Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Địa chí Hà Nam 6

Địa chí Hà Nam 6
Chương XVIII
GIAO THÔNG VẬN TẢl VÀ BƯU ĐIỆN - VIỄN THÔNG
I. GIAO THÔNG VẬN TẢI
Hà Nam là tỉnh có hệ thống giao thông phát triển từ rất sớm, nhất là giao thông đường thuỷ, do có hệ thống sông ngòi thuận lợi và do phần lớn địa hình của tỉnh là đồng đất trũng thường ngập nước vào mùa mưa. Xưa kia, việc giao thông đi lại trong tỉnh cũng như với bên ngoài chủ yếu là bằng đường thuỷ. Trong thời phong kiến các tuyến sông Hồng, sông Đáy, sông Nhuệ, sông Châu,... đã trở thành những tuyến giao thông quan trọng. Từ sông Đáy có thể qua sông Nhuệ vào sông Tô Lịch và từ sông Đáy theo sông Châu ra sông Hồng để lên Thăng Long (Hà Nội) và đi các tỉnh trong vùng rất thuận tiện. Năm 987 vua Lê Đại Hành về cày ruộng tịch điền ở chân núi Đọi Sơn (huyện Duy Tiên) đã đi bằng đường thuỷ. Năm 1069 vua Lý Thánh Tông xuất quân chinh phạt Chiêm Thành, đi đường thuỷ từ Thăng Long theo sông Tô Lịch vào sông Nhuệ, sang sông Đáy rồi qua cửa Đại An để ra biển đi vào phía Nam.
Các sông khác như sông Thiên Mạc, Ninh Giang, Long Xuyên cũng rất thuận tiện cho giao thông đường thuỷ nội địa của tỉnh. Phương tiện vận tải chủ yếu là bè, mảng, thuyền thúng, thuyền mộc và về sau có cả các loại thuyền ghép ván gỗ có trọng tải lớn hơn. Do vận tải hàng hoá và giao lưu đi lại chủ yếu bằng đường thuỷ nên phần lớn các chợ, tụ điểm buôn bán và nhiều làng nghề thủ công ở Hà Nam xưa thường tập trung ở ven các con sông, nơi có các bến bãi giao thông thuận tiện.
Quốc lộ 1A đoạn qua thành phố Phủ Lý.
Dưới thời phong kiến, mạng lưới giao thông đường bộ cũng dần dần hình thành. Từ thế kỷ thứ X, XI ở Hà Nam đã có con đường Thiên Lý (nay là Quốc lộ số 1A) đi qua. Trải qua nhiều thế kỷ, các tuyến giao thông đường bộ được tạo lập, mở rộng cùng với hệ thống đê, bối, bờ bao thuỷ lợi, thuỷ nông. Các nhà nước phong kiến cũng đã cho xây dựng ở Hà Nam một số công trình cầu, đường giao thông khá nổi tiếng và quan trọng. Tháng 8 năm Tân Mão (1471) vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho phép nhân dân các xã Văn Xá, Tế Xuyên và An Triều huyện Nam Xang (nay là huyện Lý Nhân) được khai thác gỗ ở Châu Hoan (nay thuộc Nghệ An) để xây dựng cầu tại thôn Kiều Không xã An Triều, huyện Nam Xang (nên gọi là Cầu Không). Cầu dài 21 gian, có mái che, được xây dựng trên đoạn sông Long Xuyên (1), tiện lợi cho việc giao thông từ Vĩnh Trụ đi các tỉnh Nam Định, Thái Bình,... Cầu Tái ở thôn Tái xã Đinh Xá (huyện Bình Lục) được xây dựng năm 1605, hoàn thành vào năm 1606, dài hơn 30 gian, trên có mái ngói che, tiện lợi cho việc đi lại từ các huyện của phủ Lỵ Nhân sang Phố Hiến (thuộc Hưng Yên ngày nay) và lên kinh thành Thăng Long (Hà Nội) mà không phải đi qua Châu Cầu (tức thị xã Phủ Lý ngày nay) (2). Đến thế kỷ XVIII-XIX hầu hết các tuyến đường liên tỉnh, liên huyện và đường đến các thôn, xã ở Hà Nam đã được hình thành. Song chủ yếu là đường đất, chất lượng và kỹ thuật rất thấp, nhiều nơi đường sá thường lầy lội hoặc sạt lở vào mùa mưa, việc đi lại và vận tải đường bộ vẫn gặp nhiều khó khăn.
Đến thời Pháp thuộc, từ năm 1884 trở đi, để tăng cường cai trị và khai thác, bóc lột thuộc địa, thực dân Pháp bắt đầu quan tâm đến cải tạo, xây dựng hệ thống giao thông vận tải ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nam nói riêng.
Quốc lộ 1 được xây dựng từ năm 1885, còn gọi là “đường cái” hay đường Xuyên Đông Dương. Đoạn qua địa bàn Hà Nam từ thôn Ngọc Thị xã Duy Minh (huyện Duy Tiên) giáp cầu Giẽ đến đầu thị xã Phủ Lý, vòng theo cầu Sắt. Trước đây cây cầu Sắt bắc qua sông Châu, nên con đường xuyên Đông Dương này phải đi vòng qua sông Châu bằng một cống lớn gọi là “cống 12 cửa”. Nay cống 12 cửa đã bị lấp đi cùng với khúc ngoẹo sông Châu tại nơi đặt cống - BT qua sông Châu rồi chạy qua thị xã đến đoạn cầu Đoan Vĩ thuộc xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm) dài 42km, mặt đường 7m, nền từ 10 đến 13m. Đây là tuyến đường giao thông huyết mạch nên Pháp đầu tư xây dựng với chất lượng cao thời bấy giờ.
Từ năm 1904 - 1905, nhiều tuyến giao thông đường bộ quan trọng khác ở Hà Nam cũng được cải tạo, xây dựng như đường 21 từ tỉnh Nam Định qua cầu Họ (huyện Bình Lục), Hồng Phú (thị xã Phủ Lý) đi Chi Nê đến Nhượng Lạo (châu Lạc Thuỷ, tỉnh Hoà Bình) dài 73km. Con đường này có vị trí quan trọng trong vận chuyển, trao đổi hàng hoá từ các vùng đồng bằng phía Đông - Nam châu thổ sông Hồng đến các vùng rừng núi phía Tây của Hà Nam, Hoà Bình và ngược lại; đường 22 dài 18 km quốc lộ chạy từ chợ Dầu đến thị trấn Quế (huyện Kim Bảng) qua cống Ba Đa nối với quốc lộ 1; đường 60 (nay là đường 38) từ chợ Dầu qua cống Nhật Tựu (huyện Kim Bảng) ra Đồng Văn, qua Hoà Mạc đến bến đò Yên Lệnh xã Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên) dài 26 km, nối vùng hữu ngạn với vùng tả ngạn sông Hồng; đường 62 (nay là đường 971) từ Phủ Lý đi Vĩnh Trụ, Như Trác (huyện Lý Nhân) dài 24,5km; đường 63 từ Điệp Sơn qua cống Điệp Sơn (huyện Duy Tiên) và Đập Phúc đến ngã tư Vĩnh Trụ, xuống Xuân Khê (huyện Lý Nhân) dài 40km; đường 88 (đê hữu ngạn sông Hồng), trên địa bàn Hà Nam dài 40km.
Từ khi tiến hành công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất (1897), người Pháp đã cho xây dựng ở Hà Nam các công trình thuỷ nông, cầu cống, đắp đập ngăn sông để dẫn nước vào đồng ruộng gây trở ngại trên một số tuyến giao thông thuỷ nội tỉnh cũng như với các tỉnh lân cận. Tuy vậy, song các tuyến giao thông đường thủy chính vẫn được khai thác với mức độ ngày càng tăng. Đặc biệt là trên các tuyến sông như: sông Hồng, sông Đáy, sông Châu...
Các tuyến giao thông đường thủy chủ yếu của Hà Nam thời Pháp thuộc
- Sông Hồng chảy vào địa phận Hà Nam từ thôn Hoàn Dương xã Mộc Bắc (huyện Duy Tiên), qua huyện Lý Nhân để ra cửa Ba Lạt (tỉnh Nam Định); rộng từ 300 đến 600m, sâu từ 9 đến 12m, đảm bảo cho nhiều loại tàu thuyền có trọng tải lớn qua lại dễ dàng. Đoạn qua địa phận tỉnh Hà Nam dài 39km có nhiều bến bãi để vận chuyển hành khách và hàng hoá như các bến Từ Đài, Yên Lạc, Hoàn Dương (huyện Duy Tiên), các bến Phương Trà, Như Trác, Vũ Điện, Nga Khê (huyện Lý Nhân).
- Sông Đáy chảy vào Hà Nam từ xã Tân Sơn (huyện Kim Bảng) qua huyện Thanh Liêm xuôi xuống tỉnh Ninh Bình rồi đổ ra biển qua cửa Đáy; chiều rộng từ 100 đến 400m, sâu từ 5 - 10m, tàu thuyền 100 tấn qua lại dễ dàng. Trước kia thường có thuyền bè từ trung du xuống xuôi mang lâm thổ sản đến buôn bán, trao đổi và đổ đá, vôi từ các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng đi các nơi. Đầu thế kỷ XX, Pháp cho đắp đập Đáy ở thượng nguồn để ngăn lũ, giao thông trên sông Đáy từ tỉnh Hà Nam đi tỉnh Ninh Bình vẫn thuận lợi, nhưng việc giao lưu trao đổi hàng hoá của Hà Nam với các tỉnh trung du phía bắc sông này bị cắt đứt.
- Sông Châu, bắt nguồn từ sông Hồng ở địa bàn thôn Lỗ Hà xã Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên) đến ngã ba sông Móng thuộc xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên) chia làm hai nhánh, một nhánh chảy về huyện Bình lục, một nhánh chảy ra gặp sông Đáy tại ngã ba sông tại thị xã Phủ Lý. Sông Châu sâu từ 4 - 8m, rộng từ 80 - 200m, dài 32,5km, chảy qua các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm và thị xã Phủ Lý. Lòng sông có độ sâu tương đối đều (trừ đoạn chảy qua xã An Bài, huyện Bình Lục có 1 - 2 chỗ cạn) nên tàu thuyền vận chuyển được quanh năm. Trước khi đắp đập Tắc Giang, ngăn sông Hồng và sông Châu thì tuyến đường thuỷ trên sông Châu là tuyến rất quan trọng không những trong nội địa tỉnh mà còn giao lưu với các tỉnh khác trong khu vực.
- Sông Sắt từ xã An Bài (huyện Bình Lục) đến Vĩnh Trụ (huyện Lý Nhân) dài 35km, chiều rộng từ 15 - 30m, sâu từ 1,5 - 2m, tàu thuyền từ 6 - 10 tấn vận chuyển được 4 mùa trong năm.
Từ năm 1905, tuyến đường sắt Lạng Sơn - Hà Nội - Vinh được hoàn thành và đi vào khai thác, sử dụng. Tuyến đường sắt qua địa phận Hà Nam dài 34 km, từ cầu Giẽ (huyện Duy Tiên) qua thị xã Phủ Lý đến huyện Bình Lục (giáp với Nam Định), có các ga Đồng Văn, Phủ Lý, Bình Lục và cầu Họ. Ngoài vận chuyển hành khách, đường sắt còn là tuyến vận tải hàng hóa quan trọng của Hà Nam đi các nơi và ngược lại. Trong đó, ga Phủ Lý là đầu mối giao thương quan trọng nhất trên tuyến đường sắt qua Hà Nam.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Hà Nam cũng như ở nhiều tỉnh lúc bấy giờ đã thành lập Ty Giao thông - Công chính, với nhiệm vụ tổ chức quản lý ngành giao thông vận tải và thông tin liên lạc trên địa bàn, đảm bảo giao thông liên lạc thông suốt để phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo kịp thời của Đảng và chính quyền các cấp, phục vụ tăng gia sản xuất, cải thiện tình hình đời sống của nhân dân; vận chuyển quân lương và đảm bảo liên lạc cho kháng chiến chống thực dân Pháp. Trong thời gian này Hà Nam đã thành lập tổ vận tải ô tô gồm 5 chiếc lấy được của bọn Quốc dân Đảng đóng ở Đinh Xá (huyện Bình Lục) và ở Hồng Phú (thị xã Phủ Lý) để chuyên chở hành khách, hàng hoá từ Phủ Lý đi Hà Nội, Ninh Bình - Thanh Hóa,... Mặc dầu số lượng ít, chất lượng kém nhưng có thể xem đây là đơn vị vận tải ô tô đầu tiên của Hà Nam hoạt động sau cách mạng tháng 8/1945.
Trong thời kỳ kháng chiến chống quân xâm lược Pháp, từ 12/1946, thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến và ngăn cản các cuộc hành quân càn quét, lấn chiếm của Pháp, ngành giao thông và nhân dân trong tỉnh đã chặt hạ cây lớn ven quốc lộ 1A, 21A và trên nhiều tuyến giao thông khác; phá sập cầu Guột, cầu Phủ Lý, cầu Sắt, cầu Họ và phá nhiều đoạn giao thông đường sắt trên địa bàn. Đến thời điểm này các phương tiện cơ giới không còn hoạt động mà chủ yếu là đi bộ theo đường mòn tại chân đường lớn. Năm 1948, Ty Giao thông - Công chính được đổi thành Ty Công chính - Thủy nông, ở cấp huyện và cấp tỉnh thành lập một Ban công tác có nhiệm vụ phân loại những tuyến đường cần phải sửa chữa để phục vụ nhu cầu sản xuất và đi lại của nhân dân.
Một số tuyến đường giao thông ở vùng chưa bị chiếm đóng tiếp tục được tu bổ, như: đường từ Phủ Lý đi chợ Quế và Phù Đê (xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng) dài 17 km và từ chợ Quế đi Nhật Tựu (nội huyện Kim Bảng) dài 11km; đường từ Đồng Văn đi Yên Lệnh (nội huyện Duy Tiên) dài 12 km; đường từ thị xã Phủ Lý đến Cầu Không (huyện Lý Nhân) dài 18 km... Nhiều đoạn đường bị đào xẻ đã được bắc cầu bằng tre, gỗ, một số được bắc bằng thanh ray đường sắt chắc chắn hơn, đi lại thuận tiện hơn.
Giao thông thủy đến năm 1948 vẫn hoạt động trên tuyến sông Đáy. Năm 1949 huyện Lý Nhân tổ chức lại 3 bến đò và 6 đội thuyền, mỗi đội có từ 6 - 8 thuyền, mỗi thuyền chở được từ 10 - 15 người để phục vụ cho việc đi lại và vận tải hàng hóa trong mùa mưa lũ. Được sự chỉ đạo và giúp đỡ của Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh và các ngành tài chính, công an... đã giúp đỡ, Ban giao thông tỉnh Hà Nam đã thành lập công trường đan thuyền tại khu rừng Bồng Lạng (xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm) để phục vụ vận tải ở các bến sông Đáy, sông Hồng và nhất là phục vụ chiến dịch Quang Trung (6/1951). (Trong chiến dịch này đã huy động gần 3.000 chiếc thuyền lớn nhỏ chuyên chở hàng trăm tấn lương thực, thực phẩm, vũ khí, thuốc men phục vụ bộ đội qua sông an toàn).
Sau kháng chiến chống Pháp (7/1954), đường sá, cầu cống, bến bãi và phương tiện giao thông hư hỏng nhiều. Đường bộ bị biến dạng mặt đường, nhiều đoạn lầy lội, cầu cũ nát hoặc bị đánh sập. Đường thuỷ chưa thông thoáng do kè ngầm trong kháng chiến chưa được dỡ bỏ. Đường sắt chưa nối thông với Hà Nội - Nam Định. Hệ thống nhà ga gần như bỏ hoang. Việc đi lại, lưu thông hàng hoá gặp nhiều trở ngại.
Trước tình hình đó, ngành giao thông vận tải Hà Nam đã tích cực thực hiện tu sửa đường sá, san lấp những đoạn bị phá, dỡ bỏ kè ngầm trên sông Đáy, sông Châu, tham gia khôi phục tuyến đường sắt trên địa bàn tỉnh. Đồng thời, tập trung những phương tiện giao thông như xe khách, xe tải, xích lô về các đầu mối như thị xã Phủ Lý, các huyện lỵ để vận chuyển hàng hóa và phục vụ nhân dân đi lại. Nhờ vậy, trong một thời gian ngắn Hà Nam đã khôi phục lại hầu hết các đường ô tô bị phá hoại trong chiến tranh và làm thêm đường mới, kết hợp trung đại tu với duy tu bảo dưỡng, nâng cấp mặt đường. Đến tháng 9/1954, Hà Nam đã sửa chữa phục hồi toàn bộ hệ thống đường bộ, cầu phà các tuyến giao thông liên tỉnh, liên huyện như các đường bộ 21, 22 và quốc lộ 1,... Giao thông vận tải đã hoạt động bình thường trên các tuyến Phủ Lý - Ngọc Hồi, Phủ Lý - Nam Định, Phủ Lý - Ninh Bình. Cùng với việc khôi phục 263 km đường bộ, 10/1955 hoàn thành sửa chữa cầu Phủ Lý - cầu lớn nhất trong tỉnh. Ngày 10-3-1955 tuyến đường sắt Văn Điển - Nam Định được khởi công khôi phục lại và đến tháng 12/1955 đã hoàn thành, đưa vào khai thác. Các ga Đồng Văn, Phủ Lý, Bình Lục, Cầu Họ cũng đã được khôi phục.
Giao thông vận tải thủy trên sông Hồng, sông Đào, sông Đáy đã trở lại hoạt động bình thường và có phần tấp nập hơn. Toàn tỉnh đã sửa chữa, đóng mới 24 thuyền có sức chở 4.121 tấn. Đường giao thông nông thôn cũng được sửa chữa, nâng cấp, với chiều dài hơn 220km. Cầu Đoan Vĩ (xã Thanh Hải, huyện Thanh Liêm) là chiếc cầu bằng bê tông cốt thép lắp ghép đầu tiên được xây dựng trên quốc lộ 1. Đường 21A, đường 60, đường 22, đường 63... tiếp tục được tu sửa, nâng cấp.
Thời kỳ 1960 - 1965, công tác giao thông vận tải có nhiều chuyển biến tích cực. Các công trình rải đá, lát đá, kè đá trên các tuyến đường 21, 60, 63, sửa cầu Phủ Lý, xây dựng cống Đồng Văn, đóng phà, ca nô... đều đạt 100% kế hoạch.
Tuy nhiên giao thông nông thôn ở Hà Nam vẫn còn nhỏ hẹp và lầy lội, những cảnh “đường lầy nước đọng”, “đầu đội vai mang” vẫn còn ám ảnh người Hà Nam mỗi khi mùa mưa về. Đầu những năm 1960, với phong trào “giải phóng đôi vai”, Hà Nam đẩy mạnh phát triển giao thông nông thôn gắn với phong trào thuỷ lợi nội đồng, đào đắp kênh mương, lấy đất làm đường. Đây là sáng tạo của ngành giao thông và thuỷ lợi của tỉnh. Kênh mương phát triển song song với đường sá, đường từ nhà ra ruộng. Cuối năm 1963 toàn tỉnh đã đào đắp và tu sửa được 1.422km đường thôn xóm, 188km đường liên xã, làm được 2.229 xe thô sơ và hơn 2.000 thuyền các loại. Tỷ lệ “giải phóng đôi vai” trong toàn tỉnh đạt 50,4%. Duy Tiên là huyện đạt cao nhất 64%. Năm 1963, Hà Nam được nhận Cờ luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành tích phát triển giao thông vận tải ở nông thôn.
Trong 6 tháng đầu năm 1964, toàn tỉnh đã đào đắp được 1.754km đường các loại với khối lượng đào đắp là 6.576.000 m3 đất. Xây dựng 44 cầu, 246 cống, đóng mới 1.648 xe thô sơ (như xe cải tiến, xe ba gác, xe trâu, bò kéo) và 6.351 thuyền các loại (thuyền nan và thuyền gỗ). Toàn tỉnh có 34 xã đạt từ 75 - 90% kế hoạch, 7 xã đạt trên 90%. Duy Tiên vẫn là huyện dẫn đầu, đạt 76% kế hoạch năm.
Cuối năm 1964 đã có 3.347km đường được sửa chữa và làm mới, đóng mới thêm 2.728 xe thô sơ và xe cải tiến, 8.450 thuyền các loại. Hà Nam một lần nữa được Chủ tịch nước tặng Cờ luân lưu về phong trào làm đường giao thông nông thôn.
Từ năm 1964, khi Mỹ leo thang đánh phá miền Bắc, giao thông Hà Nam trở thành mục tiêu đánh phá ác liệt trong chiến tranh phá hoại của Mỹ. Trong 4 năm (1965 - 1968) Mỹ đã hủy diệt thị xã Phủ Lý, cầu đường bị phá huỷ nặng nề, không phân biệt được đâu là đường đâu là ruộng. Cầu Họ trên đường 21A có ngày bị đánh tới 7 lần. Cầu Đoan Vĩ bị đánh tới 97 lần trong khoảng thời gian này. Khi cầu Đoan Vĩ bị phá hỏng, hệ thống phà vượt sông không đáp ứng được lượng xe qua lại từ 1.000 đến 1.500 chiếc/ngày. Cũng trong thời kỳ chiến tranh phá hoại ác liệt này, nhiều tuyến đường liên tỉnh, liên huyện đã được củng cố và mở rộng, một số đường vòng, đường tránh, cầu, phà được xây dựng thêm. Ngành giao thông vận tải tỉnh đã mạnh dạn làm cầu phao bằng nguyên liệu tại chỗ, bằng tre, bương, bằng gỗ, bằng thuyền nan, thuyền gỗ... Những chiếc thuyền nan (trọng tải 10 tấn) được xếp thành từng đôi lát gỗ lên trên để ô tô vượt sông an toàn.
Đầu 1968, ngành giao thông vận tải của tỉnh đã tranh thủ thời cơ sửa chữa và khôi phục cầu đường như: bắc cầu Hoà Mạc (huyện Duy Tiên), cầu cáp Xuân Khê (huyện Lý Nhân), làm mới và giải đá 17km đường liên huyện, 103km đường liên xã, rải đá nâng cấp 125km mặt đường, rải gạch, xỉ cho 425km; làm mới và tu sửa 807km đường từ xóm ra đồng (kết hợp với thuỷ lợi). Mạng lưới giao thông trong tỉnh đã thông suốt từ xã lên huyện, nối liền và khép kín với các tuyến chính. Năm 1968 mặc dù phương tiện vận chuyển cũ nát, lượng bổ sung không kịp với số hư hỏng nhưng khối lượng hàng hoá luân chuyển vẫn đạt 59.953.128 tấn/km, đạt 101,4% kế hoạch. Năm 1969, hầu hết các cầu đường bị tàn phá trong chiến tranh đã được khôi phục. Phong trào giao thông nông thôn phát triển mạnh, đào đắp thêm 1.790 km đường mới, cải tạo và sửa chữa 788 km đường cũ, xây 689 cầu. Ngành cũng đã đóng mới 4.765 tấn phương tiện, trong đó có 11 xà lan lưới thép trọng tải 1.100 tấn và 3.601 tấn trọng tải thuyền, sửa chữa 3.084 tấn phương tiện vận tải thuỷ, 170 tấn phương tiện ô tô vận chuyển. Tổng khối lượng vận chuyển đạt 1.462.891 tấn.
Trong những năm 1970 - 1971 phong trào giao thông nông thôn tiếp tục củng cố. Năm 1971 có 92 xã khá về giao thông nông thôn. Từ 1969 - 1971, vận tải đạt 107% kế hoạch, trong đó vận tải hàng hoá đạt 101%, hành khách đạt 115%. Ngoài ra còn đưa 1.060 tấn phương tiện vào phục vụ tiền tuyến. Trong 3 năm đã đóng mới 200 tấn thuyền, 33 xà lan vỏ thép loại 150 tấn, 6.690 thuyền nông nghiệp với tổng trọng tải 3.407 tấn; đại tu 205 ô tô, 4.448 xe cải tiến và hơn 300 xe bò bánh lốp.
Tháng 4/1972, Mỹ tiến hành chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ hai ra miền Bắc. Từ tháng 4 đến tháng 10 năm ấy, Hà Nam bị máy bay Mỹ đã đánh 202 trận, vào 247 điểm với 2.084 bom phá, 712 bom nổ chậm và bom từ trường, 106 bom xuyên và 19 tên lửa, làm thiệt hại 2.340 m đường, phá hỏng 13 cầu, 62 phương tiện giao thông, 2.284 tấn xà lan và thuyền các loại. Một lần nữa cán bộ, công chức ngành giao thông và quân dân Hà Nam lại vượt qua thử thách, đảm bảo cho giao thông thông suốt trên địa bàn tỉnh.
Sau chiến tranh phá hoại ở miền Bắc (cuối năm 1972), Hà Nam bắt tay vào khôi phục hệ thống giao thông, đẩy mạnh vận tải để phát triển kinh tế và chi viện cho chiến trường. Chỉ trong thời gian ngắn, việc san lấp hố bom trên các quốc lộ 1A và 21 đã cơ bản hoàn thành, góp phần đưa lưu lượng xe thông tuyến từ 300 lên 800 xe/ngày. Những năm 1973 - 1974 giao thông vận tải đường thủy có nhiều tiến bộ, song giao thông đường bộ vẫn gặp nhiều khó khăn do phương tiện vận tải hư hỏng nhiều, thiếu vật tư và phụ tùng thay thế (thường xuyên có 20 - 30% phương tiện nằm chờ sửa chữa), cầu đường xuống cấp nhanh trong khi việc tu bổ, sửa chữa lại manh mún, chắp vá. Vận tải hành khách yếu, khách chờ đợi nhiều và lâu.
Từ năm 1975, chiến tranh kết thúc để lại những hậu quả nặng nề cho hoạt động giao thông vận tải ở Hà Nam trên khắp địa bàn. Ở Hà Nam lúc bấy giờ, không một tuyến đường nào đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, phương tiện vận tải nghèo nàn, lạc hậu. Vật tư, nhiên liệu, phụ tùng thay thế thiếu trầm trọng làm cho 2/3 số ô tô và hàng vạn tấn phương tiện thuỷ không hoạt động được. Ngành giao thông đã phải sử dụng cả xe ngựa để chở khách trên các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ... Trước tình hình đó, toàn ngành đã tập trung mọi nỗ lực, sửa chữa mặt đường có trọng tâm, dứt điểm từng tuyến, dùng biện pháp rải đá mặt đường và kẹp vữa để khắc phục tình trạng thiếu nhựa đường. Chất lượng đường và chất lượng giao thông đã được cải thiện rõ rệt.
Các năm 1976 - 1977, nhiều hạng mục công trình trọng điểm giao thông trên địa bàn đã được đưa vào xây dựng, như tuyến đường sắt Phủ Lý - Kiện Khê và các cầu cống trên đường, công trình đại tu đường 1A từ Hồng Phú đến Đoan Vĩ. Năm 1976 làm mới đường các loại 2.184 km, 300 cầu bê tông, đóng mới 1.732 chiếc xe súc vật kéo, 6.775 chiếc thuyền (loại 5 tấn) và hàng nghìn thuyền con. Nhiều huyện làm giao thông nông thôn khá hơn trước như các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Bình Lục, Duy Tiên.
Tuy vậy cho đến những năm 1980, tình hình giao thông vận tải ở Hà Nam vẫn còn nhiều yếu kém. Nguồn vốn đầu tư cho giao thông hạn hẹp; vật tư, nguyên liệu, nhiên liệu, phụ tùng sửa chữa và thay thế tiếp tục khan hiếm; thiên tai lại liên tiếp xảy ra, gây thiệt hại đáng kể cho giao thông trên địa bàn. Nhiều công trình cầu đường xuống cấp chưa kịp tu sửa, hoặc chỉ được sửa chữa nhỏ, tạm thời nên chỉ sau một thời gian ngắn đã lại bị hư hại nặng thêm. Năng lực vận chuyển, bốc xếp, giải tỏa hàng hóa chậm. Công tác tổ chức và quản lý giao thông vận tải ở các huyện còn thiếu chặt chẽ, điều hành thiếu tập trung, do đó khối lượng hàng hóa vận chuyển ở các huyện chỉ đạt 42,6% kế hoạch và hàng hóa luân chuyển chỉ đạt 58,3% kế hoạch hàng năm. Giao thông nông thôn cũng chưa được quan tâm đúng mức, chưa ngăn chặn được hiện tượng phơi rơm rạ trên đường giao thông.
Đến những năm 1984 - 1985 cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành tuy vẫn chưa mấy cải thiện, nhưng hiệu quả của giao thông vận tải phục vụ sản xuất và đời sống đã có những tiến bộ rõ rệt. Việc phân công sắp xếp lại tổ chức vận tải theo từng tuyến bước đầu đi vào nền nếp. Ngành đã đưa hình thức đại lý vận tải vào tham gia vận tải hàng hóa. Công tác quản lý, duy tu bao dưỡng cũng có nhiều tiến bộ do hợp nhất các Đoạn bảo dưỡng đường bộ với các Công ty cầu đường thành Xí nghiệp xây dựng và quản lý đường bộ, nhằm thống nhất về mặt quản lý và tổ chức xây dựng, khai thác giao thông trên địa bàn. Các điểm nút, đầu mối giao thông được giữ vững an toàn, thông suốt kể cả trong mùa mưa lũ. Đường 21A được sửa chữa, bảo dưỡng mặt đường tốt hơn. Cầu phao Hồng Phú bằng phao sắt cặp gỗ đã được thay bằng phao xi măng lưới thép.
Ở cấp huyện, riêng năm 1984 đã huy động 667.200 ngày công và trên 16,39 triệu đồng (trong đó, nhân dân đóng góp 333.000 ngày công và hơn 8,30 triệu đồng) để sửa chữa 732,3 km đường và 74 cầu cống các loại. Tuy nhiên, đến năm 1985 tình trạng chất lượng phương tiện cũ nát, đường hẹp, nhiều ổ gà, nhiều điểm giao cắt khuất tầm nhìn... vẫn còn rất phổ biến, việc vận tải hàng hoá và đi lại của nhân dân trong tỉnh cũng vẫn còn nhiều khó khăn, trở ngại.
Từ năm 1986, ngành giao thông Hà Nam đã tập trung sửa chữa các tuyến đường, nâng cấp mặt đường nhất là các tuyến 21A, 1A, tích cực phát triển giao thông nông thôn phục vụ sản xuất và đời sống nhân dân. Vận tải hành khách tập trung chủ yếu vào việc nâng cao chất lượng phục vụ, bảo đảm an toàn cho khách hàng. Sở Giao thông của tỉnh đã sắp xếp lại hệ thống đường bộ và uỷ thác cho các huyện, thị quản lý 315km đường tỉnh và đường nội thị.
Trong các năm từ 1986 - 1988, các huyện, thị đầu tư sửa chữa đường sá, gồm đường tỉnh ủy thác, đường trục huyện, phát động các xã làm đường trục xã, liên thôn, liên xóm. Nhiều điển hình làm giao thông nông thôn xuất hiện như các xã Thanh Hà, Thanh Nguyên, Liêm Tiết, Thanh Nghị (huyện Thanh Liêm); Ngọc Sơn, Nhật Tân, Nhật Tựu (huyện Kim Bảng); Yên Nam, Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên); Nhân Mỹ, Đạo Lý, Hợp Lý (huyện Lý Nhân); xã Liêm Chính, phường Minh Khai (thị xã Phủ Lý)... Năm 1988, phong trào giao thông nông thôn đã làm mới thêm 360km mặt đường, sửa chữa cải tạo 271km mặt đường các loại như nhựa, đá cấp phối, lát gạch, vôi xỉ hay lát bê tông...
Từ năm 1990 hoạt động giao thông vận tải của Hà Nam chuyển sang cơ chế thị trường. Mặc dù gặp nhiều khó khăn khi áp dụng cơ chế mới, song khối lượng vận tải hành khách đã đạt 302.000 lượt người, luân chuyển hành khách đạt 21.300 nghìn người/km; khối lượng vận tải hàng hoá đạt 398.000 tấn và khối lượng hàng hoá luân chuyển là 12.900 nghìn tấn/km. Số xe ca tăng các tuyến vận tải được mở rộng từ 41 tuyến lên hơn 70 tuyến. Thời kỳ này có gần 200 xe tư nhân (chiếm 40% số ghế) tham gia hoạt động kinh doanh vận tải hành khách và hàng hóa. Giao thông vận tải ở cấp huyện cũng có những tiến bộ rõ rệt. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” và thực hiện khoán duy tu bảo dưỡng cầu đường... nên nhiều tuyến đường không bị xuống cấp, mặt đường tốt hơn trước.
Vận tải ngoài quốc doanh đã được tổ chức theo các hình thức như Nghiệp đoàn, HTX cổ phần, HTX dịch vụ vận tải... Đến năm 1995, toàn tỉnh đã có 8.017 tấn phương tiện vận tải thuỷ; 1.411 ô tô các loại (trong đó có 1.390 xe công nông). Doanh thu của ngành vận tải từ 1991 - 1995 đạt gần 94,84 tỷ đồng. Vận tải hàng hoá đạt 27,2 triệu tấn/km. Tốc độ tăng trưởng luân chuyển hàng hoá bình quân 5 năm là 16,1%/ năm và tăng trưởng luân chuyển hành khách là 12,1%/năm.
Trong 5 năm 1991 - 1995, ngành giao thông vận tải Hà Nam tiếp tục đầu tư xây dựng phát triển nhiều công trình giao thông quan trọng như cầu Quế (huyện Kim Bảng) qua sông Đáy (khởi công ngày 1/4/1992 và hoàn thành 1/1/1996), khởi công xây dựng cầu Hồng Phú vượt sông Đáy từ Châu Sơn sang Phủ Lý; phối hợp với tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) làm bến phà Yên Lệnh. Thi công nút giao thông Phủ Lý giữa quốc lộ 21A và quốc lộ 1A. Mạng lưới đường quốc lộ và tỉnh lộ nhìn chung thay đổi hẳn. Đến hết năm 1995, có 75% đường tỉnh được rải nhựa, chất lượng tốt. Quốc lộ 21A đã được rải nhựa toàn bộ cả tuyến. Giao thông cấp huyện thời kỳ này cơ bản hoàn thành cải tạo và nâng cấp.
Giao thông nông thôn tiếp tục phát triển mạnh, tạo ra bước chuyển biến mới, tích cực, có hiệu quả. Đến cuối năm 1995, toàn tỉnh làm được 495/685 km đạt 72%. Đường xã làm được 2.841km bằng 83%. Đường thôn, xóm làm được 3.276km bằng 81,2%. Bình Lục và Kim Bảng là những huyện điển hình về phát triển giao thông nông thôn. Các xã có phong trào khá là Tượng Lĩnh, Nhật Tân (huyện Kim Bảng); Thanh Hà, Liêm Tuyền (huyện Thanh Liêm); Nhân Mỹ, Nhân Hưng (huyện Lý Nhân); Liêm Chính (Thị xã Phủ Lý)... Năm 1996, tỉnh tiếp tục được đầu tư nâng cấp tuyến đường Kim Bảng - Mỹ Đức, đẩy nhanh tiến độ thi công cầu Hồng Phú, nâng cấp đường 21A đoạn Phủ Lý - Nam Định. Giao thông nông thôn chú trọng nâng cấp hoàn chỉnh các tuyến. Hết năm 1996, đã hoàn thành 525km đường liên thôn, liên xã trong đó có 170km rải nhựa, 160km lát gạch hoặc đổ bê tông.
Năm 1997, sau khi tái lập tỉnh, Hà Nam có 118km đường quốc lộ, 312km đường tỉnh lộ đô thị, 4.519km đường giao thông nông thôn. Hệ thống đường trên đã hình thành mạng lưới khá hoàn chỉnh, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội.
Toàn ngành giao thông của tỉnh có 244 cán bộ công nhân viên, 150 xã viên HTX vận tải, 2 doanh nghiệp quốc doanh là Công ty vận tải ô tô Hà Nam và Công ty công trình giao thông Hà Nam. Khối ngoài quốc doanh có 3 HTX vận tải.
Việc quy hoạch, đầu tư xây dựng và quản lý giao thông của tỉnh được tăng cường. Ngày 26/1/1997, khánh thành cầu Hồng Phú. Ngày 28/3/1997 khởi công nâng cấp cầu Phù Vân và sau 7 tháng thi công, ngày 28/10/1997 đã đưa công trình này vào sử dụng, phục vụ sự phát triển đô thị sang Phù Vân. Ngày 20/12/1997 đưa vào sử dụng nút giao thông Phủ Lý, tránh điểm giao cắt giữa quốc lộ 1A với đường sắt. Hoàn thành dự án nâng cấp cải tạo đường 62 (971), dự án xây mới đường Hoàng Hanh giai đoạn I, lập quy hoạch tổng thể phát triển giao thông vận tải giai đoạn 1997 - 2010. Năm 1997, Công ty vận tải ô tô của tỉnh với chưa đầy 30 xe khách, 7 xe tải lại bị cạnh tranh gay gắt với lực lượng vận tải ngoài quốc doanh, song đã đạt được doanh thu 3,1 tỉ đồng, lợi nhuận 42 triệu đồng, nộp ngân sách 120 triệu đồng. Đoạn quản lý Cầu - Đường bộ Hà Nam đã thực hiện khối lượng công việc với giá trị sản lượng là 1,36 tỉ đồng; Công ty công trình giao thông của tỉnh đạt giá trị tổng sản lượng 1,44 tỉ đồng.
Năm 1997-1998, tỉnh phát động ra quân làm đường giao thông nông thôn với mục tiêu xóa bỏ đường đất, nhựa hóa đường trục huyện, trục xã, bê tông hoá đường làng, ngõ xóm và đá hóa đường ra đồng. Chỉ sau một thời gian ngắn, 1.463km đường giao thông nông thôn được cải tạo và nâng cấp, trong đó có 136km đường nhựa, 471,5km đường bê tông, gạch nghiêng với số vốn đầu tư hơn 91 tỷ đồng. Năm 1996 - 1997, Hà Nam được Chính phủ tặng Cờ luân lưu cho tỉnh dẫn đầu cả nước về giao thông nông thôn, miền núi.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn mới, từ năm 1999, ngành giao thông vận tải Hà Nam đã phối hợp với Bộ Giao thông vận tải, các Bộ ngành ở Trung ương và các cơ quan, ban, ngành của tỉnh xúc tiến khảo sát, nghiên cứu, xây dựng Quy hoạch phát triển giao thông vận tải tỉnh Hà Nam giai đoạn 1999 - 2010 và định hướng đến năm 2020. Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm trong những năm đầu thế kỷ XXI là tập trung bảo dưỡng, cải tạo và nâng cấp hệ thống giao thông hiện có; nhựa hoá toàn bộ hệ thống đường bộ do tỉnh quản lý; mở thêm một số đường vành đai, đường nội thị ở thị xã Phủ Lý và một số tuyến mới phục vụ khai thác phát triển vùng kinh tế đồi rừng của các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm và tập trung hỗ trợ xây dựng, phát triển giao thông nông thôn, phục vụ công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn.
Uỷ ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo thực hiện kế hoạch 3 năm làm đường giao thông nông thôn (1999 - 2001) và có cơ chế hỗ trợ đầu tư cho các địa phương, các công trình giao thông thôn, xóm theo quy hoạch kết cấu bền vững, hỗ trợ 35% giá trị công trình bằng xi măng cấp đến chân công trình cho đường thôn, liên thôn, 50% giá trị công trình cho đường xã. Kết quả là sau 3 năm toàn tỉnh đã làm được 1.468 km đường giao thông nông thôn (đạt 110% kế hoạch), trong đó đường huyện là 41,8 km, đường xã 226,5 km, đường thôn xóm 836,5 km và đường ra đồng ruộng là 322,9 km. Trong tổng số các loại đường nói trên, có 51,5 km đường nhựa (chiếm 4%); 726,5 km đường bê tông (chiếm 49%) và 690 km đường cấp phối (chiếm 47%). Tổng nguồn vốn đầu tư đạt gần 146,65 tỉ đồng, trong đó nhân dân đóng góp gần 80,65 tỷ, bình quân 33.400đồng/người/năm. Tỉnh hỗ trợ 38.000 tấn xi măng, bằng 22,8 tỷ đồng và 9,2 tỷ đồng để gia cố mặt đường. Nguồn vốn của Ngân hàng thế giới (WB) đầu tư 30,3 tỷ và 3,5 tỷ từ các nguồn vốn khác.
Đến năm 2000, đã mở rộng và nâng cấp quốc lộ 1A qua thị xã Phủ Lý với quy mô 4 làn xe chạy. Nâng cấp và sửa chữa lớn đường 21A và 21B; đường tỉnh lộ 971 và 972. Khởi công dự án nâng cấp đường 60B đoạn Đồng Văn đi chợ Dầu (nay là quốc lộ 38), đường Hoàng Hanh và cầu Ngòi Ruột (giai đoạn 2); cầu Phủ Lý, cầu Cốc Ngoại, cầu Bằng Khê, cầu An Tập, cầu Sắt, cầu Họ (trên quốc lộ 21A); cầu Ba Đa, cầu Ghéo, cầu Lân Sơn, cầu Thôn Ấp (trên quốc lộ 21B); cầu Nhật Tựu (quốc lộ 38); cầu Đồng Hoá, cầu Tróc, cầu Câu Tử, cầu Khả Phong, cầu Bồng Lạng, cầu Cấm Sơn (trên các đường tỉnh lộ). Nghiên cứu, lập báo cáo nghiên cứu khả thi các dự án: tuyến vành đai Tây - Bắc, vành đai Đông-Nam, vành đai chống lũ (thuộc dự án nâng cấp hệ thống giao thông thuộc Quy hoạch nâng cấp kết cấu hạ tầng, phòng chống thiên tai vùng phân lũ sông Đáy - tỉnh Hà Nam). Xây dựng cầu Văn Hóa (nối đường Lê Công Thanh của thị xã Phủ Lý với xã Lam Hạ); cải tạo các nút giao quốc lộ với tỉnh lộ và cải tạo, nâng cấp một số hệ thống công trình giao thông khác.
Phương tiện vận tải đường bộ của tỉnh tăng mạnh cả về số lượng phương tiện lẫn năng lực trọng tải. Năm 2000, phương tiện vận tải hàng hoá đường bộ của tỉnh có 2.367 phương tiện, tổng trọng tải 3.810 tấn; năm 2002 tăng lên 2.769 phương tiện, tổng trọng tải 4.983 tấn. Năm 2000 có 112 xe ô tô khách với 4.024 ghế; năm 2002 tăng lên 152 xe, với 5.183 ghế khách. Khối lượng hàng hoá vận chuyển đường bộ cũng tăng từ 997 nghìn tấn năm 2000 lên 1.457 nghìn tấn năm 2002. Khối lượng hành khách vận chuyển bằng đường bộ năm 2000 là 854 nghìn lượt người, đến năm 2002 đạt trên 1.005 nghìn lượt.
Đến năm 2002, Hà Nam có 198 chủ sở hữu phương tiện vận tải thuỷ với 228 phương tiện, trọng tải 8.406 tấn, 430 ghế khách, chủ yếu là đò ngang. Trong số các phương tiện giao thông vận tải thuỷ, có 2 phương tiện do nhà nước quản lý; 8 phương tiện do tập thể quản lý, còn lại 218 phương tiện của tư nhân (chiếm tới 95,7%). Trọng tải tàu, thuyền đa dạng từ 7 đến 50 tấn gồm tàu thuyền vỏ sắt, vỏ xi măng và gỗ. Đa số là phương tiện tự hành. Mật độ phương tiện cao nhất là trên sông Đáy (tới 55,7%), trên sông Hồng (29,8%) còn lại là trên sông Nhuệ, sông Châu và sông Sắt. Tổng khối lượng hàng hóa vận chuyển đường thủy của Hà Nam những năm 2001 - 2002 đạt trên 342 nghìn tấn, chiếm khoảng 23 - 25% tổng khối lượng hàng hoá vận chuyển của tỉnh.
Hà Nam hiện có 3 cảng sông chuyên dùng là cảng Bút Sơn, cảng Xi măng X-77 và cảng Nhà máy xi măng Nội thương đều ở sông Đáy, với tổng công suất 700.000 tấn/năm. Kết cấu hạ tầng của các cảng này tương đối tốt. Ngoài ra, còn có 211 bến bãi khác, trong đó có 177 bến vận chuyển hàng hóa và 34 bến vận chuyển khách. Phần lớn các bến bãi này đều là bến tạm, cơ sở vật chất còn lạc hậu, thô sơ. Tuy vậy, khối lượng hàng hóa bốc xếp của các bến bãi hàng năm cũng khá lớn. Năm 2000, tổng khối lượng bốc xếp của 211 bến đạt tới trên 1.985,3 nghìn tấn. Mặt hàng bốc xếp chủ yếu là các loại vật liệu xây dựng, vật tư nguyên liệu, nhiên liệu cho sản xuất; trong đó than chiếm 11,6%, vật liệu xây dựng 84,1% và 3,8% là các mặt hàng khác. Số lượng hành khách vận chuyển qua các bến năm 2000 là 143.500 lượt người, chủ yếu là khách đò ngang.
Hà Nam hiện chỉ có 4 cơ sở công nghiệp phục vụ cho phát triển giao thông vận tải thủy là: Xưởng cơ khí của Cục Hậu cần ở Phủ Lý (do quân khu III quản lý); Xưởng cơ khí thủy - HTX vận tải Bắc Hà ở huyện Thanh Liêm do Sở Giao thông vận tải quản lý; một xưởng cơ khí tư nhân ở huyện Lý Nhân và một xưởng cơ khí tư nhân ở huyện Duy Tiên. Các cơ sở này chủ yếu sửa chữa máy móc tàu thuyền, sửa chữa tàu thuyền và đóng mới một số loại phương tiện vận tải thuỷ loại vừa và nhỏ.
Hà Nam đang tiếp tục điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển giao thông vận tải của tỉnh giai đoạn 2003 - 2010 và định hướng phát triển những năm tiếp sau, phù hợp với mục tiêu, nhiệm vụ và phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời kỳ tới.
II. BƯU ĐIỆN - VIỄN THÔNG VÀ THÔNG TIN LIÊN LẠC
Bưu điện tỉnh Hà Nam được tái lập từ 1 tháng 7 năm 1977, sau hơn 32 năm sáp nhập với bưu điện tỉnh Nam Hà. Từ khi tái lập đến nay, Bưu điện Hà Nam không ngừng vươn lên về mọi mặt, đổi mới hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý, chú trọng đào tạo, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ nhân viên, từng bước đổi mới và tăng cường trang thiết bị vật chất, công nghệ - kỹ thuật; phát triển mạng lưới và mở rộng các loại hình dịch vụ kinh doanh, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về dịch vụ bưu chính - viễn thông, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh và góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân trong tỉnh.
Đến nay, Bưu điện Hà Nam đã đảm bảo các dịch vụ bưu chính - viễn thông thông suốt, thuận lợi và nhanh chóng trên toàn địa bàn cũng như với các địa phương khác trong cả nước và quốc tế. Mạng lưới bưu cục mở rộng đến tất cả các huyện, thị và nhiều cụm xã, phường, thị trấn. Số máy điện thoại tăng nhanh. Theo số liệu thống kê, đến 31/12/ 2003, toàn tỉnh đã có 34.298 máy điện thoại (trong đó có 27.907 máy điện thoại cố định và 6.391 máy điện thoại di động); gấp 17,5 lần so với năm 1995, đạt mức bình quân 4,19 máy/100 dân(1).
Cũng theo số liệu thống kê năm 2003, giá trị sản xuất của ngành Bưu chính - viễn thông Hà Nam đạt trên 57,57 tỷ đồng (theo giá hiện hành), gấp gần 3,1 lần so với năm 1997. Trong đó, bưu chính đạt trên 18,5 tỷ đồng, gấp 2,4 lần; viễn thông đạt 39,07 tỷ, gấp 3,5 lần so với năm 1997. Năm 2002, doanh thu của Bưu Điện Hà Nam đạt trên 47,14 tỷ đồng, gấp 1,8 lần so với năm 2000 (25,81 tỷ) và 7,75 lần so với năm 1996.
1. Mạng lưới bưu cục
Đến 31/12/2003, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã có 48 Bưu cục, gồm: 1 Bưu cục cấp 1 tại trung tâm Bưu điện tỉnh (thị xã Phủ Lý), 6 Bưu cục cấp 2 tại các trung tâm huyện và 41 Bưu cục cấp 3 (Bưu cục khu vực). Các Bưu cục phân bố tập trung chủ yếu ở các khu đông dân cư, thị tứ, thị trấn giao thông thuận lợi. Bán kính phục vụ bình quân là 2,1km/bưu cục, dân số phục vụ bình quân là 17.032 người/bưu cục. Ngoài hệ thống Bưu cục, Bưu điện Hà Nam còn tổ chức hệ thống đại lý bưu điện để phục vụ tốt nhất nhu cầu của khách hàng. Đồng thời, để góp phần phát triển kinh tế - xã hội nông thôn, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần ở các vùng nông thôn và phát triển các dịch vụ bưu chính - viễn thông ở khu vực này, Bưu điện Hà Nam cũng đã xây dựng 95 điểm Bưu điện văn hoá xã tại tất cả các xã trong tỉnh. Do vậy đã rút ngắn bán kính phục vụ bình quân xuống còn 1,5 km/điểm.
Hiện nay các bưu cục đã được trang bị một số máy phục vụ chuyên dùng (như máy in cước, cân điện tử, máy xoá tem, máy Fax, máy vi tính, xe nâng, xe đẩy...) và đang tiếp tục trang bị thêm một số loại máy móc thiết bị mới để từng bước hiện đại hoá mạng bưu chính. Tuy vậy, còn nhiều công đoạn hoạt động bưu chính ở các Bưu cục vẫn làm thủ công là chủ yếu.
2. Các dịch vụ bưu chính
Bưu điện tỉnh Hà Nam vẫn chủ yếu phục vụ các dịch vụ bưu chính truyền thông được mở rộng đến tất cả các bưu cục, ki ốt và các điểm bưu điện văn hóa xã, như dịch vụ bưu phẩm, bưu kiện, chuyển phát thư, điện, phát hành báo chí, thư chuyển tiền... Các dịch vụ này chiếm tỷ trọng doanh số lớn trong tổng doanh thu bưu chính hàng năm.
Các dịch vụ mới được đưa vào khai thác bao gồm: Dịch vụ chuyển phát nhanh (EMS) (dịch vụ này đã thu hút được sự chú ý đáng kể của khách hàng. Năm 1997 khối lượng dịch vụ chuyển phát nhanh là 2.280, năm 2002 là 19.122, tăng 6,7 lần so với năm 1997), dịch vụ điện hoa, dịch vụ bưu chính uỷ thác, bưu phẩm không địa chỉ, dịch vụ khai giá, dịch vụ phát quà tại nhà và dịch vụ tiết kiệm bưu điện. Các dịch vụ mới này được triển khai phục vụ ở bưu cục trung tâm tỉnh, các bưu cục huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm và một số bưu cục cấp 3. Đây cũng là những dịch vụ bưu chính mới mà nhu cầu của khách hàng và sản lượng dịch vụ của ngành đều đang có xu hướng tăng nhanh.
Biểu 36: Sản lượng các dịch vụ 
bưu chính của Bưu điện Hà Nam
Loại Dịch vụ
Đơn vị
1997
1999
2001
2002
Bưu phẩm thường đi
Cái
1.408.498
1.634.000
1.082.208
958.498
Bưu phẩm ghi số đi trong nước
Cái
28.338
35.713
42.309
40.250
Bưu phẩm ghi số đi quốc tế
Cái
150
196
272
285
Bưu kiện đi trong nước
Cái
1.954
2.699
3.588
4.014
Bưu kiện đi quốc tế
Cái
13
17
30
26
Thư và điện chuyển tiền
Cái
9.062
12.404
16.010
16.722
Phát hành báo chí
1.000 tờ
1.993,6
2.685,2
2.462,48
2.916,3
Chuyển phát nhanh trong nước
Cái
2.782
6.631
10.666
19.122
Chuyển phát nhanh quốc tế
Cái
-
-
32
55
Doanh thu bưu điện
Triệu VNĐ
-
17.927
34.454
47.141
Tiết kiệm bưu điện
Triệu VNĐ
-
-
36.558
54.988
Nguồn: - Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2002; Nxb Thống kê, Hà Nội-2003; - Số liệu của Bưu Điện Hà Nam.
Mạng vận chuyển cấp 1 do Công ty VPS phụ trách. Mạng vận chuyển cấp 2 bao gồm 5 tuyến:
-  Phủ Lý - Đồng Văn - Duy Tiên.
-  Phủ Lý - Châu Sơn - Kim Bảng - Ba Sao.
-  Phủ Lý - Thanh Liêm - Phố Cà - Đoan Vỹ.
-  Phủ Lý - Phố Động - Bình Lục.
-  Phủ Lý - Đọ Xá - Liêm Chính - Lý Nhân.
Tổng cộng chiều dài vận chuyển là 172 km. Trong đó, có 3/5 tuyến được móc nối với đường thư cấp 1 của Công ty VPS. Còn lại đều được vận chuyển bằng 1 xe ô tô của Bưu điện thị xã Phủ Lý mật độ 1 chuyến/ngày đến các huyện. Mạng vận chuyển cấp 3 vận chuyển từ trung tâm huyện, thị tới các bưu cục cấp 3, điểm bưu điện văn hóa và tới tay khách hàng. Phương thức vận chuyển ở đây có 70% là xe máy, số còn lại là xe đạp cho các vùng nông thôn hẻo lánh, vùng núi của 2 huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Tất cả các loại bưu phẩm, báo chí đều phát đến tay người nhận trong ngày.
3. Mạng Viễn thông
Tuy tỉnh Hà Nam mới được tái lập, nhưng mạng viễn thông Hà Nam đã được trang bị và nâng cấp cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng được đòi hỏi và nhu cầu thông tin bưu điện trong toàn tỉnh.
Bưu điện tỉnh Hà Nam hiện nay có 20 trạm chuyển mạch với tổng dung lượng lắp đặt là 37.556 line; đã sử dụng 24.821 line, trong đó có 1 trạm HOST tại thị xã Phủ Lý là tổng đài NEAX 61X với dung lượng lắp đặt là 10.752 line và 16 trạm vệ tinh (RLU) của tổng đài NEAX 61E và 3 trạm viễn thông (Ba Hàng, Ba Sao, Phố Cà) sử dụng tổng đài độc lập là tổng đài NEAX 61 xs. Các tổng đài độc lập này sẽ dần được thay bằng tổng đài vệ tinh (RLU) của tổng đài NEAX 61S trước năm 2005.
Bưu điện tỉnh vừa lắp đặt thêm 2 trạm chuyển mạch tại xã Hoà Hậu (huyện Lý Nhân) và xã Mộc Nam (huyện Duy Tiên). Đến hết năm 2005 thiết bị chuyển mạch của Bưu điện tỉnh Hà Nam sẽ nâng lên 29 trạm chuyển mạch, gồm 1 trạm HOST, 26 trạm vệ tinh (RLU) và 2 trạm sử dụng thiết bị tập trung thuê bao V5.2. Khi đó mạng chuyển mạch của Bưu điện Hà Nam sử dụng thiết bị đồng bộ rất thuận tiện cho việc quản lý, vận hành và bảo dưỡng.
Bưu điện tỉnh Hà Nam hiện nay đang sử dụng 2 phương thức truyền dẫn là cáp quang và vi-ba. Có 16/20 trạm viễn thông đã sử dụng truyền dẫn cáp quang 12-24 sợi thiết bị FLX 150/600 của hãng Fujitsu với chiều dài tuyến là 87,7 km cáp quang nội tỉnh và 39 km cáp quang sử dụng của CSC (cáp quang Bắc - Nam dọc quốc lộ 1A từ Đồng Văn tới phố Cà và từ dốc Hoa Sen đi Ba Sao). Do mạng truyền dẫn cáp quang chưa tạo thành vòng RING an toàn mạng, nên mạng truyền dẫn vẫn sử dụng cả 2 phương thức cáp quang và vi-ba.
Hiện tại trên địa bàn tỉnh Hà Nam, tại trung tâm các huyện, thị đều có trạm BTS của cả 2 mạng thông tin di động Vinaphone và Mobiphone phủ sóng trên diện rộng. Đặc biệt 2 mạng này đã được RAOMING nên việc sử dụng dịch vụ điện thoại di động đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của khách hàng ở cả hai mạng thông tin nói trên.
Biểu 37. Hiện trạng và tình hình khai thác 
mạng cáp ngoại vi ở Hà Nam
Đơn vị
Cáp
Độ dài cống bể
(m)
Tổng chiều dài cáp (m)
Cáp
ngầm
(m)
Cáp treo (m)
Cáp gốc (đôi)
Đã dùng (đôi)
Thị xã Phủ Lý
13.900
7.838
21.806
320.770
135.890
184.790
Huyện Bình Lục
6.090
3.274
10.434
383.735
11.335
363.700
Huyện Duy Tiên
5.800
3.310
8.771
369.300
20.050
349.280
Huyện Kim Bảng
5.500
3.101
8.975
367.110
9.960
357.150
Huyện Lý Nhân
6.100
3.476
12.177
467.924
14.614
453.310
Huyện Thanh Liêm
5.900
3.208
7.436
336.300
14.590
321.710
Nguồn: Số liệu của Bưu Điện tỉnh Hà Nam.
4. Các dịch vụ viễn thông
Ngoài các dịch vụ truyền thống như điện thoại, điện báo... Bưu điện Hà Nam đã đưa vào khai thác nhiều loại dịch vụ viễn thông mới như Fax, điện thoại di động, dịch vụ nhắn tin, dịch vụ Internet... Phạm vi dịch vụ được mở rộng và sản lượng, chất lượng dịch vụ ngày càng được nâng cao.
Biểu 38. Sản lượng dịch vụ điện thoại năm 2001 - 2002
Tiến trình
Điện thoại
Đơn vị
2001
2002
1
Nội hạt
Phút
17.715.936
23.281.692
2
Nội tỉnh
Phút
5.596.776
6.727.944
3
Liên tỉnh
Phút
11.401.956
13.639.536
4
Di động
Phút
2.091.540
3.751.812
5
Quốc tế
Phút
44.364
113.820
Nguồn: Số liệu của Bưu Điện tỉnh Hà Nam.
Dịch vụ điện báo đã được cải tiến công nghệ, thay đổi thiết bị đầu cuối, đưa Telex thuê bao và Telex công cộng vào hoạt động. Tỷ lệ sai sót giảm, hiện chỉ còn 0,01%. Năm 2002, tổng số thuê bao cố định và di động cả tỉnh là 22.897; trong đó, số thuê bao ở các xã là 11.171, chiếm 48,79%.
Biểu 39. Số lượng thuê bao điện thoại 
cố định và di động năm 2001 - 2002
TT
Đơn vị
Số xã
2001
2002
Tổng số sô
Ở xã
Tổng số
Ở xã

Cả tỉnh
110
20.125
9.318
22.897
11.171
1
TX. Phủ Lý
6
7.675
1.625
9.346
2.241
2
H. Bình Lục
21
2.285
1.435
2.525
1.747
3
H. Duy Tiên
21
2.195
1.180
2.452
1.625
4
H. Kim Bảng
19
2.990
1.825
3.120
1.995
5
H. Lý Nhân
23
2.805
1.616
3.036
1.765
6
H. Thanh Liêm
20
2.175
1.637
2.418
1.798
Nguồn: Số liệu của Bưu Điện tỉnh Hà Nam.
Các dịch vụ viễn thông của Bưu điện Hà Nam hiện nay gồm có:
-  Điện thoại HCD (Honmecountrydireet).
-  Dịch vụ điện thoại ảo (Virtual telephone).
-  Dịch vụ trả lời cuộc gọi (Call answering).
-  Dịch vụ hộp thư thông tin.
-  Các dịch vụ Internet, như:
+ Dịch vụ thư điện tử (E-Mail).
+ Dịch vụ truyền tệp thông tin dữ liệu.
+ Dịch vụ truy nhập từ xa (Telnet), tìm kiếm thông tin mạng quốc tế.
+ Dịch vụ gọi 171.
+ Các loại dịch vụ đặc biệt của tổng đài Neax 61£ như: Dịch vụ bắt giữ cuộc gọi quấy phá (Malicioous Call Tracing); Dịch vụ quay số tắt; Thông báo vắng nhà; Dịch vụ chuyển cuộc gọi (Subscriber Transfer Service); Dịch vụ điện đàm hội nghị (Conference Call Service); Dịch vụ đường dây nóng (Delayed Hotline Service); Dịch vụ chờ cuộc gọi (Call Waiting Service); hạn chế gọi hiển thị số chủ gọi,...
Trong giai đoạn tới, mục tiêu và hướng phát triển của Bưu điện Hà Nam là tiếp tục đầu tư nâng cấp, hiện đại hóa công nghệ - kỹ thuật, tăng cường đào tạo nhân lực, mở rộng phạm vi và nâng cao chất lượng dịch vụ bưu chính - viễn thông, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa của tỉnh, góp phần nâng cao đời sống văn hoá, xã hội của dân cư trên địa bàn.
Chương XIX
THƯƠNG MẠI - DU LỊCH VÀ CÁC NGÀNH KINH TẾ KHÁC
I. THƯƠNG MẠI
Hà Nam là một tỉnh đồng bằng sông Hồng. Nhu cầu trao đổi hàng hoá ngày càng gia tăng theo yêu cầu của phát triển sản xuất và đời sống của dân cư trong tỉnh. Hà Nam có vị trí trung chuyển khá quan trọng giữa các tỉnh phía Nam với thành phố Hà Nội - trung tâm kinh tế của cả nước, nên có khả năng khai thác và tiêu thụ sản phẩm cho tiêu dùng trong nước và cho xuất khẩu, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp.
Từ ngày tái lập tỉnh đến nay, hoạt động thương mại của Hà Nam đã có những thay đổi mạnh mẽ, cả về hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý lẫn mạng lưới, thành phần tham gia và cơ chế hoạt động kinh doanh thương mại. Cơ chế quản lý hành chính, bao cấp trong hoạt động thương mại nói chung đã được chuyển đổi sang cơ chế tự do hoá thương mại, với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân và thành phần kinh tế - xã hội hoạt động kinh doanh theo cơ chế thị trường. Do vậy, trong thời gian qua, hoạt động thương mại ở Hà Nam ngày càng trở nên sôi động, cả ở khu vực thị xã, thị trấn lẫn các vùng nông thôn. Hoạt động nội thương có nhiều tiến bộ, thị trường hàng hoá phong phú đa dạng, đáp ứng được nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của nhân dân trong tỉnh. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ giai đoạn 1996 - 2002 tăng bình quân trên 20%/năm. Hoạt động xuất nhập khẩu có sự tăng trưởng đáng kể (trên 10%/năm), với sự phong phú về hàng hoá và đa dạng về hình thức, phương thức kinh doanh. Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất - kỹ thuật phục vụ hoạt động kinh doanh thương mại nói chung ngày càng được củng cố và phát triển.
1. Thị trường nội địa
1.1 Tình hình lưu chuyển hàng hóa xã hội
Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh Hà Nam, trong giai đoạn 1996 - 2002, tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội trên địa bàn đạt tốc độ tăng bình quân 15,7%/năm, từ 725,4 tỷ đồng năm 1996 tăng lên 1.460,2 tỷ đồng năm 2000 và đạt 1.742,7 tỷ đồng năm 2002. Trong giai đoạn này, tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội trên phạm vi cả nước tăng bình quân gần 14%/năm. Như vậy, so với tình hình chung của cả nước, tốc độ tăng thương mại bán lẻ hàng hóa xã hội của Hà Nam giai đoạn này cao hơn, là 1,7%.
Cùng với tốc độ tăng cao tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội, tổng mức bán lẻ hàng hóa xã hội tính bình quân đầu người của Hà Nam đã được nâng lên và rút ngắn khoảng cách chênh lệch so với mức bình quân chung của cả nước và vùng đồng bằng sông Hồng. Theo số liệu của Cục Thống kê tỉnh, năm 1995 tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội bình quân đầu người của Hà Nam bằng 36,02% mức bình quân chung của cả nước và bằng 43,93% so với mức bình quân của vùng đồng bằng sông Hồng; đến năm 1998, khoảng cách này đã được rút ngắn và tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội bình quân đầu người của Hà Nam đã nâng lên, bằng 77,66% so với vùng đồng bằng sông Hồng và 63,28% so với cả nước; đến năm 2000, mức bán lẻ hàng hoá xã hội bình quân đầu người của Hà Nam so với của cả nước đã được nâng lên đến 65,43%.
Tình hình trên đây phản ánh thực trạng và trình độ phát triển của sản xuất, trao đổi hàng hoá cũng như quy mô và mức độ phát triển thị trường nội địa của Hà Nam còn có những hạn chế so với các tỉnh trong vùng và cả nước. Tuy nhiên, sự sôi động của thị trường và tốc độ tăng cao tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội và tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội bình quân đầu người của Hà Nam thời gian qua cũng cho thấy xu hướng tăng nhanh của thị trường nội địa và xu hướng phát triển mạnh các hoạt động thương mại trên thị trường nội địa của tỉnh. Sự phát triển mạnh các hoạt động thương mại nội địa đã và đang là “cầu nối” (và là nhân tố tác động quan trọng) đối với phát triển sản xuất hàng hoá và phát triển thị trường của tỉnh, kích cầu tiêu dùng và làm tăng sức mua của dân cư đối với hàng hoá, dịch vụ trên thị trường xã hội của Hà Nam.
Cơ cấu các khu vực, thành phần tham gia thương mại trên thị trường nội địa cũng có những thay đổi. Tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước trong tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ nói chung trên địa bàn những năm gần đây có xu hướng giảm (năm 2000 chiếm 47,72%; năm 2001 chiếm 47,75%; năm 2002 giảm còn 19,72% và năm 2003 là 13,37%). Xét khu vực nông nghiệp từ chỗ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội, kinh tế nhà nước cũng giảm xuống nhanh chóng và chỉ còn chiếm khoảng trên dưới 20% trong những năm gần đây. Sự tham gia mạnh mẽ của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh vào lĩnh vực bán lẻ hàng hoá và dịch vụ là một yếu tố tích cực đối với phát triển thị trường, đáp ứng nhu cầu sản xuất, trao đổi và tiêu dùng hàng hoá của dân cư trong tỉnh.
Tuy nhiên, trong cơ cấu tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội theo ngành kinh doanh thương mại và kinh doanh dịch vụ của Hà Nam thì các ngành kinh doanh thương mại vẫn chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng, trong khi tỷ trọng của các ngành kinh doanh dịch vụ vẫn còn ở mức thấp. (Những năm gần đây, doanh thu dịch vụ khách sạn nhà hàng ở Hà Nam đã đạt trên dưới 50 tỷ đồng/năm, song mới chiếm gần 3% tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ nói chung trên địa bàn). Điều này cho thấy những hạn chế của các ngành dịch vụ Hà Nam trong hoạt động kinh doanh thương mại dịch vụ.
1.2. Hệ thống kinh doanh nội địa tỉnh Hà Nam
• Thương mại nhà nước
Thời kỳ từ 1997 - 2002, thực hiện chủ trương đổi mới sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, số lượng các đơn vị kinh doanh thương mại dịch vụ thuộc thành phần kinh tế nhà nước trên địa bàn Hà Nam có sự biến đổi mạnh, số doanh nghiệp giảm gần 2/3. Năm 1997 có 24 doanh nghiệp đến năm 2002 chỉ còn 9 doanh nghiệp (1). Tổng số người kinh doanh thương mại, dịch vụ ở khu vực nhà nước giảm từ trên 2.200 người năm 1997 xuống còn khoảng 978 người năm 2002 và tổng số vốn của các doanh nghiệp nhà nước theo thống kê năm 2000 là 19.267,9 triệu đồng (trong đó vốn cố định có 13.278,9 triệu và vốn lưu động 5.989 triệu).
Sự giảm sút số lượng các doanh nghiệp thương mại nhà nước và lao động ở khu vực này là một trong những nguyên nhân làm cho tỷ trọng của thương mại nhà nước trong tổng mức bán lẻ hàng hoá xã hội giảm đi trong những năm gần đây (năm 2000 chiếm 47,2%; năm 2002 giảm xuống còn 19,72% và năm 2002 giảm còn 13,37%). Mặc dù vậy, tổng giá trị sản xuất cũng như tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ ở khu vực thương mại nhà nước vẫn tiếp tục tăng. Năm 2002, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước ngành thương mại, du lịch và khách sạn nhà hàng nói chung trên địa bàn tỉnh đạt trên 57.933 triệu đồng, gấp 2,1 lần so với năm 1997; tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ đạt trên 343.606 triệu đồng, gấp gần 2 lần năm 1997. Điều này cho thấy hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thương mại nhà nước trên địa bàn tỉnh đang được cải thiện và nâng lên đáng kể.
• Thương mại ngoài quốc doanh
Trong xu thế phát triển mạnh mẽ của thành phần thương mại ngoài quốc doanh trên phạm vi cả nước, thời gian qua thành phần thương mại ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã hình thành và phát triển khá nhanh với nhiều loại hình và quy mô tổ chức khác nhau. Hệ thống thương mại ngoài quốc doanh của Hà Nam đã có bước phát triển đáng kể về phạm vi, không gian và quy mô hoạt động cũng như sự phong phú, đa dạng về loại hình tổ chức hoạt động của các thành phần kinh tế này.
Theo số liệu thống kê tỉnh Hà Nam đến tháng 7/2001, trên địa bàn tỉnh có 48 doanh nghiệp tư nhân, công ty TNHH và công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thương mại, dịch vụ (bao gồm 3 công ty cổ phần, 22 doanh nghiệp tư nhân và 23 công ty TNHH). Tổng số vốn điều lệ của 48 doanh nghiệp ngoài quốc doanh này (năm 2001) là 46.562 triệu đồng trong đó của 3 công ty cổ phần là 3.806 triệu đồng, bình quân 1.268 triệu đồng/công ty; của 22 doanh nghiệp tư nhân là 5.980 triệu đồng, bình quân 272 triệu đồng/doanh nghiệp; 23 công ty TNHH có 36.776 triệu đồng, bình quân mỗi công ty có 1.600 triệu đồng.
Tính đến ngày 31-12-2000 Hà Nam có 8.360 hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh trong đó số hộ kinh doanh thương mại là 4.783 hộ, số hộ kinh doanh dịch vụ là 1.890 hộ, chiếm tỷ lệ cao nhất 57,21%; tiếp đến là các hộ làm dịch vụ chiếm 22,60% và tập trung chủ yếu trên địa bàn huyện Duy Tiên và thị xã Phủ Lý. Trong năm 2000, do thực hiện Luật Doanh nghiệp, số hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã tăng lên khá nhanh với nhịp độ tăng 9,3% (so với năm 1999); trong đó số hộ kinh doanh dịch vụ tăng cao nhất, đạt 23,11% và số hộ kinh doanh thương mại tăng 6,3% so với năm 1999. Tổng số vốn kinh doanh của các hộ thương mại trên địa bàn tỉnh Hà Nam là 22.707 triệu đồng, bình quân 1 hộ có 5,1 triệu đồng vốn kinh doanh.
Theo số liệu thống kê tỉnh Hà Nam, số người kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng tư nhân trên 1.000 dân của Hà Nam năm 1995 là 14,34 người; năm 1997 là 9,47 người; 1998 là 8,58 người; 1999 là 9,50 người; năm 2000 là 9,64 người; năm 2002 là 15,7 người. Tình hình này cũng phản ánh những hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động giữa các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế của tỉnh theo hướng phát triển công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
1.3. Cơ sở vật chất - kỹ thuật của ngành thương mại
• Cơ sở vật chất - kỹ thuật của thương mại nhà nước
Thực hiện quá trình đổi mới và sắp xếp lại doanh nghiệp theo chủ trương giao, bán, khoán, cho thuê doanh nghiệp nhà nước (DNNN), trong những năm qua, các công ty thương mại cấp tỉnh và cấp huyện ở Hà Nam dần được chuyển sang hình thức cổ phần hoá và giao khoán doanh nghiệp. Đến nay, mạng lưới cơ sở kinh doanh chung của các DNNN kinh doanh thương mại trước đây cùng với cơ sở vật chất - kỹ thuật (cửa hàng, nhà xưởng, phương tiện, thiết bị,...) của các doanh nghiệp này hầu như đã được giao cho người lao động quản lý, khai thác.
Hiện tại, chỉ còn Công ty lương thực Hà Nam Ninh (do Trung ương quản lý), Công ty Du lịch - Bia, nước giải khát (thuộc Sở Thương mại - Du lịch Hà Nam quản lý) và Công ty chợ (thuộc UBND thị xã Phủ Lý quản lý). Các công ty này vẫn duy trì, tu bổ và tổ chức quản lý, khai thác cơ sở vật chất kỹ thuật hiện có của công ty. Trong thời gian tới, các công ty trên cũng dần dần được tiến hành cổ phần hoá bộ phận hoặc toàn bộ.
• Hệ thống chợ
Chợ là nơi kinh doanh chủ yếu của các hộ tư thương, cá thể kinh doanh thương nghiệp. Cùng với sự phát triển của thị trường Hà Nam, hoạt động thương mại tại các chợ trên địa bàn tỉnh cũng được phát triển hơn, góp phần thúc đẩy các hoạt động sản xuất và tiêu thụ hàng hoá trên địa bàn. Hiện nay, Hà Nam có 84 chợ trên tổng số 116 xã, phường, thị trấn (tỷ lệ xã, phường, thị trấn có chợ là 72,4%); bình quân 1,38 xã, phường, thị trấn có 1 chợ. Các chợ thường có quy mô hoạt động nhỏ với số hộ kinh doanh cố định bình quân mỗi chợ khoảng 42 hộ. Trong tổng số 84 chợ trên địa bàn có tới 76 chợ có quy mô chợ loại III; 7 chợ loại II và chỉ có 1 chợ có quy mô chợ loại I.
Trong những năm gần đây, Hà Nam đã chú trọng đến việc đầu tư, nâng cấp và xây dựng chợ mới. Tuy nhiên, chủ yếu là tôn tạo, bê tông hoá nền chợ, do đó hầu hết ở các huyện hiện nay vẫn phổ biến là chợ tạm và chợ bán kiên cố và chỉ có 4 chợ (chiếm 5,0%) được xây dựng kiên cố, 46% số chợ ở tình trạng lều lán tạm bợ, còn lại xấp xỉ 49% số chợ còn họp ngoài trời. Việc quản lý chợ trên địa bàn tỉnh Hà Nam theo hai hình thức tổ chức là Công ty chợ và Tổ quản lý chợ. Hiện nay Công ty chợ mới quản lý 2 chợ trên địa bàn thị xã Phủ Lý, các chợ còn lại trên toàn tỉnh được quản lý dưới hình thức Tổ quản lý chợ. Tình hình hoạt động các chợ tuy có sôi động, nhưng do điều kiện và trình độ sản xuất, Hà Nam chưa có chợ chuyên doanh, bán buôn và phân phối luồng hàng lớn đối với những sản phẩm hàng hoá sản xuất ra trên địa bàn tỉnh.
Hiện nay, tỷ lệ hộ bán buôn, kiêm bán lẻ ở các chợ chỉ chiếm dưới 1% trong tổng số hộ buôn bán ở các chợ. Mức vốn kinh doanh bình quân 1 hộ ở các chợ khoảng trên 2 triệu đồng, và nhiều chợ nhỏ ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Duy Tiên gần như không có các hộ bán buôn hàng hoá. Ngoài các chợ lớn ở thị xã, thị trấn có thời gian họp chợ trong ngày dài hơn và lưu lượng người đến chợ đều hơn giữa các buổi chợ, còn lại các chợ khác, nhất là các chợ xã vẫn mang đậm nét truyền thống, chủ yếu là họp chợ theo phiên.
Hầu hết các chợ phục vụ cho nhu cầu trao đổi hàng hoá của dân cư trong khu vực và lân cận; do đó về tính chất kinh doanh đều là các chợ kinh doanh tổng hợp với những hàng hoá tiêu dùng thông thường. Tại một số chợ trên địa bàn đã có sự chuyển biến theo yêu cầu mua sắm của người tiêu dùng, các sản phẩm được bán qua chợ đã có sự phân loại với nhiều phẩm cấp, chất lượng, quy cách khá tiện lợi cho người tiêu dùng. Những hàng hoá chủ yếu có khối lượng lớn được tập trung lưu thông tại chợ thị trấn và chợ thị xã là những ngành hàng lương thực, thực phẩm, thực phẩm công nghiệp (chiếm tỷ trọng 30%); các ngành hàng công nghệ phẩm, quần áo may sẵn, vải sợi các loại, dụng cụ gia đình chiếm khoảng 45%; các ngành hàng truyền thống như hàng thủ công mỹ nghệ, thêu ren, đan lát chiếm khoảng 12%; các ngành hàng văn hoá phẩm như điện ảnh, băng hình chiếm khoảng 10% - 12%.
Những hàng hoá chủ yếu với khối lượng lớn được tập trung lưu thông tại chợ nông thôn là các mặt hàng phục vụ cho sản xuất, hàng tiêu dùng như nhôm, gang, sắt thép, vật tư nông nghiệp (đạm, lân, kali, thuốc bảo vệ thực vật...); cụm kinh doanh hàng thực phẩm tươi sống, gia súc, gia cầm, con giống, rau, hoa quả tươi. Hàng hóa kinh doanh buôn bán ở chợ nông thôn chủ yếu là những mặt hàng tiêu dùng sinh hoạt hàng ngày. Những mặt hàng có giá trị cao là rất ít. Do vậy tổng giá trị hàng hóa ở mức nhỏ bé.
2. Hoạt động xuất - nhập khẩu
Vào những năm đầu đổi mới, sau khi bị mất thị trường truyền thống là các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ), hoạt động xuất nhập khẩu của Hà Nam gặp nhiều khó khăn. Một phần do chưa tìm kiếm được thị trường mới ổn định, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Những năm gần đây, hoạt động xuất, nhập khẩu đã đạt được những kết quả nhất định, bước đầu xâm nhập được vào thị trường các nước trong khu vực và thế giới, nhịp độ giao lưu hàng hoá xuất nhập khẩu của Hà Nam đã tăng lên nhanh chóng.
1.2. Tình hình xuất khẩu
Trong hơn 10 năm, từ 1991 đến 2002, giá trị hàng hoá xuất khẩu của Hà Nam tăng liên tục từ 426 nghìn USD năm 1991 tăng lên 1.456 nghìn USD năm 1995, đạt 7.397 nghìn USD vào năm 1997; đến năm 2000 tăng lên 21.559 nghìn USD và năm 2002 đạt tới 27.754 nghìn USD. Giá trị xuất khẩu bình quân đầu người của Hà Nam trong giai đoạn từ 1997 - 2002 đạt khoảng 24 USD/người.
Trong giai đoạn 1997 - 2002, cùng với sự tăng nhanh về giá trị xuất khẩu, các hình thức xuất khẩu ở Hà Nam cũng được mở rộng. Các hình thức xuất khẩu của Hà Nam hiện nay bao gồm: xuất khẩu trực tiếp, xuất khẩu uỷ thác và mua đứt bán đoạn cho doanh nghiệp xuất khẩu ngoài tỉnh. Xuất khẩu trực tiếp của Hà Nam đã tăng lên nhanh chóng kể từ năm 1997 đến nay. Năm 1997, tỷ trọng giá trị xuất khẩu trực tiếp của Hà Nam chiếm 50,90% trong tổng giá trị xuất khẩu của tỉnh, năm 1999 đã tăng lên 73,42% và năm 2000 là 74,98%. Theo đó tỷ trọng giá trị xuất khẩu uỷ thác đã giảm từ 33,3% năm 1997 xuống còn 17,63% năm 1999 và 11,29% năm 2000; hình thức mua đứt, bán đoạn giảm từ 15,80% năm 1997 xuống còn 8,94% năm 1999 và năm 2000 là 13,73%.
Trong số các thành phần kinh tế tham gia hoạt động xuất khẩu thì thành phần kinh tế nhà nước vẫn chiếm tỷ lệ lớn, chiếm khoảng 90% trong tổng giá trị xuất khẩu hàng hoá của tỉnh, trong khi thành phần kinh tế ngoài quốc doanh thường chỉ tham gia vào hoạt động mua đi bán lại cho các doanh nghiệp xuất khẩu nhà nước trong và ngoài tỉnh.
Hà Nam là một tỉnh sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, cho nên nhóm hàng hoá xuất khẩu chính của Hà Nam là các mặt hàng nông sản. Thời gian qua, hàng xuất khẩu của Hà Nam chủ yếu là hàng nông, lâm sản và nông, lâm sản chế biến. Mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất thời kỳ 1995 - 2002 là gạo, hàng mây tre đan, tiếp đến là hàng thêu ren, hàng may mặc và lụa tơ tằm. Năm 2002, Hà Nam đã xuất khẩu được 12.982 tấn gạo, (năm thấp chỉ xuất được trên dưới 2.000 tấn gạo các loại). Trong thời kỳ này, thương mại của Hà Nam đã góp phần vào sự tăng trưởng và phát triển chung về kinh tế - xã hội của tỉnh.
Giá trị xuất khẩu của nhóm hàng công nghiệp có xu hướng tăng lên nhanh chóng cùng với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh: năm 1996 chiếm 14,63% tăng lên tới 62,62% năm 1999 và 63,94% năm 2002. Nhóm các mặt hàng nông sản xuất khẩu chính của Hà Nam bao gồm: gạo, lạc nhân, đay, tơ, long nhãn... Tuy nhiên, khối lượng xuất khẩu các mặt hàng nông sản thường không ổn định qua các năm và chiếm tỷ lệ nhỏ so với sản lượng sản xuất (trừ mặt hàng lạc nhân xuất khẩu). Xuất khẩu gạo chỉ chiếm khoảng 5% so với sản lượng sản xuất hàng năm của tỉnh. Trong nhóm các mặt hàng công nghiệp xuất khẩu chủ yếu là sản phẩm tiểu thủ công nghiệp như: hàng thêu ren, hàng mây tre, thảm đay, lụa tơ tằm... Trong giai đoạn 1997 - 2002, khối lượng xuất khẩu các sản phẩm này đều có xu hướng tăng nhanh, nhất là các sản phẩm mây tre và hàng may mặc.
2.2. Tình hình nhập khẩu
Từ năm 1997 đến nay, theo số liệu thống kê của Hà Nam, giá trị hàng hóa nhập khẩu của tỉnh tăng gần 1,7 lần, nhưng tốc độ tăng không ổn định; 100% giá trị nhập khẩu của Hà Nam là nhập khẩu trực tiếp của địa phương và do các doanh nghiệp nhà nước của tỉnh thực hiện. Trong giá trị nhập khẩu theo nhóm hàng, chiếm tỷ lệ chủ yếu là các hàng hoá vật tư và thiết bị. Trong đó, chủ yếu là nguyên vật liệu phục vụ cho ngành may.
2.3. Cân đối xuất - nhập khẩu
Hoạt động xuất, nhập khẩu của Hà Nam từ khi tái lập tỉnh đã được tổ chức thực hiện tốt, phù hợp với đường lối phát triển nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu hiện nay. Tuy nhiên, với tổng giá trị xuất khẩu thấp và sự khan hiếm của nguồn hàng xuất khẩu cũng như những khó khăn trong việc tạo ra nguồn hàng xuất khẩu có quy mô lớn, có giá trị gia tăng cao trên địa bàn tỉnh hiện nay, thì việc duy trì giá trị nhập khẩu ở mức thấp cũng phản ánh tình trạng khó khăn trong đầu tư, đặc biệt là trong việc tìm kiếm các nguồn công nghệ, các hàng hoá trung gian nhập khẩu cho mục tiêu phát triển sản xuất của tỉnh theo hướng tạo ra các sản phẩm có sức cạnh tranh cao. Mặt khác, các mặt hàng xuất khẩu của Hà Nam dựa trên lợi thế về tài nguyên đất nông nghiệp và lợi thế về nguồn lao động rẻ, dồi dào đang mất dần sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế so với các mặt hàng xuất khẩu dựa trên lợi thế về vốn đầu tư, về công nghệ cao.
3. Các kênh, luồng hàng hoá trong và ngoài tỉnh
3.1. Các luồng hàng hoá từ bên ngoài vào tỉnh
Nền sản xuất hiện nay của Hà Nam chủ yếu là nông - lâm nghiệp, công nghiệp khai thác đá và sản xuất vật liệu xây dựng nên nhu cầu vật tư, thiết bị, máy móc của thị trường không lớn, chủ yếu là vật tư thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp và công nghiệp khai thác đá và vật liệu xây dựng. Phần lớn vật tư được đưa từ các tỉnh khác, một phần được nhập từ nước ngoài.
Với địa bàn nông thôn rộng lớn và là chủ yếu, mặc dù nhu cầu tiêu dùng của người dân còn thấp nhưng vẫn là một thị trường tiêu thụ khá lớn. Các mặt hàng nhập vào Hà Nam khá đa dạng, bao gồm các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu và thông thường như lương thực, thực phẩm, muối, dầu hoả, vải, giấy, vở học sinh, đồ dùng gia đình, các mặt hàng công nghiệp tiêu dùng; hàng vật tư nông nghiệp,... Các hàng hoá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu hàng hoá bán buôn, bán lẻ trong tỉnh. Các mặt hàng cao cấp với chất lượng cao như hàng điện tử, điện lạnh... chủ yếu tiêu thụ ở các thị trường thị xã, tỉnh lỵ và các thị trấn huyện lỵ.
Hàng công nghiệp tiêu dùng được cung ứng cho thị trường Hà Nam có nhiều nguồn gốc khác nhau, từ sản xuất trong nước và từ nhập khẩu. Trong đó đáng chú ý các nguồn hàng sản xuất trong nước được cung ứng từ các tỉnh và thành phố như Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình và các tỉnh phía Nam. Các nguồn hàng nhập khẩu trực tiếp hay qua các trung gian đưa vào Hà Nam có nguồn gốc chủ yếu từ Trung Quốc thông qua các tuyến cửa khẩu Lạng Sơn và Quảng Ninh, qua tư nhân hay các cơ sở đại lý bán hàng của nhà sản xuất. Nhóm hàng vật tư như phân bón, thuốc trừ sâu, xăng dầu, sắt thép xây dựng... chủ yếu do các doanh nghiệp nhà nước cung ứng, buôn bán và kết hợp với các doanh nghiệp tư nhân, đại lý bán lẻ trên địa bàn tỉnh. Hàng hoá nguyên liệu đầu vào cho sản xuất công nghiệp của tỉnh, hiện nay phục vụ chủ yếu cho ngành dệt may và sản xuất vật liệu xây dựng. Luồng hàng này bao gồm nguyên phụ liệu may và than. Trong đó, than từ Quảng Ninh và nguyên phụ liệu may từ nguồn nhập khẩu trực tiếp và từ các cơ sở sản xuất trong nước.
Nói chung các luồng hàng hoá vào tỉnh dường như ít thay đổi và rất khó được khơi thoát ở quy mô lớn do các yếu tố cần thiết sản xuất trên địa bàn còn ít được đổi mới, quy mô sản xuất chậm được mở rộng, sức mua của dân cư thấp... Các luồng hàng hoá vào Hà Nam không mang tính trung chuyển, tái phát luồng ra khỏi địa bàn mà chủ yếu phục vụ trực tiếp cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của dân cư trong tỉnh và thường được tổ chức cung ứng qua hệ thống chợ, các đại lý, các doanh nghiệp tư nhân trong tỉnh.
3.2. Các luồng hàng hoá bán ra ngoài tỉnh
Sản phẩm nông nghiệp do Hà Nam sản xuất và có khả năng phát luồng ra ngoài địa bàn tỉnh không có nhiều như lúa, gạo, lạc vỏ, thịt lợn, gia cầm, đay và một số loại rau quả thực phẩm. Trong số đó, lúa gạo hàng năm đưa ra ngoài tỉnh vào khoảng 40 - 60 nghìn tấn lúa và chủ yếu được cung ứng đến các thị trường như Hà Nội, các tỉnh phía bắc và xuất khẩu,... Khối lượng lạc hàng hoá của Hà Nam hàng năm khoảng trên 2 nghìn tấn lạc vỏ, tương đương với khoảng 1 nghìn tấn lạc nhân. Hướng phát luồng của lạc là các tỉnh phía bắc và xuất khẩu sang Trung Quốc. Sản lượng thịt lợn hàng hoá của Hà Nam hàng năm vào khoảng 3000 - 5000 tấn, chiếm khoảng 20 - 30% số sản lượng lợn hơi, hướng phát luồng chủ yếu là Hà Nội, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình để giết mổ cho tiêu dùng tại chỗ hoặc chế biến xuất khẩu.
Sản lượng đay của Hà Nam trong các năm 1997 - 2000 (bình quân khoảng 2.400 tấn/năm) chủ yếu được cung ứng cho các nhà máy và cơ sở chế biến đay ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình và cho xuất khẩu. Các loại rau đậu, hoa quả của Hà Nam đến các thị trường ngoài tỉnh không nhiều và với khối lượng không lớn. Trong đó, đáng chú ý là dưa chuột với khối lượng khoảng 300 - 500 tấn/năm; chuối xanh thường được thu gom để xuất khẩu sang Trung Quốc. Do tính chất nhỏ lẻ và phân tán của sản xuất nên các luồng hàng nông sản của Hà Nam ra khỏi địa bàn tỉnh thường do tư nhân thu gom và trực tiếp đưa đến các thị trường tiêu thụ hoặc làm trung gian cho các cơ sở, doanh nghiệp chế biến trong nước.
Các sản phẩm công nghiệp của Hà Nam được lưu thông ra ngoài địa bàn, chủ yếu gồm các loại vật liệu xây dựng như xi măng, đá các loại, vôi, gạch, bột đá siêu mịn... Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Hà Nội và các tỉnh Thái Bình, Nam Định. Trong đó, sản phẩm có dung lượng phát luồng lớn là xi măng, vôi và đá xẻ các loại; các sản phẩm may được các doanh nghiệp may trong tỉnh xuất khẩu trực tiếp ra nước ngoài. Nói chung các luồng hàng hoá của Hà Nam bán ra ngoài tỉnh chủ yếu là thị trường các tỉnh lân cận, đặc biệt là thị trường Hà Nội. Các hàng hoá bán ra của Hà Nam chưa có lợi thế về quy mô, về tính tổ chức phát luồng, về tính khác biệt hay đặc thù của sản phẩm hàng hoá. Do vậy, các luồng hàng hoá này chưa thực sự có sức cạnh tranh mạnh trên thị trường.
II. DU LỊCH HÀ NAM
Hà Nam là tỉnh có tài nguyên du lịch khá đa dạng, phong phú. Tài nguyên du lịch tự nhiên ở đây gồm các hang động, sông núi, với nhiều cảnh quan thiên nhiên và quần thể danh thắng nổi tiếng. Tiêu biểu như Núi Cấm - Ngũ Động Sơn, hang Luồn, hang Dơi, động vồng, núi Ngọc, khu Bát Cảnh Tiên, hồ Tam Chúc ở huyện Kim Bảng; Kẽm Trống, núi Tiên, hang Gióng Lở, hang Chùa Châu ở huyện Thanh Liêm; Núi Đọi, núi Điệp, sông Châu, núi An Lão và nhiều cảnh quan thiên nhiên, làng mạc trù phú ở các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục; cảnh quan đô thị ngã ba sông ở thị xã Phủ Lý và cảnh quan sinh thái ở xã Phù Vân (thị xã Phủ Lý)...
Cùng với tài nguyên du lịch tự nhiên, Hà Nam còn có tài nguyên du lịch nhân văn với nhiều di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc, các làng nghề truyền thống và nhiều loại hình văn hoá phi vật thể khá tiêu biểu, độc đáo. Chẳng hạn như đền Trúc, đền Bà Lê Chân, chùa Bà Đanh ở huyện Kim Bảng; đền Trần Thương, đình Văn Xá, đình Thọ Chương, nhà lưu niệm và mộ chí nhà văn - liệt sĩ Nam Cao ở huyện Lý Nhân; chùa Long Đọi Sơn, đình Lũng Xuyên, đền Lảnh Giang ở huyện Duy Tiên; chùa Châu, chùa Tiên, văn hoá Liễu Đôi ở huyện Thanh Liêm hay Từ đường Nguyễn Khuyến, đình cổ Viễn, đình Triều Hội (Bồ Đề, huyện Bình Lục)... Các làng nghề thủ công truyền thống có thể thu hút khách thăm quan du lịch như làng dệt lụa Nha Xá, ươm tơ Từ Đài (huyện Duy Tiên); làng nghề thêu An Hoà, Hoà Ngãi (huyện Thanh Liêm); làng dệt Hoà Hậu (huyện Lý Nhân); làng nghề sừng Đô Hai (huyện Bình Lục), làng nghề mây tre đan Ngọc Động (huyện Duy Tiên)...
Phần lớn các tài nguyên du lịch của Hà Nam có vị trí địa lý và điều kiện giao thông thuận lợi cho việc khai thác kết hợp giữa tài nguyên du lịch tự nhiên và du lịch nhân văn để tạo ra nhiều loại hình, nhiều dạng sản phẩm du lịch phong phú, hấp dẫn. Đồng thời có khả năng liên kết với phát triển du lịch của Hà Nội và các tỉnh lân cận khác như Hà Tây, Hoà Bình, Ninh Bình, Nam Định...
Tuy vậy, trong nhiều năm trước khi tái lập tỉnh, các tài nguyên và tiềm năng du lịch ở Hà Nam hầu như chưa được khai thác, phát triển. Hoạt động du lịch mới ở dạng sơ khai, chủ yếu thông qua các hoạt động lễ hội truyền thống về lịch sử, văn hoá, tín ngưỡng, hay các lễ hội về tập quán sản xuất và sinh sống của các làng xã hay cộng đồng dân cư các địa phương. Lễ hội Liễu Đôi, lễ hội đền Trần Thương, lễ hội chùa Long Đọi Sơn, lễ hội đền Trúc... là những lễ hội thu hút khá đông dân cư trên địa bàn và từ các địa phương khác. Song các hoạt động lễ hội ở đây chưa mang ý nghĩa của hoạt động du lịch và chưa được tổ chức trên phương diện phát triển du lịch.
Kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch cũng chưa được quan tâm phát triển. Nhiều di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh bị xuống cấp. Trên địa bàn tỉnh chỉ có duy nhất một khách sạn Hoà Bình (doanh nghiệp nhà nước) với khoảng 60 buồng khách và hơn một chục nhà nghỉ của các đơn vị ngoài quốc doanh, chủ yếu là phục vụ lưu trú cho chuyên gia nước ngoài và khách đến công tác tại địa phương. Khách tham quan du lịch không nhiều và thường chỉ lưu trú trong ngày.
Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Hà Nam chính thức thành lập Sở Thương mại - Du lịch (theo Quyết định số 200/QĐ-UB ngày 07 tháng 4 năm 1997 của UBND tỉnh) với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước đối với toàn bộ các hoạt động thương mại - du lịch trên địa bàn.
Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, Sở Thương mại - Du lịch Hà Nam đã tiến hành khảo sát, xây dựng; quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của tỉnh thời kỳ 1998 - 2010 và quy hoạch chi tiết các cụm, điểm du lịch trọng điểm (như khu du lịch Ngũ Động Sơn, hồ Tam Chúc, đền Trần Thương, khu du lịch Phù Vân,...). Việc quảng bá du lịch và tổ chức các hoạt động kinh doanh du lịch cũng được thúc đẩy với sự khuyến khích, thu hút sự tham gia của nhiều tổ chức, đơn vị, cá nhân thuộc nhiều thành phần kinh tế - xã hội trong và ngoài tỉnh.
Hiện nay, ngành du lịch của tỉnh đang triển khai một số dự án đầu tư xây dựng, nâng cấp kết cấu hạ tầng du lịch như: dự án xây dựng khu du lịch đền Trần Thương, khu du lịch Long Đọi Sơn, dự án phát triển du lịch hồ Tam Chúc, hang Luồn, Bến Thuỷ, Ngũ Động Sơn,...
Mạng lưới kinh doanh du lịch và dịch vụ du lịch của Hà Nam bắt đầu được mở rộng. Năm 2002, trên địa bàn toàn tỉnh đã có 20 đơn vị, tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động kinh doanh du lịch với nhiều loại hình như dịch vụ lưu trú (khách sạn, nhà nghỉ), dịch vụ ăn uống, giải khát, dịch vụ lữ hành nội địa, dịch vụ nghỉ ngơi, vật lý trị liệu,... Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng dịch vụ du lịch cũng tăng nhanh. Đến năm 2002 trên địa bàn tỉnh đã có 16 cơ sở lưu trú, với tổng số 280 phòng ngủ, trong đó có 20 phòng đủ tiêu chuẩn đón khách quốc tế.
Nguồn nhân lực phục vụ cho quản lý và kinh doanh du lịch cũng tăng lên nhiều so với trước. Năm 1997, số lao động trong ngành du lịch của tỉnh có khoảng 150 người, đến năm 2002 đã có khoảng trên 450 người. Phần đông là lao động trẻ, trong đó có một bộ phận lao động có chuyên môn nghề nghiệp hoặc có kinh nghiệm trong quản lý, kinh doanh du lịch.
Hoạt động kinh doanh du lịch ở Hà Nam nói chung có những khởi sắc. Số lượng khách du lịch đến Hà Nam những năm gần đây tăng khá nhanh (khoảng 12,8%/năm). Năm 2002, lượng khách du lịch Hà Nam lên tới trên 17.385 lượt người, tăng 44,8% so với năm 1997. Trong đó, chủ yếu là khách trong nước (17.137 lượt người, chiếm 98,57%) đến du lịch tham quan, tham gia lễ hội (hoặc) kết hợp công tác, tìm kiếm cơ hội làm ăn. Khách quốc tế đến du lịch Hà Nam từ nhiều quốc gia khác nhau, song lượng khách không nhiều, chủ yếu là khách dừng chân trên các tour du lịch xuyên Việt bằng đường bộ hoặc các tour du lịch kết hợp với du lịch ở các tỉnh khác trong vùng.
Năm 2002 doanh thu của ngành du lịch tỉnh đạt trên 8,6 tỷ đồng, tăng 56,4% so với năm 1997; trong đó, doanh thu dịch vụ chiếm trên 40%, chủ yếu là dịch vụ lưu trú.
Sự phát triển du lịch của Hà Nam gặp phải không ít khó khăn, trở ngại. Một phần vì Hà Nam gần với Thủ đô Hà Nội nên lượng khách lưu trú và số ngày lưu trú của khách du lịch không nhiều. Số ngày lưu trú trung bình của khách du lịch Hà Nam những năm gần đây mới đạt khoảng 1,3 ngày/lượt người. Điều này ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng doanh thu của ngành du lịch. Phần khác là do Hà Nam còn thiếu  các điểm du lịch hấp dẫn và các dịch vụ du lịch chất lượng cao, năng lực cạnh tranh của các đơn vị kinh doanh du lịch còn hạn chế. Mạng lưới kinh doanh du lịch và cơ sở vật chất kỹ thuật của ngành du lịch Hà Nam tuy phát triển nhanh, nhưng chất lượng phục vụ chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế.
Số lượng và chất lượng lao động trong ngành du lịch của tỉnh còn nhiều mặt thiếu hụt so với yêu cầu phát triển của ngành. Đa phần là lao động phổ thông, ít được đào tạo chính quy về nghiệp vụ chuyên môn. Đây cũng là một trong những trở ngại cho việc nâng cao chất lượng phục vụ trong các đơn vị kinh doanh du lịch của tỉnh.
Một vấn đề khác đang đặt ra đối với phát triển du lịch của Hà Nam là xu hướng cạnh tranh phát triển du lịch của các tỉnh trong vùng và của nhiều địa phương trong cả nước. Sự phát triển du lịch của các tỉnh trong vùng và của các địa phương trong cả nước vừa tạo ra cơ hội cho việc mở rộng liên doanh, liên kết phát triển du lịch của tỉnh, song đồng thời cũng tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng cao đối với phát triển du lịch của Hà Nam.
III. TÀI CHÍNH
Hoạt động tài chính của Hà Nam luôn bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao của ngành và phục vụ kịp thời có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; tích cực nuôi dưỡng, khai thác, quản lý các nguồn thu, tăng cường quản lý, tiết kiệm chi, thực hiện tốt công tác quản lý điều hành ngân sách các cấp, quản lý vốn, tài sản của nhà nước trên địa bàn.
Tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh bình quân các năm từ 2000 - 2002 đạt 597,57 tỷ đồng, tăng bình quân 16,35%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn trong cùng thời kỳ (8,46%/năm) và gấp hơn 4,1 lần so với thu ngân sách năm 1995 trên địa bàn. Trong đó, thu ngân sách từ kinh tế địa phương có xu hướng tăng mạnh, năm 2002 đạt gần 219,67 tỷ đồng, tăng 8,7% so với năm 2001 và 31,2% so với năm 2000.
Về chi ngân sách, ngành tài chính Hà Nam bố trí chi ngân sách trên cơ sở các nguồn thu từ kinh tế trên địa bàn, trợ cấp của ngân sách Trung ương, các nguồn trợ cấp từ các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn,... Đồng thời, căn cứ vào kế hoạch, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, của các ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội cũng như của các địa phương trong tỉnh để xây dựng kế hoạch chi ngân sách hàng năm và tham mưu cho lãnh đạo tỉnh trong việc bố trí hợp lý các khoản chi ngân sách nhà nước trên địa bàn. Trong đó, tập trung ngân sách cho đầu tư phát triển, đặc biệt là chi đầu tư xây dựng cơ bản để nâng cao năng lực của các ngành, lĩnh vực kinh tế; thúc đẩy phát triển mạnh các ngành công nghiệp, dịch vụ, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Ưu tiên đầu tư phát triển các khu, cụm công nghiệp tập trung, các hệ thống và công trình kết cấu hạ tầng trọng điểm, đồng thời tăng cường đầu tư hỗ trợ phát triển các làng nghề truyền thống, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng sản xuất kinh doanh hàng hoá và nâng cao năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá ở khu vực này.
Từ năm 1997 đến 2002, chi ngân sách cho đầu tư phát triển của Hà Nam liên tục tăng nhanh (năm 2002, đạt trên 187,18 tỷ đồng, tăng 28,3% so với năm 2000 và gấp 2,48 lần so với năm 1997) và chiếm trên 30% trong tổng chi ngân sách nhà nước hàng năm trên địa bàn. Trong đó, phần lớn là chi cho đầu tư xây dựng cơ bản (năm 2001 chiếm 83,8%; năm 2002 chiếm 96,8%). Ngoài chi ngân sách cho đầu tư phát triển, hàng năm Hà Nam cũng dành một khoản chi ngân sách thường xuyên khá lớn cho sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh. Năm 2002, chi ngân sách thường xuyên cho sự nghiệp kinh tế đạt trên 31,05 tỷ đồng, tăng 13,2% so với năm 2000 và gấp 1,97 lần so với năm 1997.
Trong bố trí cơ cấu chi ngân sách hàng năm, ngành tài chính cũng luôn coi trọng và tham mưu đắc lực cho lãnh đạo tỉnh trong việc đầu tư phát triển các lĩnh vực xã hội, quản lý bảo vệ tài nguyên, môi trường và đảm bảo an ninh, quốc phòng trên địa bàn. Đặc biệt là đầu tư ngân sách cho phát triển giáo dục, đào tạo, y tế, văn hoá, hỗ trợ đầu tư tạo việc làm, xoá đói giảm nghèo và phát triển cộng đồng của các địa phương trong tỉnh.
Năm 2002, chi ngân sách cho sự nghiệp xã hội nói chung của Hà Nam lên tới trên 180,4 tỷ đồng, chiếm gần 30% tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn và gấp 2,4 lần so với năm 1997. Trong đó, chi cho giáo dục, đào tạo trên 120,7 tỷ đồng, chiếm 21,0% tổng chi ngân sách nhà nước trên địa bàn, tăng 25,1% so với năm 2000 và gấp 2,16 lần so với năm 1997; chi cho phát triển y tế trên 30,7 tỷ đổng, gấp 1,97 lần năm 1997. Hàng năm, ngân sách tỉnh cũng chi hàng chục tỷ đồng cho phát triển văn hoá, thông tin, thể dục thể thao, phát thanh truyền hình; trích lập và hỗ trợ quỹ xoá đói giảm nghèo, quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo, quỹ giải quyết việc làm và chi cho các lĩnh vực bảo đảm xã hội khác.
Trong hoạt động tài chính và tổ chức quản lý, điều hành ngân sách trên địa bàn tỉnh, hoạt động của ngành Thuế và Kho bạc Nhà nước tỉnh giữ một vai trò và có những đóng góp rất quan trọng. Cục Thuế Hà Nam đã tham mưu cho tỉnh trong việc triển khai thực hiện các chính sách, luật pháp của Nhà nước và của ngành, phối hợp chặt chẽ với các cấp, ngành ở địa phương xây dựng và tổ chức thực hiện các dự toán, kế hoạch thu ngân sách từ hoạt động sản xuất kinh doanh và các nguồn thu khác trên địa bàn. Đảm bảo huy động tốt các nguồn thu ngân sách tại địa phương, giảm thất thoát các nguồn thu, đồng thời góp phần khuyến khích, nuôi dưỡng và phát triển các nguồn thu ngân sách của tỉnh.
Kho bạc Nhà nước tỉnh Hà Nam dưới sự chỉ đạo của Kho bạc Nhà nước Trung ương và phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành chức năng của tỉnh trong việc quản lý, giám đốc và điều hành ngân sách nhà nước trên địa bàn; tạo thuận lợi cho việc thu - chi ngân sách kịp thời, đúng chế độ quy định; giám đốc và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, các hoạt động đầu tư ngân sách; thanh tra, kiểm tra và giám sát thực hiện thanh quyết toán vốn đầu tư ngân sách. Quản lý việc cấp phát, cho vay của các dự án, chương trình mục tiêu trên địa bàn; đồng thời tham gia vào công tác huy động vốn, ứng vốn của Kho bạc cho ngân sách tỉnh vay để phục vụ kịp thời các yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động của Kho bạc Nhà nước tỉnh Hà Nam cũng góp phần quan trọng vào việc tiết kiệm, chống lãng phí thất thoát ngân sách và làm tăng hiệu quả của đầu tư ngân sách trên địa bàn.
Tuy nhiên, hoạt động của ngành tài chính nói chung của Hà Nam hiện vẫn còn một số khó khăn. Nền kinh tế của tỉnh tuy có bước phát triển mạnh song quy mô phát triển của các ngành, các lĩnh vực và cơ sở sản xuất kinh doanh nói chung vẫn còn hạn chế, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh nhỏ, phân tán, hiệu quả chưa cao. Năm 2002 nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng khá lớn (36%) trong GDP của tỉnh. Nhu cầu đầu tư ngân sách trên địa bàn tiếp tục tăng cao trong khi các nguồn thu ngân sách còn nhiều hạn chế.
Hà Nam hiện vẫn chưa đảm bảo được cân đối ngân sách trên địa bàn. Hàng năm, trên 40% đến gần 60% nguồn thu ngân sách của tỉnh là do trợ cấp từ ngân sách Trung ương và từ các nguồn đầu tư khác của Nhà nước. Trong khi đó, việc quản lý, kiểm soát chi ngân sách cũng gặp không ít khó khăn, nhất là trong việc giải quyết nợ đọng ngân sách, nợ đầu tư xây dựng cơ bản, đầu tư phân tán và đầu tư vượt dự toán ngân sách cũng như việc ngăn chặn, xử lý các hiện tượng sử dụng vốn ngân sách sai mục đích, gây lãng phí, làm thất thoát ngân sách.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong giai đoạn tới, ngành tài chính Hà Nam đang tiếp tục đổi mới, hoàn thiện về tổ chức, cơ chế quản lý và tăng cường đào tạo nâng cao năng lực, trình độ mọi mặt của đội ngũ cán bộ, nhân viên trong ngành, tăng cường huy động, khai thác triệt để các nguồn thu, đồng thời tạo điều kiện phát triển và đa dạng hoá các nguồn thu trên cơ sở phát triển sản xuất, dịch vụ kinh doanh của mọi tổ chức, thành phần kinh tế - xã hội trên địa bàn tỉnh; đẩy mạnh phân cấp ngân sách, dự toán và phân bổ hợp lý các nguồn chi, đồng thời tăng cường kiểm tra giám sát và quản lý chặt chẽ việc sử dụng ngân sách, vốn và tài sản của Nhà nước tại địa phương.
IV. TÍN DỤNG - NGÂN HÀNG
Từ khi tái lập tỉnh năm 1997, Ngân hàng Nhà nước tỉnh Hà Nam đã tiến hành củng cố lại tổ chức, mở rộng mạng lưới và đổi mới cơ chế hoạt động, thực hiện chức năng nhiệm vụ của ngành và thúc đẩy các hoạt động tín dụng nói chung trong nền kinh tế của tỉnh.
Đến nay, hoạt động của mạng lưới tín dụng, ngân hàng ở Hà Nam đã mở rộng đến tất cả các huyện, thị, xã, phường trong toàn tỉnh. Hệ thống Ngân hàng Nhà nước như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Chính sách xã hội,... đều có các đại lý, chi nhánh hoạt động rộng khắp đến cơ sở, đáp ứng nhu cầu huy động vốn và tín dụng vốn đầu tư trên địa bàn. Số điểm giao dịch của hệ thống ngân hàng trên địa bàn tỉnh năm 2002 tăng 48% so với năm 2000.
Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh Hà Nam còn có Quỹ tín dụng nhân dân đã được thành lập và đi vào hoạt động. Đến năm 2002, các Quỹ này đã có trên 5.200 thành viên, với tổng số vốn hoạt động trên 15.120 triệu đồng, vốn điều lệ 877 triệu đồng. Phần lớn các Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động có hiệu quả, góp phần đáp ứng nhu cầu tín dụng vốn của nhân dân ở các địa phương, cơ sở.
Thể chế và cơ chế hoạt động của hệ thống tín dụng - ngân hàng đã căn bản chuyển sang dịch vụ kinh doanh theo cơ chế thị trường, có sự quản lý điều hành của Nhà nước và của ngành chủ quản (Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và các Ngân hàng Thương mại Nhà nước). Đối tượng cho vay được mở rộng đến tất cả các thành phần kinh tế xã hội thuộc mọi lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Cơ chế hoạt động cũng ngày càng thông thoáng, thuận lợi hơn. Hiện tại, hệ thống ngân hàng đã chuyển sang cơ chế lãi suất cho vay theo thoả thuận. Các thủ tục vay, cho vay và dịch vụ ngân hàng nói chung đã đơn giản, minh bạch, nhanh chóng và thuận tiện cho mọi đối tượng khách hàng.
Nguồn vốn huy động của hệ thống tín dụng, ngân hàng trên địa bàn tăng lên nhanh chóng. Đến cuối năm 2002, tổng nguồn vốn huy động đã đạt trên 854,7 tỷ đồng, trong đó vốn huy động trong dân cư đạt trên 610 tỷ (chiếm 71,4%), tăng 24,7% so với năm 2001. Vốn huy động tại chỗ của các Quỹ tín dụng nhân dân đạt trên 11,74 tỷ đồng, tăng 29,5%. Tổng số dư tiền gửi tiết kiệm nói chung trên địa bàn đến thời điểm 31 tháng 12 năm 2002 đạt trên 638,29 tỷ đồng, gấp 2 lần so với năm 2000 (317,99 tỷ) và gấp 5,9 lần so với năm 1997 (108,48 tỷ đồng).
Thị xã Phủ Lý là địa phương có số dư tiền gửi tiết kiệm tăng nhanh và chiếm tỷ lệ cao nhất trong toàn tỉnh. Năm 2002, mức huy động tiền gửi tiết kiệm ở thị xã Phủ Lý đạt tới 399,17 tỷ đổng, chiếm 62,8% trong tổng số dư tiền gửi tiết kiệm trên địa bàn tỉnh, gấp 3,1 lần so với năm 2000 và gấp 18 lần so với năm 1997. Số dư tiền gửi tiết kiệm ở huyện Lý Nhân năm 2000 cũng đạt mức trên 80 tỷ đồng, chiếm 12,5% của cả tỉnh và gấp gần 3,2 lần mức của năm 1997. Số dư tiết kiệm ở các huyện còn lại ở mức thấp hơn, song đều có xu hướng tăng nhanh qua các năm. Số dư tiền gửi tiết kiệm ở huyện Thanh Liêm năm 2002 gấp hơn 4 lần so với mức của năm 1997.
Việc cung ứng vốn tín dụng cho đầu tư phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn cũng tăng nhanh. Trong đó, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực quan trọng trong nền kinh tế của tỉnh như công nghiệp, giao thông vận tải, xây dựng, nông - lâm nghiệp, phát triển ngành nghề và dịch vụ ở nông thôn,... Cơ cấu đầu tư tín dụng cũng có những thay đổi theo hướng tăng tỷ trọng cho vay đối với khu vực kinh tế dân doanh; đặc biệt là đối với kinh tế hộ gia đình, kinh tế trang trại trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thuỷ sản; kinh tế tư nhân, cá thể và các loại hình kinh tế khác trong lĩnh vực sản xuất tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ,...
Đầu tư tín dụng của hệ thống tín dụng - ngân hàng ở Hà Nam tập trung chủ yếu vào tín dụng cho vay ngắn hạn. Điều này phù hợp với thực tế nhu cầu vay vốn sản xuất kinh doanh trên địa bàn. Giai đoạn từ 1997 đến 2002, tổng mức dư nợ tín dụng ngắn hạn trên địa bàn tăng gấp 4,4 lần (từ 133.455 triệu đồng tăng lên 588.498 triệu), nhanh hơn so với dư nợ tín dụng trung hạn và dài hạn. Dư nợ tín dụng ngắn hạn năm 2000 cao gấp 1,75 lần so với dư nợ tín dụng trung và dài hạn. Mức chênh lệch này năm 2002 là 2,15 lần.
Hoạt động quản lý điều hoà thu - chi tiền mặt, dịch vụ các giao dịch và thanh toán trong nền kinh tế của hệ thống ngân hàng ngày càng mở rộng, đáp ứng yêu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Khối lượng thu - chi tiền mặt qua hệ thống ngân hàng ngày càng lớn và tăng nhanh; việc cân đối, điều hoà lưu thông tiền mặt trên địa bàn được đảm bảo tốt hơn.
Chất lượng hoạt động và an toàn kho quỹ của hệ thống tín dụng - ngân hàng cũng được đảm bảo tốt. Công tác kiểm định, giám đốc vốn đầu tư tín dụng được tiến hành chặt chẽ, thường xuyên. Năm 2002, tỷ lệ nợ quá hạn chỉ còn chiếm 2,5% trong tổng dư nợ tín dụng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng trên địa bàn. Vai trò và uy tín của hệ thống tín dụng, ngân hàng trong hoạt động kinh tế - xã hội của tỉnh ngày càng được khẳng định.
V. PHÁT TRIỂN KHOA HỌC - CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG
Từ xa xưa, trong quá trình phát triển sản xuất, mở mang cuộc sống, các thế hệ người dân ở Hà Nam đã biết dựa vào điều kiện thiên nhiên, lợi dụng các yếu tố thuận lợi của thiên nhiên, đồng thời đấu tranh với giới tự nhiên để không ngừng phát triển. Trong quá trình lao động cần cù, sáng tạo ấy, người dân nơi đây đã không ngừng mở mang tri thức, tích luỹ kinh nghiệm để phục vụ trở lại cho phát triển sản xuất và đời sống. Đó là những tri thức khoa học về tự nhiên, xã hội, con người, về kỹ năng và công nghệ sản xuất được nhận thức từ thực tế, đúc rút và sáng tạo trong thực tế sản xuất và đời sống, được tích luỹ và truyền từ đời này sang đời khác, ngày càng dầy thêm, phong phú thêm. Nhiều tri thức và kinh nghiệm sản xuất, sinh hoạt của dân cư Hà Nam đã đi vào tục ngữ, ca dao, ăn sâu vào tiềm thức và trở thành tập quán sản xuất, sinh sống của các cộng đồng dân cư, góp phần tạo ra những nét đẹp văn hoá, trí tuệ và tâm hồn của người Hà Nam.
Từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, cùng với sự phát triển giáo dục mở mang dân trí và sự phát triển về kinh tế, văn hoá, xã hội, thì những tri thức về khoa học - kỹ thuật ở Hà Nam cũng ngày càng phát triển và được truyền bá, áp dụng rộng rãi hơn. Bên cạnh những kinh nghiệm và kỹ thuật sản xuất truyền thống, nhân dân ở nhiều địa phương trong tỉnh đã áp dụng các loại công cụ cải tiến và một số kỹ thuật mới vào sản xuất nông nghiệp, xây dựng thuỷ lợi, thuỷ nông, cải thiện điều kiện vệ sinh, môi trường sinh sống, phòng chống dịch bệnh cho người và chăn nuôi gia súc, gia cầm... Từ sau năm 1954 đặc biệt là từ những thập kỷ 60, 70 của thế kỷ XX trở lại đây, phong trào ứng dụng khoa học kỹ thuật, đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất đã được phát động và triển khai mạnh mẽ ở hầu khắp các địa phương, các ngành và lĩnh vực kinh tế xã hội của tỉnh.
Trong nông nghiệp, hàng loạt tiến bộ khoa học kỹ thuật đã được ứng dụng rộng rãi ở khu vực này, như các loại cày, bừa, cào cỏ cải tiến, công cụ cơ giới bán cơ giới thay thế cho công cụ truyền thống; làm bèo hoa dâu, phân xanh, phân bùn, bón vôi để cải tạo đồng ruộng; đưa các giống lúa mới vào sản xuất cùng với các kỹ thuật mới về chọn giống, ngâm ủ giống; cấy ngửa tay, thẳng hàng; bón phân hoá học, phun thuốc trừ sâu... Việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật đối với các loại cây trồng khác cũng tương tự như vậy. Nhiều ngành nghề thủ công đã áp dụng kỹ thuật và công cụ sản xuất mới, như xay xát gạo, nung gạch, vôi, làm nón, dệt khăn mặt, vải khổ rộng,... Các cơ sở, xí nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh cũng tăng cường cải tiến, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm.
Đồng thời với đẩy mạnh ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, trong suốt thời kỳ từ những năm 1960 trở lại đây, các cấp, ngành và địa phương trong tỉnh đã phát động rộng rãi phong trào thi đua lao động sáng tạo và cải tiến kỹ thuật, coi khoa học kỹ thuật là một “mặt trận” của sản xuất, cách mạng kỹ thuật là “then chốt” để phát triển lực lượng sản xuất, đưa dần nền kinh tế của tỉnh lên sản xuất lớn. Phong trào này đã động viên và khơi dậy trí tuệ, lòng nhiệt tình và sức sáng tạo to lớn của các tầng lớp nhân dân trong tỉnh “tiến quân vào khoa học kỹ thuật” trong mọi lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội. Hàng loạt những sáng kiến cải tiến công cụ, kỹ thuật, công nghệ sản xuất, cải tiến tổ chức và quản lý lao động, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu... đã xuất hiện và được áp dụng trong thực tế qua các phong trào này.
Từ khi tái lập tỉnh (1997), các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ ở Hà Nam tiếp tục được đẩy mạnh, nhằm đáp ứng yêu cầu của đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá và phát triển bền vững kinh tế - xã hội của tỉnh, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ tài nguyên, môi trường; góp phần quan trọng vào việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh trong nền kinh tế của tỉnh, đồng thời góp phần cải thiện điều kiện sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong tỉnh.
Ngay khi tái lập tỉnh, UBND tỉnh Hà Nam đã quyết định thành lập Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường Hà Nam (theo Quyết định 193/QĐ-UB ngày 7/4/1997 của UBND tỉnh). Sở Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KHCN và MT) có chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước đối với toàn bộ các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng KHCN, quản lý nhà nước về môi trường và bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh. Tư vấn và phối hợp với các cơ quan hoạch định chính sách của tỉnh, các ban, ngành và địa phương trong tỉnh trong việc hoạch định chính sách và tổ chức phát triển kinh tế xã hội gắn với phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường.
Đến cuối năm 2003, cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý khoa học công nghệ của tỉnh có sự điều chỉnh. Sở KHCN và MT đổi tên thành Sở Khoa học - Công nghệ (KHCN). Chức năng quản lý môi trường và bộ phận quản lý môi trường của Sở trước đây được chuyển giao cho Sở Tài nguyên - Môi trường mới thành lập.
Cùng với việc tổ chức lại bộ máy và cơ cấu quản lý, tỉnh cũng tăng cường đầu tư cho các hoạt động KHCN và bảo vệ môi trường (BVMT). Tổng số vốn đầu tư cho sự nghiệp KHCN và BVMT của Hà Nam từ 1997 đến 2002 là 31,945 tỉ đồng. Năm 2002 vốn đầu tư cho KHCN và BVMT gấp 10 lần so với năm 1997. Trong đó, ngoài kinh phí tài trợ từ ngân sách Trung ương, tỉnh cũng huy động một phần đáng kể từ ngân sách địa phương và từ các nguồn tài trợ khác trên địa bàn. Phần lớn nguồn vốn này được đầu tư cho các đề tài nghiên cứu, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất (chiếm 65 - 70%), trong đó đầu tư cho nông nghiệp và phát triển nông thôn chiếm 55% kinh phí.
Tỷ trọng đầu tư cho nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong nông nghiệp của Hà Nam những năm qua đứng đầu trong các tỉnh, thành của cả nước. Ngoài ra, thông qua việc triển khai các dự án, chương trình mục tiêu quốc gia và các hoạt động khoa học, công nghệ khác, các cơ quan Trung ương và nhiều tổ chức chính phủ, phi chính phủ còn tài trợ hàng chục tỉ đồng cho nghiên cứu, ứng dụng khoa học, chuyển giao công nghệ, kỹ thuật trong các ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh. Nhiều địa phương, doanh nghiệp và cơ sở sản xuất kinh doanh trong tỉnh cũng đầu tư hàng trăm tỉ đồng cho việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất và giảm thiểu ô nhiễm môi trường.
Đội ngũ cán bộ và lực lượng lao động có trình độ khoa học, chuyên môn kỹ thuật của Hà Nam cũng tăng lên nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng. Đến năm 2002, tổng số cán bộ và lao động có trình độ khoa học, chuyên môn kỹ thuật đang làm việc trong các lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh đã có 10.499 người, gấp 2,2 lần so với năm 1997.
Hiện tại, nguồn lực xã hội của Hà Nam cho phát triển khoa học công nghệ là rất lớn. Cùng với sự phát triển của giáo dục và đào tạo ở Hà Nam đang hình thành một lực lượng lao động xã hội ngày càng đông đảo có trình độ học vấn và kiến thức để tiếp nhận sự chuyển giao và triển khai, ứng dụng khoa học, công nghệ vào thực tế sản xuất và đời sống của địa phương. Hàng năm, số người được đào tạo cao đẳng, đại học, trung học chuyên nghiệp và công nhân kỹ thuật tiếp tục tăng nhanh. Năm học 2002 - 2003, số người được đào tạo trong các trường chuyên nghiệp và dạy nghề công lập của tỉnh là gần 9.900 người, trong đó có 973 học sinh trung học chuyên nghiệp và 4.570 công nhân kỹ thuật đã tốt nghiệp. Ngoài ra, còn hàng nghìn người được đào tạo nghề ở hệ thống đào tạo ngoài công lập và đào tạo trực tiếp trong các doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất kinh doanh và trong các làng nghề. Đó là nguồn lực quan trọng cho sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ nói riêng, sự nghiệp CNH, HĐH nói chung của tỉnh.
Một chuyển biến mới trong hoạt động khoa học công nghệ của tỉnh trong những năm gần đây là việc mở rộng và tăng cường nghiên cứu các lĩnh vực Khoa học xã hội và Nhân văn (KHXH và NV). Từ năm 1997 - 2002 đã triển khai 35 đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực này với tổng kinh phí 3,125 tỷ đồng. Các đề tài nghiên cứu KHXH và NV đã góp phần làm sáng tỏ các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước, góp phần luận giải những cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc hoạch định chủ trương, chính sách phát triển kinh tế xã - hội của tỉnh; nghiên cứu, sưu tập những tinh hoa văn học nghệ thuật, lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm, xây dựng quê hương đất nước; nghiên cứu truyền thống, bản sắc văn hoá Hà Nam, phát triển con người Hà Nam...
Trong lĩnh vực KHCN, giai đoạn 1997 - 2002 Sở KHCN và MT đã tổ chức nghiên cứu, triển khai hàng trăm đề tài khoa học gắn với thực tế phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn. Trong đó có 146 đề tài, dự án phục vụ sản xuất nông nghiệp với kinh phí từ các nguồn là 11,792 tỉ đồng. Các đề tài, dự án nghiên cứu về giống lúa, ngô có năng suất cao, kỹ thuật nuôi trồng và chế biến một số loại nông sản như mộc nhĩ, nấm rơm, chế biến dưa chuột, chuối sấy... Nhiều đề tài, dự án có tác động thiết thực đối với sản xuất như: Dự án “Hoàn thiện công nghệ sản xuất giống lúa bố mẹ phục vụ sản xuất hạt giống lúa lai F1”; Dự án “Tổ chức sản xuất, cung ứng hạt giống lúa tại các HTX phục vụ sản xuất đại trà của tỉnh Hà Nam”; Dự án nuôi lợn hướng nạc xuất khẩu,... Hàng chục nghìn hộ nông dân, nông thôn trong tỉnh đã được hưởng lợi từ các dự án, chương trình khoa học, công nghệ này, trong đó nhiều hộ đã thoát được nghèo đói, phát triển kinh tế bền vững hơn.
Nhiều đề tài nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học công nghệ cũng đã được thực hiện trong các lĩnh vực công nghiệp, xây dựng, bưu chính viễn thông, giao thông vận tải, y tế và chăm sóc sức khoẻ. Chẳng hạn như các đề tài về điều tra tài nguyên khoáng sản, tổ chức nhân rộng các mô hình làng nghề, phát triển công nghiệp địa phương hay chuyển giao thiết bị công nghệ tiên tiến gắn với giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp; các dự án hiện đại hoá thiết bị, công nghệ của ngành điện lực, bưu chính - viễn thông,... Trong ngành y tế, từ 1997 đến 2002 đã triển khai 3 đề tài cấp Bộ, 4 đề tài cấp tỉnh, 7 đề tài cấp ngành và 40 đề tài cấp cơ sở với kinh phí hơn 1 tỉ đồng. Ngành Dược Hà Nam cũng đã nghiên cứu và sản xuất thành công 20 mặt hàng thuốc chữa bệnh được Bộ Y tế cho phép lưu hành trong cả nước.
Việc ứng dụng và chuyển giao công nghệ thông tin được xúc tiến mạnh mẽ phục vụ công tác quản lý của các cấp, ngành, các cơ sở kinh tế, xã hội trong tỉnh.
Cùng với nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ, công tác quản lý tiêu chuẩn, chất lượng và đo lường được đẩy mạnh, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá của các cơ sở sản xuất, dịch vụ, đồng thời bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng trên địa bàn. Từ 1997 đến 2002 Chi cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng của tỉnh đã quản lý 600 tiêu chuẩn kỹ thuật trong các lĩnh vực như cơ khí, điện, điện tử, vật liệu xây dựng, thực phẩm, hoá chất, dệt... Đăng ký chất lượng, mẫu mã hàng hoá cho 222 lượt sản phẩm như xi măng, bột đá, bột nhẹ, sản phẩm dệt, gạch, ngói, tấm lợp... Kiểm định 76.545 phương tiện đo lường; (như công tơ điện, cân các loại, thiết bị đo nhiên liệu, đồng hồ áp lực...), kiểm định 538 mẫu chất lượng sản phẩm của các cơ sở sản xuất trong tỉnh.
Trong lĩnh vực quản lý bảo vệ môi trường, từ năm 1997 - 2002, Sở KHCN và MT đã tham mưu cho UBND tỉnh ban hành nhiều văn bản nhằm cụ thể hoá Luật Bảo vệ môi trường và nhiều tài liệu phục vụ cho công tác quản lý môi trường trên địa bàn. Cấp giấy xác nhận đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường cho 548 lượt cơ sở và kiểm tra thực hiện tiêu chuẩn môi trường, thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; của hàng trăm cơ sở, đơn vị kinh tế, xã hội trong tỉnh. Công tác vệ sinh môi trường khu dân cư, môi trường sản xuất và bảo vệ cảnh quan môi trường sinh thái được phát động rộng rãi trong nhân dân. Ngoài Công ty môi trường đô thị thu gom vận chuyển rác thải ở thị xã Phủ Lý, đến năm 2002 trong toàn tỉnh, đã thành lập được 288 tổ thu gom rác thải tại các xã, thị trấn và thôn xóm. Khối lượng rác thải thu gom trên địa bàn hàng năm tới trên 300.000m3.
Việc triển khai chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường đã góp phần làm tăng đáng kể tỷ lệ hộ dân cư được sử dụng nước sạch, từ 33% năm 1997 lên 50% năm 2002. Công tác quan trắc môi trường cũng được tổ chức khá tốt theo định kỳ. Hàng năm, các cơ quan chức năng đã thực hiện quan trắc môi trường khí tại 28 điểm với 4 chỉ tiêu và môi trường nước tại 15 vị trí với 19 chỉ tiêu. Đồng thời, đã tiến hành điều tra đánh giá đa dạng sinh học của rừng đặc dụng Thanh Sơn, điều tra nguồn Dioxin và Furan, nghiên cứu mức độ nhiễm ACSEN trong nước ngầm, thường xuyên thanh kiểm tra mạng lưới kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật và các loại hoá chất độc hại trên địa bàn,...
Tuy nhiên công tác quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh hiện vẫn còn nhiều mặt hạn chế. Không ít đơn vị sản xuất kinh doanh và một bộ phận dân cư chưa nhận thức đầy đủ về tác hại của ô nhiễm môi trường và nghĩa vụ phải bảo vệ môi trường. Tình trạng ô nhiễm mồi trường ở một số làng nghề và cơ sở sản xuất công nghiệp vẫn chưa được giảm thiểu. Hiện tượng đốt gạch thủ công không có hệ thống xử lý khói vẫn còn phổ biến, gây ảnh hưởng bất lợi đến sản xuất và sinh hoạt của dân cư ở một số địa phương.
Những hoạt động và kết quả đạt được của ngành khoa học, công nghệ và môi trường Hà Nam đã khẳng định vị trí, vai trò quan trọng của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đó là động lực và điều kiện để thúc đẩy quá trình CNH, HĐH và phát triển bền vững nền kinh tế - xã hội, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh. Tuy nhiên, sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ và bảo vệ môi trường ở Hà Nam cũng đang đặt ra và đòi hỏi những nỗ lực to lớn hơn của ngành khoa học, công nghệ - môi trường, với sự phối hợp và tham gia tích cực của mọi cấp, ngành, mọi tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội và cộng đồng dân cư trên địa bàn.
Chương XX
TỔ CHỨC KHÔNG GIAN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM
I. SỰ PHÂN BỐ CÁC TIỂU VÙNG
Với vị trí địa lý và điều kiện giao lưu thuận lợi, Hà Nam từ lâu đã là một tỉnh có không gian kinh tế - xã hội mở, vừa có sự gắn kết với các tỉnh trong vùng, vừa có sự giao lưu rộng mở với các địa phương khác trong cả nước. Từ thời tiền sử, ở Hà Nam đã có sự giao thoa, tiếp nối của văn hoá Đông Sơn, văn hoá Hoà Bình để rồi hình thành nên ở đây một nền văn minh lúa nước đặc sắc, tiêu biểu của người Việt ở đồng bằng sông Hồng. Tuy nhiên, do những đặc điểm, điều kiện đa dạng về địa lý, tự nhiên cũng như về lịch sử, kinh tế, văn hoá và xã hội, nên từ lâu ở Hà Nam cũng đã hình thành các tiểu vùng kinh tế - xã hội với những đặc điểm và điều kiện phát triển vừa có tính tương đồng, gắn kết vừa mang tính đa dạng, đặc thù của mỗi địa phương, mỗi tiểu vùng.
Trong những năm gần đây, đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh (1997), tính đa dạng và đặc thù trong phát triển kinh tế - xã hội của các địa phương, các tiểu vùng ngày càng được nhìn nhận và thể hiện đầy đủ hơn trong tổ chức không gian kinh tế - xã hội của tỉnh, trong quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội cũng như trong quy hoạch phát triển của các ngành, các địa phương trong tỉnh. Việc khai thác, phát huy đầy đủ, có hiệu quả các nguồn lực và lợi thế của từng vùng, phân bố hợp lý các nguồn lực, tạo ra sự liên kết và phát triển hài hòa giữa các vùng, các lĩnh vực, sự phát triển toàn diện, bền vững cả về kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường luôn được coi là nhiệm vụ quan trọng đặt ra trong quy hoạch và tổ chức không gian kinh tế - xã hội trên địa bàn.
Từ năm 1997, Uỷ ban Nhân dân tỉnh Hà Nam đã xây dựng Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam đến năm 2010, có sự phối hợp và dựa trên quy hoạch phát triển của các ngành, các địa phương trong tỉnh, đồng thời có sự gắn kết với quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội của toàn vùng đồng bằng sông Hồng và các tỉnh lân cận trong vùng. Theo quy hoạch tổng thể này, việc tổ chức không gian kinh tế - xã hội của tỉnh được chia thành các tiểu vùng:
1. Tiểu vùng Tây sông Đáy;
2. Tiểu vùng Đông sông Đáy;
3. Tiểu vùng ven sông Hồng.
Vị trí địa lý và không gian kinh tế - xã hội của các tiểu vùng như sau:
- Tiểu vùng Tây sông Đáy: Bao gồm một phần lãnh thổ các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm ở phía Tây, Tây Nam, Tây Bắc của tỉnh. Tiểu vùng này gồm 6 xã của huyện Kim Bảng và 5 xã của huyện Thanh Liêm. Các xã của huyện Kim Bảng là Khả Phong, Ba Sao, Liên Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn và một phần của xã Tân Sơn. Phần Tây sông Đáy huyện Thanh Liêm gồm các xã Thanh Hải, Thanh Nghị, Thanh Tân, Thanh Thuỷ và thị trấn Kiện Khê.
- Tiểu vùng Đông sông Đáy: Là vùng lãnh thổ trải rộng, từ tả ngạn sông Đáy đến sông Châu ở phía Đông, giáp với huyện Lý Nhân và giáp với các xã ven sông Hồng của huyện Duy Tiên. Phía Bắc giáp với địa giới tỉnh Hà Tây, phía nam giáp với 2 tỉnh Nam Định và Ninh Bình. Đây là tiểu vùng có không gian kinh tế - xã hội lớn nhất của tỉnh, với 77 xã, phường, thị trấn; bao gồm 12 xã, phường của thị xã Phủ Lý, 12 xã và 1 thị trấn của huyện Kim Bảng, phần lãnh thổ phía Đông sông Đáy thuộc 16 xã của huyện Thanh Liêm, toàn bộ huyện Bình Lục (20 xã và 1 thị trấn) và 14 xã, 1 thị trấn phía Tây của huyện Duy Tiên.
- Tiểu vùng ven sông Hồng: Bao gồm phần lãnh thổ phía Đông của tỉnh, từ tả ngạn sông Châu đến sông Hồng, giáp với các tỉnh Hưng Yên và Thái Bình về phía Đông (qua sông Hồng), giáp với Nam Định về phía Đông Nam (qua sông Châu ở Hoà Hậu). Tiểu vùng này gồm toàn bộ huyện Lý Nhân và các xã ven sông Hồng của huyện Duy Tiên (gồm các xã Mộc Bắc, Mộc Nam, Chuyên Ngoại, Trác Văn, Châu Giang và thị trấn Hoà Mạc). Như vậy, theo đơn vị hành chính hiện tại thì tiểu vùng này gồm có 26 xã và 2 thị trấn huyện lỵ (là thị trấn Hoà Mạc và thị trấn Vĩnh Trụ). Trong đó có 10 xã tiếp giáp sông Hồng là Mộc Bắc, Mộc Nam, Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên), Nguyên Lý, Đạo Lý, Chân Lý, Nhân Đạo, Nhân Thịnh, Phú Phúc và Hòa Hậu (huyện Lý Nhân).
Thành phố Phủ Lý - thành phố ngã ba sông.
II. ĐẶC ĐIỂM, TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN kinh tẾ - XÃ HỘI CÁC TIỂU VÙNG
1. Tiểu vùng Tây sông Đáy
Là vùng chuyển tiếp giữa miền núi Tây Bắc với đồng bằng sông Hồng, tiểu vùng Tây sông Đáy có địa hình chủ yếu là đồi núi bán sơn địa, với những dẫy núi đá vôi trùng điệp xen lẫn đồi núi đất trải dài từ hai xã Khả Phong - Ba Sao - Bút Sơn - Kiện Khê xuống đến các xã Thanh Nghị - Thanh Hải giáp với Ninh Bình. Đất đai ở vùng này chủ yếu là đất đồi, rừng, đất dốc và xen lẫn đá, thuận lợi cho phát triển rừng, các loại cây công nghiệp lâu năm, cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày.
Tuy vậy, ở vùng ven sông Đáy cũng có các dải đất phù sa, bãi bồi tương đối bằng phẳng thích hợp cho canh tác nông nghiệp, nhất là ở khu vực các xã Thanh Sơn, Thi Sơn và một số nơi thuộc các xã Thanh Nghị, Thanh Tân (huyện Thanh Liêm). Điều kiện sinh thái và khí hậu ở tiểu vùng Tây sông Đáy khá thuận lợi cho phát triển nông, lâm nghiệp, phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi ong và cây cảnh. Lượng mưa ở tiểu vùng này thường ở mức trên 2.000 mm/năm, cao hơn so với lượng mưa trung bình trên địa bàn tỉnh và các vùng khác trong tỉnh (khoảng 1.800 mm/năm).
So với các tiểu vùng khác trong tỉnh, tiểu vùng Tây sông Đáy là nơi tập trung nhiều tài nguyên khoáng sản, như đá vôi, đá sản xuất xi măng, đá xây dựng và trang trí, than bùn, sét xi măng, sét làm gốm, làm gạch ngói và các loại nguyên vật liệu xây dựng khác, ở khu vực xã Thanh Tân, thị trấn Kiện Khê (huyện Thanh Liêm), xã Liên Sơn, Bút Sơn, Khả Phong (huyện Kim Bảng) có nhiều mỏ đá vôi, đá xi măng trữ lượng rất lớn, thuận lợi cho việc khai thác, chế biến công nghiệp; ở xã Khả Phong và khu vực Bút Sơn, Kiện Khê có các mỏ sét xi măng chất lượng rất tốt. Còn ở Ba Sao có các mỏ than bùn, mỏ sét có thể làm nguyên liệu cho sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng không nung...
Phần lớn các mỏ khoáng sản trên đều gần các tuyến giao thông (cả đường bộ lẫn đường thuỷ), thuận lợi cho việc khai thác, chế biến và vận chuyển. Tiểu vùng này cũng có nhiều tài nguyên du lịch tự nhiên với các danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Kẽm Trống, Non Tiên (huyện Thanh Liêm), Núi Cấm - Ngũ Động Sơn, động Khả Phong, hồ Tam Chúc (huyện Kim Bảng)... Kẽm Trống, Non Tiên được xếp vào hàng “cửu đỉnh” của Hà Nam; hồ Tam Chúc (ở Ba Sao), động Khả Phong (ở xã Khả Phong) được xếp vào hàng “Thập bát tôn” (thuộc 18 loại độc đáo, độc tôn của Hà Nam, không nơi nào có).
Về lịch sử và xã hội, tiểu vùng Tây sông Đáy từ xa xưa đã có các cộng đồng dân cư sinh sống và di cư lan tỏa dần xuống các vùng đồng bằng. Họ đã tạo ra ở đây một không gian văn hoá - xã hội khá đặc sắc, góp phần tạo nên bản sắc văn hoá - xã hội của người Hà Nam. Nhiều di tích lịch sử, kiến trúc, văn hoá đã được tạo dựng cùng với những lễ hội truyền thống phản ánh đậm nét quá trình phát triển, mở mang đời sống vật chất, văn hoá, xã hội của các cộng đồng dân cư nơi đây. Trong đó, có các di tích và lễ hội tiêu biểu như đình Trung, đền Trúc và Hội hát dặm Quyển Sơn, Ngũ Động Sơn, kiến trúc đình và hội đình Đoan Vĩ (xã Thanh Hải), lễ hội đình Thượng (xã Thanh Sơn),... Đây cũng là những điểm du lịch văn hoá, lịch sử hấp dẫn của vùng này.
Với các lợi thế, nguồn lực và điều kiện nêu trên, tiểu vùng Tây sông Đáy được quy hoạch, tổ chức phát triển mạnh các ngành công nghiệp khai thác, chế biến đá, xi măng, vật liệu xây dựng và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, phát triển lâm nghiệp, cây ăn quả, cây công nghiệp lâu năm, chăn nuôi đặc sản và phát triển du lịch.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, hiện nay ở tiểu vùng Tây sông Đáy có nhiều cơ sở công nghiệp quan trọng của Trung ương và địa phương được xây dựng và đang hoạt động, như Công ty xi măng Bút Sơn, Công ty xi măng Kiện Khê, Công ty xi măng X-77, Nhà máy xi măng Nội thương, Xí nghiệp đá Phủ Lý (thị trấn Kiện Khê), Công ty đá vôi Kiện Khê, Công ty vật liệu xây dựng Kim Bảng (xã Thi Sơn) và hàng chục cơ sở, doanh nghiệp công nghiệp ngoài quốc doanh khác. Phần lớn các sản phẩm công nghiệp của tỉnh như xi măng, đá xây dựng, đá phục vụ cho giao thông, than bùn,... được khai thác, sản xuất ra ở tiểu vùng này. Trong tương lai, nơi đây sẽ hình thành các khu công nghiệp tập trung và trở thành vùng công nghiệp trọng điểm của tỉnh.
Tiểu vùng Tây sông Đáy cũng có các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp phát triển ở nhiều nơi, chủ yếu là các nghề khai thác, chế biến đá, nung vôi, sản xuất gạch ngói và vật liệu xây dựng, đan lát,... Các nghề này phát triển khá mạnh, thu hút nhiều lao động trong vùng, chẳng hạn như các cơ sở khai thác, chế biến đá ở Kiện Khê, Khả Phong, Thanh Sơn... Theo số liệu điều tra nông nghiệp, nông thôn năm 2001 của Cục Thống kê Hà Nam, thì ở các xã Thanh Nghị, Thanh Thủy (huyện Thanh Liêm), Liên Sơn (huyện Kim Bảng) đã có 9 - 10% số hộ làm các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.
Theo số liệu thống kê năm 2000(1), đất lâm nghiệp ở tiểu vùng Tây sông Đáy có khoảng 8.639 ha, chiếm 91,5% đất lâm nghiệp của cả tỉnh (9.436,9 ha). Trong đó, các xã Tây sông Đáy thuộc huyện Thanh Liêm có 3.207,1 ha, thuộc Kim Bảng có 5.431,9 ha; nhiều nhất là ở các xã Ba Sao có 2.198,2 ha, Liên Sơn có 1.563,6 ha, Thanh Sơn có 1.444,3 ha. Giá trị sản xuất lâm nghiệp ở tiểu vùng Tây sông Đáy cũng chiếm trên 90% giá trị sản xuất lâm nghiệp hàng năm của cả tỉnh. Tài nguyên rừng và đất rừng ở đây còn khá phong phú, đa dạng.
Sản phẩm lâm nghiệp chủ yếu là gỗ, tre nứa, luồng, song mây,... Sản lượng gỗ tròn khai thác ở tiểu vùng này những năm gần đây khoảng 7.500 m3/năm; tre nứa, luồng khoảng 580 - 620 nghìn cây mỗi năm. Hiện nay, việc trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ tài nguyên rừng kết hợp với phát triển kinh tế vườn đồi đang được đẩy mạnh ở nhiều nơi trong tiểu vùng. Trong khi đó, đất- nông nghiệp ở tiểu vùng Tây sông Đáy chỉ có khoảng 4.288 ha (năm 2001), chiếm chừng 9% trong tổng diện tích đất nông nghiệp của tỉnh. Diện tích trồng lúa và sản xuất nói chung không phải thế mạnh của tiểu vùng này. Chẳng hạn như ở xã Ba Sao, đất trồng lúa năm 2001 chỉ có 127,6 ha, chiếm 3,7% diện tích đất tự nhiên và chiếm 16,5% trong tổng số 773 ha đất nông nghiệp của xã; đất trồng lúa ở xã Liên Sơn có 130,7 ha, chiếm 6% diện tích đất tự nhiên và chiếm 68% đất nông nghiệp; hay ở xã Thanh Sơn diện tích đất lúa có 481 ha nhưng cũng chỉ chiếm 17,2% đất tự nhiên của toàn xã (2).
Song ở các xã tiểu vùng Tây sông Đáy lại có lợi thế về phát triển các loại cây công nghiệp như chè, dứa, dâu tằm, lạc; các loại cây ăn quả như nhãn, na, mận, bưởi, cam, quýt; một số loại cây cảnh, cây dược liệu và chăn nuôi trâu bò, dê, ong,... Dê là vật nuôi đặc sản ở vùng này, hiện đang được nuôi nhiều ở các xã Khả Phong, Ba Sao, Thanh Sơn và các xã vùng núi Tây sông Đáy thuộc huyện Thanh Liêm như Thanh Nghị, Thanh Tân, Thanh Hải,... Hiện nay nhiều hộ nông dân ở vùng này đang phát triển kinh tế đồi rừng kết hợp với chăn nuôi theo hướng phát triển kinh tế nông, lâm trại và chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hóa.
Việc nuôi trồng thủy sản ở tiểu vùng Tây sông Đáy tuy không được thuận lợi như ở vùng ven sông Hồng và một số nơi khác trong tỉnh, nhưng ở đây lại có khá nhiều ao, đầm và mặt nước thuận lợi cho phát triển nuôi thả, đánh bắt thuỷ sản, nhất là ở các xã vùng ven hữu ngạn sông Đáy của huyện Thanh Liêm.
Hoạt động thương mại và dịch vụ ở tiểu vùng Tây sông Đáy cũng phát triển mạnh hơn so với trước đây, đặc biệt là từ khi chuyển sang kinh tế thị trường. Sự phát triển của các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, các cơ sở du lịch và việc cải tạo, nâng cấp các tuyến giao thông (như quốc lộ 21, các bến bãi trên sông Đáy, đường liên xã và giao thông nông thôn,...) đã làm cho hoạt động thương mại, dịch vụ ở tiểu vùng này trở nên sôi động, tấp nập. Hàng hoá, sản phẩm sản xuất ra ở đây được lưu thông, trao đổi rộng khắp với các nơi trong tỉnh và ngoài tỉnh. Thị trấn Kiện Khê, chợ Ba Sao, các chợ ven sông Đáy ở các xã Khả Phong, Liên Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn là những đầu mối giao lưu thương mại khá sầm uất trong vùng. Việc mở rộng thị xã Phủ Lý về phía Tây và hình thành khu công nghiệp, thương mại, dịch vụ tập trung ở khu vực Châu Sơn (thị xã Phủ Lý) làm tăng khả năng gắn kết kinh tế của tiểu vùng và có tác động ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của tiểu vùng Tây sông Đáy nói chung.
2. Tiểu vùng Đông sông Đáy
Đây là tiểu vùng kinh tế - xã hội có tính đặc trưng, tiêu biểu nhất của Hà Nam, đồng thời có vị trí, vai trò hết sức quan trọng trong phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trước đây cũng như hiện nay.
Một trong những đặc điểm đặc thù của tiểu vùng này là địa hình đồng bằng trũng, cốt đất không đều, bị chia cắt bởi sông ngòi, ao, đầm và hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông dầy đặc. Do kiến tạo địa chất của đồng bằng sông Hồng và quá trình dịch chuyển, bồi tụ của các dòng sông nên địa hình vùng này phần lớn là đất trũng, cốt đất thấp thường ngập úng về mùa mưa. Phần nhiều các xã ở huyện Bình Lục, ở phía Nam huyện Thanh Liêm, phía Tây - Tây Nam huyện Duy Tiên và phía Bắc huyện Kim Bảng đều là vùng đất trũng, trước đây chỉ canh tác được 1 vụ trong năm. Trong đó có nhiều nơi địa hình lòng chảo, ít hoặc không được bồi đắp phù sa, thường bị chua và lầy thụt. Song ở một số nơi lại có những gò đất cao và cả những núi đất đá ở giữa vùng đồng bằng, tạo nên cảnh quan khá độc đáo so với các địa phương khác ở đồng bằng sông Hồng.
Nhờ phát triển thuỷ lợi, thuỷ nông nên từ giữa những năm 1970 trở lại đây phần lớn đất nông nghiệp ở các vùng trũng đã được đảm bảo tưới tiêu chủ động, có thể canh tác 2 - 3 vụ mỗi năm. Một số xã ở phía bắc huyện Duy Tiên, ở tả ngạn sông Đáy thuộc hai huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, hai bên sông Châu ở thị xã Phủ Lý, huyện Duy Tiên và hữu ngạn sông Châu ở huyện Bình Lục có nhiều vùng đất phù sa màu mỡ, nhiều bãi bồi, cốt đất cao và tương đối bằng phẳng, thích hợp cho việc canh tác các loại cây công nghiệp (như mía, dâu tằm, đậu, lạc, đỗ tương), cây ăn quả (nhãn, chuối, bưởi, táo, hồng...), các loại hoa màu (ngô, khoai) và rau đậu thực phẩm. Gạo nếp cái hoa vàng, gạo hom, dự hương, gạo câu cánh; ngô nếp, mía đỏ, mơ hồng... là những sản phẩm nông nghiệp đặc sản nổi tiếng từ xưa ở tiểu vùng Đông sông Đáy.
So với các tiểu vùng kinh tế - xã hội của tỉnh, tiểu vùng Đông sông Đáy có lợi thế nổi trội về điều kiện giao thông, nhất là đường bộ và đường sắt; có lợi thế về phát triển thương mại, dịch vụ, với các trung tâm đô thị phát triển như thị xã Phủ Lý, thị trấn Đồng Văn, thị trấn Quế, thị trấn Bình Mỹ, hệ thống chợ và nhiều tụ điểm, đầu mối giao lưu kinh tế - xã hội khác. Các lợi thế này tạo ra cho tiểu vùng một không gian kinh tế - xã hội mở, với sự mở rộng giao lưu kinh tế-xã hội với các tiểu vùng trong tỉnh cũng như với các địa phương khác ở đồng bằng sông Hồng và cả nước.
Tiểu vùng Đông sông Đáy cũng là nơi có truyền thống phát triển tiểu thủ công nghiệp, với nhiều làng nghề và ngành nghề đa dạng. Nhiều loại sản phẩm thủ công nghiệp độc đáo và tinh xảo, trong đó có các sản phẩm thủ công nổi tiếng như mây giang đan ở Ngọc Động - xã Hoàng Đông, trống Đọi Tam - xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên); thêu ren Hoà Ngãi - xã Thanh Hà, đậu Đầm - xã Liêm Tuyền (huyện Thanh Liêm), đồ sừng Đô Hai - xã An Lão, rũa cưa Đại Phu - xã An Đổ, bún Tái - xã Đinh Xá, bánh lá An Thái - xã An Mỹ (huyện Bình Lục), gốm Quyết Thành - thị trấn Quế, xay xát chế biến gạo ở Phương Thượng (huyện Kim Bảng),...
Về mặt xã hội, tiểu vùng Đông sông Đáy là nơi có cư dân sinh sống từ rất sớm, có nền văn hoá phát triển lâu đời. Quá trình phát triển sản xuất, mở mang đời sống của họ đã góp phần tạo ra nền văn minh lúa nước đặc sắc ở đồng bằng sông Hồng và nền “văn minh chiêm trũng” rất đặc thù của Hà Nam. Cũng như các vùng khác của Hà Nam, tiểu vùng Đông sông Đáy cũng là nơi có lịch sử và truyền thống đấu tranh anh dũng, kiên cường để bảo vệ quê hương đất nước, có truyền thống hiếu học nổi tiếng từ xưa.
Nhiều di tích lịch sử, văn hóa, kiến trúc và lễ hội truyền thống đặc sắc, độc đáo, cùng với các địa danh, danh nhân nổi tiếng ở vùng này còn truyền lại đến ngày nay. Núi Đọi, Điệp Sơn (huyện Duy Tiên), núi An Lão (huyện Bình Lục),... là những di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng được xếp vào hàng “cửu đỉnh” của Hà Nam. Văn hóa Liễu Đôi mà tiêu biểu nhất là Hội võ vật ở vùng này (huyện Thanh Liêm), lễ hội chùa Đọi Sơn (huyện Duy Tiên), lễ hội đình Công Đồng An Thái (huyện Bình Lục)... là những minh chứng tiêu biểu cho đời sống xã hội và truyền thống lịch sử, văn hoá của nhân dân tiểu vùng này.
Năm 2002 dân số và mật độ dân số ở tiểu vùng này tập trung cao nhất của tỉnh, nhất là ở thị xã Phủ Lý (2.152 người/km2) và ở các thị trấn, huyện lỵ. Mật độ dân số ở huyện Bình Lục là 1.009 người/km2, cao hơn so với mật độ bình quân của tỉnh (955 người/km2)(1). Nhiều xã ở vùng này có mật độ dân số tập trung cao tương đương với ở các thị xã, thị trấn, như ở các xã Nhật Tựu, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), các xã Hoàng Đông, Yên Bắc (huyện Duy Tiên)... Đây cũng là vùng có lực lượng lao động và nguồn nhân lực dồi dào, trình độ dân trí, văn hóa của dân cư, lao động và hệ thống cơ sở hạ tầng văn hoá, xã hội phát triển (như y tế, giáo dục - đào tạo, văn hóa, nghệ thuật, thể thao, chăm sóc sức khoẻ, bảo trợ chính sách xã hội...).
Với các lợi thế, nguồn lực và điều kiện phát triển nêu ra trên đây, trong tổ chức không gian kinh tế - xã hội của Hà Nam, tiểu vùng Đông sông Đáy được quy hoạch phát triển theo hướng phát triển mạnh các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, phát triển các ngành công nghiệp chế biến và tiểu thủ công nghiệp gắn với đẩy mạnh đô thị hóa, hình thành các trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội phát triển của tỉnh và của vùng đồng bằng sông Hồng. Tiểu vùng Đông sông Đáy cũng được quy hoạch thành vùng trọng điểm nông nghiệp của tỉnh; trong đó, sản xuất lúa đặc sản, cây công nghiệp ngắn ngày, rau quả thực phẩm, chăn nuôi lợn, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản là những lĩnh vực được chú trọng thúc đẩy.
Về công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trên địa bàn vùng này hiện có hàng nghìn cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế, nhiều lĩnh vực sản xuất kinh doanh. Trong đó có các cơ sở, ngành nghề và sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tiêu biểu như sản xuất rượu bia, nước giải khát, gia công cơ khí, lắp ráp, điện tử, in ấn, thêu ren, may mặc, chế biến nông sản, thực phẩm, sản xuất hàng mây giang đan, đồ gỗ gia dụng và đồ gỗ cao cấp, chế biến dược liệu, sản xuất và cấp nước sinh hoạt,...
Năm 2000 chỉ tính riêng thị xã Phủ Lý đã có 1.153 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, với hơn 3.400 lao động; trong đó có 1.146 cơ sở và 2.650 lao động thuộc khu vực dân doanh (ngoài quốc doanh). Năm 2002 có 1.136 cơ sở, trong đó có 1.127 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp dân doanh. Giá trị sản xuất công nghiệp nói chung trên địa bàn thị xã Phủ Lý năm 2002 đạt trên 248,16 tỷ đồng (theo giá hiện hành), chiếm 13,1% giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh(1). Một số ngành và lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở thị xã Phủ Lý chiếm tỷ trọng cao trong giá trị sản xuất công nghiệp nói chung của cả tỉnh. Chẳng hạn, giá trị sản xuất của ngành chế biến thực phẩm và đồ uống trên địa bàn thị xã năm 2000 chiếm 23,6% so với của cả tỉnh, giá trị sản xuất sản phẩm dệt chiếm 30,1%, sản xuất trang phục chiếm 25,4%, in ấn và xuất bản chiếm 61,6% (2)...
Trên địa bàn tiểu vùng Đông sông Đáy cũng hình thành một số cụm, khu công nghiệp tập trung như khu công nghiệp Đồng Văn (thị trấn Đồng Văn, huyện Duy Tiên), khu công nghiệp Châu Sơn (thị xã Phủ Lý), khu công nghiệp Hoàng Đông (xã Hoàng Đông, huyện Duy Tiên). Một số cơ sở công nghiệp có quy mô sản xuất kinh doanh khá và có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển công nghiệp của tỉnh và các địa phương trong vùng như: Công ty Dệt Hà Nam, Công ty HABITEX, Xưởng in Hà Nam, Nhà máy thiết bị kết cấu thép, Công ty cấp nước Hà Nam, Xí nghiệp may 27/7 Hà Nam, Xí nghiệp gạch ngói Thanh Liêm, Xí nghiệp gạch ngói Bình Lục, Xí nghiệp may 27/7 Duy Tiên, Xí nghiệp thực phẩm xuất khẩu Duy Tiên,...
Các ngành nghề, làng nghề tiểu thủ công nghiệp được phát triển ở hầu hết các địa phương trong tiểu vùng. Trong tổng số 25 làng nghề của tỉnh hiện nay (theo số liệu điều tra của Cục Thống kê Hà Nam năm 2001) thì ở tiểu vùng Đông sông Đáy có tới 20 làng nghề, với nhiều ngành nghề nổi tiếng. Bên cạnh sự phục hồi, phát triển của các ngành nghề, làng nghề truyền thống còn có sự hình thành và phát triển đa dạng của nhiều ngành nghề, làng nghề mới. Chẳng hạn như chế biến long nhãn, gia công may mặc, giầy dép, nhựa, sửa chữa cơ khí, đồ điện, điện tử, sản xuất gạch không nung, chạm khắc và sản xuất đồ gỗ cao cấp... Nhiều ngành nghề thủ công nay đã được cải tiến kỹ thuật, sử dụng máy móc cơ khí và năng lượng điện vào sản xuất. Không ít mặt hàng tiểu thủ công nghiệp của các làng nghề ở đây đã được bán rộng rãi ở các thành phố lớn và ở nhiều địa phương trong cả nước, một số mặt hàng được xuất khẩu ra nước ngoài như lụa tơ tằm, hàng thêu ren, may mặc, thảm đay, long nhãn...
Nghề làm hàng xáo, xay xát gạo ở Tiên Tân, Bạch Thượng (huyện Duy Tiên), Phương Thượng (Lê Hồ, huyện Kim Bảng), Đinh Xá (huyện Bình Lục)... phần lớn đã chuyển sang xay xát bằng máy móc cơ khí. Nhiều cơ sở xay xát từ vài chục đến hàng trăm tấn gạo mỗi năm, có đại lý hoặc bạn hàng tiêu thụ ở các tỉnh và thành phố Hà Nội, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Thái Nguyên và nhiều nơi khác. Một số chủ buôn mua gạo ở các làng này để xuất khẩu tiểu ngạch hoặc bán cho các doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu của Nhà nước. Việc sử dụng năng lượng điện và công cụ cơ giới, bán cơ giới cũng đã trở nên phổ biến ở các làng nghề truyền thống như Ngọc Động, Bùi Xá, Vũ Xá (huyện Duy Tiên), Đô Hai, An Đổ (huyện Bình Lục)...
Các lĩnh vực thương mại, vận tải, du lịch và dịch vụ phát triển mạnh do có lợi thế về giao thông, mạng lưới chợ và sự phát triển của các thị xã, thị trấn, huyện lỵ, các trung tâm giao lưu kinh tế, văn hoá, du lịch trong vùng.
Thị xã Phủ Lý là đầu mối giao thông và trung tâm thương mại, dịch vụ lớn nhất trong tiểu vùng và trong cả tỉnh. Ở đây có 1 chợ trung tâm và 3 chợ đầu mối khác. Theo số liệu thống kê của Phòng Thống kê thị xã Phủ Lý năm 2000, trên địa bàn thị xã có gần 1.900 cơ sở kinh doanh thương mại, du lịch và khách sạn, nhà hàng; trong đó có 3 doanh nghiệp nhà nước, còn lại là của tư nhân, cá thể. Tổng số người kinh doanh trong các lĩnh vực này có hơn 2.500 người, trong đó các doanh nghiệp nhà nước có khoảng 370 người, tư nhân cá thể có hơn 2.100 người. Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ trên địa bàn thị xã năm 2000 đạt tới trên 112,2 tỷ đồng (theo giá hiện hành), gấp 3 lần so với năm 1997 (năm tái lập tỉnh) và xấp xỉ bằng 70% giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp nói chung trên địa bàn thị xã (164,3 tỷ đồng), trong cùng năm so sánh.
Các hoạt động vận tải và dịch vụ vận tải ở thị xã Phủ Lý cũng phát triển mạnh và có tác động to lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của tiểu vùng và của cả tỉnh. Khối lượng hàng hóa vận chuyển trên địa bàn thị xã những năm gần đây đạt trên 1,5 triệu tấn/năm, khối lượng hàng hoá luân chuyển đạt trên dưới 26 triệu tấn/km, gấp 1,5 lần so với những năm 1996 - 1997. Khối lượng hành khách vận chuyển trên địa bàn thị xã năm 2000 đạt 384 nghìn lượt người/km và khối lượng hành khách luân chuyển đạt tới 38 triệu người/km(1).
Tiểu vùng Đông sông Đáy còn có các thị trấn, huyện lỵ và trung tâm giao lưu thương mại, dịch vụ phát triển như thị trấn Quế (huyện Kim Bảng), thị trấn Đồng Văn (huyện Duy Tiên), thị trấn Bình Mỹ (huyện Bình Lục), Phố Tâng (huyện Thanh Liêm), và hơn 40 chợ huyện, xã, chợ khu vực. Trong đó có các chợ huyện, chợ khu vực khá lớn, buôn bán sầm uất như chợ Quế, chợ Dầu (xã Tượng Lĩnh), chợ Đại (xã Nhật Tựu), chợ Gốm (Thụy Lôi), chợ Tranh (Nguyễn Uý) ở huyện Kim Bảng; chợ Bình Mỹ, chợ Trịnh Xá, chợ Rằm (Tiêu Động), chợ Chủ (Ngọc Lũ), chợ Đô Hai (An Lão) ở huyện Bình Lục; chợ Thanh Tuyền, Thanh Lưu, Liêm Túc, Liêm Cần (huyện Thanh Liêm)...
Mạng lưới thương nghiệp nhà nước có 3 doanh nghiệp thương mại cấp huyện, 1 doanh nghiệp tại Thụy Lôi (huyện Kim Bảng), 1 doanh nghiệp ở thị trấn Bình Mỹ (huyện Bình Lục), 1 doanh nghiệp ở Thanh Tuyền (huyện Thanh Liêm) và hàng chục đại lý thuộc hệ thống thương mại nhà nước ở các nơi trong vùng. Mạng lưới vận tải và dịch vụ vận tải trong tiểu vùng được mở rộng, cả đường thuỷ và đường bộ, vận tải hàng hoá lẫn vận tải hành khách. Hầu hết các thôn, xã ở tiểu vùng Đông sông Đáy đều đã có đường giao thông thuận lợi cho vận tải cơ giới. Nhiều xã có bến xe khách, có bến bãi vận tải đường thủy. Chỉ riêng ở tả ngạn sông Đáy thuộc huyện Kim Bảng, từ Tân Sơn về đến Phủ Lý đã có 5 bến đò, bến thuyền phục vụ vận tải hàng hoá và hành khách.
Hoạt động thương mại, dịch vụ ngày càng có vai trò quan trọng trong cơ cấu kinh tế của các địa phương trong tiểu vùng này. Chẳng hạn như ở huyện Bình Lục, theo báo cáo thực tế của huyện, thì trong cơ cấu kinh tế của huyện năm 2002, tỷ trọng của các ngành thương mại, dịch vụ nói chung hiện đã chiếm 34%, thấp hơn so với tỷ trọng nông nghiệp và thuỷ sản (53%) nhưng cao hơn nhiều so với tỷ trọng của công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng (13%).
Về phát triển nông nghiệp, tiểu vùng Đông sông Đáy hiện vẫn là vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất của tỉnh. Mặc dù công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và thương mại, dịch vụ ở vùng này phát triển nhanh (như đã nói ở trên), song ngoại trừ thị xã Phủ Lý ra thì còn lại, phần nhiều các địa phương trong tiểu vùng vẫn có tỷ trọng nông nghiệp khá cao trong cơ cấu sản xuất cũng như cơ cấu kinh tế - xã hội nói chung của mỗi địa phương. Việc phát triển và hoàn thiện hệ thống thủy lợi, thủy nông đã tạo thuận lợi cho thâm canh, tăng vụ, sử dụng các loại giống mới và áp dụng công nghệ, kỹ thuật trong phát triển nông nghiệp ở vùng này.
Sản xuất lúa vẫn là ngành có ưu thế nổi trội, chiếm tới 80 - 90% diện tích đất canh tác của nhiều huyện, xã trong tiểu vùng. Chẳng hạn như ở huyện Bình Lục và các xã phía Đông sông Đáy của các huyện Thanh Liêm và Duy Tiên, diện tích lúa chiếm tới 90% trong tổng diện tích cây trồng hàng năm. Đa số diện tích lúa đã canh tác được 2 vụ ăn chắc. Năng suất lúa ở nhiều nơi tăng nhanh, từ khoảng trên dưới 30 tạ/ha hồi đầu những năm 1990 lên trên 50 tạ/ha những năm gần đây. Ngay cả ở những xã vùng trũng thường xuyên ngập úng trước đây như Tiên Ngoại, Tiên Hiệp (huyện Duy Tiên), An Mỹ, Mỹ Thọ, An Nội (huyện Bình Lục) hay Thanh Hương, Thanh Tâm (huyện Thanh Liêm) đến nay năng suất lúa cả năm cũng đã đạt tới trên 90 tạ đến trên 100 tạ/ha. Sản lượng lúa cả năm của huyện Bình Lục năm 2002 đạt trên 100.582 tấn, chiếm gần 1/4 sản lượng lúa cả năm của tỉnh; sản lượng lúa bình quân đầu người ở đây đạt 641 kg/người/năm, cao hơn nhiều so với bình quân chung của tỉnh (497 kg/người) cũng như so với nhu cầu tiêu dùng của dân cư trên địa bàn. Do vậy sản lượng lúa hàng hóa cũng ngày một tăng; có nơi sản lượng lúa hàng hoá chiếm trên 40% sản lượng thu hoạch (1).
Những năm gần đây sản xuất lúa ở vùng này đang chuyển mạnh sang sản xuất kinh doanh hàng hoá theo cơ chế thị trường. Các giống lúa đặc sản có chất lượng cao (gạo thơm, ngon), giá trị và hiệu quả kinh tế cao, dễ tiêu thụ trên thị trường;... đang được đưa vào sản xuất rộng rãi, thay thế cho các giống lúa cũ có chất lượng và giá trị kinh tế thấp hơn, bước đầu hình thành các vùng lúa hàng hoá đặc sản có quy mô khá lớn. Nhân dân ở một số nơi cũng đã chuyển một phần diện tích trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi thả cá, tôm hoặc canh tác các loại cây trồng khác có giá trị hàng hoá cao hơn.
Sản xuất rau đậu thực phẩm, cây công nghiệp và cây ăn quả được phát triển mạnh, nhất là ở các xã vùng bãi, vùng màu ven sông Châu ở các huyện Bình Lục, Duy Tiên, ven sông Nhuệ và hữu ngạn sông Đáy ở huyện Kim Bảng và thị xã Phủ Lý. Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2003, từ năm 1997 đến năm 2002, diện tích các loại cây rau đậu thực phẩm ở thị xã Phủ Lý đã tăng gấp 1,58 lần, từ 322 ha lên 511 ha; diện tích đỗ tương tăng 4,1 lần, từ 53 ha lên 219 ha; diện tích cây ăn quả tăng từ 278,7 ha lên 325 ha. Vùng ven thị xã Phủ Lý và ở các xã phía Bắc huyện Duy Tiên đã hình thành những vùng trồng rau, đậu thực phẩm có khối lượng sản phẩm hàng hoá khá tập trung, cung cấp cho thị trường trong tỉnh và Hà Nội.
Cũng trong thời gian từ 1997 đến 2002, diện tích cây rau đậu thực phẩm ở huyện Bình Lục tăng từ 1.118 ha lên 1.613 ha, diện tích các loại cây ăn quả nói chung trong huyện tăng 13,5 lần, từ 53,5 ha lên 722 ha. Trong đó, diện tích trồng các cây ăn quả như cam, quýt, bưởi tăng từ 8 ha lên 207 ha, sản lượng từ 55 tấn lên 1.211 tấn; diện tích nhãn, vải tăng từ 18 ha lên 280 ha, sản lượng từ 75 tấn lên đến 1.080 tấn. Sự chuyển đổi cơ cấu cây trồng ở các xã phía Đông sông Đáy của 2 huyện Thanh Liêm, Kim Bảng cũng tương tự như vậy. Ở các xã Tiên Phong, Tiên Ngoại, Yên Nam (huyện Duy Tiên) hay ở Bình Nghĩa, Hưng Công và các xã phía Đông huyện Bình Lục có nhiều hộ chuyển sang trồng dâu tằm. Còn ở các xã Phù Vân, Châu Sơn (thị xã Phủ Lý), Liêm Tuyền, Thanh Hà (huyện Thanh Liêm) có nhiều hộ trồng rau, cây cảnh và trồng hoa, thu nhập hàng năm khá cao.
Chăn nuôi lợn, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản vốn là thế mạnh của tiểu vùng Đông sông Đáy nói chung. Nhiều hộ nông dân ở các huyện Kim Bảng, Bình Lục, Duy Tiên hiện đang chuyển sang nuôi lợn nạc xuất khẩu, nuôi vịt lấy trứng và nuôi gà thịt, gà đẻ trứng theo kiểu công nghiệp với quy mô tới hàng trăm con. Nhiều hộ nông dân ở Yên Bắc, Bạch Thượng, Tiên Nội (huyện Duy Tiên) và một số nơi ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm đang phát triển chăn nuôi theo mô hình kinh tế trang trại, kết hợp trồng lúa, nuôi thả cá với chăn nuôi vịt, ấp trứng vịt lộn đạt hiệu quả kinh tế khá cao.
Ở xã Bồ Đề (huyện Bình Lục), xã Hoàng Đông (huyện Duy Tiên) có nhiều hộ phát triển chăn nuôi đặc sản (như rắn, ba ba, kỳ đà,...) mỗi năm lãi tới vài chục triệu đồng. Hiện nay, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ở tiểu vùng Đông sông Đáy có trên 2.000 ha và có khả năng quy hoạch mở rộng hơn nữa. Việc phát triển nuôi trồng thủy sản đang là một hướng chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp của tiểu vùng này.
3. Tiểu vùng ven sông Hồng
Đây là vùng đất cổ được hình thành từ lâu đời do bồi đắp phù sa của sông Hồng, sông Châu và sông Long Xuyên chảy ngang qua địa bàn huyện Lý Nhân, nối sông Hồng từ cống Vũ Xá với sông Châu qua cống Vùa. Sông Châu trước kia còn có một nhánh chảy qua phía bắc huyện Lý Nhân rồi đổ ra sông Hồng ở đoạn thuộc Từ Đài (nay thuộc xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên); đến thời Pháp thì cửa sông này bị đắp lại để tránh lũ lụt từ sông Hồng tràn vào nên đoạn sông này được gọi là Tắc Giang, chỉ còn có tác dụng tiêu úng. Ngoại trừ một số vùng đất trũng lòng chảo ít được bồi đắp phù sa và thường ngập úng vào mùa mưa ở khu vực các xã Mộc Bắc, Mộc Nam, Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên), các xã Chân Lý, Đạo Lý, Bắc Lý, Nhân Hưng (huyện Lý Nhân),... thì còn lại phần lớn đất đai ở vùng này là đất màu mỡ, cốt đất cao, được bồi đắp phù sa của các dòng sông, trong đó có những vùng đất bãi ven sông rất thích hợp cho việc trồng các loại cây rau màu, cây công nghiệp hàng năm, cây ăn quả và nhiều loại cây trồng khác.
Cũng như các vùng khác ở Hà Nam, từ xa xưa, ở tiểu vùng ven sông Hồng đã có dân cư quần tụ, sinh sống. Bên cạnh nghề trồng lúa, trồng rau màu và chăn nuôi lợn, gia cầm,... các nghề khai thác, đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản và tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển từ rất sớm. Đến thời Pháp thuộc, theo Pie Gourou (1936), ở vùng ven sông Hồng của Hà Nam đã có nhiều làng chuyên làm nghề chài lưới, đánh bắt cá, tôm và nguồn lợi thuỷ sản. Đó chẳng hạn như các làng Lỗ Hà, Yên Mỹ, Yên Lệnh, Hàm Dương, Đô Quan, Tường Thuỵ (huyện Duy Tiên) hay ở Nghệ Văn, Thọ ích, Tào Nha, Văn Xá (huyện Lý Nhân)...
Tiểu vùng ven sông Hồng có hàng chục làng nghề, ngành nghề thủ công rất nổi tiếng. Chẳng hạn như nghề làm đường mật ở Vĩnh Trụ, nghề mộc ở Cao Đà, Ngu Nhuế, mây tre đan ở Quang Ốc, chợ Cầu, Mạc Thượng, Vũ Xá, nghề làm bánh đa ở làng Chều (huyện Lý Nhân); các nghề dệt vải, tơ lụa, may mặc nổi tiếng ở Nha Xá, Tư Can, cổ Chân (huyện Duy Tiên), ở Đại Hoàng, Mạc Thượng, Trí Long, Trần Xá, Trần Thương, Như Trác (huyện Lý Nhân),... Hàng vải dệt, tơ lụa ở Nha Xá, Đại Hoàng, hàng may mặc ở Tư Can, đường mật ở Vĩnh Trụ,... từ thời xưa đã được đưa đi khắp nơi trong vùng và cả nước. Làng Tư Can xưa có những thợ may điêu luyện, làm nghề cả ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, sang cả Quảng Châu (Trung Quốc), Phnômpênh (Cămpuchia),...
Ngày nay, tiểu vùng ven sông Hồng là vùng kinh tế - xã hội phát triển vào loại khá của tỉnh. Nhiều ngành và lĩnh vực sản xuất, lĩnh vực văn hoá, xã hội đạt trình độ phát triển tương đương với các địa phương khác trong tỉnh và trong vùng đồng bằng sông Hồng.
Nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chủ chốt, có vị trí quan trọng hàng đầu ở tiểu vùng này. Theo số liệu Niên giám thống kê huyện Lý Nhân năm 2000, thì giá trị sản xuất nông nghiệp trên địa bàn huyện (theo giá hiện hành) bình quân các năm từ 1998 đến 2000 đạt xấp xỉ 300 tỷ đồng mỗi năm, giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt bình quân 1,48 tỷ đồng; giá trị sản xuất thủy sản đạt khoảng 8,3 tỷ/năm và giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt bình quân trên 109 tỷ đồng/năm. Trong nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành trồng trọt hiện vẫn chiếm khoảng 73%, giá trị sản xuất chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp mới chiếm khoảng 27%(1).
Điều dễ nhận thấy trong phát triển nông nghiệp ở huyện Lý Nhân cũng như ở tiểu vùng ven sông Hồng nói chung những năm gần đây là sự chuyển biến về cơ cấu sản xuất theo hướng phát triển sản xuất kinh doanh hàng hóa, với sự phát triển mạnh của ngành chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, các loại cây ăn quả (cam, quýt, bưởi), một số cây công nghiệp (như lạc, đỗ tương, dâu tằm), cây dược liệu và rau đậu thực phẩm. Một số loại cây được trồng nhiều trước đây (như mía, khoai lang,...) có xu hướng giảm mạnh do nhu cầu tiêu dùng và nhu cầu thị trường giảm sút, hiệu quả thấp hoặc khó khăn về tiêu thụ sản phẩm.
Diện tích cấy lúa chiếm hơn 60% diện tích các loại cây trồng nói chung của tiểu vùng. Song sản xuất lúa ở đây không phải là thế mạnh so với các địa phương, các tiểu vùng khác trong tỉnh. Số liệu thống kê trên địa bàn huyện Lý Nhân cho thấy, từ năm 1990 đến năm 2002 diện tích trồng lúa ở đây tăng thêm 9,05% (từ 12.529 ha lên 13.663 ha), năng suất lúa bình quân cả năm tăng tới 54,9% (từ 34,22 tạ/ha lên trên 53,0 tạ/ha) và sản lượng lúa tăng 65,5% (từ 43.754 tấn lên 72.433 tấn). Mặc dù trình độ thâm canh và năng suất lúa bình quân ở huyện Lý Nhân không thua kém các huyện khác trong tỉnh, song diện tích và sản lượng lúa ở đây đều thấp hơn so với ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm và Duy Tiên. Số liệu thống kê cũng cho thấy, diện tích lúa trên địa bàn huyện Lý Nhân năm 2002 chỉ chiếm 18,2% trong diện tích lúa cả tỉnh, sản lượng chiếm 17,9% và sản lượng lúa bình quân đầu người đạt 384 kg/người, thấp hơn đáng kể (30%) so với bình quân chung của cả tỉnh (497 kg/người) và các địa phương khác (như ở các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Duy Tiên,...). Sản lượng lúa hàng hoá cũng thấp hơn so với các nơi khác trong tỉnh.
            Biểu 51: Diện tích, sản lượng 
lúa cả năm 2002 của tỉnh Hà Nam
Diện tích (ha)
Sản lượng (tấn)
Sản lượng BQ đầu người (kg)
Cả tỉnh
75.107
404.790
497
Thị xã Phủ Lý
2.509
13.089
178
Huyện Bình Lục
18.553
100.582
641
Huyện Duy Tiên
13.819
76.408
584
Huyện Kim Bảng
11.985
64.122
496
Huyện Lý Nhân
13.663
72.433
384
Huyện Thanh Liêm
14.578
78.156
579
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2003; 
Cục thống kê Hà Nam, 4-2004.
Cây ngô là cây trồng có thế mạnh của tiểu vùng ven sông Hồng, được trồng nhiều ở hầu hết các xã có đất bãi ven sông Hồng và tả ngạn sông Châu. Vào độ tháng ba, tháng tư hằng năm, đi dọc theo đường từ Hoà Mạc qua Hợp Lý, Công Lý đến Vĩnh Trụ xuống Nhân Bình, Tiến Thắng hay đi dọc vùng bãi sông Hồng từ Chuyên Ngoại, Chân Lý đến Hoà Hậu, người ta thấy có nhiều đồng ngô trải rộng, xanh tốt, rất trù phú. Năm 1995, diện tích ngô ở huyện Lý Nhân có tới trên 3.066 ha, nhiều nhất tỉnh (chiếm tới 34,5% diện tích ngô cả tỉnh), sản lượng đạt 7.459 tấn (chiếm 32,5% sản lượng ngô cả tỉnh). Song những năm gần đây sản xuất ngô ở vùng này đã giảm đi nhiều, cả ở huyện Lý Nhân lẫn ở các xã ven sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên. Năm 2002, diện tích ngô ở huyện Lý Nhân chỉ còn 1.767 ha, giảm 42,4% so với năm 1995; sản lượng giảm các huyện còn 6.907 tấn (giảm 7,4%). Gần đây, nhiều hộ nông dân ở các xã tiểu vùng này (cũng như ở Kim Bảng, Duy Tiên,...) đã chuyển sang trồng các giống ngô nếp để bán ngô bắp tươi đi các nơi, giá trị hàng hoá khá cao.
Cây mía trước đây được trồng nhiều ở vùng này, nhưng nay đã giảm mạnh do thiếu cơ sở chế biến và khó khăn về thị trường tiêu thụ. Vào đầu những năm 1990, riêng trên địa bàn huyện Lý Nhân diện tích mía đã có khoảng 360 ha, chiếm gần 60% diện tích mía của cả tỉnh, sản lượng thu hoạch từ 15 - 19 nghìn tấn mỗi năm (chiếm 50 - 60% sản lượng của cả tỉnh); đến năm 1997, diện tích mía chỉ còn khoảng 33 ha, sản lượng giảm còn 1.700 tấn và đến năm 2002, diện tích mía ở Lý Nhân chỉ còn 6 ha (chiếm 8% diện tích mía của tỉnh), sản lượng 321 tấn, chiếm 7,8% sản lượng mía của tỉnh.
Trong khi đó, cây đay và cây đỗ tương vẫn là những cây trồng duy trì được thế mạnh. Mặc dù diện tích đay đã giảm đi ở một số nơi (nhất là ở các xã ven sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên), song năng suất và sản lượng đay của tiểu vùng ven sông Hồng nói chung vẫn tăng lên đáng kể so với trước. Năm 2002, diện tích đay ở các xã thuộc huyện Lý Nhân có 725 ha, tăng thêm hơn 150 ha so với năm 1995; sản lượng đạt trên 2.392 tấn, gấp 1,88 lần sản lượng năm 1995 và chiếm tới 98,7% sản lượng đay của cả tỉnh. Cây đỗ tương cũng vậy, được trồng nhiều, đạt diện tích và sản lượng cao nhất tỉnh. Năm 1990, diện tích đỗ tương ở huyện Lý Nhân có 445 ha đến năm 1997 tăng lên 639 ha và năm 2002 lên tới 919 ha, chiếm 34,4% diện tích đỗ tương của cả tỉnh; sản lượng năm 2002 đạt tới 1.620 tấn, gấp 4,7 lần so với sản lượng năm 1990 (343 tấn) và chiếm tới 36,8% sản lượng đỗ tương của tỉnh.
Những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp ở vùng ven sông Hồng có những chuyển biến mới với sự phục hồi của cây dâu tằm và sự phát triển mạnh các loại cây ăn quả.
Đến năm 2002, diện tích dâu tằm riêng trên địa bàn huyện Lý Nhân đã có trên 106 ha, gấp 2,3 lần so với năm 1990 và chiếm 30% diện tích dâu tằm cả tỉnh. Dâu tằm hiện được trồng nhiều ở các xã như Văn Lý, Hợp Lý, Chân Lý, Chính Lý và cả ở Trác Văn, Chuyên Ngoại (huyện Duy Tiên). Cây ăn quả được trồng ở hầu hết các xã trong tiểu vùng. Năm 2002, diện tích cây ăn quả ở huyện Lý Nhân có trên 1.100 ha, gấp 2,6 lần so với năm 1995 (414,5 ha) và chiếm 22,6% diện tích cây ăn quả nói chung của tỉnh. Trong đó, diện tích vải, nhãn tăng từ 73,5 ha (năm 1995) lên 441 ha (năm 2002); diện tích trồng cam, quýt, bưởi tăng từ 81 ha lên 242 ha trong thời gian nói trên. Chuối ngự Đại Hoàng, hồng Nhân Hậu, quýt Văn Lý là những cây ăn quả đặc sản nổi tiếng từ xưa, nay đang được trồng ở nhiều nơi trong tiểu vùng. Sự phục hồi nghề trồng dâu nuôi tằm và phát triển cây ăn quả ở các xã ven sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên cũng tương tự như vậy.
Chăn nuôi lợn, bò, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản tiếp tục phát triển mạnh ở hầu hết các nơi trong tiểu vùng và hiện vẫn là thế mạnh so với các địa phương khác trong tỉnh. Theo số liệu thống kê trên địa bàn huyện Lý Nhân, từ năm 1990 đến năm 2002, đàn lợn ở đây tăng 55,6% (từ 45,7 nghìn con lên 71,1 nghìn con), sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng tăng gấp gần 2,1 lần (từ 2.696 tấn lên 5.590 tấn) và là nơi có sản lượng thịt lợn hơi cao nhất, chiếm hơn 22,0% sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2002 của cả tỉnh; đàn bò tăng từ 5.169 con năm 1990 lên 6.713 con năm 2002, và cũng là nơi có số lượng bò nhiều nhất tỉnh. Nhiều hộ ở các xã ven sông Hồng nuôi hàng chục con trâu, bò lấy thịt và trâu, bò sinh sản.
Chăn nuôi gà, vịt và các loại gia cầm khác cũng phát triển mạnh và hướng tới chăn nuôi theo kiểu kinh doanh hàng hoá. Từ năm 1997 đến năm 2000, số lượng gia cầm ở các xã thuộc huyện Lý Nhân đã tăng từ 340 nghìn con lên 518 nghìn con, sản lượng thịt tăng từ 545 tấn lên trên 934 tấn. Ở các xã Chuyên Ngoại, Trác Văn (huyện Duy Tiên) hay ở Đạo Lý, Nhân Hưng, Nhân Mỹ (huyện Lý Nhân)... có nhiều hộ nuôi vịt đẻ trứng quy mô tới vài trăm con, thu nhập hàng năm khá cao (1).
Nuôi trồng thủy sản ở vùng ven sông Hồng đang chuyển mạnh sang sản xuất kinh doanh hàng hoá nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Theo số liệu thống kê, đến năm 2002 diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản trên địa bàn huyện Lý Nhân là 1.342 ha, chiếm 30,9% diện tích nuôi trồng thuỷ sản của cả tỉnh. Sản lượng thủy sản nói chung ở huyện này năm 2002 đạt tới 2.076,9 tấn, gấp 2,2 lần so với năm 1997; riêng sản lượng nuôi trồng đạt 2.031 tấn, chiếm 26,6% sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh. Việc nuôi trồng thuỷ sản kết hợp với trồng lúa trên ruộng trũng đang phát triển ở nhiều nơi theo hướng kinh tế trang trại. Năm 2001, huyện Lý Nhân có 8 trang trại nông nghiệp kết hợp thủy sản, quy mô mỗi trang trại từ 2 ha trở lên, thu nhập mỗi trang trại trên 25 triệu đồng/năm. Nhiều hộ ở các xã ven sông Hồng thuộc huyện Duy Tiên như ở Chuyên Ngoại, Trác Văn, Mộc Nam, Châu Giang,... cũng đang phát triển theo hướng này. Ở xã Châu Giang có nhiều hộ chuyên ươm thả cá giống để cung cấp cho các hộ trong vùng và bán đi nơi khác. Còn ở xã Trác Văn hiện có hơn 50 hộ vạn chài chuyên nghề đánh bắt thuỷ sản trên sông, đầm.
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở tiểu vùng ven sông Hồng phục hồi và phát triển mạnh, với nhiều ngành nghề đa dạng như ươm tơ, dệt vải, lụa, thêu ren, may mặc, sản xuất đồ gỗ, chế biến lương thực, thực phẩm, sản xuất gạch ngói, khai thác cát xây dựng,... Trên địa bàn tiểu vùng này hiện có 2 doanh nghiệp công nghiệp nhà nước là Xí nghiệp cơ khí nông nghiệp Lý Nhân (tại xã Công Lý) và Xí nghiệp cơ khí nông nghiệp Duy Tiên (tại thị trấn Hoà Mạc), hàng chục công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, tổ hợp tư nhân và hàng nghìn cơ sở, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp cá thể.
Nhà máy đường Vĩnh Trụ trước đây là cơ sở công nghiệp nhà nước lớn nhất trên địa bàn do tỉnh quản lý, có trên 1.000 công nhân, sản xuất mía đường, bánh kẹo, bột giấy. Từ năm 1992 đổi thành Công ty chế biến thực phẩm Vĩnh Hà do Tổng công ty mía đường miền Bắc quản lý. Hiện nay, công ty này đã được cổ phần hoá, chuyển thành doanh nghiệp cổ phần, có khoảng 200 công nhân, mặt hàng sản xuất chủ yếu là bia, chế biến thức ăn gia súc và muối i-ốt. Xí nghiệp gạch ngói Lý Nhân trước đây là doanh nghiệp nhà nước do huyện quản lý, nay cũng đã cổ phần hoá, có hơn 40 công nhân, sản xuất 3,5 - 4 triệu viên gạch ngói mỗi năm.
Những năm gần đây ở tiểu vùng ven sông Hồng đã xuất hiện hàng chục công ty, tổ hợp công nghiệp tư nhân như Công ty dệt may Châu Giang, tổ hợp dệt Đại Thành, dệt Đại Thắng (ở xã Hoà Hậu), tổ hợp mộc Vạn Xuân (xã Xuân Khê), tổ hợp thêu ren Châu Giang (xã Công Lý), doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng Đồng Nhân (xã Nhân Đạo),... Trong đó có một số cơ sở đầu tư quy mô khá, như Công ty dệt may Châu Giang tại xã Hoà Hậu được thành lập năm 1999 với số vốn đầu tư hơn 10 tỷ đồng, hiện đang lắp đặt dây chuyền sản xuất công nghiệp với 220 máy dệt, sử dụng khoảng 100 công nhân. Theo số liệu Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2003, chỉ riêng trên địa bàn huyện Lý Nhân đến năm 2002 đã có 6.144 cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh. Giá trị sản xuất công nghiệp của các cơ sở này năm 2002 (tính theo giá hiện hành) đạt trên 147,7 tỷ đồng, chiếm tới 94% tổng giá trị sản xuất công nghiệp nói chung trên địa bàn huyện (157,1 tỷ đồng).
Theo số liệu điều tra của Cục Thống kê Hà Nam năm 2001, ở tiểu vùng ven sông Hồng có 5 làng nghề (trong tổng số 25 làng nghề) đạt tiêu chí làng nghề của tỉnh, gồm các làng Nha Xá (dệt vải), Từ Đài (ươm tơ), Hoà Lý (làm bánh đa nem), Thọ Chương (làm nghề đan cót) và làng Đại Hoàng (làm nghề dệt vải). Các làng nghề này chủ yếu làm nghề thủ công truyền thống; số hộ làm nghề ở 5 làng nghề này năm 2001 có khoảng 3.880 hộ, số lao động làm nghề có 7.262 người. Ngoài ra, ở tiểu vùng ven sông Hồng còn có hàng chục làng, xã khác có các hoạt động ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, thu hút hàng nghìn hộ dân cư và lao động làm nghề.
Làng dệt Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên) đang phục hồi và phát triển mạnh nghề dệt vải, lụa, đũi tơ tằm truyền thống. Năm 2001 làng này hiện có trên 200 máy dệt, 240 hộ và khoảng 380 - 400 lao động làm nghề. Những năm gần đây, mỗi năm Nha Xá sản xuất 350 - 400 nghìn mét vải, lụa, đũi bán ra cả trên thị trường trong nước lẫn xuất khẩu. Nghề dệt cũng đang được phát triển ở các xã như Chuyên Ngoại, Trác Văn, thị trấn Hòa Mạc và một số làng xã khác của huyện Duy Tiên. Nghề dệt vải, khăn mặt ở làng Đại Hoàng (xã Hoà Hậu) là nghề thủ công truyền thống, trước đây thường dệt gia công cho các cơ sở công nghiệp của nhà nước, hiện nay dệt chủ yếu cho các cơ sở tư nhân, hoặc do các hộ tự mua nguyên liệu về làm để bán ra thị trường. Toàn xã Hòa Hậu hiện có 1.250 khung dệt thủ công, phần lớn đã lắp mô tơ điện và dùng điện trong sản xuất, có hơn 1.200 lao động chuyên làm nghề, mỗi năm sản xuất 5 -7 triệu mét vải và hàng triệu khăn mặt các loại.
Làng Chều xã Nguyên Lý có nghề làm bánh đa, bánh tráng, bánh đa nem nổi tiếng từ xưa, nay phát triển cả ở các thôn khác trong xã như Mão Cầu, Tri Long, Trần Xá. Toàn xã hiện có trên 1.100 bếp tráng bánh, hơn 2.400 lao động làm nghề, sản lượng mỗi năm từ 2.000 đến 2.500 tấn bánh các loại. Bánh đa nem, bánh tráng ở đây được bán đi khắp nơi trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài. Nghề đan cót ở làng Thọ Chương, làng Sàng (xã Đạo Lý) nay phát triển cả ở các làng An Châu, Đồng Xá. Cả xã hiện có 1.200 hộ làm nghề, mỗi năm sản xuất hơn 1 triệu lá cót bán đi các nơi làm cốt pha xây dựng và làm nguyên liệu cót ép.
Sự phát triển các ngành nghề, cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở tiểu vùng ven sông Hồng đang góp phần làm thay đổi diện mạo và cơ cấu kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này.
Cùng với phát triển nông nghiệp, công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, các lĩnh vực vận tải, thương mại và dịch vụ ở tiểu vùng ven sông Hồng cũng có sự phát triển sôi động, tấp nập hơn. Thị trấn Vĩnh Trụ (huyện lỵ của huyện Lý Nhân) và thị trấn Hòa Mạc (huyện lỵ huyện Duy Tiên) là những đầu mối giao thông, thương mại và giao lưu kinh tế, văn hoá quan trọng trong tiểu vùng. Từ Vĩnh Trụ có đường ô tô đi Phủ Lý, đi Hòa Mạc và đến tất cả các xã trong huyện, nối với đê sông Hồng và đi Nam Định. Tại Vĩnh Trụ có 1 chợ thị trấn quy mô chợ loại 2, có công ty bách hóa của huyện và hàng chục cơ sở thương mại, dịch vụ khác. Bến xe khách Vĩnh Trụ có lưu lượng vận chuyển hàng nghìn lượt khách mỗi ngày.
Thị trấn Hòa Mạc có quốc lộ 38 chạy qua, nối quốc lộ 1A ở thị trấn Đồng Văn qua Hoà Mạc, Yên Lệnh đi Hưng Yên, qua quốc lộ 39 đi Hải Dương. Từ Hòa Mạc cũng có đường đi Vĩnh Trụ theo đê tả ngạn sông Châu và đi Phủ Lý theo đê hữu ngạn sông này. Ở Hoà Mạc cũng có 1 chợ thị trấn quy mô chợ loại 2 có công ty bách hoá huyện, một bến xe khách với lưu lượng 50 lượt xe/ngày và nhiều cơ sở thương mại, dịch vụ. Ngoài ra, trên địa bàn tiểu vùng ven sông Hồng còn có 24 chợ xã, chợ khu vực; trong đó có nhiều chợ quy mô khá lớn, hàng hoá buôn bán sầm uất, như chợ Mộc Nam, chợ Cầu Không, chợ Bắc Lý, chợ Bến, chợ Chanh... Tuyến đê hữu ngạn sông Hồng từ Mộc Bắc đến Hòa Hậu (dài 40km) cũng là tuyến giao thông quan trọng, thuận lợi cho việc vận chuyển hàng hóa và giao lưu kinh tế của các xã trong tiểu vùng.
Vận tải đường thủy ở vùng ven sông Hồng cũng thuận lợi hơn nhiều so với các nơi khác trong tỉnh. Sông Hồng là tuyến giao thông đường thủy hết sức quan trọng cho việc giao lưu, trao đổi hàng hóa trong tiểu vùng và với bên ngoài. Suốt dọc tuyến hữu ngạn sông Hồng, từ Mộc Bắc đến Hòa Hậu hiện có khoảng 40 bến đò, bến phà và bến bãi vận tải hàng hóa, hành khách. Hầu hết các xã ven sông Hồng đều có các bến, bãi phục vụ vận tải trên sông này. Trong đó có một số cảng, bến khá lớn như ở Hoàn Dương (xã Mộc Bắc), Yên Lệnh, Từ Đài (xã Chuyên Ngoại), cảng Như Trác, bến Phương Trà, Nga Khê (huyện Lý Nhân),...
Sự phát triển thương mại, dịch vụ ở tiểu vùng ven sông Hồng không chỉ góp phần thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế xã hội ở vùng này, mà còn mở rộng và làm tăng sự liên kết, thúc đẩy và tương tác lẫn nhau giữa các địa phương trong tiểu vùng cũng như với các địa phương khác trong tỉnh và với bên ngoài trong quá trình phát triển nền kinh tế - xã hội.
Trong giai đoạn tới, việc tổ chức không gian kinh tế - xã hội ở tiểu vùng ven sông Hồng có thể tiếp tục theo các hướng phát triển hiện nay. Song việc tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện và hiện đại hoá kết cấu hạ tầng, tăng cường cơ sở vật chất kỹ thuật và phát triển nguồn nhân lực có thể sẽ là những vấn đề trọng tâm đối với phát triển kinh tế - xã hội ở tiểu vùng này của Hà Nam.
10/9/2019
Theo https://baohanam.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...