Ơn đất, tình người
Thành phố Buôn Ma Thuột trước bảy lăm, ngoài những người ở các
đồn điền cà phê và cao su, một số là công chức, giáo viên còn lại là lính. Cha
mẹ tôi đều là giáo viên trung học, mấy anh em chúng tôi đi học được là nhờ vào
truyền thống gia đình chứ cuộc sống rất chật vật vì vật giá ở đây đắt đỏ chỉ
kém Sài Gòn. Ở thành phố cao nguyên này, tỷ lệ ngân hàng trên đầu dân nhiều hơn
các thành phố trong vùng, dân làm ăn đều đem tiền gởi ngân hàng, mỗi tuần ra
rút một lần để chi dùng. Đùng một cái! Chiều thứ bảy, đường Sài Gòn ra, Nha
Trang lên bị cắt, ba ngày sau Buôn Ma Thuột được giải phóng, cho nên lúc ấy,
nhiều nhà giàu trở nên nghèo kiệt bất ngờ. Gia đình tôi, lương cha mẹ lãnh hằng
tháng, sau đó chuyển thành nhu yếu phẩm từ chợ, từ phố luôn luôn có sẵn. Chợ
không họp, thực tế là ai có gì bán nấy, Những cửa hàng, quán, sạp…đều đóng cửa,
người ta bày đủ thứ ra vỉa hè bán, có khi chỉ trao đổi nhau, chủ yếu là để có
những thứ cần thiết cho sinh hoạt. Cà phê vỉa hè chỉ có cà phê sữa vì sữa người
ta lấy ra từ cửa hàng “quân tiếp vụ”, thuốc lá cũng là thuốc lá” quân tiếp vụ”.
Tìm mua thịt heo, gà vịt dễ hơn mua gạo, nên có lúc nhà tôi ăn cháo thịt heo mấy
bữa liền! Đây là lúc mọi nhà phải sống bằng nguồn lương thực dự trữ, mà thời
cuộc thay đổi đột ngột nên chẳng mấy ai có. Tôi còn gặp mấy người chủ tiệm buôn
lớn ở phố chính, ngồi bán những cây mía từ vườn nhà để lấy tiền mua gạo. Qua khỏi
nỗi sợ chết chóc, mọi người lại sợ chết đói…
Tôi lén cha me, theo đám bạn cùng học đi “hôi” của. Những tay
“hảo hán“ vét xăng dầu ở những chiếc xe chết máy nằm đầy từ trong phố ra đến
ngoại ô, vào kho quân nhu của địch lấy hàng nhu yếu phẩm, còn chúng tôi chỉ nhắm
vào các kho gạo vô chủ. Người ta giành nhau hỗn loạn tại các kho gạo trước khi
Uỷ Ban Quân Quản quản lý. Một lần tôi đang bị đám giang hồ dữ dằn trấn lột túi
gạo tôi đã nhặt nhạnh được tại “kho cây số ba”. Tôi đang nghĩ có thể bị đổ máu
mà công cốc, thì cứu tinh xuất hiện! Một anh bộ đội chạy đến, xách cổ tên
giang hồ ném ra ngoài: ”Mày là cái gì mà dám ăn hiếp mấy đứa nhỏ, hả? Đừng
quen thói du côn, bây giờ có chính quyền cách mạng rồi, khôn hồn thì hãy sống tử
tế!”. Tên giang hồ chuồn đi một phép . Sau đó anh bộ đội ấy hỏi han ân cần và
cho tôi một bao cát gạo để tôi đem về nhà một cách hào phóng và vui vẻ. Tôi gặp
anh Hiền như vậy đó!
Những ngày sau đó, anh Hiền hay ghé lại nhà tôi trong khu tập
thể trường trung học, khi anh cho túi gạo, lúc mấy hộp thịt, hoặc đường sữa…
Sau này tôi mới biết anh Hiền nguyên là dân pháo được tăng cường về đội vận tải,
trung đoàn đặc công để bắt đầu Chiến dịch mùa xuân bảy lăm. Anh hay diện bộ đồ
ga-bạc-đin Trung Quốc, đi dép nhựa Tiền Phong, đội nón lưỡi trai … trông thật đẹp.
Anh làm công tác bốc dỡ, chuyển hàng cho đơn vị nên thường ra phố. Những lần đi
nhận lương thực chiến lợi phẩm, anh Hiền hay tranh thủ “tư tỏi“ chút ít cho
chúng tôi, để bán mua thuốc lá, uống bia với bạn ở một cái quán nhỏ… Những khi
anh Hiền ghé gia đình, uống với cha tôi ly nước trà hay ăn với mẹ con tôi củ
khoai là nhà tôi đều có lãi to . Tôi biết anh Hiền làm thế là không đúng nhưng
tôi hoàn toàn quí mến anh ấy vì những gì anh ấy cho chúng tôi là phát xuất từ tấm
lòng. Hình như anh Hiền là cán bộ nho nhỏ gì đó, cho nên mấy người cùng đi với
anh lúc nào cũng tỏ ra kính nể anh. Xem nghiêm túc thế thôi, chứ anh Hiền cũng
là chúa nghịch ngợm, ”tinh tướng”! Có lần anh Hiền đến trước nhà với một chiếc
Honda nữ mới cáu. Ngạc nhiên, tôi hỏi: ”Anh Hiền mới mua xe à?”. Anh lắc đầu: ”Tớ lấy trong doanh trại tiểu khu chúng nó đấy, đi chơi với tớ đi!”. Tôi
không đi, nhưng đấu công tắc, làm nổ máy, và hướng dẫn anh cách sử dụng, Anh Hiền
thích thú phóng đi cái ào! Khoảng một tiếng sau, anh Hiền trở lại tay không.
“Hết xăng, tớ cho đứng chơi cuối đường Nơ Trang Long rồi”, anh vô tư trả lời
khi tôi hỏi về chiếc xe. Đại khái là hai anh em tôi cùng quan tâm, cùng có những
trò lý thú, do đó tôi rất thích anh Hiền và anh Hiền cũng rất thương tôi nên
lúc ấy tôi ao ước được trở thành bộ đội như anh ấy. Sau này, anh thường đón tôi
theo chơi mỗi lần đi công tác. Có lần vào nơi đóng quân của anh ở khu rừng cà
phê phía tây thành phố, tôi còn gặp được thủ trưởng của anh nữa. “Anh cũng có
một đứa em đang học cấp ba ngoài quê, nếu chiến tranh không kết thúc sớm, có
khi nó cũng sẽ vào chiến trường!”. Anh Hiền tâm sự với tôi như thế.
Là trung đoàn độc lập, nên mỗi khi cần vận chuyển bộ đội, khí
tài, đơn vị anh phải xin trên điều xe từ đơn vị khác đến. Trước ngày chuyển
quân, Trung Đoàn anh Hiền được thành lập một tổ ô tô trong đội vận tải của anh
vốn chỉ có mấy chiếc xe đạp Phượng Hoàng, Anh Hiền đã gặp cha mẹ tôi “báo cáo
ba má“ một hồi, rồi bàn bạc, động viên… Sau đó, tôi sung sướng đi theo anh Hiền
luôn trong đợt chuyển quân ấy, làm chức phụ xe kiêm thợ máy! Thực tế tôi chỉ
là thằng em út của các anh, làm người ăn kẹo, uống sữa “bồi dưỡng sau chiến đấu”, là đối tượng cho các anh chiều chuộng, săn sóc, “tham gia đánh Mỹ xong, hòa bình về học tiếp“ như lời anh Hiền tuyên bố…
Đoàn xe chúng tôi xuất phát từ thành phố Buôn Ma Thuột, qua
các vùng giải phóng về phía Nam. Theo dường 14, chúng tôi qua thị Xã Quảng Đức,
quận lỵ Khiêm Đức, sân bay Bù Đăng… khi đến ngã ba Đồng Xoài thì mặt trời sắp lặn.
Xe pháo và bộ đội chật cứng khu rừng cao su. Bộ đội đào giếng tại chỗ để lấy nước
ăn uống. Nước ở rừng cao su nấu cơm cứ vàng vàng, phảng phất mùi thối, đem pha
trà thì trà ngả màu đen thui. “Tội nghiệp thủ trưởng Long, anh bộ đội già
khoái uống trà mà không có nước để hãm cho đàng hoàng…” Anh Hiền lầm bầm mấy
câu, rồi rủ tôi và anh Lễ ra nhà dân xin nước.
Khu vực Đồng Xoài vừa mới giải phóng hơn một tháng đã có một
không khí bình yên, thật êm ả! Những ngôi nhà mái tôn, tường ximent xinh xắn nằm
trong những khu vườn rộng trồng khoai mì hoặc dâu tằm trông rất mát mắt. Anh Lễ
nói với tôi: ”Thi muốn ăn rau ngon không? Để anh hái một mớ đọt mì về cải thiện
nhé! “Anh Hiền gạt ngay: ”Đừng lấy của dân khi chưa được sự ưng thuận của họ!”. Thế là anh Lễ im re. Chúng tôi vào một ngôi nhà cổng chỉ khép hờ, khi anh
Hiền thấy cái giếng ci- ment. Anh cất tiếng: “Có ai ở nhà không?”. Một cô
gái từ trong bếp chạy ra: ”Anh hỏi gì ạ?”. “Chào chị! Chúng tôi tạm nghỉ dưới
ngả tư, muốn xin gia đình thùng nước về nấu nước trà vì nước dưới ấy xấu quá,
mong chị “nhất trí” cho!”. “Vâng, các anh cứ lấy đi!”. Cô gái chạy ào vào
nhà mang ra cho chúng tôi một cái thùng nhỏ bằng tôn làm gàu múc nước. Nước giếng
thật trong và mát! Khi lấy đầy hai thùng nhựa vốn là bao bì đựng súng CKC cắt
đôi, anh Lễ tranh thủ gội đầu và rửa mặt, còn anh Hiền tranh thủ làm công tác
dân vận!. “Bộ đội vất vả thế mà cũng biết uống trà ạ?” cô gái thắc mắc hỏi.
Anh Hiền, dân đại học văn Hà Nội có dịp bốc: “Uống trà là nghệ thuật, là thú
vui tao nhã của dân Việt mình, chị quên rồi sao? Bộ đội chúng tôi là người Việt
như bà con mình chứ đâu ai xa. Chúng tôi đi đánh giặc là đi với tinh thần Việt ấy
chứ! Tại sao lại quên chuyện uống trà?”. Cô gái hình như ngạc nhiên khi nghe
anh Hiền nói, lại hỏi: “Các anh nghiện trà à? Vậy là khi nào cũng phải uống
trà như ba tôi thì mất công nhỉ?“. Anh Hiền phân bua: ”Đơn vị tôi có vài chiến
sĩ già, chúng tôi xem như huynh trưởng. Hôm nay, thấy các cụ hành quân vất vả
nên đám nhỏ này quan tâm tí chút, chứ còn cánh trẻ chúng tôi thì chẳng cần…”.
Cô gái nhanh nhẩu hẳn: ”Vậy các anh cần bao nhiêu cứ lấy, giếng nhà này được
cái nước rất ngon. Tối nay, sáng mai các anh cứ đến lấy mà dùng nhé, có mất mát
gì đâu!”. Có lúc không nghe hai người nói chuyện, tôi ngoái lại nhìn, thấy họ
đang lặng yên, nhìn nhau…
Tôi đang dội nước lên đầu anh Lễ, bỗng có tiếng gọi: “Liên!
Ai bảo mày cho người lạ vào nhà lấy nước, hả?”. Cô gái hướng vào bếp trả lời: ”Mấy anh bộ đội xin vài gàu nước mà anh khó khăn thế?”. Một người đàn ông
cao to,trạc ba mươi, nét mặt hầm hầm chạy đến chỗ tôi, giật lấy chiếc gầu mang
vào nhà! Cô gái nói như hét: ”Có chút nước mà anh làm gì dữ vậy, người gì mà…”.
Trong nhà vọng ra: ”Tao không cho ai hết!”. Cô gái tức giận, ngượng ngập: ”Em
xin lỗi các anh! Anh ấy vừa đi trình diện về…” Anh Hiền mím môi, đột ngột dốc
hai thùng nước đổ ngược xuống giếng làm tôi và anh Lễ không kịp ngăn. “Xin lỗi
đã làm phiền chị, không lấy nước của gia đình nhưng chúng tôi cám ơn chị vì chị
là người có lòng giúp đỡ.” Anh Hiền nói xong, kéo chúng tôi quay đi. Khi tôi
ngoảnh lại, cô gái vẫn còn đứng cạnh giếng trông theo, rồi cuối xuống, tay nâng
vạt áo…
Trên đường về, Anh Hiền lặng thinh, anh Lễ chưa hết bực: ”Anh để em lia một băng đạn cho đi đời cái thằng khốn kiếp!”. Anh Hiền ôn tồn: ”Mặc người ta! Chúng ta cần họ giúp mà họ không bằng lòng thì thôi, cậu hơi
đâu mà bực mình”. Anh Lễ vẫn chưa nguôi: ”Cái thứ ấy mà anh gọi là người ta à? Có là thú vật mới đối xử như vậy!” Anh Hiền nhẹ nhàng: ”Chỉ tội chú Thi,
hôm nay không hoàn thành nhiệm vụ mà là nhiệm vụ mang tính chất tình cảm nữa chứ.
Về nhà, hai đứa cấm nói ai biết chuyện này nhé! Không khéo người ta lại cười
ba anh em mình thối mũi.”.
Chúng tôi hành quân đi ngược lên Phước Bình, qua thượng nguồn
sông Bé, xuống Lộc Ninh, rồi Chơn Thành mất một ngày một đêm, vì lúc ấy ngầm
Sông Bé chưa làm xong. (Sau này khi ngầm làm xong, đoạn Đồng Xoài-Chơn Thành
chúng tôi đi chưa hết một tiếng). Đường hành quân càng ngày càng vất vả hơn,
có đêm chúng tôi phải đi trên một đoạn đường được lót bằng những thanh tre đan
vào nhau vì mặt đất đầy mảnh bom. Có khi gặp đoạn đường toàn hố bom dài đến cây
số, xe chạy như trong rừng cao su. Ở rừng cao su, lạc tay lái thì xe sẽ đâm vào
gốc cây, còn đoạn đường-hố-bom này mà lạc tay lái thì xe rơi ngay xuống hố!
Lúc chờ phà ở Bến Súc, Dưới ánh trăng, anh Hiền trở nên mơ mộng, anh hỏi tôi:
”Thi thấy cô Liên thế nào?”. Tôi ngạc nhiên: ”Cô Liên nào anh?”. “Thì cô
Liên Đồng Xoài, chỗ ba anh em ta xin nước chiều hôm ấy, nhớ không?”. “À, em
nhớ rồi, anh mà không nhắc có khi em quên mất“. “Cô ấy xinh và dễ thương chứ
nhỉ?”. “Dạ , chị ấy đẹp thật anh ạ! Giá chiều nào cũng nhìn thấy một người
như vậy thì cánh ta đỡ buồn tẻ anh nhỉ? Mà anh Hiền này! Anh nói cái gì mà chị
ấy cứ nhìn anh khiếp thế?”. Anh đánh trống lảng: ”Chuyện người lớn, cậu biết
gì!”… Đồng Xoài - Dầu Tiếng - Củ Chi, tôi đã đi qua lần ấy, mãi sau này tôi mới
biết đó là khu tam giác sắt!
Tôi được biên chế vào tổ ô tô nhưng chưa phải là bộ đội thực
sự, vì vậy tôi chưa được cấp quân trang, quân dụng, nhưng được các anh cho từ
quần áo đến chăn màn, võng bạt, nên tôi không thiếu thứ gì. Khi phát hiện tôi
có một ba lô đầy quân trang, anh Lễ mới bảo: ”Hai bộ quần áo, một võng, một bạt
thôi, Thi tham làm gì, lỡ hành quân bộ làm sao mà vác!”. Tôi nghe lời anh Lễ
đưa một số cho dân, gọi là “công tác dân vận”. Thấy vậy, Anh Hiền ngăn: ”Cho uổng! Hoà bình rồi mang về làm quà cho cha không thích sao?” Nghe lời anh Hiền,
tôi giữ lại mấy bộ. Cho đến bây giờ, tôi vẫn còn giữ được một bộ quần áo mà anh
Hiền đã nhường cho khi tôi mới đi “ chống Mỹ”.
Tôi theo anh Hiền, theo đoàn, không cần biết tới đâu, làm gì
. Hình như đơn vị tôi chỉ làm nhiệm vụ dự phòng, hoặc các mũi đi trước đã gặp địch
chiến đấu, còn chúng tôi chỉ phom phom chở khí tài, hàng hoá theo sau một cách
vô tư. Mãi đến khi về đóng quân gần Bà Điểm mấy ngày, tôi mới biết Sài Gòn đã
được giải phóng, chuẩn bị diễu binh, mà hình như đơn vị tham gia diễu hành là một
đơn vị mới vào chiến đấu, bộ đội toàn những người trắng trẻo đẹp trai, quần áo
ka ki Tô Châu láng coóng. Đến xe pháo cũng toàn thứ mới keng chứ không phải mấy
“ông’ Zin ba cầu móp đầu, méo đít”, kính che “giàn mướp” từ Trường Sơn về. Tôi
biết chuyện này là do anh Lễ than thở với anh Hiền bằng một giọng ấm ức, hôm học
chính trị vào đầu tháng 5/1975…
Hoà bình đã ba mươi năm.
Đường 14 bây giờ đã được mở rộng trải bê tông nhựa đàng
hoàng, Tôi đi từ Buôn Ma Thuột đến Sài gòn chỉ hơn nửa ngày, khoẻ re! Một hôm,
sau khi thăm đứa con trai lớn đang học đại học, tôi quay về Buôn Ma Thuột. Đến
Ngã tư Sơ,û xe dừng lại vá lốp, tôi vội nhảy xuống làm một chuyến tham quan nho
nhỏ. Ngã tư này tôi đã đi qua ngày ấy, có một chút kỷ niệm mà tôi chưa có dịp
ngắm lại.. Tháng 4/75, Ngã Tư Sở không có dân ở, chỉ có một chốt lính Sài Gòn,
là “khu quân sự cấm vào”. Trong một chuyến tôi theo anh Hiền đi Chư Nghé, Plei Cần
để chuyển hàng hậu cần về Bà Điểm, khi đến Ngã Tư Sở, mấy anh em dừng xe, nấu
cơm trưa. Có con cá lóc suối hơn ký bắt dọc đường không biết lấy đâu ra rau rợ
và gia vị để làm món canh chua! Thế là tôi men theo khu trại lính cũ xem có
tìm được tí hành, tí ớt gì không. Khi đến giao thông hào cạnh chiếc lô cốt, tôi
nhìn thấy có đến mấy chục xác chết đang nằm xếp lớp, ruồi nhặng bay vù vù. Xác
nào xác nấy cháy đen, nhất là cánh tay, khuỷu tay nứt thành những lằn trắng như
có ai lấy dao cứa, giống như những chiếc chân chó thui quá lửa. Tôi ói ra mật
xanh, mật vàng và từ đó không dám ăn món thịt heo kho tàu đóng hộp của Trung Quố, là món tôi rất thích mà nhiều bữa anh Lễ, anh Hiền thường nhường cả phần mình
cho tôi.
Ngã Tư Sở đã trở thành khu dân cư đông đúc, có lẽ vì vị trí của
nó là giao điểm của đường 13 và đường 14. Nhiều nhà bê tông, thậm chí có nhiều
nhà xây rất hoành tráng. Những bảng hiệu đầy màu sắc, những gian hàng khang
trang, đầy hàng hóa, không khác gì thành phố. Tôi vào một quán nước gần chỗ xe
đỗ. Quán thoáng mát và sạch sẽ, thật lý tưởng để ngồi chờ xe chạy. Phục vụ quán
là một người đàn bà duyên dáng, trắng trẻo với cái mũi thanh tú, đôi mắt sáng
trên khuôn mặt đẹp, mặc dầu không còn trẻ nữa. Trong khi tôi chúi mũi vào trang
báo, bỗng người đàn bà chạy ra trước nhà, gọi to: “Anh! Anh Hiền, anh Hiền
ơ…ơ…i!“ Ngoài đường, một người đàn ông trạc năm mươi, thắng xe r..é…t, rồi
vòng lại vào quán, gắt bằng giọng Bắc: ”Cái gì mà gọi giật ngược thế?” Người
đàn bà trả lời bằng giọng Nam bộ: ”Đi ngang nhà không tạt vào một chút, vội gì
đến nỗi mà không kịp nhìn vợ con, hả? Có lấy được tiền cho em không?”. “Có,
có đây! Anh lấy giúp cho mấy người trên kia, tính chạy ào lên đưa cho họ rồi hẳn
về nhà” Người đàn bà nắm tay chồng: ”Đưa tiền đây cho em! Mẹ “Tư- hạt -điều” mới
điện thoại nhắc nợ đấy!”. Người chồng càu nhàu: ”Ừ, không muốn lấy liền thì tôi
đưa luôn cho bà, giữ trong túi không an toàn lắm…”. Người chồng móc túi lấy ra
một nắm bao giấy:” Bà Thân, bà Hòa, bà Nguyện…Đây! bà Liên của bà đây. Của
nhà, của người gì tôi cũng ghi chú đàng hoàng, bà thấy chưa?”. Tim tôi đập mạnh,
tôi có cảm giác hồi hộp như sắp bắt được của. Cái gì? “anh Hiền”, rồi “bà
Liên“? Có phải những người quen cũ của tôi không? Tôi nhìn kỹ người đàn ông,
Khuôn mặt sạm nắng, hơi già nhưng đường nét thì không khác gì cả, lại thêm cái
nốt ruồi bên phải miệng nữa chứ. Tôi bật hét lên: ”Anh Hiền!”. Anh ngước nhìn
tôi chưa đến ba giây, rồi cũng la to: ”Thằng Thi!” . Anh ôm chầm lấy tôi một hồi,
lúc buông ra thì hai anh em đã ràn rụa nước mắt…
Tôi bỏ chuyến xe ĐakLak “ở lại Bình Phước!” theo lệnh anh
Hiền, để “bù khú” với nhau. Chị Liên đóng cửa quán, ba chúng tôi chất lên chiếc
mô tô anh Hiền, về Đồng Xoài!
Lúc dừng xe trên cầu Sông Bé, anh Hiền quơ tay một vòng, nói
như một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp: ”Một phần tỉnh Sông Bé cũ, từ
Phú Giáo lên Chơn Thành, Lộc Ninh, đến tận biên giới Campuchia, phía này giáp
ranh Đak Nông, bây giờ là tỉnh Bình Phước. Ngày bắt đầu hòa bình, nhà nước đã tạo
điều kiện cho nhân dân mọi nơi về vùng đất thênh thang này xây dựng kinh tế. Gần
mười năm thành lập tỉnh, địa phương này mới thật sự đi vào chiều sâu của sự xây
dựng và phát triển, không còn cái cảnh đèo heo hút gió nữa. Từng qua đất này
như chúng ta, nhìn lại mới thấy “đã” Thi ạ! Cái làng Bom Bo trong Tiếng chày
trên sóc Bom Bo, mình đã từng đi qua ngày ấy, bây giờ là xã văn hóa, điện, đường,
trường, trạm đường hoàng đấy nhé…”
Tôi nhìn ngược, xuôi dòng sông, rồi hỏi anh Hiền về cái ngầm,
nơi tôi đã một lần vượt sông ban đêm. Hôm ấy, trước ngày Sài Gòn được giải
phóng khoảng mười ngày, chúng tôi đi từ Đồng Xoài sang Chơn Thành bằng ngầm qua
sông Bé vừa làm xong. Đoàn xe chỉ bật đèn gầm, xe sau bám đít xe trước, từ từ
bò qua sông theo tiếng chỉ dẫn và tín hiệu của các anh chị Thanh niên Xung
phong đang ngâm mình dưới giòng nước chảy xiết. Khi chiếc bánh xích móc cáp,
kéo xe chúng tôi lên khỏi gờ đất trơn như mỡ ở bờ sông thì tôi thở phào, người
đẫm mồ hôi! “Chỗ ấy là chiếc cầu sắt, ta đánh sập khi bắt đầu chiến dịch, trước
khi giải phóng Phước Long. Hôm ta đi vòng lên thượng nguồn sông Bé, đó chỉ là một
cây cầu thô sơ, sau ngày 20/4 anh em ta chở hàng mới có ngầm qua sông. Bây giờ,
nơi ấy là cầu Tân Thành mới xây sau này bằng bê tông kiên cố đẹp lắm, nó nằm
phía trên cầu này một đoạn, nối Đồng Xoài với Lộc Ninh, mai mốt anh sẽ đưa Thi
đi tham quan”…
Thị Xã Đồng Xoài là thủ phủ của tỉnh Bình Phước. Đoạn đường
14 chạy qua phố, đại lộ Hùng Vương… tám làn xe, lưu thông hai chiều. Đèn cao
áp sáng rực, cùng với ánh sáng điện tử của các biển quảng cáo lấp lánh trên những
hàng cây vừa khép tán, thật đẹp! Khu công sở, hầu hết là những dãy nhà bê tông
ba tầng, uy nghi vẫn còn đẹp như mới! Những dãy phố khang trang, đầy đủ các dịch
vụ của một thị xã đang phát triển.Tôi còn nhìn thấy những cửa hàng điện thoại
di động, những điểm internet dập dìu khách ra vào, đúng là không thiếu thứ gì!
Rồi…tiếng nhạc xập xình từ các quán cà phê, cửa hàng ăn uống cùng với tiếng xe
ô tô, xe máy ì xèo làm cho không khí thị tứ nhộn nhịp hẳn lên. Tôi không thể
nhìn ra được cái ngã ba Đồng Xoài “tối mù đèn dầu”, lèo tèo của một làng quê
vùng sâu ngày ấy. Anh Hiền còn bảo: ”Đã có qui hoạch thị xã, sẽ có đầu tư từ bên
ngoài vào các khu công nghiệp quanh đây. Mai mốt thì “ai sao tui dzậy “, ngon
lành!”.
Nhà vợ chồng anh Hiền sát ngay nhà ba mẹ chị Liên. Đó là một
ngôi nhà ngói kiểu chữ A dạng biệt thự một lầu thoáng mát trong một khu vườn
cây ăn trái, sân trước là hoa và cây cảnh tươi tốt, nhìn qua là biết chủ nhà
sung túc. Anh Hiền phân bua: ”Từ khoai mì sang trồng cà phê, hai vụ cà phê anh
làm ngôi nhà này. Tàm tạm, mai mốt hai đứa nhỏ lớn rồi hẳn tính”. Anh Hiền đưa
tôi vào phòng để hành lý:” Tối nay, hai anh em ta ngủ trên giường này”. Chị
Liên phản đối: ”Nhà còn phòng khách, sao lại bắt nằm chung, tội nghiệp chú!“. Anh Hiền trợn mắt, trả lời một câu rất hay: ”Ngày ấy, anh em tôi ôm nhau
trong cái ca- bin xe tải còn được nữa là…”.
Tôi gợi ý: ”Anh Hiền cho em ra giếng nước đi“. Anh vui hẳn
lên: “Cái thằng nhớ dai nhỉ! Cái giếng nước mà anh em ta múc nước lên rồi đổ
xuống chứ gì?”. Trong tôi bỗng hiện lên bao nhiêu chuyện cũ: ”Em còn nhớ cả
lúc anh tranh thủ tán chị Liên, rồi tỏ tình bằng mắt nữa cơ!”. Anh Hiền vỗ vai
tôi, cười hóm hỉnh: ”Tiên sư ông con! Ông biết lém từ bao giờ thế !”.
Sau đợt học tập chính trị ở Bà Điểm vào giữa tháng 5/1975,
tôi chia tay anh Hiền, anh Lễ và mọi người trong tổ ô tô về nhà vì chưa đủ tuổi
vào bộ đội. Anh Hiền dự lớp bồi dưỡng tay lái, công tác lái xe ba năm thì về Bắc
và ra quân. Anh ở nhà được mấy tháng rồi vào Nam. Được những người quen từ hồi
chiến đấu giúp, anh làm thợ cơ khí cho công ty cao su Chơn Thành, rồi trở lại Đồng
Xoài để “cám ơn đôi thùng nước vào một chiều hành quân trước”. Năm tám mươi,
anh Hiền đón mẹ vào, cưới chị Liên và trụ lại mảnh đất miền đông này cho đến
nay. Anh tâm sự: ”Đúng là hay không bằng hên chú ạ! Cái lần đi xin nước không
được mà tôi lại được cái khác giá trị gấp tỷ lần là chị Liên của chú. Chuyện đi
dọc đường 14 lần đó, tưởng sau chiến tranh là hết, đâu ngờ bây giờ có một hộ cựu
chiến binh Nguyễn Hiền hoành tráng, có một nông trại Mai Liên dọc đường 14…”.
Tôi thắc mắc: ”Mấy hecta nông trại là nhà nước cấp hay anh mua?”. “Chuyện lập
gia đình, lập nghiệp đều tự tôi tìm tòi và tạo dựng đấy chứ! Chú nhớ hồi hành
quân qua vùng này không? Bao nhiêu là đất hoang đến bạt ngàn, chỉ cần đặt nhẹ
lưỡi cuốc xuống là đất vỡ tưa ra. Trồng cây gì chả được! “. ..
Ba mươi năm, anh Hiền bám trụ, xanh cây tốt rễ ngay mảnh đất
miền đông này. Công tác tại công ty mấy năm, anh Hiền trở về làm rẫy với vợ khi
đã có hai con. Ăn độn, mặc rách khai hoang, cùng sự giúp đõ của gia đình chị
Liên và nhất là anh Trung, người cựu binh Cộng Hòa “dữ dằn” mà tôi đã gặp trong
chiều đi xin nước. Mấy năm trời, anh gây dựng được mấy hecta khoai mì, rồi thu
hoạch khá, có đồng vốn để soay xở trong thời kỳ đổi mới. Anh chuyển đổi vườn mì
thành nông trại trồng một ít cây ăn trái và cà phê. Anh tâm sự: “Cây ăn trái ở
đây không khá, chỉ được cà phê, anh nhờ cà phê mới đỡ vất vả đó!”. Hiện anh
còn có hơn năm chục mẫu cao su đang thu hoạch mà anh đã “mua” và phát triển từ
nông trường quốc doanh. Căn nhà ở Ngã Tư Sở là chỗ buôn bán, nơi vợ chồng anh
Hiền thu mua tiêu, điều, cà phê trong vùng để xuất về Sài Gòn. Mai mốt đứa con
gái của anh học xong đại học, anh có thể giao căn nhà ngả tư cho nó kinh doanh
hay làm một dịch vụ gì đó. Xong, vợ chồng anh rút về vườn dưỡng già với thằng
con đang học đại học nông nghiệp. Hai người em trai của anh đã rời quê hương
vào xây dựng kinh tế nông trại, đang trông giúp anh quản lý vườn cà phê, và
khai thác cao su của anh ngay khu vực đường 14 này… Anh nhẩn nha kể và thực sự
mãn nguyện với những gì mình đã làm nên từ đất. “Lễ nó vào sau anh ba năm, ở với
nhau một thời gian, nó nhảy đi Lộc Ninh, bây giờ trong tay cũng có năm, bảy mẫu
điều rồi. Có dịp anh hẹn nó ra đây, lên Đak Lak chơi với chú hoặc chú xuống
đây, anh em ta kéo nhau đi Lộc Ninh, ăn chơi cho hết Bình Phước luôn!”. Anh Hiền
huyên thuyên khi tôi nhắc đến anh Lễ.
Tôi ở chơi với anh Hiền hai ngày mới về. Trong hai ngày với
nhau, anh Hiền cho tôi đi thăm hết cơ ngơi của anh, từ vườn ca phê đang ra hoa
đến vườn cao su vừa thay lá, bạt ngàn. Ba chị Liên đã mất, mẹ chị và anh Trung
vẫn ở trong căn nhà có cái giếng nước. Tôi đến chào bà cụ và còn uống rượu với
Trung, một người lão nông dễ thương, đầy chất “Đông Nam Bộ” chứ không phải anh
chàng từng bị anh Lễ đòi “lia” một băng AK. Tất cả đều vui vẻ chan hòa!.
Chia tay anh Hiền, tôi còn nhớ mãi tiếng cười hạnh phúc của
anh: ”Liên chỉ là tiếng gọi cho tớ đến, còn giữ tớ lại, làm cho tớ sống chính
là đất Bình Phước này!“. Tôi tin anh Hiền nói thật, vì anh vốn là người rạch
ròi, kể cả những vấn đề trừu tượng như tình người, ơn đất!.
Đalat- tháng 12/2006









Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét