Thứ Ba, 14 tháng 1, 2020

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ 2

Lịch sử Việt Nam thời tự chủ 2
10. Lý Thái Tông dẹp nội loạn, đánh Chiêm Thành
Niên hiệu: Thiên Thành: 1028-1033; Thông Thụy: 1034-1038; Càn Phù Hữu Đạo: 1041; Minh Đạo:1042-1043; Thiên Cảm Thánh Vũ: 1044; Sùng Hưng Đại Bảo 1053.
Hai triều đại Đinh, Lê trước đó đều xảy ra tệ trạng anh em tranh ngôi; triều Lý cũng dẫm vào vết xe đổ. Tuy nhiên, Vua Lý Thái Tổ đã chuẩn bị sẵn cho trường hợp này nên từng giao cho người con được chỉ định làm Vua là Thái tử Phật Mã cầm quân dẹp giặc nhiều lần, có sẵn uy tín với các tướng lãnh dưới quyền. Nên sau khi Vua mất, các Hoàng tử tranh quyền, Thái tử Phật Mã bèn giao cho các tướng đánh dẹp; không phải trực tiếp nhúng tay vào việc anh em giết nhau; nhờ vậy chính quyền được chuyển tiếp một cách nhánh chóng. Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, [Bản Kỷ, quyển 2] thuật lại như sau:
“Thuận Thiên năm thứ 19 [1028] Mùa xuân, tháng 2, vua không khỏe. Ngày Mậu Tuất, vua băng ở điện Long An. Bề tôi đều đến cung Long Đức xin thái tử vâng di chiếu lên ngôi. Ba vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức nghe tin đều đem quân ở phủ mình vào phục sẵn trong cấm thành. Đông Chinh Vương phục ở trong Long Thành, hai vương Dực Thánh và Vũ Đức phục trong cửa Quảng Phúc, đợi thái tử đến thì đánh úp. Một lát sau, thái tử từ cửa Tường Phù vào, đến điện Càn Nguyên, biết có biến, sai người hầu đóng hết các cửa điện và sai các vệ sĩ trong cung phòng giữ, nhân bảo tả hữu rằng:
“Ta đối với anh em không phụ bạc chút nào. Nay ba vương làm việc bất nghĩa, quên di mệnh của Tiên đế, mưu chiếm ngôi báu, các khanh nghĩ thế nào?”
Nội thị là Lý Nhân Nghĩa nói:
“Anh em với nhau, bên trong có thể hiệp sức bàn mưu, bên ngoài có thể cùng nhau chống giặc. Nay ba vương làm phản, thì là anh em hay là kẻ thù? Xin cho bọn thần đánh một trận để quyết được thua”.
Thái tử nói:
“Ta lấy làm xấu hổ là Tiên đế mới mất chưa quàn mà cốt nhục đã giết nhau, há chẳng để cho muôn đời chê cười sao?”
Nhân Nghĩa nói:
“Thần nghe rằng muốn mưu xa thì phải quên công gần, giữ đạo công thì phải dứt tình riêng, đó là việc Đường Thái Tông và Chu Công Đán bất đắc dĩ phải làm.[1] Nay điện hạ có cho Đường Thái và Chu Công là chăm mưu xa, giữ đạo công chăng? Hay là tham công gần, đắm tình riêng chăng? Điện hạ biết theo dấu cũ của Đường Thái, Chu Công thì đời sau ca tụng công đức còn chưa rỗi, còn rỗi đâu mà chê cười!”.
Nhân Nghĩa lại nói:
“Tiên đế cho điện hạ là người hiền, đủ để nối được chí, tài đủ để làm nổi việc, nên đem thiên hạ phó thác cho điện hạ. Nay giặc đến vây bức cửa cung mà ẩn nhẫn như thế, thì đối với sự phó thác của Tiên đế ra sao?”
Thái tử im lặng hồi lâu rồi bảo Nhân Nghĩa và bề tôi trong cung là bọn Dương Bình, Quách Thịnh, Lý Huyền Sư, Lê Phụng Hiểu rằng:
“Ta há lại không biết việc làm của Đường Thái, Chu Công hay sao? Chỉ vì ta muốn che giấu tội ác của ba vương, khiến họ tự ý rút quân chịu tội để được vẹn toàn tình cốt nhục là hơn”.
Khi ấy phủ binh của ba vương vây bức càng gấp, Thái tử liệu không thể ngăn được, nói:
“Thế đã như vậy, ta còn mặt mũi nào trông thấy ba vương nữa. Ta chỉ biết làm lễ thành phục [2] đứng hầu Tiên đế, ngoài ra đều ủy cho các khanh cả”.
Bọn Nhân Nghĩa đều lạy hai lạy nói:
“Chết vì vua gặp nạn là chức phận của bọn thần. Nay đã được chỗ đáng chết, còn từ chối gì nữa!”
Bèn ra lệnh cho vệ sĩ trong cung mở cửa ra đánh, ai cũng vui lòng xông pha, đều là một người địch với trăm người. Quân đánh nhau chưa phân được thua, Phụng Hiểu tức giận rút gươm chạy thẳng đến cửa Quảng Phúc hô to rằng:
“Bọn Vũ Đức Vương ngấp nghé ngôi báu, không coi vua nối dõi vào đâu, trên quên ơn Tiên đế, dưới trái nghĩa tôi con, vì thế thần là Phụng Hiểu xin đem thanh gươm này để dâng”.
Rồi xông thẳng đến chỗ ngựa của Vũ Đức Vương. Vương quay ngựa tránh, ngựa quỵ xuống, bị Phụng Hiểu bắt giết. Phủ binh của ba vương thua chạy. Quan quân đuổi theo chém giết không sót một mống, chỉ có hai vương Đông Chinh và Dực Thánh chạy thoát được.
Bọn Phụng Hiểu trở về, mặc áo trận đi vào báo tin thắng trận ở trước linh cữu Thái Tổ, rồi đến điện Càn Nguyên báo cho thái tử biết. Thái tử úy lạo rằng:
“Ta sở dĩ được gánh vác cơ nghiệp to lớn của tiên đế, toàn vẹn được thân thể của cha mẹ để lại đều là nhờ sức của các khanh cả. Ta thường xem sử nhà Đường thấy Uất Trì Kính Đức giúp nạn vua, tự nghĩ là bề tôi đời sau không ai sánh được. Ngày nay gặp biến, mới biết Phụng Hiểu còn trung dũng hơn Kính Đức nhiều”.
Phụng Hiểu lạy tạ hai lạy nói:
“Đức của điện hạ cảm động cả trời đất, kẻ nào manh tâm mưu đồ gì khác thì trời đất thần linh đều làm hết chức phận mà giết đi, bọn thần có công sức gì!”
“Ngày Kỷ Hợi [1028], Thái tử Phật Mã lên ngôi trước linh cữu. Tôn mẹ là Lê thị làm Linh Hiển thái hậu. Đại xá thiên hạ. Đổi niên hiệu là Thiên Thành năm thứ 1.
Ngày ấy, hai vương Đông Chinh và Dực Thánh đến cửa khuyết xin chịu tội. Xuống chiếu tha cho, lại cho tước như cũ.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Ngoài việc ba Vương làm loạn nơi kinh sư; tại phủ Trường Yên thuộc tỉnh Ninh Bình ngày nay, Khai Quốc Vương cậy có sông núi hiểm trở tụ tập những kẻ trốn tránh cùng đem binh trong phủ làm loạn. Tháng 4 [1028], vua thân chinh đi đánh, Khai Quốc Vương đầu hàng, bèn tha cho và phong tước như cũ:
“Mùa hạ, tháng 4, vua thân đi đánh phủ Trường Yên, cho nội thị Lý Nhân Nghĩa ở lại giữ Kinh sư. Ngày Nhâm Thân đến Trường Yên. Ngày ấy, Khai Quốc Vương đầu hàng. Vua hạ lệnh rằng:
‘Ai cướp bóc của cải của dân thì chém’.
Quân sĩ nghiêm theo, không mảy may xâm phạm. Đại quân vào thành Trường Yên, dân trong thành đem dâng biếu trâu rượu đứng đầy đường. Vua sai sứ tuyên chỉ úy lạo, cả thành vui to. Xuống chiếu dời Khai Quốc Vương và các liêu thuộc của vương về kinh Thăng Long. Vua từ phủ Trường Yên về, xuống chiếu tha tội cho Khai Quốc Vương, vẫn cho tước như cũ.”
Mới lên ngôi, các địa phương có những cuộc nổi dậy, do đó hầu như hàng năm vua phải thân chinh đi đánh dẹp, giúp cho đất nước trở nên ổn định hơn:
“Năm Thiên Thành thứ 2 [1029], tháng 3 Giáp Đản Nãi ở châu Ái [Thanh Hóa] làm phản. Mùa hạ, tháng 4, ngày mồng 1, vua thân đi đánh giáp Đản Nãi, cho Đông cung thái tử ở lại Kinh sư làm Giám quốc. Khi đánh được giáp Đản Nãi rồi, sai Trung sứ đốc suất người Đản Nãi đào kênh Đản Nãi. Vua từ Đản Nãi trở về Kinh sư.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“Năm Thiên Thành thứ 4 [1031]. Mùa xuân, tháng giêng, châu Hoan [Nghệ An] làm phản.
Tháng 2, ngày mồng 1, vua thân đi đánh châu Hoan, cho Đông cung thái tử làm Giám quốc.
Quân đi từ Kinh sư đến châu Hoan, người châu ấy đầu hàng. Xuống chiếu tha tội cho các quan châu huyện, sai Trung sứ phủ dụ dân chúng. Tháng 3, vua từ châu Hoan về đến Kinh.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“Năm Thiên Thành thứ 6 [1033]. Châu Định Nguyên [3] làm phản. Tháng 2, vua thân đi đánh, cho Đông cung thái tử giám quốc. Mồng 8, quân đi từ Kinh sư, đóng lại ở châu Chân Đăng, có người đàn bà họ Đào dâng con gái, vua nhận cho làm phi. Ngày 17, dẹp được châu Định Nguyên, đem quân về.”
Tháng 9, châu Trệ Nguyên [4] làm phản. Mùa đông, tháng 10, vua thân đi đánh châu Trệ Nguyên, cho Khai Hoàng Vương giám quốc. Dẹp yên châu Trệ Nguyên. Tháng 12, ngày mồng 1, vua đem quân về.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“Năm Thông Thụy thứ 2 [1035], người châu Ái [Thanh Hóa] làm phản. Mùa đông, tháng 10, vua thân đi đánh, cho Phụng Càn Vương lưu thủ Kinh sư. ..Tháng 11, ngày mồng 1, vua từ châu Ái về đến Kinh, làm tiệc rượu mừng việc trở về. Úy lạo các tướng sĩ có công dẹp châu Ái.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“NămThông Thụy thứ 3 [1036] Mùa đông, tháng 10, đạo Lâm Tây [5] vào cướp trâu ngựa, đốt nhà cửa rồi về.”
Bởi vậy vào năm sau, Vua Lý Thái Tông thân chinh đi đánh:
“NămThông Thụy thứ 4 [1037. Mùa xuân, tháng 2, ngày mồng 1, vua thân đi đánh đạo Lâm Tây, sai Khai  Hoàng Vương Nhật Tôn làm Đại nguyên soái đánh các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên, cho Phụng Càn Vương Nhật Trung làm Kinh sư lưu thủ. Quân đi từ Kinh sư đến đóng ở Lâm Tây, dẹp yên được. Tháng 3, vua từ đạo Lâm Tây về đến kinh.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Sử Trung Quốc xác nhận sự kiện cướp phá các châu như Tư Lăng, Bằng Tường, thuộc Bằng Tường thị, tỉnh Quảng Tây hiện nay; thủ phạm là dân Việt thuộc động Giáp [Lạng Sơn] cùng các châu lân cận. Xét về phương diện địa lý, sử Trung Quốc hợp lý hơn vì động Giáp [Lạng Sơn] gần Bằng Tường, Tư Lăng. Riêng Toàn Thư nước ta chép “các châu Đô Kim, Thường Tân, Bình Nguyên làm phản, xâm lấn các châu Tư Lăng của nước Tống”; [6] sự kiện khó có thể xãy ra vì vị trí các châu này thuộc các tỉnh Lao Cai, Tuyên Quang, Hà Giang hiện nay, xa xôi với Tư Lăng, Bằng Tường:
“Trường Biên quyển 118. Năm Cảnh Hựu thứ 3[1036], ngày Nhâm Thân tháng 2 [23/3/1036] Quảng Tây chuyển vận sứ báo man động Giáp cướp đoạt súc vật tại châu Tư Lăng [Bằng Tường thị, Quảng Tây], động Bằng Tường [Bằng Tường Thị, Quảng Tây] thuộc Ung châu, giết Đăng Uyển Trấn tướng; đã họp binh lại đánh. Giao Chỉ phụ truyện chép: Vào năm Cảnh Hựu thứ 3 [1036], động Giáp [Lạng Sơn] cùng dân man châu Lạng, châu Môn [Lạng Sơn], châu Tô Mậu [Quảng Ninh] , châu Quảng Nguyên [Cao Bằng], động Đại Phát, huyện Đơn Ba [Lạng Sơn]; cướp phá châu Tư Lăng, châu Tây Bình [Bằng Tường thị, Quảng Tây], châu Thạch Tây [trấn Thạch Tây, Quảng Tây] cùng các động; cướp trâu bò, ngựa, người, đốt nhà cửa rồi bỏ đi. Đã xuống chiếu trách vấn, cùng lệnh bắt các Tù trưởng trị tội, rồi báo cho biết. Chính truyện cũng chép như thế; nay chỉ theo Thực Lục.” [7]
Một vụ nỗi dậy khác có tầm vóc lớn, kéo dài đến tận đời con, xảy ra tại tỉnh Cao Bằng vùng biên giới phía bắc, lấn sang đến tận Tĩnh Tây thị, tỉnh Quảng Tây hiện nay; đó là cuộc nỗi dậy của cha con Nùng Tồn Phúc, Nùng Trí Cao; Toàn Thư [Bản Kỷ, quyển 2] thuật lại như sau:
“Năm Thông Thụy thứ 5 [1038], tháng 12, Nùng Tồn Phúc ở châu Quảng Nguyên [8] làm phản.
Năm Thông Thụy thứ 6 [1039]. Mùa xuân, tháng giêng, thủ lĩnh Tây Nông [9] là Hà Văn Trinh đem việc Tồn Phúc làm phản tâu lên. Trước đây Tồn Phúc là thủ lĩnh châu Thảng Do, [10] em là Tồn Lộc làm thủ lĩnh châu Vạn Nhai. [11] Em trai của A Nùng, vợ Tồn Phúc, là Đương Đạo làm thủ lĩnh châu Vũ Lặc [12] đều thuộc châu Quảng Nguyên, hàng năm nộp cống đồ thổ sản. Sau Tồn Phúc giết Tồn Lộc và Đương Đạo, chiếm luôn cả đất, tiếm xưng là Chiêu Thánh Hoàng Đế, lập A Nùng làm Minh Đức Hoàng Hậu, phong cho con là Trí Thông làm Nam Nha Vương, đổi châu ấy gọi là nước Trường Sinh, sửa soạn binh giáp, đắp thành kiên cố để tự giữ, không nộp cống xưng thần nữa.
Tháng 2, vua tự làm tướng đi đánh Tồn Phúc, cho Khai Hoàng Vương Nhật Tôn làm Giám quốc. Quân đi từ Kinh sư, qua bến Lãnh Kinh, [13] có cá trắng nhảy vào thuyền. Đến châu Quảng Nguyên, Tồn Phúc nghe tin đem cả bộ lạc vợ con trốn vào chằm núi. Vua cho quân đuổi theo bắt được Tồn Phúc và bọn Trí Thông năm người. Chỉ có vợ là A Nùng, con là Trí Cao chạy thoát. Đóng cũi bọn Tồn Phúc đem về Kinh sư, sai quân san phẳng thành hào, chiêu dụ tộc loại còn sống sót, vỗ về yên ủi rồi đem quân về.
Tháng 3, vua từ Quảng Nguyên về Kinh sư, xuống chiếu rằng:
“Trẫm từ khi có thiên hạ đến giờ, đối với tướng văn tướng võ cùng các bề tôi không thiếu đại tiết, phương xa cõi lánh, không đâu không đến xưng thần, mà họ Nùng nối đời giữ bờ cõi vẫn thường cúng nộp đồ cống. Nay Tồn Phúc càn rỡ tự tôn, cả tiếm vị hiệu, ra mệnh lệnh, tụ họp quân ong bọ, làm hại dân chúng biên thùy. Trẫm vâng mệnh trời đi đánh, bắt được bọn Tồn Phúc năm tên, đều chém ở chợ kinh đô”.
Sau khi giết Nùng Tồn Phúc, người con là Nùng Trí Cao và mẹ là A Nùng trốn tại vùng đất Trung Quốc lại tiếp tục trở về châu Thảng Do, Cao Bằng gây loạn; lần này vua Lý Thái Tông chủ trương mềm dẻo ky my, bắt nhưng không giết, cho trở về quê cũ, lại cấp thêm đất:
“Năm Càn Phu Hữu Đạo thứ 3 [1041], Năm ấy, Nùng Trí Cao cùng với mẹ là A Nùng từ động Lôi Hỏa [14] lại về chiếm cứ châu Thảng Do, đổi châu ấy làm nước Đại Lịch. Vua sai tướng đi đánh, bắt sống được Trí Cao đem về Kinh sư. Vua thương tình vì cha là Tồn Phúc và anh là Trí Thông đều đã bị giết nên tha tội, cho giữ châu Quảng Nguyên như cũ, lại phụ thêm cho bốn động Lôi Hỏa, Bình, An, Bà và châu Tư Lang [15] nữa.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Hai năm sau, nhà Vua lại đặc cách ban ấn cho Trí Cao cùng phong chức Thái Bảo:
“Năm Minh Đạo thứ 2 [1043].Tháng 9, ngày mồng 1, sai Ngụy Trưng đến châu Quảng Nguyên, ban cho Nùng Trí Cao đô ấn, phong làm Thái bảo.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Việt Sử Lược chép vào tháng chạp năm Thiên Cảm Thánh Vũ [1044], Nùng Trí Cao đến triều cận:
“Thái bảo Nùng Trí Cao đến triều” Việt Sử Lược quyển trung.
Với chính sách ky my, Vua Thái Tông từng sử dụng trước đó, như khi gả công chúa cho các tù trưởng miền núi để ràng buộc bằng tình thân, làm vững phên dậu:
“Năm Thông Thụy thứ 3 [1036], Tháng 3, gả công chúa Kim Thành cho châu mục châu Phong [16] là Lê Tông Thuận. Mùa thu, tháng 8, gả công chúa Trường Ninh cho châu mục châu Thượng Oai [17] là Hà Thiện Lãm.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Tuy nhiên đối với Nùng Trí Cao, chính sách mềm dẽo này cũng không có hiệu quả, năm 1048 y lại chiếm giữ động Vật Ác [18] làm phản, triều đình phải mang quân đi đánh dẹp. Sau đó 4 năm [1052] đồng bọn lại quay sang đánh Trung Quốc, chiếm thành Ung châu [Nam Ninh, Quảng Tây] rồi xuôi theo dòng sông Uất chiếm nhiều châu khác, đến tận Quảng châu [Quảng Đông] (sự việc này chúng tôi sẽ trình bày trong một bài nghiên cứu riêng):
“Năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 5 [1048], Nùng Trí Cao làm phản, chiếm giữ động Vật Ác. Sai Thái úy Quách Thịnh Dật đi đánh. Vừa mới giao chiến, trời đất bỗng tối mù, một lát nghe tiếng sét đánh trong động, thân thể các tù trưởng động ấy bị xé tan, cả động kinh hãi. Trí Cao phải hàng. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Tiếp theo trình tự thời gian, Toàn Thư thực lục về các cuộc dẹp loạn khác dưới thời Lý Thái Tông như sau:
“Năm Minh Đạo thứ 2 [1043], Mùa xuân, tháng giêng, châu Ái [Thanh Hóa] làm phản. Châu Văn [Lạng Sơn] [19] làm phản.
Tháng 3, ngày mồng 1, cho Khai Hoàng Vương [Nhật Tông] làm Đô thống đại nguyên soái đi đánh châu Ái. Phụng Càn Vương [Nhật Trung] làm Đô thống nguyên soái đi đánh châu Văn. Dẹp yên châu Văn, Phụng Càn Vương dâng 4 con ngựa tốt bắt được. Vua đặt tên cho ngựa là Tái Thiên, Quảng Thắng, Truy Phong, Nhật Ngự.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Nhân nước Chiêm Thành thường lợi dụng gió mùa mang quân đến cướp bóc, nhà Vua quyết định thân chinh đánh dẹp, đến tận kinh đô Phật Thệ, quân ta toàn thắng, giết vua Chiêm Thành Sạ Đẩu:
Mùa hạ, tháng 4 [1043], “giặc gió sóng” (nghĩa là nhân gió sóng mà đi cướp) Chiêm Thành cướp bóc dân ven biển. Vua sai Đào Xử Trung đi đánh, dẹp yên được.
Vua hỏi tả hữu rằng:
“Tiên đế mất đi, đến nay đã 16 năm rồi, mà Chiêm Thành chưa từng sai một sứ giả nào sang là cớ gì? Uy đức của trẫm không đến họ chăng? Hay là họ cậy có núi sông hiểm trở chăng?”
Các quan đáp:
“Bọn thần cho rằng đó là vì đức của bệ hạ tuy có đến nhưng uy thì chưa rộng. Sao thế? Vì từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, họ trái mệnh không đến chầu, bệ hạ chỉ ban ơn để vỗ về, chưa từng ra oai dùng võ để đánh phạt, đó không phải là cách làm cho người ta sợ oai. Bọn thần e rằng các chư hầu khác họ trong nước đều như Chiêm Thành cả, há chỉ riêng người Chiêm mà thôi đâu”.
Vua từ đấy quyết ý đánh Chiêm Thành.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.      
“Năm Minh Đạo năm thứ 3 [1044]. Mùa xuân, tháng giêng, phát khí giới trong kho ban cho các quân. Ngày Quý Mão, vua thân đi đánh Chiêm Thành, cho Khai Hoàng Vương Nhật Tông làm Lưu thủ Kinh sư. Ngày ấy Hữu ty đem dâng túi mật to bằng quả bưởi lấy được khi làm cỗ thiếu lao [20] cúng thần núi. Vua nói đùa rằng:
‘Chữ “đảm” (mật) âm gần với chữ “đam” (vui), còn thiếu lao (nghĩa đen là khó nhọc ít) mà có mật to, có lẽ là điềm báo cho ta biết chỉ khó nhọc một chút mà được vui lớn’.
Ngày Giáp Thìn, quân đi từ Kinh sư, ngày Ất Tỵ, đến cửa biển Đại Ác, gặp lúc sóng gió yên lặng, đại quân qua biển dễ dàng, cho nên đổi tên Đại Ác làm Đại An. [21] Đến núi Ma Cô, [22] có đám mây tía bọc lấy mặt trời. Qua vụng Hà Não, [23] có đám mây che thuyền ngự, theo thuyền mà đi hoặc ngừng. Ngày hôm ấy đến đóng doanh ở cửa biển Trụ Nha (có bản chép Trụ Thân). Ngày hôm sau đi, nhờ thuận gió, trong một ngày qua hai bãi Đại Tiểu Trường Sa. [24] Đến cửa biển Tư Khách, [25] có con cá trắng nhảy vào thuyền. Vua nghe tin Chiêm Thành đem quân và voi bày trận ở bờ nam sông Ngũ Bồ [Theo Đào Duy Anh là hạ lưu sông Thu Bồn, Quảng Nam] muốn chống cự quan quân. Vua truyền cho quân bỏ thuyền lên bộ, đem quân sĩ lên bờ bắc, thấy quân Chiêm đã dàn ở bên sông. Vua mới cắt đặt quân sĩ dựng cờ nổi trống, sang tắt ngang sông đánh. Binh lính chưa chạm mà quân Chiêm đã tan vỡ, quan quân đuổi chém được 3 vạn thủ cấp. Quách Gia Di chém được đầu vua Chiêm là Sạ Đẩu tại trận đem dâng. Đoạt được hơn 30 voi thuần, bắt sống hơn 5 nghìn người, còn thì bị quan quân giết chết, máu nhuộm gươm giáo, xác chất đầy đồng. Vua tỏ ý cảm khái, xuống lệnh rằng:
‘Kẻ nào giết bậy người Chiêm Thành thì sẽ giết không tha.’
Mùa thu, tháng 7, vua đem quân vào thành Phật Thệ [26] bắt vợ cả, vợ lẽ của Sạ Đẩu và các cung nữ giỏi hát múa khúc điệu Tây Thiên.[27] Sai sứ đi khắp các hương ấp phủ dụ dân chúng.
Tháng 9, ngày mồng 1, đến phủ Trường Yên, có rồng vàng hiện ở thuyền ngự. Khi đến hành điện Ly Nhân, [28] sai nội nhân thị nữ gọi Mỵ Ê là phi của Sạ Đẩu sang hầu thuyền vua. Mỵ Ê phẫn uất khôn xiết, ngầm lấy chăn quấn vào mình nhảy xuống sông chết. Vua khen là trinh tiết, phong là Hiệp Chính Hựu Thiện phu nhân.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Chiến thắng Chiêm Thành ảnh hưởng lớn sang tận Trung Quốc, Vua Nhân Tông nhà Tống nghe tin, sợ quân ta thừa thắng sang đánh miền Quảng Đông, Quảng Tây, nên ra lệnh đề phòng:
“Trường Biên, quyển 158. Năm Khánh Lịch thứ 6 [1046]
Ngày Ký Sửu tháng 3 [17/4/1046], Thiên tử bảo các quan phụ tá rằng:
‘Nghe tin Lý Đức Chính đất Giao châu mới chiếm lấy Chiêm Thành, sợ ôm mưu gian gây mối lo cho miền Ngũ Lãnh [Quảng Đông, Quảng Tây]; cần hạ lệnh cho ty chuyển vận Quảng Tây dự bị chế ngự rồi trình lên.’
Ngay lúc này viện Khu Mật cho kiểm soát từ đời Đường trở lại gồm 16 xứ đường bộ, ra lệnh Chuyển vận sứ Đỗ Kỷ mật giám sát, mang quân đến phòng thủ.” [29]
Sau khi chinh phục Chiêm Thành, nhà Vua lại sai tướng mang quân sang phía tây đánh nước Ai Lao:
“Năm Thiên Cảm Thánh Vũ thứ 5 [1048], Mùa thu, tháng 9, sai tướng quân là Phùng Trí Năng đi đánh Ai Lao, bắt được người và gia súc rất nhiều đem về.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Chú thích:
[1] Trưởng Tôn Vô Kỵ và Uất Trì Kính Đức giết hai anh của Lý Thế Dân là Kiến Thành và Nguyên Cát để giữ ngôi vua cho Thế Dân [Đường Thái Tông]. Chu Công Đán giết em là Quản Thúc và đày một em khác là Thái Thúc để giữ ngôi vua cho cháu là Thành Vương.
[2] Lễ thành phục: tên nghi thức lễ tang, bắt đầu chít khăn mặc áo tang.
[3] Định Nguyên, người dịch Toàn Thư chú: tên châu thời Lý, có lẽ là miền thuộc tỉnh Yên Bái.
[4] Trệ Nguyên, người dịch Toàn Thư chú: tên châu thời Lý, Cương mục chua “không thảo được” (CMCB2, 38a), có thể ở gần châu Định Nguyên.
[5] Lâm Tây: tên đạo thời Lý, Cương Mục chú, nhà Trần gọi là đạo Đà Giang, thời thuộc Minh gọi là châu Gia Hưng, nhà Lê đổi là phủ Gia Hưng. Nay là đất hai tỉnh Sơn La, Lai Châu.
[6] Đô Kim: Theo Cương Mục là huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang; Thường Tân, chú thích của người dịch Toàn Thư: chưa rõ chỗ nào trong tỉnh Hà Tuyên; Bình Nguyên: tên châu đời Lý, từ đời Lê trở về sau gọi là châu Vị Xuyên; gồm các huyện Hà Tuyên, Bắc Quang, Hoàng Su Phì tỉnh Hà Tuyên hiện nay.
[7] 壬申,廣西轉運使言,邕州甲峒蠻掠思陵州憑詳峝生口及殺登琬鎮將,已會兵追擊之。交趾附傳云:三年,其甲峒及諒州【二】、門州、蘇茂州、廣源州、大發峒、丹波縣蠻寇邕州之思陵州、西平州、石西州及諸峒【三】,掠居人馬牛,焚室廬而去。下詔責問之,且令捕酋首正其罪以聞。正傳同此。今但從實錄。
[8] Quảng Nguyên: tên châu thời Lý, thời thuộc Minh thuộc về đất Uyên huyện, thời Lê đổi là châu Lộng Nguyên. Nay là đất các huyện Quảng Uyên, Phúc Hòa, Thạnh An, tỉnh Cao Bằng.
[9] Tây Nông: tên châu, nay là huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
[10] Thảng Do: tên châu thời Lý, nơi Nùng Trí Cao làm phản lập ra nước Đại Lịch, ở về phần đất tỉnh Cao Bằng ngày nay.
[11] Vạn Nhai: tên châu thời Lý, nay là phần đất huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn và một phần huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
[12] Vũ Lặc: tên châu, chưa rõ ở đâu. Cương mục dẫn Đường thư, Địa lý chí: “Nhà Đường đặt Lung Châu quản lĩnh huyện Vũ Lặc” và cho rằng hai châu Thảng Do, Vũ Lặc có lẽ ở vào địa hạt tỉnh Cao Bằng và tỉnh Lạng Sơn ngày nay (CMCB2, 43a).
[13] Lãnh Kinh: có lẽ là khúc sông Cầu chảy qua Thị Cầu, tỉnh Hà Bắc.
[14] Lôi Hỏa: tên động, ở phía tây bắc tỉnh Cao Bằng ngày nay. Các động Bình, An, Bà đều thuộc về đất tỉnh Cao Bằng.
[15] Tư Lang: nay là đất huyện Trùng Khánh và phần đất đông bắc huyện Quảng Hòa vùng quanh Hạ Lang, tỉnh Cao Bằng.
[16] Phong châu: huyện Tiên Phong, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây.
[17] Thượng Oai: theo Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời cua Đào Duy Anh trang 121, Thượng Oai có thể là một châu tại tỉnh Sơn Tây.
[18] Vật Ác: Theo văn bản Trường Biên, quyển 349, năm Nguyên Phong thứ 7 [1084]:Vào thời Gia Hựu [1056-1059], bọn Nùng Tôn Đán đem động Vật Ác qui phụ, ban tên Thuận An châu; vùng đất hiện nay nằm trong Tĩnh Tây thị, tỉnh Quảng Tây.
[19] Châu Văn, thuộc tỉnh Lạng Sơn. Nhà Lý gọi là Văn Châu; khi thuộc Minh gọi là châu Thượng Văn và châu Hạ Văn; nhà Lê gọi là châu Văn Uyên. Nay vẫn là châu Văn Uyên.
[20] Vua cúng đàn xã tắc thì dâng cỗ thái lao (trâu, dê, lợn mỗi thứ một con), cúng thần sông núi thì dâng cỗ thiếu lao (dê, lợn mỗi thứ một con).
[21] Đại An: tên cửa biển, tức Cửa Liêu ở huyện Hải Hậu; vùng giáp giới các tỉnh Ninh Bình, Nam Định.
[22] Núi Ma Cô: theo Cương mục, còn có tên núi là Lễ Đễ, ở ngoài biển huyện Kỳ Anh  tỉnh Hà Tĩnh ngày nay.
[23] Vụng Hà Não (Hà Não loan): Cương mục chua sông Ngũ Bồ, vụng Hà Não đều không khảo được (CMCB3, 10a).
[24] Đại Tiểu Trường Sa: bãi cát từ cửa Nhật Lệ đến Cửa Tùng là Đại Trường Sa; bãi cát từ Cửa Việt đến cửa Tư Hiền, là Tiểu Trường Sa.
[25] Tư Khách: tên cửa biển đúng tên thời Lý gọi là cửa Ô Long, thời Trần đổi gọi là cửa Tư Dung (do tên huyện Tư Dung, châu Hóa); đời Mạc, vì kiêng húy Mạc Đăng Dung nên đổi gọi là Tư Khách. Thời Nguyễn đổi là Tư Hiền như tên gọi hiện nay, ở phía đông nam tỉnh Thừa Thiên.
[26] Phật Thệ, chú thích của người dịch Toàn Thư: Phật thành tức là thành Phật Thệ (Vijaya), Cũng gọi là thành Đồ Bàn, kinh đô của Chiêm Thành; ở về phía Bắc thành phố Quy Nhơn ngày nay khoảng 27 Km.
[27] Tây Thiên khúc điệu: ở đây có thể là những khúc hát và múa Chiêm Thành có nguồn gốc Ấn Độ (Tây Thiên, chỉ Ấn Độ).
[28] Lý Nhân: nay là đất huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
[29] 己丑,上謂輔臣曰:「如聞交州李德政近取占城,慮漸畜姦謀為五嶺之患,宜下廣西轉運司豫經制以聞。」於是樞密院檢自唐以來通交趾水陸道路凡一十六處,令轉運使杜杞密行按視,置兵戍守。
11. Ngoại giao và kinh tế dưới triều Lý Thái Tông
Ngược dòng thời gian, hãy bàn sang lãnh vực ngoại giao giữa hai nước Trung Việt. Tục Tư Trị Trường Biên chép rằng sau khi Vua Lý Thái Tổ mất, nhà Tống lập tức điều quân xuống tỉnh Quảng Tây để phòng lúc hữu sự:
“Trường Biên, quyển 106. Tống Nhân Tông năm Thiên Thánh thứ 6 [1028]
Ngày Ky Mão tháng 6 [10/7/1028], Quảng Tây Chuyển vận ty báo Tĩnh hải tiết độ sứ đồng bình chương sự An Nam đô hộ Nam bình vương Lý Công Uẩn mất, các con giành ngôi; xin tăng phòng binh tại 3 châu Ung, Khâm, Quảng. Chiếu ra lệnh Tuần kiểm, Đô giám tại các châu Quế, Nghi, [1] mang quân đến biên giới chặn phòng, đến lúc yên định được trở về.” [2]
Sau khi thấy tình hình nước ta ổn định bèn sai sứ sang phong vua Lý Thái Tông tước Quận vương:
“Trường Biên quyển 107. Năm Thiên Thánh thứ 7 [1029]
Con Lý Công Uẩn là Đức Chính [Vua Lý Thái Tông] tự xưng là quyền Tri An Nam Tĩnh hải quân lưu hậu, sai Sứ đến cáo ai. Vào ngày Tân Hợi tháng 4 [7/6/1029] tặng Công Uẩn Thị trung Nam Việt vương; mệnh Quảng Nam Tây Lộ Chuyển vận sứ Vương Duy Chính làm Điếu điện sứ cùng Tứ quan cáo sứ ban cho Đức Chính Kiểm hiệu thái úy Tĩnh hải quân tiết độ sứ An Nam đô hộ Giao Chỉ quận vương.” [3]
Sử nước ta xác nhận việc phong Quận vương, nhưng nêu tên viên Sứ thần  Chương Dĩnh, chắc là viên Tứ quan cáo sứ nêu ở trên:
“Năm Thiên Thành thứ 2 [1029]. Năm ấy, sứ nhà Tống là Chương Dĩnh sang làm lễ điếu tang. Lại sai sứ sang phong vua làm Quận Vương.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2
Theo thông lệ, nước ta cử sứ bộ sang đáp lễ, tạ ơn:
“Năm Thiên Thành thứ 3, [1030]. Mùa hạ, tháng 4, sai Đại liêu ban Lê Ốc Thuyên và Viên ngoại lang Nguyễn Viết Thân sang nhà Tống để đáp lễ.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Mấy năm sau triều Tống gia phong Vua Lý chức Đồng bình chương sự:
“Trường Biên, quyển 111. Năm Minh Đạo thứ nhất[1032]
Ngày Nhâm Thìn tháng 11 [29/12/1032], Giao Chỉ quận vương Lý Đức Chính được thăng Đồng bình chương sự.” [4]
Năm 1034 xảy ra rắc rối tại biên giới, có 600 người vượt biên xin nội thuộc Trung Quốc, Vua Thái Tông sai quân đuổi bắt; để tránh tình hình căng thẳng, Vua Tống ra lệnh cho số người này trở về nước:
“Trường Biên quyển 114. Năm Cảnh Hựu thứ nhất [1034]
Tháng 6, Quảng Đông chuyển vận ty báo bọn Trần Công Vĩnh đất Giao Châu gồm hơn 600 người xin nội phụ, Lý Đức Chính phát binh đến biên giới đuổi bắt. Chiếu mệnh  khiến bọn Công Vĩnh trở về; cùng dụ cho Đức Chính săn sóc chiêu phủ giữ mạng sống cho họ. Khu mật sứ Thái Tề tâu:
‘Dân man bỏ kẻ bạo ngược, về với người có đức, xin dung nạp họ, cấp cho ruộng hoang tại Kinh Hồ [ Hồ Bắc, Hồ Nam] để tự canh. Nay đuổi đi, tất chúng không trở về chổ cũ; có thể tản vào núi rừng, rồi gây hậu hoạn!’
Triều đình không nghe; năm sau quả thực man làm loạn.” [5]
Cũng trong năm này, hai Sứ bộ Đại Cồ Việt sang Trung Quốc cống thú lạ và voi, triều Tống đáp lễ tặng lại kinh Đại Tạng:
“Năm Thiên Thành thứ 7 [1034]. Tháng 6, châu Hoan đem dâng con thú một sừng, sai Viên ngoại lang là Trần Ứng Cơ, Vương Văn Khánh đem sang biếu nhà Tống.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“Năm Thiên Thành thứ 7 [1034]. Sai Viên ngoại lang là Hà Thụ, Đỗ Khoan đem biếu nhà Tống hai con voi thuần. Nhà Tống lấy kinh Đại tạng để tạ.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Sử Trung Quốc xác nhận phái đoàn nêu trên, nhưng chép sai tên Hà Thụ thành Hà Viễn, cùng bổ sung thêm việc phong tước cho các Sứ thần:
“Trường Biên, ngày Tân Mão tháng 5 [10/6/1036], Giao Chỉ quận vương Lý Đức Chính sai Sứ đến cống sản vật địa phương; cho Tiến phụng sứ Hà Viễn làm Thứ sử châu Thuận, Phó sứ Đỗ Khoan làm Thứ sử châu Lặc.” [6]
Cuối năm Thông Thụy thứ 5  vua Tống phong nhà Vua chức Nam Bình Vương, lúc này Nùng Tồn Phúc tại biên giới làm phản; phải chăng triều Tống muốn khuyến khích nhà Vua an định vùng biên giới:
“ Tháng chạp năm Thông Thụy thứ 5 [1038] Nhà Tống phong vua làm Nam Bình Vương.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Sử Trung Quốc cũng xác nhận việc phong tước trong văn bản ghi vào năm sau [1039]
“Trường Biên, quyển 122. Năm Bảo Nguyên thứ nhất[1039]
Ngày Quí Dậu tháng 12 [8/1/1039], mệnh ban Giao Chỉ quận vương Lý Đức Chính chức Nam bình vương.” [7]
Năm 1042, triều đình nước ta sai Viên ngoại lang Đỗ Khánh và Lương Mậu Tài sang Trung Quốc cống voi thuần:
“Nhâm Ngọ, [Càn Phù Hữu Đạo] năm thứ 4 [1042], Sai Viên ngoại lang Đỗ Khánh và Lương Mậu Tài đem voi thuần sang biếu nhà Tống để tiếp tục sự thông hiếu cũ.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Sử Trung Quốc xác nhận sự việc vào năm sau, và cho biết số lượng là 5 con:
“Trường Biên, quyển 140. Năm Khánh Lịch thứ 3 [1043]
Ngày Ất Hợi tháng 3 [19/4/1043], Giao Châu hiến 5 con voi thuần.” [8]
Lại kèm thêm văn bản phong chức cho 2 Sứ giả:
“Trường Biên, quyển 141. Năm Khánh Lịch thứ 3 [1043]
Ngày Nhâm Tuất tháng 6 [4/8/1943], cho Tiến phụng sứ đất Giao Châu, An Nam tĩnh hải tiết độ phó sứ Đỗ Duy Khánh chức Thứ sử Dĩnh châu, Phó sứ tam ban phụng chức Lương Tài làm Thái tử tả giám môn suất phủ suất; đoạn này có thể xem phụ vào dưới phần cống voi thuần.” [9]
Sau khi nhận được tin nhà Lý có ý định đánh Chiêm Thành một lần nữa, vua Tống ra lệnh trinh thám tình hình, để tìm cách can thiệp:
“Trường Biên, quyển 157. Năm Khánh Lịch thứ 5 [1046]        
Ngày Bính Thìn tháng 12 [14/1/1046], chiếu ban Quảng nam đông lộ chuyển vận ty mộ người vào Giao Chỉ trinh thám việc chiêu tập binh, nếu có tin đúng được trọng thưởng. Bấy giờ Lý Đức Chính định dùng binh đánh Chiêm Thành, triều đình chưa biết chắc, nên tìm hiểu.” [10]
Lại cho tăng cường phòng thủ biên giới, thay thế quân lão nhược:
“Trường Biên, quyển 158. Năm Khánh Lịch thứ 6 [1046]
Ngày Mậu Thìn tháng 6 [25/7/1046], chiếu ban cho các châu tiếp giáp với Giao Chỉ thuộc Quảng Nam Tây Lộ cần lưu ý khống chế bọn di; lệnh cho Chuyển vận sứ nơi này quan sát trưởng lại, bãi bỏ kẻ lão nhược, rồi trình sự việc lên.” [11]
Cũng năm này, triều đình nước ta sai 2 Sứ giả sang nhà Tống cống voi:
“Trường Biên, quyển 159. Năm Khánh Lịch thứ 6 [1046]
Ngày Tân Sửu tháng 11 [23/12/1046], Lý Đức Chính đất Giao Chỉ mới sai Sứ thần Bí thư thừa Đỗ Văn Ủy đến hiến voi thuần.” [12]
Năm sau cả 2 Sứ giả đều được phong chức:
“Trường Biên, quyển 160. Năm Khánh Lịch thứ 7 [1047]
Ngày Canh Ngọ tháng 4 [23/5/1047], cho Tiến phụng sứ Giao Châu Bí thư thừa Đỗ văn Ủy chức Đồn điền viên ngoại lang, Phó sứ tả thị cấm Phùng Xương Chiêm chức Nội điện thừa chế.” [13]
Sử Trung quốc lại chép thêm việc phong tước cho 2 Sứ thần Tô Nhân Tộ, và Đào Duy Hoàn và xác nhận chưa tra ra ngày 2 Sứ thần đến nơi:
“Trường Biên, quyển 164. Năm Khánh Lịch thứ 8 [1048]
Ngày Giáp Ngọ tháng 4 [10/6/1048], Giao Châu đến cống bèn cho Tiến phụng sứ Binh bộ viên ngoại lang Tô Nhân Tộ chức Công bộ lang trung, Phó sứ Đông đầu cung phụng quan Đào Duy Hoàn chức Nội điện sùng ban. Ngày bọn Nhân Tộ đến nơi chưa thấy.” [14]
Lúc này Nùng Trí Cao đang nỗi dậy tại châu Quảng Nguyên, nên việc động Vật Dương [15] làm phản, ghi dưới đây có liên quan đến Trí Cao:
“Năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2 [1050]. Mùa thu, tháng 9, người động Vật Dương  làm phản, dẹp yên.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Phía triều Tống lại cho xây trại quân tại động La Hồi vị trí tại phía đông bắc châu Quảng Nguyên để chặn quân Nùng Trí Cao:
“Trường Biên quyển 168. Ngày Bính Tuất tháng 2 [24/3/1050], ty kiềm hạt Quảng Nam Tây Lộ xin lập 1 trại tại động La Hồi [16] thuộc Ung Châu, để chặn man tặc Quảng Nguyên. Chấp thuận.” [17]
Lúc Nùng Trí Cao mang quân đánh phá Trung Quốc, vua Lý Thái Tông đề xuất đem quân đánh giúp, lúc đầu triều Tống hoan nghênh chuẩn bị lương tiền để đón tiếp, nhưng sau đó theo lời khuyên của tướng Địch Thanh nên hủy bỏ:
“Trường Biên, quyển 173 ngày Mậu Tý năm Hoàng Hựu thứ 4 [9/1/1053], Tri Quế Châu Dư Tĩnh tâu:
‘Năm nay Giao Chỉ đáng phải đến triều cống, nhân vì Nùng Trí Cao phản, đường đi không thông; mấy lần gửi văn thư xin phối hợp quân đánh giặc, nhưng đã lâu triều đình không đáp. Thấy lời ước hẹn rất thành khẩn, nếu chưa có thể diệt đảng giặc, thì cũng có thể chia rẽ chúng thêm; tại các châu Ung, Khâm đã trử sẵn số lương thực vạn người ăn để đợi.’
Chiếu thư cũng đã cấp 2 vạn quan tiền để trợ binh phí, đợi khi bình giặc lại thưởng tiền 3 vạn quan. Lúc đầu triều đình không chấp thuận cho Giao Chỉ ra quân; Tĩnh tâu Trí Cao là phản tặc của Giao Chỉ, nên cho ra quân, đừng ngăn trở thiện ý. Nay không cho, Giao Chỉ tất giận, quay lại trợ giúp Trí Cao; vậy nên thuận tiện hứa cho. Triều đình chấp thuận lời xin, nhưng Địch Thanh tâu:
‘Lý Đức Chính thanh ngôn rằng mang bộ binh 5 vạn, kỵ binh 1.000 đến viện trợ, đó không phải là thực tình. Vả lại dùng binh nước ngoài để trừ giặc bên trong, không có lợi cho ta. Chỉ một mình Trí Cao dày xéo 2 xứ Quảng [Quảng Đông, Quảng Tây] lực không dẹp được; lại thêm quân lính của Man. Người Man tham được lợi, quên nghĩa; nếu chúng nhân đó mà khởi loạn, ta lấy gì chống cự đây! Xin bãi quân Giao Chỉ đừng dùng, và ban hịch cho Tĩnh đừng thông sứ với Giao Chỉ.’
Triều đình cuối cùng dùng kế sách của Địch Thanh, dư luận cũng cảm phục Thanh có sách lược xa.” [18]
Sử liệu Toàn Thư cho biết rằng Trí Cao xin nước ta cứu viện, Vua ra lệnh cho Vũ Nhị mang quân đi; việc này các bộ sử Trung Quốc không chép, phải chăng chưa kịp thực hiện thì đạo quân Trí Cao đã tan rã:
“Năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 5 [1053], Mùa đông, tháng 10, Trí Cao sai Lương Châu đến xin quân cứu viện. Vua xuống chiếu cho chỉ huy sứ là Vũ Nhị đem quân cứu viện. Địch Thanh lại đánh phá được Trí Cao. Trí Cao chạy sang nước Đại Lý. [19] Người nước Đại Lý chém đầu Cao bỏ vào hòm dâng vua Tống. Từ đây họ Nùng bị diệt.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Về việc giao thiệp với các nước phương nam; dưới thời Vua Lý Thái Tông Chân Lạp 2 lần sai Sứ triều cống nước ta:
“Năm Thiên Thành thứ 6 [1033]. Mùa xuân, tháng giêng, nước Chân Lạp sang cống.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
“Tháng chạp năm Thông Thụy thứ 6 [1039], nước Chân Lạp sang cống.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Riêng Chiêm Thành, trước khi Vua mang quân đi đánh vào năm 1044, trong nội bộ có sự lủng củng, Hoàng tử Chiêm Thành cùng đám tùy tùng trốn sang nước ta:
“Năm Thông Thụy thứ 6 [1039]Mùa hạ, tháng 4, con vua Chiêm Thành là Địa Bà Lạt cùng bọn Lạc Thuẫn, Sạ Đâu, La Kế, A Thát Lạt 5 người sang quy phục nước ta.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Sau khi thua trận thì tỏ vẻ ngoan ngoãn thần phục, mang voi trắng sang cống:
“Năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 2 [1050]). Mùa xuân, tháng 3, Chiêm Thành dâng voi trắng.”
Về phương diện kinh tế xã hội có những nét đặc trưng chứng tỏ Vua chú trọng về nông nghiệp; vào năm được mùa, ngài đích thân ra thăm ruộng xem gặt:
“Năm Thiên Thành thứ 3, [1030. Mùa đông, tháng 10, được mùa to. Ngày 14, Vua thân ra ruộng xem gặt, nhân đổi tên cánh ruộng ấy gọi là ruộng Vĩnh Hưng.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Nhà Vua lại khuyến khích các cung nữ dệt gấm, đem sử dụng trong cung; rồi lấy gấm vóc trong kho mua từ Trung Quốc ban phát cho các quan lại từ cửu phẩm [20] trở lên:
“Tháng 2 năm Bảo Nguyên thứ 2 (1040).
Trước đó, nhà vua sai cung nữ dệt gấm vóc, họ đã dệt được thành những tấm hàng rồi; đến đây, sai đem những gấm vóc, hàng của nhà Tống, vẫn chứa trong kho, ban phát cho bầy tôi: từ ngũ phẩm trở lên thì áo gấm, từ cửu phẩm trở lên thì áo vóc, tỏ ý không dụng gấm vóc của Tống nữa.”Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, Quyển 3.
Gặp năm thái bình được mùa cho tha tội, giảm một nửa thuế, tạc ngàn pho tượng, làm một vạn chiếc cờ phướn:
“Tháng 10, mùa đông năm Bảo Nguyên thứ 2 (1040).
Trước đây, nhà vua sai tạc hơn một nghìn pho tượng Phật và vẽ hơn một nghìn bức tranh Phật;lại làm hơn một vạn chiếc bảo phan;[21] đến đây, làm xong, mở hội, đại xá, tha cho những người phạm tội đồ lưu; xá một nửa tiền thuế cho cả nước.” Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Chính Biên, Quyển 3.
Nhà Vua lại cho đúc chuông lớn đặt tại Long Trì, phòng khi dân có oan ức, đánh chuông để khiếu nại:
“Nhâm Thìn, [Sùng Hưng Đại Bảo] năm thứ 4 [1052], Tháng 3, đúc chuông lớn để ở Long Trì, cho dân ai có oan ức gì không bày tỏ được thì đánh chuông ấy để tâu lên.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Mùa thu năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 [1054], nhà Vua mất tại điện Trường Xuân, miếu hiệu là Thái Tông, nhân dịp đổi quốc hiệu là Đại Việt:
“Năm Sùng Hưng Đại Bảo thứ 6 [1054], Mùa đông, tháng 10, ngày mồng một, vua băng ở điện Trường Xuân. Thái tử lên ngôi ở trước linh cữu; đổi niên hiệu là Long Thụy Thái Bình năm thứ 1. Truy tôn tên thụy cho Đại Hành Hoàng Đế, miếu hiệu là Thái Tông, mẹ họ Mai làm Kim Thiên Hoàng Thái Hậu. Đặt quốc hiệu là Đại Việt. Ban quan tước cho các bề tôi cũ ở Đông cung theo thứ bậc khác nhau.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 2.
Chú thích:
[1] Quế Châu, Nghi châu, vị trí đều thuộc miền bắc tỉnh Quảng Tây, Quế Châu tức Quế Lâm thị hiện nay.
[2] 己卯,廣西轉運司言,靜海節度使、同平章事、安南都護、南平王李公蘊卒,諸子爭立,乞增飭邕、欽、廣三州兵備。詔桂、宜等州巡檢、都監領所部兵於近界防扼,事定即還。
[3] 李公蘊之子德政自稱權知安南靜海軍留後事,遣使來告哀。辛亥,贈公蘊侍中、南越王,命廣南西路轉運使王惟正為祭奠使,又為賜官告使。除德政檢校太尉、靜海軍節度使、南安都護、交趾郡王。
[4] 壬辰,交趾郡王李德政加同平章事。
[5] 廣東轉運司【二八】言交州陳公永等六百餘人內附,李德政發兵境上捕逐。詔遣公永等還,仍諭德政撫存之。樞密使蔡齊言:「蠻去暴歸德,請納之,給以荊湖閑田使自營。今縱去,必不復還舊部。若散入山谷,如後患何!」不聽。明年,蠻果為亂。
[6] 交趾郡王李德政遣使來貢方物,以進奉使何遠為順州刺史,副使杜寬為勒州刺史。
[7] 交趾郡王李德政為南平王,邈川首領、保順軍留後唃厮囉為節度使
[8] 乙亥,交州獻馴象五。
[9] 壬戌,以交州進奉使、安南靜海節度副使杜惟慶為潁州刺史【三二】,副使、三班奉職梁材為太子左監門率府率。此段或附見貢馴象下.
[10] 丙辰,詔廣南東路轉運司募人入交趾以刺點兵事宜,如得實【一九】即優賞之。時李德政將以兵伐占城,朝廷未知故也。
[11] 戊辰,詔廣南西路諸州接連交趾,控制夷落,其令轉運使察長吏罷老不任事者聞。
[12] 時交阯李德政適遣使祕書丞杜文蔚等獻馴象.
[13] 庚午,以交州進奉使、祕書丞杜文蔚為屯田員外郎,副使左侍禁馮昌瞻為內殿承制
[14] 交州入貢,以進奉使兵部員外郎蘇仁祚為工部郎中,副使東頭供奉官陶惟懽為內殿崇班。仁祚等初來時未見
[15] Trường Biên, quyển 349 chép “thời Trị Bình [1064-1067] Nùng Trí Hội đem động Vật Dương qui phụ, ban tên là  Qui Hóa châu”, nay thuộc Tĩnh Tây thị [Jingxi], Quảng Tây.
[16] Động La Hồi: tiếp giáp phía nam châu Quảng Nguyên; sông Tả Giang phát nguyên từ Cao Bằng, chảy qua biên giới vào lãnh thổ động La Hồi.
[17] 丙戌,廣南西路鈐轄司請於邕州羅徊峒置一寨,以扼廣源州蠻賊,從之。
[18] 戊子,知桂州余靖言:「交趾今歲當入貢,屬儂智高叛【三四】,道阻不通,累移文乞會兵討賊,而朝廷久未報。觀其要約甚誠,縱未能勦滅賊黨,亦可使益相離貳,已於邕欽州備萬人糧以待之【三五】。」詔亦給緡錢二萬助兵費,候賊平更賞緡錢三萬。始,朝廷不聽交趾出兵,靖言智高,交趾叛者,宜聽出兵,毋阻其善意。今不聽,必忿而反助智高,因以便宜許之。朝廷從其請。已而狄青奏:「李德政聲言將步兵五萬,騎一千赴援,此非情實;且假兵於外以除內寇,非我利也。以一智高橫蹂二廣,力不能討,乃假蠻人兵。蠻人貪得忘義,因而啟亂,何以禦之!願罷交趾兵勿用,且檄靖無通交趾使。」朝廷卒用青計策,人亦服青有遠略云。
[19] Nước Đại Lý: một nước ở vùng Vân Nam, Trung Quốc, trên địa bàn của nước Nam Chiếu đời Đường, cư dân chủ yếu là người Di, mà thư tịch cổ Trung Quốc thường chép là người Thoán, Bặc.
[20] Cửu phẩm: quan lại thời xưa chia làm 9 cấp; cấp thấp nhất là cửu phẩm, cao nhất là nhất phẩm.
[21] Phan: loại cờ có lụa rủ xuống.
12. Nùng Trí Cao đánh Tống (P1)
Cuộc trường chinh từ Ung Châu đến Quảng Châu
Năm 1048 Nùng Trí Cao giao tranh với quân nhà Lý bất lợi, bèn xin hàng để củng cố nội bộ; rồi quay sang gây hấn với Trung Quốc. Cuộc chiến tuy châm ngòi vào năm 1049, nhưng sau đó tạm hòa; để rồi bùng nổ khốc liệt trong năm 1052. Trong vòng 1 năm, đạo quân bách chiến bách thắng của Nùng Trí Cao lần lượt chiếm từng thành từ Ung Châu [Nam Ninh] đến Quảng Châu; rồi lại quay trở về Ung Châu, cuối cùng bị tiêu diệt bởi kỵ binh của Địch Thanh tại Qui Nhân Phố. Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên của Lý Đào chép về cuộc chiến khởi sự như sau:
“Trường Biên, quyển 167. Năm Hoàng Hựu thứ nhất [1049]                    
Ngày Ất Tỵ tháng 9 [14/10/1049], Chuyển vận ty Quảng Nam Tây Lộ báo man Quảng Nguyên cướp phá Ung Châu; chiếu ban cho các lộ Giang Nam [tỉnh Giang Tây], Phúc Kiến phát binh phòng bị.
Châu Quảng Nguyên vị trí tại phía tây nam Ung Châu, thượng nguồn sông Uất, [1] đất hiểm trở, sản xuất vàng, chu sa, sống cư tụ. Dân búi tóc phía bên trái, thiện chiến, coi thường cái chết, ham làm loạn. Tổ tiên họ Vi, họ Hoàng, họ Chu, họ Nùng làm thủ lãnh, tranh nhau cướp phá; Kinh lược sứ đời Đường Từ Thân Hậu chiêu phủ. Họ Hoàng nạp chức cống, nên 13 bộ, 29 châu đều yên định. Từ khi man Giao Chỉ chiếm cứ An Nam, [2] châu Quảng Nguyên tuy do Ung Châu ràng buộc ky my, nhưng kỳ thực phục dịch Giao Chỉ.
Trước kia có Nùng Toàn Phúc giữ chức Tri châu Thảng Do, [3] em là Tồn Lục Tri châu Vạn Nhai, [4] em vợ Toàn Phúc là Nùng Đương Đạo Tri châu Vũ Lặc. Một hôm Toàn Phúc giết Tồn Lục, Đương Đạo, thôn tính đất đai. Giao Chỉ giận, mang binh bắt Toàn Phúc, cùng con là Trí Thông mang về. Vợ là A Nùng vốn người châu Vũ Lặc, Tả Giang; A Nùng rời đến châu Thảng Do, Toàn Phúc lấy làm vợ. Khi Toàn Phúc bị bắt, A Nùng bèn lấy thương nhân, sinh ra Trí Cao. Lúc Trí Cao 13 tuổi, giết người cha thương nhân, và bảo rằng:
‘Trong thiên hạ há lại có người 2 cha!’
Nhân mạo họ là Nùng, cùng mẹ đến ở động Lôi Hỏa; [5] người mẹ lại lấy Nùng Hạ Khanh, người đạo Đặc Ma. Lâu sau đó, Trí Cao lại cùng người mẹ đến chiếm châu Thảng Do, lập nước gọi là Đại Lịch. Giao Chỉ lại chiếm châu Thảng Do, bắt Trí Cao, rồi tha, cho làm Tri châu Quảng Nguyên. Lại lấy động Lôi Hỏa, 4 động Tần Ba, cùng châu Tư Lang [6] cho phụ thêm. Nhưng trong lòng oán Giao Chỉ, 4 năm sau bèn chiếm châu An Đức, tiếm xưng là nước Nam Thiên,cải niên hiệu Cảnh Thụy; rồi xin nội phụ triều Tống, nhưng chưa được, bèn bắt đầu cướp phá.” [7]
Trong trận đánh đầu tiên với quân Tống, quân Nùng Trí Cao bắt được viên Chỉ sử Ung Châu Nguyên Bân; viên này khuyên Nùng Trí Cao nên theo Trung Quốc. Trí Cao bèn dâng biểu xin cống, nhưng triều Tống cho rằng đất Quảng Nguyên vốn thuộc nước Đại Cồ Việt, nên từ chối:
“Trường Biên, quyển 170. Năm Hoàng Hựu thứ 3 [1051]
Ngày Ất Dậu tháng 2 [18/3/1051], Chuyển vận ty Quảng Nam Tây Lộ tâu Nùng Trí Cao, man châu Quảng Nguyên xin nội thuộc. Chiếu ban Chuyển vận sứ, cùng Đề điểm hình ngục lộ này, Ty kiềm hạt, tâu trình đầy đủ những điều lợi hại.
Trước đó Giao Chỉ phát binh đánh Trí Cao, nhưng không dẹp được. Bấy giờ Chuyển vận sứ Tiêu Cố người đất Tân Dụ [ thuộc Giang Tây] sai Chỉ sử Ung Châu Nguyên Bân thám thính; nhưng Bân tự tiện đánh Trí Cao, nên bị bắt. Bị thẩm vấn tin tức về Trung Quốc, Bân trình bày đại lược và khuyên Trí Cao nội phụ. Bèn tha cho Bân về, rồi dâng biểu xin hàng năm cống sản vật địa phương. Triều đình cho rằng Quảng Nguyên lệ thuộc Giao Chỉ, nên chưa chấp thuận. Tiêu Cố tâu:
‘Người man thấy lợi thì động tâm, tất giữ cái chiếm được, thần không thể làm gì hơn. Nhưng xem ra hiện tại, Trung Quốc chưa thể gây sự với bọn man; đối với bọn Trí Cao nên chiêu phủ mà thôi. Vả lại tài năng về vũ lực, Giao Chỉ không thể tranh đấu chế ngự được. Cho dù chúng tranh nhau, thì ta cũng yên bình vô sự thôi.’
Cuối cùng triều đình không nghe lời Cố. Những lời Tiêu Cố, lấy từ mộ bia Vương An Thạch.” [8]
Nùng Trí Cao dâng biểu hiến voi và vàng, Vua Tống sai viên Chuyển vận sứ Quảng Tây cho biết trong trường hợp đưa đồ cống gộp chung với Sứ thần nhà Lý thì chấp thuận, nhưng Trí Cao không tuân:
“Trường Biên, ngày Qui Dậu tháng 3 [5/5/1051], Chuyển vận ty Quảng Nam Tây Lộ tâu rằng Nùng Trí Cao dâng biểu hiến voi thuần, cùng vàng bạc các loại sống và luyện. [9] Chiếu ban Chuyển vận sứ và Kiềm hạt ty cho dừng lại; và lấy tư cách Ty chuyển vận đáp rằng châu Quảng Nguyên lệ thuộc vào Giao Chỉ, nếu đưa gộp với nước này cùng tiến phụng thì chấp nhận.” [10]
Bấy giờ Trí Cao giận vì bị khước từ, lại có 2 viên Tiến sĩ Trung Quốc bất mãn với triều Tống đến kết đảng xúi dục, nên quyết định tập kích trại Hoành Sơn, vị trí bên dòng sông Hữu Giang cách thành Ung Châu [Nam Ninh, Quảng Tây] khoảng 20km về phía tây:
“Trường Biên, quyển 172. Năm Hoàng Hựu thứ 4 [1052]
Ngày Bính Tuất tháng 4 [12/5/1052], trước đó Nùng Trí Cao cống sản vật địa phương xin nội thuộc, bị triều đình khước từ. Sau đó dâng thư viết trên vàng lá, Tri Ung Châu Trần Cung tâu lên, nhưng không được trả lời. Trí Cao đã xin không được, lại cừu địch với Giao Chỉ, bèn dựa vào lợi thế sông núi đất Quảng Nguyên, chiêu tập những thành phần vong mệnh. Mấy lần mang y phục cũ xin đổi gạo ăn, nói dối rằng dân trong động đói, bộ lạc ly tán; Ung Châu tin rằng chúng yếu nhược, nên không phòng bị. Bèn cùng với các viên Tiến sĩ đất Quảng Châu [Quảng Đông] Hoàng Vi, Hoàng Sư Mật; cùng đồng đảng Nùng Kiến Hầu, Nùng Chí Trung, ngày đêm mưu vào cướp phá. Một buổi chiều, đốt sạch sào huyệt, lừa dối bảo bộ hạ rằng:
‘Từ lâu nay tích tụ, nay thiên tai thiêu hủy, không còn gì để sống, kế cùng rồi. Cần phải đánh Ung Châu, chiếm cứ Quảng Châu làm Vương; nếu không thì chết.’
Vào ngày này, mang 5.000 quân xuôi dòng sông Uất tiến sang phía đông, đánh chiếm trại Hoành Sơn. [11] Trại chủ Hữu thị cấm Trương Nhật Tân, Ung Châu Đô tuần kiểm tả ban điện trực Cao Sĩ An, Khâm Hoành châu đồng tuần kiểm hữu ban điện trực Ngô Hương đều tử trận.” [12]
Sau khi chiếm Hoành Sơn, vào 19 ngày sau chiếm nốt Ung Châu; nếu trừ hao thời gian di chuyển, việc đánh hạ thành tương đối nhanh. Ung Châu là thành lớn, ắt phải có quân phòng thủ bên ngoài; do bởi quân Trí Cao với đồng phục màu ráng, trông dữ tợn, với chiến thuật một tay cầm thuẫn che ngực, một tay cầm gươm đao đâm chém, nên tên bắn vô sự, xông lên như một bức thành di động nên khí thế rất mạnh; riêng quân Tống yếu nhược, thiếu tinh thần, khiến mau tan rã. Thành bị hãm, trong lúc viên Chủ soái Trần Cung còn đang mở tiệc mừng đạo quân mới đến tăng viện:
“Trường Biên, quyển 172. Ngày mồng một Ất Tỵ tháng 5 [31/5/1052]. Nùng Trí Cao đánh chiếm Ung Châu, bắt Tri châu Bắc tác phòng sứ Trần Cung, Thông phán điện trung thừa Vương Càn Hữu, Quảng Tây đô giám Trương Lập.
Trước đó giặc vây thành, Cung ra lệnh cho Càn Hữu giữ cửa Lai Viễn; Quyền đô giám tam ban phụng chức Lý Túc giữ cửa Đại An, Chỉ sử Vũ Cát giữ cửa Triều Thiên. Trương Lập từ Tân Châu [13] đến tăng viện; khi mới đến, Cung cho khao quân tại trên thành, lúc đang uống rượu thì thành phá. Cung, Lập, Càn Hữu, cùng Tiết độ suy quan Trần Phụ Nghiêu, Quan sát suy quan  Đường Giám, Ty hộ tham quân Khổng Tông Đán đều bị bắt, quân tử trận 1.000 người. Trí Cao duyệt kho quân tư, bắt được thư dát vàng gửi cho triều đình, tức giận bảo Cung rằng:
‘Ta xin nội thuộc, muốn một chức quan để cai trị các bộ lạc, người không đưa lên là tại sao?’
Cung đáp, đã từng tâu nhưng triều đình không trả lời; Cao đòi xem bản thảo tờ tâu nhưng không thấy, bèn dắt Cung ra ngoài. Cung mắt đau, không thấy gì, kinh hoảng hô “Vạn tuế” mong được tha, nhưng vẫn bị giết. Rồi lại giết hại luôn bọn Lập, Càn Hữu, Phụ Nghiêu, Giám, Tông Lập. Lập bị hành hình, chửi to không khuất phục; hơn tháng sau, tìm được thi thể, trông như còn sống. Còn Lý Túc, Vũ Cát, Vũ Duyên Lệnh, Mai Vi Chi, Chi sử Tô Tòng vốn quen với giặc Hoàng Sư Mật, nên được miễn. Lúc Trí Cao chưa làm phản, có bạch khí bay lên giữa sân Ung Châu, nước sông dâng lên; Tông Đán cho rằng có điềm về việc binh, đoán rằng Trí Cao sẽ làm phản, bèn gửi thư cho Cung, nhưng Cung không nghe. Tông Đán tiếp tục báo động, Cung giận, trách rằng:
‘Ty hộ điên ư!’
Đến lúc Trí Cao phá trại Hoành Sơn, Đán bèn cho gia đình di tản đến Quế Châu [Quế Lâm, Quảng Tây] và bảo rằng:
“Ta có việc quan không đi được, không có nhiệm vụ thì đừng chết theo.”
Giặc bắt Tông Đán, muốn giao việc cho, Tông Đán chửi rồi bị giết. Tông Đán người đất Lỗ [tây nam tỉnh Sơn Đông], trước kia làm quan tại Đông Kinh, cùng với bọn Lý Đạo, Từ Trình, Thượng Đồng 4 người làm tai mắt cho Giám ty, bị nhiều người ghét; nhưng giữ tiết được như vậy.
Sau khi Trí Cao chiếm được Ung Châu, lập nước ngụy Đại Nam, tiếm hiệu là Nhân Huệ Hoàng đế, cải niên hiệu Khải Lịch, tuyên bố xá tội; bọn Sư Mật trở xuống đều được chức quan giống như Trung Quốc.” [14]
Sau khi chiếm xong thành Ung châu, quân Trí Cao dùng thuyền xuôi dòng sông Uất, kế tiếp là sông Tây Giang, thủy trình trên 500 km xuống tận Quảng Châu [Quảng Đông]; liên tục đánh phá 9 châu: Hoành, Quí, Cung, Tầm, Đằng, Ngô, Phong, Khang, Đoan trong vòng hơn 1 tháng; có thể gọi đây là một cuộc hành quân lướt gió, nhanh chóng như qua chỗ không người. Sử liệu cung cấp chi tiết như sau:
-“Trường Biên, quyển 172, ngày Quí Sửu tháng 5 [8/6/1052]. Nùng Trí Cao chiếm Hoành Châu [huyện Hoành tỉnh Quảng Tây], Tri châu Điện trung thừa Trương Trọng Hồi, Giám áp đông đầu cung phụng quan Vương Nhật Dụng đều bỏ thành.” [15]
- “Trường Biên, quyển 172, ngày Bính Thìn [11/6/1052], vào chiếm Quí Châu [huyện Quí tỉnh Quảng Tây]; Tri châu Bí thư thừa Lý Cư bỏ thành.” [16]
- “Trường Biên, quyển 172, ngày Canh Thân [15/6/1052], vào Cung Châu [huyện Bình Nam tỉnh Quảng Tây], Tri châu Điện trung thừa Trương Tự bỏ thành.” [17]
- “Trường Biên, quyển 172, ngày Tân Dậu [16/6/1052], vào Đằng Châu [huyện Đằng, tỉnh Quảng Tây], rồi vào Ngô Châu [Ngô Châu Thị, tỉnh Quảng Tây], Phong Châu [Phong Khai, tỉnh Quảng Tây]. Tri Đằng Châu Thái tử trung xá Lý Thực, Tri Ngô Châu Bí thư thừa Giang Tư đều bỏ thành.
Tri Phong Châu Thái tử trung xá Tào Cận chết. Người dân Phong Châu chưa từng biết việc binh; quân lính chỉ có 100 người không quen chiến trận, không có thành quách để phòng thủ. Có kẻ khuyên Tào Cận nên tránh giặc; Cận nghiêm mặt bảo:
“Ta là quan giữ lãnh thổ, chỉ biết chết mà thôi, ai bảo tránh giặc sẽ chém.”
Rồi ra lệnh Đô giám Trần Hoa mang quân đánh giặc, viên Lệnh Phong Châu đốc suất dân đinh cùng lính bắn cung kế tục tiến. Giặc đông đến hàng trăm lần, quân Hoa thua chạy, dân đinh cũng tan, Cận đốc suất tùy tòng đánh nhưng thua rồi bị bắt. Giặc không giết, nắm đầu bắt bái rồi dụ dỗ:
“Theo ta, sẽ được chức quan tốt, cho cầm quân, tìm gái gả cho.”
Cận không chịu bái, mắng lại rằng :
“Làm bầy tôi chỉ hướng về phương bắc bái Thiên tử, ta há lại theo người để sống cẩu thả ư; mong các người mau giết ta.”
Giặc còn tiếc chưa giết, bèn đưa xuống thuyền. Cận không ăn trong 2 ngày, rồi lấy ấn chương dấu trong túi giao cho viên lính hầu và dặn:
“Ta sẽ chết, hãy tìm đường tắt đưa vật này dâng lên quan.”
Giặc biết rằng Cận không muốn hàng, bèn giết; cho đến lúc gần chết vẫn chửi không ngừng. Rồi giặc ném thây xuống sông; Cận mất năm 35 tuổi.” [18]
- “Trường Biên, quyển 172, ngày Nhâm Tuất [17/6/1052], quân Trí Cao vào đánh Khang Châu; viên Tri châu Thái tử hữu tán thiện đại phu Triệu Sư Đán, Giám áp hữu ban điện trực Mã Quí đều chết. Sư Đán là cháu Sư Tích.
Sau khi giặc đánh phá Ung Châu bèn xuôi dòng sông sang phía đông, Sư Đán sai người trinh sát giặc, khi họ trở về báo rằng:
“Các châu phòng thủ đều bỏ thành chạy.”
Sư Đán la lên:
“Ngươi lại muốn ta bỏ chạy ư!”
Bèn cho làm cuộc lục soát lớn, bắt được 3 điệp viên, đem ra chém để răn. Nhưng giặc kéo đến đầy thành, Sư Đán chỉ có 300 quân, vẫn mở cửa nghênh chiến, giết được mấy chục tên. Đến chiều, áp lực quân giặc hơi giảm; Sư Đán sai vợ mang con đi trốn cùng mang ấn tín theo và bảo rằng:
“Hôm sau đại quân giặc sẽ đến, ta biết rằng không địch nổi, nhưng không thể trốn; nàng ở lại đây chết, vô ích.”
Bèn cùng với quân lính dưới quyền Mã Quí cố thủ thành. Sư Đán bảo Quí đi ăn, Quí không ăn nổi; một mình Đán ăn no như bình thường; đêm Quí nằm không yên chiếu, riêng Đán ngáy như sấm. Đến sáng, giặc đánh thành gấp; kẻ xung quanh khuyên nên tránh né; Sư Đán nói:
“Bị giặc giết, hoặc đánh giặc chết, cái nào hơn!”
Quân lính đều bảo:
“Nguyện vì nước tử chiến.”
Cho đến lúc thành bị phá, không một ai trốn. Tên hết, Đán cùng Quí quay trở về ngồi tại công đường. Trí Cao điều binh la hét, tranh vào uy hiếp, Sư Đán chửi lớn:
“Bọn man liêu đói! Triều đình có gì phụ bạc các người đâu, lại dám làm phản? Khi Thiên tử phạt một đạo binh đến, thì bọn người không còn!”
Trí Cao giận, bắt giết Đán cùng Quí.” [19]
- “Trường Biên, quyển 172, ngày Quí Hợi [18/6/1052], quân Trí Cao vào Đoan Châu [Triệu Khánh, Quảng Đông], viên Tri châu Thái thường bác sĩ Đinh Bảo Thần bỏ thành chạy; Bảo Thần người đất Tấn Lăng [Thường Châu, Giang Tô]. Âu Dương Tu, Vương An Thạch soạn mộ bia cho Bảo Thần đều ghi Bảo Thần từng  xuất chiến, đánh bắt được giặc, nhưng cuối cùng không thắng; đó chỉ là những lời văn chương che đậy tội, không đúng sự thực, nên không đưa vào sử.” [20]
Sau khi đánh chiếm Đoan Châu, chỉ mấy ngày sau Trí Cao xua quân vây thành Quảng Châu, khiến dân chúng vùng phụ cận thành hoảng hốt, phải đạp nhau, tranh vào thành để tỵ nạn.
Chú thích:
[1] Sông Uất: do 2 sông Tả Giang và Hữu Giang hợp lại tại phía tây nam Nam Ninh thị, tỉnh Quảng Tây.
[2] Ý chỉ thời Khúc Thừa Dụ dành quyền tự chủ cho nước Việt Nam.
[3] Châu Thảng Do: theo sách Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu của Cố Tố Vũ, châu Thảng Do giáp châu Quảng Nguyên.
[4] Châu Vạn Nhai: theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Châu Vạn Nhai thuộc tỉnh Thái Nguyên. Xưa gọi là châu Vạn Nhai (nhai là sườn núi); nhà Lý gọi là Vạn Nhai (nhai là bến nước); khi thuộc Minh gọi là Vũ Lễ; nhà Lê gọi là Vũ Nhai, tức là châu Vũ Nhai ngày nay.
[5] Động Lôi Hỏa: theo sách Độc Sử Phương Dư Kỷ Yếu của Cố Tố Vũ, động Lôi Hỏa ở phía tây bắc phủ Lạng Sơn, khoảng giữa châu Quảng Nguyên và châu Thảng Do.
[6] Châu Tư Lang: theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, Tư Lang trước thuộc tỉnh Thái Nguyên, bây giờ thuộc tỉnh Cao Bằng. Nhà Lý gọi là Tư Lang; nhà Trần vẫn theo như trước; khi thuộc Minh chia làm Thượng Tư Lãng và Hạ Tư Lãng; nhà Lê đổi làm Thượng Lang và Hạ Lang, tức là huyện Trùng Khánh và huyện Hạ Lang bây giờ.
[7] 乙巳,廣南西路轉運司言廣源州蠻寇邕州,詔江南、福建等路發兵備之。廣源州在邕州西南鬱江之源,地峭絕深阻,產黃金、丹砂,頗有邑居聚落。俗椎髻左衽,善戰鬥,輕死好亂。其先韋氏、黃氏、周氏、儂氏為酋領,互相劫掠,唐邕管經略使徐申厚撫之。黃氏納職貢,而十三部二十九州之蠻皆定。自交趾蠻據有安南,而廣源雖號邕管西羈縻州,其實服役於交趾。
初,有儂全福者知儻猶州,其弟存祿知萬涯州,全福妻弟儂當道知武勒州。一日,全福殺存祿、當道,并有其地。交趾怒,舉兵擄全福及其子智聰以歸。其妻阿儂,本左江武勒族也,按宋史蠻貊傳及王惟儉宋史記,俱作左江,原本作佐江,誤,今改正。轉至儻猶州,全福納之。全福見擄,阿儂遂嫁商人,生子名智高。智高生十三年,殺其父商人,曰:「天下豈有二父耶?」因冒姓儂,與其母奔雷火洞,其母又嫁特磨道儂夏卿。久之,智高復與其母出據儻猶州,建國曰大曆。交趾復拔儻猶州,執智高,釋其罪,使知廣源州。又以雷火、頻婆四洞案宋史蠻貊傳及王惟儉宋史記,皆作頻婆,原本作平婆,誤。今改正。及思浪州附益之。然內怨交趾,居四年,遂襲據安德州,僭稱南天國,改年景瑞。求內附,未即得,於是始入寇
[8] 乙酉,廣南西路轉運司【二】言,廣源州蠻儂智高請內屬,詔轉運使與本路提點刑獄、鈐轄司具利害以聞
初,交趾發兵討智高,不克,轉運使新喻蕭固遣邕州指使亓贇往刺候,而贇擅發兵攻智高,為所執。因問中國虛實,贇頗為陳大略,說智高內屬。乃遣贇還,奉表請歲貢方物。朝廷以其役屬交趾,未聽也。固言智高必為南方患,願賜一官以撫之,且使抗交趾。詔問固能保交趾不爭智高,智高終不內寇,則具以聞。固言:「蠻人見利則動,必保其往,非臣所能。顧今中國勢未可以有事於蠻方,如智高者,宜撫之而已。且智高才武強力,非交趾所能爭而畜也。就其能爭,則蠻人方自相攻,吾乃得以閒而無事矣。」朝廷訖不從固言。蕭固云云,據王安石墓誌增入。
[9] Nguyên văn “sinh thục kim ngân生熟金銀”: sinh kim là loại vàng lấy từ mỏ lên, chưa tôi luyện; thục kim, loại vàng rộng đã qua tôi luyện; sinh ngân là loại bạc lấy từ mỏ lên, chưa tôi luyện; thục ngân loại bạc đã luyện.
[10] 癸酉,廣南西路轉運司言儂智高奉表獻馴象及生熟金銀。詔轉運鈐轄司止作本司意答以廣源州本隸交趾,若與其國同進奉,即許之。
[11] Trại Hoành Sơn: thuộc huyện Tuyên Hóa, phía tây Ung Châu [Nam Ninh, Quảng Tây], khác với huyện Hoành tại phía đông Nam Ninh.
[12] 初,儂智高貢方物,求內屬,朝廷拒之。後復貢金函書以請,知邕州陳珙上聞,亦不報。智高既不得請,又與交趾為仇,且擅廣源山澤之利,遂招納亡命,數出弊衣易穀食,紿言峒中饑,部落離散,邕州信其微弱,不設備也。乃與廣州進士黃瑋、黃師宓及其黨儂建侯、儂志中等案宋史作儂志忠。日夜謀入寇。一夕,焚其巢穴,紿其眾曰:「平生積聚,今為天火所災,無以為生,計窮矣。當拔邕州,據廣州以自王,否則必死。」是日【三二】,率眾五千沿鬱江東下,攻破橫山寨,寨主右侍禁張日新,邕州都巡檢、左班殿直高士安,欽橫州同巡檢、右班殿直吴香死之。
[13] Tân Châu: châu tại phía đông bắc Ung Châu, nay gọi là huyện Tân Dương, Quảng Tây.
[14] 五月乙巳朔,儂智高破邕州,執知州、北作坊使陳珙,通判、殿中丞王乾祐,廣西都監、六宅使張立。
初,賊圍城,珙令乾祐守來遠門,權都監、三班奉職李肅守大安門,指使武吉守朝天門。張立自賓州來援,既入,珙犒軍城上,酒行而城破。珙、立、乾祐及節度推官陳輔堯、觀察推官唐鑑、司戶參軍孔宗旦皆被執,兵死者千餘人。智高閱軍資庫,得所上金函,怒謂珙曰:「我請內屬,求一官以統攝諸部,汝不以聞,何也?」珙對嘗奏不報,索奏草,不獲,遂扶珙出。珙病目,不能視,惶恐呼萬歲,求自效,不聽,并立、乾祐、輔堯、鑑、宗旦害之。立臨刑,大罵不為屈,逾月,得其尸,面如生【三三】。而李肅、武吉、武緣令梅微之、支使蘇從與賊黃師宓有舊,獲免。當智高未反時,邕州有白氣出庭中,江水溢,宗旦以為兵象,度智高必反,以書告珙,珙不聽,宗旦言不已,珙怒,詆之曰:「司戶狂耶!」及智高破橫山寨,即載其親桂州,曰:「吾有官守,不得去,無為俱死也。」既而賊執宗旦,欲任以事,宗旦叱賊,且大罵,遂被害。宗旦,魯人,始官京東,與李道、徐程、尚同等四人為監司耳目,號為「四〈目牚〉」【三四】,人多惡之,然其立節乃如此.
智高既得邕州,即偽建大南國,僭號仁惠皇帝,改年啟曆,赦境內,師宓以下皆稱中國官名
[15] 癸丑,儂智高入橫州,知州殿中丞張仲回、監押東頭供奉官王日用棄城。
[16] 丙辰,入貴州,按原本作「費州」。考宋史地里志廣南西路無費州,乃「貴」字之誤,今改正。知州、祕書丞李琚棄城。
[17] 庚申,入龔州,知州、殿中丞張序棄城.
[18] 辛酉,入藤州;又入梧州、封州,知藤州、太子中舍李植,知梧州、祕書丞江鎡,並棄城。知封州、太子中舍曹覲死之。封州人未嘗知兵,士卒才百人,不任鬥,又無城隍以守,或勸覲避賊,覲正色叱之曰:「吾守臣也【四一】,有死而已,敢言避賊者斬。」麾都監陳曄引兵迎擊賊,封川令率鄉丁、弓手繼進【四二】。賊眾數百倍,曄兵敗走,鄉丁亦潰,覲率從卒決戰不勝,被執。賊戒勿殺,捽使拜,且誘之曰:「從我,得美官,付汝兵柄【四三】,以女妻汝。」覲不肯拜,且罵曰:「人臣惟北面拜天子,我豈從爾苟生耶!幸速殺我。」賊猶惜不殺,徙置舟中。覲不食者兩日,探懷中印章授其從卒曰:「我且死,若求間道以此上官。」賊知其無降意,害之,至死罵賊聲不絕。投其尸於江,時年三十五
[19] 壬戌,智高入康州,知州太子右贊善大夫趙師旦、監押右班殿直馬貴死之。師旦,稹從子也。賊既破邕州,順流東下,師旦使人覘賊,還報曰:「諸州守皆棄城走矣。」師旦叱曰:「汝亦欲吾走耶!」乃大索,得諜者三人,斬以徇。而賊已薄城下,師旦止有兵三百,開門迎戰,殺數十人。會暮,賊稍卻,師旦語其妻,取州印佩之,使負其子以匿,曰:「明日賊必大至,吾知不敵,然不可以去,爾留死,無益也。」遂與貴部士卒固守城。召貴食,貴不能食,師旦獨飽如平時。至夜,貴臥不安席,師旦即臥內大鼾【四四】。遲明,賊攻城愈急,左右請少避,師旦曰:「戰死與戮死何如?」眾皆曰:「願為國家死。」至城破,無一人逃者。矢盡,與貴俱還,據堂而坐。智高麾兵鼓譟,爭入脅之,師旦大罵曰:「餓獠!朝廷負若何事,乃敢反耶?天子發一校兵,汝無遺類矣。」智高怒,并貴害之。
[20] 癸亥,智高入端州,知州、太常博士丁寶臣棄城走。寶臣,晉陵人也。歐陽修、王安石作寶臣墓碑,皆稱寶臣嘗出戰,有所斬捕,卒不勝【四五】,乃去。蓋飾說也,今不取.
13. Nùng Trí Cao đánh Tống (P2)
Đạo quân của Trí Cao tiến rất nhanh, tuy có người báo trước nhưng viên quan giữ thành Quảng Châu vẫn không tin đó là sự thực. Đến lúc giặc đến gần chân thành, mới cho dân vào lánh nạn, nên xảy ra cảnh dẫm đạp nhau tại cổng thành có nhiều người chết:
“Trường Biên, quyển 172, ngày Bính Dần [21/6/1052], Nùng Trí Cao bắt đầu vây Quảng Châu. Trước đó 2 ngày, có người đến cáo cấp, Tri châu Trọng Giản cho là dối, bắt bỏ tù; rồi hạ lệnh:
‘Ai nói sàm giặc đến sẽ bị chém.’
Ví lý do đó nên dân không được chuẩn bị. Lúc giặc đến, mới ra lệnh vào thành; dân tranh nhau, dùng tiền của hối lộ để được vào cửa nhanh, đạp chết rất nhiều; số còn lại theo giặc, khiến thế giặc trở nên mạnh hơn.” [1]
Tuy lỗi lầm như vậy, nhưng triều đình ở xa chỉ biết thành vẫn giữ vững, cho là công của viên chỉ huy Trọng Giản, nên phong cho y chức Tri Kinh Nam. Riêng phía ngoài thành, quân triều đình bị Trí Cao đánh thua tại khu bến cảng dành cho người nước ngoài buôn bán gọi là đình Thị Bạc:
“Trường Biên, quyển 172, ngày Giáp Thân tháng 6 [9/7/1052], đổi Tri Quảng Châu Binh bộ lang trung thiên chương các đãi chế Trọng Giản làm Tri Kinh Nam. Triều đình cho rằng Giản có khả năng giữ thành nên mới có lệnh này; không biết rằng dân Quảng Châu oán Giản rất nhiều.
Cũng ngày này, Đô tuần kiểm Quảng Châu và Đoan Châu, Cao Sĩ Nghiêu đánh Nùng Trí Cao tại đình Thị Bạc [Quảng Châu], bị thua.” [2]
Thực ra thành Quảng Châu không bị hãm là do công của viên cựu chỉ huy Ngụy Quyền; viên này biết lo xa nên đào giếng sẵn trong thành cung cấp đủ nước; lại cho đặt nõ cứng trên thành, nõ này bắn rất trúng và mạnh khiến quân Trí Cao tuy che người bằng thuẫn, nhưng cũng có nhiều thương vong:
“Trường Biên, quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], trước đây Ngụy Quyền xây thành Quảng Châu, đào giếng chứa nước, chế tạo nõ lớn để phòng thủ. Đến lúc Nùng Trí Cao đánh thành rất gấp, lại ngăn nước không cho chảy vào; nhưng thành chắc, nước giếng dùng không hết; nõ bắn thì trúng; trúng nên giao động, thế giặc nao núng…” [3]
Khi triều đình hiểu được sự việc, bèn dùng lại Ngụy Quyền, giao chức Tri Quảng Châu:
“Trường Biên , quyển 172, ngày Bính Tuất tháng 6 [11/7/1052], dùng Tri Việt Châu [tỉnh Quảng Tây] Cấp sự trung Ngụy Quyền làm Thị lang bộ Công Tập hiền viện học sĩ Tri Quảng Châu. Trước đó mệnh Lang trung bộ Công Vương Quì làm Thái thường thiếu khanh Trực chiêu văn quán thay Trọng Giản Tri Quảng Châu. Nhưng quan can gián tâu rằng vùng Lãnh ngoại [chỉ Quảng Đông, Quảng Tây] mới dùng binh, Quì không có tài phủ ngự, nên bãi chức; rồi chọn Quyền. Vì từ khi Nùng Trí Cao làm phản, chỗ nào giặc đi qua đều phá, chỉ riêng thành Quảng Châu không đánh được. Triều đình xét lúc Quyền coi thành Quảng Châu, xây dựng phòng thủ thành công, nên tăng tước trật, cấp thêm 5.000 cấm binh, lại cho tiện nghi thi hành sự việc.” [4]
Quân triều đình từ châu lân cận đến giải cứu thành Quảng châu cũng bị thảm bại dưới chân thành, cấp chỉ huy đều tử trận:
“Trường Biên quyển 172, ngày Canh Dần [15/7/1052], Đô đại đề cử Quảng Châu, Huệ Châu [5] mang quân đánh giặc. Tây kinh tả tàng khố phó sứ Vũ Nhật Huyên, Tuần kiểm Huệ Châu Tả thị cấm Ngụy Thừa Hiến giao chiến với quân Nùng Trí Cao tại dưới thành Quảng Châu, bị tử trận.” [6]
Nhắm đối phó với tình hình chiến sự, triều đình lập bộ chỉ huy cấp cao, Dư Tĩnh phụ trách lộ Quảng Tây, Dương Điền phụ trách Quảng Đông; sau đó thấy rằng quân Trí Cao cướp phá cả 2 tỉnh, cần thống nhất chỉ huy mới đối phó nổi, nên giao cho Dư Tĩnh tiết chế cả 2 lộ:
“Trường Biên quyển 173, ngày Bính Ngọ tháng 7 [31/7/1052], mệnh Tri Quế Châu Dư Tĩnh chế ngự giặc tại Quảng Nam Đông Tây Lộ. Lúc bấy giờ Gián quan Giả Ảm tâu:
Tĩnh và Dương Điền đều được ban tiện nghi hành sự, nếu 2 người ra lệnh không giống nhau, thì kẻ dưới không biết theo ai. Lại nếu Tĩnh chuyên trách Tây lộ, mà giặc hướng về phía đông; chỗ đó Tĩnh không thống trị, thì không có cách gì sai phái quần chúng; như vậy nên cho Tĩnh kinh chế cả 2 lộ.’
Riêng Tĩnh cũng tâu rằng:
‘Giặc tại phía đông, mà Thần chỉ có quyền lực tại phía tây, không hợp với chí thần mong ước.’
Thiên tử chấp nhận lời xin, nên mới có lệnh này.” [7]
Bấy giờ triều đình nhà Tống cố gắng tỏ ra bớt thụ động, giao cho Tri châu 2 châu lớn Quảng Châu, Quế Châu kiêm chức Kinh lược An phủ sứ, trực tiếp đôn đốc :
“Trường Biên quyển 172, ngày Kỷ Sửu [14/7/1052], chiếu Tri Quảng Châu, Quế Châu từ nay đều kiêm chức Kinh lược an phủ sứ.” [8]
Triều đình bắt đầu ra lệnh hoãn thu thuế tại những nơi bị quân Trí Cao đánh phá:
“Trường Biên quyển 172, ngày Bính Thân tháng 6 [21/7/1052], chiếu ban Quảng Nam Đông Lộ [Quảng Đông], Tây Lộ [Quảng Tây], những vùng bị giặc dày xéo, chưa cho thu thuế mùa hè này.” [9]
Cho tăng cường hệ thống ngựa trạm giúp cho việc truyền tin và giao thông từ kinh sư đến Lưỡng Quảng mau chóng dễ dàng hơn; điền bổ các quan hữu dụng đến các châu quận từng bị chiếm đóng:
“Trường Biên quyển 173, ngày Nhâm Tý [6/8/1052], chiếu ban viên Thẩm Quan rằng các châu Liên [Quảng Nam Đông Lộ], Hạ [Quảng Nam Tây Lộ], Đoan [Quảng Nam Đông Lộ], Bạch [Quảng Nam Tây Lộ] mới đây bị giặc dày xéo, cần chọn quan đứng đầu coi sóc dân.
Lại ban chiếu từ Quảng Châu đến kinh sư tăng đặt các phố trạm cho ngựa chuyển thư; vẫn ra lệnh 1 viên Đề cử nội thần phụ trách.” [10]
Thi hành chính sách bao vây kinh tế, trừng trị nặng kẻ giao dịch buôn bán lương thực với kẻ địch:
“Trường Biên, quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], Khu mật viện tâu rằng bọn man tặc và đồ đảng khoảng 2 vạn tên, 1 ngày ăn hết 500 thạch gạo, [11] nếu không có chỗ dựa về lương thực, chúng không thể ở lâu; cần phải cấm đoán giao dịch lương thực nghiêm, coi như ngoài vòng pháp luật. Ngày Tân Dậu [15/8/1052], chiếu ban bắt thủ phạm xử chém, tòng phạm đày đi lao thành [12] tại Lãnh Bắc; [13] xe, thuyền đều tịch thu sung công.” [14]
Triều đình treo giải thưởng lớn bằng chức quan tiền bạc cho kẻ bắt được Trí Cao, A Nùng mẹ Trí Cao, cùng viên Tiến sĩ tại Quảng Châu làm mưu sĩ Trí Cao:
“Trường Biên, quyển 173, ngày Mậu Tý tháng 8 [11/9/1052], chiếu ban cho vùng Quảng Nam [Quảng Đông, Quảng Tây], ai bắt được Nùng Trí Cao được ban chức Chánh thứ sử, thưởng 3.000 quan tiền, 2.000 tấm quyên; bắt mẹ Trí Cao được ban Phó sứ các ty, thưởng tiền 3.000 quan, 2.000 tấm quyên; bắt Hoàng Vi được ban Đông đầu cung phụng quan, 1.000 quan tiền.” [15]
Nhờ thành xây chắc, tường hào phòng thủ kiến cố, lương thực nước uống đầy đủ; trên thành đặt nõ cứng có chỗ trú ẩn an toàn gây tỗn thất nhiều cho kẻ địch, nên sau nhiều đợt tấn công thất lợi, quân Trí Cao tỏ ra nao núng. Bên ngoài, viên Tri Anh châu Tô Giam tại châu lân cận, mang quân đến cứu, giết cha viên Tiến sĩ Hoàng Sư Mật làm quân sư cho Trí Cao, cùng tìm cách lôi kéo dân chúng từ bỏ hàng ngũ địch. Lại có viên Huyện lệnh Phiên Ngung Tiêu Chú mang quân ra khỏi thành, dùng kế hỏa công thiêu hủy thuyền địch. Do vậy quân Trí Cao vây 57 ngày, rồi biết rằng không lấy được thành, đến ngày16/8/1052 lại tìm cách quay về Ung châu:
“Trường Biên quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052], trước đây Ngụy Quyền xây thành Quảng Châu, đào giếng chứa nước, chế tạo nõ lớn để phòng thủ. Đến lúc Nùng Trí Cao đánh thành rất gấp, lại ngăn nước không cho chảy vào; nhưng thành chắc, nước giếng dùng không hết; nõ bắn thì trúng; trúng nên giao động, thế giặc nao núng. Viên Tri Anh Châu Tấn Giang [Anh Đức thị, tỉnh Quảng Đông], Tô Giam, bắt đầu nghe tin Quảng Châu bị vây, bảo mọi người rằng:
‘Quảng Châu và châu ta gần nhau, nay thành nguy trong sớm tối, mà điềm nhiên không đến cứu là phi nghĩa.’
Bèn chiêu mộ trai tráng hàng vạn người, giao ấn của châu cho Đề điểm hình ngục Bao Kha, trong đêm đi cứu nạn, dừng binh cách Quảng Châu 20 dặm. Hoàng Sư Mật là người Quảng Châu, theo giặc làm minh chủ; Giam bèn bắt trói cha Mật, chém để làm răn; giặc nghe tin sợ táng đởm. Lúc bấy giờ quân vô loại tụ tập cướp phá, Giam bắt được hơn 60 tên, đem chém; chiêu dụ những kẻ bị ăn hiếp trở về với nghề cũ, gồm hơn 6.700 người.
Thành bị vây đã lâu ngày, mấy lần đánh không thắng; giặc bèn tụ tập vài trăm chiếc thuyền đánh gấp phía nam. Có viên huyện lệnh Phiên Ngung tên là Tiêu Chú, người đất Tân Dụ [Nam Xương thị, tỉnh Giang Tây], từ trong vòng vây vượt ra ngoài, chiêu mộ dân cường tráng ven biển hơn 2.000 người, dùng hải thuyền đánh miền thượng lưu. Khi chưa ra quân, thì trong đêm gió nỗi lên, bèn dùng hỏa công đốt thuyền giặc, đại phá khiến thây giặc chất như núi. Lập tức mở cửa huyện, viện binh từ các lộ vào, cùng dân mang rượu, bò, lương thực tiếp tục vào thành; khí thế trong thành phấn khởi, mỗi lần đánh tất thắng, Lại có Chuyển vận sứ Vương Can, mộ dân binh từ bên ngoài vào thành, càng tăng thêm việc phòng bị.
Giặc vây 57 ngày, rồi biết rằng không lấy được thành, đến ngày Nhâm Tuất [16/8/1052] bèn bỏ đi.” [16]
 Quân Nùng Trí Cao theo đường thủy trở về Ung Châu, tại con sông nhỏ Biên Độ Võng nối liên hai sông Bắc Giang, và Tây Giang bị quân Tô Giam dùng chướng ngại vật chặn sông nên không thể theo đường cũ ngược dòng Tây Giang trở về Ung Châu được; khiến Trí Cao phải điều quân ngược dòng Bắc Giang rồi đi vòng sang phía tây. Tại Biên Độ Võng quân triều đình do Hội Trung chỉ huy giao chiến, Hội Trung tử trận:
“Trường Biên quyển 173, ngày Đinh Tỵ tháng 7 [11/8/1052].Trước đó, Giam cùng Đô giám Hồng Châu [Giang Tây] Thái Bảo Cung dùng 8.000 quân đóng tại Biên Độ Võng, chặn đường về của giặc. Hội Trung từ kinh sư tới, tiến đánh; lúc lâm chiến bảo thuộc hạ rằng:
‘Ta 10 năm về trước chỉ là một chẳng trai tráng kiện, nhờ chiến công mà lên đến chức Đoàn luyện sứ, các người hãy gắng lên.’
Rồi trên lưng ngựa tiên phong, gặp lúc giặc chạy đến, Trung dùng tay bắt 2 chỉ huy giặc; chẳng may ngựa sa vào bùn, không cất bước được, bị giáo đâm chết.” [17]
Sáng kiến của viên Tri Anh châu Tô Giam cho lập chướng ngại vật tại Biên Độ Võng để chặn đường về, khiến kẻ địch phải dùng thủy trình theo sông nhỏ đường vòng, gây khó khăn lớn, lại bị tổn thất nhân mạng và nhiều tài sản cướp được; Vua Tống bèn phong cho Giam chức Cung bị khố phó sứ:
“Trường Biên quyển 173.Ngày Tân Mão tháng 8 [14/9/1052]Tri Anh châu Bí thư thừa Tô Giam được ban chức Cung bị khố phó sứ. Trước đó giặc đến vùng Quảng Châu, không kịp thi hành thanh dã,[18] khiến giặc mặc sức cướp phá. Sau này Giam biết giặc sắp đến, chia quân ngăn tại Biên Độ Võng, chặn đường trở về của giặc bằng cách đặt bè gỗ, đá lớn đến 40 dặm. [19] Giặc đến quả nhiên không tiến được, phải đi vòng mấy chục dặm rồi vào sông Sa Đầu Độ từ huyện Thanh Viễn qua phía tây đến Liên Châu, Hạ Châu để rồi trở về lối cũ. Số tổn thương rất nhiều, Giam lấy được hầu hết đồ vật giặc để lại.” [20]
Riêng viên Huyện lệnh Tiêu Chú, dùng hỏa công đốt thuyền địch tại Quảng Châu cũng được thăng chức Lễ tân phó sứ:
“Trường Biên quyển 173.Ngày Đinh Hợi [10/9/1052], dùng Tiêu Chú làm Lễ tân phó sứ, vẫn trao quyền điều động tại huyện Phiên Ngung.” [21]
Đạo quân của Nùng Trí Cao trên đường trở về Ung Châu tuy bị ngăn chặn tại Biên Độ Võng phải đi vòng, nhưng không tỏ ra thụ động. Tuy vô học nhưng y đã làm đúng theo binh thư, chuyển từ thụ động rút lui dễ bị đánh sau lưng, quay sang thế tấn công mạnh, tiêu diệt nhiều tướng lãnh quân lính đối phương, rồi trở về Ung Châu một cách an toàn; chi tiết chiến sự xãy ra xin trình bày tại chương sau.
Chú thích:
[1] 丙寅,儂智高圍廣州。前二日,有告急者,知州仲簡以為妄,囚之,下令曰:「有言賊至者斬!」以故民不為備。及賊至,始令民入城,民爭以金貝遺閽者,求先入,踐死者甚眾,餘皆附賊,賊勢益張。
[2] 甲申,徙知廣州、兵部郎中、天章閣待制仲簡知荊南。朝廷但以簡能守城,故有是命,不知廣人怨之深也。是日,廣、端都巡檢高士堯擊儂智高於市舶亭,為賊所敗。
[3] 初,魏瓘築廣州城,鑿井畜水,作大弩為守備。及儂智高攻城甚急,且斷流水【一】,而城堅,井飲不竭,弩發輒中,中輒洞潰,賊勢稍屈。
[4] 丙戌,知越州、給事中魏瓘為工部侍郎、集賢院學士、知廣州。
初,命工部郎中王逵為太常少卿、直昭文館,代仲簡。而言者以今嶺外方用兵,逵非撫禦才,罷之,遂改命瓘。自儂智高反,所過輒破,獨廣州城守不下。朝廷追論瓘有築城功,既加爵秩,又給禁卒五千使往,且聽以便宜從事。
[5] Huệ Châu: thuộc tỉnh Quảng Đông, giáp phía đông Quảng Châu.
[6] 庚寅,廣惠等州都大提舉捉賊、西京左藏庫副使武日宣,惠州巡檢、左侍禁魏承憲擊儂智高於廣州城下,死之。
[7] 丙午,命知桂州余靖經制廣南東、西路盜賊。時諫官賈黯言:「靖及楊畋皆許便宜從事,若兩人指蹤不一,則下將無所適從。又靖專制西路,若賊東嚮,則非靖所統,無以使眾。不若併付靖經制兩路。」而靖亦自言賊在東而使臣西,非臣志也。上從其言,故有是命。
[8] 己丑,詔知廣州、桂州自今並帶經略安撫使。
[9] 詔廣南東、西路經蠻賊蹂踐處,夏稅未得起催
[10] 壬子,詔審官院,廣西連、賀、端、白等州,近為蠻賊所踐,宜擇長吏存撫其民。
[11] Thạch tương đương 120 cân, mỗi cân 16 lượng.
[12] Lao thành: thời Tống đặt nơi đày phạm nhân gọi là lao thành.
[13] Lãnh Bắc: phía bắc Ngũ Lãnh; tức phía bắc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
[14] 樞密院言,蠻賊徒黨無慮二萬人,日食米五百石,非有資其糧食者,則勢不可留,須法外禁之。辛酉,詔犯者其首處斬,從者配嶺北牢城,舟車沒官。
[15] 詔廣南有捕獲儂智高者,授正刺史,賞錢三千緡、絹二千匹;獲智高母,授諸司副使、錢三千緡、絹二千匹;獲黃師宓、黃瑋授東頭供奉官、錢一千緡。
[16] 初,魏瓘築廣州城,鑿井畜水,作大弩為守備。及儂智高攻城甚急,且斷流水【一】,而城堅,井飲不竭,弩發輒中,中輒洞潰,賊勢稍屈。知英州晉江蘇緘,始聞廣州被圍,謂其眾曰:「廣與吾州密邇,今城危在旦暮而恬不往救,非義也。」乃蒐募壯勇合數千人,委州印於提點刑獄鮑軻,夜行赴難,去廣二十里駐兵。黃師宓者,廣人也,陷賊中,為謀主,緘使縛其父,斬以徇,賊聞之喪氣。時羣不逞皆旁緣為盜,緘捕得六十餘人,斬之,招懷其驅脅詿誤使復故業者,凡六千八百餘人。
城被圍日久,戰數不勝。賊方舟數百,急攻南城,番禺縣令蕭注者,新喻人也,先自圍中出,募得海上強壯二千餘人,以海船集上流,未發,會颶風夜起,縱火焚賊船,煙燄屬天,大破之,積尸甲如山。即日發縣門,諸路援兵及民戶牛酒芻糧相繼入城,城中人乃有生意,每戰必勝。而轉運使王罕,亦自外募民兵,遂入城,益修守備。賊知不可拔,圍五十七日,壬戌解去
[17] 先是,緘與洪州都監蔡保恭,以兵八千人據邊渡蛧,扼賊歸路,會忠自京師至,奪而將之。臨戰,謂其下曰:「我十年前一健兒,以戰功為團練使,汝曹勉之。」於是不介馬而前。先鋒遇賊奔,忠手拉賊帥二人,馬陷濘,不能奮,遂中標槍死。
[18] Thanh dã: thực hiện vườn không, nhà trống; khiến không còn gì để giặc cướp phá.
[19] Quân Nùng Trí Cao lúc trở về theo đường cũ ngược sông Tây Giang, nhưng bị lực lượng của Tô Giam cản nên phải dùng sông Bắc Giang ngược lên huyện Thanh Viễn, rồi theo dòng sông nhỏ đánh Liên châu, Hạ châu.
[20] 知英州、祕書丞蘇緘為供備庫副使.
初,廣州以賊遽至,不及清野,故賊得肆略。後緘知賊將走,分兵邊蛧,扼其歸路,布槎木、巨石幾四十里。賊至,果不能前,遂繚繞數舍,入沙頭渡江,由清遠縣道連、賀州西歸,摧傷者極多,緘盡得賊所略去物。
[21] 丁亥,以蕭注為禮賓副使,仍權發遣番禺縣事。
14. Nùng Trí Cao đánh Tống (P3)
Khởi đầu đạo quân Nùng Trí Cao toàn thắng trong cuộc trường chinh từ Hoành Sơn [Ung Châu], xuôi hạ lưu các sông Hữu Giang, Uất, Tây Giang, Châu Giang; cuối cùng bị khựng lại tại thành Quảng Châu. Trên đường trở về thành Ung [Nam Ninh] bị quân Tô Giam dùng chướng ngại vật chặn tại Biên Độ Võng phải ngược sông Bắc Giang. Quả thực Trí Cao đúng như ý nghĩa tên gọi, trí óc vượt người thường, từ thế bị động chuyển sang chủ động; trên thuyền ra lệnh ca hát vui mừng, rồi tiếp tục tấn công các châu, huyện; từ Thanh Viễn [Quingyuan], ngược Thiều Châu [Shaoguan], theo sông nhỏ hướng tây sang Quảng Nam Tây Lộ [Quảng Tây]; gây tổn thất lớn cho quân dân nhà Tống:
“Trường Biên, quyển 173. Giặc vây 57 ngày, rồi biết rằng không lấy được thành, đến ngày Nhâm Tuất [16/8/1052] bèn bỏ đi, theo ngược dòng sông [Bắc Giang] đến huyện Thanh Viễn [Quảng Đông], trên thuyền chở phụ nữ vừa ca hát tiếp tục hành trình. Rồi đánh Hạ Châu [Quảng Tây] nhưng không lấy được. Gặp Đô giám Quảng Đông Trương Trung tại Bạch Điền, Trung bị thua, tự sát. Tuần kiểm Kiền Châu [Giang Tây] Đổng Ngọc, Tuần kiểm Khang Châu [Quảng Đông] Vương Ý, Tuần kiểm Liên Châu [Quảng Đông] Trương Tú, Tuần kiểm Hạ Châu Triệu Duẫn Minh, Giám Áp Trương Toàn, Ty lý tham quân Đặng Vãn đều tử trận.” [1]
Tiếp tục cuộc hành trình, Trí Cao tổ chức cuộc tập kích đêm giết viên Kiềm hạt hống hách kiêu hãnh Tưởng Giai, tại Thái Bình Trường:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Mậu Thân  tháng 9 [1/10/1052], ngày hôm nay Nùng Trí Cao giết Quảng Nam kiềm hạt Tưởng Giai tại Thái Bình Trường [Quảng Tây], Trang Thác Phó sứ Hà Tông Cổ, Hữu thị cấm Trương Đạt, Tam ban phụng chức Đường Hiện đều tử trận.
Giai nhận mệnh đi dẹp giặc, đi đường 17 ngày đến chân thành Quảng Châu. Lúc vào thành, chưa chào hỏi xong vội bảo Tri châu Trọng Giản rằng:
‘Ngươi giữ binh phòng thủ, không đánh giặc, lại cho bộ binh cắt tai dân để lãnh thưởng, tội đáng chém.’
Giản cự rằng:
‘Làm sao có việc Đoàn luyện sứ muốn chém quan Thị tòng!’
Giai nói:
“Ta có kiếm chém chư hầu trong tay, Thị tòng không đáng bàn.”
Người xung quanh khuyên giải mới dừng. Đến khi giặc rời Quảng Châu, Dương Điền ban hịch ra lệnh Giai đốt lương tích trữ, rút về giữ Thiều Châu [Quảng Đông]; quân đến Hạ Châu, giặc tập kích trong đêm, giết Giai. Giai hành động khinh suất, cuối cùng bị bại.” [2]
Tiếp tục cuộc xâm lăng, Trí Cao xua quân đánh phá vùng tây bắc tỉnh Quảng Tây, viên Tuần kiểm vùng Quế Lâm, Liễu Châu tử trận:
“Ngày Giáp Dần [7/10/1052], Quế Nghi Liễu châu Tuần kiểm Tam ban tá chức Lý Quí đánh Nùng Trí Cao tại động Long Tụ, bị thua tử trận.” [3]
Qua mấy lần tổn thất nặng, triều đình Tống nhận được tin, bèn lập tức giáng chức 2 viên chỉ huy tổng quát Quảng Nam Đông Lộ [Quảng Đông], cùng một số tướng lãnh, tri châu dưới quyền:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Bính Thìn [9/10/1052], giáng Quảng Nam Đông Tây Lộ Thể lượng an phủ kinh chế tặc đạo, Khởi cư xá nhân, Trực sử quán đồng tri gián viện Dương Điền làm Tri Ngạc châu lạc tri gián viện; Đồng thể lượng an phủ kinh chế tặc đạo, Tây thượng hạp môn phó sứ Tào Tu làm Đô giám Kinh Nam; Quảng Nam đông lộ kiềm hạt kiêm tróc sát man tặc doanh uyển sứ, Thiều châu Đoàn luyện sứ Tưởng Giai làm Đô giám Đàm châu.
Lúc đầu Điền và Tu nghe tin quân Trí Cao di chuyển đến sông Sa Đầu, sắp vượt sông, bèn ra lệnh Giai bỏ Anh Châu, đốt lương thảo; cùng lệnh Nội điện thừa chế Ngột Bân, Sầm Tông Mẫn, Tây đầu cung phụng quan hạp môn chi hầu Vương Tòng Chính rút lui giữ Thiều Châu; gửi văn thư cho Ngự sử đài cùng Gián Viện biết; vì vậy nên đều bị trách phạt. Lúc này Giai tử trận đã qua 9 ngày. Tòng Chí người phủ Khai Phong.
Cung bị khố phó sứ Tô Giam, Lễ tân phó sứ Tiêu Chú đều được làm Đô giám Quảng Nam Đông Lộ kiêm Quản câu tặc đạo sự hai lộ Đông Tây.” [4]
Viên Tri Quế châu Dư Tĩnh [Quế Lâm, Quảng Tây] được chỉ định kiêm luôn chức Đề cử Quảng Nam Đông Lộ [Quảng Đông] để thay thế các viên Đồng thể lượng kinh chế đạo tặc Quảng Nam Đông Tây lộ là Dương Điền, Tào Tu, đã bị giáng chức:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Đinh Tỵ [10/10/1052], mệnh Tri Quế châu Dư Tĩnh làm Đề cử Quảng Nam Đông Lộ [Quảng Đông] binh giáp. Xét Tống Sử chép làm Đề cử Quảng Nam binh giáp, kinh chế đạo tặc.” [5]
Tiếp tục cuộc càn quét, tại Chiêu Châu [Quảng Tây], quân triều đình bị thiệt hại nặng, thành mất, một số võ quan tử trận; sau khi chiến thắng, quân Nùng làm cuộc tàn sát dã man những người dân trốn trong hang động:
“Trường Biên quyển 173. Ngày Canh Thân [13/10/1052], Nùng Trí Cao đánh phá Chiêu Châu, Tri châu Liễu Ứng Thần bỏ thành. Lạc uyển sứ Quảng Tây kiềm hạt Vương Chính Luân giao chiến với giặc tại trạm dịch Quan Môn, tử trận. Đông đầu cung phụng quan, Hạp môn chi hầu Vương Tòng Chính; Tam ban phụng chức Từ Thủ Nhất; Tá chức Văn Hải đều bị giết. Núi trong châu có mấy hang động, có thể chứa vài trăm người; dân chúng thấy giặc đến bèn chui vào trốn, bị giặc đốt chết. Lúc giặc mới bắt Tòng Chính, Chính chửi giặc không ngừng, lại lấy nước sôi tạt vào, bất khuất nên bị giết.” [6]
Vào ngày 30/10/1052, đạo quân Nùng Trí Cao đánh chiếm thành Tân Châu, vị trí phía phía đông đông bắc Ung Châu [Nam Ninh, Quảng Tây] trên 60 km; viên Tri châu phải bỏ thành chạy:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Đinh Sửu tháng 10 [30/10/1052], Nùng Trí Cao đánh Tân Châu [huyện Tân Dương, Quảng Tây]; Tri châu Quốc tử giám bác sĩ Trịnh Đông Mỹ bỏ thành trốn.” [7]
Mấy tháng trước, sau khi quân Nùng Trí Cao rời Ung Châu, xuôi dòng sông đến Quảng Châu; triều đình sai viên Tri Nghi châu Tống Khắc Long đến tái chiếm Ung Châu và ra lệnh cho viên này chiêu tập quân binh, sửa sang thành trì để phòng thủ:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Mậu Tý [13/7/1052], Dùng Tri Nghi Châu Văn tư phó sứ Tống Khắc Long làm Lễ tân sứ Tri Ung Châu. Ban chiếu cho Khắc Long chiêu tập những người lưu vong tản mác, sửa sang lại thành trì, nhằm yên dân.” [8]
Rồi đến ngày 6/11/1052 quân Nùng Trí Cao quay trở lại tái chiếm thành Ung Châu [Nam Ninh, Quảng Tây]; viên Tri Ung châu không dám chống cự, bỏ thành trốn. Triều đình nghiêm khắc đàn hặc y không chăm lo việc phòng thủ, lại bắt dân lành vu cho là giặc để lãnh thưởng:
“Trường Biên quyển 173, Ngày Giáp Thân [6/11/1052], hôm nay Nùng Trí Cao trở lại chiếm thành Ung Châu [Nam Ninh, Quảng Tây], Tri châu Lễ tân sứ Tống Khắc Long bỏ thành. Triều đình đàn hặc y không chịu chăm sóc việc phòng thủ.
 Khắc Long tiếp thu sau khi thành bị giặc dày xéo, không chịu sửa sang chăm lo việc phòng thủ; thả lỏng quân lính dến các sơn trại lân cận, giết những người trốn tránh, trá xưng là bắt được giặc, cứ một đầu người lãnh 1.000 đồng tiền; lại dối trá ban thiếp cho thân binh [9] để thưởng công. Đến lúc giặc tái chiếm, không chống cự, mang quân bỏ trốn.” [10]
Sau khi trở về thành Ung, Nùng Trí Cao tung tin rằng sẽ quay trở lại đánh chiếm Quảng Châu, hàng ngày cho đi tìm gỗ đóng thuyền. Triều đình lo sợ sự việc này xảy ra, bèn ra lệnh cho viên Tri Quảng Châu hoãn việc tập thủy chiến, để tu bổ thành trì và hệ thống phòng thủ vững chắc hơn:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Canh Ngọ tháng 11[22/12/1052], chiếu ban Tri Quảng Châu Ngụy Quyền, Chuyển vận sứ Quảng Đông Nguyên Giáng:
“Phàm việc phòng thủ không được cẩu thả; nếu dân không tạm thời lao khổ, không thể được an nhàn lâu dài. Thành trì tại Quảng Châu cần mộ các hộ giàu có Phiên, [11] Hán cùng đinh tráng ra sức tu bổ hoàn thành. Nếu không có kế sách cản địch, chỉ lo tập thủy chiến, giặc đến đánh không được, không phải là sách lược hoàn hảo.” [12]
Chiến dịch hành quân theo chuỗi liên hoàn của Nùng Trí Cao, khởi đầu từ trại Hoành Sơn, Ung Châu vào ngày 12/05/1052, rồi quay trở lại thành Ung [Nam Ninh] ngày 06/11/1052.  Trong vòng ngót nửa năm, đoàn quân vượt qua lưu vực hai con sông lớn Tây Giang, Bắc Giang, thuộc 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây;  chiếm hàng chục phủ huyện thành trì; gây tổn thất lớn cho nhà Tống, không thể bù đắp nổi!
Chú thích:
[1] 賊知不可拔,圍五十七日,壬戌解去,由清遠縣濟江,擁婦女作樂而行。攻賀州,不克。遇廣東都監張忠於白田,忠戰敗被殺。虔州巡檢董玉,康州巡檢王懿,連州巡檢張宿,賀州巡檢趙允明、監押張全、司理參軍鄧冕皆沒。
[2] 是日,儂智高殺廣南鈐轄蔣偕於賀州太平場,莊宅副使何宗古、右侍禁張達、三班奉職唐峴皆沒。
偕始受命討蠻賊,馳驛十七日,至廣州城下,入城,揖州官未定,數知州仲簡曰:「君留兵自守,不襲賊,又縱部兵馘平民以幸賞,可斬也!」簡曰:「安有團練使欲斬侍從官」偕曰:「斬諸侯劍在吾手,何論侍從!」左右解之,乃止。及賊去廣州,楊畋檄偕焚儲糧,退保韶州。軍次賀州,賊夜入其營,襲殺之。偕舉動輕肆,卒坐此敗。
[3] 甲寅,桂宜柳州巡檢、三班借職李貴,擊儂智高於龍岫峒,兵敗,死之。
[4] 丙辰,降廣南東西路體量安撫經制賊盜、起居舍人、直史館、同知諫院楊畋知鄂州,落知諫院;同體量安撫經制賊盜、西上閤門副使曹修為荊南都監;廣南東路鈐轄兼捉殺蠻賊、宮苑使、韶州團練使蔣偕為潭州都監。
初,畋與修聞智高徙軍沙頭,將濟江,即命偕棄英州,焚儲糧,及召內殿承制亓贇岑宗閔、西頭供奉官閤門祗候王從政退保韶州,仍移文御史臺及諫院,故并責之。時偕死既九日矣。從政,開封人也。
供備庫副使蘇緘、禮賓副使蕭注,並為廣南東路都監兼管勾東西兩路賊盜事。
[5] 丁巳,命知桂州余靖提舉廣南東路兵甲按宋史作提舉廣南兵甲。經制賊盜【一七】。
[6] 庚申,儂智高破昭州,知州柳應辰棄城,洛苑使、廣西鈐轄王正倫與賊鬥於館門驛,死之。東頭供奉官、閤門祗候王從政,三班奉職徐守一,借職文海皆被害。州之山有數穴,可容數百人,民聞賊至,走匿其中,悉為賊所焚。賊始執從政,罵賊不絕口,至以湯沃之,終不屈而死
[7] 丁丑,儂智高入賓州,知州、國子監博士程東美棄城。
[8] 戊子,知宜州、文思副使宋克隆為禮賓使、知邕州。仍詔克隆招輯亡散,繕完城池,以慰安人民。
[9] Thân binh: quân thân cận.
[10] 是日,儂智高復入邕州,知州、禮賓使宋克隆棄城。
克隆承賊踐蹂之後【二】,不能營葺守備,頗縱士卒下諸山寨【二一】,殺逃民,詐為獲賊,一級賞錢十千,又詐給親兵帖以為嘗有功【二二】。及智高再至,克隆無以禦賊,遂遁去。
[11] Phiên: chỉ người ngoại quốc đến Quảng Châu buôn bán.
[12] 詔知廣州魏瓘、廣東轉運使元絳:「凡守禦之備,無得苟且為之。若民不暫勞,則不能以久安。其廣州城池,當募蕃漢豪戶及丁壯併力修完。若無捍敵之計,但習水戰,寇至而鬥,乃非完策。」時儂智高還據邕州,日採木造舟,揚言復趣廣州也。
15. Nùng Trí Cao đánh Tống (P4)
Trí Cao thua trận sau cùng
Trước tình hình đạo quân Nùng Trí Cao liên tục chiến thắng; nội bộ triều Tống chia làm 2 phe: chủ hòa, và chủ chiến. Phe chủ hòa muốn nhường cho Trí Cao 7 châu tại Quảng Tây, mong rằng sau khi nhận được quan chức, y sẽ tỏ ra hòa hoãn. Phái chủ chiến cho rằng y sẵn có tham vọng nên “được voi đòi tiên”; nếu nhượng bộ vài châu, thế lực mạnh hơn y sẽ tiếp tục ôm mộng xâm lăng, để nuốt chửng Trung Quốc. Triều đình nhận định cách phòng thủ hữu hiệu nhất là tấn công, bèn chọn tướng ra quân, dùng Địch Thanh làm chủ soái, lại theo lời khuyên bãi viên Hoạn quan phụ tá cho Thanh:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Quí Hợi tháng 9 [16/10/1052], Dương Điền, Tào Tu khống chế man tặc không lập được công; bèn sửa mệnh ban cho Tôn Miện, Dư Tĩnh phụ trách. Thiên tử vẫn còn lo lắng, có kẻ nói rằng Trí Cao muốn chiếm được 7 châu tại Ung [Nam Ninh thị, Quảng Tây] Quế [Quế Lâm thị], lên làm Tiết độ sứ rồi mới chịu hàng. Khu mật phó sứ Lương Thích nói:
‘Nếu chúng chiếm được 2 châu, thì đến lúc triều đình cũng không còn.’
Thiên tử hỏi Tể tướng Bàng Tịch rằng ai có thể làm tướng, Tịch tiến cử Khu mật phó sứ Địch Thanh; Thanh cũng dâng biểu xin đi. Ngày hôm sau vào triều yết, Thanh tự xưng xuất thân từ lính, không đánh nhau thì không có gì để đền ơn nước; nguyện có dưới tay vài trăm kỵ binh phiên, tăng thêm cấm binh, sẽ mang đầu giặc về kinh khuyết. Thiên tử hài lòng vì lời hùng tráng. Ngày Canh Ngọ [23/10/1052], Thanh được cải chức Tuyên huy nam viện sứ Kinh Hồ bắc lộ tuyên phủ sứ Đề cử Quảng Nam Đông Tây lộ kinh chế tặc đạo sự. Lúc đầu muốn dùng hoạn quan Nhập nội đô tri Nhậm Thủ Trung làm phó cho Thanh, sau Gián quan Lý Đoài tâu rằng nhà Đường mất do để cho Hoạn quan coi quân, ảnh hưởng đến chủ tướng, không nên theo; cuối cùng bãi Thủ Trung.” [1]
Vua Tống Nhân Tông cho đặt tiệc tiễn biệt tại điện Thùy Củng, lại gửi chiếu thư, ân cần dặn dò Địch Thanh cẩn thận lưu ý về vấn đề an ninh cá nhân:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Canh Thìn [2/11/1052], Địch Thanh từ giả kinh đô, đặt tiệc tiễn biệt tại điện Thùy Củng. Thiên tử nói với quan phụ tá rằng:
‘Thanh có uy danh, lúc đến chắc giặc sợ; cần cảnh giác, những kẻ phục dịch xung quanh, nếu không thân cận không được dùng; lúc ăn ngủ nên đề phòng thích khách.’
Nhân sai Sứ giả phi ngựa đến để chuyển lời răn.” [2]
Ngày hôm sau lại gửi tiếp chiếu thư cầm tay, lệnh Địch Thanh khoan hồng cho dân chúng lầm lỗi trong lúc loạn lạc; miễn sưu dịch, cấp tuất cho các nạn nhân chiến tranh. Buổi đầu định cử một viên quan văn phụ tá cho Địch Thanh, nhưng thời Tống trọng văn khinh võ, nên Tể tướng Bàng Tịch sợ viên quan văn lắm lời khống chế, bèn xin cho Địch Thanh toàn quyền chỉ huy:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Tân Tỵ [3/11/1052], Thiên tử sai Nội thị mang chiếu chỉ chuyển bằng tay cho Địch Thanh như sau:
“Cần tránh giặc nơi núi rừng, cấp tốc gọi dân trở về với nghiệp cũ; kẻ lợi dụng thế giặc ăn cướp không xử tội chết; kẻ bị giặc ăn hiếp phải theo nay trở về cũng không bắt tội…Nếu có kẻ bị giết, rồi mạo xưng là thủ cấp giặc; xét thấy rõ, cấp tiền gạo an ủi gia đình họ. Nhà bị cướp đốt, tạm thời cho người trong nhà miễn sưu dịch, nếu hiện tại ngũ thì cho nghĩ để sửa sang nhà cửa. Phàm thành quách bị đốt phá; hoặc trước kia không có thành, hay thành không kiên cố, thì xây cho tốt; khí giới hư không dùng được, cho tu sửa lại.”
Hữu chính ngôn Hàn Ráng tâu rằng Địch Thanh là quan võ, không nên nắm chức một mình; Thiên tử đem việc này hỏi Bàng Tịch, Tịch tâu:
‘Thanh xuất thân từ lính, nếu sai quan văn làm Phó ắt sẽ bị chế ngự, hiệu lệnh trở nên bất nhất; vậy tốt hơn là đừng sai đi.’
Bèn ban chiếu cho tướng tá tại Quảng Nam [Quảng Đông, Quảng Tây] tuân theo tiết chế của Thanh. Nếu Tôn Miện, Dư Tĩnh phân lộ dẹp giặc, thì tuân theo sự chỉ huy của Miện.” [3]
Lúc này triều Tống chủ trương vừa đánh vừa an dân; bèn ban chiếu miễn thuế hè thu; giúp tre, gỗ làm nhà cho các nạn nhân thuộc 2 tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây, từng bị Nùng Trí Cao đánh phá:
-“Trường Biên, quyển 173. Ngày Giáp Thân [6/11/1052], chiếu ban các châu huyện tại Quảng Nam Đông Lộ bị giặc cướp phá đã được miễn thuế mùa hè, mùa thu này cũng không bị đòi hỏi.” [4]
-“Trường Biên, quyển 173. Ngày Ất Tỵ tháng 11 [27/11/1052], chiếu ban An phủ chuyển vận sứ Quảng Nam Đông Tây Lộ cần gia tăng yên ỗn các châu huyện bị giặc cướp phá; giúp đỡ tre gỗ  để làm nhà, cùng miễn trừ thuế.” [5]
Tuy dùng chính sách an ủi dân, nhưng vẫn duy trì chủ trương bao vây kinh tế, nghiêm khắc với kẻ buôn bán với địch, phạt đến tội chết, không tha:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Ất Mão [7/12/1052], chiếu ban cho Địch Thanh rằng dân hoặc quan lại tại Quảng Nam ai buôn bán với giặc hãy chém rồi tâu lên; gia đình bắt dời qua phía bắc Lãnh [6].” [7]
Khởi đầu, viên Đề cử Quảng Nam Đông Tây lộ Dư Tĩnh tâu rằng đã dụ được 9 khe động giúp đỡ và hẹn với Vua nhà Lý nước ta hợp tác đánh lại Nùng Trí Cao; triều đình Tống còn nghi ngờ nên ra lệnh cho Địch Thanh, Tôn Miễn tìm hiểu kỹ về việc này:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày Mậu Thân [30/11/1052], chiếu ban về việc Dư Tĩnh dụ được 9 khe động tình nguyện giúp quân nhà Vua; sợ là mưu gian bị giặc lợi dụng; hãy cùng Địch Thanh, Tôn Miễn xem xét dò hỏi. Trước đó Tĩnh lo Nùng Trí Cao sẽ cầu viện Giao Chỉ và hiếp các động để củng cố; nên hẹn ước với Lý Khắc Chính [vua Lý Thái Tông] hội binh đánh giặc; lại chiêu mộ các Tù trưởng họ Nùng, Hoàng, ky my bằng chức tước để tiết chế; bị ngờ là không thể dùng được. Tĩnh nói:
‘Mong bọn chúng không cấu kết với Trí Cao là được rồi.’” [8]
Lý do Dư Tĩnh chủ trương nhờ quân viện nước ta đánh Trí Cao; vì sợ nếu không cho, Vua Lý tất giận, quay lại trợ giúp Trí Cao. Riêng viên Tổng chỉ huy Địch Thanh lo rằng nếu quân ta vào nội địa, rồi nhân đó đánh chiếm Trung Quốc thì lấy lực lượng nào để chống lại; triều đình nhà Tống nhận định rằng ý kiến Địch Thanh đúng, do đó quyết định hủy bỏ việc nhờ cậy nước ta:
“Trường Biên quyển 173. Ngày Mậu Tý [9/1/1053], Tri Quế Châu Dư Tĩnh tâu:
“Năm nay Giao Chỉ đáng phải đến triều cống, nhân vì Nùng Trí Cao phản, đường đi không thông; mấy lần gửi văn thư xin phối hợp quân đánh giặc, nhưng đã lâu triều đình không đáp. Thấy lời ước hẹn rất thành khẩn, nếu chưa có thể diệt đảng giặc, thì cũng có thể chia rẽ chúng thêm; tại các châu Ung, Khâm đã trử sẵn số lương thực vạn người ăn để đợi.”
Chiếu thư cũng đã cấp 2 vạn quan tiền để trợ binh phí, đợi khi bình giặc lại thưởng tiền 3 vạn quan. Lúc đầu triều đình không chấp thuận cho Giao Chỉ ra quân; Tĩnh tâu Trí Cao là phản tặc của Giao Chỉ, nên cho ra quân, đừng ngăn trở thiện ý. Nay không cho, Giao Chỉ tất giận, quay lại trợ giúp Trí Cao; vậy nên hứa cho. Triều đình chấp thuận lời xin, nhưng Địch Thanh tâu:
“Lý Đức Chính thanh ngôn rằng mang bộ binh 5 vạn, kỵ binh 1.000 đến viện trợ, đó không phải là thực tình. Vả lại dùng binh nước ngoài để trừ giặc bên trong, không có lợi cho ta. Chỉ một mình Trí Cao dày xéo 2 xứ Quảng [Quảng Đông, Quảng Tây] lực không dẹp được; lại thêm quân lính của Man. Người Man tham được lợi, quên nghĩa; nếu chúng nhân đó mà khởi loạn, ta lấy gì chống cự đây! Xin bãi quân Giao Chỉ đừng dùng, và ban hịch cho Tĩnh đừng thông sứ với Giao Chỉ.”
Triều đình cuối cùng dùng kế sách của Địch Thanh, dư luận cũng cảm phục Thanh có sách lược xa. Ngày Giáp Tý tháng 11 [16/12/1052], Tẩu mã thừa thụ Lý Tông Đạo báo rằng nghe tin Giao Chỉ mang quân 2 vạn người, do đường bộ và đường biển giúp quân nhà Vua đánh giặc; binh số so với Địch Thanh tâu không giống. Nay dùng lời tâu của Thanh, tước bỏ lời báo của Tông Đạo vào ngày Giáp Tý.” [9]
Về vấn đề này, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư sử nước ta, cung cấp gộp sử liệu trước và sau trận chiến cuối cùng giữa quân Địch Thanh và Trí Cao. Về những gì trước khi trận chiến xảy ra, Địch Thanh xin triều đình Tống từ chối nước ta nhận giúp, Toàn Thư cũng chép tương tự; riêng việc sau khi Trí Cao thất bại Vua nước ta xuống chiếu cho chỉ huy sứ là Vũ Nhị đem quân cứu viện Nùng Trí Cao; thì các bộ sử nước ta đều chú thích rằng việc đó chưa thực sự xảy ra, có thể chỉ mới nằm trong kế hoạch; riêng sử Trung Quốc không chép:
“Ngày Quý Tỵ, [Sùng Hưng Đại Bảo] năm thứ 5 [1053] Mùa đông, tháng 10, Trí Cao sai Lương Châu đến xin quân [cứu viện]. Vua xuống chiếu cho chỉ huy sứ là Vũ Nhị đem quân cứu viện. Địch Thanh lại đánh phá được Trí Cao. Trí Cao chạy sang nước Đại Lý.[10] Người nước Đại Lý chém đầu Cao bỏ vào hòm dâng vua Tống. Từ đó họ Nùng bị diệt.
Trước đây, Trí Cao cướp biên giới nước nước Tống, Tống sai Khu mật trực học sĩ Tôn Miện, Nhập nội áp ban Thạch Toàn Bân cùng Kinh lược sứ bản lộ là Dư Tĩnh tính việc đánh giặc cướp, vua xin đem quân đánh giúp, vua Tống cho được tiện nghi. Đến khi Địch Thanh làm Đại tướng bèn tâu rằng:
“Mượn binh ngoài để trừ giặc trong không lợi cho ta. Có một Trí Cao mà sức hai tỉnh Quảng không thể chống nổi, lại phải nhờ đến quân cõi ngoài, nếu họ nhân đó mà dấy loạn, thì lấy gì chống lại?”
 Năm ấy, nhà Tống có chiếu dừng việc viện binh của ta. Đến khi Trí Cao xin quân, vua lại nghe theo lời xin. Đô giám nhà Tống là Tiêu Chú đi theo đường đạo Đặc Ma [11] đánh úp, bắt được mẹ Trí Cao là A Nùng, đem giết. Đạo Đặc Ma: tức phủ Quảng Nam, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Trước khi Địch Thanh mang quân đến tỉnh Quảng Tây, viên Kiềm hạt Quảng Tây Trần Thự giao chiến với quân Nùng Trí Cao tại trạm dịch Kim Thành gần ải Côn Lôn, quân thua bại, một số quan tướng bị giết:
“Trường Biên, quyển 173. Ngày mồng một Nhâm Thân tháng 12 [24/12/1052], Kiềm hạt Quảng Tây Trần Thự đánh Nùng Trí Cao, bại trận tại trạm dịch Kim Thành; Đông đầu cung phụng quan Vương Thừa Cát, Trưởng sử Bạch Châu Từ Ngạc tử trận. Thự vốn không có uy lãnh đạo, khi chạm địch thì quân dưới quyền còn ở trong trại, sai Thừa Cát mang 500 quân Trung Cảm của Nghi châu làm tiên phong, vội vả khoác áo giáp tiến trước, rồi quân bị sụp đổ.” [12]
Trước khi ra quân, Địch Thanh hài tội bọn Trần Thự thua trận, bèn bắt một lượt 32 người đem ra xử chém:
“Quyển 174. Năm Hoàng Hựu thứ 5 [1053]
Ngày Đinh Vị tháng giêng [28/1/1053], chiếu ban Quảng Nam Tây Lộ Chuyển vận ty gửi văn thư cho Giao Chỉ đình chỉ việc giúp binh; theo lời xin của Địch Thanh. Địch Thanh hợp quân của hai tướng Tôn Miễn và Dư Tĩnh; từ Quế châu di chuyển đến Tân châu [huyện Tân Dương, Quảng Tây]. Thanh cho rằng Trương Trung, Tưởng Giai khinh địch tử trận, uy danh quân bại hoại, bèn răn trước các tướng không được tự tiện khinh suất giao chiến với giặc, thi hành theo lệnh của chủ tướng. Trần Thự lo Địch Thanh một mình lập công, bèn nhắm lúc Thanh chưa đến, mang 8.ooo quân đánh giặc, thua tại ải Côn Lôn; bọn thuộc hạ như Triển trực Viên Dụng bỏ trốn. Thanh bảo:
‘Lệnh không tuân theo, vì vậy quân thua.’
Vào sáng sớm ngày Kỷ Dậu [30/1/1053] họp các tướng tại vũ đường, bắt Thự đến, và triệu tập tất cả 32 người; xét tội trạng thua bại, đem ra cửa quân chém; Miễn, Tĩnh nhìn nhau, ngạc nhiên. Tĩnh thường bắt Thự xuất chiến, nhân rời chiếu bái tạ nói:
‘Thự làm trái luật, cũng do tội tiết chế của Tĩnh.’
Thanh nói:
‘Ông là quan văn, trách nhiệm trong quân, không phải gánh.’
Chư tướng đều run sợ. …” [13]
Trận chiến xảy ra tại vùng đất bằng, phía sau là núi dễ dấu quân. Trí Cao cho dàn trận thành 3 mũi; dùng đại thuẫn, thương dài, y phục màu ráng, trông qua giống như lửa, xông vào, khí thế rất hung dữ.  Khởi đầu quân Tống hơi núng, nhưng rồi quân kỵ xuất hiện phía sau lưng, từ phía trái đánh sang phải, lại từ phải đánh sang trái, rồi cứ thế tiếp tục; khiến quân Trí Cao chống cự không nổi, đại bại bỏ chạy:
“Ngày Đinh Tý tháng Giêng [7/2/1053] Địch Thanh sau khi giết Trần Thự bèn án binh bất động, rồi ra lệnh điều 10 ngày lương; quân dưới quyền không biết được ý định của chủ tướng như thế nào. Ngày hôm sau ra lệnh tiến quân, Thanh đi theo đội tiền quân, Tôn Miện đội thứ hai, Dư Tĩnh theo hậu quân; buổi chiều đến ải Côn Lôn. Sáng hôm sau, chỉnh bị cờ trống đại tướng, các tướng đứng xung quanh trướng đợi lệnh xuất phát; Thanh mặc thường phục giống như đồng đội, cùng quân tiên phong vượt quan ải; đốc thúc các tướng họp nhau ăn tại ngoài quan ải, dùng phố Quy Nhân bày trận. Ngày Mậu Ngọ [8/2/1053], giặc điều động đại quân, dàn trận thành 3 mũi đến đánh quan quân; dùng đại thuẫn, thương dài, y phục màu ráng, trông qua giống như lửa.
Vào trận, đội tiền phong hơi nhụt, Hữu tướng khai phong Tôn Tiết tử trận. Khí thế giặc rất tinh nhuệ, bọn Miễn đều thất sắc. Thanh đứng lên, cầm cờ trắng vẫy kỵ binh Phiên tại 2 cánh phải, trái. Quân kỵ xuất hiện phía sau lưng giặc, từ phía trái đánh sang phải, lại từ phải đánh sang trái; rồi tiếp tục phía phải đánh sang trái, phía trái đánh sang phải; giặc không chống cự được, đại bại bỏ chạy. Nùng Trí Cao lại chạy về Ung Châu, quân nhà vua truy đuổi 50 dặm, chém được 2.200 thủ cấp; bọn đồ đảng Hoàng Sư Mật, Nùng Kiến Trung, Nùng Trí Trung, cùng quan ngụy 57 người chết; bắt sống hơn 500 giặc. Trí Cao trong đêm đốt thành rút lui, theo sông Hợp Giang vào nước Đại Lý [Vân Nam]….
Sáng muộn ngày hôm sau Thanh cho quân vào thành, lấy được vàng bạc hàng vạn, mấy ngàn súc vật các loại, chiêu hồi 7.200 già, trẻ bị giặc hiếp bắt, an ủi cho trở về quê. Treo đầu bọn Sư Mật dưới thành Ung Châu, gộp 5.341 thây giặc, làm mồ tập thể kinh quan tại phía bắc thành. Bấy giờ thấy có thây giặc khoác áo kim long [rồng vàng], mọi người cho rằng đó là thây của Trí Cao, muốn tâu lên, nhưng Thanh nói:
“Biết đâu không phải là giả trá, không dám nói vu lên triều đình, để mong thưởng công.”
Lúc Thanh mới đến Ung Châu, gặp lúc mây mù giăng mắc, có kẻ bảo giặc bỏ thuốc độc tại thượng nguồn, quân lính uống chết nhiều, Thanh rất buồn. Rồi một buổi chiều bất ngờ nước suối phun lên tại dưới ải, uống thấy ngọt, quân lính yên ỗn. Trí Cao từ khi nỗi dậy đến lúc bình định thời gian gần một năm, phá hại một phương như vào chốn không người. Trước đó có câu đồng dao rằng “Nùng gia chủng, Địch gia thu”, sự việc Nùng Trí Cao bị Địch Thanh đánh phá giống như lời đồng dao.
Cuộc chiến tại Qui Nhân Phố, Hữu ban điện trực Trương Ngọc làm Tiên phong, Như kinh phó sứ Giả Quí làm Tả tướng, Tây kinh tả tạng phó sứ Tôn Tiết làm Hữu tướng. Lúc vào trận Thanh thề rằng:
‘Không đợi lệnh mà làm sẽ chém.’
Đến lúc Tiết giằng co với giặc bị giết; Quì riêng nghĩ rằng dưới quyền đều là quân thiểu số Trung Cảm, Trừng Hải, trường hợp bị khốn trở nên khiếp sợ dễ bị thua; nếu đợi lệnh trên chắc sẽ bị giặc đánh, vả lại binh pháp dạy rằng kẻ ở cao điểm hơn sẽ thắng, bèn dẫn binh hướng về núi, bố trí xong thì giặc đến. Quì mang quân xông xuống, vung kiếm hô lớn, chia cắt quân giặc thành hai, Ngọc dùng quân tiên phong đột xuất trận tiền, còn Thanh điều động kỵ binh đánh sau lưng giặc, khiến giặc thua to. Sau đó Quì bèn đến trướng Thanh xin chịu tội, Thanh vỗ lưng Quì mà bảo rằng:
“Trái lệnh mà thắng là tòng quyền, [14] có tội gì đâu.”
Ngọc quê tại Bảo Định, Quì tại Cảo Thành.” [15]
Cuối cùng Nùng Trí Cao bị giết tại Đại Lý, nước này mang thi hài Trí Cao nạp cho nhà Tống. Trước đó quân binh Tống đã bắt được A Nùng mẹ Trí Cao, cùng con và em; bèn đem tạm giam để mong dụ Trí Cao; nhưng sau khi biết chắc Trí Cao đã chết, bèn đem tất cả ra giết:
“Trường Biên, quyển 180. Năm Chí Hòa thứ 2 [1055]
Ngày Ất Tỵ tháng 6 [15/7/1055], A Nùng mẹ Nùng Trí Cao, em là Trí Quang, con là Kế Tông, Kế Phong; đều bị giết. Trước đó muốn giữ bọn Kế Phong để chiêu hàng Trí Cao, ngày cấp cho ăn uống; nay có tin báo Trí Cao đã chết, bèn tru diệt chúng.”[16]
Lời bàn:
Tìm hiểu kỹ về chiến dịch Nùng Trí Cao đánh Tống, trải qua hàng trăm trận đánh lớn nhỏ, xảy ra suốt hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây; tình hình nhà Tống nói chung quân lính hèn nhát không tin cậy được; nếu chủ tướng không hàng hoặc bỏ chạy, thì cũng bị giết. Chỉ có 3 trận thắng, trận thứ nhất vào tháng 7/1052, viên Huyện lệnh Phiên Ngung Tiêu Chú dựa vào hỏa công đốt thuyền; trận thứ 2 vào tháng 8/1052 Tô Giam ngăn đường trở về Ung Châu của Nùng Trí Cao tại Biên độ Võng, nhờ chuẩn bị đặt chướng ngại vật trước khi quân Trí Cao tới nơi, nên cuối cùng Trí Cao phải dùng đường khác mà đi. Riêng trận thắng cuối cùng, là nhờ cuộc khủng bố trắng, do viên tướng Địch Thanh cố tình dàn ra, để làm nên chiến thắng. Địch Thanh là viên tướng dày dạn trận mạc, xuất thân từ lính trơn, lúc khởi đầu đăng lính bị khắc chữ vào trán, trải qua mấy chục năm kinh nghiệm mới lên đến Đại tướng. Y biết rõ đạo quân Tống cần phải lấy cái chết ra dọa mới chịu dừng lại chiến đấu, nên y giết một lúc 32 người không tuân lệnh. Sau cuộc khủng bố, quân Tống dưới quyền chỉ có 2 con đường lựa chọn; nếu bỏ chạy sẽ bị giết như 32 người kia; hoặc dừng lại chiến đấu, còn có cơ trở về với vợ con, ngày trở về nếu thắng trận sẽ được thăng thưởng; lẽ dĩ nhiên họ phải chọn lấy con đường thứ hai, rõ ràng đây là thắng lợi do hoàn cảnh bức bách!
Riêng triều đình nhà Lý nước ta, ứng xử với cùng một địch thủ là quân Nùng;  vua Lý Thái Tông 2 lần đánh dẹp cha con Nùng Trí Cao một cách dễ dàng, thấy được tinh thần võ dõng của quân ta hơn hẳn Trung Quốc.
Sự việc xảy ra không phải chỉ một thời, trải qua hơn 1000 năm dưới thời tự chủ, kể từ thời Ngô vương Quyền cho đến hiện đại, không thời nào không bị Trung Quốc sang xâm lăng; nhưng duy chỉ có một lần thảm bại vào năm Vĩnh Lạc thứ 4 [1406], vì vướng phải mưu ma chước quỷ của Minh Thành Tổ. Với tờ hịch chia rẽ kể 20 tội của cha con Hồ Quý Ly thả trôi trên các dòng sông, khiến lòng người ly tán, đó là tự dân ta làm thua. Sách lược “công thành không bằng công tâm” Tả Tướng quốc Hồ Nguyên Trừng đã tiên liệu được, và thốt ra trước mặt Vua cha Quý Ly như sau: “Tôi không sợ đánh, chỉ sợ lòng   dân có theo hay không theo mà thôi”, nhưng rất tiếc biết trước, mà không cứu   vãn được. May mắn sau này người Việt Nam rút được kinh nghiệm; có 3 triều đại Lê, Nguyễn Tây Sơn, và Nguyễn Gia Long đối nghịch nhau như nước với lửa, nhưng đã nhất trí đòi vùng đất bị mất [17] tại biên giới phía bắc; và hiện nay tuy lòng người cũng chưa đoàn kết, nhưng tuyệt nhiên không có hiện tượng công khai ủng hộ Trung Quốc chiếm cứ Biển Đông.
Chú thích:
[1] 楊畋、曹修經制蠻事,既無功,改命孫沔及余靖等,上猶以為憂。或言智高欲得邕、桂七州節度使即降,樞密副使梁適曰:「若爾,二廣非朝廷有矣!」
上問宰相龐籍誰可將者,籍薦樞密副使狄青,青亦上表請行,翌日入對,自言臣起行伍,非戰伐無以報國,願得蕃落騎數百,益以禁兵,羈賊首至闕下。上壯其言,庚午,改宣徽南院使、荊湖北路宣撫使、提舉廣南東、西路經制賊盜事【一九】。初欲用入內都知任守忠為青副,諫官李兌言,唐失其政,以宦者觀軍容,致主將掣肘,是不足法。遂罷守忠。
[2] 庚辰,狄青辭,置酒垂拱殿。青既行,上謂輔臣曰:「青有威名,賊必畏其來,左右使令,非親信不可,雖飲食臥起,皆宜防竊發。」因馳使以戒之。
[3] 辛巳,內降手詔付狄青:「應避賊在山林者,速招令復業。其乘賊勢為盜,但非殺人,及賊所脅從能逃歸者,並釋其罪。已嘗刺面,令取字,給公憑自便。若為人所殺,而冒稱賊首級,令識驗,給錢米賙之。其被焚刼者,權免戶下差役;見役,仍寬與假,使營葺室居。凡城壁嘗經焚毀,若初無城及雖有城而不固,並加完築。器甲朽敝不可用者,繕治之。」
右正言韓絳言狄青武人,不可獨任,帝以問龐籍,籍曰:「青起行伍,若用文臣副之,必為所制,而號令不專,不如不遣。」乃詔廣南將佐皆稟青節制;若孫沔、余靖分路討擊,亦各聽沔等指揮。
[4] 詔廣南東路應刼掠州縣,已放今年夏稅,其秋稅亦未得催理
[5] 乙巳,詔廣南東、西路安撫轉運使,應賊焚刼州縣倍加安輯之,其造室廬竹木,並蠲其
[6] Phía bắc Lãnh: phía bắc Ngũ Lãnh, tức phía bắc các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây.
[7] 乙卯,詔狄青,廣南民吏有與蠻人買賣物者,斬訖以聞,仍徙其家嶺北。
[8] 戊申,詔余靖所招九溪峒蠻願助王師者,恐畜姦謀,陰為賊用,其與狄青、孫沔察防之。先是,靖策儂智高必援交趾而脅諸峒以自固,因約李德政會兵擊賊,又募儂、黃諸姓酋長,皆縻以職,使聽節制。或疑其不可用,靖曰:「使不與智高合,足矣!」
[9] 戊子,知桂州余靖言:「交趾今歲當入貢,屬儂智高叛,道阻不通,累移文乞會兵討賊,而朝廷久未報。觀其要約甚誠,縱未能勦滅賊黨,亦可使益相離貳,已於邕欽州備萬人糧以待之。」詔亦給緡錢二萬助兵費,候賊平更賞緡錢三萬。始,朝廷不聽交趾出兵,靖言智高,交趾叛者,宜聽出兵,毋阻其善意。今不聽,必忿而反助智高,因以便宜許之。朝廷從其請。已而狄青奏:「李德政聲言將步兵五萬,騎一千赴援,此非情實;且假兵於外以除內寇,非我利也。以一智高橫蹂二廣,力不能討,乃假蠻人兵。蠻人貪得忘義,因而啟亂,何以禦之!願罷交趾兵勿用,且檄靖無通交趾使。」朝廷卒用青計策,人亦服青有遠略云。十一月甲子,走馬承受李宗道言聞交趾將發兵二萬人,由水路入助王師討賊。兵數與狄青所奏不同,今但存青奏,削宗道甲子日所言
[10] Nước Đại Lý: một nước ở vùng Vân Nam, Trung Quốc, trên địa bàn của nước Nam Chiếu đời Đường, cư dân chủ yếu là người Di, mà thư tịch cổ Trung Quốc thường chép là người Thoán, Bặc. Việc quân của Vũ Nhị cứu viện cho Nùng Trí Cao đánh quân Tống không thấy tài liệu nào nói đến; có thể chỉ mới có dự định, chưa kịp thực hiện thì Trí Cao đã chết.
[11] Đạo Đặc Ma: tức phủ Quảng Nam, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.
[12] 十二月壬申朔,廣西鈐轄陳曙擊儂智高,兵敗於金城驛,東頭供奉官王承吉、白州長史徐噩死之【三三】。曙素無威令,既與賊遇,士卒猶聚博營中,使承吉將宜州忠敢兵五百為先鋒,倉卒被甲以前,遂至覆軍。
[13] 丁未,詔廣南西路轉運司移文止交趾助兵,從狄青之請也。狄青合孫沔、余靖兩將之兵,自桂州次賓州。青以張忠、蔣偕皆輕敵取死,軍聲大沮,前戒諸將無得妄與賊鬥,
。陳曙恐狄青獨有功,乘青未至,以步卒八千犯賊,潰於崑崙關,其下殿直袁用等皆遁。青曰:「令之不齊,兵所以敗。」己酉,晨會諸將堂上,揖曙起,并召用等三十二人,按所以敗亡狀,驅出軍門斬之,沔、靖相顧愕然。靖嘗迫曙出戰,因離席而拜曰:「曙失律,亦靖節制之罪。」青曰:「舍人文臣,軍旅之責,非所任也。」諸將皆股栗.”
[14] Tòng quyền: linh động mà làm.
[15] 狄青既誅陳曙,乃按軍不動,更令調十日糧,眾莫測。賊覘者還,以為軍未即進也。翼日,遂進軍,青將前陣,孫沔將次陳,余靖將後陣,夕次崑崙關,黎明,整大將旗鼓,諸將環立帳前,待令乃發。而青以微服與先鋒度關,趣諸將會食關外,即歸仁鋪為陣。戊午,賊率其眾,列三銳陣以拒官軍,執大盾、標槍,衣絳衣,望之如火。及戰,前軍稍卻,右將開封孫節死之。按武貴傳稱前軍孫節,賈逵傳稱右將孫節,而狄青傳乃稱前鋒孫節,蓋為前軍之右將,當軍鋒最前爾。張玉實將先鋒,實錄即稱節為先鋒,恐誤,玉傳可攷也。今于此削先鋒字,仍詳列先鋒左右將于後。賊氣銳甚,沔等俱失色。青起,自執白旗麾蕃落騎兵,張左右翼,出賊後交擊,左者右,右者左,已而右者復左,左者復右,賊眾不知所為,大敗走。儂智高復趨邕州,王師追奔五十里,捕斬二千二百級,其黨黃師宓、儂建中智忠并偽官屬死者五十七人,生禽賊五百餘人。智高夜縱火燒城遁,由合江入大理國。
遲明,青按兵入城,獲金帛巨萬,雜畜數千,招復老壯七千二百嘗為賊所俘脅者,慰遣使歸。梟師宓等首於邕州城下,得尸五千三百四十一,築京觀於城北隅。時有賊尸衣金龍衣,眾以為智高已死,欲具奏,青曰:「安知非詐耶!寧失智高,不敢誣朝廷以貪功也。」
青始至邕州,會瘴霧昏塞,或謂賊毒水上流,士卒飲者多死,青甚憂之。一夕,有泉湧寨下,汲之甘,眾遂以濟。智高自起至平,幾一年,暴殘一方,如行無人之境,吏民不勝其毒。先是謠言「農家種,糴家收」,而智高為青所破,皆如其謠。
其戰於歸仁也,右班殿直張玉為先鋒,如京副使賈逵將左,西京左藏庫副使孫節將右。既陣,青誓曰:「不待令而舉者斬。」及節搏賊死山下,逵私念所部忠敢、澄海皆土兵,數困而心懾易衂,苟待令必為賊所薄,且兵法先據高者勝,乃引兵疾趨山,立始定而賊至。逵擁眾而下,揮劍大呼,斷賊陣為二,玉以先鋒突出陣前,而青麾蕃落騎兵出賊後,賊遂大潰。逵乃詣青帳下請罪,青拊逵背曰:「違令而勝,權也,何罪之有!」玉,保定人。逵,藁城人也。
[16] 乙巳,儂智高母阿儂,弟智光,子繼宗、繼封伏誅。初,欲留繼封等以招降智高,日給飲食,或傳智高已死,遂并戮之。
[17] Xin xem “Ba triều đại nối tiếp đòi trả đất”, tại mục Biên Khảo. diendan.org.
16. Lý Thánh Tông thương dân trong nước, cương quyết với ngoại bang
Niên Hiệu: Long Thụy Thái Bình: 1054-1058; Chương Thánh Gia Khánh: 1059-1065; Long Chương Thiên Tự: 1066-1067; Thiên Huống Bảo Tượng: 1068; Thần Vũ: 1069-1071.
Dân ta ghét những triều đại ác với dân; riêng vua Lý Thánh Tông có lòng thương dân, ngay cả với người tù tội; nhưng cương quyết với ngoại bang, nên được nhớ ơn đời đời. Nhà Vua lên ngôi Hoàng đế vào tuổi trung niên [31 tuổi], trước đó từng xông pha trận mạc, sống gần với dân, nên tỏ ra dày kinh nghiệm, lịch lãm, chửng chạc. Lúc vua Thái Tông mất, bèn cho đem kỷ vật của Vua cha biếu tặng nhà Tống; nên được Vua Tống nể trọng sai sứ sang điếu tế, và phong cho nhà Vua tước Quận vương:
“Trường Biên, [1] quyển 181. Tống Nhân Tông năm Chí Hòa thứ 2 [1055]
Ngày Kỷ Tỵ tháng 11 [6/12/1055], Nhật Tuân [Vua Lý Thánh Tông], con Vương An Nam Lý Đức Chinh, sai Sứ cáo Đức Chính [Vua Lý Thái Tông] mất; đem tiến phụng vật kỷ niệm lưu lại, cùng hiến 10 con voi. Ngày Quí Dậu [10/12/1055] tặng Đức Chính Thị trung Nam Việt vương, ban thưởng rất hậu. Mệnh Chuyển vận sứ Quảng Tây Đồn điền viên ngoại lang Tô An Thế làm Điếu tế sứ. Ngày Ất Hợi [12/12/1055] ban cho Nhật Tuân chức Tĩnh hải tiết độ sứ An Nam đô hộ Giao Chỉ quận vương.” [2]
Mới lên ngôi chưa được bao lâu, gặp một mùa đông rét mướt, gió lạnh thổi về, nhà Vua mặc áo lông chồn còn cảm thấy rét; nghĩ đến những người trong tù rét lạnh thấu xương, bèn ra lệnh ban thêm chăn chiếu, săn sóc đủ cơm ăn:
“Mùa đông, tháng 10, Thánh Tông năm Long Thụy Thái Bình thư 2 [1055] đại hàn, vua bảo các quan tả hữu rằng:
‘Trẫm ở trong cung, sưởi than xương thú, mặc áo lông chồn còn rét thế này, nghĩ đến người tù bị giam trong ngục, khổ sở về gông cùm, chưa rõ ngay gian, ăn không no bụng, mặc không kín thân, khốn khổ vì gió rét, hoặc có kẻ chết không đáng tội, trẫm rất thương xót. Vậy lệnh cho Hữu ty phát chăn chiếu, và cấp cơm ăn ngày hai bữa.” (Toàn Thư, [3] Bản Kỷ, quyển 3)
Lại một ngày hè, Vua ngồi trong điện xử kiện, Công chúa đứng hầu bên cạnh; Ngài chỉ vào  con mà bảo viên coi ngục rằng Ngài yêu dân như con; nhưng vì dân không biết pháp luật, mắc vào tội lỗi, bèn cho khoan giảm:
“Ngày Giáp Thìn, Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 6 [1064], mùa hạ, tháng 4, vua ngự ở điện Thiên Khánh xử kiện. Khi ấy công chúa Động Thiên đứng hầu bên cạnh, vua chỉ vào công chúa, bảo ngục lại rằng:
 ‘Ta yêu con ta, cũng như lòng ta làm cha mẹ dân. Dân không hiểu biết mà mắc vào hình pháp, trẫm rất thương xót, từ nay về sau, không cứ gì tội nặng hay nhẹ đều nhất luật khoan giảm“. (Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3)
Vừa mới lên ngôi nhà Vua phải tham dự cuộc đấu tranh “ai thắng ai” với nhà Tống. Nguyên do sau khi Địch Thanh chiến thắng Nùng Trí Cao; Tiêu Chú, viên quan có thành tích trong việc dùng hỏa công đốt thuyền Trí Cao để bảo vệ thành Quảng Châu được ban chức Đô giám Quảng Nam Tây Lô [Quảng Tây] vào ngày 8/3/1053 . Y chủ trương liên tục gây hấn và xúi dục các Tù trưởng dân thiểu số tại vùng biên giới nước ta, quay sang theo Tống. Đối phó lại, vua Lý Thánh Tông áp dụng sách lược 2 mặt; cấp trung ương vẫn tiếp tục liên lạc ngoại giao, nhưng tại vùng biên giới quân địa phương và các Tù trưởng ra tay đánh phá. Các Tù trưởng tiêu biểu tham gia tấn công lãnh thổ và lãnh hải Trung Quốc như: châu Tô Mậu, động Giáp, động Hỏa.
Châu Tô Mậu thuộc huyện Đình Lập tỉnh Hải Ninh, nổ ngòi đánh phá vùng ven châu Ung [Nam Ninh], khiến triều đình nhà Tống phải sai Kinh lược Quảng Nam Tây Lộ mang quân đánh:
“Trường Biên, quyển 178. Tống Nhân Tông năm Chí Hòa thứ 2 [1055]
Ngày Mậu Thìn tháng giêng [8/2/1055] Ung Châu tâu rằng Man châu Tô Mậu [4] vào cướp phá, bèn ra lệnh ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ mang quân đánh; còn ra lệnh cho 7 viên Tam ban viện vũ dõng sứ thần chỉ huy.” [5]
Cuộc chiến do châu Tô Mậu phát động, kéo dài từ năm 1055 đến năm 1059; viên quan coi trại Cổ Vạn [phía nam Nam Ninh, Quảng Tây] tử trận:
“Trường Biên, quyển 190. Tống Nhân Tông Năm Gia Hựu thứ 4 [1059]
Ngày Bính Thân tháng 7 [14/8/1059], truy tặng Binh giáp tam ban phụng chức Lý Duy Tân thuộc trại Cổ Vạn Ung Châu, chức Nội điện thừa chế, do man tại Tô Mậu [Đình Lập, Hải Ninh] cướp phá biên giới, Duy Tân giao chiến tử trận.” [6]
Chiến dịch này diễn ra tại nhiều nơi, lại còn một cánh quân khác đánh phá tại châu Khâm:
“Trường Biên quyển 189. Tống Nhân Tông năm Gia Hựu thứ 4 [1059]
Ngày Canh Ngọ tháng 2 [21/3/1059], ty kinh lược Quảng Nam tâu Giao Chỉ cướp phá động Tư Lẫm, Khâm Châu.” [7]
Sử nước ta cũng xác nhận, cùng năm [1059] quân ta đánh châu Khâm [Quảng Tây] ra uy rồi trở về; có thể hiểu ngoài việc biểu dương lực lượng, còn có mục đích yểm trợ cho cánh quân châu Tô Mậu. Lại chép thêm việc 2 năm trước đó [1057] Sứ bộ nước ta sang triều Tống biếu con thú lạ, nói là con lân; viên Thừa tướng tương lai Tư Mã Quang sợ bị lừa, nên đề nghỉ ban thưởng rồi trao trả về:
“Kỷ Hợi, Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 [1059], Mùa xuân, tháng 3, đánh Khâm Châu nước Tống, khoe binh uy rồi về, vì ghét nhà Tống phản phúc. Long Thụy Thái Bình năm thứ 4 [1057], sai sứ đem con thú lạ sang biếu nhà Tống nói là con lân. Tư Mã Quang nói: ‘Nếu là con lân thực mà đến không phải thời cũng chẳng lấy gì làm điềm tốt, nếu không phải lân, thì làm cho người phương xa chê cười. Xin hậu thưởng rồi bảo đem về“. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Một mũi tấn công khác từ động Giáp vị trí tại vùng phía nam tỉnh Lạng Sơn, viên Chúa động lập công là Thân Thiệu Thái được Vua Lý gả Công chúa cho nên giữ tước Phò mã. Phò mã họ Thân không chỉ lập thành tích dưới thời vua Lý Thánh Tông, mà lại còn có công lớn trong cuộc chiến tranh Lý – Tống, thời vua Lý Nhân Tông sau này:
“Trường Biên, quyển 191. Tống Nhân Tông năm Gia Hựu thứ 5 [1060]
Ngày Mậu Dần tháng 6 [21/7/1060], ty Kinh lược Quảng Tây tâu: giặc thuộc các động như động Giáp hơn 50 người cướp phá trong nội địa; chiếu ban Ung châu phát binh đánh dẹp.” [8]
Bấy giờ viên Đô tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu tại châu Tây Bình dung dưỡng thành phần bất mãn tại nước ta sang Trung Quốc trốn tránh; Phò Mã Thân Thiệu Thái bèn mang quân đuổi bắt. Sĩ Nghiêu mang quân chống cự, bị quân ta giết tại trận:
“Trường Biên, quyển 192. Tống Nhân Tông năm Gia Hựu thứ 5 [1060]
Ngày Tân Mão tháng 7 [3/8/1060], khởi đầu tướng thuộc động tại châu Tây Bình [9] Vi Huệ Chính ngầm giấu những hộ Giao Chỉ trốn tránh; man động Giáp, Thân Thiệu Thái mang binh dân đuổi bắt người trốn, bị Đô tuần kiểm Tống Sĩ Nghiêu cầm quân chống cự, xông vào đất Giao Chỉ chém bắt rất nhiều. Ngày hôm sau Giao Chỉ cùng quân động Giáp hợp binh đến cướp phá, Sĩ Nghiêu tử trận.” [10]
Sự kiện khác xảy ra khiến tình hình trở nên căng thẳng hơn, viên Chúa động Hỏa, Nùng Tôn Đán, chiếm cứ chỗ hiểm tại phía Bắc tỉnh Cao Bằng thường mang quân đánh phá Trung Quốc. Các quan chức Tống tìm cách chiêu dụ, Tôn Đán bèn mang cả động này theo, nhà Tống đổi tên thành châu Thuận An:
“Trường Biên, quyển 186. Tống Nhân Tông ngày Giáp Tuất tháng 4 [3/6/1057]. Nùng Tông Đán thuộc man Hỏa Động, cùng họ với Trí Cao, chiếm cứ chỗ hiểm, tụ tập dân chúng, mấy lần ra cướp phá. Tri Ung Châu Tiêu Chú muốn mang quân binh tại các động đánh phá; Tri Quế Châu Tiêu Cố một mình xin dùng sắc mệnh chiêu hàng. Chuyển vận sứ Vương Hãn cho rằng Tông Đán giữ chốn núi rừng tre trúc, nếu dùng phục binh quân ta vị tất có thể thắng, lại gây nên mối hoạn biên giới. Bèn mang binh đến biên giới, cho người chiêu dụ con Tông Đán là Nhật Tân rằng:
‘Cha người bên trong thì cừu thù với Giao Chỉ, phía bên ngoài thì làm mồi cho các quan biên giới được thưởng. Hãy về báo cha người, chọn điều lợi mà làm.’
Do đó cha con Tông Đán đều hàng, việc phương nam bình yên. Ban cho Tông Đán chức Trung vũ tướng quân, Nhật Tân làm Tam ban phụng chức.” [11]
Sau vụ Nùng Tôn Đán làm phản, tình hình biên giới trở nên căng thẳng hơn, nhằm làm dịu bớt tình hình, Vua Tống ra lệnh cho Tri Ung châu Tiêu Chú từ nay không được mang quân đi tuần biên giới:
“ Trường Biên, quyển 188. Tống Nhân Tông ngày Canh Dần tháng 7 [13/8/1058], chiếu ban cho Tri Ung châu, từ nay không được mang quân tuần biên giới. Bấy giờ Tiêu Chú mấy lần mang quân tuần tiễu các khe động, Chuyển vận sứ Vương Hãn tâu việc này sinh sự.” [12]
Nhằm trả đũa về vụ Nùng Tôn Đán, động Giáp tiếp tục gây hấn tại biên giới, đánh phá trại Vĩnh Bình, khiến Quảng Nam Tây Lộ [Quảng Tây] phải xin tăng cường quân tinh nhuệ:
“Trường Biên quyển 192, Tống Nhân Tông ngày Tân Sửu tháng 7 [13/8/1060], Ty kinh lược Quảng Tây tâu:
‘Giao Chỉ cùng dân di động Giáp lại cướp phá trại Vĩnh Bình, xin triều đình 3.000 quân Kinh Hồ Bắc Lộ [Kinh Châu thị, Hồ Bắc] giỏi sử dụng phiêu bài [13] đến lộ này.’
Chấp thuận.” [14]
Sử nước ta xác nhận trong chiến dịch này, Phò mã Thân Thiệu Thái bắt được viên Chỉ huy sứ Dương Bảo Tài; rồi có cuộc hội nghị giữa hai nước tại Ung Châu, quan chức Tống xin trả lại Bảo Tài, nhưng phía ta không đồng ý:
“Canh Tý, Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 2 [1060]. Mùa xuân, châu mục Lạng Châu là Thân Thiệu Thái đánh bắt những binh lính bỏ trốn vào đất Tống, bắt được chỉ huy sứ là Dương Bảo Tài và quân lính, trâu ngựa đem về.
Mùa thu, tháng 7, quân Tống sang xâm lấn, không được, bèn sai Thị Lang bộ lại là Dư Tĩnh đến Ung Châu để hội nghị. Vua sai Phí Gia Hựu đi. Tĩnh hậu tặng cho Gia Hựu và đưa thư xin trả Bảo Tài cho họ, vua không nghe.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về mặt ngoại giao, Sứ bộ nước ta đem 2 con thú lạ, gọi là con lân đến cống Vua Tống; dấy lên một cuộc tranh luận sôi nổi tại nội bộ nước này:
“Trường Biên, quyển 187. Năm Gia Hựu thứ 3 [1058]                                         
Ngày Đinh Mão tháng 6 [21/7/1058], Giao Chỉ cống 2 thú lạ. Lúc đầu nước này xưng cống lân, hình dáng giống như trâu nước, thân che bởi giáp thịt, cuối mũi có sừng, ăn cỏ hoặc trái dưa; phải đánh trước rồi mới cho ăn. Lúc đưa đến nơi, Khu mật sứ Điền Huống viện dẫn lời tâu của viên quan tại châu Nam Hùng [Nam Hùng thị, Quảng Đông], cho rằng con thú không phải là lân, đừng để cho lừa dối:
‘Hôm qua Thiêm phán châu Nam Hùng Đồn điền viên ngoại lang Tề Đường tâu con thú này so với những điều trong sách sử chép thì không giống; sợ không phải là kỳ lân, như vậy triều đình sẽ bị man di lừa dối.’
Lại có Tri Kiền châu, Tỷ bộ lang trung Đỗ Thực cũng tâu:
‘Tại Quảng Châu từng nghe viên Thương biện Phiên [ngoại quốc] nói rằng: ‘đó chỉ lá sơn tê [tê ngưu trên núi] mà thôi.’
Kính cẩn xét Phù Thụy Đồ chép lân là con thú có lòng nhân, thân mình giống như con quân [], [15] đuôi trâu, một sừng, cuối sừng có thịt. Nay Giao Chỉ hiến không có thân hình như con quân, mà có giáp; biết rằng nó không phải là lân, nhưng không biết tên là con gì. Trước kia vào cuối đời Tống Thái Thủy, Vũ Tiến đưa ra một con thú có 1 sừng, đầu giống dê, cánh giống rồng, chân ngựa, các phụ lão không biết giống gì; như vậy vật lạ tại trung nguyên cũng có. Sách Nhĩ Nhã chép con quân, lớn như con nai, có 1 sừng…Quảng Chí ghi rằng chân xem như lân, da có giáp lân; trông thì cũng gần giống, nhưng hình thể lại như trâu, lại sợ rằng không phải. Bởi vậy các quan ở ngoài triều, mấy lần dâng tấu chương tranh biện. Vậy không biết phải chăng triều đình muốn cho nước di xa xôi hưởng lợi trong việc triều cống, để ràng buộc; thì cũng không nên nói là có được lân rồi cho đó là điềm lành. Hãy xin tuyên dụ cho Tiến phụng sứ Giao Chỉ, cùng ban chiếu chỉ hồi đáp rằng được phụng tiến thú lạ, nhưng không nói là kỳ lân, đủ để cho thói tục lạ không lừa được ta; cũng không mất ý nghĩa triều đình hoài nhu với nước xa xôi.’
Cuối cùng chiếu ban chỉ xưng thú lạ mà thôi.” [16]
Trước phản ứng quyết liệt của nước Đại Việt, viên Đô giám Quảng Tây Tiêu Chú không làm được gì hơn; bèn kiến nghị lên triều đình một giải pháp đê hèn là bắt giữ sứ bộ cống lân, chờ khi trả lại người và súc vật bị mất trong cuộc chiến, mới cho trở về. Lẽ dĩ nhiên đường đường nước Trung Quốc tự vỗ ngực là Thiên triều, không thể sượng mặt chấp thuận giải pháp này:
“Trường Biên quyển 189. Tống Nhân Tông ngày Giáp Tuất [25/3/1059], Quảng Tây An phủ sứ đô giám Tiêu Chú tâu:
‘Giao Chỉ cướp phá các độngTư Lẫm, Cổ Sâm, Thiếp Lãng [đều tại Khâm Châu, Quảng Tây]; cướp người và súc vật tại 19 thôn, không biết bao nhiêu mà kể, muốn xuống Quảng Châu giữ lại người tiến phụng thú lạ; đợi khi lấy lại được người và súc vật bị cướp, mới cho trở về. Nếu không tuân mệnh, tức mang quân đánh sâu vào.’
Chiếu cho Tiêu Cố An phủ sứ lộ này, Chuyển vận sứ Tống Hàm, Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung cùng Tiêu Chú xử trí.” [17]
Kế đó Tiêu Chú viện dẫn lý do để xin mang đại quân đánh Đại Việt, nhưng nghị luận trong triều cho rằng Chú sinh chuyện, không ủng hộ giải pháp này:
“Trường Biên quyển 190. Tống Nhân Tông ngày Mậu Thân tháng 9 [25/10/1059], Đề điểm Quảng Nam Tây Lộ hình ngục Lý Sư Trung tâu:
‘Tri Ung Châu Tiêu Chú muốn đánh Giao Chỉ, Tri Nghi Châu [Nghi Châu thị, Quảng Tây] muốn giữ lấy quân An Hóa; sợ người xa xôi [An Nam] nghe tin sẽ không yên tâm; xin ngăn Chú đừng sinh sự tại biên giới.’
Chấp thuận.
Chú tại Ung Châu đã lâu, ngầm lấy lợi dụ dỗ các Man tại Quảng Nguyên [tỉnh Cao Bằng], bí mật tu bổ giáp binh, rồi tâu rõ như sau:
‘Giao Chỉ ngoài mặt thì triều cống, bên trong ngầm gây mối họa, thường mưu tàm thực đất đai nhà vua. Vào năm Thiên Thánh [1023-1031] Trịnh Thiên Ích làm Chuyển vận sứ thường trách Giao Châu không nên tự tiện dùng binh tại động Vân Hà, nay động Vân Hà vào trong tay man đến mấy trăm dặm, do năm tháng chồng chất xâm lấn dần dần xảy ra như vậy. Thần hiện nay biết hết bụng dạ của chúng, rõ các chỗ đất trọng yếu, thừa lúc này không chiếm, ngày sau sẽ lo lắng không nhỏ; mong được đến kinh khuyết, để diện trình phương lược.’
Nghị luận cho rằng Chú sinh chuyện cho nước, không nhận định như vậy.” [18]
Tuy nhiên vào năm sau vua Tống Nhân Tông lại điều viên quan lão luyện vùng biên giới Việt - Hoa, Tiêu Cố, bấy giờ làm Tri Quảng Châu [Quảng Đông], đến Ung Châu [Nam Ninh] nghiên cứu bàn bạc việc đánh Đại Việt:
“Trường Biên quyển 192. Tống Chân Tông ngày Quí Tỵ [5/8/1060] Ung châu tâu lên, chiếu ban Tri Quảng châuTiêu Cố đến Ung châu phát quân các châu, cùng Chuyển vận sứ Tống Hàm, Đề điểm hình ngục Lý Sư Trung bàn việc đánh.” [19]
Tiếp đến vào cuối năm Âm Lịch, Tù trưởng châu Tô Mậu lại mang quân sang đánh Ung Châu:
“Trường Biên quyển 192. Tống Chân Tông ngày Kỷ Mão tháng chạp [18/1/1061], An phủ ty Quảng Tây tâu man thuộc châu Tô Mậu cướp phá Ung Châu.” [20]
Tình hình nơi biên giới không suôn sẻ, các quan tố cáo Tri Ung châu Tiêu chú gây sự làm cho quân dân suy bại, hối lộ, bắt dân tìm vàng làm lợi riêng nên bị cách chức:
“Trường Biên quyển 193. Tống Chân Tông năm Gia Hựu thứ 6 [1061]. Ngày Canh Thân tháng 4 [29/4/1061], Đề điểm Quảng Nam Tây Lộ hình ngục Đồn điền viên ngoại lang Lý Sư Trung quyền bản lộ Chuyển vận sứ; trước đó Sư Trung hặc Tri Ung châu Tiêu Chú:
‘Cai trị Ung châu 8 năm, có quân tại các động hơn 10 vạn, mà không thể phủ dụ dùng được. Lại vào các khe động mua bán, vơ vét khiến mất lòng dân, cuối cùng làm cho quân lính suy bại. Kinh lược sứ Tiêu Cố thi thố sai lạc, cùng với Chuyển vận sứ Tống Hàm bè đảng.’
Sau khi Chú bị trách phạt đến Kinh Nam [nam Hồ Nam], Sư Trung lại tâu thêm:
‘Chú tham ô ngăn trở ra uy, dụ bắt 5 tôi tớ bị thiến của Nùng Trí Cao về làm nô tỳ, tự tiện điều động đinh tráng trong khe động tìm vàng, thu hoạch được không ghi vào sổ sách, gây chuyện rắc rối cho quốc gia, xét theo pháp luật đáng tội chém. Nay chỉ giảng một quan, từ Đô Giám làm Kiềm Hạt, không biết lấy danh nghĩa nào mà quyết định như vậy?’
Chiếu chỉ sai Trung sứ Lý Nhược Ngu điều tra sự thực; Chú lại bị kết tội thêm giáng làm Đoàn luyện phó sứ an trí tại Thái Châu [Giang Tô]; Cố và Hàm đểu bị đình chức.” [21]
Trên 10 năm dài dưới thời Vua cha, tình hình biên giới Việt - Hoa vẫn chưa cải tiến, Vua Anh Tông mới lên ngôi sốt ruột ôm ý đồ xâm lăng, muốn biết ngọn ngành về việc giành tự chủ của nước Đại Việt. Tể tướng Hàn Kỳ ngăn trở, kể lại việc thất bại trong cuộc chiến tranh Lý - Tống dưới thời vua Lê Đại Hành; và kết luận rằng nếu đánh lấy Đại Việt cũng không giữ được; cuối cùng Anh Tông chỉ ra lệnh cho viên Tri Quế châu tăng cường phòng thủ nơi biên giới:
“Trường Biên quyển 203. Tống Anh Tông ngày Kỷ Mão tháng 11 năm Trị Bình thứ nhất [28/12/1064]. Tri Quế Châu Lục Tiên tâu Giao Chỉ sai Sứ đến bàn việc, nhân dịp Thiên tử hỏi:
‘Giao Chỉ bắt đầu cát cứ vào năm nào?’
Quan phụ tá tâu:
‘Từ đời Đường Chí Đức [Túc Tông 756-757] đổi là An Nam đô hộ phủ, thời Lương Trinh Minh [915-919] Thổ hào Khúc Thừa Mỹ chiếm đất này.’
Hàn Kỳ [Tể tướng] tâu:
‘Trước đây Lê Khu phản mệnh (xét theo Tống Sử chép Lê Hoàn), Thái Tông sai sứ đánh dẹp nhưng không khuất phục, sau sai Sứ chiêu dụ mới thuận. Nước này núi rừng hiểm trở, nhiều mưa lụt lam chướng độc hại; nếu chiếm đất này không dễ phòng thủ, đáng dùng chính sách nhu viễn mềm mỏng.’
Mùa đông năm này, Lục Tiên bắt đầu đến Ung Châu xét biên giới, triệu tập 45 động tại Tả Giang, Hữu Giang, duyệt lính địa phương được 5 vạn, đặt tướng tá, xin đúc ấn cấp cho, tâu miễn thuế cho Tả, Hữu Giang đến vài vạn. Giao Chỉ rất sợ, nhân sai Sứ triều cống, lời lẽ thêm phần cung kính. Sau đó Tiên lại tâu xin mỗi năm một lần dạy lính địa phương, được chấp thuận; từ đó về sau vẫn cứ 3 năm 1 lần lập sổ hộ tịch rồi tâu lên; việc này thi hành vào tháng 8 năm sau, nay phụ xem.” [22]
Đến đời Vua Tống Thần Tông dùng Vương An Thạch làm Tể tướng, cho thi hành chính sách bảo giáp, tổ chức lực lượng dân quân tại các địa phương; Quảng Nam Tây Lộ [Quảng Tây] có thêm quân, nên chính sách nhà Tống lại tỏ ra cứng rắn hơn. Nhân Sứ bộ nước ta xin tiến cống, bèn đòi hỏi muốn tiến cống phải giao nạp số người và tài sản đã đánh lấy trước kia:
“Trường Biên quyển 218. Tống Thần Tông ngày Nhâm Thân tháng 12 năm Hy Ninh thứ 3 [19/1/1071], ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ tâu:
‘Sứ thần Giao Chỉ Lý Kế Nguyên xin tiến cống sản vật địa phương. Nay binh dân nước này cướp phá đất đai; xin lệnh trước hết phải trả lại người và súc vật đã cướp, mới theo lệ dẫn người tiến phụng đến kinh khuyết.” [23]
Rồi dùng lại Tiêu Chú cho làm Tri Quế châu, với ý đồ gây hấn như cũ. Lúc này trinh thám nhà Tống biết được quân ta thua rút lui tại Chiêm Thành, nhưng không biết việc vua Lý Thánh Tông đã quay trở lại đánh thắng và bắt sống Vua Chiêm Chế Củ. Riêng Tiêu Chú thì hiểu được thực lực quân ta mạnh hơn trước nhiều, nên thẳng thắn từ chối việc đánh nước Đại Việt:
“Quyển 219. Tống Thần Tông năm Hy Ninh thứ 4 [1071].
Ngày Quý Mão tháng giêng [19/2/1071], chiếu ban cho Vương Khánh Dân vẫn chuyên giữ chức Quản câu Lân phủ lộ quân mã; riêng Tiêu Chú đợi chiếu chỉ tại phủ Thái Nguyên. Lúc đầu định cho Chú thay thế Khánh Dân. Chú đã đi, nghe tin Hà Đông dùng binh, bèn tự trình bày rằng bản thân vốn thư sinh, sở trường về phủ dụ, sở đoản về chiến đấu; sợ không làm tròn nhiệm vụ tại phủ Lân. Vào lúc có tin Giao Chỉ bị Chiêm Thành đánh bại, dân chúng không đầy 1 vạn, có thể kể ngày chiếm được; nên mệnh Chú Tri Quế châu. Phan Túc truyện kể rằng Túc trình bày Giao Chỉ có thể lấy được; điều nói “Dân chúng không đầy 1 vạn”; có thể do Túc trình bày, đáng khảo. Tháng Giêng năm thứ 6 [1073] Chú thôi giữ Quế Châu. Thiên tử hỏi Chú sách lược đánh hoặc giữ; Chú từ chối rằng:
‘Trước đây thần có ý như vậy; vì vào lúc đó dân khe động 1 người có thể chống lại 10; khí giáp sắc bén, những người thân tín có thể lấy tay chỉ để điều khiển. Nay binh giáp không hoàn bị như đường thời, những người tâm phục chết quá nửa, mà người Giao sinh sôi tập luyện cả 15 năm; bảo rằng dân chúng không đầy 1 vạn người, sợ là chuyện nói láo.” [24]
Chú thích:
[1] Trường Biên: Tục Tư Trị Thông Giám Trường Biên, tác giả Lý Đào.
[2] 己巳,安南王李德政之子日遵遣使告德政卒,仍進奉遺留物及獻馴象十。癸酉,贈德政侍中、南越王,賻賚甚厚。命廣西轉運使、屯田員外郎蘇安世為弔贈使。乙亥,授日遵靜海節度使、安南都護、交阯郡王。
[3] Toàn Thư: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tác giả Ngô Sĩ Liên.
[4] Châu Tô Mậu: Theo Đất Nước Việt Nam Qua Các Đời, Đào Duy Anh, trang 121, Tô Mậu thuộc Định Lập, tỉnh Quảng Ninh ngày nay.
[5] 邕州言蘇茂州蠻內寇,命廣南西路經略司發兵捕擊之,仍令三班院武勇使臣七員為指揮。
[6] 贈管勾邕州古萬寨兵甲三班奉職李惟賓為內殿承制,以蘇茂州蠻寇邊而惟賓戰死也
[7] 庚午,廣南經略司言交阯寇欽州思稟峒。
[8] 戊寅,廣西經略司言,邕州甲峒等蠻賊五十餘人內寇。詔邕州發兵攻討之
[9] Châu Tây Bình: châu ky my, vị trí tại vùng biên giới phía nam Ung Châu [Quảng Tây].
[10] 初,西平州峒將韋惠政匿納交阯逃戶,甲峒蠻申詔泰【一】領眾襲逐所亡,都巡檢宋士堯等帥兵拒之,.擅入交阯界,多所斬獲。明日【二】,交阯與甲峒蠻復合兵來寇,士堯等皆戰沒.
[11] 火峒蠻儂宗旦者,智高之族也。據險聚眾,數出剽略。知邕州蕭注欲大發峒丁擊之,知桂州蕭固獨請以敕招降。轉運使王罕以為宗旦保山溪篁竹間,苟設伏要我,軍未必可勝,徒滋邊患,乃獨領兵次境上,使人召宗旦子日新,謂曰:「汝父為交趾所仇,外為邊臣希賞之餌。歸報汝父,可擇利而行。」于是宗旦父子皆降,南事遂平。以宗旦為忠武將軍,日新為三班奉職。
[12] 庚寅,詔邕州知州,自今毋得輒出巡邊。時蕭注數領兵出巡溪峒,而轉運使王罕言其生事也。
[13] Bài: lá chắn dùng để ngăn gươm giáo cung tên.
[14] 辛丑,廣西經略司言,交阯與甲峒夷人又寇永平寨,乞朝廷發荊湖北路兵善用摽牌者三千人赴本路。從之。
[15] Quân: Hán Việt Tự Điển Thiều Chửu giải thích quân là tên riêng của con chương.
[16] 丁卯,交阯貢異獸二。初,本國稱貢麟,狀如水牛,身被肉甲,鼻端有角,食生芻果瓜,必先以杖擊然後食。既至,而樞密使田况言:「昨南雄州簽判、屯田員外郎齊唐奏此獸頗與書史所載不同。儻非麒麟,則朝廷殆為蠻夷所詐。」又,知虔州、比部郎中杜植亦奏:「廣州嘗有蕃商辨之曰:『此乃山犀爾。』謹按符瑞圖:麟,仁獸也,麕身、牛尾、一角,角端有肉。今交阯所獻,不類麕身而有甲,必知非麟,但不能識其名。昔宋太始末,武進有獸見,一角、羊頭、龍翼、馬足,父老亦莫之識。蓋異物,雖中原或有之。爾雅釋麕,大如麃,牛尾、一角;驨,如馬,一角;麐,麕身、牛尾、一角;又,兕,似牛,一角、青色、重千斤。然皆不言身有鱗甲。廣志云:符枝【一六】如麟,皮有鱗甲。此雖近之,而形乃如牛,又恐非是。故在外之臣,屢有章奏辨之。然不知朝廷本以遠夷利朝貢以示綏來,非以獲麟為瑞也。請宣諭交阯進奉人,及回降詔書,但云得所進異獸,不言麒麟,足使殊俗不能我欺,又不失朝廷懷遠之意。」乃詔止稱異獸云。
[17] 甲戌,廣西安撫都監蕭注言:「交阯寇思稟、古森、貼浪等峒,掠十九村人畜不可勝數,欲下廣州截留進奉異獸人,候取索人畜數足,遣還本道。苟不聽命,即發兵深討。」詔本路安撫使蕭固、轉運使宋咸、提點刑獄李師中同蕭注處置。
[18] 戊申,提點廣南西路刑獄李師中言:「知邕州蕭注欲伐交趾,知宜州張師正欲取安化軍,恐遠人聞之不自安,請戒注等毋得為邊生事。」從之。
注在邕州久,陰以利啗廣源諸蠻,密繕甲兵,迺露奏曰:「交趾外奉朝貢,中包禍心,常以蠶食王土為事。天聖中,鄭天益為轉運使,嘗責交州不當擅賦雲河洞。今雲河洞乃入蠻徼數百里,蓋積歲月侵削以至於此。臣今盡得其腹心,周知要害之地,乘此時不取,他日為患不細,願得馳至闕下,面陳方略。」論者以注且為國生事,不省也。
[19] 癸巳,邕州以聞,詔知廣州蕭固赴邕州發諸郡兵,與轉運使宋咸、提點刑獄李師中同議掩擊之。
[20] 己卯,廣西安撫司言蘇茂州蠻寇邕州。
[21] 庚申,提點廣南西路刑獄、屯田員外郎李師中權本路轉運使。初,師中劾知邕州蕭注:「治邕八年,有峒兵十餘萬,不能撫而用之。乃入溪峒貿易,掊歛以失眾心,卒致將卒覆敗。經略使蕭固措置乖謬,與轉運使宋咸黨附。」注既責荊南,師中復言:「注黷貨阻威,誘略儂智高所閹民羅寨五輩為奴,又擅發溪峒丁壯采黃金,無簿籍可鉤考,為國生事,案法當斬。今就橫行降一官,自都監作鈐轄,不知此何名也?」詔遣中使李若愚鞫實,注竟坐此責為泰州團練副使安置,固及咸皆追官勒停。
[22] 己卯,知桂州陸詵奏交趾使所議事,上因問:「交趾於何年割據?」輔臣對曰:「自唐至德中改安南都護府,梁貞明中土豪曲承美專有此地。」韓琦曰:「向自黎樞【三三】叛命,案宋史黎樞作黎桓。太宗遣將討伐不服,後遣使招誘,始效順。山路險僻,多潦霧瘴毒之氣,雖得其地,恐不能守,當懷柔之爾。」
是冬,陸詵始按邊至邕州,召左、右江四十五峝將領詣麾下【三四】,閱土丁得精兵五萬,補置將校,請更鑄印給之,奏免兩江積欠稅物數萬。交趾大恐,因遣使朝貢,辭禮加恭。其後詵又奏請每歲一教土丁,從之,仍自今三歲一造籍以聞。此事附見。交趾遣使當自有日月,詵請邕州溪洞丁比歲一教,三歲一造籍以聞,乃明年八月事,今附見
[23] 廣南西路經略司言:「交趾使人李繼元乞進方物,今其兵丁劫掠省地,乞令先歸所掠人口,乃許依例引伴進奉人赴闕。
[24] 癸卯,詔王慶民依舊專管勾麟府路軍馬,蕭注於太原府聽旨。初,以注代慶民,注既行,聞河東用兵,乃自言本書生,長於撫納,而短於戰鬥,恐不能辦麟府事。會有言交趾為占城所敗,眾不滿萬,可計日取也。因命注知桂州。潘夙傳云夙陳交趾可取,此云「眾不滿萬」,或是夙所陳也,當考。六年正月注罷桂州。上問注攻取之策,注辭曰:「臣昔者意嘗在此。方是時,溪洞之兵一可當十,器甲犀利,其親信之人皆可指手役使。今兵甲無當時之備,腹心之人死亡大半,而交人生聚教訓之又十五年矣。謂其眾不滿萬,恐傳者之妄也。
17. Ngoại giao, nội trị dưới thời Vua Lý Thánh Tông
Việc giao thiệp với Trung Quốc đã trình bày ở chương trước, riêng chương này đề cập đến các lân bang về phía tây và nam. Về phía nam, nước Chân Lạp sát nách với Chiêm Thành cho người đến cống:
“Mùa xuân, tháng giêng ,Lý Thánh Tông Long Thụy Thái Bình năm thứ 3 [1056]. nước Chân Lạp sang cống.” Toàn Thư, [1] Bản Kỷ, quyển 3.
Tại miền đông nam xa xôi, có lái buôn Trảo Oa [ Java thuộc nước Indonesia], ghé đến dâng ngọc:
“Lý Thánh Tông, năm Long Chương Thiên Tự thứ nhất [1066]; lái buôn người nước Trảo Oa dâng ngọc châu dạ quang, trả tiền giá 1 vạn quan.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về phía tây, các nước Ai Lao, Ngưu Hống [2] đều mang vàng bạc và các vật quí đến cống:
“Ngày Đinh Mùi, Lý Thánh Tông Long Chương Thiên Tự năm thứ 2 [1067]. Mùa xuân, tháng 2, các nước Ngưu Hống, Ai Lao dâng vàng bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi và các thứ sản vật địa phương. Lễ cống gồm có vàng, bạc, trầm hương, sừng tê, ngà voi.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Riêng nước Chiêm Thành không chịu thần phục; tuy vào năm 1068 mang voi trắng đến cống, nhưng chẳng bao lâu lại mang quân đến cướp phá nơi biên giới:
“Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ nhất [1068]. Chiêm Thành dâng voi trắng, sau lại quấy nhiễu biên giới.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Năm sau Vua thân chinh đi đánh Chiêm Thành, nhưng đánh mãi không được bèn mang quân trở về. Đến nửa đường, được tin Nguyên phi coi việc nước yên ổn, nhà Vua nhận thấy một người đàn bà còn làm được như vậy bèn quay trở lại quyết đánh cho kỳ được; bắt sống Vua Chiêm, mở rộng lãnh thổ đến tỉnh Quảng Trị:
“Ngày Kỷ Dậu, Lý Thánh Tông năm Thiên Huống Bảo Tượng thứ 2 [1069], Mùa xuân tháng 2, Vua thân đi đánh Chiêm Thành, bắt được Vua nước ấy là Chế Củ và dân chúng 5 vạn người. Trận này Vua đánh Chiêm Thành mãi không được, đem quân về đến châu Cư Liên, nghe tin Nguyên phi giúp việc nội trị, lòng dân cảm hoá hoà hợp. Trong cõi vững vàng, tôn sùng Phật giáo, dân gọi là bà Quan Âm, vua nói:
‘Nguyên phi là đàn bà còn làm được như thế, ta là nam nhi lại chẳng được việc gì hay sao?’
 Bèn quay lại đánh nữa, thắng được.
Mùa hạ, tháng 6 đem quân về. Mùa thu, tháng 7, vua từ Chiêm thành về đến nơi, dâng tù ở Thái Miếu, đổi niên hiệu là Thần Vũ năm thứ 1. Chế Củ xin dâng ba châu Địa Lý [Quảng Bình], [3] Ma Linh [Quảng Trị, [4] Bố Chính [Quảng Bình] [5] để chuộc tội. Vua bằng lòng, tha cho Chế Củ về nước.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Sau trận này Chiêm Thành thần phục, lại sai sứ sang cống như cũ:
“Lý Thánh Tông, Thần Vũ năm thứ 3 [1071] Chiêm Thành sang cống.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Lý Thánh Tông thành công trong việc phạt Tống bình Chiêm là nhờ tổ chức quân đội có qui củ, tỏ ra hữu hiệu:
“ Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 [1059]. Định hiệu quân, gọi là Ngự Long, Vũ Thắng, Long Dực, Thần Điện, Bổng Thánh, Bảo Thắng, Hùng Lược, Vạn Tiệp đều chia làm tả hữu, thích vào trán ba chữ “Thiên tử quân“. Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Lại dựa vào chính sách “Ngụ binh ư nông”, quân lính được cấp ruộng, thời bình làm nông, thời chiến đăng lính; nhờ vậy nhà nước ít tốn kém:
“Chế độ binh lính của nhà Lý đại lược theo quân Phủ vệ của nhà Đường, quân Cấm sương của nhà Tống, mỗi tháng lên cơ ngũ một lần, gọi là đi canh, hết hạn canh lại về quê làm ruộng, quan không phải cấp lương, duy có người trưởng cấm quân theo hầu chực tức vệ, được cấp cho 10 bó lúa, 1 tấm vải, cho ăn gọi là đại hòa, cấp cho lúa mạch gọi là chiêm mễ. Không có phí tổn nuôi lính, mà có công hiệu dùng sức lính, cũng là chế độ hay.” Việt Sử Tiêu Án, Ngô Thời Sĩ, trang mạng 51
Sách Vân Đài Loại Ngữ của Lê Quí Đôn kê cứu tư liệu đời Tống, cho biết quân sự gia Thái Diên Khánh từng dâng binh pháp triều Lý nước Đại Việt cho vua Tống Thần Tông tham khảo, được Vua Tống khen và đem áp dụng:
“Lý Thánh Tông năm Chương thánh gia khánh thứ 1 (1059) Sách Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn có trích dẫn truyện Thái Diên Khánh nhà Tống: “Diên Khánh từng phỏng theo phép hành quân của An Nam: bộ đội chia ra chín tướng, gồm có các binh chủng như chính binh, [6] tay cung tên, [7] đoàn người ngựa. [8] Mỗi tướng, từ quân bộ đến quân kỵ và khí giới, đều như nhau. Lại chia ra bốn bộ là Tả, Hữu, Tiền, Hậu, gộp lại là 100 đội. Mỗi đội đều có quân trú chiến [9] và quân thác chiến. [10] Còn người và ngựa của quân Phiên thì chia riêng làm đội khác, không cho lẫn lộn với quân khác để phòng sự biến loạn, gần đâu thì cho họ lệ thuộc vào đó. Hạng quân già yếu thì cho đóng ở thành trại. Diên Khánh đem binh pháp ấy trình bày tường tận trong bức thư dâng lên vua Tống. Tống Thần Tông (1068-1085) khen là hay”. Binh pháp triều Lý được Trung Quốc phỏng theo là thế đấy. Nhà Lý, phía bắc, phá được châu Ung, châu Liêm, phía nam, bình được Chiêm Thành, Chân Lạp, đánh đâu được đấy, thật là có cớ thế chứ!” Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.
Với chính sách an dân, nhà vua chăm lo cho dân no ấm, khuyến khích việc nông tang, thường ban chiếu nhắc nhở việc canh nông:
“Lý Thánh Tông năm Long Thụy Thái Bình  thứ 3 [1056]. Mùa hạ, tháng 4, xuống chiếu khuyến nông.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Bấy giờ lương bổng các quan, ngoài việc phát tiền, còn thưởng thêm nhu yếu phẩm lúa, cá, muối:
“Lý Thánh Tông năm Long Chương Thiên Tự thứ 2 [1067], cho Viên ngoại lang là Ngụy Trọng Hoà và Đặng Thế Tư làm Đô hộ phủ sĩ sư,[11] đổi mười người thư gia [12] làm án ngục lại. [13] Cho Trọng Hòa và Thế Tư mỗi người bổng hàng năm là 50 quan tiền, 100 bó lúa và các thứ cá muối v.v... ngục lại mỗi người 20 quan tiền, 100 bó lúa để nuôi đức liêm khiết của họ.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Triều đình lập kho lúa tại các địa phương; gặp năm hạn hán thiên tai, cấp phát cho dân:
“Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070]. Mùa xuân, làm điện Tử Thần. Mùa hạ, tháng 4 đại hạn, phát thóc, và tiền lụa trong kho để chẩn cấp cho dân nghèo.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về lãnh vực nhân văn, thời Vua Thánh Tông lưu ý đến ca nhạc, du nhập thêm nhạc khúc Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát, giúp cho nền âm nhạc nước nhà phong phú hơn:
“ Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 2 [1060]. Tháng 8, phiên dịch nhạc khúc và điệu đánh trống của Chiêm Thành, sai nhạc công ca hát.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Buổi đầu nhà Lý dời đô từ Trường Yên đến Thăng Long là chốn ngàn năm văn vật; cho mở mang cung điện, đặt thêm quan chức trong triều và các địa phương, áo mũ y phục, đến nay lễ nghi đã đi vào nền nếp:
“ Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 1 (1059) tháng 8, mùa thu. Đặt ra kiểu mẫu triều phục. Nhà vua ngự ở điện Thủy Tinh, sai các quan đội mũ phốc đầu [14] đi giày và bít tất vào chầu. Tục đội mũ phốc đầu là trước từ đấy.
Sách Giao Chỉ di biên (không rõ họ tên người làm sách) chép: An Nam lúc mới dựng nước, mọi việc hãy còn đơn giản sơ sài; đến nhà Lý mới làm ra cung thất. Cung điện thì có điện Thủy Tinh, điện Thiên Quang. Quan trong và quan ngoài thì có những chức như phụ quốc thái uý, gián nghị đại phu, tả hữu ti lang trung, viên ngoại lang, xu mật sứ, kim ngô, lĩnh binh sứ. Lễ nhạc văn vật xem ra cũng đã đầy đủ.” Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.
Lúc nhà vua tuổi 40 vẫn chưa có con trai, một hôm đi kinh lý vùng Bắc Ninh, dân chúng nô nức đến xem, duy có một người con gái vẫn nép bên khóm lan; nhà Vua trông thấy, đưa vào cung, phong làm Ỷ lan phu nhân. Chẳng bao lâu Phu nhân sinh được hoàng tử, tức anh quân Lý Nhân Tông sau này. Buổi gặp gỡ Ỷ lan phu nhân, có lẽ mang nặng kỷ niệm trong lòng, nên Vua đổi tên làng quê phu nhân là Thổ Lỗi thành làng Siêu Loại: [15]
“Ngày Quý Mão, Lý Thánh Tông năm Chương Thánh Gia Khánh thứ 5 [1063]. Bấy giờ vua xuân thu đã nhiều, tuổi 40 mươi mà chưa có con trai nối dõi, sai Chi hậu nội nhân Nguyễn Bông làm lễ cầu tự ở chùa Thánh Chúa, sau đó Ỷ Lan phu nhân có mang, sinh hoàng tử Càn Đức tức Nhân Tông (Tục truyền rằng vua cúng khấn cầu tự chưa thấy hiệu nghiệm, nhân đi chơi khắp các chùa quán, xa giá đi đến đâu, con trai con gái đổ xô đến xem không ngớt, duy có một người con gái hái dâu cứ nép trong bụi cỏ lan. Vua trông thấy, gọi đưa vào cung, được vua yêu, phong làm Ỷ Lan phu nhân.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Việc học trước kia tổ chức trong chùa, nay nhà Vua cho lập văn miếu, tạc tượng các danh Nho, đưa hoàng tử đến học:
“Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 2 [1070], mùa thu, tháng 8, làm Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, [16] vẽ tượng Thất thập nhị hiền, [17] bốn mùa cúng tế. Hoàng thái tử đến học ở đây.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Về phương diện pháp luật, sửa đổi luật chuộc tiền của triều trước, xét theo tội nặng nhẹ, cho phép mọi người chuộc tiền nhiều hay ít:
“Lý Thánh Tông năm Thần Vũ thứ 3 [1071] Định tiền chuộc tội theo thứ bậc khác nhau.
Trước đó, Lý Thái Tông đặt ra pháp lệnh: phàm kẻ phạm tội, nếu là dân mà là người già hay trẻ con, nếu là người họ thân nhà vua mà còn phải để tang nhau từ 9 tháng trở lên, đều được nộp tiền chuộc cả. Đến đây, định lệ lại: phàm người được nộp tiền chuộc tội phải tùy theo tội nặng hay nhẹ mà bắt nộp tiền nhiều hay ít khác nhau.” Cương Mục, Chính Biên, quyển 3.
Tháng giêng năm Thần Vũ thứ 4 [1072] vua Thánh Tông mất tại điện Hội Tiên, Vua Tống bèn sai Sứ đến phụng điếu:
“Trường Biên quyển  231. Năm Hy Ninh thứ 5 [1072]
Ngày Giáp Ngọ tháng 3 [5/4/1072], Ty kinh lược Quảng Nam Tây Lộ tâu Nam bình vương Lý Nhật Tôn [vua Lý Thánh Tông] mất; con là Càn Đức [vua Lý Nhân Tông] nối ngôi. Chiếu ban Chuyển vận sứ Khang Vệ làm Điếu tặng sứ.” [18]
Xét ra lời bàn của Sử thần Ngô Sĩ Liên có thể tóm tắt được sự nghiệp vua Lý Thánh Tông, xin ghi lại như sau:
“Sử thần Ngô Sĩ Liên nói: Xót thương vì hình ngục, nhân từ với nhân dân, là việc
đầu tiên của vương chính. Thánh Tông lo tù nhân trong ngục hoặc có kẻ vô tội mà chết vì đói rét,  cấp cho chiếu chăn ăn uống để nuôi sống, lo quan lại giữ việc hình ngục hoặc có kẻ vì nhà nghèo mà nhận tiền đút lót, cấp thêm cho tiền bổng và thức ăn để nhà được giàu đủ. Lo dân thiếu ăn thì xuống chiếu khuyến nông, gặp năm đại hạn thì ban lệnh chẩn cấp người nghèo, trước sau một lòng, đều là thành thực. Huống chi lại tôn sùng đạo học, định rõ chế độ, văn sự thi hành mau chóng bên trong; phía nam bình Chiêm; phía bắc đánh Tống, uy vũ biểu dương hiển hách bên ngoài. Tuy có việc lầm lỗi nhỏ khác cũng vẫn là bậc vua hiền. Hoặc có người bảo là vua nhân nhu có thừa mà cương đoán không đủ, ngu ý chưa cho là phải.” Toàn Thư, Bản Kỷ, quyển 3.
Chú thích:
[1] Toàn Thư: Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, tác giả Ngô Sĩ Liên.
[2] Bản dịch Toàn Thư chú: Ngưu Hống: tộc người Thái ở vùng Sơn La, có thể là người Thái Đen. Ngưu Hống có thể là phiên âm tên Ngù Háu trong tiếng Thái, có nghĩa là “Rắn hổ mang”. Theo Quắm tố mướu (truyện kể bản Mường) của người Thái Đen thì chúa Lò Rẹt ở Mường Muổi (khoảng thế kỷ XIV) lấy hiệu là Ngù Háu. Nhưng Ngù Háu có thể là hình tượng của tộc Thái Đen từ trước.
[3] Địa Lý: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Địa Lý thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Lâm Bình, nhà Trần đổi là Tân Bình; khi thuộc Minh vẫn để tên như thế; nhà Lê đổi là Tiên Bình. Bấy giờ là đất phủ Quảng Ninh thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3)
[4] Ma Linh: Xưa là đất Việt Thường; đời Hán, thuộc quận Nhật Nam; đời Tống, là châu Ma Linh thuộc Chiêm Thành; nhà Lý đổi là Minh Linh; nhà Trần vẫn để tên như thế; thuộc Minh, đổi là châu Nam Linh; nhà Lê đặt làm huyện. Bây giờ là đất đai huyện Minh Linh và Do Linh thuộc tỉnh Quảng Trị. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3)
[5] Bố Chính: Xưa là châu Bố Chính; đời Hán là đất huyện Thọ Lãnh thuộc quận Nhật Nam; đời Tống là châu Bố Chính thuộc Chiêm Thành; nhà Lý vẫn để tên như thế; thuộc Minh đổi là châu Trấn Bình; nhà Lê chia làm hai châu Nội Bố Chính và Ngoại Bố Chính. Bây giờ là đất ba huyện Bình Chính, Minh Chính và Bố Trạch thuộc tỉnh Quảng Bình. (Theo Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, viết tắt Cương Mục, Chính Biên, quyển 3)
[6] Chính binh: Quân chính quy.
[7] Cung tên: Quân chuyên bắn cung.
[8] Đoàn người ngựa: Đoàn quân kỵ.
[9] Quân trú chiến: Chiến đấu trong khi đóng giữ.
[10] Quân thác chiến: Chiến đấu trong khi tấn công.
[11] Sĩ sư: tên chức quan coi việc hình pháp ở Đô hộ phủ (Đô hộ phủ vốn là tên gọi cơ quan cai trị cấp châu đời Đường, các triều đình Đinh, Lê, Lý vẫn giữ tên Đô Hộ Phủ, nhưng chỉ chuyên việc hình pháp) [Bản dịch Toàn Thư chú]
[12] Thư gia: Theo Lê Quý Đôn, thư gia tức là ty lại (Kiến Văn Tiểu Lục, bản dịch, Nxb Sử học, 1962, tr. 129 - 130), có thể cũng như tên gọi “thư lại” đời sau. Phan Huy Chú ghi tên các thư gia như: Nội hỏa thư gia, Ngự khố thư gia, Chi hậu thư gia, Nội thư gia, Lệnh thư gia v.v… (Lịch triều hiến chương loại chí, bản dịch, T.2, Nxb Sử học, 1962, tr. 6) [Bản dịch Toàn Thư chú]
[13] Án ngục lại: người giúp việc xét hỏi về công việc hình án. [Bản dịch Toàn Thư chú]
[14] Phốc đầu: tên mũ, tức là mũ cánh chuồn, có hai dải cánh giương ra hai bên.
[15] Làng Siêu Loại: nay thuộc địa phận huyện Thuận Thành tỉnh Hà Bắc. (Chú thích của bản dịch Toàn Thư.)
[16] Tứ phối: chỉ Nhan Uyên, Tăng Sâm, Tử Tư, Mạnh Tử là bốn học trò của Khổng Tử được thờ với thầy ở Văn Miếu. (Bản dịch Toàn Thư chú)
[17] Thất thập nhị hiền: 72 học trò giỏi của Khổng Tử. (Bản dịch Toàn Thư chú)
[18] 甲午,廣南西路【一】經略司言南平王李日尊卒,子乾德嗣。詔轉運使康衛為弔贈使。
Hồ Bạch Thảo

Theo http://nghiencuuquocte.org/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chí Linh Sơn phú

Chí Linh Sơn phú Rồng thiêng dậy,bay rợp Lam Kinh Giáo trời chỉ,dẹp tan bắc binh Dựng nước thành công nhiều khó nhọc Miền Tây sông núi hẳn...