Trở lại với Thạch Lam
Sáu triều vua như giấc mộng, chim bâng khuâng hót
Chỉ vô tình bậc nhất là liễu ở Đài Thành
Vẫn y nguyên trong bóng khói của dải đê mười dặm.
Đường thi - Vi Trang (836-910)
Có ba con người kiệt xuất trong số ít người kiệt xuất của văn xuôi Việt Nam
nửa đầu thế kỷ 20. Họ ghi dấu ấn lên trí nhớ của thời đại không chỉ và trước
hết bằng các văn phẩm của mình mà bằng cả cái cách họ làm ra chúng. Vũ Trọng
Phụng viết tiểu thuyết Giông tố theo lối đăng từng kỳ trên báo. Vũ Bằng bảo: Phụng đến toà báo ngồi ì ra một đống, hút thuốc lào và
hỏi ầm lên có ai biết Giông tố kỳ trước đã viết đến đoạn nào rồi
không? Chẳng ai trả lời cả. Phụng đành tự mình đi tìm rồi phủ phục xuống giường
như con voi viết tiếp, lưỡi thè ra... Thời còn trẻ, Nguyễn Tuân chỉ khi nào
thích chí thì viết theo lề thói của một công chức cuối tháng lĩnh tiền. Lúc về
già ông tự mình nêu khẩu hiệu đi, đọc và rồi viết. Khi đêm nơi đất khách, cảm
thấy mình như hết chữ, bèn mang Kiều ra đọc. Tớp một ly rượu quê mang theo.
Thấy bút lại chạy đều đều trên trang giấy mang nhãn hiệu khách sạn. Thạch Lam
khác hẳn. Con người nhẹ nhàng, lặng lẽ, khiêm nhường mà bao dung ấy không bao
giờ sai hẹn với báo. Có lẽ chỉ trừ một lần với ông anh ruột Nhất Linh. Thế Lữ
nói: Thạch Lam là người trầm lặng. Nguyễn Tuân thì bảo ở Thạch Lam hầu hết là
độc thoại nội tâm. Đêm dài một bóng một đèn. Một nhân vật nào đó và một mình
ông thanh thản buông ra một lối viết hàm dưỡng mà kín đáo. Vũ Ngọc Phan trong Nhà
văn hiện đại gọi là một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng. Bởi thế chăng
văn Vũ Trọng Phụng gào thét và đau đớn. Nguyễn Tuân kiêu bạc mà sang trọng.
Thạch Lam tinh tế, thanh đạm, nhẹ nhàng như bước chuyển của tâm hồn Việt Nam
trong sáng, giản dị trên những trang văn tuyệt bích của ông. Nhất Linh và nhiều
người khác đều cho rằng Thạch Lam viết hay hơn cả trong Tự lực văn đoàn. Lý do
chẳng phải gì cao siêu mà chỉ đơn giản như Khái Hưng, đàn anh trong Tự lực văn
đoàn, khi viết tựa tập truyện Gió lạnh đầu mùa đã chỉ ra: ở Thạch Lam
sự thành thực trở nên sự can đảm. Giai đoạn văn học 1930-1945 như một mùa quả
chín. Đồng loạt có những thành tựu trong thơ và văn xuôi. Nếu thơ là phong
trào thơ mới thì văn xuôi có Tự lực văn đoàn và một số nhóm văn
chương khác. Họ đã đưa nền văn học nước nhà bước vào một cung bậc mới của thế
giới hiện đại, khác hẳn với những thế kỷ đã qua.
Sự nghiệp văn chương Thạch Lam rải chiếu trên nhiều thể loại. Nhưng với
truyện ngắn trong các tập Gió lạnh đầu mùa. 1937. Nắng trong vườn.
1938. Sợi Tóc. 1939... là thành công hơn cả. Nó thể hiện rõ rệt nhất đặc
trưng của phong cách văn chương Thạch Lam. Đọc những truyện ngắn hay nhất của
ông như Hai đứa trẻ, Dưới bóng hoàng lan, Cô hàng xén, Tình xưa... ta
thường bắt gặp những cuộc đời bình dị và an lành như đời những cậu học trò trên
tỉnh, người bán tạp hoá nơi phố huyện... hiện lên bằng một bút pháp trữ tình
sâu lắng. Thời ấy, Vũ Ngọc Phan gọi là Tiểu thuyết tình cảm. Tất cả như một
khúc tâm tình nhẹ nhàng về vẻ đẹp dịu hiền của tâm hồn Việt Nam. Nghệ thuật
truyện ngắn của Thạch Lam vô cùng tinh tế ở chỗ cốt truyện thường giản dị và
cảnh sắc thiên nhiên không phải là cái phông bên ngoài câu chuyện như những
đoạn trữ tình ngoại đề mà nó mềm mại và ý nhị tham gia tâm tình nhỏ to với thân
phận con người. Sự tham gia ấy nhẹ nhàng đến mức đôi lúc tôi hình dung như được
đọc văn của Pautopxki. Cô hàng xén gánh hàng trở về sau phiên chợ chiều khi
đường làng đã bao phủ sương mù hòa với tiếng lá tre lào rào và thân tre cót két
kêu, cạnh những cổng gạch cũ càng rêu phong. Những ngõ tối mấp mô vì lỗ chân
trâu. Mùi bèo ở dưới ao. Mùi rạ quen thuộc và ẩm ướt. Rồi sáng sớm hôm sau, vẫn
cô Tâm ấy lại gánh hàng lên chợ khi sương trắng còn đầy các ngõ. Rồi một hôm,
cô Tâm hàng xén đi lấy chồng làng bên là anh giáo Bài nghèo khó. Gánh hàng xén
như nặng thêm lên vì lo việc nhà chồng vẫn phải lo tiền cho cậu em trai trọ học
trên tỉnh. Cuộc đời cô hàng xén như tấm vải thô dệt đều nhau bằng sương khói
sớm chiều trong văn chương Thạch Lam.
Với Thạch Lam, Dưới bóng cây hoàng lan như có linh hồn nối quá
khứ tuổi thơ êm đềm với ngày trở về của cậu Thanh đã lên tỉnh học. Khu vườn và
ngôi nhà xưa yên tĩnh quá. Trên trường kỷ vẫn ngọn đèn con và chú mèo già tròn
mình nằm bên cạnh mắt lim dim. Bình yên và nhàn nhã. Mùi thơm hoa hoàng lan làm
chứng cho những gì đẹp nhất của tình yêu quê hương. Có cái gì vừa thầm kín vừa
dịu ngọt chăng tơ ở đâu đây trong vườn để người đi xa trở về vương phải. Một
hoài niệm? Một hy vọng? Mỗi mùa cô hàng xóm, bạn thuở thiếu thời lại giắt búp
hoàng lan trên tóc cho sự tưởng nhớ một mùi hương không biết nói nên lời.
Người ta hay nói về phố huyện tuyệt đối thanh bình trong truyện ngắn Thạch
Lam. Ông đã lưu giữ cho ta một cảnh đời quen thuộc đã đi vào hoặc dường như đã
đi vào dĩ vãng hơn nửa thế kỉ trước trên những nẻo đường gió bụi vùng châu thổ
sông Hồng. Cái phố huyện nguyên bản ấy giờ đây đã thưa thớt đi quá nhiều bởi
mức độ đô thị hoá của người nhà quê. Hãy tìm lại nó trong truyện ngắn Hai đứa
trẻ. Nghe nói nó được lấy từ nguyên mẫu phố huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, nơi
Thạch Lam cùng chị Thế sống ở đây từ năm ông lên 6 đến năm 13 tuổi (1916-1923).
Phố huyện trần trụi ban ngày thường chỉ thấy dãy nhà gạch một tầng nhiều bụi
đỏ. Ban đêm là thế giới lung linh của đèn hoa kỳ. Một gánh phở đêm - thức quà
xa xỉ ở nơi đây. Đôi ba cửa hàng tạp hoá nhỏ và thức uống thường là nước chè và
nước vối bày trên chõng tre... Vậy mà Thạch Lam đã huyền thoại hoá để nó tham
gia vào thân phận con người. Đêm mùa hạ êm đềm như nhung. Thoảng qua làn gió
mát. Các ngõ đã chứa đầy bóng tối. Một vài cửa hàng còn thức hé ra một khe ánh
sáng. Trẻ con tụ họp nhau ở thềm hè cười nói vui vẻ khiến cậu An, hiện thân của
Thạch Lam thời nhỏ muốn nhập bọn. Trên vòm trời phố huyện vũ trụ thăm thẳm bao
la. Ngàn sao lấp lánh. Nhưng cũng đầy bí mật với hai chị em Liên và An. Bởi thế
cho nên cái quãng sáng chung quanh ngọn đèn lay động trên chõng tre trở nên
thân mật mà vô cùng dễ hiểu với chúng. Tất cả ngọn đèn vặn nhỏ thưa thớt từng
hột sáng như sự an bình của con người nơi đây hằng đêm chờ đợi tiếng đập mạnh
mẽ của đoàn tàu hoả với các toa sáng trưng rầm rập chạy qua như đem tới một
chút gì của thế giới khác để phố huyện yên tâm mà trở lại cái yên lặng giữa
đồng ruộng mênh mông. Bởi thế, nhà văn Thế Uyên đã nói rất đúng rằng: Chất liệu
văn chương Thạch Lam chỉ gồm có cuộc sống dĩ vãng và sự rung động tâm hồn của
tác giả. Đó cũng là kết cấu phổ biến của truyện ngắn Thạch Lam mà điển hình là
ở những truyện ngắn hay nhất như vừa kể của ông.
Có người nói văn chương Thạch Lam như là một sự điều hòa giai cấp, điều hoà
xã hội. Tôi không nghĩ như thế. Mặc dù nó rất phù hợp, cách đây mấy chục năm.
Bây giờ sau những thăng trầm dâu bể của thế kỷ 20, thời đại đã cho
phép chúng ta nhìn nhận lại trên một nhãn quan phù hợp hơn của chủ nghĩa nhân
văn. Truyện ngắn Đứa con Thạch Lam kể về sự thay đổi của bà Cả độc ác, cay
nghiệt và giàu có, khi bà ta được bế đứa bé, con người ở mà bà đã từng nhiều
lần hắt hủi đày đọa. Nhờ đứa bé ấy, bản năng hướng thiện của bà thức dậy. Thạch
Lam miêu tả người đàn bà trở nên tội nghiệp. Ôm ghì lấy đứa trẻ vào cái sườn
cằn cỗi với bộ ngực lép và đôi vú héo hon. Người đàn bà giàu có mà vô sinh vốn
độc ác bừng tỉnh một tia sáng thèm muốn và ao ước.
Mắt bà ta đờ ra, mờ đi như ướt lệ, như được nâng niu ấp ủ một mầm sống của chính mình trong lòng. Người đàn bà ấy đã lấy hai đồng bạc làm quà mua quần áo mới cho đứa trẻ. Cử chỉ ấy mà bảo Thạch Lam điều hoà xã hội thì thật oan cho ông. Ông xuất phát từ một điều rất nhân bản về con người, về sự lương thiện của con người đã trỗi dậy để chiến thắng cái ác, cái thấp hèn. Do đó tầm vóc và ý nghĩa câu chuyện phù hợp với diễn tả tâm lý nhân vật ở đây. Trên quan điểm đó, nhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam, như Bóng tối buổi chiều chẳng hạn, cũng cần được nhìn nhận theo nhãn quan đổi mới. Thạch Lam thấu hiểu nỗi đau đớn của anh Diên, bạn trai của cô Mai, một người thợ con gái lẫn trong đội thợ thuyền đầy bụi bặm và những bộ quần áo bẩn thỉu giữa những con phố đen đầy bụi than. Một ngày kia, cô Mai được ông chủ nhà máy để mắt tới. Cô nàng bắt đầu thoa son môi và có cái nhẫn vàng mặt nhỏ. Câu chuyện này hiện thực đến mức như không phải nói về ngày hôm qua mà tôi mới nghe đâu được ở một vùng mỏ than gần bể. Và Thạch Lam đâu phải người điều hoà xã hội. Vũ Bằng thật có lí khi nói: Thạch Lam là một người tôn thờ nhân bản thực sự.
Mắt bà ta đờ ra, mờ đi như ướt lệ, như được nâng niu ấp ủ một mầm sống của chính mình trong lòng. Người đàn bà ấy đã lấy hai đồng bạc làm quà mua quần áo mới cho đứa trẻ. Cử chỉ ấy mà bảo Thạch Lam điều hoà xã hội thì thật oan cho ông. Ông xuất phát từ một điều rất nhân bản về con người, về sự lương thiện của con người đã trỗi dậy để chiến thắng cái ác, cái thấp hèn. Do đó tầm vóc và ý nghĩa câu chuyện phù hợp với diễn tả tâm lý nhân vật ở đây. Trên quan điểm đó, nhiều truyện ngắn khác của Thạch Lam, như Bóng tối buổi chiều chẳng hạn, cũng cần được nhìn nhận theo nhãn quan đổi mới. Thạch Lam thấu hiểu nỗi đau đớn của anh Diên, bạn trai của cô Mai, một người thợ con gái lẫn trong đội thợ thuyền đầy bụi bặm và những bộ quần áo bẩn thỉu giữa những con phố đen đầy bụi than. Một ngày kia, cô Mai được ông chủ nhà máy để mắt tới. Cô nàng bắt đầu thoa son môi và có cái nhẫn vàng mặt nhỏ. Câu chuyện này hiện thực đến mức như không phải nói về ngày hôm qua mà tôi mới nghe đâu được ở một vùng mỏ than gần bể. Và Thạch Lam đâu phải người điều hoà xã hội. Vũ Bằng thật có lí khi nói: Thạch Lam là một người tôn thờ nhân bản thực sự.
Trong văn chương Việt Nam hiện đại, Thạch Lam không phải là người đầu tiên
viết về văn hoá ẩm thực. Khoảng sau năm 1929 một ít, thi sĩ Tản Đà có Thú ăn
chơi mở đầu thật nghẹn ngào: Trời sinh ra bác Tản Đà/ Quê hương thời có, cửa
nhà thời không. Một bài thơ lục bát vài chục dòng mà có tới 14 chú
thích do chính ông soạn ra. Càng đọc càng thấy thương cảm cho nhà thơ danh
tiếng của chúng ta nghèo túng. Còn những người viết sau Thạch Lam thì Vũ Bằng
chỉ là ẩm thực trong hoài niệm. Nguyễn Tuân ẩm thực tỉa tót cao ngạo như cố
tình gieo vần thật lạ cho cặp lục bát 6/8 quê mùa. Ăn, uống... được như ông có
mà... còn lâu! Còn Tô Hoài là ẩm thực ... ngoại giao. Ăn không quan trọng bằng
ăn với ai. Đôi khi còn do ai làm nữa. Chao ôi! Cái ông nhà văn tài năng lỗi lạc
mà cũng nổi tiếng là người... khôn ngoan. Ngay cả từ miếng ăn, ngụm uống. Thạch
Lam viết trước và khác cả mấy người ấy. Với ông, Hà Nội băm sáu phố phường xứng
đáng được mang danh văn hoá ẩm thực- xuất phát từ chính cái quan niệm của ông:
quà là...người. Cái thi thư văn hoá của Hà Nội nghìn năm qua các trang ký sự
vừa thanh lịch vừa ý nhị từ cốm, bún chả đến bánh cuốn Thanh Trì... Thạch Lam
là người Hà Nội nhất. Với ông, tôi yêu mến người Hà Nội thanh tao nhân hậu hơn
là sự tỉa tót về đồ ăn thức uống. Một vài thiếu nữ khuê các thướt tha bên trong
những khu vườn nhỏ quanh nhà. Những hàng nước cô Dần đâu chỉ có ở chợ Đồng Xuân
mà đó là nhân vật biểu hiện nhất của sinh hoạt Việt Nam dù dưới bóng đa đình cũ
hay dưới mái hiên phố cổ thị thành. Những người bán bánh cuốn Thanh Trì đội mẹt
và rổ trên đầu từng tụm 5, 7 người từ phố Lò Lợn đi vào uyển chuyển và nhanh
nhẹn. Họ cứ đi như thế cho đến tận bây giờ cũng nên. Những cô hàng cơm nắm lẳng
lơ với hai quang thúng bỏ chùng, tóc vấn gọn, áo nâu mới, quần sồi thâm với
những nắm cơm sạch sẽ. Thạch Lam thật công tâm khi nói rằng ai là người đầu
tiên nghĩ ra bún chả đáng được nhớ ơn và kính trọng như những tài tử ngang và
hơn các nhà văn.
Bà cụ già và hai cháu nhỏ trong quán bánh cuốn Hai mươi bốn gian ở xóm bình khang mà như trong cổ tích. Cả những tiếng rao khi thì lảnh lót kéo dài như luồng gió mát ai cháo đậu xạnh, chè đậu đen ra, khi thì lạ lẫm: Sa cốc mày là gồm những viên bột nhỏ tròn nấu với nước đường và phán sì thoòng cho món chè khoai... Những tiếng rao ấy tưởng như còn vang ở đâu đây của những phố nghèo cổ xưa Hà Nội nhưng đôi khi đưa cho ta một cảm giác buồn khó tả khi bây giờ bốn mùa xuân hạ thu đông, nhất là vào ban đêm rét mướt, chợt nghe đâu đây: tôi là bánh khúc đây, Bánh khúc đây thì biết ngay là thứ bánh bên ngoài có một lớp vỏ bằng xôi dính, bên trong màu xanh nhuyễn của lá xu hào hay rau muống vì đâu còn rau khúc vào những thời gian của thứ rau không nở tứ mùa... Thế Lữ nói: Không có sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó. Tôi muốn thêm: Không có dòng văn nào trong Hà Nội băm sáu phố phường mà không có rất nhiều Thạch Lam, rất nhiều Hà Nội ở bên trong.
Bà cụ già và hai cháu nhỏ trong quán bánh cuốn Hai mươi bốn gian ở xóm bình khang mà như trong cổ tích. Cả những tiếng rao khi thì lảnh lót kéo dài như luồng gió mát ai cháo đậu xạnh, chè đậu đen ra, khi thì lạ lẫm: Sa cốc mày là gồm những viên bột nhỏ tròn nấu với nước đường và phán sì thoòng cho món chè khoai... Những tiếng rao ấy tưởng như còn vang ở đâu đây của những phố nghèo cổ xưa Hà Nội nhưng đôi khi đưa cho ta một cảm giác buồn khó tả khi bây giờ bốn mùa xuân hạ thu đông, nhất là vào ban đêm rét mướt, chợt nghe đâu đây: tôi là bánh khúc đây, Bánh khúc đây thì biết ngay là thứ bánh bên ngoài có một lớp vỏ bằng xôi dính, bên trong màu xanh nhuyễn của lá xu hào hay rau muống vì đâu còn rau khúc vào những thời gian của thứ rau không nở tứ mùa... Thế Lữ nói: Không có sáng tác nào của Thạch Lam mà không có rất nhiều Thạch Lam trong đó. Tôi muốn thêm: Không có dòng văn nào trong Hà Nội băm sáu phố phường mà không có rất nhiều Thạch Lam, rất nhiều Hà Nội ở bên trong.
Không hiểu sao các thi sĩ đời Đường lại đồng thanh tương ứng nói về cây
liễu thướt tha mà lại thật vô tình. Mạch đầu dương liễu sắc của Vương Xương
Linh chẳng hề hay biết nỗi đau buồn của người thiếu phụ xa chồng. Sắc liễu xanh
rờn nơi quán trọ chẳng biết Vương Duy mời người uống cạn thêm chén rượu vì ngày
mai ra khỏi đất Dương Quan sẽ không còn ai là bạn thân nữa. Hàng liễu xanh bên
thành Cô Tô đổ nát của Lý Bạch chẳng hay cái gì đã xảy ra trong hoang phế cổ
thành, nơi vầng trăng xưa đã từng soi những người đẹp của Ngô Vương. Dặng liễu
dài mười dặm vô tình bậc nhất ở thành Kim Lăng lại dửng dưng trước sự hưng vong
những sáu triều vua của quan lại bộ thị lang bình chương sự Vi Trang... Tâm sự
của người xưa làm tôi nhớ không quên nhà cây liễu của Thạch Lam ở đầu làng
Yên Phụ. Trong khoảng thời gian sáng tác văn chương xung mãn nhất từ 1933 đến
1942. Theo bà Song Kim, đó là ngôi nhà lá hai gian nằm bên bờ hồ Tây. Phía
trước nhà Thạch Lam có trồng cây liễu, khi đó đã thành cổ thụ. Sát phía sau nhà
là hồ Ao Vả. Vào mùa đông, anh em Tự lực văn đoàn thường nhóm lửa sưởi ở giữa
nhà để mà đàm đạo và ngắm nhìn tơ liễu trên mặt nước xanh. Năm 1942, khi Thạch
Lam sắp mất, ông chỉ muốn người nhà cho nằm quay mặt ra cây liễu bên hồ để
ngắm. Năm 1947, khi người nhà Thạch Lam tản cư trở về mới hay ngôi
nhà vẫn còn. Nhưng cây liễu không còn thấy nữa. Phần đất trồng cây liễu đã sụp
xuống mặt nước hồ Tây giữa một vùng hoang phế bởi chiến tranh. Thấm thoát thế
mà đã 75 năm rồi, Thạch Lam đã rời nhà cây liễu để đi vào chốn ngàn năm. Bao
nhiêu đổi thay ở xứ sở này!
Sau ngày hạ chí độ khoảng 2 tuần năm nay, tôi cùng nhà thơ Ngô Thế Oanh,
lần theo lời kể mấy chục năm qua của gia đình Thạch Lam, chúng tôi trở lại tìm
nhà cây liễu của ông. Đi theo con đường Yên Hoa, bắt đầu từ cuối đường Cổ Ngư
xưa, men theo bờ hồ Tây, đến cây đa cổ thụ đứng giữa đường trước cổng làng Yên
Phụ đã có từ khi nhà văn còn sống. Cây đa thời Thạch Lam ngả bóng xuống hồ Ao
Vả nay không còn nữa. Sau 1975 nó đã chết. Vào khoảng năm 1983, người ta trồng
lại cây đa mới vào chính chỗ cũ. Bây giờ, sau 30 năm, đa lại đã trở thành cổ
thụ. Dưới gốc cây ấy người ta treo một cái bảng lớn vừa phải hình chữ nhật màu
trắng. Ở giữa có ghi 3 chữ màu xanh: Làng Yên Phụ. Tiếp theo sau cây đa đoạn
đường mà ngày xưa Hồ Dzếnh bảo vốn là đường làng lát gạch nay đã giải nhựa ấy
bên tay phải là hồ Ao Vả nước xanh màu lục như nước Hồ Gươm. Bên tay trái là
đình làng Yên Phụ nhìn chính diện ra hồ Ao Vả. Chúng tôi vào đình thắp hương lễ
tạ. Đình kiến trúc theo hình chữ đinh. Mặt chính diện của đình như một cái đốc
nhà là cái nét nằm ngang của chữ đinh ấy. Phía sau đình là hồ Tây.
Bà cụ thủ từ đã 84 tuổi mà minh mẫn lạ thường cho biết: Trước năm 1945 còn có một con đường đất nối sang chùa Trấn Quốc. Có lần người ta định phá đình làm khu nghỉ dưỡng. Dân làng Yên Phụ xin giữ lại nên việc phá không xảy ra. Một phần nhờ ý kiến của ông Huy Cận. Ông ấy đã lên đây và chỉ cho mọi người biết nhà cây liễu của Thạch Lam. Thẳng từ đình vào, chỉ cách chừng 3,4 chục bước chân. Bây giờ chỗ đó là một biệt thự nằm ngay chính giữ 2 nhánh đường nhỏ chạy vòng quanh rẻo đất nằm giữa hồ Tây và hồ Ao Vả. Lại nhớ Đinh Hùng viết Hoài Niệm gửi Thạch Lam: Bốn phương lỡ gót đăng trình... những phố trường sầu đi mất về đâu... Con đường vòng đó vẫn chưa được đặt tên. Biệt thự mang biển số 29 của làng Yên Phụ. Đương nhiên là cây liễu đã sụp xuống hồ trước 1947, giờ thì là dưới con đường nhựa ấy. Chỉ còn lại một cây thị cổ thụ hàng trăm năm tuổi đứng bên ngoài tường của ngôi nhà số 29 ấy. Sau 1947 đến trước 1954, mảnh đất nhà cây liễu được một người Pháp làm nghề mật thám dựng nhà để ở. Một quãng sau hòa bình 1955, không rõ là bao nhiêu năm, mảnh đất nhà cây liễu được trao cho ông Trịnh Đình Cửu, một trong số ít người tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở số 5D Hàm Long và sau đấy là đại biểu dự hội nghị thành lập Đảng ở một sân bóng bên Hồng Kông năm 1930. Vào trước năm 1990, khi ông Cửu còn sống, các ông Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan... thường đến thăm và thường ngồi dưới cây thị cổ thụ ấy. Phảng phất đâu đây nhà cây liễu lại hiện về phủ cái ánh sáng kỳ ảo của dĩ vãng lên toà biệt thự 3 tầng, kiểu trúc theo kiểu Anh Cát Lợi rất quen thuộc thường gặp ở phía sau đường Ken-xinh-ton bên Luân Đôn. Ở phía chính diện của biệt thự xây hình vòng cung có 4 khung cửa chớp hình vòm cao gần hết tường nhà tầng 2. Phía ngoài tường ngang cổng vào, số 29 nhỏ được ghi ở bên trái. Nó giản dị và khiêm nhường đứng giữa lối rẽ của 2 con đường như muốn chẳng nói điều gì với ai.
Bà cụ thủ từ đã 84 tuổi mà minh mẫn lạ thường cho biết: Trước năm 1945 còn có một con đường đất nối sang chùa Trấn Quốc. Có lần người ta định phá đình làm khu nghỉ dưỡng. Dân làng Yên Phụ xin giữ lại nên việc phá không xảy ra. Một phần nhờ ý kiến của ông Huy Cận. Ông ấy đã lên đây và chỉ cho mọi người biết nhà cây liễu của Thạch Lam. Thẳng từ đình vào, chỉ cách chừng 3,4 chục bước chân. Bây giờ chỗ đó là một biệt thự nằm ngay chính giữ 2 nhánh đường nhỏ chạy vòng quanh rẻo đất nằm giữa hồ Tây và hồ Ao Vả. Lại nhớ Đinh Hùng viết Hoài Niệm gửi Thạch Lam: Bốn phương lỡ gót đăng trình... những phố trường sầu đi mất về đâu... Con đường vòng đó vẫn chưa được đặt tên. Biệt thự mang biển số 29 của làng Yên Phụ. Đương nhiên là cây liễu đã sụp xuống hồ trước 1947, giờ thì là dưới con đường nhựa ấy. Chỉ còn lại một cây thị cổ thụ hàng trăm năm tuổi đứng bên ngoài tường của ngôi nhà số 29 ấy. Sau 1947 đến trước 1954, mảnh đất nhà cây liễu được một người Pháp làm nghề mật thám dựng nhà để ở. Một quãng sau hòa bình 1955, không rõ là bao nhiêu năm, mảnh đất nhà cây liễu được trao cho ông Trịnh Đình Cửu, một trong số ít người tham gia thành lập chi bộ Đảng Cộng sản đầu tiên ở số 5D Hàm Long và sau đấy là đại biểu dự hội nghị thành lập Đảng ở một sân bóng bên Hồng Kông năm 1930. Vào trước năm 1990, khi ông Cửu còn sống, các ông Trường Chinh, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng, Hoàng Văn Hoan... thường đến thăm và thường ngồi dưới cây thị cổ thụ ấy. Phảng phất đâu đây nhà cây liễu lại hiện về phủ cái ánh sáng kỳ ảo của dĩ vãng lên toà biệt thự 3 tầng, kiểu trúc theo kiểu Anh Cát Lợi rất quen thuộc thường gặp ở phía sau đường Ken-xinh-ton bên Luân Đôn. Ở phía chính diện của biệt thự xây hình vòng cung có 4 khung cửa chớp hình vòm cao gần hết tường nhà tầng 2. Phía ngoài tường ngang cổng vào, số 29 nhỏ được ghi ở bên trái. Nó giản dị và khiêm nhường đứng giữa lối rẽ của 2 con đường như muốn chẳng nói điều gì với ai.
Mảnh đất nhà cây liễu mà người làng Yên Phụ đã chỉ cho chúng tôi có bao
nhiêu đổi thay thì cây liễu còn chi nữa để mà trách nó vô tình như các thi sĩ
đời Đường thời xưa, dù chỉ là những vần thơ thất ngôn tứ tuyệt man mát nỗi buồn
nhân thế. Điều quan trọng là văn chương Thạch Lam vẫn còn sống. Sự nghiệp của
ông góp phần vào tiếng nói chung của văn học thế kỷ 20 một điều thật giản dị.
Vấn đề quyết định không phải ở bản thân các đề tài văn chương mà là ở rung cảm
thẩm mĩ sâu xa được thôi thúc và ràng buộc bởi chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa
nhân văn trước những vấn đề của cuộc sống, dù đó là thử thách quyết liệt của
người lính Việt Nam nhỏ bé áo rách tả tơi cả một thế kỉ chiến tranh phải chiến
đấu chống lại kẻ thù mạnh hơn mình gấp bội hay của những người nông dân vật vã
biết chừng nào để bắt sỏi đá phải thành sắn gạo cũng như những cảnh sắc và cuộc
sống êm đềm nơi phố huyện làng quê, nơi những cuộc đời thường chỉ biết làm việc
thiện... Như thế trong văn học các đề tài là ngang bằng nhau...
Tự dưng tôi chỉ mong ước nếu có thể sẽ dùng tên Thạch Lam để đặt cho con đường hiện vẫn không tên chạy quanh doi đất giữa hồ Tây và hồ Ao Vả của làng Yên Phụ và ngôi biệt thự ở ngã ba ấy sẽ được ghi Nhà 29 - Thạch Lam. Như là sự nhắc nhở tên gọi của một người đã viết ra Hà Nội băm sáu phố phường.
Tự dưng tôi chỉ mong ước nếu có thể sẽ dùng tên Thạch Lam để đặt cho con đường hiện vẫn không tên chạy quanh doi đất giữa hồ Tây và hồ Ao Vả của làng Yên Phụ và ngôi biệt thự ở ngã ba ấy sẽ được ghi Nhà 29 - Thạch Lam. Như là sự nhắc nhở tên gọi của một người đã viết ra Hà Nội băm sáu phố phường.
Dòng họ Nguyễn Tường vốn gốc họ Nguyễn Văn quê ở huyện Tống Sơn - Thanh Hóa.
Đã di cư vào Gia Định từ thời chúa Nguyễn. Năm Đinh Tỵ (1797) tổ phụ của Thạch
Lam theo Nguyễn Ánh ra đánh Quảng Nam. Đương khi hành quân, Nguyễn Anh trỏ vào
một ngọn núi hỏi tên gì? Ông ấy thưa là núi Phước Tường. Nguyễn Ánh bảo: Nguyễn
Phước là họ của ta. Ta ban cho ngươi họ Nguyễn Tường. Từ đấy dòng họ Nguyễn
Tường của Thạch Lam chọn làng Cẩm Phô huyện Diên Phước (nay thuộc thị xã cổ Hội
An) làm nơi phát tường địa. Người cưỡi ngựa đi cùng Nguyễn Ánh năm ấy, sau này
là Nguyễn Tường Vân, giữ nhiều chức vụ cao trong triều Nguyễn như tham tri bộ
hộ, thượng thư bộ binh. Năm 1819 làm Hộ tào ở Bắc thành- Hà Nội. Sau 1820, khi
Gia Long Nguyễn Ánh chết, Nguyễn Tường Vân được cử làm phó tổng trấn Bắc Thành.
Cổng của ngôi thành ấy dường như cách nhà cây liễu, hậu duệ của ông có thời cư
ngụ chỉ đôi ba dặm đường mà thôi.
Kẻ hậu duệ ấy, dáng người cao mảnh. Mũ Fléchet đội đầu. Khuôn mặt thanh tú
mà hiền hậu. Mỗi buổi sáng vẫn thường thong thả đi trong sương mù hồ Tây từ nhà cây liễu qua đường Cổ Ngư đến số 80 phố Quán Thánh. Trụ sở một thời của Phong
hóa và Ngày Nay. Ở ngay dưới chân tường thành Hà Nội. Mặc ai khanh tướng công
hầu. Người ấy tự nguyện làm cái nghề xưa nay được cho là bạc tình nhất mà cũng
ân tình nhất thiên hạ - nghề viết văn - để ngợi ca vẻ đẹp tươi thắm của văn hóa
Việt Nam.
Khuất Bình Nguyên








Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét