn chuyện ở Thăng Long về bản lĩnh của một người anh
hùng. Điều chúng ta đã bàn hôm ấy chính là điều em sẽ gặp ở mặt trận Quy Hoá.
Trong tất cả các cửa quan thì cửa quan khó đánh chiếm nhất chính lại là cửa
quan do mình trấn giữ. Ta chỉ thấy có điều ấy cần phải nhắc với em. Thôi ta tạm
biệt em. Chúc em đem cờ bách thắng cắm lên vọng lâu các cửa quan.
Trần Nhật Duật đã từ biệt Quốc công để lên đường. Chiến tranh
đã xảy ra ngót một tháng nay. Tết Nguyên Đán đầu tiên xa nhà trong cuộc đời đã
gây cho ông nhiều cảm xúc. Binh đao đã xảy ra trên đất nước nhưng ở mặt trận
này cũng chỉ có vài cuộc chạm giáo lớn giữa đôi bên. Giặc tiến rất chậm mặc dù
quân giặc đông gấp đôi gấp ba. Chúng hành binh đờ đẫn như kẻ mất hồn lạc vía.
Nhưng chúng không thể lừa dối được đôi mắt quan sát bình tĩnh của ông được.
Chúng đang có một mẹo sâu hiểm độc, điều ấy đến nay đã rõ ràng. Lắm lúc ông muốn
sai sứ sang hành doanh của Nạp Tốc Lạt Đinh để bảo cho viên Vạn hộ hầu này biết
rằng hắn đừng hòng lừa ông và chính hắn đang bị ông lừa, đang bị ông giam chân ở
mặt trận này ngót một tháng nay rồi. Nhưng cuối cùng sau khi suy xét kĩ, ông lại
sực nhớ đến cửa quan bản thân cực kì khó chiếm và ông thôi ngay hành động xốc nổi
này. Ngót một tháng trời hai bên vờn nhau như bướm vờn hoa. Có lúc giặc làm như
sắp tấn công rồi chúng lại thôi. Có lúc ông cũng trương cờ, đốt khói nghi binh
làm như sắp tiến hoặc sắp rút rồi cũng thôi. Nạp Tốc Lạt Đinh đã dùng đủ các mẹo
nhưng không chọc tức được ông và cũng không doạ được ông. Trần Nhật Duật với cánh
quân sơn cước ít hơn vẫn chập chờn trước phòng tuyến của giặc. Hơn thế nữa chỉ
bằng vài di chuyển nhỏ những đội quân nhỏ ở hai chót cánh, Trần Nhật Duật đã buộc
Nạp Tốc Lạt Đinh phải vội vã chuyển quân ứng phó, để lộ ra nhiều kẽ hở. Đó thật
là những thời cơ thuận tiện để tiến như một mũi dùi vào sâu trong phòng tuyến
giặc vào sâu trong đất giặc nữa. Giá mà đức ông Chiêu Quốc có mặt kịp như tướng
mệnh giao nhỉ? Thế là thế giằng co đành chỉ vẫn là thế giằng co.
Nhưng đến hôm nay, quân thám mã của Trần Nhật Duật đem về
hành doanh mấy tin tức đáng lưu tâm. Trước hết đội kị binh của địch không thấy
xuất hiện đã hai hôm nay. Chúng ở đâu bây giờ? Quân kị là lực lượng con cưng mà
giặc thường dùng để đánh những mũi thọc sâu vào sau lưng đối phương. Không thấy
tung tích đội quân Nguyên cưỡi ngựa thì phải đề phòng phía sau lưng chiến tuyến.
Tin đáng lưu ý nữa là địch mới tăng thêm một vạn quân Tân Phụ nữa. Quân Tân Phụ
là quân Nam Tống đầu hàng Hốt Tất Liệt mới đây. Chúng đều là người quê mé nam
núi Ngũ Lĩnh. Chúng giỏi trèo núi và chịu được khí hậu nóng ẩm của đất Việt. Có
nhiều đưa biết bơi biết lội dễ dàng chiến đấu hợp với miền đất sông ngòi chằng
chịt.
Trần Nhật Duật nhận định là giặc sắp mở cuộc tấn công lớn ở
đây để tiếp tay cho cuộc tấn công của tướng giặc Thoát Hoan ở chiến trường đông
bắc. Tin tức từ chiến trường đông bắc đưa về rất đáng lo ngại. Thế mạnh nghiêng
về phía địch. Quân của chúng đông hơn và đã quen chiến đấu. Tướng địch có nhiều
kinh nghiệm chỉ huy những đạo quân đông được trang bị nhiều loại binh khí và
chiến cụ nặng. Trong nhiều trận đánh đã xảy ra, quân ta rất anh dũng nhưng cuối
cùng vẫn tổn thất nặng hơn và phải lùi. Ở cực bắc, Trần Bình Trọng đem hai quân
Thánh Dực cùng với dân binh lộ Lạng Giang chặn địch rất tài cốt để chờ cơ hội
khi cánh quân của Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc chọc sâu ra sau lưng địch thì sẽ
tung quân ra đập tan mũi chính diện này. Nhưng chờ mãi không thấy Trần Ích Tắc
tấn công, giặc có thời gian hình thành thế bao vây. Điểm gay cấn nhất là ải Khả
Ly. Hai quân Thánh Dực bị hãm trong vòng vây dày tưởng như không thoát nổi một
mống. Trần Bình Trọng ráng chờ đến lúc biết không còn hi vọng mũi tấn công của
Chiêu Quốc vương nữa mới tổ chức phá vây. Một đêm, vào lúc canh ba, quân ta dưới
sự chỉ huy của Bảo Nghĩa hầu mở đường máu: Trận đánh dữ dội nhưng nhờ đêm tối,
nhờ ý chí quyết tử, Trần Bình Trọng đem được hai quân Thánh Dực ra khỏi vòng
vây với đầy đủ binh khí, cờ hiệu và cả dàn trống đồng nữa.
Hiện nay chiến tuyến đã lùi về tới sông Lục Đầu. Mỗi bên dàn
mấy chục vạn quân trên một vùng sông núi hiểm trở chen lẫn những cánh đồng nhỏ
và những bãi cỏ hoang. Trần Quốc Tuấn đặt một vọng khói lửa trên đỉnh Côn Sơn để
chỉ huy chung cho toàn chiến trường và để báo tin tức về hai vua ở Thăng Long.
Vọng khói lửa đặt ngay trên Bàn Cờ Tiên, điểm cao nhất của dãy Côn Sơn. Nhưng
Trần Nhật Duật hiểu rằng ở thế đất ấy, quân thuỷ của ta xoay xở dễ dàng nhưng
quân cưỡi ngựa của địch sẽ tung hoành như vào chỗ trống. Không lẽ một bậc trí lự
như Quốc công Tiết chế lại tiếp nhận chiến đấu ở một thế đất như vậy? Trần Nhật
Duật đã băn khoăn suy nghĩ mấy hôm liền. Thế chiến trường Lục Đầu và Quy Hoá
cũng tương tự như nhau. Thật đáng tiếc là cánh quân ém ở lộ Tam Đái cứ im lìm
không động tĩnh. Đột nhiên Trần Nhật Duật hiểu rằng Trần Quốc Tuấn cũng đang ở
một hoàn cảnh tâm lí tương tự như hoàn cảnh tâm lí của ông.
Giặc đông hơn, quen chiến đấu hơn. Tướng giặc đã trải nhiều
năm chinh chiến, có kinh nghiệm chỉ huy những đạo quân lớn đánh phối hợp với
nhau. Quân tướng bên ta có trí, có dũng nhưng binh lửa mới xảy ra, những sơ xuất
do thiếu kinh nghiệm có ở tất cả các cấp. Những sơ xuất ấy đã dẫn đến mấy trận
thua vì ngờ nghệch. Tính đến bây giờ, hai bên đều có trận thắng trận thua nhưng
quân ta thường thắng những trận mà quân tham chiến của mỗi bên chừng vài ba
ngàn, còn những trận lớn một vài vạn quân phần thắng thường về phía địch.
Thế chiến trường như vậy, điều tốt nhất là quân ta phải cậy đến
một ông tướng đặc biệt: Ông tướng thời gian! Phải tránh việc dốc túi đánh một
nước bạc quyết liệt. Phải nhờ thời gian đem những kinh nghiệm thao lược cần thiết
đến cho các tướng. Ai là người dám hạ một mệnh lệnh như thế bây giờ? Người ấy
phải là một ông tướng dũng cảm trí lự. Phải hiểu mình, hiểu địch và dũng cảm
rút ra những điều cần thiết phải làm để giành lấy thắng lợi cuối cùng.
Trần Nhật Duật đến lúc này mới hiểu thấu đáo cái vinh dự của
ông đã được Quốc công tin cậy giao cho quyền làm tướng cầm quân độc lập ở mặt
trận riêng biệt. Quốc công đã chọn ông, đã dặn dò ông về cái cửa quan bản thân
cực kì khó đánh chiếm ấy.
Khi Trần Nhật Duật đang suy nghĩ sâu xa về mình, về địch như
thế là lúc ông đang đứng trên một đài quan sát chiến trường đặt trên một mỏm
núi đá rất cao. Hành doanh của ông đã thu gọn dần trong một tháng chiến đấu di
động vừa qua để bây giờ chỉ còn là một số tướng tá rất ít, có võ khí cốt để lúc
cần thiết cũng chiến đấu được như một người lính chiến bình thường. Ai nấy mang
lấy quần áo thay đổi và mười ngày lương khô chứa trong những bao ruột tượng vắt
ngay cổ ngựa chiến. Bây giờ đã xế trưa, núi rừng sau mấy đợt mưa xuân đang nhuận
sắc. Màu xanh cây lá màu mây trắng bạc đều đẹp và mọng ướt. Núi rừng yên ả.
Núi rừng yên ả báo hiệu giông tố sắp đến.
Thế rồi, trong một khắc tin tức đưa về hành doanh hết sức
liên tiếp và đáng lo ngại. Giặc đánh một lúc ở mười mấy chỗ. Ở đâu chúng cũng tập
trung được quân đông hơn và giành phần thắng tuy không rõ rệt cho lắm. Quân ta
phải bỏ trận lùi về mặc dù đã giao chiến rất gan dạ và dũng mãnh. Trần Nhật Duật
phán đoán địch chỉ mới dứ ở các điểm đó còn thì đại bộ phận quân tinh nhuệ của
giặc sẽ tập trung đánh chiếm con đường huyết mạch từ Quy Hoá về xuôi. Giặc sẽ dồn
quân ta lùi dần theo con đường ấy đến cái đáy túi mà chúng đã bày sẵn: đội kị
binh giặc vu hồi mai phục sau lưng quân ta. Trần Nhật Duật tin rằng đội quân kị
binh ấy bây giờ đang ở đâu đó phía kia. Ông nhìn về hậu tuyến. Nhưng ông chỉ thấy
màu rừng cây mùa xuân xanh rợn. Không thấy một vẩn khói nấu cơm bốc lên, không
thấy bụi do chuyển quân bốc lên. Nhưng không thể vì thế mà quên rằng kẻ địch
thiện chiến và thâm hiểm.
Trần Nhật Duật đã quyết định xong một mệnh lệnh. Ông rất buồn
vì phải hạ mệnh lệnh đó: Rút lui.
Trần Nhật Duật thấy mình không may mắn phải chọi giáo với một
tướng giặc không danh tiếng. Ông cũng không được chỉ huy cánh quân sẵn sàng chọc
ra sau lưng giặc. Ấy thế mà bây giờ ông lại phải hạ mệnh lệnh rút lui vì tên tướng
vô danh tiểu tốt kia có một đạo quân đông hơn và xét cho thấu đáo, nó thật là một
tướng giỏi và thao lược
Trần Nhật Duật nhìn các tướng để chọn người đi truyền lệnh
cho các đội quân. Tướng quân Hà Đặc theo ông đã lâu, đã hiểu tâm tính ông. Thấy
Trần Nhật Duật đưa mắt nhìn các tướng, Hà Đặc liền xốc kiếm bước lên một bước đứng
chờ nhận lệnh nhưng Trần Nhật Duật mỉm cười. Ông không chọn Hà Đặc vì Đặc là một
tướng cường. Hà Đặc nhận lệnh xung trận thì làm được nhưng không thể là người
truyền đạt một mệnh lệnh rút lui. Cuộc chiến còn dài. Ông sẽ còn dịp dạy viên
tướng cường này biết lùi để biết thắng và trước hết phải thắng được chính mình.
Tự tri giả anh, tự thắng giả hùng. Hà Đặc sẽ hiểu điều đó sau...
Trần Nhật Duật chọn một tướng xưa nay rất có kỉ luật. Ông thảo
lệnh rút lui và trao một cờ lệnh nhỏ cho viên tướng đó, ông cũng ra lệnh cho
hành doanh và đội hộ vệ tuỳ tùng thu xếp lên đường.
Sẩm tối, các đơn vị quân Việt bí mật bỏ mặt trận về xuôi. Các
tướng Hà Đặc, Hà Chương và Triệu Trung đem một nghìn quân sơn cước rẽ tạt vào rừng
sâu với một mệnh lệnh rất gọn: Để quân giặc tiến qua rồi bám đường cái đánh úp
lương thảo và bắt bọn địch đi lẻ.
Mờ sáng hôm sau, quân Nguyên tấn công, Nạp Tốc Lạt Đinh sai cắm
lều trận dạ đen lót đỏ trên một bãi rộng. Y sai giáp sĩ canh phòng thật oai vệ
hùng dũng. Trong lều trận, Nạp Tốc Lạt Đinh sai bày sẵn hai cái ghế. Một cái
lót da báo: đó là cái ghế Vạn Hộ hầu của hắn. Chiếc kia phủ nệm gấm, chiếc ghế
dành cho viên tướng Việt sẽ bị bắt và dẫn đến để hắn đích thân dụ dỗ.
Mặt trời lên, quân tế tác đem tin về rất nhanh đến hành doanh
quân Nguyên: các mặt tiến quân đều không đụng độ quân Việt. Đến giữa trưa có tin
quân Ô Man đã hội sư với đám quân Hán và quân Tân Phụ, rồi sau đó với đội kị
binh Thát Đát. Các đội kị binh này chính là cái đội bọc hậu, hoặc nói khác đi
là cái đáy túi bao vây. Thế mà vẫn không đụng độ với quân Việt. Quả đấm sắt mà
Nạp Tốc Lạt Đinh rình đánh bấy lâu đã giáng rất vô duyên vào không khí. Ngót một
tháng trời vờn, nhử vất vả đã trở thành vô ích.
Nạp Tốc Lạt Đinh là một tướng giỏi. Y hiểu rằng viên tướng đối
phương đã kìm chân được hắn một tháng trời và đánh thắng trận kiềm chế đó. Y
cũng hiểu rằng nếu tướng đối phương thắng thì mặc nhiên y là người thua. Mà nếu
đối phương dùng một đạo kì binh thọc sâu ra sau lưng y thì y còn thua to hơn.
Nhưng y không hiểu rằng y thua vì cửa quan đầu tiên y đã không đánh chiếm được,
thậm chí y cũng không biết rằng có cái loại cửa quan ấy nữa.
Chương 16
Hai tháng sau, quân mệnh đã đưa Trần Nhật Duật đến chống giữ ở
một chiến trường khác hẳn và ở xa chiến trường Quy Hoá hàng ngàn dặm: Hành
doanh của ông đặt ở một khu bán sơn địa nằm trên địa giới hai châu phía nam,
châu Ái và châu Diễn. Lần này số quân dưới trướng ông rất lớn và được luyện tập
kĩ lưỡng. Nếu kể cả năm ngàn quân gia đồng của phủ Chiêu Văn, đạo quân của Trần
Nhật Duật lên tới bốn vạn quân mã, bộ, thuỷ, tượng. Các tướng dưới trướng cũng
rất đông và có nhiều tướng giỏi. Trước hết phải kể Tá Thiên vương Trần Đức Việp,
Văn Túc vương Trần Đạo Tái, con trai của Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải,
Hoài Văn vị thượng hầu áo tía Trần Quốc Toản... Có thể nói các tướng ở đạo quân
này đều rất trẻ, chưa có tướng nào tới ba mươi tuổi, và tướng ít tuổi nhất mới
mười bảy tuổi. Nhưng không hẳn tuổi trẻ chỉ là hiếu động, sôi nổi và tuổi già
là trầm mặc, ưa tĩnh. Bây giờ bất kì ai gặp Chiêu Văn vương cũng đều nhận thấy
đức ông hoàng Sáu khác xưa rất nhiều. Chinh chiến đã khắc sâu trên trán Trần Nhật
Duật những nếp nhăn trí lự: đôi mắt to đen thêm thâm trầm sẫm màu. Nhưng người
nào tinh ý lắm mới nhận ra khoé miệng Trần Nhật Duật kéo hơi trễ xuống rất trải
đời, vừa độ lượng, vừa khinh mạn.
Mấy chục ngày trận mạc vừa qua đã giúp Trần Nhật Duật gồm góp
thêm biết bao kinh nghiệm quý báu. Lần này, đối thủ của ông không phải là một
tướng vô danh tiểu tốt mà là một nguyên soái dày dạn kinh nghiệm đã từng lăn lộn
trên bãi sa trường ở nhiều nước. Đó là nguyên soái Toa Đô, viên tướng già kinh
nghiệm chiến đấu ở nơi xa, là thân vương Tích Lệ Cơ, là lão tướng Đường Cổ Đải...
Toa Đô cầm một đạo quân đông trên dưới một chục vạn mã, bộ, thuỷ thiện chiến đã
vào đất Chiêm Thành từ hai năm nay nhưng quân Chiêm được quân ta tiếp tay đã giam
chân Toa Đô ở giải đất nhiều dừa và gió bể đó, đánh cho chúng bị hao mòn, đánh
cho chúng mất ý chí chiếm đoạt, xâm lăng. Từ đầu năm nay, Toa Đô đành bỏ đất
Chiêm Thành tiến quân lên phía bắc đánh tập hậu quân ta. Quân Toa Đô đã quen chịu
mưa nắng châu Ô, châu Lý, đã quen đánh ở rừng, ở núi và đã hiểu một phần nào
tài năng, tâm tình người Việt. Trần Nhật Duật nhận tướng mệnh đánh kìm chân Toa
Đô, đánh mòn đạo quân ấy. Ông đã dùng mẹo nghi binh từ đốt khói, thả lá gói cơm
ở suối cho trôi đến trước mặt trại giặc cho đến những cuộc diễu quân chập chờn
trên đường phân thuỷ các dãy núi phía tây... Cho nên Trần Nhật Duật đã giam
chân Toa Đô ở miền đất này hơn một tháng trời. Tình thực mà nói, đó là một cuộc
vừa đánh vừa chuyển quân hết sức mệt nhọc đòi hỏi biết bao tâm huyết sức lực của
cả quân lẫn tướng trong đạo quân của Chiêu Văn vương.
Sau mấy tháng chinh chiến quyết liệt, Trần Nhật Duật bây giờ
chỉ dùng một bộ quần áo chiến sơ sài may bằng vải dày nhấn chàm. Xưa kia ông
không thích dùng đồ trang sức bằng vàng bằng ngọc, bây giờ ông cũng chỉ đeo
trên ngực một tấm hộ tâm hình chữ nhật bằng đồng thau, loại hộ tâm của quân Thần
Sách thường dùng.
Lều trận của Trần Nhật Duật cũng là một lều trận thường dùng
trong việc quân: một bộ khung bằng tre đực phủ vải gai nhuộm vỏ dà. Trong lều
không có một vật trang trí nào đắt tiền cả. Chỉ thấy trên cây cột cái có treo một
thanh kiếm Hồi Hột chiến lợi phẩm thu được trong một trận đánh úp giặc trên lộ
Quy Hoá. Chân cột, Trần Nhật Duật dựng chiếc mộc vẽ tướng huy của ông là chòm
sao Thiên Đồng. Nền lều trải hai lần chiếu cói và vứt rải rác những chiếc nệm
thổ cẩm để ngồi.
Quãng trưa, các tướng chỉ huy các quân, đạo đã về hành doanh
đông đủ. Họ cùng đứng với nhau trên cái bãi trống trước cửa lều trận của Trần
Nhật Duật chờ ông cho vào hầu. Một tì tướng trong hành doanh hô to lệnh triệu
đòi. Các tướng theo chức vụ cao thấp lần lượt vào lều trận. Họ đều là hàng cháu
của Trần Nhật Duật mặc dù ông chỉ hơn họ trên dưới mười tuổi.
Hoài Văn hầu chắp tay chào ông:
- Kính lạy đức ông, “mạt tướng” mãi sáng nay mới nhận được lệnh
đức ông cho đòi nên đến muộn nhất. “Mạt tướng” xin đem đầu đến nhận lỗi.
Trần Nhật Duật cười. Hoài Văn hầu là một tướng trẻ đáng quý.
Từ bữa bị ông vặn hỏi ở Thăng Long cho đến nay, Trần Quốc Toản mau chóng trở thành
người đĩnh đạc, nắm quân rất vững kể từ sở trường, sở đoản của mỗi dũng sĩ.
Nhưng hầu tước trẻ tuổi này làm cái gì cũng quá mức cần thiết. Không biết anh
ta “nhặt” được ở đâu mấy cái tiếng “mạt tướng” với “đem đầu” thế không biết? Trần
Nhật Duật cho phép các tướng ngồi xuống nệm. Ông hỏi Hoài Văn hầu:
- Này ông “mạt tướng”. Ông có chuyện gì mà mặt mũi trang trọng
làm vậy?
Trần Quốc Toản chắp hai tay, mắt mở tròn xoe:
- Kính bẩm đức ông, “mạt tướng” đóng quân sát biển...
- Ta biết, đó là nơi ta chỉ cho ngươi đóng. Sao nữa?
- Bẩm đức ông, mờ sáng hôm nay, hơn hai trăm thuyền giặc đi
qua chỗ mạt tướng...
- Hả?
- Bẩm hơn hai trăm thuyền giặc đi qua, bẩm thuyền lớn....
- Lên bắc hay xuống nam?
- Bẩm lên bắc.
- Lên bắc?
- Bẩm vâng.
Trần Nhật Duật nghiêm mặt. Đôi mày của ông chau lại, vầng
trán tối sầm. Các tướng cũng hiểu ngay tin này là tin rất quan trọng. Trần Quốc
Toản nói thêm là thuyền giặc không cắm cờ nhưng kiểu thuyền ấy chỉ bọn chúng mới
dùng và những lá buồm của chúng nhuộm đen nhìn lúc mờ sáng rất rõ. Trần Nhật Duật
sai quân hầu pha trà nam sâm đãi các tướng còn ông thì dựa gối xếp suy nghĩ rất
lung. Các tướng dưới trướng Chiêu Văn vương sau mấy tháng cùng chiến đấu gian
lao đã biết tính chủ tướng của họ. Mỗi lần Chiêu Văn vương suy nghĩ căng thẳng
như thế này sẽ dẫn đến những quyết định hết sức cứng rắn. Chiêu Văn vương tính
toán về thế cục giữa đôi bên. Hiện nay giặc đang có hai đạo quân lớn hoành hành
trên đất nước ta. Đạo thứ nhất gồm cánh quân chính của Đại Nguyên soái giặc
Thoát Hoan và cánh quân Ô Man của Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh. Đạo thứ hai của
Toa Đô từ Chiêm Thành đáp tập hậu nước Đại Việt. Nhiệm vụ tập hậu của đạo quân
này đã bị ông phá rồi.
Thoát Hoan đã dẫn quân tràn xuống đồng bằng nước ta. Quân cưỡi
ngựa Thát Đát đánh xuyên ngang, đánh tạt dọc. Sức nhanh phi thường của giặc
trong những mũi tấn công đã gây nhiều khó khăn tổn thất cho quân Việt. Các tướng
ta ở cả hai mặt trận đông bắc và tây bắc đều đã quyết định rút lui để tránh tổn
thất. Thế là giặc thừa cơ tràn xuống vùng trung du và đồng bằng. Hai vua rút khỏi
kinh thành. Thăng Long tạm thời trong tay Thoát Hoan.
Chiêu Văn vương rên thầm một tiếng dài. Thành Thăng Long,
kinh thành chôn rau cắt rốn của ông, nơi ông đã sống những ngày kì diệu. Ông nhớ
những phố phường đông đúc náo nhiệt kẻ bán người mua. Đã có lần ông la cà suốt
cả ngày xem những người thợ khắc ván in đục chêm những chữ bé tí như hạt gạo
trên một tấm gỗ mít mịn và nhẵn bóng. Bữa ấy thợ in chạm một trang trong cuốn
Khoá hư lục của tiên đế Trần Thái Tông. Chữ mẫu của ông Thái học sinh bút thiếp
nào đó khá bay bướm, hợp với ý thơ:
“... Trôi giạt còn dài đời gió bụi
Quê hương muôn dặm bóng xa khơi”.
Thơ ấy chữ ấy có phải có những ngón tay ấy mới có được trang
sách thơm quý. La cà ở phường in chán rồi, ông lại lần sang phường thợ thêu,
phường thợ vẽ ở Tàng Kiếm. Ở Thăng Long có chợ cầu Đông bán hàng trăm ngàn sản
vật, nhưng Trần Nhật Duật lại chỉ thích đi chơi ở cái búa nhỏ bên sông Cơ Xá.
Cái búa này ở ngay cạnh bến đò ngang. Các cô thôn nữ mấy xóm rừng bên kia sông
mang tới quả trám, vải gai, rượu mít, mật ong... và thuỷ sản vùng chằm lầy như
ba ba, lươn, ếch, da rái cá... Ở cái búa này người ta mua bán không mặc cả. Người
bán chỉ nói một giá mà người mua có cần hàng nào mới hỏi người bán. Cũng ở đây,
Trần Nhật Duật hay gặp người quen ở những nơi ông hay đến ngủ đêm đi săn. Ông lại
nhớ cả những đêm buông thuyền trên sông Tô Lịch chơi trăng. Ngoài cửa Giang Khẩu
rộng mênh mang, trăng dường như sáng hơn, lồng lộng mặt người đi thuyền. Tiếng
người kĩ nữ thuyền bên lảnh lót cất lên, câu nghe được rõ, câu chỉ đoán ra của
một bài hành nổi tiếng... Rồi những ngày học trong Quốc Học viện, những ngày
luyện bắn cung, luyện cưỡi ngựa trong trường bắn kinh thành, những đêm nghe giảng
võ kinh, những buổi triều hội linh đình... Thăng Long lịch sự và tình tứ biết
bao nhiêu!
Thăng Long! Thăng Long, kinh thành yêu dấu của ông!...
Khi ở Quy Hoá rút quân về, Trần Nhật Duật không được dừng lại
ở đây quá một ngày. Ở phủ Chiêu Văn, viên quản gia thân tín đã cho thu xếp những
đồ vật quý đưa xuống thuyền chở về lộ Đà Giang. Kinh thành Thăng Long khác trước
rất nhiều. Người thưa vắng đi nhưng không khí chuẩn bị chiến đấu hừng hực khắp
các phố phường. Chiêu Văn vương ra lệnh cho viên phó quan coi sóc việc đồn trú
cho đội quân, còn ông sửa soạn mũ áo tiến triều.
Lần này vào cung chầu hầu, ấn tượng không bao giờ mờ nhạt
trong lòng ông. Bấy giờ các đức ông Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, Tĩnh Quốc đại
vương Trần Quốc Khang, Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải đều không có mặt ở
kinh thành, người thì đang chỉ huy chiến đấu ở mặt trận đông bắc, người đang chẹn
đạo quân Toa Đô ở châu Hoan, người đang đi phủ dụ các lộ đồng bằng. Hai vua cần
có người thân tín phò tá bên mình bèn cho triệu đức ông Chiêu Quốc ở lộ Đà
Giang về triều... Khi Trần Nhật Duật tiến cung chầu hai vua, ông vừa hành lễ vừa
cảm thấy lạ lùng xa xôi. Thoạt tiên, ông nghĩ rằng đó là cảm giác của một viên
tướng phải lui quân bỏ đất cho giặc chiếm giữ... Thánh Tông vẫn vồn vã cho phép
ông miễn lễ. Ông nhìn thấy trong đôi mắt thâm trầm của anh mình ánh lên một
chút gì thương thương giận giận. Trong lúc đó vua Nhân Tông cũng ngắm ông. Vị
vua trẻ, mặt gầy xanh, lo lắng và ngượng ngùng. Còn Chiêu Quốc vương ngồi im lặng
trên chiếc đôn, vẻ mặt lạnh lùng và bí mật.
Trần Nhật Duật nhớ lại hình như lúc đó ông vẫn hồn nhiên thi
lễ với đức ông Chiêu Quốc. Rồi ông vẫn an Thượng hoàng và trách yêu Nhân Tông
không giữ gìn sức khoẻ để cho gương mặt gầy xanh đi. Hình như tư thế hào hùng của
những người từ chiến trường về đã lấy lại không khí thanh thoát thân thiết
trong phần lớn những người có mặt. Nhân Tông là một vị vua trẻ, thượng võ nên hỏi
nhiều về việc quân và chuyện đánh nhau trên mặt trận tây bắc. Nhà vua tỏ vẻ náo
nức muốn được tham chiến ở một chiến trường. Trần Thánh Tông thì điềm đạm hỏi
những câu rất ngắn về từng khía cạnh cụ thể. Địch bao nhiêu quân? Bao nhiêu tướng?
Cách hành binh của chúng thế nào? Tinh thần binh tướng bên ta ra sao? Trăm họ
giúp quân ta thế nào? Tài sản của trăm họ được cất giấu thế nào?...
Trần Nhật Duật trả lời tường tận các câu hỏi đó. Trần Thánh
Tông im lặng suy nghĩ giờ lâu nhưng vẻ thương thương giận giận trong đôi mắt của
Thánh Tông mất dần đi thay vào đấy là một ánh sắc lạnh quyết liệt. Cách đây hai
mươi bảy năm, Thượng hoàng mới là một thanh niên mười bảy tuổi, một thái tử rất
trẻ rất vũ dũng, cả kinh thành ai cũng biết thái tử Hoảng rất thượng võ. Giặc
Thát Đát dưới quyền tướng nổi tiếng Ngột Lương Hợp Thai tràn vào mưu chiếm nước
ta. Thái tử Hoảng đã theo vua cha đi chiến đấu giữ nước. Thế giặc mạnh, quân ta
tạm bỏ Thăng Long nhưng sau khi xếp sắp lại bộ ngũ, ta đem quân thuỷ bộ phản
công. Quân ta đánh cực mạnh, giặc tan vỡ chạy quàng chân lên cổ. Trận thắng quyết
liệt ấy sử sách chép là Chiến thắng Nguyên Phong.
Đã trải qua những thăng trầm vị ngộ, Trần Thánh Tông hiểu được
lòng người và hiểu được tình thế chiến trường Quy Hoá. Nhất là sau đó, Trần Nhật
Duật tâu vua về cánh quân của Hà Đặc, Hà Chương và Triệu Trung đã được lệnh luồn
ra sau lưng địch đánh chẹn đường thì vẻ mặt Thượng hoàng chăm chú và dần dần
tươi tỉnh nhưng tươi tỉnh mà có chút gì ngỡ ngàng. Thượng hoàng nhìn qua đức
ông Chiêu Quốc còn Chiêu Quốc vương vẫn ủ hai bàn tay trong ống tay áo rộng, im
lặng, xét nét. Sau cùng Thánh Tông nói:
- Ta mới ở Lục Đầu Giang về kinh. Ở mặt trận ấy, binh lực hai
bên không chênh lệch nhau lắm nhưng không hiểu vì sao ta chưa muốn quyết chiến
trên triền sông ấy. Vừa rồi em kể lại chuyện chiến trường Quy Hoá, ta mới hiểu
ra tại làm sao ta băn khoăn về chiến trường kia. Thì ra binh lực hai bên không
chênh nhau, bên ta trí dũng có thừa nhưng... nhưng chưa từng thao lược. Đúng thế,
các tướng của ta chưa thao lược.
Không hiểu sao đúng lúc ấy Trần Nhật Duật liếc nhìn Chiêu Quốc
vương và ông thấy mặt đức ông Chiêu Quốc vương tái đi, cặp môi mỏng mím chặt lại.
Ngay lúc đó, Thượng hoàng cho gọi quan Học sĩ vào chầu hầu và Đinh Củng Viên thảo
ngay lệnh chỉ của Thượng hoàng cho đức ông Hưng Đạo phải tránh việc đưa tất cả
binh lực ra quyết chiến ngay lúc này.
Sau buổi triều hội, Trần Nhật Duật được lệnh đem quân vào
Hoan, Ái để cùng đức ông Chiêu Minh, Tĩnh Quốc chặn đường tiến của Toa Đô, phá
tan mưu đánh tập hậu nước ta, đồng thời làm dậy lên của cải giàu có, sức người
đông mạnh của Hoan, Ái đem dùng trong cuộc chiến tranh giữ nước.
Một số tướng cũng được đem quân đến dưới trướng ông, trong đó
có hoàng tử Tá Thiên vương Đức Việp. Khi gặp Đức Việp ông mới được biết uẩn
khúc lần triều hội Thăng Long. Thì ra lúc đó ở mặt đông bắc, tình thế diễn ra
giống hệt tây bắc. Đức ông Chiêu Quốc đã tâu Thượng hoàng trị tội thật nặng các
tướng trấn giữ hai mặt trận đó. Tá Thiên vương đã nhận xét một câu rất có lí:
- Đòi trừng trị hai tướng nhưng chỉ nhằm riêng đức ông Hưng Đạo
thôi.
Ngay lúc ấy, Chiêu Văn vương cho rằng nhận xét của cháu là
đúng nhưng về sau một mối hoài nghi cứ dần dà nảy nở trong lòng ông: “Thảng hoặc
nhằm triệt cả hai thì sao?” Mỗi lần nghĩ đến đó thiên lương của Trần Nhật Duật
lại giục ông xua đuổi vội vã ý nghĩ đó đi... Nhưng ông đuổi được ý nghĩ đó đi
thì về lí trí một suy tính mới xuất hiện ngay: tại sao Chiêu Quốc vương không tấn
công ra mặt sau của giặc? Và ông tìm chưa ra lí do thoả đáng.
Trần Nhật Duật đến Ái châu hai ngày thì được tin quân ta rút
khỏi sông Lục Đầu. Giặc tràn về đồng bằng, tràn về vùng phụ cận kinh thành và
nhanh chóng hội sư với Nạp Tốc Lạt Đinh. Thoát Hoan vào Thăng Long, sau đó chiến
thuyền của chúng chiếm thuỷ trại Chương Dương, các đường thuỷ đường bộ huyết mạch
cũng bị chúng thả quân tuần tiễu. Từ đó đến nay đã ngót hai tháng trời giặc đem
tinh binh lùng theo tung tích hai vua ta nhưng đạo thân binh tinh nhuệ phò hai
vua tránh tất cả các đòn hiểm ác của giặc và đã về đóng ngự doanh trong vùng rừng
núi của lộ Thanh Hoá Ngoại. Trong lúc đó, quân ta chặn đánh bằng nhiều trận cảm
tử làm cho địch bị tổn thất lớn về người và nhất là về lương thảo.
Nhưng chiến trường ngoài ấy đã xoay chuyển thế nào mà bây giờ
Toa Đô bỏ ý định đánh chiếm Hoan Ái, tiến quân bằng đường biển lên phía bắc?
Trần Nhật Duật hỏi lại Trần Quốc Toản:
- Mấy trăm thuyền giặc?
Trần Quốc Toản giở sổ quân kí mang theo ra tra đọc rồi trịnh
trọng trả lời chắc nịch:
- Bẩm đức ông, hai trăm sáu mươi chín thuyền, trong đó có một
trăm năm mươi hai thuyền vận tải biển chở nặng.
Trần Nhật Duật cười hỏi:
- Tại sao cháu biết thuyền chở nặng?
Trần Quốc Toản giật thót người suýt bật cười rồi ghìm được và
hớn hở đáp:
- Bẩm... bẩm đức ông, trong đội quân của “mạt tướng” có bốn
mươi ba người tráng dũng trước đây làm nghề biển ở hương Hoằng. Toàn là những
người chỉ nhìn dây lèo buồm cũng biết thuyền đang chở bao nhiêu thạch.
Trần Nhật Duật thôi cười. Ông nghiêm mặt hỏi cháu:
- Có người ở hương Hoằng à? - Ông đứng phắt dậy bảo Trần Quốc
Toản: - Đưa ta đến chỗ họ!
Trần Nhật Duật nhẹ nhàng thót lên yên. Con Bão Đêm vươn cổ hí
một hồi dài vui vẻ. Đoàn người ngựa rầm rập lên đường về phía ven biển nơi Trần
Quốc Toản đóng quân. Trên đường đi, Trần Nhật Duật vẫn mải mê suy nghĩ về việc
địch giong thuyền về bắc. Càng nghĩ ông càng khấp khởi mừng thầm. Chắc rằng sau
khi quân ta không dàn thành thế trận chặn giặc, các tướng đã bày quân theo chiều
sâu sang hai bên đường, ém quân trong rừng, trong rú, trong làng, trong chạ,
trong núi, trong chằm... Đường lương cỏ của địch ắt bị đánh úp luôn luôn. Quân
giặc đi lẻ càng dễ bị diệt gọn. Thoát Hoan cũng giống như Toa Đô ở mặt châu
Hoan, đã bị sa lầy. Kế sách đánh nhanh diệt sạch của giặc thế là không làm được.
Tuy kế của ta là chọc sâu ra sau lưng địch cũng không thực hiện được do sự do dự
của đạo quân ém ở Tam Đái nhưng phải nhận rằng thế chiến trường ngày một
nghiêng về phía ta. Bây giờ tại sao Toa Đô lên phía bắc? Phải chăng nó bị sa lầy
tới mức nguy cấp? Hay là nó được lệnh của Thoát Hoan về hội sư ở Thăng Long. Nếu
có cái lệnh ấy thì Thoát Hoan đang bị sa lầy rất nặng. Thời cơ tiến đánh tiêu
diệt của quân ta đã đến rồi. Tá Thiên vương Đức Việp và Văn Túc vương Đạo Tái
cũng đoán rằng Thoát Hoan đang bị dồn vào bước bí. Có thể đức ông Hưng Đạo đang
đe doạ cắt đường về của y ở triền sông Lục Đầu. Thế đứng chông chênh của tên
hoàng tử nhãi ranh ấy rất nguy cấp trong một vùng sông ngòi chằng chịt mà thuỷ
quân Việt thì như rồng thiêng mặc sức tung hoành trên sông dữ. Trần Đức Việp giục
ngựa lên đi sóng đôi với Trần Nhật Duật. Chiêu Văn vương hỏi cháu:
- Ngày ấy đức ông Chiêu Quốc có đem đạo quân sơn cước sông Đà
về Thăng Long không cháu?
- Bẩm có - Trần Đức Việp ngừng lại một chút rồi mới tiếp - Đức
ông Chiêu Quốc bảo rằng đạo quân này vô kỉ luật mà không tinh luyện. Nhưng cháu
xem ra thì đó là một đạo quân tinh binh nhưng khó dùng lắm chú ạ. Trên dưới chẳng
ăn nhập gì với nhau cả.
Trần Nhật Duật sửng sốt nhìn cháu nhưng Trần Đức Việp tiếp
luôn, lần này quả quyết hơn:
- Thưa chú, cháu là bề dưới đâu dám hỗn hào xem xét người bề
trên nhưng chú Năm và thằng Kiện giống nhau như đúc.
Trần Nhật Duật phì cười:
- Chú cháu mà không giống nhau thì giống ai nữa?
Nhưng ông bỗng thôi cười và chau mày. Nhận xét của Trần Đức
Việp đúng quá. Về Trần Kiện, ông đã nhận ra cái tính kiêu ngạo, khát vọng hết sức
điên cuồng rồi nhưng ông chưa từng suy nghĩ sâu xa về Trần Ích Tắc. Bởi vì mỗi
lần ý nghĩ ấy của ông sắp sa đà tới mặt không tốt trong tâm địa Trần Ích Tắc là
ông đã vội xua đuổi ngay đi. Trần Ích Tắc đã tâu vua trị tội Trần Nhật Duật!
Bây giờ thì ông mới dám nghi rằng lời tâu ấy không phải vì công tâm, không phải
vì việc quân việc nước. Trần Ích Tắc thì không thèm lí gì đến chức tước quyền
hành của Trần Nhật Duật bởi vì chúng còn kém chức tước quyền hành của Chiêu Quốc
vương. Thế thì vì cái gì đây?... Trần Nhật Duật lo lắng nghĩ một cách rụt rè về
bản tính kiêu sa đầy khát vọng của Chiêu Quốc vương.
Đội quân thiếu niên hào kiệt nhộn nhạo của Hoài Văn hầu Trần
Quốc Toản cắm lều trận trong một rừng cây thưa ngoài ven biển. Bên ngoài chỗ
trú quân, Trần Quốc Toản đã đặt những trạm viễn tiêu trên một vài quả núi nhỏ cắm
chân xuống biển Đông. Mùa này biển lặng, nước xanh tím lại thật trầm mặc. Những
tráng sĩ trong đội quân của Trần Quốc Toản nhanh chóng xếp thành đội ngũ. Họ
giơ cao mác hô lớn:
- Đức ông hoàng Sáu mạnh khoẻ! Đức ông hoàng Sáu mạnh khoẻ!
Trần Nhật Duật ghìm ngựa, ông thét rất to:
- Chào các ngươi! Ta chào các ngươi! Hỡi các dũng thủ trẻ tuổi!
Tất cả đồng thanh dạ lên rất to, vẻ mặt hớn hở.
-... Ta chào các ngươi. Chào các chàng trai Thăng Long!
- Chúng tôi kính chào đức ông hoàng Sáu.
Trần Nhật Duật xuống ngựa bước lại hàng quân. Ông nắm đai
lưng một người lính trẻ và giựt thật mạnh nhưng cái đai lưng không xổ. Ông xem
cung một người lính khác, xem độ sắc lưỡi mác của một chàng trai khác nữa... Tất
cả đều không có gì đáng chê trách. Những người lính gia đồng của Hoài Văn hầu
toét mồm cười ra cái đều... Chiêu Văn vương cũng cười lớn:
- Ta hẹn các ngươi đến ngày về Thăng Long sẽ thưởng lớn.
Một người lính đứng gần nhất hỏi ngay Chiêu Văn vương:
- Thưa đức ông, chúng tôi đông thế này làm sao thưởng cho khắp
được ạ?
Những người lính khác lườm anh bạn táo tợn nhưng Trần Nhật Duật
gạt đi và nói:
- Bây giờ khó nhọc gian nan thế thì sau này phải thưởng chứ.
Các ngươi cứ yên tâm ta sẽ có cách. Các ngươi cứ nhớ lời ta.
Lều trận của Hoài Văn hầu nom rất oai. Đó là vì Hoài Văn hầu
thích như thế. Chiêu Văn vương ngồi xuống ghế da báo, ông sai gọi những người
lính trạo nhi quê ở hương Hoằng đến hỏi. Trần Nhật Duật đang phán đoán hai hướng
đổ bộ của quân Toa Đô. Có thể chúng theo sông Cái về Thăng Long, có thể chúng
vào lộ Thanh Hoá Ngoại bằng cửa Trường hoặc cửa Trào mà tên chữ là cửa Hội Triều.
Nhưng dù chúng vào hướng nào chúng cũng có một mũi nghi binh đổ bộ thẳng lên lộ
Thanh Hoá. Điểm chúng chọn có thể là hương Yên Duyên theo con đường thuỷ của
con kênh Cổ Khê để đánh vào bến đò Cổ Bút. Bến đò này nằm trên con đường quan lộ
huyết mạch chạy dọc theo đất nước.
Những người lính hương Hoằng tả lại cho ông nghe địa thế của hai
cửa biển này. Họ cũng nói về sức chiến đấu của dân binh hương Hoằng và các
hương bạn chung quanh.
Đó là một vùng ruộng lầy ven biển nước mặn, cỏ lác và cói,
năn mọc bạt ngàn. Trần Nhật Duật cũng đã từng đi thuyền thúng rong chơi quanh
vùng này và ông hằng mơ ước sẽ đến một lúc nào đó đem gia nô về khai phá một điền
trang, lập nên một tổ ấm nơi đây. Ngót mười năm trước, ông đã có dịp nhìn tận mắt
mảnh đất phì nhiêu này, một vùng hoang vu chờ bàn tay người làm lụng cần cù để
trở thành trù phú.
Trần Nhật Duật hỏi han về bà con trong hương, về những người
ông quen biết. Họ cũng biết chuyện xưa của ông với hương Hoằng, họ kể cho ông
nghe nhiều chuyện, kể cả những chuyện bình thường về nghề nông, nghề chài lưới,
nghề trồng cói dệt chiếu... Cụ Bành đã về hương sau cuộc triều hội Diên Hồng.
Viên đại tư xã đã cho gọi đinh tráng các làng đến nghe cụ Bành thuật lại chuyện
triều hội và truyền cho mọi người hào khí cùng ý chí quyết đánh quyết thắng của
triều đình và các bô lão. Các bô lão trong hương hỏi trai đinh về ý định của họ.
Trai đinh trăm lời cùng thưa: “Quyết thắng giặc, thà chết không chịu để giặc
xâm lăng đất nước”. Các đội dân binh lập tức được lập ra, thóc công, quỹ công
làng chạ được bỏ ra nuôi quân, sửa sang binh khí. Các đội dân binh cử những người
hăng hái, giỏi võ làm người chỉ huy. Hàng ngày, họ cắt cử người canh phòng
trong hương, di chuyển lương cỏ cho quân doanh lộ Thanh Hoá Ngoại. Trong các
hương lộ Thanh Hoá Ngoại, hương Hoằng là một hương hăng hái, góp nhiều công sức
vào việc chung.
Lẽ tất nhiên là họ cũng kể đến chuyện nhà bà Trương. Ông anh
của bà nhũ mẫu bây giờ kiêm cả việc sổ sách của dân binh. Ông làm việc chu đáo
hăng hái nhưng nàng Mơ, con gái của ông bị nghẽn lại ở Thăng Long trong khi mặt
trận nhanh chóng lan đến.
Trần Nhật Duật ngồi lặng đi. Ông dùng ý chí của mình kìm
không để cảm xúc hiện ra mặt. Ông cảm ơn anh em hương Hoằng. Ông ra lệnh cho
Hoài Văn hầu phát rượu và gạo nếp cho cả đội quân. Ông nói:
- Bây giờ việc đánh giặc đang mải. Các ngươi cố gắng lên.
Ngày ban sư sẽ có rượu thịt linh đình khao thưởng.
Ông trở về hành doanh với đoàn tuỳ tùng. Các đội quân dưới cờ
được lệnh chuẩn bị hành trang, binh khí để lúc có lệnh sẽ lên đường được ngay.
Trần Nhật Duật thảo ngay một bản sớ để dâng vua và một bảo cáo để trình Quốc
công Tiết chế Trần Quốc Tuấn về cuộc chuyển quân lên phía bắc của đạo quân Toa
Đô. Ông dự đoán một là giặc sẽ theo sông Cái lên hội sư với Thoát Hoan, điểm hội
sư sẽ nằm vào khoảng khúc sông Thiên Mạc; hai là chúng sẽ đổ bộ lên lộ Thanh
Hoá Ngoại rồi tiến về Thăng Long bằng đường bộ theo lối cuốn chiếu qua phủ
Thiên Trường và hương Tức Mạc có thể cuốn chiếu cả thuỷ cả bộ, có thể chỉ cuốn
chiếu bằng bộ còn quân thuỷ sẽ ra bể dùng cho vùng các cửa sông. Ông xin Quan
gia cho ông đem quân bản bộ ra chẹn giặc ở lộ Thanh Hoá Ngoại.
Sớ và cáo vừa gửi đi thì một đội kị sĩ rầm rập phi ngựa về cửa
lều của Trần Nhật Duật. Đến nơi, họ xuống ngựa, người nào người nấy mặt mũi phủ
đầy bụi đường trường. Một người trong bọn họ xồng xộc tiến đến cửa lều trận của
Chiêu Văn vương. Người này cao lớn, dáng điệu hiên ngang, thanh gươm vỏ ken mây
đập vào đùi lách cách. Viên tì tướng trấn cửa chặn người mới đến:
- Đứng lại. Đây là trướng cấm của đức ông thống lĩnh!
Nhưng người mới đến phá lên cười, điệu cười thật ngang tàng:
- Ngươi không nhận ra ta là ai sao?
Viên tì tướng trố mắt nhìn một hồi rồi thốt reo lên:
- Trời ơi! Tướng quân Hoàng Mãnh!
Người mới đến chính là Hoàng Mãnh nhưng mà là một Hoàng Mãnh
gầy guộc hơn nhưng gân guốc hơn, khí vũ hiên ngang hơn, bụi đường trường phủ trắng
cả mi mắt. Đặc biệt là cái cười của Hoàng Mãnh vẫn là cái cười của hải tặc, của
một hải tặc có đôi mắt nghịch ngợm, quỷ sứ.
Hoàng Mãnh vén cửa lều trận, bước vào. Trần Nhật Duật đứng phắt
dậy kinh ngạc mừng rỡ. Hoàng Mãnh cúi đầu thi lễ.
- Kính lạy đức ông! Tiểu tướng ở ngự doanh về. Kính chúc đức
ông sức khoẻ.
Trần Nhật Duật bước ào tới. Hai anh em ôm choàng lấy nhau.
Hai tấm hộ tâm phiến bằng đồng thau đính trên ngực áo chiến của hai người va
vào nhau thành tiếng kim sắc, rợn.
Hoàng Mãnh đem về cả tin mừng và tin buồn. Hoàng Mãnh mang về
lệnh chỉ triệu Trần Nhật Duật ra ngay mặt trận phía bắc. Mờ sáng hôm sau, Trần
Nhật Duật lên đường, dẫn theo cả đạo quân tinh nhuệ đầy hào khí Đông A trẻ
trung của ông.
Đội quân của Hoài Văn hầu đi tiên phong. Sáu trăm gã hào kiệt
nhộn nhạo giương lá cờ sáu chữ hiên ngang, dùng ngựa tốt làm thông hiệu giữa
các đô các vệ. Quân đi trong không khí hừng hực chiến chinh...
Hoàng Mãnh đã kể lại cho Trần Nhật Duật nghe những tin tức
chiến thắng mới nhất ở chiến trường Thăng Long. Quân địch sau những ngày hung
hãn buổi đầu chinh thảo bây giờ phải dàn mỏng ra để che chở đường lương cỏ.
Chung quanh hành trung doanh của Thoát Hoan ở ngoài Thăng Long, giặc phải lập một
số đồn trại để phòng giữ. Nhưng quân ta ở khắp nơi đã dùng những đội quân không
cần đông lắm mà đánh những trận hạ đồn nhanh chóng và đánh những trận mai phục
kì diệu đến nỗi không một tên nào chạy thoát. Nhìn toàn cục mà nói, giặc mất hẳn
cái linh hoạt vốn là điều mạnh nhất của giặc, còn ta tăng thêm thao lược chỗ
thiếu nhanh chóng được thêm vào. Từ những trận đánh một vệ lên một quân vài
ngàn người, các tướng đã mau chóng gom binh lực thành những đạo quân lớn, đánh
dồn đánh ép tuyến đường huyết mạch của chúng từ Thăng Long về biên giới Việt -
Nguyên. Tóm lại giặc mất quyền tấn công và bây giờ là quân ta ra tay, muốn đánh
ở đâu, vào đâu, vào lúc nào, bằng bao nhiêu binh lực là do ta định.
Nhưng Hoàng Mãnh cũng đem về những tin buồn. Trước hết phải kể
đến gương hi sinh oanh liệt của Bảo Nghĩa hầu Trần Bình Trọng. Bằng một số quân
ít chưa đầy năm trăm người, Trần Bình Trọng đã cầm chân đội quân giặc truy đuổi
vua ta tới hơn một ngày. Thế quân chênh lệch quá, Trần Bình Trọng bị giặc bắt
được và con người ấy đã ghi tên mình vào sử vàng của dân tộc bằng tấm gương tử
tiết chứa chan hào khí Đông A. Nhà vua đã tặng tước vương cho tướng quân Bảo
Nghĩa trước khi xuất trận. Tấm gương sáng của Bảo Nghĩa vương sẽ đời đời cho
trai gái nước Việt soi chung. Bảo Nghĩa vương có một đứa em nuôi. Chú bé này vốn
là một nô tì chăn ngựa của ông. Nhờ có chiến công và tính dũng cảm, chú bé được
đức ông Bảo Nghĩa phóng thích khỏi kiếp nô tì và nhận làm em nuôi. Chính chú bé
này đã đem lọt một mệnh lệnh cực kì quan trọng của Hành trung doanh vào Diễn
Châu cho Thượng tướng quân Chiêu Minh Đại vương. Gương sáng ấy cũng cực kì chói
lọi.
Rồi đến tin Trần Ích Tắc, Trần Văn Lộng, Trần Tú Hoãn và vợ
con đem nhau ra hàng tướng giặc Thoát Hoan. Theo sau lũ này còn có Tăng Uyên Tử,
Tô Nghĩa Đông... những kẻ đầu hàng tới hai lần trong một đời người. Thật là một
tin sét đánh ngang tai Trần Nhật Duật. Ông buộc Hoàng Mãnh phải kể lại một lần
nữa tên những kẻ phản bội. Lần kể thứ nhất ông có cảm giác kinh hoàng và giận dữ,
lần nghe thứ hai ông chỉ có khinh bỉ và ghê tởm. Cảm giác này lấn át cả những
tin buồn khác. Trần Nhật Duật hỏi Hoàng Mãnh: “Quân thế đôi bên cũng có chênh lệch
nhưng đã đến nỗi nào? Sao nhà ngươi không khuyên...?”
Trần Nhật Duật ngập ngừng ông cũng không biết nên gọi Trần
Ích Tắc bằng gì bây giờ. Hoàng Mãnh đăm chiêu:
- Không! Đạo quân Đà Giang và Tam Đái Giang chưa có một tổn
thất nào đáng kể. Trái lại nó đóng trong một vùng rừng núi kín đáo, giữ trận địa
không khó cho lắm mà tiến sâu ra sau lưng địch như tướng mệnh không phải là
không lập được công lớn. Rồi có thể từ chỗ đóng quân này dễ dàng đánh những trận
xuyên hông quân giặc. Chỉ dùng một binh lực nhỏ nhưng vẫn thắng lớn được.
- Thế thì...
Hoàng Mãnh nhìn Trần Nhật Duật một lúc rồi tiếp
- Chuyện đầu hàng xảy ra sau khi Thượng hoàng chẳng những
không trị tội đức ông Hưng Đạo và anh mà còn giao thêm trọng trách. Thượng
hoàng đã sai Minh tự Nguyễn Khoái đem hai quân túc vệ Thượng đô Tả và Hữu Thần
Sách đến để đức ông sai phái. Từ lúc được tin ấy, em thấy ông ta mất hẳn vẻ
thâm trầm, đâm ra vừa thảng thốt vừa bẳn gắt suốt ngày. Đến nửa đêm thì chuyện ấy
xảy ra.
Trần Nhật Duật gườm gườm nhìn Hoàng Mãnh. Ông không tiện hỏi
dồn, cũng không tiện trách Hoàng Mãnh bởi vì Hoàng Mãnh chẳng có gì trách cứ được.
Nhưng Hoàng Mãnh hiểu, vì Hoàng Mãnh còn lạ gì anh mình nữa. Hoàng Mãnh tiếp:
- Chiều hôm ấy, ông ta ra lệnh gom các kho lương lập trong rừng
đem xuống thuyền. Em đã trình ông ta là làm như thế lương sẽ dễ lọt vào tay giặc.
Ông ta đã mắng em: “Mày là con nhà tôi tớ sao dám hỗn với ta?” (Trần Nhật Duật
nhợt mặt ra). Em đáp: “Hiện nay tôi là phó quan lộ Đà Giang. Quan gia đã chẻ
phù hình mây trao cho tướng mệnh này”. Em chìa nửa mảnh phù cho ông ta xem.
Nhưng ông ta thét bọn tả hữu nanh vuốt của ông ta trói em lại. Cái thằng Đô
Trâu, dũng thủ giáo luyện của ông ta trói em bằng dây cung tước nhỏ.
Hoàng Mãnh im lặng. Trần Nhật Duật bồn chồn.
- Cũng may, lúc chập tối, cái thằng ông mãnh Trịnh Mác thế mà
tài, nó đem dũng thủ sơn cước sông Đà lọt vào hành doanh cướp được em ra. Nửa
đêm ông ta đi. Đấy, việc như thế đấy.
Như vậy bên cạnh sự hèn nhát phản bội của Trần Ích Tắc còn có
một khát vọng cuồng nhiệt thầm kín mà xưa nay ông là em ruột cũng không biết.
Hoàng Mãnh nói thêm:
- Chẳng những thế, ông ta đã hiến một kế khốn nạn, vào cái
lúc giặc vừa chiếm được Thăng Long. Khốn nạn đến thế nào ư? Ông ta tâu vua chọn
mĩ nữ dâng Thoát Hoan để xin thằng này ngừng chiến. Đem cống mĩ nữ thì còn trời
đất nào nữa?
- Thế tả hữu không ai can anh ta à?
- Anh lúc ấy đã lên đường đi châu Ái. Đức ông hoàng Ba thì đã
ở Diễn Châu. Các tướng trí dũng phần lớn đang ở mặt trận cả. Quanh mình Thượng
hoàng lúc đó chỉ có ông ta với bọn tham sống sợ chết. Cả cái thằng Tô Nghĩa
Đông cũng hùn vào. Nó đem cái khí chất Nam Tống ra, lời nói thì như chuốt ngọc,
yêu nước thương nòi mà kì thực thì chỉ xui người ta hèn nhát. Thành thử...
- Sao?
-...Thành thử Thượng hoàng nghe lời ông ta, Thượng hoàng sai
cận thị Đào Kiên đem công chúa An Tư đi cống thằng Thoát Hoan...
- Công chúa An Tư à?
Trần Nhật Duật nhớ lại cô gái tài hoa xinh đẹp ấy, nhớ đến nước
pháo song tiên, ngón đàn độc huyền, nhớ những vần thơ tình tứ ngang ngược của
cô gái giả trai ra Phi Liêm hầu.
Hoàng Mãnh chờ một lúc lâu. Anh ta hiểu tâm tính người anh đồng
nhũ. Đã nói phải nói hết và sau đó có vì thế mà lòng dạ đau thương thì chí khí
sẽ làm cho nó lành vết!
- Theo hầu lệnh bà An Tư có sáu cô gái Thăng Long làm thể nữ.
Một trong sáu người ấy là em Mơ.
Trái với sự lo ngại của Hoàng Mãnh, Trần Nhật Duật chỉ hơi nhợt
mặt đi, cặp mắt đẹp của đức ông hoàng Sáu thoáng cháy lên và ông ngồi im. Giờ
lâu Trần Nhật Duật mới hỏi thêm:
- Còn gì nữa?
- Bẩm đức ông, hết rồi đó.
- Hết rồi đó!... Hết rồi đó! - Trần Nhật Duật lẩm bẩm mãi mấy
câu ấy...
Đạo quân của Trần Nhật Duật đi mười hai ngày mới tới địa giới
lộ Thanh Hoá Ngoại. Đội quân tiên phong cho thông hiệu về báo luôn một tin dữ nữa:
Chương Hiến thượng vị hầu áo tía Trần Kiện và thằng phó quan Lê Trắc đã hàng
Toa Đô rồi. Tên tướng giặc này đã đổ bộ vào lộ Thanh Hoá Ngoại và có một mũi
nghi binh ở con kênh Cổ Khê. Nếu ở đây quan trấn thủ cũng đoán ra mưu giặc và
không phải là Trần Kiện thì thằng Toa Đô phải tổn thất nhiều mới đặt chân lên nổi
Thanh Hoá Ngoại.
Chiêu Văn vương nổi giận, ông ra lệnh xốc cả đạo quân tiến
lên Thanh Hoá Ngoại. Trời lúc đó đã sang đầu mùa hạ. Đợt gió tây đầu tiên trong
năm đang thổi khô cây khô cỏ. Nóng như thiêu như đốt. Quân ta phải hành quân
ban đêm, ăn ngủ ban ngày.
Chương 17
Cuộc họp trong Hành trung doanh của đạo quân xâm lược rất ít
người và chỉ gồm các tướng lĩnh cao cấp nhất: Đại nguyên soái Trấn Nam vương
Thoát Hoan, Phó nguyên soái Nam Bình hầu A Lý Hải Nha, Tham trí chính sự Vạn hộ
hầu Dũng sĩ Lý Hằng và các Vạn hộ hầu Nạp Tốc Lạt Đinh, Lưu Thế Anh...
Thoát Hoan mở cuộc họp này trong hành trung doanh đóng ở
ngoài chân thành Thăng Long. Gã tướng giặc trẻ không chịu nổi không khí lặng ngắt
nặng nề trong khu hoàng cung. Tuy nhiên kinh thành cũng chẳng còn bóng dáng một
người dân nào. Các ngõ, các phố, các phường đều trống trơn, cửa ngõ mở tông tốc.
Cỏ đã mọc um tùm ở cổng lớn các phủ đệ, các dinh thự, cỏ mọc cả trong lòng đường
cái. Cây cối đang mùa chín trái rụng đầy mặt đất các vườn, chim chóc líu tíu
tranh ăn và trái chín nẫu lên men ngửi say như hương rượu.
Lều trận của Đại nguyên soái Thoát Hoan chính là cái lều trận
mái dạ đen lót lụa đỏ mà trên hai năm trước đây, hai cha con Hốt Tất Liệt đã ngủ
đêm trong hoàng thành Đại Đô trên thảm cỏ thiêng Ô Nôn. Chỉ khác một chút về đồ
đạc bày trong lều: Thoát Hoan đã sai trải những chiếc chiếu cói trên nền lều và
cho vứt rải rác những chiếc gối mây đan tựa tay. Như thế mới đỡ cái nóng ngút
ngát toả ra từ thảm da dê, từ tựa ghế bọc da hổ. Ngay cả áo chiến của Thoát
Hoan cũng phải thay thứ khác. Những bộ áo miền cao nguyên phương bắc may bằng
nhung bằng dạ viền và lót lông gấu lông cáo quý không thể dùng được ở xứ này.
Ôi cái xứ có cái nắng quái ác, nắng như chàm lửa, nóng như từ trong ruột nóng
ra. Thoát Hoan phải mặc một bộ áo chiến bằng lụa màu huyết dụ rất mỏng, chân xỏ
một đôi dép cỏ của đám lính Ô Man. Gã đã phải dội một chút nước lã lên đầu lên
tóc thay vì một lần tắm vì theo phong tục và điều luật Yassa cấm tắm, ai tắm phải
xử chém. Đại Hãn đã đặt ra luật thì ai còn dám phạm? Các thứ hộ tâm phiến, lá
giáp che ngực, lá giáp chắn tay, lá giáp che đùi đều bị bỏ tất. Thay vào đấy là
một ngũ dũng thủ cầm những lá mộc to để sẵn sàng che cho viên tướng non.
Các tướng khác thì vẫn phải giữ luật quân, mặc giáp trụ đầy đủ
chỉ trừ dũng sĩ Lý Hằng béo quá rực mỡ cứ phải xoay trần trùng trục.
Ngay từ lúc còn thơ ấu, Thoát Hoan đã được cha bó gọn vào cái
túi treo trên cổ ngựa đem theo trong các cuộc chinh thảo xa xôi. Thay vào tiếng
ru dịu ngọt của một người đàn bà, là tiếng cười man rợ của chiến binh trong tiệc
mừng đánh thắng vào lúc sắp tàn. Mùi rượu và mùi máu thay mùi thơm sữa ngọt,
ánh lửa đốt cả một kinh thành thay ánh lửa bếp hiền hoà...
Lớn lên một chút, Thoát Hoan được nghe kể lại chiến tích của
cha ông mình, đặc biệt là kì tích lẫy lừng của ông tổ lẫm liệt, vị Đại Hãn đầu
tiên của tất cả những người Thát Đát và những nước phụ dung. Ông tổ của Thoát
Hoan ghét dùng vàng ngọc, Thoát Hoan bắt chước cũng ghét dùng vàng ngọc. Thế là
thanh kiếm Thoát Hoan chọn là một thanh kiếm chuôi đồng thau, vỏ cũng đồng thau
để trơn nhưng lại đeo bằng một cái đai gấm. Trên cái vỏ kiếm Thoát Hoan cho khắc
một câu trích trong bộ luật Yassa: “Không thể sống yên ổn với những kẻ bị ép
hàng”. Ý của Thoát Hoan là cứ chém hết, tàn sát hết, chứ có ai là không bị ép
hàng. Viên Đại nguyên soái nhà Nguyên chỉ mới qua mấy tháng chinh chiến ở xứ
này mà đã thay đổi nhiều. Làn da sau mấy lần rộp lần bong nay đã mang màu dầu
dãi, cặp mắt ngơ ngác và đôi khoé môi trễ xuống tàn ác, chán ngán, hoài nghi...
Ngồi bên trái Thoát Hoan viên phó Nguyên soái A Lý Hải Nha
lúc nào cũng lim dim mắt như người nhập định. Y là bộ não và là linh hồn của cuộc
chinh thảo này. Là một viên tướng thao lược đã quá nửa đời người sống trên lưng
ngựa viễn chinh, A Lý Hải Nha biết giấu ý nghĩ và cảm xúc của mình sau một bộ mặt
lặng lẽ.
Các tướng đã tề tựu đông đủ nhưng Thoát Hoan vẫn còn chờ một
tin tức sẽ mang về bằng đường thuỷ. Hiệu nêu đèn nêu cờ đã báo từ phủ Thiên Trường
về Hành Trung doanh là cánh quân Toa Đô đã đến phủ Thiên Trường và Nguyên soái
Toa Đô đã sai tì tướng mang tờ cáo về trình Thoát Hoan. Đáng lẽ chiếc khinh
thuyền hai buồm mang tin đã phải về đến Hành trung doanh từ đêm qua rồi.
Mãi sau không thấy cáo đưa về, Thoát Hoan đành bắt đầu cuộc họp.
A Lý Hải Nha nói lược qua về thế chiến trường để các tướng cùng hiểu:
-Trước hết, Vạn hộ hầu Lý Hằng và Dũng sĩ Ô Mã Nhi chỉ huy việc
đuổi bắt cha con vua nước Việt đã chẳng thu được kết quả gì cả. Đuổi ra biển,
đuổi vào sông, đuổi lên rừng rồi lại đuổi ra biển... cuối cùng mất hút tông
tích cha con vua Việt. Dũng sĩ Ô Mã Nhi đã phải bỏ cuộc truy lùng, bây giờ Ô Mã
Nhi đã dẫn một cánh quân nhỏ đi đón Nguyên soái Toa Đô. Bản cáo lần trước của
hành doanh Toa Đô trình rằng Dũng sĩ Ô Mã Nhi đã hội sư với Toa Đô rồi. Cả hai
cánh quân nhập làm một và đã đổ bộ lên lộ Thanh Hoá Ngoại. Từ Thanh Hoá Ngoại,
quân Toa Đô đã tiến ra đến phủ Thiên Trường.
- Đạo quân chính ở quanh quốc đô nước Việt vẫn còn nguyên sức
mạnh và bây giờ chưa biết họ mở cuộc tấn công vào lúc nào.
- Quân của Đại nguyên soái Thoát Hoan đang thiếu lương thực,
thiếu cỏ khô cho ngựa ăn, mặc dù đã phải lấy trên ba vạn chiến binh giao cho Vạn
hộ hầu Lưu Thế Anh đem đi lập trên hai trăm đồn trại dọc con đường lương từ
Thăng Long về tới biên giới Việt Nguyên mà lương thảo vẫn bị đánh úp. Quân Việt
chẳng biết từ đâu cớ thình lình xuất hiện đánh úp những đội tải lương cỏ. Cướp
được bao nhiêu thì cướp còn nếu không mang đi được thì họ đốt tại chỗ. Bây giờ ở
Hành trung doanh, đứng trên vọng tiêu cao, người ta trông thấy khói lửa của nhiều
đám cháy ở các hướng chung quanh nhưng không hiểu quân Việt đốt đồn, đốt lương
hay đốt cỏ. Mà ở đây vừa là chiến trường vừa là ruộng lầy, ruộng nước, quân
Nguyên không thể thả ngựa đi chăn được. Dạo này những con ngựa chiến thiếu cỏ
phải ăn thóc nhiều cho nên gầy đi, lông xơ xác không bóng mượt mà con nào cũng
đau mắt vì dặm mày thóc.
- Ông tướng “nóng” đã xuất hiện, lại thêm cả ông tướng “mưa”
nữa. Lính Ô Man quen cái lạnh núi cao hiện nay cứ mệt nhoài ra; lính Thát Đát
không có quần áo mỏng cứ xoay trần trùng trục; lính Hán kể cả Hán ở bắc và nam
sông Trường Giang khá hơn tí chút nhưng xem ra thứ quân này cũng không quen nổi
cái mưa nắng bất thường của phương nam.
Nói tóm lại quân tướng ngựa nghẽo đều mệt mỏi thiếu lương thiếu
cỏ và muốn nổi khùng lên tìm quân Việt để giao chiến cũng không được. Chỉ còn
cách thêm quân, thêm thật nhiều quân rồi dàn lại thế trận, dốc sức đánh thử một
lần nữa xem sao. Cái đạo quân tiếp viện chính là đạo quân Toa Đô mà cả Hành
trung doanh bây giờ đang đợi chờ tin tức.
Viên tướng chỉ huy việc bảo vệ đường lương Lưu Thế Anh nói:
- Bẩm Nguyên soái, việc vận tải bằng thuyền thì nhanh và được
nhiều hơn nhưng quân ta ít người thông thạo nghề sông nước.
- Ta đã kén tất cả chiến binh thạo nghề này giao cho ngươi rồi.
Lính thuỷ thiện chiến đi vãn đến nỗi thuyền chiến bây giờ phải xếp xó trong thuỷ
trại Chương Dương kia kìa.
A Lý Hải Nha chăm chú nhìn Thoát Hoan. Vốn là thầy dạy gã
hoàng tử trẻ ngông cuồng kia, nên A Lý Hải Nha thuộc tính thuộc tật của Thoát
Hoan. Gã hoàng tử trẻ này không hiểu chiến tranh là thế nào cả. Gã sinh ra
trong một dòng họ mà mỗi cuộc chinh chiến nơi xa lại đem lại một ngai vàng mới,
kèm theo đó là một loạt chức tước khai quốc công thần với đất phong, với phủ đệ,
với thẻ phù miễn tội cho tới ba đời, với mĩ nữ và vàng bạc châu báu, với tiệc
tùng truy hoan tưởng lệ công thần... Gã khát vọng một chiến tích lẫy lừng như
cha ông gã. Bước chân lên đường chinh chiến, gã nhận chức đầu tiên là Nguyên
soái, gã chưa hề hiểu thế nào là những chiến trường có thắng có thua, có sống
có chết, có đói ăn, có khát uống, có bệnh tật hiểm nghèo, có quốc gia dương danh,
có đất nước vong diệt, chí ít cũng là thăng và giáng chức... Quả thật gã cũng
là một nguyên soái thông minh trí tuệ được đào luyện bởi những ông thầy kén chọn
kĩ trong số những kẻ sĩ trung nguyên, gã lại có cái máu nòi thiện chiến thảo
nguyên nhưng gã thiếu thao lược và nhược điểm lớn nhất của gã là “chức vụ bất xứng
kì đức”, gã không đủ điều kiện để làm một nguyên soái, gã là một hoàng tử, gã
mang trong máu gã cái bệnh “hoàng tộc”.
Ba bốn tháng vừa qua chưa đem lại cho Thoát Hoan những kinh
nghiệm rõ rệt. Gã mơ ước lễ ban sư về Đại Đô sẽ được dàn kèn vòi tu tu thổi đón
mừng. Gã sẽ vào hoàng cung. Gã sẽ được vua cha cho triều kiến trong khu bãi
chính giữa hoàng cung trồng thứ cỏ thiêng Ô Nôn. Gã sẽ ném xuống dưới chân vua
cha chiếc mũ thiên triều và quả quốc ấn của vua nước Việt theo đúng phong tục của
dòng tướng Thát Đát. Vua cha cũng sẽ ban cho gã một vò sữa dê cũng theo đúng
phong tục tiếp tướng Thát Đát thắng trận trở về nhưng rồi lễ ban phong sẽ diễn
ra với Thoát Hoan theo nghi lễ Trung Quốc, cái ngai vàng phiên trấn cộng một
triều đình đô hộ nhỏ có đủ luật lệ, điển nghi, phiền toái và thâm hiểm...
A Lý Hải Nha lim dim mắt nhưng viên tướng Thát Đát già này đọc
rõ ràng từng chỗ lắt léo trong ý nghĩ của gã học trò yêu quý của mình. A Lý Hải
Nha biết Thoát Hoan mơ đến lễ ban sư nhưng không hiểu sao bây giờ A Lý Hải Nha
cứ như nghe thấy bài tang ca mà các dũng sĩ Thát Đát đã hát khi đưa xác Thành
Cát Tư Hãn từ mặt trận trở về thảm cỏ thiêng bên bờ sông Ô Nôn:
Hôm qua mi lượn trên trời như con chim ưng.
Hôm nay mi nằm trên xe chiến, trục lăn rền rĩ.
Ôi Đại Hãn của chúng ta.
Mi để vợ con lại.
Mi bỏ người Thát Đát.
Ôi Đại Hãn của chúng ta.
Trước kia mi là con chim phượng hoàng kiêu hãnh trên trời
cao.
Bây giờ mi bị hạ như một con ngựa non ngờ nghệch.
Ôi Đại Hãn của chúng ta.
Mi đã hứa ở với chúng ta sáu mươi năm vui vẻ thịnh vượng.
Thế mà mi vẫn cứ bỏ lại cả chín tộc Thát Đát của mi.
Ôi Đại Hãn của chúng ta.
Bây giờ thì cái vị Đại Hãn ấy đã yên nghỉ ở đất tổ, bên dưới
thảm cỏ bốn mùa thay đổi sắc, mùa đông tuyết trắng phau phau, mùa xuân cỏ non
xanh mịn, mùa hạ rực rỡ muôn hoa, mùa thu cỏ áy vàng. Làm tướng được chết trên
chiến trường là một cái chết đẹp, cái chết da ngựa bọc thây thế nhưng nó phải
là một cái chết trong một trận chiến lẫm liệt. Đằng này quân Việt không chịu tiếp
chiến. Cuộc chinh thảo diễn ra trên bốn tháng rồi mà quân Việt chỉ cho xảy ra một
số trận đánh nhỏ. Sức nhanh của quân kị Thát Đát, tài phá luỹ công thành của
quân Hán, trí dũng thao lược của các tướng đều không thi thố được. Rút cục, trời
nóng trời mưa cứ giáng lên đầu quân, lương thiếu cỏ hết cả ngày chỉ lo ăn...
A Lý Hải Nha ngẫm nghĩ. Viên tướng xâm lược già chợt thấy lo
lắng. Trong những cuộc chinh thảo khác, quân Thát Đát muốn đánh lúc nào thì
đánh, còn trong cuộc chinh thảo này lúc họ muốn đánh thì không được đánh. Như vậy...
như vậy bây giờ đến lượt quân Việt muốn đánh lúc nào thì đánh! A Lý Hải Nha bỗng
lo thót ruột. Gánh nặng cuộc chinh thảo này đè lên vai y. Nguyên chúa đã dặn phải
thắng. Nguyên chúa đã giao cả giáo vàng truyền quốc. Nguyên chúa đã giao cả
tính mệnh và ngai vàng của hoàng tử Thoát Hoan cho y. Phải thắng, phải lập được
một nước để Trấn Nam vương trị vì và y thì phụ chính.
Nhưng đêm hôm nay, A Lý Hải Nha đã hiểu rằng thắng quân Việt
là một điều ảo tưởng, còn thua, thậm chí thua to thì chưa biết thế nào. Chỉ còn
một chút kì vọng le lói như ngọn đèn trước gió. Đó là đạo quân Toa Đô đến hội
sư ở Thăng Long, đem đến một nguồn sinh lực mới. A Lý Hải Nha sẽ dùng cánh quân
sinh lực này mở một cuộc truy lùng mới: truy lùng vua Việt, cả hai cha con vua
Việt, truy lùng tiêu diệt Hành trung doanh quân Việt.
Hà, Toa Đô cũng là trò yêu của ta, gã không may mắn có máu
hoàng tộc, gã không phải là hoàng tử thân vương, nhưng gã là một viên tướng, một
chiến tướng bách chiến đã giành lấy ấn kiếm nguyên soái bằng những gian lao, bằng
xông pha tên giáo, bằng những chiến tích và kinh nghiệm thu được, bằng nửa đời
người mang gươm phò Nguyên chúa. Gã thao lược và thiện chiến hơn Thoát Hoan. Có
thể bàn việc với gã như bàn luận giữa các tướng thực thụ, như giữa những chiến
binh thực thụ. Gã không có chút máu Đại Hãn nào trong huyết quản nhưng gã sẽ là
người đuổi bắt cha con vua Việt, Toa Đô cũng sẽ là người tìm ra tung tích Hành
trung doanh của quân Việt. Được rồi, đến lúc đó, A Lý Hải Nha sẽ đem hết tài
nguyên soái bách chiến ra, chỉ huy một cuộc chiến thắng lớn, thắng lừng lẫy.
Chỉ cần Toa Đô đem quân về đúng hẹn, quân đủ, khí giới đủ,
quân thế còn sắc sảo. Mà sao cái thằng này đến muộn vậy? Hay quân của nó cũng ốm
dở?
A Lý Hải Nha chợt sững người. Câu hỏi của gã choảng đúng vào
huyệt. Tất cả kinh nghiệm một đời chinh chiến đã chỉ cho viên tướng già này biết
rằng đội quân Toa Đô chắc chắn bây giờ đang xơ xác. Đây là đạo quân đã phải
đánh nhau hai năm trường ở một nơi xa, chiến trường lại nhiều rừng núi, nhiều
muỗi, lắm vắt và nóng nực ẩm thấp hơn ở đây.
Đặt hi vọng chuyển thế chiến trường vào đạo quân Toa Đô té ra
là một ảo tưởng vô duyên. A Lý Hải Nha định nói điều ấy với Thoát Hoan nhưng
nghĩ đi nghĩ lại viên tướng già lại ngậm miệng bởi vì nếu nói thì lại phải nói
cho cùng kì lí: chẳng những không trông mong gì được ở đạo quân Toa Đô mà còn
phải lo cứu cho đạo quân ấy khỏi bị tiêu diệt trên đường di chuyển. Tốt hơn hết
là cứ để Toa Đô đến đây, Thoát Hoan sẽ nhìn tận mắt lực lượng này và quyết định
lấy việc phải làm.
Chờ đến gần trưa vẫn không thấy thuyền mang cáo của Toa Đô đến
Hành trung doanh. Các nêu cờ báo tin loạn xạ. Không hiểu ở những nơi ấy quân Việt
có hành binh không mà nêu nào cũng báo tin đồn trại bị tiến công. Một số ụ lửa
chuyên dùng để báo tin nguy cấp cũng thấy khói hiệu bốc lên. A Lý Hải Nha muốn
Thoát Hoan khỏi sốt ruột nên ra lệnh cho các tướng đi xét quân tình ở quanh
Thăng Long.
Bọn thị mã dắt ngựa đến cửa lều trận. Các tướng Thát Đát lên
ngựa trước, các tướng Hán giữ phận hèn lên ngựa sau. Chúng theo nhau phi ngựa
qua các phố phường Thăng Long vắng teo. ở các nơi đồn trú của quân Nguyên,
Thoát Hoan nhận thấy rất rõ tình trạng quân lính chẳng những đói mệt mà kỉ luật
lơi lỏng. Đó là điều tất nhiên sẽ xảy đến với một đội quân đóng lâu tại chỗ và
mất quyền làm chủ trên toàn chiến trường. Thoát Hoan còn nhận thấy những con ngựa
Vân Nam cũng xuống sức nhiều. Xứ này lắm ruồi vàng quá. Ngựa Vân Nam bị ruồi
vàng đốt, rùng mình phát sốt, bốn gối rung như cẳng cò gặp rét. Thoát Hoan vốn
là tay sành ngựa. Chỉ nhìn những con ngựa chảy nước mũi, Thoát Hoan đã hiểu rằng
đàn ngựa thế là ốm hết rồi. Bây giờ mà muốn dẫn quân cưỡi chúng đi đánh những
trận lấy nhanh, lấy thần tốc thì cũng không ra khỏi cửa doanh được lấy chục dặm
đường. Rồi đỗ lại nghỉ ngựa thì chỉ có chờ quân Việt đến cất vó là xong.
Tình thế này mà lọt đến tai mắt quân Việt thì “lôi thôi” to.
Thoát Hoan bày tỏ sự lo ngại của mình với A Lý Hải Nha. Viên
tướng già này nghiêm khắc nhắc Thoát Hoan:
- Nhận ra tình trạng này phải có tầm mắt của tướng bên ta.
Tôi chỉ lo có ai nói điều đó với bọn con gái Việt.
Thoát Hoan sầm mặt xuống. Viên tướng trẻ biết rằng thầy gã đe
gã về cái tội đã tiếp nhận những mĩ nữ nước Việt. Đó là điều cấm trong bộ luật
Yassa. Điều luật ấy nó thế này: “Cái sướng nhất của người chiến binh Thát Đát
là đánh thắng quân địch, cướp của cải của chúng, đuổi bọn tôi tớ của chúng phải
tế ngựa bỏ chạy, là dùng bụng vợ và con gái chúng làm ổ ngủ”. Thế mà Thoát Hoan
đã nhận mĩ nữ Việt như một cống phẩm lúc bình thường của phiên trấn nội phụ.
Đành rằng hôm ấy Thoát Hoan đã tỏ ra tôn trọng lời can của A Lý Hải Nha nhưng
viên Đại Nguyên soái trẻ biện bạch rất khéo rằng cứ nhận mĩ nhân để ru ngủ vua
tôi nước Việt rồi quân Nguyên không giữ lời hứa mà cứ tấn công. Quả thật sau đó
quân Nguyên vẫn tấn công nhưng Thoát Hoan đâm say mê nàng công chúa phương nam
nom rất yểu điệu mà dữ như chó sói. Hàng ngày, Thoát Hoan vẫn đến căn lều nhốt
mĩ nữ Việt. Hàng ngày, Thoát Hoan phải nhìn mặt nàng con gái Việt, dần dần thói
quen đó thành thói nghiện. Thoát Hoan chuyện trò với các cô gái đó mặc dù họ
không đáp lời gã. Thế mà Thoát Hoan vẫn ra lệnh nới bớt các điều cấm đối với
nàng công chúa Việt và những người theo hầu. Những mệnh lệnh ấy được ban ra mà
không hỏi qua A Lý Hải Nha làm cho viên tướng già này đã mấy lần nghiêm sắc mặt
nhắc học trò yêu về bổn phận của một viên tướng đi viễn chinh.
Thoát Hoan cười dàn hoà:
- Bọn chúng ở đây như chim trong lồng, làm sao mà mang nhau
đi đâu được.
A Lý Hải Nha giữ ý không tranh biện với Thoát Hoan. Vả chăng
viên tướng già đã sai tì tướng tâm phúc canh phòng căn lều nhốt mĩ nữ người Việt
rất chặt chẽ. Y cũng đã sai bọn tâm phúc sắp sẵn thuốc độc để khi cần thì bắt
mĩ nữ nước Việt uống chết.
Thoát Hoan lại lảng sang chuyện khác:
- Còn bọn hàng tướng Việt thì phải giải về Đại Đô để đề phòng
chuyện bất trắc.
A Lý Hải Nha đáp rằng cái bọn đầu hàng thì chẳng dùng làm gì
được, tuy nhiên y đã sai tướng giải bọn Trần Ích Tắc và Trần Kiện... về Trung
Quốc rồi. Gã cười nhạt:
- Cái bọn mà không trung thành cả với bố chúng nó thì hỏi
chúng còn có thể trung thành được với ai?
Đúng lúc ấy, một viên tì tướng của thuỷ trại Chương Dương phi
ngựa tới. Con ngựa chạy quá sức, bốn vó loạng choạng suýt sụm xuống. Viên tì tướng
báo tin dữ: “Chiếc thuyền mang cáo của Nguyên soái Toa Đô đã bị quân Việt chẹn
bắt cách Chương Dương có sáu dặm sông. Quân tuần tiễu của thuỷ trại Chương
Dương đã cố sức đánh để cứu chiếc thuyền này nhưng đội quân Việt thông thạo
sông nước quá. Họ cho người lặn hẳn xuống nước đem dùi đục thuyền. Chiến thuyền
của ta bị đắm mất mấy chiếc. Thế là quân thuỷ bị bọn người Việt bắt sống ngay
dưới nước.”
Thoát Hoan giật nảy mình, muốn tuốt gươm chém ngay viên tướng
thông hiệu nhưng sau thấy vô lí, hắn tra gươm vào vỏ. Viên Đại Nguyên soái trẻ
rất thông minh. Y rất lo người Việt bắt được tờ cáo bí mật sẽ hiểu rõ ngay vì
sao y cho gọi cánh quân Toa Đô về hội sư ở Thăng Long. Như vậy, quân Việt sẽ
vây đánh rát hơn. Thoát Hoan vội dẫn các tướng về lều trận của y. Một loạt mệnh
lệnh được ban ra:
- Lệnh cho các đồn trại quanh Thăng Long phải tăng vọng tiêu
phòng. Đặc biệt là đồn A Lỗ, nơi Vạn hộ hầu Lưu Thế Anh đặt hành doanh chỉ huy
tải lương cỏ.
- Lệnh cho đội quân kị phải chăm vỗ ngựa tốt hơn và lúc nào
cũng phải sẵn sàng lên yên.
- Lệnh cho thuỷ trại Chương Dương phải canh giữ cẩn mật hơn nữa.
Nơi này đóng phần lớn chiến thuyền của đạo quân xâm lược. Đó là phương tiện để
tấn công tiến đánh ở xứ này và để ù té chạy khi cần thiết.
- Lệnh cho Thiên hộ Mã Vinh lập đồn chắn cửa sông Tô Lịch, đồn
đặt ngay cửa Giang Khẩu. Trong sông Tô Lịch, Thoát Hoan sai đem một đội thuyền
nhẹ vào đóng ở bến cửa thành. Đấy là phương tiện để các tướng trong Hành trung
doanh đi khỏi Thăng Long khi cần thiết.
- Giao cho quân thuỷ công việc tìm gặp và dẫn đường cho đạo
quân Toa Đô.
Bấy nhiêu mệnh lệnh ban ra nhưng những ngày sau đó, quân Việt
đột nhiên hoạt động dữ dội. Họ đánh đồn lẻ, họ đốt trại, đốt kho lương kho cỏ bằng
tên lửa. Họ đánh úp các ụ nêu cờ, nêu đèn làm cho các tuyến thông báo tin tức
luôn luôn bị rối loạn và gián đoạn. A Lý Hải Nha cũng mất hẳn bình tĩnh. Viên
tướng già đích thân xuống thuỷ trại Chương Dương để chỉ huy việc tìm gặp đạo
quân Toa Đô. Bây giờ thì không còn chờ dựa vào cánh quân này mà lại là lo cứu
cho nó khỏi bị tiêu diệt... A Lý Hải Nha hiểu rằng quân thế đôi bên đang có sự
thay đổi lớn.
Đến nửa đêm, tin dữ từ biên giới đưa về: “Quân Việt mai phục
bắn chết cả nhà tên Việt gian Trần Kiện và cả đội quân hộ tống cũng mất đứt
luôn”.
Đúng là quân thế đôi bên đang có sự thay đổi lớn rồi.
Chương 18
Hành trung doanh của đức ông Hưng Đạo đóng trong một bản người
Man Đại Hoàng vùng thượng đạo phủ Thiên Trường. Hành cung của hai vua đặt ở bản
bên chỉ cách Hành trung doanh chưa đầy bốn dặm đường. Chung quanh nơi hai vua
và đức ông Hưng Đạo đóng, người ta gặp gần đủ mặt những vương hầu giữ các chức
vị trọng yếu trong triều: binh tướng tuỳ tùng của Hành cung và Hành trung doanh
cũng rất đông, người đi kẻ lại tấp nập hối hả, voi gầm, ngựa hí, khói bếp bốc
lên mù mịt.
Trần Nhật Duật đến Hành trung doanh vào lúc giữa trưa, nắng
như chàm lửa. Ông đến bằng đường thuỷ trên một chiếc thuyền nhẹ mười sáu cặp
mái chèo. Chiếc thuyền nhẹ lướt như bay trên mặt con sông Bôi mùa này nước chảy
lững lờ, màu nước xanh như màu lá rừng hai bên bờ. Ông gặp chiếc thuyền của đức
ông Nhân Túc, quan lệnh phủ Tông Chính. Chiếc thuyền của đức ông Nhân Túc chở đầy
bài vị thần chủ của các bậc tiên đế, tiên hậu, tiên vương, tiên phi... để đưa
đi cất giấu. Nhân Túc vương nhìn thấy Trần Nhật Duật ở thuyền bên kia thì mừng
quớ lên:
- Ôi! Cháu Sáu! Cháu ta lẫm liệt quá!
Trần Nhật Duật vái chào ông chú và nhận thấy cái mũi của đức
ông Nhân Túc bớt đỏ đi. Chắc rằng đức ông Nhân Túc thiếu rượu. Trần Nhật Duật
sai quân trạo nhi ghé sát thuyền vào thuyền của đức ông Nhân Túc và biếu ông
chú một vò rượu mít với một bó cá mực khô, đặc sản của hương Hoằng. Trần Toàn cố
chèo kéo cháu lên thuyền với mình để chú cháu vừa hàn huyên vừa nếm thử “tí
hương rượu mít” nhưng Chiêu Văn vương thác việc quân bận lắm xin đi ngay.
Hành trung doanh đang lúc đông người. Viên tướng coi quản
quân tuỳ tùng của Hành trung doanh là Dã Tượng reo mừng khi thấy Chiêu Văn
vương bước lên bờ:
- Kính lạy đức ông! Chúc đức ông mạnh khoẻ!
- Chào tướng quân, ta chào tướng quân! Quốc công ta đang ở
đâu?
- Thưa đức ông, Quốc công đang bàn việc cơ mật với đức ông
Chiêu Minh trong lều trận treo màn cửa bằng vóc đỏ kia ạ.
Dã Tượng đưa Chiêu Văn vương đến lều trận của Hưng Đạo vương.
Viên tì tướng giám quân hô to:
- Đức ông Phó đô tướng đã đến!
Lính hầu vén màn vóc đỏ. Chiêu Văn vương bước vào lều trận,
thấy hai đức ông Hưng Đạo, Chiêu Minh cùng các phó quan và một số tướng đang
làm việc. Chiêu Văn vương chắp tay vái, miệng chào lớn, vui vẻ:
- Kính lạy hai anh! Em đã đến!
Trần Quốc Tuấn mừng rỡ đứng dậy, reo lên đáp lễ và bước ra tận
chỗ Chiêu Văn vương đứng, cầm tay ông dắt lại bên văn án:
- Nom em Sáu mạnh lắm phải không chú Ba?
So ba đức ông, Chiêu Văn vương còn trẻ lắm. Ba người cách
nhau mỗi người hơn mười tuổi. Trần Quang Khải cười nói:
- Thưa anh trưởng, em Chiêu Văn có gầy hơn hồi ở Thăng Long.
- Gầy một chút nhưng gân guốc cứng cáp hơn nhiều chứ. - Trần
Quốc Tuấn ngả người ra đằng sau ngắm Trần Nhật Duật thêm một lát: - Nom khí
phách lắm... Anh hùng lắm!
Trần Quốc Tuấn như nhìn thấy chính mình ba mươi năm về trước.
Ông tiếp:
- Ta cứ tưởng em nhanh lắm cũng phải sớm mai mới tới đây được.
Thế này càng hay. Chúng ta lập kế quyết chiến với giặc đây.
Tả hữu dâng trà để các tướng giải khát. Rừng cây hầm hập gió
tây thổi về. Ngoài rừng xa, tiếng con tu hú đầu mùa đã gọi hè về...
Trần Quốc Tuấn mời mọi người uống trà. Trần Quang Khải hóm hỉnh
nhìn Trần Nhật Duật:
- Nom trán em sáng bóng thế kia, chắc sắp có tin mừng.
Trần Nhật Duật gượng cười im lặng. Trần Quang Khải cũng thôi
không nói nữa. Trần Quốc Tuấn thì hồn nhiên mời trà và ông nhắc qua lại thế
quân đôi bên cho Trần Nhật Duật nghe. Theo lời ông thì đạo quân của Thoát Hoan
đã mất sức nhanh hung hãn. Chúng bị thiếu lương, thiếu cỏ, quân tướng mỏi mệt,
bệnh dịch phát sinh, hành hạ khổ sở, mỗi ngày người chết bó chiếu chôn không kịp,
đứa ngắc ngoải nằm la liệt chốn quân doanh. Đường lương của chúng bị nghẽn hẳn.
Ở mặt đông bắc, Hưng Nhượng vương Trần Quốc Tảng kiểm soát tất cả các đường bộ,
còn trên mặt sông mặt biển, Phó đô tướng quân Trần Khánh Dư chẹn giữ nghiêm mặt
các cửa sông trọng yếu. Cả hai tướng đã gửi cáo về Hành trung doanh đem đầu
mình ra đặt, cam đoan không để một xe, một thuyền vận tải nào của giặc đi lọt.
Tính ra bây giờ giặc chỉ còn hơn tám nghìn thạch gạo chứa ở đồn A Lỗ. Số lương
này không dùng được quá hai mươi ngày. Từ năm hôm nay, đức ông lưu thủ kinh
thành là Trung Thành vương đã được lệnh xuất quân đánh liên tiếp các đồn lẻ của
giặc chung quanh Thăng Long, đánh các ụ lửa, đánh các nêu cờ nêu đèn và đốt các
kho lương kho cỏ của giặc. Dân binh Thăng Long đánh giỏi quá. Chỉ ba hôm sau,
giặc đã rối loạn, các nêu cờ, nêu đèn báo tin loạn xị. Đến nỗi Thoát Hoan phải
đem hai tu man kị sĩ Thát Đát ra đóng ở mé ngoài nam Thăng Long để ứng cứu cho
những nơi bị quân ta đánh. Tu man quân cưỡi ngựa này đã từng đem lửa đi đốt tuyết
châu Âu, bây giờ đến nông nỗi đi chữa lửa cho các đồn binh quân bộ.
- Mà chữa cháy cũng không xong. Ngay chúng nó cũng dính mấy
trận mai phục của em Trung Thành vương. Có một trận, voi bên ta đuổi chúng qua
kẻ Mơ đến tận phường Hồng Mai làm cho binh tướng chúng nó phải cho nổ pháo hiệu
gọi quân bên rừng đa sang cứu viện.
Tóm lại, đạo quân Thoát Hoan tuy chưa bị tổn thất nặng nhưng
đói ốm, tê liệt và rối loạn thế trận.
Đạo quân của Toa Đô còn khốn khổ hơn thế nữa, Toa Đô đánh hai
năm liền không đặt vững nổi chân lên đất Chiêm Thành mà còn bị liên quân Việt -
Chiêm đánh cho tổn thất rất nhiều quân mã. Cuối cùng âm mưu chiếm Chiêm Thành
dùng làm đất xuất quân đánh tập hậu vào nước Đại Việt không thực hiện được.
Chiêu Văn vương toan từ biệt hai anh lên đường thì Trần Quang
Khải hỏi ông:
- Em đến đây bằng ngựa hay bằng thuyền?
- Thưa anh, em đến bằng thuyền.
Trần Quang Khải đưa em ra khỏi lều trận. Hai anh em im lặng
đi bên nhau. Trần Nhật Duật tự nhiên thấy điều chi ngượng ngùng trong dáng điệu
của anh.
- Có một người hầu của An Tư trốn thoát từ chỗ thằng Thoát
Hoan trở về. Phải nói người này rất can đảm và tài giỏi mới trốn thoát như thế.
Nhưng cũng cần nói thêm rằng tất cả những người kia, kể cả An Tư cũng phải hi
sinh tất cả thì người này mới trốn được. Cô ta mang theo những tin tức rất
quý...
Đột nhiên Trần Nhật Duật thấy bồn chồn trong lòng. Ông đứng hẳn
lại nhìn sang anh.
- Người ấy đến hành doanh trình diện. Ta kiếm một cớ sai người
ấy xuôi hương Hoằng. Chẳng may...
Trần Nhật Duật bủn rủn cả chân tay. Ông hỏi giọng lạc hẳn đi:
- Người hương Hoằng? Anh ơi! Sao cơ?
- Không, không, không. Không sao cả! Chỉ là vì cùng lúc đó, đức
ông Hưng Đạo lại đòi em phải về đây gấp.
Trần Nhật Duật thở ra một hơi dài nhẹ nhõm.
Trần Nhật Duật chợt thấy chua chát, có những việc đáng ra phải
làm xong rồi mà ông đã để quá muộn chỉ vì e ngại một chút máu khác nòi hoàng tộc.
Nửa năm chinh chiến đã cho ông thấy cách nghĩ ấy thật lầm lạc, thậm chí còn
đáng ghét nữa. Có đem thử lửa đi nữa vàng vẫn là vàng, thau vẫn là thau.
- Đã đi hương Hoằng rồi à?
Chương 19
Dẫn đường cho Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật đến Hàm Tử và dự
trận đánh xong, cậu bé Hoàng Đỗ lại được lệnh triệu về Hành trung doanh ngay. Nửa
đường Hoàng Đỗ đã gặp Hành trung doanh đang di chuyển. Quốc công Tiết chế Trần
Quốc Tuấn sai cậu dẫn đường tắt trở lại bãi Màn Trò. Đây chính là cái bãi đã chứng
kiến cả hai trận Hàm Tử và Chương Dương và là cửa ngõ về Thăng Long.
Điều đó làm cho Hoàng Đỗ hồi hộp. Đúng là Quốc công có ý định
giải phóng Thăng Long rồi!
Hoàng Đỗ dẫn Quốc công về làng Xuân Đình, một ngôi làng nhỏ
có một luỹ tre xơ xác nhưng êm đềm biết bao. Cảnh quê gợi nhớ bao kỉ niệm thời
thơ ấu. Nơi này chính là nơi chôn rau cắt rốn của cậu, là nơi cậu sống những
ngày ấu thơ trong tủi nhục của kiếp nô tì, là nơi cậu đã lập công và được Bảo
Nghĩa vương phóng thích và nhận làm em nuôi.
Hành trung doanh bận tíu tít, Trương Hán Siêu thảo lệnh triệu
hai đức ông Chiêu Minh và Trung Thành sang sông để bàn việc quân với Quốc công
Hưng Đạo vương. Chắc việc quân cơ mật có nhiều điều khiến đức ông phải đắn đo
suy tính nên căn lều trận của đức ông được lệnh cấm cửa. Chính Dã Tượng, viên
tướng chỉ huy quân tuỳ tùng đứng canh.
Đến lúc trời tối mịt, quân canh cửa dẫn đến cho Dã Tượng một
người dân binh thông hiệu của hành doanh Kiêu Kỵ. Anh ta bị thương rất nặng
nhưng mang về một tin rất quý. Đó là tin của Đỗ Vỹ, do thám nổi tiếng của quân
ta mà Trần Quốc Tuấn đã phái đi từ trước khi có chiến sự bên kia biên giới. Đỗ
Vỹ báo tin rằng mối quan hệ giữa A Lý Hải Nha và Thoát Hoan không chỉ là mối
quan hệ trên dưới. Mà A Lý Hải Nha còn được Hốt Tất Liệt giao Thoát Hoan cho và
bắt Thoát Hoan nhận làm thầy.
Dã Tượng vội vào báo cho Quốc công tin đó. Chỉ thấy Quốc công
trợn mắt nhìn sững. Chắc phải có điều gì trọng yếu nên đức ông mới nghĩ ngợi
lung như thế chứ?
Đêm hôm ấy Trung Thành vương và Chiêu Minh đại vương từ bên
kia sông Cái sang tới Hành trung doanh. Hai đức ông trình Quốc công tình hình
giặc ở vùng ven kinh thành.
Trước hết, tin đáng lưu ý là giặc mở kho phát gạo cho binh
lính. Giặc lùng sục các nhà dân trong kinh thành, cướp ruột tượng của đàn bà,
cướp khăn, cướp khố của đàn ông. Chắc là để đựng gạo.
Thứ hai là hệ thống truyền tin của giặc bằng ụ lửa hiệu cờ,
đèn lồng đang hỗn loạn.
Thứ ba là giặc giết bò kéo xe quân dụng. Thịt chia cho quân
ăn ngay, và phần lớn đem sấy khô.
Thứ tư là đồn Giang Khẩu mới dựng một cọc nêu để làm hiệu cấp
cứu nếu bị tấn công. Lúc nào ở dưới chân nêu cũng có một tì tướng giặc chực sẵn.
Đêm nay đức ông hoàng Bảy Trung Thành vương mặc áo chiến vải
thâm bình thường nhưng chinh chiến chỉ làm sâu thêm cặp mắt đẹp có quầng thâm,
cái mũi thêm thanh tú, vầng trán phẳng thông minh thêm ưu tư.
Đức ông Chiêu Minh thì sâu sắc hơn, đôi mắt vốn dĩ trầm tư
càng thêm cứng rắn sắc sảo.
Căn lều trận của Trần Quốc Tuấn vốn không rộng, ông sai dẹp hết
văn án và ghế, nền lều trải chiếu cói và vài tấm thảm da dê. Gần nửa đêm, Trần
Quốc Tuấn sai gọi Trương Hán Siêu, Dã Tượng, Yết Kiêu đến lều trận. Đức ông
Chiêu Minh cũng cho mời ông già chép sử Lê Văn Hưu, cho phép ông cùng được ngồi
nghe các tướng bàn việc quân. Ông già này đã từng làm phó quan của Chiêu Minh đại
vương. Năm xưa ông đỗ Bảng nhãn, đã từng làm việc trong viện Hàn lâm và viện
Thái sử. Trần Quốc Tuấn vốn trạc tuổi ông già chép sử lại rất mến ông nên đã kết
bạn với ông. Trần Quốc Tuấn sau mỗi lần đàm đạo với Lê Văn Hưu thường thấy lòng
trầm lắng xuống. Lê Văn Hưu bàn chuyện thời xưa mà tưởng đâu như chuyện quanh
mình vậy. Người ta có cảm giác mọi việc của các bậc đế vương, của công hầu, của
sĩ dân đều đã được khối óc kia nghiền ngẫm kĩ lưỡng rồi thận trọng chép vào
sách sử một dòng nào đó kể lại một việc có dính líu đến sự hưng phế của xã tắc,
đến sự còn mất của một triều vua, đến sự thịnh suy của một dòng họ, đến danh
thơm tiếng xấu nghìn đời của một con người. Sau mỗi lần đàm đạo với Lê Văn Hưu,
Trần Quốc Tuấn thường tự hỏi mình xem đã thực hiểu chưa về phép tắc xét đoán trời,
xét đoán người của ông già chép sử. Trần Quốc Tuấn vẫn liệt Lê Văn Hưu vào loại
người ít ỏi của mỗi thời, thậm chí của nhiều thời nữa. Ông cho rằng ông già
chép sử này là một bậc quốc sĩ mà những người hiểu biết hễ gặp phải kính phải nể.
Vốn đã từng làm nhiều chức quan to, Lê Văn Hưu đã từng được dự hầu nghe nhiều
cuộc họp bàn của các vương hầu còn đông và long trọng hơn thế này nhiều, nhưng
ông già chép sử hiểu rằng cuộc họp này tuy chỉ tính có đôi nước cờ nhưng là mấy
nước khá tinh tế và hiểm hóc.
Quả có thế. Trần Quốc Tuấn vừa mới nói vài điều mà cuộc họp
căng thẳng ngay.
Ý kiến của Quốc công Tiết chế cực kì giản dị. Hiện nay, các
cánh quân giặc không liên lạc được với nhau, lương thiếu, cỏ thiếu, trời nóng nực,
bệnh dịch hoành hành. Tình thế này địch cần rút lui nhưng tại sao địch tỏ ra nửa
muốn bỏ chạy, nửa muốn bám lấy đất này? Chính là vì cuồng vọng của địch lớn
quá, bây giờ thua to đứa nào cũng lo về nước bị Hốt Tất Liệt trừng trị.
Trần Quốc Tuấn dằn mạnh từng tiếng:
- Binh pháp có câu: “Có thể đoạt được lòng tướng địch”. Nay
hai thằng giặc tâm thần bất định. Chúng muốn chạy lắm mà chưa dám chạy. Chúng
chưa dám chạy thì ta xua cho chúng chạy cho nhanh.
Hai đức ông hoàng Ba và hoàng Bảy cùng vỗ đùi khen kế diệu.
- Thế thì phải nổ sét ngang tai thằng nhãi Thoát Hoan. Còn
thì phải xuyên cho thằng giặc già A Lý Hải Nha một mũi dao găm thấu gan thấu ruột
thì mới thúc thằng này phải vắt chân lên cổ mà chạy.
Trung Thành vương chầm chậm nói:
- Cứ như lời Quốc công ta nói thì tôi thấy đuổi thằng nhãi
Thoát Hoan không gì bằng lúc này ta đốt đồn Giang Khẩu và đốt luôn đội thuyền
nhẹ của nó đậu ở sông Tô Lịch.
Các tướng cân nhắc thấy Giang Khẩu là một đồn nằm giữa vùng
có nhiều đồn địch. Nếu từ đây vào Giang Khẩu sẽ phải qua mấy chục dặm rải rác
nhiều đồn địch, có trại quân, có thám mã của giặc đi lại. Nếu đi bên bờ phải
con sông Cái thì vướng một vùng đầm lầy và phải vượt con sông rộng mênh mông ấy
nữa. Như vậy muốn diệt gọn nó thì phải tướng giỏi, quân tinh nhuệ. Trung Thành
vương nghiêng đầu, đôi mắt ông thật đẹp sắc sảo đang đăm đăm nhìn một vết gì đó
trên tấm thảm da dê. Cuối cùng ông nói:
- Giang Khẩu là một đồn thấp vài trăm quân, bến thuyền cũng
chỉ có vài ngũ lính canh. Ta chỉ cần một đô tinh nhuệ, nửa đêm phóng hoả đốt đồn,
đốt thuyền, chọn cung thủ giỏi rình bắn chết tướng giặc. Trận đánh ắt xong. Chỉ
cần một tướng lĩnh mệnh vào Kiêu Kỵ, lấy quân của Nguyễn Chế Nghĩa đi xuyên qua
rừng đa chờ chập tối sang sông. Đầu canh hai đốt đồn rồi sang sông hạ thuyền nhỏ
xuôi dòng mà về đây, quân kị của giặc có nhanh tài giời cũng không đuổi nổi
thuyền xuôi dòng.
Kế này hẳn giống dự kiến của Quốc công nên thấy ông tươi mặt.
Lê Văn Hưu vốn là ông già sâu sắc. Ông tò mò nhìn đức ông hoàng Bảy. Người đánh
trận này phải là đức ông hoàng Bảy, vừa thuộc đường, vừa thuộc trận địa, lại
chính là người bày ra kế hạ đồn này kì diệu thế. Nhưng giữa Trung Thành vương
và Quốc công còn có một mối thù riêng từ thuở còn trai trẻ. Chuyện xảy ra vì một
mối tình không thể chia sẻ được của lệnh bà Thiên Thành. Bây giờ lệnh bà Thiên
Thành đã là vợ của Quốc công còn Trung Thành vương đã lập vương phi với một người
khác rồi nhưng chuyện xưa nay còn ngang trái tới đâu?
Đột nhiên Trần Quốc Tuấn bàn sang chuyện khác:
- Phần thằng giặc già A Lý Hải Nha. Thằng này thao lược. Phải
cho nó một đòn nặng mới được.
Trần Quang Khải mỉm cười:
- Đánh A Lỗ!
A Lỗ không phải là một trại quân khó đánh. Nó là nơi tướng giặc
Lưu Thế Anh đặt hành doanh chỉ huy việc tải lương và trữ lương. Quân không tinh
nhuệ lại phần lớn là lính tải, lính coi ngựa, lính chèo thuyền và bọn câu kê
làm sổ sách tính toán lương tiền. Đó là một trại quân ô hợp, của cải để ngổn
ngang. Nếu A Lỗ bị diệt, ngựa giặc sẽ đói. Trần Quốc Tuấn tin rằng A Lỗ bị diệt
ngày nào, A Lý Hải Nha chạy ngày đó. Vậy quân tinh nhuệ của ta sẽ giãn ra chọn
đất mai phục. Giặc sẽ bị đánh tả tơi ở các triền sông Thiên Đức, Lục Đầu... Giặc
sẽ bị đánh tả tơi ở cửa Đầu Quỷ, ở cửa quan Anh Nhi...
Trần Quốc Tuấn tỏ ý chí quyết chiến. Ông bảo Trương Hán Siêu:
- Nhà ngươi về tụ tập thư nhi thảo lệnh cho các hành doanh tiến
quân về các trận địa mai phục đã giao trước.
Các đức ông ra khỏi lều trận chuẩn bị cho hai trận Giang Khẩu
và A Lỗ. Theo lệnh Quốc công, dân Xuân Đình thu xếp rất nhanh hai chục chiếc
thúng cóc. Ông chọn một tay cung thủ giỏi tên là Hoa Xuân Hùng cho đi theo đội
quân vào Kiêu Kỵ.
Lê Văn Hưu vẫn tò mò kín đáo nhìn Quốc công. Bỗng thấy Trần
Quốc Tuấn ngoảnh nhìn Trung Thành vương và cầm lấy bàn tay nuột của ông hoàng nổi
tiếng lịch sự kinh thành. Trần Quốc Tuấn trang trọng nói:
- Ta xem chiều trời đêm mai còn chuyển gió mùa đông bắc. Có
thể trời trở lạnh đôi chút. Em đem cái này đi phòng sẵn.
Quốc công trao cho Trung Thành vương một chiếc áo ấm.
Đêm sang đầu canh tư, không gian chuyển sang màu chì lỏng. Lê
Văn Hưu cúi đầu ngẫm nghĩ. Một điều thật là đẹp đẽ đã xảy ra nhưng ông biết
chép thế nào vào trong sử nhỉ?
...
Suốt một ngày hôm sau người ta thấy các cánh quân ta lên ngược
về xuôi, tíu tít. Hành trung doanh làm việc hết mình để sửa soạn những trận
đánh sẽ xảy ra trên đường rút chạy của giặc. Nào chuyện lương khô cho những người
lính phải nằm lâu ở nơi mai phục, nào số thuyền cần thiết cho các bến đò ngang
chở đỡ chân lính thông hiệu, nào đôn thúc các lộ Tam Đái, Quy Hóa nộp nứa để
làm cầu phao cho các triền sông Thiên Đức, Lục Đầu, nào lấy dân phu làm gấp hai
triệu mũi tên cho hành doanh Lục Đầu và làm kho cỏ vùng sông Sách dành sẵn cho
đội voi trận.
Đến chiều, Hoài Văn hầu Trần Quốc Toản dẫn quân sang sông để
tiến về sông Như Nguyệt. Sau đó thì tướng quân Phạm Ngũ Lão dẫn hai quân Thượng
đô trảy qua để sang lộ Hồng. Phạm Ngũ Lão mang theo cả dàn trống đồng. Lính
thông hiệu phi ngược xuôi hò hét:
- Tránh ra, tránh ra cho ngựa quan trảy.
Dân binh lộ Khoái và lộ Quốc Oai thì lại tiến về vùng giáp
kinh thành để rút quân tinh nhuệ mặt trận này đem lên mai phục ở các triền sông
đông bắc.
Sẩm tối Chiêu Minh vương qua sông. Chu sư của đức ông hoàng
Ba cũng đã sẵn sàng nhổ neo. Trần Quốc Tuấn đón Chiêu Minh đại vương và cùng tế
ngựa ra ven sông Cái. Tiếng quân reo, tiếng tù và, pháo hiệu làm huyên náo cảnh
sông vốn êm tĩnh. Chiêu Minh đại vương nói với Trần Quốc Tuấn:
- Bên chỗ em tưởng đánh dứ mà hoá đánh thật.
Tiếng nói bị bạt gió nên Trần Quốc Tuấn nghe không rõ phải hỏi
lại:
- Chú Ba bảo cái gì thật?
- A... Có nhiều trận đánh dứ để quấy rối giặc nhưng chúng nó
chống cự yếu quá thành ra quân ta ùa vào đồn diệt luôn. Chúng nó hết kiếp rồi.
Hai đức ông phá lên cười. Bên kia sông, lửa đuốc kéo giăng
giăng thành nhiều đường trên cánh đồng rộng mênh mông. Đó là dân mé nam kinh
thành trở về làng gặt lúa chiêm sớm. Thật là hay. Công giữ nước là của dân, bây
giờ dân được hưởng.
Đêm hè, gió lộng nên mát lạnh, hơi lạnh quá. Hiệu lửa từ hành
doanh Kiêu Kỵ báo về: đức ông Trung Thành đã đem quân lén qua sông từ lúc chạng
vạng tối. Bây giờ là canh hai. Trần Quốc Tuấn bảo Trần Quang Khải:
- Ta chờ hiệu lửa rồi lên đường là vừa. Chắc khoảng canh một
trận đánh bắt đầu. Nếu đánh nhanh thì bây giờ xong rồi.
Hai đức ông nhìn về phía Thăng Long. Có nhiều đám cháy quá.
Làm sao phân biệt được là cháy gì và cháy ở đâu.
Giữa canh ba hiệu nêu Kiêu Kỵ báo tin chiến thắng Giang Khẩu
nhưng cũng vào lúc đó đoàn thúng cóc từ Thăng Long thuận dòng xuôi về Thiên Mạc
cặp bến. Trung Thành vương chạy như bay lên ra mắt hai đức ông:
- Kính lạy hai đức ông. Nhờ phúc ấm của tổ tông đồn Giang Khẩu
đã ra tro, đoàn thuyền giặc đậu trên sông Tô Lịch đã ra tro, tướng giặc Mã Vinh
đã bị bắn chết.
Binh lính chung quanh reo lên:
- Đức ông hoàng Bảy muôn tuổi. Đức ông lưu thủ kinh thành
muôn tuổi.
Trần Quốc Tuấn gỡ chiếc bài vàng chạm rồng đeo ở cổ mình
choàng lên ngực Trung Thành vương.
- Chiến chinh mới biết anh hùng. Em ta thật là hòn ngọc của họ
Đông A.
Trần Quốc Tuấn ngoảnh sang Trần Quang Khải:
- Còn em sẽ xuôi về Thiên Trường đón ngự giá tiến quân diệt
Toa Đô. Mặt Thăng Long này sẽ giao cho em lưu thủ.
- Như vậy anh trưởng không phò giá đem quân chiến thắng về
kinh thành chăng?
- Đúng đó. Thăng Long sẽ giải phóng sớm. Bây giờ ta tiến quân
đánh A Lỗ rồi sang ngay sông Lục Đầu đánh mai phục lớn. Giặc có thể còn sang phục
thù cho nên ngay lần này phải đánh cho tan niềm tin vô địch của chúng.
Trần Quốc Tuấn dặn ông già Lê Văn Hưu:
- Tiên sinh đi theo đức ông Chiêu Minh. Lễ ban sư hội triều sẽ
cực kì long trọng, cần đến sử bút của tiên sinh... Rồi có thể lúc đó đức ông
Chiêu Minh nổi hứng sẽ làm được một vần thơ tuyệt diệu. Tiên sinh sẽ chép bài
thơ tráng khí võ công ấy vào chính sử cho muôn đời sau.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét