Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Bà Bovary 3

Bà Bovary 3

Phần Thứ Ba

Chương 1

Lêông trong thời gian học luật, cũng đã khá hay đi lại tiệm Lều Tranh, ở nơi đó anh ta thu được nhiều thắng lợi mỹ mãn gần những cô gái lẳng lơ thấy anh ta có vẻ phong nhã. Anh ta là một người sinh viên đứng đắn hơn cả. Anh ta để tóc không dài quá, không ngắn quá, ngày mồng một đầu tháng không ăn hết tiền cả quý, và có quan hệ tốt với các giáo sư. Còn những chuyện quá quắt, anh ta vẫn tránh do nhút nhát cũng có do thận trọng cũng có.

Thường thường, vào lúc đọc sách ở trong buồng hoặc buổi chiều, khi ngồi dưới những cây bồ đề ở vườn Luýchzămbua anh ta đánh rơi quyển sách luật xuống đất, và anh ta lại nhớ tới Emma. Nhưng dần dần, tình cảm ấy giảm xuống và những thèm muốn khác chồng chất lên tuy nó vẫn dai dẳng sống qua chúng; vì Lêông chưa mất hết hy vọng, và đối với anh ta dường như còn có một hứa hẹn mơ hồ chập chờn trong tương lai tựa hồ một trái cây bằng vàng treo trên một khóm lá quái dị nào.

Rồi, anh ta gặp lại nàng sau ba năm xa vắng, tình yêu của anh ta lại thức dậy. Anh ta thầm nghĩ cuối cùng phải đi đến quyết định ý muốn chiếm được nàng. Vả lại, tính nhút nhát của anh ta đã mất dần đi khi tiếp xúc với những kẻ chơi bời, và anh ta trở về tỉnh nhỏ khinh bỉ tất cả những người không dận giầy bóng loáng lên nhựa đường phố. Bên cạnh một phụ nữ Pari vận đồ đăngten, trong phòng khách của một bác sĩ nổi tiếng nào đó, một nhân vật có huân chương và có xe ngựa, viên luật sư tập sự hèn mọn kia hẳn sẽ run sợ như một đứa trẻ; nhưng ở đây, tại Ruăng, trên cảng, trước vợ người thầy thuốc quèn này, anh ta cảm thấy thoải mái, chắc mẩm trước rằng mình sẽ làm người ta lóa mắt. Cái thế vững vàng tùy thuộc vào môi trường ta đứng: người ta không nói năng ở tầng dưới nhà như ở tầng gác tư, và người đàn bà giàu có dường như có quanh mình tất cả các tờ giấy bạc của họ lót trong áo nịt tựa hồ một chiến hào để bảo vệ đức hạnh của họ.

Tối hôm trước, khi tạm biệt ông bà Bôvary, Lêông từ xa, vẫn theo dõi họ trên đường phố; đến khi thấy họ dừng chân ở khách sạn Chữ Thập Đỏ, anh ta mới quay gót về và suốt đêm trù tính một kế hoạch.

Thế là sáng hôm sau, vào khoảng năm giờ, anh ta vào nhà bếp khách sạn, cổ tắc, mặt tái, với các quyết tâm của những kẻ nhút nhát mà không gì ngăn lại được.

- Ông tôi chẳng có ở đây, một người hầu trả lời.

Anh ta thấy đó là một điềm lành. Anh ta lên gác.

Nàng không bối rối khi anh ta tới gần; trái lại, nàng còn xin lỗi vì đã quên không nói cho anh ta biết vợ chồng nàng đã trọ ở đâu.

- Ờ! Tôi đã đoán được. Lêông nói.

- Đoán thế nào?

Anh ta bảo là cái bản năng của anh ta đã liều lĩnh dẫn đường chỉ lối đến nàng. Nàng mỉm cười, và Lêông, để sữa chửa lại cái ngốc nghếch của mình, lập tức kể rằng anh ta đã bỏ cả buổi sáng đi tìm nàng lần lượt trong khắp các khách sạn của thành phố.

- Vậy bà đã quyết định ở lại chứ? Anh ta nói thêm.

- Vâng, nàng nói, và tôi đã nhầm. Không nên làm quen với những thú vui không thực hiện được, khi quanh mình có hàng nghìn điều yêu sách.

- Ồ! Tôi tưởng...

- Ồ! Không, vì ông, ông không phải là phụ nữ.

Nhưng nam giới cũng có những nỗi buồn của họ, thế là câu chuyện được bắt đầu bằng vài suy nghĩ triết lý. Emma nói nhiều về nỗi đau khổ của những mối tình trên trần thế và nỗi cô đơn vĩnh cửu trong đó trái tim bị chôn vùi.

Để đề cao mình, hay bởi thơ ngây bắt chước nỗi buồn khi nó gợi nỗi buồn của mình, chàng trẻ tuổi tuyên bố anh ta đã chán nản lạ lùng suốt thời gian học tập. Khoa tố tụng khiến anh ta bực mình, nhiều khuynh hướng khác lôi cuốn anh ta và mẹ anh ta không ngừng, trong mọi bức thư, đều giày vò anh ta. Vì họ nói rõ dần dần nguyên nhân những nỗi đau khổ của họ, mỗi người càng nói càng phấn khởi hơn lên một chút trong câu chuyện tâm tình tăng tiến ấy. Nhưng đôi khi, họ ngừng lại vì bày tỏ không hết ý, và thế là họ tìm cho ra một câu nào đó có thể trong lúc đó diễn tả được ý ấy. Nàng chẳng thú thực tình yêu của nàng đối với một người khác; anh ta không nói rằng anh ta đang quên chị.

Có lẽ anh ta không còn nhớ những bữa ăn đêm của anh ta sau những cuộc khiêu vũ, với những cô gái giả trang làm phu dỡ hàng; và nàng chắc quên những cuộc hẹn hò trước kia, vào buổi sáng, nàng chạy trên cánh đồng cỏ đến lâu đài của tình nhân. Những tiếng động của thành phố chẳng vọng tới họ mấy; và cái buồng dường như nhỏ bé với dụng ý thắt chặt hơn nỗi cô đơn của họ. Emma mặc một chiếc áo choàng rộng bằng vải chéo, tì búi tóc vào lưng ghế bành cổ; giấy vàng dán trên tường làm thành một nền vàng sau lưng nàng; và cái đầu trần của nàng phản ánh trong gương với đường ngôi trắng ở giữa, và đầu tai thò ra dưới mái tóc.

- Nhưng xin lỗi, nàng nói, tôi thật không phải, tôi đã làm phiền ông vì những lời than thở liên miên của tôi!

- Không, chẳng bao giờ! Chẳng bao giờ!

- Ví bằng ông biết tất cả những gì tôi đã mơ ước! (nàng vừa nói, vừa đưa lên trần nhà đôi mắt đẹp nhỏ lệ).

- Thế còn tôi! Ôi! Tôi thật đau khổ! Nhiều lần tôi ra ngoài đường, tôi đi, tôi lê bước dọc bờ sông, kiếm cách giải khuây trong tiếng ồn ào của đám đông mà chẳng rũ bỏ được mối ám ảnh bám riết lấy tôi. Trên đại lộ, tại một cửa hàng bán tranh ảnh in, có một bức tranh khắc của Ý diễn tả một nàng thơ. Nàng vận một chiếc áo dài và nàng ngắm mặt trăng, hoa lưu ly cài trên mái tóc xõa. Có cái gì không ngớt thôi thúc tôi đến đó; tôi ở đó hàng giờ liền.

Rồi, bằng một một giọng run run, anh ta nói:

- Nàng hao hao giống bà.

Nàng Bôvary quay đầu đi để anh ta khỏi thấy trên môi nàng cái nụ cười không cưỡng lại được mà chỉ cảm thấy nở ra.

-  Lắm phen, anh ta lại nói, tôi viết thư cho bà rồi ngay sau đó tôi lại xé đi.

Nàng không đáp. Anh ta nói tiếp:

- Đôi khi tôi tưởng tượng một sự tình cờ nào đó sẽ đưa bà tới. Tôi đã tưởng nhận thấy bà ở đầu phố; và tôi chạy theo sau tất cả những chiếc xe ngựa thuê có một chiếc khăn san phấp phới ở cửa, một chiếc khăn trùm giống như chiếc khăn
của bà...

Nàng dường như đã có ý định để anh ta nói mà không ngắt. Khoanh tay lại và cúi mặt xuống, nàng ngắm bông hồng nhỏ đính trên đôi giày vải của nàng và nàng khẽ lấy đầu ngón chân, từng lúc, di đi di lại trên nền sa tanh của đôi giày đó.

Tuy nhiên, nàng thở dài:

- Cái điều thảm hại hơn cả, phải chăng, là cứ kéo lê như tôi một cuộc sống vô dụng. Giá như những nỗi đau đớn của chúng ta có thể giúp ích được cho ai, thì chúng ta tự mình an ủi mình trong cái tư tưởng hy sinh.

Anh ta liền ca tụng đức hạnh, bổn phận và những sự hy sinh thầm lặng, và chính bản thân anh ta cũng có một nhu cầu xả kỷ kỳ cục mà anh ta không thể thỏa mãn được.

- Tôi rất ưng, nàng nói, được làm một tu sĩ phục vụ ở bệnh viện.

- Than ôi! Anh ta đáp, đàn ông chẳng có được những sứ mệnh thần thánh đó, và tôi không thấy ở nơi nào có một nghề gì..., trừ phi nghề thầy thuốc...

Khẽ nhún vai, Emma ngắt lời anh ta để than phiền về cái bệnh làm chị suýt chết; tiếc thay! Bây giờ nàng chẳng còn đau nữa... Lêông lập tức thèm muốn cái lặng lẽ của ngôi mộ, và thậm chí, một tối, anh ta đã viết di chúc yêu cầu người ta sẽ liệm anh ta bằng cái khăn phủ chân đẹp có giải nhung mà anh ta được nàng tặng; vì chính là họ những muốn được như thế, anh ta và nàng đã tự tạo cho họ một lý tưởng trên đó, giờ đây họ chỉnh đốn cuộc đời đã qua của họ. Vả lại, lối nói là một cái máy hát bao giờ cũng kéo dài tình cảm.

Nhưng nghĩ đến cái chuyện bịa ra chiếc khăn phủ chân kia, nàng hỏi.

- Sao vậy?

- Sao ư?

Anh ta ngập ngừng.

- Vì tôi đã quá yêu bà!

Và, mừng vì đã vượt qua được điều khó khăn, Lêông liếc mắt dò xem nét mặt nàng.

Điều đó như bầu trời khi một cơn gió xua tan các đám mây. Cái đống ưu tư làm mờ tối chúng dường như rút khỏi cặp mắt xanh lơ của nàng; cả bộ mặt nàng rạng rỡ hẳn lên.

Anh ta chờ đợi. Cuối cùng nàng đáp:

- Tôi vẫn ngờ có thế...

Bây giờ họ kể lại cho nhau nghe những sự kiện nhỏ của cuộc sống xa xăm kia, mà họ vừa tóm tắt lại, bằng mỗi một từ, những niềm vui và những nỗi buồn. Anh ta nhớ lại vòm cây bút thảo, những chiếc áo nàng đã mặc, từng đồ vật trong buồng nàng, toàn bộ ngôi nhà nàng ở.

- Thế còn những cây xương rồng đáng thương của chúng ta bây giờ ra sao?

- Cái giá lạnh mùa đông vừa qua đã giết chúng.

- A! Tôi đã nhớ chúng biết bao, bà biết không? Thường khi tôi lại thấy chúng như xưa, vào những buổi sáng mùa hè, lúc ánh mặt trời rọi vào những chiếc mành mành... và tôi thấy đôi cánh tay để trần của bà len lỏi giữa những bông hoa.

- Tội nghiệp cho anh bạn! Nàng vừa nói vừa chìa tay ra.

Lêông vội vàng đặt môi lên đó. Rồi, khi đã thở ra hít vào thoải mái, anh ta nói:

- Hồi ấy, đối với tôi, bà là cả một sức mạnh khó hiểu nào đó, mà tôi không thể nào tả ra được, đã bắt mất hồn tôi. Một lần chẳng hạn, tôi đã đến nhà bà; nhưng chắc chắn bà chẳng nhớ chuyện đó đâu?

- Có chứ, nàng nói. Ông cứ nói tiếp đi.

- Bấy giờ, bà sắp sửa ra đi, bà đứng trên bậc thang cuối cùng, thậm chí tôi còn nhớ bà còn đội chiếc mũ thêu hoa nhỏ màu xanh lơ; và dù chẳng có một lời nào của bà, tôi đã không chủ động được mình, tôi đã đi theo bà. Tuy nhiên, mỗi phút, tôi càng nhận ra cái cử chỉ bất lịch sự của tôi, thế mà tôi vẫn đi gần bà, chẳng dám theo hẳn bà và cũng không muốn xa rời bà. Khi bà vào một cửa hàng, tôi đứng ngoài phố, tôi trông bà qua ô cửa kính tháo găng tay và đếm tiền lẻ trên quầy. Sau đó, bà đến giật chuông ở nhà bà Tuyvasơ, người ta ra mở cửa cho bà, còn tôi thì đứng như một thằng ngốc trước cánh cửa to nặng đã đóng sập lại sau bà.

Nghe anh ta nói, bà Bôvary ngạc nhiên thấy mình đã quá cổ hủ; tất cả những điều đó nay lại tái hiện đối với nàng, dường như mở rộng cuộc đời của nàng; nó tác động như những tình cảm bao la trong đó nàng giờ đây lại đưa mình vào; và chốc chốc nàng vừa nói khe khẽ vừa lim dim đôi mắt:

- Vâng, thực đấy!... Thực đấy!... Thực đấy...

Họ nghe thấy chuông tám giờ vang lên ở tất cả các loạt đồng hồ trong khu Bôvoadin, đầy những nhà lưu trú, nhà thờ và khách sạn lớn bỏ hoang. Họ không nói gì với nhau nữa; nhưng họ cảm thấy, lúc nhìn nhau, một tiếng xào xạc trong đầu họ dường như một cái gì âm vang đã thoát ra từ những cặp mắt đăm đăm của họ trao đi đổi lại với nhau. Họ vừa mới nắm tay nhau, và quá khứ, tương lai, hồi ức và ước mơ, tất cả đều hòa lẫn trong trạng thái hôn mê êm đềm ấy.

Bóng đêm sẫm lại trên các bức tường, ở đó còn lóng lánh, nửa chìm trong bóng tối, những màu thô kệch của bốn bức tranh diễn tả bốn cảnh của Tháp Nexlơ, có ghi chú bên dưới bằng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp. Qua cửa sổ có cánh nâng lên hạ xuống, người ta thấy một góc trời đen, giữa những mái nhọn.

Nàng đứng lên thắp hai ngọn nến trên chiếc tủ ngăn, rồi lại ngồi xuống.

- Sao?... Lêông nói.

- Sao?... Nàng đáp.

Và anh ta đang tìm cách nối lại câu chuyện ngắt quãng khi nàng nói với anh:

- Do đâu mà cho tới nay chưa ai bày tỏ với tôi những tình cảm tương tự?

Viên luật sư tập sự thốt lên: những con người lý tưởng thì lại khó hiểu. Bản thân anh ta, ngay từ buổi đầu thoáng nhìn thấy nàng, anh ta đã yêu nàng; và anh ta thất vọng khi nghĩ tới niềm hạnh phúc mà lẽ ra họ có được nếu như, do một sự may mắn tình cờ xui nên, sớm gặp nhau hơn, họ được ràng buộc với nhau một cách keo sơn.

- Đôi khi tôi cũng nghĩ đến chuyện đó, nàng đáp lại

- Một ước mơ đẹp xiết bao! Lêông thủ thỉ.

Và, nhẹ nhàng mân mê cái đường viền xanh lơ của chiếc thắt lung trắng dài của anh ta, anh ta nói thêm:

- Vậy thì ai ngăn chúng ta bắt đầu trở lại?...

- Không đâu anh bạn ạ, nàng đáp. Tôi già quá rồi.. Ông lại trẻ quá .., Ông hãy quên tôi đi! Có nhiều người khác sẽ yêu ông..., ông sẽ yêu họ.

- Chả được như bà! Anh ta thốt lên.

- Ông thật là trẻ thơ! Thôi, chúng ta hãy thận trọng! Tôi muốn thế!

Nàng trình bày cho anh ta thấy những việc không thể thực hiện được về tình yêu của họ, và họ phải như xưa kia, giữ mình trong những quan hệ đơn giản của tình bạn thâm giao.

Phải chăng vì nghiêm chính mà nàng nói như thế? Chắc chắn là chính bản thân Emma cũng chẳng biết gì về điều đó vì nàng đang hoàn toàn bị bận tâm bởi sức mê hoặc của sự cám dỗ và tính cần miết phải tự giữ lấy; và ái ngại ngắm nhìn chàng trai, nàng cự tuyệt nhẹ nhàng những cái vuốt ve rụt rè mà đôi bàn tay anh ta run run ướm thử.

- A! Xin lỗi, anh ta vừa nói vừa lùi lại.

Và Emma đột nhiên thấy một sự sợ hãi mơ hồ, trước tính rụt rè đó, nguy hiểm cho nàng hơn là tính táo bạo của Rôđônphơ, khi Lêông giang hai cánh tay mà tiến lại. Chưa bao giờ nàng thấy người đàn ông nào đẹp đến thế! Từ thái độ của anh ta, toát ra một vẻ ngây thơ thích thú. Anh ta hạ hàng mi cong dài và thanh tú xuống. Má anh ta có nước da mịn màng bừng đỏ lên - nàng thầm nghĩ - vì lòng thèm khát con người nàng, và Emma cảm thấy một dục vọng không thể nào cưỡng lại được là áp môi nàng vào đó. Thế là ngả người về phía chiếc đồng hồ treo tường như để xem giờ giấc, nàng nói:

- Trời ơi, khuya quá rồi! Chúng ta đã chuyện trò thật dông dài!

Anh ta hiểu lời nói ý và tìm chiếc mũ của anh.

- Tôi quên cả đi xem hát! Ông Bôvary tội nghiệp đã cố ý để mình tôi ở lại! Ông Loócmô, ở phố Cầu Lớn, sẽ phải cùng vợ dẫn tôi đi.

Thế là đã lỡ dịp, vì nàng đã đi ngay ngày hôm sau.

- Thật ư? Lêông hỏi.

- Vâng.

- Tuy nhiên tôi cần phải được gặp bà nữa, anh ta nói, tôi có điều muốn nói với bà...

- Nói gì thế?

 

- Một điều... hệ trọng, đúng đắn. À! Không, vả lại, bà sẽ không đi đâu, không thể đi được! Nếu bà biết... bà hãy nghe tôi... vậy bà không hiểu tôi à? Bà không đoán được à?...

- Thì ông đã nói rõ rồi, Emma nói.

- Ôi! Những lời bông đùa! Thôi, thôi! Vì lòng thương, bà hãy cho tôi được gặp bà..., một lần! Chỉ một lần thôi.

- Này!...

Nàng ngừng lại; rồi như thay đổi ý:

- Ôi! Không gặp ở đây!

- Ở đâu tùy bà.

- Ông có muốn...

Nàng ra vẻ suy nghĩ, và bằng một giọng ngắn gọn:

- Mai, mười một giờ, trong nhà thờ lớn.

- Tôi sẽ có mặt ở đó! Anh ta vừa thốt lên vừa nắm tay nàng, nhưng nàng gỡ ra.

Và, vì cả hai đều đứng, anh ta ở phía sau nàng, và Emma cúi đầu, anh ta ghé vào cổ nàng và hôn gáy nàng hàng thôi hàng hồi.

- Kìa ông điên rồi! Ôi! Ông điên rồi, nàng vừa nói vừa cười khúc khích, trong khi anh ta đang hôn lấy hôn để.

Thế rồi, thò đầu qua vai nàng, anh ta dường như tìm sự ưng thuận của đôi mắt nàng. Nhưng đôi mắt ấy, đầy vẻ lãnh đạm trang nghiêm, rọi xuống người anh ta.

Lêông lùi lại bước về phía sau để ra. Anh ta đứng dừng lại trên ngưỡng cửa. Rồi giọng run run, anh ta thì thào:

- Đến mai.

Nàng đáp lại bằng một cái gật đầu, rồi chạy như bay như biến tựa hồ một con chim vào phòng bên cạnh.

Emma ngay buổi tối hôm đó, viết cho viên luật sư tập sự một bức thư rất dài trong đó nàng thoái thác cuộc hẹn hò; bây giờ mọi sự chấm dứt, và họ phải, vì hạnh phúc của nhau, không được gặp nhau nữa. Nhưng, bức thư đã dán kín, nàng thực bối rối vì chẳng biết địa chỉ Lêông.

- Mình sẽ tự tay trao cho anh ta bức thư này, chị thầm nhủ, anh ta sẽ đến.

Lêông, ngày hôm sau, mở toang cửa sổ và hát khe khẽ trên bao lơn, tự mình đánh bóng đôi giầy bẩn của mình, đánh nhiều đợt. Anh ta vận quần trắng, bít tất phin, áo ve xanh, vảy áo mùi soa tất cả mọi thứ nước hoa sẵn có, rồi uốn tóc lại, tởi tóc ra để làm cho nó có vẻ thanh lịch tự nhiên hơn.

- Còn sớm quá! Anh ta thầm nghĩ khi nhìn vào chiếc đồng hồ báo thức của thợ cạo điểm chín giờ.

Anh ta đọc một tờ báo cũ về thời trang, đi ra, hút một điếu xì gà, ngược ba phố, nghĩ rằng đã đến giờ và từ từ tiến về phía sân trước nhà thờ Đức Bà.

Lúc đó vào một buổi sáng hè trời đẹp. Đồ bạc chói lọi ở các cửa hàng kim hoàn, và ánh sáng xiên chéo xuống nhà thờ, lấp lánh trên đường nứt của những tảng đá xám; một đàn chim bay lộn trên bầu trời xanh lơ, xung quanh những gác chuông nhỏ hình tau diệp; quảng trường vang tiếng kêu, ngát mùi hoa mọc bên đường, hoa hồng, hoa nhài, hoa cẩm chướng, hoa thủy tiên và hoa nguyệt hạ hương, cách khoảng không đều bởi những đám cỏ xanh ẩm ướt, cây miêu bạc hà và cây phiền lộ dành cho chim; vòi nước, ở giữa, phun rào rào, và dưới những chiếc dù, sau những quả bí ngô xếp thành đống cao, những bà bán hàng, đầu trần, quấn những bó hoa tím vào giấy.

Chàng trai lấy một bó. Đây là lần đầu tiên anh ta mua hoa tặng phụ nữ; và ngực anh ta, khi ngửi những hoa ấy căng phồng vì kiêu hãnh, dường như lòng tôn trọng mà anh ta dành cho một phụ nữ lại quay trở về anh ta.

Lúc ấy anh ta sợ người ta trông thấy mình; anh ta quả quyết bước vào nhà thờ.

Viên giám sát giáo đường bấy giờ, đứng trên ngưỡng cửa, giữa cửa lớn bên trái, dưới hình Marian nhảy múa mũ gài lông trên đầu, trường kiếm phía bắp chân, can nắm trong tay, oai nghiêm hơn một hồng y giáo chủ và bóng lộn như một bình bạc đựng thánh thể.

Ông ta tiến về phía Lêông, và với nụ cười hòa nhã; mềm mỏng của cha cố lúc hỏi trẻ con, ông ta cất tiếng nói:

- Ông chắc không phải người ở đây? Ông muốn xem những kỷ vật của nhà thờ?

- Không, Lêông đáp.

Và, thoạt tiên, Lêông đi vòng quanh những gian nhà bên của giáo đường. Rồi anh ta ra quảng trường nhìn. Emma không tới. Anh ta lại quay lên tận chỗ hát kinh.

Gian giữa giáo đường soi bóng trong những bình nước thánh đầy cùng với phần đầu các cửa vòm nhọn và vài cửa sổ yểm kính vẽ. Nhưng ánh hồi quang của những bức tranh sơn, gãy góc ở mép đá hoa, tiếp tục đi xa hơn, rọi lên đá lát tựa như một bức thảm sặc sỡ. Ánh nắng mặt trời bên ngoài chạy dài trong nhà thờ thành ba tia sáng khổng lồ qua ba cửa lớn để ngỏ. Thỉnh thoảng, ở cuối gian, một người giữ đồ thánh đi qua nghiêng mình quỳ gối trước bàn thờ làm lễ của những người sùng đạo vội vã. Những chùm đèn treo bằng pha lê rủ xuống im lìm. Trong chỗ hát kinh, một ngọn đèn bằng bạc đang được thắp sáng, và từ những ban thờ bên cạnh, từ những khoảng tối của nhà thờ, đôi khi thoát ra những tiếng thở dài, với tiếng động của một rào sắt hạ xuống, vang lên dưới những vòm cao.

Lêông, bước đi nghiêm chỉnh, men theo các bức tường. Chưa bao giờ anh ta thấy cuộc sống có vẻ êm đẹp đến thế. Lát nữa nàng sẽ đến, kiều diễm, xao xuyến, nàng dò thấy sau nàng có những con mắt đang nhìn theo nàng - nàng vận chiếc áo dài viền đăngten, đeo cặp kính vàng, đi đôi giầy cao cổ mỏng manh, với đủ mọi thứ thanh lịch mà anh ta chưa từng được hưởng và với cái sức quyến rũ khôn tả của cái đức hạnh đang suy sụp. Nhà thờ, như một khuê phòng đồ sộ, đã được bố trí quanh nàng; những vòm cao ngả xuống để thu lấy trong bóng tối lời thổ lộ tình yêu của nàng; những cửa kính ngời sáng lên để soi tỏ mặt nàng, và những lư trầm sắp bốc lửa để nàng hiện ra như một thiên thần trong làn khói hương thơm.

Nhưng nàng không đến. Anh ta đặt mình trên một cái ghế và mắt anh ta bắt gặp một tấm kính xanh lơ mang hình những người lái đò đang xách giỏ. Anh ta nhìn tấm kính đó rất lâu, chăm chú, và anh ta đếm từng mảng vẩy cá, từng lỗ khuyết áo chẽn, khi tư tưởng anh ta lang thang tìm kiếm Emma.

Viên giám sát giáo đường, cách đấy, thầm bực với con người đã tự tiện ngắm cảnh nhà thờ một mình. Đối với ông ta, kẻ ấy dường như xử sự một cách quái gở, có thể nói là bắt cóc ông ta, và gần như mắc tội phạm thượng.

Nhưng có tiếng lụa sột soạt trên đá lát, cái vành mũ, một chiếc áo choàng đen... Đúng nàng rồi! Lêông đứng dậy chạy ra đón.

Emma hơi tái. Nàng đi nhanh.

- Ông đọc đi! Nàng vừa nói vừa chìa ra một mảnh giấy... Ô! Không.

Và đột ngột nàng rút tay lại, để bước vào gian thờ Đức Bà đồng trinh, trong đó, nàng quỳ xuống giáp một cái ghế, nàng bắt đầu cầu nguyện.

Chàng trai bực mình về cái trò ngoan đạo lạ lùng ấy; nhưng rồi anh ta lại cảm thấy một hứng thú nhìn nàng giữa chốn hẹn hò, đắm mình như thế trong kinh kệ, tựa một bà hầu tước xứ Angđaluzi; song chẳng bao lâu anh ta đâm chán vì nàng cầu nguyện mãi không dứt.

Emma cầu nguyện, hay nói cho đúng hơn, cố gắng cầu nguyện, hy vọng từ trên trời sẽ rơi xuống cho nàng một giải pháp đột ngột và muốn Chúa phù hộ nàng để cặp mắt nàng tràn ngập ánh sáng rực rỡ của bàn thờ, nàng hít hương thơm của hoa thập tử trắng nở trong các chậu lớn, và lắng tai nghe cái tĩnh mịch của nhà thờ đang đơn thuần làm tăng nỗi xao xuyến trong lòng nàng.

Nàng đứng dậy, và họ sắp ra đi, thì viên giám sát giáo đường đùng đùng bước lại gần hỏi:

- Bà chắc không phải người ở đây? Bà muốn xem những kỷ vật của nhà thờ?

- Không! Viên luật sư tập sự thốt lên.

- Sao lại không? Nàng đáp lại.

Vì, trong lúc các đức hạnh của nàng đang lung lay, nàng víu lấy Đức Bà đồng trinh, víu lấy những công trình điêu khắc, các ngôi mộ, vào mọi dịp.

Thế là, để làm việc theo trật tự, viên giám sát giáo đường dẫn họ ra tận cửa vào, gần quảng trường, ở đó, ông ta lấy can chỉ cho họ một vòng tròn gồm những đá lát đen, không ghi chữ không chạm trổ. Ông ta dõng dạc nói:

- Kia là đường vòng của quả chuông đẹp Ănboazơ tuyệt mỹ. Nó nặng bốn vạn livrơ 1 . Chẳng có quả chuông nào như nó ở khắp Châu Âu. Người thợ đúc nó đã chết vì vui sướng quá.

- Chúng ta đi thôi, Lêông nói.

Ông già lại đi; rồi, trở lại gian nhà thờ Đức Bà đồng trinh, giang hai cánh tay trong một động tác tổng hợp chứng minh, và kiêu hãnh hơn là một điền chủ nông thôn, chỉ cho anh ta các giàn cây ăn quả của mình:

- Tảng đá lát sơ sài này đậy thi hài Pie đơ Brêzê; lãnh chúa đất La Varen và Brixăc, thống chế xứ Poatu và thống đốc hạ Noócmăngđi, mất trong trận Mônglêri; ngày 6 tháng 7 năm 1565.

Lêông, cắn môi, dậm chân.

- Và, ở bên phải kia, nhà quý tộc đầy mình bọc sắt, cưỡi trên con ngựa đang lồng lên, là Lui đơ Brêzê; cháu nội Pie dơ Brêzê lãnh chúa đất Brơvan và Môngsôvê, bá tước Đơ Môlôvriê, nam tước Đơ Môny, cận thần của nhà vua, kỵ sĩ Hội Thánh và cũng là thống đốc hạt Noócmăngđi, mất ngày 23 tháng 7 năm 1531, vào một chủ nhật, như đã ghi chú; và ở dưới, người sẵn sàng xuống mộ kia cũng đúng là ông ấy. Chẳng thể tìm đâu ra một biểu hiện hoàn hảo hơn về cái hư vô, có phải không?

Bà Bôvary lấy ống nhòm. Lêông đờ người, nhìn nàng; chẳng buồn nói một tiếng, làm một cử chỉ, vì anh ta cảm thấy nản lòng biết bao trước hai sự cố ý vừa chuyện phiếm vừa vô tình ấy.

Người hướng dẫn muôn thuở lại nói tiếp:

- Gần ông ta, người phụ nữ quỳ mà khóc là vợ ông ta, Đian đơ Poachiê, nữ bá tước Đơ Brêzê, nữ công tước Đơ Valăngtinoa, sinh năm 1499, mất năm 1566; và ở bên trái, người phụ nữ ẵm con kia, là đức bà đồng trinh. Bây giờ ông bà quay về phía này: đây là những ngôi mộ nhà Ănboazơ. Cả hai ông đều là hồng y giáo chủ và đức tổng giám mục ở Ruăng. Ông kia là thượng thư triều vua Lui thứ XII. Ông ta đã có nhiều công đức với nhà thờ. Người ta đã thấy trong chúc thư của ông ta ba vạn đồng tiền vàng cấp cho người nghèo.

Và, không ngừng, ông ta vừa nói, vừa đẩy họ vào một cái điện thờ ngổn ngang những chấn song, ông ta di chuyển vài cái, và bới ra một khối chừng là một bức tượng tạc dở.

- Tượng này xưa kia trang trí, ông ta nói với một tiếng rên dài, ngôi mộ của Risa có trái tim sư tử, vua nước Anh kiêm quận công xứ Noócmăngđi. Chính bọn giáo đồ phái Canvanh thuở ông đã gây nên nông nỗi này. Vì tàn ác, chúng đã chôn vùi nó xuống đất, dưới tòa tư giáo của Đức ông. Này, đây là cái cửa mà Đức ông dùng để về nhà. Chúng ta hãy chuyển sang xem những tấm cửa kính vẽ ở miệng ống xối nước.

Nhưng Lêông đùng đùng rút ở túi ra một đồng hào trắng và anh ta nắm lấy tay Emma. Viên giám sát giáo đường hết sức ngạc nhiên, chẳng hiểu nổi sự hào phóng không đúng lúc ấy, khi mà người khách lạ còn bao nhiêu cái cần xem. Cho nên, gọi anh ta lại, ông ta nói:

- Ô! Thưa ông, gác chuông! Gác chuông!...

- Cám ơn, Lêông nói.

- Ấy thế là không phải! Gác chuông cao bốn trăm bốn mươi piê 2 chỉ kém Kim tự tháp ở Ai Cập chín piê. Nó toàn bằng gang, nó...

Lêông lảng đi là vì anh ta thấy dường như mối tình của anh ta, từ gần hai tiếng đồng hồ, đã nằm chết dí một chỗ chẳng khác đá trong nhà thờ, bây giờ lại sắp tiêu tan như khói, qua một loạt ống cụt tròn dài của lò sưởi có lỗ thủng, lần mò một cách thô bạo trên nhà thờ; như sự tính toán viển vông của một người thợ đúc xoong chảo ngông cuồng nào đó.

- Thế chúng ta đi đâu bây giờ? Nàng hỏi.

Không đáp, anh ta tiếp tục bước mau và bà Bôvary đã nhúng ngón tay vào nước thánh khi họ nghe thấy sau họ một hơi thở hổn hà hổn hển mạnh mẽ, ngắt quãng đều đều bởi tiếng lộc cộc của một cái gậy. Lêông ngoảnh lại.

- Thưa ông!

- Cái gì?

Và anh ta nhận thấy viên giám sát giáo đường, cánh tay tì vào bụng, ôm chừng hai chục cuốn sách to đóng gáy. Đây là những tác phẩm nghiên cứu về ngôi nhà thờ.

- Đồ ngốc! Lêông làu bàu, lao mình ra khỏi nhà thờ.

Một đứa trẻ đang tinh nghịch trên sân trước giáo đường.

- Gọi cho tao một chiếc xe ngựa!

Đứa trẻ vọt đi như viên đạn, qua phố Bốn Gió; lúc bấy giờ chỉ còn lại có họ, vài phút, đối diện và hơi lúng túng.

- Chà! Lêông!... Thực... tôi chẳng biết... tôi có nên...

Nàng làm bộ làm tịch. Rồi bằng một vẻ nghiêm trang, nàng nói:

- Cái đó rất bất tiện, ông có biết không?

- Cái gì kia chứ? Viên luật sư tập sự đáp, ở Pari, thế này là thường! Và lời nói ấy, như một lý lẽ không chống lại được, làm nàng có quyết tâm.

Lúc ấy chưa có xe. Lêông sợ nàng lại trở vào nhà thờ. Cuối cùng xe tới.

- Ít ra ông bà cũng nên ra phía cửa Bắc! Viên giám sát giáo đường đứng trên ngưỡng cửa thét lên bảo họ, xem cảnh Phục sinh, Lời xét cuối cùng, cảnh Thiên đường, Vua Đavit và Những người bị đày vào hỏa ngục.

- Ông đi đâu ạ? Người xà ích hỏi.

- Anh muốn đi đâu thì đi! Lêông vừa đẩy Emma vào xe vừa nói vậy.

Thế là chiếc xe nặng lên đường.

Nó xuống phố Cầu Lớn, qua quảng trường Nghệ Thuật, bờ sông Napôlêông, Cầu Mới và ngừng phắt lại trước bức tượng Pie Coócnây.

- Cứ đi đi! Một tiếng người từ trong xe nói ra.

Cái xe lại đi, và ngay từ ngã tư La Fayét, tự để trôi xuống dốc, nó phóng nước đại vào trong ga xe hỏa.

- Không, cứ đi thẳng! Tiếng nói lúc nãy lại vang lên.

Chiếc xe ra khỏi hàng rào sắt, và chẳng bao lâu tới con sông, nó chạy thong thả giữa những cây du thụ to. Người xà ích lau trán, kẹp chiếc mũ da giữa khoảng hai ống chân và thúc xe vượt bờ các lối đi song song bên đường chính, ven bờ nước, gần thảm cỏ.

Nó đi dọc sông, trên con đường kéo thuyền lát đá sỏi, và đi mãi, về phía Oaxen, bên kia các đảo.

Nhưng đột ngột, nó lao vọt một cái qua Cátma, Xôttơvin, Grăng Sôtxê, phố Enbớp, và nó dừng lại lần thứ ba trước vườn Bách Thảo.

- Đi đi nào! Tiếng nói vang lên hùng hổ hơn.

Và lập tức lại chạy, nó qua Xanh Xơvê, qua phố bờ sông Quyrăngđiê, Mơlơ, một lần nữa lại qua cầu, qua bãi Săng đơ Mác và chạy sau các vườn bệnh viện, ở đó những cụ già mặc áo vét đen đi chơi dưới nắng, dọc theo một nền đất cao xanh om những dây leo trường xuân. Nó ngược đại lộ Buvrơi, chạy suốt đại lộ Côsoazơ, rồi qua cả Mông Ribuđê đến tận dốc Đơvin.

Chiếc xe đi trở lại; và bây giờ, không chủ định chẳng phương hướng, nó đi lang thang. Người ta thấy nó ở Xanh Pôn, ở Lêxuya, ở Mông Gacgăng, ở Rugiơ Marơ và ở quảng trường Gayaboa, phố Malađrơri, phố Đinăngđơri, trước Xanh Rômanh, Xanh Viviêng, Xanh Maclu, Xanh Nikedơ, - trước Sở thương chính, - ở Baxơ Viây Tua, ở Troa Pipơ và ở nghĩa trang Mônuymăngtan. Chốc chốc, người xà ích, trên chỗ ngồi của mình, đưa cặp mắt thất vọng vào các tiệm rượu. Bác ta không hiểu tính di động cuồng nhiệt nào sai khiến những con người này chẳng muốn dừng lại. Đôi lần bác ta thử ngăn họ, thế là lập tức bác ta nghe thấy phía sau mình phát ra những tiếng kêu la giận dữ. Thế là bác ta lại phải ra tay quất già hai con ngựa đẫm mồ hôi mà chẳng phòng ngừa những chỗ đường xóc vướng vào chỗ này đụng phải chỗ khác, chẳng buồn để ý đến điều đó, mất tinh thần, và gần phát khóc lên vì khát, vì mệt và vì buồn.

Và ở bến cảng, giữa các xe tải và các thùng, và trong các phố, bên các bục đường, dân chúng mở to mắt ngạc nhiên trước sự việc quá lạ lùng ấy xảy ra tại một tỉnh nhỏ, một chiếc xe ngựa buông mành cứ như thế xuất hiện liên tục, kín mít hơn một ngôi mộ và rập rình như một cái tàu thủy.

Một lần, ban trưa, giữa đồng quê vào lúc mặt trời rọi mạnh nhất vào những chiếc đèn cũ mạ bạc, một bàn tay để trần thò qua những chiếc diềm nhỏ bằng vải vàng và ném ra những mẩu giấy vụn tan tác trước gió và đổ xuống phía xa như những con bướm trắng, trên một cánh đồng xa, trúc thảo đỏ rộ hoa.

Rồi, vào hồi sáu giờ, chiếc xe dừng lại trong một ngõ hẻm khu Bôvoazin, và một người đàn bà, trùm mặt trong một chiếc khăn voan, bước xuống và đi thẳng.

--------------------------------

1

Livrơ (livre): Đơn vị trọng lượng cũ có giá trị từ 380 đến 550 gam ngày nay.

2

Piê (Pied): Đơn vị đo lường cũ tương đương 0,324m.

Chương 2

Về tới khách sạn bà Bôvary ngạc nhiên không thấy chiếc xe hàng đâu. Ive, đợi nàng đã năm mươi ba phút, rút cục bỏ đi.

Tuy nhiên, không có gì buộc nàng phải đi cả; nhưng nàng sẽ hứa về ngay chiều tối hôm đó. Vả lại, Sáclơ đang đợi nàng, và nàng cảm thấy trong lòng mình cái thói ngoan ngoãn hèn hạ nó đối với nhiều người đàn bà, vừa như là một hình phạt vừa như là một quả báo của tội ngoại tình.

Nàng đùng đùng thu xếp hành lý, trả tiền trọ, thuê ở ngoài sân một xe độc mã nhỏ, và giục giã người phu giữ ngựa, khuyến khích gã ta, chốc chốc lại hỏi thăm giờ giấc và những cây số đã đi cho đến khi trông thấy những ngôi nhà đầu tiên ở Canhcămpoa thì đuổi kịp chiếc xe Con én.

Vừa ngồi vào góc xe, nàng đã nhắm mắt lại, và mở mắt ra khi tới chân dốc, ở đấy, từ xa nàng nhận ra Fêlixitê đang đứng trước cửa nhà người thợ đóng móng ngựa. Ive kìm ngựa lại, và người hầu gái kiễng chân lui tới cửa sổ xe, bí mật nói:

- Thưa bà, bà cần đi ngay tới đến nhà ông Hôme. Có việc gì gấp đấy.

Làng mạc vắng lặng như thường lệ. Ở góc các phố, có những đống nhỏ màu hồng đang bốc khói lên không trung vì đang lúc làm mứt, và mọi người, ở Yôngvin, đều nấu thức ăn dự trữ của mình cùng một ngày. Nhưng người ta ngắm nghía trước cửa hàng dược phẩm một đống to lớn hơn nhiều, nó vượt các đống khác như thể một phòng bào chế phải vượt các lò bếp dân thường, một nhu cầu chung phải vượt các sở thích cá nhân.

Nàng bước vào. Chiếc ghế bành lớn bị đổ, và thậm chí, tờ bào Ngọn đèn Ruăng, nằm gí dưới đất, trải rộng ra giữa hai cái chày. Nàng đẩy cánh cửa hành lang; và, giữa căn nhà bếp, trong đống vải màu nâu đầy trái phúc bồn tử đã tuốt hột, đường vụn, đường miếng, những chiếc cân trên bàn, những cái chậu trên lửa, nàng thấy cả gia đình Hôme, lớn và nhỏ, khoác tạp dề lên tận cằm và cầm đĩa ăn ở tay. Juyxtanh, đứng đó, cúi đầu và tay dược sĩ quát:

- Ai bảo mày đi kiếm nó trong phòng tạp liệu?

- Cái ấy là cái gì vậy? Có chuyện gì thế?

- Có chuyện gì à? Tay dược sĩ trả lời. Mọi người đang nấu mứt: mứt chín; nhưng nó sắp trào ra vì nước đường sôi mạnh quá, nên tôi bảo lấy một cái chậu khác. Thế là nó, vì uể oải, vì biếng nhác, đã đi lấy trong phòng thí nghiệm của tôi, cái chìa khóa của tủ thuốc treo vào một cái đinh riêng!

Tay dược sĩ gọi một gian buồng nhỏ dưới mái nhà như thế, diện tích gian buồng đầy dụng cụ và hàng hóa thuộc nghề nghiệp của y. Thường khi, y ở lại trong đó hằng giờ đằng đẵng để dán nhãn hiệu, san chai lọ, buộc lại dây; và y coi nó không phải như một cái kho chứa bình thường mà như một thánh đường hẳn hoi, từ đó rồi thoát ra, do tay y sửa soạn, mọi thứ thuốc viên, thuốc tễ, thuốc sắc, nước hoa và thuốc nước, chúng làm cho danh tiếng của y lan truyền khắp vùng chung quanh. Không một ai ở đời này đặt chân vào đó; và y tôn trọng nó đến mức y tự tay quét dọn nó. Sau hết, nếu hiệu thuốc mở rộng cửa đón khách bốn phương là nơi y phơi bày cái kiêu hãnh của y, thì phòng tạp liệu là nơi Hôme ẩn náu trong đó, tập trung tư tưởng một cách ích kỷ. Hôme say sưa, trong việc sử dụng những cái sở trường của y, cho nên tính dại dột của Juyxtanh đối với y là một sự bất chính ghê gớm: và, mặt đỏ gay hơn cả trái phúc bồn tử, y lắp đi lắp lại:

- Phải, về cái phòng tạp liệu ấy! Chiếc khóa để cất kín các chất axít với các chất kiềm ăn da ấy! Đã dám lấy một cái chậu dự trữ; một cái chậu có vung; thứ mà có lẽ chả bao giờ tôi dùng đến! Nhất nhất đều có tầm quan trọng của nó; trong những công việc khó khăn về kỹ thuật bào chế của chúng ta. Nhưng mà của quý! Phải biết phân biệt và không được sử dụng vào những việc gần như nội trợ, cái gì dành cho việc bào chế thuốc. Thế có khác nào chặt một con gà mái tơ béo bằng con dao mổ xẻ, khác nào một quan tòa lại...

- Thì mình hãy bình tĩnh lại! Bà Hôme nói. Và Atali kéo y qua chiếc áo rơđanhgôt:

- Ba! Ba!

- Không, mặc tôi! Tay dược sĩ lại nói, mặc tôi, mẹ kiếp! Thế có khác gì làm nghề buôn bán đồ gia vị, tôi lấy danh dự mà nói thế! Thôi đấy cứ việc làm! Đừng tôn trọng cái gì cả! Đập vỡ đi! Nghiền vụn ra! Thả những con đỉa ra! Đốt cháy cây quy thục đi! Ngâm dưa chuột vào trong các bình ấy, xé tan những cuốn băng đi!

- Thế mà ông đã..., Emma nói.

- A ha! Mày không biết! Này! Tao, tao biết! Mày đã trông thấy một cái chai thủy tinh màu lơ, niêm phong bằng xi vàng, trong đựng một thứ bột trắng, trên chai tao đã ghi: nguy hiểm! Thế mày có biết cái gì ở trong đó không? Nhân ngôn! Và mày sắp mó vào cái đó! Lấy một cái chậu ở bên cạnh!

- Bên cạnh! Bà Hôme vừa chắp tay lại vừa thét lên. Nhân ngôn ư? Ông có thể đầu độc tất cả nhà này đấy!

Thế là lũ trẻ kêu lên, như thể chúng đã cảm thấy trong ruột chúng quặn đau ghê gớm rồi.

- Hay là đầu độc một bệnh nhân! Tay dược sĩ nói tiếp. Thế mày muốn tao ra ngồi trên ghế tội nhân trong tòa đại hình ư? Muốn tao bị lôi lên máy chém ư? Mày còn lạ gì tao đã cẩn thận như thế nào trong việc pha chế thuốc, dẫu rằng tao đã quá quen cái đó ư? Luôn luôn tao tự nát tao khi tao nghĩ đến trách nhiệm của tao! Vì Chính phủ trừng trị chúng ta, và cái luật pháp phi lý chi phối chúng ta, như một lưỡi gươm thực sự của Đamôcờlex treo trên đầu chúng ta!

Emma không còn nghĩ đến việc hỏi xem người ta muốn gì ở nàng, và tay dược sĩ tiếp tục bằng những lời nói không ra hơi:

- Đây là mày báo đền công ơn của tao đối với mày! Đây là mày thưởng tao về những sự chăm sóc hoàn toàn như cha con của tao đối với mày! Vì không có tao, mày sẽ ở đâu? Mày sẽ làm gì? Ai nuôi mày, may mặc cho mày, cấp cho mày mọi phương tiện để có ngày mày nên danh nên giá mở mặt với đời? Nhung muốn được như thế, phải đổ mồ hôi nắm vững mái chèo, và như người ta nói, phải chai tay lên Fabricando fit faber, age quod agis (trong sự nghiệp làm nên bực thầy, mày làm gì cũng phải chú ý đến việc mày làm).

Y tuôn ra hàng tràng tiếng La tinh, vì y quá phẫn nộ. Y có thể nói tiếng Trung Quốc và tiếng Grôenlăng, nếu y biết hai thứ tiếng ấy, vì y đang ở một trong những cơn khủng hoảng mà toàn bộ tâm hồn y bộc lộ lung tung cái gì nó chưa kín như đại dương trong cơn giông tố, tự phanh phui từ đám rong ở bờ biển cho đến cát nằm ở dưới đáy sâu. Và y lại nói:

- Tao bắt đầu hối hận ghê gớm vì đã cáng đáng con người của mày! Xưa kia tao cứ để mặc mày sống ngụp trong cảnh đói khổ và đê tiện đẻ ra mày thì hẳn còn tốt hơn! Mày chỉ làm nghề chăn súc vật có sừng được thôi! Mày chẳng có một chút khả năng nào về khoa học cả. Mày dán một cái nhãn hiệu cũng không xong! Vậy mà mày sống ở đó, trong nhà tao, như một đức cha, được nâng niu chăm sóc, ăn uống no say!

Vừa lúc đó, Emma, quay về phía bà Hôme, nói:

- Người ta bảo tôi đến...

- À! Trời ơi, tôi biết thưa với bà thế nào đây?... Một tai họa! Bà Hôme buồn rầu ngắt lời.

Bà chưa nói hết lời thì tay dược sĩ gầm lên:

- Đổ sạch nó đi! Cọ rửa nó đi! Đem cất nó đi! Quàng lên nào! Và, nắm lấy cổ áo Juyxtanh mà lay, y làm rơi một cuốn sách từ túi nó ra.

Thằng bé cúi xuống. Hôme nhanh hơn, và, sau khi đã nhặt được cuốn sách, y ngắm nghía, mắt mở to, miệng há hốc.

- Tình yêu... vợ chồng! Y tách bốn tiếng đó ra làm hai vế rồi chậm chạp đọc. À! Hay lắm! Hay lắm! Đẹp lắm! Lại có cả tranh ảnh nữa!... Ôi! Thực quá quắt!

Bà Hôme tiến đến.

- Không, mình đừng mó vào!

Lũ trẻ muốn xem các ảnh.

- Bước! Y quát.

Thế là chúng ra ngoài chơi.

Thoạt tiên y dài bước từ dọc sang ngang, tay cầm cuốn sách để mở, đôi mắt đảo đi đảo lại; tức thở, sưng sỉa, choáng váng. Rồi, y tiến thẳng tới phía gã học trò của y, và y đứng sừng sững trước mặt nó, hai cánh tay khoanh lại:

- Vậy là mày có đủ mọi thói hư tật xấu ư? Thằng khốn kiếp kia?... Coi chừng đấy, mày đang ở trên một cái dốc!... Thế ra mày không nghĩ rằng cuốn sách khốn nạn này có thể rơi vào tay các con tao, nhóm tia lửa vào đầu óc chúng, làm u ám tâm hồn trong trắng của con Atali, làm hư hỏng thằng Napôlêông! Có thể nó đã hình thành như một người lớn rồi. Ít ra, mày có chắc chắn rằng chúng chưa đọc cuốn sách này không? Mày có thể chứng thực với tao...?

- Vậy thế, thưa ông, Emma cất tiếng, ông có điều gì muốn bảo tôi...?

- Quả thật, thưa bà... Ông bố chồng của bà đã chết!

Thực thế, ông Bôvary bố vừa mất cách đây một hôm, mất đột ngột vì bị trúng phong sau khi ăn cơm; và do quá cẩn thận sợ Emma bị xúc động, Sáclơ đã nhờ Hôme báo cho nàng cái tin dữ dội này một cách thận trọng.

Y đã ngẫm nghĩ về câu sẽ nói, y đã sửa gọt, trau chuốt, làm cho nó nhịp nhàng; đó là một công trình tuyệt tác về đức tính khôn ngoan và về vai trò trung gian; về ngữ điệu tinh vi và về hành động tế nhị; nhưng cơn giận đã cuốn phăng cả tu từ học.

Emma, không hỏi thêm một chi tiết nào nữa, liền ra khỏi cửa hàng dược phẩm, vì Hôme lại tiếp tục cái đà la mắng của y. Tuy nhiên, y cũng nguôi đi và, bây giờ, y vừa lẩm bẩm bằng một giọng nhân từ, vừa quạt cho mình bằng cái mũ trùm kiểu Hy Lạp.

- Không phải là tao bác bỏ hoàn toàn cuốn sách! Tác giả là một người thầy thuốc. Trong đó có ít nhiều khía cạnh khoa học cho một người lớn biết thì không phải là dở và tao còn dám nói rằng một người lớn phải biết mới được. Nhưng sau này, sau này cơ! Mày hãy đợi cho bản thân mày ít ra cũng thành người lớn đã và cho thể chất người mày hoàn thành đã.

Nghe tiếng Emma gõ cửa, Sáclơ đang đợi nàng, dang hai cánh tay tiến ra và nói với nàng, giọng đẫm lệ:

- Ôi! Người vợ quý mến của anh...

Và hắn nhẹ nhàng cúi xuống hôn nàng. Nhưng, khi môi nàng vừa đụng tới môi hắn, nàng đột nhớ đến Lêông; và nàng rùng mình lấy tay xoa mặt.

Tuy vậy, nàng cũng đáp:

- Có, em biết..., em biết...

Hắn đưa nàng xem bức thư trong đó mẹ hắn thuật lại biến cố xảy ra, không một chút tình cảm giả dối nào. Bà chỉ tiếc chồng bà không được tôn giáo giúp đỡ, vì chết ở Đuđơvin, ngay ngoài phố, trên ngưỡng cửa một tiệm cà phê, sau một bữa ăn mừng đất nước cùng với một số sĩ quan cũ.

Emma trả lại bức thư; rồi đến bữa ăn chiều, vì phép xã giao, nàng làm ra chút vẻ không thiết ăn. Nhưng vì hắn cứ ép nàng, nàng mới quyết tâm ăn, còn Sáclơ trước mặt nàng, ngồi trơ trơ trong một trạng thái quá đau khổ.

Thỉnh thoảng, ngửng đầu lên, hắn đưa cặp mắt buồn rười rượi nhìn nàng đăm đăm. Có một lần hắn thở dài:

- Anh những muốn được gặp lại ông cụ!

Nàng im lặng. Cuối cùng, hiểu rằng cần phải nói, nàng hỏi:

- Ông cụ thân sinh ra anh bao nhiêu tuổi!

- Năm mươi tám tuổi!

- À!

Và thế là hết.

Mười lăm phút sau, hắn thêm:

- Tội nghiệp mẹ anh!... Bà cụ bây giờ sẽ ra sao?

Nàng phác một cử chỉ tỏ ý không biết.

Thấy nàng ít nói, Sáclơ cho rằng nàng đau đớn và hắn kiềm chế mình không nói gì để khỏi làm tăng nỗi đau đớn khiến anh xúc động ấy. Tuy nhiên, để thoát khỏi mối sầu thảm của riêng mình, hắn hỏi:

- Hôm qua, em có vui không?

- Có.

Khi khăn trải bàn đã được lấy đi, Bôvary vẫn không đứng dậy. Emma cũng thế; và nàng càng nhìn thấy mặt hắn thì cái quang cảnh vô vị ấy càng xua đuổi dần dần khỏi lòng nàng mọi tình thương hại. Nàng thấy hắn dường như yếu đuối, nhu nhược, bất tài, rốt cục lại, là một con người kém cỏi về mọi mặt. Làm thế nào giũ được hắn? Một buổi tối dài dăng dặc! Một cái gì tê mê như hơi thuốc phiện khiến nàng bàng hoàng.

Họ nghe thấy trong phòng đằng trước có tiếng lộc cộc của một cái gậy trên sàn. Đấy là Hipôlýt mang hành lý của bà về.

Để đặt các thứ xuống, gã phải xoay một cách khó nhọc một phần tư vòng bằng cái chân gỗ của hắn.

- Hắn chẳng nghĩ đến chuyện cũ nữa! Nàng thầm nói khi nhìn thấy con người khốn khổ đó có món tóc chổi xể màu đỏ lã chã mồ hôi.

Bôvary tìm tiền ở đáy túi; và, không có vẻ hiểu tất cả cái gì là nhục cho mình chỉ nguyên ở sự có mặt của con người đứng đó, như lời trách mắng tiêu biểu về cái thói ngu xuẩn không sửa chữa được của mình, hắn nói, khi hắn nhận thấy trên lò sưởi những bông hoa tím của Lêông:

- Này! Em có một đóa hoa đẹp!

- Vâng, nàng thản nhiên đáp; đó là bó hoa em vừa mua... của một người đàn bà ăn xin.

Sáclơ cầm hoa, và áp cặp mắt đỏ ngầu nước mắt vào hoa, hắn nhẹ nhàng ngửi hoa. Nàng vội giật những bông hoa ở tay hắn rồi đem cắm vào trong một cốc nước.

Ngày hôm sau, bà Bôvary mẹ đến. Bà và con trai bà khóc nhiều. Emma, mượn cớ sai bảo người ở, tránh mặt.

Ngày hôm sau nữa, phải cùng nhau tính toán đến việc để tang. Họ mang hộp đồ khâu ra ngồi bên bờ nước, dưới vòm cây.

Sáclơ nghĩ tới bố, và hắn ngạc nhiên cảm thấy rất thương mến con người đó mà từ trước đến nay hắn vẫn tưởng chỉ yêu đại khái. Bà Bôvary mẹ nhớ tới chồng. Bà đâm ra tiếc những ngày tồi tệ nhất xưa kia đang hiện ra trước mắt bà. Tất cả đều xóa mờ dưới lòng thương tiếc tự nhiên một thói quen quá lâu dài; và, chốc chốc một giọt lệ lớn lại chảy xuống dọc mũi bà và đọng lại ở đó một lát. Khi bà đẩy mũi kim khâu.

Emma thầm nghĩ mới chưa đầy bốn mươi tám giờ, họ đã sống bên nhau, xa cách thiên hạ, hoàn toàn trong một trạng thái mê mẩn, không đủ mắt mà ngắm nhìn nhau. Nàng cố nắm lại những chi tiết nhỏ nhặt nhất của cái ngày đã trôi biến đi đó. Nhưng sự có mặt của mẹ chồng và của chồng khiến nàng mất tự nhiên. Nàng muốn không nghe thấy gì, không trông thấy gì để khỏi trở ngại đến sự trầm tĩnh tưởng nhớ tới mối tình của nàng, dù nàng làm gì, nó cứ tiêu tan vì những cảm giác bên ngoài.

Nàng tháo lần lót của chiếc áo dài, từng mảnh vải nhỏ vung vãi xung quanh nàng; bà Bôvary mẹ không nhìn lên, lách tách chiếc kéo và Sáclơ, đi giày vải thô, mặc chiếc áo rơđanhgôt cũ màu nâu dùng làm áo mặc trong nhà, ngồi đó, hai tay đút trong túi, miệng chẳng nói chẳng rằng; gần họ, con Béctơ, đeo tạp dề trắng, lấy chiếc xẻng của nó san cát trên các lối đi.

Đột nhiên họ thấy Lơrơ, tay buôn vải, vào nhà qua phía cửa rào.

Y đến xin giúp việc vì thấy gia đình có việc buồn. Emma cho biết, theo cảm nghĩ của nàng, có thể không cần phiền đến y. Tay lái buôn không chịu thua, y nói:

- Xin lỗi; tôi muốn được nói chuyện riêng.

Rồi y khe khẽ tiếp lời:

- Về việc ấy..., ông biết?

Sáclơ đỏ mặt tía tai:

- A! Vâng..., quả vậy.

Và, trong cơn bối rối, hắn quay về phía vợ:

- Em có thể... được không, em yêu?

Nàng tỏ vẻ hiểu ý, vì nàng đứng dậy, còn Sáclơ nói với mẹ:

- Chẳng có gì đâu! Chắc hẳn là việc vặt nào đó trong nhà đấy thôi.

Hắn chẳng muốn cho mẹ biết chuyện cái giấy vay nợ sợ mẹ mắng.

Ngay lúc hai người vừa đứng riêng, Lơrơ liền bằng những lời nói khá rõ ràng mừng Emma về sự kế thừa, rồi trò chuyện đến những cái không đâu, đến những giàn cây ăn quả áp tường, đến mùa màng và đến sức khỏe của bản thân y, thường thường cứ cù nhầy, khi ốm khi không. Quả thật y chịu khó đầu tắt mặt tối, tuy chẳng phải chỉ cần có tí bơ phết bánh, bất chấp miệng tiếng người đời.

Emma cứ để y nói... Nàng cực kỳ buồn thảm từ hai hôm nay!

- Thế là bà hoàn toàn hồi phục rồi! Y nói tiếp. Nói thực, tôi đã thấy ông chồng đáng thương của bà trong tình trạng tội nghiệp! Thật là con người trung thực, dẫu rằng chúng tôi đã cùng có những mắc míu với nhau.

Nàng hỏi những mắc míu ấy là những mắc míu gì, vì Sáclơ đã giấu nàng việc tranh luận về những mặt hàng cung cấp.

- Thì bà biết rõ đấy thôi! Lơrơ nói. Đó là những chiếc hòm du lịch theo sở thích của bà.

Y  đã kéo mũ sụp xuống mắt, vắt hai bàn tay ra sau lưng, nhoẻn miệng cười và huýt sáo nhẹ, y nhìn thẳng vào mặt nàng một cách khó chịu. Hay y nghi ngờ điều gì? Nàng chìm đắm trong mọi thứ lo sợ. Cuối cùng, tuy nhiên, y lại nói:

- Chúng tôi đã làm lành với nhau và tôi đến đề nghị với ông một cách thu xếp.

Đó là gia hạn tấm ngân phiếu mà Bôvary đã ký. Ông nhà, vả lại, tùy ý hành động; ông nhà chẳng nên băn khoăn, nhất là bây giờ ông lại sắp gặp hàng loạt khó khăn.

- Và thậm chí tốt hơn là ông nhà nên để người nào gánh vác những việc ấy, bà chẳng hạn; với một giấy ủy quyền thì tiện, và bây giờ chúng ta sẽ cùng nhau có những việc nhỏ...

Nàng không hiểu. Y lặng im. Sau đó, chuyển sang chuyện buôn bán, Lơrơ tuyên bố nàng không thể từ chối không mua của y cái gì. Y sẽ gửi đến nàng thứ hàng len mỏng màu đen, mười hai mét, đủ may một chiếc áo dài.

- Chiếc áo dài đó bà đang mặc kia kìa chỉ mặc ở trong nhà là tốt. Bà cần phải có một chiếc áo khoác để dùng trong những cuộc thăm viếng. Tôi đã thấy thế, ngay từ lúc bước chân vào đây. Tôi có con mắt của người dân Mỹ.

Y  không gửi vải lại mà lại tự tay mang tới. Rồi y đo vải, y kiếm nhiều cớ khác để tới, cố gắng mỗi lần tới tỏ ra hòa nhã, ân cần, phục tùng, như cách nói của Hôme và luôn luôn xui khéo Emma vài lời về việc ủy quyền. Y chẳng nói đến phiếu nợ. Nàng không nghĩ tới tờ giấy đó. Vào đầu thời kỳ nàng dưỡng bệnh, Sáclơ kể qua cho nàng về nó; nhưng biết bao chuyện rối bời đã qua đầu óc nàng, nên nàng chẳng nhớ gì đến nó nữa. Vả lại, nàng tránh mở ra bất kỳ cuộc bàn cãi nào về quyền lợi. Bà Bôvary mẹ ngạc nhiên và cho nàng thay đổi tính tình là do những ý thức về tôn giáo mà nàng đã tiêm nhiễm phải khi ốm đau.

Nhưng bà vừa đi khỏi, Emma đã làm cho Sáclơ Bôvary phải lạ lùng trước đầu óc thực tế của nàng. Đã đến lúc cần phải đi thăm dò tin tức, kiểm tra lại các món cầm đồ, xem xét nên làm một cuộc bán đấu giá hay một cuộc bán hạ giá.

Nàng liều lĩnh viện ra những thuật ngữ chuyên môn thốt lên những lời lẽ đao to búa lớn về trật tự, về tương lai, về dự kiến, và liên tục phóng đại những nỗi khó khăn của sự kế thừa đến mức một hôm nàng đưa cho hắn xem tờ mẫu của một bản giấy cho phép chung để "quản lý và kinh doanh các nghề nghiệp, tiến hành mọi sự vay mượn, ký nhận và chịu trách nhiệm mọi giấy tờ, trang trải mọi khoản tiền, v.v..."; Nàng đã lợi dụng được những bài học của Lơrơ.

Sáclơ ngây thơ hỏi nàng giấy ấy ở đâu ra?

- Do ông Guyômanh.

Và, với vẻ bình tĩnh nhất đời, nàng nói thêm:

- Em không tin cái đó lắm đâu. Các ông quản lý văn khế vẫn có tiếng tăm xấu thế! Có lẽ phải hỏi ý kiến... Chúng ta chỉ quen có... Ờ! Chẳng quen ai hết.

- Trừ phi Lêông... Sáclơ, đang suy nghĩ, đáp.

Nhưng khó mà bàn tính với nhau bằng thư từ được. Thế là nàng tình nguyện đi làm việc ấy. Hắn thoái từ. Nàng cố nài. Một cuộc đột kích chăm lo cho nhau. Cuối cùng, nàng kêu lên bằng một giọng bướng bỉnh giả tạo:

- Không, cứ để em đi.

- Em tốt quá! Hắn vừa nói vừa hôn trán nàng.

Ngay ngày hôm sau, nàng đáp chiếc xe Con én đi Ruăng hỏi ý kiến Lêông: và nàng ở đó ba ngà

Chương 3

Đó là ba ngày đầy đủ thi vị, rực rỡ, một thời kỳ trăng mật thật sự.

Họ ở khách sạn Bulônhơ, trên cảng. Và họ sống ở đó, cửa bản khép lại, cửa to đóng kín, với hoa dưới đất và nước ngọt pha đá mà người ta mang đến cho họ từ sáng.

Buổi chiều, họ thuê một con thuyền có mui và đi ăn trên một hòn đảo.

Vào giờ đó, người ta nghe thấy ven các công trường, vang lên tiếng vồ của thợ trét thuyền đập vào vỏ thuyền. Khói hắc in thoát ra từ khoảng giữa các cây, và người ta thấy trên sông những giọt dầu mỡ lan rộng, nhấp nhô không đều dưới màu đỏ của mặt trời, như những tấm đồng đen xứ Flôrăngxơ đang nổi lên.

Họ đi xuống giữa những chiếc thuyền đang đậu, mà những dây cát dài bắt chéo chạm khẽ mui thuyền.

Những tiếng động của thành phố xa dần: tiếng xe bò, tiếng người nói ồn ào, tiếng chó sủa trên boong tàu. Nàng cởi nút mũ và họ bước lên hòn đảo của họ.

Họ ngồi trong buồng thấp của một tiệm rượu có những lưới đen treo ở cửa. Họ ăn cá hương rán, kem và anh đào. Họ nằm trên cỏ; họ ôm hôn nhau ở chỗ khuất, dưới những cây bạch dương; và họ những muốn, như hai Rôbanhxông, sống mãi mãi ở nơi bé nhỏ này, đối với họ, trong niềm hạnh phúc của họ, dường như là nơi đẹp nhất trên trái đất. Đây không phải lần đầu tiên họ thấy cây cối, trời xanh, thảm cỏ, họ nghe nước chảy và gió thổi trong khóm lá; nhưng chắc chắn, họ chưa bao giờ thưởng ngoạn tất cả cái đó, dường như thiên nhiên trước đây chưa có, hay là thiên nhiên chỉ bắt đầu thấy đẹp từ khi dục vọng của họ được mãn nguyện.

Đến đêm, họ lại đi. Con thuyền men theo bờ đảo. Họ ở trong khoang, cả hai khuất trong bóng tối, không nói năng gì. Những mái chèo vuông khua vang giữa khoảng các cánh của cửa sắt; và cái đó nổi lên trong im lặng như tiếng đập của máy đánh nhịp, còn ở phía sau thuyền; bánh lái lướt theo không ngắt quãng tiếng vỗ nhẹ êm của nó trong nước.

Một lần, vầng trăng xuất hiện; họ không khỏi thốt nên lời khi thấy chị Hằng sầu muộn và rất nên thơ; thậm chí nàng còn cất tiếng hát nữa;

Một chiều, anh có nhớ chăng? Chúng ta bơi thuyền, v.v...

Tiếng hát du dương và nhỏ nhẹ của nàng mất hút trên sóng; và gió cuốn đi những tiếng ngân nga mà Lêông nghe thấy lướt qua, như những tiếng vỗ cánh, xung quanh mình.

Nàng đứng phía trước mặt, dựa vào vách thuyền có ánh trăng rọi vào, qua một cửa bản để mở. Chiếc áo dài đen của nàng, mà nếp vải xòe rộng ra như hình quạt, làm người nàng thon lại, cao hơn lên. Nàng ngẩng đầu, chắp hai bàn tay lại và đưa mắt ngước nhìn trời. Đôi khi, hình nàng hoàn toàn khuất hẳn trong bóng liễu; rồi bất thần lại hiện ra, như một ảo ảnh dưới ánh trăng.

Lêông, ngồi bên cạnh nàng, bắt gặp dưới tay một dải bằng lụa đỏ.

Người lái đò ngắm nghía nó và cuối cùng nói:

- À! Băng này có lẽ của một đám mà tôi đưa đi chơi hôm nọ. Họ đến đây, một đoàn người vui nhộn, vừa đàn ông vừa đàn bà, mang theo bánh ngọt, rượu sâm banh, kèn coócnê, cả một sự huyên náo! Nhất là có một tay, người cao và đẹp, mép để một ít ria, rất vui! Và họ nói, như thế này: "Nào, kể cho chúng mình chuyện gì đi..., Ađônphơ... Đôđônphơ...", thì phải.

Nàng rùng mình.

- Em khó chịu à? Lêông vừa hỏi vừa tiến đến gần nàng.

- Ờ! Không sao. Hẳn là khí lạnh ban đêm đó thôi.

Và tay đó chắc là chẳng thiếu gì đàn bà, người thủy thủ già nhẹ nhàng nói thêm, tưởng chừng ngỏ một nhã ý với người khách lạ.

Rồi nhổ nước bọt vào hai tay, ông ta lại nắm lấy mái chèo.

Nhưng đến lúc phải xa nhau! Cuộc từ biệt thật là buồn. Thư từ của Lêông phải gửi đến nhà mụ Rôlê; và nàng dặn dò anh ta quá rõ ràng về cách dùng hai phong bì đến nỗi anh ta rất thán phục cái xảo kế vì tình của nàng.

- Như thế là anh cả quyết với em rằng mọi sự đều êm đẹp chứ? Nàng hỏi anh ta trong cái hôn lần cuối.

- Ừ, cố nhiên!

Nhưng sau đó, khi trở về một mình qua các phố, anh ta thầm nghĩ: Tại sao nàng lại quan tâm quá mức đến sự ủy quyền ấy như vậy?

Chương 4

Lêông, chẳng bao lâu tỏ vẻ trịch thượng với bạn bè; không nhập bọn với họ, và hoàn toàn lơ là các hồ sơ.

Y chờ đợi thư của nàng; y đọc đi đọc lại các bức thư ấy. Y viết thư cho nàng. Y gợi lại hình nàng bằng tất cả sức mạnh của lòng ham muốn và của những kỷ niệm. Nỗi thèm khát gặp lại nàng, đáng lẽ giảm đi vì nàng vắng mặt, lại tăng lên đến mức một buổi sáng thứ bảy y chuồn khỏi phòng luật sư.

Khi, từ đỉnh dốc, y thấy trong thung lũng cái tháp chuông nhà thờ với ngọn cờ bằng sắt tây quay trước gió, y cảm thấy cái khoái trá xen lẫn lòng kiêu hãnh đắc thắng và lòng thương xót vị kỷ của các nhà triệu phú thường có khi họ trở về thăm xóm làng.

Y lảng vảng quanh nhà nàng. Trong bếp có ánh sáng. Y rình bóng nàng sau rèm cửa. Chẳng có gì hiện ra cả.

Mụ Lơfrăngxoa, trông thấy y, la tướng lên, mụ thấy y "cao lên và mảnh đi", còn Actêmizơ, trái lại, thấy anh "khỏe ra và sạm lại".

Y ăn trong phòng nhỏ như xưa, nhưng ngồi một mình, không có tay thu thuế; và Binê mệt mỏi do đợi xe Con én, đã dứt khoát ăn sớm hơn lên một tiếng đồng hồ, và, bây giờ ông ta được ăn bữa chiều vào lúc năm giờ đúng, ông ta vẫn luôn kêu là chiếc xe bà già về muộn.

Song Lêông quyết định; y đến gõ cửa nhà viên thầy thuốc. Bà ở trên buồng, mười lăm phút sau bà mới xuống. Ông tỏ ra hoan hỉ được gặp lại y; nhưng suốt buổi tối hôm ấy và cả ngày hôm sau, y không nhúc nhích.

Y gặp nàng, lúc nàng có một mình, vào buổi tối, rất khuya; ở phía sau vườn, trong ngõ; - trong ngõ, như với người tình trước kia! Trời có cơn dông và họ trò chuyện dưới một cái ô, qua ánh chớp.

Cuộc chia tay trở nên khó lòng chịu đựng.

- Thà chết đi còn hơn! Emma nói.

Nàng vừa quằn quại trong cánh tay y vừa khóc.

- Vĩnh biệt!... Vĩnh biệt!... Bao giờ em lại được gặp anh?

Họ đi rồi lại quay trở lại để ôm hôn nhau nữa; và chính lúc này nàng hứa với y chẳng bao lâu nữa sẽ, bằng bất cứ cách nào, nàng kiếm cơ hội thường xuyên gặp nhau tự do, ít ra mỗi tuần một lần, Emma dám chắc như thế. Và lại, nàng chứa chan hy vọng. Tiền bạc sắp đến với nàng.

Cho nên, nàng sắm cho buồng nàng một đôi rèm vàng sọc lớn, mà Lơrơ đã khoe là để giá rẻ cho nàng; nàng ước ao một tấm thảm, Lơrơ quả quyết rằng "cái đó phải đâu là việc quá khó khăn", y nhã nhặn hứa sẽ cung cấp cho nàng một tấm. Nàng không thể không cần đến những sự giúp đỡ của y. Hai mươi lần trong ngày, nàng cử người đi tìm y, và lập tức y đình công việc riêng của y lại, chẳng dám lẩm bẩm một lời. Người ta càng không hiểu tại sao mụ Rôlê ngày nào cũng ăn sáng tại nhà nàng, và thậm chí lại còn có nhiều cuộc gặp gỡ riêng với nàng nữa.

Chính vào thời kỳ này, tức là khoảng đầu mùa đông; nàng dường như mắc chứng mê sảng mãnh liệt âm nhạc.

Một buổi tối, có Sáclơ ngồi nghe, nàng đánh đi đánh lại bốn lần liền một bài, và luôn bực bội, còn Sáclơ, không để ý tới tình trạng ở trong đó, lại kêu:

- Hoan hô!... Hay lắm!... Em lầm rồi! Cứ đánh đi mà!

- Ờ! Không! Dở quá! Ngón tay em bị yếu đi rồi.

Hôm sau, hắn lại đề nghị nàng đánh một bài gì cho hắn nghe.

- Được, để làm vui lòng anh!

Và Sáclơ thú thực là nàng đã đánh sút đi chút ít. Nàng nhầm biểu nhạc, lúng túng, rồi, ngừng bặt:

- Ôi! Hỏng rồi! Em đến phải đi học; nhưng...

Nàng cắn môi và nói thêm:

- Hai mươi quan một bài, đắt quá.

- Ừ, quả thật... hơi đắt..., Sáclơ vừa nói vừa cười một cách ngốc nghếch. Nhưng anh thấy có lẽ người ta có thể mất ít hơn; vì có những nhạc sĩ không nổi tiếng mà thường khi lại giỏi hơn những bậc tài danh.

- Anh tìm họ đi, Emma nói.

Hôm sau, khi về nhà, hắn ngắm nàng bằng con mắt láu lỉnh, và cuối cùng, không thể nhịn được, hắn nói câu này:

- Em đôi khi bướng bỉnh làm sao! Anh đã ở Bácfơse hôm nay. Này nhé! Bà Liêgia đã chứng thực với anh rằng hôm cô con gái của bà ta, ở Hội Từ Thiện, học nhạc có năm hào một buổi, mà lại là của một bà giáo cừ khôi!

Nàng nhún vai, và chẳng mở đàn ra nữa. Nhưng khi nàng đi qua gần đó (nếu có Bôvary ở đó), nàng thở dài:

- Ôi! Chiếc đàn pianô tội nghiệp.

Và khi có người đến thăm nàng, nàng không quên nói với họ là nàng đã bỏ âm nhạc và bây giờ nàng không thể tiếp tục được vì những lý do bất đắc dĩ. Thế là khách ái ngại cho nàng. Đáng tiếc! Bà ta có tài đến thế! Họ nói chuyện ấy cả với Bôvary. Họ làm hắn hổ thẹn, và nhất là tay dược sĩ:

- Ông có lỗi! Không bao giờ nên bỏ mặc những năng lực thiên nhiên. Vả lại, ông bạn quý của tôi ơi, ông nên nghĩ rằng, để bà đi học, ông sẽ tiết kiệm được sau này khoản học âm nhạc của con gái ông! Tôi, tôi thấy rằng các bà mẹ phải tự mình dạy lấy con cái mình. Đó là một ý kiến của Ruxô, có lẽ còn hơi mới đấy; nhưng rồi sẽ đắc thắng, tôi chắc thế, như việc cho con bú và việc tiêm thuốc.

Thế là Sáclơ, một lần nữa, trở lại vấn đề pianô kia. Emma chua xót đáp rằng tốt hơn là bán nó đi. Chiếc pianô tội nghiệp ấy, nó đã làm cho nàng thỏa mãn bao lần lòng kiêu hãnh của nàng, bây giờ mà trông thấy nó ra đi, thì đối với Bôvary, khác nào như sự tự diệt khôn tả một phần bản thân nàng.

- Nếu em muốn..., hắn nói, thỉnh thoảng học một bài, thì cái đó, nói cho cùng, cũng chẳng phải là cực kỳ tốn kém.

- Nhưng đi học, nàng đáp, có liên tục mới có kết quả.

Thế đấy, nàng đã làm ra như thế để được chồng cho phép lên tỉnh, mỗi tuần một lần, gặp tình nhân của nàng. Sau một tháng, người ta cũng lại thấy nàng đã có nhiều tiến bộ đáng kể.

Chương 5

Hôm ấy là ngày thứ năm. Nàng ngủ dậy, và nàng mặc quần áo lặng lẽ để khỏi làm Sáclơ thức giấc, hắn sẽ không khỏi trách nàng sửa soạn quá sớm. Sau đó nàng hết đi dọc lại đi ngang; nàng đứng trước cửa sổ và nhìn ra quảng trường. Ánh sáng sớm mai luồn giữa các cột chợ, và bên nhà tay dược sĩ, mà các cửa bản còn đóng kín, phô trong màu nhạt của mặt trời mới mọc những chữ hoa trên biển hàng.

Khi chiếc đồng hồ treo tường điểm bảy giờ mười lăm phút, nàng đi đến quán Sư Tử Vàng, ở đó Artêmizơ vừa ngáp vừa ra mở cửa cho nàng. Chị ta bới hầu bà than vùi dưới tro. Emma ở lại một mình trong bếp. Thỉnh trong, nàng bước ra ngoài. Ive đang thong thả đóng ngựa vào xe và, vả lại, gã ta vừa làm vừa nghe mụ Lơfrăngxoa, thò cái đầu đội mũ trùm bằng sợi qua lỗ cửa bán hàng, nhờ gã ta làm hết việc này việc nọ và dặn dò gã ta đủ thứ, giá phải một người nào khác thì đến rối óc. Emma nện gót đôi giày cao cổ của mình lên gạch lát ngoài sân.

Cuối cùng, sau khi gã ta đã ăn xong xúp, khoác áo tơi châm tẩu thuốc và cầm roi quất ngựa, gã ta mới ngồi một cách bình thản vào ghế trên xe.

Chiếc xe Con én đi nước kiệu chậm, và suốt ba phần tư dặm đường, dừng hết chỗ này đến chỗ khác để lấy khách đứng rình bên đường, trước các hàng rào chắn sân. Những người đã báo xe hôm trước thì làm xe phải đợi; có vài người còn nằm trên giường nhà họ; Ive gọi, kêu, rủa, rồi từ chỗ ngồi bước xuống đến từng cửa nhà đập ầm ầm. Gió lùa qua các cửa xép đã rạn nứt.

Trong khi ấy, khách đã lên ngồi đầy bên chiếc ghế dài nhỏ, chiếc xe lăn bánh, những cây táo nối tiếp nhau thành hàng; và con đường, nằm giữa hai cái hào dài đầy nước vàng, cứ liên tục thu hẹp lại về phía chân trời.

Emma thuộc con đường ấy từ đầu đến cuối; nàng biết rằng sau một đồng cỏ có một cái cột, rồi đến một cây du thụ, một vựa lúa hay một túp lều của người sửa đường; thậm chí, đôi khi, để tự gây cho mình những điều ngạc nhiên, nàng nhắm mắt lại. Nhưng nàng không bao giờ mất cái cảm giác rõ rệt về khoảng cách phải qua.

Cuối cùng, những ngôi nhà gạch sát lại nhau, đất vang lên dưới bánh xe, Con én lướt khoảng giữa các vườn, ở đó người ta trông thấy, qua một hàng rào thưa, những bức tượng, một giàn nho, những cây thủy tùng được cắt xén và một cái đu. Rồi, thoáng một cái, thành phố đã hiện ra.

Xuống dần như có bực từ dưới lên và chìm trong sương mù, nó tỏa rộng ra phía ngoài các cầu một cách hỗn độn. Tiếp theo, đồng ruộng mênh mông ngược lên dần theo một thế đơn điệu, cho đến lúc đụng tới cái chân trời mờ nhạt ở tít xa. Như thế, nhìn từ trên xuống toàn bộ phong cảnh có vẻ bất động như một bức họa; những con tàu thả neo dồn vào một góc; dòng sông uốn khúc ở chân các đồi xanh, và những hòn đảo, dài và dẹt, trông tựa những cá đen lớn dừng lại trên mặt nước. Những ống khói nhà máy phun ra những chùm khói nâu rộng bay lên ở đằng đầu. Người ta nghe thấy tiếng ù ù của các lò đúc với tiếng chuông lanh lảnh của các nhà thờ đứng sừng sững trong sương mù. Cây cối ở các đại lộ, trụi cả lá làm thành những bụi màu tím giữa các nhà, và mái nhà bóng loáng nước mưa lấp lánh không đều, tùy theo khu phố cao hay thấp. Đôi khi, một làn gió cuốn mây về phía bờ biển Xanh Catơrin, như những làn sóng trên không trung lặng lẽ đập vào một bờ dốc.

Có một cái gì làm choáng váng, vì nàng đã thoát ra từ những sinh mệnh chất đống lại kia, và trái tim nàng căng ra quá mức tựa hồ như mười hai vạn linh hồn đang hồi hộp ở nơi đó đã đồng loạt gởi đến nàng làm hơi bốc lên của dục vọng mà nàng cho rằng họ đều có. Tình yêu của nàng lớn lên trước không gian và sôi động vì những tiếng rì rầm không rõ đang tăng lên. Nàng trút chúng ra ngoài, ra các quảng trường ra các chỗ đi chơi, ra các đường phố, và cái đô thị cổ xứ Noócmăngđi phơi bày trước mắt nàng như một thủ đô đồ sộ, như một thành Babylon mà nàng bước vào. Nàng chống hai tay ngả người qua cửa sổ để hít làn gió nhẹ; ba con ngựa phóng nước đại. Những hòn đá lao xao trong bùn, chiếc xe lắc lư, và Ive từ xa gọi những chiếc xe con trên đường, trong khi những tay tư sản đã nghỉ đêm ở Boa Guyôm ung dung xuống dốc trong chiếc xe nhà nhỏ của họ.

Người ta dừng lại trước rào chắn, Emma bỏ giầy guốc ra, thay găng tay, sửa lại khăn quàng, và cách đó hai mươi bước, nàng xuống xe Con én.

Thành phố, lúc ấy, đã thức dậy. Những người làm công đội mũ trùm kiểu Hy Lạp lau chùi mặt trước cửa hàng, và những người đàn bà cắp rổ bên hông chốc chốc lại rao vang ở các đầu phố. Nàng đi, mắt nhìn xuống đất, lướt qua các bức tường, và mỉm cười thích thú dưới chiếc mạng đen buông xuống.

Sợ người ta trông thấy, nàng thường thường không theo con đường gần nhất. Nàng đi sâu vào các ngõ hẻm tối tăm, và, khắp người đẫm mồ hôi, nàng đi tới phía dưới phố Quốc Gia gần máy nước. Đây là khu phố có rạp hát, tiệm rượu và gái điếm. Thường khi, một chiếc xe bò qua gần nàng mang một đồ trang trí sân khấu nào đó rung rinh. Những chàng trai đeo tạp dề đổ cát trên đá lát, khoảng giữa những cây xanh còn nhỏ. Người ta ngửi thấy mùi rượu ápxanh, mùi xì gà và mùi sò.

Nàng rẽ sang một phố khác; nàng nhận ra y ở bộ tóc quăn xõa ra cả ngoài mũ.

Lêông tiếp tục đi trên vỉa hè. Nàng theo y đến tận khách sạn; y leo lên gác, y mở cửa, y vào... Họ ôm nhau chặt đến thế nào!

Rồi những lời nói, sau những cái hôn, cứ dồn dập. Họ kể cho nhau nghe những nỗi buồn trong tuần, những linh cảm, những lo ngại về các bức thư; nhưng giờ đây, họ đã quên hết, và họ nhìn nhau, mặt đối mặt, với những nụ cười khoái trá và những tiếng gọi âu yếm.

Cái giường thuộc loại to bằng gỗ đào hoa tâm, hình thuyền. Rèm che bằng thứ hàng tơ mỏng đỏ, từ trần nhà rủ xuống, thắt lại quá thấp gần đầu giường loe rộng; - và không gì trên đời lại đẹp như cái mái tóc nâu và làn da trắng của nàng nổi bật trên cái màu đỏ xẫm đó, bằng một thứ cử chỉ e thẹn, nàng vừa khép hai cánh tay để trần, vừa giấu mặt trong hai bàn tay.

Gian phòng ấm áp, với tấm thảm kín đáo, những đồ trang hoàng vui mắt và làn ánh sáng ôn hòa của nó dường như thuận tiện hoàn toàn cho dục tình thầm kín. Những cột màn nhọn như mũi tên, những móc màn bằng đồng và những cục tròn lớn ở giá để củi đột nhiên sáng loáng, nếu mặt trời chiếu vào. Trên lò sưởi, giữa những cây đèn nến, có hai chiếc vỏ ốc màu hồng mà người ta nghe thấy được tiếng động của biển khi áp chúng vào tai.

Họ ưa biết mấy gian buồng ấm cúng tràn trề niềm vui mặc dầu vẻ lộng lẫy của nó đã hơi kém đi! Họ bao giờ cũng vẫn thấy đồ đạc y nguyên tại chỗ, và đôi khi, lại còn thấy những chiếc trâm gài đầu nàng đã bỏ quên, thứ năm trước, dưới cái để đồng hồ. Họ ăn sáng ở bên cạnh lò sưởi, trên một chiếc bàn xoay nhỏ khảm bằng gỗ tử đàn. Emma thái thức ăn, vừa đặt từng miếng vào đũa của y vừa nói đủ mọi chuyện đú đởn; và nàng cười bằng tiếng cười sang sảng và lẳng lơ khi bọt rượu sâm banh tràn qua cái cốc mỏng manh xuống những chiếc nhẫn ở ngón tay nàng.

Họ hoàn toàn đắm đuối trong cái sở hữu bản thân họ đến mức họ tưởng chừng đấy là nhà riêng của họ; và họ chắc chắn sống ở đấy cho tới khi chết, như đôi vợ chồng đời đời son trẻ. Họ gọi buồng của chúng ta, thảm của chúng ta, ghế tựa của chúng ta, thậm chí nàng còn gọi đôi giày vải mà Lêông tặng theo sở thích của nàng là đôi giày vải của em. Đó là đôi giày bằng satanh hồng, viền lông thiên nga. Khi nàng ngồi vào lòng y, chân nàng chơi vơi trong không khí vì ngắn quá, và đôi giày xinh xắn, không có phần da bọc gót, chỉ bám vào ngón chân của bàn chân không bít tất.

Y tận hưởng lần đầu tiên cái dịu dàng khôn tả của những người đàn bà thanh lịch. Chưa bao giờ y gặp cách nói năng duyên dáng ấy, cách ăn mặc giữ gìn ấy, cái ưu thế của một thiếu phụ trong trắng thơ ngây đang lim dim ngủ ấy 1 . Y tán dương cái tâm hồn nồng nhiệt của nàng và những đường viền đăng ten ở váy nàng. Vả lại, nàng chẳng phải là một phụ nữ thượng lưu, và một phụ nữ có chồng hay sao! Cuối cùng nàng chẳng phải là một tình nhân thực sự hay sao?

Do tính tình thay đổi, hết bí ẩn lại vui cười, nhí nhảnh, trầm lặng, nôn nóng, thờ ơ, nàng làm cho y hồi tưởng tới hàng nghìn ham muốn, khêu gợi lại những bản năng hay những ký úc mơ hồ. Nàng là người tình của mọi cuốn tiểu thuyết, nhân vật chính của mọi vở kịch, cái nàng mơ hồ của mọi tập thơ. Y lại tìm thấy trên vai nàng màu hổ phách của bức tranh Người cung phi đang tắm 2 , nàng có một thân hình thon của những bà chúa lâu đài phong kiến; nàng cũng giống như Người phụ nữ xanh xao xứ Bacxơlon, nhưng nàng ở trên mọi thiên thần!

Thường khi, nhìn nàng, y tưởng như linh hồn mình thoát khỏi thể xác mình bay về phía nàng, tỏa ra như một làn sóng vòng quanh đầu nàng, rồi bị thu hút vào nước da trắng phau của bộ ngực nàng.

Y ngồi xuống đất, trước mặt nàng; và hai khuỷu tay tì lên đầu gối, y ngắm nàng với một nụ cười, đầu óc y căng ra.

Nàng ngả người về phía y và thì thầm như ngạt thở vì say sưa:

- Ồ! Anh đừng động đậy! Đừng nói! Hãy nhìn em đi! Từ đôi mắt anh tỏa ra cái gì êm dịu quá, làm cho em khoan khoái biết mấy!

Nàng gọi y là bé:

- Bé có yêu tôi không?

Và nàng chẳng nghe thấy y trả lời, vì cặp môi y đã gắn lên miệng nàng.

Trên chiếc đồng hồ treo tường, có tượng thần Cuypiđông 3 nhỏ bằng đồng đen, đang õng ẹo vòng hai cánh tay dưới một tràng hoa lá mạ vàng. Họ cười giễu nó nhiều phen; nhưng khi phải chia tay, mọi sự giả dối đối với họ dường như đều nghiêm trang.

Đứng sừng sững trước mặt nhau, họ nhắc lại nhau:

- Đến thứ năm!... Đến thứ năm!

Đột nhiên nàng ôm đầu y vào hai tay, vừa hôn vội lên trán vừa thốt lên: "Vĩnh biệt!" rồi lao xuống thang gác.

Nàng đến phố rạp hát, vào một cửa hàng thợ cạo, sửa sang lại mái tóc. Trời bắt đầu tối; người ta đốt đèn hơi trong cửa hàng.

Nàng nghe thấy tiếng chuông rạp hát gọi đào kép ra biểu diễn; và nàng trông thấy đi qua, trước cửa; những người đàn ông mặt trắng và những người đàn bà vận quần áo tồi tàn đi vào cửa hậu trường.

Không khí nóng trong gian phòng quá thấp này, ở đó lò sưởi kêu vo vo giữa những bộ tóc giả và sáp bôi tóc. Mùi sáp uốn tóc, với những bàn tay vấy sáp đang loay hoay trên đầu nàng, chẳng mấy chốc làm nàng choáng váng, rồi nàng thiu thiu ngủ trong chiếc áo choàng. Nhiều lần anh thợ, trong khi sửa tóc cho nàng, mời nàng mua vé dự cuộc khiêu vũ hóa trang.

Rồi nàng lại ra đi! Nàng đi ngược các phố; nàng đến quán Chữ Thập Đỏ; lấy lại đôi giầy guốc mà buổi sáng nàng đã giấu dưới một chiếc ghế dài nhỏ, và nàng ngồi thu lu giữa đám khách đang sốt ruột. Vài người bước xuống chân dốc. Nàng còn lại một mình trong xe.

Ở mỗi chỗ ngoặt, người ta dần dần nhìn thấy tất cả ánh đèn thành phố làm thành một làn hơi rộng lớn sáng chói trên các mái nhà lẫn lộn. Emma quỳ trên đệm ghế, và ngơ ngác nhìn vào đó. Nàng nức nở, gọi Lêông, và gửi cho y những lời nồng thắm, và những cái hôn mất hút trong gió.

Ở bên dốc, có một người khốn khó chống gậy đi lang thang, giữa đám xe cộ. Một mớ áo rách phủ vai gã; và một mũ lông hải ly cũ thủng, khum tròn như cái chậu, che khuất mặt gã, nhưng, khi gã bỏ mũ ra; gã để lộ, ở chỗ mi mắt, hai lỗ mắt sâu hoắm hoàn toàn đẫm máu. Thịt xơ ra thành từng mảng đỏ; và từ đó chảy ra những chất lỏng đóng lại thành đường ghẻ xanh đến tận mũi, mà hai lỗ mũi đen hít vào giần giật. Muốn nói với ai, gã ngả đầu về phía sau và ngốc nghếch cười; bấy giờ, đôi đồng tử của gã, màu lơ nhạt, đảo liên hồi, ngước lên phía thái dương, trên bờ vết thương đỏ loét.

Gã ta vừa hát một bài hát ngắn vừa nhìn theo những chiếc xe:

Thường khi ngày đẹp, Trời nồng

Làm cho cô gái mơ mòng tình yêu

Và trong cả phần còn lại, có chim chóc, có mặt trời, có lá cây.

Đôi khi, gã đột nhiên hiện ra, đầu trần, phía sau Emma. Nàng thét lên, rồi rút lui vào trong xe. Ive đến đùa với gã: Y khuyên gã dựng một túp lều trọ ở chợ phiên Xanh Rômanh, hay là vừa cười vừa hỏi người yêu của gã có mạnh khỏe không.

Thường thường, xe khởi hành khi cái mũ của gã, do một động tác bất thần, thò vào trong xe qua khung cửa nhỏ, còn gã bám bằng cánh tay kia vào bực lên xuống ở khoảng giữa các bánh xe vấy bùn. Tiếng gã, thoạt tiên yếu ớt và oe oe, rồi thành the thé. Nó kéo dài trong đêm, như tiếng rên la ú ớ của một nỗi thống khổ mơ hồ; và qua tiếng nhạc ngựa, tiếng rì rầm của cây cối và tiếng ầm ầm của hòm xe rỗng, nó có cái gì xa xăm làm Emma kinh hãi. Tiếng ấy lùa vào tận đáy lòng nàng như một cơn lốc trong vực thẳm, và lôi cuốn nàng giữa những khoảng không đượm mối sầu vô hạn. Nhưng Ive, nhận ra cái gì nặng trĩu một bên xe, vươn roi quất mạnh vào người mù. Đầu roi đập trúng các vết thương của gã, và gã vừa ngã xuống bùn vừa kêu rú lên.

Rồi khách đi chiếc xe Con én cuối cùng đều ngủ cả, người này há hốc miệng, người kia tì cằm lên vai người ngồi bên, hay là luồn cánh tay qua chiếc dây da, người lắc lư đều đều theo xe; và ánh ngọn đèn đu đưa ở bên ngoài, trên mông ngựa, lọt vào trong xe qua những chiếc rèm cửa bằng vải chúc bâu màu sôcôla, đặt giữa bóng đỏ như máu lên trên tất cả những con người bất động ấy. Emma ngao ngán, run lập cập trong bộ quần áo và cảm thấy chân nàng mỗi lúc mỗi lạnh, với cái chết trong tâm hồn.

Sáclơ ở nhà, đang đợi nàng; chiếc xe Con én luôn luôn về muộn vào ngày thứ năm. Cuối cùng, bà cũng đến nơi! Bà có ôm hôn em bé cũng chỉ là hôn gọi là. Bữa ăn chiều chưa làm xong, chẳng can gì! Bà miễn thứ cho người hầu gái. Dường như bây giờ chị ta làm cái gì cũng được hết.

Thường khi chồng nàng, nhận thấy nàng xanh xao, hỏi xem nàng có ốm chút nào không.

- Không, Emma nói.

- Nhưng, hắn đáp lại, tối nay trông em thế nào ấy?

- Ồ! Không sao! Không sao!

Thậm chí, có những ngày vừa về tới nhà, nàng đã lên ngay buồng nàng; và Juyxtanh, đang ở đó, khe khẽ bước lại khéo hầu nàng hơn cả một người hầu gái giỏi. Gã đặt bao diêm, cây đèn nến, một quyển sách, sắp chiếc áo chẽn của nàng, mở khăn trải giường ra.

- Thôi, nàng nói, tốt lắm, em đi đi!

Vì gã cứ đứng đấy, hai tay buông thõng, và cặp mắt mở to, như bị ràng buộc bởi vô vàn sợi dây của một giấc chiêm bao đột ngột.

Ngày hôm sau thật ghê gớm, những ngày tiếp theo lại càng không chịu nổi, vì nỗi Emma sốt ruột muốn nắm lại cái hạnh phúc của mình, - cái dục vọng thô bạo đang bốc lên rất mạnh bởi những hình ảnh quen thuộc, và đến ngày thứ bảy, nó bùng nổ hết sức khoái trá trong những cái hôn hít của Lêông. Còn y, y đã che dấu nhiệt tình của mình qua những bộc lộ của sự kinh ngạc và lòng biết ơn. Emma hưởng tình yêu ấy một cách kín đáo và đắm đuối, nàng dùng mọi thủ đoạn giảo hoạt khi âu yếm để giữ gìn nó, và nàng phần nào run sợ một ngày kia nó tiêu tan.

Nhiều lúc nàng nói với y bằng một giọng dịu dàng nhưng não nuột.

- Ôi! Anh sẽ bỏ em, anh!... Anh sẽ lấy vợ!... Anh sẽ như những người khác.

Y hỏi:

- Những người khác là ai?

- Là những người đàn ông, chứ gì nữa, nàng đáp.

Rồi nàng vừa nói thêm vừa uể oải đẩy y ra:

- Tất cả các anh đều là những người đê tiện.

Một hôm, hai người đang triết lý với nhau về những cảnh vỡ mộng trên đời, nàng đã đi tới chỗ nói (để thực nghiệm lòng ghen tuông của y hay có lẽ chiều theo một nhu cầu thổ lộ tâm sự quá trớn) rằng xưa kia, trước y, nàng đã từng yêu một người. "Không như anh đâu!", nàng vội nói lại như thế, lấy đời sống đứa con gái của nàng ra để mà thề rằng chẳng có chuyện gì đã xảy ra cả.

Chàng thanh niên tin nàng nhưng vẫn hỏi nàng để biết người ấy làm gì.

- Người ấy là đại tá hải quân, bạn ạ.

Phải chăng nói thế là để ngăn chặn mọi sự tìm tòi, và đồng thời, là để tự đặt mình thật cao vì cái quyến rũ bịa đặt đó sử dụng ảnh hưởng của một người đàn ông bản chất ngổ ngáo và quen được trọng vọng?

Viên luật sư tập sự ngay lúc bấy giờ cảm thấy địa vị thấp kém của mình; y thèm muốn những ngù vai, những huân chương, những danh vị. Tất cả cái đó hẳn được nàng ưa thích: y ngờ ngợ thế qua những thói quen tốn kém của nàng.

Tuy nhiên, Emma thôi không nói đến nhiều cuồng vọng của nàng, như lòng thèm muốn một chiếc xe độc mã mầu lam thắng ngựa Anh, do một tiểu đồng đi ủng có viền lật điều khiển, để đưa nàng tới Ruăng. Chính Juyxtanh đã gợi cho nàng cái ý muốn ấy khi gã ta van nài mượn gã ta về nhà làm bồi buồng; và ở mỗi cuộc hẹn hò, nếu sự thiếu thốn đó không làm giảm bớt cái thú khi đến, thì chắc chắn nó làm tăng nỗi chua cay lúc về.

Lắm phen, khi họ cùng nói với nhau về Pari, nàng rốt cuộc lẩm bẩm:

- Ô! Chúng ta được sống ở đó thì hay biết mấy!

- Chúng ta hiện nay chẳng đang sung sướng hay sao? Chàng trai vừa dịu dàng nói, vừa đưa tay lên vuốt mái tóc nàng.

- Ừ, đúng đấy, nàng nói, em điên: Anh ôm hôn em đi!

Đối với chồng, nàng thật dễ thương hơn bao giờ hết, nàng làm kem với trái hồ trăn tử và đánh những điệu nhạc vanxơ sau bữa ăn chiều. Vì vậy, hắn tự thấy mình là kẻ may mắn nhất đời, và Emma sống không lo lắng. Một buổi tối, bất thần hắn hỏi nàng:

- Đúng cô Lăngpơrơ đã dạy em học có phải không?

- Vâng.

Sáclơ nói tiếp:

- Này, anh mới gặp cô ta ở nhà bà Liêgia. Anh nói với cô ta về em: cô ta không biết em.

Thật như một tiếng sét. Thế nhưng nàng vẫn đáp bằng một vẻ tự nhiên:

- À chắc hẳn là cô ta quên mất tên em.

- Hay có lẽ ở Ruăng, viên thầy thuốc nói, có nhiều cô Lăngpơrơ là cô giáo dạy đàn pianô?

- Có thể!

Rồi nàng hăm hở nói thêm:

- Thế mà em có biên lai của cô ta đây này! Anh xem đi.

Và nàng ra bàn giấy, lục lọi tất cả các ngăn kéo, làm lẫn giấy này vào giấy nọ, và cuối cùng ra vẻ mất tinh thần đến nỗi Sáclơ khuyên mãi nàng chẳng nên làm khổ mình đến thế vì những tờ biên lai khốn kiếp kia.

- Ờ! Rồi em sẽ tìm thấy các biên lai ấy, nàng nói.

Quả nhiên, ngay ngày thứ sáu sau, Sáclơ khi xỏ chân vào một chiếc bốt để trong buồng tối là nơi cất các áo của hắn, cảm thấy có một tờ giấy vướng giữa lần da ủng và bít tất, hắn cầm lấy đọc:

(Nhận số tiền sáu mươi quan về ba tháng học và những thứ cung cấp lặt vặt, FÔLIXI LĂMPƠRƠ, giáo sư âm nhạc).

- Quái sao lại ở trong bốt của anh?

- Chắc hẳn là, nàng đáp, nó rơi từ trên cái bìa cũ đựng hóa đơn bên rìa tấm ván.

Từ lúc ấy, cuộc sống của nàng chỉ còn là một mớ dối trá, trong đó, như trong chiếc khăn trùm, nàng che giấu thật kín tình yêu của nàng.

Đó là một nhu cầu, một chứng nghiện, một thú vui, đến mức, nếu nàng muốn nói hôm qua nàng đã qua dãy bên phải một phố, thì phải tin rằng nàng đã đi dãy bên trái của phố ấy.

Một buổi sáng, nàng vừa đi khỏi, theo thường lệ, ăn mặc khá nhẹ nhàng, thì trời bỗng đổ tuyết; và vì Sáclơ nhìn thời tiết qua cửa sổ, hắn thấy ông Buôcniziêng ngồi trong chiếc xe ngựa của ông Tuyvasơ đưa ông ta đi Ruăng. Hắn liền xuống giao cho ông thầy tu một chiếc khăn san lớn để ông ta chuyển cho bà ngay khi ông ta tới khách sạn Chữ Thập Đỏ. Vừa đến nơi, ông Buôcniziêng đã hỏi vợ viên thầy thuốc hạt Yôngvin ở đâu. Mụ chủ khách sạn đáp bà ta rất ít qua lại cửa hàng mụ. Cho nên chiều hôm đó, khi nhận ra bà Bôvary trong chiếc xe Con én, ông linh mục liền kể cho bà ta biết sự bối rối của ông ta nhưng chẳng tỏ ra quan tâm đến việc đó; vì ông ta chuyển sang việc ca ngợi một nhà truyền đạo khi ấy đang đạt được những kết quả đáng chú ý ở nhà thờ lớn, và tất cả các bà đổ xô đến để nghe.

Không hề gì, nếu ông ta đã chẳng hỏi cho ra nhẽ, thì sau này, những người khác có thể tỏ ra ít kín đáo hơn. Cho nên nàng xét thấy mỗi lần xuống xe nên vào khách sạn Chữ Thập Đỏ để cho những người dân lương thiện và tốt bụng ở trong làng, thấy nàng trên cầu thang, sẽ không nghi ngờ gì hết.

Thế nhưng một hôm, Lơrơ gặp nàng ở khách sạn Bulônhơ ra, có Lêông khoác tay; và nàng đâm sợ, tưởng chừng y sẽ bép xép. Y chẳng ngốc thế đâu.

Nhưng, ba hôm sau, y vào buồng nàng, đóng cửa lại và nói:

- Tôi cần đến tiền.

Nàng tuyên bố không thể đưa cho y được. Y liền than vãn om sòm, và nhắc lại mọi chuyện mà y đã đối xử với nàng một cách niềm nở và chu đáo.

Quả thật trong hai giấy nợ mà Sáclơ ký nhận, Emma, cho tới nay, chỉ mới thanh toán được một. Còn về cái giấy thứ nhì, tay lái buôn theo lời yêu cầu của nàng, đã thỏa thuận thay nó bằng hai cái khác, thậm chí y còn gia hạn hai cái này được trao đổi trả trong một thời gian rất dài. Rồi y rút từ túi ra một bản kê những hàng giao chưa trả tiền như rèm che cửa, thảm trải đất, vải bọc ghế tựa, nhiều áo dài và các đồ trang điểm lặt vặt, mà giá trị lên tới số tiền khoảng hai ngàn quan.

Nàng cúi đầu, y lại nói:

- Nhưng, nếu bà không có tiền mặt, thì bà đã có tài sản.

Và y dẫn ra một túp lều tồi tàn ở Bácnơvin, gần Ôman, chẳng sinh lợi được là bao. Cái ấy xưa phụ thuộc vào một trang trại nhỏ, ông Bôvary bố đã bán đi, vì Lơrơ biết hết mọi thứ, cả tới diện tích bằng hécta, với tên những người hàng xóm.

- Tôi, vào địa vị bà, y nói, tôi bán quách nó đi để trả nợ cho rảnh, mà tôi vẫn còn thừa tiền.

Nàng cãi là khó có người mua; y tỏ hy vọng sẽ tìm được người mua; nhưng nàng hỏi làm thế nào để nàng có thể bán được.

- Bà chẳng có giấy ủy quyền đấy ư? Y đáp.

- Ông để lại cho tôi bản ghi nợ! Emma nói.

- Ô, chẳng cần! Lơrơ trả lời.

Tuần sau, y lại đến và khoe rằng sau khi ra sức chạy vạy đã tìm ra được một ông Lănggơloa nào đó, từ lâu vẫn dòm ngó ngôi nhà ấy mà không biết định trả bao nhiêu.

- Giá cả chẳng quản, nàng thốt lên.

Trái lại, phải đợi thăm dò người có hứng mua nhà kia. Việc đó đòi hỏi một chuyến đi, và vì nàng không thể đi được, y sẵn lòng đến tận nơi để hội đàm với Lăngơloa. Khi trở về, y cho biết người mua đặt giá bốn ngàn quan.

Nghe tin ấy, Emma tươi hẳn lên.

- Nói thực, y nói thêm, thế là được giá.

Emma lĩnh ngay nửa số tiền ấy, và khi nàng tính chuyện thanh toán món nợ đã ghi, tay lái buôn liền bảo nàng:

- Lấy danh dự mà nói, tôi thật khổ tâm trông thấy bà ngay một lúc bỏ ra một số tiền quan trọng như thế.

Bấy giờ nàng mới nhìn các tờ giấy bạc; và mơ màng không biết bao nhiêu cuộc hẹn hò hình dung trong hai ngàn quan kia, nàng líu ríu:

- Thế nào! Thế nào!

- Ồ! Y vừa hóm hỉnh cười vừa nói, người ta muốn ghi lên hóa đơn tất cả những gì mà chẳng được. Tôi không biết các công việc nội trợ hay sao?

Và y nhìn nàng chòng chọc, tay vẫn cầm hai tờ giấy dài mà y giúi qua các móng tay. Cuối cùng y mở ví, y đặt trên bàn bốn tờ phiếu hạn kỳ, mỗi tờ một ngàn quan.

- Bà ký cho tôi những cái này, y nói, rồi bà giữ lấy tất.

Nàng tức giận kêu lên.

- Nhưng, nếu tôi đưa cho bà chỗ tiền thừa, Lơrơ tráo trở đáp lại, thì chẳng phải tôi đã giúp bà hay sao?

Và y cầm bút viết ở cuối bản hóa đơn thanh toán: "Đã nhận của bà Bôvary bốn ngàn quan".

- Có gì mà bà la, vì sáu tháng nữa bà sẽ lĩnh số tiền nhà người ta còn thiếu của bà, và tôi đã ghi hạn cuối cùng để thanh toán phiếu nợ của tôi là sau khi người ta trả bà số tiền ấy?

Emma có phần lúng túng về những con tính của y, và lỗ tai nàng cứ vù vù như thể những đồng tiền vàng từ đáy túi lọt ra ngoài vang lên, trên sàn nhà, quanh nàng. Sau cùng Lơrơ giải thích rằng y có một người bạn thân tên là Vanhxa, chủ ngân hàng ở Ruăng, anh ta sẽ chiết khấu bốn cái phiếu đó, rồi y tự tay mình sẽ trao bà món tiền thừa so với số nợ thực sự.

Nhưng, đáng lẽ y phải đem lại hai ngàn quan thì y lại chỉ mang một ngàn tám trăm, vì anh bạn Vanhxa (theo lẽ công bằng) đã lấy trước hai trăm làm tiền trả hoa hồng và lãi chiết khấu.

Rồi hắn hững hờ đòi một giấy biên nhận.

- Bà hiểu cho..., trong nghề buôn bán..., có khi... Và xin bà ghi thêm ngày tháng vào cho.

Một chân trời đầy những thú vui theo sở thích có thể thực hiện được liền mở ra trước Emma. Nàng cũng đủ khôn ngoan để dành một ngàn đồng tiền vàng để trả ba phiếu nợ đầu khi hết hạn; nhưng phiếu nợ thứ tư, tình cờ rơi vào trong nhà, một ngày thứ năm, và Sáclơ choáng váng, đành dằn lòng đợi vợ về để được giải thích.

Nếu nàng đã không cho hắn biết gì về phiếu nợ ấy, là để tránh cho hắn những mối lo nghĩ về việc nhà; nàng ngồi vào lòng hắn, vuốt ve hắn, thủ thỉ với hắn, kể ra một thôi dài tất cả những gì cần thiết phải mua chịu.

Rút cục, hắn cũng thừa nhận rằng nhiều món như thế cũng chẳng phải là quá đắt.

Sáclơ hết lẽ, chẳng bao lâu lại phải nhờ đến Lơrơ muôn thủa. Y cam đoan sẽ thu xếp ổn thỏa mọi chuyện, nếu ông ký cho hắn hai phiếu nợ, mỗi phiếu bảy trăm quan, hạn trả trong vòng ba tháng. Để đối phó với tình hình, hắn viết cho mẹ một bức thư rất bi ai. Không gửi thư trả lời, bà cụ đích thân đến, và khi Emma muốn biết hắn có rút được ở bà cụ ra cái gì không, thì hắn đáp:

- Có. Nhưng bà cụ hỏi xem hóa đơn.

Ngày hôm sau, mới mờ sáng, Emma đã chạy đến nhà Lơrơ yêu cầu y làm lại một bản ghi hàng khác không quá một ngàn quan; vì muốn đưa ra bản ghi bốn ngàn quan, phải nói rằng nàng đã trả được hai phần ba rồi, như thế là phải thú thực việc bán ngôi nhà kia, việc này đã được tay lái buôn điều khiển khéo léo và chỉ mãi sau này mới được biết thực sự.

Mặc dầu giá mỗi mặt hàng rất hạ, bà Bôvary mẹ vẫn chẳng quên nhận thấy sự chi tiêu quá đáng.

- Không thể bỏ qua được tấm thảm đi hay sao? Tại sao phải thay vải lót ghế bành? Thời tôi, trong nhà chỉ có độc một chiếc ghế dành cho những người già cả - Ít ra thì cũng là như thế ở nhà mẹ tôi, mà bà cụ là một người đàn bà lịch sự, tôi cam đoan với anh chị như vậy - Thiên hạ không phải ai cũng có thể giàu có được! Chẳng có gia sản nào đứng vững được trước sự phí phạm! Lười chảy thây như anh chị thì tôi lấy làm xấu hổ! Vậy mà tôi, tôi đã già rồi, tôi cần được chăm chút... Hãy nhìn kia kìa! Thực là lắm đồ trang sức cầu kỳ, những thứ khoe mẽ lòe loẹt! Thế nào! Lấy lụa giá hai quan để lót áo!... Trong khi chỉ vải mỏng mười xu, thậm chí tám xu, cũng hoàn toàn được việc!

Emma, ngả người trên ghế trường kỷ, đáp lại hết sức bình tĩnh:

Kìa! Thưa bà, đủ rồi! Đủ rồi!

Bà cụ cứ tiếp tục mắng nàng, tiên đoán hai vợ chồng nàng rút cục sẽ kết liễu đời họ ở nhà thương. Vả chăng, đó là lỗi của Bôvary. Cũng may mà nó đã hứa hủy bỏ cái giấy ủy quyền kia...

- Thế nào

- À! Nó đã thề với tôi như thế, bà cụ nói tiếp.

Emma mở cửa sổ gọi Sáclơ, và tội nghiệp cho hắn, hắn buộc phải thú nhận cái lời mẹ hắn bắt hắn nói ra.

Emma chạy vội ra ngoài, rồi nhanh chóng trở vào, chìa ra đàng hoàng một tờ giấy to

- Cảm ơn chị, bà cụ nói.

Và bà cụ ném vào lửa tờ giấy ủy quyền. Emma phá lên cười, một tiếng cười chói tai, the thé, liên tục: nàng bị động kinh.

- Ôi! Trời! Sáclơ kêu thét lên. Thế này thì mẹ cũng trái rồi, mẹ! Mẹ đến để gây chuyện với cô ấy!...

Bà cụ, nhún vai, nói: tất cả những cái ấy đều là điệu bộ.

Nhưng Sáclơ, lần đầu tiên phát tức, bênh vợ, đến nỗi bà Bôvary mẹ muốn bỏ đi. Bà cụ đi ngay ngày hôm sau, và khi ra đến ngưỡng cửa, vì hắn cố giữ bà cụ lại, bà cụ đáp:

- Không, không! Anh yêu cô ấy hơn tôi, mà như thế là phải, là đúng. Vả lại, mặc anh! Rồi anh sẽ biết!... Chúc anh khỏe!... Vì tôi chẳng ở gần, như anh nói, để gây chuyện với cô ấy đâu.

Sáclơ không vì đó mà kém thẹn thùng đối với Emma, vì nàng chẳng giấu nổi tức bực của nàng về chuyện hắn đã thiếu tin cậy nàng; hắn phải khẩn cầu mãi nàng mới bằng lòng nhận lại tờ giấy ủy quyền của hắn, thậm chí hắn còn đi cùng với nàng đến ông Guyômanh để làm cho nàng một tờ thứ hai, hoàn toàn y như tờ trước.

- Tôi hiểu điều đó, viên quản lý văn khế nói, một nhà khoa học không thể lúng túng trước một chi tiết thực tiễn của cuộc sống.

Và Sáclơ cảm thấy nhẹ lòng vì lời nói xiểm nịnh ấy, nó khoác cho cái tính nhu nhược của hắn những vẻ đẹp dối trá bên ngoài của một mối bận tâm cao cả.

Nàng sống phóng đãng biết bao, lúc ở trong buồng cùng với Lêông, vào ngày thứ năm sau, tại khách sạn! Nàng cười, khóc, hát, nhảy, gọi mang kem nước pha rượu lên, muốn hút thuốc lá, y thấy nàng dường như điên cuồng, nhưng đáng yêu và đẹp quá.

Y không biết được sự phản ứng nào ở cả con người nàng ngày càng thúc đẩy nàng lao vào những lạc thú của cuộc đời. Nàng trở nên cáu kỉnh, tham lam và dâm dật; và nàng đi chơi với y ngoài phố ngang nhiên, chẳng sợ hại đến thanh danh của mình như nàng nói. Tuy nhiên, lắm khi Emma giật mình khi đột ngột nghĩ đến gặp Rôđônphơ; vì nàng thấy rằng dẫu cả hai người đã xa cách nhau hẳn, nàng vẫn chưa thoát khỏi sự lệ thuộc vào chàng trai ấy.

Một buổi tối, nàng không về Yôngvin, Sáclơ luống cuống, và con bé Béctơ, không muốn ngủ xa mẹ, khóc nức nở đến vỡ ngực. Juyxtanh đi tìm hú họa trên đường cái. Ông Hôme cũng đã vì nó rời bỏ hiệu thuốc của mình.

Cuối cùng, đến mười một giờ, không chịu được nữa, Sáclơ đóng ngựa vào chiếc xe con của mình, nhảy lên quất ngựa; hắn tới quán Chữ Thập Đỏ vào khoảng hai giờ sáng. Không thấy ai. Hắn nghĩ rằng viên luật sư tập sự có lẽ đã gặp nàng; nhưng y ở đâu? Sáclơ, may mắn, nhớ ra địa chỉ của ông chủ y. Hắn chạy lại đấy.

Trời bắt đầu sáng. Hắn nhận ra tấm biển ghi ngạch bậc ở trên một cái cửa; hắn gõ cửa. Có ai đấy, không mở cửa, vừa thét bảo hắn cái địa chỉ hắn hỏi, vừa chửi lấy chửi để những kẻ quấy rầy thiên hạ vào ban đêm.

Nhà ở của viên luật sư tập sự không có chuông, không có vồ gõ cửa, không có người gác cửa. Sáclơ đấm mạnh vào mái hiên. Một viên cảnh sát chợt đi qua; thế là hắn sợ và bỏ đi thẳng.

- Mình điên thật, hắn thầm nghĩ; chắc ông Loócmô giữ nàng lại ăn bữa cơm chiều.

Gia đình Loócmô không còn ở Ruăng nữa.

- Có lẽ nàng ở lại để chăm nom bà Đuybrơi. À! Bà Đuybrơi mất từ mười tháng nay!... Vậy ở đâu?

Hắn nảy ra một ý kiến. Hắn vào một tiệm cà phê hỏi mượn quyển danh bạ điện thoại và tìm nhanh tên cô Lămpơrơ ở nhà số 74 phố Rơnon đê Marôkiniê.

Hắn vừa bước vào phố ấy thì bản thân Emma hiện ra ở đầu bên kia; hắn vừa nhảy xổ vào nàng, chứ không phải là ôm hôn nàng, vừa kêu lên:

- Ai giữ em, hôm qua?

- Em ốm.

- Ốm về bệnh gì?... Ở đâu?... Thế nào... Nàng đưa tay lên trán và đáp.

- Ở nhà cô Lămpơrơ.

- Anh chắc thế mà! Anh đi đến đó.

- Ờ! Chẳng phải vạ, Emma nói. Cô ta vừa đi khỏi nhà, nhưng từ nay về sau, anh cần bình tĩnh. Em không được tự do, anh hiểu chứ, nếu em biết chỉ về muộn một chút là anh đã hoảng lên như thế này.

Đó là một cách nàng tự cho phép mình để khỏi bận tâm trong những cuộc sổng nhà đi chơi của nàng. Cho nên nàng đã tùy tiện lợi dụng nó một cách rộng rãi. Khi nàng muốn gặp Lêông, nàng đi với bất kỳ cớ gì, và vì y không đợi nàng hôm ấy, nàng đến tận phòng làm việc của y tìm y.

Những lần đầu tiên thật là một niềm hạnh phúc lớn. Nhưng chẳng bao lâu, y không giấu giếm sự thật nữa, đó là: ông chủ y phàn nàn rất nhiều về những sự quấy nhiễu ấy.

- Quái lạ! Vậy thì anh đi đi, nàng nói.

Thế là y chuồn.

Nàng muốn y mặc toàn đồ đen và để một nhúm râu ở cằm giống như chân dung của vua Lui XIII. Nàng muốn biết nơi y ở, nàng thấy nó tầm thường; y thẹn đỏ mặt, nàng không chú ý, rồi khuyên y mua những rèm che cửa như của nàng, và vì thấy y kêu tốn, nàng vừa nói vừa cười:

- À! À! Anh trọng mấy đồng tiền vàng nhỏ của anh à!

Mỗi lần Lêông phải kể cho nàng nghe y đã làm những gì từ cuộc hẹn hò trước. Nàng đòi làm thơ, thơ tặng nàng, một bài thơ tình ca tụng nàng; chẳng bao giờ y có thể tìm được vần cho cho câu thứ hai, thế là y đành phải chép một bài xon-nê 4 trong một quyển sách ảnh.

Việc làm đó chẳng phải vì khoe khoang mà vì mục đích chiều lòng nàng. Y không bàn luận về các ý kiến của nàng; y chấp nhận tất cả mọi sở thích của nàng; y trở nên người tình của nàng thì đúng hơn nàng là người tình của y. Nàng có những lời nói dịu dàng với những cái hôn lôi cuốn tâm hồn y. Nàng đã học được ở đâu cái thói đồi bại ấy, nó hầu như vô hình vì nó sâu xa và lẩn kín?

--------------------------------

1

Nguyên văn tiếng Pháp "Ces poses de colombe assoupie" (Tư thế của con bồ câu cái thiu thiu ngủ). Colombe (nghĩa bóng): Jeune fille pure, candide (Thiếu nữ trong trắng, ngây thơ).

2

Bức tranh của họa sĩ Pháp Ingres (1780-1867).

3

Cuypiđông (Cupidon): Thần Ái Tình trong thần thoại La Mã.

4

Xon-nê (sonnet): Một thể thơ ngắn có bốn đoạn, gồm mười bốn câu

Chương 6

Trong những chuyến đi thăm nàng, Lêông thường ăn bữa chiều tại nhà tay dược sĩ và tưởng mình buộc phải mời lại ông ta vì lịch thiệp.

- Rất vui lòng! Ông Hôme đáp; vả lại, tôi cần phải luyện lại tinh thần một chút vì tôi đã trở thành ngu độn ở đây. Chúng ta sẽ đi xem hát, ăn hiệu, chúng ta sẽ đú đởn.

- Ôi chà! Mình ơi! Bà Hôme thì thầm một cách âu yếm vì bà khiếp sợ về những nguy hiểm mơ hồ mà chồng bà sắp sửa dấn thân vào.

- Này, sao? Mình thấy sức khỏe của tôi chưa suy lắm khi tôi sống giữa những hơi dược liệu bốc liên tục ư! Thế đấy, vả chăng tính nết đàn bà: họ ghen với khoa học, rồi lại phản đối không muốn người ta đi tìm thú tiêu khiển chính đáng nhất. Không hề chi, cứ tin ở tôi; một ngày kia, tôi sa vào Ruăng và chúng ta sẽ cùng nhau cho đồng tiền nhảy nhót.

Tay dược sĩ trước kia, chẳng dùng cách nói như thế; nhưng bây giờ ông ta đâm nghiện cái kiểu vui nhộn lối thủ đô Pari mà ông ta thấy ý vị hơn cả, và như bà Bôvary hàng xóm, ông tò mò hỏi viên luật sư tập sự về phong tục nơi kinh kỳ, thậm chí ông ta nói cả tiếng lóng để lòe... những người thị dân, nào là turne, bazar, chicard, chicandard, Breda Street, nào là Je me la casse thay cho: tôi đi đây.

Thế là, một ngày thứ năm, Emma ngạc nhiên gặp thấy trong nhà bếp quán Sư Tử Vàng ông Hôme mặc quần áo du lịch, nghĩa là ông ta khoác một chiếc áo măngtô cũ chưa thấy ông ta mặc bao giờ, một tay xách một chiếc valy, một tay cầm cái túi độn bông để ở chân cửa hiệu ông ta. Ông ta không cho ai biết ý định của mình, sợ làm công chúng lo lắng vì sự vắng mặt của mình.

Cái ý nghĩ được thăm lại những nơi ông ta đã sống thời trẻ tuổi chắc hẳn làm ông ta nức lòng, vì suốt dọc đường ông ta đã nhảy vội từ trên xe xuống để đi lùng Lêông; và viên luật sư, mặc dầu hết sức khước từ, vẫn bị ông Hôme lôi đến tiệm cà phê lớn Noócmăngđi; tới đó, ông ta đàng hoàng bước vào, không bỏ mũ ra, cho rằng để đầu trần tại một nơi công cộng là rất quê mùa.

Emma đợi Lêông bốn mươi lăm phút. Cuối cùng nàng chạy đến phòng làm việc của y, và miên man trong mọi điều phỏng đoán, buộc y là vô tâm và tự trách mình là nhu nhược, nàng sống cả buổi chiều áp trán vào cửa kính.

Lêông và Hôme đến hai giờ vẫn còn ngồi trước mặt nhau, ngay ở bàn ăn. Căn phòng lớn đã hết khách; cái ống lò sưởi hình cây cọ xoe trên trần nhà quét vôi trắng chùm lửa vàng của nó; và gần họ, đằng sau tấm kính, giữa nắng, một vòi nước nhỏ reo trong một cái bể bằng kính hoa, trong đó giữa cái xoong và măng tây, có ba con tôm hùm, cứng đờ nằm duỗi dài đến tận những con chim cun cút đặt nằm thành chồng bên thành bể.

Hôme khoan khoái. Tuy ông ta ham xa hoa hơn là ăn ngon, chất rượu vang Pomma, lúc ấy, đã kích thích năng khiếu của ông ta một chút, và khi món trứng tráng ướp rượu rum hiện ra, ông ta trình bày những học thuyết vô luân về đàn bà. Cái quyến rũ ông ta hơn mọi thứ là cái sang cái đẹp. Ông ta sùng bái một cách ăn mặc thanh lịch trong một gian phòng thật đầy đủ tiện nghi, còn về những cái đẹp của cơ thể, ông ta không ghét miếng ngon.

Lêông ngắm nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường một cách thất vọng. Tay dược sĩ vẫn uống, ăn, nói.

- Chắc ở Ruăng, ông ta đột ngột nói, anh nhịn khan lắm đấy nhỉ. Vả lại, những người tình của anh cũng chẳng xa.

Và, y đỏ mặt, ông ta nói tiếp:

- Thôi, nói thật đi nào. Anh không chối là ở Yôngvin...?

Chàng trai ấp úng.

- Ở nhà bà Bôvary, anh không ve vãn chút nào ư?...

- Thế ve vãn ai?

- Cô hầu gái!

Ông ta không nói đùa; nhưng Lêông, vì quá tự mãn, đã mất khôn ngoan nên y không thể kiềm chế mình được, đã la lên. Vả lại, y chỉ ưa những người đàn bà có mái tóc nâu.

- Tôi đồng ý với anh, tay dược sĩ nói: những người đàn bà có mái tóc nâu là những người đàn bà rất đa dâm.

Và, ghé vào tai bạn, ông ta chỉ dẫn những triệu chúng để nhận ra một người đàn bà đa dâm. Ông ta còn lao cả vào một cuộc nghị luận ra ngoài vấn đề nhân chủng học: gái Đức thì âu sầu, gái Pháp thì phóng đãng, gái Ý thì đa tình.

- Thế còn phụ nữ da đen? Viên luật sư tập sự hỏi.

- Đó là một sở thích của nghệ sĩ, Hôme nói. - Bồi! Hai lưng chén!

- Chúng ta đi chứ? Sốt ruột, Lêông cuối cùng nói.

- Yes 1

Nhưng ông ta muốn trước khi ra đi, gặp chủ quán và nói mấy lời khen ngợi.

Bây giờ, chàng trai, để đi một mình, nói là có việc.

- À! Tôi đi hộ vệ anh! Hôme nói.

Và ông ta vừa xuôi xuống các phố với y, vừa nói về bà vợ của ông ta, về các con ông ta, về tương lai của chúng và về của hàng dược phẩm của ông ta, rồi ông ta thuật lại xưa kia nó lụn bại thế nào và ngày nay ông ta đã đưa nó lên mức hoàn thiện ra sao.

Đến trước khách sạn Bulônhơ, Lêông đột ngột bỏ ông, lên cầu thang, và thấy người tình của mình đang ở trong tình trạng rất xúc động.

Nghe đến tên tay dược sĩ, nàng nổi giận. Tuy nhiên, y viện ra nhiều lý do vững vàng; chẳng phải là lỗi ở y, nàng không biết ông Hôme hay sao? Nàng lại có thể tin rằng y thích gần ông ta hơn ư? Nhưng nàng quay ngoắt đi; y giữ nàng lại; và quỳ sụp xuống, y dang hai cánh tay ra ôm lấy người nàng, trong một tư thế ẻo lả đầy vẻ dâm ô và van lơn.

Nàng đứng thẳng, nàng nhìn y một cách nửa nghiêm chỉnh và hầu như ghê sợ bằng cặp mắt nảy lửa. Rồi từng giọt lệ tuôn trào, những hàng mi hồng hạ xuống, nàng buông thõng hai tay, và Lêông nắm lấy đưa lên miệng vừa lúc một người bồi vào báo với ông có người đang hỏi ông.

- Anh trở lại ngay chứ? Nàng hỏi.

- Ừ.

- Nhưng bao giờ?

- Một lát thôi.

- Đó là một thủ đoạn, tay dược sĩ nói khi thấy Lêông. Tôi đã muốn cắt đứt cuộc viếng thăm này, nó ra chiều trái ý anh. Chúng ta đi đến nhà Briđu uống một cốc garuyx 2 đi.

Lêông thề rằng y phải trở lại phòng làm việc. Thế là tay dược sĩ nói bông đùa về chuyện các giấy tờ, thủ tục tố tụng.

- Anh hãy để Quygiax và Báctôn 3 đấy một chút đã chết ai nào! Ai ngăn được anh? Anh hãy mạnh dạn lên! Chúng ta đi đến nhà Briđu; anh sẽ thấy con chó của gã. Thực là hiếm có!

Và, vì viên luật sư tập sự vẫn cưỡng lại, ông ta nói tiếp:

- Tôi cũng cùng đến đó với anh. Tôi sẽ đọc báo để đợi anh hoặc tôi sẽ xem vội vàng một quyển Pháp điển.

Lêông, choáng váng bởi cơn giận của Emma, bởi những lời nói huyên thiên của ông Hôme và có lẽ bởi cả bữa ăn sáng nặng nề, đâm lưỡng lự và dường như bị sức quyến rũ của tay dược sĩ, ông ta đang nhắc đi nhắc lại:

- Chúng ta đi đến nhà Briđu! Cách đây hai bước, ở phố Manpaluy.

Lúc bấy giờ, vì đớn hèn, vì ngu xuẩn, vì cái tình cảm không tốt lôi kéo người ta đến những hành động khả ố nhất, y đã để Hôme dẫn y đến nhà Briđu! Và họ tìm thấy Briđu ở trong một cái sân nhỏ đang trông coi ba người hầu trai hổn hà hổn hển quay bánh xe to của một chiếc máy chế nước Xen. Hôme chỉ bảo họ; ông ta ôm hôn Briđu; họ uống "garuyx". Hai mươi lần Lêông bỏ đi; nhưng ông ta giơ tay ngăn chặn y lại mà nói:

- Lát nữa! Tôi sẽ đi. Chúng ta sẽ đến tòa báo Ngọn đèn Ruăng thăm các ông ấy. Tôi sẽ giới thiệu anh với Tômaxanh.

Nhưng y đánh tháo được và chạy một mạch tới khách sạn. Emma không còn ở đấy nữa.

Nàng vừa ra đi, tức bực. Bây giờ nàng căm ghét y. Nàng cho việc lỗi hẹn đó là một sự lăng nhục nàng, và nàng còn tìm nhiều lý do khác để xa lìa y: Y thiếu dũng khí, hèn yếu, tầm thường, nhu nhược hơn một người đàn bà, vả lại y keo kiệt và nhút nhát.

Rồi lúc nguôi đi, cuối cùng nàng nhận ra nàng chắc hẳn đã vu oan cho y. Nhưng việc bới xấu người mình yêu bao giờ cũng đẩy mình xa họ một chút. Không nên đụng đến các tượng thánh: chất vàng mạ của ngôi tượng sẽ dính vào tay.

Họ đến lúc thường hay nói đến những chuyện không liên quan tới tình yêu của họ hơn; và trong những bức thư Emma gửi đến cho y, toàn chuyện hoa, thơ, trăng và sao, phương sách thơ ngây của một tình yêu suy yếu cố gắng làm cho nồng nàn lên bằng một viện trợ bên ngoài. Nàng luôn luôn trông mong, vào chuyến đi sau, một niềm hạnh phúc sâu xa; rồi nàng tự thú nàng chẳng cảm thấy gì phi thường. Nỗi thất vọng ấy mau chóng bị xóa nhòa dưới một niềm hy vọng mới, và Emma trở lại với y rạo rực hơn, háo hức hơn. Nàng cởi quần áo ra một cách thô bạo, giật bỏ cái dải mỏng mảnh của chiếc áo nịt rít quanh hông nàng như con rắn nước trườn đi. Nàng đi trên đầu ngón chân để trần để nhìn xem một lần nữa cửa đã đóng kỹ chưa, rồi chỉ bằng một động tác nàng đã để tụt tất cả quần áo xuống; và xanh nhợt, không nói, nghiêm trang nàng sà vào ngực y, với một cái rùng mình kéo dài.

Tuy nhiên, trên cái trán lã chã mồ hôi lạnh kia, trên cặp môi líu ríu kia, trong đôi mắt lơ láo kia, trong vòng tay ôm thật chặt kia, có cái gì là cùng cực, là mơ hồ và ảm đạm, Lêông tưởng như nó luồn vào giữa họ một cách tinh vi để ngăn cách họ.

Y không dám hỏi nàng; nhưng nhận ra nàng có kinh nghiệm đến thế, y như thầm chắc nàng ắt đã trải qua đủ mọi những thử thách của đau khổ và sướng vui. Cái gì trước kia làm y hứng thú, bây giờ làm y có phần hoảng sợ. Vả lại, y bực tức về cái nhân cách của y càng ngày càng bị nàng chi phối mạnh mẽ. Y giận Emma vì sự đắc thắng thường xuyên ấy. Thậm chí, y còn cố gắng không âu yếm nàng nữa; rồi, nghe tiếng giày của nàng răng rắc, y cảm thấy y hèn yếu tựa như những người say rượu trông thấy rượu mùi mạnh.

Thực ra, nàng không quên dành cho y mọi sự chăm sóc ân cần, từ việc tìm kiếm các món ăn đến cách trang sức quần áo. Từ Yôngvin, nàng mang trên bộ ngực những bông hoa hồng mà nàng ném vào mặt y, tỏ vẻ lo lắng tới sức khỏe của y, khuyên y điều này điều khác trong cách cư xử, và để giữ y hơn nữa với niềm hy vọng Trời có lẽ cũng lưu ý tới, nàng đeo vào cổ y một chiếc thẻ bài Thánh Mẫu. Như một người mẹ đức hạnh, nàng hỏi về bạn bè của y. Nàng nói với y:

- Đừng thăm hỏi họ, đừng đi đâu cả, chỉ nghĩ đến hai ta thôi; anh hãy yêu em!

Nàng những muốn có thể giám sát cuộc sống của y và nàng nảy ra ý nghĩ cho người theo y ngoài phố. Gần khách sạn, bao giờ cũng có một loại du đãng bám khách qua lại và bọn này chẳng từ chối đâu... Nhưng lòng tự kiêu của nàng không chịu.

- Ừ! Kệ xác, cho anh ấy lừa ta, cần gì! Ta có hám đâu?

Một hôm hai người tạm biệt nhau sớm, và nàng qua đại lộ trở về có một mình, nàng nhìn thấy những bức tường tu viện của nàng; thế là nàng ngồi xuống một cái ghế dài dưới bóng những cây du thụ. Cái thời ấy bình thản xiết bao! Nàng thèm khát biết mấy những tình cảm yêu đương khôn tả mà nàng cố hình dung theo sách.

Những tháng đầu của cuộc hôn nhân, những lúc cưỡi ngựa dạo chơi trong rừng, tay Tử Tước nhảy vanxơ và Lagácđy ca hát, tất cả lại diễu qua mắt nàng... và Lêông đột ngột hiện ra, cũng xa xăm như những người khác.

- Tuy nhiên mình yêu y! Nàng tự nhủ.

Chẳng can chi! Nàng không được sung sướng, chưa bao giờ được sung sướng cả. Do đâu mà cuộc đời nàng không được đầy đủ như vậy, những cái nàng dựa vào lại mục nát đến thế?... Nhưng, nếu có ở đâu đây một con người khỏe và đẹp, một bản chất dũng cảm, đầy nhiệt tình lẫn tao nhã, một trái tim thi sĩ dưới một hình thức thiên thần, đàn thất huyền căng dây đồng tấu lên trời những bản nhạc bi ai, thì tại sao, tình cờ, nàng chẳng tìm thấy con người ấy? Ôi! Không thể có được! Vả chăng, chẳng có cái gì đáng để tìm kiếm; mọi cái đều giả dối! Mỗi nụ cười che giấu một cái ngáp chán chường, mỗi niềm vui che giấu một lời nguyền rủa, mỗi lạc thú che giấu một sự chán nản, và những chiếc hôn say sưa nhất cũng chỉ để lại trên môi mình cái thèm muốn một khoái lạc cao hơn không thực hiện được.

Một tiếng loảng xoảng của kim loại kéo dài trong không trung và bốn tiếng chuông của tu viện vang lên. Bốn giờ! Thế mà nàng thấy như nàng ngồi đó, trên chiếc ghế dài đó, từ thuở nào. Nhưng vô vàn dục vọng có thể dồn đến trong một phút như một đám đông có thể tập trung trong một khoảng nhỏ.

Emma sống hoàn toàn mê mệt với những dục vọng của nàng. Hơn cả một bà đại công tước, nàng không lo lắng gì về tiền nong.

Tuy nhiên, một lần, có một người đàn ông vẻ yếu ớt, mặt đỏ và đầu hói, bước vào nhà nàng, tuyên bố là được ông Vanhxa ở Ruăng cử đến. Người này tháo ghim của cái túi ngang của chiếc áo rơđanhgôt xanh dài của mình cắm lên tay áo và lễ phép chìa ra một tờ giấy.

Đấy là phiếu nợ bảy trăm quan trả theo hạn kỳ do nàng ký, mà Lơrơ đã sang tên cho Vanhxa mặc dầu nàng hết sức phản đối.

Nàng cho người hầu gái chạy sang nhà Lơrơ. Y không đến.

Bấy giờ, người lạ mặt, vẫn đứng, đưa cặp mắt ẩn dưới hàng lông mày rậm màu hung tò mò nhìn hết bên phải đến bên trái hỏi nàng một cách ngây thơ:

- Trả lời ông Vanhxa thế nào?

- Này! Emma đáp, ông nói với ông ấy... rằng tôi không có... Để đến tuần sau... Ông ấy hãy đợi... Vâng đến tuần sau.

Thế là con người hiền lành đó bỏ đi thẳng không nói một lời. Nhưng, hôm sau, vào buổi trưa, nàng nhận được một chứng thư cự tuyệt thế là vừa trông thấy tờ giấy dán tem, trên đó một hàng chữ lớn trải ra trước mặt nhiều lần: "Trạng sư Harăng, mõ tòa ở Buysi", nàng sợ hãi đến nỗi nàng chạy hộc tốc đến nhà tay buôn vải. Nàng thấy y đang buộc một gói hàng ở ngay cửa hàng.

- Tôi đây! Y nói, tôi xin hầu bà.

Lơrơ vẫn không bỏ công việc. Y được một cô gái chừng mười ba tuổi, lưng hơi có bướu, giúp sức. Y dùng cô ta vừa làm người trông nom cửa hàng vừa làm người nấu bếp.

Rồi, nện đôi giày guốc chan chát xuống sàn cửa hàng, y leo trước đưa bà lên tầng gác thứ nhất và vào một buồng hẹp, trong có một chiếc bàn giấy lớn bằng gỗ thông trên đặt vài quyển sổ được chặn ngang bằng thanh sắt có khóa. Sát tường, dưới những tấm vải in hoa, người ta thoáng thấy một két sắt, khuôn khổ to đến mức phải chứa đựng cái gì khác hơn là giấy tờ và tiền bạc. Lơrơ, thực ra, cầm đồ cho vay, và chính trong két đó hắn đã để cái dây chuyền bằng vàng của bà Bôvary, với đôi hoa tai của lão Teliê đáng thương buộc phải bán đi để mua ở Canhcămpoa một cửa hàng tạp hóa sơ sài, ở đó lão chết mòn vì bệnh viêm niêm mạc, giữa những cây đèn nến không vàng bằng mặt lão.

Lơrơ vừa ngồi xuống ghế bành lớn độn rơm vừa nói:

- Có chuyện gì lạ?

- Ông xem đây.

Và nàng đưa cho y tờ giấy.

- Này! Tôi làm gì được?

Thế là nàng nổi khùng, nhắc lại lời y hứa không cho lưu hành những phiếu nàng nợ; y thừa nhận điều đó.

- Nhưng chính bản thân tôi bị bó buộc làm như thế khi dao kề cổ tôi.

- Thế bây giờ sự tình sẽ ra sao? Nàng hỏi.

- Ồ! Đơn giản lắm: một bản án của tòa, rồi đến tịch biên... chẳng làm gì được nữa!

Emma phải kìm mình để khỏi đánh y. Nàng dịu dàng hỏi y xem có cách nào làm yên lòng ông Vanhxa.

- Ôi chà, vâng! Làm yên lòng Vanhxa; bà không biết ông ta đấy; ông ta hung dữ hơn một người Ả Rập. 4

Tuy nhiên ông Lơrơ cũng phải xen vào:

- Bà nghe đây! Dường như từ xưa đến nay, tôi đã khá tốt với bà.

Và, mở một quyển sổ ra, y nói:

- Bà xem đây này!

Rồi, đưa ngón tay đi ngược lên trang giấy, y nói tiếp:

- Chúng ta xem nào... chúng ta xem nào... Ngày 3 tháng tám, hai trăm quan... Vào 17 tháng sáu, một trăm năm mươi... 23 tháng ba, bốn mươi sáu... Trong tháng tư...

Y ngừng lại như sợ làm điều gì dại dột.

- Và tôi chưa nói đến những phiếu nợ do ông nhà đã ký, một phiếu bảy trăm quan, một phiếu ba trăm! Còn những số tiền nhỏ mà bà lấy trước đem tính lãi, thì không kể hết được, người ta cứ lúng túng trong việc đó. Tôi không xen vào nữa!

Nàng khóc, thậm chí nàng gọi y là "ông Lơrơ phúc đức của tôi". Nhưng y vẫn cứ đổ lỗi cho cái "tay ranh ma Vanhxa". Vả chăng y không có một xu, bây giờ chẳng ai trả tiền y cả, y đành khoanh tay chịu cho người ta bóc lột y, một chủ hiệu quèn như y không thể ứng trước được.

Emma làm thinh; và Lơrơ nhấm ngòi bút, chắc hẳn lo ngại về sự im lặng của nàng, rồi y lại nói:

- Ít ra, nếu một ngày nào đó tôi thu được vài món tiền... tôi sẽ có thể...

- Vả lại, ngay khi khoản tiền còn thiếu ở Bacnơvin...

- Thế nào?

Và, được biết Lănggơloa chưa trả gì cả, y tỏ ra rất ngạc nhiên. Rồi, bằng một giọng ngọt xớt, y nói:

- Thôi chúng ta thỏa thuận với nhau, bà bảo sao?

- Ờ! Tùy ý ông!

Bấy giờ, y nhắm mắt lại để suy nghĩ, y viết ra vài con số và, sau khi tuyên bố rằng y sẽ vất vả nhiều, việc thì hóc búa mà y lại phải tốn khá nhiều công của, y đọc cho viết bốn phiếu nợ, mỗi cái hai trăm năm mươi quan, hạn trả cách nhau một tháng.

- Cốt là Vanhxa chịu nghe tôi! Vả lại, đã thỏa thuận rồi, tôi không lừng khừng đâu, tôi tròn như quả táo.

Sau đó, y lơ đãng chỉ cho nàng nhiều mặt hàng mới, nhưng không có mặt hàng nào, theo ý y, xứng đáng với bà.

- Khi tôi nghĩ rằng đấy là một chiếc áo dài bảy xu một mét, và được chứng thực là bền mầu! Vậy mà họ tin đấy! Không ai kể cho họ bây giờ nó thực sự ra sao, bà biết đấy - y muốn, qua cách thú nhận thái độ xỏ xiên của y đối với những người khác, y thuyết phục nàng hoàn toàn về lòng thành thực của y.

Rồi y lại gọi nàng lại để chỉ cho nàng hơn ba mét đăngten bằng chỉ tơ mà y vừa tìm ra mới rồi "trong một ngăn hàng đã bán".

- Đẹp không nào! Lơrơ nói: bây giờ, người ta dùng nó nhiều để phủ đầu ghế bành, đó là kiểu đang thịnh hành.

Và nhanh hơn một tay làm trò ảo thuật, y bọc chỗ đăngten đó bằng giấy lam rồi đặt gói hàng vào tay Emma.

- Ít ra tôi phải biết...?

- À! Sau này sẽ hay, y vừa đáp vừa quay gót đi.

Ngay buổi tối hôm ấy, nàng giục Bôvary viết thư cho mẹ để bà cụ gửi thực nhanh cho họ tất cả khoản tiền còn thiếu của gia tài. Bà mẹ chồng trả lời là chẳng còn gì nữa: việc thanh toán đã kết thúc, và họ còn lại, ngoài Bácnơvin, sáu trăm livrơ thực lợi mà bà sẽ trả cho họ đúng mức.

Nàng liền gửi đơn thanh toán đến hai ba con bệnh, rồi chẳng bao lâu, nàng sử dụng rộng rãi cách ấy có kết quả. Bao giờ, nàng cũng thêm vào phần tái bút: "Xin đừng nói gì với chồng tôi, ông biết nhà tôi tự hào biết chừng nào... xin ông miễn thứ... Hầu ông...". Có vài bức thư kêu ca; nàng ngăn chặn lại.

Để có tiền, nàng xoay ra bán những găng cũ, những mũ cũ, đồ sắt cũ; và nàng mà cả một cách tham lam, - máu gái quê của nàng thúc đẩy nàng kiếm lời. Rồi, trong những cuộc ra tỉnh, nàng sẽ buôn đồ vặt, mà ông Lơrơ chẳng có những thứ đó, chắc hắn sẽ lấy lại của nàng. Nàng sắm cho nàng những bộ lông đà điểu, đồ sứ Trung Hoa và tủ đựng cốc chén; nàng vay tiền Fêlixitê, mụ Lơfrăngxoa, mụ chủ quán Chữ Thập Đỏ, nàng vay tất cả mọi người, bất cứ ở đâu. Với số tiền cuối cùng nàng nhận được từ Bácnơvin, nàng trả hai phiếu nợ, còn một ngàn năm trăm quan kia, nàng tiêu hết. Nàng lại vay nợ, và cứ thế mãi!

Lắm lúc, thực ra, nàng có tính toán, nhưng nàng khám phá ra những điều quá quắt đến nỗi nàng không thể tin được. Nàng liền tính lại, chẳng mấy lúc nàng rối cả óc lên, nàng ngừng phắt mọi thứ tại đó và không nghĩ đến nữa.

Cảnh nhà bây giờ thật buồn! Người ta thấy từ trong đi ra những người cung cấp hàng với vẻ mặt hầm hầm. Khăn mùi soa vứt bừa bãi trên bếp lò; và con bé Béctơ đi bít tất thủng, khiến bà Hôme bất bình. Nếu Sáclơ liều đưa ra một lời nhận xét e dè, thì nàng thô bạo trả lời rằng đó không phải lỗi ở nàng!

Tại sao lại nóng nảy như vậy? Hắn giải thích tất cả bằng cái bệnh thần kinh cũ của nàng; và tự trách mình đã coi tình trạng suy nhược của nàng là thói xấu, hắn tự đổ cho mình là ích kỷ, hắn muốn chạy đến ôm hôn nàng.

-  Ồ! Không, hắn thầm nghĩ, mình mà đến sẽ làm vợ mình khó chịu!

Thế là hắn ngồi nguyên.

Sau bữa ăn chiều, hắn đi dạo một mình trong vườn; hắn ôm con bé Béctơ vào lòng, và mở tờ báo Y học ra, thử dạy nó tập đọc. Đứa trẻ chưa học bao giờ, chẳng mấy lúc giương đôi mắt buồn rầu và kêu khóc. Hắn liền dỗ nó; hắn đi lấy nước vào bình tưới để nó làm những con sông trên cát, hoặc bẻ gãy những cành thủy lạp để nó trồng cây trong những luống đất men vườn, việc đó phần nào làm hỏng khu vườn hoàn toàn chứa đầy cỏ dại; người ta đang nợ Lêtibuđoa bao ngày công! Rồi đứa bé thấy lạnh và hỏi mẹ.

- Con gọi người hầu gái ấy, Sáclơ nói. Con ơi, con biết rõ mẹ con không muốn ai quấy rầy mình cả.

Mùa thu bắt đầu và lá cây đã rụng - cách đây hai năm, khi nàng ốm - Vậy bao giờ tất cả chuyện này chấm dứt!... Và hắn tiếp tục đi, hai tay sau lưng.

Nàng ở buồng nàng. Không ai lên đó cả. Nàng ở đó suốt ngày, như ngây như dại, chẳng mặc gì mấy, và thỉnh thoảng, lại đốt thứ hương tỏi kích thích thường dùng trong chốn thanh lâu mà nàng đã mua ở Ruăng trong cửa hàng của một người Angiêri. Ban đêm, để khỏi có bên cạnh mình cái người đàn ông nằm duỗi dài ra ngủ đó, cuối cùng nàng đã tống được hắn xuống tầng gác thứ hai bằng những cái nhăn nhó của nàng; và nàng đọc đến sáng những sách quá quắt trong đó những bức tranh hành lạc với những tư thế ghê gớm. Thường khi bị hoảng sợ, nàng thốt lên một tiếng kêu. Sáclơ chạy tới.

- Ôi! Anh đi đi! Nàng bảo.

Hay có những lần khác, bị hun nóng mạnh hơn bởi ngọn lửa dục, mà cuộc ngoại tình khêu lên, hổn hển, kích động, dâm dật, nàng mở cửa sổ ra, hít không khí lạnh, xõa trước gió mớ tóc quá nặng, và nhìn các ngôi sao, ao ước những mối tình vương giả. Nàng nghĩ đến y, đến chàng Lêông. Bây giờ nàng có thể đánh đổi tất cả để lấy độc một trong nhũng cuộc hẹn hò làm cho nàng thỏa mãn kia.

Đó là những ngày dạ hội của nàng. Nàng muốn những ngày ấy rực rỡ! Và khi y không thể một mình trả mọi phí tổn, nàng đóng góp một cách rộng rãi, mà điều này hầu như lần nào cũng xảy ra. Y cố làm cho nàng hiểu hai người ở nơi khác cũng được thoải mái như thế, trong một khách sạn nào đó rẻ tiền hơn; nhưng nàng tìm lý do phản đối.

Một hôm, nàng rút từ trong túi ra sáu chiếc thìa nhỏ bằng bạc mạ vàng (đó là quà mừng cưới của lão Ruôn), nhờ y mang hộ nàng đến ngay nhà cầm đồ; và Lêông nghe lời tuy rằng công việc ấy làm y khó chịu. Y sợ hãi đến thanh danh của y.

Rồi, khi nghĩ tới chuyện đó, y thấy người tình của y có những hành động lạ lùng, và có lẽ người ta muốn y xa rời nàng không phải là sai.

Thực tế, có một người nào đó đã gửi cho mẹ y một bức thư nặc danh dài để báo cho bà ta biết rằng y đang sống phóng đãng với một người đàn bà có chồng; thế là bà già hiền lành mường tượng thấy con ngoáo ộp muôn thuở của các gia đình, nghĩa là con người độc địa mơ hồ, con yêu phụ, con quái vật tàng ẩn trong đáy sâu của tình yêu, liền viết ngay thư cho trạng sư Đuybôcagiơ, người phụ trách y, ông ta thực hoàn hảo trong việc này. Ông ta giữ y suốt bốn nhăm phút nhằm cảnh tỉnh y, báo trước cho y cái vực thẳm. Cuộc dan díu như vậy sau này sẽ làm hại đến việc lập nghiệp của y. Ông ta khẩn khoản yêu cầu y cắt đứt, và nếu y chẳng chịu hy sinh cho lợi ích của bản thân y, thì ít ra y cũng nên làm như vậy vì ông ta, Đuybôcagiơ!

Lêông cuối cùng đã thề không gặp lại Emma nữa; và rồi y tự trách y không giữ lời hứa khi y xét tất cả những gì mà người đàn bà ấy có thể gây cho y bao phiền phức, bao lời ra tiếng vào, chưa kể những lời bông đùa các bạn y tuôn ra lúc buổi sáng quanh lò sưởi. Vả lại, y sắp trở thành người thư ký thứ nhất: đây là lúc phải đứng đắn. Cho nên y bỏ thổi sáo, bỏ những tình cảm quá đáng, bỏ những tưởng tượng hão huyền - vì mọi anh tư sản, trong cái hăng hái của tuổi trẻ, dù chỉ một ngày, một phút, cũng tưởng chừng mình có khả năng mang những mối nhiệt tình rộng lớn làm được những sự việc cao cả. Kẻ chơi bời tầm thường nhất đã ước mơ những nữ chúa; mỗi viên quản lý văn khế mang trong mình tàn dư của một thi nhân.

Bây giờ y buồn nản khi Emma bất thần khóc nức nở trên ngực y; và trái tim y, như những người chỉ chịu đựng được một liều lượng âm nhạc nào đó, đã dịu đi vì hờ hững trước tiếng ồn ào của một tình yêu mà y không còn phân biệt được những cái tế nhị của nó nữa.

Họ biết nhau quá rồi, nên không còn cảm thấy tình trạng kinh ngạc về sự chiếm hữu tình yêu làm tăng gấp trăm lần niềm vui sướng của nó. Nàng cũng chán ngấy y như y mệt mỏi vì nàng. Emma lại thấy trong ngoại tình mọi điều vô vị của hôn nhân.

Nhưng làm thế nào để có thể giũ đi được? Rồi nàng hoài công cảm thấy nhục về sự thấp hèn của một niềm hạnh phúc như vậy, nàng vẫn cứ bám lấy nó vì thói quen hay vì đồi bại; và mỗi ngày, nàng lại lao sâu vào đó hơn, làm khô cạn mọi hạnh phúc chỉ vì muốn nó lớn quá. Nàng buộc tội Lêông vì những điều nàng hy vọng đã không toại được ý nàng, tựa hồ như y đã phản nàng; và thậm chí nàng còn mong chờ một tai họa đưa đến sự đoạn tuyệt giữa hai người vì lẽ nàng không còn can đảm tự mình quyết định.

Nàng không vì thế mà ngừng viết cho y những bức thư tình, do cái ý niệm mà một người phụ nữ phải luôn viết thư cho người yêu của mình.

Nhưng khi viết, nàng cảm thấy một người đàn ông khác, một bóng ma tạo nên bởi những ký ức nồng nhiệt nhất của nàng, bởi những cuốn sách độc bản hay nhất của nàng, bởi những thèm khát mạnh mẽ nhất của nàng? Và sau cùng, nó trở thành chân thực hết sức, dễ gần gũi đến nỗi nàng hồi hộp, bàng hoàng, tuy nhiên không thể tưởng tượng được ra nó một cách rõ nét, vì nó biến đi như một thiên thần, dưới cơ man đức tính của nó. Nó ở cái miền xanh lam có những thang lụa đu đưa bên những bao lơn, trong hương ngát của những bông hoa, dưới ánh trăng. Nàng cảm thấy nó gần nàng, nó sắp đến và nâng bổng toàn thân nàng lên trong một cái hôn. Sau đó nàng ngã sấp xuống, đau đớn vì những mối hăm hở của thứ tình yêu mơ hồ đó làm nàng mệt nhọc hơn là những cuộc dâm loạn.

Bây giờ nàng cảm thấy liên tục đau khắp mình mẩy. Thậm chí lắm khi Emma còn nhận được những trát của tòa án, thứ giấy dán tem mà nàng chỉ liếc qua. Nàng muốn đừng sống nữa, hoặc ngủ liên miên.

Ngày hội giữa tuần chay, nàng không về Yôngvin; buổi tối nàng đi dự khiêu vũ hóa trang. Nàng vận một chiếc quần nhung và đi đôi bít tất đỏ, đeo một bộ tóc giả buộc ngược và chụp một cái mũ ống trên tai. Nàng nhảy suốt đêm, theo tiếng kèn trombon cuồng loạn; người ta quây xung quanh nàng; và sáng ra, nàng thấy nàng ở hàng cột vây quanh rạp hát giữa năm sáu người bạn của Lêông đeo mặt nạ cải trang thành những cô gái dỡ hàng hay những tay thủy thủ rủ nhau đi ăn.

Những tiệm cà phê quanh đấy đã đầy khách. Họ trông thấy trên cảng có một quán ăn vào loại tầm thường nhất, người chủ mở cho họ vào một căn buồng nhỏ ở tầng gác thứ tư.

Mấy anh đàn ông thì thào trong một góc, hẳn là họ bàn việc chi tiền. Họ gồm có một tên luật sư tập sự, hai sinh viên Y khoa và một thư ký hãng buôn: Ôi! Cuộc giao du! Còn mấy chị đàn bà, Emma nhận thấy, qua giọng nói của họ, chắc họ hầu hết thuộc hàng hạ lưu. Thế là nàng sợ, nàng lùi ghế lại và nhìn xuống đất.

Người ta bắt đầu ăn. Nàng không ăn; trán nàng hầm hập, mí mắt nàng ran ran và da nàng lạnh toát. Nàng cảm thấy trong đầu nàng cái sàn nhảy vẫn còn nảy lên dưới hàng ngàn bàn chân đang nhảy theo nhịp điệu. Rồi, mùi rượu pha chế và khói thuốc xì gà làm nàng choáng váng. Nàng ngất đi; người ta khiêng nàng trước cửa sổ.

Ngày bắt đầu rạng, một vết lớn màu đỏ ối lan rộng trong nền trời nhợt nhạt ở phía Xanhtơ Catơrin. Mặt sông bàng bạc gạn lên trước gió; không một ai trên cầu, những chiếc đèn lồng kính ở đường đã tắt.

Vào khoảng ấy, nàng hồi tỉnh lại và chợt nhớ đến Béctơ đang ngủ ở xa kia, trong buồng người hầu gái. Nhưng một chiếc xe bò đầy những thanh sắt dài đi qua làm các tường nhà dội lên một thứ tiếng loảng xoảng chói tai.

Nàng đột ngột lẩn tránh đi, trút bỏ bộ quần áo, báo với Lêông nàng phải về, và cuối cùng ở lại một mình tại khách sạn Bulônhơ. Mọi thứ, và ngay cả bản thân nàng nữa, đều làm cho nàng khó chịu. Nàng những muốn thoát đi như một con chim, được tươi trẻ lại ở nơi nào đấy, xa lắm, trong những khoảng không tinh khiết.

Nàng đi ra, qua đại lộ quảng trường Côsoazơ và khu ngoại ô, đến tận một phố quang đãng ở cao hơn các vườn tược. Nàng đi nhanh, gió lộng làm nàng bình tĩnh lại: và dần dần những bộ mặt của đám đông, những chiếc mặt nạ, những điệu nhạc đối vũ, những cây đèn nhiều ngọn, bữa ăn đêm, những người đàn bà ấy, tất cả đều biến mất như sương mù bị cuốn đi. Rồi trở lại quán Chữ Thập Đỏ, nàng lao mình xuống giường, trong căn buồng nhỏ tầng gác thứ hai, ở đó có những ảnh của tháp Néxlơ. Đến bốn giờ chiều, Ive đánh thức
nàng dậy.

Nàng vừa về đến nhà, Fêlixitê đã chỉ cho nàng đằng sau chiếc đồng hồ treo tường, một tờ giấy xám. Nàng đọc:

"Căn cứ vào tờ sao bản án, chấp hành lời tuyên án...".

Án nào? Hôm trước, quả thật người ta đã đưa đến đây một tờ giấy khác mà nàng không biết; cho nên nàng kinh ngạc về những chữ: "Chiểu theo nhà vua, pháp luật và công lý, ra lệnh cho bà Bôvary...".

Thế là bỏ qua nhiều dòng, nàng thấy: "Hạn trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ" - Gì vậy. "Phải trả số tiền tổng cộng tám ngàn quan." Và thậm chí, ở bên dưới còn ghi: "Bà sẽ bị buộc phải trả số tiền ấy bằng mọi đường pháp luật, và đặc biệt bằng sự thi hành bản án tịch biên các đồ đạc và vật dụng
của bà".

Làm thế nào bây giờ?... Hạn trong hai mươi bốn tiếng đồng hồ! Ngày mai! Lơrơ, nàng thầm nghĩ, y còn muốn làm nàng sợ nữa; vì nàng đoán ra ngay tất cả các thủ đoạn của y, mục đích những sự dễ dãi của y. Điều làm nàng vững tâm là món tiền đưa ra quá đáng.

Tuy nhiên, cứ mua chịu mãi, vay mượn mãi, ký phiếu nợ mãi rồi tái hẹn trả mãi, tiền ghi trong phiếu nợ tăng lên theo kỳ hạn mới, nàng rút cục đã chuẩn bị cho Lơrơ một cái vốn mà y nóng lòng sốt ruột đợi chờ để đầu cơ.

Nàng đến nhà y bằng một vẻ ung dung.

- Ông biết điều gì xảy ra đến với tôi rồi chứ? Chắc đó là một trò đùa!

- Không.

- Vì sao lại thế?

Y thong thả quay đi và vừa khoanh tay lại vừa nói với nàng:

- Bà trẻ của tôi ơi, bà nghĩ rằng cho đến cái ngày tận cùng thế giới, tôi vẫn làm người cung cấp hàng và người chủ ngân hàng không công của bà sao? Tôi phải thu vào những số tiền đã bỏ ra chứ, chúng ta hãy công bằng!

Nàng phản đối y về món nợ.

- Ôi! Mặc! Tòa án đã công nhận nó! Đã có bản án! Người ta đã thông báo cho bà! Vả lại, không phải tôi, mà là Vanhxa.

- Thế ông không thể...?

- Ồ! Chẳng làm gì được.

- Nhưng mà..., tuy nhiên..., chúng ta hãy bàn xem.

Rồi nàng nói chuyện huyên thuyên; nàng không biết gì cả... đây là một điều kỳ dị...

- Lỗi tại ai! Lơrơ vừa hỏi vừa mỉa mai chào nàng. Trong khi tôi, tôi làm ăn đầu tắt mặt tối như một thằng mọi, thì bà ôn lại thời son trẻ.

- À! Đừng có dạy đời!

- Cái đó không bao giờ có hại, y đáp.

Nàng khiếp nhược, nàng van nài y; và thậm chí nàng còn đặt đôi bàn tay xinh đẹp trắng muốt và thon dài của nàng lên đầu gối tay lái buôn.

- Bà để tôi yên nào! Người ta sẽ bảo là bà muốn quyến rũ tôi!

- Ông là một kẻ khốn nạn! Nàng la lên.

- Ối! Ối! Bà đối xử với tôi như thế đấy! Y vừa nói vừa cười.

- Tôi sẽ làm cho người ta biết ông là con người thế nào. Tôi sẽ bảo chồng tôi...

- Này! Tôi, tôi sẽ chỉ cho chồng bà một cái gì!

Và Lơrơ rút ở két sắt ra tờ giấy biên nhận một ngàn tám trăm quan mà nàng đã đưa cho y khi Vanhxa chiết khấu. Y nói thêm:

- Bà có tin rằng chồng bà không hiểu cái lối xoáy vặt của bà ư? Tội nghiệp cho con người đáng quý trọng ấy!

Nàng sụp xuống, đau hơn bị chùy nện. Y vừa đi đi lại lại từ cửa sổ đến bàn giấy vừa nhắc nàng:

- À! Tôi sẽ cho ông ta biết rõ... tôi sẽ cho ông ta biết rõ... Rồi y đến gần nàng, y ngọt ngào nói:

- Điều đó không vui vẻ gì, tôi biết; nhưng sau đó, không ai chết cả, và vì lẽ bà cũng chỉ còn cách ấy để trả tiền tôi thôi...

- Nhưng tôi lấy tiền ở đâu ra? Emma vừa vặn cánh tay vừa nói:

- Ối chà! Khi người ta có nhiều bạn như bà!

Và y nhìn bà một cách quá sắc sảo và quá dữ tợn đến nỗi nàng ớn đến tận ruột gan.

- Tôi hứa với ông, nàng nói, tôi sẽ ký...

- Tôi ngán chữ ký của bà lắm rồi!

- Tôi sẽ lại bán...

- Thôi đi! Y vừa nhún vai vừa nói, bà chẳng còn gì hết. Rồi y kêu qua lỗ cửa nhìn xuống cửa hàng:

- Annét! Đừng quên ba mảnh vải thừa của số 14.

Người hầu gái xuất hiện; Emma hiểu ra, liền hỏi "phải mất bao nhiêu tiền để ngăn lại mọi sự truy tố".

- Chậm quá rồi!

- Nhưng nếu tôi mang đến cho ông mấy nghìn quan, một phần tư số tiền, một phần ba, gần hết?

- Ồ! Không, vô ích!

Y khẽ đẩy nàng ra cầu thang.

- Tôi xin ông, ông Lơrơ ạ, vài ngày nữa thôi.

Nàng khóc nức nở.

- Thôi mà! Khóc với lóc!

- Ông làm tôi tuyệt vọng!

- Ngay thế cũng kệ bà! Y vừa nói vừa đóng cửa lại.

--------------------------------

1

Yes (tiếng Anh): có nghĩa là vâng, ừ, có.

2

Garuyx (Garus): Một thứ rượu bổ pha với quế, gừng và đậu khấu.

3

Quygiax (Cujas): Nhà luật học Pháp (thế kỷ XVI); Bactôn (Barthole): Nhà luật học Ý (thế kỷ XIV).

4

Một định kiến tung ra về người Ả Rập của bọn tư sản và phong kiến châu Âu.

Chương 7

Hôm sau, nàng thản nhiên khi trạng sư Harăng, mõ tòa cùng với hai nhân chứng, đến nhà nàng để lập biên bản tịch biên gia sản.

Họ bắt đầu từ phòng làm việc của Bôvary và không ghi chiếc sọ não tướng học được coi là đồ nghề; nhưng ở trong bếp, họ đếm từng loạt đĩa, nồi, ghế, đèn, và ở trong buồng ngủ của nàng, họ đếm tất cả các đồ vặt vãnh để trên giá. Họ xem xét những chiếc áo dài, những bộ quần áo lót, gian buồng rửa mặt; và cuộc sống của nàng đến tận những xó xỉnh thầm kín nhất, như một xác chết mà người ta mổ để khám nghiệm, đã được phơi bầy trọn vẹn trước mắt ba người đàn ông ấy.

Trạng sư Harăng, mặc một chiếc áo đen mỏng có khuy cài, đeo cavát trắng, chốc chốc lại nhắc:

- Bà cho phép, thưa bà? Bà cho phép?

Lắm lúc, ông ta thốt lên:

- Xinh quá!... Đẹp quá!

Rồi ông ta lại viết, chấm ngòi bút vào lọ mực bằng sừng mà ông ta cầm bên tay trái.

Khi họ đã làm xong các phòng ở, họ leo lên gác thượng.

Nàng để ở đó một bàn giấy nhỏ trong đựng những bức thư của Rôđônphơ. Phải mở cái bàn giấy ấy.

- A! Thư từ! Trạng sư Harăng nói với một nụ cười kín đáo. Nhưng, bà cho phép! Vì tôi phải xem trong hộp đó có đựng gì khác không.

Và ông ta lật nghiêng các tờ giấy một cách nhẹ nhàng như để cho những đồng tiền dấu ở đó rơi ra. Thế là nàng nổi giận khi thấy cái bàn tay thô kệch kia, với những ngón đỏ và mềm như những con sên, đặt trên những trang thư đã làm trái tim nàng hồi hộp.

Cuối cùng họ ra đi! Fêlixitê trở về. Nàng đã cho chị ta đứng rình để đánh lạc hướng Bôvary; và nàng cùng Fêlixitê sốt sắng dọn dẹp ngay tầng gác thượng cho người canh đồ tịch biên, người này hứa sẽ ngồi yên ở đó.

Nàng thấy Sáclơ, buổi tối hôm ấy, có vẻ đăm chiêu. Emma dò xét hắn bằng cái nhìn đầy lo sợ, tưởng như thấy trong những nếp nhăn trên mặt hắn những lời tố cáo. Rồi, khi nàng đưa mắt nhìn lên chiếc lò sưởi được lót bằng những cái giá Trung Quốc che hơi nóng, nhìn lên những bức rèm cửa rộng lớn, nhìn lên những chiếc ghế bành, nhìn lên cuối cùng tất cả những gì đã làm dịu cuộc đời cay đắng của nàng, thì nàng chợt thấy hối hận, hay đúng hơn là một nỗi luyến tiếc mênh mông kích thích dục vọng, chứ không thủ tiêu
dục vọng. Sáclơ điềm tĩnh nhóm lửa lại, đặt hai chân lên giá để củi.

Có một lúc người canh đồ tịch biên, chắc hẳn chán nản ở trong cái nơi trú ẩn của mình, khẽ động đậy.

- Có ai đi trên kia? Sáclơ hỏi.

- Không! Nàng đáp, đấy là gió lay cái cửa trổ trên mái để ngỏ.

Hôm sau là ngày chủ nhật. Nàng đi Ruăng nhằm gặp tất cả những người chủ nhà băng mà nàng biết tên. Họ đều về quê hoặc đi xa. Nàng không nản, và nàng đều hỏi vay tiền những người nàng gặp được, nàng quả quyết là nàng cần đến tiền, nàng sẽ trả. Vài người cười nhạo nàng; tất cả đều từ chối.

Lúc hai giờ, nàng chạy đến Lêông, gõ cửa nhà y. Không ai ra mở. Mãi sau y mới xuất hiện.

- Ai dẫn em đến đây?

- Việc đó làm phiền anh à?

- Không..., nhưng...

Và y thú thật rằng chủ nhà không thích người trọ tiếp "đàn bà".

- Em có điều muốn nói với anh, nàng nói lại.

Y  liền với chiếc chìa khóa. Nàng ngăn y lại.

- Ồ! Không, đến đằng kia, chỗ của chúng ta. Và họ đi đến buồng họ, ở khách sạn Bulônhơ.

Khi tới nơi, nàng uống một cốc nước to. Mặt mũi nàng rất nhợt nhạt. Nàng bảo y:

- Lêông, anh giúp em một việc.

Và, lắc người y bằng hai bàn tay nắm chặt, nàng nói thêm:

- Anh nghe đây, em cần tám ngàn quan!

- Em điên đấy à!

- Chưa đâu!

Và nàng lập tức kể lại chuyện tịch biên gia sản, nàng trình bày cho y rõ tình cảnh nguy nan của nàng, Sáclơ không biết gì cả; bà mẹ chồng thì ghét nàng, bố Ruôn lại chẳng làm gì được, nhưng y, Lêông, y hãy chạy mọi nơi để kiếm ra số tiền cần thiết ấy...

- Em muốn thế nào...?

- Anh hèn nhát làm sao! Nàng thốt lên. Thế là y nói năng một cách ngu xuẩn:

- Em tự thêu dệt tai họa. Có lẽ với một ngàn ê quy, thằng cha ấy sẽ dịu đi.

Càng là một lý do để thử chạy chọt; không thể không kiếm ra được ba ngàn quan. Vả chăng, Lêông có thể ký phiếu nợ thay nàng.

- Đi! Thử xem! Phải thế! Chạy đi!... Ờ! Cố lên! Cố lên! Em sẽ rất yêu anh?

Y  ra đi, một tiếng đồng hồ sau, y trở về và nghiêm trang nói:

- Anh đã đến nhà ba người... vô ích!

Rồi hai người ngồi đối diện nhau ở hai bên lò sưởi, bất động và câm lặng. Emma vừa nhún vai vừa dậm chân. Y nghe thấy tiếng nàng thì thầm:

- Nếu em ở địa vị anh thì em, em sẽ kiếm ra được số tiền ấy lắm!

- Ở đâu vậy?

- Ở phòng làm việc của anh!

Và nàng nhìn y.

Một ý nghĩ liều lĩnh và đen tối thoát ra từ cặp mắt nảy lửa của nàng, và hàng mi khép lại một cách dâm dật và khuyến khích đến nỗi chàng trai cảm thấy mình mềm yếu đi dưới cái ý nghĩ thâm trầm của người đàn bà ấy đang thúc đẩy y phạm một tội ác. Lúc bấy giờ y sợ hãi, và để tránh mọi điều diễn giải, y vừa vỗ trán vừa kêu lên:

- Môren chắc sẽ về đêm nay! Cậu ta sẽ không từ chối anh đâu, anh hy vọng (đó là một trong những người bạn thân của y, con một nhà buôn giàu sụ), và (y nói thêm) anh sẽ mang cho em cái ấy ngày mai.

Emma không tỏ vẻ hoan nghênh cái hy vọng ấy một cách vui sướng như y tưởng. Nàng nghi y đã nói dối ư? Y đỏ mặt nói tiếp:

- Tuy nhiên, nếu đến ba giờ em không thấy anh, thì đừng đợi anh nữa, em thân yêu. Anh phải đi đây, tha lỗi cho anh. Tạm biệt!

Y nắm tay nàng, nhưng y thấy nó hoàn toàn không còn sinh khí. Emma không còn một cảm giác nào cả.

Bốn giờ điểm; và nàng đứng dậy để trở về Yôngvin như một người máy làm theo sự thúc đẩy của thói quen.

Trời đẹp; đó là một trong những ngày tháng ba trong sáng và oi bức; mặt trời rực rỡ trên một bầu trời hoàn toàn trắng xóa. Nhiều người dân Ruăng, ăn mặc đẹp đẽ, dạo chơi với một vẻ sung sướng. Nàng tới quảng trường Pácvi. Sau buổi kinh vãn khóa, người trong đi ra; đám đông ùa ra từ ba cửa lớn như một dòng sông lớn chảy qua ba nhịp cầu, và, viên giám sát giáo đường đứng giữa bất động hơn cả một tảng đá.

Lúc bấy giờ, nàng nhớ lại cái ngày mà, rất lo lắng và đầy hy vọng, nàng bước vào cái gian lớn ở giữa nhà thờ trải dài ra trước mặt nàng, không sâu bằng mối tình yêu của nàng; và nàng cứ tiếp tục vừa đi vừa khóc dưới tấm khăn trùm đầu, choáng váng, chệnh choạng, gần ngã.

- Tránh! Một tiếng thét từ một chiếc cổng lớn đang mở vang lên. Nàng dừng lại để cho một con ngựa đen vượt qua, vừa đi vừa dậm chân trước trong đôi càng xe độc mã do một người phong nhã vận áo lông chồn điều khiển. Ai vậy? Nàng biết người đó... Chiếc xe lao đi và mất hút.

Thì chính là ông ta, vị Tử tước! Nàng quay ngoắt đi; đường phố vắng tanh. Và nàng quá đau đớn, quá buồn phiền đến nỗi nàng phải dựa vào một bức tường để khỏi ngã.

Rồi nàng nghĩ nàng đã nhầm. Vả chăng, nàng chẳng biết gì về cái đó cả. Tất cả, bên trong lẫn bên ngoài bản thân nàng ruồng bỏ nàng. Nàng tự cảm thấy mình cùng đường lạc lối, lăn đi hú họa trong nhũng vực thẳm khôn tả; và khi đến quán Chữ Thập Đỏ, nàng gần như vui mừng thấy ông Hôme tốt bụng đang trông cho người ta xếp lên chiếc xe Con én một cái hộp lớn đầy dược liệu; ông ta cầm ở tay, trong một chiếc khăn quàng cổ, sáu tấm bánh cho bà vợ ông ta.

Bà Hôme rất thích những chiếc bánh nhỏ và chắc ấy nặn theo hình khăn quấn đầu mà người ta ăn với bơ mặn trong dịp tuần chay: di tích cuối cùng của thức ăn gôtich có lẽ có từ thuở Thập tự quân mà xưa kia những người dân Noócmăng lực lưỡng nhét đầy bụng, tưởng chừng nhìn thấy trên bàn, dưới ánh đuốc vàng, những đầu giặc Xarazanh để ăn nghiến ngấu, giữa khoảng những bình rượu quế và những đống thịt đồ sộ. Vợ tay dược sĩ nhai bánh rau ráu một cách hùng dũng như họ, mặc dầu bộ răng bà ta đáng ghét; cho nên, tất cả những lần ông Hôme đi lên tỉnh, ông ta không quên mang bánh ấy về cho bà, bánh bao giờ cũng lấy ở nhà làm bánh lớn ở phố Mátxacrơ.

- Rất sung sướng được gặp bà! Ông ta vừa nói vừa đưa tay đỡ Emma lên chiếc xe Con én.

Rồi ông ta treo bánh vào dải chiếc túi lưới, và ngồi, đầu trần, đôi tay khoanh lại, trong một dáng điệu trầm tư kiểu Napôlêông.

Nhưng khi người mù, như thường lệ, hiện ra ở chân dốc, ông ta thốt lên:

- Tôi không hiểu sao nhà chức trách lại vẫn dung túng những lối làm ăn có tội này? Người ta lẽ ra phải bắt giữ những kẻ khốn khổ này, buộc họ làm công việc gì mới được! Sự tiến bộ, tôi lấy danh dự mà nói, đi chậm như rùa! Chúng ta đang còn lặn ngụp giữa cảnh man rợ!

Gã mù giơ chiếc mũ ra, mũ rập rờn ở bờ cửa xe như chỗ lùng thùng của tấm giấy phủ tường bị tuột đinh.

- Đấy là, tay dược sĩ nói, một trạng thái của bệnh tràng nhạc. Và, tuy rằng ông ta biết kẻ khốn khó ấy, ông ta lại làm như mới trông thấy gã lần đầu tiên, xì xào những tiếng giác mạc, giác mạc mờ đục, bạch mạc, sắc mặt, rồi hỏi gã bằng một giọng nhân từ.

- Này anh bạn, anh bị cái tật ghê sợ này từ lâu chưa? Đáng lẽ say sưa ở tiệm rượu, anh nên sống theo một chế độ thì tốt hơn.

Ông ta khuyên gã ta nên uống vang ngon, bia ngon, nên ăn thịt quay ngon. Gã mù vẫn hát; vả chăng, gã ta có vẻ hầu như ngốc nghếch. Cuối cùng, ông Hôme mở ví ra.

- Này, đây là một xu, anh trả lại tôi hai đồng xèng; và đừng quên những lời tôi dặn, anh sẽ thấy dễ chịu.

Ive dám cả tiếng tỏ ra phần nào hoài nghi về hiệu lực của những lời dặn ấy. Nhưng tay dược sĩ, cam đoan rằng ông sẽ chữa được gã kia khỏi bằng thứ thuốc mỡ do ông ta chế ra, và ông ta cho gã ta biết địa chỉ của ông ta:

- Ông Hôme, gần khu chợ, được khá nhiều người biết.

- Này! Ive nói, thay tiền công ấy, cậu làm trò cho chúng tôi xem đi.

Gã mù khuỵu chân xuống, và vừa nghiêng ngả cái đầu vừa đảo tròn đôi mắt xanh nhạt và thè lưỡi, gã ta lấy hai tay xoa bụng, thốt ra một tiếng sủa ồm ồm như một con chó đói. Emma kinh tởm, ném qua vai gã một đồng năm quan. Đó là tất cả tài sản của nàng. Nàng tưởng ném tiền đi như thế là cao thượng.

Chiếc xe đã đi. Ông Hôme bỗng nhiên ngả người ra ngoài khung của thét lên:

Đừng dùng chất bột và chất sữa! Mặc áo len và hơ chỗ đau vào khói hạt đỗ tùng!

Cảnh tượng những vật quen thuộc dần dần diễn qua mắt Emma làm nàng quên đi nỗi đau khổ hiện tại. Một cái mệt mỏi không chịu được đè nặng người nàng, và nàng trở nên ngây dại..., chán nản, hầu như không có sinh lực, lúc về đến nhà.

- Đến đâu hay đến đó! Nàng tự nhủ.

Mà rồi, ai biết được? Từ lúc này qua lúc khác, sao lại chẳng có thể xảy ra một sự kiện gì phi thường. Thậm chí có thể chết.

Vào hồi chín giờ sáng, nàng bị đánh thức dậy bởi tiếng nói ồn ào tại quảng trường. Người ta tụ tập xung quanh khu chợ để đọc một tờ áp phích lớn dán vào một cái cột, và nàng thấy Juyxtanh leo lên một cái trụ xé tờ áp phích. Nhưng vừa lúc ấy, tay tuần phiên tóm lấy cổ tay gã ta. Ông Hôme ra khỏi cửa hàng, và mụ Lơfrăngxoa, giữa đám đông, có vẻ đang bàn tán.

- Thưa bà! Thưa bà! Fêlixitê vừa kêu lên vừa bước vào nhà, thực là một điều ghê gớm!

Và cô gái đáng thương, xúc động, giơ ra cho nàng một tờ giấy vàng mà cô ta vừa bóc ở cửa ra. Emma đọc rất nhanh, thấy tất cả đồ đạc của nàng bị đem ra phát mại.

Thế là hai người nhìn nhau im lặng. Họ, cô ở và bà chủ, chẳng có điều gì giấu giếm nhau. Cuối cùng, Fêlixitê thở dài:

- Nếu con là bà, thưa bà, con sẽ đến nhà ông Guyômanh.

- Em tin thế à?

Và câu hỏi ấy có nghĩa:

- Em biết nhà ấy qua người hầu, thế thì chủ nhà ấy, đôi khi có nói đến ta không?

- Vâng, bà đi đi, được việc đấy.

Nàng mặc quần áo vào, vận chiếc áo dài đen và đội chiếc mũ có hạt huyền; và để cho người ta khỏi trông thấy nàng (vẫn còn rất đông người trên quảng trường), nàng đi ra phía ngoài làng, qua con đường nhỏ bên bờ nước.

Nàng thở hồng hộc đến trước hàng rào sắt nhà viên quản lý văn khế; bầu trời tối đen và tuyết rơi lất phất.

Nghe tiếng chuông, Têôđo, mặc gilê đỏ xuất hiện trên thềm; gã ta ra mở cửa cho nàng hầu như thân mật, tựa hồ mở cho một người quen, và đưa nàng vào phòng ăn.

Một chiếc lò sưởi rộng bằng sứ đang kêu vo vo dưới một cây xương rồng choán đầy cái hõm tường, và trong những chiếc khung gỗ đen, trên nền giấy gỗ sồi phủ tường, có tranh Exmêranđa của Xtơben, với tranh Puytipha của Sôpanh. Bàn ăn đã dọn sẵn, hai chiếc đèn cồn bằng bạc, quả nắm cửa bằng pha lê, sàn nhà và đồ đạc tất cả đều bóng loáng, rất sạch, kiểu Anh; cửa kính được trang hoàng, ở mỗi góc, bằng thủy tinh mầu.

- Đây là một phòng ăn mà ta cần phải có một như thế, Emma thầm nghĩ.

Viên quản lý văn khế bước vào, một tay giữ khít vào người chiếc áo dài mặc trong nhà có thêu cành lá, một tay nhấc ra rồi lại đặt vội lên đầu cái mũ vải bằng nhung mầu hạt dẻ để lệch một cách hợm đời về bên phải, ở đó ba chòm tóc mượn màu hung bắt nguồn từ phía sau, vòng quanh cái sọ hói của ông ta, xõa ngọn xuống.

Sau khi đã mời khách ngồi, ông ta vừa ăn vừa khẩn khoản xin lỗi khách vì thất lễ.

- Thưa ông, nàng nói, tôi xin ông...

- Gì thế, thưa bà? Tôi nghe.

Nàng liền trình bày với ông ta cảnh ngộ của nàng.

Trạng sư Guyômanh đã biết nàng vì ông đã kết giao bí mật với tay lái buôn vải mà ông ta hằng lấy từ nơi y vốn cho vay nợ để có đồ thế như thiên hạ vẫn yêu cầu ông ta cho ký kết.

Vậy, ông ta đã biết (và biết rõ hơn cả nàng) câu chuyện dài dòng về những tấm phiếu nợ ấy, thoạt tiên nhỏ nhặt thôi, lấy những tên linh tinh làm người chịu trách nhiệm, cách nhau qua những kỳ hạn dài và đổi mới liên tục cho đến cái ngày mà thu thập tất cả các cự tuyệt chứng thư, tay lái buôn vải đã nhờ bạn là Vanhxa đứng tên riêng để làm những cuộc truy tố cần thiết vì y không muốn mang tiếng tàn ác với những người đồng hương.

Nàng xen vào chuyện kể những lời phản kháng Lơrơ, những lời mà viên quản lý văn khế chốc chốc đáp lại bằng một ngôn ngữ vô nghĩa. Ăn món sườn và uống nước chè, ông ta hạ cằm vào chiếc cavát màu thiên thanh gài hai chiếc ghim kim cương nối liền nhau bằng một sợi dây chuyền vàng, và ông ta cười nụ bằng một nụ cười lạ lùng, một cách hời hợt và khả nghi. Nhưng, thấy chân nàng ẩm ướt, ông ta nói:

- Mời bà ngồi gần bên lò sưởi... cao hơn nữa..., vào thành sứ ấy.

Nàng sợ làm bẩn sứ. Viên quản lý văn khế lại nói bằng một giọng trai lơ:

- Những vật đẹp không làm bẩn gì cả.

Thế là nàng cố làm ông ta xúc động, và bản thân nàng cũng xúc động, nàng đi đến chỗ kể cho ông ta nghe cả cảnh eo hẹp trong gia đình, những mối bất hòa và những nhu cầu của nàng. Ông ta hiểu cái đó: một người đàn bà xinh đẹp mà! Và không ngừng ăn, ông ta quay hẳn về phía nàng, gần đến nỗi đầu gối ông ta sát vào đôi giày cao cổ của nàng mà đế dựa vào lò sưởi đang vừa bốc hơi vừa cong lại.

Nhưng, khi nàng hỏi ông ta nghìn đồng tiền vàng, ông ta bậm môi lại, rồi tuyên bố rất lấy làm khổ tâm là trước đây đã không được quản lý gia sản của nàng, vì có trăm cách rất thuận tiện, ngay cả đối với một người đàn bà, để làm cho tiền của mình sinh lợi. Người ta có thể, như trong những mỏ than bùn ở Gruyméxnin hoặc ở vùng đất đai miền Havrơ, liều làm một cách hầu như chắc chắn, những cuộc đầu cơ rất lợi; và ông ta để cho nàng tự giày vò mình khi nghĩ đến những món tiền kếch xù mà lẽ ra nàng nhất định kiếm được. Ông ta lại nói:

- Vì lẽ gì mà bà chẳng đến nhà tôi?

- Tôi cũng chẳng biết nữa, nàng đáp.

- Tại sao, hử? Vậy ra tôi làm bà sợ lắm à? Chính tôi, trái lại, mới phải than phiền. Chúng ta có được quen biết nhau mấy đâu! Tuy nhiên tôi rất tận tụy với bà; tôi mong rằng không nghi ngờ gì nữa.

Ông ta giơ tay ra nắm lấy tay nàng, hăm hăm hở hở hôn nó, rồi giữ nó trên đầu gối mình; và ông ta vừa nhẹ nhàng đùa giỡn với những ngón tay nàng, vừa kể cho nàng nghe nghìn điều êm dịu.

Giọng nói nhạt nhẽo của ông ta rủ rỉ như một dòng suối đang chảy; một tia sáng vọt từ hai con ngươi ông ta ra qua cặp kính lóng lánh và hai bàn tay ông ta tiến vào ống tay áo Emma để xoa nắn cánh tay nàng. Nàng cảm thấy một hơi thở hổn hển phả vào má nàng. Cái gã đàn ông này làm nàng khó chịu một cách kinh khủng.

Nàng đứng phắt dậy và nói với ông ta:

- Thưa ông, tôi đang đợi!

- Đợi gì cơ? Viên quản lý văn khế đột nhiên tái mặt nói.

- Đợi số tiền ấy.

- Nhưng...

Rồi, ngả theo cái thèm muốn đột khởi quá mạnh, ông ta nói:

- Ồ, vâng!...

Ông ta lết đầu gối đến bên nàng, không đếm xỉa tới chiếc áo choàng mặc trong phòng của mình.

- Tôi van bà hãy ở lại! Tôi yêu bà!

Ông ôm ngang thắt lưng nàng, mặt bà Bôvary nhanh chóng bừng đỏ. Nàng vừa lùi lại với một dáng điệu dữ dội vừa thét lên:

- Thưa ông: Ông đã lợi dụng một cách vô liêm sỉ cảnh ngộ khốn đốn của tôi! Tôi đáng ái ngại nhưng chẳng bán mình!

Và nàng đi ra.

Viên quản lý văn khế rất đỗi kinh ngạc, mắt đăm đăm nhìn vào đôi giày vải thêu đẹp của mình. Đó là một tặng phẩm của người yêu. Nó cuối cùng đã an ủi ông ta. Vả lại, ông ta nghĩ rằng một hành động liều lĩnh như thế sẽ lôi kéo ông ta đi quá xa.

- Đồ khốn nạn! Đồ đểu giả! Thật là đê tiện! Nàng thầm nói khi nàng rảo bước trốn đi dưới hàng cây hoàn diệp liễu bên đường. Mối thất vọng vì việc làm không kết quả càng làm tăng cơn tức giận về cái tiết tháo của nàng bị xúc phạm; nàng tưởng như ông Trời ráo riết hành hạ nàng, và do đó nàng nâng cao lòng kiêu hãnh của nàng đến thế mà cũng coi khinh người khác đến thế. Có một cái gì hiếu chiến lôi cuốn nàng. Nàng những muốn nện bọn đàn ông, nhổ vào mặt chúng, nghiền nát hết chúng; và nàng tiếp tục đi nhanh về phía trước, tái nhợt, run rẩy, điên dại, nàng đưa đôi mắt đẫm lệ lùng sục chân trời trống rỗng, và nàng dường như khoái chí với mối căm hờn đang làm nàng nghẹt thở.

Khi nàng trông thấy ngôi nhà của mình, nàng bỗng tê tái. Nàng không thể tiến lên được nữa nhưng nàng vẫn phải tiến; vả lại, trốn đi đâu?

Fêlixitê đợi nàng ở cửa.

- Được chứ ạ?

- Không ăn thua! Emma nói.

Và trong mười lăm phút, cả hai đều xét đến từng con người khác nhau ở Yôngvin có thể sẵn sàng cứu giúp nàng. Nhưng, mỗi lần Fêlixitê gọi tên ai, Emma lại đáp:

- Có thể thế được ư! Họ chẳng muốn đâu!

- Mà ông nhà lại sắp về!

- Ta biết rõ điều đó... Thôi để ta ngồi một mình.

Nàng đã thử mọi cách. Nhưng bây giờ, chẳng còn làm gì được nữa; và khi nào Sáclơ về, nàng sẽ bảo hắn:

- Anh rút lui đi. Chiếc thảm mà anh vừa bước lên đó, không phải của chúng ta nữa. Ở nhà anh, anh không còn có lấy một đồ đạc, một chiếc ghim, một cọng rơm, và chính em đã làm anh khuynh gia bại sản, con người đáng thương ạ!

Thế là hắn sẽ òa lên khóc, nức nở to, và hắn sẽ khóc nhiều rồi cuối cùng, khi cơn kinh ngạc đã qua đi, hắn sẽ tha thứ. Nàng vừa nghiến răng vừa lẩm bẩm:

- Phải, hắn sẽ tha thứ cho ta, hắn dù có bạc triệu biếu ta, cũng chưa đủ để ta tha thứ cho cái việc hắn đã quen biết ta... Không khi nào! Không khi nào!

Cái ý nghĩ Bôvary ở cái thế hơn nàng khiến nàng tức bực. Rồi, dù nàng thú thực hay không thú thực, chốc nữa, lát nữa, mai đây, hắn cũng sẽ biết cái tai họa; vậy là phải chờ đợi cái cảnh khủng khiếp ấy và phải chịu ép mình dưới tấm lòng đại lượng của hắn. Nàng muốn trở lại nhà Lơrơ: Ích gì? Viết thư cho bố: muộn quá rồi! Và có lẽ bây giờ nàng hối rằng đã không nhượng bộ người kia thì vừa lúc đó nàng nghe thấy tiếng chân ngựa ngoài lối đi. Chính là hắn, hắn mở cửa hàng rào, hắn trắng nhợt hơn cả bức tượng bằng thạch cao. Nhảy xổ ra cầu thang, nàng thoát vội qua lối quảng trường; và vợ tay thị trưởng đang trò chuyện trước mặt nhà thờ với Lêtibuđoa, trông thấy nàng vào nhà tay thu thuế.

Bà ta chạy đi nói sự việc đó với bà Carông. Hai bà này leo lên gác thượng và, nấp sau quần áo phơi trên các sào, đứng ở một chỗ thuận tiện để nhìn được khắp trong phòng nhà Binê.

Ông ta, một mình trong gác xép, đang lấy gỗ làm giả một thứ đồ ngà khó tả, gồm có hình lưỡi liềm, hình cầu, lồng cái nọ vào cái kia tất cả thẳng như một kỳ đài nhọn kiểu Ai Cập mà chẳng dùng để làm gì cả; và ông ta đang bắt đầu làm bộ phận cuối cùng, ông ta sắp đạt mục đích!

Trong cái xưởng tranh tối tranh sáng, làn bụi nâu bay lên từ chiếc dụng cụ của ông ta như một chùm tia lửa dưới móng sắt của một con ngựa đang phi: hai chiếc bánh xe quay kêu vo ve; Binê mỉm cười, cái cằm hạ xuống, lỗ mũi mở ra, và cuối cùng hình như say sưa trong một niềm vui sướng trọn vẹn chắc hẳn chỉ thuộc về những công việc tầm thường làm vui trí tuệ bằng những cái khó khăn dễ dàng và thỏa mãn nó bằng một thành tựu mà ngoài nó ra không có gì để ước mơ.

- À! Chị ta kia kìa! Bà Tuyvasơ nói.

Nhưng, vì cái máy tiện, hai bà không thể nghe được nàng nói gì.

Rốt cuộc họ tưởng như nghe thấy tiếng quan, và bà Tuyvasơ thì thào:

- Chị ta van xin ông ấy được nộp thuế chậm.

- Dáng chừng thế! Bà kia đáp.

Họ trông nàng hết đi dọc lại đi ngang, xem xét những vòng treo khăn mặt, những cây đèn nến, những núm tay vịn cầu thang ở gần các bức tường, còn Binê thì vuốt râu cằm đắc chí.

- Chị ta đến đặt làm cái gì chăng? Bà Tuyvasơ nói.

- Nhưng ông ta có bán gì đâu! Bà hàng xóm biện bác.

Tay thu thuế có vẻ lắng nghe, mắt thao láo, như thể ông ta không hiểu. Nàng tiếp tục nói bằng một vẻ dịu dàng, van nài. Nàng tiến lại gần; ngực nàng phập phồng; hai người không nói nữa.

- Có phải chị ta gạ gẫm ông ta không? Bà Tuyvasơ nói.

Binê đỏ mặt tía tai. Nàng cầm tay ông ta.

- A! Quá lắm!

Và chắc hẳn nàng đề xuất với ông ta một điều gì khả ố; vì tay thu thuế - tuy nhiên, ông ta là người can đảm, đã từng chiến đấu ở Baoxen và ở Lutxen, tham dự chiến tranh Pháp quốc, và thậm chí đã được đề nghị tặng thưởng huân chương - bất thần, như trông thấy một con rắn, vừa lùi rất xa vừa thét lên:

- Thưa bà! Bà nghĩ đến điều đó ư?...

- Người ta phải lấy roi quật hạng đàn bà ấy! Bà Tuyvasơ nói.

- Chị ta đâu rồi? Bà Carông hỏi.

Vì nàng đã biến mất khi các bà nói vậy; rồi thấy nàng đi dọc Phố Lớn, và rẽ sang tay phải như để đến nghĩa địa, các bà miên man phỏng đoán.

Khi đi tới nhà người vú, nàng nói:

- Bà mẹ Rôlê, tôi chết ngạt mất! Cởi cho tôi đôi dây giầy.

Nàng ngã xuống giường; nàng khóc nức nở. Mụ Rôlê lấy một cái váy ngắn đắp cho nàng và đứng ngay bên cạnh nàng. Rồi, vì nàng không trả lời, mụ đi ra, lấy chiếc guồng quay và bắt đầu kéo sợi lanh.

- Ồ! Có im đi không! Nàng lẩm bẩm, tưởng như nghe thấy tiếng máy tiện của Binê.

- Ai làm bà ta bực mình? Người vú em thầm hỏi. Tại sao bà ta lại đến đây?

Nàng đã chạy lại đấy vì bị thúc đẩy bởi một mối kinh hãi xua đuổi nàng ra khỏi nhà nàng.

Nàng ngắm những bức tường tróc ra từng mảng, hai thanh củi cháy dở chụm vào nhau bốc khói, và một con nhện chân dài đang đi ở phía trên đầu nàng trong cái khe chiếc xà nhỏ. Cuối cùng, nàng tập hợp các ý nghĩ của nàng. Nàng nhớ lại... Một ngày, cùng với Lêông... Ôi! Xa quá rồi... Mặt trời lấp lánh trên con sông và những bông hoa bút thảo tỏa hương... Thế là bị lôi cuốn trong những hồi ức, như trong một dòng thác đang sôi sục, nàng chẳng bao lâu nhớ lại được ngày hôm qua.

- Mấy giờ rồi? Nàng hỏi.

Mụ Rôlê đi ra, giơ các ngón tay của bàn tay phải về phía bầu trời sáng hơn cả rồi thong thả bước vào nói:

- Ba giờ đến nơi rồi.

- À! Cảm ơn! Cảm ơn!

Vì y sắp đến. Chắc chắn như thế! Có lẽ y đã kiếm được tiền. Nhưng có lẽ y đến đằng ấy, không ngờ nàng lại ở đây; và nàng sai người vú em chạy đến nhà nàng để đưa y về đây.

- Quàng lên!

- Thưa bà quý mến, tôi đi đây! Tôi đi đây!

Lúc này, nàng ngạc nhiên là đã không nghĩ đến y trước hết; hôm qua, y đã hứa, y sẽ không sai lời; và nàng đã thấy mình ở nhà Lơrơ rồi, bầy lên bàn giấy của tay ấy ba tờ giấy bạc. Rồi phải bịa ra một chuyện để giải thích mọi sự cho Bôvary. Chuyện gì nào?

Tuy nhiên, người vú em đi lâu quá mà không trở về. Nhưng, vì không có đồng hồ trong căn nhà tranh, Emma sợ mình có lẽ đã phóng đại độ dài của thời gian. Nàng liền bước một đi dạo quanh vườn, nàng đi vào con đường nhỏ, dọc theo hàng rào, rồi đùng đùng quay trở lại, hy vọng mụ vú đã về bằng con đường khác. Cuối cùng, mỏi mệt vì chờ đợi, lòng đầy ngờ vực đã xua đi, nàng không còn biết mình ở đây đã từ một thế kỷ hay mới trong một phút, nàng ngồi vào một xó nhà và nhắm mắt lại, bịt chặt hai tai. Bức rào cọt kẹt: nàng nhảy xổ ra; nàng chưa kịp nói, thì mụ Rôlê đã bảo:

- Không có ai ở nhà bà cả!

- Thế nào?

- Ô! Không có ai; mà ông nhà thì đang khóc. Ông gọi bà. Người ta đi tìm bà.

Emma không đáp gì. Nàng vừa thở hổn hển vừa đảo mắt nhìn quanh, còn người đàn bà quê mùa, kinh sợ về bộ mặt nàng đã lùi lại theo bản năng, vì tưởng nàng điên. Đột nhiên, nàng vỗ tay lên trán, thét lên một tiếng, vì cái ký ức về Rôđônphơ như một tia chớp lớn trong đêm tối mò đã đi qua tâm hồn nàng. Y tốt thế, ý nhị thế, hào hiệp thế! Và vả lại, nếu y do dự không giúp nàng việc ấy, nàng sẽ biết buộc y bằng cách gợi lại trong chớp mắt mối tình của hai người đã tan vỡ. Nàng liền đi đến La Huysét, không thấy mình sẽ dấn thân vào điều vừa mới đây đã làm mình hết sức phẫn nộ, và cũng chẳng chút nào ngờ vực đến việc bán mình đó

Chương 8

Nàng vừa đi vừa tự hỏi: "Mình sẽ nói gì đây? Mình sẽ mở đầu như thế nào?" và, càng tiến lên nàng càng nhận ra những bụi rậm, những cây cối, những cây trên đồi, tòa lâu đài ở đầu kia. Nàng lại tìm thấy nàng trong những cảm giác của mối tình đầu, và trái tim tội nghiệp của nàng bị o ép đã nở ra một cách tình tứ ở trong đó. Một làn gió ấm phả vào mặt nàng; tuyết, tan ra, rơi từng giọt từ những mầm non xuống cỏ.

Nàng vào, như xưa kia, bằng cái cửa nhỏ phía vườn, rồi đi tới sân chính, viền quanh bởi hai hàng bồ đề um tùm. Những cây ấy vừa rít lên vừa đu đưa những cành dài. Tất cả những con chó ở trong cũi đều sủa lên; tiếng chúng vang dậy mà chẳng có ai ra.

Nàng leo lên chiếc cầu thang rộng thẳng tắp, có lan can gỗ, dẫn tới hành lang lát đá đầy bụi, dọc theo đó mở ra nhiều căn buồng nối tiếp nhau thành dãy như trong các tu viện hay các hàng quán. Khi nàng vừa đặt những ngón tay lên ổ khóa, đột nhiên nàng kiệt sức. Nàng sợ y không có trong đó, nàng hầu như mong thế, và điều ấy tuy nhiên lại là niềm hy vọng độc nhất của nàng, cái cơ hội cuối cùng giúp nàng thoát hiểm. Nàng ngẫm nghĩ một phút, rồi, lấy lại can đảm vì nghĩ đến sự cần thiết trước mắt, nàng bước vào.

Y đang ngồi hút một tẩu thuốc trước lò sưởi, hai chân gác lên khung lò.

- Kìa! Bà đấy à! Y vừa nói vừa đứng phắt dậy.

- Vâng, tôi đây!... Anh Rôđônphơ, tôi xin anh mách bảo cho tôi một điều.

Và mặc dầu nàng cố gắng, nàng vẫn không sao nói được nên lời.

- Bà không thay đổi, bà vẫn xinh đẹp!

- Ờ! Nàng đáp lại chua chát, đó là cái sắc đẹp đáng khinh, anh bạn ạ, vì anh đã miệt thị nó.

Thế là y bắt đầu giải thích thái độ của y, tự bào chữa cho mình bằng những lời lẽ mơ hồ, vì y không thể bịa ra được gì hơn nữa.

Nàng đã buông thả mình trước những lời nói của y, hơn nữa trước giọng nói của y và trước vẻ người y đến nỗi nàng giả vờ tin, hay có lẽ tin thật, vào duyên cớ hai người đã đoạn tuyệt nhau; đó là một điều bí mật mà danh dự và thậm chí cả cuộc đời của một con người thứ ba phụ thuộc vào.

- Không can gì! Nàng vừa buồn rầu nhìn y vừa nói, tôi đã quá đau khổ!

Y đáp lại bằng một giọng triết lý:

- Cuộc sống là như thế!

- Ít ra, Emma tiếp lời, nó có tốt lành cho anh không kể từ khi đôi ta xa cách?

- Ồ! Không tốt... không xấu.

- Có lẽ chúng ta không bao giờ rời bỏ nhau thì hơn.

- Phải... có lẽ!

- Anh tin thế chứ? Nàng vừa nói vừa bước lại gần y. Và nàng thở dài:

- Rôđônphơ ơi! Nếu anh biết!... Em đã quá yêu anh!

Thế là nàng nắm lấy tay y, và hai người đứng một lát trong cảnh từng ngón tay bện chặt lại với nhau - như cái ngày đầu tiên ở đại hội nông nghiệp! Bằng một cử chỉ tự kiêu, y dẫy dụa chống lại cơn xúc động. Nhưng, gục vào ngực y, nàng nói:

- Vì lẽ gì anh muốn em sống không có anh? Người ta không thể từ bỏ được hạnh phúc! Em đã thất vọng! Em đã tưởng chết! Em sẽ kể cho anh nghe tất cả chuyện đó, anh sẽ thấy. Còn anh, anh đã trốn em...

Vì, từ ba năm nay, y đã đang tâm lẩn tránh nàng, do cái tính hèn nhát tự nhiên, nó là đặc tính của phái khỏe; và Emma tiếp tục, bằng những cái dũi đầu dễ thương âu yếm y hơn cả một cô gái đa tình!

- Anh yêu những kẻ khác, anh thú thực đi. Ồ! Em hiểu họ, mà! Em tha thứ cho họ; anh đã quyến rũ họ, như anh đã quyến rũ em. Anh là một người đàn ông, anh! Anh có đủ mọi thứ để làm cho người ta thương yêu anh. Thôi chúng ta sẽ làm lại từ đầu nhé, phải không, anh? Chúng ta sẽ yêu nhau! Này, em cười, em sung sướng!... Anh nói đi nào?

Và trông nàng thật là tuyệt, với cặp mắt có lệ rung rinh như nước dâng trong một đài hoa xanh biếc.

Y  kéo nàng vào lòng, và lấy lưng bàn tay vuốt ve mái tóc mượt của nàng, trên đó, trong ánh hoàng hôn, lóng lánh một tia nắng cuối cùng như mũi tên vàng. Nàng ngẩng mặt lên; cuối cùng y chúm môi hôn lên mí mắt nàng một cách thật dịu dàng.

Nàng òa lên nức nở. Rôđônphơ tưởng đó là tình yêu của nàng bột phát rồi thấy nàng im lặng. Y coi đó là niềm e lệ cuối cùng và thế là y thốt lên:

- Ôi! Tha thứ cho anh! Em là người độc nhất anh ưa. Anh đã ngu dại và độc ác! Anh yêu em, anh yêu em mãi mãi! Em làm sao? Em nói đi nào!

Y  quỳ xuống.

- Này!... Em bị phá sản rồi, Rôđônphơ ạ! Anh cho em vay ba ngàn quan!

- Nhưng... nhưng... Y vừa nói vừa từ từ đứng lên, còn nét mặt y nghiêm hẳn lại.

- Anh biết, nàng nhanh chóng tiếp lời, chồng em đã đặt tất cả gia sản vào tay một viên quản lý văn khế; ông ta đã trốn đi mất, vợ chồng em đã vay mượn; khách hàng lại không trả tiền. Vả lại, sự thanh toán chưa xong; mai kia vợ chồng em mới có tiền. Nhưng, hôm nay, thiếu ba ngàn quan, người ta sẽ tịch biên tài sản của vợ chồng em; ngay bây giờ, thậm chí ngay lúc này; và tin ở tình bạn của anh, em đến đây.

- A! Rôđônphơ đột nhiên tái hẳn mặt, y thầm nghĩ thế ra vì đó mà nàng đến.

Cuối cùng, bằng một vẻ rất bình tĩnh, y nói:

- Tôi không có, thưa quý bà.

Y không nói dối. Y mà có, chắc chắn y cho liền, dẫu rằng làm những việc tốt đẹp như thế thường chẳng thú vị gì: hỏi tiền là điều vô vị nhất và thất sách nhất trong lúc mọi cơn lốc đang thổi xoáy vào tình yêu.

Thoạt tiên, nàng lặng đi mấy phút nhìn y.

- Anh không có!

Rồi nàng nhắc đi nhắc lại nhiều lần:

- Anh không có!... Đáng lẽ em phải tránh cho em cái nhục cuối cùng này. Anh chưa bao giờ yêu em cả! Anh chẳng hơn gì những kẻ khác!

Nàng tự phản mình, nàng tự hại mình.

Rôđônphơ ngắt lời nàng, quả quyết rằng chính bản thân y cũng đang "túng".

- À! Em ái ngại cho anh! Emma nói. Phải, rất đỗi ái ngại!...

Và nàng ngừng cặp mắt trên một khẩu súng ngắn khảm bạc đang lấp lánh trên giá vũ khí:

- Nhưng, khi người ta nghèo đến thế, người ta không để bạc vào báng súng! Người ta không mua một cái đồng hồ khảm xà cừ! - Nàng vừa tiếp tục nói vừa chỉ vào chiếc đồng hồ treo tường Bulơ - chẳng mua còi mạ vàng cùng roi quất ngựa! - Nàng sờ vào đó - Chẳng mua những đồ trang sức cho đồng hồ bỏ túi. Ồ! Anh chẳng thiếu cái gì! Đến cả một cái khay đặt rượu mùi để trong buồng anh; vì anh yêu quý cái thân anh, anh sống thoải mái, anh có một tòa lâu đài, những trạng trại, những rừng cây; anh săn đuổi thú, anh du ngoạn Pari... Ồ! Chỉ cần những cái này thôi, nàng vừa thét lên vừa cầm những chiếc khuy tay áo sơmi của y để trên lò sưởi, chỉ cần một chút vật nhỏ nhất trong những cái vớ vẩn này thôi! Người ta cũng có thể lấy nó làm ra tiền được!... Ồ! Em không thèm những cái ấy đâu! Anh giữ lấy.

Và nàng ném ra thật xa hai chiếc khuy áo khiến sợi dây vàng đứt ra khi va vào tường.

- Nhưng em, em có thể cho anh tất cả, em có thể bán tất cả, em có thể tự tay em làm lụng, em có thể đi ăn xin trên các nẻo đường, để được một nụ cười, một cái nhìn, để được nghe anh nói: "cảm ơn!". Thế mà anh ngồi đó bình thản trong cái ghế bành của anh; dường như anh chưa từng làm em đau khổ? Không có anh, anh biết rõ không, em có thể sống sung sướng! Ai xui anh làm việc đó? Phải chăng đó là một sự ước hẹn nếu thua cuộc thì trả tiền vạ? Tuy nhiên, anh đã yêu em, anh bảo thế... Và ngay vừa rồi nữa... Ôi! Chẳng thà anh đuổi em đi còn hơn! Bàn tay em hãy còn nóng vì những chiếc hôn của anh, và kia là cái chỗ, trên thảm, anh thề dưới đầu gối em một tình yêu đến ngàn đời. Anh đã làm em tin vào đó: trong hai năm trời, anh đã lôi cuốn em vào giấc mơ huy hoàng nhất và êm ái nhất!... Hừ! Những dự định đi xa của đôi ta, anh còn nhớ chứ? Ôi! Bức thư của anh, bức thư của anh! Nó đã xé lòng em! Thế rồi khi em trở lại với anh, với anh, anh đang giàu có, sung sướng, tự do để khẩn cầu một sự cứu giúp mà vô luận người nào cũng sẵn lòng làm, em van xin và mang tới anh cả mối tình thắm thiết của em, thì anh xua đuổi em, vì rằng điều đó làm cho anh sẽ mất ba ngàn quan!

- Tôi không có số tiền ấy! Rôđônphơ đáp lại với vẻ bình thản hoàn toàn, như một chiếc khiên, để giấu diếm những cơn giận dữ, mà y cam chịu.

Nàng đi ra. Tường nhà rung chuyển, trần nhà tựa hồ muốn đè bẹp nàng; và nàng lại qua lối đi dài, vấp vào đống lá khô mà gió đã làm cho tan tác. Sau cùng, nàng bước đến cái hồ cắm chông ngay trước bức rào sắt; nàng bị ổ khóa làm gãy móng tay, vì nàng quá hấp tấp mở nó. Rồi, mới xa đó được trăm bước, nàng phải đứng dừng lại vì hết hơi, muốn ngã. Và vào lúc đó, nàng quay đầu lại thoáng nhìn một lần nữa tòa lâu đài trơ trơ, với những vườn tược, ba cái sân, và tất cả các cửa sổ mặt trước.

Nàng vô cùng sững sờ và nàng chỉ còn có ý thức về bản thân mình qua tiếng đập của các mạch máu, nàng tưởng chừng nghe thấy nó phát ra như một bản nhạc ầm ĩ đang tràn ngập đồng quê. Đất dưới chân nàng, như nhuyễn hơn nước; và những luống cày, đối với nàng, dường như những làn sóng mênh mông màu nâu đang rập rờn. Tất cả cái gì đã có trong đầu óc nàng đều đồng loạt thoát ra rất nhanh từ những hồi tưởng, những ý nghĩ như hàng ngàn mảnh pháo hoa. Nàng thấy cha nàng, phòng giấy của Lơrơ, buồng của họ ở xa kia, một phong cảnh khác. Nàng phát điên; nàng hoảng sợ, và cố nhiên, nàng đi tới trấn tĩnh lại được, một cách hỗn độn; vì nàng chẳng nhớ ra cái nguyên nhân của tình trạng ghê gớm của nàng, nghĩa là vấn đề tiền. Nàng chỉ đau khổ về tình yêu của nàng; và nhớ đến đó, nàng cảm thấy linh hồn nàng rời bỏ nàng, như những kẻ bị thương, lúc hấp hối, cảm thấy cuộc sống mất đi do vết thương đổ máu.

Đêm xuống, quạ bay ra. Nàng đột ngột tưởng chừng những quả bóng nhỏ màu lửa nổ trong không khí như những viên đạn vừa nổ tung ra vừa bẹp dí xuống, rồi quay, quay tít, để tản đi trong tuyết, giữa những cành cây. Giữa mỗi quả bóng ấy, mắt Rôđônphơ hiện ra. Chúng tăng lên, và lại gần, rồi thâm nhập nàng; tất cả biến mất. Nàng nhận ra những ánh sáng của các nhà đang từ xa rọi chiếu trong sương mù.

Bây giờ, hoàn cảnh của nàng, như một vực thẳm, lại hiện ra. Nàng hổn hển thở đến vỡ ngực. Rồi, trong một cơn bốc của cái hào khí làm cho nàng hầu như vui sướng, nàng chạy xuống bờ dốc, vượt qua tấm ván ngăn bò, con đường nhỏ, lối đi, khu chợ; rồi đến trước cửa hàng dược phẩm.

Không có ai. Nàng sắp bước vào; nhưng, nghe thấy tiếng chuông, người ta có thể ra; và luồn qua hàng rào, nín hơi thở sờ mó các bức tường, nàng tiến lên tận ngưỡng cửa nhà bếp, trong đó, một ngọn đèn nến đặt trên lò đang cháy. Juyxtanh, mặc áo sơmi không, đang bưng một đĩa đồ ăn.

- À! Họ đang ăn. Ta hãy đợi. Juyxtanh trở lại. Nàng gõ vào một ô cửa kính. Gã ta đi ra.

- Chìa khóa! Chìa khóa ở buồng trên, trong có những...

- Thế nào!

Và gã nhìn nàng hoàn toàn ngạc nhiên vì sắc mặt nhợt nhạt của nàng trở thành màu trắng nổi lên nền đen của đêm tối. Gã ta thấy đẹp lạ lùng, và đường bệ như một bóng ma; không hiểu nàng muốn gì, gã linh cảm thấy việc gì ghê gớm.

Nhưng nàng lại hăng hái nói khe khẽ, bằng một giọng dịu dàng, khiến người ta phải nghe theo:

- Tôi muốn cái chìa khóa đó! Hãy đưa nó cho tôi. Vì bức vách mỏng người ta nghe thấy tiếng đĩa lách cách trên những chiếc đĩa trong phòng ăn.

Nàng bảo nàng cần phải giết những con chuột làm nàng mất ngủ.

- Tôi cần phải báo cho ông biết.

- Đừng! Hãy ở lại đây!

Rồi, bằng một vẻ thờ ơ, nàng nói tiếp:

- À! Chẳng đáng phiền, tôi sẽ nói với ông chiều nay. Nào, soi đèn lên cho tôi!

Nàng bước vào hành lang dẫn tói phòng thí nghiệm. Trên bức tường đó treo một cái chìa khóa dán chữ Buồng tạp liệu.

- Juyxtanh! Tay dược sĩ sốt ruột quát gọi.

- Chúng ta lên đi!

Thế là gã ta theo nàng.

Cái chìa khóa quay trong ổ, và nàng đi thẳng tới cái giá thứ ba để đồ vật vì trí nhớ của nàng hướng dẫn đúng, nàng cầm cái bình màu lam, mở nút ra, thọc tay vào và, lấy ra một thứ bột trắng, nàng ăn liền.

- Dừng lại! Gã ta vừa kêu lên vừa sấn lại nàng.

- Im đi! Người ta đến...

Gã ta thất vọng, muốn gọi.

- Đừng nói gì cả, mọi sự rơi lên đầu chủ mày!

Rồi nàng quay ra về, đột nhiên lòng nàng dịu lại, và hầu như bình tĩnh vì đã làm xong một nhiệm vụ.

° ° °

Khi Sáclơ, bàng hoàng trước cái tin bị tịch biên tài sản, về tới nhà, thì Emma vừa đi khỏi. Hắn kêu la, khóc lóc, ngất đi, nhưng nàng không trở lại. Nàng ở đâu mới được chứ? Hắn cho Fêlixitê đến nhà Hôme, nhà Tuyvasơ, nhà Lơrơ, đến quán Sư Tử Vàng, đến khắp nơi, và trong từng lúc lo âu, hắn thấy uy tín của hắn bị tiêu ma, tài sản khánh kiệt, tương lai của Béctơ tan vỡ! Do nguyên nhân nào?... không một lời đáp lại! Hắn đợi đến tận sáu giờ chiều. Cuối cùng, không chịu được nữa, và tưởng nàng đã đi Ruăng, hắn men theo đường cái, đi được nửa dặm, không gặp ai, đợi mãi rồi quay trở về.

Nàng đã về.

- Có chuyện gì thế...? Tại sao!... Nói cho anh biết chứ?...

Nàng ngồi vào bàn giấy và viết một bức thư rồi thong thả dán lại ghi thêm ngày giờ. Rồi, bằng một giọng nghiêm chỉnh, nàng nói:

- Mai anh sẽ đọc bức thư ấy; từ đây đến đó, đừng hỏi em một lời nào!... Không, không một lời nào!

- Nhưng...

- Ồ! Để em yên!

Và nàng nằm dài xuống giường.

Một vị chát mà nàng cảm thấy trong miệng nàng đánh thức nàng dậy. Nàng thoáng thấy Sáclơ, nàng lại nhắm mắt lại.

Nàng tự theo dõi nàng một cách tẩn mẩn để xem mình có đau không. Nhưng không! Chưa có gì cả. Nàng nghe thấy tiếng đồng hồ đập, tiếng lửa cháy, và Sáclơ, đứng gần chỗ nàng nằm, đang chờ.

- À! Cái chết, thực ra chẳng có gì! Nàng thầm nghĩ: mình sẽ ngủ đi và thế là hết!

Nàng uống một ngụm nước và quay mặt vào tường.

Cái vị mực chát ghê gớm tiếp tục.

- Em khát!... Ôi! Em khát lắm! Nàng thở dài.

- Em làm sao thế? Sáclơ vừa hỏi vừa đưa cho nàng cốc nước.

- Không sao cả!... Mở cửa sổ ra... em ngạt!

Và nàng bị một cơn nôn đột ngột đến nỗi nàng suýt nữa chẳng kịp rút mùi soa dưới gối. Nàng gay gắt nói:

- Mang nó đi! Vứt nó đi!

Hắn hỏi nàng; nàng không đáp. Nàng nằm im, sợ rằng chỉ một chút xúc động là làm nàng nôn. Trong lúc ấy, nàng cảm thấy khí lạnh vô tình leo từ chân nàng lên tới tim nàng.

- A! Thế là bắt đầu rồi đấy! Nàng lẩm bẩm.

- Em nói gì vậy?

Nàng xoay đầu nàng bằng một cử chỉ dịu dàng, đầy lo lắng, và hai hàm răng nàng há ra liên tục dường như lưỡi nàng mang một cái gì nặng lắm. Đến tám giờ, những cơn nôn lại tiếp diễn.

Sáclơ quan sát thấy ở đáy chậu có một thứ sạn sỏi trắng bám vào thành sứ.

- Lạ thật! Kỳ thật! Hắn nhắc đi nhắc lại.

Nhưng nàng nói thật to:

- Không, anh nhầm đấy!

Bấy giờ, nhẹ nhàng và gần như vuốt ve nàng, hắn đưa tay lên chỗ dạ dày nàng. Nàng rú lên. Hắn hoảng sợ lùi lại.

Rồi nàng bắt đầu rên rỉ, thoạt tiên còn khẽ. Nàng rùng mình mạnh, đôi vai nàng rung lên, và mặt nàng nhợt nhạt hơn cả vải trải giường mà các ngón tay co quắp của nàng thọc sâu vào. Mạch nàng, không đều, bây giờ hầu như không còn cảm giác.

Những giọt nước rỉ ra trên khuôn mặt xanh nhạt của nàng tựa hồ đọng lại trong một thứ hơi kim loại bốc lên. Răng nàng lập cập, mắt giương to nhìn quanh nàng một cách mơ hồ, và hỏi gì nàng cũng chỉ đáp lại bằng cách lắc đầu, thậm chí nàng còn mỉm cười hai hay ba lần.

Dần dần, nàng rên to hơn. Một tiếng ú ớ phát ra; nàng bảo nàng đã dễ chịu hơn và chốc nữa nàng sẽ ngồi dậy. Nhưng người nàng bỗng co giật, nàng la lên:

- Ối trời ơi, đau quá!

Hắn quỳ xuống bên giường nàng.

- Em nói đi! Em đã ăn gì? Trả lời anh đi, nhân danh Chúa!

Và hắn nhìn nàng bằng đôi mắt yêu thương mà nàng chưa bao giờ từng thấy.

- Này, kia...; kia!... nàng nói bằng một giọng lả đi.

Hắn nhảy chồm tới bàn giấy, xé bì thư và đọc rất to! Đừng buộc tội ai... Hắn ngừng lại, đưa tay lên mắt, rồi lại đọc lại.

- Sao thế này! Cứu tôi với! Cứu tôi!

Và hắn chi có thể lắp đi lắp lại được mấy tiếng: "Bị đầu độc! Bị đầu độc!" Fêlixitê chạy sang nhà Hôme, ông này ra quảng trường kêu lên; mụ Lơfrăngxoa, ở quán Sư Tử Vàng nghe thấy; vài người đứng dậy báo tin cho hàng xóm, và suốt đêm cả thôn xóm thức giấc.

Hốt hoảng, ấp úng, suýt ngã, Sáclơ loanh quanh trong buồng. Hắn hết va vào đồ đạc, lại rứt tóc, và tay dược sĩ chưa bao giờ ngờ tới cái cảnh tượng đáng sợ đến thế có thể có.

Ông ta trở về nhà viết thư cho ông Canivê và cho bác sĩ Larivie. Ông ta rối trí, ông ta thảo bản nháp hơn mười lăm lần. Hipolýt đi Nớpsaten, và Juyxtanh thúc con ngựa của Bôvary mạnh đến mức phải quăng nó ở dốc Boa Guyom vì chân nó bị bầm máu gần quỵ.

Sáclơ giờ cuốn tự điển Y học ra xem; hắn chẳng trông thấy gì, các dòng chữ cứ nhảy múa lên.

- Hãy bình tĩnh! Tay dược sĩ nói. Chỉ cần dùng một thứ thuốc giải độc mạnh nào đó. Thuốc độc gì thế?

Sáclơ đưa cái thư ra. Đó là chất thạch tín.

- Này! Hôme tiếp lời, cần phải đem phân tích.

Vì ông ta biết rằng, trong mọi trường hợp đầu độc, phải phân tích; còn Sáclơ, không hiểu, đáp:

- À! Ông làm đi! Ông làm đi! Ông cứu nhà tôi...

Rồi, trở lại gần nàng, hắn ngồi thụp xuống đất, trên tấm thảm và gục đầu vào thành giường khóc nức nở.

- Anh đừng khóc! Nàng bảo anh. Chẳng bao lâu nữa, em sẽ không còn làm khổ anh!

- Tại sao? Ai buộc em?

Nàng đáp:

- Cần phải thế, anh yêu dấu của em.

- Em không sung sướng à? Có phải là lỗi tại anh không? Tuy nhiên, anh đã làm tất cả mọi điều anh có thể!

- Ừ..., thực đấy... anh tốt, anh!

Và nàng, thong thả, lùa tay vào mái tóc hắn. Cái cảm giác êm dịu ấy càng làm tăng thêm nỗi buồn của hắn; hắn cảm thấy cả con người hắn sụp đổ và thất vọng trước ý nghĩ nhất thiết phải mất nàng, khi nàng, trái lại, bộc lộ với hắn tình yêu hơn bao giờ hết; và hắn không tìm thấy gì; hắn không biết; hắn không dám; tính khẩn cấp của một quyết định tức khắc hoàn toàn làm hắn mất tinh thần.

Nàng thầm nghĩ nàng đã giũ sạch mọi sự phản bội; mọi cái ti tiện và vô vàn thèm muốn dằn vặt nàng. Bây giờ, nàng chẳng căm ghét ai; một buổi hoàng hôn hỗn độn sập xuống tư duy nàng, và trong mọi tiếng động của trái đất, Emma chỉ còn nghe thấy tiếng trái tim đáng thương từng hồi rên rỉ dịu dàng và mơ hồ như dư âm của một khúc nhạc hòa tấu xa dần.

- Dẫn con bé vào đây cho tôi, nàng vừa chống người lên khuỷu tay vừa nói.

- Em không thấy đau nữa phải không? Sáclơ hỏi.

- Không! Không!

Đứa trẻ được người hầu gái bồng đến, nó mặc một chiếc áo ngủ dài để thò ra ngoài hai bàn chân không bít tất, vẻ mặt nghiêm chỉnh và hầu như còn ngái ngủ. Nó ngơ ngác nhìn gian buồng bừa bộn, và nó chớp mắt vì bị chói bởi ánh những ngọn đèn nến đang cháy trên đồ đạc. Những ngọn đèn ấy chắc hẳn làm nó nhớ lại những buổi sáng đầu năm, hay ngày hội giữa tuần chay, khi nó được người ta đánh thức dậy sớm như thế, dưới ánh đèn nến, để đến bên giường mẹ nhận quà mở hàng, vì nó hỏi:

- Thế mẹ đâu?

Và, vì mọi người lặng im, nó hỏi:

- Mà em không thấy đôi giày nhỏ của em!

Fêlixitê bế nghiêng con bé xuống giường; trong khi con bé vẫn nhìn về phía lò sưởi.

- Có phải bà vú đã lấy giày đi rồi à? Nó hỏi.

Thế là, nghe nói đến cái tên ấy, cái tên làm bà nhớ lại những cuộc ngoại tình và những mối tai họa của mình, bà Bôvary quay đầu như bị lợm vì một thứ thuốc độc khác mạnh hơn trào lên miệng. Béctơ, trong lúc ấy, đã được đặt ngồi trên giường.

- Ồ! Mẹ, mắt mẹ to quá! Mẹ xanh thế! Mẹ đổ mồ hôi nhiều thế!...

Mẹ nó nhìn nó.

- Em sợ! Con bé vừa nói vừa lùi lại.

Emma cầm bàn tay nó để hôn: nó giãy giụa.

- Thôi! Mang nó đi! Sáclơ, đang nức nở phía trong buồng, la lên.

Rồi những triệu chứng ngừng lại một lát; nàng có vẻ ít bị vật vã hơn; và cứ mỗi lời nói không đâu, mỗi hơi thở trên lồng ngực nàng êm hơn một chút, hắn lại hy vọng. Cuối cùng, khi Canivê bước vào, hắn vừa lao vào giữa hai cánh tay ông ta vừa khóc.

- Ôi! Ông đấy ư! Cảm ơn! Ông tốt lắm! Nhưng mọi sự đã khá hơn. Kìa ông trông xem nhà tôi...

Người bạn đồng nghiệp không đồng ý chút nào, về ý kiến của hắn, và như chính ông ta nói, phải quả quyết làm, ông truyền cho uống thuốc mửa để tẩy sạch hẳn dạ dày.

Chẳng bao lâu nàng nôn ra máu. Đôi môi nàng càng mím chặt lại. Chân tay nàng co quắp lại, thân thể nàng đầy chấm nâu, vì mạch nàng chuội đi dưới những ngón tay như sợi chỉ căng, như một đây đàn sắp đứt.

Rồi nàng thét lên kinh khủng. Nàng nguyền rủa thuốc độc, chửi bới nó, van nó mau lên, và bằng hai cánh tay cứng nhắc nàng gạt tất cả những gì mà Sáclơ, hấp hối hơn cả nàng, cố gắng đưa nàng uống. Hắn đứng, mùi soa trên môi, thở khò khè, khóc lóc, nghẹn ngào bởi những cơn nức nở rung động toàn thân hắn; Fêlixitê chạy lăng xăng trong buồng; Hôme đứng sững, thở dài; và ông Canivê, vốn vẫn bình tĩnh, bắt đầu cảm thấy bối rối.

- Quái!... thế mà... bà ta đã được tẩy rồi, và chính khi nguyên nhân hết...

- Kết quả phải hết, Hôme nói; hiển nhiên là thế.

- Nhưng hãy cứu lấy nhà tôi! Bôvary kêu lên.

Cho nên, Canivê chẳng nghe tay dược sĩ liền đưa ra các giả thiết: "Có lẽ là một thời kỳ kịch phát tốt lành của căn bệnh", Canivê sắp dùng thuốc giải độc khác thì nghe thấy tiếng roi quất ngựa; tất cả các cửa kính rung lên, và một xe ngựa hòm nhà trạm do ba con ngựa dính bùn đến tận tai ra sức kéo đi, lao vọt tới góc chợ. Đó là bác sĩ Larivie.

Một ông khách hiện ra cũng không gây được nhiều xúc động đến thế. Bôvary giơ tay lên, Canivê ngừng bặt và Hôme trật chiếc mũ trùm kiểu Hy Lạp ra ngay trước khi bác sĩ bước vào.

Ông ta thuộc trường phái phẫu thuật lớn được Bisa đào tạo, thuộc vào cái thế hệ, nay đã mất, của những nhà thực tiễn triết gia yêu nghề mình bằng một mối cuồng nhiệt; hành nghề một cách phấn khởi và minh mẫn! Trong bệnh viện của ông ta, tất cả đều run lên khi ông ta nổi giận và các học trò ông ta tôn kính ông ta đến mức, vừa bắt đầu lập nghiệp đã cố gắng bắt chước ông ta hết sức; cho nên ở những thành phố xung quanh, người ta lại thấy ở họ chiếc áo choàng dài lót len của ông ta và chiếc áo đen rộng của ông ta mà các cửa tay không cài khuy trùm một chút lên những bàn tay mũm mĩm của ông ta; những bàn tay rất đẹp không bao giờ đeo găng như để được mau chóng hơn thọc vào các nỗi khổ đau. Coi khinh các huân chương, các chức tước và các học vị, niềm nở, rộng rãi, hiền hậu, thân thương với người nghèo và thực hành đạo đức mà chẳng tin vào đó, ông ta hầu như được coi là một vị thánh nếu không vì trí tuệ sắc sảo của ông ta khiến người ta sợ ông ta như sợ một con quỷ. Con mắt của ông ta, sắc hơn dao mổ, rọi thẳng vào tâm hồn người ta và phanh phui mọi dối trá qua những biện bác và e lệ. Và ông ta cứ sống như thế, đầy vẻ oai nghiêm hiền hậu phát sinh từ ý thức về tài cao, của lắm và bốn mươi năm làm ăn cần cù, trong sạch.

Vừa bước vào cửa, ông ta đã cau mày khi nhìn thấy bộ mặt nhợt nhạt như xác chết của Emma nằm ngửa, miệng há. Rồi ông ta vừa ra vẻ lắng nghe Canivê nói vừa đặt ngón tay trỏ dưới lỗ mũi vừa nhắc đi nhắc lại:

- Được, được.

Nhưng ông ta cử động chậm chạp đôi vai. Bôvary ngắm ông ta: họ nhìn nhau; và con người ấy, tuy đã từng quen với đau khổ là thế, cũng không thể ngăn một giọt nước mắt rơi xuống ngực áo mình.

Ông ta muốn kéo Canivê sang phòng bên. Sáclơ đi theo.

- Nhà tôi đau lắm phải không? Giá chườm hạt cải được? Tôi chẳng biết có phải thế không! Vậy ông hãy kiếm thứ gì cho nhà tôi đi, ông đã từng cứu nhiều người!

Sáclơ dang hai cánh tay ôm lấy người ông ta, và hắn ngắm ông ta một cách hốt hoảng, van xin, gần như ngất đi trên ngực ông ta.

- Này, anh chàng đáng thương ơi, can đảm lên! Chả còn làm gì được nữa.

Và bác sĩ Larivie quay đi.

- Ông đi à?

- Tôi sẽ trở lại.

Ông ta đi ra như để căn dặn người đánh xe trạm một điều gì. Cùng ra với ông ta có ông Canivê, ông này cũng không muốn trông thấy Emma chết trong tay mình.

Tay dược sĩ theo kịp hai ông vào lúc tới quảng trường. Bản chất của y là không thể xa rời những người nổi tiếng được. Do đó y khẩn khoản, ông Larivie ban cho y cái hân hạnh đặc biệt là nhận lời ăn cơm với y.

Chim bồ câu ở quán Sư Tử Vàng, tất cả sườn ở hàng thịt, kem ở nhà Tuyvasơ, trứng ở nhà Lêtibuđoa đều được lấy nhanh về, và chính tay dược sĩ đích thân giúp việc sửa soạn, còn bà Hôme thì vừa thắt dải áo chẽn của mình vừa nói:

- Xin ông tha lỗi cho, thưa ông; vì ở cái vùng khốn khổ của chúng tôi khi mà không được báo trước từ hôm trước thì...

- Lấy cốc có chân!!! Hôme khẽ nhắc.

- Ít ra, nếu chúng tôi ở tỉnh, chúng tôi còn cái may mắn kiếm được chân giò nhồi thịt.

- Thôi mình!... Xin mời bác sĩ vào bàn!

Sau những miếng đầu tiên, ông Hôme xét thấy cần cung cấp vài chi tiết về cái tai họa:

- Chúng tôi thoạt tiên cảm thấy trạng thái khô ráo ở yết hầu, rồi những cơn đau quặn ở bụng trên, xổ mạnh, hôn mê.

- Vậy bà ta đã tự đầu độc mình như thế nào?

- Thưa bác sĩ tôi không biết và thậm chí tôi cũng chẳng rõ bà ấy đã có thể kiếm được ở đâu cái chất thạch tín ấy.

Juyxtanh, bấy giờ đang bưng một chồng đĩa, bỗng run lên bần bật.

- Mày làm sao thế? Tay dược sĩ hỏi.

Chàng trẻ tuổi, nghe thấy câu ấy, đánh rơi tất cả xuống đất đánh xoảng một tiếng.

- Đồ ngu! Hôme la lên. Đồ hậu đậu! Đồ bị thịt! Đồ lừa bỏ đi!

Nhưng đột nhiên tự kiềm chế được mình, y nói:

- Tôi muốn, thưa bác sĩ, định làm thử một cuộc phân tích, và thứ nhất, tôi đã nhẹ nhàng đút vào một cái ống...

- Tốt hơn là ông đút ngón tay ông vào cổ họng bà ấy, nhà giải phẫu nói.

Người bạn đồng nghiệp của bác sĩ vẫn im lặng, vì ban nãy riêng ông ta đã nhận được một lời chỉ trích mạnh mẽ về liều thuốc giải độc đến nỗi ông ta, cái ông Canivê khôn khéo, vênh váo và nhiều lời là thế trong dịp chữa cái chân khoèo, hôm nay lại rất khiêm tốn; ông ta mỉm cười không ngớt, bằng một vẻ tán thành.

Hôme hoan hỉ trong niềm kiêu hãnh được làm chủ tiệc, và cái ý nghĩ làm cho Bôvary đau đớn góp phần một cách mơ hồ vào cái thích thú của y, do một vài sự liên hệ ích kỷ tới cho bản thân y. Rồi sự có mặt của bác sĩ làm cho y phấn khởi. Y phô bày mớ kiến thức của y, y kể lộn xộn những bọ ban miêu, cây xuy, cây lê độc, rắn lục...

- Và, thậm chí tôi còn đọc thấy nhiều người bị trúng độc, thưa bác sĩ, y như bị sét đánh chết tươi vì ăn những khúc dồi lợn hun khói quá nhiều! Ít ra thì chuyện đó đã được kể trong một bản báo cáo rất hay soạn ra bởi một trong những nhà dược học cự phách, một ông thầy của chúng ta, ông Cađê đơ Gaxicua trứ danh!

Bà Hôme lại ra, mang theo một trong những bộ máy xộc xệch đốt nóng lên bằng tinh rượu vang vì Hôme quyết pha ngay trên bàn ăn thứ cà phê tự tay y đã rang lấy, đã nghiền lấy, pha chế lấy.

- Saccharum 1 bác sĩ, y vừa nói vừa đưa đường ra.

Rồi y cho gọi tất cả các con y xuống, tò mò muốn biết ý kiến của nhà phẫu thuật về thể tạng của chúng.

Cuối cùng ông Larivie sắp đi thì bà Hôme xin ông khám sức khỏe cho chồng. Chồng bà bị trệ máu 2 , vì cứ buổi tối, ăn xong là đi ngủ liền.

- Ồ! Chẳng phải vấn đề tình dục làm trở ngại ông ta đâu.

Và, mỉm cười một chút về lối chơi chữ không ai nhận thấy đó, bác sĩ mở cửa bước ra. Nhưng cửa hàng dược phẩm đầy người, và ông khó nhọc lắm mới có thể thoát được tay Tuyvasơ đang lo sợ bị chứng viêm phổi vì bà ta quen thói khạc vào đống tro; rồi ông Binê đôi khi thấy cồn cào ruột gan và bà Carông thấy da lấm tấm ngứa; Lơrơ chóng mặt; Lêtibuđoa bị phong thấp; bà Lơfrăngxoa hay ợ chua. Cuối cùng ba con ngựa phóng đi, và nói chung người ta thấy ông ta đã chẳng tỏ ra khoan nhã.

Sự chú ý của công chúng bị giãn đi khi ông Buôcniziêng xuất hiện, ông ta mang dầu thánh đi qua khu chợ.

Hôme, dường như phải làm theo phương châm hành động của y, so sánh cha cố với bầy quạ kéo đến do hơi người chết; cứ trông thấy một giáo sĩ là riêng y đã thấy khó chịu vì áo thụng làm y nghĩ tới vải liệm, và y ghét cay ghét đắng cái kia một phần cũng vì sợ cái này.

Tuy nhiên, không lùi bước cái mà y gọi là sứ mệnh của y, y trở lại nhà Bôvary cùng với Canivê, mà ông Larivie, trước khi đi đã hết lời dặn là phải làm việc ấy; và thậm chí, nếu vợ y không khuyên bảo y thì có lẽ y còn mang theo cả hai đứa con trai sang nữa để làm cho chúng làm quen với những trường hợp nghiêm trọng, để cho chuyện đó là một bài học, một cái gương, một bức tranh trang nghiêm sau này ghi khắc mãi vào trong tiềm thức của chúng.

Gian buồng, khi họ bước vào, đầy một vẻ trang nghiêm bi thảm. Trên bàn khâu vá phủ khăn trắng, năm hay sáu viên bông nhỏ bày trong một cái khay bạc, bên cạnh một cây thánh giá to, giữa khoảng hai ngọn đèn nến đang cháy. Emma gục cằm xuống ngực, mở rất to đôi mắt, và lết hai bàn tay tội nghiệp trên vải giường, với cái cử chỉ ghê gớm và dịu dàng của những người hấp hối có vẻ đã muốn phủ lên mình chiếc khăn liệm. Thân hình nhợt nhạt tựa hồ một bức tượng và cặp mắt đỏ như than, Sáclơ không khóc, đứng ở chân giường trước mặt nàng, còn cha cố, quỳ một gối, lầm rầm trong miệng.

Nàng chậm chạp quay mặt đi và bừng lên một niềm vui sướng khi đột ngột thấy chiếc khăn choàng màu tím của cha cố, chắc hẳn nàng đã tìm thấy giữa tình trạng khuây nguôi bất thường với cái khoái trá đã mất của những hứng khởi ban thần bí đầu tiên của nàng cùng với những ảo ảnh về niềm hạnh phúc vĩnh cửu vừa nhóm lên.

Cha cố đứng dậy lấy cây thánh giá; thế là nàng vươn cổ ra như một người nào đó đang khát, và nàng áp môi mình vào người Chúa, nàng đặt vào đó bằng tất cả chút lực tàn cái hôn yêu đương nồng nàn nhất mà nàng chưa từng tặng ai, sau đó cha cố đọc kinh Giải thoát và kinh Sám hối, nhúng ngón tay cái bên phải vào dầu và bắt đầu làm lễ xức dầu thánh: thoạt tiên vào cặp mắt đã từng quá thèm khát mọi thứ xa hoa trên trần thế, và sau đó vào đôi lỗ mũi đã từng ham thích những hơi nồng ấm và những hương vị ái ân, vào cái miệng đã từng mở ra để nói những lời dối trá, đã từng than vãn vì kiêu hãnh và đã từng rầu rĩ trong cuộc sống dâm ô, vào hai bàn tay đã từng khoái chí với những cuộc tiếp xúc êm ái, và cuối cùng, vào hai bàn chân xưa kia đã từng quá nhanh nhẹn chạy theo sự thỏa mãn dục vọng và bây giờ không còn đi được nữa.

Cha cố lau ngón tay, ném vào lửa những viên bông tẩm dầu, rồi trở lại ngồi bên cạnh người hấp hối để bảo nàng bây giờ phải gắn những nỗi đau thương của mình với những nỗi đau thương của Chúa Giêxu và phải thả mình vào lòng từ bi của Chúa.

Khuyến khích xong, cha cố thử đặt vào tay nàng một cây nến thánh, biểu tượng của những ánh hào quang của thiên thần mà nàng chốc nữa sẽ được đắm mình trong đó. Emma, yếu quá, không thể khép được ngón tay, và cây nến, nếu không có ông Buôcniziêng, sẽ rơi xuống đất.

Tuy nhiên, nàng cũng không nhợt nhạt lắm, và nàng có một vẻ mặt bình thản tựa hồ lễ thánh đã chữa cho nàng khỏi bệnh.

Cha cố không quên nhận xét điều đó, thậm chí ông ta còn giải thích cho Bôvary rằng Chúa đôi khi kéo dài cuộc sống của con người nếu Chúa thấy điều đó thích hợp; và Sáclơ nhớ lại cái ngày mà, cũng sắp chết như thế, nàng đã thụ lễ Ban thánh thể.

- Có lẽ không đến nỗi phải thất vọng, hắn thầm nghĩ.

Quả thật, nàng nhìn khắp xung quanh nàng, chậm chạp, như một người nào đó vừa tỉnh mộng, rồi, bằng một giọng nói rõ ràng, nàng đòi chiếc gương của nàng, và nàng nghiêng mặt trên đó ít lâu, cho đến lúc giọt lệ to lớn từ đôi mắt nàng chảy xuống. Thế là nàng vừa ngả đầu ra vừa thở dài và lại rơi xuống gối.

Ngực nàng lập tức phập phồng thở gấp. Lưỡi thè hoàn toàn ra ngoài miệng; mắt nàng vừa đảo đi đảo lại vừa nhợt đi như hai bóng đèn tàn lụi, tưởng nàng đã chết rồi, nếu không thấy xương sườn chuyển động một cách đáng sợ vì một hơi thở dữ dội, tựa hồ như linh hồn đang chồm lên để siêu thoát. Fêlixitê quỳ xuống trước cây thánh giá, và chính tay dược sĩ cũng khuỵu chân xuống một chút, còn ông Canivê thì mơ hồ nhìn xuống quảng trường. Buốcniziêng lại ngồi cầu kinh, mặt nghiêng xuống thành giường, với cái áo thụng đen dài lê thê phía sau ông ta trong gian phòng. Sáclơ quỳ ở phía bên kia, hai tay duỗi thẳng về phía Emma. Hắn đã cầm lấy bàn tay nàng và siết chặt, giật mình theo nhịp đập của trái tim nàng đập theo tiếng dội của một vật hư hỏng đang sụp đổ, Tiếng khò khè càng mạnh, cha cố càng gấp tụng kinh: tiếng tụng kinh hòa lẫn với tiếng nức nở nghẹn ngào của Bôvary, và đôi khi tất cả dường như biến mất trong tiếng lầm rầm không rõ của những vần La tinh vang lên như tiếng chuông báo tử.

Đột nhiên, người ta nghe thấy trên vỉa hè tiếng guốc thô nện với tiếng gậy khua; và một âm thanh rung lên, một giọng khàn khàn hát rằng:

Thường thường cái nóng nực của một ngày đẹp trời

Làm cho một cô gái nhỏ mơ tới tình yêu.

Emma ngồi nhỏm dậy như một xác chết mà người ta cho điện giật, tóc xổ ra, mắt bất động, miệng há hốc.

Để thu nhặt mau lẹ

Những bông lúa mà lưỡi liềm đã hái,

Nanét của tôi khom mình xuống

Cái luống cày cho những bông lúa ấy

- Người mù! Nàng thét lên.

Và Emma cười, một cái cười hung dữ điên dại, tuyệt vọng, tưởng chừng như nàng nhìn thấy bộ mặt cực xấu của con người khốn khổ, dựng lên trong bóng tối ngàn đời dường như nạt nộ.

Gió thổi mạnh hôm ấy

Thế là cái váy ngắn tung bay!

Một cơn co giật lật nàng nằm xuống đệm.

Mọi người xô lại. Nàng không còn sống nữa.

--------------------------------

1

Saccharum (tiếng Latinh): có nghĩa là đường.

2

Bà Hôme dùng chữ Sang (xang) để nói về máu của chồng bà, còn bác sĩ Lavie dùng chữ Sens (xăng) để nói về vấn đề tình dục của
chồng bà.

Chương 9

Sau cái chết của một người, bao giờ cũng có một tình trạng sững sờ biểu lộ vì khó lòng mà hiểu được cái hư vô chợt đến và khó lòng mà chịu tin vào đó. Nhưng, dù sao khi nhìn thấy nàng đã bất động, Sáclơ vừa nhào vào nàng vừa la lên:

- Vĩnh biệt! Vĩnh biệt!

Hôme và Canivê vội lôi hắn ra khỏi gian buồng.

- Ông hãy nguôi đi!

- Vâng, hắn vừa giãy giụa vừa nói, tôi sẽ biết điều, tôi không làm gì trái. Nhưng để mặc tôi! Tôi muốn nhìn mặt nàng! Nàng là vợ tôi!

Và hắn khóc.

- Ông cứ khóc đi, tay dược sĩ lại nói ông cứ thuận theo lẽ tự nhiên, cái đó sẽ làm cho ông bớt đau khổ.

Trở thành mềm yếu hơn một đứa trẻ con, Sáclơ để người ta dẫn mình xuống căn phòng dưới nhà, và Hôme, ngay sau đó trở về nhà y.

Ra đến quảng trường, y bắt gặp người mù, gã ta cố lê đến tận Yôngvin với hy vọng được thứ thuốc mỡ trị viêm, thấy ai qua lại cũng hỏi thăm nhà tay dược sĩ.

- Nào! Được! Làm như tôi chẳng có công việc gì khác cần hơn! Chà! Thôi kệ, lúc khác anh hãy trở lại!

Và y bước vội vào trong cửa hiệu.

Y phải viết hai bức thư, phải pha chế một liều thuốc an thần cho Bôvary, phải tìm mọi cách nói dối có thể che giấu được sự đầu độc và viết nó thành bài đăng báo Ngọn Đèn, đó là chưa kể những người đang đợi y để được biết tin tức; và khi tất cả những người dân Yôngvin đã được nghe câu chuyện của y về chất thạch tín mà nàng lầm tưởng là đường khi làm kem vani, Hôme, một lần nữa, lại sang nhà Bôvary.

Y thấy Sáclơ ngồi một mình trong chiếc ghế bành gần cửa sổ và ngắm nghía những viên gạch lát phòng bằng cặp mắt dại hẳn đi.

- Bây giờ, tay dược sĩ nói, ông cần phải tự mình ấn định giờ làm lễ.

- Sao? Lễ gì?

Rồi, bằng một giọng ấp úng và sợ hãi; hắn nói:

- Ồ! Không, có phải thế không? Không, tôi muốn giữ nàng.

Hôme làm vẻ bình thản lấy một chiếc bình trên kệ để tưới những cây phong lữ thảo.

- À!... Cảm ơn, Sáclơ nói, ông tốt quá!

Nhưng hắn không nói được hết, hắn nghẹn ngào vì cái cử chỉ của tay dược sĩ đã gợi lại cho hắn rất nhiều kỷ niệm.

Thế là, để khuây khỏa hắn, Hôme xét nên nói một chút về nghề làm vườn; cây cối cần được ẩm ướt. Sáclơ cúi đầu ra vẻ đồng tình.

- Vả chăng, những ngày đẹp trời bây giờ sắp trở lại.

- À! Bôvary thốt lên.

Tay dược sĩ, cạn ý, quay ra vén nhẹ nhàng những chiếc rèm nhỏ che cửa kính.

- Này, ông Tuyvasơ đi qua kia kìa.

Sáclơ nhắc lại như một cái máy:

- Ông Tuyvasơ đi qua.

Hôme không dám tiếp tục nói với hắn việc tang ma; chính cha cố giải quyết được vấn đề đó.

Sáclơ vào trong buồng làm việc, hắn đóng cửa lại rồi cầm một cái bút, và sau một thời gian khóc nức nở, hắn viết:

Tôi muốn người ta chôn nàng trong chiếc áo cưới cùng với đôi giày trắng, một vòng hoa. Người ta sẽ trải mỏng tóc nàng trên vai nàng; ba lần áo quan, một bằng gỗ sồi, một bằng gỗ đào hoa tâm, một bằng chì. Đừng ai nói gì với tôi cả, tôi sẽ có nghị lực. Người ta sẽ phủ lên nàng cả một tấm nhung lớn màu xanh lá cây. Tôi muốn như vậy. Xin cứ làm như thế.

Những ông kia rất ngạc nhiên về những ý kiến viển vông của Bôvary, và lập tức, tay dược sĩ đến bảo hắn:

- Tấm nhung ấy, đối với tôi, hình như là thừa. Vả lại, tổn phí...

- Việc đó có liên quan gì đến ông? Sáclơ kêu ầm lên. Mặc tôi! Ông không thương nàng! Ông đi đi!

Cha cố nắm lấy cánh tay hắn dìu hắn đi dạo một vòng quanh vườn. Ông ta thuyết về tính hư ảo của mọi vật trên trần thế. Chúa Trời rất quảng đại, rất nhân đức, người ta phải hoàn toàn phục tòng mệnh lệnh của Người, thậm chí phải tạ ơn Người nữa.

Sáclơ tung ra những lời báng bổ:

- Tôi ghét cay ghét đắng cái ông Chúa Trời của Cha!

- Tinh thần chống đối còn có trong con người của ông, cha cố thở dài.

Bôvary đã xa hắn. Hắn đi bước dài, theo dọc tường, gần giàn cây, và hắn nghiến răng, hắn nhìn thẳng lên trời ra vẻ nguyền rủa; nhưng không một tàu lá động vì thế.

Một cơn mưa nhỏ rơi xuống. Sáclơ, ngực để trần, rút cuộc lạnh run; hắn trở vào ngồi trong nhà bếp.

Và lúc sáu giờ, người ta nghe thấy tiếng sắt loảng xoảng trên quảng trường: đó là một chiếc xe Con én đang từ nơi khác tới và hắn ngồi áp trán vào cửa kính để nhìn hành khách lần lượt xuống xe. Fêlixitê trải cho hắn một cái đệm trong phòng khách, hắn nằm vật lên trên và thiếp đi.

° ° °

Tuy là nhà triết học, Hôme vẫn kính trọng những người chết. Cho nên, chẳng giận anh chàng Sáclơ đáng thương, y trở lại vào buổi tối để thức canh thi hài, y mang theo ba cuốn sách và một cái cặp để ghi chép.

Ông Buốcniziêng cũng ở đây, và hai cây nến to thắp ở đầu chiếc giường mà người ta kéo ra khỏi gian buồng ngủ.

Tay dược sĩ, không chịu được trạng thái yên lặng, chẳng mấy lúc bày tỏ vài lời than phiền về "người thiếu phụ xấu số" đó! Và cha cố đáp bây giờ chỉ còn nên cầu nguyện cho nàng mà thôi.

Tuy nhiên, Hôme lại nói, chỉ một trong hai điều: hoặc bà ta chết trong trường hợp Chúa gia ân (như lời Giáo Hội) thế thì bà ta chẳng cần gì đến chúng ta cầu nguyện; hoặc là bà ta mất đi mà vẫn không hề ăn năn tội lỗi (đó là ngôn ngữ nhà tu thì phải), thế thì...

Buốcniziêng vừa ngắt lời y, vừa cục cằn đáp rằng không phải vì thế mà kém cầu nguyện.

- Nhưng, tay dược sĩ cãi, vì lẽ Chúa Trời biết hết mọi nhu cầu của chúng ta, thì cầu nguyện có lợi ích gì?

- Chết nỗi! Cha cố la lên, lời cầu nguyện! Ông không phải người theo đạo Gia Tô à?

- Cha tha lỗi! Hôme nói. Tôi ngưỡng mộ đạo Gia Tô. Trước hết nó đã giải phóng những người nô lệ, đưa vào xã hội loài người một nền luân lý...

- Vấn đề không phải ở chỗ đó! Tất cả các sách kinh...

- Ồ! Ồ! Về các sách kinh, thì Cha hãy mở lịch sử ra mà xem; ai cũng biết các sách kinh ấy đã bị bọn Jêzuýt xuyên tạc rồi.

Sáclơ bước vào, và tiến về phía cái giường, hắn kéo chậm chạp các rèm che lên.

Emma nằm ngả đầu về phía vai phải. Kẽ miệng nàng, hé ra, làm thành một hố đen ở phần dưới mặt nàng, hai ngón tay cái bẻ quặp vào lòng bàn tay; một thứ bụi trắng rải rác trên lông mi nàng, và mắt nàng bắt đầu biến đi trong một màu xanh lơ nhầy nhụa tựa hồ một làn vải mỏng, như thể nhện đã chăng tơ trên đó. Tấm vải liệm lõm xuống từ vú đến đầu gối rồi lại nhô lên ở đầu ngón chân; và Sáclơ thấy như có những khối lượng vô biên, một sức nặng khổng lồ đè lên người nàng.

Đồng hồ nhà thờ điểm hai giờ. Người ta nghe thấy tiếng ì ầm của dòng sông chảy trong đêm tối, dưới chân nền đất cao. Ông Buốcniziêng, thỉnh thoảng sổ mũi ầm ĩ; và Hôme đưa ngòi bút sột soạt trên giấy.

- Thôi nào, ông bạn thân mến! Y nói, ông hãy lui đi chỗ khác, cảnh tượng này làm cho ông ta đau buồn!

Sáclơ vừa đi khỏi, tay dược sĩ, và cha cố lại bắt đầu tranh luận.

Người này nói:

- Ông hãy đọc Vônte! Ông hãy đọc Đônbách 1 , ông hãy đọc Bách khoa toàn thư!

Người kia tiếp lời:

- Ông hãy đọc những Bức thư của một số người Do Thái, Bồ Đào Nha! Ông hãy đọc Đạo lý của Thiên chúa giáo do Nicôla, nguyên thẩm phán, viết!

Họ nổi nóng lên, họ đỏ mặt tía tai, họ cùng nói một lúc, không ai nghe ai; Buốcniziêng tức giận về sự táo gan như vậy; Hôme lạ lùng về sự ngu ngốc đến thế; và họ sắp sửa đi đến chỗ chửi nhau thì Sáclơ, bất thần, lại bước vào. Một ma lực đã lôi kéo hắn. Hắn liên tiếp lao lên cầu thang.

Hắn đứng trước mặt nàng để nhìn nàng dễ hơn, và hắn đắm mình trong sự chiêm ngưỡng đó, nó không còn đau đớn nữa vì nó đã lắng sâu.

Hắn nhớ lại những câu chuyện về bệnh bại liệt toàn thân, những phép màu của khoa thôi miên; và hắn nghĩ thầm cứ tập trung cao độ, hắn có lẽ sẽ làm được việc cải tử hồi sinh nàng. Thậm chí một lần, hắn cúi xuống nàng, và hắn khe khẽ kêu lên: "Emma! Emma!". Hơi thở của hắn, quá mạnh, làm ngọn nến rung lên và tạt vào tường.

Mờ sáng, bà Bôvary mẹ tới; Sáclơ, khi hôn bà, lại giàn dụa nước mắt. Bà thử, như tay dược sĩ đã làm, đưa ra với hắn vài lời nhận xét về những chi phí cho đám tang. Hắn nổi giận quá mạnh đến nỗi bà phải làm thinh, và thậm chí hắn còn nhờ bà lên ngay tỉnh để mua sắm các thứ cần thiết.

Suốt buổi chiều, còn lại có một mình Sáclơ; người ta đã dẫn con bé Béctơ sang nhà bà Hôme; Fêlixitê ở trên gác, trong buồng, với mụ Lơfrăngxoa.

Buổi tối, hắn tiếp khách, hắn đứng dậy bắt tay họ mà không nói được nên lời, rồi khách ngồi xuống bên nhau quây thành nửa vòng tròn lớn trước cửa lò sưởi. Cúi thấp mặt và bắt chân chữ ngũ, họ vừa nhúc nhích đôi chân vừa thỉnh thoảng thở dài một cách não nề, và mỗi người bi thương một cách quá đáng; tuy nhiên họ đua nhau ngồi lại.

Hôme trở lại vào lúc chín giờ (người ta chỉ trông thấy có y trên quảng trường từ hai hôm nay), mang theo một lô băng phiến, cánh kiến trắng và lá thơm. Y mang cả một bình đầy Clo để khử uế khí. Lúc đó, người hầu gái, mụ Lơfrăngxoa và bà Bôvary mẹ đi đi lại lại quanh Emma khi đã mặc xong quần áo cho nàng; và họ hạ tấm trướng dài cứng phủ lên mình nàng cho đến tận đôi giày bằng satanh của nàng.

Fêlixitê khóc nức nở:

- Ôi! Bà chủ đáng thương của tôi! Bà chủ đáng thương của tôi!

- Trông bà ta, mụ chủ quán vừa thở dài vừa nói, bà ta vẫn còn xinh đẹp biết bao! Người ta cứ tưởng như là chốc nữa bà ta sẽ dậy.

Rồi họ cúi xuống để đội cho nàng vòng hoa. Họ nâng đầu nàng lên một chút, và thế là một dòng nước đen trào ra từ miệng nàng như một cơn nôn.

- Ôi! Trời! Cái áo dài, cẩn thận đấy! Mụ Lơfrăngxoa kêu ầm lên. Giúp chúng tôi một tay đi ông! Mụ nói với tay dược sĩ. Phải chăng ngẫu nhiên ông sợ?

- Tôi mà sợ! Tay dược sĩ nhún vai đáp. À phải! Tôi thấy lắm cảnh như thế ở Bệnh viện trung ương, khi tôi học dược! Chúng tôi uống rượu ngay trong gian nhà mổ! Cái hư vô không làm khiếp đảm được một triết gia; và hơn nữa, tôi thường nói thế, tôi có ý định tặng cái xác của tôi cho bệnh viện để giúp ích sau này cho khoa học.

Khi đến, cha cố hỏi luôn ông nhà ra sao; và khi nghe tay dược sĩ đáp lời, cha cố nói tiếp:

- Tai nạn, ông hiểu chứ, vừa mới xảy ra!

Thế là, Hôme mừng cha cố không bị như mọi người mất một người bạn đường yêu quý; từ đó đổ ra cuộc tranh luận về sự độc thân của các cha cố.

- Vì, tay dược sĩ nói, người đàn ông không cần đến đàn bà là một sự không tự nhiên! Người ta đã thấy những tội ác...

- Thôi đi, đồ lếu! Cha cố la lên, vì lẽ gì ông muốn một kẻ vướng vào chuyện hôn nhân lại có thể, chẳng hạn, giữ được cái bí mật của việc xưng tội?

Hôme đả kích việc xưng tội. Còn Buốcniziêng thì bảo vệ; Cha cố nói dài dòng về những sự hối cải mà nó dẫn tới, ông ta kể nhiều chuyện kẻ trộm đột ngột trở thành lương thiện. Nhiều binh sĩ, bước tới gần phòng giải tội, gã cảm thấy sáng mắt ra. Ông Phribua, có một thượng thư...

Người bạn của ông ta đã ngủ. Rồi, vì ông ta thấy có phần ngột ngạt trong cái không khí quá nặng nề của gian buồng ông ta mở cửa sổ, việc đó làm tay dược sĩ tỉnh dậy.

- Nào, hãy hút một điếu thuốc lá! Cha cố bảo y. Bằng lòng đi, cái đó khuây khỏa.

- Người ta bảo chúng ngửi thấy hơi người chết, cha cố trả lời. Đó như những con ong; nó bay khỏi tổ khi có người chết.

Hôme không có nhận xét gì về những thành kiến đó, vì y lại thiếp đi.

Ông Buốcniziêng, cường tráng hơn, tiếp tục mấp máy rất khẽ đôi môi thêm một lát, rồi bất giác, ông ta hạ chiếc cằm xuống, buông cuốn sách to đen ra và bắt đầu ngáy.

Họ ngồi đối diện nhau, bụng ưỡn ra phía trước, mặt húp híp, vẻ quàu quạu, sau bao mối bất hòa, rút cục lại gặp nhau, trong một cái nhược điểm chung của con người; và họ không nhúc nhích hơn cái xác chết bên cạnh họ có vẻ đang ngủ.

Sáclơ, khi vào, hắn đánh thức họ dậy. Đây là lần cuối cùng, hắn đến để vĩnh biệt nàng.

Cỏ thơm vẫn còn bốc khói, và những làn hơi màu lam nhạt cuốn ra tới bờ cửa sổ hòa lẫn với sương mù từ ngoài bay vào. Bầu trời có vài ngôi sao, và đêm khuya êm dịu.

Sáp nến nhỏ từng giọt lớn xuống khăn trải giường. Sáclơ nhìn nến cháy, làm mỏi đôi mắt trước tia sáng của ngọn lửa vàng.

Những đường vân rung rinh trên chiếc áo dài bằng satanh trắng như ánh trăng sáng. Emma biến đi ở bên dưới; và hắn tưởng như nàng lan tỏa ra ngoài bản thân nàng, đang mơ hồ hòa vào trong mọi vật xung quanh, trong im lặng, trong đêm tối, trong làn gió thổi qua, trong hương thơm ẩm ướt bốc lên.

Rồi đột nhiên, hắn thấy nàng trong vườn ở Tôxtơ, trên chiếc ghế dài, giáp hàng rào gai, hay là ở Ruăng, ngoài phố, trên cái ngưỡng cửa nhà, trong sân trại Béctô. Hắn còn nghe thấy tiếng cười của bọn con trai đang vui vẻ nhảy múa dưới những cây táo; gian buồng tràn đầy hương thơm của mái tóc nàng, và chiếc áo dài của nàng rung rinh trong cánh tay với tiếng nổ của tia lửa. Chiếc áo dài ấy chính là cái này!

Cứ thế, hắn nhớ lại liên miên những niềm hạnh phúc đã qua, dáng điệu của nàng, cử chỉ của nàng, giọng nói của nàng. Sau mối thất vọng này lại đến mối thất vọng khác và luôn luôn không dứt như sóng triều tràn dâng.

Hắn có một sự tò mò ghê gớm: thong thả, bằng đầu ngón tay, hắn vừa hồi hộp vừa nâng tấm vải liệm nàng lên. Nhưng hắn kinh khủng thét lên một tiếng khiến hai người kia thức dậy. Họ lôi hắn xuống căn phòng nhà dưới.

Rồi Fêlixitê đến nói rằng hắn đòi lấy tóc.

- Cắt lấy! Tay dược sĩ đáp.

Và, vì người hầu gái không dám, y tự mình tiến đến, chiếc kéo trên tay. Y run quá mạnh đến nỗi y chọc vào da thái dương nhiều chỗ. Cuối cùng, kiên quyết chống mọi cảm xúc, Hôme cắt hú họa hai hay ba nhát làm thành những vệt trắng trong bộ tóc đen đẹp ấy.

Tay dược sĩ và cha cố lại tiếp tục vùi đầu vào công việc của mình, chốc chốc họ lại ngủ, họ tố cáo lẫn nhau mỗi lần thức giấc. Bấy giờ Buốcniziêng vẩy nước thánh vào gian buồng và Hôme rắc một ít Clo trên mặt đất.

Fêlixitê chú ý đặt cho họ, trên chiếc tủ ngăn, một chai rượu mạnh, một miếng phó mát và một chiếc bánh sữa to. Cho nên, vào khoảng bốn giờ sáng, tay dược sĩ không chịu được nữa, thở dài:

- Nói thực, tôi sẵn lòng tự bồi dưỡng!

Cha cố không phải để mời; ông ta ra ngoài đọc kinh rồi trở lại; sau đó hai người ăn uống vừa cười một chút, chẳng biết tại sao, kích động bởi niềm vui mơ hồ chợt đến sau những cơn buồn; và tới ly cuối cùng, cha cố vừa vỗ vai tay dược sĩ vừa nói:

- Chúng ta rút cuộc cũng hiểu nhau thôi!

Ở tầng dưới, trong phòng đợi, họ gặp những người thợ đến. Thế là, trong hai tiếng đồng hồ, phải chịu cái khổ hạnh nghe tiếng búa vang trên các tấm ván. Rồi người ta đặt nàng vào chiếc quan tài bằng gỗ sồi lồng trong hai chiếc quan tài khác; nhưng vì cỗ áo rộng quá, phải lấy len của một cái đệm nhét vào các khe hở. Cuối cùng, khi ba cái nắp đã được bào nhẵn, đóng đinh, gắn chốt, người ta đặt chiếc quan tài ra cửa trước; người ta mở toang cửa nhà, và những người dân ở Yôngvin bắt đầu ùa đến.

Lão Ruôn tới. Lão chết ngất trên quảng trường khi thấy tấm màn đen.

--------------------------------

1

Đônbách (d'Holbach): Nhà triết học Pháp duy vật và vô thần ở thế kỷ XVIII.

Chương 10

Lão chỉ nhận được thư của tay dược sĩ ba mươi sáu giờ sau tai biến; và, vì xét đến sự nhạy cảm của lão, Hôme đã thảo thư ấy bằng một cách mà lão không thể nào mà biết việc dứt khoát ra sao.

Thoạt tiên, lão ngã xuống như bị trúng phong. Sau đó, lão hiểu là nàng chưa chết. Nhưng nàng có thể chết... Cuối cùng, lão mặc chiếc áo bờlu, lấy mũ, đeo đinh thúc ngựa vào giày và phóng như bay; và suốt dọc đường, lão Ruôn hồi hộp, đầy mối lo âu. Thậm chí một lần, lão buộc phải xuống ngựa. Lão chẳng còn trông thấy gì nữa, lão nghe thấy tiếng người nói xung quanh lão, lão cảm thấy mình hóa điên.

Ngày đã rạng. Lão thấy ba con gà mái đen ngủ trên một cây; lão giật thót mình, hoảng sợ vì cái điềm gở ấy. Thế là lão hứa với đức thánh Đồng trinh là lão sẽ dâng ba chiếc áo lễ cho nhà thờ, và lão sẽ đi chân không từ nghĩa địa Béctô đến nhà thờ Vátxôngvin.

Lão vừa vào Marôm vừa gọi những người ở quán ăn, lấy vai thúc cửa nhảy tới bao lúa mạch, đổ vào máng ngựa ăn một chai rượu táo ngọt, rồi lại nhảy lên ngựa phóng đến làm tóe lửa cả bốn móng sắt.

Lão thầm nghĩ người ta chắc hẳn sẽ cứu được nàng; các người thầy thuốc sẽ tìm ra thuốc, nhất định như vậy. Lão nhớ lại tất cả các cách chữa kỳ diệu mà người ta đã kể cho lão nghe.

Rồi lão thấy nàng hiện ra, nàng đã chết. Nàng ở kia, trước mắt lão, nằm ngửa, giữa đường cái. Lão giật dây cương và ảo ảnh biến mất.

Đến Canhcămpoa, để lấy can đảm, lão uống ba cốc cà phê liền.

Lão nghĩ người ta đã đề nhầm tên khi viết thư. Lão tìm lại bức thư trong túi, cảm thấy nó ở đó, nhưng không dám mở nó ra.

Lão đi tới chỗ cho rằng có lẽ đây là một trò đùa, một sự trả thù của người nào đó, một hành động ngông cuồng của người say rượu nhè nhẹ và, vả chăng, nếu nàng chết, mọi người phải biết chứ? Nhưng không! Nông thôn không có vẻ gì lạ; bầu trời xanh lam, cây cối đu đưa; một đàn cừu đi qua. Lão thấy xóm làng; người ta thấy lão rạp người trên ngựa mà phóng, lão quất mạnh roi ngựa, và, từ đai ngựa, máu nhỏ giọt xuống.

Khi lão đã hồi tỉnh lại, lão ngã vào đôi cánh tay Bôvary mà khóc rưng rức.

- Con gái bố! Emma! Con tôi ơi! Anh nói cho tôi rõ...?

Và hắn nức nở đáp lại:

- Con không biết; con không biết! Đây là một sự bất hạnh!

Tay dược sĩ ngăn hai người ra.

- Những chi tiết ghê gớm ấy không có lợi gì cả. Tôi sẽ trình báo cho cụ rõ. Khách đang đến kia kìa. Cần phải chững chạc chứ! Cần phải kiên quyết chứ!

Anh chàng đáng thương muốn tỏ ra mình đúng, và hắn lắp đi lắp lại nhiều lần:

- Vâng..., phải can đảm!

- Này! Ông già thốt lên, tôi sẽ can đảm, dù sét nổ ngang tai! Tôi sẽ đưa nó đến nơi đến chốn.

Tiếng chuông vang rền. Mọi việc đã sẵn sàng. Phải lên đường.

Và, ngồi bên cạnh nhau trong chỗ hát kinh, họ thấy trước mặt họ qua lại liên tục ba người hát kinh đang tụng kinh. Chiếc kèn hình rắn được thổi lên hết sức to. Ông Buốcniziêng, mặc đại lễ hát the thé; ông ta vái khám thờ, giơ cao bàn tay, duỗi thẳng cánh tay. Lêtibuđoa đi lại trong nhà thờ với thanh nan bằng răng cá voi; gần chiếc bàn để kinh, cỗ áo quan đặt giữa bốn hàng nến. Sáclơ muốn đứng dậy tắt nến đi.

Tuy nhiên, hắn vẫn cố cổ vũ hắn bằng lòng tin, lao mình vào niềm hy vọng một cuộc sống mai sau, ở đó hắn sẽ gặp lại nàng. Hắn tưởng như nàng đã đi chơi xa, rất xa, từ lâu lắm. Nhưng, khi hắn sực nghĩ nàng đang nằm dưới kia, và thế là hết, người ta đem chôn nàng xuống đất, thì hắn nổi lên trong lòng một cơn điên dữ dội, đen tối, tuyệt vọng. Đôi khi hắn tưởng không cảm thấy gì nữa; và hắn vừa tận hưởng cái lắng dịu của nỗi đau khổ ấy vừa tự trách mình là một người khốn khổ.

Người ta nghe trên đá lát như có tiếng chan chát của một chiếc gậy bịt sắt gõ xuống đều đều. Tiếng đó từ phía trong cùng dội tới và ngừng bặt trong những gian bên của giáo đường. Một người đàn ông mặc áo vét thô màu nâu sẫm quỳ xuống một cách khó nhọc. Đó là Hipôlýt, người làm công của quán Sư Tử Vàng. Gã ta đã lắp chiếc chân giả mới.

Một người hát kinh đi vòng gian giữa giáo đường để quyên tiền, và những đồng xu to, hết đồng này đến đồng khác, loảng xoảng trong cái khay bạc.

- Ông quyên mau lên chứ! Tôi đau khổ, tôi! Bôvary vừa kêu ầm lên vừa giận dữ ném cho anh ta một đồng năm quan.

Người hát cảm ơn hắn bằng một cái vái dài.

Người ta hát, người ta quỳ xuống, người ta đứng lên, cứ thế không thôi! Hắn nhớ lại một lần, trong những ngày đầu lúc mới cưới nhau, hắn và nàng đã cùng nhau đi dự lễ mixa, và họ đã ngồi phía bên kia, bên phải sát tường. Chuông lại đổ liên hồi. Ghế xô nhộn nhịp. Những người phu khiêng vác luồn ba cái đòn xuống dưới cỗ áo quan, và mọi người ra khỏi nhà thờ.

Juyxtanh bấy giờ xuất hiện trên ngưỡng cửa hàng dược phẩm. Gã ta quay vào đột ngột, mặt tái mét, người lảo đảo.

Người ta đứng ở các cửa sổ để nhìn đám ma đi qua. Sáclơ, đi trước, ưỡn ngực ra. Hắn làm ra vẻ mạnh bạo và gật chào những người từ các ngõ hẻm và từ các cửa lớn, xếp hàng vào đám đông. Sáu người đàn ông, mỗi bên ba, ngắn bước và có phần nào thở hổn hển. Các cha cố, các người hát kinh và hai đứa trẻ ban đồng ca đọc kinh Giải tội cho người chết; và giọng họ vang lên trên đồng quê, ngân trầm bổng. Đôi khi, họ mất hút ở những chỗ đường ngoặt; nhưng cây thánh giá lớn bằng bạc vẫn vươn cao giữa lùm cây cối.

Những người đàn bà đi theo, mình phủ áo choàng đen có mũ bẻ gập ra đằng sau; họ cầm ở tay một cây nến to đang cháy, và Sáclơ tự cảm thấy mình yếu đi trước cảnh không ngớt nhắc đi nhắc lại những lời kinh cầu nguyện và đưa đi đưa lại những cây đèn nến, trong cái mùi nhạt nhẽo của sáp đốt và áo thầy tu. Một làn gió mát thổi qua, lúa mạch và cây cải dầu xanh mơn mởn, từng giọt sương nhỏ rung rinh trên các rào gai bên đường. Đủ mọi tiếng động vui vẻ tràn ngập chân trời: tiếng xe bò lăn lộc cộc ở xa trên hằn bánh cũ, tiếng gà trống gáy liên hồi hay tiếng một con ngựa non mà người ta thấy lồng chạy dưới những cây táo. Bầu trời trong xanh điểm những vệt mây hồng; những ngọn đèn pha màu lam nhạt còn tỏa ánh trong những lều tranh phủ đầy hoa diên vỹ; Sáclơ đi qua, nhận ra các sân quen. Hắn nhớ lại những buổi sáng như sáng nay sau khi thăm một người ốm nào đó, hắn từ cái sân đó bước ra và trở về với nàng.

Tấm vải đen, điểm lệ trắng, chốc chốc lại bay tung lên để lộ chiếc quan tài. Những người phu khiêng vác đi chậm lại vì mệt mỏi, và cỗ áo quan tiến lên từng hồi liên tiếp, như một con tàu chòng chành theo từng đợt sóng.

Đã tới nơi.

Những người phu khiêng vác tiếp tục đi xuống tận phía dưới, tới một chỗ trong thảm cỏ ở đó có cái huyệt đã được đào.

Mọi người xếp hàng xung quanh; và trong khi cha cố nói, đất đỏ được chất trên bờ huyệt, liên tục trôi khẽ xuống các góc.

Rồi, khi bốn sợi dây đã đặt ra, người ta đẩy chiếc quan tài lên trên. Sáclơ nhìn nó xuống đất. Nó xuống mãi mãi.

Cuối cùng, hắn nghe thấy tiếng bịch một tiếng; những sợi dây ít khi kéo lên. Thế rồi, Buốcniziêng cầm lấy cái mai mà Lêtibuđoa đưa cho; bằng tay trái, ông ta xúc mạnh một xẻng đất to, đồng thời bằng tay phải ông ta vẩy nước phép. Gỗ của cỗ áo, bị sỏi chạm vào, vang lên một tiếng dữ dội như tiếng vang nơi vĩnh cửu.

Cha cố đưa cây ngù để rẩy nước thánh cho người đứng bên cạnh, đó là Hôme. Hôme trịnh trọng vẩy rồi đưa cho Sáclơ, hắn sụp xuống đất vừa vốc nước thánh đầy tay để ném vừa la lên: "Vĩnh biệt!" Hắn gửi cho nàng những cái hôn. Hẳn lê ra huyệt để được chôn mình trong đó cùng với nàng.

Người ta vực hắn đi; và chẳng bao lâu hắn bình tâm lại, có lẽ cảm thấy, như mọi người khác, niềm thỏa mãn mơ hồ vì chuyện đã xong.

Lão Ruôn, khi trở về ung dung hút một tẩu thuốc. Hôme, trong thâm tâm, cho thế là không được chỉnh. Thậm chí, y còn nhận thấy ông Binê đã vắng mặt, Tuyvasơ đã chuồn ngay từ sau buổi lễ ở nhà thờ, và Têôđo, người hầu của viên quản lý văn khế, đã mặc một chiếc áo màu xanh lơ "như thể không sao tìm ra được một chiếc áo màu đen, vì mặc áo màu đen là tục lệ kia mà!". Để truyền đi các nhận xét của mình, y đã đi từ nhóm này qua nhóm khác. Người ta xót xa về cái chết của Emma, nhất là Lơrơ, y đã không quên đến đưa đám nàng.

- Người đàn bà bé nhỏ đáng thương ấy! Đau đớn cho chồng bà biết chừng nào!

Tay dược sĩ tiếp lời:

- Không có tôi, các ông các bà biết rõ chứ, có lẽ ông ta đã đi tới chỗ tự sát bi thảm!

- Một con người tốt như thế! Thứ bảy vừa qua tôi còn gặp bà ta trong cửa hiệu của tôi.

- Tôi đã không được lúc nào rảnh. Hôme nói, để chuẩn bị vài lời nói trước mộ bà ấy.

Về nhà, Sáclơ cởi áo ra, và lão Ruôn là lại chiếc áo khoác ngoài mới của mình. Nó mới, mà vì thế, khi đi đường, lão đã lau mắt bằng các tay của nó, khiến nó thôi màu ra trên mặt lão; và những vệt nước mắt đã vẽ thành đường trên lớp bụi làm bẩn áo.

Bà Bôvary mẹ cũng đang có mặt ở đấy. Cả ba người đều im lặng. Cuối cùng, ông lão thở dài nói:

- Anh bạn ạ, anh có nhớ rằng tôi đã đến Tôxtơ một lần khi anh vừa bỏ người vợ đầu? Tôi đã an ủi anh hồi ấy! Tôi đã biết phải nói gì; nhưng bây giờ thì...

Rồi, qua một tiếng rền rĩ kéo dài nâng cả bộ ngực lão lên; lão than thở:

- Ôi! Đối với tôi thế là hết, anh thấy chứ! Tôi đã thấy nhà tôi bỏ đi..., rồi con trai tôi..., và hôm nay thế là đến lượt con gái tôi!

Lão muốn về ngay Béctô, lão bảo lão không thể ngủ được trong cái nhà này, thậm chí lão còn từ chối việc gặp đứa cháu gái của lão. Lão vừa nói vừa vỗ tay vào đùi:

- Không! Không! Nhìn thấy nó tôi càng thêm đau lòng! Nhưng anh sẽ hôn nó hộ tôi! Vĩnh biệt!... Anh là một chàng trai tốt! Mà tôi, không bao giờ tôi quên việc đó đâu, đừng sợ! Anh sẽ nhận được con gà mái tây của anh mãi mãi.

Nhưng, khi lên tới đỉnh dốc, lão quay đầu lại, như xưa kia lão đã quay lúc lão chia tay nàng trên con đường Xanh Victo. Nhiều cửa sổ trong làng rực sáng dưới tia nắng xiên khoai của mặt trời đang lặn trên đồng cỏ. Lão để bàn tay lên trước mắt, lão nhìn thấy ở chân trời một khoảng đất có tường bao quanh, trong đó, cây cối đó đây, mọc thành những cụm đen giữa những tảng đá trắng, rồi lão tiếp tục lên đường, cho ngựa đi nước kiệu nhỏ vì nó què.

Buổi tối, mặc dầu mệt mỏi, Sáclơ và mẹ ngồi nói chuyện với nhau rất lâu. Họ nói chuyện ngày trước và nói chuyện mai sau. Bà ta sẽ đến ở Yôngvin, bà ta sẽ trông nom nhà cửa, hai mẹ con không xa rời nhau nữa. Bà ta khéo léo và ngọt ngào, mừng thầm đã lấy lại được tình thương yêu đã mất đi từ bao nhiêu năm rồi. Đã nửa đêm. Xóm làng, như thường lệ, im lặng, và Sáclơ còn thức, vẫn nghĩ đến nàng.

Rôđônphơ, để giải khuây, suốt ngày đi săn ở trong rừng, y đang ngủ yên tĩnh trong lâu đài của y; và Lêông, xa kia, cũng đang ngon giấc.

Có một người khác, giờ này, không ngủ.

Trên huyệt, khoảng giữa những cây tùng, có một thiếu niên quỳ khóc, và ngực cậu ta tan nát vì nức nở, hổn hển trong bóng tối, nghẹn ngào một mối tiếc thương vô hạn, êm đềm hơn mặt trăng và khó dò hơn đêm tối. Bỗng có tiếng rào sắt kêu răng rắc. Đó là Lêtibuđoa; gã ta đã tìm đến cái mai bỏ quên lúc nãy. Gã ta nhận thấy Juyxtanh leo tường, và thế là gã ta biết rõ sự thể thế nào về tên gian phi vào ăn trộm khoai tây của mình.

Chương 11

Sáclơ, ngày hôm sau, cho con về nhà. Nó hỏi mẹ nó. Người ta bảo mẹ nó đi vắng, mẹ nó sẽ mang đồ chơi về cho nó. Béctơ nhắc đến chuyện đó nhiều lần; rồi, lâu dần, nó không nghĩ đến nữa. Cái vui của đứa bé làm Bôvary chua xót, và hắn cứ phải chịu đựng những lời an ủi không thể chịu được của tay dược sĩ.

Chuyện tiền nong chẳng bao lâu trở lại. Lơrơ lại kích tên bạn Vanhxa của y, và Sáclơ phải ký kết những món tiền quá quắt; vì không bao giờ Sáclơ bằng lòng để bán đi một tí gì trong những đồ đạc của nàng. Mẹ bực mình về hắn vấn đề đó. Hắn bực mình mạnh mẽ hơn bà. Tâm tính hắn thay đổi hoàn toàn. Bà ta bỏ nhà ra đi.

Thế rồi ai nấy đều tìm cách lợi dụng. Cô Lămpơrơ đòi sáu tháng tiền học, tuy Emma chẳng học bài nào bao giờ (mặc dầu nàng đã cho Bôvary xem cái hóa đơn đã thanh toán này): đó là một quy ước giữa hai người; người cho thuê sách đòi ba năm tiền thuê; mụ Rôlê đòi tiền công hai mươi lần đưa thư; và, vì Sáclơ đòi giải thích, mụ có nhã ý đáp lại:

- A! Tôi chẳng biết gì cả! Đó là công việc của bà nhà.

Cứ mỗi món nợ trả xong, Sáclơ tưởng rằng thế là hết. Nhưng rồi những món nợ khác lại chợt đến liên miên.

Hắn đòi những món tiền khám bệnh người ta còn chịu lại. Người nào người nấy giơ cho hắn xem những bức thư mà vợ hắn đã gửi họ. Thế là hắn phải xin lỗi.

Fêlixitê bây giờ mặc những chiếc áo dài của Bà chủ; không phải là tất cả, vì hắn đã giữ lại vài chiếc, và hắn tự giam mình trong buồng rửa mặt của nàng để ngắm nhìn những chiếc áo đó; người hầu gái tầm vóc gần như người nàng; lắm khi Sáclơ, nhìn phía sau chị ta đột ngột lầm tưởng nàng và hắn kêu ầm lên:

- Ôi! Em ở lại! Em ở lại!

Nhưng, đến kỳ lễ Thánh Giáng, chị ta bị Têôđo quyến rũ, đã trốn khỏi Yôngvin, đồng thời lấy trộm tất cả những gì còn lại ở tủ quần áo của nàng.

Chính vào thời kỳ này, bà góa Đuypuy hân hạnh báo cho hắn "hôn lễ của Lêông Đuypuy, con trai bà, quản lý văn khế ở Yvơtô, với cô Lêôcađi Lơbớp, ở Bôngđơvin". Sáclơ, trong lời chúc mừng gửi cho bà ta, đã viết câu này:

"Thương hại cho nhà tôi mà còn sống sẽ sung sướng biết bao!".

Một hôm đi vớ vẩn trong nhà, hắn leo lên đến tận tầng gác thượng, hắn cảm thấy dưới chiếc giầy vải của hắn có một viên giấy mỏng. Hắn mở ra đọc: "Can đảm lên, Emma! Can đảm lên! Anh không muốn làm khổ đời em". Đó là bức thư của Rôđônphơ, rơi xuống đất, giữa những chiếc hòm, nằm ở đấy và vừa bị gió lọt qua cửa trổ trên mái nhà đẩy ra phía cửa ra vào. Thế là Sáclơ đứng lặng hẳn đi, miệng há hốc ở chính cái chỗ mà xưa kia, còn tái xanh hơn hắn, Emma thất vọng, đã muốn chết. Sau đó, hắn phát hiện ra một chữ R nhỏ ở cuối trang hai. Thế là thế nào? Hắn nhớ lại việc Rôđônphơ năng đi lại, việc y đột nhiên biến mất và cái vẻ miễn cưỡng của y khi gặp hắn hai hay ba lần sau đó. Nhưng cái giọng kính cẩn của bức thư làm cho hắn bị lừa.

- Có lẽ họ đã yêu nhau một cách lý tưởng, hắn tự nhủ.

Vả lại, Sáclơ không thuộc hạng người đi sâu vào mọi vấn đề; hắn thoái lui trước những chứng cớ, và lòng ghen tuông mơ hồ của hắn tiêu tan trong nỗi buồn mênh mông.

Người ta phải, hắn thầm nghĩ, yêu quý nàng. Tất cả những người đàn ông chắc chắn, đã ham muốn nàng. Vì thế hắn thấy nàng đẹp hơn; và hắn sinh ra thèm khát có nàng thường xuyên, cái thèm khát dữ dội làm hứng khởi mối tuyệt vọng của hắn, cái thèm khát không có giới hạn vì bây giờ nó không thể thực hiện được.

Để làm vừa lòng nàng, tựa hồ như nàng vẫn còn sống, hắn chấp nhận những sở thích của nàng, những ý kiến của nàng, hắn sắm cho mình những đôi bốt da bóng, hắn dùng cavát trắng. Hắn bôi sáp vào râu mép. Hắn ký nhận những tờ giấy phiếu nợ như nàng. Nàng đã làm hư hỏng hắn ngay cả khi nàng đã nằm dưới mộ.

Hắn buộc phải bán dần đồ đạc từng cái một, sau đó hắn bán mọi thứ trong phòng khách. Tất cả các căn phòng xơ xác đi; nhưng gian buồng, gian buồng của nàng, thì vẫn y nguyên như xưa. Cứ ăn cơm tối xong là Sáclơ lại lên đó. Hắn đẩy cái bàn tròn ra trước lò sưởi và hắn kéo chiếc ghế bành của nàng lại gần. Hắn ngồi phía trước. Một cây nến cắm trên một trong những giá đèn mạ vàng được thắp lên. Béctơ, bên cạnh hắn, tô màu những bức ảnh.

Hắn, người đàn ông đáng thương ấy, đau khổ khi thấy con gái mình ăn mặc tiều tụy đến thế, đôi giày ống thì không dây và lỗ xỏ tay áo bờlu rách từ nách đến tận hông vì người đàn bà giúp việc chẳng chăm lo gì đến. Nhưng con bé rất dịu hiền, rất kháu khỉnh, và cái đầu nhỏ của nó nghiêng nghiêng rất duyên dáng để xõa xuống cặp má hồng bộ tóc hung vàng sum suê đến mức một niềm khoan khoái vô tận tràn ngập lòng hắn, niềm thích thú hòa lẫn đắng cay như những thứ vang nấu hỏng có mùi nhựa. Hắn chắp lại các thứ đồ chơi cho nó, làm những con rối bằng bìa cứng hay khâu lại cái bụng búp bê bị rách cho nó. Rồi, nếu mắt hắn bắt gặp cái hộp đồ khâu, một mảnh băng rơi vãi hoặc thậm chí cả một chiếc gim lọt vào kẽ bàn, hắn liền đâm ra mơ mộng, và hắn có vẻ rầu rĩ đến nỗi con bé cũng trở thành rầu rĩ như hắn.

Bây giờ chẳng ai đến thăm hai cha con; vì Juyxtanh đã trốn đi Ruăng làm công cho một hàng bán thực phẩm, và những đứa con của tay dược sĩ càng ngày càng ít chơi với con bé, Hôme, trước sự khác nhau về địa vị xã hội, chẳng muốn để tình thân thiện kéo dài.

Người mù, mà y đã chẳng thể chữa khỏi bằng thứ thuốc mỡ của y, đã trở lại dốc Boa Guyôm, ở đó đã thuật lại cho hành khách cái mưu toan không đâu của tay dược sĩ, đến mức Hôme, mỗi lần ra tỉnh, phải đứng nấp sau bức rèm che cửa chiếc xe Con én để tránh mặt gã ta. Y ghét cay ghét đắng gã ta; và, vì lợi ích tiếng tăm của chính bản thân y, y rất muốn trừ khử gã ta đi, y dựng lên một cuộc tấn công ngầm chống gã ta, nó bóc trần cái đầu óc thâm độc của y và cái lòng háo danh cực kỳ gian ác của y. Thế là suốt sáu tháng liền người ta có thể đọc trên tờ Ngọn đèn Ruăng những bài tiểu phẩm viết kiểu như sau:

"Tất cả những người nào đi về các vùng phì nhiêu xứ Picácđi chắc hẳn đều nhận thấy, trên dốc Boa Guyôm, một kẻ khốn nạn mang một vết thương dữ dội ở mặt. Kẻ đó rầy rà họ, quấy nhiễu họ và thu một thứ thuế thực sự vào các hành khách. Chúng ta phải chăng còn ở trong những thời trung cổ quái gở mà các kẻ du thủ du thực được phép phơi bày tại các nơi công cộng bệnh hủi và bệnh tràng nhạc mang từ nhũng cuộc viễn chinh thập tự trở về?".

Hay là:

"Tuy đã có luật pháp chống tệ du thủ du thực, những vùng xung quanh các thành phố lớn của chúng ta vẫn tiếp tục bị bọn người khố rách áo ôm quấy nhiễu. Người ta thấy có những kẻ đi lại riêng lẻ, và, có lẽ, không phải là những kẻ ít nguy hiểm hơn cả. Các ngài nghị viên thành phố của chúng ta nghĩ gì?".

Rồi Hôme bịa ra những mẩu chuyện:

"Hôm qua, trên dốc Boa Guyôm, một con ngựa hay sợ bóng...". Và tiếp theo là bài tường thuật một tai nạn sinh ra bởi sự có mặt của một người mù.

Y viết rất giỏi đến nỗi người ta bắt giam gã kia. Nhưng rồi người ta lại thả ra. Gã ta lại bắt đầu nói, và Hôme cũng lại bắt đầu viết. Đó là một cuộc đấu tranh. Hôme đắc thắng! Vì kẻ thù của y bị án cấm cố chung thân trong một viện cứu tế.

Kết quả ấy làm y mạnh bạo hơn; và từ đó, trong quận không có một con chó bị chẹt xe, một kho thóc bị cháy, một người đàn bà bị đánh đập nào mà y không báo cho công chúng biết ngay, lòng yêu tiến bộ và lòng căm ghét các cha cố thường bao giờ cũng hướng dẫn y. Y đem các trường tiểu học ra so sánh với các thầy tu cơ đốc giáo để gây thiệt hại cho những người này, y nhắc tới vụ Xanh Bactêlêmi nhận một số tiền trợ cấp trăm quan phát cho nhà thờ, rồi tố cáo những sự lạm dụng và tung ra những lời giễu cợt. Đó là thứ ngôn ngữ của y. Hôme đả phá; y trở thành nguy hiểm.

Nhưng y bị ngạt thở trong phạm vi chật hẹp của báo chí, và chẳng bao lâu, y thấy cần phải viết sách, viết tác phẩm! Thế là y soạn một cuốn Thống kê đại cương về tổng Yôngvin kèm theo những nhận xét về khí hậu, và môn thống kê đẩy y tới môn triết học. Y quan tâm đến những vấn đề lớn: vấn đề xã hội, vấn đề giáo hóa các tầng lớp nghèo, nghề nuôi cá, cao su, đường sắt v.v... Y đi tới chỗ hổ thẹn vì làm một anh tư sản. Y làm ra vẻ có tính chất nghệ sĩ, y hút thuốc lá! Y sắm cho mình hai pho tượng nhỏ đẹp Pôngpađua để trang hoàng phòng khách của y.

Y chẳng bỏ nghề bào chế; trái lại, y tìm cách nắm được tình hình các cuộc phát minh. Y theo dõi cuộc biến động lớn của thị trường sôcôla. Y là người đầu tiên đã đưa đến vùng Xen hạ chất sôca và chất rơvalăngxia. Y nhiệt tình ngưỡng mộ những dây chuyền thủy điện Puynvécmasơ; bản thân y cũng đeo một cái; và buổi tối, khi y cởi chiếc áo gilê bằng nỉ ra, bà Hôme bị lóa mắt hoàn toàn trước cái hình trôn ốc bằng vàng che lấp người y, và bà cảm thấy nhiệt tình tăng lên gấp bộ đối với người đàn ông bị trói buộc hơn là một dân Xytơ và huy hoàng như một đạo sĩ.

Y  có những ý kiến hay về cái mộ của Emma. Thoạt tiên, y đề nghị dựng một đoạn cột có trướng phủ, sau đến một cái tháp, rồi đến một ngôi đền Vexta, một kiểu nhà tròn... hoặc là "một đống di tích đổ nát". Và, trong mọi đề án, Hôme không chịu bỏ cây thúy liễu mà y coi như cái tượng trưng nhất thiết của nỗi buồn.

Sáclơ và y cùng đến Ruăng để xem những ngôi mộ tại nhà một người thầu mồ mả. Đi theo họ, có một họa sĩ tên là Vôfryla, bạn của Bridu, luôn mồm nói cợt. Cuối cùng, sau khi đã xem hàng trăm bức vẽ, đã đòi một bản kê khai giá cả và đã đến Ruăng lần thứ hai, Sáclơ quyết định xây một cái lăng, mà hai mặt chính có hình "một ông thần cầm một bó đuốc tắt".

Còn về lời ghi chú, Hôme không thấy gì hay bằng: Sta viator rồi y dừng lại đó; y đào sâu trí tưởng tượng; y nhắc đi nhắc lại liên tục: Sta viator... Cuối cùng, y tìm ra: amabilem conjugem calcas 1 ! lời ghi chú này được chấp nhận.

Một điều lạ lùng là Bôvary luôn luôn nghĩ đến Emma mà lại quên mất nàng; và hắn thất vọng khi cảm thấy cái hình ảnh ấy thoát khỏi ký ức giữa những cố gắng của hắn để giữ nó lại. Tuy nhiên, đêm đêm hắn vẫn mơ thấy nàng. Bao giờ cũng một giấc mơ ấy: hắn bước lại gần nàng; nhưng khi hắn vừa ôm được nàng rữa nát ra trong đôi cánh tay hắn.

Người ta thấy hắn, trong một tuần lễ, cứ tối đến là bước vào nhà thờ. Ông Buôcniziêng cũng tới thăm hắn đến hai ba lần, rồi bỏ rơi hắn. Vả lại, người già đâm ra cố chấp, cuồng tín, Hôme nói thế; ông ta thóa mạ tinh thần thời đại và cứ mười lăm ngày một lần, khi thuyết giáo, không quên kể đến chuyện hấp hối của Vônte, ông này khi chết đã ăn phân của mình, như mọi người đều biết.

Mặc dầu sống tiết kiệm, Bôvary còn lâu mới trang trải hết nợ cũ. Lơrơ không chịu tái hạn một phiếu nợ nào cả. Việc tịch biên trở nên cấp thiết. Bấy giờ hắn mới cầu cứu đến mẹ. Bà cụ bằng lòng cho hắn lấy tài sản của bà để cầm đi mà thế nợ, nhưng đồng thời viết tới hắn đủ lời trách móc Emma; và để đền bù sự hy sinh của mình, bà cụ đòi một chiếc khăn trùm đầu không bị Fêlixitê lấy trộm. Sáclơ từ chối, hai mẹ con lại giận nhau.

Để làm lành, bà cụ đã bước trước bằng việc đề nghị hắn cho con bé về ở với mình để giúp đỡ mình trong việc cửa việc nhà. Sáclơ thỏa thuận. Nhưng, đến lúc đưa con bé đi, hắn mất hết cả can đảm. Thế là mọi mối liên hệ giữa hai mẹ con rốt cuộc bị cắt đứt hoàn toàn.

Lòng nhớ thương vợ của hắn càng phai nhạt đi, thì lòng yêu con của hắn lại càng da diết. Tuy nhiên, con bé làm hắn lo lắng và đôi khi nó ho và có những vầng đỏ trên gò má.

Trước mặt hắn, bày ra cái cảnh sung túc và hể hả của gia đình tay dược sĩ mà mọi sự trên đời đều góp phần làm thỏa mãn. Napôlêông giúp việc y ở phòng thí nghiệm. Atali đan cho y một cái mũ trùm kiểu Hy Lạp. Iêcma cắt những khoanh giấy tròn để đậy mứt, và Fơrăngklanh đọc một mạch toàn bộ bản cửu chương. Y là người cha sung sướng nhất, con người may mắn nhất.

Nhầm! Một tham vọng ngấm ngầm đang cắn rứt y. Hôme thèm muốn chiếc huân chương. Y chẳng thiếu gì danh nghĩa:

1 - Đã tỏ ra tận tụy vô hạn trong thời gian bệnh tả phát sinh.

2 - Đã tự bỏ tiền túi ra xuất bản nhiều tác phẩm có công ích, như là... (và y nhắc lại bản báo cáo của y nhan đề: về rượu táo, cách chế tạo nó và hiệu lực của nó; cộng thêm những nhận xét về con bọ len đã gửi Viện hàn lâm; cuốn sách của y về khoa thống kê, và cho đến cả luận án dược sĩ của y); không kể là hội viên của nhiều hội khoa học. (Y chỉ là hội viên của một hội thôi).

Cuối cùng, y vừa la lên vừa xoay mình một vòng, mà chỉ tính đến việc được tiếng trong các vụ hỏa hoạn cũng đủ!

Bấy giờ, Hôme đã ngả về phía chính quyền. Y giúp ngầm ông quận trưởng nhiều việc lớn trong các cuộc bầu cử. Rút cuộc y tự bán mình, tự bán rẻ danh dự. Thậm chí y còn đệ lên nhà vua đơn xin đền bù công trạng cho y, y gọi nhà vua
là Đức minh quân của chúng tôi và so sánh nhà vua với Hăngri IV. 2

Và, mỗi buổi sáng, tay dược sĩ lại lao mình vào tờ báo để tìm ở đó có tin tặng thưởng y không: tin đó vẫn biệt tăm.

Cuối cùng, không chịu được nữa, y cho dựng trong vườn của mình một tấm thảm cỏ hình ngôi sao huân chương với hai nhánh nhỏ xoắn từ trên đỉnh xuống để bắt chước dải băng. Y vừa khoanh tay dạo bước chung quanh, vừa ngẫm nghĩ về sự u mê của chính quyền và sự bội bạc của người đời.

° ° °

Do lòng tôn trọng, hay do một thứ nhục cảm khiến hắn lần chần trong việc tìm tòi của mình. Sáclơ chưa mở cái ngăn bí mật của một bàn giấy bằng gỗ tử đàn mà Emma thường dùng. Cuối cùng, một hôm, hắn ngồi trước nó, vặn chìa khóa và ấn lò xo. Tất cả thư từ của Lêông đều ở đó. Lần này thì không còn nghi ngờ gì nữa! Nức nở, la thét, hoang mang, điên dại. Hắn ngấu nghiến đến tận bức thư cuối cùng, lục lọi khắp xó xỉnh, đồ đạc, ô kéo, sau các bức tường, hắn tìm thấy một cái hộp, lấy chân dậm vỡ nó. Chân dung Rôđônphơ hiển nhiên lộ ra trước mặt hắn; giữa những bức thư tình bị xáo trộn.

Người ta ngạc nhiên về sự nản lòng của hắn. Hắn không ra ngoài nữa, không tiếp ai nữa, khước từ cả việc đi thăm bệnh nhân. Thế là người ta cho là hắn ở kín trong nhà để uống rượu.

Tuy nhiên, đôi lần, một kẻ tò mò nào đó nghển cổ nhìn qua bức rào của khu vườn thì kinh ngạc thấy người đàn ông này, râu dài, áo quần bẩn thỉu, vẻ hung tợn, đang vừa đi vừa khóc rống lên.

Vào một buổi chiều hè, hắn mang con bé đi theo hắn, và hắn dẫn nó ra nghĩa địa. Hai bố con trở về lúc trời đã tối mịt, trên quảng trường chỉ còn chiếc cửa trổ trên mái nhà của Binê là sáng.

Nhưng cái ý vị của nỗi đau khổ của hắn không được trọn vẹn, vì xung quanh hắn không có ai để mà chia xẻ. Và hắn đến thăm mụ Lơfrăngxoa để có thể nói chuyện về nàng, nhưng mụ chủ quán chỉ nghe hắn có nửa bên tai, mụ cũng có như hắn những nỗi buồn, vì Lơrơ vừa mở quán Những người được yêu chuộng của nền Thương nghiệp, và Ive, có nhiều tiếng tăm về những công việc ủy thác, đòi hỏi tăng lương và dọa sẽ ký hợp đồng với "nơi nào trả lương cao hơn".

Một hôm, Sáclơ đi chợ Ácgơi để bán ngựa, - tài sản cuối cùng, - thì gặp Rôđônphơ.
Họ tái mặt khi trông thấy nhau, Rôđônphơ, trước đây chỉ gửi thiếp đến chia buồn thôi, thoạt tiên líu ríu vài lời xin lỗi rồi bạo lên và thậm chí cả gan mời hắn ra quán uống một chai bia (bấy giờ vào tháng tám).
Tì khuỷu tay trước mặt hắn, y vừa nhai điếu xì gà vừa nói chuyện, còn Sáclơ đắm đuối trong mơ mộng trước cái bộ mặt kia mà nàng đã yêu. Hắn dường như được thấy lại một cái gì của nàng. Đó là một sự kỳ lạ. Hắn những muốn được là con người kia.
Y tiếp tục nói chuyện về trồng trọt, súc vật, phân bón, dùng những lời lẽ tẻ nhạt để bịt tất cả các kẽ hở qua đó có thể luồn một điều ám chỉ vào. Sáclơ không nghe y; Rôđônphơ nhận thấy thế, và hắn theo, trên sắc mặt đổi thay của y, những hồi tưởng đang diễn qua. Bộ mặt ấy đỏ lên dần dần, cái mũi phập phồng, cặp môi rung động, thậm chí có một lúc Sáclơ, lòng đầy mối giận âm thầm, đăm đăm nhìn Rôđônphơ. Y, trong cơn kinh hãi ngừng lời. Nhưng chẳng bao lâu, vẫn cái vẻ mệt mỏi bi thảm ấy lại hiện lên mặt Sáclơ.
- Tôi không thù ghét ông, hắn nói.
Rôđônphơ ngồi câm lặng. Còn Sáclơ, hai tay ôm đầu tiếp tục nói như hết hơi với một giọng cam chịu những niềm đau khổ khôn cùng:
- Không, tôi không thù ghét ông nữa!
Hắn lại còn nói thêm một lời to tát, lời nói độc nhất mà hắn chưa từng nói đến bao giờ:
- Đó là lỗi ở định mệnh!
Rôđônphơ, kẻ đã dẫn dắt cái định mệnh ấy, nhận thấy hắn, người trong hoàn cảnh này, rất nhu nhược, thậm chí khôi hài nữa, và hơi thèm.
Hôm sau, Sáclơ ra ngồi trên chiếc ghế dài dưới vòm cây. Ánh sáng lọt qua chiếc rèm mắt cáo; những tàu lá nho in bóng trên cát, hoa nhài tỏa hương, bầu trời xanh lam, những con bọ ban miêu vo ve quanh những cây huệ nở hoa, và Sáclơ tức thở như một chàng trai dưới những làn sóng yêu đương mơ hồ làm căng trái tim đau buồn của hắn.
Đến bảy giờ, con bé Béctơ, suốt buổi chiều không thấy bố, ra tìm hắn vào ăn cơm.
Đầu hắn ngả vào tường, mắt nhắm nghiền, miệng há hốc, và hai tay cầm một mớ tóc đen dài.
- Ba ơi, vào đi! Con bé gọi.
Và, tưởng bố muốn nô đùa, con bé đẩy nhẹ hắn. Hắn ngã xuống đất. Hắn đã chết.
Ba mươi sáu giờ sau, theo yêu cầu của tay dược sĩ, ông Canivê chạy đến. Ông này mổ hắn ra nhưng không thấy gì cả.
Khi mọi thứ đã bán hết, còn lại mười hai quan bảy mươi lăm dùng làm tiền lộ phí cho cô Bôvary để về nhà bà nội. Bà cụ cũng mất ngay năm ấy; lão Ruôn bị tê liệt, thành ra phải nhờ một bà cô trông nom đứa bé. Bà này nghèo nên đã gửi nó đến một nhà máy sợi để cứu sống.
Từ khi Bôvary mất, ba ông thầy thuốc kế tiếp nhau ở Yôngvin mà không làm ăn được, vì Hôme đã tức khắc đánh bại họ.
Khách của y dồn dập, nhà chức trách kiêng nể y và dư luận công chúng bảo vệ y. Y vừa được tặng huân chương Danh dự.
Chú thích:

1.

Staviator... amabilem conjugem calcas (tiếng Latinh): Khách qua đường hãy dừng lại... anh đạp dưới chân một người vợ mến yêu!

2.

Hăngri IV (Henri IV): Một nhà vua Pháp được tiếng là nhân từ.

Tháng 12-1976
Gustave Flaubert
Trọng Đức dịch
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  “Văn học – thế giới mở” và những gương mặt của nhà phê bình Là nhà giáo – nhà nghiên cứu, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đã thực hiện nhiều ...