Thứ Tư, 6 tháng 10, 2021

Bà Bovary 2

Bà Bovary 2

Chương 4

Ngay khi trời trở rét, Emma rời buồng riêng để vào ở trong phòng lớn, một gian nhà dài trần thấp, có một tảng san hô dày đặt trên lò sưởi trước chiếc gương. Ngồi trong ghế bành, gần cửa sổ, nàng nhìn người làng qua lại trên hè.

Lêông, ngày hai lần, đi từ phòng làm việc đến quán Sư Tử Vàng. Emma nghe bước anh ta đến từ xa; nàng ngả người xuống mà nghe; và chàng thanh niên, lướt sau bức màn cửa, bao giờ cũng ăn mặc như vậy và đi không quay đầu. Nhưng, vào lúc hoàng hôn, khi nàng buông chiếc khăn vừa thêu xuống đầu gối, tì cằm vào lòng bàn tay trái, nàng thường giật mình lúc cái bóng người ấy xuất hiện đột ngột. Nàng đứng dậy và bảo người nhà dọn bàn ăn.

Đang bữa ăn thì Hôme đến. Tay cầm chiếc mũ trùm kiểu Hy Lạp, y bước nhẹ để khỏi làm phiền ai và bao giờ y cũng lắp lại cái câu: "Chào cả nhà!" Rồi, khi y đã ngồi vào chỗ mình ở cạnh bàn, khoảng giữa đôi vợ chồng nàng, y hỏi han người thầy thuốc tin tức về các bệnh nhân, và người thầy thuốc lại tham khảo y về khả năng tiền khám bệnh. Sau đó, hai người trò chuyện về những điều đăng trong tờ báo hàng ngày. Hôme, lúc này, gần như thuộc lòng các bài vở; y thuật lại nguyên văn cùng với những bình luận của các ký giả, và mọi thảm họa cá nhân đã xảy ra ở nước Pháp hay trên thế giới. Nhưng vì các đề tài câu chuyện cạn đi, y vội đưa ra vài nhận xét về những món ăn trước mắt. Thậm chí đôi khi, y đứng dậy nửa chừng, chỉ cho bà một cách tế nhị miếng nào ngon nhất, hoặc y quay lại phía người hầu gái nhủ điều này điều khác về thủ thuật nấu các món thịt hầm, về phép gia giảm đồ gia vị: y thuyết về mùi thơm chất bổ, nước cốt và chất đông, để lòe đời. Vả lại, số môn thuốc chứa trong đầu y còn nhiều hơn là số bình thuốc chứa trong cửa hiệu của y; Hôme có tài chế lắm thứ mứt, dấm và rượu ngọt, biết tất cả những phát minh mới về máy nấu ăn cho đỡ tốn cùng nghệ thuật giữ gìn pho mát và sửa chữa rượu vang hỏng.

Vào tám giờ, Juyxtanh đến tìm y về để đóng cửa hiệu. Hôme liền nhìn nó bằng con mắt tinh quái, nhất là khi có Fêlixitê ở đó, vì y để ý thấy học trò của y quyến luyến ngôi nhà người thầy thuốc. Y nói:

- Thằng ranh nhà tôi bắt đầu có ý nghĩ này khác; quỷ tha ma bắt tôi đi, tôi cho rằng nó đã phải lòng người hầu gái của ông bà!

Nhưng một tính xấu nặng hơn, mà ông ta thường trách mắng nó, là luôn luôn nghe ngóng người lớn trò chuyện. Chủ nhật chẳng hạn, nó cứ ở lì trong phòng khách khi bà Hôme gọi nó vào để mang lũ trẻ đi, chúng ngủ trong ghế bành, lưng làm xô cả những miếng vải diềm bâu bọc ghế quá rộng.

Những buổi tối tiếp khách đó của tay dược sĩ chẳng có mấy người tới dự vì thói dèm pha, và các chính kiến của y đã làm cho những nhân vật bề thế khác dần dần xa lánh y. Viên luật sư tập sự thì không thể thiếu mặt. Vừa nghe tiếng chuông kêu là anh ta đã chạy vội ra đón bà Bôvary, đỡ chiếc khăn choàng của bà rồi cất biến ra một chỗ, dưới gầm bàn giấy của tay dược sĩ, đôi giầy to mềm bằng vải thô mà bà đi lồng ra ngoài đôi giầy khác khi trời đổ tuyết.

Thoạt đầu, họ đánh vài ván bài ba mươi mốt điểm; sau đó Hôme đánh bài thay quân với Emma; Lêông, đứng sau, mách nước. Hai tay tì trên lưng ghế của nàng, anh ta nhìn những chiếc răng lược ngoạm vào búi tóc của nàng. Cứ mỗi lần nàng cử động để ném quân bài, tay phải áo dài của nàng lại xếch lên. Từ làn tóc quấn của nàng, một màu nâu sẫm tỏa xuống lưng nàng, dần dần nhợt đi cho tới lúc mất hút trong bóng tối. Tiếp đến chiếc áo nàng vừa phồng ra vừa rủ sang hai bên ghế, xếp thành nếp và trải trên mặt đất. Có những lúc Lêông cảm thấy đế giày mình đặt lên trên áo ấy và anh ta vội lánh người ra tựa hồ như đã dẫm phải ai.

Xong ván bài ấy, tay dược sĩ và người thầy thuốc đánh bài cẩu, còn Emma thì đổi chỗ, nàng tì khuỷu tay lên bàn xem tờ Họa báo, quyển báo ảnh về thời trang mà nàng đã mang theo. Lêông đến ngồi sát bên nàng; hai người cùng xem các kiểu vẽ và đợi nhau ở cuối các trang. Nhiều khi nàng yêu cầu anh ta đọc thơ cho nghe; Lêông bình thơ bằng một giọng kéo dài và anh ta hạ xuống một cách ý tứ những đoạn tả tình. Nhưng tiếng bài cẩu làm nàng khó chịu; Hôme là người chơi bài cao; y hạ Sáclơ bằng cả hai quân lục. Ván bài kết thúc; cả hai người đều ngả lưng trước lò sưởi rồi chẳng bao lâu ngủ thiếp đi. Lửa tàn dần trong tro, ấm trà đã cạn; Lêông vẫn đọc thơ, Emma vừa nghe vừa xoay như máy cái chụp đèn bằng the mỏng trên vẽ hình những thằng hề ngồi xe và những cô gái leo dây cầm gậy lấy chừng. Lêông ngừng lại, chỉ tay vào đám thính giả đã ngủ; họ liền nói khe khẽ với nhau và câu chuyện đối với họ dường như êm ái hơn vì không có ai nghe cả.

Thế là giữa họ tạo nên một kiểu kết hợp, một cuộc trao đổi liên tục bằng sách báo và tình ca, ông Bôvary ít ghen tuông, chẳng ngạc nhiên về chuyện đó.

Vào ngày sinh nhật của hắn, hắn nhận được một chiếc sọ người đẹp thuộc loại não tướng học (1) có điểm chữ số đến tận xương ngực và sơn màu xanh lơ. Đó là một sự quan tâm của viên luật sư tập sự. Anh ta còn nhiều sự quan tâm khác nữa, thậm chí đi cả tới Ruăng làm giúp những công việc mà người thầy thuốc ủy thác và nhân dịp cuốn sách của một nhà viết tiểu thuyết gây nên cái mốt ham thích những cây nhỏ lá dầy; Lêông đi chiếc xe ngựa Con én đem về cho bà Bôvary loại anh ta mua, cây đặt trên đầu gối, lông cứng của chúng đâm cả vào các ngón tay anh ta.

(1) Não tướng học (phrénologie): Môn học chuyên nghiên cứu đặc điểm và trí năng của con người qua hình trạng xương sọ.

Nàng cho lắp vào cửa sổ một tấm lan can đặt các bình cây của mình. Viên luật sư tập sự cũng làm một vườn nhỏ treo lên; họ nhìn thấy nhau khi chăm sóc hoa ở cửa sổ.

Giữa đám cửa sổ trong làng, còn một cửa sổ nữa luôn luôn có bóng người hơn là vì cứ ngày chủ nhật, từ sáng đến tối, và mỗi buổi chiều, nếu trời quang, người ta lại thấy ở cửa sổ của một tầng sát mái nhà cái nét mặt gầy gò của ông Binê cúi xuống máy tiện, tiếng máy vo vo đơn điệu đến tận quán Sư  Tử  Vàng.

Một buổi chiều, đi đâu về, Lêông thấy trong buồng của mình một bức thảm nhung và len có hình cành lá trên nền nhạt. Anh ta gọi bà Hôme, ông Hôme, Juyxtanh, lũ trẻ, chị nấu bếp; anh ta nói chuyện này với ông chủ; mọi người đều muốn biết rõ bức thảm ấy; tại sao vợ người thầy thuốc lại hậu đãi viên luật sư tập sự như vậy? Điều này kể cũng kỳ, và người ta nghĩ dứt khoát rằng nàng ắt phải là tình nhân của anh ta.

Anh ta làm cho người ta tin như vậy là vì anh ta luôn miệng nói đến nhan sắc và tài trí của nàng, đến nỗi Binê một lần đã sỗ sàng đáp lời anh ta:

- Điều đó can gì đến tôi, tôi không có quan hệ với bà ta!

Anh ta nát óc để tìm cách ngỏ lời với nàng; và cứ luôn luôn do dự giữa nỗi sợ làm nàng phật ý và điều hổ thẹn là mình quá nhút nhát, anh ta khóc vì nản lòng và vì ham muốn. Rồi anh ta đi đến những quyết định cương quyết; anh ta viết những bức thư để mà xé đi, hoãn đến những kỳ hạn mà anh ta hoãn mãi. Thường khi anh ta bước chân ra đi, anh ta dự định dám làm tất cả; nhưng trước mặt Emma, anh ta vứt bỏ điều ấy rất nhanh, và khi Sáclơ chợt đến mời anh ta lên xe riêng của hắn để cùng nhau đi thăm một bệnh nhân nào quanh vùng, anh ta nhận lời ngay, chào bà rồi đi thẳng. Chồng nàng, phải chăng đó là cái gì thuộc nàng?

Về phần Emma, nàng cũng chẳng tự hỏi xem nàng có yêu anh ta không, nàng tin tình yêu phải tới đột ngột, với những tiếng nổ lớn và những chớp nguồn, dông tố của trời đất giáng xuống cuộc đời, làm đảo lộn cuộc đời, ngắt đi bao ý chí như ngắt những tàu lá và lôi cuốn cả trái tim tới vực thẳm. Nàng không biết rằng, khi các máng nước bị tắc, mưa đọng thành vũng trên sân thượng các nhà, và nàng sống yên ổn như thế cho tới lúc nàng đột ngột phát hiện một kẽ nứt trên tường.

Chương 5

Một ngày chủ nhật tháng hai, vào buổi chiêu, trời đổ tuyết.

Ông bà Bôvary, Hôme và Lêông tất cả cùng đi thăm một nhà máy sợi lanh đang xây dựng cách Yôngvin nửa dặm trong thung lũng. Tay dược sĩ mang theo hai con Napôlêông và Atali, để rèn luyện chúng, và Juyxtanh, ô vác trên vai, đi theo chúng.

Tuy nhiên, chẳng có cái gì kém lạ kỳ hơn cái kỳ lạ ấy. Một khoảng đất trống lớn, ở đó ngổn ngang, giữa những đống cát và sỏi, vài bánh xe răng cưa đã rỉ, bao quanh một tòa nhà dài hình tứ giác, trổ nhiều cửa sổ nhỏ. Tòa nhà chưa xây xong và người ta nhìn thấy bầu trời qua những chiếc dầm trên mái. Trên cái xà nhỏ ở đầu hồi, người ta buộc một bó rơm lẫn nhiều bông lúa làm những dải băng tam tài quấn nó phần phật trước gió.

Hôme lên tiếng. Y giảng cho cả Đoàn tầm quan trọng sau này của nhà máy ấy, ước lượng sức chịu đựng của các ván rầm nhà, bề dày của tường và rất tiếc chẳng có gậy đo như ông Binê có một cái để dùng riêng.

Khoác tay y và hơi dựa vào vai y, Emma nhìn chiếc gương mặt trời tỏa chiếu ở xa, trong sương mù, cái ánh xanh nhạt chói lòa của nó; nhưng nàng quay đầu đi. Sáclơ đứng đó. Chiếc mũ cát két của hắn chụp xuống tận lông mày, và đôi môi dầy của hắn mấp máy, cái đó khiến cho bộ mặt hắn thêm vẻ đần độn; cả cái lưng hắn nữa, cái lưng bình thản trông mà bực mình, và nàng thấy ở đó phơi bày trên chiếc áo rơđanhgôt tất cả cái tầm thường của con người.

Trong khi nàng nhìn chồng, thưởng thức một thứ lạc thú hư hỏng trong nỗi bực mình như thế, thì Lêông tiến lên một bước. Khí lạnh, làm anh ta tái nhợt, dường như đặt lên trên mặt anh ta một vẻ ủy mị dịu dàng hơn; giữa chiếc cavát và cái cổ của anh ta, cái cổ áo sơmi hơi lỏng để lộ làn da; một mẩu tai thò ra dưới mớ tóc, và đôi mắt to xanh của anh ta ngước nhìn lên mây, đối với Emma, dường như trong hơn và đẹp hơn là những mặt hồ trên núi mà bầu trời soi vào.

Thằng khốn kiếp! Tay dược sĩ bất thần kêu lên. Rồi y chạy lại chỗ thằng con trai vừa xông vào một đống vôi để sơn giầy cho trắng. Bị bố mắng, Napôlêông gào lên, trong khi đó Juyxtanh thì lau giầy cho nó bằng rơm trát vách. Nhưng cần phải có một con dao; Sáclơ bèn đưa con dao của mình ra.

- À! Nàng thầm nghĩ, hắn ta mang dao trong túi như một người nhà quê!

Sương giá đã xuống, mọi người liền quay trở về Yôngvin. Tối hôm đó, bà Bôvary không sang nhà hàng xóm. Và khi Sáclơ đi rồi, nàng cảm thấy cô đơn; việc so sánh lại trở lại đầu óc nàng rõ ràng trong một cảm giác hầu như trực tiếp với cách kéo dài viễn cảnh mà ký ức đem đến cho mọi vật. Nhìn từ giường mình ngọn lửa sáng đang cháy, nàng còn thấy, như ở nơi ấy, Lêông đứng, một tay uốn cong chiếc can nhỏ của anh ta, một tay dắt bé Atali đang bình thản mút một miếng nước đá. Nàng thấy anh ta xinh trai; nàng chẳng thể rời anh ta ra được, nàng nhớ lại các điệu bộ khác của anh ta ở những ngày khác, lời ăn và tiếng nói của anh ta, cả con người của anh ta; và nàng vừa nhắc đi nhắc lại vừa chìa môi ra như để hôn:

- Ừ, xinh! Xinh thật!... Anh ta không yêu sao? Nàng thầm hỏi. Yêu ai vậy?... Yêu ta chứ yêu ai!

Mọi chứng cớ phơi bầy ra một loạt, trái tim nàng như nhảy vọt lên. Ngọn lửa lò sưởi làm rung rinh trên trần nhà một ánh sáng hân hoan; nàng vừa quay người nằm ngửa vừa vươn cánh tay ra.

Thế là bắt đầu lời ta thán muôn thuở "Ôi! Nếu như trời đã định thế! Tại sao lại không nhỉ? Vậy ai ngăn trở?..."

Vừa nửa đêm, khi Sáclơ về nhà, nàng làm ra vẻ mới tỉnh giấc, vì hắn cởi quần áo một cách ồn ào, nàng than phiền nhức đầu rồi uể oải hỏi tối nay đã có chuyện gì xảy ra.

- Ông Lêông, hắn nói, đã lên gác sớm.

Nàng không nhịn được cười rồi nàng ngủ thiếp đi, tâm hồn tràn đầy một niềm hoan lạc mới.

Hôm sau, lúc trời xẩm tối, nàng tiếp Lơrơ, một tay buôn bán công nghệ phẩm theo thời trang đến thăm. Gã thật là một con người khôn khéo.

Sinh ở xứ Gaxcônhơ nhưng trở thành người xứ Noócmăngđi, gã không những đã có tài bẻm mép của người miền Nam lại còn thêm cái tính xảo quyệt của người xứ Cô. Mặt gã béo phị, mềm nhẽo và không râu, dường như nhuộm bằng nước cam thảo sắc nhạt; tóc gã bạc làm cho cái ánh cặp mắt đen ti hí đã dữ càng thêm sắc. Người ta chẳng biết xưa kia gã làm gì; kẻ này bảo gã bán hàng xén rong; người nọ bảo gã đứng đầu sòng bạc ở Rutô. Có điều chắc chắn là gã tính nhẩm được trong trí những con tính phức tạp đến Binê cũng phát hoảng. Lễ phép đến mức thành khúm núm, gã luôn luôn đứng khom lưng, trong cái tư thế của người đang chào đón hay mời mọc.

Sau khi để ngoài cửa chiếc mũ quấn băng nhiễu, gã đặt lên bàn một hộp bìa xanh ve và bằng những nghi lễ xã giao đưa đẩy, gã bắt đầu phàn nàn với bà là tới nay gã vẫn chẳng được bà tin cẩn. Một cửa hàng tồi tàn như cửa hàng của gã không phải mở ra để thu hút một bà lịch sự, gã nhấn mạnh vào tiếng này. Tuy nhiên bà chỉ việc đặt hàng là gã sẽ nhận trách nhiệm kiếm cho bà thứ bà muốn, về tạp hóa cũng như về vải vóc tơ lụa, mũ trùm áo nịt, tất sợi hay các đồ trang sức vì gã hàng tháng lên tỉnh đều đặn bốn lần. Gã giao dịch với những hãng lớn nhất; người ta có thể nói chuyện về gã ở hãng Ba Anh Em, ở hãng Kim Tu hay ở hãng Đại Man; tất cả những ông chủ các hãng này đều biết gã tường tận! Vậy mà hôm nay nhân tiện đi qua đây gã đến trình bày bà, nhiều mặt hàng mà đột nhiên gã có trong tay là nhờ một dịp may hiếm có. Rồi gã rút ở hộp ra nửa tá cổ áo thêu.

Bà Bôvary xem hàng.

- Tôi chẳng cần gì cả, nàng nói.

Lơrơ liền nhẹ nhàng bày ra ba chiếc khăn quàng Angiêri, nhiều gói kim Anh, một đôi păngtup bằng rơm và, cuối cùng, bốn bát để ăn trứng bằng vỏ dừa do tù khổ sai chạm đục. Rồi, hai bàn tay để trên bàn vươn ra, người ngả xuống, miệng há hốc, gã theo dõi cái nhìn của Emma đang lưỡng lự lướt qua đám hàng ấy. Thỉnh thoảng, như để xua bụi đi, gã búng ngón tay lên làn tơ của những chiếc khăn quàng trải ra theo suốt cả chiều dài, thế là những chiếc khăn ấy rung rinh vừa tạo thành tiếng động sột soạt vừa làm cho những vẩy vàng đính vào lụa lấp lánh như những ngôi sao nhỏ trong ánh sáng xanh nhợt của buổi hoàng hôn.

- Những chiếc khăn quàng này giá bao nhiêu?

- Rẻ thôi, gã đáp, rẻ thôi; nhưng chẳng việc gì mà vội; bao giờ bà cho cũng được; chúng tôi chẳng phải là phường Do Thái.

Nàng suy nghĩ đôi lát, rồi cuối cùng còn cảm ơn Lơrơ.

Gã thản nhiên đáp:

- Này! Chúng ta thỏa thuận với nhau sau; tuy nhiên đối với các bà, bao giờ tôi cũng thu xếp được ổn, trừ bà nhà tôi!

Emma mỉm cười.

Sau lời bông đùa, gã lại xuề xòa nói tiếp:

- Nói thế là để bà biết tôi chẳng phải lo ngại về vấn đề tiền nong... Nếu cần, tôi xin biếu bà.

Nàng tỏ vẻ ngạc nhiên. Gã vội nói khẽ:

- Ồ! Tôi chẳng cần đi xa mới tìm ra được những thứ này hầu bà, bà hãy tin vào điều đó!

Rồi gã xoay sang hỏi thăm tin túc lão Tenliê chủ tiệm Cà phê Pháp mà ông Bôvary đang chữa bệnh cho.

- Lão Tenliê, lão làm sao thế... Lão ho đến rung chuyển cả nhà. Tôi rất sợ rằng nay mai lão cần đến một chiếc áo khoác ngoài bằng gỗ thông đúng hơn là một chiếc áo chẽn bằng nỉ mỏng! Lão chơi bời quá độ thuở còn trẻ, những hạng ấy, thưa bà, chẳng có quy củ gì cả! Lão đã tự thiêu bằng rượu mạnh! Kể cũng đáng buồn khi thấy một người quen thuộc mất đi.

Và trong lúc gã cài chiếc hộp lại, gã cứ ba hoa như thế về các khách chữa bệnh của người thầy thuốc ra.

Gã vừa nhìn các ô cửa kính bằng một vẻ mặt cau có vừa nói:

- Hẳn là thời tiết làm cho phát sinh những bệnh tật đó thật? Tôi cũng vậy, tôi cảm thấy mình không được bình thường, phải có ngày tôi đến xin ông nhà khám bệnh cho nữa, vì tôi đau ở lưng. Nào, xin chào bà Bôvary, tôi sẵn sàng chờ lệnh bà!

Rồi gã nhẹ nhàng khép cửa lại.

Emma sai dọn cơm trong buồng nàng, bên cạnh lò sưởi, trên một cái khay; nàng ăn thong thả; mọi thứ nàng đều thấy vừa ý. Nghĩ tới những chiếc khăn quàng, nàng tự nhủ:

- Mình đã khá khôn ngoan đấy chứ.

Nàng nghe thấy tiếng chân bước trên cầu thang; đó là Lêông. Nàng đứng dậy lấy trên mặt tủ ngăn chiếc thứ nhất trong chồng khăn lau để viền. Nàng có vẻ rất bận rộn khi anh ta bước vào.

Câu chuyện giữa hai người thật uể oải; bà Bôvary mỗi lúc lại bỏ lửng, còn chính anh ta dường như cũng rất lúng túng. Ngồi trên một chiếc ghế thấp gần lò sưởi, anh ta xoay cái ống bằng ngà giữa các ngón tay; nàng đẩy mũi kim hoặc chốc chốc lại lấy móng tay làm nhăn nếp vải. Nàng không nói. Bị quyến rũ bởi sự nín lặng của nàng cũng như bởi lời nói của nàng, anh ta ngồi im.

- Anh chàng đáng thương! Nàng nghĩ.

- Mình có điều gì làm bà ấy mếch lòng? Anh ta tự hỏi.

Tuy nhiên, Lêông rốt cuộc cũng nói một ngày gần đây, anh ta phải đi Ruăng vì một công việc của phòng giấy anh ta.

- Hạn đặt mua các bản nhạc của bà đã hết, tôi có phải đăng ký lại không?

- Không, nàng đáp.

- Sao vậy?

- Bởi vì...

Rồi, mím môi lại, nàng chậm chạp xỏ vào kim một sợi chỉ xám dài.

Công việc ấy làm Lêông khó chịu. Đầu ngón tay Emma dường như bị xướt da; một câu tình tứ thoáng qua đầu anh ta nhưng anh ta chẳng dám nói ra.

- Thế bà bỏ à? Anh ta hỏi tiếp.

- Gì cơ? Nàng nói nhanh: nhạc ấy à? Trời ơi, vâng! Tôi chẳng còn có việc cửa nhà, việc chăm sóc chồng tôi, nghĩa là trăm công nghìn việc, vô vàn bổn phận phải làm trước hết ư!

Nàng nhìn chiếc đồng hồ treo trên tường. Muộn rồi mà Sáclơ chưa về. Nàng liền làm ra vẻ lo lắng. Hai ba lần nàng nhắc đi nhắc lại:

- Nhà tôi hiền quá!

Viên luật sư tập sự mến ông Bôvary. Nhưng lời âu yếm của nàng đối với chồng nàng làm cho anh ta ngạc nhiên một cách khó chịu; song anh ta cứ tiếp tục khen ngợi ông chồng mà, theo lời anh ta, anh ta thấy ai cũng khen, nhất là tay dược sĩ.

- À! Đó là một con người trung hậu. Emma đáp.

- Hẳn thế rồi, viên luật sư tập sự nói.

Và anh ta chuyển sang chuyện bà Hôme ăn mặc quá cẩu thả thường làm cho họ tức cười.

- Thế thì cái đó đã làm sao nào? Emma ngắt lời. Một bà mẹ hiền trong gia đình chẳng băn khoăn gì về cách ăn mặc của mình.

Rồi nàng lại nín lặng.

Những ngày sau cũng thế; lời lẽ, cử chỉ của nàng, tất cả đều đổi khác, người ta thấy nàng toàn tâm toàn ý chăm lo việc nhà, lui tới nhà thờ đều đặn và sai bảo người hầu gái một cách nghiêm khắc hơn.

Nàng đem Béctơ về nhà nuôi. Fêlixitê mang đứa bé tới mỗi khi có khách đến chơi và bà Bôrary cởi quần áo con ra để phô cho khách thấy tay chân con. Nàng tuyên bố rất quý trẻ con; đó là niềm an ủi, niềm vui sướng, niềm say mê của nàng, nàng đã minh họa thêm điều đó bằng những cái vuốt ve êm dịu và những lời nói ngọt ngào bộc lộ tâm tình làm cho người không phải dân địa phương Yôngvin nhớ đến nàng Xasét trong tác phẩm Nhà thờ Đức Bà ở Pari.

Sáclơ, khi trở về, đã gần đống tro đôi giày vải của mình được hơ ấm. Áo gilê của hắn không còn thiếu lót, sơmi của hắn chẳng còn mất khuy, và thậm chí hắn còn thích thú thấy trong tủ áo tất cả các mũ trùm vải bông được xếp thành từng chồng đều đặn. Nàng không cau có như trước kia lúc đi dạo cùng chồng quanh vườn; hắn đề nghị điều gì cũng được nàng ưng thuận mặc dù nàng chẳng đoán trước được những ý muốn mà nàng phục tùng không một lời kêu ca - và khi Lêông thấy hắn ngồi trước lò sưởi sau bữa ăn tối, hai bàn tay đặt lên bụng, hai chân gác lên giá sắt để củi, má đỏ lên do tiêu hóa, mắt ướt vì sung sướng, bên đứa con đang bò lê trên thảm và người phụ nữ thân hình mảnh dẻ ấy đến hôn vào trán hắn qua phía trên lưng ghế, thì Lêông tự nhủ:

- Mình thật là điên! Thế kia thì làm sao mà đụng tới nàng được?

Vậy là anh ta tưởng nàng quá đoan chính và quá vững vàng đến nỗi mọi hy vọng, cả thứ hy vọng mơ hồ nhất, cũng rời bỏ anh ta.

Nhưng do sự thoái lui ấy, anh ta đặt nàng vào những điều kiện dị thường. Đối với anh ta, nàng vượt khỏi những cái đẹp về thể xác mà anh ta chẳng được hưởng gì; và trong lòng anh ta, nàng vươn lên cao mãi và thoát ly chúng một cách rực rỡ như một vị thần linh bay đi. Đó là một trong những tình cảm thanh khiết không ngăn cản cái sinh hoạt bình thường người ta nuôi dưỡng vì chúng hiếm có và, mất chúng, còn đau khổ hơn là hân hoan khi có chúng.

Emma gầy đi, đôi má xanh xao, bộ mặt dài ra. Với mái tóc đen, cặp mắt to, cái mũi dọc dừa, dáng đi như chim, và bây giờ luôn luôn thầm lặng, nàng há chẳng như đi qua cuộc sống mà không dính dáng mấy đến cuộc sống và nàng như mang trên trán cái dấu vết mơ hồ của một định mệnh cao siêu nào? Nàng vừa quá buồn rầu, vừa quá bình tĩnh, vừa quá dịu dàng và vừa quá dè đặt, đến nỗi ở gần nàng người ta cảm thấy bị cám dỗ bởi một vẻ đẹp lạnh lùng, như người ta rùng mình trong nhà thờ bởi hương hoa lẫn hơi lạnh của cẩm thạch. Cả những người khác cũng không thoát khỏi được sức quyến rũ đó. Tay dược sĩ nói:

- Đây là một phụ nữ có nhiều tài năng, một phụ nữ xứng đáng có địa vị trong một huyện lỵ.

Các bà ở thị trấn hâm mộ đức tính cần kiệm của nàng, bệnh nhân khâm phục cái lễ độ của nàng, người nghèo khổ ca ngợi lòng nhân đức của nàng.

Nhưng lòng nàng đầy ham muốn, đầy phẫn nộ, đầy căm hờn. Cái áo dài thẳng nếp kia che dấu một trái tim hỗn loạn, và cặp môi rất mực trinh bạch kia chẳng để lộ ra cơn dông tố của nó. Nàng phải lòng Lêông rồi nàng tìm cảnh cô đơn để có thể vui thú với hình ảnh của anh ta một cách thoải mái hơn. Nếu nàng nhìn thấy con người anh ta, cái khoái lạc của sự trầm tư mặc tưởng đó sẽ bị quấy rối. Emma hồi hộp khi nghe tiếng chân anh ta đi; rồi trước mặt anh ta, niềm xúc động của nàng tiêu tan, và sau đó, ở nàng, chỉ còn lại một nỗi ngỡ ngàng mênh mông kết thúc bằng một nỗi u buồn.

Lêông không biết, khi anh ta ở nhà nàng bước ra thất vọng, nàng đứng dậy ở phía sau anh ta để được thấy anh ta ngoài phố. Nàng băn khoăn về dáng đi đứng của anh ta; nàng dò xét vẻ mặt của anh ta; nàng bịa ra cả một chuyện để lấy cớ vào thăm buồng anh ta. Vợ tay dược sĩ, theo nàng, thực là may mắn được ngủ dưới một mái nhà với anh ta, và mọi ý nghĩ của nàng không ngớt dồn dập vào căn nhà ấy, như những con chim bồ câu của quán Sư Tử Vàng đến đó nhúng những cặp chân hồng và đôi cánh trắng vào các máng nước. Nhưng Emma càng nhận ra mối tình của mình, nàng càng dồn nén nó xuống để nó khỏi lộ ra và để giảm bớt nó đi. Nàng những muốn Lêông nhận ra mối tình đó; và nàng tưởng tượng đến những chuyện tình cờ, những biến cố có thể đem đến cho Lêông nhiều điều thuận tiện. Cái gì ngăn giữ nàng lại, hẳn là thói lười biếng hay nỗi hoảng sợ và cả tính e thẹn nữa. Nàng nghĩ rằng nàng đã đẩy anh ta đi quá xa, bây giờ đã muộn rồi, mọi sự thế là hết. Rồi lòng tự trọng, niềm vui sướng được tự nhủ là "mình có đức hạnh", và được tự ngắm mình trong gương với những vẻ chịu đựng an ủi nàng đôi chút về sự hy sinh mà nàng tưởng nàng đã làm.

Thế là những thèm muốn về xác thịt, những khát vọng về tiền tài và những sầu muộn vì yêu đương, tất cả hỗn hợp lại trong cùng một nỗi khổ đau - và đáng lẽ không nghĩ gì đến nó nữa, nàng lại cứ bám lấy nó hơn nữa, cứ thúc đẩy mình lao vào buồn thảm, và cứ tìm kiếm mọi cơ hội để mà xót thương. Nàng bực dọc vì một món ăn nấu kém hay vì một cánh cửa hé mở, nàng rên rỉ vì chẳng có áo nhung, vì thiếu hạnh phúc, vì những mơ ước quá cao, vì nhà cửa quá chật hẹp.

Điều làm cho nàng tức bực là Sáclơ chẳng tỏ ra hiểu biết tí gì về nỗi đau khổ của nàng. Cái điều hắn vững tin rằng hắn đã đem lại cho nàng hạnh phúc, đối với nàng, dường như là một điều lăng nhục ngu xuẩn, và sự yên trí của hắn về mặt đó dường như là một sự bội bạc. Vậy thì vì ai mà nàng phải giữ tiết trinh. Phải chăng chính hắn là trở ngại của mọi hạnh phúc, nguyên nhân của mọi tai họa, và phải chăng hắn giống như miếng sắt nhọn của chiếc đai phức tạp ấy siết chặt nàng từ mọi phía?

Do đó, nàng trút cả lên mình hắn bao nhiêu là căm hờn do từ những nỗi ưu phiền của nàng mà ra, và mỗi cố gắng để làm giảm nó đi lại chỉ làm tăng nó lên là vì cái công sức vô ích đó lại liên kết với nhũng nguyên nhân thất vọng khác và góp phần hơn nữa vào sự xa rời nhau. Ngay tính điềm đạm của riêng nàng cũng làm nàng giở bướng. Cảnh tầm thường trong nhà xô đẩy nàng đến chỗ xa hoa quá trớn, những cái vỗ về âu yếm của người chồng dẫn nàng đến những ý muốn ngoại tình. Nàng những muốn Sáclơ đánh đập nàng để nàng có thể ghét anh, trả thù anh một cách chính đáng hơn. Cũng có những lúc nàng ngạc nhiên về những trường hợp ghê gớm mà nàng giả định trong đầu óc; vậy mà nàng vẫn phải tiếp tục mỉm cười, nghe người ta nói đi nói lại với nàng là nàng sung sướng, làm ra vẻ như thế, làm cho người ta tin là thế!

Tuy nhiên, nàng cũng không ưa sự giả dối ấy. Nàng đôi lúc mưu toan trốn đi với Lêông ở một nơi nào đó, thật xa, để thử một cuộc sống mới, nhưng lập tức, trong tâm hồn nàng, mở ra một vực thẳm mơ hồ, tối mò.

- Vả lại, anh ta có yêu ta nữa đâu, nàng nghĩ thế; thế thì sẽ ra sao? Đợi ai cứu vớt mình, an ủi mình, giải khuây mình?

Nàng xúc động, nghẹn thở, ngây dại, nức nở khóc thầm và nước mắt ròng ròng chảy.

- Sao bà chẳng nói cho ông biết? Con bé đầy tớ hỏi nàng khi nó bước vào buồng giữa lúc nàng đang ở trong tình trạng ấy.

- Bệnh thần kinh đấy, Emma đáp; mày đừng nói với ông mà làm khổ ông.

- À! Vâng ạ, Fêlixitê thưa lại, bà đúng như chị Ghêrin, con gái lão Ghêranh, dân chài ở Pôlê mà con biết hồi con ở Điép, trước khi đến với bà. Chị ta buồn ơi là buồn, buồn đến nỗi thấy chị ta đứng ở ngưỡng cửa nhà cứ như thấy màn đám ma căng trước cửa. Bệnh của chị ta, qua triệu chứng bên ngoài, là một thứ sương mù mà chị ta mang trong đầu nên các thầy thuốc chẳng làm gì được cả, và ông linh mục cũng vậy. Khi cơn đau mạnh quá, chị ta đi một mình ra bãi biển, thành ra ông quan hai thương chính, khi đi tuần qua, thường thấy chị ta nằm sấp thẳng cẳng trên đám sỏi mà khóc. Rồi, sau lấy chồng, thế là khỏi, người ta bảo thế.

- Nhưng, tao thì lấy chồng rồi, tao mới bị thế này, Emma đáp.

Chương 6

Một buổi chiều, ngồi bên thành cửa sổ mở, vào lúc vừa nhìn Lêtibuđoa, người bõ nhà thờ, đang chặt cành cây hoàng dương, nàng bỗng nghe thấy Tiếng chuông báo giờ đọc kinh.

Bây giờ đang đầu tháng tư, cây ngọc trâm đang nở hoa; một làn gió ấm thổi cuồn cuộn trên những luống đất đã cày, và các vườn tược cũng như các cô gái dường như đang điểm trang để đón các cuộc vui hè. Qua những gióng vòm cây và ngoài đó, khắp xung quanh, người ta trông thấy trong cánh đồng cỏ con sông vẽ trên nền cỏ những đường uốn khúc đây đó. Sương chiều lan tràn qua các cây bạch dương trụi lá, xóa mờ hình dáng chúng bằng một màu tím, nhạt và trong hơn một thứ vải mỏng tinh vướng trên cành. Đằng xa, đàn gia súc đang đi; người ta chẳng nghe thấy tiếng chúng bước lẫn tiếng chúng kêu; và trong không trung, tiếp tục vang lên, vang mãi tiếng chuông thánh thót êm đềm.

Tiếng chuông rền làm cho tư tưởng người thiếu phụ lạc vào những ký ức xa xưa lúc còn thanh xuân và lúc lưu trú trong nhà tu. Nàng nhớ lại trên bàn thờ những cây đèn nến to, cao vượt những lọ đầy hoa và chiếc khám thờ có cột nhỏ. Nàng những muốn còn được hòa mình, như thuở ấy, trong cái hàng dài những khăn trùm đầu trắng, lác đác điểm đen bởi những chiếc mũ hình nón cứng nhắc của các bà phước cúi mình trên chiếc ghế đọc kinh; ngày chủ nhật, ở cuộc lễ mixa, khi nàng ngẩng đầu lên, nàng bắt gặp nét mặt hiền hậu của Đức Bà đồng trinh, giữa những vòng khói hương mầu lam nhạt bay lên. Thế là lòng nàng bỗng xúc động; nàng cảm thấy mình mềm yếu và bơ vơ như chiếc lông chim quay cuồng trong bão táp; rồi tự mình chẳng biết mình làm gì, nàng bước đến nhà thờ, sẵn sàng chịu bất kỳ sự thụ lễ nào, miễn là nàng uốn được cả tâm hồn vào đó và toàn bộ cuộc sống được tiêu tan trong đó.

Trên quảng trường, nàng gặp Lêtibuđoa từ nhà thờ trở về; vì để khỏi hao ngày công, y thích bỏ dở việc làm, để rồi lại tiếp tục, thành ra y kéo chuông cầu kinh tùy theo sự tiện lợi riêng của y. Vả chăng, chuông kéo sớm báo trước cho các con trẻ giờ giảng đạo đã điểm.

Đã có vài đứa đến trước rồi đang đánh bi trên đá lát nghĩa địa. Mấy đứa khác, cưỡi lên tường, vừa tung chân, vừa lấy giày guốc hủy hoại những cây gai to mọc giữa khoảng đất nhỏ được rào kín và những ngôi mộ cuối cùng. Chỉ duy có chỗ này là xanh, còn toàn là đá, và thường xuyên phủ dày một làn bụi mịn, mặc dầu người giữ kho đồ thánh của nhà thờ vẫn quét.

Những đứa trẻ đi giày vải chạy ở đó như chạy trên sàn nhà làm riêng cho chúng, và người ta thấy tiếng nói lanh lảnh của chúng qua tiếng chuông ngân. Tiếng chuông ấy nhỏ dần cùng với những chấn động của chiếc dây thừng to từ tháp chuông cao rủ xuống quét lê một đầu trên mặt đất. Chim nhạn vừa bay qua, kêu khẽ, rạch không khí bằng đôi cánh mỏng, rồi lại vội trở về tổ vàng của chúng dưới ngói mái hiên. Cuối nhà thờ, một ngọn đèn đang đốt, nghĩa là một ngọn bấc đèn nhỏ thả trong một cái cốc treo. Ánh sáng của nó, từ xa nhìn lại, như một vết trắng mờ rung rinh trên đầu. Một tia nắng dài xuyên qua gian giữa giáo đường làm cho các gian bên và các góc càng tối hơn.

- Cha xứ đâu? Bà Bôvary hỏi một thằng bé đang nghịch lắc cái cửa xoay trong cái lỗ chân quay quá lỏng.

- Cha sắp đến, đứa trẻ đáp.

Quả nhiên, cánh cửa nhà cha xứ rít lên, linh mục Buốcniziêng hiện ra; lũ trẻ hỗn độn, chạy trốn vào trong nhà thờ.

- Những thằng ranh con ấy! Người tu sĩ lẩm bẩm, vẫn chúng nó! Rồi ông ta nhặt một cuốn giáo lý rách bươm mà chân ông ta vừa đá phải, ông ta nói:

- Ngữ này chẳng còn kính nể gì cả!

Nhưng thoạt nhìn thấy bà Bôvary, ông ta nói:

- Bà miễn thứ cho tôi, tôi đã không nhận ra bà.

Ông ta nhét cuốn giáo lý vào túi rồi đứng lại, tiếp tục lúc lắc giữa hai ngón tay cái chìa khóa nặng của kho đồ thánh.

Ánh nắng chiều tà rọi vào giữa mặt ông ta làm mờ lần vải len bóng của chiếc áo thầy tu của ông ta, bóng nhoáng ở khuỷu tay rách xơ ở phần dưới. Những vết mỡ và vết thuốc lá chạy trên chiếc ngực rộng của ông linh mục theo đường khuy nhỏ, và những vết đó càng ngày càng nhiều khi rời xa miếng vải đeo trước ngực, dưới đó ẩn rất nhiều nếp nhăn của làn da đỏ của ông ta lấm tấm những vết vàng mà những sợi cứng của bộ râu cằm hoa râm che khuất. Ông ta vừa ăn xong, ông ta thở phì phò.

- Sức khỏe của bà thế nào? Ông ta nói tiếp.

- Kém ạ, Emma đáp; tôi khó chịu.

- Này! Tôi cũng vậy, ông linh mục lại nói. Những cơn nóng bức đầu tiên này làm bà mệt nhoài ra một cách lạ lùng phải không ạ? Nhưng bà tính sao! Chúng ta sinh ra là để chịu khổ như thánh Pôn đã nói. Nhưng ông Bôvary, ông ấy nghĩ thế nào về chuyện này?

- Ông ấy! Nàng đáp với một dáng điệu khinh miệt.

- Sao! Ông linh mục sửng sốt nói. Ông ấy không cho bà dùng thuốc gì à?

- Ôi! Emma đáp, thuốc thang của trần thế chẳng phải là loại thuốc cần cho tôi.

Nhưng ông linh mục chốc chốc lại nhìn vào nhà thờ, trong đó tất cả lũ trẻ đang quỳ gối hích nhau bằng vai rồi ngã chồng lên nhau...

- Tôi muốn được biết..., nàng lại nói.

- Đợi đấy, đợi đấy, Ribuđê ạ, ông linh mục giận dữ quát lên, tao bạt tai mày bây giờ, thằng mất dạy!

Rồi quay về phía Emma:

- Nó là con trai anh thợ mộc Buđê, cha mẹ nó sống phong lưu và để mặc cho nó làm theo sở thích. Tuy nhiên, nó học nhanh, nếu nó muốn, vì nó rất thông minh. Còn tôi, đôi khi để đùa, tôi gọi nó là Ribuđê (như con đường bờ biển phải qua để đến Marôm), và thậm chí tôi gọi: Ribuđê của tôi. Ha! Ha! Mông Ribuđê 1 ! Hôm nọ, tôi kể chuyện này vói đức Cha, đức Cha đã cười... đức Cha đã hạ cố cười.

- Thế ông Bôvary, ông ấy có khỏe mạnh không?

Nàng hình như không nghe thấy. Ông ta lại nói tiếp:

- Ông nhà ta luôn bận lắm, thì phải? Vì ông nhà ta và tôi, chúng tôi chắc chắn là hai người có nhiều việc hơn cả trong giáo khu. Nhưng ông nhà ta, ông ấy là người chữa bệnh phần xác, còn tôi - Ông linh mục nói thêm với một cái cười thô lỗ - tôi là người chữa bệnh phần hồn!

Nàng chòng chọc nhìn tu sĩ bằng cặp mắt van xin:

- Vâng, nàng nói, cha làm khuây mọi nỗi đau khổ.

- Ôi! Bà đừng nói điều ấy với tôi, bà Bôvary! Ngay sáng nay, tôi phải đi đến Baođiôvin vì một con bò cái bị sưng phù lên; họ cho là tại số. Tất cả bò cái của họ, tôi không hiểu sao... Nhưng, xin lỗi bà! Lônggơma và Buđê! Đồ ranh! Chúng bay có thôi không nào!

Rồi, ông ta nhảy xổ vào trong nhà thờ.

Lũ trẻ con, lúc bấy giờ, đang chen nhau quanh một cái giá sách lớn, trèo lên ghế đẩu của người hát lễ, mở sách kinh ra; và những đứa khác thì rón rén đi liều đến tận phòng xưng tội. Nhưng ông linh mục, bất thình lình, tát chúng như mưa. Nắm chúng bằng cổ áo, ông ta nhấc bổng chúng lên khỏi mặt đất rồi đặt chúng quỳ một cách mạnh mẽ trên gạch lát chỗ hát kinh như muốn chôn chân chúng vào đấy.

Khi trở lại gần Emma, ông ta vừa nói vừa giở chiếc mùsoa to bằng vải chúc bâu in hoa mà ông ta cắn một góc vào răng:

- Nào, chúng ta tiếp tục. Dân cày thực đáng than phiền!

- Còn những người khác nữa, nàng đáp.

- Hẳn rồi! Dân thợ thành thị, chẳng hạn.

- Không phải họ...

Bà tha lỗi cho tôi! Tôi đã biết ở đó có nhũng bà mẹ gia đình đáng thương, những người đàn bà đức hạnh, tôi nói chắc với bà như thế, quả là những bậc thánh, họ thiếu cả bánh mì ăn.

- Nhưng những phụ nữ, Emma tiếp lời, (và khóe mép nàng nhăn lại khi nói) những phụ nữ, thưa ông linh mục, có bánh mà chẳng có...

- Chẳng có gì sưởi lúc mùa đông, ông linh mục nói.

- Ô! Thì đã sao?

- Thế này! Thì đã sao ư? Đối với tôi, tôi thấy hình như khi người ta được ấm áp, được no bụng thì... vì, cuối cùng...

- Trời ơi! Trời ơi! Nàng thở dài.

- Bà khó ở ư? Ông ta vừa hỏi vừa tiến lại, vẻ lo lắng. Chắc chắn là do tiêu hóa không ổn? Bà Bôvary ạ, bà phải về nhà uống nước chè hoặc một cốc nước mát với đường, bà sẽ khỏe ra.

- Sao vậy?

Và nàng có vẻ như người vừa tỉnh mộng.

- Là vì bà vừa đưa tay lên trán. Tôi tưởng bà bị choáng.

Rồi ông linh mục thay đổi ý kiến:

- Mà bà định hỏi tôi điều gì phải không? Điều gì vậy? Tôi không biết nữa.

- Tôi ấy ư? Chẳng có gì cả... chẳng có gì cả..., Emma nhắc đi nhắc lại.

Nàng đưa cặp mắt nhìn quanh nàng rồi thong thả hướng chúng về phía ông già mặc áo thầy tu. Cả hai người quan sát nhau, mặt đối mặt, không nói. Cuối cùng ông linh mục lên tiếng:

- Thế thì, bà Bôvary, bà miễn lỗi cho. Nhưng bổn phận trước hết, bà biết đó; tôi phải làm cho xong việc lũ trẻ của tôi. Những cuộc lễ rửa tội đầu tiên sắp tới rồi đấy. Chúng tôi sẽ còn gặp điều bất ngờ, tôi sợ thế! Cho nên bắt đầu từ lễ Thăng Thiên, tôi sẽ thẳng cánh giữ chúng ở lại mỗi thứ tư thêm một giờ. Những đứa trẻ đáng thương này! Hướng dẫn chúng vào con đường của Chúa không bao giờ là quá sớm như chính Chúa đã khuyên răn ta qua miệng người con trai linh thiêng của Chúa... Chúc bà mạnh khỏe; xin gửi lời kính thăm ông nhà ta.

Và ông linh mục vào trong nhà thờ, thụp xuống lễ ngay từ cửa.

Emma thấy ông ta mất hút giữa hai hàng ghế dài, chân bước nặng nề, đầu hơi nghiêng xuống vai, hai bàn tay hé mở chìa ra ngoài.

Rồi nàng quay phắt người trên đôi gót như bức tượng xoay trên một cái trụ và lên đường về nhà nhưng tiếng nói oang oang của ông linh mục, giọng nói trong trẻo của lũ trẻ vẫn còn vẳng tới tai nàng, tiếp tục vang lên ở phía sau nàng:

- Con có là con Chiên không?

- Có, con là con Chiên.

- Thế nào là một con Chiên?

- Đó là một người đã được rửa tội..., rửa tội..., rửa tội... Nàng vừa leo lên bậc cầu thang vừa vịn lan can rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế bành khi vào tới buồng.

Ánh sáng hơi trắng của những khung cửa kính chập chờn một cách êm dịu. Đồ đạc dường như càng trở nên bất động tại chỗ và mất đi trong bóng tối như trong một đại dương u ám. Lửa trong lò sưởi đã tắt, chiếc đồng hồ quả lắc vẫn đánh và Emma sửng sốt một cách mơ hồ trước sự yên tĩnh ấy của mọi vật, khi chính bên trong con người nàng có bao nhiêu sự đảo lộn. Nhưng, giữa cửa sổ và bàn khâu, con bé Béctơ ở đó đang chập choạng trên đôi giày cao cổ bằng sợi đan, cố đi lại gần mẹ để nắm lấy đầu dải buộc tạp dề của mẹ.

- Để mẹ yên! Người mẹ vừa nói vừa lấy tay gạt con ra.

Con bé liền sán lại gần đầu gối mẹ hơn nữa; rồi tựa tay vào đó, nó ngước cặp mắt to xanh của nó lên nhìn mẹ trong khi một dòng nước dãi trong chảy từ môi nó xuống nền lụa tạp dề.

- Để mẹ yên! Người thiếu phụ, hết sức bực dọc, nhắc lại.

Nét mặt nàng khiến đứa bé hoảng sợ, kêu thét lên.

- Này, để mẹ yên nào! Nàng vừa nói vừa lấy khuỷu tay đẩy con ra.

Con bé Béctơ ngã xuống chân tủ ngăn, đập mặt vào cái móc bằng đồng; má nó, bị toạc chảy máu. Bà Bôvary lao tới nâng nó dậy, giật đứt dây chuông, lấy hết hơi sức hét gọi người hầu gái, và nàng sắp nguyền rủa mình thì Sáclơ hiện ra. Lúc ấy đã đến giờ ăn chiều, Sáclơ về.

- Anh trông kia kìa, anh bạn thân thiết ạ, Emma nói với hắn bằng một giọng bình tĩnh: con bé đang chơi thì ngã xuống đất bị thương đấy.

Sáclơ bảo nàng cứ yên tâm, trường hợp này không chút nguy hiểm, rồi hắn đi kiếm thuốc cao dán.

Bà Bôvary không xuống phòng ăn; nàng muốn ở lại một mình trông con. Vào lúc đó nàng ngắm con ngủ, cái điều nàng lo ngại tan dần, và nàng tự thấy mình khá ngốc và khá hiền, ban nãy chỉ có một việc nhỏ nhặt như thế mà cũng cuống cả lên. Quả thực Béctơ không nức nở nữa. Bây giờ, hơi thở của con bé không còn nâng chiếc chăn bông lên. Những giọt nước mắt to tướng đọng ở khóe mắt hé mở để lộ giữa những hàng mi hai đồng tử xanh nhợt, sâu hút; lá thuốc cao dán trên má, kéo chếch làn da căng thẳng.

- Thật là một điều kỳ lạ, Emma thầm nghĩ, con bé này mới xấu làm sao!

Vào lúc mười một giờ đêm, khi Sáclơ ở hiệu thuốc trở về (anh đến đó, sau bữa cơm tối, trả lại thuốc cao còn thừa), anh thấy vợ đứng gần cái nôi.

- Anh đã bảo em là không hề gì cả, hắn vừa nói vừa hôn trán vợ; tội nghiệp em yêu, em đừng lo lắng, khéo em lại đâm ốm mất thôi!

Hắn đã ở lại lâu bên nhà tay dược sĩ. Tuy ở đó hắn không tỏ ra bị xúc động lắm, ông Hôme vẫn cứ cố gắng làm cho hắn vững tâm, lấy lại tinh thần. Thế là họ nói chuyện về mọi điều nguy hiểm đe dọa trẻ em và tính khinh suất của kẻ hầu người hạ. Bà Hôme đã từng biết về cái đó, vì bà hãy còn mang trên ngực vết tích của hòn than hồng mà chị nấu bếp, xưa kia đã để rơi vào chiếc áo phủ ngoài của bà thuở bà còn bé. Cho nên hai cụ thân sinh phúc đức của bà đã có lắm cách đề phòng. Dao không bao giờ được mài sắc, sàn nhà các phòng không bao giờ được đánh xi. Cửa sổ phải có chấn song sắt và khung lò sưởi phải có rào chắn khỏe. Lũ con của ông bà Hôme, tuy không bị kiềm chế, nhưng làm gì cũng phải có người trông coi ở đằng sau; chúng sổ mũi một chút là ông bố đã tống thuốc bổ cho chúng, và đến tận lúc hơn bốn tuổi, chúng vẫn luôn luôn phải đội những mũ vải dày cộm bông. Đó thật ra là thói tẩn mẩn của bà Hôme; chồng bà trong thâm tâm phiền muộn về chuyện này, vì sợ một lối áp chế như thế có thể có hậu quả tới cơ quan trí tuệ, và y đã thốt ra với bà ta:

- Vậy thì mình định biến chúng thành dân mọi Caraip hay Bôtôquyđôt à?

Sáclơ đã nhiều lần toan ngắt câu chuyện.

- Tôi có điều muốn nói với ông, hắn nói thầm vào tai viên luật sư tập sự bắt đầu đi vượt lên trước mặt hắn lúc ở thang gác.

- Ông ta ngờ điều gì chăng? Lêông thầm hỏi. Tim anh ta đập mạnh và anh ta miên man đoán phỏng.

Cuối cùng, Sáclơ, sau khi đã đóng cửa lại, nhờ Lêông đích thân xem hộ ở Ruăng chụp một tấm ảnh đẹp theo phép chụp bóng vào bản bạc là bao nhiêu; đó là một món quà tình cảm bất ngờ mà hắn dành cho vợ bức chân dung của hắn mặc áo lễ, một sự lưu ý tế nhị. Nhưng hắn muốn biết trước sự thể thế nào đã; Lêông không ngần ngại về những cuộc vận động ấy, vì gần như tuần nào anh ta cũng ra tỉnh.

Lên tỉnh nhằm mục đích gì? Hôme ngờ trong đó có chuyện trai gái, chuyện dan díu bí mật với bọn gái điếm. Nhưng y nhầm; Lêông không theo đuổi một cuộc yêu đương chốc lát nào cả. Hơn bao giờ hết, anh ta buồn, và mụ Lơfrăngxoa thấy rõ điều đó qua số lượng thức ăn mà bây giờ anh ta để lại trên đĩa. Muốn biết rõ hơn, mụ hỏi tay thu thuế. Binê, bằng một giọng xấc láo, trả lời là ông ta không ăn lương của sở mật thám.

Song, anh bạn của ông ta xem ra có vẻ kỳ lắm vì thường thường Lêông ngả người trên ghế vừa dang hai tay ra vừa phàn nàn bâng quơ về cuộc sống.

- Đó là vì anh chẳng chịu giải trí chút ít đấy thôi, tay thu thuế nói.

- Giải trí cách nào?

- Tôi mà như anh thì tôi sẽ sắm một máy tiện!

- Nhưng tôi không biết tiện, viên luật sư tập sự trả lời.

- Ờ! Quả vậy! Ông kia vừa xoa cằm, vừa đáp bằng một vẻ khinh người lẫn tự mãn.

Lêông chán nản vì yêu mà không kết quả; rồi anh ta bắt đầu cảm thấy nỗi buồn sinh ra bởi cuộc sống lặp đi lặp lại khi chẳng có một niềm hứng thú nào chi phối nó và chẳng có một niềm hy vọng nào nâng đỡ nó. Anh ta quá chán ghét thị trấn Yôngvin và những người dân Yôngvin đến nỗi cứ trông thấy một số người, một số nhà cửa là anh ta đã bực mình không chịu được; và tay dược sĩ, hiền lành là thế đã trở thành kẻ mà anh ta hoàn toàn không chịu nổi. Tuy nhiên cái viễn cảnh của một tình thế mới làm anh ta sợ hãi cũng như quyến rũ anh ta.

Mối lo ngại ấy đổi nhanh thành sự sốt ruột, và thành phố Pari ở nơi xa, lúc bấy giờ, rung lên cho anh ta tiếng kèn của những cuộc khiêu vũ hóa trang với nụ cười của những gã trai lơ. Sao anh ta lại không đi? Vì anh ta phải kết thúc khóa luật ở đó; Ai ngăn cản anh? Thế là anh ta bắt đầu sắm sửa ngấm ngầm; anh ta xếp đặt trước các công việc của mình. Trong đầu óc, anh ta bài trí sẵn một gian phòng. Anh ta sẽ sống ở đó một cuộc sống nghệ sĩ! Anh ta sẽ học đàn ghita ở đó! Anh ta sẽ có một chiếc áo dài mặc nhà, một chiếc mũ nồi kiểu Baxcơ, đôi giày vải bằng nhung xanh! Và thậm chí anh ta đã ngắm nghía hai thanh gươm bắt chéo với một chiếc sọ người và cây đàn ghita treo bên trên lò sưởi.

Cái khó là bà mẹ anh ta có đồng ý hay không; tuy nhiên chẳng có gì có vẻ hợp lý hơn. Ngay cả ông thầy đỡ đầu anh ta cũng khuyên anh ta tìm một phòng khác nơi anh có thể phát triển được tài năng hơn. Thế là tính một nước trung độ, Lêông tìm một ghế luật sư tập sự phụ ở Ruăng mà chẳng ra; sau cùng anh ta viết cho mẹ một bức thư dài đầy chi tiết, trong thư anh trình bày những lý do phải đến Pari ở ngay. Bà mẹ bằng lòng.

Anh ta chẳng vội. Ngày nào cũng vậy, suốt một tháng trời, Ive chuyên chở hộ anh từ Yôngvin đến Ruăng, từ Ruăng đến Yôngvin nào hòm, nào vali, nào gói; và khi Lêông đã cho dựng lại tủ quần áo, nhồi lại ba chiếc ghế bành, mua trữ một số khăn quàng, nói tóm lại, trù liệu đầy đủ hơn cả việc trù liệu cho một cuộc du lịch vòng quanh thế giới, anh ta hoãn hết tuần này sang tuần khác cho đến khi anh nhận được bức thư thứ hai của mẹ anh ta giục anh ta đi ngay, vì anh ta muốn dự kỳ thi trước vụ nghỉ hè.

Đến lúc ôm hôn từ biệt, bà Hôme khóc; Juyxtanh nức nở; ông Hôme, ra dáng người có nghị lực, che giấu nỗi xúc động của mình. Y muốn tự mình mang cái áo khoác của bạn đến tận cửa rào nhà viên quản lý văn khế, ông này tiễn đưa Lêông đi Ruăng bằng xe của ông ta. Lêông còn vừa đủ thời giờ đến chào từ biệt ông Bôvary.

Khi anh ta lên đến đầu thang gác, anh ta dừng lại vì anh ta cảm thấy hết hơi. Lúc anh ta bước vào, bà Bôvary vùng đứng dậy.

- Lại vẫn là tôi! Lêông nói.

- Tôi đã biết chắc thế!

Nàng cắn môi, và một luồng máu chạy dưới làn da nàng nhuộm làn da này đỏ hồng từ chân tóc đến tận mép chiếc khăn choàng cổ của nàng. Nàng vẫn đứng tựa vai vào ván lát tường.

- Thế ra ông nhà không có đây ư? Anh ta hỏi tiếp.

- Nhà tôi đi vắng.

Nàng nhắc lại:

- Nhà tôi đi vắng.

Liền đó là một sự im lặng. Họ nhìn nhau; và ý nghĩ của họ, hòa chung trong một nỗi buồn khổ, quyện chặt vào nhau đôi lồng ngực phập phồng.

- Tôi muốn được hôn cháu Béctơ. Lêông nói.

Emma bước xuống mấy bực thang và nàng gọi Fêlixitê.

Anh ta vội đưa mắt nhìn thoáng qua những bức tường, những chiếc giá kê, cái lò sưởi quanh anh ta như để thâm nhập tất cả, mang theo tất cả.

Nhưng nàng lại trở vào, và người hầu gái dẫn Béctơ đến, đứa bé đang rung rung ở đầu một sợi dây một cái cối xay gió chúc đầu xuống đất.

Lêông hôn nhiều lần vào cổ đứa bé.

- Từ biệt bé thương! Từ biệt bé quý, từ biệt!

Rồi anh ta trao trả đứa bé cho mẹ nó.

- Dẫn nó đi! Người mẹ bảo.

Họ còn lại hai người với nhau.

Bà Bôvary đứng quay lưng lại, mặt áp vào một ô cửa kính; Lêông cầm mũ cát két ở tay rồi đập nhẹ mũ dọc đùi.

- Trời sắp mưa, Emma nói.

- Tôi có áo tơi, anh ta đáp.

- À!

Nàng quay mặt đi, cằm cúi xuống và trán đưa về phía trước. Ánh sáng lướt qua trên đó như lướt trên đá hoa, lướt đến tận đường cong lông mày mà người ta chẳng thể biết được Emma nhìn gì ở phía chân trời và nàng nghĩ gì trong đáy lòng nàng.

- Thôi, vĩnh biệt! Anh ta thở dài.

Nàng ngửng đầu lên đột ngột:

- Vâng, vĩnh biệt... ông đi đi!

Họ tiến lại gần nhau: anh ta giơ tay, nàng ngập ngừng.

- Theo kiểu Anh vậy, nàng vừa nói vừa bỏ thõng tay mình và cố gắng cười.

Lêông cảm thấy tay nàng giữa ngón tay mình, và dường như chính cái thể chất của cả con người anh ta dồn xuống lòng bàn tay ướt át kia.

Rồi anh ta mở bàn tay ra; mắt họ còn gặp nhau, và anh đi mất.

Đến khu chợ, anh ta ngừng lại, và ẩn sau một cái cột, để ngắm lại một lần cuối ngôi nhà trắng ấy với bốn bức mành xanh của nó. Anh ta tưởng chừng nhìn thấy có bóng người sau cửa sổ trong buồng nhưng bức rèm như tự động tuột ra khỏi cái móc, lay động từ từ những nếp chéo dài, đùng một cái tỏa rộng ra, thế là người anh ta thẳng đuỗn và bất động hơn cả một bức tượng bằng thạch cao. Lêông liền bỏ chạy.

Từ xa anh ta nhìn thấy, trên đường cái chiếc xe độc mã của người thầy đỡ đầu và, ở bên cạnh, có một người ngực đeo miếng vải đang giữ ngựa. Hôme và ông Guyômanh đang trò chuyện với nhau. Họ đợi anh ta.

- Ôm hôn tôi đi, tay dược sĩ nói, nước mắt vòng quanh. Áo choàng của anh kia, anh bạn tốt của tôi phải cẩn thận kẻo rét đấy! Hãy chăm sóc bản thân, giữ gìn sức khỏe nhé!

- Thôi. Lêông, lên xe đi! Viên quản lý văn khế nói.

Hôme nghiêng mình trên chiếc chắn bùn và, giọng nói ngắt quãng vì nức nở, buông ra mấy tiếng buồn rầu này:

- Chúc anh lên đường bình yên!

- Chào ông, ông Guyômanh đáp. Buông nhau ra, cả hai người!

Họ đi và Hôme quay về.

° ° °

Bà Bôvary đã mở cửa sổ trông ra vườn. Và nàng nhìn đám mây.

Mây tụ lại ở hướng tây, phía Ruăng, rồi cuồn cuộn trôi nhanh. Những tia nắng mặt trời phía sau chiếu qua như những mũi tên vàng của một giá binh khí treo lơ lửng, bầu trời quang còn lại mảng mầu trắng của đồ sứ. Nhưng một luồng gió mạnh làm ngả những cây bạch dương, và đột ngột trời đổ mưa; mưa rơi lộp độp trên những tầu lá xanh. Rồi mặt trời lại xuất hiện, gà mái cục te cục tác, chim sẻ vỗ cánh trong những bụi cây ẩm ướt, và những vũng nước trên cát chảy đi cuốn theo những cánh hoa màu hồng của cây xiêm gai.

- Ôi! Chắc là anh ta đã ở xa rồi! Nàng nghĩ.

Ông Hôme, như thường lệ, đến vào lúc sáu giờ rưỡi, giữa bữa cơm chiều.

- Này! Y vừa nói vừa ngồi xuống, hồi nãy chúng tôi đã tiễn chàng trẻ tuổi của chúng ta lên xe.

- Chừng thế! Người thầy thuốc đáp.

Rồi, xoay mình trên ghế, hắn nói tiếp:

- Thế bên ông có gì lạ không?

- Chả có gì lạ. Chỉ có nhà tôi lúc chiều hơi xúc động. Ông biết đấy, đàn bà, động một tí là bối rối! Nhất là nhà tôi! Mà ai bực mình về chuyện đó là sai vì hệ thần kinh của họ mềm yếu hơn hệ thần kinh của chúng ta nhiều.

- Cái anh chàng Lêông tội nghiệp ấy! Sáclơ nói, anh ta sẽ sống ở Pari ra sao!... Liệu anh ta có quen được với nơi đó không?

Bà Bôvary thở dài.

- Thôi đi! Tay dược sĩ tặc lưỡi nói. Những cuộc vui chơi thanh nhã ở nhà chủ quán! Những cuộc khiêu vũ hóa trang! Rượu sâm banh! Tất cả những chuyện đó sẽ tới, tôi cam đoan với ông.

- Tôi không tin là anh ta tự rước bận vào người, ông Bôvary phản đối.

- Tôi cũng thế! Ông Hôme đáp lại mạnh mẽ, mặc dầu anh ta cũng phải làm theo kẻ khác để khỏi bị coi là một thầy tu. Ông phải biết cuộc sống của những tay chơi bời ấy cùng với các đào hát ở xóm La tinh! Vả lại, sinh viên ở Pari rất được coi trọng. Họ mà có chút ít tài hoa là người ta tiếp nhận họ vào các chỗ hội hè tốt nhất, và thậm chí cả những bà mệnh phụ khu phố Xanh Giécmanh đã phải lòng họ; do đó, về sau, họ có cơ hội cưới vợ rất khá giả.

- Nhưng, người thầy thuốc nói, tôi sợ cho anh ta là... ở đó...

- Ông nói đúng, tay dược sĩ ngắt lời, đấy là cái mặt trái của sự đời! Và ở đó người ta buộc không ngừng để tay lên túi tiền của mình, như ông ở trong một công viên, tôi thí dụ thế! Một người nào đó xuất hiện, ăn mặc chỉnh tề, đeo cả huy chương nữa, mà người ta cho là một nhà ngoại giao; anh ta lại gần, chào hỏi ông; ông bắt chuyện; anh ta len lỏi gây cảm tình, biếu ông điếu thuốc lá, hoặc nhặt giúp ông cái mũ. Rồi hai người gắn bó với nhau hơn; anh ta dẫn ông tới tiệm cà phê, mời ông về thăm nhà nghỉ mát của anh ta ở nông thôn, buộc ông giữa hai chầu rượu làm quen với đủ mọi người và ba phần tư thời gian chỉ là để đánh cắp túi tiền của ông hoặc lôi cuốn ông vào những hành động nguy hiểm.

- Quả vậy, Sáclơ đáp; nhưng tôi nghĩ trước hết đến những bệnh tật, bệnh sốt thương hàn chẳng hạn, nó đánh vào những sinh viên ở các tỉnh nhỏ.

Emma rùng mình.

- Do sự thay đổi chế độ ăn uống, tay dược sĩ tiếp, và do sự hỗn loạn bắt nguồn từ nền kinh tế chung. Và rồi nước ăn ở Pari, ông thấy không! Các món ăn ở hàng quán, tất cả các thực phẩm đầy gia vị ấy, cuối cùng, làm nóng máu ông lên và, người ta muốn nói gì thì nói, cũng chẳng bằng được món thịt hầm ngon lành. Phần tôi, tôi bao giờ cũng thích các món ăn gia đình, nó ngon lành hơn! Bởi vậy, khi tôi học dược ở Ruăng, tôi đã ở trọ trong một ký túc xá; tôi cùng ăn với các giáo sư.

Thế rồi ông ta liên tục trình bày các ý kiến chung và các cảm tình riêng của mình cho đen tận lúc Juyxtanh đến tìm ông ta về làm món trứng đường cần phải làm.

- Không lúc nào yên thân! Ông ta thốt lên. Bao giờ cũng như cầm tù! Tôi không thể ra khỏi nhà được một phút! Cứ như con ngựa cày phải đổ mồ hôi sôi nước mắt! Thật là cực khổ!

Rồi, khi ra tới cửa, ông ta còn nói:

- À, ông có biết tin gì không?

- Tin gì cơ?

Ông Hôme, vừa cau mày vừa lấy vẻ mặt rất đỗi nghiêm trang đáp:

- Rất có thể hội nghị nông nghiệp của quận Xen họ sẽ họp năm nay ở Yôngvin Labay. Ít ra cũng đã có tin đồn như vậy. Sáng nay, báo ra hàng ngày đã đả động đến. Chuyện này, đối với quận ta, là quan trọng bực nhất đấy! Nhưng ta sẽ nói chuyện sau. Tôi trông thấy rõ, xin cảm ơn ông; Juyxtanh có mang đèn theo rồi.

--------------------------------

1

Lối nói đồng âm dị nghĩa. Mông Ribuđê (Mon Riboudet): Ribuđê của tôi và Mông Ribuđê (Mont-Riboudet): núi Ribudê.

Chương 7

Hôm sau, đối với Emma, là một ngày ảm đạm. Tất cả dường như bị bao phủ bởi một bầu không khí buồn thảm, chập chờn không rõ rệt bên ngoài mọi vật, và nỗi phiền muộn ùa vào tâm hồn nàng với những tiếng rít khe khẽ như gió mùa đông luồn vào các lâu đài bỏ vắng. Đó là sự mơ tưởng vẩn vơ về điều gì không trở lại nữa, cái chán nản mà người ta cảm thấy sau mỗi sự việc đã xảy ra rồi, nói tóm lại, đó là nỗi đau đớn đến với họ do sự đoạn tuyệt với mọi cử động đã quen, sự đình chỉ đột ngột của một sự rung động kéo dài.

Cũng như hồi ở lâu đài Vôbyétxa về, khi những điệu nhạc khiêu vũ còn quay cuồng trong đầu óc, nàng cảm thấy nỗi buồn rười rượi, một niềm tuyệt vọng tái tê. Lêông lại xuất hiện to lớn hơn, đẹp đẽ hơn, dễ thương hơn, mơ hồ hơn; dẫu rằng anh ta đã xa cách nàng, anh ta không rời bỏ nàng, anh ta còn đó, và những bức tường nhà dường như còn giữ lại hình bóng anh ta. Nàng không thể rời mắt khỏi bức thảm trên đó, anh ta đã bước đi, những chiếc ghế trống mà anh ta đã ngồi. Dòng sông con vẫn chảy và thong thả xô đẩy những làn sóng nhỏ của nó dọc đôi bờ dễ trượt. Họ đã dạo chơi trên đó nhiều lần, vẫn giữa tiếng nước róc rách ấy, trên những hòn sỏi phủ rêu. Họ đã qua những ngày nắng ấm xiết bao! Những buổi chiều hè dễ chịu biết chừng nào, chỉ có hai người, dưới bóng mát, cuối vườn! Anh ta cất cao giọng đọc sách, đầu trần, mình ngồi trên ghế ghép bằng những đoạn gỗ khô! Gió mát từ đồng cỏ làm rung động những trang sách và những cành hoa kim liên trên giàn. Ôi! Anh ta đã đi mất, niềm vui thú duy nhất của đời nàng, mối hy vọng duy nhất về hạnh phúc có thể thực hiện được! Sao nàng chẳng nắm lấy cái hạnh phúc đó khi nó hiện ra! Sao chẳng lấy hai tay, hai đầu gối mà giữ nó lại, khi nó muốn chạy trốn? Rồi nàng tự nguyền rủa mình đã chẳng yêu Lêông! Nàng khao khát cặp môi của anh ta. Nàng những muốn chạy đuổi kịp anh ta, lao mình vào cánh tay anh ta, bảo anh ta rằng: "Em đây, em thuộc về anh!". Nhưng Emma lúng túng trước vì những nỗi khó khăn của việc làm, và những ham muốn của nàng, cộng thêm sự hối tiếc, chỉ càng làm cho nàng thêm háo hức.

Từ đó, nỗi nhớ Lêông như là trung tâm mối buồn của nàng; nó sáng ngời ở đó hơn cả ngọn lửa của khách đi đường bỏ lại trên tuyết trong một thảo nguyên. Nàng lao mình vào nó, nàng nép mình vào nó, nàng thận trọng khêu lại cái lò sắp tàn đó, nàng đi tìm khắp mọi chỗ quanh nàng cái gì có thể làm nó cháy rực hơn; và những hồi tưởng xa xăm nhất cũng như những cơ hội gần gũi nhất, cái nàng cảm thấy với cái nàng tưởng tượng, những thèm muốn khoái lạc đã tản mạn, những dự tính về hạnh phúc đã kêu răng rắc trước gió như những cành khô, cái đức hạnh vô bổ của nàng, những hy vọng rơi rụng của nàng, cái rơm rác trong nhà, nàng nhặt tất, lấy tất và dùng tất để hâm nóng lại mối u buồn của nàng.

Song, những ngọn lửa đó dịu đi, hoặc vì chất đốt dự trữ đã cạn đi, hoặc vì nó được chồng chất quá nhiều. Tình yêu đã tắt đi và xa vắng, tiếc thương đã mất đi vì thói quen; và ánh lửa cháy đỏ bầu trời xanh nhạt của nàng đã bị bóng tối kéo đến xóa dần dần. Trong tình trạng trì trệ của ý thức, nàng thậm chí đã lẫn lộn lòng ghét bỏ chồng với những khát vọng về tình nhân, lẫn lộn những cái cháy bỏng của căm hờn với những cái nồng nhiệt của tình yêu; nhưng vì cơn dông cứ thổi mãi, dục vọng đã tiêu hủy đến tro tàn, vì chẳng có sự chạy chữa nào tới, chẳng có ánh sáng nào ló ra, nên khắp bốn bề đêm tối mịt mùng, và nàng bị hút vào một cơn gió lạnh khủng khiếp xuyên qua người nàng.

Thế là những ngày bi thảm ở Tôxtơ lại bắt đầu trở lại. Lúc này, nàng thấy mình khổ sở hơn nhiều vì nàng đã kinh qua nỗi đau buồn mà nàng tin chắc nó chẳng bao giờ chấm dứt.

Một người đàn bà đã tự bắt mình phải chịu những hy sinh to lớn như thế rất có thể cho phép mình làm những chuyện ngông cuồng. Nàng sắm cho mình một cái ghế cầu kinh kiểu cũ, nàng bỏ ra mỗi tháng mười bốn quan tiền để mua chanh rửa móng tay; nàng viết thư đi Ruăng để kiếm một chiếc áo dài bằng lông dê pha len xanh; nàng kén ở cửa hàng Lơrơ một khăn quàng đẹp nhất; nàng thắt nó ra ngoài chiếc áo dài mặc trong nhà của nàng; và, cửa đóng lại, tay cầm một cuốn sách, nàng nằm dài trên ghế trường kỷ, với lối ăn mặc nhố nhăng như thế.

Lắm khi nàng thay đổi cách kết tóc: Khi thì theo kiểu Trung Quốc, khi thì uốn mềm, khi thì kết bím; nàng rẽ đường ngôi bên và cuộn tóc ở phía dưới lên như một người đàn ông.

Nàng muốn học tiếng Ý; nàng mua nhiều từ điển, một cuốn ngữ pháp, một ít giấy trắng dự trữ. Nàng thử đọc những loại sách đúng đắn, sử ký và triết học. Ban đêm, đôi khi, Sáclơ choàng tỉnh dậy, tưởng có người đến tìm mình đi thăm bệnh nhân:

- Tôi đi đây, hắn lúng búng nói.

Và đó là tiếng diêm Emma đánh để thắp đèn. Nhưng sách đọc cũng như thảm dệt, cái nào cũng là cái nàng mới bắt đầu làm, chất đầy tủ áo; nàng mở chúng ra, rồi bỏ chúng đấy, chuyển sang những cái khác.

Nàng có những cái hăng quá đáng, dễ bị người ta xô đẩy đến những hành động ngông cuồng. Một hôm để đối chọi với chồng, nàng quả quyết nàng uống được nửa cốc to rượu mạnh và nàng, đã uống cạn khi Sáclơ đã ngu xuẩn thách thức nàng.

Mặc dầu nàng hay đùa giỡn (đó là lời của các bà tử tế ở Yôngvin), Emma vẫn không tỏ ra vui vẻ, và thường lệ ở khóe miệng nàng đọng lại một vết co không thay đổi, nó làm nhăn nhúm mặt các cô gái có tuổi và mặt những kẻ tham lam bất mãn. Người nàng xanh xao, xanh như tàu lá; da mũi kéo về phía lỗ mũi, mắt nhìn người một cách mơ hồ. Mới mấy cái tóc bạc lộ ra ở hai bên thái dương, nàng đã nói đến chuyện nàng già.

Nhiều lần nàng thấy nàng suy nhược. Thậm chí một hôm, nàng khạc ra máu. Sáclơ tất tả chạy lại, có vẻ lo lắng:

- Ô hay! Nàng nói, cái đó có sao?

Sáclơ lánh sang phòng làm việc rồi hắn ngồi vào chiếc ghế bành, hắn khóc, hai khuỷu tay tì trên mặt bàn, bên dưới cái sọ não tướng học.

Hắn liền viết thư mời mẹ hắn tới, và hai người cùng nhau bàn bạc rất lâu về Emma.

Giải quyết ra sao? Làm gì bây giờ vì nàng từ chối mọi sự điều trị.

- Anh có biết vợ anh cần gì không? Bà Bôvary mẹ nói. Cần loại công việc cưỡng bức, cần thứ lao động chân tay! Nếu nó cũng như bao đứa khác, buộc phải kiếm lấy miếng ăn, nó đã chẳng có những ám ảnh hão huyền do hàng đống tư tưởng nhồi nhét vào đầu óc nó và do cảnh ăn không ngồi rồi của nó.

- Song nhà con cũng bận, Sáclơ nói.

- À! Nó bận! Bận gì nào? Bận xem tiểu thuyết, đọc những cuốn sách tệ hại; những cuốn sách chống tôn giáo trong đó họ nhạo báng các mục sư bằng những lời lẽ trích ra từ Vônte. Tất cả những cái đó đưa đi xa đấy, con trai đáng thương của mẹ ạ, và kẻ nào vô tôn giáo cuối cùng bao giờ cũng đâm ra hư hỏng.

Thế là họ quyết định ngăn không cho Emma đọc tiểu thuyết. Công việc xem chừng chẳng dễ. Bà mẹ nhận phần: khi nào qua Ruăng, bà phải thân hành đến nhà người cho thuê sách bảo với người ta rằng Emma thôi không thuê sách nữa. Phải đâu người ta không có quyền báo cảnh sát, nếu chủ hiệu cứ khăng khăng làm cái nghề đần độn đó?

Mẹ chồng và nàng dâu lạnh nhạt từ biệt nhau. Trong ba tuần sống chung, họ không trao đổi với nhau đến một lời, ngoài những câu thăm hỏi và chào mời khi gặp nhau ở bữa ăn và buổi tối trước khi đi ngủ.

Bà Bôvary mẹ ra về vào một ngày thứ tư, ngày phiên chợ ở Yôngvin.

Nơi này, ngay từ sáng sớm đã ngổn ngang một dãy xe bò đặt ngược càng lên trời, rải dọc theo bên ngày đường từ nhà thờ đến quán hàng ăn. Bên kia đường là những lều vải bán hàng sợi bông, chăn đắp và tất len, với những dây buộc cổ ngựa và những kiện băng xanh lơ, đầu bay trước gió. Đồ đồng và đồ sắt được bầy trên mặt đất, giữa những đống trứng chất có ngọn và những chiếc thùng nhỏ phó mát, ở đó thò ra những cọng rơm nhầy nhụa; gần những cái máy xay lúa, những con gà mái, cục cục trong những chiếc lồng dẹt, thò cổ qua các thanh nan. Đám đông, chen chúc tại một chỗ mà chẳng muốn nhích đi, có những lúc tưởng làm vỡ mặt trước cửa hàng dược phẩm. Vào những ngày thứ tư, cửa hàng này không có lúc nào ngớt người và người ta xô đẩy nhau trong đó, để mua thuốc ít hơn là để khám bệnh, vì Hôme nổi tiếng ở các làng xung quanh. Tính quả quyết vững vàng của y đã mê hoặc dân quê. Họ coi y là một thầy thuốc tài giỏi hơn hết thảy các thầy thuốc.

Emma ngồi tì tay bên cửa sổ (nàng thường ngồi ở đấy; cửa sổ, ở tỉnh, thay thế các rạp hát và đi dạo) và nàng đang vui nhìn đám người nhà quê ồn ào thì nàng chợt trông thấy một ông vận chiếc áo rơđanhgôt bằng nhung xanh màu lá cây. Ông ta đi găng tay màu vàng, tuy chân đi đôi ghệt cứng; và ông ta tiến về phía nhà người thầy thuốc, theo sau ông ta là một người nông dân đi cúi mặt, vẻ đăm chiêu.

- Tôi có thể gặp ông chủ được chứ? Ông ta hỏi Juyxtanh đang trò chuyện với Fêlixitê ở thềm nhà.

Và tưởng anh ta là người hầu ở trong nhà, ông ta nói:

- Anh thưa với ông là có ông Rôđônphơ Bulănggiê ở La Huysét đến.

Không phải vì muốn khoe khoang địa phương mình nên người vừa đến đã thêm vào tên mình mà chẳng qua là để muốn người ta biết rõ mình hơn, La Huysét, quả vậy, là một ấp gần Yôngvin mà ông ta và tậu một tòa lâu đài với hai trang trại ở đấy, tự mình trồng trọt lấy, không chút câu nệ. Ông ta sống độc thân và được coi là người có ít ra là một vạn rưởi tiền lợi tức hàng năm!

Sáclơ bước vào phòng. Ông Bulănggiê giới thiệu người hầu của mình muốn chích máu vì hắn cảm thấy như kiến bò khắp người.

Như thế sẽ tẩy máu cho tôi, hắn khăng khăng bác lại mọi điều giảng giải.

Thế là Bôvary bắt đầu mang một cuộn băng và một cái chậu ra đồng thời nhờ Juyxtanh đỡ cái chậu. Rồi hắn nói với người dân làng đã tái mặt:

- Đừng sợ, ông bạn dũng cảm ạ!

- Không, không, gã kia đáp, ông cứ làm đi!

Và, bằng một vẻ phách lối, gã giơ cánh tay to của gã. Lưỡi dao chích vào, máu vọt ra và bắn tung tóe lên mặt gương.

- Để gần cái chậu lại! Sáclơ gắt.

- Kinh chưa! Người nhà quê nói, cứ như cái vòi nước nhỏ đang chảy! Máu tôi đỏ thật! Hẳn là dấu hiệu tốt phải không?

- Cũng có khi, người thầy thuốc đáp lại, lúc đầu người ta không cảm thấy gì, thế rồi chứng ngất sinh ra, nhất là ở những người có cơ thể khỏe mạnh như bác đây.

Nghe thấy thế, người nông dân thả cái ống đang xoay trong tay. Vai anh ta giật thót lên, làm cho cái lưng ghế anh ta ngồi kêu răng rắc. Mũ anh ta rơi xuống.

- Tôi đã biết mà, Bôvary vừa nói vừa ấn ngón tay vào tĩnh mạch. Cái chậu bắt đầu rung trong tay Juyxtanh, đầu gối anh ta lảo đảo, mặt anh ta tái mét.

- Mình ơi! Mình ơi! Sáclơ gọi.

Nàng ù té xuống thang.

- Lấy dấm! Hắn kêu. Chà! Trời ơi, cả hai người cùng bị. Và, trong cơn xúc động, hắn đặt cái gạc một cách khó khăn.

- Không sao, Rôđônphơ hoàn toàn bình tĩnh nói trong lúc lấy hai cánh tay giữ người Juyxtanh.

Và ông ta đặt Juyxtanh ngồi lên bàn, lưng dựa vào tường.

Bà Bôvary tháo ca vát gã ra. Dây buộc sơ mi của gã bị thắt nút; nàng nhẹ nhàng nghí ngoáy những ngón tay mấy phút ở cổ gã; rồi nàng đổ dấm vào chiếc mùi soa vải phin của nàng; nàng đập khẽ cái khăn ướt vào hai thái dương gã và nàng dịu dàng thổi lên trên.

Người đẩy xe bò đã tỉnh lại, nhưng Juyxtanh vẫn còn ngất và con ngươi gã khuất đi trong lòng trắng nhợt nhạt như những bông hoa xanh lơ trong sữa.

- Đáng lẽ không nên để cho anh ta nhìn thấy cái kia, Sáclơ nói.

Bà Bôvary cầm cái chậu để vào gầm bàn; khi nàng nghiêng mình xuống, chiếc áo dài của nàng (đó là chiếc áo dài mùa hè có bốn dải, mầu vàng, thân dài, xiêm rộng), chiếc áo dài của nàng xòe ra xung quanh nàng trên những viên gạch lát; và, nhân Emma cúi xuống, hơi lảo đảo lúc dang tay, vải áo phồng lên lại hõm xuống từ chỗ này đến chỗ khác, tùy theo những nét uốn của mình nàng. Rồi nàng đi lấy một bình nước, và khi nàng đang ngoáy cho tan mấy miếng đường thì tay dược sĩ tới, người hầu gái đã đi tìm y trong lúc y đang mắng chửi ầm ĩ. Nhìn thấy người học trò mình mắt đã mở, y lấy lại hơi. Rồi đi quanh người gã, y nhìn gã từ đầu đến chân.

- Ngốc! Y nói; đúng là đồ ngốc, ngốc thực sự, ngốc hoàn toàn! Chích máu chảy ra là chuyện to tát gì, một thằng khỏe mạnh không sợ gì cả! Một loài sóc, như các ông bà thấy đấy, leo cao đến chóng mặt để rung hạt dẻ! À phải, mày nói đi, khoe mình đi! Đấy mới là những tư cách tốt đẹp để sau này làm nghề dược phẩm; vì mày có thể, trong những trường hợp hệ trọng, được gọi ra trước tòa án để soi sáng ý thức của các quan tòa; vậy mà vẫn phải bình tĩnh, lý luận, tỏ ra mình là con người, nếu không bị coi là thằng ngu độn!

Juyxtanh không trả lời. Tay dược sĩ nói tiếp:

- Ai khiến mày đến đây? Mày cứ luôn luôn làm phiền ông bà đây! Vả lại, thứ tư nào tao cũng cần đến mày. Hiện giờ có hai mươi người đang chờ ở nhà. Tao đã phải bỏ cả đấy, vì quan tâm đến mày. Thôi cút đi! Xéo đi! Đợi tao ở nhà và trông coi những bình thuốc đấy!

Khi Juyxtanh, mặc áo vào, đi khỏi, người ta nói chuyện đôi chút về những cơn ngất. Bà Bôvary chẳng bị bao giờ.

- Thế thì khác thường đối với một phụ nữ đấy, ông Bulănggiê nói. Vả lại, có những người rất yếu đuối. Như tôi đã thấy, trong một cuộc đọ súng, một nhân chứng mới chỉ nghe tiếng lắp đạn vào súng lục đã chết ngất.

- Tôi, tay dược sĩ nói, trông thấy máu người khác, tôi chẳng làm sao cả, nhưng chỉ nói đến máu mình chảy là tôi đã thất thần, nếu tôi nghĩ ngợi về nó nhiều quá.

Vào lúc ấy ông Bulănggiê vừa đuổi người hầu của mình về, vừa khuyên nó phải yên tâm vì cái sở thích vớ vẩn của nó đã qua rồi.

- Cái sở thích đó đã cho tôi được cái lợi quen biết ông bà, y nói thêm.

Và y nhìn Emma suốt lúc y nói ra câu ấy.

Rồi y đặt ba quan trên góc bàn, chào qua loa và ra đi.

Chẳng mấy lúc y đã ở phía bên kia sông (đó là con đường về La Huysét); và Emma thấy y trong cánh đồng cỏ, đi dưới những cây bạch dương, chốc chốc lại bước chậm lại như một người đang suy nghĩ.

- Chị ta xinh lắm! Y thầm nói; vợ người thầy thuốc ấy, chị ta xinh lắm! Răng đẹp, mắt đen, chân thon và dáng điệu như một phụ nữ Pari. Chị ta ở quái đâu ra nhỉ? Cái anh chàng cục mịch ấy kiếm được chị ta ở chỗ nào thế?

Ông Rôđônphơ Bulănggiê ba mươi tư tuổi; tính tình thô bạo nhưng đầu óc minh mẫn, y đã giao thiệp với đàn bà nhiều và rất sành sỏi về mặt đó. Y thấy người phụ nữ này đẹp; thế là y mơ tưởng đến nàng và chồng nàng.

- Mình tin là anh chồng ngốc lắm. Chị ta hẳn chán hắn. Hắn để móng tay bẩn và ba ngày không cạo râu. Trong khi hắn lon ton đến với bệnh nhân, chị ta ở nhà vá víu bít tất. Thế rồi chị ta đâm buồn nản! Chị ta những muốn ở ngoài tỉnh để tối nào cũng nhảy điệu pônka. Tội nghiệp cho người thiếu phụ ấy! Chị ta khao khát yêu đương như cá chép trên bàn nhà bếp khao khát dòng nước. Chỉ vài lời tán tỉnh, mình chắc chắn là chị ta yêu quý mình! Điều đó sẽ là thắm thiết, thú vị!... Ừ, phải, nhưng rồi gỡ ra bằng cách nào?

Thế là những trở ngại của lạc thú mường tượng trong viễn ảnh làm cho y, qua sự đối chiếu, nghĩ đến tình nhân của y. Đó là một ả đào hát ở Ruăng mà y đang bao; và, khi dừng lại ở cái hình ảnh mà chỉ nhớ lại thôi, y đã chán ngấy. Y nghĩ:

- Chà! Bà Bôvary đẹp hơn ả nhiều, nhất là tươi trẻ hơn. Viêcgini quả thật, đã bắt đầu béo ra một cách quá đáng. Ả làm cho người ta chán ngấy với những mối hoan hỉ của ả. Và hơn thế nữa, ả còn có cái thói õng ẹo làm sao!

Đồng quê vắng ngắt, và Rôđônphơ chỉ nghe thấy quanh mình tiếng cỏ đập đều vào giầy y, cùng với tiếng dế mèn nấp ở xa dưới lúa mạch. Y hình dung lại Emma trong căn phòng, ăn mặc như y đã trông thấy, và y tưởng tượng y cởi áo nàng ra.

- Ờ! Ta sẽ chiếm được chị ta, y vừa kêu vừa lấy gậy đập tan một cục đất trước mặt.

Và lập tức, y xem xét mặt chính trị của mưu đồ, y tự hỏi:

- Gặp nhau ở đâu? Bằng cách nào? Người ta lúc nào cũng có đứa bé trên vai và người hầu gái, hàng xóm, anh chồng, mọi thứ mắc míu đáng kể. Chà! Y nói, mình mất vào đấy nhiều thời giờ quá!

Rồi y trở lại ý nghĩ lúc đầu.

- Là vì nàng có cặp mắt xoáy vào lòng người như những mũi khoan. Và cái nước da xanh xao ấy nữa!... Mình là người yêu quý những phụ nữ xanh xao mà!

Lên tới đỉnh dốc Ácgơi, y quyết định;

- Bây giờ chỉ còn tìm cơ hội. Ừ! Mình thỉnh thoảng sẽ ghé qua đó, mình sẽ gửi biếu họ thú săn, gà vịt; mình sẽ xin chích máu nếu cần. Họ với mình sẽ trở thành bè bạn, mình sẽ mời họ đến nhà mình... À! Mẹ kiếp! Y nói tiếp, hội nghị nông nghiệp sắp tới rồi; chị ta sẽ có mặt ở đó, ta sẽ gặp chị ta. Ta sẽ bắt tay vào việc, và mạnh bạo lên, vì đó là phương pháp chắc ăn nhất

Chương 8

Cái Hội nghị nông nghiệp nổi tiếng ấy quả thật đã tới! Ngay từ sáng sớm của cái ngày long trọng, tất cả những người dân thị trấn, đứng ở cửa nhà, bàn chuyện chuẩn bị; người ta đã kết dây trường xuân trên cửa thị sảnh; một lều vải, trong đồng cỏ, đã được dựng lên để dọn tiệc; và giữa quảng trường, trước cửa nhà thờ, một phường kèn thông dụng phải báo tin ông quận trưởng đến và tên những nhà nông được giải thưởng. Đội vệ binh ở Buysy (không có vệ binh ở Yôngvin) đã đến phối hợp với đội lính cứu hỏa do Binê chỉ huy. Ông này, hôm ấy, vận một chiếc cổ cồn cao hơn thường lệ; và bó chặt mình trong bộ quân phục, nửa mình trên của ông ta cứng nhắc và bất động đến nỗi tất cả cái phần sống trong người ông ta dường như đã trút xuống đôi cẳng chân, nhắc lên dậm xuống, theo nhịp bước, trong cùng một động tác. Vì có sự kèn cựa giữa tay thu thuế và viên đại tá, ông này cũng như ông kia, để trổ tài, đã cho quân của mình diễn tập riêng rẽ. Người ta thấy lần lượt qua lại những gù vai đỏ và những tấm giáp đen che ngực. Cảnh này không dứt và cứ trở lại mãi! Chưa bao giờ lại có cuộc thao diễn long trọng như thế! Nhiều người dân thị trấn, từ hôm trước, đã quét dọn cửa nhà; cờ tam tài treo ở cửa sổ hé mở; tất cả các tiệm rượu đều chật ních những người; và do trời hôm đó đẹp, những chiếc mũ trùm hồ cứng, những huân chương vàng và những khăn choàng trông trắng hơn tuyết lấp lánh dưới ánh nắng sáng trong và làm nổi lên cái vẻ đơn điệu của những chiếc áo rơđanhgôt đen và những chiếc áo lao động xanh lơ màu sặc sỡ tản mác của chúng. Những chị tá điền ở các vùng lân cận, khi xuống ngựa, tháo chiếc ghim trong cài chiếc áo dài quấn quanh người họ vì sợ vấy bẩn; và những ông chồng, trái lại, để giữ gìn mũ, đã phủ khăn mùi soa lên trên mũ lá, cắn một góc vào răng.

Đám đông vào phố lớn qua hai đầu làng. Họ ùa ra từ các ngõ, các lối đi, các nhà, và thỉnh thoảng người ta nghe thấy tiếng vồ gõ cửa hạ xuống phía sau các bà trưởng giả mang găng tay bằng phin đi ra xem hội. Cái mà người ta ngắm nghía hơn hết là hai giá đèn dài phủ đầy đèn cốc ở hai bên một cái bục, nơi các nhà chức trách sẽ ngồi; và hơn nữa, tựa vào bốn cột thị sảnh, còn có bốn kiểu cột cờ, mỗi cột mang một lá cờ hiệu bằng vải xanh nhạt thêu hàng chữ vàng, người ta đọc thấy trên lá cờ này: "Tặng thương nghiệp", trên lá cờ khác: "Tặng nông nghiệp", trên lá cờ thứ ba: "Tặng công nghiệp" và trên lá cờ thứ tư: "Tặng mỹ nghệ".

Nhưng niềm hân hoan làm nở nang mày mặt mọi người dường như lại làm cho mụ Lơfrăngxoa, chủ quán, buồn rầu. Đứng trên những bậc thang xuống nhà bếp, mụ lẩm bẩm:

- Ngu ngốc làm sao! Đần độn biết chừng nào với cái lều vải của họ! Họ tưởng ông quận trưởng sẽ thoải mái khi ăn trưa ở đó, dưới một cái lều vải, như một anh hề hay sao? Họ gọi những chuyện phiền phức đó là làm những điều hay cho địa phương à? Vậy thì tội vạ gì mà đi kiếm một đầu bếp tồi ở Nớpsaten! Mà để hầu ai? Hầu những kẻ chăn bò! Hầu bọn khố rách áo ôm à!

Tay dược sĩ đi qua. Y mặc một chiếc áo lễ đen, một cái quần vải Nam Kinh, đi đôi giầy hải ly, và, đặc biệt, đội một cái mũ - một cái mũ thấp chỏm.

- Kính chào bà! Y nói; bà miễn thứ cho tôi, tôi đang vội.

- Bà lấy làm lạ phải không? Tôi xưa nay vẫn cấm cung trong phòng thí nghiệm của mình hơn cả chú chuột của nhà thơ ngụ ngôn trong miếng phó mát của nó mà.

- Miếng phó mát nào cơ? Mụ chủ quán hỏi.

- Không, chẳng có gì! Chẳng có gì cả! Hôme đáp. Tôi chỉ muốn bày tỏ với bà, bà Lơfrăngxoa ạ, tôi thường quen ẩn kín trong nhà tôi. Tuy nhiên hôm nào, do trường hợp đặc biệt, nên phải...

- À! Ra đằng kia chứ gì? Mụ nói bằng một vẻ khinh khỉnh.

- Vâng, tôi đến đó, tay dược sĩ ngạc nhiên đáp lại; thì tôi chẳng có chân trong ủy ban tư vấn đó ư?

Mụ Lơfrăngxoa nhìn hắn vài phút, rồi cuối cùng tươi cười trả lời:

- Đó là chuyện khác! Nhưng nông nghiệp thì có liên quan gì đến ông? Thế ra ông cũng am hiểu vấn đề đó à?

- Hẳn thế, tôi am hiểu vấn đề đó chỉ vì tôi là dược sĩ, nghĩa là nhà hóa học! Và hóa học, thưa bà Lơfrăngxoa, có mục đích tìm hiểu tác dụng hỗ tương và tác dụng phân tử của mọi vật trong tự nhiên, nông nghiệp do đó nằm trong lĩnh vực của nó! Mà quả thực, cách cấu tạo phân bón, sự lên men của các chất lỏng, việc phân tích các chất khí và ảnh hưởng của chướng khí, tất cả những cái đó là gì, tôi xin hỏi bà, nếu không phải là hóa học thuần túy?

Mụ chủ quán không trả lời gì cả. Hôme nói tiếp:

- Bà tưởng rằng, muốn thành nhà nông học, phải đích thân cày ruộng hay vỗ béo gà vịt ư? Nhưng đúng hơn phải biết sự cấu thành các chất đang cần đến, những lớp địa chất, tác dụng của không khí, chất lượng đất đai, khoáng sản, nước, tỷ trọng các vật khác nhau và sự mao dẫn của chúng! Còn gì nữa? Và phải nắm chắc tất cả các nguyên tắc của vệ sinh học để điều khiển, phê phán cách xây dựng nhà cửa, phép chăn nuôi gia súc, chế độ ăn uống của người làm! Thưa bà Lơfrăngxoa, lại còn phải nắm vững thực vật học, có khả năng phân biệt cây cối. Bà hiểu không? Cây nào lành, cây nào độc, cây nào không sinh lợi, cây nào có chất dinh dưỡng; có nên nhổ cây ở chỗ này và gieo trồng nó ở chỗ kia, để phát triển loại này, tiêu diệt loại khác; tóm lại, phải theo dõi kịp thời khoa học bằng sách báo, lúc nào cũng chăm chú để chỉ dẫn các cách cải tiến.

Mụ chủ quán không rời mắt khỏi cửa tiệm Cà phê Pháp, còn tay dược sĩ nói tiếp:

- Lạy chúa! Các nhà nông của ta là các nhà hóa học, hay ít ra họ biết lắng nghe nhiều hơn những lời chỉ bảo của khoa học! Do đó mới rồi, tôi có viết một cuốn sách nhỏ quan trọng, một bản báo cáo hơn bảy mươi hai trang, nhan đề: Về rượu táo, cách làm và hiệu quả của nó, kèm theo vài suy nghĩ mới về vấn đề này, tôi đã gửi cho Hội nông học ở Ruăng; cũng vì vậy tôi có cái hân hạnh được nhận làm hội viên, ban canh nông, ngành trồng lê táo. Này! Nếu sách của tôi được công bố thì...

Nhưng tay dược sĩ ngừng lại vì mụ Lơfrăngxoa ra vẻ quá bận tâm về chuyện khác.

- Ông trông họ kìa! Mụ nói, người ta chẳng hiểu ra sao cả! Một quán ăn tồi như thế à?

Rồi mụ vừa nhún vai làm cho những mắc áo đan ở ngực mụ căng ra, vừa chỉ bằng cả hai tay cái quán của kẻ cạnh tranh với mình, từ nơi đó những tiếng hát đang vọng tới.

- Vả lại, cũng chẳng còn được bao lâu nữa, mụ nói thêm; trước tám ngày là xong hết mọi sự.

Hôme sững sờ lùi lại. Mụ buớc xuống ba bậc và nói nhỏ vào tai hắn:

- Thế nào! Ông không biết việc ấy à? Người ta sắp tịch biên cái quán đó trong tuần này. Chính Lơrơ bắt phải đem bán nó đi. Lão ta giết nó bằng các chứng khoán.

- Tai họa ghê sợ làm sao! Tay dược sĩ la lên, y luôn luôn có những biểu hiện thích đáng trong bất kỳ trường hợp nào.

Mụ chủ quán kể lại cho Hôme nghe câu chuyện mà mụ biết được qua Têôđo, tên đầy tớ của ông Guyômanh, và mụ ghét cay ghét độc Tenliê, mụ vẫn chê trách Lơrơ. Lão này là một kẻ xảo ngôn, một thằng đê tiện.

- À! Này, mụ nói, nó kia kìa, dưới mái chợ; nó chào bà Bôvary, bà ta đội mũ xanh ve. Bà ta thậm chí lại đang khoác tay Bulănggiê nữa.

- Bà Bôvary! Hôme thốt lên, tôi phải mau đến nơi bà ấy mới được. Có lẽ bà ta sẽ rất hài lòng được một chỗ trong hội trường dưới hàng cột vây quanh.

Và chẳng nghe mụ Lơfrăngxoa gọi hắn lại để kể câu chuyện có đầu đuôi hơn, tay dược sĩ, nụ cười trên môi và bắp chân giang ra, rảo bước bỏ đi, chào hết người này đến người khác, và những vạt lớn của chiếc áo lễ đen tỏa ra phất phơ trước gió ở phía sau hắn chiếm mất nhiều chỗ.

Rôđônphơ, trông thấy y từ đằng xa, đã đi rất nhanh, nhưng bà Bôvary thở dốc; y phải chậm bước lại vừa mỉm cười vừa xẵng giọng với nàng:

- Đó là để tránh thằng cha to béo kia, bà biết đấy, tay dược sĩ.

Bà Bôvary lấy khuỷu tay thúc vào người y một cái.

- Thế nghĩa là thế nào? Y tự hỏi.

Và y vừa quan sát nàng qua khóe mắt vừa tiếp tục đi.

Nét mặt nàng quá bình thản đến mức chẳng đoán ra được điều gì ở đó. Nó nổi bật giữa ánh sáng chan hòa trong cái khuôn bầu dục của chiếc mũ phụ nữ có những dải băng lam giống lá lau. Mắt nàng với hàng mi dài và cong nhìn thẳng về phía trước, và, tuy mở to cũng dường như bị gò má làm hơi xếch lên do máu dồn nhẹ dưới làn da mịn. Một màu hồng chạy qua vách mũi nàng. Nàng nghiêng đầu trên vai, và người ta thấy giữa cặp môi nàng những đầu răng trắng lóng lánh như xà cừ.

- Chị ta nhạo ta chăng? Rôđônphơ thầm nghĩ.

Song cử chỉ đó của Emma chỉ là một sự răn đe, vì Lơrơ đang cùng đi với họ, và thỉnh thoảng gã lại nói với họ, như để bắt chuyện.

- Hôm nay trời tuyệt đẹp! Mọi người đều ra khỏi nhà! Gió từ phương đông thổi tới.

Thế mà bà Bôvary cũng như Rôđônphơ chẳng lên tiếng đáp lại, còn gã thì cứ mỗi động tĩnh của họ, gã lại sán gần lại hỏi: "Thưa ngài, ngài hỏi gì ạ?" và đưa tay lên mũ.

Khi họ đến trước cửa nhà người thợ đóng móng ngựa, Rôđônphơ, đáng lẽ đi theo con đường cái đến tận rào chắn, lại đột nhiên ngoặt vào một con đường nhỏ, kéo bà Bôvary đi cùng. Y nói to:

- Chào ông Lơrơ! Vui thích được gặp lại ông!

- Ông đã đuổi tay ấy đấy! Nàng vừa nói vừa cười.

- Tại sao lại để người khác xâm lấn mình? Y đáp và..., vì lẽ, hôm nay, tôi được cái hạnh phúc đi với bà.

Emma đỏ mặt. Y không nói hết câu. Y chuyển sang nói về trời đẹp và về cái thú đi trên cỏ. Vài bông cúc bị xô đi.

- Những bông bạch cúc xinh tươi như thế này, y nói, đủ để cung cấp cho tất cả các cô gái vùng này đang có người yêu bói duyên 1 .

Y nói thêm:

- Tôi hái nhé. Bà nghĩ thế nào?

- Có phải ông đang yêu không? Nàng vừa hỏi vừa húng hắng ho.

- Ô, ồ! Ai biết, Rôđônphơ đáp.

Đồng cỏ bắt đầu đông người. Các bà nội trợ va chạm người này đến người khác bằng những chiếc ô to, những chiếc thúng mủng và con nít mà họ mang theo. Thường phải tránh né dãy dài các cô gái quê, các người hầu gái đi tất xanh lơ, giầy dẹt, đeo nhẫn bạc và người ta ngửi thấy mùi sữa khi đi gần họ. Họ cầm tay nhau mà đi, và cứ thế trải ra suốt dọc đồng cỏ, từ hàng hoàn diệp liễu đến tận lều bày tiệc. Nhưng đã tới lúc khảo thi, và dân cày, người này sau người khác, bước vào một kiểu chuồng đua ngựa dựng nên bởi một sợi dây thừng dài, căng trên đầu những cái cọc.

Các súc vật đều ở trong đó, mũi quay về phía sợi dây; chúng sắp hàng một cách lộn xộn vì mông của chúng to nhỏ không đều. Những con lợn, mõm rúc xuống đất, thiu thiu ngủ, lũ bê rống lên, đàn cừu be be, đám bò cái, một chân gập lại, phơi bụng trên cỏ non, và vừa thong thả nhai lại vừa chớp cặp mí mắt nặng nề đuổi những con ruồi vo ve quanh chúng. Những người đánh xe, cánh tay để trần, ghì sợi dây tròng cổ những con ngựa đực giống lồng lên đang huớng về phía những con ngựa cái mà hí rầm trời. Những con ngựa cái vẫn bình thản vươn cái đầu và cái bờm lòng thòng, còn những con ngựa con thì nằm yên dưới bóng mẹ, hoặc đôi khi đến bú; và, trên tất cả những thân hình bị dồn vào một chỗ chật hẹp dập dờn thành những gợn dài như những làn sóng, người ta thấy nổi lên trước gió một vài cái bờm ngựa trắng, hay nhô lên những sừng nhọn và những đầu người đang chạy. Ở phía ngoài trường đua, cách đấy hơn trăm bước, có một con bò mộng đen to bị khóa mõm đeo một vòng sắt ở lỗ mũi và chẳng động đậy gì cả y như một con vật bằng đồng đen. Một đứa trẻ ăn mặc rách rưới giữ nó bằng một dây thừng.

Trong khi ấy, giữa hai hàng, có những ông bước đi một cách nặng nề, xem xét từng con vật, rồi khẽ hỏi ý kiến nhau. Một ông, dáng chừng quan trọng hơn, vừa đi vừa ghi vào cuốn sổ. Đó là ông chủ tịch hội đồng: ông Đơrơzơray ở Păngvin. Vừa nhận ra Rôđônphơ, ông hăm hở tiến lại và niềm nở cười nói với y:

- Thế nào, ông Bulănggiê, ông bỏ chúng tôi à?

Rôđônphơ quả quyết rằng y sắp đến. Nhưng khi ông chủ tịch vừa đi khỏi, y lại nói:

- Thật ra, không, tôi không đến đâu. Đi với bà còn hơn đến với ông ta.

Và, tuy xem thường Hội đồng, Rôđônphơ, để đi lại được dễ dàng hơn, vẫn xuất trình cho cảnh sát tấm bìa xanh của mình, và nhiều lúc, y thậm chí còn đứng dừng lại trước một tiết mục hay mà bà Bôvary chẳng tán thưởng. Y nhận thấy điều đó, thế là y xoay ra chế nhạo các bà ở Yôngvin về cách ăn mặc của họ; rồi chính y cũng xin lỗi về cách ăn mặc cẩu thả của mình, nó không có sự hòa hợp giữa lối ăn mặc thông thường và lối ăn mặc kiểu cách mà kẻ tầm thường, theo thói quen, tưởng nhận thấy ở đó sự biểu hiện của một lối sống kỳ dị, tình trạng lộn xộn của tình cảm, sức mạnh của nghệ thuật, và bao giờ cũng thấy ở đó một sự coi thường nào đó về quy ước xã hội khiến họ thích thú hoặc bực bội. Cũng vì thế, chiếc sơmi của y bằng lanh mềm bóng có cổ tay xếp nếp căng phồng theo gió trong đường cổ hở của chiếc áo gilê chéo go xám, và chiếc quần của y kẻ sọc rộng để lộ ra mắt cá chân đôi giầy cao cổ bằng vải vàng Nam Kinh có mũi và má bằng da đánh bóng. Đôi giầy bóng đến mức cỏ soi hình trên đó. Y giẫm chúng lên phân ngựa, thọc một tay vào túi áo vét và đội nghiêng chiếc mũ rơm.

- Vả lại, y nói thêm, khi người ta ở nông thôn thì...

- Mọi cái mất công toi, Emma nói.

- Quả vậy! Rôđônphơ đáp. Cứ nghĩ rằng không một ai trong đám người lương thiện kia có thể hiểu nổi được ngay cả hình dáng của một chiếc áo thôi!

Thế là họ nói về tình trạng thấp kém ở tỉnh lỵ, về những cuộc sống mà nó bóp nghẹt, về những ảo mộng ở đó tiêu tan.

- Cho nên, Rôđônphơ, tôi chìm đắm trong một nỗi buồn...

- Ông ư! Nàng ngạc nhiên nói. Thế mà tôi cứ tưởng ông vui lắm?

- À! Đúng, bề ngoài, vì rằng giữa chốn thượng lưu xã hội, tôi biết đặt lên mình một chiếc mặt nạ nhạo đời; ấy thế mà đã bao phen, nhìn thấy một nghĩa địa, dưới ánh trăng, tôi thầm nhủ thấy thà mình đi theo những kẻ đang an nghỉ ở nơi kia...

- Ôi! Thế còn các bạn thân của ông? Nàng hỏi. Ông không nghĩ tới họ.

- Bạn thân của tôi ư? Những ai nhỉ? Tôi có bạn thân không? Ai bận tâm đến tôi?

Rồi, phụ thêm vào mấy lời nói đó, là một thứ tiếng rít qua môi.

Nhưng hai người buộc phải đi cách xa nhau vì một chồng ghế mà một người khiêng sau họ. Người này khuân lắm ghế quá đến nỗi người ta chỉ thấy mũi đôi giầy guốc gã ta đi với hai đầu cánh tay gã ta dang thẳng. Đó là anh phu đào huyệt Lêtibuđoa đang khuân qua đám đông những chiếc ghế của nhà thờ. Đầy tài sáng tạo đối với tất cả những gì có lợi cho mình, gã ta đã tìm ra cái cách lợi dụng hội nghị như thế và gã ta đã thành công, vì gã ta không còn biết theo đâu mà chiều nữa. Quả nhiên dân làng đang lúc nóng bức đã tranh nhau những chiếc ghế đệm rơm ngào ngạt hương trầm ấy, và với một sự kính cẩn nào đó, họ tựa vào các lưng ghế to bè nhớp nháp bởi vết sáp đèn bạch lạp.

Bà Bôvary lại khoác tay Rôđônphơ; y nói tiếp như nói riêng với mình:

- Vâng! Tôi đã thất vọng nhiều điều! Suốt đời cô độc! Ôi! Nếu tôi có một mục đích ở đời, nếu tôi gặp một tình yêu, nếu tôi tìm thấy được người nào... thì tôi mới sử dụng tất cả cái nghị lực mà tôi có thể có, tôi mới vượt qua tất cả, khắc phục tất cả chứ!

- Thế mà, Emma nói, tôi thấy dường như ông ít có điều gì đáng phàn nàn.

- Ủa! Bà thấy thế? Rôđônphơ hỏi.

- Vì, nói tóm lại..., nàng đáp, ông được tự do.

Nàng ngập ngừng nói tiếp:

- Giàu có.

- Bà đừng chế giễu tôi, y đáp.

Thế là nàng thề nàng không chế giễu, vừa lúc đó một phát đại bác nổ vang; lập tức, người ta xô đẩy nhau lộn xộn về phía làng.

Đó là hoang báo. Ông quận trưởng không đến; các thành viên hội đồng đâm ra lúng túng chẳng biết nên khai hội ngay hay nên đợi nữa.

Sau cùng phía cuối bãi, xuất hiện một chiếc xe hai mui bốn bánh do hai con ngựa gầy kéo mà một xà ích đội mũ trắng quất luôn tay. Binê chỉ kịp hô: "Bồng súng!" và viên đại tá hô theo. Binh lính chạy đến các cụm súng. Họ nhảy xổ tới. Vài người quên cả cổ áo. Đoàn quan chức quận dường như đoán biết nỗi luống cuống ấy nên đôi ngựa xấu buộc cặp với nhau, lắc mình bên sợi dây xích nhỏ, đi nước kiệu tới trước hàng cột tòa thị chính đúng lúc đoàn vệ binh và lính cứu hỏa triển khai ở đó thúc trống và dậm chân tại chỗ.

- Bước đều! Binê hô.

- Đứng! Viên đại tá hô. Đi hàng một và rẽ sang trái!

Rồi, sau một hồi được bồng lên vai tạo thành tiếng loảng xoảng như tiếng xanh đồng lăn xuống cầu thang, mọi khẩu súng lại được hạ xuống.

Người ta liền thấy từ trên xe bước xuống một ông mặc áo choàng ngắn thêu ngân tuyến, trán hói, gáy mang chùm tóc, nước da trắng bệch, vẻ rất hiền từ. Ông ta khép lại nửa vời đôi mắt rất to cặp với cặp mí dày để coi đám đông, đồng thời ông hếch chiếc mũi nhọn lên và nở một nụ cười trên cái miệng thụt vào. Ông ta nhận ra viên thị trưởng ở cái băng đeo chéo trước ngực. Ông ta trình bày với viên thị trưởng rằng ông quận trưởng không tới được. Bản thân ông ta là nghị viên hàng quận; rồi ông ta ngỏ thêm vài lời xin lỗi. Tuyvasơ xã giao đáp lại, ông kia đâm lúng túng; và hai ông cứ đứng như thế, mặt đối mặt, trán gần chạm trán, cùng với các thành viên hội đồng giám khảo vây quanh, trước hội đồng thị xã, các thân hào, đội vệ binh và quần chúng. Ông nghị đặt chiếc mũ nhỏ đen ba múi của ông sát vào ngực, nhắc đi nhắc lại lời chào hỏi, còn Tuyvasơ, người khom như cánh cung, cũng cười nụ, lắp bắp, tìm câu nói, cam kết trung thành với chính thể quân chủ, khẳng định cái vinh dự mà người ta ban cho địa phương Yôngvin.

Hippôlyt, anh bồi bàn trong quán cơm, đến nắm cương mấy con ngựa kéo xe rồi, khập khiễng trên chiếc chân thọt, dắt ngựa đến cổng quán Sư Tử Vàng ở đó dân quê xúm đông lại nhìn chiếc xe. Trống đánh, đại bác gầm và các ông lần lượt bước lên bục ngồi những chiếc ghế bành bọc nhung đỏ mà bà Tuyvasơ đã cho mượn.

Tất cả đám người ấy giống nhau. Cái mặt nhão nhoẹt của họ hoe vàng, hơi rám nắng, mang màu rượu táo ngọt, và hàng râu quai nón của họ xòe ra ngoài những chiếc cổ áo cứng to thắt cavát trắng tết nơ hình hoa lộ ra rõ rệt. Tất cả các chiếc áo gilê đều bằng nhung, cổ áo có ve tròn; mọi đồng hồ bỏ túi đều mang ở đầu dải băng một dấu ấn hình bầu dục bằng hồng mã não. Các ông đều vừa đặt hai bàn tay lên đùi vừa giang cẩn thận hai ống quần ra, dạ quần nguyên hồ bóng lộn hơn cả da đôi bốt cứng.

Các bà thượng lưu đứng phía sau, ở tiền sảnh, giữa những cột, còn đám quần chúng thường dân thì đứng hoặc ngồi trên ghế ở phía trước. Quả thật Lêtibuđoa đã khuân từ đồng cỏ vào đó tất cả mọi loại ghế và thậm chí, mỗi phút, gã lại còn chạy đi kiếm ra những chiếc khác ở trong nhà thờ, gây ra bao tình trạng bừa bộn do cách làm ăn của gã đến nỗi người ta phải vất vả lắm mới đi tới được chiếc thang nhỏ để leo lên bục.

- Tôi, Lơrơ nói (với tay dược sĩ đi qua đó để tới chỗ của hắn), tôi thấy rằng đáng lẽ người ta phải trồng ở đây hai cột cờ: với cái gì hơi nghiêm trang và tráng lệ cho mới lạ, như thế thì rất là đẹp mắt.

- Hẳn thế, Hôme đáp. Nhưng ông muốn sao! Chính ông thị trưởng bày đặt ra cho cái ông Tuyvasơ khốn khổ ấy, ông ta chẳng có nhãn quan rộng lớn, thậm chí ông ta lại còn thiếu hẳn cái gọi là tính nghệ thuật.

Trong khi ấy, Rôđônphơ cùng bà Bôvary đã lên tầng gác thứ nhất của tòa thị chính, vào trong Phòng họp và vì thấy không có ai, y tuyên bố hai người sẽ ở lại đấy mà xem hội cho thoải mái hơn. Y lấy ba chiếc ghế đẩu bầy quanh chiếc bàn bầu dục, dưới tượng bán thân của nhà vua, rồi, đặt lại gần một cửa sổ, hai người ngồi xuống bên nhau.

Trên bục đang nổ ra cuộc tranh luận, những tiếng thì thầm kéo dài, những cuộc thương thuyết. Rốt cuộc, ông nghị đứng dậy. Bây giờ người ta mới biết tên ông là Liơvanh và người ta nhắc đi nhắc lại tên ông ta trong đám đông từ kẻ này đến kẻ khác. Thế rồi, khi ông ta đã đối chiếu lại vài tờ giấy với nhau và dán mắt lên trên để nhìn cho rõ, ông ta mở đầu:

"Thưa các ông.

Trước hết cho phép tôi (trước khi thưa chuyện với các ông về mục đích cuộc họp hôm nay, và ý kiến này, tôi chắc thế, sẽ được tất cả các ông đồng tình), cho phép tôi, tôi nói được thừa nhận công trạng của nhà nước tối cao, của Chính Phủ, của đức vua, thưa các ông, của hoàng thượng chúng ta, của nhà vua yêu quý đó, không một ngành nào của nền thịnh vượng chung hay riêng mà Ngài không chú ý tới, và Ngài, không những hướng dẫn một cách vừa rất vững vàng vừa rất khôn khéo con tàu Quốc gia qua những cảnh hiểm nghèo liên tục vì biển động, lại còn biết làm cho người ta tôn trọng, hòa bình cũng như chiến tranh công nghệ, thương mại, canh nông và mỹ thuật".

- Có lẽ tôi phải ngồi lui lại một chút, Rôđônphơ nói.

- Sao thế? Emma hỏi.

Nhưng, vừa lúc đó, ông nghị cất cao giọng lên một cách khác thường. Ông ta dõng dạc đọc:

"Không còn nữa cái thời gian, thưa các ông, mà sự chia rẽ trong nước làm đổ máu các nơi công cộng của chúng ta, ở đấy, nghiệp chủ, nhà buôn, cả thợ thuyền nữa, buổi tối đang ngủ một giấc yên lành, run sợ thấy mình bị đột ngột đánh thức dậy bởi tiếng chuông kích động nhân tâm, mà những khẩu hiệu lật đổ nhất táo gan phá hoại các nền móng...".

- Là vì, Rôđônphơ đáp, người ta có thể từ dưới thấy tôi, rồi tôi sẽ mất đến mười lăm ngày để xin lỗi, và với tiếng tăm xấu xa của tôi thì...

- Ồ! Ông lại tự vu cáo ông rồi, Emma nói.

- Không, không đâu, tiếng tăm ấy đáng ghét, tôi thề với bà.

"Nhưng thưa các ông, ông nghị nói tiếp, nếu gạt bỏ ngoài ký ức tôi những bức tranh đen tối ấy, tôi đã nhìn lại tình hình hiện tại của Tổ quốc tươi đẹp chúng ta; tôi thấy gì? Khắp nơi thương mại và kỹ nghệ phồn vinh; khắp nơi những đường giao thông mới như những mạch máu mới trong cơ thể Quốc gia đặt ra trong đó những mối tương quan mới; những trung tâm công nghiệp lớn của ta đã trở lại hoạt động; tôn giáo, vững vàng hơn, làm mọi tấm lòng hoan hỉ; các hải cảng của ta được sầm uất, niềm tin lại nảy nở và cuối cùng nước Pháp hồi sinh!...".

- Vả lại, Rôđônphơ nói thêm, có lẽ, về phương diện xã hội, người ta có lý chăng?

- Sao thế? Nàng hỏi.

- Thế nào, y nói, bà há chẳng biết rằng có những tâm hồn không ngừng bứt rứt ư? Chúng ta cần phải lần lượt ước mơ và hành động, có những khát vọng thuần khiết nhất, những lạc thú nồng nhiệt nhất, và như thế con người lao vào mọi thứ ngông cuồng rồ dại.

Lúc đó, nàng nhìn y như người ta ngắm một du khách đã qua nhiều xứ sở kỳ lạ, và nàng nói:

- Tội nghiệp cho bọn đàn bà chúng tôi, chúng tôi lại chẳng có được ngay cả cái thú tiêu dao ấy!

- Thú tiêu dao đáng buồn, vì người ta có tìm thấy hạnh phúc đâu trong đó.

- Nhưng người ta có tìm thấy hạnh phúc bao giờ không? Nàng hỏi.

- Có, có ngày cũng gặp, y đáp.

"Và chỗ đó là điều các ông đã hiểu, ông nghị nói. Các ông nhà nông và thợ thuyền thôn quê các nơi. Các ông, những người tiên phong ồn ào của một sự nghiệp hết sức văn minh! Các ông, những người tiến bộ và có đạo đức! Các ông đã hiểu rằng, tôi nói vậy, bão táp chính trị thực sự còn ghê gớm hơn cả những hỗn loạn của khí quyển...".

- Hạnh phúc đó có ngày cũng gặp, Rôđônphơ nhắc lại, một ngày nào đó, đột ngột, khi người ta đang tuyệt vọng vì nó. Lúc bấy giờ, chân trời hé mở tưởng như có một tiếng nói thốt lên: "Hạnh phúc kia rồi!" người ta cảm thấy cần phải giãi bày tâm sự về cuộc đời mình với người đó, cần phải hiến dâng tất, cần phải hy sinh tất cả cho người đó! Người ta không giải thích cho nhau, người ta thầm hiểu nhau thôi. Người ta đã thoáng thấy nhau trong mộng. (Và y nhìn nàng). Sau cùng nó ở ngay kia, cái bảo vật mà người ta đã dày công tìm kiếm, ngay kia, trước mắt người ta; nó lấp lánh, nó sáng chói. Tuy nhiên người ta còn ngờ nó, người ta không dám tin nó, người ta còn bị lóa mắt vì nó, như thể người ta, vừa từ bóng tối ra ánh sáng.

Và Rôđônphơ vừa kết thúc những lời đó vừa làm điệu bộ kèm theo. Y đặt bàn tay lên mặt như một người bị choáng váng rồi y để nó rơi xuống bàn tay Emma. Nàng rụt tay lại. Nhưng ông nghị vẫn đọc:

"Mà kẻ nào ngạc nhiên về chuyện đó, thưa các ông? Chỉ có kẻ ấy là kẻ khá đui mù, khá vùi sâu (tôi không sợ nói lên điều đó), khá vùi sâu vào những thành kiến của thời đại đã qua, nên chưa nhận ra được cái tinh thần của nhân dân nông nghiệp. Quả thật tìm đâu ra nhiều tình yêu nước hơn là ở nông thôn, nhiều lòng tận tụy vì công ích hơn, nói tóm lại, nhiều nhận thức hơn? Mà, thưa các ông, tôi không nói đến những nhận thức nông cạn, cái trang sức không đâu của những đầu óc nhàn rỗi, mà là nói đến những nhận thức sâu sắc và đúng mức chuyên theo đuổi trên mọi sự, những mục tiêu có lợi, góp phần vào cái hay của mỗi người, vào sự tiến bộ chung và vào sự gìn giữ Quốc gia, kết quả của sự tôn trọng luật pháp và của sự thi hành nhiệm vụ...".

- A ha! Lại nhiệm vụ, Rôđônphơ nói. Lúc nào cũng nhiệm vụ, tôi đã quá ngán về những tiếng ấy. Họ là một lũ người giàu u mê mặc áo gilê nỉ mỏng, một bọn sùng đạo ngu muội mang lồng ấp và tràng hạt không ngớt hát vào tai ta: "Nhiệm vụ! Nhiệm vụ!". Ôi! Lạy chúa! Nhiệm vụ là cảm thấy cái gì lớn lao, thiết tha đến cái gì đẹp, chứ đâu phải là thừa nhận mọi tục lệ xã hội với những điều nhục nhã mà xã hội buộc ta phải chịu.

- Thế nhưng..., thế nhưng..., bà Bôvary cãi lại.

- Không mà! Tại sao lại phản đối những khát vọng? Chúng chẳng phải là cái đẹp duy nhất trên trái đất, là nguồn gốc của chủ nghĩa anh hùng, của cảm hứng, của thi ca, của âm nhạc, của mỹ thuật, tóm lại, là nguồn gốc của tất cả mọi thứ hay sao?

- Nhưng, Emma nói, cũng phải chú ý phần nào đến dư luận của xã hội và tuân theo đạo lý của xã hội chứ.

- À! Là vì có hai thứ đạo lý, y đáp. Thứ hèn mọn, thứ được ước định; thứ của mọi người, thứ thay đổi không ngừng và la lối om sòm, nó giãy giụa ở bên dưới một cách tầm thường, như sự tụ tập của đám ngu ngốc mà bà trông thấy kia kìa. Còn thứ khác, thứ vĩnh cửu, nó ở khắp xung quanh và ở bên trên, như phong cảnh bao bọc ta và trời xanh soi sáng ta.

Ông Liơvanh vừa lấy mùi soa ra lau miệng. Ông ta tiếp tục đọc:

"Và thưa các ông, tôi cần phải làm gì để chứng minh ở đây cái lợi ích của nông nghiệp? Ai vậy cung ứng cho ta các nhu cầu hàng ngày? Ai vậy cung cấp cho ta cơm áo để sinh sống? Há chẳng phải là nhà nông? Nhà nông, thưa các ông, bằng bàn tay cần cù gieo hạt giống trên các luống cày phì nhiêu ở đồng quê, làm nẩy nở ra hạt lúa, "hạt lúa được nghiền nát bằng những máy tinh xảo, trở thành cái gọi là bột, và từ đó, được vận chuyển đến các đô thị, đưa ngay đến nhà thợ làm bánh, bằng thứ bột ấy chế ra một món ăn cho người nghèo cũng như người giàu". Phải chăng cũng lại nhà nông, để cho ta có áo mặc, đã nuôi béo những đàn súc vật đông đảo trên các đồng cỏ? Vì không có nhà nông thì ta che thân làm sao, ta nuôi thân thế nào? Và thậm chí, thưa các ông, có cần phải đi thật xa để tìm thí dụ hay không? Ai chẳng thường nghĩ tới tất cả cái tầm quan trọng mà người ta rút ra được từ con vật tầm thường kia, vật trang điểm các sân nuôi gà vịt của ta, nó cung cấp cho ta vừa gối mềm để ta ngủ, vừa thịt ngon bổ để ta ăn, và cả trứng nữa? Nhưng tôi chẳng làm sao nói cho xong được nếu phải hết thứ này đến thứ khác các sản phẩm khác nhau mà đất trồng trọt được làm kỹ, như người mẹ rộng lượng cho các con một cách dồi dào. Đây là cây nho; chỗ khác là cây táo làm rượu; kia là cây cải dầu; xa hơn là phó mát và vải gai; thưa các ông, ta chớ quên cây gai, cây gai trong những năm gần đây đã phát triển mạnh mẽ, và tôi đặc biệt kêu gọi sự chú ý của các ông hơn nữa về cây gai".

Ông ta chẳng cần phải kêu gọi vì tất cả đám đông đều há hốc miệng ra, như để nuốt từng lời của ông ta. Tuyvasơ, ngồi bên ông ta, mở to mắt mà nghe ông nói; ông Đơrôzơre, thỉnh thoảng lại nhẹ nhàng khép mi mắt lại, và xa hơn, tay dược sĩ, với thằng con trai Napôlêông đứng xen giữa hai chân ông, khum bàn tay vào tai để nghe khỏi bỏ tiếng nào. Các thành viên khác của hội đồng từ từ đu đưa cái cầm của mình trong chiếc áo gilê tỏ ý tán thành. Lính cứu hỏa, ở dưới chân bục, đứng theo tư thế nghỉ bên lưỡi lê; và Binê đứng im, khuỷu tay thò ra ngoài với mũi kiếm đâm không khí. Có lẽ ông ta đang nghe, nhưng ông ta chẳng có thể trông thấy gì được vì vành mũ cát của ông sụp xuống tận mũi. Viên phụ tá, đứa con trai út của ông Tuyvasơ, lại quá đáng hơn với chiếc mũ của gã ta vì nó rất to cứ lúc lắc trên đầu gã ta và để thò một đầu khăn quàng vải hoa ra ngoài. Dưới chiếc mũ đó, gã ta nở một nụ cười hiền hậu rất ngây thơ, và trên bộ mặt choắt xanh xao của gã ta lã chã mồ hôi biểu hiện một niềm vui thích, một vẻ mệt nhọc và một sự buồn ngủ.

Quảng trường cho tới nhà ở đều đầy ắp người. Người ta thấy kẻ thì tì khuỷu tay lên cửa sổ, kẻ thì đứng ở cửa ra vào, và Juyxtanh, đứng trước cửa hàng dược phẩm, có vẻ hết sức chăm chú ngắm nghía cái mà gã đang nhìn. Mặc dầu xung quanh im lặng, tiếng nói của ông Liơvanh cứ tan đi trong không trung. Nó tới tai người nghe từng mảnh câu bị ngắt quãng đó đây bởi tiếng ghế động trong đám đông; rồi người ta lại nghe thấy đột ngột ở phía sau mình có tiếng bò rống kéo dài hoặc tiếng cừu con be be đáp nhau ở góc phố. Quả thật những anh chăn bò và những anh chăn cừu đã dồn đàn súc vật của mình tới tận đó, và những con vật chốc chốc lại vừa kêu lên vừa lấy lưỡi ngắt chút cành lá rủ trước mõm.

Rôđônphơ ngồi sát gần vào Emma, và y hạ giọng nói nhanh:

- Cái âm mưu của người đời không làm cho bà phẫn uất sao? Có một thứ tình cảm nào mà họ không lên án? Những bản năng cao quý nhất, những cảm tình trong sạch nhất đều bị ngược đãi, vu cáo, nếu như có hai tâm hồn đáng thương cuối cùng gặp được nhau, thì người ta bố trí mọi thứ để họ chẳng thể gắn bó với nhau. Nhưng họ cũng sẽ cố gắng, họ sẽ vỗ cánh, họ kêu gọi nhau. Ô! cần gì, sớm hay muộn, trong sáu tháng, mười năm, họ sẽ sum họp, được yêu nhau, vì rằng định mệnh là thế và họ sinh ra là vì nhau.

Y ngồi, cánh tay khoanh trên đầu gối, và, cứ thế ngẩng mặt về phía Emma, y chòng chọc nhìn nàng sát gần. Nàng nhìn rõ trong mắt y những tia vàng nhỏ tỏa ra xung quanh con ngươi đen, và nàng thấy cả mùi thơm của sáp làm bộ tóc y bóng loáng. Thế là nàng thấy lòng mình yêu mến, nàng nhớ đến tay tử tước đã dìu nàng nhảy van ở lâu đài Vôbyétxa, bộ râu hắn, cũng như những mớ tóc kia tỏa ra cái mùi vani và mùi chanh ấy, và tự nhiên, nàng khép nửa vời mí mắt lại để ngửi kỹ hơn cái hương thơm ấy. Nhưng, trong cái động tác nàng làm khi chồm người trên chiếc ghế, nàng chợt thấy ở xa, tận cuối chân trời, chiếc xe Con én cũ kỹ từ từ xuống dốc Lơ cuốn theo đằng sau nó một làn bụi dài. Chính bằng chiếc xe màu vàng đỏ Lêông trước kia đã rất nhiều lần trở về với nàng; và chính trên con đường cái kia anh ta đã ra đi mãi mãi! Nàng tưởng như nhìn thấy anh ta trước mặt, ở cửa sổ buồng nàng, rồi thì mọi thứ hòa lẫn, những đám mây trôi qua; nàng thấy như nàng còn đang quay tròn trong cuộc nhảy vanxơ dưới ánh đèn treo, trong tay tử tước, và như Lêông không ở xa, anh ta sắp đến... thế nhưng nàng vẫn cảm thấy đầu Rôđônphơ bên mình. Cái dịu dàng của cảm giác ấy cứ thế thấm vào các ham muốn xưa kia của nàng, và như những hạt cát trước một cơn gió, những ham muốn ấy quay cuồng trong làn hương len lỏi nhanh chóng vào tâm hồn nàng. Nàng phồng mạnh lỗ mũi nhiều lần để hít cái mát mẻ của dây trường xuân leo quanh các đầu cột. Nàng tháo găng ra, nàng lau hai bàn tay; rồi, lấy mùi soa, nàng phe phẩy vào mặt, trong khi đó qua mạch đập trên thái dương, nàng nghe tiếng ồn ào của đám đông và tiếng đọc đơn điệu của ông nghị. Ông nghị nói:

"Các ông hãy tiếp tục! Hãy kiên trì! Chớ nghe những lời dỗ dành của thói cổ hủ cũng như những lời khuyên bảo vội vàng của thứ chủ nghĩa kinh nghiệm liều lĩnh! Các ông hãy chuyên tâm trước hết đến việc cải thiện chất đất, đến phân bón tốt, đến sự phát triển các giống ngựa, bò, cừu và lợn! Mong rằng hội nghị này đối với các ông như một vũ đài hòa bình, ở đó người thắng cuộc, khi ra bắt tay người thua cuộc và tỏ tình anh em với họ trong hy vọng một thắng lợi tốt đẹp hơn! Còn các bạn, những người giúp việc đáng tôn trọng, những người đầy tớ khiêm tốn, mà tới nay chưa một Chính phủ nào quan tâm đến công lao khó nhọc, các bạn hãy đến đây nhận phần thưởng về đức tin thầm lặng của các bạn, và các bạn hãy tin chắc rằng từ nay Nhà nước sẽ chú ý tới các bạn, Nhà nước khích lệ các bạn, bảo hộ các bạn. Nhà nước sẽ xét đến các đòi hỏi chính đáng của các bạn và sẽ, với hết quyền lực của mình, làm giảm bớt các gánh nặng những hy sinh đáng tiếc của các bạn!".

Đến đó, ông Liơvanh ngồi xuống; ông Đơrôzơre đứng lên bắt đầu một bài diễn văn khác. Bài của ông, có lẽ chẳng văn hoa bằng bài của ông nghị, nhưng nó được chú ý bởi một phong cánh có tính xác thực hơn, tức là bởi những kiến thức chuyên môn hơn và bởi những khảo sát cao hơn. Chẳng hạn, lời ca tụng Chính phủ ít chỗ hơn; tôn giáo và canh nông chiếm nhiều chỗ hơn. Người ta thấy trong đó mối tương quan giữa cái này với cái kia, và hai cái đó thường thường hỗ trợ cho nền văn minh như thế nào. Rôđônphơ cùng với bà Bôvary, nói chuyện về chiêm bao, linh cảm, từ tính. Trở lại nguồn gốc các xã hội, diễn giả miêu tả cho ta những thời man dại mà con người sống bằng trái cây dẻ dại trong rừng thẳm. Rồi họ trút bỏ da thú, khoác dạ, đào luống, trồng nho. Đó phải chăng là một điều hay và trong sự phát minh ấy phải chăng có hại hơn là có lợi? Ông Đơrôzơre tự đặt ra vấn đề ấy. Từ từ tính, dần dà Rôđônphơ nói đến mối quan hệ của hai vật thể đồng điệu và, trong khi ông chủ tịch kể chuyện Xanhxinatuyx 2 đi cày, Điôclêchiêng 3 trồng cải bắp và các hoàng đế Trung Hoa mở đầu năm bằng lễ gieo hạt giống, thì y giải thích cho người thiếu phụ rằng các sức hấp dẫn không cưỡng lại được kia có nguyên nhân từ kiếp trước nào đấy.

- Như chúng ta đây, y nói, tại sao chúng ta lại quen biết nhau? Do sự tình cờ nào run rủi tới? Đó là vì qua xa cách, đúng thế, như hai dòng sông lớn chảy tới để gặp nhau, những khuynh hướng riêng của chúng ta đã xô đẩy chúng ta lại gần nhau.

Thế rồi y cầm tay nàng; nàng không rút lại.

"Chúc toàn thể mọi người trồng trọt tốt!", ông chủ tịch hô.

- Mới rồi, chẳng hạn, khi tôi đến nhà bà...

"Tặng ông Bizê, ở Canhcăngpoa".

- Tôi có biết đâu rằng tôi sẽ cùng đi với bà?

"Bảy mươi quan!".

- Có đến hàng trăm lần tôi muốn bỏ đi, nhưng tôi đã theo bà, tôi ở lại.

"Phân bón".

- Cũng như tôi muốn ở lại chiều nay, ngày mai, những hôm khác, suốt đời tôi!

"Tặng ông Carông ở Ácgơi một huy chương vàng!".

- Là vì chưa bao giờ tôi đã thấy, đang lúc được gần ai, một mê say đầy đủ như thế.

"Tặng ông Banh ở Givry - Xanh Máctanh!".

- Cho nên, tôi, tôi sẽ mang theo kỷ niệm về bà.

"Về một con cừu đục, lông tốt đặc biệt...".

- Nhưng rồi ông sẽ quên tôi, tôi sẽ đi qua như một cái bóng.

"Tặng ông Bôlơ ở Nốt Đam...".

- Ô! Không đâu, phải chăng, tôi sẽ là một cái gì trong tư tưởng bà, trong cuộc đời bà?

"Giống lợn, phần thưởng đồng hạng tặng các ông Lơhêrixê và Quynlăngbua sáu mươi quan!".

Rôđônphơ nắm tay nàng; và y cảm thấy tay nàng nóng hổi và run run như con chim gáy bị giam cầm muốn cất cánh bay đi; nhưng hoặc toan rút tay ra, hoặc hưởng ứng cái nắm chặt ấy, nàng động đậy các ngón tay; y thốt lên:

- Ồ! Cảm ơn! Bà chẳng cự tuyệt tôi! Bà có lòng tốt! Bà hiểu rằng tôi thuộc về bà! Bà cứ để tôi được nhìn bà, tôi được ngắm bà!

Một luồng gió thổi qua cửa sổ răn cái thảm phủ bàn lại, và, trên quảng trường, dưới kia cả loạt mũ trùm lớn của các bà nông dân được nâng lên như những con bướm trắng vẫy cánh.

"Sử dụng khô dầu", chủ tịch tiếp tục.

Ông ta vội vã:

"Phân bón xứ Flăngđơrơ, - trồng gai, - tháo nước, phát canh dài hạn, - lao dịch của người giúp việc".

Rôđônphơ thôi không nói nữa. Hai người nhìn nhau. Một sự thèm muốn cực độ làm run rẩy cặp môi khô của họ! Và các ngón tay họ tự nhiên xoắn chặt lấy nhau một cách nhẹ nhàng.

"Bà Catơrin - Nikedơ - Elidabét Lơru, ở Xátxơtô - la Gherie, vì đã lao dịch năm mươi tư năm liền trong một trang trại, được thưởng một huy chương bạc giá hai mươi lăm quan!"

"Bà ấy đâu, bà Catơrin Loru?" ông nghị nhắc lại.

Bà ấy không ra, và người ta nghe thấy những tiếng xì xào:

- Đi lên đi!

- Không.

- Sang bên trái!

- Đừng sợ gì!

- Ồ, bà ấy ngốc thế!

- Nào bà ấy lên chưa? Tuyvasơ kêu lên.

- Có!... Bà ấy kia!

- Vậy bà ấy hãy lại gần đây!

Bây giờ người ta thấy tiến lên bục bà già nhỏ bé, dáng sợ sệt, ra vẻ co dúm lại trong bộ quần áo tồi tàn. Chân bà ta xỏ đôi giày guốc bằng gỗ và hai bên hông bà được phủ bằng một chiếc tạp dề xanh lớn. Mặt bà gầy, bao quanh bởi một chiếc khăn trùm không viền, nhăn nheo hơn một quả táo héo, và đôi bàn tay dài của bà đầy mấu khớp xương không vượt qua được ống tay áo chẽn đỏ. Bụi các vựa lúa, bồ tạt trong thuốc giặt quần áo và chất mỡ của len đã làm cáu, làm bợt, làm cứng đôi ống tay ấy đến nỗi trông vẫn bẩn tuy đã được cọ rửa bằng nước trong; và, vì đã dùng quá lâu, chúng đã rách toạc ở nhiều chỗ như để tự mình phô ra cái bằng chứng hèn mọn về bao đau khổ chịu đựng. Có cái gì nghiêm cách của nhà tu tôn vẻ mặt của bà lên. Chẳng có cái gì buồn rầu hoặc xúc động làm dịu được ánh mắt xanh nhạt kia. Luôn sống gần các súc vật, bà ta đã nhiễm thói câm lặng và tính thản nhiên của chúng. Đây là lần đầu tiên, bà thấy mình ở giữa một đám đông người đến thế; và, kinh hoảng bởi cờ quạt trống phách, bởi những ông vận y phục đen và bởi cái bội tinh của ông nghị, bà đứng sững lại, chẳng biết nên tiến hay nên thoái, chẳng biết tại sao đám đông cứ đẩy mình lên và tại sao các ông giám khảo lại tủm tỉm cười với mình. Thế đó, đứng trước bọn tư sản phởn phơ kia là cả một nửa thế kỷ tôi đòi ấy.

- Bà lại gần đây, bà Catơrin Nikedơ - Elidabét Lơru đáng kính! Ông nghị vừa nói, vừa đón từ hai tay của ông chủ tịch bản danh sách những người được khen thưởng.

Rồi hết xem giấy tờ lại nhìn bà già, ông nhắc lại bằng giọng nhân từ:

- Bà lại đây, lại đây!

- Bà có điếc không? Tuyvasơ vừa nói vừa chồm lên từ chiếc ghế bành.

Và ông ta thét vào tai bà già:

- Năm mươi tư năm lao động! Một huy chương bạc! Hai mươi lăm quan! Tặng bà đấy.

Rồi, khi bà đã cầm chiếc huy chương, bà ta ngắm nghía nó. Một nụ cười hoan hỷ liền nở trên khuôn mặt bà và người ta nghe thấy bà lẩm bẩm khi đi xuống:

- Mình sẽ đưa cái này cho cha xứ để cha làm lễ cho mình.

- Thật là cuồng tín! Tay dược sĩ ngả người về phía viên chưởng khế mà thốt lên.

Hội nghị kết thúc; đám đông giải tán; và bây giờ các diễn văn đã đọc rồi, ai nấy lại trở về địa vị của mình và mọi sự lại trở về lề lối cũ: chủ nhân ngược đãi đầy tớ đánh đập súc vật, những kẻ thắng cuộc thản nhiên lại trở về chuồng với một vòng lá xanh giữa cặp sừng.

Trong lúc ấy đám vệ binh đã leo lên tầng nhất tòa thị sảnh với những chiếc bánh sữa được xiên bằng lưỡi lê, và người lính đánh trống của đại đội khuân một thúng chai. Bà Bôvary khoác tay Rôđônphơ; y đưa bà về tận nhà; hai người chia tay ở trước cửa; rồi y đi chơi một mình trong đống cỏ chờ đến giờ dự tiệc.

Bữa tiệc kéo dài, ồn ào, phục vụ kém; người ta ngồi chật đến mức khó lòng nhấc được cánh tay, và những tấm ván hẹp dùng làm ghế dài suýt gẫy dưới sức nặng của khách ngồi. Họ ăn uống ê hề. Ai nấy đều tận lực trong cái phần của mình. Mồ hôi đầm đìa trên trán; và một làn hơi trắng nhờ như hơi nước trên mặt sông vào một buổi sáng thu chờn vờn trên bàn ăn, giữa những chiếc đèn dầu treo. Rôđônphơ, lưng dựa vào vách lều căng bằng vải chúc bâu, tơ tưởng đến Emma nhiều quá đến mức y không còn nghe thấy gì hết. Đằng sau y trên bãi cỏ, đám người hầu đang xếp những đĩa bẩn; khách bên cạnh y hỏi, y chẳng trả lời; người ta rót rượu đầy cốc y, thế mà một tình trạng vắng lặng vẫn bao trùm lên tâm tư của y, mặc dầu tiếng ồn ào ở ngoài mỗi lúc mỗi tăng. Y nghĩ vớ vẩn đến cái mà nàng đã nói và đến hình cặp môi nàng, khuôn mặt nàng, như trong chiếc gương thần, óng ánh trên vành mũ nhà binh, nếp áo dài của nàng rủ xuống dọc theo các bức tường, và những ngày yêu đương kéo dài vô tận trong viễn ảnh của tương lai.

Buổi tối, y lại gặp nàng trong lúc đốt pháo hoa; nhưng nàng đi cùng với chồng, bà Hôme và tay dược sĩ, tuy nàng rất lo lắng về tai nạn sinh ra bởi pháo hoa bay lạc; và chốc chốc, y lại rời nhóm để đi dặn dò Binê.

Pháo hoa gửi đến địa chỉ của ông Tuyvasơ, vì quá cẩn thận, đã cất kỹ vào hầm nhà ông ta cho nên thuốc pháo ẩm không bén lửa và cái tiết mục chính, phải mô tả một con rồng đang cắn đuôi, bị thất bại hoàn toàn. Thỉnh thoảng, vọt lên một chiếc pháo hình đèn La Mã, tức thì đám đông miệng há hốc thốt ra một tiếng reo hò trong đó có lẫn cả tiếng kêu của phụ nữ bị người ta sờ mó trong bóng tối. Emma, lặng im, nhẹ nhàng nép mình vào vai Sáclơ; rồi hếch cằm lên, nàng theo dõi tia sáng của pháo hoa trên bầu trời đen. Rôđônphơ ngắm nàng dưới ánh đèn cốc đang cháy.

Đèn ấy tắt dần. Những ngôi sao sáng lên. Vài giọt mưa rơi xuống. Nàng thắt chiếc khăn ren choàng trên đầu trần.

Lúc ấy, chiếc xe ngựa của ông nghị từ trong quán ra. Gã xà ích, say rượu, bỗng thiu thiu ngủ, và từ xa người ta thấy phía trên mui xe, giữa hai ngọn đèn lồng, thân hình gã ta đu đưa hết sang phải lại sang trái, tùy theo sự tròng trành của hòm xe.

- Thực ra, tay dược sĩ nói, cần phải nghiêm trị tệ say rượu! Tôi muốn người ta ghi, hàng tuần, ở cổng thị sảnh, trên một chiếc bảng trực tiếp, tên tất cả những người, suốt trong thời gian đó đã tự đầu độc mình bằng rượu. Vả lại, về phương diện thống kê, người ta sẽ có ở đó như những biên niên sử đích xác mà khi cần người ta có thể... Nhưng xin lỗi...

Thế rồi hắn lại chạy về phía viên chỉ huy vệ binh.

Ông này trở về nhà. Ông ta đi xem lại cái máy tiện của ông ta.

Hôme nói với ông ta:

- Có lẽ ông nên cử một người của ông đi hoặc tự ông đi là hay...

- Xin ông để tôi yên, viên thu thuế đáp, vì chẳng có chuyện gì cả!

- Các bác hãy bình tâm, tay dược sĩ nói, khi hắn trở lại chỗ bạn bè. Ông Binê đã quả quyết với tôi rằng mọi biện pháp đã được trù liệu. Không có mồi lửa nào rơi xuống đầu. Các vòi bơm đều đầy nước cả. Ta về ngủ đi thôi.

- Nói thật! Tôi cũng buồn ngủ rồi, bà Hôme vừa nói vừa ngáp dài; nhưng không sao, chúng ta đã được một ngày hội rất đẹp.

Rôđônphơ khẽ nhắc lại, với một cái nhìn thắm thiết:

- Ồ! Vâng, rất đẹp!

Và, chào nhau xong, họ đi mỗi người một ngả.

Hai ngày sau, trên tờ Ngọn đèn Ruăng có một bài báo lớn về hội nghị. Hôme đã cao hứng viết bài đó:

"Tại sao những dây hoa, những đóa hoa, những tràng hoa này, đám đông này chạy đi đâu, như những làn sóng cửa biển dữ dưới những luồng ánh sáng mặt trời nhiệt đới đang gieo cái nóng trên ruộng đồng của chúng ta?".

Sau đó, ông nói về hoàn cảnh của những người nông dân. Quả thật, Chính phủ đã làm nhiều, nhưng chưa đủ. "Hãy can đảm lên! Hắn kêu lên; hàng nghìn cuộc cải cách là cần thiết, chúng ta thực hiện những cải cách ấy đi". Rồi, nói đến sự ra mắt của ông nghị, hắn chẳng quên "cái vẻ hùng tráng của đội vệ binh chúng ta", cả "các cô thôn nữ linh lợi nhất của chúng ta" cũng như các cụ già đầu hói, "các cụ già đáng kính tới đó, vài người trong họ, di tích của những đội quân bất tử của chúng ta, còn cảm thấy lòng mình sôi nổi trước tiếng trống oai hùng". Hắn tự nêu tên mình trong những người đầu tiên trong những thành viên hội đồng, và thậm chí hắn còn nhắc đến, trong một chú thích, rằng ông Hôme, dược sĩ, đã gửi một bản báo cáo về rượu táo đến hội Canh nông. Khi nói đến cuộc phát thưởng, hắn miêu tả nỗi vui sướng của những người trúng giải bằng những nét khuyếch đại! "Cha hôn con trai, anh hôn em, chồng hôn vợ. Nhiều người kiêu hãnh phô tấm huân chương tầm thường của mình, và hắn lại, trở về nhà, bên người vợ đảm đang, họ đã vừa khóc vừa treo nó lên bức tường kín đáo của túp lều tranh".

Vào lúc sáu giờ, một bữa tiệc bày trên đồng cỏ của ông Liêgia đã tập hợp những nhân vật chính của ngày hội. Tình thân mật nhất đã không ngừng ngự trị ở đó. Đã nhiều lần người ta nâng cốc: Ông Liơvanh, chúc hoàng thượng! Ông Tuyvasơ chúc ông quận trưởng! Ông Đơrôzơre chúc nền nông nghiệp! Ông Hôme chúc nền công nghiệp và mỹ nghệ, hai ngành chị em đấy! Ông Lơplisây chúc mọi sự cải tiến! Buổi tối lửa pháo hoa rực rỡ đã bất thần làm sáng ngời không trung. Người ta có thể nói đó là một kính vạn hoa thực sự, một cảnh trí kịch viện thực sự và, trong khoảnh khắc, cái địa phương nhỏ bé của chúng ta có thể tưởng như được chuyển đến giữa một giấc mơ của Một nghìn một đêm lẻ.

"Chúng tôi nhận xét rằng không có một biến cố đáng tiếc nào đã xảy ra làm rối loạn cuộc hội họp gia đình này".

Và hắn nói thêm:

"Người ta chỉ thấy ở đấy sự vắng mặt của giới tu sĩ. Chắc hẳn các vị giữ đồ thánh hiểu sự tiến bộ một cách khác. Tùy các ông đấy, các ông xuất từ Loayôla 4 ạ!".

--------------------------------

1

Ở phương Tây, có một tục lệ là ngắt cánh hoa cúc để đoán duyên phận.

2

Xanhxinatuyx (Cincinnatus): Một người La Mã, trước công nguyên nổi tiếng vì tính giản dị và tính khắc khổ.

3

Điôlêchiêng (Diolétien): Hoàng đế La Mã (245-313).

4

Các ông xuất xứ từ Loayôla (messieurs de Loayola): Các giáo sĩ dòng đạo Gia Tô

Chương 9

Sáu tuần trôi qua, Rôđônphơ không trở lại. Cuối cùng, một buổi tối y xuất hiện.

- Ta chẳng nên quay lại đó sớm quá, làm như vậy sẽ là một sai lầm.

Và, cuối tuần, y đã đi săn.

Sau cuộc săn, y nghĩ rằng thế là muộn quá, rồi y lý luận:

- Nhưng, nếu ngay từ đầu nàng đã yêu ta, thì do nóng lòng gặp lại ta, nàng càng yêu ta hơn. Vậy ta cứ tiếp tục?

Và y hiểu y đã tính đúng, khi bước vào phòng, y thấy Emma tái mặt đi.

Nàng có một mình. Trời sắp tối. Những rèm cửa nhỏ bằng vải mỏng che dọc các tấm cửa kính làm bóng hoàng hôn dày đặc, và lớp vàng mạ trên chiếc phong vũ biểu, mà một tia nắng dội vào, đã tỏa những ánh lửa vào chiếc gương, qua những khe của đám san hô.

Rôđônphơ đứng đó, và Emma gọi là đáp lại những câu chào hỏi đầu tiên của y.

- Tôi, y nói, tôi mắc bận. Tôi ốm.

- Nặng không? Nàng thốt lên.

- Ồ! Không sao! Rôđônphơ vừa ngồi xuống chiếc ghế đẩu bên nàng vừa đáp... chả là tôi không muốn trở lại thôi.

- Sao thế?

- Bà không đoán ra ư?

Y  lại nhìn nàng một lần nữa, nhưng nhìn một cách quá thô bạo đến nỗi nàng phải cúi đầu xuống và đỏ mặt lên. Y nói tiếp:

- Emma...

- Ông! Nàng vừa nói vừa ngồi xa ra một chút.

- Đấy! Bà thấy rõ, y đáp bằng một giọng rầu rầu, tôi không muốn trở lại là phải; vì cái tên đó, cái tên nó choán cả tâm hồn tôi và nó cứ buột ra khỏi miệng tôi, bà cấm tôi gọi cái tên ấy! Bà Bôvary!... Ồ! Mọi người đều gọi bà như thế!... Vả chăng, đó không phải tên của bà; đó là cái tên của người khác!

Y  nhắc lại:

- Của người khác!

Rồi y đưa hai bàn tay lên che mặt:

- Phải, tôi luôn luôn nghĩ đến bà!... Nghĩ đến bà là tôi tuyệt vọng! Ôi! Bà tha lỗi!... Tôi xin xa bà... Vĩnh biệt!... Tôi sẽ đi xa... xa đến nỗi bà chẳng còn nghe nói đến tôi nữa!... Vậy mà..., hôm nay..., tôi không biết mãnh lực nào còn xô đẩy tôi đến bà! Vì ai không chống lại trời, chẳng ai cưỡng lại được nụ cười của thần tiên! Mọi người đều bị lôi cuốn bởi cái gì đẹp diễm lệ, đáng yêu!

Đây là lần đầu tiên Emma được nghe người ta nói với mình những điều này; và lòng kiêu hãnh của nàng, như người đang thả mình trong buồng tắm hơi, đã hoàn toàn rộng mở một cách mềm yếu trước cái nhiệt tình của thứ ngôn ngữ ấy.

- Nhưng, nếu tôi không đến, y nói tiếp, nếu tôi chẳng có thể trông thấy bà, thì ôi! Ít ra tôi cũng được ngắm nhìn cảnh vật quanh bà. Ban đêm, đêm nào cũng vậy, tôi nhỏm dậy, tôi đến tận đây, tôi nhìn nhà bà, mái nhà óng ánh dưới trăng, cây cối trong vườn đu đưa trước cửa sổ buồng bà, và một ngọn đèn con, một ánh sáng mờ lấp lánh qua các ô cửa kính, trong bóng tối. Ôi! Bà chẳng biết được rằng ở đó, gần thế và xa thế, có một người khốn khổ đáng thương...

Nàng quay mặt về phía y với một tiếng nức nở.

- Ôi! Ông tốt quá! Nàng nói.

- Không, tôi yêu bà, tất cả là thế! Bà không hoài nghi chứ! Bà hãy nói cho tôi biết đi, một tiếng thôi! Chỉ một tiếng thôi!

Rồi Rôđônphơ, bất giác, tuột mình từ chiếc ghế đẩu xuống dưới đất; nhưng có tiếng giày guốc trong bếp, và y chợt nhận thấy cửa buồng lại không đóng.

- Thỏa mãn một tính ngông cuồng, bà thực là phúc đức! Y vừa đứng dậy vừa nói tiếp.

Đó là y muốn đi thăm căn nhà nàng, y muốn biết căn nhà ấy; và bà Bôvary không thấy việc đó có gì trở ngại cả hai liền đứng dậy, thì vừa lúc đó Sáclơ bước vào.

- Chào bác sĩ, Rôđônphơ nói.

Người thầy thuốc, thích thú với cái danh hiệu bất ngờ ấy, đã tỏ vẻ mến khách một cách quá mức, còn kẻ kia, nhân đó lấy lại tinh thần đôi chút.

- Bà nhà ta vừa nói chuyện với tôi về sức khỏe của bà, y liền nói.

Sáclơ ngắt lời y. Thấy hắn đang có nghìn nỗi lo âu, bệnh tâm thần của vợ hắn lại bắt đầu tái diễn. Thế là Rôđônphơ hỏi việc tập cưỡi ngựa có tốt không.

- Tất nhiên là tốt! Tốt lắm, hoàn toàn tốt!... Đó là một ý kiến hay! Em nên theo ý kiến ấy.

Và, vì nàng cãi rằng nàng chẳng có ngựa, Rôđônphơ liền tặng nàng một con; nàng từ chối; y không nài ép, rồi, để biện bạch việc đến thăm của y, y kể là người đẩy xe bò của y, người chích máu ấy, vẫn cảm thấy mình choáng váng.

- Tôi sẽ qua đó, Bôvary nói.

- Không, không, tôi sẽ cho gã ta đến ông; chúng tôi sẽ đến như thế tiện cho ông hơn.

- À! Được lắm. Tôi cảm ơn ông.

Rồi, khi chỉ còn lại hai vợ chồng, hắn hỏi:

- Sao em chẳng nhận lời đề nghị nhã nhặn đến thế của ông Bulănggiê?

Nàng ra vẻ hờn dỗi, tìm mọi cớ thoái thác, rồi sau cùng tuyên bố điều đó có lẽ hơi kỳ.

- À! Anh xem thường điều đó! Sáclơ vừa quay ngoắt người lại vừa nói. Sức khỏe trước hết! Em nhầm rồi!

- Ồ! Em chẳng có quần áo cưỡi ngựa thì anh bảo em cưỡi ngựa thế nào?

- Thì em phải sắm cho em một bộ! Hắn đáp.

Bộ quần áo cưỡi ngựa khiến nàng quyết định.

Khi trang phục đã sẵn sàng, Sáclơ viết thư cho ông Bulănggiê nói rằng vợ hắn đang chờ, và hắn trông vào sự vui lòng giúp đỡ của y.

Trưa hôm sau, Rôđônphơ đến cửa nhà Sáclơ với hai con ngựa nòi. Một con đeo những búp len hồng ở tai và mang một cỗ yên phụ nữ bằng da hoẵng.

Rôđônphơ đã đi bốt mềm dài ống. Y thầm nói chắc chắn nàng chưa bao giờ trông thấy loại bốt như thế; quả nhiên, Emma thích thú về phong thái của y khi y xuất hiện ở trên thềm với chiếc áo rộng bằng nhung và chiếc quần nịt trắng. Nàng đã sẵn sàng; nàng đợi y.

Juyxtanh từ hiệu thuốc ra để xem nàng, và tay dược sĩ cũng bận tâm. Ông dặn dò ông Bulănggiê:

- Tai nạn có thể xảy ra rất đột ngột! Ông nên cẩn thận! Ngựa của ông có lẽ là loại hăng!

Nàng nghe thấy động phía trên đầu. Đó là Fêlixitê đang gõ mặt cửa kính để dỗ con bé Béctơ. Con bé từ xa gửi mẹ một cái hôn; mẹ nó ra hiệu đáp lại nó bằng núm roi ngựa.

- Đi cho bình yên! Ông Hôme thốt lên... giữ gìn cẩn thận trước hết! Giữ gìn cẩn thận!

Và hắn vừa vẫy tờ báo vừa nhìn hai người đi xa.

Con ngựa của Emma vừa ngửi thấy mùi đất là chạy nước đại. Rôđônphơ phi bên cạnh nàng. Thỉnh thoảng họ mới trao đổi với nhau một đôi lời. Một hơi cúi xuống, bàn tay giơ cao và cánh tay phải giang thẳng, nàng buông mình theo nhịp ngựa ru nàng trên yên.

Đến chân dốc, Rôđônphơ thả dây cương; loáng một cái, hai người lại cùng nhau vọt đi; rồi lên đến cao, hai con ngựa đột ngột dừng lại và tấm voan che mặt màu lam của nàng rơi xuống.

Khi đó vào những ngày đầu tháng mười. Sương phủ đồng quê. Những làn hơi vươn dài đến chân trời làm mờ hình thể các quả đồi; và có làn hơi, tự tách ra thành nhiều đám, bay lên, biến mất. Đôi khi, qua khoảng cách các đám mây, dưới một tia nắng, người ta thoáng thấy xa xa các mái nhà Yôngvin, với những vườn bên bờ sông, những sân, những tường và tháp chuông nhà thờ. Emma lim dim đôi mắt để nhận ra được nhà mình, và chưa bao giờ cái làng nghèo nàn mà ở đó nàng đã sống, lại dường như quá nhỏ bé đối với nàng. Từ nơi cao họ đang đứng, toàn bộ thung lũng trông tựa một hồ nước bao la màu xanh nhạt, đang bốc hơi trong không trung. Những lùm cây từ chỗ này đến chỗ khác nhô lên như những tảng đá đen; và những hàng bạch dương cao, vượt lên trên sương mù, tưởng chừng những cồn cát lớn chuyển động trước gió.

Phía bên trên thảm cỏ, giữa những cây tùng, một làn ánh sáng nâu sẫm chuyển vận trong bầu trời ấm áp. Mặt đất, hoe đỏ như vụn thuốc lá, làm dịu tiếng bước đi; và, bằng đầu móng sắt, hai con ngựa vừa đi vừa hất tung những quả thông rơi.

Rôđônphơ và Emma cứ như thế men theo ven rừng. Chốc chốc nàng lại quay mặt đi để tránh cái nhìn của y, và lúc ấy nàng chỉ thấy những thân tùng xếp thành hàng kế tiếp liên tục khiến nàng đôi chút choáng váng. Ngựa thở phì phò. Da yên răng rắc.

Lúc họ vào rừng, mặt trời xuất hiện.

- Trời phù hộ chúng ta! Rôđônphơ nói.

- Chắc chứ? Nàng hỏi.

- Hãy tiến lên! Tiến lên! Y đáp. Y chặc lưỡi. Hai con vật lại chạy.

Những cây đuôi chồn dài, bên ria đường, mắc vào bàn đạp của Emma. Rôđônphơ, vừa đi vừa cúi xuống, rút những cây ấy ra dần. Những lần khác, để gạt cành cây, y tiến lên gần nàng và Emma cảm thấy đầu gối y sát vào ống chân nàng. Bầu trời chuyển sang màu xanh lam. Lá cây không lay động. Có những khoảng rộng đầy thạch thảo nở rộ hoa; và từng lớp hoa tím xen kẽ với những đám cây rậm màu xám, hung hung hay vàng óng tùy theo sự khác biệt của lá... Thường thường người ta nghe thấy, có tiếng đập cánh lướt qua dưới các bụi cây hoặc có tiếng kêu khàn nhưng dịu của những con quạ bay giữa những cây sồi.

Họ bước xuống đất. Rôđônphơ buộc ngựa lại. Nàng đi trước, trên rêu, giữa các vết bánh xe.

Nhưng áo nàng dài quá khiến nàng lúng túng, tuy nàng đã vén lên, và Rôđônphơ đi sau nàng, y ngắm nghía, giữa làn dạ đen ấy và đôi giầy đen có cổ, đôi bít tất dài mỏng dính màu trắng của nàng tưởng chừng như là da thịt của nàng.

Nàng dừng lại.

- Tôi mệt, nàng nói.

- Nào, cố gắng đi tí nữa! Y đáp. Can đảm lên!

Rồi, đi được trăm bước nàng lại dừng lại; và qua tấm voan che mặt choàng từ chiếc mũ đàn ông của nàng chếch xuống hông nàng, người ta nhận rõ mặt nàng trong màu lam nhạt trong suốt, tựa hồ nàng bơi dưới những làn nước màu da trời.

- Chúng ta đi đâu vậy?

Y không trả lời gì. Nàng thở một cách dồn dập. Rôđônphơ đưa mắt nhìn quanh và cắn râu mép.

Họ đến một chỗ rộng hơn, ở đó người ta đã đốn các cây còn chừa lại. Họ ngồi trên một thân cây đổ, và Rôđônphơ liền nói với nàng về tình yêu của y.

Thoạt tiên y chẳng làm nàng sợ hãi vì y chỉ ca tụng nàng. Y tỏ ra điềm tĩnh, đúng đắng, ưu tư.

Emma vừa cúi đầu lắng nghe y nói, vừa lấy đầu ngón chân di những mảnh vỏ bào dưới đất.

Nhưng nghe đến câu:

- Phải chăng chúng ta hiện nay chẳng cùng chung vận mệnh?

- Ờ không! Nàng đáp. Ông biết rõ đấy. Không thể được. Nàng đứng dậy để đi. Y nắm lấy cổ tay nàng. Nàng dừng lại.

Rồi sau khi nhìn y vài phút bằng con mắt đa tình và ướt át, nàng nói mạnh mẽ:

- À! Này, ta đừng nói chuyện ấy nữa. Ngựa đâu? Ta đi về thôi.

Có một cử chỉ giận dữ và buồn bực. Nàng nhắc lại:

- Ngựa đâu? Ngựa đâu?

Thế là nhếch một nụ cười kỳ lạ trên môi, rồi dương mắt nhìn nàng chòng chọc, sít đôi hàm răng chặt lại, y vừa tiến lên vừa dang hai tay.

Nàng lùi lại, run sợ. Nàng ấp úng:

- Ôi! Ông làm tôi sợ! Ông làm tôi khó chịu! Ta đi đi thôi.

- Nếu cần phải như vậy, y đổi nét mặt mà đáp lại.

Và lập tức y lại trở nên cung kính, dễ thương, nhút nhát. Nàng đưa cánh tay ra chờ y. Họ quay trở về. Y nói:

- Bà làm sao thế? Tại sao? Tôi không hiểu. Chắc hẳn là bà hiểu lầm tôi? Bà ngự trị trong tâm hồn tôi như tượng thánh mẫu trên bệ, ở một chỗ cao quý vững chắc và tinh khiết. Nhưng tôi cần bà để sống! Tôi cần cặp mắt của bà, cần giọng nói của bà, cần tâm sự của bà. Bà hãy là người bạn của tôi, chị em của tôi, thiên thần của tôi!

Rồi y vươn tay ôm lấy người nàng. Nàng cố gỡ mình ra một cách yếu ớt. Y giữ nàng như thế mà đi.

Nhưng tiếng ngựa đang ngoạm lá vang lên.

- Ô! Nán lại một chút nữa. Rôđônphơ nói. Ta đừng đi! Bà hãy ở lại!

Y kéo nàng đi xa hơn, quanh một cái ao nhỏ, ở đó bèo phủ một màu xanh trên mặt nước. Những bông sen tàn héo đứng sững giữa những cây cói. Nghe bước chân họ trên cỏ, ếch nhái nhảy trốn.

- Tôi sai lầm, tôi sai lầm, nàng nói. Tôi dại dột vì nghe ông.

- Tại sao?... Emma! Emma!

- Ôi! Rôđônphơ... người thiếu phụ vừa thủng thẳng nói vừa ngả mình vào vai y.

Dạ áo dài của nàng mắc vào nhung áo ngắn của y, nàng ngửa cái cổ trắng căng phồng lên vì một tiếng thở dài, rồi, không còn sức chống cự, nàng khóc sướt mướt, nàng buông thả mình với một cái rùng mình kéo dài và nàng giấu mặt đi.

Bóng chiều ngả xuống; mặt trời xuyên qua ngang các cành cây làm chói mắt nàng. Đó đây, khắp quanh nàng, trong tầu lá hoặc trên mặt đất, những vết sáng rung rinh tưởng như những con chim sâu, khi bay qua, rắc lông xuống. Khắp nơi đều im lặng, có cái gì êm dịu như toát ra từ cây cối; nàng cảm thấy trái tim nàng đập trở lại và máu chảy trong da thịt nàng như một dòng sữa. Đương lúc ấy, nàng nghe thấy ở rất xa, từ phía ngoài khu rừng, trên các đồi khác, một tiếng kêu mơ hồ và dai dẳng, một giọng nói lê thê, và nàng lặng im nghe nó hòa lẫn như một điệu nhạc xen vào những rung chuyển mới rồi của thần kinh nàng bị rối loạn. Rôđônphơ, xì gà ngậm ở răng, đang lấy dao nhíp nối lại một trong hai dây cương bị đứt.

Họ trở về Yôngvin theo con đường cũ. Họ lại nhìn thấy trên bùn vết chân ngựa của họ đi bên nhau, và vẫn những bụi cây ấy, những hòn sỏi ấy trong cỏ. Chẳng có cái gì quanh họ đổi thay; vậy mà đối với nàng, có cái gì đã xảy ra còn hệ trọng hơn cả, nếu như núi di chuyển. Rôđônphơ, chốc chốc, lại cúi xuống và cầm lấy tay nàng hôn.

Nàng rất đẹp, khi ngồi trên mình ngựa! Người thẳng với thân hình mảnh dẻ, đầu gối gập trên bờm ngựa và nước da có phần hồng hào và không khí quang đãng, trong ánh đỏ của chiều tà.

Vào Yôngvin, nàng để ngựa đi chéo bên này bên kia đường phố.

Người ta nhìn nàng, từ các cửa sổ.

Chồng nàng, bữa tối, thấy nàng tươi tỉnh; nhưng nàng ra vẻ không nghe thấy hắn nói, khi hắn hỏi han về cuộc đi chơi; và nàng cứ ngồi tì khuỷu tay bên cạnh đĩa ăn giữa hai ngọn nến đang cháy.

- Emma! Hắn gọi.

- Gì thế?

- Này, hồi chiều anh đi qua nhà ông Alêchxăng; ông ta có một con ngựa cái nom còn đẹp lắm, chỉ hơi trật đầu gối vì ngã quỵ, mà anh chắc độ trăm đồng là có thể mua được...

Hắn nói thêm:

- Lại nghĩ rằng em sẽ thích, anh đã hẹn giữ ngựa lại..., anh đã mua ngựa... Anh làm thế có phải không? Bảo anh nào!

Nàng gật đầu ra vẻ thuận tình; rồi mười lăm phút sau, nàng hỏi:

- Anh có đi đâu tối nay không?

- Có. Sao?

- Ồ! Không sao, không sao, anh ạ.

Và, khi rứt được Sáclơ, nàng lập tức leo lên gác ẩn mình trong buồng nàng.

Thoạt tiên, dường như là một sự choáng váng; nàng trông thấy cây cối, các đường sá, mương rãnh, Rôđônphơ, rồi nàng còn cảm thấy cánh tay anh ta ôm chặt nàng trong lúc lá cây rung rinh và lùm cói xào xạc.

Nhưng, nhìn thấy mình trong gương, nàng ngạc nhiên về bộ mặt mình. Chưa bao giờ nàng có đôi mắt to đến thế, đen đến thế và sâu đến thế. Có cái gì tinh tế đã phủ lên con người của người làm nàng biến dạng đi.

Nàng nhắc đi nhắc lại: "Mình có một người yêu! Một người yêu!" Nàng khoái trá về cái ý nghĩ ấy như nghĩ tới một thời thanh xuân khác chợt đến với nàng. Vậy là cuối cùng nàng sắp được những niềm vui của tình yêu, cái nóng hổi của hạnh phúc mà nàng đã thất vọng. Nàng bước vào một cái gì kỳ lạ trong đó tất cả sẽ là say mê, ngây ngất, cuồng nhiệt, một vùng mênh mông biêng biếc bao quanh nàng, những đỉnh cao tình cảm sáng chói dưới tâm tư nàng, cuộc sống tầm thường chỉ xuất hiện ở xa, tận dưới kia, trong bóng tối, giữa những khoảng cách của những đỉnh cao đó.

Nàng liền nhớ lại các nữ nhân vật chính trong các sách nàng đã đọc, và cái đoàn quân phụ nữ ngoại tình hăng hái cất tiếng ca hát trong ký ức nàng bằng những giọng cùng hội cùng thuyền khiến nàng thích thú. Bản thân nàng trở thành như một nhân vật thực sự trong những sự tưởng tượng đó và nàng thực hiện cái mộng lâu dài của tuổi thanh xuân khi tự coi mình nằm trong cái kiểu nữ tình nhân mà nàng đã từng thèm khát đến thế. Vả chăng, Emma cảm thấy mãn nguyện được trả thù. Nàng đã chẳng khá đau đớn sao? Nhưng bây giờ nàng đắc thắng, và tình yêu, bấy lâu bị kiềm chế, đã được giải phóng với những điềm hân hoan cuồng loạn. Nàng thưởng thức tình yêu đó không hối hận, không lo lắng, không bối rối.

Ngày hôm sau trôi qua trong vẻ êm đềm mới mẻ. Họ thề thốt với nhau. Nàng kể lại cho y nghe những nỗi buồn rầu của nàng. Rôđônphơ ngắt lời nàng bằng những cái hôn; và nàng vừa lim dim đôi mắt ngắm y vừa đòi y gọi lại nàng bằng tên riêng và nhắc lại là y yêu nàng. Đó là ở trong rừng, như hôm trước, dưới một túp lều thợ đóng giầy guốc. Vách lều bằng rơm và mái lều quá thấp đến nỗi họ phải đứng khom. Họ ngồi nép vào nhau, trên một ổ lá khô.

Từ hôm ấy, tối nào họ cũng viết thư cho nhau đều đều. Emma mang thư ra đầu vườn gần sông bỏ vào một khe hở của nền đất cao. Rôđônphơ đến đấy lấy thư về và để một thư khác vào mà nàng luôn luôn kêu là quá ngắn.

Một buổi sáng, Sáclơ ra đi từ lúc bình minh, nàng nảy ra cái ý muốn ngông cuồng là gặp Rôđônphơ ngay lập tức. Có thể mau chóng đến La Huysét, ở đấy một giờ rồi trở lại Yôngvin mà thiên hạ vẫn còn đang ngủ. Cái ý ấy khiến nàng hồi hộp thèm muốn, chẳng mấy lúc nàng đã ở giữa đồng cỏ, chân bước thoăn thoắt, không nhìn lại đằng sau.

Trời bắt đầu sáng. Emma từ xa, nhận ra nhà của tình lang mà đôi chong chóng hình đuôi én in hình đen lên nền trời xanh nhạt lúc rạng đông.

Sau sân ấp là một tòa nhà, chắc hẳn là lâu đài. Nàng vào đó, dường như các bức tường đã tự tách ra khi nàng tới gần. Một cầu thang to thẳng dẫn lên tới hành lang. Emma vặn then một chiếc cửa, và đột nhiên nàng thấy một người đàn ông đang ngủ ở cuối buồng. Đấy là Rôđônphơ. Nàng thốt lên một tiếng...

- Kìa em! Kìa em! Y nhắc đi nhắc lại. Em làm thế nào mà đến được?... Ô! áo dài em ướt rồi!

- Em yêu anh, nàng vừa đáp vừa quàng cánh tay quanh cổ y.

Cái táo bạo đầu tiên ấy đã trót lọt, nên bây giờ mỗi lần Sáclơ ra khỏi nhà sớm, Emma lại mau chóng mặc quần áo và rón rén bước xuống thềm nhà dẫn ra bờ sông.

Nhưng khi tấm ván ngăn bò đã nâng lên, nàng phải men theo các bức tường dọc sông; bờ sông thì trơn; nàng phải bám tay vào những bụi đinh hương vàng héo để khỏi ngã. Rồi nàng đi tắt ngang các cánh đồng đang cày, ở đó nàng sẩy chân, vấp ngã, làm vướng đôi giày mỏng manh có cổ của nàng. Chiếc khăn quàng của nàng, buộc trên đầu, phần phật trước gió trong đồng cỏ; nàng sợ những con bò, nàng ù té chạy; nàng tới nơi, thở dốc, má ửng hồng, và từ khắp người nàng, cái hương mát của nhựa cây, lá xanh và gió lộng bốc lên. Rôđônphơ giờ ấy còn đang ngủ. Một sáng xuân như bước vào buồng chàng.

Những rèm cửa vàng của các cửa sổ dịu dàng để lọt vào một thứ ánh sáng mờ mờ màu vàng hung. Emma vừa chớp mắt vừa lần đường đi. Khi những giọt sương trắng trên mái tóc nàng điểm thành vòng tựa một vầng hào quang hoàng ngọc bao quanh mặt nàng. Rôđônphơ vừa cười vừa kéo nàng lại gần rồi y ôm chặt nàng vào lòng.

Sau đó, nàng xem xét gian nhà, nàng mở các ô kéo đồ đạc, nàng chải tóc bằng lược của y và soi mình trong chiếc gương cạo râu. Đôi khi, nàng lấy răng cắn cái tẩu thuốc to tướng đặt trên bàn ngủ, giữa những quả chanh và những miếng đường, gần một bình nước.

Họ phải mất đúng mười lăm phút để từ biệt nhau. Thế rồi Emma khóc; nàng ước muốn không bao giờ phải bỏ Rôđônphơ lại. Có cái gì mạnh hơn nàng xô đẩy nàng đến y, đến nỗi có ngày, thấy nàng đến bất thần, y cau mặt lại như người bị trái ý.

- Anh làm sao thế? Nàng hỏi. Anh có đau không? Anh nói với em đi!

Cuối cùng y nghiêm chỉnh nói rằng những cuộc đến thăm của nàng trở nên dại dột và nàng tự làm hại nàng.

Chương 10

Dần dần, những mối lo sợ của Rôđônphơ lan sang nàng. Thoạt tiên, tình yêu khiến nàng say sưa, nàng chẳng nghĩ tới gì ngoài đó cả. Nhưng, nay tình yêu ấy cần thiết cho đời nàng, thì nàng lại sợ mất đi một cái gì của nó, hay nàng sợ ngay cả nó cũng bị quấy rối. Khi nàng từ nhà y trở về, nàng đưa mắt lo lắng nhìn khắp xung quanh, dò xét từng hình thù đi qua phía chân trời và từng cửa sổ nhỏ trên mái nhà trong làng mà từ đó người ta có thể trông thấy nàng được. Nàng lắng nghe tiếng bước chân đi, tiếng kêu, tiếng động của cái chày; nàng đứng lại, tái xanh hơn và run rẩy hơn là những tầu lá bạch dương đang đu đưa trên đầu nàng.

Một buổi sáng, lúc trở về như thế, nàng đột nhiên nhận ra chiếc nòng của một khẩu súng ngắn hình như đang nhằm vào mặt nàng. Nòng súng ấy vượt chếch lên trên thành một cái thùng con chôn vùi đến nửa vào đám cỏ trên bờ một cái hố. Emma, sắp hết hồn vì kinh hãi, vẫn tiến bước, thì một người đàn ông ở cái thùng thò ra, như những con quỷ bật lò xo dựng đứng lên từ đáy hộp. Người ấy đi ghệt dài tới đầu gối, đội mũ lưỡi trai chụp xuống tận mắt, cặp môi run run và mũi đỏ ửng. Đó là viên đội trưởng Binê đang rình vịt trời.

- Đáng lẽ bà từ xa đã phải lên tiếng! Ông ta kêu lên. Khi thấy súng, bao giờ cũng phải báo cho biết.

Tay thu thuế, nói vậy là để cố che đậy mối sợ của ông ta vừa rồi; vì, một nghị định của quận đã cấm săn vịt trời bằng cách khác ngoài cách đi thuyền, mà ông Binê, mặc dầu tôn trọng pháp luật, đã thấy mình trái phép. Cho nên mỗi phút ông ta lại tưởng chừng nghe thấy tuần phiên đến. Nhưng mối lo ngại ấy kích thích cái thú của ông ta và, một mình trong cái thùng của mình, ông ta tự tán thành cái thú vui của mình và cái tính ranh mãnh của mình.

Trông thấy Emma, ông ta như trút được một gánh nặng và lập tức ông ta bắt chuyện:

- Trời không nóng mà vẫn làm cho người ta khó chịu!

Emma không đáp lại gì cả. Ông ta nói tiếp:

- Thế bà đi chơi sớm quá nhỉ?

- Vâng, nàng ấp úng nói; tôi ở nhà vú nuôi cháu về.

- À! Tốt lắm! Tốt lắm! Còn tôi, bà thấy đấy, vừa tinh mơ tôi có mặt ở kia; nhưng trời chiều nhiều sương quá, trừ phi chim trời đứng ngay đầu...

- Chào ông Binê, nàng vừa ngắt lời vừa quay gót.

- Kính bà, ông đáp, giọng khô khan. Và ông ta lại chui vào thùng.

Emma ân hận vì đã từ biệt tay thu thuế một cách đột ngột như thế. Hẳn là hắn ta sẽ có những phỏng đoán bất lợi. Câu chuyện vú nuôi là lời tạ sự tồi tệ nhất, mọi người ở Yôngvin đều biết rõ con bé Bôvary, từ một năm nay, đã trở về nhà cha mẹ nó. Vả lại, có ai ở quanh đây đâu; con đường này chỉ dẫn đến La Huysét thôi! Vậy là Binê đã đoán được nàng từ đâu về, rồi ông ta chẳng lặng im đâu, ông ta sẽ nói lung tung, chắc thế rồi! Cho đến chiều tối, nàng cứ loay hoay vắt óc tìm mọi kế hoạch nói dối có thể tưởng tượng ra được, và không ngừng thấy trước mắt mình cái thằng đốn đời đeo túi săn kia.

Sáclơ, sau bữa cơm tối, thấy nàng lo âu, muốn dẫn nàng sang nhà tay dược sĩ để giải trí; mà người thứ nhất nàng thấy trong hiệu thuốc lại là hắn, tay thu thuế! Hắn đứng trước quầy hàng, soi sáng bởi ánh sáng của chiếc bình đỏ và hắn nói:

- Xin ông cho tôi mười lăm găm lưu toan.

- Juyxtanh, tay dược sĩ gọi to, mang ra đây cho tao chất axít xuynphuyarich.

Rồi hắn nói với Emma khi nàng định lên phòng bà Hôme:

- Không, bà ở lại đây, chẳng cần lên, nhà tôi sắp xuống đây. Bà đến sưởi bên lò trong lúc chờ đợi... Bà miễn thứ cho tôi... Chào bác sĩ (chả là tay dược sĩ rất thích gọi tiếng bác sĩ tựa hồ như dùng tiếng ấy để gọi người khác, y đã làm thơm lây đến mình cái gì long trọng mà y thấy trong tiếng ấy)... Nhưng coi chừng đừng làm đổ cối đấy! Mày đi lấy những chiếc ghế trong căn phòng nhỏ thì hơn; mày biết rõ rằng không nên xê dịch các ghế bành ở phòng khách.

Và, để đem chiếc ghế bành của y về đúng chỗ cũ, Hôme đâm bổ ra ngoài quầy hàng vừa lúc Binê hỏi mua nửa lạng axít đường.

- Axít đường? Tay dược sĩ khinh khỉnh nói. Tôi không biết, tôi mù tịt! Có lẽ mấy ông muốn lấy axít ôxalích? Ôxalích, có phải thế không ạ?

Binê giải thích là hắn cần một thứ thuốc trừ gỉ để tự mình chế lấy một thứ nước ăn dùng để đánh gỉ những bộ phận linh tinh của súng săn. Emma giật thót mình. Tay dược sĩ liền nói:

- Quả thực, thời tiết chẳng thuận lợi vì ẩm ướt.

- Nhưng - tay thu thuế đáp lại bằng một vẻ tinh quái - có những người lại tiện sắp đặt công việc của mình với thời tiết đó.

Nàng nghẹn thở.

- Ông lại cho tôi...

- Y không bao giờ ra khỏi nơi đây ư? Nàng nghĩ.

- Xin ông nửa lạng tùng hương và nhựa thông, bốn lạng sáp vàng và lạng rưỡi than xương để đánh những đồ da láng bóng trong bộ đồ đi săn của tôi.

Tay dược sĩ bắt đầu cắt sáp thì bà Hôme ra mắt với Iêcma trong tay, Napôlêông bên cạnh và Atali theo sau. Bà ta đến ngồi trên chiếc ghế dài bọc nhung giáp cửa sổ, và đứa con trai nhỏ ngồi xổm trên một chiếc ghế đẩy, con chị lớn lượn đi lượn lại quanh hộp táo gần người bố yêu quý của nó. Tay dược sĩ đang rót đầy các phễu và bịt nút các lọ, dán các nhãn hiệu và phong các gói hàng. Người ta im lặng quanh y; và người ta chỉ thỉnh thoảng nghe thấy tiếng những quả cân vang trên các bàn cân với vài lời nói khẽ của tay dược sĩ chỉ bảo học trò của hắn.

- Thế nào cô bé nhà bà có mạnh khỏe không? Bà Hôme bỗng hỏi.

- Im! Chồng bà thốt lên, y đang kê những con số trên vở chép.

- Sao bà chẳng cho cháu sang? Bà khẽ hỏi lại.

- Suỵt! Suỵt! Emma vừa lấy ngón tay chỉ tay dược sĩ vừa ra hiệu. Nhưng Binê, mải đọc giấy tính tiền, có lẽ không nghe thấy gì cả. Sau cùng ông ta đi ra. Lúc bấy giờ Emma thoát nợ, thở dài một tiếng.

- Bà mới thở mạnh chứ! Bà Hôme nói.

- À! Chả là trời nóng, nàng đáp.

Thế là hôm sau, họ tính đến việc sắp đặt các nơi hẹn hò; Emma muốn mua chuộc người hầu gái của nàng bằng một món quà; nhưng có lẽ tốt hơn là kiếm ra một ngôi nhà nào kín đáo ở Yôngvin. Rôđônphơ hứa sẽ đi tìm.

Suốt cả mùa đông, mỗi tuần ba bốn lần, lúc trời tối đen như mực, y tới khu vườn. Emma, cố ý hẳn hoi, đã rút bỏ chiếc chìa khóa hàng rào mà Sáclơ tưởng là mất.

Để báo hiệu cho nàng, Rôđônphơ ném vào cửa chớp một nắm cát. Nàng đứng bật dậy. Nhưng đôi khi y phải chờ đợi vì Sáclơ có tật nói chuyện huyên thuyên bên lò sưởi mãi không thôi.

Nàng nóng lòng sốt ruột; nếu đôi mắt nàng có thể làm được, chúng sẽ quẳng hắn qua cửa sổ. Cuối cùng, nàng bắt đầu vận quần áo ngủ; rồi nàng cầm lấy một quyển sách và cứ ngồi đọc thật bình thản, dường như đọc sách là niềm vui của nàng. Nhưng Sáclơ, nằm trong giường, gọi nàng đi ngủ.

- Lại đây, Emma, hắn nói, đến giờ rồi.

- Ừ, em đến đây! Nàng đáp.

Nhưng, vì các ngọn nến làm chói mắt hắn, hắn quay mặt vào tường rồi ngủ đi mất. Nàng trốn đi, nín thở, mỉm cười, hồi hộp, cởi bỏ quần áo.

Rôđônphơ có một cái áo choàng lớn. Y trùm áo lên toàn thân nàng, và ôm ngang người nàng, y lặng lẽ dìu nàng đi đến tận cuối vườn.

Chính dưới vòm cây, trên chiếc ghế dài ghép bằng gỗ mục này, Lêông trước kia đã từng đắm đuối nhìn nàng suốt những buổi chiều hè. Bây giờ nàng chẳng còn nghĩ đến Lêông chút nào.

Sao lấp lánh qua những cành hoa nhài trụi lá. Họ nghe thấy sau họ con sông đang chảy, và chốc chốc, trên bờ sông, tiếng sậy khô lắc rắc. Từng đám bóng đen, rải rác đó đây, nổi lên trong đêm tối và, đôi khi, nhẹ nhàng run rẩy theo cùng một động tác, chúng đứng thẳng lên rồi lại ngã xuống như những làn sóng đen mênh mông tiến đến trùm lên họ. Hơi lạnh ban đầu khiến họ ôm ấp nhau chặt hơn; những tiếng thở dài qua môi họ dường như mạnh hơn; đôi mắt họ, mà họ vừa khám phá thấy, tưởng chừng to hơn, giữa cảnh tĩnh mịch có những lời nói thì thầm rơi vào tâm hồn họ với âm thanh trong trẻo và dội lại trong đó thành những rung động tăng lên gấp bội.

Đêm nào mưa, họ vào trú trong phòng khám bệnh, giữa nhà để xe và chuồng ngựa. Nàng đốt một ngọn đèn nến nhà bếp mà nàng đã dấu sau những quyển sách. Rôđônphơ ẩn trong đó như là cả gian phòng. Trông thấy tủ sách và bàn giấy, nghĩa là cả gian phòng, rốt cuộc y vui vẻ; và y không thể kìm lại nhiều câu bông đùa về Sáclơ khiến Emma lúng túng. Nàng muốn thấy y nghiêm chỉnh hơn, và thậm chí có vẻ bi đát hơn nữa, khi cần thiết như cái lần nàng tưởng nghe thấy ngoài lối đi có tiếng chân ai bước tới gần.

- Có người đến! Nàng bảo. Y thổi tắt đèn.

- Anh có súng lục đó không?

- Để làm gì?

- Thì... để anh tự vệ chứ, Emma đáp.

- Để chống lại chồng em à? À! Anh chồng đáng thương!

Và Rôđônphơ kết thúc câu nói bằng một động tác có nghĩa là: "Tôi sẽ đè bẹp hắn bằng một cái búng tay".

Nàng kinh ngạc về sự can đảm của y, tuy nàng cảm thấy trong đó có cái gì bất nhã và thô lỗ khờ dại khiến nàng tức giận.

Rôđônphơ suy nghĩ rất nhiều đến câu chuyện súng lục ấy. Nếu nàng đã nói nghiêm chỉnh, thì điều đó hết sức nực cười, thậm chí khả ố nữa, y nghĩ thế, vì bản thân y chẳng có lý do gì để thù ghét cái anh chàng Sáclơ tốt bụng kia chẳng bị cái gọi là day dứt vì ghen tuông; và vì điều này, Emma đã từng nặng lời thề thốt với y mà y chẳng còn thấy thích thú nữa.

Vả lại, nàng trở nên rất là tình cảm. Đã phải cùng nhau trao đổi những kỷ niệm nhỏ; đôi bên đã cắt cho nhau những nắm tóc, và bây giờ nàng đòi một chiếc nhẫn, một chiếc nhẫn cưới thực sự, biểu hiện sự gắn bó đời đời. Thường thường nàng nói với y về những tiếng chuông chiều hay về tiếng nói của thiên nhiên; rồi nàng trò chuyện với y về mẹ nàng và về mẹ y. Rôđônphơ đã mất mẹ từ hai mươi năm rồi. Tuy vậy, Emma vẫn an ủi y với những lời lẽ hoa mỹ như người ta nói với một đứa trẻ bị bỏ rơi, và thậm chí có khi, nàng còn vừa nhìn trăng vừa nói với y:

- Em chắc rằng trên kia, các cụ đều tán thành tình yêu của đôi ta.

Nhưng nàng xinh đẹp xiết bao! Rôđônphơ tuy đã có nhiều người yêu nhưng rất ít người chân thật như thế! Cái tình yêu không dâm đãng, đối với y, là cái gì mới mẻ nó vừa làm cho y xa được những thói quen dễ dãi của mình, nó vừa mơn trớn lòng kiêu hãnh và tính dâm ô của y. Nhiệt tình của Emma, mà cái lương tri trưởng giả của y coi rẻ, xem chừng lại thấy thú vị ở đáy lòng y vì nhiệt tình ấy hướng vào con người y. Như thế, chắc chắn là được yêu rồi, y chẳng giữ gìn nữa, và phong thái của y vô tình thay đổi.

Y không còn có, như xưa, những lời nói rất mực êm dịu khiến nàng rơi lệ và những cái vuốt ve nồng thắm khiến nàng điên dại; đến nỗi mối tình lớn, trong đó nàng đang chìm đắm, ra chiều giảm sút đi dưới chân nàng như nước một con sông rút xuống dưới tận đáy sông, và nàng nhìn thấy bùn lầy. Nàng không muốn tin như thế; nàng âu yếm bội phần; và Rôđônphơ, dần dần bớt che đậy sự hờ hững của y.

Nàng không biết có phải là nàng tiếc vì đã phụ lòng y hay, trái lại, có phải là nàng chẳng ước mong yêu dấu y hơn. Lòng tự sỉ vì cảm thấy mình yếu đuối đã chuyển thành mối thù hận mà những khoái lạc làm dịu đi. Đó chẳng phải là sự quyến luyến mà như là một sự cám dỗ thường xuyên. Y đã khuất phục được nàng. Nàng hầu như sợ y.

Tuy nhiên, bề ngoài lại yên tĩnh hơn bao giờ hết vì Rôđônphơ đã thành công trong việc dẫn dắt cuộc ngoại tình theo ý muốn của y; và, sau sáu tháng, khi mùa xuân tới, họ thấy, người nọ đối với người kia, như đôi vợ chồng đang yên ổn gìn giữ một ngọn lửa gia đình.

Đây là thời kỳ lão Ruôn gửi biếu chàng rể một con gà mái tây để kỷ niệm việc hắn chữa lành cái chân của lão. Quà biếu bao giờ cũng kèm theo một bức thư. Emma vứt sợi dây buộc thú vào cái sọt và đọc những dòng sau đây:

"Các con thân mến,

Bố mong rằng thư này đến vào lúc các con đang khỏe mạnh và quà này cũng giá trị bằng các quà trước vì bố thấy nó có chút mềm mại hơn và có phần to hơn, bố dám nói thế. Nhưng, lần sau, để thay đổi, bố sẽ biếu các con một con gà trống, trừ phi các con cứ thích giống gà ấp hơn, và các con gửi lại cho bố cái sọt mây nhé cùng với hai cái cũ. Bố đã gặp rủi là nóc gian nhà chứa xe bò, một đêm gió to, đã bay lên cây mất. Mùa màng cũng chẳng tốt gì lắm. Sau hết, bố không biết bao giờ bố đến thăm các con được. Bây giờ bố thấy khó mà bỏ nhà đi được, từ khi bố sống một mình, Emma đáng thương của bố ạ!".

Và ở đây có một khoảng cách giữa các dòng, tựa hồ ông lão đã bỏ rơi bút xuống để nghĩ vơ vẩn một thời gian.

"Về phần bố, bố vẫn khỏe, trừ một trận cảm mà bố bị hôm nọ ở phiên chợ Yvơtô lúc bố đến đó để mượn một thằng chăn cừu, thằng cũ bố đã tống đi bởi nó ăn uống quá khó tính. Với những thằng kẻ cướp này, thực lắm thứ khó chịu! Vả lại, nó là đứa bất lương.

Một người bán hàng xách, mùa đông vừa rồi, khi qua địa hạt các con, đã phải nhổ một cái răng, có cho bố biết Bôvary vẫn làm việc vất vả. Điều đó chẳng làm bố ngạc nhiên, và hắn đã cho bố xem răng; bố đã cùng gã ta uống cà phê. Bố hỏi gã ta có thấy con không, gã ta bảo là không, nhưng gã ta có thấy hai con ngựa trong chuồng ngựa, do đó bố đoán rằng nghề của chồng con phát tài đấy. Thế là hay, các con thân yêu, bố cầu Chúa lòng lành ban cho các con mọi hạnh phúc.

Buồn cho bố là chưa được biết mặt cháu gái Béctơ Bôvary yêu quý của bố. Bố đã trồng cho nó, trong vườn dưới buồng của con, một cây mận ngon, và bố không cho ai đụng tới, trừ phi phải làm mứt cho nó sau này; bố sẽ cất trong tủ để phần nó, khi nào nó tới.

Chào các con thân mến. Bố hôn con, con gái của bố, cả anh nữa, con rể của bố, và hôn cháu bé vào hai má.

Chúc mừng các con,

Bố yêu của các con

Têôđo Ruôn"

Nàng ngồi yên vài phút cầm trong tay tờ giấy thô kệch ấy, những lỗi chính tả tiếp nối nhau đầy trong đó, và Emma dõi theo cái ý nghĩ mộc mạc giãi bày bộc tuệch bộc toạc qua suốt bức thư như con gà mái ẩn mình nửa kín nửa hở trong một hàng rào gai, chữ viết đã được thấm khô bằng tro bếp, vì một chút bụi xám còn rơi từ lá thư xuống áo dài nàng, và nàng tưởng chừng thấy cha nàng khom lưng xuống lò để cầm cái kẹp chở lửa. Đã lâu lắm rồi nàng chẳng còn ở bên cạnh bố, ngồi trên cái ghế đẩu sát lò sưởi, khi nàng làm cháy đầu một thanh củi trong ngọn lửa to của những cây cói biển nổ lép bép!... Nàng nhớ lại những chiều hè chan hòa ánh nắng. Những con ngựa đực hí lên khi có người đi qua, và phi, phi... Dưới cửa sổ buồng nàng, có một tổ mật ong, và đôi khi ong, quay tít trong ánh nắng, đập vào các ô cửa kính như những quả cầu vàng nảy lên nảy xuống. Hồi ấy hạnh phúc xiết bao! Tự do xiết bao! Hy vọng xiết bao! Ảo tưởng phong phú xiết bao! Bây giờ chẳng còn gì nữa! Nàng đã tiêu phí chúng vào tất cả các bước phiêu lưu của tâm hồn nàng, qua tất cả các cảnh ngộ liên tiếp trong thuở còn trinh nữ, trong hôn nhân và trong tình ái, - đánh mất chúng liên tục như thế suốt cuộc đời nàng, như một người du hành bỏ lại phần nào tiền của anh ta ở các quán trọ trên đường.

Nhưng ai vậy đã làm cho nàng khốn khổ đến thế? Đâu là cái tai họa phi thường đã khuấy động nàng dữ dội? Và nàng ngửng đầu lên, nhìn quanh nàng như để tìm nguyên nhân cái đã làm nàng đau đớn.

Một tia nắng tháng tư lóng lánh trên các đồ sứ để trên chiếc giá: lửa đang cháy; nàng cảm thấy dưới đôi giày vải của mình cái mềm mại của bức thảm; sáng, không khí ấm áp, và nàng nghe thấy con nàng đang thốt lên những tiếng cười ròn rã.

Quả thật, lúc đó con bé đang lăn trên thảm cỏ, giữa đám ngọn cỏ bị xén đi mà người ta đang đảo cho khô. Nó nằm sấp trên ngọn một đống. Người vú nắm váy giữ nó.

Lêtibuđoa cắt cỏ bên cạnh, và mỗi lần gã ta lại gần, nó lại cúi mình xuống, vẫy hai cánh tay.

- Đem nó lại đây cho tôi! Mẹ nó vừa nói vừa lao tới ôm hôn nó. Mẹ yêu con quá, con thương con quý của mẹ! Mẹ yêu con quá!

Rồi, thấy dái tai nó hơi bẩn, nàng vội vàng bấm chuông gọi lấy nước nóng, nàng lau cho nó, thay quần áo, bít tất và giày cho nó, hỏi tíu tít về sức khỏe của nó như thể nàng mới đi xa về, rồi cuối cùng, nàng còn hôn nó nữa và, rơm rớm nước mắt, nàng trao nó vào tận tay người vú, chị này rất ngạc nhiên trước tình âu yếm quá đáng ấy.

Rôđônphơ, buổi tối, thấy nàng nghiêm hơn thường lệ.

- Cái đó rồi sẽ qua đi thôi, y phán đoán; đây là một tính bất thường.

Thế là y vắng mặt liền trong ba cuộc hẹn hò. Khi y trở lại nàng ra chiều lạnh nhạt và gần như khinh khỉnh.

- À! Em làm mất thời giờ của em thôi, em yêu ạ...

Và y ra vẻ không nhận thấy tiếng nàng thở dài ảo não và chiếc khăn tay nàng rút ra.

Đó là lúc Emma đang hối hận! Thậm chí nàng đang thầm hỏi tại sao nàng lại ghét bỏ Sáclơ, và nếu có thể yêu được hắn có hơn không. Nhưng hắn chẳng nhạy bén lắm trước những tình cảm thay đổi đó, đến nỗi nàng trở nên rất lúng túng trong cái ý muốn hy sinh chớm nở của nàng, thì tay dược sĩ đến đúng lúc tạo cho nàng một cơ hội.

Chương 11

Gần đây tay dược sĩ đã đọc được lời tán dương một phương pháp mới chữa chân khoèo và, vì là người có khuynh hướng tiến bộ, y nảy ra cái ý xuất phát từ lòng yêu quê hương muốn rằng Yôngvin, để theo kịp đà chung, cần phải làm những cuộc phẫu thuật chữa bệnh đó.

- Vì rằng, y nói với Emma, có mất gì? Bà hãy xem xét (thế là y đếm trên đầu ngón tay những lợi ích của việc làm: kết quả hầu như chắc chắn, bệnh nhân khỏi bệnh và đẹp ra, phẫu thuật viên nhanh chóng nổi tiếng: Sao chồng bà, chẳng hạn, lại không muốn chữa khỏi gã Hipôlýt đáng thương ở quán Sư Tử Vàng? Bà hãy nhớ kỹ là gã sẽ chẳng khỏi kể chuyện được cứu chữa với tất cả các hành khách, và rồi Hôme hạ thấp giọng và nhìn quanh mình) ai cấm tôi gửi đăng báo một bài nhỏ về chuyện ấy? Này! Trời ơi! Một bài báo mà lưu hành..., người ta nói đến nó..., cái đó rút cuộc sẽ lan truyền! Rồi ai biết? Ai biết?

Quả thật, Bôvary có thể thành công; chẳng có gì khẳng định với Emma rằng hắn không khéo tay, và nàng sẽ hể hả xiết bao là đã khuyến khích hắn làm một công việc từ đó tiếng tăm của hắn và tài sản của hắn sẽ được tăng lên? Nàng chỉ mong được dựa vào cái gì vững chắc hơn là tình yêu.

Sáclơ, được tay dược sĩ và nàng khuyên nhủ, đã xiêu lòng. Từ Ruăng hắn đặt gửi về cuốn sách của Bác sĩ Đuyvan, và tối nào cũng vậy, hai tay ôm đầu hắn cặm cụi đọc.

Trong khi hắn nghiên cứu các chứng bệnh về chân (hay, nói cho rõ hơn, các kiểu gập chân, hoặc gập xuống dưới, hoặc gập vào trong hoặc gập ra ngoài), với các chứng bệnh khác (như bệnh xương vẹo xuống dưới và bệnh xương trồi lên trên), Hôme, bằng mọi lý lẽ, khuyến khích gã hầu quán để làm phẫu thuật.

- Có lẽ cậu sẽ cảm thấy đau tí chút; đấy là một mũi tiêm thường, như một vết chích nhỏ, không bằng cắt bỏ chai chân.

Hypôlýt vừa nghĩ ngợi vừa đưa cặp mắt ngốc nghếch.

- Vả lại, tay dược sĩ lại nói, cái đó chẳng can chi đến tôi! Đó là vì cậu! Hoàn toàn vì lòng nhân đạo! Tôi muốn thấy cậu, anh bạn ạ, thoát khỏi được cái tật đi lặc lè đến là xấu, cái tật lúc lắc vùng ngang lưng trở ngại lớn đến việc hành nghề của anh, dù cậu nói thế nào thì nói.

Hôme liền diễn tả cho gã kia thấy sau đó gã sẽ khỏe mạnh hơn và nhẹ nhàng hơn, và hơn nữa, y còn nói ý cho gã kia hiểu gã ta sẽ có tư thế hơn để làm đẹp lòng phụ nữ. Thế là anh hầu ngựa mắc cỡ đâm ra mỉm cười một cách ngây ngô. Và Hôme lại khích động lòng tự kiêu của gã ta.

- Cậu chẳng phải là một người đàn ông ư? Nếu cậu phải nhập ngũ, phải đi chiến đấu dưới cờ, thì sẽ ra thế nào?... Ôi! Hipôlýt!

Và Hôme vừa bỏ đi vừa tuyên bố không hiểu nổi cái thói cứng đầu cứng cổ ấy, cái thói mù quáng thoái thác những lợi ích của khoa học.

Anh hầu ngựa khốn khổ xiêu lòng là vì dường như có một cuộc thông mưu. Binê, không bao giờ xen vào công việc người khác, mụ Lơfrăngxoa, Áctêmizơ, hàng xóm láng giềng và cả ông thị trưởng nữa, ông Tuyvasơ ấy, tất cả mọi người đều khuyên bảo gã ta, mắng nhiếc gã ta, xỉ vả gã ta, nhưng, tựu trung, điều làm gã ta quyết định là việc đó chẳng tốn phí gì cho gã ta. Thậm chí Bôvary gánh vác cả việc cung cấp máy cho phẫu thuật. Emma đã có sáng kiến về hành động hào hiệp ấy; và Sáclơ ưng thuận, hắn thầm nói trong đáy lòng hắn, vợ hắn là một thiên thần.

Được tay dược sĩ góp ý, và làm đi làm lại ba lần, hắn thuê thợ mộc, có thợ khóa giúp sửa, đóng một thứ hộp nặng khoảng tám cân, trong đó sắt, gỗ, tôn, da, đinh ốc, êcu được sử dụng không tiếc.

Nhưng, muốn biết nên cắt đường gân nào của Hipôlýt, trước hết phải nắm được gã ta bị khoèo chân loại nào.

Gã ta có một bàn chân làm thành với ống chân một đường hầu như thẳng, thế mà nó cũng chẳng ngăn được bàn chân quay vào trong, đến nỗi tật đó là tật khoèo chân xuống dưới đất, tật khoèo chân vào trong hay là tật khoèo chân nhẹ vào trong mạnh xuống dưới. Nhưng với bàn chân khoèo vòng trong ấy, quả là rộng như một bàn chân ngựa, da sần sùi, đường gân khô, ngón to tướng, móng đen như những cái đinh của chiếc móng ngựa bằng sắt, người khoèo chân, từ sáng đến tối, chạy nhanh như một con hươu. Người ta thấy gã luôn luôn ở quảng trường, nhảy nhót quanh các xe bò, tung về phía trước cái chân không đều của gã ta. Thậm chí gã ta dường như mạnh bằng chân tật hơn bằng chân thường. Vì dùng đến nhiều, chân tật như đã nhiễm được những đức tính kiên trì và nghị lực, và khi người ta giao cho gã ta một vật nặng, gã ta thuận đứng thẳng mình lên trên chân tật.

Vì đây là tật khoèo xuống dưới, nên được tính phải cắt gân gót chân, sau đâu đấy mới động đến gân ống chân phía trước để trị tật khoèo vào trong: người thầy thuốc không dám cùng một lúc làm liền cả hai cuộc phẫu thuật, thậm chí hắn đã run rồi, hắn sợ đụng phải vùng hệ trọng nào mà hắn không biết.

Cả Ămbroadơ Parê 1 áp dụng lần đầu tiên, từ Xenxơ 2 , sau một khoảng cách mười lăm thế kỷ, việc thắt trực tiếp một động mạch; cả Đuypuytren 3 sắp mổ một cái ung qua một lớp dày não bộ; cả Giăngxun khi cắt bỏ lần đầu tiên một bộ phận xương hàm trên, chắc cũng không thấy trái tim quá hồi hộp, bàn tay quá run rẩy, tinh thần căng thẳng như Bôvary khi hắn lại gần Hipôlýt, con dao nhỏ cắt gân cầm giữa các ngón tay. Và, như trong các bệnh viện, người ta thấy ở bên cạnh, trên một cái bàn, một đống vải xơ, dây vuốt sáp, nhiều băng, một đống băng, tất cả các loại băng có ở nhà tay dược sĩ. Chính ông Hôme đã chuẩn bị mọi thứ như vậy từ sáng, vừa là để lòe đám đông vừa là để lừa chính mình. Sáclơ chọc vào da; người ta nghe thấy một tiếng lắc rắc khô khan. Đường gân đã bị cắt, cuộc phẫu thuật kết thúc, Hipôlýt không khỏi ngạc nhiên; gã ta cúi xuống hai bàn tay Bôvary hôn lấy hôn để.

- Nào, bình tĩnh lại, tay dược sĩ nói, sau này anh sẽ tỏ lòng biết ơn ân nhân của anh!

Rồi y xuống kể kết quả cho năm, sáu người tò mò đứng ở ngoài sân, họ tưởng rằng Hipôlýt sắp trở ra bằng những bước chân ngay ngắn. Rồi Sáclơ, sau khi đã cột bệnh nhân vào cái máy phát động lực, trở về nhà. Emma, rất lo sợ, đang đứng đợi hắn ở cửa. Nàng nhảy lên bám vào cổ hắn; vợ chồng ngồi vào bàn ăn; hắn ăn nhiều, thậm chí hắn còn muốn tráng miệng bằng một tách cà phê, và thói bạo ăn bạo uống mà hắn chỉ tự cho phép mình lạm dụng vào ngày chủ nhật khi có khách.

Buổi hôm đó thật là tuyệt, cơ man trò chuyện, đầy dãy ước mơ chung. Họ nói về tài sản của nhau sau này, về những sự cải thiện sẽ thực hiện trong gia đình; hắn thấy uy tín hắn lan rộng, hạnh phúc hắn tăng lên, vợ hắn yêu hắn mãi mãi; nàng thấy mình sung sướng được sống êm dịu trong một tình cảm mới, lành mạnh hơn, tốt hơn, nghĩa là cảm thấy chút tình âu yếm đối với người chồng tội nghiệp yêu nàng tha thiết. Có một lúc nào đó, nàng chợt mơ tưởng tới Rôđônphơ nhưng nàng đưa đôi mắt nàng về phía Sáclơ; thậm chí nàng ngạc nhiên nhận thấy hắn cũng chẳng xấu trai.

Họ đang nằm trên giường thì ông Hôme, mặc dầu chị nấu bếp không đồng ý, cứ đột nhập vào buồng họ, tay cầm một tờ giấy còn tươi nét bút. Đó là bài quảng cáo y định gửi đến từ báo Ngọn đèn Ruăng. Y mang bài ấy đến cho họ xem.

- Ông cứ đọc đi, Bôvary nói.

Hôme đọc:

- "Mặc dầu những thành kiến còn bao trùm một phần bộ mặt Châu Âu như một mạng lưới, ánh sáng tuy nhiên bắt đầu lọt vào nông thôn chúng ta. Vì vậy, thứ ba vừa rồi, cái thị trấn Yôngvin nhỏ bé của chúng tôi đã chứng kiến một cuộc thí nghiệm về phẫu thuật đồng thời là một hành động của lòng bác ái cao cả. Bôvary, một trong những người thầy thuốc xuất chúng của chúng tôi...".

- Ôi! Quá đáng! Quá đáng! Sáclơ, nghẹn ngào, nói.

- Không đâu, không phải thế đâu! Sao vậy!... "Đã mổ một cái chân khoèo...". Tôi không dùng thuật ngữ khoa học, vì rằng, ông biết, trong một tờ báo..., có lẽ không phải tất cả mọi người đều hiểu, cần phải để cho quần chúng...

- Thực thế, Bôvary nói. Ông đọc tiếp đi.

- Tôi đọc lại, tay dược sĩ nói. "Ông Bôvary, một trong những người thầy thuốc xuất chúng của chúng tôi, đã mổ một cái chân khoèo cho anh Hipôlýt Tôtanh, bồi ngựa từ hai mươi lăm năm nay ở quán Sư Tử Vàng của bà Lơfrăngxoa trên quảng trường duyệt binh. Tính chất mới mẻ của việc làm và sự chú ý đến bệnh nhân đã thu hút dân chúng quá đông đến nỗi cửa vào quán tắc nghẽn thật sự. Vả lại, cuộc phẫu thuật đã được tiến hành như có phép lạ và khó khăn mới thấy vài giọt máu trên da như để nói rằng đường gân ương ngạnh cuối cùng vừa phải thua những cố gắng của kỹ thuật. Có điều lạ lùng là (chúng tôi mắt trông thấy mới khẳng định) bệnh nhân không tỏ ra chút nào đau đớn. Tình trạng súc khỏe của anh ta đến nay không có gì đáng lo ngại. Mọi sự khiến người ta tin việc dưỡng bệnh sẽ ngắn ngủi thôi, và thậm chí biết đâu đấy, ở ngày hội làng ngày nay, chúng ta lại chẳng thấy anh Hipôlýt hiền lành của chúng ta có mặt trong những cuộc khiêu vũ có chuốc rượu, giữa một đám đồng ca gồm những người vui nhộn, và do đó qua sự cao hứng và lối nhảy đập hai chân của mình, chứng tỏ trước mắt mọi người, anh ta đã hoàn toàn bình phục? Vẻ vang thay cho những nhà bác học hào hiệp! Vẻ vang thay cho những bộ óc không biết mệt mỏi đã thức nhiều đêm trắng để cải thiện hay để cứu giúp giống nòi! Vinh quang! Ba lần vinh quang! Phải chăng là lúc la lên rằng người mù sẽ sáng mắt, người điếc sẽ sáng tai và người khoèo sẽ lành chân? Thế là cái gì mà sự cuồng tín xưa kia hứa hẹn cho tín đồ của nó, thì khoa học bây giờ thực hiện cho tất cả mọi người! Chúng tôi sẽ báo cho các bạn đọc biết các giai đoạn liên tiếp của cuộc chữa bệnh đáng chú ý này".

Việc đó không ngăn cấm, năm ngày sau, mụ Lơfrăngxoa hớt hơ hớt hải chạy đến kêu lên:

- Cấp cứu! Anh ta đang hấp hối... tôi cuống lên rồi!

Sáclơ chạy bổ đến quán Sư Tử Vàng, và tay dược sĩ, thấy hắn, đầu không mũ, chạy qua quảng trường thì cũng bỏ cửa hiệu. Bản thân y cũng thở hổn hển, mặt mũi đỏ gay, lo lắng, hỏi tất cả những người leo lên cầu thang:

- Anh chàng chân khoèo đáng chú ý của chúng ta làm sao vậy?

Anh khoèo đang quằn quại trong những cơn đau dữ dội đến nỗi cái hộp máy phát động cùm chân anh ta cứ đập vào tường như phá.

Giữ gìn cẩn thận lắm để khỏi ảnh hưởng đến vị trí của chân, người ta bỏ cái máy ra, và người ta thấy một cảnh tượng ghê gớm. Cái chân không còn ra hình thù gì nữa vì sưng tấy đến mức da thịt hoàn toàn dường như gần nứt ra, và nó đầy những vết bầm máu gây ra bởi cái máy kỳ khôi kia. Hipôlýt đã từng kêu đau vì nó nhưng chẳng ai để ý; bây giờ phải thừa nhận rằng anh ta đã phần nào có lý và người ta tháo ra cho anh ta vài tiếng đồng hồ. Nhưng chỗ sưng vừa mới dịu xuống chút ít thì hai nhà bác học đã xét thấy cần đặt lại cái chân đau vào máy, và xiết chặt hơn, để làm cho mau đi đến kết quả. Rốt cuộc, sau đó ba hôm, vì Hipôlýt chẳng chịu được nữa, họ, một lần nữa, lại tháo máy ra và hết sức ngạc nhiên về hậu quả họ trông thấy. Chứng phù tím bầm đã lan trên cẳng chân với những mụn nước phồng lên từ chỗ này đến chỗ khác, ở đó một chất nước đen rỉ ra. Cái đó ra chiều đáng ngại: Hipôlýt bắt đầu buồn nản, và mụ Lơfrăngxoa đặt gã ta vào trong một cái phòng nhỏ, gần nhà bếp, để ít ra gã ta khuây khỏa phần nào.

Nhưng tay thu thuế, ngày nào cũng ăn cơm ở đấy, kêu ca một cách cay đắng về tình trạng phải ngồi gần một người như thế.

Người ta liền chuyển Hipôlýt vào phòng bi a.

Gã ta nằm đó, rên rỉ dưới những chiếc khăn thô, mặt mũi xanh xao, râu cằm dài ra, mắt hõm, và thỉnh thoảng lại xoay cái đầu đẫm mồ hôi trên chiếc gối bẩn mà ruồi sà vào. Bà Bôvary đến thăm gã ta. Bà mang giẻ đến cho gã ta để đổ thuốc, và an ủi gã ta, khuyến khích gã ta. Vả lại gã ta chẳng thiếu bạn, nhất là những ngày phiên chợ, khi những người nông dân, chơi bi a quanh anh ta, hút thuốc, uống rượu,
ca hát.

- Thế nào, cậu có khỏe không? Họ vừa đập vai hắn vừa nói. À! xem chừng cậu chẳng được vừa lòng. Nhưng lỗi tại cậu. Đáng lẽ phải làm cái này, làm cái kia.

Và người ta kể cho gã nghe chuyện những người đã chữa khỏi bệnh bằng những thứ thuốc khác với thuốc của gã ta; rồi ra chiều an ủi, họ nói thêm:

- Chỉ vì cậu chú ý đến sức khỏe của cậu quá! Cậu dậy đi nào! Cậu lười chảy thây như một ông vua ấy! À! Thôi, không sao, bợm già ạ! Cậu chẳng thơm tho đâu!

Chứng hoại thư, quả vậy, càng ngày càng tăng. Bản thân Bôvary cũng phát ốm lên vì chuyện đó. Mỗi giờ, mỗi lúc, hắn lại đến. Hipôlýt, nhìn hắn với cặp mắt đầy kinh hoàng, vừa nức nở vừa nói líu nhíu:

- Bao giờ thì tôi khỏi?... Ôi! Ông cứu tôi với! Tôi khổ quá! Tôi khổ quá!

Thế là người thầy thuốc bỏ đi, bao giờ cũng dặn hắn phải nhịn ăn.

- Đừng nghe ông ta, con ạ, mụ Lơfrăngxoa nói; các ông ấy đã hành tội con khá đủ rồi! Con lại làm người con yếu đi nữa. Này, nuốt đi!

Rồi mụ đưa cho gã ta nào là canh ngon, nào là đùi cừu, nào là thịt mỡ, và lắm khi vài ly rượu mạnh, mà gã ta chẳng có can đảm đưa lên miệng.

Linh mục Buôcnidiêng, được tin bệnh tình gã ta nguy kịch, xin vào thăm gã ta, ông ta thoạt tiên vừa tỏ lòng ái ngại về cái đau của bệnh nhân, vừa tuyên bố bệnh nhân cần phải lấy đó làm mừng vì đó là ý Chúa, và cần phải lợi dụng mau dịp này để ăn năn trở lại với Chúa. Bằng một giọng cha con, ông ta nói:

- Vì con đã hơi xao nhãng bổn phận của con; người ta rất ít thấy con đi lễ, đã bao nhiêu năm nay con không tới gần bàn thờ Chúa? Cha hiểu công việc của con, cơn lốc thế gian, đã khiến con không chú ý đến việc tự cứu con. Nhưng bây giờ là lúc con phải nghĩ đến. Tuy nhiên con đừng thất vọng; Cha đã từng biết có nhiều kẻ phạm tội nặng, gần đến lúc ra mắt Chúa Trời (con chưa đến mức ấy đâu! Cha biết lắm), đã cầu xin Chúa Trời rủ lòng từ bi và họ chắc chắn đã chết đi trong những điều kiện tốt lành hơn cả. Chúng ta hãy hy vọng rằng, cũng như họ, con sẽ cho chúng ta những gương tốt như thế, để cảnh giới, ai vậy đã ngăn cấm con sớm tối cầu một lần kinh "Con lạy Người, đức thánh Mari, đầy lòng dung thứ", và một lần kinh "Cha chúng con trên Thượng giới". Phải, con làm thế! Vì Cha, để làm ơn cho Cha. Làm thế có mất gì?... Con có hứa với cha không?

Con người đang ở trong một trình trạng khốn nạn hứa. Linh mục, những ngày sau, lại đến. Ông ta nói chuyện với mụ chủ quán và thậm chí còn kể cả những chuyện vặt xen lẫn những lời giễu cợt, những lối nói nước đôi mà Hipôlýt không hiểu. Rồi, hễ tình thế cho phép, ông ta liền trở lại chuyện tôn giáo, với một bộ mặt nghiêm chỉnh.

Lòng nhiệt thành của ông ta dường như thành công; vì chẳng bao lâu anh khoèo tỏ ý muốn đi hành hương ở Bông Xơcua, nếu anh ta khỏi: về điều này, ông Buôcnidiêng trả lời là ông không thấy gì trở ngại; hai lần cẩn thận giữ gìn vẫn hơn là một. Người ta chẳng mất gì.

Tay dược sĩ bất bình với cái mà hắn gọi là những thủ đoạn của cha cố; những cái ấy, y chắc chắn chúng sẽ làm hại việc dưỡng bệnh của Hipôlýt, và y nhắc đi nhắc lại với mụ Lơfrăngxoa:

- Để cậu ta yên! Để cậu ta yên! Bà làm rối loạn tinh thần cậu ta bởi tính mê tín của bà.

Nhưng người đàn bà tốt bụng chẳng muốn nghe y nữa. Y là nguyên nhân mọi sự. Vì tính ương ngạnh của mụ, mụ treo ngay ở đầu giường bệnh nhân một bình nước thánh đầy ắp, với một cành hoàng dương.

Nhưng tôn giáo, không hơn gì khoa mổ xẻ, xem ra chẳng cứu được anh ta, và tình trạng thối rữa bất trị kia vẫn lan mãi từ chân lên bụng. Người ta đã hoài công thay đổi thuốc uống và thuốc đắp; các bắp thịt, cứ mỗi ngày mỗi teo đi, và cuối cùng Sáclơ đáp lại bằng một cái gật đầu đồng tình khi mụ Lơfrăngxoa hỏi hắn xem đến nước này mụ có nên mời ông Cavinê, một danh y ở Nớpsaten, đến chữa không.

Là bác sĩ y khoa, tuổi năm mươi, có địa vị, vững tin ở mình, người đồng nghiệp này không ngần ngại cười khinh khỉnh khi ông ta phát hiện ra cái cẳng chân bị chứng hoại thư tới tận đầu gối. Rồi, sau khi đã tuyên bố dứt khoát là phải cưa cái chân ấy đi, ông ta sang nhà tay dược sĩ phỉ báng những tên dốt nát như con lừa đã có thể đẩy một người khốn khổ vào tình trạng như thế. Ông ta vừa nắm khuy áo rơđanhgôt của ông Hôme mà lắc vừa hò hét trong cửa hàng dược phẩm.

- Đấy là những phát minh của Pari! Đấy là những ý kiến của quý ngài ở Thủ đô! Đấy cũng như tật lé mắt, thuốc mê và phép nghiền nát sỏi thận, một đống quái gở mà chính phủ đáng lẽ phải cấm! Nhưng người ta làm ra vẻ thông thạo, rồi người ta nhồi nhét cho các anh những thứ thuốc mà chẳng bận tâm gì đến hậu quả. Chúng tôi chẳng tài được như thế, bọn bác sĩ chúng tôi ấy; chúng tôi chẳng phải là những nhà bác học, những chàng công tử bột, những con người đàng điếm; chúng tôi là những người thực tiễn, những người chữa bệnh, và chúng tôi không tưởng tượng việc làm phẫu thuật cho một ai đang khỏe mạnh như vậy! Nắn lại những cái chân khoèo! Người ta lại có thể làm thẳng những cái chân khoèo ư? Đó khác nào như người ta lại muốn đổi anh còng thành anh ngay, chẳng hạn!

Nghe thuyết thế, Hôme lấy làm khó chịu và che giấu nỗi bực dọc của mình bằng một nụ cười nịnh thần; hắn cần đối xử tử tế với ông Canivê vì các đơn thuốc của ông ta đôi khi đến tận Yôngvin; bởi thế cho nên y không bênh vực Bôvary, thậm chí y cũng chẳng bày tỏ một nhận xét gì, và hứa từ bỏ cái tôn chỉ của mình, hy sinh cái danh dự của mình cho những mối lợi buôn bán chắc chắn của y hơn.

Việc bác sĩ Canivê cưa đùi bệnh nhân ấy là một sự kiện trọng đại trong làng! Tất cả dân chúng, hôm đó, đều dậy sớm, và cái Phố Lớn, mặc dầu đông người, vẫn có cái gì ảm đạm như ở đây có một cuộc tử hình. Ở cửa hàng thực phẩm, người ta tranh luận về bệnh tật của Hipôlýt, các cửa hàng chẳng bán được gì cả, và bà Tuyvasơ, vợ ông thị trưởng, không rời khỏi cửa sổ vì sốt ruột đón xem nhà phẫu thuật đến.

Ông ta tới bằng chiếc xe độc mã hai bánh mà ông ta tự điều khiển. Nhưng, vì cái lò xo bên phải đã lâu ngày bị quỵ xuống dưới sức nặng của thân hình béo tốt của ông ta, chiếc xe thành ra đi hơi nghiêng về một bên, và người ta thấy trên cái đệm bên kia, bên cạnh ông, một cái hộp rộng, phủ da cừu đỏ, có ba móc gài bằng đồng sáng chói một cách đẹp đẽ.

Như một cơn lốc bác sĩ vào cổng quán Sư Tử Vàng, bác sĩ kêu rất to và ra lệnh tháo ngựa, rồi đi vào chuồng ngựa xem nó có ăn nhiều lúa mạch không; vì, đến nhà bệnh nhân của mình, bao giờ ông ta cũng lưu tâm trước tiên tới con ngựa cái và chiếc xe của ông ta đã. Do đó, người ta thậm chí đã nói: "À! Ông Cavinê, đó là một con người độc đáo!". Và người ta còn quý ông ta hơn vì cái tính thẳng thừng không gì lay chuyển nổi ấy. Dù vũ trụ có tan tành đến người cuối cùng, ông ta cũng chẳng từ bỏ mảy may cái thói quen của ông ta.

Hôme tới.

- Tôi trông cậy vào ông, bác sĩ nói. Chúng ta đã sẵn sàng chưa? Nào đi!

Nhưng tay dược sĩ, mặt đỏ lên, thú thực rằng y dễ xúc cảm nên không tham dự được một cuộc phẫu thuật như thế.

- Khi người ta chỉ là người đứng xem, y nói, thì trí tưởng tượng của mình, ông biết đấy, dễ bị đâm ra lo lắng! Vả lại hệ thần kinh của tôi tệ đến nỗi...

- À thôi! Cavinê ngắt lời, trái lại tôi thấy dường như ông dễ mắc chứng trúng phong. Vả lại, tôi chẳng lạ gì điều đó; vì, các ông ạ, các ngài dược sĩ, lúc nào cũng chúi mũi vào bếp núc của các ông, cái đó cuối cùng làm thay đổi tính tình các ông. Ông nhìn tôi đây này: ngày nào tôi cũng dậy từ bốn giờ, tôi cạo râu bằng nước lạnh (tôi không thấy lạnh bao giờ) và tôi không vận đồ nỉ, tôi chẳng bị sổ mũi tí nào, bộ ngực tôi vững! Tôi sống khi thế này, lúc thế khác, như nhà hiền triết, gặp gì ăn nấy. Cho nên tôi không yếu ớt như các ông, và mổ một con chiên của Chúa hay mổ con gà con vịt nào bắt được đầu tiên thì, đối với tôi, cũng hoàn toàn như nhau thôi. Sau đó, các ông sẽ nói, thói quen... thói quen!...

Thế là, không chú ý gì tới Hipôlýt nằm lo sợ toát mồ hôi trong chăn, các ông này mở một cuộc đàm thoại, trong đó tay dược sĩ so sánh sự bình tĩnh của một nhà phẫu thuật với sự bình tĩnh của một võ tướng; và cách đối chiếu ấy làm Canivê rất khoái, ông ta giảng giải ầm ĩ về những yêu cầu của nghệ thuật của ông ta. Ông ta coi nó như một nhiệm vụ linh thiêng, mặc dầu các tay dược sĩ miệt thị nó. Cuối cùng, trở lại bệnh nhân, ông ta xem xét những băng gạc do Hôme mang đến, vẫn những thứ đã sử dụng khi chữa cái chân khoèo, và ông ta hỏi lấy một người để giữ hộ ông ta cái chân. Người ta cho đi tìm Lêtibuđoa, và ông Cavinê sau khi đã xắn tay áo xong, sang phòng bi a, còn tay dược sĩ thì đứng lại với Actêmizơ và mụ chủ quán, cả hai người này mặt mũi tái xanh hơn cả chiếc tạp dề của họ, tai vểnh lên về phía cửa phòng.

Bôvary, trong khi ấy, không dám bước ra khỏi nhà. Hắn ở nhà dưới, trong phòng, ngồi bên lò sưởi không đốt lửa, cằm gục trên ngực, hai tay bắt vào nhau, mắt đăm đăm. Thật là tai vạ! Hắn nghĩ, thật là chán ngán! Hắn đã hết sức thận trọng cơ mà. Số mệnh đã xen vào. Không hề gì? Nếu sau này, Hipôlýt mà chết đi thì có lẽ chính hắn đã giết anh ta. Thế rồi hắn nói năng ra sao trong những cuộc thăm bệnh khi người ta hỏi hắn? Tuy nhiên, có lẽ hắn đã nhầm lẫn ở chỗ nào chăng? Hắn tìm tòi mà chẳng thấy. Nhưng những nhà phẫu thuật nổi tiếng nhất cũng có thể nhầm chứ. Đó là điều mà người ta chẳng muốn tin bao giờ, trái lại, người ta sẽ cười, sẽ nói xấu! Tin đó rồi sẽ đồn lan đến tận Poócgiơ! Đến tận Nớpsaten! Đến tận Ruăng! Đến khắp mọi nơi! Biết đâu lại chẳng có những bạn đồng nghiệp sẽ viết bài đả kích hắn? Rồi bút chiến sẽ xảy ra, sẽ phải trả lời trên các báo... Thậm chí, Hipôlýt cũng có thể ra tòa kiện mình. Hắn thấy mình mất danh dự, khánh kiệt, nguy biến! Và trí tưởng tượng của hắn, bị vô số giả thuyết giày vò, đang bập bềnh giữa chúng như một chiếc thùng rỗng bị cuốn trôi ra biển và lăn trên sóng.

Emma, ở trước mặt hắn, nhìn hắn; nàng chẳng san sẻ nỗi khổ nhục của hắn, nàng lại cảm thấy một nỗi khổ nhục khác: khổ nhục là nàng đã tưởng tượng ra rằng con người thế ấy còn có chút gì đáng giá, như thể đã nhiều phen rồi, nàng vẫn chưa đủ nhận ra hết nỗi kém cỏi của hắn.

Sáclơ đi đi lại lại trong buồng, tiếng bốt lắc rắc trên sàn nhà.

- Ngồi xuống đi, nàng nói, anh làm tôi khó chịu!

Hắn lại ngồi xuống.

Vậy thì nàng đã làm thế nào (nàng thông minh là thế!) để còn lầm lẫn phen nữa? Vả lại, do chứng điên thảm hại nào mà nàng tự hủy hoại cuộc đời mình bằng những hy sinh liên tục như thế? Nàng nhớ lại tất cả những bản năng ưa xa hoa của nàng, tất cả những nhịn nhục của tâm hồn nàng, những hèn kém của cuộc hôn nhân, của việc nội trợ, những ước mơ của nàng đã rơi xuống bùn nhơ như những con chim én bị thương, tất cả những gì nàng đã khao khát, tất cả những gì nàng đã thoái thác, tất cả những gì nàng đáng lẽ ra có thể có được! Thế thì vì sao? Vì sao?

Giữa cảnh làng hoa bốn bề tịch mịch, một tiếng kêu xé tai xuyên qua bầu không khí. Bôvary tái mặt đến ngất. Nàng chau mày bằng một cử chỉ nóng nảy, rồi lại tiếp tục nghĩ ngợi. Tuy nhiên, cái đó là vì hắn, vì người ấy, vì cái con người chẳng hiểu gì hết, chẳng cảm thấy gì hết ấy! Bởi vì hắn ở kia, rất bình thản, và thậm chí chẳng hề ngờ rằng cái tên tuổi nực cười của hắn từ nay sẽ vấy bẩn nàng cũng như hắn. Nàng đã cố gắng để yêu hắn, và nàng đã khóc lóc hối hận vì đã xiêu lòng trước người khác.

- Nhưng có lẽ là một chân khoèo ra ngoài. Bôvary đang suy nghĩ, thốt ra đột ngột.

Lời nói bất ngờ vào tư duy nàng như một viên đạn chì rơi xuống một đĩa bạc, Emma giật mình ngửng đầu lên đoán điều Sáclơ muốn nói; và hai người lặng lẽ nhìn nhau, hầu như ngỡ ngàng vì thấy nhau, vì trong ý thức họ, họ đang rất đỗi xa nhau. Sáclơ vừa ngắm nàng bằng con mắt đục ngầu của một người say rượu, vừa ngây người lắng nghe những tiếng thét cuối cùng của kẻ bị cưa chân nối tiếp nhau thành những tiếng ngân kéo dài lê thê, đứt đoạn vì những tiếng rít y như tiếng rú xa xa của một con vật nào bị người ta chọc tiết. Emma cắn đôi môi nhợt nhạt, rồi mân mê giữa các ngón tay một mẩu san hô mà mình đã đánh gẫy, nàng rọi vào Sáclơ tia mắt rực chói như hai mũi tên lửa sắp bắn ra. Bây giờ, tất cả mọi thứ hắn đều làm nàng bực mình, mặt hắn, quần áo hắn, cái điều hắn không nói ra, con người hắn nghĩa là cuộc sống của hắn. Nàng hối hận như đã phạm một tội ác, về cái đức hạnh quá khứ của nàng, và phần còn lại của nó đã sụp đổ vì những phẫn nộ của lòng kiêu căng. Nàng khoan khoái trong tất cả những điều mai mỉa xấu xa của việc ngoại tình thắng lợi. Nàng lại nhớ đến tình nhân với sức lôi cuốn mãnh liệt; nàng thả tâm hồn vào đấy, bị lôi cuốn tới hình ảnh ấy bởi một nhiệt tình mới mẻ; và Sáclơ cũng tách rời khỏi cuộc đời nàng, tách rời mãi mãi, và bị hủy diệt như hắn sắp chết và hắn đang hấp hối dưới mắt nàng.

Có tiếng ai đi ngoài vỉa hè. Sáclơ trông ra; và qua chiếc mành buông xuống anh thấy bên dãy chợ, giữa ánh nắng, bác sĩ Cavinê đang lấy khăn quàng cổ lau trán. Đứng sau ông ta, Hôme cầm trong tay một chiếc hộp to màu đỏ, và cả hai người đi về phía cửa hàng dược phẩm.

Bấy giờ, vì yêu thương đột ngột và vì chán nản, Sáclơ vừa quay về phía vợ vừa nói:

- Ôm hôn anh đi, em yêu!

- Để tôi yên! Nàng đỏ mặt tía tai nói.

- Em làm sao thế? Em làm sao thế? Hắn nhắc đi nhắc lại bình tĩnh lại nào! Vui vẻ lên nào! Em biết rằng anh yêu em!... Em lại đây!

- Thôi! Nàng thốt lên một cách kinh khủng.

Rồi, lao mình ra khỏi phòng, Emma đóng sập cửa mạnh đến nỗi cái phong vũ biểu bật ra khỏi tường rơi xuống đất vỡ tan.

Sáclơ gieo mình trong chiếc ghế bành, kinh ngạc, hắn nghĩ xem nàng vì sao lại thế, hắn mường tượng đến một bệnh thần kinh, hắn khóc lóc và hắn cảm thấy mơ hồ có cái gì tai vạ và bí hiểm luẩn quẩn quanh mình.

Ngay buổi tối hôm đó, khi Rôđônphơ bước vào tới vườn, y đã thấy người tình của mình đợi mình ở dưới thềm, trên bậc đầu tiên. Họ ôm chặt lấy nhau, và tất cả bao nỗi hờn giận của họ tan đi như một đám tuyết dưới sức nóng của cái hôn.

--------------------------------

1

Ămbroadơ Parê (Ambroise Pasé): Nhà mổ xẻ Pháp nổi tiếng vào những năm 1517-1590.

2

Xenxơ (Celse): thầy thuốc La Mã nổi tiếng trước công nguyên.

3

Đuypuytren (Dupuytren): Nhà mổ xẻ Pháp nổi tiếng vào những năm 1777-1835.

Chương 12

Họ lại yêu nhau. Thậm chí nhiều lúc, ngay giữa ban ngày, Emma đột nhiên viết thư cho y; rồi, qua tấm cửa kính, nàng ra hiệu cho Juyxtanh, chú này, tháo nhanh chiếc khăn vải lau, bay ngay đến La Huysét: Rôđônphơ đến; chả là nàng nhắn bảo y nàng buồn nản, chồng nàng đáng ghét và cuộc sống thực là ghê gớm.

- Thì anh làm gì được chuyện đó cơ chứ? Y thốt lên một cách bực dọc.

- À! Nếu anh muốn!...

Nàng ngồi trên mặt đất, khoảng giữa hai đầu gối y, mái tóc tung ra, mắt nhìn thất lạc:

- Vậy là thế nào? Rôđônphơ nói.

Nàng thở dài:

- Chúng ta sẽ đi sống ở nơi khác..., nơi nào đó...

- Em điên rồi, thực đấy! Y vừa cười vừa nói. Có thể thế được ư?

Nàng trở lại chuyện ấy, y ra vẻ không hiểu và lảng sang chuyện khác. Cái mà y không hiểu, đó là tất cả sự bối rối này trong một việc đơn giản như tình yêu. Nàng có một duyên cớ, một lý do, và cái gì như một trợ lực cho lòng quyến luyến của nàng.

Mà thực ra, tình yêu của nàng mỗi ngày mỗi tăng do nàng ghét bỏ chồng. Nàng càng buông thả mình cho kẻ nọ thì nàng càng ghét cay ghét đắng người kia. Khi hai vợ chồng sống bên nhau, không bao giờ nàng lại thấy Sáclơ khả ố đến thế, có ngón tay dùi đục đến thế, kể từ sau những ngày gặp gỡ Rôđônphơ. Thế là nàng vừa đóng vai trò người vợ và người đức hạnh, nàng vừa hứng tình nghĩ tới mái đầu kia với bộ tóc đen uốn quăn, xõa xuống vầng trán rám nắng, tới cái thân hình vừa cường tráng vừa thanh nhã đến thế, nói tóm lại, nghĩ tới con người kia lịch duyệt biết mấy, ham muốn mãnh liệt biết mấy! Chính vì y mà nàng đã mài giũa móng tay một cách cẩn thận như người thợ chạm, mà chẳng bao giờ nàng cho là đủ chất kem trên da dẻ nàng, đủ chất nước hoa hắc hương trong khăn tay nàng. Nàng đeo vào người nào xuyến, nào nhẫn, nào vòng. Khi biết y sẽ đến, nàng cắm đầy hoa hồng trong hai chiếc bình lớn bằng thủy tinh màu xanh lơ và sắp đặt gian phòng nàng và con người nàng như một ả kỹ nữ đón chờ một hoàng tử. Người hầu gái phải luôn tay giặt giũ áo quần của nàng, và suốt này Fêlixitê không rời nhà bếp, nơi đó là gã Juyxtanh, thường đánh bạc với chị ta, trông chị ta làm việc.

Tì tay trên tấm ván dài mà chị ta là quần áo, gã hau háu nhìn tất cả những bộ đồ phụ nữ đặt quanh gã ta: váy ngắn bằng vải chéo, khăn trùm đầu, khăn choàng cổ và những quần dải rút rộng hông và thon dưới.

- Cái này dùng làm gì? Chàng trai vừa hỏi vừa sờ tay vào chiếc váy vải lông hay vào những móc gài.

- Thế chú chưa trông thấy bao giờ à? Fêlixitê vừa cười vừa đáp lại! Làm như bà Hôme, chủ chú, không mặc những đồ này ấy.

- À! Đúng quá! Bà Hôme!

Rồi gã ta nói thêm bằng một giọng trầm ngâm:

- Có phải bà ta là một bà như bà nhà đây.

Nhưng Fêlixitê sốt ruột thấy gã ta cứ sán chung quanh mình như thế. Chị ta hơn gã sáu tuổi, và Têôđo, người ở của ông Guyômanh, đang bắt đầu tán tỉnh chị ta.

- Để tôi yên! Chị ta vừa nói vừa cầm lọ hồ bột mang đi chỗ khác. Chú đi giã hạnh nhân đi thì hơn; chú bao giờ cũng cứ quấy rầy đàn bà; ông tướng con ơi, hãy chờ cho có râu ở cằm rồi hẵng dính đến chuyện ấy.

- Nào, chị đừng giận, tôi đi đánh giày của bà ấy hộ chị đây. Và gã ta liền với tay lên trên khung lò sưởi lấy đôi giày của Emma có bùn bám đầy - chất bùn của những cuộc hẹn hò - bong ra thành bụi dưới ngón tay gã ta và gã ta nhìn nó bay lên nhẹ nhàng trong tia nắng.

- Chú sợ làm hỏng giày đến thế kia ư! Người hầu gái nói vậy vì chị ta khi lau giầy chẳng thận trọng giữ gìn đến thế, vì hễ giầy cũ đi một tí là bà chủ bỏ cho chị ta liền.

Emma có lắm giày ở trong tủ, nàng hoang phí dần dần, mà Sáclơ chẳng bao giờ có một nhận xét nhỏ.

Cũng vì thế hắn đã phải bỏ ra ba trăm quan để mua một cái chân bằng gỗ mà chị ta xét thấy nên làm quà cho Hipôlýt.

Cái chân băng gỗ được gắn bằng li e, và các khớp có lò xo, một bộ máy phức tạp phủ bên ngoài bởi chiếc quần đen, dưới cùng là một chiếc bốt láng bóng, nhưng Hipôlýt, chẳng dám hàng ngày dùng một cái chân đẹp đến thế, anh ta xin bà Bôvary cấp cho anh ta một cái chân khác tiện dụng hơn. Tất nhiên, người thầy thuốc lại phải bỏ tiền ra mua thêm cái nữa.

Thế là anh coi chuồng ngựa dần dần trở lại nghề mình. Người ta thấy hắn, như xưa, chạy khắp làng, và khi Sáclơ, từ xa nghe tiếng lốc cốc của cái gậy của anh ta, liền rẽ sang đường khác.

Chính Lơrơ, tay nhà buôn, đã được giao đặt cái chân này, việc đó khiến y có dịp giao thiệp với Emma. Y nói chuyện với nàng về những hàng mới bày bán ở Pari, hàng ngàn thứ lạ chuyên dùng cho phụ nữ, y tỏ ra rất ân cần và không hề đòi tiền bao giờ. Emma mài miệt trong sự dễ dàng được thỏa mãn mọi thị hiếu của mình. Do đó, muốn tặng Rôđônphơ, nàng muốn có một cái roi ngựa rất đẹp bán ở Ruăng trong một cửa hàng bán ô. Lơrơ, ngay tuần sau, đã đặt cái roi ấy bên chiếc bàn của nàng.

Nhưng, ngay hôm sau, y đã đến nhà nàng với một tờ hóa đơn hai trăm bảy mươi quan không kể tiền lẻ. Emma hết sức bối rối: mọi ngăn kéo bàn giấy đều rỗng cả; nàng còn nợ hơn mười lăm ngày công của Lêtibuđoa, hai quý lương của người hầu gái, lắm món khác nữa, và Bôvary đang chờ sốt ruột số tiền mà ông Đơrôzơray, hằng năm, quen trả nợ hắn vào ngày lễ thánh Pie.

Thoạt đầu, Emma còn đuổi khéo được Lơrơ; cuối cùng, y mất bình tĩnh: y đang bị truy tố, vốn liếng của y đã hết sạch, và, nếu y không thu thập lại được ít nhiều, buộc phải lấy lại tất cả các thứ nàng này nắm trong tay.

- Này! Ông cứ lấy lại! Emma nói.

- Ồ! Nói chơi vậy thôi! Y đáp. Tôi chỉ tiếc có chiếc roi ngựa thôi. Tất nhiên, tôi sẽ hỏi xin lại ông nhà.

- Không nên! Không nên! Nàng thốt lên.

- À! Ta nắm được thóp mi rồi! Lơrơ nghĩ thầm.

Và, tin chắc ở điều mình đã phát hiện, y vừa bước ra vừa lẩm bẩm nhắc lại với tiếng rít khe khẽ theo thói quen của ông ta:

- Được! Ta sẽ liệu! Ta sẽ liệu!

Nàng đang suy nghĩ miên man đến cách thoát khỏi chuyện đó thì người hầu gái bước vào đặt trên lò sưởi một cuộn giấy xanh nhỏ của ông Đơrôzơray gửi đến. Emma nhảy chồm tới mở ra. Trong cuốn giấy có mười lăm đồng tiền vàng. Đó là khoản tiền ông ta trả nợ. Nàng nghe thấy Sáclơ bước trên thang; nàng ném vội số tiền vàng vào đáy ngăn kéo và giữ lấy chìa khóa.

Ba hôm sau, Lơrơ lại đến.

- Tôi có một cách dàn xếp muốn thưa với bà; nếu, thay vào món tiền đã thỏa thuận, bà muốn lấy...

- Tiền đây! Nàng vừa nói vừa đặt vào tay hắn mười bốn đồng tiền vàng.

Tay nhà buôn kinh ngạc. Thế là để che đậy nỗi thất vọng của mình, y luôn mồm xin lỗi và xin sẵn sàng phục vụ Emma nhưng nàng đều từ chối; rồi nàng ngồi thế vài phút, tay nắm trong túi tạp dề hai đồng trăm xu mà y vừa trả lại. Nàng thầm hẹn sẽ tiết kiệm để trả sau...

- Ôi chao! Nàng thầm nghĩ, hắn chẳng nhớ đến nữa đâu.

Ngoài cái roi ngựa có núm bằng bạc mạ vàng, Rôđônphơ đã nhận được một con dấu ghi câu châm ngôn Amor nel Cor 1 , hơn nữa một khăn quàng cổ để làm khăn che mũi, và sau hết, một hộp đựng thuốc lá giống hoàn toàn như cái hộp của tay tử tước mà xưa kia Sáclơ đã nhặt được trên đường và Emma vẫn giữ. Nhưng những quà tặng ấy làm y ngượng. Y từ chối nhiều món. Nàng nài ép, và thấy nàng độc đoán và quá lấn tới, Rôđônphơ cuối cùng đã phải nghe theo.

Rồi nàng còn có những ý lạ lùng:

- Khi đúng nửa đêm, nàng nói, anh nghĩ tới em!

Và, nếu y thú thực không nghĩ tới, thì nàng trách móc lắm điều, và, bao giờ cũng kết thúc bằng lời nói muôn thuở:

- Anh có yêu em không?

- Có chứ, anh yêu em! Y đáp.

- Nhiều chứ?

- Hẳn thế!

- Anh không yêu người khác chứ?

- Em tưởng anh còn trai tân khi em chiếm được anh ư? Y vừa nói vừa cười.

Emma khóc, và y cố dỗ dành nàng, tô điểm những nguyện thề của y bằng những lời bỡn cợt.

- Ôi! Đó là vì em yêu anh! Nàng lại nói, em yêu anh đến không thể không có anh được, anh biết rõ chứ? Đôi khi, vào lúc những nỗi hờn giận của tình yêu xé nát lòng em, em những muốn gặp lại anh. Em tự hỏi: "Anh ấy hiện đang ở đâu? Có lẽ anh ấy đang nói chuyện với những người đàn bà khác? Họ mỉm cười với anh ấy, anh ấy tiến gần họ...". Ô! Không đâu, phải không anh, chẳng người nào được anh ưa? Có những người đẹp hơn em; nhưng em, em biết yêu hơn họ! Em là người, người tôi tớ của anh và là người vợ lẽ của anh! Anh là ông hoàng của em, vị thần của em! Anh tốt! Anh đẹp! Anh thông minh! Anh khỏe mạnh!

Y từng nghe những lời nói ấy nhiều lần đến nỗi chúng chẳng có gì là độc đáo đối với y cả. Emma giống như mọi tình nhân; và cái hứng thú của sự mới mẻ, dần dần rơi xuống quần áo, để lộ một cách hiển nhiên cái tẻ nhạt muôn thuở của tình yêu vẫn mãi mãi qua những hình thái ấy và những ngôn ngữ ấy. Con người đầy thực tiễn như y, y không phân biệt sự khác nhau của những tình cảm biểu hiện giống nhau. Do đó, y chỉ tin gọi vào những lời nói chân thành kia vì y đã từng nghe thủ thỉ những lời nói tương tự từ những cặp môi của những con người dâm đãng hoặc của những cô gái làm tiền; người ta phải hạ thấp cái giá trị của những lời nói như thế xuống, y nghĩ vậy, vì những lời nói quá quắt che đậy những tình yêu tầm thường: dường như một tâm hồn trọn vẹn chẳng khi nào lại phát tiết ra ngoài bằng những ẩn dụ trống rỗng nhất bởi lẽ không ai, bao giờ, lại có thể bày tỏ được cái mức độ chính xác của những nhu cầu của mình, của những quan niệm của mình, của những đau đớn của mình, và bởi lẽ lời nói của con người chẳng khác gì một cái chảo rạn mà ở đấy chúng ta khua lên những giai điệu khiến những con gấu phải nhảy múa, khi người ta chỉ muốn làm mủi lòng các vì sao.

Nhưng, với cái đầu óc phán đoán sành sỏi của con người, trong bất kỳ hẹn thế nào, cũng đứng đằng sau, Rôđônphơ nhận ra ở mối tình yêu này nhiều lạc thú khác để mà khai thác. Y xét mọi sự e ngại là bất lợi. Y đối xử với nàng chẳng kiểu cách gì. Y biến nàng thành cái gì mềm dẻo và đồi bại. Đây là một thứ ràng buộc ngu muội đầy thán phục đối với y, đầy khoái lạc đối với nàng, một thứ hạnh phúc hoàn toàn làm cho nàng ngây dại; và tâm hồn nàng chìm ngập trong trạng mê say ấy, đắm đuối trong đó, rồi teo đi như công tước Clarăngxơ 2 trong thùng rượu nho của ông ta.

Chỉ do hậu quả của thói trăng hoa, bà Bôvary đã đổi thay dáng điệu. Những cái nhìn của nàng hóa ra táo bạo hơn, cách nói năng của nàng trở nên tự do hơn, thậm chí miệng ngậm thuốc lá, nàng nhâng nháo dạo phố với Rôđônphơ, như để ngạo đời. Rút cục, những ai trước kia còn hoài nghi thì bây giờ chẳng còn ngờ vực gì nữa, khi thấy nàng, một hôm, từ chiếc xe Con én bước xuống, bó mình trong một chiếc áo gi lê kiểu đàn ông. Và bà Bôvary mẹ, sau một trận cãi nhau ghê gớm với chồng, đã lánh sang nhà con trai; bà chẳng phải là người dân thành thị ít va chạm nhất. Còn lắm chuyện chẳng vừa ý bà: Trước hết Sáclơ đã không nghe lời bà cấm vợ đọc tiểu thuyết; rồi đến cái cung cách sống trong nhà làm bà không thích thú; bà tự tiện nhận xét điều này điều nọ, và mẹ con giận nhau, nhất là một lần, vì chuyện Fêlixitê.

Bà Bôvary mẹ, tối hôm trước, khi đi qua hành lang, đã bắt gặp Fêlixitê đứng với một người đàn ông, một người đàn ông có bộ râu màu nâu, khoảng bốn mươi tuổi, nghe thấy tiếng chân bà, đã vội bỏ chạy ra khỏi nhà bếp. Đương lúc ấy, Emma phá lên cười; nhưng bà mẹ nổi nóng lên, tuyên bố rằng, trừ khi bất chấp luân thường đạo lý, người ta phải trông coi cách ăn ở của kẻ hầu người hạ trong nhà.

- Bà ở cái xã hội nào thế? Cô nàng dâu nói, với một cái nhìn xấc xược, đến nỗi bà Bôvary mẹ hỏi nàng phải chăng nàng đã bênh vực cho chính bản thân mình.

- Bà ra khỏi nhà tôi ngay! Người thiếu phụ chồm lên nói.

- Emma!... Mẹ!... Sáclơ kêu lên để hòa giải họ.

Nhưng cả hai, trong cơn tức giận, đã bỏ chạy. Emma vừa dậm chân vừa láy đi láy lại:

- Ôi! Lịch sự thế! Đồ nhà quê!

Sáclơ chạy lại phía mẹ. Nổi giận, bà mẹ lắp bắp:

- Đồ hỗn! Đồ điên! Có lẽ tệ hơn thế nữa!

Và bà mẹ muốn đi ngay, nếu kẻ kia không đến xin lỗi bà ta. Sáclơ quay lại phía vợ và nài xin nàng nhượng bộ: hắn quỳ xuống; cuối cùng nàng đáp:

- Được! Tôi đi xin lỗi.

Quả nhiên, nàng vừa chìa tay ra trước mẹ chồng với cái vẻ trang nghiêm của một mệnh phụ vừa nói:

- Thưa bà, bà miễn thứ cho tôi.

Rồi, trở lên buồng mình, Emma gieo mình nằm sấp hẳn xuống giường, rồi đâm chúi vào gối, khóc như một đứa trẻ con.

Nàng và Rôđônphơ đã hẹn định với nhau là trong trường hợp có chuyện bất thường, nàng sẽ cài vào cửa sổ một mảnh giấy trắng, để ngẫu nhiên mà y có mặt ở Yôngvin, y sẽ chạy ngay vào trong cái ngõ sau nhà. Emma làm hiệu, nàng thoáng nhìn thấy Rôđônphơ ở góc chợ. Nàng toan mở cửa sổ để gọi; nhưng y đã biến mất rồi. Nàng lại gieo mình xuống giường, thất vọng.

Tuy nhiên, chẳng bao lâu, nàng nghe thấy dường như có ai đi trên hè phố. Hẳn là y thôi, nàng xuống cầu thang vượt qua sân. Y đứng đó, ở phía ngoài. Nàng lao mình vào giữa hai cánh tay y.

- Em hãy coi chừng, y nói.

- À! Anh biết chăng! Nàng đáp.

Rồi nàng kể cho y nghe tất cả, hấp tấp, chẳng có mạch lạc, phóng đại sự việc, bịa đặt ra nhiều, và đang nói chuyện nọ lại xọ sang chuyện kia, đến nỗi y chẳng hiểu gì cả.

- Nào, nàng tiên đáng thương của anh, can đảm lên, hãy yên tâm, đừng sốt ruột!

- Thì em đã kiên trì, và đau khổ bốn năm rồi!... Một mối tình như của đôi ta phải có trời đất chứng minh! Họ đang làm tình làm tội em. Em không chịu được nữa! Anh cứu em!

Nàng dán chặt người nàng vào người Rôđônphơ. Mắt nàng, đẫm lệ lóng lánh như những ngọn lửa dưới nước, ngực nàng dồn dập phập phồng. Chưa bao giờ y yêu nàng đến thế, yêu đến nỗi đầu óc hoang mang và y nói:

- Phải làm gì bây giờ? Em muốn gì bây giờ?

- Hãy mang em đi! Nàng thốt lên. Bắt cóc em đi!... Ôi! Em van anh đấy!

Và nàng chồm lên miệng y như để chộp lấy lời ưng thuận bất ngờ thoát ra từ đó trong một cái hôn.

- Nhưng..., Rôđônphơ lại nói.

- Gì vậy?

- Còn con gái em?

Nàng nghĩ ngợi vài phút rồi đáp:

- Chúng ta sẽ mang nó đi, mặc!

- Người đàn bà này mới lạ sao! Y vừa nói vừa thầm nhìn nàng ra đi.

Nàng vừa chạy trốn vào trong vườn thì có người gọi nàng. Bà Bôvary mẹ, những ngày sau, rất đỗi ngạc nhiên về sự thay đổi của con dâu. Thật thế, Emma tỏ ra dễ bảo hơn, và thậm chí nàng còn tỏ ra lễ độ đến mức hỏi cả bà cách muối dưa chuột.

Phải chăng là để dễ đánh lừa mẹ chồng và chồng hơn? Hay là nàng muốn qua một thứ nhẫn nhục êm ái, cảm thấy sâu sắc hơn nỗi cay đắng của cảnh vật mà nàng sắp rời bỏ? Nhưng, trái lại, nàng không chú ý đến chuyện đó: nàng sống như quên đi trong cái thứ thưởng thức trước niềm hạnh phúc nay mai của nàng. Đây là một đề tài trò chuyện không bao giờ cạn với Rôđônphơ. Nàng gục trên vai y, nàng tỷ tê:

- Này! Bao giờ chúng ta ngồi trên chiếc xe trạm anh nhỉ! Anh có nghĩ tới đó không? Việc đó có thể thế được không? Đối với em, vào cái lúc em cảm thấy chiếc xe lao đi, chúng ta dường như đi trên khinh khí cầu, dường như bay về phía các tầng mây. Anh có biết rằng em đếm từng ngày?... Còn anh?

Chưa bao giờ bà Bôvary lại đẹp như thời kỳ này; nàng có cái đẹp khôn tả do vui sướng, do hăng hái, do thắng lợi, và do sự hài lòng giữa tính tình với hoàn cảnh. Những khát vọng, những đau buồn của nàng, những kinh nghiệm của mối hoan lạc và những ảo tưởng còn non trẻ của nàng, như hoa có phân bón, mưa gió và ánh nắng..., đã dần dần làm nàng phát triển và nàng, cuối cùng, đã tươi như hoa nở trong toàn vẹn bản chất của nàng. Mí mắt nàng dường như được sắp đặt sẵn cho những cái nhìn thiết tha tình tứ, trong đó tròng mắt lờ đờ còn đôi lỗ mũi hẹp, dãn ra về kẽ mép đầy đặn với ít lông tơ đen rợp bóng nhích lên theo từng nhịp thở mạnh. Người ta nói rằng một nghệ sĩ khéo bày những trò đồi bại đã đặt lên gáy nàng cái búi tóc: nó được quấn sơ sài thành một mớ nặng và ngày nào cũng xổ ra tùy theo từng trường hợp ngoại tình. Giọng nói nàng bây giờ uyển chuyển hơn, thân hình nàng cũng thế; thậm chí, có một cái gì tinh vi tỏa ra từ những nếp vải dạ của áo nàng và từ những đường nét uốn cong của đôi chân càng đi sâu vào người ta. Sáclơ, như thời mới cưới, thấy nàng xinh đẹp quá và hắn hoàn toàn không cầm lòng được.

Nửa đêm, khi hắn về nhà, hắn không dám đánh thức nàng dậy, chiếc đèn đêm bằng sứ rọi lên trần một vòng ánh sáng rung rinh, và chiếc màn trùm chiếc nôi con trông chẳng khác một túp lều trắng khum phồng trong bóng tối bên cạnh giường. Sáclơ nhìn hai mẹ con nàng. Hắn tưởng nghe thấy hơi thở nhẹ nhàng của con hắn. Bây giờ, nó đang độ lớn; mỗi mùa qua sẽ mau chóng mang đến một sự tiến bộ; hắn đã thấy con chiều tối đi học về, tươi cười với chiếc tay áo giả lốm đốm mực và cái lẵng khoác ở cánh tay; rồi sẽ phải cho nó đi trọ học, như thế sẽ tốn lắm; làm thế nào? Thế là hắn suy nghĩ. Hắn tính đến thuê một cái trại nhỏ ở quanh vùng mà hắn sẽ trông nom lấy, mỗi buổi sáng, khi đi thăm bệnh nhân, sẽ để dành lợi tức thu được gửi vào quỹ tiết kiệm; rồi hắn sẽ mua cổ phần, ở nơi nào đấy, bất kỳ đâu; vả chăng, khách chữa bệnh sẽ tăng lên, hắn trông cậy vào đấy, vì hắn muốn Béctơ được dạy bảo cẩn thận, nó sẽ có tài, nó sẽ học đánh pianô. Chà! Sau này, vào tuổi mười lăm, trong mùa hè, nó cũng đội chiếc mũ rơm to như mẹ nó. Từ xa người ta cứ tưởng mẹ con nó là hai chị em. Hắn hình dung con bé, buổi tối, làm việc gần hai vợ chồng hắn, dưới ánh sáng ngọn đèn; nó sẽ thêu cho hắn những đôi giầy vải; nó sẽ đảm đang việc nội trợ: lời nói dễ thương và tính tình vui vẻ của nó sẽ chan hòa khắp cửa nhà. Cuối cùng, hai vợ chồng hắn sẽ tính chuyện xây dựng cho nó, tìm cho nó một chàng trai hiền lành, có một địa vị chắc chắn; cậu ta sẽ làm cho nó sung sướng cứ như thế mãi mãi.

Emma không ngủ, nàng giả tảng ngủ; và, trong khi hắn thiu thiu bên cạnh nàng, nàng vẫn thức, mơ màng những chuyện khác.

Theo nước đại của bốn con ngựa, nàng được đưa đi đã tám ngày nay, tới một xứ sở mới, từ nơi đó đôi tình nhân chẳng trở về nữa. Họ đi, họ đi tay khoác tay, không nói. Thường thường, từ trên một đỉnh núi bỗng một đô thị nào đó rực rỡ với những chỏm nhà, cầu cống, thuyền bè, những rừng tranh và những nhà thờ lớn bằng đá hoa trắng mà trên nóc nhọn gác chuông chim cò làm tổ. Họ đi bước một vì đá hoa lát to và vì trên mặt đất, rải rác những bó hoa của những người đàn bà vận áo nịt đỏ dâng biếu. Họ nghe thấy tiếng chuông rung, tiếng la hí, với tiếng đàn ghi ta nỉ non và tiếng vòi nước phun, hơi nước bay lên làm tươi mát những đống quả xếp có ngọn ở chân các bức tường xanh mởn mỉm cười dưới tia nước. Thế rồi, một buổi chiều, họ đến một làng đánh cá, ở đó những tấm lưới nâu sẫm đang phơi trước gió, dọc dốc biển và các túp lều. Tại đây, họ sẽ dừng chân để sống: họ sẽ ở trong một ngôi nhà thấp, mái dẹt, dưới bóng một cây gồi, cuối một cái vịnh, trên bờ biển. Họ sẽ đi chơi bằng thuyền nhỏ, họ sẽ nằm đu đưa trên võng; và cuộc sống của họ sẽ dễ dàng và thoải mái như áo quần bằng tơ lụa của họ, sẽ ấm áp và đầy sao như những đêm êm ái mà họ sẽ thưởng ngoạn. Tuy nhiên, trên cái viễn ảnh tương lai mênh mông tưởng tượng ra ấy, không có gì đặc biệt xuất hiện: ngày nối ngày, tươi đẹp cả, giống nhau như những đợt sóng, và cái đó đu đưa ở phía chân trời vô tận, hài hòa, biêng biếc và phủ đầy ánh nắng. Nhưng đứa bé ho trong nôi hoặc Bôvary ngáy to hơn, nên Emma tận sáng mới ngủ, khi ánh bình minh nhuộm trắng các ô cửa kính và chú Juyxtanh, ở phía quảng trường, mở các mái hiên cửa hàng dược phẩm. Nàng đã cho mời Lơrơ đến và đã bảo y:

- Tôi cần một áo khoác, một áo khoác to, cổ dài có lót.

- Bà đi xa? Y hỏi.

- Không! Nhưng mà... cần gì, phải chăng tôi đã trông cậy vào ông? Và ông làm nhanh cho!

Y nhận lời.

- Tôi còn cần, nàng nói tiếp, một cái hòm..., đừng nặng quá... thuận tiện.

- Vâng, vâng, tôi hiểu, độ chín mươi hai centimét trên năm mươi, như hiện nay người ta vẫn làm.

- Với một túi đựng hành lý nữa.

- Hẳn là, Lơrơ thầm nghĩ, có chuyện gì bên trong đây.

- Và đây, bà Bôvary vừa rút chiếc đồng hồ từ thắt lưng ra vừa nói ông cầm lấy cái này: ông dùng nó mà trang trải mọi thứ.

Nhưng tay lái buôn kêu lên là nàng nhầm; hai bên đã quen biết nhau; có phải y không tin nàng đâu? Thực là chuyện trẻ con! Tuy nhiên, nàng nói gặng để ít ra y lấy cái dây đồng hồ; Lơrơ đã bỏ dây vào túi và cất bước ra đi thì nàng gọi lại.

- Ông cứ để tất cả những thứ đó ở nhà ông. Còn cái áo khoác - nàng có vẻ nghĩ ngợi - Ông cũng đừng mang đến đây nữa; song ông chỉ cần cho tôi biết địa chỉ của người thợ và bảo gã ta để sẵn áo cho tôi.

Họ định tháng sau họ sẽ trốn đi. Nàng sẽ xuất phát từ Yôngvin như để ra Ruăng mua bán. Rôđônphơ đã lấy trước vé xe và giấy thông hành đồng thời viết cả thư đi Pari, để có vé xe trạm đi suốt đến tận Mácxây, ở đấy họ sẽ mua một chiếc xe ngựa bốn bánh rồi tiếp tục đi không dừng lại bằng con đường cái Giênơ. Nàng sẽ chú trọng đến việc gửi hành lý tới nhà Lơrơ để đưa thẳng ra xe Con én, sao cho không ai nghi ngờ gì cả; và, trong tất cả công việc ấy, không ai động đến vấn đề đứa bé. Rôđônphơ tránh không nói tới; có lẽ nàng cũng không nghĩ tới.

Y muốn có hai tuần lễ nữa trước mặt để thu xếp vài việc cho xong; rồi sau tám ngày y đề nghị thêm mười lăm ngày nữa, rồi y kêu ốm; sau đó, y đi đâu một chuyến; tháng tám trôi qua, và sau tất cả những cuộc trì hoãn ấy, họ ấn định dứt khoát lên đường vào mồng 4 tháng chín, một ngày thứ hai.

Cuối cùng, vào buổi tối thứ bảy, trước hôm đi hai ngày, Rôđônphơ đến, sớm hơn thường lệ.

- Sẵn sàng cả rồi chứ? Nàng hỏi y.

- Rồi.

Họ liền đi vòng qua luống đất ở mép vườn hoa, đến ngồi gần chỗ đất đắp cao, trên thành tường.

- Anh buồn nhỉ, Emma nói.

- Không, có điều gì đâu mà buồn?

Và ngay lúc đó, y nhìn nàng một cách kỳ dị, một cách âu yếm.

- Phải chăng anh buồn vì anh sẽ đi khỏi nơi đây? Nàng lại nói, phải chăng anh sẽ rời bỏ bao tình cảm tha thiết ràng buộc anh, cuộc sống thường lệ của anh? À! Em hiểu... Nhưng em, em chẳng có gì ở đời này hết! Anh là tất cả của em. Cho nên em sẽ là tất cả của anh, em sẽ là một gia đình của anh, một quê hương của anh: em sẽ chăm sóc anh, yêu anh.

- Em đẹp đẽ biết bao! Y vừa ôm nàng vừa nói.

- Thật không? Nàng vừa cười khoái trá vừa hỏi. Anh có yêu em không? Anh thề đi nào!

- Anh yêu em chứ! Anh yêu em chứ! Anh yêu quý em mà, em yêu của anh!

Mặt trăng, tròn vành vạnh và đỏ ối, mọc là là mặt đất, cuối cánh đồng cỏ. Trăng lên nhanh giữa khoảng các cành bạch dương che khuất nó từng chỗ như một tấm màn đen thủng. Rồi trăng hiện ra, trắng đẹp, trong bầu trời quang mà trăng soi sáng; và bây giờ, từ từ, trăng rọi xuống con sông con một vệt lớn biến hóa thành hằng hà những ngôi sao, và cái ánh bạc ấy dường như vặn vẹo xuống tận đáy nước kiểu một con rắn không đầu phủ đầy vảy sáng. Nó cũng giống như một cây đèn thờ khổng lồ nào đó mà suốt dọc thân chảy xuống ròng ròng những giọt kim cương đang hóa lỏng. Đêm dịu dàng lan tỏa quanh họ, từng lớp bóng tối tràn ngập lá cây. Emma, đôi mắt lim dim, bằng những hơi dài, hít làn gió mát đang thổi. Cả hai đều chìm đắm trong mơ, không nói gì với nhau. Tình yêu thắm thiết của những ngày qua trở lại lòng họ, lai láng và thầm lặng như dòng sông đang chảy với bao nhiêu êm dịu mà hương thơm của hoa sơn mai mang lại, và ném vào những hồi ức của họ những bóng đen rộng lớn hơn và buồn hơn bóng những cây liễu im lìm đang chạy dài trên cỏ. Thỉnh thoảng một con vật ăn đêm nào đó, dím hay cầy, đi săn mồi, làm sột soạt những tàu lá, hoặc từng lúc người ta nghe thấy tiếng trái đào chín từ rặng cây áp tường rụng xuống.

- Ôi! Đêm đẹp quá! Rôđônphơ nói.

- Chúng ta sẽ còn có nhiều đêm đẹp khác! Emma đáp. Và như tự nói với mình:

- Ừ, đi xa thì thú... Tuy nhiên, tại sao lòng em lại buồn? Phải chăng vì lo ngại cái xa lạ..., vì rời bỏ hậu quả của những nếp sống quen thuộc..., hay vì?... Không, đó là vì quá vui sướng! Em nhu nhược quá, phải không? Anh tha thứ cho em!

- Hãy còn thời gian! Y thốt lên. Em suy nghĩ đi, có lẽ em sẽ hối đấy.

- Không bao giờ! Nàng hăng hái đáp. Và, nhích lại gần y, nàng nói tiếp:

- Vậy thì điều bất hạnh nào có thể xảy ra bất thần với em? Không có sa mạc nào, không có vực thẳm nào, không có đại dương nào mà em không vượt nổi cùng anh. Chúng ta càng sống với nhau, chúng ta mỗi ngày càng ôm ấp nhau chặt chẽ hơn, trọn vẹn hơn. Chúng ta sẽ chẳng còn bị một điều gì quấy rối, chẳng còn lo lắng, chẳng còn trở ngại! Chúng ta sẽ chỉ có riêng mình chúng ta bên nhau, mọi thứ thuộc về chúng ta, mãi mãi... Anh nói đi nào, anh hãy trả lời em đi.

Y  đáp lại từng chặp đều đều: "Ừ... ừ!...". Nàng đưa cả hai tay lên vuốt tóc y và láy đi láy lại bằng một giọng thơ ngây, mặc dầu hàng lệ tuôn trào:

- Rôđônphơ! Rôđônphơ!... Ôi! Rôđônphơ, Rôđônphơ bé bỏng thân yêu!

- Đã nửa đêm rồi! Nàng nói. Thôi, mai! Còn một ngày!

Y  đứng dậy ra về, và dường như cái động tác y làm là dấu hiệu cuộc trốn đi của hai người. Emma đột nhiên làm điệu vui vẻ:

- Anh đã có giấy thông hành chưa?

- Rồi.

- Anh không quên gì cả chứ?

- Không.

- Anh có chắc không?

- Chắc.

- Anh sẽ đợi em ở khách sạn Đơ Prôvăngxơ, có phải không?... Vào mười hai giờ trưa?

Y  gật đầu một cái.

- Đến mai nhé! Emma nói trong cái hôn cuối cùng. Và nàng trông y xa dần.

Y  không quay đầu lại. Nàng chạy theo y, và, nghiêng mình trên bờ sông, giữa những bụi rậm:

- Mai nhé! Nàng thốt lên.

Y đã ở bên kia sông rồi và đi nhanh trong đồng cỏ.

Vài phút sau, Rôđônphơ dừng lại; và, khi y trông thấy nàng qua bộ quần áo trắng mờ dần trong bóng tối như một bóng ma, trái tim y đập mạnh đến nỗi y phải tựa vào một cái cây cho khỏi ngã.

- Mình thật là khờ dại! Y vừa nói vừa rủa ầm ĩ... Dù sao, nàng cũng là một tình nhân xinh đẹp!

Và lập tức, cái nhan sắc của Emma, với mọi khoái lạc của cuộc yêu đương, lại hiện ra trước y. Thoạt tiên, y mủi lòng, sau y bực với nàng.

- Ừ, rút cục lại, y vừa múa tay múa chân vừa thốt lên, ta không thể rời bỏ quê hương, cáng đáng một con bé được.

Y tự nhủ những điều ấy để làm vững lòng mình hơn.

- Và ngoài ra, còn bao trắc ẩn, bao phí tổn... À! Không, không, nghìn lần không! Thế thì ngu xuẩn quá!...

--------------------------------

1

Amor nel Cor: Tình yêu trong trái tim.

2

Clarăngxơ (Clarence): Người nước Anh (1449-1478) vì mưu hại anh là nhà vua Eđua IV (Edouart IV) đã xin chết trong thùng rượu nho của mình khi bị trừng trị.

Chương 13

Vừa về đến nhà, Rôđônphơ ngồi ngay vào bàn giấy, dưới cái đầu hươu trần thiết trên tường. Nhưng, khi cầm bút lên tay, y chẳng biết viết gì đến nỗi y tì hai khuỷu tay xuống, lao vào suy nghĩ. Y tưởng Emma đã bị đẩy lui vào một quá khứ xa xăm như điều y đã quyết định đột nhiên đặt giữa hai người một khoảng cách mênh mông.

Để nắm lại cái gì về nàng, y đi tìm trong tủ ở đầu giường y, một cái hộp cũ đựng bích quy do tỉnh Remx sản xuất mà y quen đựng thư từ phụ nữ, và tù đó phát ra một mùi bụi ẩm và mùi hoa hồng héo. Thoạt tiên, y thấy một chiếc mùi soa của nàng dùng một lần nàng bị đổ máu cam đang khi đi dạo, y không còn nhớ đến chuyện đó nữa. Gần đấy, là bức chân dung nhỏ do Emma tặng đã gẫy góc; y thấy cách ăn mặc của nàng ra vẻ cầu kỳ và đôi mắt liếc lên thật là thiểu não; rồi y càng ngắm mãi tấm ảnh và càng gợi mãi ký ức về người thực, thì những hình nét Emma dần dần nhòa đi trong đầu óc y, dường như hình sống và hình vẽ, cọ xát vào nhau, đã xóa mờ lẫn nhau. Sau cùng, y đọc một số thư của nàng đầy những lời giải thích liên quan đến cuộc hành trình của họ, thư ngắn, rõ ràng và bức thiết như những giấy tờ về công việc. Y muốn xem lại những bức thư dài, viết trong thời gian trước kia; để tìm chúng ở đáy hộp, Rôđônphơ phải xáo lộn tất cả các bức thư khác; và vô tình y lục lọi đống giấy và đồ vật ấy, y thấy, để lẫn trong đó, những bó hoa, một cái nút, một mặt nạ đen, những trâm tóc và những tóc - những tóc! Tóc hung đen, tóc vàng nâu; thậm chí có vài sợi vướng vào ổ khóa đã bị đứt lúc hộp mở ra.

Thờ thẫn như thế giữa những kỷ niệm của mình, y xem xét các mặt chữ và lời thư khác biệt nhau cũng như chính tả của chúng. Những bức thư tha thiết hay nhí nhảnh, đùa cợt, sầu thảm, có những lá đòi hỏi tình yêu, có những lá khác đòi hỏi tiền bạc. Nhân một lời, y nhớ lại, những nét mặt, vài cử chỉ, một giọng nói; nhưng, cũng có khi, y chẳng nhớ gì cả.

Quả thực, những người đàn bà ấy, cùng một đợt, đổ xô vào tâm trí y, làm rầy rà lẫn nhau ở đấy rồi thu nhỏ lại như cùng xếp ở một mức độ yêu đương ngang bằng nhau. Thế là y cầm những bức thư lẫn lộn ấy vào một nắm tay, y tinh nghịch thả tung chúng từng loạt từ tay phải sang tay trái trong vài phút. Cuối cùng, chán nản, buồn ngủ, Rôđônphơ đem cái hộp cất vào trong tủ, lòng nhủ thầm:

- Toàn chuyện vớ vẩn...!

Điều đó thâu tóm tất cả tư tưởng của y; vì những cuộc hành lạc, như đám học sinh trong sân trường, đã chà đạp lên trái tim y đến nỗi không còn có cái gì xinh tươi mọc lên ở đó, và cái gì qua đó, dại hơn cả trẻ con, cũng chẳng, như chúng, để lại ngay cả cái tên được khắc trên tường. Y thầm nói:

- Thôi, ta hãy bắt đầu!

Y viết.

"Can đảm lên Emma, can đảm lên! Anh không muốn làm khổ cuộc đời em...".

Nói cho cùng, thực đấy, Rôđônphơ nghĩ; mình hành động vì lợi ích của nàng, mình lương thiện.

"Emma đã cân nhắc chắc chắn điều quyết định của em chưa? Tội nghiệp em yêu, em có biết cái vực thẳm mà anh lôi kéo em tới không? Không, phải chăng? Emma đã nhẹ dạ và dại dột tin vào hạnh phúc, vào tương lai... Ôi! Chúng ta thực là bất hạnh! Mất trí!".

Đến đây, Rôđônphơ ngừng bút để tìm một điều thoái thác trôi chảy đó.

- Hay là mình bảo nàng tài sản mình đã khánh kiệt?... Chà! Không được, và vả lại, cái đó chẳng cản trở gì. Mất rồi thì sau này sẽ xây dựng lại. Có thể làm cho ngữ đàn bà ấy nghe ra lẽ phải được ư?

Y suy nghĩ rồi viết thêm:

"Anh sẽ không quên em, em hãy tin thế, và anh sẽ mãi mãi hết sức trung thành với em, nhưng một ngày kia, sớm hay muộn, nhiệt tình này (đó là số phận của mọi việc ở đời) chắc chắn sẽ giảm sút đi! Sẽ có lúc chúng ta thấy chán nản, và thậm chí, ai biết đâu, anh sẽ chẳng chua xót chứng kiến những nỗi hối hận của em mà chính bản thân anh dự phần vào đó vì lẽ anh đã gây nên. Chỉ nghĩ đến những nỗi buồn xảy đến với em cũng đủ xé lòng anh rồi, Emma ạ! Em hãy quên anh đi! Tại sao trời đã xui khiến anh quen biết em? Tại sao em xinh đẹp đến thế? Có phải là lỗi ở anh không? Ôi, trời! Không, không, em chỉ nên trách ở định mệnh!".

- Đó là một lời nói bao giờ cũng gây được hiệu quả, y thầm nói.

"Ôi, nếu như em là một trong những người đàn bà phù phiếm như người ta thấy kia thì, hẳn thế, anh đã có thể, vì lòng tri kỷ làm một cuộc thí nghiệm ngay lúc bấy giờ chẳng nguy hiểm cho em. Nhưng cái nhiệt tình tao nhã ấy, vừa là niềm hứng thú vừa là nỗi đau khổ của em, đã ngăn không cho những người phụ nữ đáng yêu như em hiểu được cái vị trí không trọn vẹn của chúng ta sau này. Anh cũng vậy, thoạt tiên anh chẳng nghĩ đến chuyện đó, rồi anh ru mình dưới cái bóng của niềm hạnh phúc lý tưởng kia như dưới cái bóng của cây lê độc mà chẳng dự tính đến hậu quả".

- Có lẽ nàng sẽ cho là vì keo kiệt mà mình bỏ, không đi... à! Chẳng can gì! Mặc kệ, phải chấm dứt cho xong!

" Người đời độc ác, Emma ạ. Chỗ nào mà ta đến, họ cũng theo đuổi ta. Em phải chịu đựng những câu hỏi thóc mách, lời vu khống, lòng khinh rẻ, cả sự xúc phạm cũng nên. Xúc phạm em! Ôi!... Thế mà anh lại muốn đặt em trên ngai vàng! Anh mang theo tâm tư của em như một lá bùa hộ mệnh! Vì, bằng cách đày ải mình, anh tự trừng phạt anh về tất cả cái tai hại mà anh đã gây cho em. Anh đi. Đi đâu? Anh chẳng biết nữa, anh điên rồi! Vĩnh biệt! Em hãy cứ hiền hậu mãi mãi! Em hãy giữ lấy kỷ niệm về một kẻ khốn khổ đã làm hại đời em. Em hãy bảo cho con em biết tên anh, mong nó nhắc đến trong các buổi cầu nguyện".

Lửa hai ngọn nến rung rinh. Rôđônphơ đứng dậy đóng cửa sổ, và khi y lại ngồi xuống, y nghĩ:

- Mình cho thế là hết lẽ. À! Còn điều này nữa, mình sợ cô ta đến nằng nặc theo đuổi mình:

"Khi em đọc những dòng chữ buồn thảm này, thì anh đã đi xa rồi, vì anh muốn trốn thật mau để tránh lòng ham muốn gặp lại em. Đừng yếu đuối! Anh sẽ trở lại; và có lẽ, sau này, chúng ta sẽ trò chuyện với nhau về mối tình cũ của chúng ta một cách rất lạnh nhạt. Vĩnh biệt!".

Và y đã viết tách rời hai tiếng trên 1 thành hai tiếng: Nhờ trời! Mà y cho là thanh nhã nhất.

- Bây giờ mình ký thế nào đây? Y thầm nói. Một kẻ rất trung thành của em... Không được. Người bạn thân của em?... Ừ, phải đấy.

"Người bạn thân của em".

Y đọc lại bức thư. Y thấy ý tứ trong thư dường như đầy đủ.

- Người phụ nữ bé nhỏ đáng thương! Y động lòng nghĩ. Nàng sẽ tưởng mình vô tình hơn đá; có lẽ phải thêm vài giọt nước mắt vào bức thư; nhưng, mình, mình lại không khóc được; chẳng phải lỗi tại mình. Thế là, nhân lúc rót nước vào cốc để uống, Rôđônphơ nhúng ngón tay vào đó và y làm rơi từ trên xuống một giọt to, nó thành một vết nhòe trên mực; rồi y tìm cách để niêm phong bức thư, y tình cờ thấy con dấu Amor nel Cor trước mắt.

- Cái ấy chẳng hợp - trường hợp này mấy... À! Thôi! Không sao! Sau đó y hút ba tẩu thuốc, rồi đi ngủ.

Hôm sau, khi y ngủ dậy (bấy giờ khoảng 2 giờ, y đã ngủ muộn), y bảo người ta hái cho y một giỏ mơ. Y đặt bức thư vào đáy giỏ, dưới mấy chiếc lá nho, rồi sai ngay gã điền tốt Gira, thận trọng mang các thứ đó đến nhà bà Bôvary. Y vẫn dùng cách này để thư từ với nàng, hoa quả hay thức săn được theo mùa.

- Nếu bà ta có hỏi mày tin tức về tao, y nói, mày trả lời là tao đã đi xa. Mày phải trao cái giỏ này tận tay bà ta... Thôi đi đi, và hãy cẩn thận.

Gira khoác một chiếc áo bludơ mới buộc mùi soa bao quanh những quả mơ, rồi, dài bước một cách nặng nề trong đôi giày guốc to đế sắt, gã ta bình thản tiến trên con đường đi Yôngvin.

Gã ta tới vào lúc bà Bôvary, đang cùng Fêlixitê xếp ở trên bàn nhà bếp một bọc quần áo mặc trong.

- Đây là quà ông chủ chúng tôi gửi đến bà, gã ta nói.

Nàng đột nhiên chột dạ, và nàng vừa tìm tiền lẻ trong túi vừa trợn trừng nhìn người nông dân, còn bản thân gã ta, cũng sững sờ như nàng, không hiểu tại sao một món quà như thế kia lại có thể làm xúc động người ta đến thế. Rốt cuộc, gã ta đi ra. Fêlixitê vẫn ở lại. Emma không nén mình được nữa; nàng chạy vào trong phòng như để đem mơ ước vào đó, đổ cái giỏ ra, vứt bỏ những chiếc lá, thấy bức thư, mở ra, và Emma tưởng như sau nàng có một đám cháy dữ dội, nàng trốn vào buồng mình, hết sức hốt hoảng.

Sáclơ đang ở trong đó, nàng thấy hắn, hắn nói với nàng, nàng chẳng nghe thấy gì cả, và nàng cứ tiếp tục đùng đùng leo lên các bậc thang, hổn hển, luống cuống; choáng váng và vẫn cầm cái tờ giấy kinh khủng kia, nó kêu đôm đốp trong tay nàng như một mảnh tôn. Đến tầng hai, nàng dừng lại trước cửa buồng kho đóng kín.

Lúc bấy giờ, nàng muốn trấn tĩnh lại; nàng nhớ tới bức thư; phải đọc cho hết, nàng không dám. Vả lại, đọc ở đâu? Đọc thế nào? Người ta sẽ trông thấy nàng mất.

- À! Không, nàng thầm nghĩ, ở đây được đấy. Emma đẩy cửa bước vào.

Đá đen trên mái nhà tỏa thẳng xuống một hơi nóng nặng nề, nó siết chặt lấy thái dương nàng và làm nàng ngạt thở; nàng lê mình đến tận cửa sổ rầm thượng đóng kín, nàng kéo cái chốt, và ánh sáng chói chang ập vào.

Trước mặt, nhìn qua các mái nhà, toàn bộ đồng ruộng trải ra xa tít. Phía dưới nàng, quảng trường làng vắng tanh, sỏi vỉa hè lóng lánh, chong chóng các mái nhà đứng im; phía đầu phố, từ một tầng gác dưới thoát ra một thứ tiếng vo vo chói tai. Đó là Binê đang quay máy tiện.

Dựa vào khung cửa rầm thượng, nàng đọc bức thư với những tiếng cười gằn giận dữ. Nhưng càng chăm chú vào bức thư, nàng càng suy nghĩ lộn xộn. Nàng lại thấy y, nàng nghe y nói, nàng ôm y trong hai cánh tay; và trái tim nàng đập trong lồng ngực nàng thành những tiếng thình thịch như những tiếng máy phá thành, dồn dập với những khoảng cách không đồng đều. Nàng đưa nhanh mắt nhìn quanh nàng, nàng những muốn trái đất sụp đổ. Sao không chết đi cho xong? Ai ngăn nàng nào? Nàng tự do kia mà. Và nàng tiến ra, vừa nhìn xuống mặt đường vừa tự nhủ:

- Nào! Nào!

Tia nắng rục rỡ từ bên dưới chiếu thẳng lên kéo về phía vực thẳm sức nặng của tấm thân nàng. Nàng thấy dường như đất quảng trường lung lay nhô lên cao theo dọc các bức tường và dường như sàn gác nghiêng một đầu, kiểu con tàu tròng trành. Nàng đứng ngay bên bờ, gần như treo lơ lửng, giữa một khoảng không rộng lớn. Màu xanh da trời tràn ngập thân hình nàng. Gió lùa qua cái đầu trống rỗng của nàng, nàng chỉ việc thoái bộ, chỉ việc buông thả thân mình là xong; và tiếng máy tiện vo vo không dứt như một giọng điên khùng thốt lên gọi nàng.

- Mình ơi! Mình ơi! Sáclơ kêu.

Nàng dừng lại.

- Mình ở đâu vậy? Lại đây!

Cái ý nghĩ mình vừa thoát chết làm cho nàng suýt ngất đi vì sợ hãi, nàng nhắm mắt lại; rồi nàng giật mình thấy một bàn tay đụng vào tay áo nàng: đó là Fêlixitê.

- Ông đang chờ bà, thưa bà, cơm chiều đã dọn.

Thế là phải đi xuống! Phải ngồi bàn!

Nàng cố ăn. Những miếng đồ ăn làm nàng nghẹn. Nàng liền mở chiếc khăn ăn ra như để xem xét những đường mạng và nàng thật sự muốn chăm chú vào cái việc đếm từng sợi vải. Bỗng nàng nhớ đến bức thư. Nàng đã đánh mất nó rồi chăng? Nàng tìm ra nó ở đâu? Nhưng nàng cảm thấy đầu óc quá mệt mỏi đến nỗi nàng chẳng thể nào bịa ra được một cái cớ để ra khỏi bàn ăn. Rồi nàng đâm ra nhát, nàng sợ Sáclơ, hắn biết cả rồi, chắc thế! Thực thế hắn nói mấy lời này một cách khác thường:

- Chúng ta chẳng sớm được thấy ông Rôđônphơ đâu, dáng chừng thế.

- Ai bảo anh thế? Nàng giật mình hỏi.

- Ai bảo anh à? Hơi ngạc nhiên về cái giọng xẵng ấy, hắn đáp. Gira chứ ai. Lúc nãy anh gặp gã ta ở cửa tiệm cà phê Pháp. Ông Rôđônphơ đã đi đâu xa, hoặc là ông ấy sắp đi.

Nàng nức nở.

- Thế có điều gì mà em phải ngạc nhiên? Ông ta thỉnh thoảng vẫn vắng nhà như thế để tiêu khiển, và, nói thực! Anh tán thành ông ta. Khi người ta có tài sản mà lại còn trai tơ! Vả lại cái ông bạn của chúng ta ấy, ông ta chơi bời ra trò! Đó là một người vui nhộn. Ông Lăngloa đã kể với anh.

Hắn im bặt để giữ ý vì chị hầu gái vào. Chị ta đã xếp lại vào giỏ những quả mơ tung tóe trên giá. Sáclơ, không nhận thấy vợ đỏ mặt, bảo đem mơ đến cho mình, lấy một quả và cắn ăn.

- Ồ! Ngon quá, hắn nói. Này, em nếm đi.

Và hắn đưa cái giỏ lại phía nàng, nàng đẩy lại nhẹ nhàng.

- Em ngửi này: mùi thơm thật! Hắn vừa nói vừa đưa đi đưa lại quả mơ dưới mũi nàng.

- Em ngạt! Nàng chồm lên và hét.

Nhưng, do nàng cố gắng, chứng động kinh qua đi, rồi nàng nói:

- Không sao! Không sao! Em nóng nảy thế đấy! Anh ngồi xuống ăn đi!

Vì nàng sợ người ta lại hỏi nàng, lại chăm sóc nàng, người ta không rời nàng ra nữa.

Sáclơ, nghe theo nàng, lại ngồi xuống, và hắn nhả ra tay những hột mơ để vào đĩa của mình.

Bất thần, một chiếc xe độc mã xanh lam phóng nước đại qua quảng trường. Emma thét lên một tiếng rồi ngã xuống đất và ngất đi.

Số là Rôđônphơ, sau khi suy nghĩ chán, quyết định đi Ruăng. Nhưng từ La Huysét đến Buysy, không có đường nào khác đường Yôngvin, nên y đành phải đi qua làng, và Emma đã nhận ra y qua ánh đèn lồng cắt bóng chiều hôm như tia chớp.

Tay dược sĩ, nghe thấy tiếng ồn ào, ù té chạy sang. Chiếc bàn, với mọi thứ đĩa, đã đổ xuống; nước chấm, thịt, dao, bình muối và bình dầu tung tóe trong gian phòng; Sáclơ kêu cứu; Béctơ, sợ hãi, thét lên, và Fêlixitê, tay run run, cởi áo cho bà chủ, suốt người bà đang co giật.

- Để tôi chạy về phòng thí nghiệm của tôi tìm chút giấy thơm, tay dược sĩ nói.

Rồi, nàng mở mắt ra khi ngửi lọ giấm:

- Tôi tin chắc mà, tay dược sĩ nói; cái này thì đến người chết cũng tỉnh lại.

- Em nói với chúng tôi đi! Sáclơ nói, em nói vói chúng tôi đi! Em bình thản lại! Anh đây, Sáclơ của em yêu em! Em có nhận ra anh không? Này, đứa con gái bé của em: em ôm hôn con đi nào.

Đứa bé giang hai cánh tay về phía mẹ để bám lấy cổ mẹ. Nhưng, quay đầu đi, Emma nói bằng giọng không đều.

- Không, không... không ai cả!

Nàng lại ngất đi. Người ta khênh nàng vào giường.

Nàng nằm thẳng đuỗn, miệng há ra, mí mắt khép, bàn tay mở rộng, không nhúc nhích, và trắng như một bức tượng bằng sáp. Từ cặp mắt nàng, hai dòng nước mắt tuôn ra, chảy từ từ xuống gối.

Sáclơ đứng ở phía cuối giường, và tay dược sĩ, đứng bên cạnh hắn, giữ vẻ im lặng trầm ngâm thích đáng cần có trong những trường hợp nghiêm trọng ở đời.

- Ông hãy yên tâm, hắn vừa nói vừa hích khuỷu tay Sáclơ, tôi tin rằng cơn nguy kịch đã qua.

- Vâng, nhà tôi bây giờ đã nằm yên một chút! Sáclơ, nhìn vợ ngủ và đáp. Tội nghiệp!... Tội nghiệp! Thế là nhà tôi lại đau lại!

Bấy giờ Hôme mới hỏi tai biến ấy xảy ra như thế nào. Sáclơ cho biết nàng bị đau đột ngột trong lúc nàng ăn mơ.

- Kỳ thật!... tay dược sĩ lại nói. Nhưng cũng có thể là quả mơ gây ra chứng ngất! Có những thể chất rất dễ nhạy cảm khi gặp một vài mùi vị nào đó! Và thậm chí đó cũng là một vấn đề cần phải nghiên cứu, về phương diện bệnh lý, cũng như về phương diện sinh lý. Các giáo sĩ biết rõ tầm quan trọng của những mùi vị đó, chính họ vẫn dùng hương liệu xen vào việc lễ bái của họ. Chả lẽ để làm u mê trí óc chúng ta và để gây ra những cảm khoái, điều này vả lại dễ gây được ở phái nữ, những con người yếu ớt hơn những con người khác. Người ta kể những bà ngửi mùi sừng cháy, bánh mới là ngất đi...

- Coi chừng, ông làm nhà tôi thức dậy! Bôvary nói khẽ.

- Vả chăng những con người mắc phải những dị thường đó, mà lại còn cả súc vật nữa, tay dược sĩ nói tiếp. Như thế, ông không phải là không biết cái tác dụng kích thích tình dục đặc biệt sinh ra bởi cây Nepeta Cataria, gọi nôm na là cỏ mèo, đối với giống mèo; và, mặt khác, để kể một thí dụ mà tôi bảo đảm là có thực Briđu (một trong những bạn học cũ của tôi, hiện đặt cơ nghiệp ở phố Manpaluy) có một con chó, cứ khi người ta đưa ra cho nó một hộp thuốc lá là nó co giật liền. Thường thường anh ta làm thí nghiệm cái đó trước mặt các bạn thân tại tầng lầu của anh ở rừng Ghiôm. Người ta có thể tin rằng một thứ thuốc làm hắt hơi đơn giản lại có thể gây tai hại như thế đến cơ thể của một con vật bốn chân? Cái đó rất kỳ lạ lắm phải không?

- Vâng, Sáclơ không nghe mà đáp.

- Cái đó chứng tỏ vô vàn những trạng thái bất thường của hệ thần kinh. Tay dược sĩ vừa nói vừa mỉm cười với một vẻ tự mãn ngây thơ. Còn về bà nhà, tôi vẫn thấy, xin thú thật, bà là một người đa cảm thực sự. Cho nên, ông bạn tốt của tôi ạ, tôi sẽ chẳng khuyên ông cho bà dùng một thứ thuốc nào gọi là thuốc mà lấy cớ đánh vào các triệu chứng, lại đánh vào thể trạng. Không, không dùng thuốc lăng nhăng! Theo đúng chế độ, tất cả là thế. Dùng những loại thuốc làm dịu. Rồi, ông không nghĩ rằng có lẽ phải đánh vào trí tưởng tượng ư?

- Đánh bằng cái gì? Đánh thế nào? Bôvary nói.

- À! Vấn đề là ở đó! Vấn đề thực sự là thế: that is the question 2 như tôi mới đọc trong báo.

Nhưng Emma, tỉnh lại, kêu lên:

- Còn bức thư? Còn bức thư?

Người ta tưởng nàng đang mê sảng: nàng mê từ nửa đêm: bệnh viêm não đã khởi phát.

Trong bốn mươi ba ngày, Sáclơ không rời nàng. Hắn bỏ tất cả các bệnh nhân của hắn, hắn không ngủ nữa, hắn liên tục bắt mạch nàng, bó cao hột cải, chườm mát cho nàng. Hắn cho Juyxtanh đến tận Nớpsaten để kiếm nước đá; đá đi đường tan ra, hắn đuổi nó về. Hắn mời ông Canivê đến khám; hắn triệu từ Ruăng bác sĩ Larivie, thầy giáo cũ của hắn; hắn thất vọng. Cái khiến hắn sợ hãi hơn cả là tình trạng suy sụp của Emma; vì nàng không nói không nghe gì hết và thậm chí dường như chẳng còn đau đớn nữa; - dường như thể xác và linh hồn đều trấn tĩnh lại sau cơn kích động.

Đến khoảng giữa tháng mười, nàng có thể ngồi dậy trong giường, lưng tựa vào chiếc gối đặt ở đằng sau nàng. Sáclơ khóc khi hắn thấy nàng ăn bánh mì phết mứt đầu tiên. Sức khỏe của nàng hồi phục, nàng đứng dậy vài giờ vào buổi chiều, và một hôm nàng thấy dễ chịu hơn, hắn thử để nàng bám vào cánh tay hắn đi chơi một vòng trong vườn. Cát trên lối đi như đầy lá khô; nàng đi bước một, lê đôi giày vải, và dựa vào vai Sáclơ, nàng luôn luôn tủm tỉm cười.

Họ đi như thế đến tận cuối vườn, gần cái nền đất. Nàng chậm chạp đứng thẳng người lên, đặt bàn tay trước mặt để nhìn: nàng nhìn ra xa, thực xa, nhưng ở chân trời chỉ có những ngọn lửa cỏ khô bốc khói trên các đồi.

- Em sắp làm em mệt đấy, em yêu quý ạ, Bôvary lên tiếng.

Rồi, khẽ đẩy nàng đi vào dưới vòm cây, hắn tiếp tục nói:

- Nào, em ngồi trên cái ghế dài này: em sẽ dễ chịu.

- Ồ! Không, không ngồi đây, không ngồi đây! Nàng thốt lên bằng một giọng yếu đuối.

Nàng choáng váng, và ngay từ chiều hôm ấy, bệnh nàng trở lại chiều hướng thật sự khó lường với những tính chất phức tạp hơn. Khi nàng đau ở tim, lúc thì nàng đau ở ngực, ở óc, ở chân, ở tay; đột nhiên nàng nôn ọe. Sáclơ tưởng thấy qua đấy những triệu chứng đầu tiên của bệnh ung thư.

Thêm vào đó anh chàng tội nghiệp còn có những mối lo lắng về tiền nong!

--------------------------------

1

Vĩnh biệt (Adieu): Viết tách rời, thành Nhờ trời (A Dieu!). Một lối chơi chữ trong ngôn ngữ Pháp dịch tạm theo mạch văn trong nguyên bản.

2

That is the question: Đó là vấn đề

Chương 14

Thoạt tiên, hắn không biết làm thế nào để đền bù cho ông Hôme tất cả những thứ thuốc lấy ở bên cửa hiệu của ông ta; và, mặc dù hắn có thể, nhân danh là một thầy thuốc, không phải trả tiền, hắn vẫn ngượng ngùng vì món nợ này. Rồi bây giờ chị nấu bếp đảm đương việc nội trợ, tiền chi tiêu trong nhà trở nên đáng sợ; hóa đơn tới tấp đến nhà; đám người cung cấp hàng cằn nhằn, nhất là Lơrơ làm rầy hắn. Thực tế, giữa lúc bệnh tật Emma trầm trọng, tay này, lợi dụng cơ hội đó thêm thắt vào hóa đơn, đã vội vã đem lại chiếc măng tô, túi đựng hành lý, hai cái hòm chứ không phải một và nhiều vật khác nữa; Sáclơ nói hoài là hắn không cần đến những thứ ấy nhưng tay lái buôn cứ vênh váo đáp lại rằng bà nhà đã không đặt mua những thứ hàng đó thì y sẽ không lấy hàng về; vả chăng, như thế sẽ làm phật ý bà nhà trong lúc đang an dưỡng; ông nhà nên suy nghĩ; tóm lại, y quyết định đi kiện hắn chứ không chịu bỏ các quyền lợi của mình và mang hàng của mình đi. Sáclơ, sau đó, sai mang tất cả các thứ đến tận cửa hàng y trả lại y; Fêlixitê quên; hắn thì có nhiều mối lo khác, hắn không nghĩ tới chuyện ấy nữa; Lơrơ lại tấn công và, hết đe dọa lại năn nỉ, y mưu mô thế nào mà Bôvary cuối cùng đành phải ký một phiếu nợ trong sáu tháng. Nhưng vừa ký xong, Bôvary lại nảy ra một ý táo bạo là vay Lơrơ một ngàn quan. Thế là hắn lúng túng, hỏi có cách nào có ngay được số tiền đó và hắn nói thêm rằng hạn trả sẽ là một năm, còn lãi suất thì tùy ý. Lơrơ chạy về cửa hàng, mang tiền đến và đọc cho hắn viết một phiếu khác, qua đó Bôvary ghi phải trả theo lệnh của y, ngày mồng một tháng chín năm tới, số tiền một ngàn bảy trăm quan cộng với số một trăm tám mươi quan đã ký nhận thành tròn một ngàn hai trăm năm mươi quan. Như thế, y đã cho vay lãi sáu phân, thêm một phần tư tiền hoa hồng, và những thứ hàng giao đã đem lãi cho y ít ra cũng được chẵn một phần ba tiền vốn, nghĩa là trong mười hai tháng, y được một trăm ba mươi quan tiền lãi; y hy vọng công việc sẽ không ngừng ở đó, người ta sẽ không thể thanh toán được các phiếu, người ta sẽ gia hạn, và số tiền nhỏ mọn của y được nuôi dưỡng tại nhà viên thầy thuốc như tại một nơi an dưỡng, một ngày kia, sẽ trở lại với y mập mạp lên rất ghê và lớn đến mức làm nứt cả bao đựng.

Vả lại, mọi việc đối với y, đều đạt kết quả. Y lãnh thầu cung cấp rượu táo cho bệnh viện Nớpsaten. Ông Guyômanh hứa cho y có cổ phần trong những mỏ than bùn ở Gruymexnin, và y mơ uớc thành lập một hãng vận tải mới bằng xe ngựa giữa Ácgơi và Ruăng, Hãng này chẳng bao lâu sẽ làm phá sản những chiếc xe chở hàng bốn bánh của quán Sư Tử Vàng, và vì chạy nhanh hơn, giá hạ hơn, chở được nhiều hành lý hơn, hãng mới do đó sẽ làm cho y nắm trong tay tất cả nền thương mại của Yôngvin.

Sáclơ tự hỏi nhiều lần bằng cách nào; năm sau, có thể trả được ngần ấy tiền; và hắn tìm tòi, tưởng tượng ra những mưu kế, như cầu cứu đến ông thân sinh ra hắn hay là bán chác cái gì. Nhưng ông thân sinh ra hắn sẽ làm thinh, và hắn, hắn chẳng có gì mà bán chác. Thế là hắn phát hiện ra bao điều lúng túng đến nỗi hắn vội vã gạt ra ngoài ý thức một vấn đề suy nghĩ khó chịu như vậy. Hắn tự trách mình vì đó mà hắn quên mất Emma; dường như, mọi tâm sự của hắn đều thuộc về người phụ nữ ấy, không nghĩ liên tục đến nàng tức là lấy trộm của nàng cái gì.

Mùa đông lạnh dữ. Thời kỳ dưỡng bệnh của bà chủ thì dài. Khi đẹp trời, người ta đặt nàng ngồi trong một chiếc ghế bành rồi đẩy đến bên cửa sổ trông ra quảng trường, vì bây giờ nàng ghét vườn, và cửa chớp về phía ấy lại luôn luôn đóng kín. Nàng muốn đem bán con ngựa đi; cái gì trước đây nàng mến thì bây giờ nàng chẳng ưa. Tất cả mọi ý nghĩ của nàng dường như giới hạn trong sự chăm sóc bản thân nàng. Nàng ăn uống nhỏ nhẻ ở ngay trong giường, nàng dùng chuông để gọi người hầu gái hỏi han về việc sắc thuốc cho nàng hoặc nói chuyện với nàng. Trong lúc ấy, tuyết trên mái lều chợ rọi vào buồng nàng một ánh hồi quang trắng im lìm; rồi mưa đổ xuống. Và Emma hằng ngày đợi chờ, với một mối buồn lo, sự trở lại nhất định của những việc nhỏ nhất tuy không liên quan gì đến nàng. Cái việc đáng kể hơn là, chiều tối, chiếc xe Con én đến. Mụ chủ quán liền la thét và những tiếng khác đáp lại, còn Hipôlýt tìm các hòm trên nóc xe, ngọn đèn lồng của gã ta thấp thoáng như một ngôi sao trong bóng đêm. Đến trưa, Sáclơ về nhà; sau đó hắn lại đi; rồi nàng húp một bát nước canh, và vào khoảng năm giờ chiều, lúc trời xẩm tối, trẻ con đi học về lê guốc trên hè, đứa nào đứa nấy lần lượt lấy thước kẻ đập vào các mái hiên.

Cũng chính giờ này, ông Buốcniziêng đến thăm nàng. Ông ta hỏi về sức khỏe của nàng, đem tin tức lại cho nàng, và khuyến khích nàng theo đạo trong cuộc trò chuyện dông dài, nhỏ nhẻ, vồn vã không phải không hứng thú. Chỉ việc trông thấy chiếc áo chùng của ông ta, nàng cũng phấn khởi.

Một hôm vào lúc căn bệnh trầm trọng nhất, nàng tưởng mình sắp chết, nàng xin được rửa tội; và lần theo việc người ta sửa soạn buồng nàng để làm lễ, xếp dọn cái tủ nhỏ đầy thuốc ngọt thành bàn thờ và Fêlixitê rắc hoa thược dược lên mặt đất, Emma cảm thấy có cái gì mạnh mẽ chạy qua người nàng, giải thoát cho nàng mọi nỗi đau đớn, mọi tri giác, mọi tìm cảm. Xác thịt nàng nhẹ nhàng đi, không còn cảm nghĩ gì; một cuộc sống khác bắt đầu; dường như con người nàng lên với Chúa Trời, sắp tan biến trong tình yêu ấy như hương đốt tản thành hơi. Người ta rẩy nước thánh vào khăn trải giường; vị linh mục rút từ bình đựng thánh thể ra một cái bánh thánh trắng; và thế là nàng vừa lịm đi vì niềm vui sướng thần tiên, nàng vừa chìa cặp môi ra nhận thánh thể của đức Cứu Thế đang xuất hiện. Những diềm che khoang giường của nàng căng phồng một cách mềm mại quanh nàng như những làn mây, và những ánh sáng của hai ngọn nến thắp trên tủ ngăn, đối với nàng, dường như ánh hào quang rực rỡ. Nàng liền ngả đầu xuống, tưởng nghe thấy trong không trung tiếng thiên cầm véo von và tưởng trông thấy trong bầu trời màu thanh thiên, trên một chiếc ngai vàng, giữa các vị thần thánh cầm lá lọ xanh, đức Chúa Trời rực rỡ, oai nghiêm ra hiệu cho những thiên thần cánh lửa xuống hạ giới lấy tay nâng bổng nàng lên.

Cái ảo ảnh sáng ngời ấy ở lại trong ký úc nàng như cái gì đẹp đẽ nhất mà người ta có thể ước mơ tới, đến nỗi bây giờ nàng cố nắm lại cái cảm giác ấy, nó tuy nhiên vẫn còn, nhưng còn một cách kém độc nhất với một tình trạng dịu dàng sâu sắc như thế. Tâm hồn nàng, mang nặng tính kiêu kỳ, nay mới được an nghỉ trong đức khiêm nhượng cơ đốc giáo; và, thưởng thức cái thú thấy mình nhỏ yếu, Emma ngắm xem trong bản thân mình sự hủy diệt của nghị lực nhường chỗ cho sự xâm nhập của những hảo ý của Chúa. Thế là thay cho niềm vui sướng vì những hạnh phúc lớn lao hơn, một tình yêu khác đứng trên tất cả các tình yêu khác, một tình yêu liên tục và vô tận tăng lên mãi! Nàng thoáng thấy, giữa những ảo tưởng của hy vọng, một trạng thái thuần khiết chờn vờn bên trên mặt đất, hòa lẫn với bầu trời, mà nàng ước nguyện thấy mình trong đó. Nàng muốn trở thành một thánh nữ. Nàng mua tràng hạt, nàng đeo bùa; nàng mong được có trong buồng nàng, trên đầu giường nàng nằm, một hộp đựng thánh tích khảm ngọc bích, để nàng hôn nó mỗi tối.

Viên linh mục lấy làm ngạc nhiên về những xu hướng đó, tuy ông ta thấy cái tín ngưỡng của Emma có thể, vì quá say sưa, rút cuộc tiến sát tới dị đoan và thậm chí ngông cuồng nữa. Nhưng chẳng hiểu sâu những chuyện này lắm, một khi nó vượt qua chừng mực nào đó, ông ta lập tức viết thư cho ông Bula, người bán sách của đức giám mục, gửi tới ông cuốn sách nào đặc sắc dành cho một người rất mẫn tuệ thuộc nữ giới. Tay bán sách, cũng bàng quan như khi y gửi đồng hồ và đồ sắt cho dân mọi, đã gói ghém lộn xộn tất cả những gì đang thịnh hành trong nghề buôn bán sách tôn giáo. Đó là những cuốn sách giáo khoa nhỏ theo kiểu vấn đáp, những cuốn sách trào phúng bằng một giọng kiêu ngạo kiểu ông Đơméxtơrơ và những loại tiểu thuyết bìa cứng màu hồng với lối văn ngọt ngào, sản xuất bởi những ông thầy dòng hát rong hay bởi những nữ văn sĩ hối hận. Có những cuốn Hãy nghĩ cho kỹ; Người thượng lưu dưới chân Mari của O.đơ..., được thưởng nhiều huy chương; Những sai lầm của Vônte, dùng cho những bạn trẻ, v.v...

Bà Bôvary chưa có đủ đầu óc minh mẫn để chăm chú hẳn hoi đến bất cứ cái gì; vả lại, nàng đọc những sách ấy vội vàng quá. Nàng bực dọc với những cái bắt buộc của sự thờ cúng; sự kiêu căng của những bài bút chiến ráo riết đả kích những người nàng chẳng hề quen biết; và những truyện thế tục nâng lên ý nghĩa tôn giáo, đối với nàng, dường như đã viết trong tình trạng không hiểu cuộc đời đến nỗi chúng làm nàng vô tình xa dần, những chân lý nàng đang chờ đợi được chứng minh. Tuy nhiên nàng vẫn kiên trì đọc, và khi cuốn sách từ trên tay rơi xuống, nàng tưởng mình đang mang một mối u sầu cơ đốc giáo tinh tế nhất mà một tâm hồn thanh cao có thể lĩnh hội được.

Còn cái kỷ niệm về Rôđônphơ, nàng đã đưa nó xuống tận đáy lòng mình; và nó vẫn ở đấy, trang nghiêm hơn và im lìm hơn là một cái xác vua ướp dưới hầm sâu. Một làn hương thơm thoát ra từ mối tình yêu lớn ướp thơm đó, vượt qua mọi thứ làm cho bầu không khí tinh khiết thắm tình nhân ấy trong đó nàng đang muốn sống. Khi nàng quỳ trên chiếc ghế cầu kinh kiểu cổ của nàng, nàng thưa với Chúa vẫn bằng những lời ngọt ngào mà xưa kia nàng đã tỷ tê với tình nhân, trong những lúc đôi gian phu dâm phụ bộc lộ nỗi lòng. Đó là để gây một niềm tin; nhưng không một niềm hoan lạc nào từ trên trời rơi xuống cả, thế là nàng lại đứng lên, tay chân mỏi mệt, mơ hồ cảm thấy một sự lừa dối lớn lao. Việc tìm tòi ấy, nàng thầm nghĩ, chỉ là một cái hay thêm; và, trong sự kiêu hãnh về lòng sùng đạo của mình, nàng đã tự ví với mình những bậc mệnh phụ thuở trước, mà nàng hằng mơ ước niềm vinh quang trên bức chân dung của Đơ La Valie, họ kéo lê một cách trang trọng những cái đuôi áo dài diêm dúa của mình, mai danh ẩn tích vào những chốn cô tịch để ở đấy, trào tuôn dưới chân Chúa tất cả những giọt lệ của một trái tim đã bị cuộc đời làm tổn thương.

Thế là, nàng lao vào những công việc từ thiện quá đáng. Nàng khâu áo cho dân nghèo; nàng cung cấp củi cho những phụ nữ ở cữ; và Sáclơ, một hôm, về nhà thấy trong bếp có ba thằng vô loại ngồi bàn húp cháo. Nàng cho đem về nhà đứa con gái của nàng, mà chồng nàng, suốt thời gian nàng ốm, đã đem gửi ở nhà vú em. Nàng muốn dạy con đọc. Dù Béctơ khóc hoài, nàng cũng không bực tức. Đó là một sự quyết tâm cam chịu, một lòng khoan dung phổ biến. Ngôn ngữ nàng về bất cứ chuyện gì cũng đầy thành ngữ lý tưởng. Nàng hỏi con:

- Cơn đau bụng của con đã qua chưa, thiên thần của mẹ?

Bà Bôvary mẹ không tìm thấy được gì để chê trách, có lẽ trừ cái tật bỏ việc vá víu lại các khăn lau cho bà để đan áo chẽn cho trẻ mồ côi. Nhưng, mệt mỏi về những chuyện cãi lộn trong gia đình, bà cụ thích sống cảnh yên tĩnh ở đây, thậm chí bà còn đến tận sau lễ Phục sinh để tránh những lời châm chọc của ông Bôvary bố, không ngày thứ sáu kỳ lễ thánh nào, chẳng quên đặt cho con mình món dồi lợn.

Ngoài sự ở chung với bà mẹ chồng, (bà cụ, bằng sự phán xét đúng mực và cung cách nghiêm chỉnh, đã làm cho nàng vững lòng hơn một chút), nàng gần như ngày nào cũng có bạn bè khác. Đó là bà Lănggờloa, bà Carông, bà Đuybrơi, bà Tuyvasơ và, bà Hôme tốt bụng, đều đặn từ hai giờ đến năm giờ, bà này chẳng bao giờ chịu tin chút nào vào những điều người ta đổ lên đầu bà hàng xóm. Các đứa trẻ nhà Hôme cũng sang thăm nàng; Juyxtanh đi với chúng. Gã ta lên buồng với chúng, và đứng ngây người bên cửa, chẳng nói chẳng rằng. Lắm khi bà Bôvary, không quan tâm gì đến điều đó, đi rửa mặt. Thoạt tiên, nàng lắc đầu bằng một động tác đột ngột để rút cái lược của nàng ra; và, khi gã ta thấy lần đầu tiên cả mớ tóc ấy xòa xuống tận bắp chân làm tung những chiếc vòng cuốn màu đen ra, thì gã ta, một đứa trẻ đáng thương, như đột ngột bước vào trong cái gì lạ lùng và mới mẻ mà sự huy hoàng khiến gã ta sợ hãi.

Emma, hiển nhiên, không nhận thấy những sự vồn vã âm thầm của gã ta, cũng như những sự e lệ của gã ta! Nàng có ngờ đâu rằng tình yêu, biến khỏi đời nàng, lại hồi hộp ở kia, gần nàng, dưới cái sơmi vải thô ấy, trong trái tim người vị thành niên ấy mở rộng đón những xạ hương tỏa ra từ sắc đẹp của nàng. Vả chăng, bây giờ nàng bao trùm một tính bàng quan lên tất cả mọi sự, nàng có những lời rất âu yếm và những cái nhìn rất ngạo mạn, những phong cách rất đa dạng, đến nỗi người ta chẳng còn phân biệt được lòng vị kỷ với mối từ tâm, cũng như sự đồi bại với đức hạnh nữa. Một buổi tối, chẳng hạn, nàng nổi nóng với chị hầu gái vì chị ta xin phép nàng đi chơi, chị ta vừa ấp úng nói vừa viện cớ, rồi bất thần nàng hỏi:

- Vậy em yêu gã ta ư?

Và, chẳng đợi Fêlixitê trả lời lúc chị ta đang đỏ mặt, nàng rầu rĩ, nói thêm:

- Thôi, chạy đến đó đi! Vui nhé!

Đầu xuân, nàng cho đảo lộn cái vườn từ đầu này đến đầu kia, mặc dầu Bôvary có ý kiến; tuy nhiên hắn sung sướng được thấy nàng sau cùng biểu lộ một ý muốn nào đó. Nàng càng bình phục, càng bày tỏ điều đó rõ hơn. Trước hết, nàng kiếm cách đuổi chị Rôlê, người vú em, trong thời kỳ nàng dưỡng bệnh, đã quen thói đến sục sạo vào nhà bếp với hai đứa con của mình và một gã trọ trong nhà vú háu ăn hơn một kẻ ăn thịt người. Rồi nàng giũ gia đình Hôme, thoái thác lần lượt các các cuộc đến thăm khác và thậm chí không siêng đi lại nhà thờ như trước, điều này được sự nhiệt liệt tán thành của tay dược sĩ, y thân mật nói với nàng:

- Bà trước đây hơi sa vào bẫy của ông thầy tu đấy!

Ông Buốcniziêng, như xưa, ngày nào cũng bất thần đến, sau giờ giảng đạo xong, ông ta thích đứng ở bên ngoài hóng không khí giữa lùm cây; ông ta gọi cái vòm cây như thế. Giờ đó Sáclơ về. Họ thấy bức; người ta mang rượu táo ngọt ra, và họ uống với nhau, mừng bà hoàn toàn hồi phục.

Binê, ở kia tức là thấp hơn một chút, giáp tường của nền cao, đang câu tôm. Bôvary mời ông ta giải khát, và ông ta rất thạo mở nút bình.

Ông ta vừa nói vừa đi quanh tìm một cái nhìn thỏa mãn đến tận cùng phong cảnh:

- Phải cầm cái chai thẳng trên bàn như thế này và sau khi dây đã cắt, bẩy cái nút chui lên từng nhát khe khẽ, từ từ, từ từ, cũng như người ta mở chai nước Xen tại các hàng ăn.

Nhưng rượu táo, trong khi ông ta chứng minh, cứ vọt bắn lên giữa mặt họ, thế là ông thầy tu, với lối cười ồm ồm, không lần nào quên được câu bông lơn này:

- Cái tốt của rượu đập vào mắt đấy!

Ông ta quả là người hiền, và một hôm, ông ta chẳng thấy chướng vì tay dược sĩ khuyên Sáclơ, để giải trí cho bà, dẫn bà đến rạp hát ở Ruăng xem danh ca Lagardy hát giọng cao. Hôme, ngạc nhiên về sự im lặng ấy, muốn biết ý kiến ông ta, và tu sĩ tuyên bố rằng cha coi âm nhạc không nguy hiểm cho phong tục bằng văn học.

Nhưng tay dược sĩ bênh vực văn chương. Kịch, ông đưa ra, dùng để đả phá các thành kiến, và, dưới cái dạng mua vui, lại dạy đức hạnh.

- Castingat ridendo mores (vui cười mà sửa chữa phong tục), ông Buốcniziêng ạ! Như thế ông hãy coi phần nhiều những bi kịch của Vônte thường khôn khéo xen kẽ những tư tưởng triết học đối với nhân dân, quả là một trường học luân lý và ngoại giao!

- Tôi, Binê nói, tôi đã xem trước kia một vở tên là Thằng nhãi ở Pari, trong đó người ta chú ý đến tính cách một viên tướng già thực là rõ nét! Lão ta la mắng một công tử đã dụ dỗ một cô công nhân, chị ta cuối cùng...

- Hẳn thế! Hôme nói tiếp, có văn nghệ xấu cũng như có dược phẩm tồi; nhưng lên án một loạt cái nghệ thuật quan trọng hơn cả này thì tôi cho là một sai lầm nặng nề, một ý kiến cổ hủ, đáng có trong những thời ghê tởm mà người ta giam giữ Galilê.

- Tôi biết rõ, viên linh mục biện bác, dù có những tác phẩm tốt, những tác gia tốt; nhưng chỉ nói đến những người trai gái khác nhau, túm tụm trong một căn phòng mê hồn, trang hoàng lộng lẫy, với những cách hóa trang ngoại đạo ấy, phấn sáp ấy, đèn đuốc ấy, những giọng nói ủy mị ấy, tất cả những cái đó cuối cùng phải đẻ ra cái tinh thần phóng túng nào đó và tạo nên cho mình những tư tưởng vô lương, những cám dỗ ô trọc. Ít ra, đấy là ý kiến của tất cả các Cha bề trên. Sau hết, (ông ta đột ngột vừa lấy một giọng huyền bí vừa nói thêm, trong khi ông ta vê trên ngón tay cái một dúm thuốc lá), nếu nhà thờ đã kết án các kịch hát, nhà thờ có lý; ta phải phục tòng những quyết định của nhà thờ.

- Tại sao, tay dược sĩ hỏi, nhà thờ lại trục xuất những kịch sĩ? Vì xưa kia, họ công nhiên góp sức vào các lễ thờ. Vâng, người ta đóng kịch, người ta biểu diễn giữa đám đồng ca, những loại kịch hề gọi là thánh sử kịch, trong đó các quy tắc về lễ nghi thường bị xúc phạm.

Người thầy tu đành thốt ra một tiếng rên rỉ và tay dược sĩ lại nói tiếp:

- Thì cũng như trong kinh thánh; có..., ông biết không... nhiều chi tiết... hay ho, nhiều điều... quả là..., vui nhộn!

Và thấy ông Buốcniziêng có một cử chỉ tức bực, Hôme lại nói:

- A! Ông sẽ công nhận đó không phải là một cuốn sách nên đặt vào tay một thanh niên, và tôi sẽ bực bội về Atali...

- Nhưng đó là những người Tin Lành, chứ không phải chúng tôi, ông kia nổi nóng thốt lên, họ khuyên đọc kinh thánh chứ!

- Mặc! Hôme nói, tôi lấy làm lạ, rằng tận ngày nay, trong một thời đại ánh sáng, người ta còn ương gàn cấm đoán một sự giải trí vô hại về mặt tinh thần, có tác dụng giáo dục và thậm chí có khi còn bổ ích nữa, phải không bác sĩ?

- Hẳn rồi, viên thầy thuốc uể oải đáp lại, hoặc là vì cũng có những ý kiến như thế nhưng hắn không muốn làm mất lòng ai, hoặc là vì hắn chẳng có ý kiến gì?

Cuộc đấu khẩu hình như chấm dứt, khi tay dược sĩ xét thấy cần phải đánh một đòn cuối cùng nữa.

- Tôi có biết một vài cha ăn mặc như thường dân để đi xem các vũ nữ nhảy.

- Thôi! Viên linh mục la lên.

- Ô! Tôi có biết những cha ấy!

Và tách rời từng tiếng một, Hôme nhắc lại:

- Tôi - có - biết - những - cha - ấy.

- Này! Thế thì họ có lỗi. Buốcniziêng nói (ông ta nhẫn nhục để nghe tất cả).

- Úi chà! Các cha ấy còn làm lắm cái sai khác! Tay dược sĩ thốt to lên.

- Ông!... viên linh mục đáp (mắt ông ta trợn lên dữ tợn đến nỗi tay dược sĩ đâm chùn).

- Tôi chỉ muốn nói, y dịu giọng, sự khoan dung là cách chữa chắc chắn nhất để lôi cuốn con người và tôn giáo.

- Đúng! Đúng! Người thầy tu nhượng bộ (ông ta lại ngồi xuống ghế).

Nhưng ông ta chỉ ngồi rốn lại có hai phút. Rồi, khi ông ta vừa đi khỏi, Hôme nói với người thầy thuốc:

- Đó mới gọi là một cuộc đấu khẩu! Tôi đã xoay ông ta nên thân, ông thấy đấy...! Nói tóm lại, ông hãy tin ở tôi, ông cứ dẫn bà đi xem hát, dù trong đời ông, có phải một lần làm nổi khùng một trong bọn quạ đen ấy! Ví ai có thể thay thế tôi được, tôi sẽ đích thân cùng đi với ông bà. Ông hãy nhanh lên! Lagardy sẽ chỉ biểu diễn có một lần; bên nước Anh đã mượn anh ta với số lương bổng rất hậu. Anh ta, như người ta nói, là một người khôn khéo! Anh ta lăn trên đống vàng! Anh ta mang theo ba ả tình nhân và một tay nấu bếp! Tất cả những nghệ sĩ lớn ấy ăn tiêu thả cửa; họ phải sống một cuộc sống phóng túng, nó kích thích phần nào trí tưởng tượng của họ. Nhưng họ sẽ chết ở bệnh viện, vì lúc còn trẻ, họ đã không hề có ý nghĩ tiết kiệm. Thôi, chúc ông ăn uống ngon miệng; đến mai chúng ta sẽ lại gặp nhau.

Cái ý đi xem kịch ấy nẩy mầm nhanh chóng trong đầu óc Bôvary bởi vì hắn ngỏ chuyện ngay với vợ; nàng thoạt tiên từ chối, kêu mệt, thấy phiền hà và phí tổn; nhưng, điều khác thường là Sáclơ không chịu nhượng bộ do hắn xét thấy cuộc giải trí này nhất định có lợi nhiều cho nàng. Hắn không thấy có điều gì trở ngại trong đó, mẹ hắn đã gửi cho vợ chồng hắn ba trăm quan mà hắn tưởng không còn trông mong nữa, những món nợ vặt thường ngày chẳng đáng kể, và hạn trả nợ cho Lơrơ còn rất lâu đến nỗi hắn không cần nghĩ tới bây giờ. Vả lại, hắn tưởng rằng trong chuyện này nàng giữ gìn ý tứ, Sáclơ càng cố nài; thành ra cuối cùng, bị ám ảnh mãi, nàng đành nhận lời. Thế là, hôm sau, vào lúc tám giờ, họ phấn khởi ngồi trong xe Con én.

Tay dược sĩ tuy chẳng có gì giữ lại ở Yôngvin, nhưng cứ tưởng mình buộc không được nhích khỏi nơi đây, thở dài lúc thấy họ đi.

- Thôi chúc ông bà thượng lộ bình an! Y nói vói họ, ông bà thật là hai con người sung sướng!

Rồi y nói với Emma (hôm nay nàng vận một chiếc áo dài lụa thanh thiên bốn nẹp):

- Tôi thấy bà đẹp như một thần Ái Tình! Bà sẽ nổi danh ở Ruăng đấy.

Xe đỗ ở khách sạn Chữ Thập Đỏ, trên quảng trường Bôvoazin. Đó là một trong những quán ăn như thường thấy ở các khu ngoại ô tỉnh lỵ, với những tàu ngựa lớn và những phòng ngủ nhỏ. Người ta thấy ở giữa sân những con gà mái mổ thóc dưới những chiếc xe độc mã đầy bùn của những người đi chào hàng; - đó là những nơi trú ẩn cũ kỹ mà chu đáo, có bao lơn bằng gỗ mọt kêu răng rắc trước gió vào những đêm đông luôn luôn đông khách, rất ồn ào và đầy thức ăn với những chiếc bàn đen nhầy nhụa nước chè hay cà phê pha rượu, các mặt kính dầy, màu vàng ố vì ruồi, các khăn ăn còn hoen vết rượu vàng xanh; và, những quán cơm đó vẫn sặc mùi nông thôn, giống như những gã lực điền khoác áo quần trưởng giả, có một quầy cà phê nhìn ra mặt phố, và có vườn rau đi về phía đồng quê. Sáclơ lập tức chạy đi chạy về, hắn lẫn lộn khán đài riêng sát sân khấu với hàng bao lơn ở hai bên, lẫn lộn tầng dưới với buồng lô, hắn yêu cầu giải thích mà không hiểu, hắn bị đẩy đi hỏi từ người kiểm soát vé đến ông giám đốc, hắn trở về quán ăn rồi quay lại phòng giấy, và cứ thế bao nhiêu lần sải bước khắp thành phố từ nhà hát đến
đại lộ.

Bà vợ sắm cho mình một chiếc mũ, đôi găng, một bó hoa. Ông chồng rất sợ bỏ mất cảnh đầu; và không kịp húp bát canh, họ có mặt trước của rạp vẫn còn đóng kín.

Chương 15

Đám đông đứng sát tường, túm tụm cân xứng giữa khoảng các chấn song. Ở góc các phố gần đấy, những bảng áp phích lớn nhắc lại bằng những chữ kỳ quặc: "Luyxi đờ Lămmécmorơ Lagacdi... Ca kịch.v.v...". Trời đẹp nhưng người ta vẫn thấy oi bức, mồ hôi chảy dưới những mớ tóc quăn, tất cả các mùi soa được rút ra để thấm những cái trán đỏ bừng; và đôi khi một làn gió ấm, thổi từ sông vào, rung nhẹ đường viền những lều vải chéo go căng trước cửa các quán rượu. Tuy nhiên, ở phía dưới một chút, người ta lại được giải nồng bởi một luồng gió lạnh sặc mùi mỡ bò, da thuộc và dầu mỡ. Đấy là làn hơi bốc lên từ phố Xe Bò, đầy những kho hàng lớn đen, trong đó người ta đang lăn những chiếc thùng.

Sợ mình có vẻ nực cười, Emma muốn, trước khi vào rạp, đi dạo một vòng trên cảng, và Bôvary, vì cẩn thận, giữ các vé trong tay, đút túi quần, để sát bụng.

Nàng hồi hộp ngay từ cửa vào. Nàng vô tình mỉm cười đắc ý thấy đám đông ùa vào phía tay phải qua hành lang bên kia, còn nàng lại leo cầu thang đưa lên dãy ghế hạng nhất. Nàng thích thú như một đứa trẻ lấy ngón tay đẩy các cánh cửa rộng bọc thảm; nàng hít căng ngực mùi bụi bặm của các hành lang, và khi nàng đã ngồi ở trong lô của nàng, nàng nhẹ nhàng ngả người về đằng sau với một thái độ ung dung của một bà quận công.

Rạp bắt đầu đông dần, người ta rút ống nhòm trong bao ra, và những khách thuê lô dài hạn, thấy nhau từ xa, chào nhau. Họ đến đây lấy nghệ thuật để khuây khỏa những lo lắng về buôn bán; nhưng chẳng quên được việc kinh doanh, họ còn chuyện trò về vải sợi, rượu mạnh hay thuốc nhuộm. Người ta thấy ở những người đầu già cả điềm tĩnh và bình thản với làn tóc và màu da trắng bệch giống như những chiếc huy chương bạc ám hơi chì. Những chàng trai trẻ đẹp, đứng vênh vang ở tầng dưới, phô ra ở khoang cổ áo gilê chiếc cavát màu hồng hay xanh táo của họ; và bà Bôvary, từ trên cao nhìn xuống, tán thưởng họ, họ tì trên những chiếc can nhỏ núm vàng, bàn tay của họ căng trong chiếc găng màu vàng.

Trong lúc ấy, những ngọn nến của dàn nhạc được thắp lên, chùm đèn, từ trên trần nhà giội ánh sáng qua những mặt kính nhỏ xuống nhà hát, tạo thành một niềm vui đột ngột; rồi các nhạc sĩ lần lượt bước vào; thoạt tiên là một bàn nhạc huyên náo dài với những tiếng ù ù của những cây đàn trầm, tiếng rin rít của những chiếc viôlông, tiếng oang oang của những nòng kèn, tiếng trầm bổng của những chiếc sáo, chiếc tiêu. Tiếp đó, người ta nghe thấy ba tiếng gõ trên sân khấu; tang trống đồng nổi lên, các nhạc cụ bằng đồng hòa theo, và tấm màn kéo lên, một phong cảnh được bày ra.

Đây là ngã tư một khu rừng, với máng nước bên dưới bóng một cây sồi. Nông dân và chúa đất, áo tơi choàng trên vai, tất cả đồng ca một bài hát đi săn; đột nhiên xuất hiện một viên đại úy giang hai cánh tay lên trời cầu cứu một ác thần; sau đến một viên đại úy khác; cả hai cùng bỏ đi, và những người đi săn lại hát.

Nàng lại thấy mình trong những cuốn sách đọc thuở thanh xuân hoàn toàn của Oantơ Xcốt. Nàng dường như nghe thấy, qua làn sương mù, tiếng kèn mục đồng xứ Êcốtxơ láy đi láy lại trên đồng cỏ hoang. Vả chăng, hồi tưởng lại cuốn tiểu thuyết nàng dễ hiểu kịch bản hơn, nàng theo dõi tình tiết qua từng câu này đến từng câu khác, còn những ý tưởng khó nắm, vừa trở về đầu óc nàng, lại tan tác ngay dưới hàng loạt nhạc khúc. Nàng để lòng mình ru theo những giai điệu và nàng cảm thấy người mình đang rung lên tựa hồ có chiếc vĩ đàn viôlông đang đưa đi kéo lại trên các sợi dây thần kinh của nàng. Nàng không đủ mắt để ngắm những trang phục, những cảnh trí, những nhân vật, những cây vẽ bằng sơn rung chuyển trước mỗi bước đi, và những mũ nhung, những áo khoác, những thanh gươm, tất cả những vật tưởng tượng ra đó khuấy động trong hòa âm như trong không khí của một thế giới khác. Nhưng một thiếu nữ vừa tiến lên vừa ném một túi tiền cho một kỵ sĩ vận màu xanh ve. Thiếu nữ đứng lại một mình, rồi liền đó người ta nghe thấy tiếng sáo như tiếng nước róc rách hay tiếng chim líu lo. Luyxi cất giọng trầm hát một bài ca ngắn bằng cung sol trưởng; cô ta than vãn về tình yêu, cô ta cần có đôi cánh. Emma cũng vậy, những muốn, xa lánh cuộc đời, bay trong một vòng tay. Bất thần, Etga Lagardy xuất hiện.

Y có nước da trắng xanh rất đẹp, nó đem lại cho giống người hăng hái miền Nam cái gì trang nghiêm của cẩm thạch. Thân hình cường tráng của y bó trong một chiếc áo ngắn màu nâu; một con dao găm nhỏ chạm trổ đập trên đùi bên trái, và y vừa thờ thẫn đưa cặp mắt nhìn vừa để lộ hàm răng trắng. Người ta đồn rằng một công chúa Ba Lan, một buổi tối nghe y hát trên bãi biển Biarát, nơi y đang sửa sang chiếc tàu nhỏ, đã phải lòng y. Nàng công chúa đã khánh kiệt gia sản vì y. Y đã bỏ đứng nàng trong cảnh ấy để chạy theo các cô gái khác, và câu chuyện tình nổi tiếng ấy chẳng khỏi phục vụ cho cái tiếng tăm về nghệ thuật của y. Tay kép hát khôn khéo, thậm chí, còn luôn luôn chú ý luồn qua các bài cổ động một lời thi vị về sức quyến rũ của con người y và tính nhạy cảm của tâm hồn y. Y có một giọng hát tốt, một thế đứng vững vàng, nhiều thể chất hơn là thông minh và nhiều khoa trương hơn là trữ tình, tất cả chung đúc lại để nâng cao hẳn lên cái bản tính tuyệt vời của người làm ảo thuật, trong đó có cả bản tính của anh thợ cạo và của tay đấu bò mộng.

Ngay từ cảnh đầu tiên, y đã kích động khán giả. Y siết chặt Luyxi trong tay, y bỏ nàng ra đi, y trở lại, y dường như thất vọng; y có những cơn giận, rồi những hơi thở khò khè bi thảm rất mực dịu dàng, và những âm điệu thoát ra từ chiếc cổ để trần của y đầy tiếng nức nở và những cái hôn. Emma ngả người xuống để nhìn y, móng tay nàng cấu nát cả nhung cửa buồng lô. Nàng để những lời than vãn du dương ấy tràn ngập trái tim nàng, những lời than vãn kéo dài theo nhạc điệu của đàn côngbát như những tiếng rên la của kẻ bị đắm tàu trong cảnh náo động của bão táp. Nàng nhận ra tất cả bao nhiêu ham mê và bao mối lo âu làm nàng hút chết trước kia. Tiếng hát của cô ca sĩ dường như chỉ là tiếng vang dậy của lương tâm nàng, và cái ảo ảnh kia đang mê hoặc nàng cũng là cái gì của cuộc đời nàng nữa. Nhưng đã không có ai trên trái đất yêu nàng bằng một mối tình như thế. Anh ấy chẳng khóc như Etga, tối cuối cùng, dưới ánh trăng, khi hai người nói với nhau: "Đến mai, đến mai nhé!...". Nhà hát rung chuyển vì những tiếng vỗ tay hoan hô; người ta diễn lại tiết cuối cùng của khúc nhạc; cặp tình nhân nói đến hoa trên mồ họ, đến lời thề nguyền, đến sự tha hương, đến định mệnh, đến hy vọng, và khi họ thốt lên lời vĩnh biệt, Emma thét lên một tiếng xé tai, nó chìm trong tiếng rung của những hòa âm cuối cùng.

- Sao thế. Bôvary hỏi, tay lãnh chúa kia làm khổ cô ta?

- Đâu phải, nàng đáp; đó là người yêu của cô ta đấy chứ.

- Thế mà y lại trả thù gia đình cô ta, còn anh kia, cái anh đến lúc nãy nói: "Tôi yêu Luyxi và tôi tin rằng được nàng yêu". Thế mà, anh ta lại bỏ cô ta để đi với bố anh ta, tay khoác tay. Vì đấy chính là bố anh ta, có phải không, cái người bé nhỏ xấu xí mang một cái lông gà sống trên mũ ấy?

Mặc dù Emma đã giải thích ngay từ cuộc đối xướng tay đôi, trong đó Ginbe thuật lại với chủ mình là Axtông những mưu mô ghê tởm của gã, Sáclơ, khi thấy chiếc nhẫn đính hôn giả nhằm đánh lừa Luyxi, lại tưởng đó là vật kỷ niệm tình yêu của Etga gửi đến. Vả lại, hắn thú thực chẳng hiểu câu chuyện ra sao - vì âm nhạc làm hại rất nhiều đến lời nói.

- Không sao? Emma nói, anh im đi!

Hắn vừa ngả mình vào vai nàng vừa nói:

- Là vì anh thích được hiểu cho rõ, em biết đấy.

- Im đi! Im đi! Nàng sốt ruột đáp.

Được các người hầu gái đỡ, Luyxi tiến ra với một vòng hoa cam gài trên tóc. Mặt cô ta tái nhợt hơn cả màu áo sa tanh trắng của cô ta. Emma mường tượng lại ngày cưới của nàng; nàng thấy lại mình ở xa kia, giữa cánh đồng lúa, trên con đường nhỏ, lúc đám cưới đi về phía nhà thờ. Sao nàng đã chẳng như cô kia, cưỡng lại, van xin? Trái lại, nàng đã vui sướng, chẳng thấy cái vực thẳm mà nàng lao mình xuống... Ôi! Nếu như trong thời sắc đẹp còn tươi thắm, trước những vết nhơ của hôn nhân và trước sự vỡ mộng của ngoại tình, nàng đã có thể đặt đời nàng vào một trái tim cao cả vững vàng nào, và trong lúc đức hạnh tình yêu, lạc thú và nhiệm vụ lẫn lộn, nàng sẽ chẳng bao giờ lại ngã từ trên hạnh phúc cao cả đó. Những niềm hạnh phúc ấy, không nghi ngờ gì nữa, là một điều hão huyền được tưởng tượng ra vì nỗi thất vọng của mọi ước muốn. Nay nàng đã biết rõ cái ti tiện của những dục vọng mà nghệ thuật tâng bốc lên. Thế là, cố gắng đưa tư tưởng của mình đi hướng khác Emma muốn chỉ thấy trong sự diễn tả những nỗi đau đớn của mình ấy một trò tạo hình bay bướm cốt mua vui con mắt mà thôi, và thậm chí nàng còn đang cười thầm với một lòng thương xót khinh người, thì ở cuối rạp, dưới cái nền cửa bằng nhung, xuất hiện một người đàn ông mặc một chiếc áo choàng đen.

Cái mũ to kiểu Tây Ban Nha của y rơi xuống theo một động tác anh ta làm; lập tức nhạc cụ và ca sĩ tấu bản nhạc sáu bè. Etga hứng khởi hát át những người khác bằng giọng ca trong trẻo hơn; Axtông tung ra những lời thách thức giết người bằng những cung trầm, Luyxi thốt lên những lời than vãn thánh thót; Áctuya, từ xa, uyển chuyển những âm thanh vừa phải; giọng trầm của người trợ thủ vang rền như đàn oóc, còn những giọng phụ nữ, lắp lại lời anh ta, hợp xướng một cách dịu dàng. Tất cả mọi người đứng cùng hàng mà làm động tác; nỗi giận dữ, lòng căm thù, sự ghen tuông, mối kinh hãi, tình thương hại và trạng thái sững sờ đồng thời thoát ra từ những cái miệng hé mở của họ. Một người đóng vai tình lang bị xúc phạm vung lưỡi kiếm trần; cổ áo ren của anh ta nâng lên từng chập theo chuyển động của lồng ngực, và anh ta hết đi sang phải lại đi sang trái, bằng những bước dài, gõ xuống sàn sân khấu những chiếc đinh thúc ngựa mạ vàng trên đôi ủng mềm loe ra ở mắt cá. Anh ta phải có, nàng thầm nghĩ, một tình yêu vô biên mới giội được xuống đám đông những nguồn cảm xúc dạt dào đến thế. Tất cả những manh tâm định chê bai của nàng tiêu tan bởi tài năng của vai kịch xâm chiếm lòng nàng, và nàng bị lôi cuốn tới người đàn ông bởi cái ảo ảnh của nhân vật, nàng cố hình dung cuộc đời của người đó, cái cuộc đời lừng lẫy, lạ lùng, rực rỡ, mà nàng có thể sống được nếu vận mệnh xui nên. Họ sẽ quen biết nhau, họ sẽ yêu nhau! Với người đó, qua tất cả các vương quốc ở Châu Âu, nàng sẽ du hành từ thủ đô này đến thủ đô khác, san sẻ những nỗi gian lao và niềm kiêu hãnh của người đó, thu nhặt những bông hoa người ta ném tặng người đó, tự tay thêu quần áo cho người đó, rồi mỗi tối, ở cuối một buồng lô, sau cái hàng rào có lưới vàng, nàng thẫn thờ đón lấy những lời thổ lộ chân tình của tâm hồn đó, chỉ hát lên cho riêng mình nàng; từ trên sân khấu người đó vừa biểu diễn, vừa nhìn nàng. Nhưng nàng bỗng phát điên lên: người đó nhìn nàng, đúng thế rồi! Nàng những muốn chạy sổ vào cánh tay người đó để náu mình dưới sức mạnh của người đó như vào chính sự hiện hình của ái tình và nói với người đó, kêu lên với người đó: "Anh bắt cóc em đi, anh mang em đi, chúng ta đi đi! Của anh, của anh! Tất cả những nhiệt tình và tất cả những ước mơ của em!".

Màn hạ xuống.

Mùi khói thắp đèn hòa lẫn với hơi người thở; gió các quạt khiến cho bầu không khí càng thêm ngột ngạt. Emma muốn ra ngoài; đám đông đứng chật các hành lang và nàng lại ngồi phịch xuống ghế, trái tim nàng hồi hộp đến nghẹn thở. Sáclơ, sợ nàng ngất đi, chạy ra phòng giải khát kiếm cho nàng một cốc đại mạch.

Khó khăn lắm hắn mới trở về được chỗ ngồi; vì mỗi bước hắn đi, hắn lại va khuỷu tay vào người ta, do cái cốc hắn cầm ở tay, và thậm chí, hắn còn đánh đổ ba phần tư cốc trên vai một chị người Ruăng mặc áo cụt tay, chị này cảm thấy nước lạnh chảy xuống dưới lưng, the thé kêu lên dường như bị ai ám sát. Chồng chị ta, chủ một nhà máy sợi liền nổi nóng với con người vụng về; và trong khi chị ta lấy mùi soa thấm những vết bẩn trên cái áo dài đẹp bằng vải mỏng màu anh đào, thì anh ta lẩm bẩm, bằng một giọng cục, những tiếng bồi thường, phí tổn, đền tiền. Mãi sau, Sáclơ mới đến được gần chỗ vợ, hắn nói hết hơi:

- Anh đã tưởng phải ở lại ngoài ấy, thật đấy! Đông quá!... Đông ơi là đông!

Hắn nói thêm:

- Em thử đoán một chút xem anh đã gặp ai trên kia? Ông Lêông.

- Lêông?

- Chính ông ta! Ông ta sắp đến chào em.

Và, hắn vừa nói xong thì viên luật sự tập sự cũ ở Yôngvin bước vào lô.

Anh ta chìa tay ra theo lối không khách khí của người quý phái; còn bà Bôvary, thì như cái máy, cũng giơ tay, hẳn là tuân theo sức hấp dẫn của một ý muốn mạnh hơn. Nàng đã không cảm thấy cái ý muốn đó từ buổi chiều xuân ấy, lúc trời đang mưa trên những tàu lá xanh, khi họ từ biệt nhau, đứng bên cửa sổ. Nhưng, nhớ đến việc phải giữ lễ cho hợp tình thế, nàng gắng xua vội cái trạng thái đê mê vì hồi tưởng và nàng lắp bắp thật nhanh mấy câu:

- À! Xin chào... Thế nào! Ông đấy ư?

- Im đi! Một giọng nói từ giữa rạp thốt lên vì hồi thứ ba bắt đầu.

- Vậy ra ông ở Ruăng à?

- Vâng.

- Thế từ bao giờ?

- Ra ngoài kia! Ra ngoài kia!

Người ta quay về phía họ; họ im bặt.
Nhưng, từ lúc đó, nàng không còn nghe kịch nữa; và bài đồng ca của những người khách mời, cảnh Axtông cùng đầy tớ, bản đại song ca cung Rê trưởng, tất cả, đối với nàng đều ở tận đâu xa, dường như nhạc cụ trở nên kém kêu đi và những nhân vật trên sân khấu đã quá trần trụi; nàng nhớ lại những ván bài ở nhà tay dược sĩ và cuộc đi chơi tới chỗ vú em, những ngày đọc sách dưới vòm cây, những buổi mặt đối mặt chuyện trò bên cạnh lò sưởi, tất cả mối tình đáng thương kia lặng lẽ đến thế và lâu dài đến thế, kín đáo đến thế, đằm thắm đến thế, mà nàng tuy nhiên, nàng đã quên đi. Tại sao anh ta trở lại vậy? Những cuộc sắp xếp có lẽ nào đã lại đặt anh ta vào trong cuộc đời nàng? Anh ta đứng phía sau nàng, vai tựa vào bức vách; và, thỉnh thoảng, nàng cảm thấy mình run run dưới cái hơi thở âm ấm từ mũi chàng toát xuống mái tóc nàng.
- Kịch có làm bà vui không? Anh ta vừa nói vừa nghiêng đầu về gần phía nàng, gần đến nỗi đầu các sợi râu của anh ta lướt trên má nàng.
Nàng hờ hững đáp:
- Ờ! Trời ơi, không! Không vui lắm.
Thế là anh ta đề nghị nàng ra khỏi rạp để đi ăn kem ở chỗ nào đấy.
- À! Chưa vội! Chúng ta hãy ở lại đã! Bôvary nói. Tóc cô diễn viên xổ ra: cái đó chắc là bi thảm.
Nhưng cảnh điên dại chẳng làm cho Emma thích thú, nàng thấy cách biểu diễn của nữ ca sĩ dường như là quá đáng.
- Cô ta thét to quá, nàng vừa nói vừa quay lại phía Sáclơ đang nghe.
- Ừ... có lẽ thế... một chút, hắn đáp lại, ngập ngừng giữa sự thật thà nói lên cái thích thú của mình và sự tôn trọng của hắn đối với ý kiến của vợ.
Rồi Lêông vừa nói vừa thở dài.
- Thực là nóng bức...
- Không chịu được! Thực đấy.
- Em có khó chịu không? Bôvary hỏi.
- Có, em ngạt thở: chúng ta đi đi.
Lêông thận trọng đặt lên đôi vai nàng chiếc khăn san dài bằng đăngten, và cả ba người ra ngồi ngoài bến cảng dưới trời, trước cửa kính một tiệm cà phê. Thoạt tiên, Sáclơ nói về bệnh tật của Emma, mặc dầu Emma chốc chốc lại ngắt lời hắn, vì theo nàng, nói thế e làm nhàm tai Lêông; còn Lêông kể cho hai vợ chồng họ biết anh ta đến ở Ruăng được hai năm trong một phòng luật sư quan trọng, để tập cho lành nghề vì công việc ở Normăngđi được giải quyết khác với công việc ở Pari. Rồi anh ta hỏi tin tức về Béctơ, về gia đình Hôme, về mụ Lơfrăngxoa, và vì trước mặt người chồng, hai người chẳng còn gì hơn để mà nói với nhau nữa, câu chuyện chẳng bao lâu ngừng lại.
Những người ở rạp hát ra, vừa đi trên vỉa hè, vừa khe khẽ hát hoặc hát rống lên: "Ôi, thiên thần tuyệt đẹp, Luyxi của tôi ơi!" Lêông liền làm ra vẻ tài tử, bắt đầu nói về âm nhạc. Anh ta đã xem Tăngbuyrini, Ruybini, Perxiani, Grizi; và so với họ, Lagardy, tuy có nổi danh, cũng chẳng có giá trị gì.
- Thế nhưng, Sáclơ đang cắn ra từng miếng nhỏ chiếc kem pha rum, ngắt lời, người ta nói ở hồi cuối y hoàn toàn được tán thưởng; tôi tiếc rằng đã bỏ đi trước khi diễn xong, vì tôi đã bắt đầu thấy hứng thú.
- Vả chăng, viên luật sư tập sự nói tiếp, y lại sắp diễn một buổi nữa.
Nhưng Sáclơ đáp: ngày mai vợ chồng họ sẽ đi khỏi nơi đây rồi.
- Trừ khi, hắn quay về phía vợ nói thêm, em muốn ở lại một mình, em yêu!
Và, thay đổi kế hoạch, trước cơ hội bất ngờ thuận lợi cho hy vọng của anh ta, chàng trẻ tuổi lên tiếng ca ngợi Lagardy diễn trong khúc cuối. Đó là cái gì kỳ diệu, tuyệt vời! Thế là Sáclơ nằn nì:
- Chủ nhật em hãy về. Nào, em quyết định đi! Em không ở lại là em sai lầm đấy, nếu em cảm thấy chút nào cái đó đem lại lợi ích cho em.
Khi ấy các bàn xung quanh đã vãn người; một người hầu bàn kín đáo tới gần họ; Sáclơ biết thế, rút ví ra; viên luật sư tập sự cầm tay hắn giữ lại; và thậm chí, không quên để lại hai đồng hào trắng mà anh ta ném xuống mặt đá hoa cho kêu.
- Tôi giận thực đấy, Bôvary lẩm bẩm, về số tiền mà ông...
Anh ta phác một cử chỉ coi thường đầy thân thiện, và vừa cầm lấy mũ vừa nói:
- Đồng ý thế nhé, mai sáu giờ chứ?
Sáclơ một lần nữa lại kêu lên hắn không thể vắng nhà lâu hơn được; nhưng chẳng có gì ngăn trở Emma...
- Cái đó... nàng ấp úng nói với một nụ cười lạ lùng, tôi cũng chẳng rõ...
- Này! Em sẽ nghĩ sau, chúng ta sẽ xem xem, đêm hôm mách bảo điều hay...
Rồi hắn nói với Lêông đang đi theo họ:
- Bây giờ thì ông đã về địa phương chúng tôi, tôi mong rằng thỉnh thoảng ông sẽ đến xơi cơm với vợ chồng chúng tôi?
Viên luật sư tập sự khẳng định anh ta sẽ chẳng bỏ qua, vả lại anh ta cũng cần đi Yôngvin để làm một số công việc của phòng luật sư của anh. Và họ chia tay nhau trước ngõ Xanh Hécblăng, giữa lúc chuông nhà thờ điểm mười một giờ rưỡi.
Tháng 12-1976
Gustave Flaubert
Trọng Đức dịch
Theo https://vietmessenger.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

  “Văn học – thế giới mở” và những gương mặt của nhà phê bình Là nhà giáo – nhà nghiên cứu, PGS.TS. Nguyễn Thành Thi đã thực hiện nhiều ...