Náo nức hội trăng rằm
Chương Một
Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội
với tùy bút "Dưới Mái Trăng Non"
Nữ sĩ Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là đứa con út trong gia đình sáu anh em
nên trong thơ văn bà thường nói tới nhân vật Nàng Út thay vì xưng tôi ở ngôi thứ
nhất trong danh xưng. Trước năm 1945, bà cộng tác với các báo ngoài Hà Nội như
Tiểu Thuyết Thứ Năm, Trung Bắc Chủ Nhật, Hà Nội Báo, Tri Tân, Con Ong...và các
báo Sống, Gió Mùa, Ánh Sáng trong Nam (Sài Gòn).Vốn là học sinh ưu tú của Trí Đức Học Xá do nhà thơ Đông Hồ chủ trương, bà viết
những bài văn nho nhỏ, góp lại thành quyển hợp tuyển văn chương "Bông Hoa
Đua Nở" ký bút hiệu là Thái Nữ Mộng Tuyết để đăng ở Nam Phong tạp chí
(1930). Sau khi bà Linh Phượng qua đời, ông Đông Hồ trước đó đã tái hôn lần thứ
nhất với người chị ruột của bà Mộng Tuyết là bà Thái Nhàn Liên (tên thật là
Thái thị Thân). Sau khi sanh cô con gái tên Lâm Yiễm Yiễm (đọc là cô Diễm Diễm),
bà Nhàn Liên qua đời. Ông Đông Hồ tái hôn lần thứ hai với nữ sĩ Mộng Tuyết, cô
học trò và cũng là cô em vợ của mình. Bà Mộng Tuyết còn làm môi giới để cho người
cháu kêu mình bằng cô (về sau trở thành giám đốc nhà in Mặc Lâm) kết hôn với cô
trưởng nữ Lâm Mỹ Tuyên của ông Đông Hồ. Bà Tuyên vốn là con bà Linh Phượng.Bà Mộng Tuyết vào thời tiền chiến đã đoạt giải văn chương do nhóm Tự Lực Văn
Đoàn tổ chức vào năm 1937. Quyển này không bao giờ được xuất bản. Ngoài ra, bà
cùng ba nữ sĩ gốc Bắc là Hằng Phương, Vân Đài và Anh Thơ cùng đóng góp tập thơ
"Hương Xuân". Bà cũng được Hoài Thanh và Hoài Chân đưa vào quyển phê
bình "Thi Nhân Việt Nam". Ngoài ra, bà còn viết cho báo Nhân Loại
trong thời chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh do Đông Hồ chủ trương.Cũng trong thời chiến tranh Đông Dương, bà Mộng Tuyết cộng tác cho báo Ánh Sáng
và tham gia vào tuyển tập thi ca "Thơ Mùa Giải Phóng"gồm nhiều tác giả
nổi tiếng ở miền Nam vào thời Nam Bộ Kháng Chiến như Chim Xanh, Trúc Khanh, Phạm
Từ Quyên, Từ Trẩm Lệ... Sau Hiệp định Genève, bà cộng tác với một vài tạp san nổi
tiếng ở miền Nam như Nhân Loại (do nhóm Ngọc Linh chủ trương), Tiểu Thuyết Thứ
Bảy (ở Sài gòn vào năm 1961),Văn Đàn, Văn, Bách Khoa... Năm 1960, bà cho xuất bản
quyển tiểu thuyết dã sử "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp" thi vị hóa cuộc diễm
tình lệ sử giữa Tông Đức Hầu Mạc Thiên Tích và nàng ái cơ Nguyễn Phù Cừ của
ngài tại doanh trấn đất Phương Thành (Hà Tiên). Năm 1969, bà cho xuất bản quyển
tùy bút "Dưới Mái Trăng Non". Năm 1973, bà cho in tập thơ "Gầy
Hoa Cúc"... Đó là những quyển sách xương sống của bà.Ở quyển bút khảo này, bút giả chỉ nói tới quyển "Dưới Mái Trăng
Non", do Văn Nghệ (Sài Gòn) tái bản vào năm 1996.Vào năm 1969, Lê Tất Điều cũng đã giới thiệu và nhận xét qua loa quyển tùy bút
này trên nhật báo Tiền Tuyến. Quyển này ở lượt xuất bản lần đầu tiên chỉ đăng
những bài văn xuôi. Thơ có chăng chỉ được lồng vào những bài văn xuôi coi như
minh họa những điều mà tác giả muốn trình bày với độc giả. Hoặc đó là những câu
thơ, những bài thơ coi như những viên kim cương hoặc những phiến bảo ngọc nạm
trên những món bội hoàn chạm trổ tinh xảo, có tính cách trang trí cho đẹp bài
viết. Nhưng khi do Văn Nghệ (Sài Gòn) tái bản vào năm 1996 thì tác giả thêm thơ
và thêm nhiều bài tùy bút khác. Có thể là thơ trích trong thi tập "Phấn
Hương Rừng" hoặc trong thi tập "Hương Xuân" hay thi tập
"Thơ Mùa Giải Phóng". Cũng có thể là thơ lẫn văn xuôi trích từ các tạp
chí văn chương vào thời tiền chiến hoặc dưới hai chính thể Đệ nhất Cộng Hòa và
Đệ nhị Cộng Hòa ở Miền Nam Việt Nam.Trên hành trình thực hiện "Dưới Mái Trăng Non", bà Mộng Tuyết Thất Tiểu
Muội phải trải qua trên 3/4 thế kỷ. Vận sự này khiến chúng ta liên tưởng đến
quyển nhật ký "Mes Cahiers Bleus" của nàng đại danh kỹ Liane de Pougy
vào Thời Đại Mỹ Lệ (La Belle Époque) từ khi nàng đặt bút hoa lên trang thứ nhất
màu lam ngọc của quyển nhật ký cho tới trang chót mà quyển sách hãy còn dở
dang. Quyển nhật ký ấy cũng phải trải qua hơn nửa thế kỷ. "Mes Cahiers
Bleus" giống như "Dưới Mái Trăng Non" ở chỗ viết về các văn nhân
thi sĩ đương thời với tác giả. Nhưng Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội chơi trội hơn
Liane de Pougy ở chỗ biết làm thơ, ở chỗ miêu tả những thắng cảnh với những nét
tạo hình kiều diễm có thể khắc sâu vào ấn tượng và niềm hoài cảm của độc giả.Tên thật của bà Mộng Tuyết bị hai ông Hoài Chân và Hoài Thanh ghi sai trong quyển
"Thi Nhân Việt Nam". Tên bà không phải là Lâm Thái Úc mà là Thái thị
Sửu. Dù lai người Trung Hoa ba bốn đời, nhưng song thân bà vẫn nhiễm thói ăn nết
ở của dân quê Nam Kỳ nên không đời nào đặt cho con gái họ một cái tên có ý
nghĩa thâm thúy và kêu vang lảnh lót khi đọc lên được. Thuở xưa, dân Nam Kỳ
không bao giờ đặt tên đẹp cho con gái mình, cốt tránh điều xuôi xẻo có thể xảy
ra khi các cô ngọc nữ kia hãy còn thơ ấu.Hồi tiền chiến, tác giả lấy bút hiệu là Mộng Tuyết. Kèm theo đó, bà còn lấy
thêm bốn bút hiệu Nàng Út, Hà Tiên Cô, Bách Thảo Sương và Bân Bân Nữ Sĩ. Dưới
chính thể Cộng Hòa Miền NamViệt Nam, bà thêm 3 chữ Thất Tiểu Muội vào bút hiệu
Mộng Tuyết thường dùng của mình. Nhưng dưới chế độ Cộng Sản, bà bị rúng ép phải
trở về bút hiệu Mộng Tuyết suông trơn thuở trước.Thơ văn bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội điệu đà, thêu hoa dệt gấm rất diêm dúa và
sặc sỡ. Bà lại lấy cảm hứng ở văn chương Trung Hoa, dùng bối cảnh cổ kính của
nước Tàu thời Trung Cổ, thời Cận Đại được vẽ trên tranh lụa, trên nền men ngọc
của các món cổ ngoạn. Chúng ta không nên trách bà ngoại lai ở nếp sống và ở văn
chương. Bà sinh trưởng tại thị trấn Hà Tiên có hồ thơ núi mộng, có những tòa kiến
trúc theo kiểu lâu các đình viện của Tàu. Người xây dựng thị trấn này là Cửu Lộc
Hầu Mạc Cửu vốn người Minh Hương bỏ chế độ quân chủ Mãn Thanh để qua Việt Nam lập
nghiệp. Từ một góc nhỏ hoang dã và man rợ đầy sơn lam chướng khí của miền Cực
Nam đất nước, Cửu Lộc Hầu đã biến thành thị trấn Phương Thành (về sau mới đổi
tên là Hà Tiên) với cách kiến trúc rất Tàu. Nhưng gia đình của bà cũng theo
cách sống của thôn dân Việt Nam nơi Xóm Rẫy (vùng ngoại ô của Hà Tiên) nên văn
chương bà có thể phản ảnh được rất nhiều nếp sống và phong thái của người Việt
Nam.Ông Đông Hồ cũng lai Tàu bốn năm đời gì đó. Ông yêu tiếng Việt, dân Việt. Nhưng
trong tâm hồn ông vẫn bảng lảng chút khói hương thời Đường Tống của đất nước
Trung Hoa. Cho nên ông tránh sao khỏi cái tính lập dị cá biệt. Tiệm sách của
ông được đặt tên là Yiễm Yiễm Thư Trang, tiệm may của ông tên là Yiễm Yiễm
Thương Điếm, nhà hóng mát của ông có treo vài giò phong lan được đặt tên là
Vương Giả Hương Đình. Khu vườn của bên nhạc gia ông được đặt tên là Bách Phương
Viên, rồi Úc Viên, mái hiên trên gác xép của bà Mộng Tuyết được gọi là Tân Nguyệt
Hiên (Mái Trăng Non). Sau này, khi thiên cư lên Sài Gòn, ông mang theo những
cái tên Úc Viên, Mái Trăng Non, Vương Giả Hương Đình tọa lạc đường Nguyễn Thái
Học. Nhà ông có cái tên Đại Ẩn Am. Sau đó ít lâu, Yiễm Yiễm Thư Trang từ đường
Nguyễn Thái Học dời qua Tân Định, gần rạp hát Moderne. Còn Đại Ẩn Am, Vương Giả
Hương Đình, Úc Viên, Mái Trăng Non được dời qua Phú Nhuận, gần Hồ Tắm Chi Lăng;
chính tại đây Đại Ẩn Am biến thành Quình Lâm Thư Thất. Khi ông qua đời được ít
lâu, bà Mộng Tuyết thiên cư về Tân Sơn Hòa, đường Nguyễn Minh Chiếu mang theo
Quình Lâm Thư Thất và Úc Viên đặt trên dẻo đất có cây cao bóng mát.Các bạn dù có trách lối sống kiểu cách đôi uyên ương nghệ sĩ kia đi nữa, nhưng
các bạn phải công nhận họ có nếp sống đẹp. Nhà họ không có bàn ghế bằng danh mộc,
không có hoành phi, liễn son, liễn mun, không có các món ngoạn hảo quý giá.
Nhưng nó có những tủ kính vĩ đại đựng sách như một cái thư viện. Lại còn có những
liễn bằng giấy bồi ghi những bài thơ của ông Đông Hồ qua nét thủ bút sắc như lá
lan của chính ông.Trong bài Bạt "Vườn Dưa của Nàng Út" của
quyển "Dưới Mái Trăng Non", bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội đã vạch rõ
đường lối văn chuơng theo phái Duy Mỹ của mình như sau:Vườn hoa nàng Út ngày nay không biết có tốt tươi xinh đẹp như vườn dưa nàng Út
ngày xưa hay không và có rủ rê quyến luyến khách qua đường hay không, cái đó
thì không làm sao biết được. Duy, có một điều biết đuợc là nàng Út bây giờ hẳn
không khờ dại mà để cho ông Hoàng nào trẩy hết cả vườn hoa quý của nàng."Dễ thường mình ích kỷ và hà tiện quá hay sao?". Nàng tự hỏi mình như
thế, trong lúc tay đang cầm chùm hoa "Thất tỉ muội" mới ngắt ở Bách
Phương Viên, rứt từng cánh nhỏ thổi tung đi.Gió quyện hơi thơm, nước trôi cánh đẹp, bay tới đâu, xuôi tới đâu và dừng lại
nơi đâu, nàng cũng không làm sao biết được.Nàng chỉ biết xin ai đừng đòi, ở
bông hoa đó, những màu sắc diễm nùng với những làn hương nồng ngát say sưa.Đó chỉ là những đạm đạm thanh thanh, những ý trinh dìu dịu, những ánh chiều
mong manh và những tơ trăng mờ ảo, là những mở chầm chậm e dè của cành hổ
ngươi. Hãy gượng nhẹ và dịu dàng, xin đừng mạnh tay mà cành hổ ngươi khép lại.
(các trang 478, 479)Trong bài "Đáp Lời Phỏng Vấn Văn Nghệ của Báo Bách Khoa", thêm một
lần nữa bà xác định khuynh hướng văn chương của mình và vị trí của người đọc:Mình chỉ viết cho mình, vì mình không phải nhà văn chuyên nghiệp cho nên đã để
trôi qua biết bao nhiêu tình ý mà vì không cố công đuổi bắt nó, một khi nó lảng
vảng đến mình.Chỉ ghi lại những gì chín muồi như trái cây nhân sâm chín rụng, không biết dùng
móc bạc mà hái nó, rồi cũng không biết dùng chậu vàng mà hứng nó thì e nó chui
tuột hết xuống đất. Cảm hứng cũng mong manh, nhát tiếng động và ưa lẩn trốn như
trái nhân sâm. (trang 472)...thơ nào cũng không nói được hết lời. Bèn nghĩ lối viết tùy bút. Và, thay vì
làm thơ thì làm văn, với đúng nghĩa "làm văn", với quan niệm
"làm văn" cũng phải khó khăn, cũng phải rèn luyện, cũng phải công phu
như "làm thơ". Bài văn là bài thơ tự do không xuống dòng.Và bài văn đó nhất định phải đẹp, phải đẹp như một bài thơ. Bài văn đó cũng phải
điêu luyện, cũng phải trau chuốt, cũng phải là lời vàng tiếng ngọc để mà diễn tả
ý ngọc tình châu.Và còn đọc văn nữa. Đọc một bài văn lại cũng phải công phu như đọc một bài thơ.Người viết đã dọn mình mà viết, người đọc sao lại không dọn mình mà đọc, dẫu rằng
người đọc không cùng một quan điểm với người viết nữa.Chiếc vòng ngọc thạch, hoặc rộng hoặc hẹp, không vừa với cổ tay mình, nhưng mà
nó vừa vặn với cổ tay người khác, thì mình dẫu không đeo nó, cũng phải biết thưởng
thức đúng với cái đẹp của nó ở cổ tay của giai nhân không phải là mình. (trang
473)Tôi được đọc cuốn "Đời Viết Văn Của Tôi" của Học Giả Nguyễn Hiến Lê,
tôi đã tiếp xúc với Tiến Sĩ Thái Văn Kiểm, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh. Họ đều
khen ngợi văn phong và cách diễn tả của bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội. Óc quan
sát của bà thật tinh nhuệ, thật bén nhạy và thật mãnh liệt. Những sự vật tầm
thường dưới ngòi bút của bà trở nên linh động dị thường. Xin cùng đọc đoạn bà
viết sách quốc cấm duới thời Pháp thuộc bị đốt cháy:Ánh lửa bập bùng trong lò cuộn khói. Ngổn ngang đống giấy, trang chữ in, đang bị
ngọn lửa xanh, cháy xém. Lửa liếm tới đâu, tờ giấy như thun mình lại, uốn éo.
Phồng lên, co dúm, quằn quại như có tri giác, né tránh sức bạo tàn thiêu đốt.Nhưng
mà ngọn lửa bạo tàn có ngừng lại cho đâu. Một cái cử động nhỏ của que cời, đã
giúp cho sức hung hăng, vừa khói vừa lửa, kiêu hãnh vươn cao gần tới nóc nhà bếp.Út không dám có một lời nào, một cử chỉ nào: cô đứng im như tượng đá mà nhìn
trân trân đống lửa.Út thấy lòng bồi hồi đau xót. Ruột gan như cũng uốn mình chống trả lại với một
quặn thắt vô hình, thần kinh như cũng co giãn theo mỗi chuyển mình của mỗi tờ
giấy.Trang giấy trắng tinh nổi rõ hàng chữ mực in, lần lần ngã sang màu vàng, dưới
lưỡi lửa xanh lè ám khói, rồi mới cháy bùng lên.Lửa ngọn hạ thấp dần, khói đen nhạt dần, những tờ giấy trở thành than đen
nhánh. Kiếp giấy, than ôi đã mỏng, mỏng như phận mỏng cánh chuồn, nhưng mà tờ
than của kiếp sách nó còn mỏng manh hơn mấy kiếp cánh chuồn chuồn.Cô Út muốn đưa tay gom lại những tờ than giấy còn lờ mờ nổi những chữ mực in
kia. Nhưng mà trong lòng khối than giấy, lửa hãy còn âm ỉ. Lửa chưa hóa được những
tờ kia thành tro bụi, lửa đâu chịu tàn cho.Lửa hãy còn đốt phá ngấm ngầm cái mỏng manh hết sức mỏng manh của tờ than giấy.("Đốt Sách", các trang 213, 214)Qua đoạn trích dẫn trên đây chúng ta đã thấy cái tâm hồn nghệ sĩ của tác giả
sâu sắc, thắm đượm là dường nào. Một nhà văn tài nghệ tầm thường làm sao có thể
nhìn thấy cái đẹp tiềm ẩn và thấm nhuần trong cái chết chóc tàn hủy, trong những
sự vật chưa phải là vưu vật và cũng không phải là kỳ quan hay thắng cảnh. Vậy
mà tác giả dùng cách diễn tả rất thơ, tưới tẩm ngôn từ diễn tả bằng những rung
cảm kỳ diệu để biến chúng thành chất liệu quý báu cho văn chương. Cho nên cảnh
đốt sách quốc cấm dưới thời Pháp thuộc ấy một khi đi vào văn chương của bà nữ
sĩ đất Hà Tiên đó cũng trở thành ra một bài bi ca (poème saturnien) diễm lệ.Văn phong như thế này dù có ưỡn ẹo thật đấy, nhưng chẳng những nó không dơ dáng
dại hình mà còn có nét đẹp riêng, song song với cái đẹp cổ kính của lụa vẽ
nhung thêu xen lẫn cái đẹp của trời nước, của trăng sao, của hoa đồng cỏ nội
trong các bài tùy bút khác. Nguyễn Tuân trong "Vang Bóng Một Thời"
tuy điệu đà mà vẫn giữ khí phách ngang tàng của tay giang hồ mã thượng. Xuân Diệu
tuy có ưỡn ẹo trong thiên tùy bút "Phấn Thông Vàng" nhưng biểu dương
những niềm rung cảm bén nhạy đối với cuộc sống hẩm hiu, đối với những con người
bất hạnh, đối với cảnh vật thê lương. Cho nên không ai lấy làm lạ rằng hai ông
Nguyễn Tuân và Xuân Diệu trở thành tri âm tri kỷ của bà từ thuở nước nhà chưa
ngún ngòi lửa chiến tranh (bắt đầu từ Đệ nhị Thế Chiến). Nhưng nói chung, cái
điệu đà trong văn chương của Nguyễn Tuân chỉ là màu đạm hồng phơn phớt, còn cái
điệu đà trong văn xuôi của Xuân Diệu là màu hồng đào tươi sáng, còn cách diễn tả
uốn lượn uyển chuyển trong các bài tùy bút của bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội là
màu hồng ngọc thắm thiết và sáng long lanh. Tự bấy lâu nay, có vài "phê
bình gia" chê văn phong điệu đà của bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội một cách
phiến diện bất công. Họ không sao giấu được chân tướng của loại người có tâm hồn
hạn hán và có tâm địa hạn hẹp không thể mở rộng để đón nhận những sắc thái đặc
biệt của văn chương nghệ thuật. Họ ưa dùng đao tao búa lớn để chém ngã những
công trình tinh tế của một nhà văn vì quá mê say cái Đẹp nên không tự chủ lúc cầm
bút, nên tạo ra cách diễn tả hoa gấm kiêu sa cho văn phong của mình. Chém ngã
như thế, các tay phê bình bạo dâm kia chứng tỏ ta đây trượng phu, ta đây uy
mãnh và hào hùng, ta đây khinh thường loại văn chương nghệ thuật chỉ dành riêng
cho phụ nữ thích làm dáng, thích nũng nịu với cuộc đời. Nhưng họ bị cái ép-phê
ngược: họ càng để lộ cái căn tính hẹp hòi cùng khiếu thưởng ngoại chai sượng và
khô cứng, không thể thẩm thấu chất mật ngọt và hưong thơm cùng những phong vị
tuyệt vời khác trong cuộc sống.Viết tùy bút, nhà văn có thể dùng mọi thứ ngôn ngữ. Mai Thảo dùng ngôn ngữ trừu
tượng và huyền bí pha lẫn những ngôn từ triết học, ngôn ngữ dành riêng cho thơ.
Nguyễn Tuân và Xuân Diệu dùng ngôn ngữ dành cho cách viết truyện ngắn nhưng cả
hai vẫn dùng vài ngữ pháp kiều diễm, vài ngôn từ thơ mộng để trang sức cho bài
viết thêm sinh sắc. Có buồn cười chăng là ông Thi Vũ Võ văn Ái viết đoản văn,
tùy bút, bình luận thời cuộc bằng ngôn từ do chính đuơng sự biến chế ra hoặc những
ngôn từ có trong tự diển chấp vá với chữ mà đuơng sự moi móc ở đầu Tề đít Lỗ
nào đó. Bài viết vì thế tuy có khua động rổn rảng nhưng vì ý tứ nghèo nàn kém cỏi
nên trở thành kệch cỡm. Những ngôn từ như thế chỉ là những lớp son phấn lòe loẹt
không sao che giấu gương mặt rổ chằng chịt. Trong khi đó, ba Mộng Tuyết Thất Tiểu
Muội dùng ngôn từ thi ca để viết tùy bút. Cho nên mỗi bài tùy bút của bà là một
bài thơ bằng văn xuôi đúng hơn.Ở các bài tùy bút, bà Mộng Tuyết vận dụng óc quan sát tối đa.
Cộng thêm tính mẫn cảm, bà vạch nên những nét tạo hình sắc sảo trên vận sự được
miêu tả. Trước hết xin đọc những nét mô tả khái quát như những nét phác thảo,
nhưng vẫn là những nét sắc sảo cứa mạnh vào ấn tượng người đọc. Đây là thú đãi
khách uống trà:Chén trà đã quyện hương rồi. Đó là những cánh trà đen, to và thô, pha từ nước
thứ hai có mùi hoa mộc, từ nước thứ ba có mùi hoa thúy lan. Đó là loại trà Thiết
Quan Âm, Thiết La Hán của Phúc Kiến mà tác giả "Những Cái Ấm Đất"
công khó từ Hà Nội gửi vào.Các thứ trà đó, uống nó, người ta phải có những chén tống, chén quân, những cái
ấm chuyên, ấm đồng; nhưng nay vì đông người quá, người ta phải làm lối ngưu ẩm,
pha cả bình.Biết vậy, cô chủ nhân cái Yiễm Yiễm Trà Thất đã cẩn thận chọn bỏ ra, từ chiều
những cánh trà già màu hơi vàng và đã tự tay nấu nước cho vừa độ, và tự tay pha
lấy giữ cho hương trà không hao kém đi.("Khói Trà Hương Đượm Chén Trùng Phùng", trang 194)Trong "Hồng Lâu Mộng" của Tào Tuyết Cần, đạo cô Diệu Ngọc pha trà bằng
tuyết đọng trên cánh hoa mai trong vườn chùa Huyễn Mộ Phiền Hương.Trong "Những Cái Ấm Đất" của quyển tùy bút "Vang Bóng Một Thời",
Nguyễn Tuân nói về cách pha trà bằng nước giếng chùa Đồi Mai và bằng sương đêm
đọng trong lòng sâu của lá sen (trong bài "Chén Trà Trong Sương Sớm").Bà Mộng Tuyết thì không pha trà cầu kỳ như thế. Nhưng bà đã tìm được hương vị
trà pha ở nước thứ nhì và ở nước thứ ba. Khưu giác bà phải tinh nhuệ lắm.Và để tiếp theo, xin đọc một đoạn về việc se đôi bạch lạp trong bài "Đêm Bất
Dạ" như sau:Sáp lấy ở Ngan ong, làng Dương Hòa, là tốt có tiếng. Ngan ở đây là một cánh rừng
to, mọc toàn cây dá và cây vông, đặc biệt là tư niên, có ong đến đó làm tổ khắp
giải rừng.Sở phong ngạn là triều đình chúa Nguyễn cấp làm đất hương hỏa đời đời cho dòng
họ Mạc đã có công khai trấn đất Hà Tiên.Năm năm có người thầu, đóng hoa lợi cho làng để cung việc tế tự.Sáp lấy ở rừng này quý là vì ong chỉ ăn thuần một giống hoa, không ăn tạp giống
hoa khác, cho nên chất sáp có một màu trong và một vị thơm đặc biệt.Hai bát sáp úp vào nan, no tròn, trong ngon mắt như cặp bánh dầy trắng mịn.
(trang 133)Sau hôm mồng bảy, hạ cây nêu trước nhà rồi, là cụ Hương lo việc đan tim (tức là
bấc đèn) và phơi sáp. Trước nhất là thái sáp thành lát mỏng, chắp lại thành từng
cái dĩa bàn, đem phơi giữa lúc nắng to. Rồi cả nhà, anh Ba, anh Tư cùng góp tay
vào việc cho lửa nhồi sáp, nắn cho sáp được nhuyễn mềm.Việc quan trọng là đặt tim vào lòng sáp. Cả khối sáp mềm vừa lăn đè lên trên tấm
ván, đặc biệt để dùng xe đèn, vừa nắn cho nhanh và đều tay khối sáp dôi ra bao
bọc đều vừa hết sợi tim đèn. Nắn sửa lại cho tròn thành cây đèn ngay thẳng,
xong thì lớp vỏ sáp cũng từ từ se nguội. Tưới một ít nước lã vào, lăn thêm ít
ngoai, là sáp cứng lạnh. (trang 134)Chúng ta đã bắt gặp những gì trên 2 đoạn trích dẫn này? Một chút khói sương và
một chút óc quan sát trong tùy bút "Vang Bóng Một Thời" của Nguyễn
Tuân có phải? Một niềm tha thiết bền sắt tươi son với vang bóng thời xa xưa
trong văn chương của Vũ Bằng ở quyển "Mê Chữ" có phải?Bước qua lãnh vực ấn loát, sách ốc, tức là qua lãnh vực kỹ nghệ khô khan, tác
giả vẫn tìm được khía cạnh thơ mộng, một bản sắc kỳ đặc để mô tả. Chẳng hạn về
giấy in, bà vạch những nét tạo hình tuyệt vời như sau:Ôi thú vị thay!Người trần biết ký thác tâm tình tư tưởng họ trên những trang giấy
thơm đẹp.Mềm mại trắng tinh của tờ ngọc khấu, tờ cống xuyên nước Tàu thuần phác; xốp nhẹ
dễ yêu của tờ Bouffant, óng mỡ dịu mắt của tờ Velin, nhẵn láng mát tay của tờ
couché phương Tây máy móc. Thanh nhã thay chất nhung tơ của phẩm giấy Phù Tang
và cao quý thay Dó lụa Việt Nam!... ("Con Gái Út Nhà Trời Thác Sinh Làm
Nàng Mọt Sách", trang 181)Cũng viết về giấy, Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội không quên nhắc tới Nguyễn Tuân,
nhà văn viết tùy bút vĩ đại nhất thuở tiền chiến đối với tâm tưởng của bà:... Bao nhiêu thư từ sách vở anh gửi cho từ năm 1939 đó, tuy không còn giữ đủ
được, nhưng nội dung và kỷ niệm không thể phai mờ.Lúc anh cho in quyển "Vang Bóng Một Thời" lần thứ nhất, anh gởi vào
cho hai bản đặc biệt. Một bản lụa Dó dầy đựng trong hộp bằng đủi tơ vàng óng.
Anh đề: "Gởi Tuyết muội muội" và bản kia cũng loại đặc biệt bằng giấy
Bouffant impérial à la cuvée (có đóng triện son "Gió đã lên" với cánh
buồm no gió và mảnh trăng liềm), anh đề tặng:"Kính gởi Đông Hồ Lâm nhân huynh"Hồ Tây, quí xuân Canh Thìn (1940)".Trong quyển giấy đó, anh kèm theo lời là phải rọc cách nào cho có "nhung
tơ óng mỡ". Thế là tôi phải thỉnh giáo lại. Anh dạy lấy khăn ướt lau cho ẩm
ba bờ sách rồi mới dùng dao cùn mà rọc. ("Mưa Dầm Tháng Bảy", trang
415)Những sự vật mà tác giả đã được mắt thấy tai nghe dĩ nhiên được óc quan sát của
bà soi rọi, được óc thẩm mỹ và óc tế nhị của bà nếu không tô hồng chuốc lục khi
gặp cảnh sắc xứng ý thì cũng làm cho chúng linh động hẳn lên, biến thành chi tiết
hay toàn cảnh của một bức tranh sống.Thì đây! Chúng ta cùng ngắm cảnh Đông Hồ dưới ánh trăng đêm rằm Nguyên Tiêu
trong "Đêm Bất Dạ":Rằm tháng giêng... Tết đã qua mười lăm ngày rồi. Phong vị Tết đã nhạt dần từ
hôm mồng ba mồng bốn...Chiều hôm nay, lòng bỗng nôn nao. Dư vị của ba ngày xuân
còn lắng đọng, tự nhiên như phơi phới dâng lên.Trẻ con lại được giở ra quần áo mới. Người giai nhân dự bị, từ sáng sớm, để hưởng
một đêm Tết Có Trăng.Mặt trời khuất sau tấm màn gió biếc của rặng Bình San thì bên kia Đông Hồ, vành
trăng cũng từ từ nhô lên khỏi nước. Một cái ấn vàng đóng tròn trên mặt gương ngọc.(các
trang 131, 132)Toàn cảnh bao la được thu nhỏ vào một khu vườn của tác giả ở Xóm Rẫy cũng vào một
đêm trăng tròn, nhưng không phải vào những kỳ rằm; nơi ấy có một bông hoa quỳnh
hé nở:Một đêm kia, hình như không phải là đêm rằm mà sao bóng trăng tròn trĩnh quá! Nửa
mái nhà và một góc vườn ngập ánh trăng.Đâu đây, thoang thoảng mùi thơm. Một mùi
thơm là lạ, vương vướng có hơi bạch đàn hương, thanh hải hương và một chút ngọc
quế hương.Trăng diễm ảo, mùi thơm càng diễm ảo hơn. Trăng đã cao và sáng hơn. Mùi thơm
theo độ trăng càng náo nức hơn.Nàng Út say sưa gần như cuồng loạn. Nàng chạy khắp vườn.Hương vương trong lá, hương rớt trên đường, hương tràn ngoài ngõ, hương vương
trong tơ trăng. Ôi! Hương! Hương! Hương tràn ngập!Gió thổi vờn làn tóc, Nàng Út nghĩ thầm: "Hay là gió quyện hơi thơm từ một
lãng uyển nào về?". Mùi thơm huyền diệu quá. Hoa hoa, lá lá, cả vườn thao
thức say hương.Chớp mắt một cái, Nàng Út thấy mình đứng trước chậu hoa Quỳnh. Theo thói quen,
nàng ngồi lại bên hoa, vuốt ve mấy cái lá xanh già.Nàng ngạc nhiên nhìn chồi
hoa đã cao lớn lên lúc nào. Và bài thơ chữ thảo li ti bên bức tranh lờ mờ khắc
trên men ngọc chậu sứ, nàng cũng nhận rõ ràng. Nàng đọc mấy chữ thơ mà mọi khi
phải soi kiếng cũng không tìm đủ nét."Nhứt chi nùng diễm lộ ngưng hương"Cái dáng dấp Dương Quí Phi tựa nghiêng bên gác trầm hương dường như phấp phới.Nhưng mùi hương sực nức đã gọi Nàng Út ngẩng lên, không cần phải ngửi một hơi
dài, nàng cũng cảm thấy mùi hương ngạt ngào, ngập tràn trong buồng phổi. Nàng
đưa tay vạch một kẽ lá và kêu lên:
- Ô! Một bông hoa Quỳnh hé cánh.
Cuống hoa xanh màu hoa lý từ trong nách một kẽ lá trổ ra. Những cánh đài hoa
còn vương vướng có gân xanh đã nở bung dần. Ở trong còn bao lớp tuyết nhung ngậm
kín.Sung sướng và say mê, Nàng Út yên lặng ngồi rình. Nàng không dám thở mạnh, sợ
làm tan một cái gì mỏng manh, mỏng manh lắm. Ôi, còn gì mong manh hơn sự mở
cánh của quần phương!Trăng cao cao dần, hoa hé hé dần. Ai đã đem tơ trăng huyền ảo mà buộc vào những
cánh thần hoa? Những cánh trắng hơn tuyết, nõn hơn nhung, trong hơn vân ngọc, mịn
hơn vân ngà. Làn u hương kỳ diệu đồng thời toát theo từng cánh mở của bông hoa.("Úc Viên Ký", các trang 279, 280, 281)Có thể có vài bạn độc giả thắc mắc: trăng sáng tới mức độ nào mà tác giả thấy
nét chữ thảo trên nền men ngọc của chậu hoa, thấy màu sắc của cuống hoa, đài
hoa và cánh hoa? Nhưng mà ai ai cũng phải tin rằng dù dưới ánh trăng chưa tới kỳ
rằm, cái phàm nhãn của tác giả tuy không thấy rõ ràng và tách bạch nét chữ của
bài thơ trên nền men của chậu hoa cùng hình ảnh và màu sắc của bông hoa đang nở,
nhưng con mắt của tâm hồn bà cộng với ấn tượng của bà do một cảm giác mãnh liệt
và đột xuất khơi dậy, khiến bà thấy những đối tượng ngoạn mục và thơ mộng kia.
Do đó, trong văn chương, chúng ta có thể ý thức thêm một điều then chốt: nhìn cảnh
đẹp đâu phải chỉ nhìn bằng mắt mà còn phải nhìn bằng tâm hồn.Càng thu nhỏ hơn nữa, đó là những vật tầm thường như cái bánh qui bằng bột nhuộm
đỏ dành để đãi Nguyễn Bính được bà ghi giống như "chiếc ấn son". Những
chiếc đèn lồng bằng dưa hấu (qua đăng) cũng đươc bà mô tả vừa kỳ đặc vừa sống động:Trước nhất, cụ Hương bảo cắt mặt dưa, dù đỏ hay không đỏ cũng cứ để nguyên quả
dưa mà móc bỏ hết sạch ruột đi. Quả dưa đã biến thành một cái đáy bụng của chiếc
hồ lô. Rồi cụ dùng mũi dao sắc nhọn tỉa gọt, chạm sâu vào những nét lan, nét
trúc, cánh bướm, bài thơ, trên mặt vỏ dưa. Bỏ vào bồn nước, ngâm giữ cho vỏ dưa
đừng héo.Trăng giải khắp. Trong vườn Muôn Hương, dưới cành, trong lá loáng thoáng những
quả lồng đèn dưa, nổi bật trên nền vỏ xanh, lọc ánh sáng thành một màu xanh ngọc
bích.Chiếc đèn to, trổ theo kiểu nhất thi nhất họa của cụ Hương, treo giữa hiên. Những
chiếc khác của các anh cũng chạm khắc theo lối đó, những ai không kẻ được đủ cả
một bài thơ, bằng lối hành khải thư, như chiếc đèn chánh. Chỉ tỉa một đôi câu:"Nguyên tiêu thiên bất dạ"Đối cảnh phú Tràng An".Hoặc chỉ có ba chữ "bất dạ thiên" hay bốn chữ "nhất khắc thiên
kim" theo lối lệ triện.Riêng có chiếc đèn của Nàng Út thì cụ Hương cũng vạch phá cho mấy nét hai chữ
"Úc Viên", rồi để cho Út tự gọt lấy. Ngoài nét chữ ra, Út còn móc
thêm những điểm sao rơi và những liềm trăng non. Chiếc Úc Viên Đăng được treo
trên cành mai gie trước cổng, có dán đôi câu đối viết trên giấy hồng đơn."Thế thượng mai hoa vô song phẩm"Nguyệt trung đan quế đệ nhứt chi".Rất nhiều lần, bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội dựng những cảnh rất
sống động, rất linh hoạt trong giấc mộng, trong câu truyện kể, trong truyện
truyền kỳ. Nhưng mà, những khải tượng (les visions) trong chiêm bao hay trong ảo
ảnh, trong tuởng tượng có cái nào mà không bắt nguồn tự sự thật?Bởi sinh trưởng ở Hà Tiên, tác giả đã từng thấy đồng cỏ, rừng núi, ao suối, khe
ngòi nên trong thiên tùy bút "Mộng Xanh", bà dựng một phong cảnh
trong giấc chiêm bao như sau:Hà mơ thấy mình, như ban ngày, cùng con cháu bé đang thơ thẩn bên bờ Đông Hồ.
Là bờ Đông Hồ, nhưng sao lại thấy một cây cầu bắc qua một cái suối con, nước chảy
róc rách. Bước lên cầu. Cầu nhúng nhính. Qua bên kia suối, thì là một cảnh là lạ.
Ngoảnh lại, nhìn chung quanh thì chỉ đứng đó một mình. Không nhận ra lúc ấy là
ban chiều hay đêm trăng. Hà chỉ thấy bóng sáng mát giọi đều trên mặt đất, trồng
toàn một thứ cỏ xanh mát như nhung. Những con đường mờ mờ trắng chạy viền đều
trên mặt cỏ.Hà chạy tung tăng khắp các con đường. Đường không có sỏi đá, êm chân như trải bằng
thứ cát lạ ở cõi tiên.Đi mãi đến bên một cái đồi con. Những con nai, con hươu trên đầu mang cả một
nhánh cây khô, ung dung ăn cỏ bên sườn đồi. Đồi cũng toàn một màu xanh rờn rờn,
lưa thưa có bóng rợp của tàn cây mát rượi.Cô đứng lại, lắng tai nghe như có tiếng gió và tiếng chim.Bên kia đồi, vài con thỏ vui đùa chạy giỡn, trông như những khối bông trắng
tinh lăn trên thảm biếc.Trèo lên ngọn đồi, ngó chung quanh, thấy toàn một màu xanh ngăn ngắt bạt ngàn.
Vô số những cây liễu, cây dâu, những cây cỏ không hoa mà cũng không tên.Hà đến bên cái biển cạn xây bằng cẩm thạch. Đá xanh, nước lại xanh hơn, làm
xanh lây đến những con cá bơi lội trong hồ.Màu xanh mát trong của nước như quyến rũ. Tự nhiên, Hà đưa tay cởi bỏ dần khuy
áo... Giựt mình, ngừng tay, khép áo lại, ngơ ngác nhìn quanh... (các trang 101,
102, 103)Tác giả chỉ nghe người trưởng thượng kể lại vận sự ông nội của mình dong thương
thuyền đi biển gặp con quái ngư khổng lồ cỡ chiếc tàu cũng đủ để bà dựng nên một
hoạt cảnh sống động. Vận sự thì có thật. Nhưng hoạt cảnh vẫn là sản phẩm óc tưởng
tượng phong phú của kẻ làm văn chương.... Mũi tàu còn cách con cá không đầy trăm thước, đang lừ lừ tiến đến, chợt
nghe ầm ầm quẫy mạnh đàng đuôi, cánh vi trên lưng cá như hướng nhích qua một
bên. Đứng trên tàu, nhìn thấy chiều cạnh của cánh vi khổng lồ đó.Ông nội tôi có tia hy vọng. Ông truyền cho bác tài công vững tay lái, cho tàu
hướng trịch mũi về bên kia để tránh đà tiến của con cá.Sóng nổi ồ ồ, cuồn cuộn, lớp lớp trùng trùng chuyển tới, tràn ngập cả sàn tàu. Bây
giờ mũi tàu đã tránh lệch khỏi được đường tiến con cá. Mũi tàu và lưng cá sắp sửa
vượt trái nhau theo chiều dọc. Cánh vi cá và cánh buồm chiếc tàu đã song song
cao ngang nhau, cách không khoảng mười thước. Lưng cá cọ sát vào sườn tàu. Mình
tàu nghiêng hẳn về một bên. Nước tràn ào ào. Người trên tàu chạy đổ xô về bên
phía trên, bên mạn thuyền cá vượt qua. Ôi chao! Những mảng vẩy bông tròn tròn,
xậm xậm nổi rõ trên lưng cá bằng từng chiếc nia to.Ông nội tội đã nhận ra đó là một con cá có vẩy to lớn vô cùng. Chiều cái vi
trên lưng nó đã ngang với buồm tàu, thì cố nhiên, mình con cá cũng dài không
kém chiếc tàu đâu.Con cá vuợt qua khỏi, thình lình, đuôi nó quẫy mạnh một cái rồi nó đi thẳng,
làm chiếc tàu quay tròn mấy vòng như vỏ quả trứng thả vào chậu nước đương xoáy.Tuy vậy tàu cũng từ từ yên lại. Mọi vật trong tàu đã xáo trộn ngã đổ cả. Nhìn
sau mui lái, thì bác tài công, vì cố kềm ghì giữ tay lái cho vững, khi cá quẫy,
bị cần lái đập vào người, ngã ra bất tỉnh. ("Ông Đạo Lập Quá Hải",
các trang 356, 357, 358)Về con quái ngư khổng lồ, bà chỉ tả đôi dòng nhưng cũng đủ gợi những nét tạo
hình thật sắc sảo khắc sâu vào ấn tượng độc giả như cổ nhân khắc chữ lên bản in
hay khắc dấu triện son trên gỗ, trên đá, trên đồng:Nó không phải là cá xà cá mập, loài cá không vẩy, mình trơn, vi thấp. Đàng này,
vi cá cao ngất như buồm cánh dơi, mình có vẩy đốm hoa to bằng chiếc nia.Thì rõ ràng là loại cá mú khổng lồ. Cá mú mà ta thường thấy, mình nó tròn, lốm
đốm hoa vàng, hoa nâu. Kỳ to, vi lớn, đuôi dẹp xòe ra như cánh quạt, miệng to,
hàm rộng, mang phồng. Những con nho nhỏ mà ta trông thấy đã khỏe đẹp lắm. Nó
cũng thuộc vào loại kình nghê mà sách Trang Tử đã nói đến đến trong thiên
"Đại Tiêu Dao".("Ông Đạo Lập Quá Hải", trang 358)Ở truyện "Con Gái Út Nhà Trời Thác Sinh Làm Nàng Mọt Sách", khúc
đầu, bà Mộng Tuyết chỉ cần quan sát con mọt sách để mô tả hình dáng của nó. Khi
nó biến thành giai nhân thì bà chỉ cần dùng óc tuởng tượng phong phú của mình để
nối bút cho đến đoạn cuối truyện. Ít có ai quan sát một con côn trùng bé tí ti
và tầm thường như loại con sâu cái kiến kia để tả cho thật đặc sắc và thật đẹp
như bà.Lật bìa bọc da hãy còn nguyên vẹn, thấy hiện trên tờ sách những vết li ti. Vết
nhấm tròn tròn như hình mặt trăng, cong cong hình bán nguyệt, góc cạnh hình
ngôi sao, đủ cả. Sinh soi lên đèn, từng tờ lỗ chỗ, thấy như da trời đêm tối lốm
đốm sao thưa. Tay lật nhanh lên để xem các dấu thủng đã suốt sách chưa.Đến gần tờ cuối, một con hai đuôi thon thon hình thoi, độ hai phân dài, mình
vương vướng phấn nhung tơ, sau cùng có hai sợi lông đuôi vót dịu. Con vật lui
chui tìm chỗ trốn, lủi mau vào kẹt giấy chưa kịp ẩn vào đâu. Bực tức, Sinh định
gấp sách lại thật nhanh cho nó chết bẹp, nhưng chàng chỉ lấy ngón tay chận lại.
Ngón tay dí trên mình con vật, chàng định ấn mạnh xuống, rồi lại sợ bẩn trang
sách quý. Hơi ấm nóng trơn trơn, nhung nhúc tự dưng làm chàng giở tay lên; con
vật chậm rãi bò chui vào lưng sách, vẽ một vết mờ ngòng ngoèo theo dấu bò đi,
và để vướng lại trên ngón tay chàng một tí phấn óng mỡ.Sinh rút khăn định lau vết phấn trên ngón tay, thì lạ thay, vết lông tuyết
nhung đã lan khắp lòng bàn tay mà mảnh khăn chàng cầm là một mảnh lụa phớt xanh
ướp phấn. Như người bàng hoàng chưa tỉnh, Sinh nhắm mắt định thần...Khi mở mắt ra thì, đối diện với chàng là một giai nhân tuyệt sắc, là một tiên nữ
yêu kiều lững thững xiêm y phớt xanh mình phấn, y như mảnh lụa chàng vừa nắm
trong tay, lướt thướt sau lưng, vạt áo chia đôi óng nuột. (Các trang 183, 184)Ở đoạn văn này, cũng như nhà văn nữ Nguyễn thị Hoàng, bà Mộng Tuyết tả con vật
và tả người sắc sảo mà không chói mắt, lộng lẫy mà không ruờm rà. Đó là trường
hợp một thợ thêu khéo, chỉ dùng kim tuyến và ngân tuyến thêu trên nền nhung mịn
màng, chứ không thêu trên nền gấm vì vóc gấm chẳng những bóng lộn mà còn dệt
hoa bằng hai thứ chỉ lóng lánh ấy sẵn rồi. Đây là cuộc pha trộn màu sắc có hòa
điệu.Thú vị nhất là những bài được bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội viết
về những văn gia thi sĩ mà bà đã từng quen biết. Đó là những bài dành riêng cho
quyển tùy bút "Dưới Mái Trăng Non". Đó là nhà chí sĩ Sở Cuồng Lê Dư,
nhà văn Nguyễn Trọng Thuật (bút hiệu Đồ Nam Tử, tác giả quyển sách lừng danh
"Quả Dưa Đỏ"), cùng nhà thơ Lưu Trọng Lư, nhà văn Nguyễn Tuân, Lê
Thanh v.v... trong bài du ký "Hà Nội Tây Thi". Đó là cụ Đồ Nam Tử thêm
một lần nữa xuất hiện trong bài "Gặp Tác Giả "Quả Dưa Đỏ", Cụ Đồ
Nam Nguyễn Trọng Thuật". Đó là nhà văn Lê Thanh đã từng cộng tác với báo
Tri Tân lần thứ hai hiển linh trong bài văn tế khoác áo tùy bút "Tơ Duyên
Dương Liễu". Đó là nhà thơ Nguyễn Bính trong bài "Để Nhớ Nguyễn Bính
Những Ngày Ghé Bến Hà Tiên". Đó là Nguyễn Tuân tái xuất hiện trong bài
"Mưa Dầm Tháng Bảy". Đó là Xuân Diệu cùng Huy Cận, kẻ chết người sống
cùng họp mặt trong bài tưởng niệm bằng thơ "Để Nhớ Anh Xuân Diệu"...Cộng tác với tạp chí Nam Phong do cụ Thượng Chi Phạm Quỳnh chủ trương, ông Đông
Hồ và bà Mộng Tuyết bắt đầu quen hầu hết với các tao nhân mặc khách, các danh
sĩ đương thời hai miền Trung Bắc. Lại nữa, giải thưởng Văn Chương do nhóm Tự Lực
Văn Đoàn chủ trương đã đẩy tên tuổi bà xuyên suốt đất nước Việt Nam. Dù thuở đó
có con thiết lộ Xuyên Việt, nhưng trước khi viếng Hà Nội, hai danh sĩ đất hồ
thơ núi mộng của miền Tây Nam nước Việt ấy chỉ biết các bạn văn của mình qua cuộc
trao đổi thư đi tin lại. Chính chuyến thăm thành quách Thăng Long vào năm 1939
đã giúp cả hai gặp gỡ các người cầm bút ngoài đất Bắc. Đôi bên không còn
"văn kỳ thanh, bất kiến kỳ hình" nữa. Đôi bên được tiếp xúc lẫn nhau,
đã có kỷ niệm đẹp cho nhau. Đó cũng là thời kỳ Nhật dội bom xuống Đông Dương và
lăm le nuốt chững Đông Dương.Độc giả chúng ta ở hải ngoại đa số là hậu bối của các văn gia thi sĩ thời tiền
chiến. Ai cũng khao khát muốn tìm hiểu đời sống cá nhân và phong thái từng tác
giả một. Dĩ nhiên, các bài vở trong quyển tùy bút " Dưới Mái Trong
Non" không đủ đáp ứng hoài vọng nồng nàn của chúng ta đâu. Nữ sĩ chỉ vẽ lờ
mờ đôi nét phác thảo về chân dung và cuộc đời của các người cầm bút lừng danh ấy,
cùng những kỷ niệm vặt vãnh giữa họ và bà. Có thể chúng ta cho rằng bà thiếu
sót trong công việc viết về họ. Nhưng ngẫm cho cùng, bà có muốn lôi đời tư của
họ để trình bày cho chúng ta thỏa mãn tính hiếu kỳ đâu? Bà cũng có muốn khoác
áo phê bình một cách trịnh trọng về thi văn của họ đâu? Bà chỉ muốn dắt chúng
ta song hành cùng bà vào vùng trời kỷ niệm trong văn giới thế thôi. Chúng ta chỉ
nhặt nhạnh dăm ba mảnh vụn sáng lấp lánh trong cách sống của họ, ngay cả của
bà. Vậy mà bài viết vẫn đượm nhuần thi vị, vẫn sáng lên vóc dáng văn chương nghệ
thuật, vẫn khơi dậy khói hương của một thời đại văn chương huy hoàng đã xảy ra
trên quê hương tổ quốc chúng ta.Các bạn muốn biết chân dung các văn gia thi sĩ thời tiền chiến đã từng quen biết
với bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ư? "Dưới Mái Trăng Non" sẽ tặng các
bạn một vài nhu cầu tìm hiểu của các bạn. Trước hết, xin đọc bức phác thảo chân
dung cụ Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật:Cụ Đồ Nam người cao cao và chắc chắn. Da mặt ngăm ngăm, tóc râu nhiều và to sợi.
Miệng rộng và luôn luôn cười.Câu chuyện của ông già đó cũng ngay thẳng và chất phác như dáng điệu của ông,
như bộ quốc phục, cái áo the thâm, cái quần vải trắng không ủi của ông. Lời nói
của ông không trang sức, không cầu kỳ, không văn hoa như phần nhiều các ông Nho
học mà bọn trẻ khi tiếp chuyện phải lo sợ.("Gặp Tác Giả "Quả Dưa Đỏ" Cụ Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật",
các trang 440, 441)Chân dung Lưu Trọng Lưu và Nguyễn Tuân cũng tại ga Hàng Cỏ trong buổi đưa tiễn
du khách về Nam cũng chỉ được bà Mộng Tuyết nói qua loa cách phục sức và cái
phong thái của họ hơn là đường nét tạo hình:Trên sân ga Hàng Cỏ đông nghẹt. Người ra đi đã đông, mà người đưa tiễn người đi
càng đông hơn. Có hai mẫu người đứng gần nhau mà rất tương phản nhau. Một người
dễ dãi giản dị đến chểnh mảng. Một người thì sạch sẽ diêm dúa đến nghiêm chỉnh.Người trên là một thi sĩ thính tai nghe được những thanh âm khi chưa thành tiếng
động, nghe những "tiếng thu" âm thầm "dưới trăng mờ thổn thức",
nghe được cả "hình ảnh kẻ chinh phu trong lòng người cô phụ". Thi sĩ
Lưu Trọng Lư hôm nay cũng lễ mễ ra ga đưa vợ về Thanh tránh loạn như mọi người
thiên hạ. Không biết thi sĩ có nghe tiếng gì đặc biệt hơn không?Người dưới là một
văn sĩ khát cổ thèm đi. Nhà văn này đã từng vẽ lại những "vang bóng một thời",
đã cho tôi "sống" lại đời sống êm đềm của nghìn xưa thăm thẳm. Cũng
nhà văn này đã gọi dậy lòng say mê phong vị sông hồ của tôi sẵn từ thuở bé.Nguyễn Tuân trịnh trọng đến bắt tay anh Đông Hồ. Đứng trước nhà văn sĩ có một vẻ
điềm đạm, ôn hòa khệ nệ, đến cầu kỳ, khác người ấy, tôi cần phải nói một cái
gì, nhưng chung quanh đã ồn cả lên rồi. ("Hà Nội Tây Thi", trang 323)Cuộc gặp gỡ giữa nhà thơ Nguyễn Bính cùng Đông Hồ và Mộng Tuyết vào xế chiều
mùa hạ năm 1944 tại Hà Tiên , giữa lúc bà Mộng Tuyết ngồi may tại Yiễm Yiễm
Thương Điếm. Nguyễn Bính được bà vễ chân dung như sau:Một người khách lạ bước vào, với chiếc va-li nhẹ xách tay. Người khách thâm thấp.
Phong trần hiện trên mớ tóc đen rậm, rối bồng, dài tới mang tai. Bộ Âu phục cũ
nhầu nát làm tăng thêm phần tiều tụy. ("Để Nhớ Nguyễn Bính Những Ngày Ghé
Bến Hà Tiên", trang 402)Riêng chân dung của Xuân Diệu và cuộc gặp gỡ giữa đôi bên lại được tả bằng 2 đoạn
thơ, mỗi đoạn gồm 4 câu thất ngôn trong bài thơ tưởng niệm "Để Nhớ Anh
Xuân Diệu" (trang 432):Mùa thu tháng tám năm băm chín (1939)Một nhóm anh em từ phương NamRa thăm Hà Nội trong chớp nhoángQuán cơm Hàng Da nơi hội đàm.Một gã thư sinh mái tóc bồngMắt sáng, miệng cuời tươi nở bôngGhé lại cùng ngồi góp thêm chuyệnKý tặng bạn xa quyển "Phấn Thông...".Còn gì cảm động hơn, khi ra Hà Nội, đôi uyên ương thi ca Đông Hồ & Mộng Tuyết
đến viếng cụ Đồ Nam Tử. Cụ tình nguyện hướng dẫn họ đi thăm thú đó đây cùng viếng
các nhà văn nhà thơ đất Thăng Long.Cụ đòi thân đưa bạn Hà Tiên đi thăm các nơi danh thắng đất Thăng Long. Anh Đông
Hồ có lẽ vì sợ cụ Đồ Nam nhọc mệt, vội vàng từ tạ bằng một câu sáo, hết sức
sáo:- Xin cám ơn ngài. Nếu ngài có bận có mệt thì xin để chúng tôi đi với các anh
em trẻ tuổi cũng được. Ngài cứ nghỉ nhà, chúng tôi đi đến đây thăm ngài và nếu
có cần gì sẽ chạy đến xin nghe là được. Ngài khỏi bận đến, và chúng tôi ra đây
cũng có nhiều nơi quen biết, không đến nỗi lạ lùng gì.Cụ Đồ Nam đưa tay lên lắc và nói một cách mạnh bạo:-, nói mà hay, thiên tải nhất thì kia mà, hữu bằng viễn phương lai, thì dẫu có
mệt thì cũng không được mệt và dẫu có bận công việc bao nhiêu nữa cũng phải vứt
bỏ cả, chứ sao nói đến nhọc và bận?("Gặp Tác Giả "Quả Dưa Đỏ" Cụ Đồ Nam Nguyễn Trọng Thuật",
các trang 440, 441)Khi tiễn khách Hà Tiên trở về Nam, tại ga Hàng Cỏ, cụ Đồ Nam đã tặng một bài
thơ dài, nhưng ở đây bút giả HTA xin trích mấy câu chót:Gặp nhau đã thỏa ước ao,Gần nhau ta tính thế nào cho hay.Lầu văn chung sức dựng xây,Lòng thành sẵn đá, sẵn cây, sẵn nền.Mấy lời gắn bó bao quên,Bạn về, ta đứng ngóng trên non Nùng.Cách viết của bà bớt uốn éo, bớt bay bướm để mạch cảm xúc len lỏi vào từng chữ
viết, từng dòng văn. Giao tình đôi bên từ phía bên khách khi vào quyển tùy bút
lúc nào cũng đẹp, cũng đáng để bên chủ, luôn cả bên độc giả trân quý và cất giữ
trong kho tàng kỷ niệm của mình. Nhà văn Lê Thanh, một kẻ ít nổi danh nhất,
nhưng vẫn được tác giả quý mến lúc đưong sự sinh tiền, vẫn được bà khóc lóc,
hoài niệm lúc nghe tin ông tạ thế ngoài đất Bắc. Và chàng Lê Thanh yểu mệnh kia
dưới ngòi bút bà là "một văn nhân tầm thước, nhã nhặn, diêm dúa và đứng đắn.
Đôi kính trắng học giả nổi trên khuôn mặt đẹp và hiền của một thư sinh thời cổ"
(trang 392) đã cho bà những kỷ niệm như sau:Huống chi ngoài duyên văn tự, hãy còn những dấu vết nhạn hồng, những bức thư trắng
tinh sạch sẽ thường viết bằng nuớc son tươi với nét nhỏ, mau, mà rơi như tơ rối
đó hãy còn mới như những cánh hoa đào rơi trên mặt suối.Mỗi khi viết đến chữ Mộng Tuyết và tên người nhận lãnh trên phong bì, anh cố bắt
chước theo chữ ký của Mộng Tuyết vẽ cảnh trăng non trên chữ Tuyết và dưới chữ Mộng
vẽ một ngôi sao.Anh đã báo tin cho Mộng Tuyết:"Tôi đã đưa đi khắc cái chữ Mộng Tuyết có mặt ông trăng và một ngôi sao kỳ
dị ấy, số tiền thuê là năm xu rưỡi, chị làm thế nào hoàn lại cho?".Và anh đòi nợ Mộng Tuyết:"Có một diệu kế nhất là một ngày nào đó, đáng lẽ chị không định viết thư
nhưng cũng đem viết, thế là trả xong món nợ đó". (Thư ngày 3-9-1941).
("Tơ Duyên Dương Liễu", trang399)Vào thời buổi này, đọc những sách viết danh nhân trong các lãnh vực chính trị,
văn hóa, nghệ thuật, ai cũng tìm những đoạn gay cấn, éo le, khúc mắc... Đó cũng
là những đoạn được tô điểm bằng thù nghịch, đòn phép, lọc lừa, súng đạn, ác mộng,
tinh khí, để hâm sôi máu găng- tơ chảy trong huyết quản, để khích dục khiêu
dâm, để đánh thức con ác quỷ lặn sâu cuối đáy thẳm của nội giới con người.
Nhưng đọc những cuộc giao du trong văn giới dưới ngòi bút của bà Mộng Tuyết Thất
Tiểu Muội, chúng ta chỉ thấy cuộc sống của họ như mặt hồ im sóng trải gương, chỉ
thấy tâm tư họ nở hoa nhân ái, chỉ thấy giao tình giữa họ với nhau đẹp bảy sắc
cầu vồng. Chúng ta có cảm tưởng mọi vận sự dẫu nhám nhúa và gai góc đến đâu trước
khi được đưa vào văn chương, cũng được bà gọt cho trơn láng và đánh quang dầu
cho bóng loáng như nền men và như mặt gương. Những bài viết như thế thiếu kích
thích, nhưng bù lại chúng làm cho mỹ cảm người đọc thấm nhuần thêm cái chất
tinh hoa thuần khiết của văn chương cổ điển.Việc tặng quà cho nhau trở nên thi vị tuyệt vời. Đâu cần các món trang sức hay
các món ngoạn hảo làm bằng kim ngân châu báu đắc tiền, mà chỉ là những món vừa
với túi tiền của các hạng trung lưu . Những món đó, qua góc cạnh nhìn ngắm đặc
thù cùng tâm tình tha thiết của bà Mộng Tuyết cũng trở nên những món hiếm quý,
không phải ở trong cuộc sống thường nhật của chúng ta mà ở trong cái thế giới
văn chương gấm vóc của bà.Đây là món quà tặng của Nguyễn Tuân vào thời tiền chiến:Tết Trung Thu năm ấy, tôi nhận được một gói quà vuông vức bọc giấy dày cẩn thận.
Mở ra thì là cái hộp gỗ đặt đóng riêng, trong có một hộp giấy đựng bốn cái bánh
trung thu của hiệu cao lâu Đông Hưng Viên, có tiếng nhất Hà Nội lúc đó. Hộp
bánh gởi bưu điện bằng xe lửa tốc hành vào Sài Gòn, rồi theo đường bộ về Hà
Tiên mất mấy ngày đường nữa.Tuy vậy bánh vẫn thơm ngon, kèm theo hộp bánh một số báo Trung thu của Hà Nội
Tân Văn có bài của anh. Cái hộp gỗ đẹp như hộp may của các cô nữ sinh. Bánh thập
cẩm lâu ngày, tôi đem nướng lại. Cái lối bánh "biscuit" này làm bánh
tăng thêm hương vị.Bánh ngon là một chuyện mà nhớ đến công phu người gởi. Cái bàn tay chuyên để
đóng triện son, để mở khóa va-li giang hồ ấy, lại làm được cái việc phong gói tẩn
mẩn kia thực cũng lạ lùng. Tôi tự nghĩ hoài không hiểu tại sao mà ngày đó chúng
tôi được anh "cưng" đến thế ?("Mưa DầmTháng Bảy", các trang 415, 416)Hồi tiền chiến, quà tặng đôi bên qua lại như con thoi dệt lụa. Sau này, khi miền
Nam Việt Nam lọt vào tay Miền Bắc thì cuộc tặng quà lại nối tiếp. Hãy cùng đọc:... Có người vào anh gởi tấm thiếp "Xin gởi cho Bưởi Ổi". Nhưng loại
bưởi này thì phải rằm tháng chạp trở lên mới có. Người ta phải để cho vừa đỏ chín
mới hái thì nó mới có đủ mùi thơm. Múi từng tép trong mọng, vỏ bưởi vàng tươi
và có mùi thơm ngọt của rượu Cointreaux. Mới nhận được bưởi lần đầu anh thích
cái dáng xinh xắn và để vài trái là nghe ngát hương khắp phòng. Thấy anh thích,
năm nào tôi cũng mua sẵn để làm quà Tết. Có một năm Hoài Vũ bảo tôi mua, nếu có
ai ra Hà Nội mà gởi được sẽ đem về gởi hộ. Năm đó không gởi cho ai được mà tôi
lấy làm mừng, vì đã mua lầm thứ bưởi lai không thuần giống.Một bận anh Huy Cận ghé vào dịp Tết, mừng quá, tôi xin gởi. Anh Cận nghe gởi buởi
thì bảo một trái mà thôi, mà có thể tôi sẽ lột vỏ mà chỉ đem ruột về thôi. Tôi
gởi anh Tuân một và anh Xuân Diệu một, và xin đừng bỏ vỏ vì vỏ là phần chánh.
Khi ăn bưởi rồi, treo vỏ ở đâu đó, nó còn phảng phất mùi hương. Anh Huy Cận lại
bảo: "Nếu thế thì tôi bỏ lại ruột mà chỉ mang vỏ ra cũng được chứ!".("Mưa Dầm Tháng Bảy", các trang 423, 424)Qua các món quà xoàng xĩnh này, chúng ta còn biết thêm thú thanh thưởng tao nhã
của các nghệ sĩ tiền phong lão thành qua những cái tầm thường, vặt vãnh, tủn mủn.
Nhưng mà nhờ cặp mắt nghệ sĩ, nhờ niềm cảm nhận uu việt, họ đã tìm gặp chất thơ
chất mộng của món quà, ngoài tình bằng hữu thắm đượm thiết tha.Đối với Nguyễn Bính, tác giả đem tấm lòng âu yếm, thương yêu và đùm bọc cho ông
Nguyễn, như người chị hiền đối với chú em nhỏ. Khi ông Nguyễn vào Hà Tiên ở
chơi nhà ông Đông Hồ thì nhà thơ đất Hà Tiên kia bảo bà Mộng Tuyết may bộ áo bằng
lụa Hà Đông cho ông Nguyễn mặc, nhường căn gác xép (Nam Phong Tiểu Các) cho ông
Nguyễn cư ngụ dài hạn. Xin cùng đọc hai đoạn văn trong bài "Để Nhớ Nguyễn
Bính Những Ngày Ghé Bến Hà Tiên":Bính thường quấn quít bên tôi như một chú em ngoan ngoãn. Quãng này, tôi còn
đang tang cha, luôn luôn mặc chiếc áo dài ai trắng, thứ vải thô xấu, may dối dối
theo tang phục. Bính thường ngắm tôi và nói: "Người con gái Việt Nam, mặc
áo tang sô gai có một vẻ đẹp não nùng, khả ái như một bài thơ buồn". Có những
lúc tôi bận suy nghĩ một điều gì, Bính nói chuyện, tôi lơ đảng, không trả lời,
thì Bính gắt gỏng: "Trông chị nghiêm như một bà Hoàng, ghét quá!".Cứ buổi sáng ăn xong ở nhà riêng của anh Đông Hồ ở cạnh Hồ Đông, thì Bính ra tiệm
với tôi. Tôi ra chợ trước tiệm, mua thêm bánh ngọt cho Bính uống trà. Bính
thích hơn hết là thứ bánh qui. Bính nói: "Bánh chi mà đẹp như chiếc ấn
son".Bính ra cửa hàng. Để trông cửa hàng cho chị. Để xem chị may áo. Để đi gửi thư
cho chị.Mỗi khi tôi viết thư xong, thế nào Bính cũng dành đi bỏ thùng cho đươc. Bính học
thuộc các địa chỉ trên phong bì. Có bận nhìn địa chỉ một người, Bính làm vẻ hờn
dỗi: "Sao mà chị viết nhiều cho người này lắm thế, làm cho Bính phát
ghen".Bính thường hay kể chuyện giang hồ, kể chuyện gia đình. Kể chuyện "Chị
Trúc", người chị tinh thần đã an ủi Bính trong những khi Bính chán nản.
Bính hứa xem tôi như một người chị tinh thần thứ hai của Bính. (trang 405)Mỗi đêm, dưới ánh hồng lạp, Bính viết bốn năm trang thơ lục bát. Thời kỳ bấy giờ
không dầu lửa. Ở tỉnh nhỏ, ai cũng đốt bằng dầu dừa, dầu cá. Duy với Bính thì
anh Đông Hồ phải dành trên Nam Phong Tiểu Các cho Bính những ngọn hồng lạp để
đêm hôm Bính làm thơ. Mỗi sáng ra, Bính đem đọc cho chúng tôi nghe, bàn lại,
cùng thưởng thức.Giữa lúc đó, vào tiết Đoan Ngọ, theo tục lệ ở Hà Tiên, tôi nấu nước lá thạch
xương bồ để tắm gội. Bính thích ba chữ "thạch xương bồ", và lấy ba chữ
đó đặt tên cho tác phẩm đang khởi thảo của mình.Trong lúc sáng tác, Bính thường bảo viết truyện thơ, tả cảnh tả tình không khó.
Tự sự mới thiệt khó khăn. Bính nói: "Mình có làm rồi mới biết văn tự bằng
lục bát của Nguyễn Du quả là tài tình. Người sau đố mà theo cho kịp".Bính sáng tác truyện "Thạch Xương Bồ" được gần hai ba trăm trang. Tới
lúc rời đi, thì chuyện mới chỉ xong được một phần. Nếu Bính còn nằm ở Hà Tiên
ít lâu nữa thì chắc chắn đã hoàn tất được một quyển truyện diễn ca khá độc đáo.
Bởi chúng tôi thấy khi đó Nguyễn Bính viết rất hào hứng, rất dồi dào. Bính viết
lục bát nhanh như văn xuôi.Anh Đông Hồ và tôi tiếc vì tác phẩm chưa hoàn thành mà Bính bỏ đi, bỏ dở dang
thi uổng. Chúng tôi cố lưu Bính ở lại thêm một thời gian nữa mà Bính nhất quyết
ra đi. Bịnh giang hồ đã nổi dậy lên trong lòng người nghệ sĩ. (các trang 407,
408)Văn chương bà Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội uyển chuyển, bay bướm, tuy hơi lập dị
đôi chút , nhưng thuần túy hiền lành, chứ không giả vờ ngoan ngùy, chứ không giả
bộ đôn hậu. Tình bằng hữu của bà đối với các văn nhân thi sĩ đương thời cùng bà
sao mà ngọt ngào, âu yếm và sâu sắc. Bà viết văn bằng một tấm lòng trước nhất,
sau đó mới trang điểm thêm hoa hòe hoa sói. Do đó mà nhiều độc giả cho rằng đó
là những màu mè che đậy cái dối trá, cái hư ngụy. Thật sự, ở ngoài cuộc đời bà
hiền lành hay hỗn dữ ra sao, chân thật hay dối láo cách nào, chúng ta vẫn phải
tin rằng ở một nhà nghệ sĩ nói chung, ở một nhà văn nói riêng, luôn có hai con
người đối nghịch: một con người trí trá giả dối và một con người chân thật
thành khẩn. Tùy theo hoàn cảnh, tùy theo môi trường sinh hoạt mà một trong hai
loại người đó hiển lộ. Nhưng trong văn chương, nhà nghệ sĩ vào thời đại xa xưa
có thể không cho con người xấu của mình xuất hiện, dù trong căn tính của họ,
cái xấu đó bành trướng và lấn át con người tốt của họ đi. Họ hèn nhát che đậy
cái nhược điểm của mình, có phải thế không? Không đâu. Khi trang trải con nguời
tốt của mình lên văn chương, nhà nghệ sĩ trong giây phút sáng tác, sống hoàn
toàn bằng con người đó. Họ thành tâm muốn phơi bày cho người đọc cái hoài bão,
cái ngưỡng vọng của mình đối với cái Thiện để cho Chân Thiện Mỹ cùng soi gương
gặp bóng lẫn nhau, nâng cao giá trị của văn chương nghệ thuật thêm lên. Họ muốn
hướng thiện, cái Thiện mà họ ít khi có dịp để họ đem ra xử dụng với thế nhân
trong cuộc sống thường nhật, nhưng không bao giờ họ hoàn toàn quên nó.Về thơ, ngay từ thời tiền chiến, bà Mộng Tuyết đã biết xử dụng ngôn ngữ dù đơn
giản nhưng rất thơ, rất đượm đà tính chất sáng tạo. Tuy nhiên, bà dùng một vài
hình ảnh, một vài điển tích và cái khí hậu thơ Đường Tống trong văn chương
Trung Hoa. Cho nên đôi khi nó đứng ngỡ ngàng bên lề cảm nhận của độc giả và xa
cách niềm xúc động của họ một khoảng khá xa. Chẳng hạn bài "Đợi Gió"
bà dùng để trang tặng nữ sĩ Anh Thơ:Gởi Anh ThơMấy vần thơ đợi gió,Lòng xuân thắm đỏ,Lòng thuyền nho nhỏ,Đợi nước triều lên...Triều đã lên rồi trăng cũng lên;Trăng lên rồi đó. Gió chưa lên.Mặt nước hồ nằm say giấc mơ,Lòng gương không vướng gợn mây mờ,Khói chiều đứng thẳng trên quan tái,Hương tỏa hồn hoa ướp cỏ bờ.Cánh gấm buồm ai buông trắng tinh,Phơi nền trinh bạch giữa trời xanh,Cắm sào bến cũ buồn lơ lửng,Chở mộng muôn phương, mộng viễn trình.Trời Bắc bên kia đương ngóng trông,Sông Thương, sông Nhuệ mở đôi lòng.Xuôi chèo Nhâm Tuất theo trăng lạnh,Mở yến Đào Viên chuốc chén nồng.Gió gác Đằng Vương chẳng thổi đưa,Cho thuyền đợi gió đến bao giờ,Cho buồm Vương Bột trong giây phút,Nghìn dậm bay sang bến đợi chờ.Khi xuân thắm đượm khắp nơi nơi,Vạn vật đem xuân trả lại đời,Mà chẳng trả cho thuyền tí gió,Để thuyền thương nhớ những phương trời.Đây là loại thơ tân cổ điển (néo-classique) mà đồng thời hoặc sau bà Mộng Tuyết
vài năm, có các nhà thơ như Đông Hồ, Jean Leiba và Ngân Giang hà hơi tiếp sức để
khơi lên một cơn gió giao mùa xôn xao làm cho khu vuờn thi ca nước nhà nở những
bông hoa đài các trong hoa phổ nước nhà. Sau khi đất nước bị phân đôi bởi con
sông Bến Hải, ở Miền Nam Việt Nam có Hư Chu, Bùi Khánh Đản cùng các nữ sĩ của
Thi Đoàn Quỳnh Dao nối hơi chạy tiếp sức với vợ chồng bà để trận gió kia đưa lại
những hình xa bóng lạ từ trong tranh, trong những quyển cảo thơm của thi ca nước
Tàu. Xin đọc bài "Nguyên Tiêu Tương Tư". Bài này không có mặt trong
quyển tùy bút "Dưới Mái Trăng Non".Gương ngọc thiên kim giá đổi vừa,Khuôn duyên tròn một quả đèn dưaNgồi đây mà nhớ trang phương đó,Đọc trắng đêm rằm chuyện Ái Cơ.Nhưng ngẫm lại, khung cảnh và khí hậu trong truyện dài bằng thơ "Đoạn Trường
Tân Thanh" của Nguyễn Du hay truờng ca "Chinh Phụ Ngâm" của Đặng
Trần Côn qua nghệ thuật phiên dịch của Đoàn thị Điểm, trường ca"Cung Oán
Ngâm Khúc" của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều, trường ca"Ai Tự Vãn"
của Ngọc Hân Công Chúa, tất cả có tính chất Việt Nam chút nào đâu? Đọc những
áng thi ca kia, chúng ta như lạc vào khung cảnh xa xưa của thời quân chủ nước
Tàu.
Còn thơ của nhóm thân hữu vợ chồng ông Đông Hồ như Bùi Khánh Đản, Hư Chu, Cao Tiêu, Đan Quế, Thanh Vân, Phương Hồ và các nữ sĩ trong Thi Đoàn Quỳnh Dao thì sao? Có điều rõ rệt nhất là quý bà Quỳ Hương, Uyển Hương, Thu Nga, Vân Nương, Như Hiên, Đinh Việt Liên, Phượng Tần... đôi khi có thêm Mộng Tuyết và Tuệ Nga trong thi đoàn này khi làm thơ thất ngôn bát cú thì như chỉ có một người làm ra: ngôn từ, ngữ pháp, khí hậu, ý tưởng trong thơ của họ y chang như nhau. Thơ của các bà lẫn thơ các ông này là loại thơ được chăm sóc từng câu, lau chùi và giồi mài từng chữ, thêu thùa những bông hoa ngữ pháp diêm dúa để trở thành toàn bích về hình thức. Nhưng có nhiều trường hợp, họ gặp hiệu quả trái ngược: cái gì khéo qua chẳng những không có cái duyên đậm đà mà lại còn thiếu truyền cảm, thiếu tâm huyết và linh hồn. Hàm răng giả đều đặn và bóng lộn hơn hàm răng thật, nhưng khi gắn vào miệng thiếu răng của một trung niên mỹ phụ nào đó, nó làm cho nụ cười của đương sự nhăn nhở và không được thuận nhãn. Thơ tân cổ điển của những nhà thơ mà tôi vừa kể chẳng những lạc loài giữa thi ca lãng mạn, thơ hiện thực, thơ trừu tượng, thơ siêu thực bên kia chân trời Âu Châu tuần tự nhập cảng qua Việt Nam mà còn bị thơ thấm nhuần tinh túy Việt Nam lấn át nữa.
Trước khi làm thơ tân cổ điển trên đất nước tự do của Miền Nam Việt Nam sau Hiệp
Định Genève, bà Mộng Tuyết làm thơ lãng mạn vì vào thập niên 30 của thế kỷ 20,
đó là cao trào loại thơ này:
Một nàng tiên nữ đẹp như em,Là một bài thơ, một quả tim,Là áng hồng non, làn gió lướt,Là hoa xuân thắm, bóng trăng đêm.Thi sĩ, em ơi, đó lại làNgười đi theo dõi bóng tiên nga,Ước mơ, yêu thích và ca ngợi,Những cái mà em đã có thừa.("Em Trả Thù", trang 179)Trước khi cuộc chiến tranh Đông Dương bùng nổ, cảm thấy giữa cơn biến chuyển của
lịch sử mà mình không đáp lời sông núi thì... chậm tiến quá. Cho nên bà Mộng
Tuyết làm thơ hiện thực qua "Muời Khúc Đoạn Trường" dễ làm rung động
cho những ai có lòng xót xa với trận đói ngoài Bắc Việt vào năm Ất Dậu (1945).
Xin đọc hai đoạn đầu của bài thứ 6 "Hấp Hối Đợi Chờ".Tai mới nghe kia lòng thổn thức,Xác người xe nhặt buổi ban mai,Còn bao nhiêu nữa đang quằn quại,Hấp hối chờ cơm hơi mỏn hơi?Gốc rạ, cọng rơm vơ mót sạch,Giây khoai, củ chuối: món cao lương,Vỏ cây, giây lá không còn nữa,Đất trụi, đồng trơ nuốt thảm thương.(trang 340)Thơ hiện thực ở trên đây thấm nhuần chất sống thực. Cái màu mè riêu cua vắng
bóng. Tuy nhiên cái sống thực ở đây không có chất sáng tạo nên nó thổi bay tan
tác chất thơ trong ngôn ngữ dành riêng cho thi ca. Tuy nhiên bài thơ có dáng dấp
mới hơn thơ tân cổ điển, nhưng đứng bên thơ tân cổ điển, nó chỉ là cô thôn nữ
quần bô áo vải đứng bên cô đào hát ăn mặc cổ trang để đóng tuồng Tàu. Cho nên
bà xoay qua thơ chiến đấu. Đó là một loại thơ hiện thực có nhiều ngữ pháp và
ngôn từ bừng bừng tráng khí làm hơi thơ lẫn vóc dáng thơ mới mẻ hơn:Kết chặt hàng đi dưới bóng cờ,Trời Nam giành lại nước non xưa,Tưng bừng vận mới hồn trai trẻ,Một khối nghìn thu vững cõi bờ.Lửa đỏ ấm vui lòng cố quốc,Nắng vàng hanh rạng cảnh biên thùy,Gió lộng xôn xao lá quốc kỳ.("Dưới Cờ", trang 304)Loại thơ này trong thời kỳ Nam Bộ Kháng Chiến có Vũ Anh Khanh, Thẩm Thệ Hà,
TrúcKhanh, Ái Lan... tiếp hơi. Sau đó, vào hai chính thể Cộng Hòa ở miền Nam Việt
Nam, có Hoàng Phong Linh hoặc Phạm Lê Phan ( qua thi tập "Chiến Ca")
nối gót. Ra hải ngoại đã có Bắc Phong, Vũ Kiện, Lê Khắc Anh Hào và nữ sĩ Ngô
Minh Hằng cố gìn giữ tàn hơi loại thơ này, không để cho vang bóng bạc nhược của
nó tắt lịm.Truớc năm1975, Uyên Thao đã gạt phắt Mộng Tuyết Thất Tiểu Muội ra khỏi "Những
Nhà Văn Nữ Việt Nam"; có lẽ vì ông Thao không chịu được cái cổ kính, cái
trang đài trong các bài tùy bút của bà. Ra hải ngoại, nhà văn Võ Phiến bỏ rơi
bà khi hoàn thành bộ "Văn Học Miền Nam". Có lẽ, ông Võ không thích
cái vẻ mệnh phụ kiểu cách trong văn chương của bà chăng? Cách đãi lọc của hai
ông danh sĩ này kỹ quá nên đẩy văn chương bà lùi sâu vào bóng tối đặc sệt dưới
đáy vực thời gian mà quên cái công trình trước tác rất tận tụy của bà gần ba phần
tư thế kỷ.Chúng ta cũng đừng quên bà MộngTuyết Thất Tiểu Muội là phụ nữ đầu tiên viết văn
xuôi có nghệ thuật đã xuất hiện trên văn đàn nữ giới rất quạnh quẽ đìu hiu vào
thập niên 30 của thế kỷ 20 vừa qua. Song song bà, có hai bà Tú Hoa và Đoàn Tâm
Đan, nhưng bà Đoàn Tâm Đan không đủ tài năng và nghị lực để xuất hiện lâu trên
văn đàn, còn bà Tú Hoa dù có quyển tiểu thuyết "Bóng Mơ" đoạt giải Tự
Lực Văn Đoàn đi nữa, nhưng về sau lại bà Tú Hoa xoay qua viết tiểu thuyết diễm
tình, mở đường cho hai bà Lan Phương và Tùng Long làm mưa làm gió trong giới độc
giả bình dân ở Miền Nam Việt Nam . Sau bà Mộng Tuyết ít lâu, có Thụy An và Mộng
Sơn, rồi kế đó là Nguyễn thị Vinh và Linh Bảo. Công khai phá của bà đâu phải nhỏ!Bài giới thiệu này không nhằm mục đích đòi các nhà biên khảo và các nhà phê
bình trả lại công bình cho bà nữ sĩ của đất Hà Tiên với hồ thơ núi mộng kia.
Nhưng bút giả hy vọng nó sẽ rọi sáng đâu đó cái tài viết dã sử tiểu thuyết của
bà (qua quyển "Nàng Ái Cơ Trong Chậu Úp") không thua tài sáng tác
Nguyễn Triệu Luật (qua quyển "Bà Chúa Chè"). Còn về nghệ thuật viết
tùy bút, bà đứng bên cạnh Nguyễn Tuân và Xuân Diệu tuy có thua kém vài phân,
nhưng như trường hợp hoa mai đứng trên tuyết, trên băng. Sắc hoa không thể đọ sắc
trắng trong của băng, của tuyết, nhưng hoa vẫn còn một chút hương đượm phảng
phất mơ hồ.Văn chương trải qua nhiều trào lưu, nhiều trường phái. Bà Mộng Tuyết xuất thân
từ lò Nam Phong Tạp Chí nên bút pháp bà vẫn vướng vít vài nét cổ kính, câu văn
bà đôi lúc không tránh khỏi thói biền ngẫu réo rắt nhàm tai. Cho nên văn thơ của
bà có thể đã không còn ai hưởng ứng, chiêm ngưỡng nữa. Không một nhà văn nữ nào
chịu nối gót theo bà. Nhưng đọc văn chương của bà, chúng ta hãy tự đặt mình vào
thuở tiền chiến, vào thời kỳ mà Hoàng Ngọc Phách viết cuốn "Tố Tâm', vào
thời kỳ Nhất Linh viết quyển"Nho Phong", và vào thời kỳ mà độc giả mê
say hai quyển"Tuyết Hồng Lệ Sử" và "Ngọc Lê Hồn" của Từ Trẩm
Á (Trung Hoa) được dịch ra Việt ngữ. Đó là thời kỳ văn chương nước nhà chưa có
văn phạm (grammaire) dựa trên văn phạm Tây phương để chỉnh đốn câu văn sao cho
trong trẻo, sáng sủa, đơn giản, đôn hậu. Cho nên bút pháp của văn nghệ sĩ tiền
phong trong đó có bà Mộng Tuyết không đạt đuợc gọn gàng truyền cảm nên không đi
sâu vào khiếu thưởng ngoạn và tâm hồn người đọc. Bù lại, văn chương của bà
phong phú hình ảnh và nườm nượp cái thú tiêu khiển phong lưu tao nhã của cổ
nhân.Và hãy dùng niềm cảm thông chia sẻ để mở những cánh cửa đã từng đóng chặt tâm hồn
và thú thưởng ngoạn của chúng ta. Có được như thế, phong vị dịu dàng của văn
chương bà Mộng Tuyết tràn vào nội giới chúng ta như ánh nắng tươi non hoặc ánh
trăng sáng mát tràn vào căn buồng u tối.Chương HaiBình Nguyên LộcTổng Quan Văn Chương Vùng Đất Đồng NaiĐất đai man rợ, rừng rú hoang vu càng làm cho những cây bút
văn chương thẽm khởi hứng. Và từ đó, những tác phẩm viết về quê hương đất nước
của họ bỗng sáng lên cảm hứng kỳ diệu bất ngờ, khả năng sáng tác của họ thêm sắc
thái lộng lẫy tinh khôi. Vào thời Phục Hưng, dưới triều đại Đệ Nhị Đế Quốc của
Hoàng đế Nã-phá-luân Đệ Tam, nữ sĩ George Sand là ngôi tinh đẩu rực rỡ trong
văn giới qua các cuốn tiểu thuyết đồng quê như "La Petite Fadette",
"La Mare Au Diable", "François Le Champi"... Tuy nhiên quê
hương Nohant thuộc vùng Perry của nữ sĩ chỉ là một vùng quê đầy huyền thoại thần
bí và truyền kỳ ẩn mật mà không phải là vùng đất mới khai phá trước khi bà mở mắt
chào đời. Nhưng vùng Cà Mau mà Sơn Nam đã có một thời gian cư ngụ, vùng Tân
Uyên Đất Bái là nơi sinh quán của Bình Nguyên Lộc trái lại có nhiều hoang địa,
chưa có gót chân dân khai phá đặt đến. Những nơi đó dĩ nhiên có nhiều cái huyền
bí thật quyến rũ, nhiều nếp sống lọt xa tầm ánh sáng văn minh. Chúng đem lại biết
bao vận sự kỳ thú cho hai nhà danh sĩ đất nước Nam Kỳ kia, để gây cho họ sự
nghiệp văn chương đồ sộ nguy nga.Văn chương của anh Sơn Nam lẫn của anh Bình Nguyên Lộc hào hứng tuyệt vời, vạm
vỡ sức sống của tiền nhân trong cuộc khai hoang lập ấp và bừng bừng khí phách
và anh linh của dân tộc thời xa xưa. Hai anh đẩy lui nữ sĩ Georce Sand vào lãnh
vực nhỏ trong bóng trăng thơ mộng và ánh nắng trữ tình của tiểu thuyết tâm lý
ái tình dùng đất quê làm bối cảnh. Còn hai nhà văn đồng bào đồng chủng của
chúng ta trái lại biến ngòi bút mình thành lưỡi đao thiêng hay thanh kiếm thần
để vạch cho độc giả đô thị một chân trời tráng lệ bao la trải dài tới miền Cực
Nam của đất nước.Văn chương biểu dương bản sắc thuần túy của Bình Nguyên Lộc là những truyện ngắn
được đưa vào các tập truyện "Nhốt Gió", "Ký Thác",
"Mưa Thu Nhớ Tằm", "Cuống Rún Chưa Lìa"... Đó là những tác
phẩm chắt lọc cái tinh hoa quý giá của thần trí sáng tạo của anh. Văn chương
trong đó nồng nàn tình yêu quê cha đất mẹ. Đôi khi cái nồng nàn đó lên tới mức
độ sôi nổi nên anh không làm chủ được ngòi bút của mình. Do đó văn chương ấy trở
nên bộc tuệch, trống trải, cường điệu, bộc lộ cá tính Nam Kỳ. Cái bộc lộ ấy
chưa chắc là cái khuyết điểm hay nhược điểm gì. Trái lại, nó làm cho sự diễn đạt
tình ý của anh thêm minh bạch, thêm tươi rói và cực kỳ quyến rũ. Anh để mặc cho
tâm sự mình phơi bày hở hang, trần truồng, không ngụy trang, không úp mở. Độc
giả đa số không cần ở văn chương anh cái mánh khóe tiềm ẩn hay cái phong niêm
tinh xảo để làm cho sự diễn tả được hàm súc và ý nhị. Họ chỉ cần tấm lòng tươi
son bền sắt của anh đối với quê hương của anh. Có như thế, họ mới vùi dưới lớp
tro tàn của thời gian cái tình cảm nồng cháy và đượm đà của họ như mẻ than ngún
lửa hồng không bao giờ tắt đối với nơi chôn nhau cắt rún của họ. Tấm lòng anh
cũng có thể tượng trưng qua những loại cổ thụ chẳng hạn như cây đa, cây gỏ, cây
bồ đề, cây thùy dương, cây hoàng lan cắm rể sâu xuống mảnh đất để giao tiếp với
lớp nước trong mát bất tuyệt để cành lá chúng mãi mãi tươi xanh dù gặp cơn nắng
lũ đi nữa. Ơi là mảnh đất đã từng chứng kiến cái thời kỳ chúng chỉ là mầm cây
nhỏ chưa bén đất!Truyện ngắn viết về tình yêu đất trong sự nghiệp văn chương và trong cuộc bút
trình của Bình Nguyên Lộc nổi bật lên, như trên nền trời hồng ánh bình minh in
rõ nét rặng núi duyên dáng với sắc thúy màu lam êm dịu.Đây là tâm sự người thiếu phụ lấy chồng Pháp về thăm quê hương vào dịp cận Tết
trong truyện ngắn "Chiêu Hồn Nước" trong tập truyện "Cuống
Rún Chưa lìa" do Văn Nghệ(California, Hoa Kỳ) tái bản. Về Sài Gòn sau bao năm lìa quê theo chồng dị chủng,
nàng chẳng còn người thân thuộc nào nên nàng mướn một căn phòng ở khách sạn để
dọn bàn thờ và tranh ảnh đón xuân. Tuy nhiên, vào tối hăm chín tháng chạp, nàng
gặp một nhà thơ để có dịp phơi bày nỗi niềm của mình:... Năm đó em học ban Trung học Pháp Việt ở Sài Gòn. nhơn kỳ nghỉ hè, em về
quê, một làng hẻo lánh kia, rồi bị một nhóm quân nhân Pháp hiếp.Sợ gia đình em thưa kiện, chúng nó phao vu em rồi bắt em đi. Ra tỉnh bị giam một
thời gian thì em được thả, nhưng có còn gì nữa đâu mà quay về. Vừa lúc ấy thì một
sĩ quan Pháp phải lòng em và bao em.Em bằng lòng theo nó, vì cũng chẳng thiết làm lại cuộc đời, và một năm sau, đạo
quân viễn chinh rt lui, em theo y về bên ấy, và được y cưới luôn, rồi em xin
vào Pháp tịch.Hai năm đầu, em vui với được vài cảnh lạ, nhưng khi hay tin cha mẹ em qua đời,
em bỗng chạnh nhớ quê nhà.Ban đầu chỉ là nỗi nhớ nhung nhè nhẹ thôi. Nhưng càng ngày lòng sầu xứ càng sâu
đậm, em không chịu nổi nữa nên vào cuối năm 1958 ấy, em có dư chút ít, xin
thông hành với tư cách du khách về đây, cũng là cuối tháng chạp như năm nay.Không thể nào mà anh tưởng tượng nổi sự thèm khát quê hương của một kẻ vĩnh viễn
không hy vọng trở về như em. Thèm như là thèm món cá nướng chấm mắm nẹm, thèm hương
bưởi, thèm tiếng chuông chùa ngân nga vào buổi hoàng hôn, thèm cảnh cấy mạ vào
đầu mùa lúa. Thèm chết đi đuợc là vào lúc gần Tết, tức là khoảng đầu năm dương
lịch. Nhớ Tết như nhớ nhà, nhớ nước, bởi vì Tết là sum họp gia đình.("Chiêu Hồn Nước", trang 48)Tình yêu quê hương của Bình Nguyên Lộc càng rõ rệt hơn, như vầng trăng rằm sáng
nguy nga treo trên nền trời đêm màu thúy lam tối đậm. Xin đọc tâm sự một bà già
nhà quê vì ly loạn nên phải ra sinh sống ở tỉnh thành, phải xài bếp dầu để nấu
nướng. Đây là đoạn trích trong cuộc mạn đàm giữa bà cùng con gái, chang rể và
con bé cháu ngoại của bà :...rồi má tôi chậm rãi tuyên truyền cho tôi nghe:- Nè, củi mỗi thứ mỗi khác đó nghe. Cùi bắp phơi khô để làm củi, thì ngọn lửa
xanh như lửa đèn cồn. Vỏ măng cụt phơi khô, chụm nó nổ lách tách y như than Cà
mau. Củi nhánh sao chết rụng trên vệ đường, nó cháy rồi tỏa ra cái mùi thời tiết
gió bấc về. Còn mầy biết củi gì thơm ngát hay không? Đó là dăm tiện.- Dâm tiện là gì má? Chồng tôi hỏi.- Muốn làm những vật dụng tròn như kiểu chơn bàn, chơn ghế kia chẳng hạn, thợ
tiện họ đưa cây vào máy tiện, cây nó mới tròn trịa đều đặn được, chớ thợ mộc
tài nào mà trau giồi cho nó tròn. Các món tiện, luôn luôn là vật dụng quí mến
nên được làm bằng thứ gỗ quí: trắc, cẩm lai, huỳnh đàn, cho nên dăm tiện nó
thơm dữ lắm, thơm cái mùi hỗn hợp đủ loại gỗ mắc tiền. Loa củi đã thơm mà hình
thù nó cũng hay lắm. Nó cháy lên, mình thấy được, chớ vô hình như loa đèn dầu.
Nhìn ngọn loa cũng ngộ, nhìn màu loa còn ngộ hơn...("Loa Tết", các trang 66, 67)Về bút pháp, Bình Nguyên Lộc dùng phấn nội đồng bình đạm để làm món trang sức.
Còn về ngôn ngữ, anh áp dụng ngôn ngữ vùng miền Nam Kỳ Lục Tỉnh tối đa. Thỉnh
thoảng, anh đệm nhưng chữ uyên bác nhưng thông dụng vào ngôn ngữ mộc mạc căn bản
dành cho khẩu khí và ngôn ngữ của thị dân, còn thứ ngôn ngữ thuần túy quê rít
quê rang thì dành cho thôn dân. Trong khi đó, Lê Xuyên gán vào miệng cho các
nhân vật đủ mọi lứa tuổi (nam phụ lão ấu), đủ mọi tánh nết (dữ, hiền, ôn nhu,
kiêu mạn, lẳng lơ...), hoặc đủ thành phần trong xã hội (hạng lương gia, hạng
dân tứ xứ, hạng trưởng giả, hạng đàng điếm) cái ngôn ngữ tràn đìa ngữ pháp, thổ
âm, tiếng lóng đặc biệt Nam Kỳ. Cả hai trái hẳn cách sáng tạo ngôn ngữ của Nhất
Hạnh: Đức Phật hay một vị Hiền Thánh Tăng nào hoặc một đạo sư nào, một bậc tể
quan hay một kẻ lê dân nào... một khi chui vào quyển "Đường Xưa Mây Trắng"
của đương sự là họ trổi lời ỏn ẻn của nàng sủng phi dùng để nhõng nhẽo với đấng
quân vương. Cái ông Thiền sư này không chịu nhập vào vai trò qua cách ăn nói.
Đương sự không bao giờ thoát khỏi cái lưới làm dáng làm duyên trong khi viết đối
thoại trong văn chương.Ở bài viết về nhà văn Bình Nguyên Lộc cho quyển "Náo Nức Hội Trăng Rằm"
này tôi xin trích bài "Tổng Quan Về Sự Nghiệp Văn Chương Của Bình Nguyên Lộc"
của tôi đã đăng trên nguyệt san Văn Học số 18 (tháng 7 năm 1987) và dùng cái tựa:
"Bình Nguyên Lộc, Tổng Quan Văn Chương Vùng Đất Đồng Nai" cho toàn
bài. Tuy nhiên tôi nhuận sắc và gia giảm mắm muối vào một vài chỗ theo nhu cầu
suy tư và cảm nghĩ hiện thời của tôi.Nhà văn Bình Nguyên Lộc chết vào ngày 7-3-1987, mãi một tuần
sau Nguyễn Hữu Nghĩa ở Gia-nã-đại và chị Vi Khuê cùng anh Cho Bá Anh ở Hoa-thịnh-đốn
mới cho tôi hay. Tôi thành thật tiếc thương anh cũng như tôi giận cho cái số phận
đen đủi của mình. Tôi muốn hỏi anh về tin tức của các nhà thơ gốc người Nam đã
từng viết văn làm báo với anh, hiện còn kẹt a quê nhà như các anh Dương Tro La
(nhà văn), Trương Đạm Thủy (nhà văn), Hà Liên Tử (nhà thơ), Anh Tuyến (nhà
thơ), Anh Việt Thanh (nhà thơ). Những nhà văn, nhà thơ đó vào thập niên 50, tôi
đã từng mến mộ, dù văn tài, thi tài của họ chưa đủ sức thoát ra khỏi sự thờ ơ của
độc giả để đằng vân vào văn đàn, thi đàn. Trên Văn Học số 15 (tháng 4/1987); a
truyện ngắn "Chiêu Hồn Nước"), Bình Nguyên Lộc có trích vài đoạn thơ
của Hà Liên To, có lẽ thơ của Hà tiên sinh không hợp thời, không hợp sa thích với
khách yêu thơ nữa, nhưng đó là tiếng vọng thời mới lớn của tôi, vào năm 1952,
1953 thì phải. Chưa kịp hỏi thì anh Lộc đã từ trần!Tôi đọc văn của Bình Nguyên Lộc từ năm 1948, khi tôi vào ngưỡng cửa trung học tỉnh
Vĩnh Long (trường Collège de Vinh Long, dạy chương trình Pháp). Rồi vào năm
1956, tôi đọc một vài truyện ngắn của anh trên tạp san Văn Hóa Ngày Nay do Nhất
Linh chủ trương như "Bàn Tay Sáu Ngón", "Hồn Ma Cũ"...Giữa lúc tôi mê xem truyện của bà Tùng Long, bà Tú Hoa, Dương Hà, Ngọc Sơn,
Thanh Thủy, Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Mẫn thì truyện ngắn của Bình Nguyên Lộc
cho tôi một vài ý niệm mới: thế nào là một tác phẩm nghệ thuật? Người Nam Kỳ
thua đó viết được truyện dài, truyện ngắn, nhưng chưa hề biết viết văn, họ chỉ
biêt kể chuyện. Trừ Bình Nguyên Lộc, chỉ có Phi Vân là có thể viết truyện ngắn
có tính chất nghệ thuật mà thôi: đó là tập truyện "Đồng Quê". Sau
"Đồng Quê", Phi Vân viết thêm vài truyện dài như "Cô Gái
Quê", "Tình Quê" lại... hỏng. Đó chỉ là những cuốn tiểu thuyết
dùng để giải trí mà thôi.Cũng thế, Bình Nguyên Lộc rất thành công về truyện ngắn hơn là truyện dài. Chính
ở truyện ngắn, anh có thể biểu duơng văn tài của anh. Chỉ có truyện ngắn mới tạo
cho anh một chỗ đứng vững chắc và sáng sủa trên văn đàn. Chính nhờ âm vang và ảnh
hưang tốt đẹp của tập truyện "Nhốt Gió", ở vài truyện ngắn
đăng trên Văn Hóa Ngày Nay, độc giả mới ưu ái anh, sẵn sàng đón tiếp nồng nhiệt
quyển truyện dài "Đò Dọc" ra đời vào năm 1959 và cuốn truyện
dài "Gieo Gió Gặt Bão" ra đời vào năm 1960.Tôi đã từng theo dõi hành trình các tác giả gốc người miền Nam trước Bình
Nguyên Lộc sát nút. Họ kể truyện dài, truyện ngắn phom phom, trơn láng, duyên
dáng tuyệt vời, quyến rũ rất nồng đượm. Kể truyện là thuật lại sự việc, chứ
không dựng được một cảnh sống. Người kể truyện chỉ nói trực tiếp sự việc, thí dụ:
Buổi sáng, cô Lan đi chợ. Người viết văn thì không thể luời biếng như vậy. Ông
ta dựng ngay cái khung cảnh buổi sáng từ nhà cô Lan đến chợ. Ông ta còn tả chân
dung cô Lan, dáng điệu, co chỉ cô Lan và ông ta lại còn tả cảm nghĩ của cô Lan
về buổi sáng, về khung cảnh chợ nữa. Nhà văn là kẻ đi chậm hơn người kể chuyện
rất nhiều. Ông ta là kẻ rị mọ cũng như người thợ kim hoàn trong việc chạm trổ
các món nữ trang. Ông ta dựng cảnh sống chưa đủ, còn phân tách tâm trạng nhân vật
song song với công trình phân tích sự việc. Chính ở "Đò Dọc", độc giả
miền Nam đã thấy Bình Nguyên Lộc đã có viết văn. Anh viết lưu loát, ngon ơ cũng
như các bà Tú Hoa, Tùng Long, Lan Phương cùng các anh Việt Quang, Ngọc Sơn,
Thanh Thủy, Trọng Nguyên, Dương Hà, Nguyễn Ngọc Mẫn, Ngọc Linh, Sĩ Trung, kể
chuyện tuồn tuột, trơn như mỡ, láng như dầu.Đã 27 năm qua, trong ký ức tôi như in rõ nét cảnh anh chàng Long và cô Hồng
trong "Đò Dọc" hẹn hò nhau, ngắm sao băng trên nền trời đêm để cùng thề
ước nhau. Và tác giả còn tả tỉ mỉ hơn lúc cô gái tên Quá cầm mấy viên thuốc ngủ
để quyên sinh. Anh phân tích tâm trạng cô ta chi li sắc bén... Lúc đó, tôi còn
là học sinh tỉnh lẻ. "Đò Dọc" là cảnh sống cô đơn của bốn chị em
Hương, Hồng, Hoa, Quá tại một vùng noa chợ noa quê nằm bên quốc lộ từ Sài Gòn
xuôi về Biên Hoà. Vậy mà nhờ tai nạn xe cộ của một chàng tên Long, trừ cô Hương
yên phận gái già ra, ba chị em kia bắt đầu yêu đương liều lĩnh, tuy sự liều
lĩnh kia vẫn ngoan ngoãn nằm yên trong khuôn nếp lễ giáo... Cảnh ghen tương, ẩu
đả, thất vọng xảy ra sau lưng ông cha bà mẹ cho tới khi cô Út tên Quá quyên
sinh và được cứu sống. Sau hết, truyện kết thúc bằng ba cuộc hôn nhân của ba cô
Hồng, Hoa, Quá với 3 cậu thanh niên thuộc giai cấp trung lưu trong đó có chàng
Long. Chàng vốn là nạn nhân của tai nạn xe cộ, đã từng gây sóng gió trong lòng
ba cô em của cô Hương... Nhưng sau rốt, chàng kết hôn với cô Hồng, kẻ mà chàng
yêu đương chân thành. Tác giả chỉ chừa cô chị lớn cô Hương) để cô a lại nhà săn
sóc cha mẹ.Tiếp theo truyện "Đò Dọc" là truyện "Gieo Gió Gặt Bão" cũng
chỉ là cuốn tiểu thuyết tâm lý ái tình, cảnh chung sống của bộ ba, một ông hai
bà... Cuốn đó không thể thắp sáng văn tài Bình Nguyên Lộc được. Phải đợi tới tập
truyện "Ký Thác" với hai truyện "Rừng Mắm,
"Ba Con Cáo" mới làm rúng động văn giới. Truyện ngắn "Rừng
Mắm" rất sâu sắc trong công việc nêu cao tình đất, chẳng những ma cho đất
nước một chiều dài thênh thang mà còn nuôi ngọn loa hy vọng về tương lai huy
hoàng của những kẻ khai hoang khẩn đất. Truyện "Ba Con Cáo" thắp sáng
thiên lương và tình người, gây niềm tin yêu cho độc giả về khía cạnh tích cực
và tốt đẹp của con người dù xã hội và hoàn cảnh đẩy đưa nhân vật vào hành vi phản
phúc, dối trá, lọc lừa."Bóng Ai Ngoài Song Cửa" là cuốn tiểu thuyết phỏng theo ba va kịch
"Marius", "Fanny" và "César" của Marcel
Pagnol. "Xô Ngã Bức Tường Rêu" là cuốn đả phá giai cấp và đề
cao tình yêu. "Uống Lộn Thuốc Tiên" là cuốn tiểu thuyết mô
tả cuộc sống lứa đôi giữa người vợ trẻ măng và người chồng luống tuổi, qua bao
chứng nghiệm đau thương cả hai yêu nhau chân thành. "Hoa Hậu Bồ
Đào" mô tả cô gái đẹp lăn xả vào cuộc đời phồn tạp quá sớm.Thành công về truyện ngắn (phương diện nghệ thuật), Bình Nguyên Lộc lại cho
trình làng tập truyện "Tâm Trạng Hồng". Ở đây nồng độ nghệ thuật
bị pha loãng vì đây là chỉ là những chuyện hài hước qua những truyền thuyết của
kẻ trà dư tou hậu hoặc của những bà ngồi lê đôi mách, xen vào đó là những vở
hài kịch ngắn, chứng tỏ khiếu trào lộng bén nhạy nhưng không thâm thúy của tác
giả. Lại nữa, anh không gây một dư âm, một chút suy nghĩ nào cho độc giả sau
khi họ xếp quyển sách ấy lại.Những truyện dài của Bình Nguyên Lộc hết 99% đều đăng theo thể thức từng kỳ
(feuilleton) trước khi đăng thành sách. Khi xuất hiện từng kỳ trên báo, tác giả
không tránh khỏi theo thói viết đối thoại cù nhây cù nhằng, tức là anh kéo dài
lời ông qua và lời bà lại một cách thừa thãi và vô bổ. Khi in thành sách, anh cắt
xén bớt những câu đối thoại vô thưởng vô phạt lẩn những câu nhì nhằng. Nhưng
quyển sách vẫn không sạch sẽ gọn gàng, vẫn như mảnh đất hãy còn những bụi hoang
đầy cành lá rườm rà, những cỏ dại bụi gai, không để cho những hoa thơm ý tuang
không có thêm chỗ đất trống để trổ sắc tưng bừng hơn và tỏa hương ngào ngạt
hơn. Những Ngọc Linh, Sĩ Trung, Dương Trử La đã theo bước chân anh thì chẳng
nói làm gì vì họ là những cây bút đứng bên ngoài văn học sử. Nhưng Túy Hồng, Thụy
Vũ, Văn Quang, Thanh Nam cũng làm những gì Bình Nguyên Lộc đã làm thì họ hy
sinh quá nhiều nghệ thuật tính. Càng kéo dài đối thoại, họ càng pha lợt pha
loãng cái phẩm chất của quyển sách. Nhưng Lê Xuyên thì khác, càng kéo dài cuộc
đối thoại, anh càng thắp sáng cái mãnh lực mầu nhiệm ngôn ngữ đất Nam Kỳ Lục Tỉnh,
càng khơi bừng bừng ngọn loa thiêng của những kẻ yêu ngôn ngữ trên đất nước quê
hương được khai phá do cuộc Nam Tiến của dân tộc.Viết fauilleton là phải nhắm vào tâm lý và thị hiếu của quần chúng. Giới bình
dân Nam Kỳ vốn thích chuyện nhơn quả, chuyện oán trả ơn đền, chuyện ngồi lê đôi
mách, chuyện hài hước theo kiểu hề giễu trên sân khấu ca kịch cải lương, chuyện
tôn vương hòa hiệp của các nhân vật chánh diện sau bao phen hoạn nạn tai ương.
Vì vậy, Bình Nguyên Lộc có hai loại độc giả: nhóm thức giả có kiến thức trên
trung bình và nhóm độc giả thuộc giới bình dân dùng văn chương để giải trí. Cả
hai loại độc giả đều ủng hộ truyện dài của anh hết mình.Tôi cần nhấn mạnh kẻo quí vị độc giả hiểu lầm. Không phải mỗi truyện dài của
Bình Nguyên Lộc hoàn toàn là truyện giải trí, loại mua vui cũng được một vài trống
canh đâu. Anh viết truyện dài với tất cả ý thức của một nhà văn chân chính song
song với việc nuông chiều thị hiếu của quần chúng độc giả. Đó là điều khó khăn
nhất cho người cầm bút. Vì sao? Thị hiếu quần chúng hầu như không đi đôi với
nghệ thuật. Viết mà chú trọng nhiều về nhân sinh quan, về tâm lý nhân vật, luôn
cả nếu tác giả tả cảnh, ta người, tả sự việc quá chi ly tỉ mẩn thì đương sự sẽ
làm cho độc giả không có sa tri phong phú về văn chương đâm ra mệt hốc hác khờ
khạo. Còn viết ướt át, lâm ly, phi thực tế để nâng niu giấc mơ lố bịch hoặc o bế
hoài bão cà chớn của giới độc giả hoang tư?ng ? tầng lớp hạ lưu trong xã hội tức
là tác giả nếu không cuỡng dâm nghệ thuật thì cũng xử lăng trì ngòi bút của
mình không chút xót xa. Vậy mà Bình Nguyên Lộc vẫn nắm vững lối viêt đầy nghệ
thuật tính, vẫn chiều theo khiếu thư?ng ngoạn của độc giả để tên tuổi mình vẫn
vừa sáng vặng vặc trên văn đàn vừa đi sâu vào quãng đại quần chúng.Trong bán thập
niên cuối của thập niên 50 và trong suốt thập niên 60. Bình Nguyên Lộc là một
nhà văn "populaire" (phổ thông) nhất. Đừng ai đỏng đảnh cho rằng những
nhà văn "populaire" là nhà văn nếu không thuộc loại viết tiểu thuyết
ba xu (như loai tiểu thuyết Harlequin) thì cũng là thứ nhà văn xoàng xĩnh, tài
năng chai cứng và sượng ngắt. Điều nầy hoàn toàn không đúng với Bình Nguyên Lộc,
nhất là với nhà văn Georges Simenon của nền văn chương nước Pháp. Ông này đã
cho xuất bản trên 400 tác phẩm, đa số là loại trinh thám (những cuộc điều tra
án mạng của ông Cò Maigret). Nhưng bên số lượng phồn thịnh của tiểu thuyết
trinh thám thuộc loại siêu cấp đó, ông ta vẫn viết những tác phẩm văn chương,
thí dụ như cuốn tiểu thuyết tâm lý "Chỉ Là Những Cây Hạnh Đào"
("Il n'y avait que les noisetiers"). Đã đành Bình Nguyên Lộc viết
truyện ngắn cho những người sành điệu văn chương, nhưng anh đâu phải viết truyện
dài chỉ dành riêng biệt cho dành cho giới bình dân? Truyện dài của anh đã dựng
được những cảnh sống (hoạt cảnh, phong cảnh, cảnh ngộ) lại còn vẽ được những
nhân vật sống thực, và hơn nữa tác phẩm truyện dài của anh còn chứa đựng nhiều
nhân sinh quan sắc sảo, rất cận nhân tình. Ngòi bút anh vì chiều theo độc giả
bình dân cho nên trong các truyện dài của anh hầu như không có bối cảnh đồng
quê, không có những nhân vật thôn dân, mà lại có khung cảnh thị thành, khung cảnh
noa chợ noa quê với các thị dân từ bực trung lưu tra lên. Giới độc giả bình dân
lam lũ vốn nhàm chán cảnh nghèo hèn của họ. Đọc quyển sách có khung cảnh đồng
quê, có khung cảnh xóm chòi lá vách đất với những nhân vật cày sâu cuốc bẳm hay
các nhân vật mua thúng bán bưng thì họ đâm ra nản lòng vì họ phải nhìn sâu vào
hoàn cảnh sẫm buồn của họ. Còn khi đi xem hát bội hay hát Hồ Quảng, họ cốt ý muốn
được xem tuồng tích có cảnh trí huy hoàng với lâu đài tráng lệ, cung điện nguy
nga, có y quan lộng lẫy, có các nhân vật quý tộc như hoàng đế vương hầu, hoàng
hậu quý phi, tể quan khanh tướng, công nương quận chúa... Họ đâu muốn cảnh đời
hiện tại của họ hiện rõ trên trang sách phơi ma hay được dựng trên sàn gỗ sân
khấu khi bức màn nhung chẻ đôi và vén ra. Bình Nguyện Lộc khi viết truyện dài
biết đưa họ lạc vào cảnh giàu sang của giới thượng lưu hay cảnh đầm ấm thoải
mái của giới trung lưu được ánh sáng văn minh soi đến, nhưng đáng quý nhất là
anh nếu không viết được truyện dài xuất sắc thì cũng giữ cho cái phẩm chất của
chúng vào bậc trung, chớ không để chúng rớt xuống loại tiểu thuyết ba xu hạ cấp.Bên cạnh những truyện dài "Ái Ân Thâu Ngắn Cho Dài Tiếc Thương",
" Nhện Chờ Mối Ai", “Trâm Nhớ Ngàn Thương” (Trâm chớ không
phải Trăm, ở đây cô Trâm và cậu Ngàn thương nhớ nhau), Bình Nguyên Lộc viết một
truyện dài thuộc về bịnh ly hồn chứng (l'amnésie) mô tả chuyện một người bị tai
nạn xe hơi quên hẳn quá khứ trong đó có gia đình mình. Anh ta xây dựng một cuộc
đời khác, có vợ con khác. Rồi một tai nạn khác xảy đến: anh ta bị một kẻ cướp đập
vào đầu một cú đau điếng. Anh ta vụt nhớ lại quá khứ cũ, gia đình cũ nên tìm về
vợ con cũ. Họ đều tưang anh đã chết trong tai nạn xe hơi hồi trên 20 năm trước;
người vợ trước đã đi lấy chồng khác, các con dòng truớc đã trưang thành. Họ
nhìn anh ta bỡ ngỡ xa lạ, không thể cùng anh ta ráp lại những mảnh tan vỡ cũ để
tái lập một gia đình đấm ấm và nguyên vẹn như xưa. Sau cùng, anh ta tra về gia
đình hiện tại, sống trong cảnh hạnh phúc hiện tại. Truyện dài nầy có vẻ đặc sắc
hơn mọi truyện dài khác.Bình Nguyên Lộc trong những năm 1965, 1966, 1967 cộng tác với những tạp san văn
nghệ đứng đắn trong đó có tạp san Văn (do Nguyễn Đnh Vượng làm chủ nhiệm, do Trần
Phong Giao rồi tới Mai Thảo làm chủ bút) bằng những truyện ngắn mà anh viết cho
anh để hoài niệm quê hương, để sống trong tình yêu đất. Trên tạp san Hương Quê,
truyện ngắn của anh đưa độc giả tra về từng vùng quê, từng cảnh ngộ dân quê một
cách thích thú... Những truyện ngắn đó đuợc anh lần lượt đưa vào các tập truyện "Mưa
Thu Nhớ Tằm", "Tình Đất" và "Cuống Rún Chưa Lìa".Truyện dài của Bình Nguyên Lộc gặt thêm một thành công khác. Vào năm 1972, điện
ảnh gia Lê Dân chọn truyện "Một Nàng Hai Chàng" của anh để
quay thành phim "Hồng Yến" với các tài to Kiều Chinh, Tâm Phan và Trần
Quang. Nhưng điều đó chưa gây tiếng vang inh ỏi và sâu rộng trong văn giới bằng
cuốn phóng sự của anh nhan đề "Những Bước Lang Thang Trên Hè Phố Của
Gã Bình Nguyên Lộc". Anh đã đổi thực đơn cho độc giả vào năm 1966, nhưng vẫn
tiếp tục viết feuilleton. Mãi đấn năm 1973, Bình Nguyên Lộc bắt đầu tung ra hai
cuốn biên khảo là "Nguồn Gốc Mã Lai Của Dân Tộc Việt Nam" và "Lột
Trần Việt Ngữ". Đó là kết quả công trình do nhiều năm anh cặm cụi sưu tầm
tài liệu và là kết quả công việc nghiên cứu một cách say mê.Ai cũng vậy, hễ cầm bút viết về một nhà văn tiền bối nào, hoặc
về một cây bút trưang thượng nào là đương sự thích tế sống hơn là tế chết người
được viết. Thiệt tình, trong vài bài đăng a Văn, Làng Văn, tôi đã từng tế sống
anh Bình Nguyên Lộc. Tôi có dè đâu chưa đầy một năm, tôi lại phải viết một bài
tuang niệm vong linh anh coi như một nén nhang đốt tiễn đưa anh về bên kia thế
giới.Dù tôi có thay đôi nhiều lượt, nhiều phen về quan niệm văn chương, nhưng sự
nghiệp văn chương của anh và công trình sưu khảo của anh đã đóng góp cho văn
hóa dân tộc biết bao món trân bảo ngoạn mục. Và khi đọc truyện "Ký
Thác" của anh, tôi như sống lai cái thời thanh xuân rực rỡ nhất của tôi,
cái thua mà song song với niềm say mê quyển sách ấy, tôi theo dõi những truyện
dài mà anh đã đăng trên các nhật báo để rồi thực hiện thành hai cuốn tiểu thuyết
"Đò Dọc" (mà anh đã đoạt Giải Thưang Văn Học Nghệ Thuật Toàn quốc vào
năm 1960) và "Gieo Gió Gặt Bão"... Đây là lần đầu tiên các độc giả miền
Nam được đọc một tác phẩm văn chương đúng nghĩa dưới hình thức quyển tiểu thuyết
của một tác giả gốc Nam Kỳ. Vậy tiểu thuyết là gì, nếu không là phản ảnh đời sống
của một nhóm nhân vật có những sợi dây liên hệ tình cảm trói buộc với nhau? Đời
sống đó được tác giả nhìn ngắm, tư duy và phơi bày cho độc giả thư?ng thức qua
cái nhân sinh quan cá biệt của tác giả, qua cả niềm rung cảm của ông ta. Các
tác giả như các bà Tú Hoa, Tùng Long, Lan Phương, các anh Ngọc Sơn, Thanh Thủy,
Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà, Trọng Nguyên, Dương Tro La, Ngọc Linh, Sĩ Trung...
đa số đều viết truyện tình cảm gay cấn, éo le với những nhân vật được mô tả sơ
sài về mặt tâm lý. Trừ bà Tú Hoa, bà Lan Phương, các anh Thanh Thủy, Dương Tro
La, Ngọc Linh, Sĩ Trung chịu khó sáng tác, còn các tác giả kia thường phóng tác
tiểu thuyết và phim ảnh ngoại quốc. Bà Tùng Long và anh Ngọc Sơn đa số phóng
tác các loại truyện tiểu thuyết ba xu như Nous Deux, Harlequin. Anh Dương Hà
phóng tác các danh phẩm của Emily Bronte, Margaret Mitchell, nhưng anh Dương lại
giản lược những đọan tả cảnh, tả tình, tả nhân sinh quan. Anh Nguyễn Ngọc Mẫn
phóng tác theo các cuốn phim Ý-đại-lợi thuộc loại thương mãi nổi tiếng ăn khách
trong hai thập niên 40, 50 với các tài to Âu Châu hạng B vang danh như Marta
Toren, Gianna Maria Canale, Eleonora Drossi Drago, Yvonne Sanson, Nadia Gray...
(nữ), Amedéo Nazzari, Ettore Manni, Jacques Sernas, Pierre Croissoy... (nam) .
Anh Trọng Nguyên phóng tác các cuốn phim Tàu được hảng Việt Hoa Văn Hóa Hợp Tác
Công Ty Điện ảnh lồng tiếng hoặc các cuốn Tàu phim do hảng Mỹ Vân và hảng Mỹ Phương
chuyển âm. Đó là các cuốn phim gây tên tuổi chói rực của các tài to Vương
Nguyên Long, Vương Hảo, Nghiêm Tuấn, Hoàng Hà, Bình Phàm, Trương Anh, Trương
Dương, Lôi Chấn, Triệu Lôi, Tăng Giang... (nam), Lý Lệ Hoa, Bạch Quang, Lý Mi,
Trần Vân Thường, Hồng Tuyến Nữ, Tố Thu, Lưu Kỳ, Lưu Luyến, Âu Dương Sa Phi, Bạch
Dương, Hạ Mộng, Cát Lan, Trần Quyên, Trương Trọng Văn... (nữ). Độc giả không
tìm được trong tác phẩm các nhà văn Trọng Nguyên, Nguyễn Ngọc Mẫn, Dương Hà, Ngọc
Sơn và bà Tùng Long một cảnh sống linh động nào, một quan niệm sống nào mới mẻ,
tươi rói. Do đó chúng tra thành những tác phẩm dành cho quần chúng giải trí để
rồi họ quên long trong các cuộc mưu sinh phồn tạp.Miền Nam vào thời chiến tranh Đông Dương có 3 nữ tiểu thuyết gia, nổi tiếng nhất
là bà Tú Hoa, bà Tùng Long và bà Lan Phương. Bà Tú Hoa trước đó, vào thời tiền
chiến đã đoạt giải Tự Lực Văn Đoàn qua cuốn tiểu thuyết "Bóng Mơ".
Sau đó, bà viết them vài cuốn tiểu thuyết nữa cũng khá ăn khách, tuy nhiên
không hiểu sao bắt đầu từ năm 1964, bà ngưng viết luôn. Rồi đó, vào thua cuộc
chiến tranh Đông Dương bùng nổ, sự xuất hiện của bà Tùng Long (gốc người Quảng
Nam, nhưng sinh sống lâu năm trong Nam) qua các quyển "Lầu Tỉnh Mộng",
"Nhị Lan", "Giang Sơn Nhà Chồng" gây náo nhiệt trong quần
chúng thuộc giai cấp trung lưu Nam Kỳ hơn. Nhưng bà Tùng Long vốn ưa văn dĩ tái
đạo hơi nhiều, làm cô giáo bất kỳ khi viết tác phẩm nào nên thét rồi độc giả
hơi nhàm. Đúng lúc đó tên tuổi bà Lan Phương vụt sáng lên. Bà viết rất có ý thức,
các nhân vật bà rất người, có tánh tốt trà trộn tánh xấu. Đặc biệt nhất bà viết
về tánh ghen tương ganh ghét của đàn bà thiên hình vạn trạng nên văn chương bà
rất hấp dẫn. Còn cô Hoàng thị Như Mai qua quyển"Hai Dòng Con", cô
Thanh Tùng vốn là tác giả các quyển "Sống Trên Nhung Lụa" và "Một
Tâm Hồn Trong Sương Lạnh", Tô Hằng Nữ Sĩ với quyển "Ái Tình và Sắc Đẹp"
đều không không phải là đào chính cống, mà là là thứ đào lộn hột, chu choa ơi,
lộn tới hai hột, trời ạ. Cho nên trong một sớm một chiều họ chuồn êm ra khỏi
làng văn trận bút. Cũng như các nhà văn Ngọc Sơn, Thanh Thủy, Dương Hà, Trọng
Nguyên, hay nhóm nhà văn vào thua Nam Bộ Kháng Chiến, ba nữ sĩ Tú Hoa, Tùng
Long, Lan Phương viết văn bằng giọng văn Bắc Nam pha trộn, nhưng rất mềm dịu du
dương với ngôn ngữ dân đô thị lúc viết nhật ký hay lúc viết thư tâm sự hay thư
tình. Thế có nghĩa dù viết văn không có chêm những tiếng nhỉ, nhé, ư, ạ, eo ơi,
thảo nào, thế à... nhưng ngôn ngữ được xo dụng rất trung tính (neutre), không
phảng phất sương khói ngôn ngữ Bắc Kỳ, không vết điêu khắc giọng văn Huế, không
đậm đặc ngôn ngữ Nam Kỳ.Tiểu thuyết của Bình Nguyên Lộc không kén độc giả bao giờ. Văn phong anh dí dỏm,
tương đối khá Nam Kỳ (thứ ngôn ngữ Nam Kỳ a đô thị). Ý tình anh trong sáng, ít
có dấu vết khách sáo qua nét thêu thùa chạm khắc; thế có nghĩa là ý tình trong
các tác phẩm của anh xuề xòa, bộc trực được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ tượng
thanh lẫn tượng hình. Cái cai ma khả ái đó, chúng ta có thể thấy trong truyện
ngắn "Ba Con Cáo", ở cảnh nhà cửa lấn vào đất nghĩa trang.Người sống còn biết đau lòng khi phải dẫm lên những gò mả còn mới rành rành
(nhiều mộ bia thánh giá đề năm chôn 1951) nhưng ác thay, họ cũng biết lạnh. Cho
nên họ cất nhà trên những nấm đất ấy, nhưng người chết thứ lỗi, miễn là có chỗ
núp mưa, thế thôi.Không bao giờ kẻ sống và người chết lại sát cánh nhau đến thế. Ông đã chết rồi,
ông choán đất làm chi cho nhiều, trong khi tôi không có một vuông đất nhỏ mà cắm
cột gỗ, vậy ông thứ lỗi nhé. Rồi ngày sau tôi hoàn đất lại cho ông vậy mà; trần
gian nầy chỉ là cõi tạm thôi, tranh nhau làm gì.
Ở truyện ngắn "Rung Cây Dừa", những hình ảnh đặc sắc được tác giả
vẽ từng nét rõ vào ấn tượng độc giả:
Giữa những cù lao trong quần đảo Củ Tron là những vuông biển nhỏ im lặng như mặt
hồ. Bơi xuồng trên bao nhiêu là hồ ấy, đi từ đảo nầy qua đảo kia là một thú vui
vô song nhắc nha nguời xưa chu du năm hồ bốn biển, cảnh Từ Thức chèo thuyền chợt
gặp Đào nguyên.Nhứt là những hòn đảo nầy là những hòn non bộ thiên nhiên mà trong đất liền,
nghe nói, ai cũng thèm nhểu nước miếng.Đảo đá vôi lồi lõm những gộp đá hình thù kỳ dị, những hang non hiểm hóc và những
động là là mặt nước trông như coa động Đào; gộp đá vôi thì mỗi gộp mỗi màu,
trên ấy mọc lên những lùm cây mà hình dáng cằn cỗi như cổ thụ, và tất cả soi
bóng in hình một cách trung thành, đầu lộn ngược, trên mặt biển đang nhạt màu
trời và phẳng như gương.Văn phong, bút pháp tượng thanh của Bình Nguyên Lộc có thể được thể hiện?
trang đầu truyện ngắn "Lầu 3 Phòng 7":Uc... ục... ục... uột...Quỳnh vội bịt lỗ tai lại. Chàng rất sợ tiếng nước a bồn roa mặt của phòng bên cạnh.
Nó kêu như ai ăn phải của khó tiêu, bị sôi ruột kêu ột ột. Đáng ghê nhứt là cái
tiếng "uột" sau cùng, kéo dài bất tận.Ở đây có những tiếng động khiếm nhã khác nữa. Đó là tiếng đế giày nện lên gạch,
tiếng nước cầu xí, tiếng đờn vĩ cầm của ai mới học kéo ọ ẹ suớt ngày.Trong sự nghiệp văn chương của Bình Nguyên Lộc gồm các truyện ngắn lẫn truyện
dài của anh, ngoài việc phân tích tình đời và tâm trạng các nhân vật thì văn
phong anh cũng chỉ tung hoành ngoạn mục a hình thức ngoài 3 đặc tánh ấy mà
thôi.Bối cảnh, khí hậu trong đa số tác phẩm của Bình Nguyên Lộc,
phần nhiều khác biệt với bối cảnh và khí hậu trong các tác phẩm của Sơn Nam. Trừ
truyện ngắn "Rừng Mắm" và truyện ngắn "Rung Cây Dừa" thì hầu
hếu hết truyện dài lẫn truyện ngắn khác của Bình Nguyên Lộc đều lấy bối cảnh a
Biên Hòa, Bình Dương, Lái Thiêu, Tân Uyên, Đất Bái, tức là miền Đông Bắc của thủ
đô Sài Gòn. Còn Sơn Nam thì lấy bối cảnh miệt Cực Nam đất nước như Chắc Băng,
Cà Mau, U Minh Thượng, U Minh Hạ (các cuốn "Hương Rừng Cà Mau",
"Hai Cõi U Minh", "Vọc Nước Giỡn Trăng"), hoặc lấy bối cảnh
a chốn hải giác thiên nhai từ mũi Cà Mau trông ra biển như cuốn "Vạch Một
Chân Trời", cuốn "Bà Chúa Hòn".Những truyện ngắn viết về quê hương đất nước trong quyển "Hương Rừng Cà
Mau" của Sơn Nam đều hay, quan niệm sống của tác giả được gán vào miệng của
lớp người khai hoang khẩn đất đều cập nhân tình, vốn sống của tác giả rất phong
phú. Nhưng truyện ngắn "Rừng Mắm" của Bình Nguyên Lộc dĩ nhiên dẫu
thua các truyện ngắn ấy về tài liệu sống, thua những cái kỳ bí lạ lùng a trên
vùng đất Hậu Giang. Nhưng nó trội hơn a chỗ gợi cho chúng ta niềm ngậm ngùi
thương cảm về đức hy sinh cao cả của lớp người tiền phong tìm đất mới, a cái
dũng mãnh kiên cường của chí khí dân tộc, a niềm tin rực rỡ của lớp hậu sinh về
đất nước mai sau nối thêm chiều dài trên biển Nam Hải. Nhân vật chánh là cậu
trai mới lớn tên Cộc sống với ông nội và tía má cậu a rạch Ô Heo, một vùng cùng
thôn tuyệt tái của đất Nam Kỳ. Trước khi vào truyện, họ đã đến đây khẩn đất. Cộc
lớn lên, đang lúc thể chất phát triển vì lao tác nên thèm ăn chè và thèm được bậu
bạn với một cô gái trang lứa. Nhưng đất a đây chưa thể trồng mía được nên không
có ai làm ra đường. Lại không có gia đình lân cận nào nên không có một cô gái
trang lứa với cậu nên cậu muốn bỏ đi tìm vùng thổ ngơi nào có chè lẫn có gái. Cậu
thấy cây mắm mọc lơ thơ ven biển cho rằng đó là thứ cây vô tích sự, cho nên ông
nội cậu giải bày như sau:- Bờ biển nầy mỗi năm được phù sa bồi thêm cho rộng ra bằng mấy ngànthước. Phù sa là đất mềm lủng và không bao giờ thành đất thịt được để ta hưang,
nếu không có rừng mắm mọc trên đó cho chắc đất. Một khi kia mắm sẽ ngã rạp. Giống
tràm lại nối ngôi nó. Rồi sau mấy đời tràm, đất thuần, cây ăn trái mới mọc được.Thấy thằng cháu nội ngơ ngác chưa hiểu, ông cụ vịn vai nó mà tiếp:- Ông với lại tía con là cây mắm, chơn giẫm trong bùn. Đời con là đời tràm,chơn vẫn còn lấm bùn chút ít, nhưng đất đã gần thuần rồi. Con cháu của con sẽ
là xoài, mít, dừa, cau.Đời mắm tuy vô ích, nhưng không uổng, như lính ngoài mặt trận vậy mà. Họ ngã gục
cho kẻ khác là con cháu họ hưang.Con, con sắp được hưang rồi, sao muốn bỏ mà đi. Vả lại con không thích hy sanh
chút ít cho con cháu của con hưang hay sao?Trước năm 1975, đa số truyện dài của Bình Nguyên Lộc đều lấy bối cảnh ở đô thị.
Còn Sơn Nam có cuốn "Hình Bóng Cũ" chỉ lấy bối cảnh đô thị ở phần
chót, còn hai phần đầu lấy bối cảnh ở miền quê đất nước Hậu Giang. Nhưng riêng
quyển "Chim Quyên Xuống Đất" thì lấy hoàn toàn cảnh đô thị
để dựng nên cái phông cho sự diễn biến câu chuyện. Rất tiếc, các phê bình gia,
các học giả chỉ ca tụng quyển "Hương Rừng Cà Mau" của anh mà bỏ rơi
hai kiệt tác phẩm ấy. Chính ở hai quyển nầy, Sơn Nam mới bừng trổ cái tài hoa dựng
truyện và thần trí sáng tạo của mình a những chất liệu dựng truyện không đặc sắc.
Ở đây, độc giả mới thương cảm lớp thanh niên bỏ học để tham gia vào lịch sử
trong cuộc chống Pháp. Rồi sau Hiệp Định Genève, họ sống bơ vơ lạc loài vì lỡ vận
ở Miền Nam Việt Nam bằng nghề cầm bút; cuộc mưu sinh không lóe lên một viễn ảnh
tươi sáng, một tương lai đảm bảo nào. Họ ngơ ngác trước cuộc đời dâu bể, trước
khúc quanh lịch so, trước thế sự thăng trầm. Hai cuốn này vẫn là hai cột trụ
trong văn nghiệp của Sơn Nam, ăn đứt các truyện dài của Bình Nguyên Lộc. Vì
sao? Những tác phẩm truyện dài của Bình Nguyên Lộc đa số là truyện tâm lý ái
tình, không phản ảnh đến biến chuyển của thời cuộc, của thế hệ lớp người trưang
thành trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, không vẽ được
các bức tranh xã hội trong các thập niên 50, 60 và 70. Ngoài ra, nhân vật chính
trong hai quyển truyện dài của Sơn Nam bị guồng máy vận mệnh tổ quốc đẩy đưa
vào cảnh ngộ thương tâm, lỡ khóc lỡ cười; trong khi đó những nhân vật của Bình
Nguyên Lộc có nếp sống vật chất đầy đủ hơn, nên tâm cảnh của họ không bị xáo trộn
nhiều về các tấn thảm kịch trong cuộc sinh hoạt chung quanh họ. Điều dễ hiểu là
Sơn Nam đã tham gia vào cuộc kháng chiến chống Pháp, có lý tưang về quốc gia
dân tộc. Dù anh lầm đường lạc lối theo bọn Việt Minh, dù lý tưang anh có đặt
sai chỗ chăng nữa, nhưng cuộc đời lăn lóc của anh bao năm a khu 9 (một mật khu
vùng Hậu Giang của bọn Việt Minh) cũng tạo cho anh nhiều cơ hội sống chung với
dân quê, sống trong vùng tân bồi miền Cực Nam đất nước. Anh có thể suy nghĩ nhiều
những điều mà những kẻ có cuộc sống an phận thủ thường a đô thị trong đó có
Bình nguyên Lộc không có điều kiện lẫn cơ hội nghĩ ra.Chọn đô thị làm bối cảnh cho truyện ngắn, Bình Nguyên Lộc thêm một lần nữa
thành công về phuơng diện nghệ thuật ở truyện ngắn "Ba Con Cáo". Đây
là câu truyện xảy ra tại nghĩa trang hoang vu, có nhiều vài kẻ lác đác cất chòi
là để cư ngụ. Trong số đó có một người đàn ông trốn pháp luật, một ả gái điếm
trốn lính kiểm tục. Đó là hai con cáo theo nghĩa bóng vì họ khôn lanh quỷ quyệt,
cái quỷ quyệt đó do xã hôi và hoàn cảnh phong trần dày dạn của họ tạo ra. Kẻ thứ
ba là con cáo thứ thật, chuyên bắt gà vịt trong xóm và đào hang ở gần chỗ của hắn
ta trú ngụ. Vì ở chỗ tha ma mộ địa, hắn ta và y thị tỏ bày tâm sự với nhau. Còn
con cáo vì được hắn ta đuổi chó săn để cứu sống nên nó tỏ ra thân thiện với họ.
Nhưng họ không dám chui ra khỏi nghĩa trang để kiếm sống. Quá đói lòng, hắn ta
giết con cáo thứ thiệt để cùng y thị đỡ dạ. Nhưng rồi vì không đào ra được cái
ăn, cho nên y thị đi tố cáo hắn để nhận tiền thư?ng. Tuy nhiên, khi y thị tra về
trơ trọi một mình tại nghĩa trang, nhìn chỗ cả hai nằm thức thâu đêm để tâm sự
với nhau, y thị bỗng cảm thấy không khí sao mà quá quạnh quẽ thê lương. Cùng
lúc đó, thiên lương trong sáng tra về với y thị:Chị ôm mặt khóc òa, rồi lẩm bẩm van vái lầm thầm:- Trời Phật ơi, Chúa ơi, tha tội cho tôi, ngày mai tôi ra khỏi chỗ này và ra khỏi
vực đen của đời tôi nữa.Gặp phút xuất thần Bình Nguyên Lộc viết khá nhiều truyện ngắn tuy không bằng
"Rừng Mắm" và "Ba Con Cáo", nhưng rất chứa chan tình người
và thắp sáng thiên lương nhân loại và niềm tin yêu đối với cuộc đời. Như tôi đã
nói, anh thành công về truyện ngắn hơn thành công ở truyện dài. Nhưng chính những
truyện dài tâm lý ái tình của anh dù có giảm thiểu phẩm chất nghệ thuật ít nhiều,
nhưng chúng lại hợp với cảm quan của giới độc giả thích dùng văn chương để giải
trí; bai đó mà chúng đuợc họ ái mộ nồng nhiệt. Cho nên bất cứ quyển truyện dài
nào của anh dù chưa được xuất bản mà chỉ được đăng từng ngày trên nhật báo cũng
thu hút độc giả mãnh liệt. Cho đến nỗi dân ở Lục Tỉnh mỗi ngày phải ra bến xe
đò, đợi xe cha báo về, chộp lấy bào nào có đăng truyện theo thể thức feuilleton
của Bình guyên Lộc đọc trước cho sốt dẻo, trước khi đọc các tiết mục khác.Như thế, Sơn Nam chỉ khua động trên văn đàn và thắp sáng niềm ái mộ của giới
sành điệu trong khi đó Bình Nguyên Lộc đuợc mọi giới nhiệt thành ủng hộ và
chiêm ngưỡng.Kể từ tháng 7 năm 1987 tôi viết bài "Tổng Quan Về Sự
Nghiệp Văn Chương của Bình Nguyên Lộc" cho tới nay (vào cuối tháng 8 dương
lịch năm 2007) thì đã hơn hai mươi năm trôi qua. Nhìn trước ngoảnh sau, tôi nhận
thấy một điều: về phương diện sáng tác, Bình Nguyên Lộc được nhắc nh? nhiều qua
truyện dài "Đò Dọc" cùng hai truyện ngắn "Rừng Mắm" và
"Ba Con Cáo". Nhưng "Đò Dọc" thật sự chưa phải là cái tinh
túy trong số lượng phồn thịnh của tác phẩm anh. Nó chỉ là một chai lọ thủy tinh
được Giải Thưởng Văn Chương Nghệ Thuật Toàn Quốc như ánh mặt trời soi rọi đến
nên mới chiếu sáng hơn các truyện dài khác được tượng trưng qua các món ngoạn hảo
bằng pha lê quý giá hơn. Tập truyện "Nhốt Gió" của anh là con chim én
báo tin xuân. Còn tập truyện "Ký Thác" trong đó có hai truyện ngắn
"Rừng Mắm" và "Ba Con Cáo" mới là mùa xuân huy hoàng thật sự
trong văn chương của anh. Hơn thế nữa, "Rừng Mắm" đã là một nén nhang
tạ ơn công lao người dựng đất, làm cho lớp hậu sinh chúng ta cảm khái hơn.Bình Nguyên Lộc viết văn bằng cái trong sáng của thiên lương. Anh không làm
dáng trong bút pháp và văn phong nhiều (trừ những cuộc đối thoại của những kẻ
tân học). Anh không muốn bày trò rắc rối tối tăm trong cách cấu trúc tác phẩm
và cách dàn xếp nội dung của nó. Cho nên anh không cho độc giả có thời giờ và
cơ hội để suy nghiệm những gì anh viết. Anh cứ phóng bút tới tấp một cách thống
khoái. Anh cứ giải thích tuồn tuột và xôn xao những điều ẩn mật của tác phẩm
mình. Anh không cho độc giả tìm gặp cái ý tình thâm trầm cần phải có của một
cây bút có ý thức về thẩm mỹ. Anh không tạo đuợc cái mênh mông thăm thẳm của
câu truyện. Điều này, anh chứng tỏ cái tánh hồn nhiên khả ái của người Nam Kỳ
nói chung, cái bộc trực của đa số cây bút gốc Nam Kỳ nói riêng.Lại nữa trong ba tập truyện "Mưa Thu Nhớ Tằm", "Tình Đất"
và "Cuống Rún Chưa Lìa", Bình Nguyên Lộc cứ kêu gào nỗi nhớ quê, cứ ó
ré tình quê cha đất tổ. Sự khơi dậy cảm xúc bị nhiều lượt lắm phen đem ra triễn
lãm trưng bày một cách suồng sã hớ hênh như thế đã lần hồi nếu không làm tắt
nghẹn thì cũng chận ngăn ít nhiều mạch cảm xúc của độc giả đi. Nếu anh bỏ bớt cái
tánh chất nồng nàn đến chỗ sa đà thái quá của người Nam Kỳ đi thì sự truyền cảm
sâu đậm hơn, thấm đượm hơn.Trong cuốn "Văn học Miền Nam Tổng Quan", Võ Phiến
có viết:Cá tính văn học miền Nam là điều không thể phủ nhận, và nó rất hấp dẫn. Sự phát
huy bản sắc miền Nam là một đóng góp thật quan trọng vào nền văn học Việt Nam.
Đâu có phải chuyện gì xấu xa đâu mà vội khỏa lấp.Về sắc thái đặc biệt, điều nhận thấy trước nhất là những từ ngữ địa phương, những
cách nói riêng của địa phương. Từ ngữ riêng của miền Nam thật nhiều, càng ngày
càng lộ ra nhiều. Trước 1954, dĩ nhiên nó vẫn phong phú, nhưng nó không hay xuất
hiện trên sách báo, thậm chí trong tự điển là nơi lẽ ra phải tập trung đầy đủ
tiếng nói dân tộc, cũng không có được bao nhiêu tiếng địa phương miền Nam. Lúc
bấy giờ địa vị của tiếng nói miền Nam hãy còn khiêm tốn, ngay những học giả người
miền Nam vẫn còn ngần ngại chưa muốn đưa những tiếng cà tàn, cà ràn, chiếc nóp,
lục cụ v.v... vào sách. Sau nầy mỗi lúc các ông Bình Nguyên Lộc, Lê Xuyên mới
trình ra, tuôn vô số, chừng ấy mới biết là chúng ta còn có cả một kho vô tận chữ
nghĩa mấy trăm năm chưa xài đến! Chuyện đó thì "mắc mớ" gì tới tui?
Tui thì "kể số" gì? Tui có ăn nhậu gì "trỏng" đâu nà? Ôi
nghe lạ mà vui biết bao nhiêu!Vào thời tiền chiến, trong các nhà văn nhà thơ gốc miền Nam đã chối bỏ ngôn ngữ
miền Nam như Đông Hồ, Mộng Tuyết thì đã có Nguyễn Chách Sắt, Lê Hoằng Mưu (bút
hiệu Mộng Huê Lầu), Hồ Biểu Chánh. Lại thêm một vương tôn gốc Huế là Nguyễn
Phúc B?u Đình vì sống trong Nam đã lâu và lấy vợ người tỉnh Gò Công nên khi viết
hai quyển "Cậu Tám Lọ" và "Mảnh Trăng Thu" bằng giọng Nam
và ngôn ngữ miền Nam đặc sệt. Hồ Biểu Chánh là một tiếng nói lạc lõng, lẻ loi ở
ngoài lề văn học sử, tác phẩm của ông chỉ được giới bình dân ở miền Nam đọc mà
thôi. Nhưng nhà phê bình Vũ Ngọc Phan là người sáng suốt. Khi thực hiện bộ sách
"Nhà Văn Hiện Đại" liền dành cho Hồ tiên sinh một chương khá tỉ mỉ với
lời nhận xét ưu ái qua cuốn "Cha Con Nghĩa Nặng". Trong khi đó, ông
Vũ gạt những bài du ký của Đông Hồ, những bài tùy bút của bà Mộng Tuyết và bà
Mai Huỳnh Hoa (lấy bút hiệu Quỳnh Hoa) qua một bên. Có lẽ Vũ tiền bối bị dị ứng
với lối ăn điệu đà thêu hoa dệt gấm của họ chăng? Bà Quỳnh Hoa là cháu kêu nhà
chí sĩ Nguyễn Đình Chiểu bằng ông cố, kêu nữ sĩ Sương Nguyệt Anh băng bà ngoại.
Bà là vợ nhà cách mạng Đệ tứ Cộng Sản Phan văn Hùm và cũng là mẹ ruột của kịch
tác gia Phan Tùng Mai.Phải đợi đến sự xuất hiện của Bình Nguyên Lộc trên văn đàn, thì giọng văn miền
Nam, ngôn ngữ miền Nam mới được chiếu cố khá nồng nhiệt. Nồng độ nhiệt thành
càng tăng thêm qua các tác phẩm của Sơn Nam và của nhà văn nữ Vân Trang tác giả
tập truyện "Một Lá Thư Tình"). Bà Vân Trang vào năm 1957 tới năm 1965
là một cộng tác viên cần mẫn trong ban biên tập của tạp san Bách Khoa, Mai. Đến
khi có sự xuất hiện của Lê Xuyên trên các nhật báo, qua loạt tiểu thuyết đăng từng
ngày như "Vợ Thầy Hương", "Chú Tư Cầu", "Rặng Trâm Bầu",
"Kinh Cầu Muống", "Xinh", "Nguyệt Đồng Xoài"
v.v... thì ngôn ngữ miền Nam được đương sự khai thác sung mãn và lộng lẫy.
Trong nhóm nhà văn trẻ a bán thập niên cuối của thập niên 60, chỉ có Nguyễn thị
Thụy Vũ gốc miền Nam viết văn miền Nam khá tới. Trong khi đó, Triệu Triệu, Tiêu
Kim Thủy, Hàn Song Thanh, Dương Tro La, Trương Đạm Thủy, Hoài Điệp To, Phương
Triều thì viết văn theo kiểu Bắc Nam lẩn lộn, rau muống trộn giá sống, mắm tôm
pha mắm sặt.Vậy thì Hồ Biểu Chánh là kẻ làm cho độc giả bắt đầu yêu thích lối viết văn miền
Nam, nhưng phải đợi 20, 30 năm sau, chính Bình Nguyên Lộc không cần mang cờ quạt,
biểu ngữ , nhưng vẫn làm cuộc hành trình vào ngôn ngữ miền Nam, gây nhiều tiếng
vang tốt đẹp và gieo niềm tin cho người cầm bút miền Nam để viết văn bằng ngôn
ngữ, bằng giọng điệu miền Nam.Vậy thì hễ nói tới ngôn ngữ và văn chương miền Nam là phải nghĩ ngay tới Bình
Nguyên Lộc cũng như nói tới sóng thì phải nghĩ ngay tới nước: Bình Nguyên Lộc
là sóng, cõi văn chương miền Nam là nước vậy.Bình Nguyên Lộc suốt 20 năm văn học miền Nam (1954 - 1975) đã lôi kéo (bằng ảnh
hưởng của văn chương anh) một số người cầm bút miền Nam viết văn rặc giọng điệu
và ngôn ngữ miền Nam như Sơn Nam, Lê Xuyên, Huyền Phong Tử (tác giả quyển tiều
thuyết "Ông Xã Hòa"), hai bà Vân Trang và Nguyễn thị Thụy Vũ. Anh còn
quyến rũ nhiều nhà văn gốc Bắc như Nguyễn Hoạt, Vũ Bằng, Thanh Tâm Tuyền, Nhật
Tiến, Viên Linh, Nguyễn Thụy Long, những nhà văn gốc Trung như Võ Phiến, Nguyễn
văn Xuân, Phan Du viết văn theo phong cách văn miền Nam. Trong số này thì có Võ
Phién, Thanh Tâm Tuyền, Viên Linh và Phạm Hồ viết rất vững vàng. Còn những nguời
khác thì viết ba trật bốn vuột, nhưng cũng tếu đậm như các cây bút Nam Kỳ chính
cống, cũng toát ra cái phong thái hào sảng, cái vẻ phơi phới thật quyến rũ. Thật
tình, Bình Nguyên Lộc không bao giờ cổ võ, hô hào ngôn ngữ miền Nam gì ráo. Anh
cũng chẳng xúi giục, dụ dỗ ai hết. Nhưng văn chương miền Nam dưới ngòi bút anh
và nhất là của Lê Xuyên rất tượng hình, tượng thanh, duyên dáng lạ kỳ, dễ
thương độc đáo dễ lôi cuốn các cây bút miền Bắc có lòng với ngôn ngữ miền Nam.Trong cuốn "Văn học Miền Nam tổng quan", nhà văn Võ Phiến có viết:... Có thể nói tất cả sáng tác của Bình Nguyên Lộc, Ngọc Linh, Sơn Nam, Vũ
Bình, Nguyễn thị Thụy Vũ đều chú trọng vào nếp sống, vào xã hội, phong tục miền
Nam. Và đó là cả một lãnh vực tân kỳ phong phú. Chúng ta đã có miền Nam từ ba
trăm năm, nhưng người Việt miền Bắc miền Trung mấy ai biết về đời sống trong
Nam trước "Rừng Mắm" của Bình Nguyên Lộc, "Hương Rừng Cà
Mau" của Sơn Nam. Những sáng tác như thế ma ra trước con mắt của đồng bào
khắp nước một thế giới vừa thân yêu, vừa mới lạ biết chừng nào. (trang 32)Viết về đất nước miền Nam, bằng ngôn ngữ văn chương miền Nam, Bình Nguyên Lộc lẫn
Sơn Nam viết bằng cả tâm tư. Động lực nào thúc đẩy họ? Hãy nghe Võ Phiến cũng
trong cuốn "Văn Học Miền Nam Tổng Quan" phân trần như sau:... Nhất là những tác giả như Bình Nguyên Lộc như Sơn Nam, vốn tha thiết với
quê hương rất mực. Một vị "chuyên trị" miền Đông, một vị "chuyên
trị" miền Tây, một vị chiếm lĩnh Tiền Giang, một vị Hậu Giang, họ đi sâu
vào cuộc sống, vào lịch so địa phương, phát huy cái hay cái lạ làm cho miền Nam
càng ngày càng bày ra những cái quyến rũ không ngờ. Những "Đò Dọc",
"Rừng Mắm", "Ba Con Cáo", "Hương Rừng Cà Mau, "Thổ
Ngơi Đồng Nai", "Tìm Hiểu Đất Hậu Giang" v.v... của họ đã hay,
sa dĩ càng hay là vì sự thưang thức đầy cảm tính và khích lệ của đồng nghiệp
Trung và Bắc... (trang 34)Cuộc nội chiến Quốc Cộng đã giới hạn tầm mắt của thị dân, đã đưa một số trưởng
giả chốn hương thôn ra định cư a các thành phố, đã đóng khung cõi văn chương đa
số người cầm bút. Những nhà văn trang lứa với bút giả như Trần Hoài Thư, Y
Uyên, Nguyên Vũ chỉ viết thôn quê qua các bối cảnh tiền đồn, những vùng xôi đậu,
những nơi có xảy ra các cuộc hành quân, các cuộc chạm súng. Cái thôn quên thuần
túy bị "chiến tranh hóa", bị "thời cuộc hóa" nên mất mát
nhiều bản sắc nguyên sơ. Chỉ có những người cùng lớp thế hệ với Bình Nguyên Lộc,
Sơn Nam, Lê Xuyên và có óc quan sát tinh nhuệ và có rung cảm sâu sắc như họ mới
viết được cảnh hương thôn trên dải đất Nam Kỳ Lục Tỉnh vào thua cựu trào va nhất
là vào thời tiền chiến mà thôi.Những lớp nhà văn hậu sinh của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Lê Xuyên tức là những
nguời gốc miền Nam thì chỉ có Xuân Vũ, Hồ Trường An là có thể lấy bối cảnh vào
thời tiền chiến. Vào thời tiền chiến, Xuân Vũ đã là một cậu trai mới lớn, trí
óc có thể thu nhận những gì mà mắt thắy tai nghe đang hoạt diễn trước mắt. Hồ
Trường An phải cậy nhờ sách vở, những câu chuyện kể của các bậc trưởng thượng
vì vào năm 1945 khi ngòi loa chiến tranh vừa ngún cháy toàn cõi Đông Dương thi
đương sự chỉ có 5 tuổi. Nhưng khi vừa vào trung học, đương sự ham học hỏi ở các
nông dân lão thành, a các khách thương hồ lịch duyệt, nhất lại nhờ ông thân
sinh Mặc Khải mà đương sự biết mọi cơ cấu hành chánh trong làng. Thua ấy trong
mỗi làng có ban Hương Chức Hội Tề gồm 12 hai vị: Hương cả, hương chủ, hương sư,
hương trưang, hương chánh, hương giáo, hương bộ, xã trưởng, huơng quản, hương
thân, hương hào và chánh lục bộ. Các ông kỳ lão từ hương cả cho tới hương chánh
là đại biểu tiếng nói của dân chúng trong làng. Họ chủ tọa các buổi lễ cúng
đình, cùng lễ kỳ yên (tức là lễ cầu an). Còn hương giáo thì phân xử việc kiện
cáo nho nhỏ xảy ra trong làng, trong xã, trong xóm. Hương quản coi việc an
ninh. Chánh lục bộ coi sổ hộ tịch: làm khai sanh, làm giấy khai to v.v... cho
dân làng, trước khi di chuyển công văn ra tổng, huyện, phủ, tỉnh. Lại có thêm
thầy thôn chuyên lo việc công nho (tức là ngân khoản tài chánh trong ban Hương
Chức Hội Tề). Ngoài ra, ban này cắt đặt thêm các ông hương nhứt, hương nhì,
hương việc để lo sắp đặt trà rượu, tiệc tùng khi có quan trên tới viếng. Ông
hương kiểm chuyên kiểm kê tài sản, ruộng vườn của làng, rồi giao tiền thu hoạch
cho thầy thôn. Ông huơng cúng chuyên việc mua sắm thực phẩm để dọn tiệc cúng
đình, cúng lễ kỳ yên: mua vài con heo để quay và nấu cháo lòng, mua nếp để dọn
hàng chục mâm xôi. Ngoài ra ông ta còn lựa hàng chục chình rượu và hàng chục thứ
linh tinh khác cho chú hương bếp điều khiển các phụ nữ trong làng nấu nướng.Làng thôn thời tiền chiến bước sang thời Đệ nhất Cộng Hòa biến thành xã ấp. Còn
ban Hương Chức Hội Tề biến thành Hội Đồng Xã. Vào thời Đệ nhị Cọng Hòa, trên
các tuyến đường quốc lộ, hưong lộ, các chòi canh thay thế đồn bót Nghĩa quân.
Các quận có chi y tế, chi Thông Tin, chi bưu điện. Duy đình làng vẫn còn đó.
Nhà việc làng dành cho ban Hương Chức Hội Tề trước kia thì giờ đấy tra thanh trụ
sa Hội Đồng Xã. Mỗi năm vẫn có lễ cúng đình, rước sắc thần từ nhà việc làng qua
đình bằng kiệu bông có hương án long trọng.Ở hải ngoại, các cây bút miền Nam viết truyện miền Nam như Nguyễn văn Sâm, Võ Kỳ
Điền, Nguyễn Tấn Hưng, Nguyễn Đức Lập, Phan thị Trọng Tuyến, chỉ viết về cảnh sống
ở tỉnh lỵ hoặc ở Thủ đô Sài Gòn. Nguyễn thị Ngọc Nhung có thể lấn sâu ngòi bút
vào thời chiến tranh Đông Dương, chị viết về những cuộc xung đột giữa Hoà Hảo
và Việt Minh dọc theo sông Hàm Luông. Kiệt Tấn viết cuốn truyện dài "Lớp Lớp
Phù Sa" a miệt Hậu Giang, chỉ kể chuyện sa đà mà không viết nổi khung cảnh
cuộc đất thấm phèn chua cùng con cá lá rau a đó. Ngô Nguyên Dũng viết về cuộc
chiến tranh giữa Pháp và Việt Minh ở miền Tiền Giang đất nước Nam Kỳ mà không
nói tới mặt trận Cao Hoà Bình (Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên). Bác sĩ Huỳnh Hữu
Cữu viết về cảnh thôn quê khi còn thơ ấu, nhưng sự thu thập kiến thức về khung
cảnh địa phuơng không được nhiều vì thua ấy, anh còn bé quá, óc quan sát chưa nẩy
na. Nguyễn văn Ba qua cuốn "Làm Mai, Lãnh Nợ, Gác Cu, Cầm Chầu" và
Phùng Nhân qua truyện dài "Vàm Cả Cao" chỉ viết miền quê Tiền Giang
vào hai thời Cộng Hòa. Trần Long Hồ với bộ trường giang "Dung Thân"
nói về cuộc đổi đời? miệt Hậu Giang sau cơn quốc nạn 30/4/1975. Sĩ Liêm với
hai tập truyện "Tình Nghĩa Thầy Trò", "Những Mảnh Đời Chắp
Vá" thì viết về nếp sinh hoạt ở Thủ đô Sài Gòn sau ngày Việt Cộng bạo chiếm
miền Nam, đôi khi đương sự viết về miền quê ngoại của mình nằm bên sông Vàm Cỏ
Tây.Những kẻ sinh ra vào 5 năm chót của thập niên 30 tra về sau thật sự đánh mất
thôn quê nguyên sơ, thuần túy huống hồ là những nhà văn sinh vào thập niên 50.
Dù không viết được một thôn quê tiền chiến, song ngôn ngữ miền Nam, văn chương
theo giọng điệu miền Nam mà Bình Nguyên Lộc khai công dựng lại trên cái nền tảng
của Hồ Biểu Chánh đã hướng dẫn các cây bút gốc miền Nam a hải ngoại kết thành một
lực lượng hùng hậu. Xin kể thêm các nữ sĩ gốc Nam Kỳ Lục Tỉnh như Song Thi với
tạp bút "Dỗ Giấc Đêm Dài", Hoàng Dược Thảo với quyển "Tiểu
Thư", Hồng Lan với tập truyện "Như Khói Lam Buồn", Dư thị Diễm
Buồn với các quyển tiểu thuyết "Chân Trời Hạnh Phúc", "Trong Lâu
Đải Kỷ Niệm", "Xa Bến Thiên Đường", "Vén Màn Sương Mộng",
"Ngoài Ngưỡng Của Chiêm Bao", "Một Góc Trời Thôn Dã".., Việt
Dương Nhân với hai tập truyện "Gió Xoay Chiều"và "Đàn Chim Việt"
v.v...Đa số những kẻ viết về Bình Nguyên Lộc chỉ nói tới sự nghiệp văn chương và sự
nghiệp biên khảo của anh rất nhiều, nhưng họ không nói tới (hoặc nói rất ít ảnh
hưởng của anh trong công việc viết văn bằng giọng điệu ngôn ngữ miền Nam. Thật
là một sự thiếu sót! Cái ảnh hưởng ấy vẫn còn theo chân một số người cầm bút gốc
miền Nam di tản ra bốn phương trời hải ngoại. Văn chương của họ thao thức mãi trong
cõi thưang ngoạn của độc giả kiều bào đã từng sống ở Miền Nam Việt Nam từ sông
Bến Hải tra vào (gồm người Bắc di cư và người Nam bản xứ). Văn chương ấy kéo
dài mãi trong niềm khao khát những kẻ yêu mến một miền đất nước tự do dân chủ
xa xưa, nơi ấy nồng ấm tình người, phong phú con cá lá rau, tràn đìa món ngọt
ngọt bùi bùi thấm đượm quốc túy quốc hồn .Và có quá ngắm lắm hay không vì nó chỉ
kéo dài trên 20 năm mà thôi?Chương BaNguyễn Thị Thụy Vũ với quyểntruyện dài "Khung Rêu""Khung Rêu" là một truyện dài trong 10 tác phẩm
của Nguyễn Thị Thụy Vũ, đã đoạt giải Văn Học Nghệ Thuật Toàn Quốc vào năm 1971,
đánh dấu thời huy hoàng của các cây bút nữ lưu như Nguyễn Thị Vinh, Linh Bảo,
Thanh Phương, Minh Đức Hoài Trinh, Minh Quân, Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn Thị
Hoàng, Nguyễn Thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Lệ Hằng, Trần Thị NGH (Trần thị Nguyệt
Hồng), Nguyễn Thị Ngọc Minh, Ngô Thị Kim Cúc...Quyển sách do Kẻ Sĩ xuất bản vào năm 1969. Sau đó, dưới chế dộ Xã Hội Chủ
Nghĩa, nó được tái bản cùng với quyển truyện dài "Chiều Xuống Êm Đềm";khi
tung ra hải ngoại nó được bán đắt như tôm tươi. Vào năm 2000, nó lại được Văn
Nghệ tái bản lần thứ hai, nhưng cách trình bày cẩu thả, sơ sót nhiều lỗi chính
tả và nhiều lỗi sơ xuất khác làm cho câu văn hoặc câu đối thoại có ngôn ngữ Bắc
Nam ba rọi, đọc lên nghe lố bịch và buồn cười. Cho nên đọc giả sành điệu không
còn cảm thấy thú vị nữa khi lao từ trang đàu tới trang cuối. Chúng ta không thể
ngờ một nhà xuất bản nổi tiếng ở hải ngoại như nhà xuất bản Văn Nghệ, khi gặp hồi
mạt vận, làm việc một cách cẩu thả, tắt trách như vậy.Bài nhận định này dù vậy vẫn căn cứ vào các ấn bản do Văn Nghệ tái bản.Đây là câu chuyện tang thương trong một gia đình địa chủ giàu sang tới hồi
khánh kiệt, nhưng nó được lồng vào một thời đại nhiễu nhương, khi mà giai cấp địa
chủ tới giai đoạn mạt điệp trong cuộc chiến tranh Đông Dương giữa Pháp và Việt
Minh. Tác giả lấy một bối cảnh nhỏ lồng vào một vấn đề lớn lao: cảnh ngộ biến
suy dập vùi trên lớp sóng phế hưng, trên khúc quanh của thời cuộc, trong sự vận
hành của lịch sử. Xin đọc những lời trần tình của tác giả ở mục "Thay Lời
Tựa":Từ hồi còn nhỏ tôi đã phải chịu đựng một ám ảnh thường xuyên: sự suy sụp bệ rạc
của một gia đình thịnh mãn ở miền Nam. (Cái thịnh mãn của hạng điền chủ ở miền
Nam trước đây đã là tục ngữ...). Nguyên nhân chánh của sự suy sụp bệ rạc này
thì ai cũng biết: chiến tranh. Một cuộc chiến tranh dằng dai hai mươi lăm năm,
khoảng thời gian gần bằng số tuổi của tôi.Tôi sanh ra và lớn lên trong một dòng dõi đã đến hồi ly tán. Cái họ của tôi gồm
hai chữ có gạch nối có thể sẽ gợi lên những cảnh sống huy hoàng, vương giả của
một thành phần xã hội trong trí nhớ ao tù của những ông già bà lão, những cảnh
sống mà tôi chỉ nghe kể lại như một chuyện hoang đường trong những lần giỗ chạp.Bây giờ chỉ còn lại một ngôi nhà thừa tự, cột kèo chạm trổ tinh vi đã mục rệu,
và chẳng bao giờ lành những vết thẹo của chiến tranh không tha,những điền sản
cò bay thẳng cánh chỉ biết đến qua một đống bằng khoáng vô dụng mà giấy đã ố
vàng và dòn tan, một đám bà con xa gần chi chít, nhỏ nhen ích kỷ như sò hến và
hoàn toàn vô tích sự.Tâm lý của hạng ngươi này khá đặc biệt. Đó là những thằng chõng trôi giạt lềnh
bềnh trên dòng sông hung tợn, một hạng người khư khư ôm lấy cái quá vãng vàng
son (nát dậu cũng còn bờ tre), dở thầy dở thợ dở cu ly, bất lực trước sự biến đổi
nhãn tiền của cảnh ngộ, bấu víu vào nhau mà sốngsót. Trong ngôi nhà thừa tự đó,
mỗi người là một hòn đảo của những thói hư tật xấu... Có phải con người một khi
đã mất thăng bằng trong cuộc sống vật chất thường để lộ ra rõ rệt hơn bao giờ hết
những xấu xa tàn tệ của mình? Và một giai cấp cũng vậy.Khi khởi công quyển truyện này, tôi đặt trước cho tôi một chủ định: ghi lại cái
ám ảnh từ thời nhỏ dại đó của tôi, trong ước vọng, một lần nữa, giải tỏa nó cho
xong.Lẽ hiển nhiên, tôi không hề có ý định làm công việc của nhà xã hội học hay của
nhà đạo đức học. Những công viêc này vượt quá sức của tôi. Vả lại, chúng cũng
chẳng lợi lộc gì cho tôi.Tôi cũng không có ý định phân tích các nguyên nhân, và nhất là phê phán một ai
hay một điều gì. Cho riêng tôi, tôi chỉ muón dựng lại cái thế giới khốn đốn đã
bao trùm tôi cho đến ngày nay. Tôi chỉ muốn mô tả một hiện tượng xã hội hoàn
toàn thân thuộc mà thôi.Tiểu thuyết là tuởng tượng, ai cũng biết vậy, nhưng có tưởng tượng nào không bắt
nguồn từ một phần sự thật?Sở dĩ tôi trình bày như vậy, là để xin những người thân thích của tôi, nếu có dịp
ìinh cờ nào đọc quyển truyện nay, hãy rộng lòng tha thứ cho tôi.Vậy thì chúng ta nên xếp tác phẩm "Khung Rêu" của Nguyễn Thị Thuy Vũ
vào loại nào. Hiện thực? Không thể được, vì loại hiện thực chỉ là một sự ghi
chép biến động trong gia đình hoặc trong xã hội một cách khách quan, không thêm
thắt một nhân sinh quan, một thái độ nào trước cảnh bể dâu hưng phế. Tân hiên
thực chăng? Thật ra những nhân sinh quan mà tác giả đưa vào tác phẩm hơi ít,
không đủ dung lượng nâng tác phẩm lên hàng tân hiện thực. Nó chỉ ở lưng chừng
giữa hai lằn mức hiện thực và tân hiện thực mà thôi. Nhưng chúng ta nắm chắc một
điều: tác giả viết về gia đình mình từ thế hệ ông bà đến thế hệ cha chú mình,
dĩ nhiên không có tác giả hiện diện trong tác phẩm. Cho nên chúng ta không thể
gọi đây là quyển tiểu thuyết tự truyện (roman autobiographique) của tác giả được.
Danh sĩ Tào Tuyết Cần khi viết bộ "Hồng Lâu Mộng" còn có thể he hé
cho đọc giả biết nam nhân vật chính Giả Bảo Ngọc trong quyển tiểu thuyết tràng
giang ấy là bức phóng ảnh của mình. Nhưng Nguyễn Thị Thụy Vũ thì không chịu xuất
hiện trong tác phẩm nên không làm sống dậy thế hệ thứ ba (tức là thế hệ lũ
cháu nội của ông Phủ trong truyện), trong đó có tác giả."Hồng Lâu Mộng" bắt đầu với cảnh hưng thịnh của họ
Giả và đi lần vào cảnh gia biến lụn bại, nhưng kết cuộc còn vớt vác được chút
ít yên vững của nghiệp nhà. Nhưng "Khung Rêu" bắt đầu vào cảnh lụn bại,
nhưng bề ngoài gia chủ (tức bà Phủ, vợ kế của ông Phủ) cố tình che giấu để vớt
vát thể diện với xóm làng. Rồi vì cha con ông Phủ hư hỏng nên cảnh tái hưng
không hề được xảy ra.Mở đầu câu truyện, tác giả lần lượt giới thiệu gia đình ông Phủ (không được tác
giả nêu tên) gồm có: Vợ chồng ông Phủ, ba người con trai riêng của ông Phủ gồm
có Canh, Thụ và Tường. Chiêu là con của ông Phủ và bà Phủ kế vốn là kẻ bán nam
bán nữ. Ngoài ra còn có cô Tịnh là cháu gái kêu ông Phủ bằng cậu và cô Ngự vốn
là cháu gái kêu bà Phủ kế bằng cô. Trong hàng tôi tớ gồm có lãoTự, thằng Mọt (vốn
người Miên), cô Ngà và cô Lài. Lại còn thêm nguời nam sinh tên Hoàng ở trọ ăn
cơm tháng.Ông Phủ là một bậc đường quan và điền chủ giàu có. Nhưng khi vào truyện thì ông
đã hưu trí và đất đai của ông trong vùng Việt Minh chiếm đóng bị sung công. Bà
Phủ trước khi kết hôn với ông đã có một đời chồng. Bà khôn ngoan, khéo léo, ăn ở
với ba người con riêng của chồng rất tử tế, lại biết quán xuyến đảm đang trong
ngoài để tạo cho chồng một cuộc sống êm ấm. Canh là tên trưởng nam ngỗ nghịch,
chỉ muốn cha mình sớm chia gia tài cho mình để được ăn chơi phung phí. Thụ, người
thứ nam có cá tánh khá rõ rệt, rất hưởng ứng theo cao trào vào chiến khu của Việt
Minh để chống Pháp. Tường là kẻ hời hợt, nhẹ dạ, lười biếng. Tịnh là cô gái
lãng mạn, tinh thần yếu đuối, yêu Hoàng tha thiết bằng một mối đam mê oan nghiệt.
Ngự là cô gái lòng dạ lỏng lẻo, tâm tính bốc đồng, chuộng vật chất xa hoa.
Chiêu thì thích làm con gái, thích sống theo cuộc đời phụ nữ, nhưng bị mẹ o ép
phải làm thanh niên nam tử trong khi đó trái tim Chiêu rung động bởi hình ảnh
thơ mộng của Hoàng. Lão Tự là người lão bộc trung thành, tình lý đồng cân rất
được chủ thương mến. Ngà là cô tớ gái, xinh xắn, nhưng không có cá tính, bị định
mệnh chèn ép nhưng không đủ can đảm ngoi lên. Lài và Mọt ưa cà khịa với nhau
theo kiểu giỡn bóng đùa trăng nhưng không hề phải lòng nhau. Còn anh nam sinh
tên Hoàng cũng chỉ được tác giả tô màu lạt lẽo, không có gì đặc sắc ngoài khuôn
mặt hữu tình và tài chơi đàn. Đây là nhân vật phụ, nhưng vẫn là nhân vật then
chốt quan trọng: chàng đã làm cho Tịnh say mê đến điên rồ, làm cho Chiêu biết
mình không có trái tim của đấng nam nhi mà lại có một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm đối
với nam giới. Đã vậy, ả Lài còn đổ đốn say mê thầm lặng Hoàng và khinh rẻ Mọt vốn
là kẻ dị chủng (người Cao Miên). Lại có hai nhân vật ở ngoài gia đình ông Phủ,
cũng được tác giả nói khá kỹ. Đó là ông Tám, cha của Ngà và Đực, anh chàng nông
phu đã từng say mê Ngà và cưỡng bức Ngà.Thảm kịch bắt đấu lúc ông Phủ cuỡng hiếp Ngà và Ngà mang
thai. Cả nhà ăn một cái Tết khá hạnh phúc, trừ ông Phủ và Ngà (vì cả hai có tâm
sự riêng). Sau Tết, câu chuyện mang thai của Ngà mới được tiết lộ. Để che miệng
thế gian, bà Phủ định cho Mọt một ít ruộng đất để y ta cưới Ngà. Nhưng ông Phủ
không chịu. Thế là bà Phù dọn ở riêng, dù trong khuôn viên của chồng mình. Bà
không thèm coi sóc việc tề gia nội trợ nữa. Còn Canh dù có về nhà an ủi bà Phủ,
rồi lại ra đi và không được tác giả nhắc tới nữa. Còn Tường ve vãn Ngự cho tới
lúc Ngự mang thai. Rồi cả hai rủ nhau bỏ nhà đi trốn để hưởng hạnh phúc trong
môt góc trời quê hẻo lánh. Nhưng cả hai không đào đâu ra tiền, cam sống cực khổ
rồi trở về ngôi nhà thừa tự. Tịnh và Hoàng yêu nhau đúng như niềm mong mỏi của
Tịnh. Nhưng Hoàng phải ra đi, không hiểu có phải theo giấc mộng đi làm lịch sử
mà chính vì ông Phủ cấm chàng dan díu với Tịnh. Còn Chiêu thì dù có yêu Hoàng
nhưng biết rằng với cái thân phận bán nam bán nữ, chàng không thể nào hưởng hạnh
phúc lứa đôi được nên bỏ nhà ra đi. Cao trào kháng chiến dâng cao, Thụ và luôn
cả Tường bỏ vào chiến khu. Từ khi Hoàng biệt vô am tín, Tịnh phát điên lên. Còn
ông Phủ bị vợ hất hủi, đâm ra khổ sở và chết vì chứng xung động tim. Ngà sinh
con mà không nuôi được nên có ý định trở về quê sống với cha mẹ và nối duyên với
anh chàng nông phu tên Đực. Ngà đi học may rồi ngoại tình với một anh chàng
lính kín (tức là viên mật thám ngành Tình Báo của Pháp) rồi bỏ nhà ra đi với
tình nhân và dấn thân vào cuộc phiêu lưu tình ái không có ngày mai.Mười năm trôi qua. Chiến tranh kết liễu. Thụ, Tường trở vè thành thị tỉnh Vĩnh
Long, chứ không đi tập kết ra Bắc. Bà Phủ và lão Tự đã qua đời. Thụ sống nhờ mẫu
vườn cây ăn trái, phần đất hương hỏa còn sót lại. Tường cưới cô thôn nữ xinh đẹp
khác, sống bằng nghề chích dạo, chạy ăn muốn hụt hơi vì gia đình đông con.
Hoàng cũng cưới vợ khác, sống sung túc nhờ tiệm bán phụ tùng xe gắn máy. Chiêu
biệt vô âm tín. Người ta đồn Chiêu bị Tây bắt bắn chết tại Rạch Nước Lạnh nên
Thụ dành lấy ngày đi của Chiêu để làm giỗ mỗi năm cho Chiêu. Tác giả không đuợc
chu đáo vì không nhắc tới Canh, Ngà, Mọt và Lài. Riêng Tịnh thì sau 5 năm ở Dưỡng
Trí Viện Biên Hòa đã tỉnh lại trước khi chết. Nàng hỏi thăm người này người nọ
và chết một cách sung sướng.Như đã nói, "Khung Rêu" là chuyện biến cố trong gia
đình ông Phủ. Từ một đơn vị nhỏ trong xã hội miền Nam vào 5 năm cuối của thập
niên 40 của thế kỷ 20 cho tới 4 năm đầu của thập niên 50 cũng của thế kỷ này.
Nhưng đọc qua những biến cố trong tác phẩm "Khung Rêu", chúng ta thấy
ngay một xã hội toàn vẹn của đất nước Nam Kỳ trong thời chiến tranh giữa Pháp
và Việt Minh. Điều này, chúng ta cũng đã biết trong bộ "Khói Lửa Kinh
Thành" ("Kinh Hoa Yên Vân") của Lâm Ngữ Đường do Vi Huyền Đắc dịch.
Cứ nhìn vào gia đình họ Tăng, họ Diêu, họ Ngưu thì chúng ta chẳng những biết
ngay cái xã hội ở Bắc Kinh, mà còn ở vùng Hoa Bắc (miền Bắc Nước Tàu) và ở khắp
địa lục Trung Hoa trong thời Trung Hoa bị Nhật Bản xâm chiếm. Trong khi đó, bộ
"Hồng Lâu Mộng" của Tào Tuyết Cần và Cao Ngạc không bao giờ hé cho độc
giả biết cái xã hội của kinh đô Kim Lăng (Nam Kinh bây giờ) hay của miền Hoa
Nam (miền Nam nước Tàu) tức là những cái bên ngoài Ninh Quốc Phủ và Vinh Quốc
Phủ của họ Giả. Cũng vậy, bộ "Jalna" của nữ sĩ Mazo de La Roche không
bao giờ hé cho độc giả biết cái xã hội ngoài trang trại tên Jalna của dòng họ
Whiteoak, từ thế hệ ông cố bà cố cho tới thế hệ cháu chắt. Cho nên cái thành
công của Nguyễn Thị Thụy Vũ là đã biết dùng cái nhỏ bé làm điển hình cho cái lớn.
Chỉ tiếc một điều là chị thiếu nhấn mạnh để làm nổi bật cái xã hội ngoài gia
đình ông Phủ bằng những chi tiết chọn lọc và tiêu biểu hơn để tô đậm bức tranh
xã hội ấy bằng những nhát cọ sắc nét hơn, bén ngót hơn, có thể cứa mạnh vào ấn
tượng của độc giả hơn.Câu chuyện với nhiều biến cố trong gia đình ông ông Phủ chỉ là một tượng trưng
cho sự dằn co giữa hai giai cấp: địa chủ và tá điền. Ông Phủ và bà Phủ điển
hình cho giai cấp địa chủ. Ông Tám, Ngà và Đực điển hình cho giai cấp tá điền.
Nhưng trong cuộc chiến Đông Dương giữa Pháp và Việt Minh, chủ điền chẳng những
mất hết đất đai mà còn mất hết quyền lực. Vậy mà ở một vài địa phương, nhất là ở
chốn thị thành, bởi mang cái thành kiến thâm căn cố đế ăn trên ngồi tróc đối với
đám dân nghèo (chẳng hạn như bọn tôi tớ dưới tay mình hay những kẻ làm ruộng mướn
cho mình), giai cấp địa chủ vẫn hà hiếp những kẻ làm ruộng mướn cho mình. Ông
Phủ cưỡng bức Ngà làm cho Ngà phai mang thai. Vậy mà ông Tám, cha của Ngà không
dám tỏ lời trách móc và không có một ý nghĩ đi thưa kiện.Ông Tám vụt co ro như con cuốn chiếu trước cặp mắt sắc bén của ông Phủ mà ông
có cảm tưởng lúc nào cũng chong thẳng về ông. Miệng ông lắp bắp:- Dạ... bẩm quan lớn... lóng rày được mạnh giỏi?Cái mặc cảm thua thiệt vẫn không rời khỏi tiềm thức ông Tám. Ông khúm núm chưa
dám ngồi làm ông Phủ phải nhắc lại:- Ngồi đi chú Tám. Tôi có câu chuyện muốn nói với chú đây.Ông Tám như bị thôi miên bởi đôi mắt xếch ẩn dưới cặp chưn mày rậm của ông Phủ.
Ông lấy chiéc khăn choàng tắm trải trên mặt ghế và áy náy ngồi lên trên.Giọng ông Phủ lúc nào cũng oang oang, cái nhìn từ cặp mắt trũng sâu như mũi kiếm
phóng về người đối diện làm ông Tám tuởng chừng tay mình dài và dư như tay con
mực.Ông Phủ mở đầu câu chuyện:- Chú tính lên rước con Ngà về dưới phải khônÔng Tám đáp nhỏ như không dám xác nhận:- Dạ.Ông Phủ châu mày:- Theo tôi, con Ngà đang lúc bụng mang dạ chửa chú nên để nó ở trên nầy. Tôi sẽ
hết lòng lo cho mẹ con nó được vuông tròn.Ông Phủ ngừng lại dò xét phản ứng trên mặt nguời đối diện rồi tiếp lời:- Dầu gì đi nữa, nó cũng là vợ tôi. Đứa nhỏ trong bụng nó là do khí huyết tôi tạo ra, lẽ nào tôi làm ngơ cho đành đoạn. Nếu chú bằng lòng, tôi sẽ sai trẻ
nó về rước chú lên ở với anh Tự cho vui. Hai anh em bạn già hủ hỉ với nhau cho
có bạn. Ông Tám ngồi yên, miệng cơ hồ bị khóa lại. Ông còn chỉ biết gật đầu
vâng dạ về mọi lời đề nghị của ông Phủ và như từ bao lâu rồi, ông thấy mình hèn
hạ, bạc nhược, nhỏ nhoi trước con người mà ông đã nung nấu thù hằn. Ông Tám ngồi
thừ ra như một khúc củi.
Ông Phủ ngó vào nhà giữa:
- Ngà đâu? Ra đây biểu coi.
Ngà bước ra với chiếc áo bà ba vải phin trắng. Ả nhìn ông Tám, đôi mắt đẫm lệ.
Còn ông Tám thấy con mình lệch bệch với cái bụng gần ngày ông cũng không cầm được
nước mắt tủi cực. Ông đứng dậy, chắp tay lên ngực:
- Con xin kiếu quan lớn. Xin phép quan lớn cho con nói chuyện riêng với
con Ngà một chút.Ông Phủ lại hỏi:
- Chú chịu lên ở chợ không?
- Dạ bẩm quan lớn để con suy nghĩ lại.
Ông Phủ cười có vẻ cởi mở:
- Nếu chú không thích ở đâythì tôi cho bứt chú phần lúa mỗi năm.
- Dạ cám ơn quan lớn.
Ông Phủ liếc qua Ngà rồi lại nói:
- Bề gì tôi với chú cũng là chỗ thân tình với nhau. Chú đừng ái ngại gì hết.
Ông Phủ day qua lão Tự:
- Hình như trong nhà còn chai rượu đế. Anh nên bắt con vịt cà cuống thật mập nấu
cháo cho chú Tám giải lao. Phen nầy hai ông bạn già nhậu say một bữa.
Ông Tám bước xuống thềm lủi vào bóng tối. Ngà đợi ông ở nhà ngang, tại căn buồng
riêng bỏ hoang từ mấy tháng nay của ả. Ả khêu ngọn đèn trứng vịt, rồi ngồi bên
chiếc giường đóng bụi lờ mờ, khóc tấm tức tấm tủi. Ông Tám dịu giọng:
- Con tính sao đây? Muốn về với tía hay không?
Ngà hỉ mũi, giọng vẫn còn ướt đẫm nước mắt:
- Con còn mặt mũi nào về dưới xứ nữa? Sống chết, vui buồn gì cũng phải rán chôn
chưn ở đây, con nỡ nào báo đời tía hoài.
Ngà ngập ngừng một lát, rồi nói:
- Quan Phủ cũng tử tế với con. Tía đừng lo. Có lẽ gần Tết, con sẽ về thăm tía.
Thật ra, từ lúc bà Phủ giận chồng cho tới nay, ả nào có được một phút an vui?
đã leo lên lưng cọp thì phải ở lì nơi đó, rán mà chịu đấm ăn xôi.
Ngà hỏi:
- Tía tính ở lại hay về ?
Ông Tám sầu thảm:
- Lát nữa, tía về. Nếu có hưỡn, con nhớ về thăm tía. Chắc từ đây tới chết, tía
không còn lòng dạ nào lên đây nữa. (các trang 252, 253, 254)
Bởi có những kẻ cường hào ác bá, những tay điền chủ địa chủ ác ôn kia mà bọn Cộng
Sản hô hào đấu tranh giai cấp, không phải vì muốn bảo vệ dân nghèo, cũng không
phải cốt chống đối bất công trong xã hội mà cốt để dựng lên đảng cấp nguy hiểm
và tàn độc hơn giai cấp gấp trăm nghìn lần. Chúng lợi dụng những kẻ thất bại
trong xã hội, những đám lê dân ngu dốt vùng lên chống trả giai cấp địa chủ,
giai cấp tư sản, luôn cả giai cấp trí thức tức là những phần tử may mắn hơn bọn
nghèo nàn dốt nát. Chúng ta hãy đọc đoạn ông Phủ đi góp lúa do tá điền làm mướn
ruộng của ông làm ra:
Ghe đổ vào con kinh trồng dừa nước hai bên. Trời đã xế chiều. Phương Tây nhuộm
màu hồng rực rỡ. Ông Phủ xếp quyển sách, kéo kính trắng xuống sống mũi, ngồi bật
dậy:
- Mình nên ghé thằng Đực, nhờ nó hướng dẫn đi đường bộ ắt mau hơn đi ghe nhiều
Mọt cho ghe lủi vào ụ lá và bước lên nhà núp dưới tàn cây vú sữa. Con mèo
mun mắt xanh biếc và trong veo nằm dã dượi ngoài sân, nghe tiếng chân Mọt, vụt
đứng dậy, nhìn lơ đảng người khách lạ, rồi õng ẹo vào trong.
Mọt hân hoan bước vào hàng ba, lên tiếng:
- Anh Đực đâu rồi?
Đực cởi trần, mình mẩy lực lưỡng và đen đúa, từ nhà bước ra. Gã kềm hãm được sự
ngạc nhiên vừa chợt biểu hiện trên khuôn mặt khi đã nhận ra Mọt. Gã chau đôi
mày xếch rậm như người lúc bực mình lại bị quấy rầy. Gã hất hàm hỏi:
- Xuống hồi nào đó? Đi với ai đây?
Mọt mỉm cười cầu tài:
- Dớ! Khéo làm bộ hoài, tôi đi với quan lớn... ủa với ông thầy thuốc bắc chớ đi
với ai? Không lẽ tôi đi một mình thì ai góp lúa đây?
- Thầy thuốc bắc nào?
Mọt sợ sệt nhìn quanh rồi nói nhỏ:
- Anh đừng có nói lớn. Thầy thuốc bắc tức là quan lớn đó đa anh. Quan lớn sợ mấy
ông Việt Minh bắt nên mới biểu tôi kêu là... thầy thuốc bắc.
Mọt bước vào nhà. Căn chính giữa bị bồ lúa cao nghệu choáng cả lối đi. Đực hướng
mắt về phía xẻo lá, cười lạt:
- Quan lớn của anh đi cũng chẳng ai thèm đong lúa, chớ nói gì anh hay thầy thuốc
bắc.
Mọt trố mắt:
- Dớ! Anh nầy hỗn ghê! Sao dám ăn nói ngang ngược vậy?
Đực chắp tay sau mông:
- Xuống biểu quan lớn của anh rút lui lẹ đi. Nếu lạng quạng đòi góp lúa nữa thì
coi chừng bị bắt quản thúc bây giờ.
Mọt chưa kịp nói thì Đực gằn giọng:
- Anh có biết ruộng đất của quan lớn anh do mồ hôi nước mắt của anh em tá điền
tụi tui đóng góp không?
Mọt ngơ ngác nhìn Đực. Có phải đây là một nhân vật mới do thời cuộc tạo nên
không? Đực mở hai con mắt gườm gườm nhìn người đối diện, giọng rít lên:
- Bọn chủ điền khốn nạn đã bao đời bóc lột anh em nông dân. Nhưng thời
thế đã đổi khác rồi. Ngày nay, nông dân đã giác ngộ quyền lợi, đứng lên tranh đấu,
quyết không để bọn chủ điền đè đầu đè cổ nữa...
Đực nói thao thao, càng nói càng say. Những lời lẽ của Đực, đối với Mọt sao mà
lạ tai. Mọt chỉ về phía ghe hầu:
- Đó! Anh giỏi xuống dưới mắng quan lớn đi. Tôi đâu có ăn nhậu gì với ruộng đất.
Đực hất hàm:
- Tôi đâu có sợ ai. Anh giỏi học lại quan lớn của anh đi. Ông Phủ đã leo lên bờ,
chậm rãi đi vào sân nhà Đực. Mọt và Đực bắt đầu đấu khẩu với nhau, mặt người
nào, người nấy xanh dờn.
Ông Phủ cắt ngang câu chuyện:
- Gì đó Mọt?
Đực quay lạy hỏi xẳng xớn:
- Ông đi thâu lúa ruộng phải không?Ông Phủ quắc mắt nhìn Đực. Chỉ mới chưa đầy
một năm mà hắn đã thay đổi quá nhiều. Trước kia, khi hầu chuyện với ông, hắn co
ro như một con cuốn chiếu. Bây giờ hắn đang hất mặt, hách dịch nhìn ông thiếu
điều muốn ăn tươi nuốt sống ông. Nhưng ông vẫn giữ thái độ khinh thường.
Đực tiếp, giọng càng lúc càng cao lên:
- Ông hãy quày ghe về ngay, nếu không vị chút tình nghĩa cũ, tôi đã ám hại
ông rồi. Tất cả ruộng đất của bọn tay sai cho Tây đều được chia cho dân nghèo hết
rồi. Ông đừng có mong còn một hột lúa cho chim ăn, một thẻo đất cho chó ỉa nữa.
Đực chỉ nói như vậy rồi bỏ qua hàng xóm. Một lát sau, ông Phủ chợt thấy một bọn
tá điền của mình tụ họp bên kia doi đất, nhốn nháo chỉ trỏ về phía ông. Trái với
mọi năm, ông không còn được họ đón rước nồng nhiệt và thưa bẩm vâng dạ ngay khi
ghe ông vừa cặp bến nhà Đực.
Ông Phủ thất thần hối Mọt:
- Về mau, Mọt! Bây giờ vô miệt trỏng mà góp được vàng, tao cũng không
đi. Chèo mau đi con, tụi nó hạ sát bọn chủ tớ mình bây giờ đa. (các trang 274,
275,276, 277)
Về vấn đề mô tả cảnh vật, nhân vật và tâm trạng nhân vật,
Nguyễn Thị Thụy Vũ chỉ phác họa bằng những nét gảy gọn, không đi sâu vào chi tiết,
không đào xới nhiều những vận sự rườm rà. Mỗi một khung cảnh có một lối dàn dựng
riêng. Chẳng hạn như căn nhà thủy tạ của ông Phủ, tác giả không mô tả ngay
chính nó mà tả những cái chung quanh nó hoặc bên ngoài nó:
Ngự ngồi hong tóc trên chiếc băng dài ngoài nhà thủy tạ. Mái tóc nàng dài quá nửa
lưng còn ngan ngát mùi lá bồ kết. Nước sông đầy ăm ắp vỗ vào bờ đất từng đợt êm
đềm. Ngự nhìn trời mênh mông. Giàn hoa lý kết từng chùm rũ xuống đầu nàng và tỏa
mùi thơm nhẹ. Mảnh trăng chìm dưới nước với màu thủy ngân bạc thếch bị gió xô
giạt từng cơn. Con sông như một giải lụa nhấp nhô dài bất tận. Gió sửa soạn cuộc
hành trình bên bờ sông, lòn qua kẽ tóc, vuốt lên má, xoa nhè nhẹ trên làn da
nàng làm nàng nhẹ nhõm, phơi phới. Ngự có thói quen, khi chiều xuống, là ngồi
nhà thủy tạ cho đến lúc đi ngủ. Nàng thích ngắm mấy chiếc ghe thương hồ và cảnh
tượng sinh hoạt muộn màng trên sông. (trang11)
Ở đoạn trên đây, tình cảm người ngắm cảnh không lọt vào khung cảnh rõ rệt, tức
là không có vấn đề đối cảnh sinh tình. Nhưng ở đoạn sau đây, chúng ta mới thấy
tình lồng vào cảnh, cảnh khơi dậy tình. Tác giả tả cảnh một buổi trưa nắng chói
chang và tiện dịp giới thiệu con người tình cảm phong phú của Tịnh:
Tinh là một cô gái đa cảm, nhìn đời bao dung, yêu cây cỏ thiên nhiên, mơ một thế
giới khác lạ trong tương lai và muốn khám phá cảm giác của mình khi tiếp nhận
hơi thở, nụ hôn và ánh mắt người tình. Nàng còn yêu con sông sau nhà vì có đôi
lúc nó gợi cho nàng một cuộc đời bằng phẳng và thơ mộng. Buổi sáng nàng thường
đứng dưới gốc cây khế nhìn những vệt sương mềm mại bốc trên mặt nước. Nàng còn
yêu khu vườn bên nhà. Bóng cây râm mát có thể xoa dịu từng cơn nắng hè chói
chang. Cây cối, chim chóc, trái ngọt trong vườn như có một ngôn ngữ bí mật
riêng: Hãy yêu cuộc sống một cách cạn cợt hồn nhiên. Đó là tạo được niềm hạnh
phúc trong sáng.
Tịnh nhắm mắt lại để tưởng đến ánh mắt sắc ngọt của Hoàng. Tại sao chàng ăn Tết
ở đây? Chàng nghĩ gì về cái Tết tha hương? Từ thuở nhỏ, Tịnh đã có một niềm trắc
ẩn dồi dào. Gặp đám ma nào đó nàng khóc như chính mình vừa mất mát một người
thân.
Nàng cũng thường chăm tưới, săn sóc hoa kiểng. Khi gặp một con sâu. Tịnh không
nỡ giết nó, chỉ lấy cái que gắp nó sang khóm cỏ dại. Nàng tưởng tượng nó sẽ lột
cái vỏ xấu xí để thành con bướm rực rỡ. Bây giờ nghĩ tới nỗi cô đơn của chàng
trai xa lạ, tự nhiên Tịnh cũng quyết tìm cách chia sẻ với chàng.
Tịnh đi về phía lẫm lúa. Hình như nàng sung sướng một cách bồng bột. Nàng nhìn
chiếc sân gạch tàu. Những cái sàn lót lá chuối khô bày đầy những trái chuối cau
đã lột vỏ. Mật trong chuối, dưới sức nắng mặt trời đã đặc sánh lại. Chuối phơi
như thế ngon hơn chuối sứ ép mỏng. Những con ong mật bay quanh quẩn bên sân. Tịnh
chợt thấy nắng mỏng trong suốt tưng bừng mở cho nàng một thế giới xán lạn có những
cây cau tỏa hương và rủ bóng mát bên thềm.
(các trang 81, 82)
Nguyễn Thị Thụy Vũ là một nhà văn tả chân. Lối mô tả cùng nghệ thuật diễn tả
tình ý các nhân vật dưới ngòi bút của chị đượm đà một chút hương vị thãi thừa của
văn phong bút pháp các nhà văn tiền chiến, nhất là các nhà văn trong nhóm Tự Lực
Văn Đoàn. Đó cũng là trường hợp của nữ sĩ Nguyễn Thị Vinh. Nhưng bà Vinh thì dừng
lại trong cái vòng quỹ đạo văn chương của nhóm Tự Lực Văn Đoàn, còn Nguyễn Thị
Thụy Vũ lại muốn đi xa hơn: Đôi lúc chị muốn cứa mạnh vào ấn tượng người đọc những
vết hằn sâu đậm hơn. Trừ Vũ Trọng Phụng ra, văn chương tiền chiến nói chung và
văn chương nhóm Tự Lực Văn Đoàn nói riêng làm gì có những vụ cưỡng dâm. Nguyễn
Thị Thụy Vũ trong "Khung Rêu" có cho ả Ngà bị cưỡng dâm bởi hai người:
Ông Phủ và tên Đực. Lại thêm một vụ thông dâm giữa Tường và Ngự trong chiếc ghe
chui vào đám lau sậy. Nhưng dù viết chuyện cưỡng dâm hay vụ thông dâm, tác giả
không cố tình khiêu dâm mà nhằm tạo cái đầu mối, cái then chốt của tấn thảm kịch
mà tác nhân lẫn nạn nhân đều phải kê vai gánh vác cái hậu quả bi đát và cái hệ
lụy oan trái sau này.
Xin đọc cảnh ông Phủ cưỡng dâm Ngà nhân một hôm bà Phủ về miền đất đỏ để thăm
người em trai:
... Như các buổi tối thường lệ, Ngà làm mùng mền cho ông Phủ. Ngọn đèn chong
trong buồng gói vụt tắt vì luồng gió từ ngọn cây hoàng lan trồng ngoài cửa sổ
lùa thốc vào. Ông Phủ nằm dài trên chiếc giường đồng đọc sách. Ngà bước vào
khép nép mời ông chổi dậy để ả giũ chiếu, quét giường căng nệm... Trong bóng tối
đặc sệt, ông Phủ ngồi dậy quờ quạng đụng phải bàn tay mát lạnh của Ngà. Một cảm
giác kỳ diệu len lỏi vào các tế bào của tuổi hoàng hôn. Ngà cũng hồi hộp không
kém nên rút tay lại, nhưng bất thần tay của ông Phủ choàng qua hông ả. kêu lên
nho nhỏ. Thân mình béo tròn và chiếc bụng phệ của ông lúc đó nóng như chiếc nệm
cuốn tròn đem phơi nắng. đã nằm gọn trong vòng tay của người đàn ông mà tự bấy
lâu nay, ả kính nể, sợ sệt như một vị thần.
Từ trước khoảng cách biệt giữa ông Phủ và ả như được ngăn chận bởi một bức màn
sắt kiên cố. Nét mặt lạnh lùng, lời nói thị oai của ông chủ như đẩy ả vào khuôn
khổ, bổn phận phục dịch trong nhà. Vòng tay rắn chắc của ông Phủ siết chặt lấy ả,
hơi thở dồn dập như muốn làm vỡ tung lồng ngực của ông. Ả không thể kêu cứu ai
được vì chính ả cũng bị sự kích thích hung dữ, mới mẻ lung lạc. Lời kêu nếu có
cũng chỉ dành cho kẻ đang ghì chặt thân thể mang nhiều lửa cảm xúc của ả.
- Đừng ông!... con sợ lắm. Bà biết được chắc con chết. Bóng tối trong dần...
Ông Phủ đắm đuối nói :
- Coi kìa... Để quan... thương Ngà một chút.
Ông Phủ vừa nói dứt câu, Ngà đã bị quật xuống chiếc giừng lò so. Toàn thân tê dại,
ả đẩy mặt chủ ra một cách yếu ớt, miễn cưỡng. Ả bất lực trong vùng cảm xúc sôi
trào với cái thân thể rực lửa.lờ mờ ngắm chủ múa may quay cuồng như cái bông vụ...
Ngà nhếch mép cười. Lớp lớp tế bào đang làm cách mạng dưới làn da nhạy cảm của ả...
Và ả đã phục tùng cái thân xác tội nghiệp của mình. (các trang 51, 52)
Đực là tên tá điền cũng làm ruộng mướn (người Bắc gọi là cấy rẽ) cho ông Phủ. Hắn
được ông Tám, cha của Ngà tính chọn làm rể, nhưng Ngà từ khi ra ở đợ nơi chốn
thị thành lại thấy hắn quá thô lỗ quê mùa nên dụ dự. Lại nữa, từ khi tằng tịu với
ông Phủ, Ngà không muốn dây dưa với hắn vì sợ ông Phủ ghen tương. Sau mùa gặt,
Lực cùng ông Tám chở lúa lên nộp ông Phủ. Ghe hắn cắm sào dưới bến nước của
ông. Cho nên vào lúc đêm khuya trời tối, Đực leo lên chỗ Ngự ngủ để cưỡng bức
Ngự :
Đực lần mò lên nhà thủy tạ, rồi đi một mạch qua dãy nhà ngang. Căn phòng Ngà
còn thắp ngọn đèn ngủ leo lét. Chiếc giường kê sát vách, Ngà nằm ngủ say, hơi
thở phập phồng bộ ngực dầy như hối thúc Đực. Cửa phòng chỉ gài bằng một cây
song hòng. Đực cố gắng thò tay qua chấn song hòng gài cửa mà không gây một tiếng
động. Phòng dành cho lão Tự và Mọt liền bên cạnh. Tiếng ngáy ồ ạt của Mọt cất
lên như tiếng xẻ gỗ bên nhà máy cưa. Đực yên tâm và bắt đầu thi hành ý định của
mình. Vụt có tiếng mớ ú ớ của lão Tự làm hắn khựng lại. Hắn nhìn dáo dác như
tên trộm. Bóng tối từ hàng cây dầy đặc, âm u phủ lên dãy nhà dành cho các người
giúp việc. Côn trùng rỉ rả làm tăng thêm chiều sâu của đêm khuya. Gió rì rầm
trong lá và làm ngọn đèn chong trong gian nhà của Ngà xao động.
Đực thổi một hơi dài. Chiếc đèn bóng trứng vịt tắt phụt. Bóng tối đặc sệt lan
tràn mọi nơi. Chờ một lúc vẫn không nghe Ngà trở mình, Đực yên tâm đẩy nhẹ cánh
cửa vào trong. Trái tim hắn đập mạnh. Một cuộc cưỡng bức lén lút xảy ra lần thứ
nhất trong đời Đực. Hắn rút chiếc khăn choàng sọc thường dùng quấn cổ, cầm nơi
tay, rồi sấn tới mép giường. Hắn sẽ không dùng lời thủ thỉ bên tai Ngà, mà dùng
sức mạnh chiếm đoạt ả cho bằng được. Đực lấy khăn chụp lên mặt Ngà và lấy ngón
tay nhét khăn vô miệng ả.
Ngà dẫy dụa một cách bất lực dưới thân thể nặng chình chịch đè lên ả. Ả bị bế xốc
xuống đất vì Đực sợ chiếc giường tre có thể gây ra tiếng động. Ngà bị khóa miệng,
tay chân ả bị gài tréo như con gà bị bỏ vào soong. Ả bất lực khi bàn tay Đực đặt
lên bụng ả.
Tấm thân hực lửa và nhớp nháp mồ hôi của gả thanh niên run rẩy trên thân thể ả
như lên cơn sốt sữ dội. Nước mắt Ngà ứa ra, đầu ả lắc lư tránh né chiếc khăn muốn
làm ả tắt thở.
Ngà lịm dần... nhưng vụt khối nặng trên thân Ngà khựng lai. Có tiếng thở mạnh của
lão Tự bên kia vách và tiếp theo là tràng ho húng hắng của lão. Ngọn đèn bên
kia đưọc khêu sáng hơn. Đực lấy tay bịt mặt Ngà. Hình như lão Tự trở dậy lục đục
rót nước uống. Tiếng nuớc rót từ bình vào tô đá lỏn tỏn. Ngà ra sức cựa quậy để
mong lão Tự nghe tiếp cưu. Hai bàn tay chai dầy của Đực bịt kín mắt Ngà. Những
vòng tròn xanh tím đỏ vàng xoay tít trong vũng tối hai con mắt ả. Tiếng gà bắt
đầu eo óc trong xóm. Ngà ngột ngạt tưởng chừng trái tim mình không còn hoạt động
nữa. Mồ hôi rỉ rả từ chân tóc, chân lông ả, nhưng cớ sao ả cảm thấy lạnh buốt đến
nổi gai ốc dưới tấm thân nóng bỏng của gã thanh niên. Vụt chiếc mền trên giường
phủ lên ả, rồi cuốn ả lại và tiếp theo đó, tiếng chân chạy thình thịch ra cửa.
Ánh đèn bên kia bỗng lu xuống. Hình như lão Tự đã vào giường dỗ giấc trở lại.
(các trang 73, 74)
Tác giả cố tình muốn viết chuyện theo loại tiểu thuyết khiêu dâm (romans
pornographiques) chăng? Tôi e không phải. Viết loại khiêu dâm, tác giả phả vẽ
ra một nam nhân vật đẹp trai cường tráng, một nữ nhẩn vật kiều diễm sexy và mô
tả một cách hào hứng những cái bộ phận khích dục trên thân thể con người. Và nhất
là phải mô tả tỉ mỉ những động tác hành dâm. Có vậy, đương sự mới đánh thức con
lợn lòng đang say ngủ ở từng độc giả. Đằng nay, chị không mô tả nhân diện và
vóc dáng của Đực và của Ngà. Lại nữa, ở đoạn trên, cái tấm thân phì nộn và cái
bụng bự chang bang của ông Phủ nếu được đưa lên màn ảnh thì chỉ tổ gây ác mộng
cho khán giả. Đã vậy chị chỉ mô tả chi ly những động tác dành để chuẩn bị cuộc
cưỡng bức chứ ít khi đi sâu vào các động tác cưỡng bức. Tuy nhiên nếu lăm le
đưa ngòi bút vào cuộc cưỡng bức thì chị chỉ tả qua quít những động tác mà kẻ đứng
ở vị trí xa xôi chỉ được trông thấy cảnh cưỡng dâm một cách tổng quát mà thôi.
Như vậy, khi sáng tác quyển "Khung Rêu", Nguyễn Thị Thụy Vũ táo tợn
thì có, mà khiêu dâm thì không bao giờ. Càng viết táo bạo, tác giả càng khai
thác cái bản năng thú tính của con người, càng chất chồng hệ lụy vào tấm thảm kịch
gồm các nhân vật then chốt trong truyện. Cho nên dù áp dụng văn phong trong văn
chương tiền chiến, nhưng tác giả đưa đẩy hành trình cây bút của mình vào những
cuộc phanh phui tàn nhẫn hơn.
Mỗi nhân vật có một cấu trúc riêng, tuy khái quát nhưng vẫn
được tác giả chăm chút công phu. Ít khi tác giả tả chân dung và ngoại hình của
các nhân vật, mà nếu có thì chị cũng chỉ tả vài nét khái quát mà thôi. Nhưng cuộc
sống nội tâm và cách sống ở ngoài đời của họ được chị chú trọng hơn.
Ông Phủ là nhân vật xương sống trong câu truyện. Chúng ta chỉ biết được cái
thân thể mập tròn và cái bụng phệ của ông mà thôi. Ông là kẻ nhu nhược đối với
con cái. Ông hiếu sắc và có nhiều cuộc ngoại tình khi người nguyên phối đầu
tiên của ông hãy còn sinh tiền. Sau khi cưới vợ kế, ông lại say mê cô đào hát bội
tên là Năm Thành. Cô Năm là nhân vật mờ (personnage obscur) chỉ xuất hiện vài
giòng ở phần thuyết thoại (la narration) mà thôi. Khi độc giả bước vào chương 4
của quyển sách, chúng ta mới chứng kiến cảnh ông cưỡng bức Ngà để rồi biến cuộc
gian dâm thành hoàn cảnh nạp sủng (cưới hầu thiếp) sau này. Vào thời phong kiến,
luôn cả vào thời Pháp thuộc, các quan lại giàu sang thường có năm thê bảy thiếp.
Trừ bà thứ thất được hợp thức hóa do người chính thất cưới hỏi cho chồng, còn
những bà sau đếu là hầu thiếp cả. Đó là hạng nửa hầu gái nửa tiểu tinh, sống phục
dịch cho chồng và vợ cả như đầy tớ, thỉnh thoảng được chồng ban ơn sủng trong
viêc gối chăn. Trong trường hợp này, ông Phủ muốn biến Ngà từ cô tớ gái thành
người hầu thiếp để được ả săn sóc ông và giúp ông giải quyết sự tấn công cuối
cùng của nhục dục trên thể xác tàn tạ của ông. Ông bất lực với con cái. Ông đại
diện một lớp người đã từng nắm quyền lực, nhưng rồi vì tuổi già và bãn chất
thích cầu an nên mất quyền lực để trở nên bất lực trước mọi chặng của gia cảnh
biến suy. Vốn là quan lại do chế độ thuộc địa của Pháp đào tạo nên ông không ưa
bọn Việt Minh vì ruộng đất ông bị họ sung công: bọn tá điền của ông bị họ sút
siểm trở lại hổn xược kình chống lại ông. Xin cùng đọc cuộc bày tỏ tâm sự của
ông với lão Tự:
Cơn giận được hâm lại, ông nói sôi nổi:
- Cái thằng Đực là phường khố rách áo ôm mà bây giờ nó cũng bày đặt lên
mặt lên mày hỗn láo. Rõ ràng là thứ chầu rìa bọn cướp cạn. Đồ siêu mưu làm loạn
cả đám. Ông nói trơn tru không ngập ngừng, vấp váp. Những ngày còn lênh đênh
trong vùng kiểm soát của phe kháng chiến, ông cố dăn lòng, khóa mồm, khóa miệng
lại, nhưng bây giờ cơn bực tức phải được trào ra, kẻo ngực ông bể mất.
Ông Phủ gằn giọng:
- Rủi bọn đó thắng được chánh phủ Mẫu Quốc thì mình có nước trốn qua Cao Miên
mà ở. Nói vậy chớ, tụi nó rán mà lo không có một thẻo đất chôn thây, chớ nói gì
tới thắng trận ban sư? Tôi thích Tây cai trị, Tây mà đi rồi, mình chết đói cả
đám.
Lão Tự cười khà khà, không có ý kiến. Thụ kín đáo lắc đầu. Ông Phủ hăng hái:
- Tôi nói thiệt đa. Nếu con cháu tôi chộn rộn bắt chước tụi học sinh bỏ học,
bỏ nhà đi theo bọn phản loạn đó, lập tức tôi đi báo cáo cho Tây biết liền và nếu
cần, tôi đem đóng trăn tụi nó rồi đem nộp gấp. (trang 289)
Bà Phủ đại diện cho lớp người phụ nữ khôn ngoan, xuất thân từ hoàn cảnh trung
lưu cấp thấp (vợ góa của một thầy Su, thầy đã từng làm việc trong các đồn điền
cao-su của người Pháp). Khi bước vào địa vị phu nhân một bậc quan lại, bà không
bỡ ngỡ, không cảm thấy mặc cảm trước cái địa vị khó khăn khi phải điều khiển một
cơ nghiệp đồ sộ và một lũ con chồng. Bà cư xử khéo léo với lũ con chồng và theo
tác giả cho biết thì bà thật bụng thương yêu họ, nên được họ thành thực kính mến.
Rất đỗi Canh là cậu trưởng nam ngỗ nghịch của ông Phủ mà còn tin cậy bà và bênh
vực bà thay. Tiếc một điều là bà không hoán cải được tình thế khi những nhát
búa khốc liệt của ác nghiệp bổ tới tấp lên hạnh phúc của bà: sinh một đứa con
bán nam bán nữ, chồng có cô hầu trẻ có địa vị thấp thỏi hơn bà, không thể hoá cải
chồng vì cả ba (vợ chồng bà và Ngà) ở vào thế kẹt khi Ngà mang thai. Bà không
thể răn dạy cô cháu gái của mình khi cô ta có đủ lông đủ cánh để làm cuộc phiêu
lưu tình ái. Bà cũng không cản ngăn nổi con ruột của mình bỏ nhà theo phe kháng
chiến. Cái khéo léo, cái quyền biến của bà cùng cái thiện chí của bà trong công
việc chống đỡ giang sơn nhà chồng hóa ra vô dụng. Tác giả không cho chúng ta biết
bà đuợc bao nhiêu tuổi, nhưng chúng ta có thể đoán bà vào khoảng trung niên,
tình yêu đối với chồng bà hãy còn thắm thiết và thể chất của bà hãy còn đang độ
nồng nàn. Trong gia đình trưởng giả, trong gia đình quan lại, một bà phu nhân một
khi đã luống tuổi thì không còn nghĩ tới tình yêu của chồng đối với mình nữa. Họ
chỉ nghĩ tới quyền lợi của mình mà thôi. Họ bằng lòng cho chồng nạp thiếp, để dễ
bề biến các người thiếp thành con ở, con đòi không trả tiền công. Nhưng bà Phủ
thì không phải ghen vì sợ mất quyền lợi vì ông Phủ có định nâng Ngà lên hàng thứ
thất đâu. Khi biết chồng phản bội mình, bà trừng phạt bằng cách cất nhà sống
riêng. Nhưng khi nhà chồng có tai biến (trường hợp Tịnh bị điên), bà ra tay
giúp đỡ. Chồng chết, bà lo ma chay chu tất. Bà điềm đạm, quãng đại, yêu chồng,
nhưng không hề tha thứ việc lầm lỡ nạp thiếp của chồng.
Canh, người con trưởng nam trong gia đình, tuy xuất hiện trong tác phẩm rất ít,
nhưng được tác giả tô đậm đà bằng những màu sắc nổi bật. Chàng ăn chơi phóng đảng,
sống báo cô cha mình nhưng vẫn hỗn hào cãi vả cha mình. Một thứ cây chùm gửi đầy
gai độc. Tuy nhiên, Canh vẫn sáng suốt nhận biết bà kế mẫu mình chống đỡ gia
đình bằng tất cả thiện chí, bằng tất cả tấm lòng tươi son bền sắt. Cho nên
chàng vẫn kính mến và tin cậy bà. Đôi lúc, Canh cũng chán ngán cảnh trụy lạc của
mình và muốn tìm một lý tưởng để thoát khỏi hoàn cảnh truy hoan buồn nản của
mình. Sự hướng thiện thì có, nhưng nghị lực thì không. Cho nên chàng vẫn không
sao vượt thoát nếp sống cũ.
Canh ngã người trên ghế nhìn lên nền trời vắng mây, xanh mênh mông. Mỗi mùa ruộng,
chàng phải bỏ ra vài ngày vào công việc kiểm soát lúa thóc với lão Tự. Chàng chỉ
có mặt lấy lệ còn phần việc do lão đỡ đầu cả. Nhưng chàng cảm thấy mất công vào
những việc tầm thuờng, không đòi hỏi gì ở khối óc hay tốn nhiều mồ hôi. Canh vẫn
nuôi mộng lớn và cho rằng chuyện lúa thóc không xứng đáng với khả năng chàng.
Chàng lờ mờ nghĩ rằng thú ăn chơi của chàng vẫn là cái vốn sống thật phong phú,
chớ đâu phải là chuyện sa đọa như mọi người đã hồ đồ lên án chàng.
Nhưng Canh cũng bắt đầu chán ngán hết mọi sự. Chàng tự an ủi mình là đến độ nào
đó, chàng sẽ nhìn lại những ngày bê tha cũ, để trù tính đến tương lai. Chàng có
đọc vài ba cuốn tiểu thuyết xã hội. Chàng mê một xã hội công bằng và chàng là kẻ
phất cờ cầm quạt để khêu lên một cuộc san bằng những cảnh bất công xảy ra nhan
nhản trước mắt. Những chuyện chơi hoang chỉ là cái cớ để chàng học hỏi và định
làm một cuộc cách mạng chống lại giai cấp đang nuôi dưỡng chàng. Đã biết bao lần,
chàng đề cập đến một cuộc thay đổi thời thế khi lẩn quẩn trong tiệc rượu và bàn
hút. Cuộc đời sắp tới, sắp tới nữa sẽ sẵn sàng giao phó vai trò lãnh đạo cho
chàng.
Song ngày tháng vẫn trôi qua. Chàng vẫn sống bám vào ông Phủ. Một người bạn đã
đi theo kháng chiến viết thư về giục chàng nên đáp lời sông núi. Canh hồi âm một
cách nồng nàn là chàng không bao giờ quên bổn phận làm trai, nhưng chàng phải lựa
cơ hội tốt, chàng phải suy nghĩ chín chắn... Dĩ nhiên cơ hội đó không bao giờ
có cả. (trang 62)
Trong lũ con riêng của ông Phủ thì Tường là một hình vẽ được kết hợp bằng đường
nét đơn sơ và được tô bằng màu sắc nhạt nhẽo. Chàng lười biếng, không có lý tưởng
rõ rệt. Chàng say sưa với thứ tình- yêu-trợt-té-qua-tình-dục. Chàng không có lý
tuởng, không theo cao trào nhập vào phe kháng chiến chống Pháp , lại lười học,
dở chịu cực. Chàng xin đi học nghề sửa chữa máy vô tuyến điện; nhưng khi cuộc
chiên tranh kết liễu, chàng phải sống băng nghề chích dạo. Thế có nghia là
chàng bỏ cuộc trong vụ học nghề chuyên môn. Cho nên Thụ cho chàng là một thứ
"người không có tiểu sử" (sic).
Trái lại, Thụ được tác giả săn sóc trong công việc cấu trúc hơn. Thụ hiền lành,
thông cảm, dễ hòa hợp với mọi người. Chàng hăng hái tham gia chuyện đi làm lịch
sử. Nhưng khi chiến tranh kết liễu, đất nước bị chia hai, chàng ở lại miền Nam
Việt Nam, cảm thấy cuộc theo phe kháng chiến chống Tây vô ích. Chắc chắn là
chàng hiểu rõ bọn Việt Minh Cộng Sản muợn chiêu bài chống Tây để thi thố những
thủ đoạn tàn ác ra sao rồi. Chàng trở về ngôi nhà cũ, chứng kiến sự hư hoại tiến
hành một cách chậm chạp của nó, không có gì cứu vãn nổi. Đó cũng như chàng chứng
kiến cuộc sống dở dang của mình, không còn một triển vọng tươi sáng nào, không
một viễn ảnh rực rỡ nào ở chân trời tương lai.
Hơn mười năm trôi qua. Một giai đoạn lịch sử đã chấm dứt. Thụ đã trở về ngôi
nhà tổ phụ.
Ngôi nhà đó bây giờ xiêu vẹo, mái ngói quằn xuống bờ tường, hàng kèo cột bị mối
mọt ăn rệu và loang lở những dấu vết chiến tranh.
Thụ dùng căn nhà sàn dưới bến nước của bà kế mẫu làm nơi tá túc. Mỗi ngày, Thụ
lên ngôi nhà thừa tự quét dọn và nhang khói cho tổ tiên.
Chàng không dám ở trong ngôi nhà lớn vì nó có thể sập xuống bất thần không biết
ngày nào, giò nào đây.
Buổi chiều rảnh rỗi, Thụ chấp tay sau mông đi loanh quanh ngôi nhà và dừng lại
vài nơi, moi tìm những kỷ niệm đã mất.
Phần huơng hỏa của chàng chỉ còn bao gồm vỏn vẹn một mẫu đất trồng cây ăn trái.
Nơi đó cũng là chỗ an nghỉ, tụ họp vinh viễn của dòng họ chàng. Bên cạnh ngôi
nhà mồ của ông Phủ mọc lên hai ngôi mộ của bà Phủ và của lão Tự.
Một thân một bóng, thụ làm biếng chăm sóc bông kiểng. Tùng, thiên tuế, lựu vẫn
còn tươi tốt vượt lên đám cỏ hoang và dây bìm bìm. Nhưng chắc chắn rồi đây những
loài cây ấy sẽ rũ chết vì đã quá già cỗi. Thụ sống co ro với cái mặc cảm thất bại
của cuộc mưu đồ đại sự.
(trang 333)
Thụ không còn nhìn cuộc đời háo hức nữa. Tất cả đều vô ích. Con người bất quá
cũng như con bọ chét sống trong bộ lông của một con vât khổng lồ. Không hiểu
sao Thụ lại có cái so sánh kỳ cục đó. Chàng giúp đỡ Tường bằng cách nhận nuôi
đùa cháu bất hạnh với đồng lương dạy học khiêm tốn của mình. Lúc nhàn rỗi, hai
bác cháu quấn lấy nhau, đùa giỡn, tưởng chừng cả hai đều là con nít cả. Nhưng
có những đêm mưa, chàng bừng thức giấc vì trận gió ào ào đổ tới. Chàng khêu ngọn
đèn chong, hướng mắt theo đường song cửa nhìn lên ngôi nhà thừa tự, lo lắng.
(trang 335)
Chiêu, người con út của ông Phủ là hiện thân của ác nghiệp ác báo của chính
đương sự được tượng hình qua thể chất bán nam bán nữ. Chàng muốn phục sức theo
phụ nữ, muốn làm phụ nữ nhưng bị mẹ rúng ép làm thanh niên. Chàng yêu Hoàng và
ghen tương với Tịnh. Nhưng khi thông cảm nỗi bất hạnh của Tịnh rồi thì chàng mới
nhận thấy mình không ghét Tịnh mà chỉ ghét Thượng Đế không ban cho chàng cái địa
vị của Tịnh (được Hoàng yêu). Trước cảnh nhà ly tán, lại nhìn sâu vào thân phận
bi đát của mình, Chiêu bỏ nhà vào chiến khu của phe kháng chiến. Đa số độc giả
chúng ta chắc không tin chàng vì yêu nước nên tham gia lịch sử, mà đó là hình
thức tự tử để giải thoát cái ác nghiệp từ tiền kiếp nào báo ứng hiện hành trong
kiếp này của chàng.
Tịnh là một cô thiếu nữ có tinh thần bạc nhược, hay đa cảm đa sầu. Ngược lại,
tình yêu và nỗi đam mê của nàng rất mãnh liệt. Khi yêu Hoàng, nàng quăng mình
trọn vẹn vào cơn lốc tình cảm của mình, dâng hiến trọn vẹn tâm hồn và trái tim
mình cho người yêu, không do dự, không dè sẻn, không phân vân tính toán. Đây là
mẫu người không tự chủ, sống thành khẩn với tình cảm của mình, không ngụy trang
cầu kỳ như các cô thiếu nữ khác. Về mặt tâm lý, cô không phải là mẫu nhân vật
được kiến trúc tinh vi. Nhưng tác giả vẫn nâng niu cô, vẽ vời cho cô một nội
tâm giông bão, tham gia vào cảnh chia lìa trong thảm họa của một thế gia vọng tộc.
Cô dự phần vào thảm họa ấy, chứ không phải là động cơ chính yếu thúc đẩy sự sụp
đổ gia đình ông Phủ. Song cô vẫn đóng góp tích cực và hữu hiệu vào cái không
khí thê lương cho cốt truyện, tạo nên nỗi se sắt ngậm ngùi trong của cốt truyện.
Ngự cũng vẫn là một nhân vật tuy xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm "Khung
Rêu", nhưng về mặt tâm lý, cô không phải là một nhân vật khó kiếm trong
kho tàng văn chương nước nhà. Đó là thứ phụ nữ xuất thân từ lớp lao động nghèo
khổ, nhưng mơ vói lên cao để thoát khỏi cuộc sống hiện tại. Ngự tuy có tham vọng,
nhưng nhẹ dạ, không mưu luợc, không tài cán, chỉ biết chinh phục cuộc đời bằng
sự liều lĩnh của mình. Cái khéo của tác giả là ở chỗ cho Ngự sinh trưởng ở
trong lòng thung lũng của quận lỵ Lộc Ninh, rất xa sông Bé. Có lẽ suốt cả đời,
Ngự chưa hề thấy được con sông man rợ chảy qua vùng rừng rú hoang vu ấy. Cho
nên khi về Vĩnh Long sống với ông bà Phủ, chiều chiều cô thích ra bến sông Long
Hồ để ngắm các ghe thương hồ. Con sông dễ đưa đẩy khách vãn cảnh nghĩ tới dòng
đời phiêu lãng. Các ghe thương hồ cũng gợi cho họ cuộc đời gạo chợ nước sông,
rày đây mai đó. Khi mới vào tác phẩm, tác giả viết đoạn Ngự ưa ngắm sông vào
lúc chiều hôm dường như báo cho độc giả biết trước trong tương lai gần hay
trong tương lai xa, Ngự sẽ dấn thân vào các cuộc phiêu lưu tình ái một khi bỏ
chồng con ra đi với tên lính kín.
° °
°
Những nhân vật không có chút huyết thống nào với ông Phủ và
bà Phủ là những người tôi tớ trong nhà và hai người tá điền là ông Tám và tên Đực.
Trừ Ngà là nhân vật xương sống trong truyện, còn kỳ dư là nhũng vai phụ. Tuy vậy,
những vai này cũng được tác giả cấu trúc một cách chăm chút công phu như nhân vật
Ngà.
Ngà vốn là nạn nhân của ông Phủ. Sau khi bị chủ cưỡng dâm, biết rằng mình đang
gặp hoàn cảnh gạo đã thành cơm, ả bám víu một chút hy vọng nhỏ nhoi cuối cùng:
được ông Phủ sủng ái vì ả trẻ đẹp. Do sự chênh lệch tuổi tác giữa ông và ả, ả sẽ
được ông nâng lên địa vị cao hơn địa vị con đòi con tớ trong nhà; ả sẽ ăn sung
mặt sướng hơn, sẽ bước lên địa vị dư dả sang trọng hơn. Nhưng chút tham vọng ấy
phải tiêu tan: ông Phủ đang gặp cơn gia biến vì quá lo nghĩ nên lơ là việc ái
ân giao hợp với ả. Tác giả cũng không nói ông Phủ có tặng tư trang hào nhoáng,
y phục choáng lộn để tô lục chuốc hồng cho Ngà. Chúng ta chỉ biết rằng sau khi
đứa con hữu sinh vô dưỡng của ả chết đi , ả còn dư sữa nên ông bà Phủ bắt ả phải
làm vú em cho đứa con của Ngự và Tường.
Lão Tự là người lão bộc thâm niên được chủ xem như một phần tử trong gia đình.
Lão đem hết tâm cơ cùng sự trung thành tận tụy phục vụ cho chủ, được chủ trao gửi
tâm sự, được các con của chủ mến thương; họ gọi lão bằng bác xưng cháu. Có chuyện
gì nan giải, họ đều tỏ bày với lão. Tuy nhiên, lão phải sống chung trong dãy
nhà ngang dành tôi tớ, phải ăn chung với họ. Khi chết, lão được chôn trong cuộc
đất hương hỏa của chủ và gần bên mộ chủ, hưởng một chút ân huệ thừa thãi cuối
cùng. Đây là nhân vật hạ lưu trong địa vị người nghĩa bộc mà chúng ta thường gặp
trong các truyện Tàu và hơi khó kiếm ở trong cuộc sống thời cận đại.
Lài là cô tớ gái không có cá tính đậm đà, ngoài việc ả yêu thầm nhớ trộm chàng
nam sinh tên Hoàng không hiểu nghệ thuật chơi vĩ cầm của Hoàng hay ho ra sao.
Hoàng có giai cấp vượt trội giai cấp của ả lẫn của Mọt quá xa nên ả chê Mọt đen
đúa, quê mùa. Ả vẫn biết tình yêu chân thành của Mọt, nhưng có lẽ vì không dám
vói cao để quyến rũ Hoàng nên ả hay tìm dịp ăn nóc xóc óc móc họng Mọt. Có lẽ
đó là một thú giải trí của một kẻ thất tình.
Mọt là người tớ trai gốc Cao Miên. Hắn ngây ngô, hiền lành, dễ dãi. Cá tính hắn
không rõ rệt. Cuộc sống và tâm tình của hắn được tác giả phác thảo bằng vài nét
sơ sài. Hắn yêu Lài, nhưng thường nói xốc hông Lài làm cho Lài tuy thích mà vẫn
khinh thường hắn. Tuy nhiên, mỗi khi hắn xuất hiện ở bất cứ đoạn nài trong tác
phẩm "Khung Rêu", lời lẽ khờ khạo nhưng duyên dáng của hắn làm cho
tác phẩm mặn mà tình ý hơn.
Hoàng là bạn của Thụ, ở trọ nhà ông Phủ để ăn cơm tháng. Chàng khôi ngô, chơi
vĩ cầm hay, ngoài ra chẳng có đặc điểm gì đáng kể. Nhưng có lẽ hoàn cảnh cô độc
và dáng điệu thui thui của chàng gây một hấp lực mãnh liệt, một từ trường rộng
rãi để lôi cuốn Tịnh, Chiêu và Lài. Tuy là nhân vật phụ, thụ động trong cách
hành xử, nhưng chàng là một động cơ chính yếu thúc đẩy Chiêu phải bỏ nhà ra đi,
đưa đẩy Tịnh vào nỗi đam mê oan nghiệt và sau hết là vào cơn điên dữ dội cho tới
ngày Tịnh nhắm mắt lìa đời.
Ngoài mái nhà từ đường của ông Phủ còn có hai nhân vật tiêu biểu là ông Tám và
tên Đực vốn là tá điền của ông. Ông Tám quen nhẫn nhục, dù có thù ghết ông Phủ
phá hại cuộc đời con gái mình, nhưng trước gương mặt oai quyền và trước cái
bóng quyền lực tự bao đời của ông ta nên ông nhụt hết nhuệ khí, phải tỏ ra nhỏ
nhoi khuất phục. Nhưng tên Đực thì khác. Bọn Việt Minh đã gieo vào tim óc hắn mối
hận thù địa chủ, họ kích thích bản năng nổi loạn của hắn để biến hắn thành kẻ hống
hách, ương ngạnh, hỗn hào. Đây là một nhân vật mới do thời thế và lịch sử biến
chuyển tạo nên.
Theo thói thường, một khi chọn một đề tài xã hội, tác giả từ
từ đóng kín một vận sự nào đó để mở một vận sự mới ở phần cuối. Ở chặng đi từ
phần đầu đến phần cuối, tác giả tạo ra nhiều mâu thuẫn, nhiều nghịch lý đan kín
nhau hoăc xen kẻ nhau để cho đọc giả ngây ngất say sưa theo dõi từng diễn biến
của cốt truyện. Ở "Khung Rêu', Nguyễn Thị Thụy Vũ đóng kín một thời đại
thanh bình, một chế độ địa chủ phong kiến. Nhưng chị không hé mở hoặc soi sáng
một thời đại nào mới, một chế độ nào mới. Tuy nhiên, về văn chương nữ giới, trừ
cuộc sống tình cảm lãng mạn của Tịnh ra, chị đã đóng bít cái lối viết về mình với
những tâm tư riêng lẻ, với những cuộc tình ái lăng nhăng để phóng tầm mắt vào một
xã hội biến suy, một giai đoạn lịch sử sang trang. Đây là một cây bút phụ nữ
viêt văn với một ý thức sáng trưng: mở rộng một chân trời bao la cho văn chương
phụ nữ, tránh cái riêng tư lẻ tẻ nhỏ nhoi để lao vào cái lớn lao nằm trong phạm
vi thời đại, xã hội, lịch sử và đất nước.
Bằng một bút pháp bình dị và trong sáng, bằng sự diễn tả lạnh lùng và khách
quan, Nguyễn Thị Thụy Vũ vẫn đưa chúng ta vào nỗi buồn sâu hun hút, kéo dài cơn
bàng hoàng ngây ngất chúng ta từ lúc ông Phủ cưỡng hiếp Ngà cho tới trang cuối
của phần kết cuộc. Tất cả mọi nhân vật bị cuốn hút vào cái oan nghiệt của nghiệp
lực, chẳng ai quật khởi chống trả. Họ chỉ biết cúi đầu tuân phục thảm họa và
tai ương. Họ chấp nhận miễn cưỡng một cuộc đời ảm đạm, thiệt thòi, không cạy gở
một khe hở để ánh sáng mặt trời len lỏi vào cái ngục thất do nghiệp lực xây bốn
vách đá nghiêm khốc chung quanh họ.
Hồ Trường An
Hồ Trường An
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét