Thứ Tư, 5 tháng 2, 2020

Trường ca Biển của Hữu Thỉnh

Trường ca Biển của Hữu Thỉnh
HỮU THỈNH
- Họ và tên khai sinh: Nguyễn Hữu Thỉnh
- Sinh năm 1942
- Quê quán: Làng Phú Vinh, xã Duy Phiên, huyện Tam Dương,
  tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1976)
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Âm vang chiến hào (Thơ in chung, 1976)
* Đường tới thành phố (Trường ca, 1979)
* Từ chiến hào tới thành phố (Thơ ngắn, trường ca, 1985)
* Khi bé Hoa ra đời (Thơ thiếu nhi, in chung, 1985)
* Thư mùa đông (Thơ, 1994)
* Trường ca biển (Trường ca, 1994)
* Thơ Hữu Thỉnh (Thơ tuyển, 1998)
* Sức bền của đất (Trường ca, 2004)
* Thương lượng với thời gian (Thơ, 2005)
* Mùa xuân trên tháp pháo (Bút ký, truyện ngắn, 2009)
* Lý do của hy vọng (Tiểu luận, phê bình, 2010)
Ngoài ra còn viết nhiều bút ký văn học, viết báo.
 - Giải thưởng văn học:        
* Giải A, cuộc thi thơ báo Văn nghệ 1975 - 1976 bài Chuyến đò đêm giáp ranh, Trường ca Sức bền của đất.
* Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1980 với Trường ca Đường tới thành phố.
* Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam năm 1995 với tập thơ Thư mùa đông.
* Giải thưởng Văn học ASEAN, 1999.
* Giải xuất sắc Bộ Quốc phòng năm 1994 với Trường ca Biển.
* Giải thưởng Nhà nước về Văn học đợt I, 2001.
- Suy nghĩ về nghề văn:
Tôi rất tin: Thơ là kinh nghiệm sống.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ: 
MÔ TÍP THỜI GIAN, MÔ TÍP THIÊN NHIÊN TRONG THƠ HỮU THỈNH (Đọc Thương lượng với thời gian 1.)
Hoàng Ngọc Hiến
Tác giả không thể không suy ngẫm về thời gian, vì thời gian đầy những sự bất trắc, cả những sự tráo trở nữa: “Đem cho”… “Đòi lại” (Và “Đòi lại không hề thương tiếc”), “bày ra” “rồi xóa đi”, “ham chơi và bỏ cuộc… “Thời gian, ông là ai?” (xem II, tr.21). Với người viết, thời gian càng bất trắc:
Chú thích:
1. Hữu Thỉnh - Thương lượng với thời gian. Nxb Hội Nhà văn, 2005. Được dẫn từ của cuốn sách này, thì số trang đề là II, tr… Được dẫn từ cuốn Thơ Hữu Thỉnh, Nxb Hội Nhà văn, 1997, số trang đề là I, tr…
Chưa viết giấy đã cũ
Chưa viết sông đã đầy
Đám cưới đi qua có người đang khóc
Chưa viết chợ đã đông
Chưa viết đồng đã bạc
Người than thở vì mất mùa nhân nghĩa
Trước những sự bất trắc (bất trắc nào cũng ít nhiều thô bạo), câu thơ hầu như bất lực vì quá mong manh:
Câu thơ đứng giữa trời
Vó nhện cất sương rơi.
(I, tr.153)
Tác giả cảm nhận sâu sắc sự mong manh của đời người và muôn ngàn sự bất trắc, hiểm nguy rình rập khi con người ta lẽo đẽo đi vào ngõ thu cuộc đời: “muôn nỗi cánh diều mong manh”, ngày thì mau sập chiều, xoáy vực thì “chông chênh”, chỉ một cơn gió, bóng mẹ già bỗng thành thiên thu.
Tuy nhiên cũng có những sự bất chợt thú vị:
Bất chợt
được sưởi ấm
từ những ai không quen biết qua đường
Bất chợt
những cánh chim vụt hiện
vẽ đường đi vô định của con người
(xem II. tr.33)
Mô típ thời gian vĩnh cửu xuyên suốt bài thơ nổi tiếng của Hữu Thỉnh Phan Thiết có anh tôi:
Vuông đất là không gian hữu hạn, “Đồi”có rộng đến mấy thì cũng là hữu hạn. Đất và trời Phan Thiết là không gian bao la. Đất và trời là sự vĩnh cửu. Hình ảnh người anh hòa vào đất và trời vĩnh cửu.
Em chưa hay cánh đồi ấy tên gì
Nhưng em biết ngày ngày anh vẫn đứng.
(tr.164)
Anh không ngủ người đi câu không ngủ
Biển đêm đêm trò chuyện vời hai người.
(tr.165)
“Ngày ngày”, “đêm đêm”, “thăm thẳm” (trong câu thơ biển màu gì thăm thẳm lúc anh đi, “thăm thẳm” thuộc phạm trù thời gian) là những điệp ngữ của sự vĩnh cửu.
Vẫn không ngờ có một trưa Phan Thiết
Em một mình đứng khóc ở sau xe.
Khoảnh khắc thời gian hữu hạn này làm sống động dòng liên tục thời gian vô hạn.
Thương lượng với thời gian, tác giả ngổn ngang tâm trạng và đau đáu nỗi niềm. Đây là một tác phẩm trữ tình. Trong tác phẩm này nổi lên hình ảnh hoành tráng hai nhân vật “sử thi”: người lính gỡ mìn và người thợ lặn cầu Thăng Long. Hoành tráng mỗi nhân vật một vẻ. Trong chiến trường chật chội, đấu tay đôi của người lính gỡ mìn, tính hoành tráng là ở cái biên giới nhỏ nhoi, khắc nghiệt nằm dưới đầu kim hỏa mỏng như hơi và hiệu quả vô cùng to lớn của công việc ô cùng nguy hiểm này:
Đất mới thật là đất sau lưng anh
Cỏ mới thật là cỏ sau lưng anh
Anh dọn bữa tiệc xanh
Gọi đàn bê tung vó.
(II, 52)
Hình ảnh người thợ lặn cầu Thăng Long hoành tráng một cách khác: bộ đồ lặn tám mươi cân, xoáy lũ sông Hồng, đám bùn nhão dưới năm mươi thước, và:
cả dòng sông đè lên trái tim anh
(II, tr.64)
Sóng nặng trĩu thét gào trên mạch máu
(II, tr.65)
Hình ảnh của họ hoành tráng,con người của họ lớn, họ giống nhau ở một điểm: niềm vui của họ vô cùng giản dị, người lính gỡ mìn trong mấy phút chỉ ngắn ngủi ngước mắt nhìn “mây tê tê một dải vắt ngang trời/ ngón tay lấm nghỉ ngơi trên điếu thuốc”, còn người thợ cầu Thăng Long “giật mình sửng sốt, khi lên bờ bắt gặp lá tre non” (II, tr.66). Họ chỉ là những người lao động bình thường, những con người vô danh. Xã hội nhìn họ như vậy, không hơn không kém, có khi vợ con họ và bản thân họ cũng nghĩ vậy vậy thôi. Với chân dung người lính gỡ mìn và người thợ lặn cầu Thăng Long, Hữu Thỉnh đã đóng góp cho thơ ca hình ảnh trác việt nhưng anh hùng vô danh thời bình…
Khổ thơ thể hứng cổ điển được kết cấu bởi tương quan giữa mô-típ thiên nhiên và mô-típ nhân văn, mô-típ thiên nhiên được trình bày trong những câu đầu, tiếp theo là những câu được trình bày theo mô-típ nhân văn. Chẳng hạn, trong chương I bài Ẩn kỳ lôi (Tiếng sấm ầm ầm), bài thứ 19 trong Kinh thi, thì 2 câu đầu (Tiếng sấm ầm ầm/ ở phía nam núi nam) là mô-típ thiên nhiên, những câu còn lại là mô-típ nhân văn: tâm trạng chinh phụ cô quạnh, mong nhớ chồng trở về (Sao chàng một mình rời khỏi chốn này/Mà không dám được tí gì rảnh rang). Trong thơ Hữu Thỉnh có những đoạn (hoặc khổ) thơ được kết cấu theo thể hứng cổ điển.
Chim tha phương đậu xuống bụi chà là
Câu vọng cổ theo người đi mở đất
(II, tr.69)
Trong đoạn thơ này, câu 1 là mô-típ thiên nhiên, câu 2 là mô-típ nhân văn, giữa câu 1 và câu 2 có một liên hệ lô-gích nào đó, không xác định, chính tính không xác định này tạo ra sự khởi hứng ở người đọc.
Trong khổ thơ sau đây:
Mưa thanh xuân mưa trước cửa thiền
Sông chảy chậm đợi chiều đang bị ướt
Ta khoác chiều mưa
Buồn chẳng vơi thêm
Vui chẳng ngập
(II, tr. 56)
Hai câu đầu là mô-típ thiên nhiên, 3 câu sau là mô-típ nhân văn (trạng thái an nhiên của người đã hòa nhập vào thiên nhiên).
Nhưng tiêu biểu cho thi pháp Hữu Thỉnh là cách kết cấu ngược lại với thể hứng cổ điển: mô-típ nhân văn đi trước, tiếp theo là mô-típ thiên nhiên.
Có gì mới? Ngày đi hay cát đến?
Có gì vui? Gió thổi lấy lòng cây
Có gì bền? Nhân nghĩa có còn đây?
Ta im lặng vì quá nhiều mây trắng.
(II, tr. 9)
Ba câu đầu là những câu hỏi có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Chẳng hạn, câu thứ hai, trước câu hỏi Có gì vui?. Tác giả đón trước hàng trăm câu trả lời mà hầu hết chẳng qua chỉ là “Gió thổi lấy lòng cây”.
Câu 4 là một hình ảnh thiên nhiên (“quá nhiều mây trắng”) và một quan hệ lô-gích: trước những câu hỏi nhân văn hệ trọng ta im lặng vì quá nhiều mây trắng. Một quan hệ lô-gích khó hiểu, mỗi người sẽ hiểu một cách, hoặc chịu, không hiểu nổi. Chính sự không hiểu này tạo ra sự khởi hứng ở người đọc. Như vậy với một kết cấu ngược lại vẫn đạt được hiệu quả của thể hứng cổ điển. Ba câu đầu là trạng thái nhân thế và miệng thế. Câu thứ tư là sự im lặng được giải thích là vì quá nhiều mây trắng.Xem ra tác giả nghi ngờ miệng thế bao nhiêu thì tin ở mây trắng bấy nhiêu. Mây trắng là biểu tượng của thiên nhiên. Phép mầu nhiệm nào của thiên nhiên đã cuốn hút lòng tin của nhà thơ?
Trong bài Thấy (II, tr, 11, 12), 5 câu đầu là mô-típ nhân văn: những bộ mặt của sự gian ác, thế thái nhân tình ngày càng khó sống, một sự trì trệ vô vọng: hóa ra tất cả vẫn nguyên như cũ. Câu 6 chốt khổ thơ này là mô-típ thiên nhiên: Tháng ba đầu cành hoa bưởi còn kia. Tưởng như là một câu thơ vu vơ. Thực ra trước những điều trông thấy đau lòng cõi nhân sinh, với một tâm trạng ngao ngán đến tuyệt vọng, tác giả chẳng còn cách nào khác là níu lấy thiên nhiên, dù chỉ là níu lấy một cành hoa bưởi? Mô-típ thiên nhiên trong thơ Hữu Thỉnh rất khác mô-típ thiên nhiên trong những bài hứng cổ điển của Kinh Thi. Bức xúc, căm uất, có khi gần như tuyệt vọng trước những sự ngang trái và độc địa, những sự phản phúc và gian trá bày ra trước mắt, lại còn huênh hoang và nghênh ngang nữa, nhà thơ sống không nổi, anh tìm đến thiên nhiên, không phải để tìm những lời giải đáp, thiên nhiên không giải đáp, không giải quyết được bất cứ vấn đề gì. Anh níu lấy thiên nhiên, tựa vào thiên nhiên để lấy lại sự bình tâm, sự an nhiên, sự thanh thản. Không có sự bình tâm này, trước sau sẽ quay cuồng, điên loạn với đa đoan của thế sự và chìm nổi của dâu bể. Mà cũng chẳng có thơ nữa. Quan niệm của Lưu Hiệp: thơ ở lưng chừng giữa động (cảm xúc xao xuyến) và tĩnh (sự bình tâm, an nhiên). Trong mọi sự vật của thiên nhiên đếu có cái gì đó kỳ diệu (Aristote). Kinh tế thị trường man rợ cũng như công nhiệp hóa và hiện đại hóa mù đương tiêu diệt một cách tàn bạo và quy mô toàn cầu năng lực bẩm sinh của con người giao cảm với thiên nhiên kỳ diệu. Hữu Thỉnh dường như còn cảm nhận được cái kỳ diệu của “mây trắng và cành hoa bưởi”, của “tiếng gà trưa” và “nhành sim tươi”, của “trời xanh và mây thắm” của “mặt trăng buồn và những cánh chim vụt hiện”… Anh còn nghe được hoa trong vườn Nguyễn Huệ kẻ sự nghiệp người anh hùng bằng ngôn ngữ của “mùi hương thao thiết” và “mây thắm trên đầu” (xem II, tr.58). Không biết tác giả đã đạt đến minh triết của Walt Whitman chưa: “Sau khi anh đã nếm đủ mùi của kinh doanh, chính trị, tiệc tùng và vân vân, anh thấy được rằng cuối cùng chẳng có món nào làm anh thỏa mãn hoặc có giá trị lâu bền vậy thì còn lại cái gì? Còn lại thiên nhiên”.
Cây là biểu tượng của thiên nhiên mà tác giả yêu thích hơn cả. Hơn một lần anh thích làm cây.
Tôi như cây biết dấu lá vào đâu
Giữa gió bụi cõi người.
(II, tr. 18)
Dường như chỉ có cây là thanh cao, còn con người mãi mãi kiếp phong trần.
Trong bài thơ ngụ ngôn Một thoáng làm người (II, tr.35), cây muốn đổi bóng cho người để “được làm người trong chốc lát”, dè đâu “mới một thoáng làm người cây đã đòi bóng lại”.
Bão trời ta coi khinh
Bão người không chịu nổi
Hữu Thỉnh làm thơ triết lý mà không triết luận.
Không biết bài Thương lượng với thời gian (II, tr.36) có phải là bài chốt của tập thơ mang tên bài thơ.
Buổi sáng lo kiếm sống
Buổi chiều tìm công danh
Buổi tối đem trí khôn ra mài rũa.
Đây là thời gian biểu thảm hại của những con người thảm hại kiếp phong trần. Tuyệt đại đa số không biết số kiếp mình thảm hại:
Tỉnh thức
Những hàng cây bật khóc
Tác giả phải nhờ đến cây vốn thanh cao, vô tư, thẳng thắn để biểu lộ đau thương và xót xa cho những con người kiếp phong trần.
Với bài thơ này Hữu Thỉnh vừa quyết liệt, vừa xót xa trước sự xuống cấp của con người, trước những sự tha hóa và đốn mạt của con người.
Trong bài thơ Lời mẹ, người con mỗi lần lận đận trên đường đời lại quay về hỏi mẹ. Lời của bà mẹ:
Hãy yêu lấy con người
Dù trăm cay nghìn đắng
Đến với ai gặp nạn.
Bất cứ bà mẹ truyền thống nào cũng có thể đưa ra một lời khuyên như vậy.
Lời cuối cùng mới quan trọng:
Xong rồi, chơi với cây.
Đây là lời của một nhà hiền triết, một nghệ sĩ.
Xong rồi, chơi với cây là một tứ thơ quí trong thi phẩm của Hữu Thỉnh.
H.N.H
CHẤT DÂN GIAN THẤM ĐẪM TRONG "SỨC BỀN CỦA ĐẤT"
(Trường ca Biển của Hữu Thỉnh - Nxb Quân đội nhân dân, 2004) 
Vĩnh Nguyên
Trước khi nói đến chất dân gian, dân ca thấm đẫm với những ưu điểm trong Sức bền của đất, ta hãy nghe nhà thơ Hữu Thỉnh có đôi lời phi lộ ở đầu sách. Lời tác giả: Trường ca này tôi viết từ sau phút đón giao thừa Tết Ất Mão 1975, tại một tiểu đoàn xe tăng, Lữ đoàn xe tăng 273 Anh hùng. Lúc đó, tiểu đoàn đang trong tư thế tấn công giải phóng thị xã Công Tum trong chiến dịch Tây Nguyên 1975.Tôi viết một mạch hết đêm giao thừa, cả ngày mồng một và đến quá nửa đêm hôm ấy thì xong. Tôi chép nó trong sổ tay và mãi đến khi kết thúc chiến tranh (30-4-1975) mới giở ra xem lại và gửi dự cuộc thi thơ 1975-1976 của Tuần báo Văn nghệ Hội Nhà văn Việt Nam. May mắn thay, Sức bền của đất và Chuyến đò đêm giáp ranh đã vinh dự được trao giải A của cuộc thi này.
Qua lời giải thích trên, ta thấy Sức bền của đất được viết rất nhanh. Với 5 chương (không có tựa đề ở mỗi chương), tất cả có 530 câu thơ, chương 2 dài nhất (251 câu) mà chỉ viết một ngày, một đêm, thêm nửa đêm nữa là xong (Tất nhiên sau này, trước khi in sách ông có sửa chữa và viết thêm), nhưng như thế cũng có thể nói rằng, thơ đã chưng cất sẵn trong ông như đập nước đang trữ nước và chỉ chờ khơi một cái là tuôn trào.
Thực vậy:
Anh nhớ em như cơn mưa tích nước
Cứ chực òa chỉ một cớ không đâu
Đất. Ở đâu cũng đất. Lữ đoàn xe tăng 273 trong tư thế tấn công là đi trên đất. Nhưng sức bền của nó còn tiềm ẩn vững chãi oai hùng là ở hướng khác nữa.
Mở đầu trường ca, tác giả viết:
Đom đóm bay ra hoa gạo đỏ
Mẹ ở nhà đã cất áo bông?
Mẹ có ra bờ sông
Qua bến đò tiễn con dạo trước?
Đường xuống bến có mười sáu bậc
Mẹ nhớ thương đã bạc mái đầu…
Và, chỉ cách đó 19 câu, theo mạch vỉa cảm xúc này, tác giả đã khắc họa rất rõ:
Mẹ là người chúng con thương nhớ nhất
Đất nước ngày có giặc
Mẹ vẫn đỏ miếng trầu
Ấm một vùng tin cậy phía sau.
Vùng tin cậy phía sau ấy chính là hậu phương hùng hậu! Là mẹ, là em, là ruộng nương châu thổ. Bởi vậy, trong chương một (66 câu), đã có 11 câu thơ nói về mẹ.
Ở trại sáng tác Tam Đảo năm 2010, Hữu Thỉnh lên thăm và tổng kết trại, ông nói vui: đây là vùng đất rừng quê tôi, lúc nhỏ tôi đã từng là “lâm tặc”. Ở vùng quê, ai mà chẳng thương mẹ đun nấu rạ rơm sáng, trưa, chiều khói bụi mù mịt. Phải vào rừng kiếm củi thôi. Nhưng củi khô thì hiếm. Củi tươi thì nặng gánh vác không được nhiều. Vậy phải chờ ngày nắng to, vào rừng chọn cây dẻ, cây ngạnh tươi mà đốn hạ một vạt. Ba ngày sau vào tuốt lá, bó hai bó củi khôn gánh về cho mẹ. Thế đấy. Từ “lâm tặc” là nói lũ cướp ngày tàn phá bây giờ còn ngày trước làm gì có từ đó?
Từ mẹ, từ cây đa bến nước sân đình, từ cái nôi của hát xoan, hát ghẹo. Bao kỷ niệm từ thuở nhỏ của ông với đồng đất quê hương, những tối sân đình hát vui chơi cùng bạn. Lại được người mẹ giỏi hát đã gieo vào lòng cậu con trai thông minh hoạt bát những lớp lang bài bản. Hát xoan, bước một: Giáo trống, bước hai: Xuân cách - Thu cách, bước ba: Bỏ bộ - xin huê - đố chữ. Hát ghẹo thì: Ví đặt trầu, Giọng sổng, Sang giọng, Ví tiễn chân. Và nhiều ngạn ngữ, thành ngữ, tục ngữ, ca dao trữ tình đã nhập vào ông để bây giờ ông khéo léo huy động hết vào trường ca Sức bền của đất.
Nhưng cái giỏi của người sáng tác là không hề bê nguyên xi một câu xoan, câu xẩm, bỏ bộ, xin huê, đố chữ nào. Mà có thể chỉ là một nét hư ảo thoán qua, một giai điệu, một bóng hình tưởng tượng thuở nào cho ông phát triển những câu thơ, những đoạn thơ theo mạch cảm xúc những giọng của hát ghẹo hay Bỏ bộ của hát xoan? v.v…
Cây vối đứng bờ ao, cặp thừng treo gác bếp
Bồ muối để dành vần cạnh bếp tro
Cái cối cái chày đếm nhịp nhỏ to
Bao truyền thuyết được kể ra từ đấy…
Hai chữ thủy chung đính ở góc khăn
Bớt chông chênh những ngày chờ đợi
Kim chỉ có đầu hoa thơm có cội
Bèo trôi lôi bến tiễn đưa nhau
Tre làm nhà ngâm ba năm mới vớt
Ớt cựa gà ba vụ mới cay
Trời có mưa có nắng
Giếng có cạn có đầy
Con gái ở bền không chê tấm vá
Con trai ở bền như đá muối dưa…
Con trai ở bền như đá muối dưa? Chỉ nghĩ về câu thơ này ở đoạn thơ này đã thấm thía lắm. Muối dưa phải có nghề. Phải có tay muối dưa. Chỉ thao tác sai một công đoạn thì dưa sẽ khú. Dưa khú là lo đi đổ ngay không thì nó khắm lắm!
Thuở nhỏ, tôi đã thấy vú (mẹ) tôi muối dưa cải. Cải Bắc, trong tôi gọi là cải bẹ, cành dày, lá to. Vú mua ở chợ Đồng Hới, đường xa, gánh về đến nhà đã héo. Vú lột ra từng cánh, rửa sạch, cắt ngắn bằng hai đốt lóng tay, để trên xảo thưa cho ráo nước. Vú nấu nước sôi, pha muối vừa phải. Vớt bọt, lắng cặn bã. Nước vừa hẩm mới cho cải vào vại hình tròn. Tay vú nén cho cải chặt xuống. Đặt lên tấm vỉ tre thưa đan lóng mốt. Và động tác cuối cùng là đằn lên nó một hòn đá mồ côi. Nước dần dẫy lên ngập nửa hòn đá. Chừng hai ngày, vắt dưa ăn đã giòn, đã ngon. Để thêm vài ngày nữa thì dưa vàng, chua và bốc mùi thơm dưa. Dưa cải vàng và chua là đúng dưa chín. Từ nó, có thể chế biến cùng với thịt, cá, tương đậu mà thành nhiều món ăn (cả chay và mặn) dân dã rất ngon, rất Việt Nam! Tôi còn nhớ, dưa cũ chưa hết, vú đã nén vại khác. Một phần ít dưa chua, vú dành nấu riêng cho thầy tôi thời chay. Còn hầu hết là nấu mặn cho cả nhà và thợ cày, thợ gặt. Nhà tôi xưa nhiều ruộng. Nhưng trong nhà không ai biết gì đến việc cày bừa nên vú tôi phải thuê tất. Thợ cày, thợ gặt họ rất thích ăn cá mè kho dưa và canh dưa chua nấu cá tràu (cá quả). Dưa cải, rồi còn dưa hành, dùng vào dịp lễ Tết truyền thống. Dưa cải bắp có thêm rau răm (hai thứ đều thái chỉ). Ở Nghệ - Tĩnh có muối cà (cà nghệ), còn muối xơ mít (gọi nhút) vv… Tất cả các loại muối và mắm đều phải có tấm vỉ đan thưa và hòn đá đằn lên trên. Ồ, hóa ra hòn đá mồ côi lại bền, lại chung thủy lắm ru? Và qua hòn đá muối dưa cho ta thấy tác giả trường ca này mới thật “đáo để” và sắc sảo đến ngần nào!
Hai câu thơ:
Con gái ở bền không chê tấm vá
Con trai ở bền như đá muối dưa.
Nếu bạn đọc nào cần biết, thì theo tôi nên hỏi ông Hữu Thỉnh lấy từ câu ca, tục ngữ hay từ câu xoan, câu xẩm nào ở quê ông mà giỏi đến vậy?
Một trường ca dài thấm đẫm chất văn học dân gian, nhưng ông chỉ lấy bốn câu cần thiết (có đóng dấu ngoặc) “Nàng về nuôi cái cùng con”, “Mẹ tham khúc cá thu/ Gả con về biển mịt mù tăm tăm”, “Chim bay về núi túi rồi” và mười câu hát đồng dao trẻ em: “Thả đỉa ba ba/ Chớ bắt đàn bà/ Phải tội đàn ông/ Cơm trắng như bông/ Gạo tiền như suối/ Bỏ mắm bỏ muối/ Bỏ chuối hạt tiêu/ Bỏ niêu cứt gà/ Bỏ cho bà nào/ Bỏ cho bà này”. Còn từ đầu chí cuối trường ca là ông tự tung tự tác mà nên chương.
Theo năm tháng sáng tác ghi trong văn bản của ba trường ca, thì bản thảo đầu tiên Sức bền của đất, viết trước Đường tới thành phố hai năm, và viết trước Trường ca biển sáu năm. Và bây giờ bạn đọc được đọc một lúc cả tập (ba trường ca) thì dễ dàng nhận định, đánh giá sức vóc trường ca Hữu Thỉnh. Riêng tôi, giá như tôi mới chỉ đọc Sức bền của đất thôi, thì cũng đã thấy đã đời lắm, tin cậy lắm. Bởi không đầy bản lĩnh, vốn sống dồi dào và tinh thông để công phá vào lĩnh vực văn học khó mà vẫn thành công. Nói ngắn: Hữu Thỉnh có tài viết trường ca.
Quải lưới đương ngàn, trong hát xoan, hát ghẹo đều có trò chơi bắt cá, thường tổ chức ở sân đình. Nam làm lưới, nữ làm cá. Khi bắt được cá, theo nghĩa bóng bẩy là họ đã trao tình cho nhau. Nhưng bởi tổ chức vui chơi nên dầu đã bắt được cá mà vẫn như là chưa có gì.
Một ví dụ (chương hai), tác giả còn hồn hậu hơn, trẻ trung hơn và vui không kém gì trò chơi quải lưới (Sang giọng - Hát ghẹo):
Ta sang xóm Chùa
Giếng đông người tắm
Con gái con trai đàn ông đàn bà
Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng
Anh và em cùng nhau đến tắm
Đứng như khoai như sắn giữa đông người
Anh ngó em
Em cũng ngó anh
Như bức vách nhìn vào bức vách
Em chưa chúm cau
Anh chưa thóc mách
Em và anh bong bóng sinh đôi
Rồi em lớn lên
Biết thử yếm đào
Anh cũng lớn lên
Biết đo quần lá tọa…
Sợi chỉ bền từ cây tre cây trúc
Sợi chỉ bền từ cây sui cây gai…
Sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông…
Trăng mười bảy lại vá lành bến gãy…
Tôi trích thơ nhiều bởi tôi cố ý, để bạn đọc xem ra cách vận dụng câu chữ dân gian của người xưa có chỗ nào kháp ý, kháp chữ với người viết bây giờ? Ở đoạn thơ trên, phía người lớn, Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng, còn trẻ nhỏ thì, Em chưa chúm cau/ Anh chưa thóc mách, thì vui quá là vui. Cả làng đêm tối kéo nhau tới tắm giếg làng (theo tập quán không quần áo) mà chẳng ai để ý đến chuyện sex (như bây giờ) và bắt bẻ gì được ở người viết. Họ chỉ mặc buổi chiều cho đỡ vướng, là tài thơ và diễn quá khéo! Em chưa chúm cau/ Anh chưa thóc mách/Đứng như khoai như sắn giữa đông người/ Như bức vách nhìn vào bức vách… thì, tác giả là ông nhộn trẻ, ông hóm trẻ nên không có ai chê khuyết chỗ nào!
Tuổi thơ quê nhà - Tình yêu -Chiến trận đan xen quay cuồng trong người lính:
Mưa đựng hết trê tàu lá cọ
Trên trời có ông đùng bà đoàng
Làm sấm làm chớp
Dưới đất có anh và em
Lập một thiên đường không biết sợ
Chỗ ta đứng ngày xưa
Thành chỗ ngắm của pháo bầy bom chụp
Chúng nó chia ô bản đồ Tổ quốc
Tính suất bom cho mỗi con người…
Kẻ thù điên lên pháo chụp bom giờ
Trăng mười bảy lại vá lành bến gãy
Con gái lại lên rừng con trai xuống biển
Nghe tiếng súng biết nhau đang ở đâu…
Kẻ thù suốt ngày mong cho ta chết
Còn ta thì nhớ em và thương mẹ mòn đêm…
Và:
Có miếng cao nai không sao gửi được
Mẹ ta đã ngoài sáu mươi!
Truyền thuyết Thánh Gióng được tác giả chuyển sang sự tích ông Khổng Lồ cũng rất hợp lý:
Hiện ra bước chân ông Khổng Lồ
Cơm gạo xềnh xoàng tình yêu quá cỡ
Bước chân ông Khổng Lồ thành giếng
thành ao
Con trai rửa mặt đánh trận xa nhà
Con gái gội đầu thành dâu hiếu thảo…
Rồi, dần hiện lên những vị anh hùng giữ nước chống giặc ngoại xâm làm nên những trang sử ngời chói của dân tộc:
Sông ta quăng lưới giặc đến đằng sông
Núi ta lấy nâu giặc tràn qua núi
Ngô Quyền nhìn người dân binh
cuối cùng trước giáo gươm giặc tới
Người lệnh cho thủy triều đầu quân
Sai rừng gỗ lim trùng trùng làm cọc.
Trần Quốc Tuấn đại bản doanh trên nước
Kế đầu tiên là kế nhân hòa
Lệnh đầu tiên: người hiền không bỏ sót
Đại yến của Quang Trung chỉ cơm nắm
muối vừng
Ăn trên mình ngựa
Yêu sĩ phu Bắc Hà không phải là một kế
Mà là luật tồn vong
Những danh tướng tra gươm vào vỏ
Huyền Trân công chúa ra đi một mình…
Tiếp đến:
Sau này người ta sẽ bới tro lật cỏ đi tìm
Giải thích nhiều từ cổ
Trọng điểm là gì?
Chốt là gì?
Hủy diệt là gì?
Khi ấy
Anh và em chẳng còn ai nhớ nữa
Bởi:
Ta đi từ đầu sông Lô tới cuối sông Thương
Từ thung lũng Sa Thầy ra sông Trường
trắngcát
Ta để lại Quán Hàu, Phà Hianh, Đường 20,
Đắc Tô, Ban Mê Thuột…
Nơi đói ăn mơ mộng sống quên đời!...
Thì ra, trong những cuộc chiến tranh vệ quốc ở tất cả mọi thời, những người con của dân tộc Việt Nam ra trận đều coi cái chết nhẹ như lông hồng!
Trường ca Sức bền của đất, dù tác giả không đặt đề từng chương, chỉ là chữ số La mã I, II, III, IV, V, người đọc cũng có thể biết. Ví dụ (Xin lỗi tác giả trước) chương I có thể là “Lên đường”, bởi cuộc đưa tiễn của người mẹ xa con, con xa mẹ mới da diết làm sao: 
Con không dám nhìn mẹ lâu
Mái chèo khua sóng đánh
Nước ngấn lưng đê sẫm lời mẹ dặn
Mùi trầu cay ấm hoài trên vai…
Để sang chương hai, Sức bền của đất là sự huy động Tổng lực của hậu phương với tiền tuyến, người đi xa với người ở lại, sự khốc liệt đạn bom ở chiến trường với lời xoan lời xẩm êm ả ở quê nhà. Tình mẹ con, tình bạn bè, tình yêu được tác giả dựng lên một thế trận đại cục của cuộc chiến tranh nhân dân (được trích nhiều thơ ở trên), thì đến chương ba là chương “Đối kháng và sự nham hiểm của kẻ thù”.
Kẻ thù không ưng ta gọi anh, em
Đừng chú bác ông bà gì ráo
Muốn phá vỡ quê hương bền dai trong máu
Chúng nhổ làng đi dồn vô ấp tân sinh.
Kẻ thù thật là “chu đáo” với ta
Bày trăm kế đầu hàng và phản bội
Duy có điều chúng không sao hiểu nổi
Người đến chiến hào mỗi sáng lại đông thêm
Con đường tấy lên như một lời thề
Đất gọi ta
Làng gọi ta
Nóng bỏng
Vịn vào cây ven đường nhẵn bóng
Ngỡ như đồng đội đỡ ta lên
Phục kích bất ngờ bắn giặc xóc xâu
Đánh bộc phá theo đội hình cuốn chiếu
Đột kích xe tăng đập rắn trúng đầu
Mọi cách đánh đều lấy lời chỉ vẽ
Từ công việc ăn làm mộc mạc ngày xưa…
Ở các chương, chương nào cũng khắc ghi vào tim người lính là dù ở đâu cũng phải sống đúng, sống tốt với bạn bè, có người trên kẻ dưới, mới hòa hợp mới làm nên công chuyện, để bước sang chương bốn là chương “Hồi tưởng”, và, những kỷ niệm của người lính về quê hương bản quán, về mẹ, về bạn bè trường lớp, về em lại càng thêm sâu nặng ân tình.
Còn bao sách chúng ta chưa đọc đến
Nhỡ hẹn liên miên với các giảng đường
Nhỡ hẹn với mưa phùn ải Bắc
Mai một cành thắt ruột kẻ tha hương
Nhỡ hẹn Chùa Thầy
Vặn nhỏ mặt trời để vào hang Cắc Cớ
Nhỡ hẹn Yên Tử, nhỡ hẹn Chùa Hương
Nhỡ hẹn Đền Hùng, chùa Tây Thiên,
chùa Độc Cước
Chưa đến Hội Lim
Thẫn thờ
Dải yếm
Chưa đi Hội Phủ Giầy, mê mẩn chầu văn…
Những ước mơ đẹp thế, mê ly thế nhưng quân thù trước mặt, cả ở sau lưng
Có những thằng còn núp trong bóng tối
Thằng sống sót rình bắn anh sau gáy
Thằng viện binh gào đại bác tầm xa
Báng súng gãy,
Lưỡi lê quăn
Trong trận giáp lá cà
Giặc chạy rồi
Anh dựa vào gốc cây ô môi mà thở
Khốc liệt quá, giữa sự sống và cái chết đang nằm trong gang tấc, nhưng khi tỉnh lại, người lính đã nhớ mẹ với ước mơ rất bình dị:
Sau cuộc chiến tranh này
Ta chỉ mang về một chiếc vỏ đạn
Làm cối giã trầu cho mẹ của ta.
Đến chương kết - tổng kết trận đánh. Thắng và bại, được và mất, tác giả không khai triển gì thêm, chỉ gói gọn trong 39 câu là vừa đủ ý và tứ cho một bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh vệ quốc, lập lại non sông gấm vóc của đất nước Việt Nam thống nhất mà tác giả - nhà thơ Hữu Thỉnh là người lính trong cuộc. Bởi thế, kẻ viết bài này cũng chỉ cần trích vài câu thơ ở cuối bản trường ca là đủ ý và tứ cho một thứ… gọi là… “Cảm thức văn chương”, vậy:
Chừng như là đã cuối cuộc chiến tranh
Nghe lá đạp trên đầu xao xác quá
Anh không còn trẻ nữa
Những khẩu súng kia đã lớn tuổi rồi
Mộ bạn nhờ rừng thiêng giữ hộ
Bè bạn xanh rờn ngày nhập ngũ
Thành vô danh trên khắp địa bàn
Thành tướng lĩnh cầm quân trận cuối
Và:
Mùa xuân sẽ đến thay lời kết
Trong khói bụi tơi bời anh và em tong tả
tìm nhau
Ta chao chân trên những mảnh bờ
Lặng lẽ nhận sức bền của đất
Đạp cứ điểm lần theo từng dấu dép
Ta nhận ra màu bùn qua những cánh
đồng chiêm.
V.N
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
TRƯỜNG CA BIỂN
Giải thưởng Văn học xuất sắc của Bộ Quốc phòng nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày thành lập QĐNDVN (22/12/1944-22/12/1994)
Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2012
CHƯƠNG MỘT: 
Dốc biển
Đi hết Trường Sơn ra với Đảo
Dốc lại dựng lên trong mỗi ngày thường
Mỗi ngọn sóng một đỉnh đèo thác trắng
Bóng mát thật hiền dưới vành mũ gian nan
Đến một ngày kia những người lính đã tới
biển của mình. Cuộc gặp gỡ của triệu năm với
đứa con trận mạc. Không chỉ là người lính lạ
lẫm, chính biển lạ lẫm đầu tiên. Biển thốt lên:
“Người thắng trận sao mà hốc hác quá”.
Những người lính cầm le te cành sú hoe vàng,
cầm luôn cả một miền che chở mới. Người lính
nói: “Tôi đi qua nhiều bóng mát để về đây”.
Bóng mát đã lùi xa. Mực tím đã trả lại cho
tuổi học trò. Tiếng gàu sòng đã trả về cho con
hạn hán. Trước mặt là biển, bốn bề là biển,
hình như phải nói một câu gì với biển. Và
người lính nói:
- Hôm nay tôi thấy biển lần đầu.
Biển nói:
- Mái gianh nhà anh không nói thế
Vại nước gốc cau nhà anh không nói thế
Người lính nói:
- Tôi phải làm gì.
Biển nói:
- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.
Đó là cử chỉ đầu tiên và nghi lễ cuối cùng.
Người lính nói:
- Mẹ dặn tôi: Ra sông lấy sóng mà yêu
Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin
Tôi đã tin và chưa hề bị ngã
Biển nói:
- Không ngã chưa chắc đã khỏi chìm.
Người lính nói:
- Có bí quyết gì sau lớp sóng kia chăng?
Biển nói:
- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.
Người lính nói:
Tôi đã đi suốt hai đầu đất nước
Biển hiu hiu thán phục
- Những vết thương của tôi nhiều hơn cả tuổi đời
Biển hiu hiu thán phục
Và biển chỉ hỏi anh đơn giản điều này:
- Anh có biết bơi không?
Người lính nói:
- Không phải ai cũng biết bơi. Thế mà sao vẫn
rất nhiều cái huơ tay hãnh tiến.
Biển nói:
- Họ đang bơi trên số phận của mình.
Một nửa trí khôn của con người là tìm cách
chứng nhận mình và chứng nhận lẫn nhau.
Người lính nói:
- Cây không đi tìm gió, nhưng kẻ thù sẽ đến
tìm ta. Ta lấy gì để che mắt chúng? Màu cát
hay màu biển.
Biển nói:
- Còn lại một mình anh.
Người lính nói:
- Tôi phải làm gì?
Biển nói:
- Sống với nước hãy bắt đầu từ nước.
Người lính nói:
- Tôi có nhiều bạn
Tôi cầm tay nhiều người
Nhiều người cầm tay tôi
Tôi sẽ gọi tên ai đầu tiên trong cơn khát biển?
Biển nói:
- Kẻ thù nói ngoài khơi có vàng và tìm cách
cướp vàng
Bạn bè nói ngoài khơi có sóng dữ và chia sóng
cùng anh
Hãy gọi ai không biến sóng dữ của kẻ khác
thành quà tặng cho mình
Người lính nói:
- Bao năm rồi tôi nhìn mây biết gió nhìn cỏ
biết mưa, cả cánh chuồn cũng giúp tôi chạy
thóc vào nhà trước khi cơn giông đến. Gió ấy,
cỏ ấy và cánh chuồn mau mắn ấy có giúp gì tôi
ở biển?
Biển nói:
- Đó là những đồng tiền để tiêu trên mặt đất.
Người lính nói:
- Bao vốn liếng cả một đời cóp nhặt
Bước xuống tàu thành kẻ tay không?
Biển nói:
- Những chiếc huân chương còn soi sáng trên bờ
Sống với nước hãy bắt đầu từ nước
Người lính nói:
- Xin tạm biệt những dây hòm dây cóc day mai
Đến thay đôi thiếu đứt
Giúp ta xong buổi cày
Xin tạm biệt những củ nâu mê mệt ngủ
Chín dần bên dấu chân voi
Xin tạm biệt những buổi trưa bát vỡ
những buổi tối hết dầu những ban mai thổi lửa.
Tạm biệt em, nỗi éo le của anh, dang dở của
anh cay đắng của anh; tạm biệt cơn khát tình
vằng vặc.
Em đã đến thở than trên sáo trúc
Xua đêm đi thành mộng mị đời anh…
Lời sóng 1
Những người lính ra đảo
Có dòng sông đồng hành
Năm dài và đất rộng
Vui buồn sau chiến tranh
Có người lính xây thành
Lẫn vào lau biên ải
Có bao người con gái
Đến thăm nàng Vọng Phu…
Biển thành nắng thành mưa
Của đất liền vòi vọi
Biển thành đêm thành ngày
Nồng nàn trê gối cưới
Em muốn đem tóc xanh
Buộc trời cho đỡ bão
Em muốn gửi tròn tay
Gối mềm trên đảo cát…
CHƯƠNG HAI:
Cát
Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình
Đảo có lính cát non thành Tổ quốc
Đảo nhỏ quá nói một câu là hết
Có gì đâu chỉ cát với chim thôi
Cát và chim và thêm nữa chúng tôi
Chúng tôi lên với áo quần ướt át
Với nắng nôi muối sát thân tàu
Đảo hiện ra thử thách bạc mầu
Bàn chân lính đánh vần trên đất đai Tổ quốc
Sau bao rợn ngợp
Hiện lên đời mình
Niềm vui nỗi khổ
Đo cùng trời xanh
Chưa kịp đặt ba lô
Chúng tôi cùng nhau bới cát
Dọn một chỗ nằm cho đồng đội hy sinh
Chúng tôi đặt anh cạnh mốc chủ quyền
Cát và cát
Ầm ào sóng biển
Gió và gió
Ngày ngày lại đến
Xóa đi phần mộ của anh nằm
Chúng tôi lại cùng nhau bới cát
Chôn anh thêm một lần
Cát và cát
Ngày ngày lại mới
Cát và cát
Ngày ngày lại trắng
Trắng như bàn tay trắng chúng tôi
Úp lên số phận của bạn mình
Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa
Cát ở đây là lối đi
Cát là chỗ ăn cơm, chiêu ngụm nước
Cát là giường nằm gối đầu lên cát
Cát theo lá thư đồng đội gửi về
Cát ở đây là tất cả
Cát là tiền duyên cát là điểm tựa
Nới chạm súng đầu tiên chốt chặn sau cùng
Sống cát là bệ tì
Chết cát là hoa tươi và nước mắt
Sống cát là màu che mắt địch
Chết cát là màu tang
Không có chỗ nào không có cát
Không có điều gì không có cát
Chúng tôi bắt đầu ngả bóng của mình lên
Bóng ngả về Đông về Tây về Nam về Bắc
Bóng chúng tôi nóng lên dưới cát
Bóng chúng tôi che lên Đất Nước
Giữ nguyên lời dặn của ông bà
Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa
- Cấm đi câu đi tắm một mình
Xuống nước phải mang theo dao găm
Lũ cá he hay bổ từ trên xuống
- Cấm bơi ra miệng vực
Ở đấy nhiều sóng ngầm nhiều cá mập
Và nếu chẳng may
Nhất thiết phải bơi đứng
Cá mập không quen săn mồi thẳng
- Không được lệnh quân y
Cấm ăn một thứ gì lạ
Những mệnh lệnh lạnh lùng
Chúng tôi học từ máu người đi trước
Chúng tôi học để làm quên và đứng vững
Để có thể nói rằng tôi đang ở Trường Sa.
Tôi đang ở Trường Sa
Trong đội hình Song Tử Đông, Song Tử Tây,
An Bang, Nam Yết
Kết bạn với vô cùng
Đảo rập rờn chìm nổi những quả cân
Cân người lính và hiểm nguy đời lính
Bạn tôi đang thổi sáo sau hầm
Bỗng ngừng bặt
Giữa chừng réo rắt
Chúng tôi chạy ra
Chấp chới cánh tay ngoài năm sải nước
Tiểu đội xếp hàng chuyển gạo
Sóng lườn quanh thân
Bỗng
Một tiếng thét
Một vũng máu
Một khoảng trống
Tôi gào lên
Im ắng rợn người
Tìm qua sóng
Gặp đàn cá mập
Rong rêu nhiều
Mà mất bạn
Bạn ơi!
Hôm đó đảo có thêm gạo mới
Chúng tôi đều bỏ cơm
Hôm đó đất liền ra thư
Chúng tôi bỏ thư ôm nhau khóc
Gạo chiều nay thành cơm cúng đưa tang
Thư chiều nay viết thêm vào lời điếu
Ngày mai lại có đoàn văn công
Em hãy đến
Ngổn ngang
Cùng im lặng!
Đời bao nhiêu trớ trêu mà đêm còn quá rộng
Đêm như là vắt kiệt các vì sao
Chúng tôi là lính đảo thời bình
Phải gồng mình cả khi yên tĩnh nhất
Để chống lại cái khoảng trống kia
Cái khoảng trống chực len vào đồng đội
Chực len vào giữa bạn và tôi
Cái khoảng trống lạnh tanh vô nghĩa
Có ngay trong chính bản thân mình
Chúng tôi vốc cát lên
Chúng tôi nghe cát nói
Chúng tôi bắt đầu như thế với Trường Sa
Tôi thức dậy với giấc mơ đầy cát
Cát đầy dấu chân chim
Chim đầy mùi trời
Trời đầy mùi thiên hạ
Công việc đầu tiên của một ngày là tiếp tục sống
Đôi khi phải gõ vào một cái gì đó
Để biết đảo có người
Đôi khi phải hát ê a vô nghĩa lý
Nhắc biển ta còn đây
Đôi khi nghe tiếng sét trong đài
Thấy trời đang gõ cửa
Đôi khi tối đèn tắt lửa
Ta bỗng dưng thành hàng xóm của ta
Gió Trường Sa
Biển Trường Sa
Nước thành vĩnh cửu có ta một thời
Trường Sa biển
Trường Sa trời
Có câu song sóng có lời tăm tăm.
Lời sóng 2
Ngày anh trống chỗ trong hàng
Mây đem một mảnh nhỡ nhàng về quê
Có chiều cỏ trắng trên đê
Vào ra có chị đi về lẻ loi
Ngày anh về
Lúa đồng cúi hạt
Nước mắt đi trước người
Mộ anh đặt nơi chăn trâu thuở nhỏ
Cỏ đeo sương
Đường kê vấp
Mãn tang anh chị vẫn chưa già
Có người lính ở Trường Sa
Đi cùng anh dạo ấy
Thơm nín hương cau
Bời bời hoa bưởi
Trời còn bao nhiêu thu
Tóc chị thắm làm thót lòng nội ngoại
Có người lính ở Trường Sa
Đi cùng anh dạo ấy
Hôm nay lúa lại nhen đòng
Chim bay ngược bão hoa trong thiếp mời
Hôm nay tái giá chị tôi
Liền anh cùng với bao người đứng trông
Chị tôi đi thửa hương vòng
Ngậm ngùi trên mộ cũ
Cháu ở lại cùng bà bống bống bang bang…
CHƯƠNG BA:
Tự thuật của người lính
Tôi sinh ra trước lúc lên đèn
Bóng mẹ sáng lại mờ trong mắt cha hoảng hốt
Trong căn nhà đất
Tháng hai buồn tiếng thạch sùng kêu
Mẹ đã dắt tôi qua những miệng vực sâu của
mọi sự rủi ro
Qua nhịp cầu không có tay vịn
Tiếng kẹt cửa cũng trở nên quá lớn
Khi con sài mẹ ngồi thức qua đêm
Nhà khó con đàn gió lọt qua phên
Kèo cột cũng khô gầy nữa mẹ.
Châu chấu cào cào xanh tím rủ tôi đi
Những bờ cỏ may những bờ trống ếch
Cây bưởi ca dao cây cau cổ tích
Tôi âm thầm nuôi bông bống trong chai
Con mang về con bống của mẹ đây
Từ những ao chuôm nghìn xưa để lại
Họ quát mắng tôi ném bùn xua đuổi
Con đi hôi cắp giỏ đứng trên bờ
Con tới đâu cũng gặp toàn đồng cấm
Họ rải tung cả gánh cỏ tuổi thơ
Vỏ trấu rắc khắp cánh đồng rải áo
Lũ chuột đồng chép miệng trong hang
Con đi mót gặp toàn gốc rạ
Chiếc nón mê tha thủi giữa đồng
Đồng vắt kiệt nằm than trong gió bấc
Trâu húc nhau trạch rúc xuống bùn
Chồng bấm vợ nhảy qua rào trốn thuế
Tiếng trương tuần thét lác đầu thôn
Không không không mẹ dặn tôi không
Ngọt chả sợ đường đường không sợ lội
Cha đi vắng tôi trèo lên cây ổi
Cây ổi cho một búp sâu kèn
Và cứ thế với sâu kèn tôi hát
Cố tin rằng tôi không bị bỏ quên
Trứng ốc nhồi nở trắng dọc bờ ao
Con ếch sọc dưa đi tìm tức tưởi
Trời sùi sụt những cơn mưa tháng bảy
Tôi ngấm đầy nước mắt những ngày ngâu
Đom đóm ơi đom đóm dẫn đi đâu
Đêm là tàu lá sen che nửa phần trái đất
Ấy là lúc những vì sao xa lắc
Nối với tôi qua một sợi dây diều
Hòn sỏi lăn qua đồi sống trâu
Con cun cút lách mình trong cỏ chỉ
Tôi biết đâu có ngày xa mẹ
Mùa đông rồi hoa chít vẫn ngây thơ
Mặt đất bằng bỗng nổi loạn tê tê
Tổ mối nhỏ cũng bao lần tan hợp
Chim ngói cả tin mắc lồng oan nghiệt
Ngọn tơ hồng chết nghẹn giữa bòng bong
Cơn lốc đen đánh úp lá bàng
Tôi cảm thấy mùa thu đang mất máu
Một chút lửa hoa dong riềng cuối dậu
Sợ một ngày sương muối đến đem đi
Không ai nói với tôi rằng hoa bưởi sắp tàn
Chiều chỉ có một mình chim gõ kiến
Hoa sim tím quả sim cũng tím
Đồi treo đầy những túi mật trung du
Chiếc đuôi chồn mất hút giữa lau thưa
Tôi ngồi nặn đôi bàn chân tiếc nuối
Nhưng tôi vẫn không thể nào quay lại
Dù con đường chỉ có cỏ may thôi
Chong chóng quay đón mẹ dưới chân đồi
Tay mẹ héo ruộng bậc thang cấy rẽ
Tôi đỡ chiếc áo tơi của mẹ
Mụn cua càng bò trên mảng sân con
Tháng tám khói lên lúa xuống đòng đòng
Đồi phủ phục những đàn voi ngái ngủ
Chim tha rác ở đâu về vội vã
Cả khu vườn muốn bứt lá đem cho
Giếng nước đá ong soi hộ tóc đuôi gà
Đồng gặt vãn cô lấy chồng xóm dưới
Chuông khánh ngân nga gọi người vào hội
Có miếng trầu trong túi áo nâu non
Mẹ thắp hương khấn chín cửa đền
Ngửa tay cùng trời Phật
Hoa đại thấu lòng rơi khắp đất
Quay về cú vẫn kêu đêm
Mẹ đành gọi bán lúa non
Liềm hái buồn quang gánh cũng buồn
Con muỗm xanh đi ở
Rơm rạ sang làm khói bếp nhà người
Bao giờ cho tới mùa sau
Lại mong rễ lúa bén vào giêng hai
Giêng hai về
Năm lại mới khi bước qua tháng chạp
Giếng nước ngày xưa có người con gái hát
Ai ơi khêu lửa làm chi
Mẹ đang chạy bữa
Làm sao lấy lại thời son trẻ
Thời son trẻ hoa xoan
Nằm trong mồ những quả khô gió lắc
Nhưng mẹ biết có một màu giấy điệp
Bay tưng bừng làm ấm cả cây nêu
Tôi sinh ra quả trám đã bùi
Rễ si buông cước lá sồi rưng rưng
Tôi chưa với tới trái bòng
Kiễng chân chóng mặt cầu vồng lên năm
Cầu vồng xanh đỏ tím vàng
Chim cu toan đuổi chuỗi cườm trời cho
Tôi chưa thấy thế bao giờ
Người ta mua bán chức hờ trong thôn
Người ta ra cúi vào luồn
Một manh chiếu cũng chia phần thấp cao
Cá rô rạch ngược mưa rào
Hám gì bỏ nước cầu ao vào lờ
Tôi lớn lên
Vó ngựa giật mình đôi sấu đá
Gươm giáo hai hàng quan võ quan văn
Ông nhịn mặc để ăn
Ông nhịn ăn để mặc
Người đói và người rét
Sơn son và thiếp vàng
Con sáo của mẹ tôi bay mất
Lượn một vòng qua mái tam quan
Tôi lớn lên
Có người thắt cổ sau chùa
Không ai kịp khóc
Chị sống đã mười chín năm
Người ta xóa đi trong nửa giờ đưa đám
Người ta coi cuộc tình là tội phạm
Cấy phướn sầu trên mặt đất hoang mang
Hồn chị tôi nhập vào hoành phi câu đối
Nhìn xuống bữa tiệc tàn
Từ nay chúng nó nói toàn vận rủi
Sập chân quỳ một chiếc huyệt đào ngang
Tôi được ăn bữa no đầu tiên
Cha phá kho thóc Nhật
Dòng khẩu hiệu trên nong nia thúng mẹt
Năm làng tôi đi cướp chính quyền
Tôi nhập tâm những chữ cái đầu tiên
Ngồi tránh đạn trong chiếc hầm thước thợ
Tôi còn dễ mất hơn
Hòn cuội trắng trong chiếc bao diêm nhỏ
Một đứa trẻ bị bỏ quên và dễ vỡ
Bị mắng hoài vì cài cúc so le
Tôi đã lớn để trở thành người lính
Thọc đôi tay vào chiếc túi của rừng
Chiến công đôi khi là tìm ra một thứ gì ăn được
Để có giấc ngủ yên mười lăm hai mươi phút
Chúng tôi đào hầm hì hục suốt đêm
Đã đem theo những căn nhà mái thấp
Đường vào Nam mưa mỗi lúa mỗi to
Đã dấu mình trong lá lau chi chít
Đã nấu nung để chớp giật không ngờ
Chúng tôi chưa bao giờ yên tĩnh
Đi như sông hiếu động như rừng
Đã để lại thảnh thơi cho cỏ
Và nhận về giông bão trên lưng
Đã khắc vào cây để nhớ một ngày
Để nhớ một người để thương đất nước
Đã để ít đời mình nơi ngã ba khốc liệt
Đã bông đùa xen kẽ với bom rơi
Tôi đã ăn những quả cà kho mặn
Hái trong vườn có nắng xiên quai
Có chú ve sầu làm tổ gốc cây
Kêu sốt ruột những ngày tôi đi vắng
Cố nhóm lửa lại vội vàng giấu khói
Cơm chín rồi cứ ngân ngấn thương nhau
Tiếng nai tác đi ăn than ngoài rẫy
Sao ta hoài thắc thỏm đâu đâu
Sao hay nhớ hay thương và hay vấp
Bước say mê trên sông núi hữu tình
Chiếc lá mở trước cửa hầm thân mật
Thư của trời súc tích chỉ màu xanh
Tôi đeo quanh cây của đất nước mình
Làm chùm quả dưới vòm trời nhiệt đới
Những chùm quả có nắng vào làm lõi
Cứ ngày ngày thơm thảo với quê hương
Tôi đã đi từ sự thất thường những dòng sông
phương Bắc
Đến muỗi mòng của gió chướng phương Nam
Chính khẩu súng cũng ra chiều nghĩ ngợi
Đứng ưu tư bên cạnh chỗ tôi nằm
Dưới bầu trời khắc nghiệt của chiến tranh
Tôi nói ít nhường cho lời súng nổ
Chính khẩu súng cũng giúp tôi gạt bỏ
Tính hiếu kỳ như một sự trớ trêu
Tôi kết bạn suốt chiến trường ngang dọc
Bạn nói rằng bạn cũng nhớ thương ta
Ngày giải phóng bàng hoàng nghe tin bạn…!
Tôi khó ăn khó nói đến thăm nhà
Con búp bê đi ngược đường ra trận
Đất nước những ngày sum họp đầu tiên
Cô gái yên lòng may một chiếc áo trắng
Người ta kể cho nhau cổ tích về rừng
Tôi chưa kịp về thăm căn nhà mái thấp
Trên đôi kèo có một tổ chim
Và tôi chưa kịp nói với em
Đường lắm cát làng mình thương nhớ quá
Trước mặt tôi bây giờ là biển cả
Lại gặp núi non trong những chóp sóng thần…
Lời sóng 3
Mầu ấu thơ của biển
Nhuộm bền trên áo xanh
Chỉ vài vuông cát nhỏ
Cũng có bao thác ghềnh
Lặn sóng mò đá
Vác biển lấp bờ
Trồng cây che chắn gió
Dựng nhà trên cát khô
Rồi thành xóm thành làng
Đường ngang và ngõ tắt
Mây đậu cuối ngày đông
Ngả sang chiều thân mật
Đời chẳng dễ dàng hơn
Sau bao nhiêu lời chúc
Ta chẳng dễ dàng đâu
Sao bao người đi trước
Cây thời gian nhích đốt
Âm thầm bao tâm tư
Nồng nã những cơn mưa
Mang hồn năm tháng cũ
Người trước bỗng hiện về
Qua mảnh sành mảnh sứ
Cầm thời gian lên soi
Đất đai màu nguyên thủy
Cầm hạt cát lên soi
Dấu chân bao thế hệ
Cổ nhân còn đâu đây
Như vừa ăn dở bữa
Giáo mác quắc đêm thần
Nhớ nhà ngồi khâu vá
Búi tóc dõi chân trời
Đùm nhau qua cơn khát
Be bờ và đắp đập
Nước Việt ngoài khơi xa
Tiếng Việt giữa phong ba
Ấm lòng người giữa biển
Bao lần quân cướp đến
Nhếch nhác bao màu cờ
Chúng nó châu như đỉa
Chỉ vì ta là người
Tiếng Việt gọi hồn Việt
Giữ đất Việt ngoài khơi
Tiếng Việt là ngọn cờ
Hộiquân trong đêm tối
Tiếng Việt để nhận nhau
Giữa bao nhiêu rắc rối
Cổ nhân vẫn còn đây
Máu chưa lành vết chém
Mồ hôi vẫn còn đây
Còn mặn hơn biển mặn
Nợ cũ còn đây
Biển nham nhở sẹo
Nổi chìm bao kiếp
Dìu đảo ngoi trên sóng
Chim có nơi nghỉ cánh
Ngày về trên cát tươi
Nồi chìm bao kiếp người
Qua tháng năm sứt mẻ
Cho Tổ quốc tròn lên
Việt Nam
Hai tiếng Mẹ.
CHƯƠNG BỐN:
Đất này
Tiếp đạn
Tiếp người
Hôm nay ta tiếp đất
Đất xẻ mình ra chắn sóng ngoài xa
Đất nặn thành gạch
Gạch sợ một mình
Tìm đến vữa
Đất ra khơi bắt gặp bức tường người
Đất dựng nên làng
Từ buổi cha ngâm mình trong nước
Vớt đất lên trong nước nóng luộc người
Cha bưng đất và bưng mồ hôi ngày khởi nghiệp
Không có đất không thể nào sống được
Cha nhễ nhại trước nỗi thèm khát đất
Đêm nằm mơ giun dế cũng thân tình
Cần có đất để làm quê hương
Cần có quê hương để vui buồn sướng khổ
Đuôi trâu phất nửa vòng ngõ nhỏ
Gọi chiều về qua những mảnh tường chai
Luống hành hoa gọi rạ đứng lay phay
Người tứ phương hội tụ về đây
Cắm cọc treo nồi
Đóng đinh móc rế
Trồng mùa thu bằng cây thị
Thả mùa hè bằng ngó sen
Cây lan có tên cho cô Lan có tên
Cây trúc có tên cho cô Trúc có tên
Lan và Trúc say lòng những chàng trai mới lớn
Lan và Trúc tiễn bao người ra trận
Và chiều nay cha gửi đất cho con
Đất chẳng bao giờ héo
Trời thăm thẳm không mòn
Khi vui chán vạn khi buồn một ta
Đất này
Đất này
Làng nước gửi ta
Cơm nắm cơm đùm
Đi từ buổi trăng nom còn ú ớ
Người đổi phiên chợ
Kẻ nhường công trâu
Đất đi qua biển thì mau
Người đi qua nỗi khổ đau thì dài.
Đất này
Đất này
Quê ta ngày hội đất
Đất đi đến đâu quê hương theo đến đấy
Quê hương đi đến đâu máu đi theo đến đấy
Máu chẳng bao giờ cũ
Cuốc cuốc cứ kêu hoài
Có nghe cuốc cuốc kêu hoài
Đèn khêu xóm vắng, bão ngoài biển xa
Người quê nhận đất quê ta
Đảo xin một mảnh sân nhà phơi trăng. 
Lời sóng 4
Trên bãi cát những người lính đảo
Ngồi ghép nhau bao nỗi nhớ nhà
Chiều áo rộng vài vạt mây hờ hững
Họ cứ ngồi như chum vại hứng mưa
Sóng lại đến theo lời hẹn cũ
Sóng mang về những đôi giày trẻ nhỏ
Những đô la ướt sũng, những phao bơi
Tang vật buồn đau của những kiếp người
Đảo tái cát
Khóc oan hồn trôi dạt
Tao loạn thời bình
Gió thắt ngang cây
Nếu họ ghé một lần thăm lính đảo
Rối ren kia chắc có cách trả lời
Ta xin biển mỗi ngày lặng sóng
Cho những linh hồn dưới đáy bớt đơn côi
Đất hãy nhận những đứa con về cội
Trong bao dung bóng mát của người
Cây hãy gọi bàn tay về hái quả
Võng gọi về nghe lại tiếng à ơi…
À ơi tình cũ nghẹn lời
Tham vàng bỏ ngãi kiếp người mong manh.
CHƯƠNG NĂM
Hóa thạch những dòng sông
Những dòng sông quờ quạng  tìm nhau
Dưới đáy biển
Những dòng sông chết
Biển âm u đáy huyệt
Hồn sông đi lang thang
Sông về trước thì được ung dung
Sông về sau thì làm phó nhỏ
Bóng cầu theo về được làm quan văn
Mái chèo theo về thì làm quan võ
Người kết bè kéo vó
Hết sông đi vớt bèo
Những dòng sông dưới đáy biển tìm nhau
Vừa thấy bóng lại thủy triều xô dạt
Mênh mông đến và mênh mông xóa mất
Sông lại lang thang
Tiếng hú gọi làm giật mình cá quẫy.
Sông Mã tất bật
Sông Hương dịu dàng
Sông Hồng bồi đắp
Sông Thương đa mang
Ai biết được những gì khi sông về gặp biển
Nơi cá quay đầu thì phù sa tìm đến
Phù sa còn bao nỗi nông sâu
Sinh ra biển để thử sức
Sinh ra trời để thuận hòa
Sinh ra sông để đem cho.
Cho những buổi trưa đàn trâu mộng dầm
mình trong nước sóng sánh. Cho bên lở bên bồi em
sang thành cô dâu,anh về thành chú rể. Cho
lóng một lóng đôi rổ rá giần sàng, che chắn gió
biến thành kẻ ăn người ở.
Cho bên ấy bên này diệu vợi, cả tiếng gọi đò
cũng là quà tặng của dòng sông.
Khi gặp biển đó là lúc sông đem cho lần cuối,
một cuộc đời cho trọn vẹn huy hoàng như thơ cho,
như mùa dâng quả, cô gái đi làm mẹ nơi xa để
lại sau lưng bao tiếng thở dài. Và khi không
còn gì để cho, sông như tráng sỹ không còn vũ
khí, giáo chủ không còn mật kinh, võ sư không
còn bí quyết; sông như nghệ sỹ đã sắm xong
vai, một kẻ trắng tay giàu có đo mình bằng
kích thước của biển.
Đức hạnh của sông là đa mang
Dung nhan của biển là bình thản
Vẻ đẹp của sông là không tỉnh táo
Nỗi khổ của biển là sở hữu không cùng
Sông - những cây nước khổng lồ
Bóng mát mệt mê mang mang bồi đắp
Sông góp củi cho nồi cơm lớn
Lòng vị tha là người khách sau cùng
Dưới đáy biển
Sông lang thang tìm lại các dòng sông
Trên mặt sóng
Đảo đang vào mùa nắng
Sông đi sông đi vờ vật sông đi
Tìm lại mình trong biển
Biển nói bằng muối chát
Sông không nghe được gì
Thỉnh thoảng lại tung lên vài trận bão
Vò mây chơi
Thỉnh thoảng lại cho vài chú cá ngáp
Tuột khỏi vòng luân hồi
Cá chớp mắt: Ta lên thăm lính đảo
Xem đời có gì vui.
Ta bới sóng đi tìm các dòng sông
Như người đào than tìm lại cánh rừng
Những dòng sông hóa thạch
Những dòng sông than thở
Sông tan vỡ trách dòng sông lỡ hẹn.
Ta bới sóng đi tìm các dòng sông
Gặp cái chao chân khi em mười tám tuổi
Ta đi vớt tiếng sáo diều đắm đuối
Thúc ba hồi trống quân
Thúc trống quân cho cá hóa rồng
Cho cô tiên về xóm
Cho nón hóa vầng trăng
Vầng trăng quệt vào anh
Tương tư từ dạo ấy
Ta bới sóng đi tìm các dòng sông
Thấy cau bỏ già
Trầu không để úa
Yêu nhau không lấy được nhau
Trả gương cho chợ
Trả ngói cho đình
Ngói còn nguyên ngói mà mình tay không
Trả lại tơ hồng
Ông tơ bà nguyệt
Trả lời cam kết
Cho người đa đoan
Ta bới sóng đi tìm các dòng sông
Gặp Trương Chi cắm sào đứng hát
Mỵ Nương vẫn đang ngồi khóc
Nước mắt thành ngọc trai
Tình là gì mà trái đào xà tích
Duyên là gì mà yếm thắm bao xanh
Phận là gì mà em phải xa anh
Gặp nhau vẫn gặp nhưng đành quay đi
Tóc em dài gội lá đài bi
Cuộc tình ngắn bỏ buồn cho bến vắng.
Ta bới sóng đi tìm các dòng sông
Gặp nàng Tiên Dung đội cát
Cát bàng hoàng
Thế gian mờ mịt
Vì nàng đem hết vầng trăng
Tiên Dung Tiên Dung
Thần ái tình bậc nhất
Khiến nàng Kiều xăm xăm nhường bước
Hồ Xuân Hương mời trầu
Ta bới sóng đã lâu
Tìm thấy sông hóa kén
Sông trao mình cho biển
Như cây trao bóng cho rừng
Về biển thì hết sông
Không về thì không được
Ta lặn xuống tầng sâu
Đời vẫn còn chảy xiết
Ta vớt sông Hương
Làm xanh lại tán lá bàng
Búp nhỏ hữu tình xanh biếc đảo
Sông Mã ta trả về cho bão
Ta vẩy sông Hồng làm hoàng hôn
Ta cất sông Mã vào chiếc hộp đàn
Đêm dài nghe chuyện thác. 
Lời sóng 5
Anh một mình với một chéo dù hoa
Gấp tư đêm làm gối
Bốn mươi năm mưa nắng xa nhà
Biết trong cơm có sạn
Biết gói bánh thêm lá
Biết ngồi như đêm
Anh lặn qua cái chết
Mãnh liệt một mầm cây
Anh đã húp bát cháo loãng cuối cùng của
chiến tranh
Rồi lặng lẽ đi rửa bát
Kẻ thù thường phục kích
Chập choạng tối chập choạng sáng
Lúc có nhiều đom đóm
Ngọn đèn thường cô đơn
Sau giải phóng Sài Gòn
Anh ra đảo.
Biển đã hút của anh bao mồ hôi
Với thói quen của chiếc giấy thấm khổng lồ
Và anh cũng hút biển
Với lời khuyên của những chiếc rễ cây
Mỗi ngày cây lại thêm lời
Lăn tăn nơi anh đứng
Nơi anh đứng chọn tầm cho pháo bắn
Bao năm rồi biển thổn thức gương soi…
Cát mỗi ngày mỗi nóng
Biển mỗi ngày mỗi xưa
Lúa chín bao năm ngả vào tay người vợ
Đồng tiền lẻ nhảy cò qua đốt mía
Những đứa con khôn dạiphía sau mình
Những đứa con sinh ra trong chiến tranh
Sống tản mát dưới những hầm trú ẩn
Chị để con mỗi đứa ở riêng hầm
Bom có trúng cũng không thành tay trắng
Những đứa con nhớ anh qua rừng giờ nhớ anh
qua biển
Cơm khô cơm khét
Vắng anh
Áo quần dây mực
Vắng anh
Xóm giềng ta thán
Vắng anh
Lá đa rơi ngoài ngõ
Lá đa vắng anh thành chú mèo tam thể
Chú mèo khôn từ thủa lên ba
Dạy con anh
Lúc lên đèn
Không nhìn sang hàng xóm
Anh nhớ con anh phất một lá diều
Ba tầng sáo chắc đất liền nghe thấy
Những ô cửa xin đừng khép vội
Đảo nói gì thao thiết giữa không trung
Tiếng sáo diều làm biển bớt mênh mông
Vầng trăng đứng
Tự nghe mình
Lặng lẽ…
CHƯƠNG SÁU:
Bão biển
- Hoàng ơi, ở đâu
- Vũ ơi, ở đâu
- Vân ơi, ở đâu
Tiếng gọi lính mịt mù bão cát
Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết
Đảo tìm nhau xếp lại đội hình
Bão vò cây gào rít điên cuồng
Tóc của bão là lá cây rách mướp
Tay của bão là sóng thần rợn ngợp
Cả đất trời say sóng ở Trường Sa
Trong bão gió chúng tôi đo Tổ quốc
Bằng đôi tay vượt biển lính xa nhà
Ngày thứ ba một mình bơi trên biển
Anh thành đám bọt mong manh
Ba ngày không ngủ
Ba ngày không ăn
Hy vọng bập bềnh ván thuyền gãy nát
Bão bứt anh khỏi đảo
Như chiếc đinh bật khỏi con tàu
Và bây giờ anh bơi
Biển ngấm vào anh thành một khối mặn chát
Sóng ngấm vào anh thành muôn nỗi lênh đênh
Bão ngấm vào anh thành niềm khao khát sống
Anh là biển trôi trên biển
Chống lại cái chết trong vùng chết
Biển chưa thu xong những mảnh vỡ của mình
Anh le lói bơi đi bằng sức mạnh bí mật của hy vọng
Rất nhiều lần anh chạm chân vào đáy quan tài
Lại cố sức ngoi lên
Như từ triệu năm quyết liệt quay về
Tìm lại đảo
Một chỗ đứng, một tên gọi
Cả vũ trụ so găng đấu với một mình anh
Nghìn cái chết kéo co với sinh linh bé nhỏ
Tất cả những gì chưa sống nói với anh không
thể chết
Tất cả những gì đã chết nói với anh phải sống
Và anh bơi bơi mãi
Mịt mù biển mịt mù trời
- Hoàng ơi, ở đâu
- Vũ ơi, ở đâu
- Vân ơi, ở đâu
Tiếng gọi lính mịt mù bão cát
Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết
Đảo tìm nhau xếp lại đội hình
Anh chẳng nghe thấy gì ngoài toàn thân lạnh toát
Bão bịt hết lối về
Cửa nhà xác mênh mông
Mẹ ơi!
Mẹ không biết con đang một mình giữa biển
Biển có tất cả để xóa con bất cứ lúc nào
Còn con thì tay trắng
Mẹ đã nuôi con lớn
Đã dạy con khôn
Sống sướng vui và đau khổ với con người
Sống dễ dàng và khó khăn với con người
Sống cởi mở và phòng xa với con người
Biết đem cho mà không làm người được cho
cảm thấy mắc nợ
Biết nhận mà không sợ bị coi là tham lam
Và khó nhất là biết từ chối
Nhưng phải sống thế nào khi một mình giữa biển
Mẹ chưa kịp dạy con
Con phải dựa vào kinh nghiệm cũ
Không thể chết vì chán nản
Bơi sấp rồi bơi ngửa
Vẫy vùng rồi cầm hơi
Tung sức ra thì dễ
Thu sức về thì khó
Khó hơn nữa là biết thở cùng biển
Điều này giống như sống trên mũi giáo
Mẹ ơi, khi con đau đớn nhận ra bộ mặt
hung dữ của cái ác
Cũng là lúc con nhận ra sức ấm vô cùng của
lòng tốt
Mảnh ván con bơi là lòng tốt cuối cùng
Trên thế gian đầy bất trắc
Ngày thứ tư, con “đi” trên biển
Bằng đôi tay của mình
Số phận biến con thành một chú bọ gậy ngang tàng
Không chịu chết vì chán nản
Và khi cả người con dán chặt vào đất
Như một - con - tem - người
Dán vào dòng đời
Con bỗng nhận ra không phải lá cờ ta
Không phải mẹ
Không có cái chết nào nhục nhã hơn là sống
không phải mẹ
Bao hiểm nguy con xin lại bắt đầu
Con xin lại bắt đầu bằng lời ru trong suốt
Ra sông lấy sóng mà yêu
Đường xa gặp núi lấy đèo mà tin
Con lại lao ra biển
Một chiếc phao thoi thóp bơi đi…
- Song Tử đâu?
- Nam Yết đâu?
- Sinh Tồn đâu?
Tiếng lính gọi mịt mù bão cát
Tiếng gọi lính từng giây khẩn thiết
Đảo tìm nhau xếp lại đội hình…
Hà Nội 1981-1994
LÂM QUÝ
- Họ và tên khai sinh: Lâm Văn Quý
- Sinh năm 1947
- Mất năm 2007
- Quê quán: Xã Quang Yên, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc
- Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (từ 1993)
- Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Vĩnh Phúc
- Tác phẩm chính đã xuất bản:
* Hát về nguồn (Thơ in chung, 1980)
* Núi mọc trong mặt gương (Thơ in chung, 1981)
* Điều có thật từ câu dân ca (Thơ, 1990)
* Kó Lau Slam (Truyện tình thơ, 1991)
* Tình thơ Cao Lan (Thơ, 1997)
* Truyện cổ Cao Lan (Chung tác giả, 1982)
* Truyện cổ Sán Chay (Sưu tầm, 2001)
* Chàng út của ông mặt trời (Truyện ghơ, 1995)
* Cô gái nghèo và chàng Tiên Lợn (Sưu tầm, 2001)
* Truyện Sưu và Mốc (Truyện thiếu nhi, 2002)
* Xịnh ca Cao Lan (Dịch thơ dân gian cổ, song ngữ, 2003)
* Văn hóa Cao Lan (Nghiên cứu, sưu tầm, 2004)
* Văn hóa các dân tộc Vĩnh Phúc (Nghiên cứu sưu tầm, 2005)
* Cái lều nương (Tập truyện ngắn, 2006)
* Hoa đỏ lửa (Thơ, 2007)
- Giải thưởng văn học:          
* Giải Nhì thơ, Giải thưởng Văn học Hùng Vương - Vĩnh Phú, 1991
* Giải Nhất thơ tỉnh Yên Bái, 1997
* Giải B thơ Báo Văn nghệ - đề tài dân số kế hoạch hóa gia đình, 1995
* Giải B văn tỉnh Yên Bái, 2000
* Giải B văn tỉnh Vĩnh Phúc, 2006
- Suy nghĩ về nghề văn:
Văn là sáng tạo ra con người chân chính, làm đẹp cho con người chân chính, đồng thời cũng là liều thuốc chữa cho con người chưa đẹp. Mẹ tôi - một bà lang mế dân tộc Cao Lan suốt đời đi thu hái những cây tầm gửi về nấu cao. Thứ cao lá màu xanh đậm gọi là cao Péc dịch nghĩa là chữa được bách bệnh. Mẹ tôi bảo: Con muốn làm được thơ hay, hãy học cách nấu cao của mẹ. Tôi đã đi đến nhiều miền quê đất nước, tiếp xúc với đồng bào các dân tộc… và “hái” được những lời nói đẹp về “nấu cao” sáng tác ra những tác phẩm văn thơ là thứ Cao ngôn ngữ. Ai muốn khỏe người chỉ việc cho chất “cao ấy” vào ngâm rượu nhâm nhi rồi sẽ thấy khỏe người và đẹp lên.
A- TRONG KÝ ỨC BẠN BÈ:
LÂM QUÝ NGƯỜI VÀ THƠ
Ngô Văn Phú  
Tôi từng uống rượu với Lâm Quý từ những ngày gặp anh ở Vĩnh Yên. Quý uống rượu giỏi, vừa uống vừa đọc thơ và thường là thơ của mình. Thường các nhà thơ người dân tộc thiểu số, thơ có lối ví von khá ngộ nghĩnh và sinh động. Lâm Quý cũng có những câu thơ như thế.
Lối nói đầy hình ảnh cũng là sở trường trong
“Tình thơ Cao Lan”:
Tiếng hát em khéo vặn chạc thừng
Vặn xoắn tình anh vào đấy
Chạc để buột trâu dưới gậm
Để buộc bò dưới sân
Nỡ buộc tình anh vào cột
Cột nhà em bằng lim
Trâu ghếch sừng là đổ
Cột nhà em bằng táu
Bò hẩy chân là xiêu
Cột tình em yêu yêu
Anh xoay bên này hẩy
Vòng bên kia anh du
Mà sao vẫn đứng dậy
Tiếng hát em khéo vặn chạc mây
Vặn xoắn tình anh vào đấy…
(Tình em đêm hát ví)
Lâm Quý không những yêu vẻ đẹp của dân tộc mình mà còn yêu thiên nhiên, thi ca, con người của những dân tộc khác. Anh yêu tiếng khèn của người H’Mông.
Con chim sau hè nó hát
Nhớ tiếng sáo anh
Em lấy cài khèn
Thổi lên bên bờ suối
Con cá dưới
Con chim trên cành
Nhìn xuống
Cá si ta gửi lời nhé
Đem ra sông ra biển
Tìm đến chỗ người yêu
Chim si ta nhờ mi
Ngậm tiếng khèn bay đi
Đến chỗ người yêu ta hót.
(Tiếng khèn bên bờ suối)
Anh nhắn nhủ cô gái Mơ - Nông đi hái măng chớ hái nhiều, để buôn làng còn nuôi tre cứng cáp, biến tre thành những cây chông chống quân Pháp xâm lược, giữ làng cùng với dân làng:
Ơ cô gái Mơ - Nông
Hái măng chớ hái nhiều em nhé
Lồ - ô đang vào mua sinh đẻ
Giúp những việc gần xa
Cây Lồ - ô chín nắng mười mưa
Cũng au đen như lưng cha lưng mẹ
Cũng cần cù nuôi con từ thuở bé
Ngày ngày mong con lớn lên
Thành ngọn chông, con là người du kích
Giữ buôn làng, giữ rừng Lồ - ô
Thành ngọn đuốc con là người đi trước
Soi đường cho bộ đội dân công
Vào mùa chiến dịch.
(Rừng Lồ - ô)
Anh ca ngợi Hnét, để đọc được thư chồng đã vui vẻ tình nguyện học cái chữ của Bác Hồ:
Đến mùa hoa Krinh
Chồng Hnét sẽ về
Đem quà vui miền Bắc
Và cả chữ Bác Hồ
Đựng đầy bao ý Đảng
… Đêm nằm nựng hôn con
Đặt thư chồng lên ngực
Chẳng biết chồng nói gì
Cái đầu nghe nhưng nhức
(Cứ nhờ người ta đọc
họ biết hết chồng mình).
Hôm sau buôn làng gặp
Hnét đi chợ về
Tay cầm hai cây bút
Quyển vở giấy trong ngực…
(Chuyện riêng của Hnét)
Lâm Quý còn là dịch giả biết đem dịch từ nguyên tác bản trường ca tình yêu cầu dân tộc mình để giới thiệu với bạn đọc. Kó Lauslam kể lại thân thế và sự nghiệp của nữ thần thơ ca người Cao Lan Lauslam, là truyện thơ dân gian đã được lưu truyền từ tổ tiên bao đời trước. Tiếng ca là nguồn sống, làm đẹp cả núi sông, hoa lá:
Người đăng gặt áo ấy
Hỏi lại bằng câu ca:
- Ngọn lá trôi từ đâu
Chòng chành đầy câu hát
Bông hoa trôi về đâu
Làm cả dòng sông đẹp
Nếu không chê hoa xấu
Mời ghé bến làng nghèo
Chẳng có gà mời rượu
Chẳng có cơm mời ăn
Chỉ giầu lòng mến khách…
Truyện thơ được dịch rất nhanh thoát tưởng như là người dịch cũng chính là tác giả. Đoạn tả ngày hội như còn sinh động, đầy hứng thú:
Nàng xuống núi cùng con gái nèm còn
Cùng con trai hát ví
Những quả còn tua xanh lại lượn trên mây
Quả còn tua vàng rơi xuống đất
Như đàn cú chao mồi
Bay đi bay lại
Như con chim cu vỗ cánh bay vút
Lao qua gầm trời đậu trên ngọn cây mai…
Nhà thơ Nguyễn Cảnh Tuấn nhận xét về Lâm Quý rất ưu ái:
“Tính tình ngay thẳng thật thà, cương trực. Am hiểu vốn văn hóa, ngôn ngữ, chữ viết của dân tộc mình; là một thấy (trí thức dân tộc) được cấp sắc, nhiều uy tín với dân tộc Cao Lan. Ngôn ngữ thơ văn độc đáo, mang đậm nét màu sắc dân tộc. Cha là một trí thức người CaoLan, mẹ là người giỏi hát dân ca.
… Thơ Lâm Quý xét về đê tài, thể loại dẫu khác nhau, nhưng âm hưởng vốn dân ca, truyện cổ, truyện thơ của dân tộc Cao Lan đã tạo nên đứa con tinh thần của anh được tắm mát trong môi trường văn hóa thuần khiết riêng biệt”. (Dân tộc Cao Lan có nhà thơ Lâm Quý) .
Tôi thì nhớ Lâm Quý với chiếc mũ nồi đội lệch, chiếc áo dân tộc, đôi khi miệng ngậm chiếc tẩu, khói thuốc bốc lên nghi ngút. Gặp tôi, lặng lẽ chào:
- Anh lại về quê đấy à?
N.V.P
LÂM QUÝ, NGƯỜI SAY MÊ TÌM VÀ HÁT TIẾNG HÁT CỦA DÂN TỘC MÌNH 
Trần Quang Quý
“Bản tôi có thần Ca Hát/ Nhập vào đâu cũng cất nên lời…/ Chuện cổ tích bản tôi xưa trông/ Hát suốt mua đông không hết”. Hồn nhiên hát, mê say hát, và hát mê say đến: “Khi vui hát ngả nghiêng cây núi/ Khi buồn hát đuội cả dòng sông”; hát đến nỗi “Có cô gái bỏ chồng đi hội/ Lội qua suối ướt đầm tất cả/ vẫn địu trên lưng tiếng hát người tình…” (Cổ tích bản tôi).
Mở tập Tình thơ Cao Lan (NXB Hội Nhà văn, 1997) một cách ngẫu nhiên và gặp đúng bài thơ Cổ tích bản tôi của Lâm Quý (viết 1987), tôi bỗng thấy rõ hơn những gì tôi từng đọc Lâm Quý, nhớ về Lâm Quý. Chân dung thi sĩ của anh hiện lên một cách sáng rõ, như dòng mạch chính mà tôi muốn soi chiếu về anh, người thi sĩ mê say tìm và hát tiếng hát của dân tộc mình. Tìm từ cội nguồn dân ca, tình ca đã có từ xa xưa cổ tích, xa xưa truyền thuyết. Đó là sự thăng hoa, là “căn cước” văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Và vì thế, vùng đất ấy, dân tộc ấy có lý do tồn taại à trường sinh, một cách bình đẳng trong cộng đồng nhân sinh hiện hữu.
Câu chuyện thơ của Lâm Quý như đề cập, có thể vắt đầu từ ngoài trang sách. Năm 1980, lần đầu tiên tôi gặp Lâm Quý ở Trại sáng tác văn học nghệ thuật của Hội Văn nghệ Vĩnh Phúc ở Việt Trì. Khi đó, anh là phóng viên thường trú của TTXVN tại Vĩnh Phú. Trong vài lần hứng khởi của rượu nút lá chuối, lạc rang và “phê” thuốc lào, anh khoe có một chum thơ mới, mang hơi hướng văn hóa của dân tộc mình, đang được bạn bè cùng trại viết khen ngợi, cổ vũ. Những bài thơ sau đó được in trong tập thơ đầu tay Hát về nguồn. Đó là các bài Em là tiếng hát, Tâm sự với hoa văn, Đồng cổ biển xanh, Điều có thật từ câu dân ca… Không chỉ hào hứng với những sáng tác mới, Lâm Quý còn nói nhiều về Rasul Gamzatov, về cuốn Daghenstan của tôi đang rất nổi tiếng của Gamzatov và anh thích thú những nghiệm sinh, triết lý độc đáo, sâu sắc của nhà thơ Abutalip về con người, văn hóa của người Daghestan, như một ngầm ý, anh cũng muốn làm “Đại sứ” thi ca, đại sứ văn hóa của dân tộc Cao Lan (San Chay) của mình ở Việt Nam.
Hát về nguồn (In chung với Hà Phạm Phú, 1982) đã tự nó xưng danh cho duyên thi và nghiệp thi của Lâm Quý ngay từ những sáng tác đầu tiên. Nghĩa là anh hát, anh ngợi ca vẻ đẹp con người, hồn đất đai song núi, những biểu tượng văn hóa ngay ở những họa tiết hoa văn, lối xưng tụng, phóng đại thường thấy ở các dân tộc vùng cao… bằng thi pháp “Ca trữ tình, thể hiện ở nhịp điệu, tiết tấu của những câu thơ ngay ở trong sự vận động của nó, nhưng không mượn giọng, giả giọng ngô nghê để cố làm cho ngôn ngữ có “bản sắc”. Điệu ca ấy dường như thống nhất trong toàn bộ thi phẩm của Lâm Quý, dù sau này xu hướng thơ sau 1975 đã có một bước chuyển trong giọng điệu, cấu trúc, ngôn ngữ và thái độ tiếp cận đời sống.
Thái độ nhập cuộc thi ca ấy của Lâm Quý là thái độ dấn thân “Ta đã vứt bỏ tháng năm / đi cùng trời cuối đất / tìm em/ em là tiếng hát…” (Em là tiếng hát). Ta có cảm giác những câu thơ ấy như là ca từ. Tiếng hát gắn với Em, tức tình yêu, tiếng hát cũng là những giá trị tình thần cao đẹp, hấp thụ những tinh lực đời sống tự nhiên và xã hội, mà ở Lâm Quý, nó có sức mạnh truyền cảm, lay thức, làm thay đổi đời sống thật ghê gớm: “Anh bưng cánh đồng/ Sàng tròn ngọn gió/ Cho tiếng hát rơi vào hạt lúa/ lúa mở choàng đồng xanh/ Rơi vào bông ngô/ Hạt ngô xếp hàng phồng bầu sữa/ Rơi vào ngọn cỏ/ Tỉnh bừng mắt con trâu/ Rơi vào quả bầu/ Tiếng đàn lượn dài con suối…”. Có thể trong khi tang truyện cổ tích phong phú của dân tộc, Lâm Quý bị “thôi miên” bởi bà chúa thơ ca Cao Lan, nàng Lau Slam, người được dân tộc Cao Lan cho rằng, tất cả những bài ca, lời ru, câu hò, điệu ví của Cao Lan đều do bà chúa thơ ca - Nữ thần nghệ thuật độc đáo này sáng tạo nên. Và Lâm Quý muốn làm “truyền nhân” tinh thần sáng tạo, những giá trị văn hóa nhân bản truyền tồn, thấm vào hồn đất đai sông núi của Lau Sla, trong Hát về nguồn (Hội VHNT Vĩnh Phú, 1981), trong Tình thơ Cao Lan (NXB Hội Nhà văn, 1997), trong Điều thật trong dân ca (NXB Văn hóa dân tộc, 1998)… Đặc biệt, anh đã bỏ nhiều công sức để dịch và phóng tác Truyện tình thơ Cao Lan Kó Lau Slam (Sở VHTT và TT Vĩnh Phúc, 1991), tức chuyện của nữ thần nghệ thuật Lau Slam mà anh tôn thờ và luôn khơi dậy trong cảm hứng sáng tạo của mình.
Ta không ngạc nhiên, vì sao những bài thơ gợi nhất, lung liếng nhất, lay thức nhất, được nhắc nhớ nhất chính là những bài trữ tình, gắn với tình yêu, chạm vào hồn vía của dân ca, tình xa, được thể hiện qua các biểu tượng tình yêu, từ đấng sinh thành, từ nguồn cội Cha trời - Me đất như một tín ngưỡng, đến Anh và Em… và mượn tiếng hát, mượn các khí cụ như tiếng khèn, tiếng đàn, mượn cánh chim, dòng suối… để chuyển tải những tâm tình và khát vọng tình yêu đôi lứa, khát vọng sống: “Trời xui anh thương em/ Đất bảo em yêu anh/ câu dân ca là vỏ/ Bao quanh hạt giống tình/ Mẹ đem gieo xuống đất/ Mọc lên cây Yêu thương…” (Điều có thật từ câu dân ca). Lâm Quý mê hát, cụ thể hơn là mê dân ca tình yêu. Tiếng hát luôn là cái cớ để anh gửi gắm những tâm sự của mình: “Tiếng hát em khéo vặn chạc mây/ Vặn xoắn tình anh vào đấy…” (Tình em đêm hát ví). Khi nghe một “Tiếng khèn em da diết/ Con cá dưới suốt quên bơi…”, anh lại chạnh lòng nhớ đến người yêu, mà thảng thốt: “Chim ơi ta nhờ mi/ Ngaamj tiếng khèn bay đi/ Đến chỗ người yêu ta hót… Cá ơi ta gửi lời nhé/ Đem sông ra biển/ Tìm đến chỗ người yêu…” (Tiếng khèn bên bờ suối). Thực ra, cái Người yêu này không cụ thể, chỉ là cái cớ để Lâm Quý chuyển tiếng khèn, giai điệu tình ca, ngôn nữ giao duyên, nhắn gửi mà mình muốn truyền thụ mà thôi. Không chỉ trong những “giai điệu” của tình yêu, mà ở trong đời sống lao động khác, như khi gặp những cô gái nông trường, cũng là một tiếng hát đồng điệu “Cô gái nông trường/ Gọi đàn bò bằng tiếng hát/ Câu dân ca mát lịm đồng xanh/ Tìm tôi rung phím đàn đệm nhịp…/ Đồng cỏ lại về ôm tôi mênh mông/ Gió thảo nguyên dập dìu cơn song đến…” (Đồng cỏ biển xanh).
Đó là một tâm hồn lãng mạn, ta ngỡ như trong một không gian bất kỳ nào, đứng trước môi trường nào, trái tim Lâm Quý lại bắt đầu hồi hộp, để vỗ lên những tiết tấu và giai điệu của tình ca. Tất nhiên, Lâm Quý không chỉ viết những gì mang dấu ấn bản sắc và những quan tâm thường trực về tiếng hát, về cội nguồn cổ tích của anh. Nhiều khoảng khắc thi ca rung lên là những miền đất mà với sức đi của người làm báo, Lâm Quý đã trải lòng mình qua những thi phẩm, Nhưng dù viết về vấn đề gì, miền đất nào, cái phông cấu trúc thơ của Lâm Quý vẫn mang nhịp điệu, âm hưởng của những ca từ, mà tự thân nó, hát lên những bài hát của anh, giọng hát của anh về cuộc sống muôn vẻ của đất nước, trong đó có tụ khí trung du Đất tổ, có những hoa văn và tiếng trống đồng truyền giục cộng sinh nguồn cội, bắt đầu từ cha trời mẹ đất, từ Lạc Long Quân và Mẫu quốc Âu Cơ.
Lâm Quý là người thật thủy chung với giọng điệu và những tư tưởng, tình cảm đã được xác định thành tiêu chí sáng tác của anh. Anh có sự mê đắm, lúng liếng của điệu thức và thi ảnh, nhưng cũng chân thành, mộc mạc và hồn nhiên trong thể hiện. Có lẽ vì thế mà còn câu, còn khổ, còn những bài chưa kỹ, chưa đều, chưa đẩy đến tận cùng ý và tứ thơ, nhằm tạo ra một dấu ấn rõ rệt và sự độc đáo của ngôn ngữ bản sắc, dù sớm định được mạch chủ của thơ mình và một thái độ dấn thân vì tiêu chí ấy, ấy là mong muốn của tôi, so với khát vọng mà tôi đọc được trong ánh mắt anh từ hơn 30 năm trước, khi anh nhắc tới một Rasul Gamzatov vĩ đại của Nga, bản sắc Daghestan và ngôn ngữ Avar Kavka. Nhưng với đóng góp của mình, Lâm Quý là một nhà thơ, trong không nhiều những nhà thơ dân tộc tạo được diện mạo và phong cách thơ mình, cùng các nhà thơ Y Phương, Lò Ngân Sủn, Pờ Sảo Mìn, Inrasara… làm phong phú nền văn hóa đa sắc tộc Việt Nam.
T.Q.Q
B- MỘT SỐ TÁC PHẨM TIÊU BIỂU:
CỔ TÍCH BẢN TÔI 
Bản tôi có thần ca hát
Nhập vào đâu cũng hát nên lời
Chuyện cổ tích bản tôi xưa trông
Hát suốt mùa đông không hết
Khi vui hát ngả nghiêng cây núi
Khi buồn hát đuội cả dòng sông
Có cô gái bỏ chồng đi xem hội
Lội qua suối ướt đầm tất cả
Lũ cuốn trôi theo ngàn tảng đá
Vẫn địu trên lưng tiếng hát người tình.                                                 
CHỒNG VỀ 
Chồng về em chạy sau vườn
Luồn qua bờ suối tắm truồng cho thơm
Vuốt cho đôi mắt tinh tươm
Để còn liếc giấu cái khuân ngực chồng
Chồng về em chạy ra giành
Hái mầm rau ngổ nấu canh cua dồng
Món này anh ấy phải mồm
Ngon hơn bữa tiệc cái hôm giữa thành.
TÌNH EM ĐÊM HÁT VÍ 
Tiếng hát em khéo vặn chạc thừng
Vặn xoắn tình anh vào đấy
Chạc để buộc trâu dưới gậm
Để buộc bò dưới sân
Nỡ buộc tình anh vào cột
Cột nhà em bẳng lim
Trêu ghếch sừng là đổ
Cột nhà em bằng tấu
Bò hẩy chân là xiêu
Cột tình em yêu yêu
Anh xoay bên này hẩy
Vòng bên kia anh đu
Mà sao vẫn đứng dậy
Tiếng hát em khéo vặn chạc mây
Vặn xoắn tình anh vào đấy.
EM NHƯ LÀ….
Em như là con dúi
Lặn lội đào rễ lau
Anh làm thuổng mo cau
Đào tung trời tung đất
Đất có sâu đến mấy
Đá có ken đến mấy
Anh vẫn cứ say đào
Cho gặp lòng thương nhớ.
NHỮNG CHÀNG TRAI CỦA NÚI 
Chúng tôi
Những chàng trai của núi
Ấp ủ trong đôi cánh mẹ tiên
Có một lần
Con cú kêu đêm
Sáng dậy mặt trời đi đâu mất
Nhận thanh gương truyền đời
 Những chàng trai ra đi
Đất nước vắng con trai, gái làng dường như hóa đá
Núi rừng đễ bề nghiêng, ngả
Rừng núi ơi chớ vội
Họ gọi lên đầu nguồn
Trèo lên núi cao
Lấy sào chọc thủng màn trời
Bắc thang lên vén mây
Cho mặt trời sáng bừng mặt đất
Họ lên rừng
Tìm dongsmai già vót tên
Chọn cây luồng ba đời làm cánh nỏ
Tên thường săn chim
Tên tuốc độc thường săn thú dữ
Nơi đỉnh núi biên cương
Gió táp, nắng đè
Chỗ đứng của chàng trai lồng lộng
Cánh nỏ in hình đám mây cong
Mũi ten hướng về phương giặc
Nơi lũng bằng con suối uốn tiếng khèn
Tắm mịn làn da lõi chuối
Tóc đen buông dài long thung
Ánh trăng nơi ngực người con gái
Tình yêu
Thương nhau cần tổ ấm
Họ dẫn nhau đi tìm
Nơi đất bằng dựng nhà lập bản
Khiêng đá bắc cầu qua con suối
Ruộng cái ruộng con
Bắc thang liền bờ hai câu hát ví
Cô gái lên nương ngắt về cum lúa
Vung chày ra hạt gạo trắng tròn
Hạt dẻo hạt thơm đúc ống cơm lam
Hạt chắc để dành làm giống
Khi xa nhờ cánh gió chuyển về nỗi nhớ
Luồn qua khe hở cửa buồng
Gần nhau nhớ cái vo tròn
Xa nhau nhớ vặn chạc thừng kéo chân chàng trai lại
Quanh quẩn ở nhà thành con cù lần nhặt tép
Con gái thương nửa gang thôi
Con cả vòng tay thương lấy lõi cứng
Cái lõi của rừng không chỉ để làm cột nhà
Không chỉ làm cày và báng sung…
NGƯỜI ĐÀN BÀ
Người đàn bà
Vui cũng khóc mà buồn cũng khóc
Đau khổ lại càng khóc to hơn
Giọt nước mắt
Rơi vào tôi
Tan cả cuộc đời
Rơi vào trái đất
Tan cả hành tinh
ĐÊM VÙNG CAO
Đêm vùng cao
Đèn sao mây núi
Lẫn vào nhau
Ta lẫn vào đêm
Đi vơ những vì sao
Ai đuổi
Chạy tung lên nóc núi
Vấp phải tiếng ngựa hí vang lưng trời
Đêm vùng cao
Liềm trăng móc vào đỉnh núi
Kéo lên
Gió và ngọn lau
Lao sao níu xuống
Gà gáy cuốc vào đêm
Vỡ ra
Trăng tan từng mảnh
Thác trắng ào qua thung…
NẾU EM BỎ ÔM CHỒNG 
Nếu em bỏ ôm chồng
Anh sẽ trả cả ngàn cái hôn
Cả ngàn ngọn núi
Cả ngàn con nai con công
Nâng em lên thành bà chúa của rừng
Nếu em bỏ ôm chồng
Anh sẽ bứt hết lá rừng
Về nấu cao màu xanh
Để nhuộm tóc cho người đời xanh mãi
Nếu em bỏ ôm chồng
Anh sẽ làm không công
Cho hoa nở và muôn đời quả ngọt
Nhưng… tôi được trả lời
- Anh mà nói câu nữa
Mời anh ra uống nước lã ngoài sàn…
KHAU PHẠ MÙA NÀY
Khau phạ mùa này mây trắng bay
Mây đi núi đấy cứ vương dày
Sừng đất hất tung trời khắc nghiệt
Đến đây ở lại với muôn đời
Khua phạ mùa này hương lúa say
Ruộng bậc thang bắc lên cổng trời
Người khau phạ tìm đường đào núi
Cái lều nương đủ ấm hai người
Gió thổi đưa nước về với đất
Nặn thanh mèn mén rượu đầy vơi
Người khau phạ thần tình thật đấy
Vít sao trời rơi xuống giữa nhà
Người ở dưới nhìn lên thấy lạ
Nóc núi đậu đầy ngôi sao.
LỜI ANH
‘‘Nuôi chim bằng muối; Trả chim về trời’’
(Tục ngữ Cao Lan) 
Hạt muối có từ đâu?
Sinh ra từ biển mẹ!
Cái mặn trong lòng  đất
Mẹ chắt chiu nỗi lòng
Lời anh có từ đâu
Sao mặn mà đến thế
Tai em chẳng nghe đâu
Mà lời anh như thể
Qủa ngõa mật chín ngầu
Cứ lặn vào trong ngực…
NGÀN LAU TAM ĐẢO
Em hát trên ngàn lau Tam Đảo
Gió núi lơn mơn
Hoa đá chờn vờn
Áng  mây vòng về ôm cổ núi
Thầm ơn mệ núi
Sinh ra em
Có giọng hát như lá lem lả lướt
Chỉ lướt sang người khác
Sao không lướt sang anh
Anh lại trách thầm mẹ núi
Sao không dành cho anh
Bông hoa chuối rừng thắp lửa
Soi sáng khoảng tối lòng
Mỗi lần xòe cánh
Hiện nải chuối xanh xanh
Tiếng hát em thanh thanh
Trên ngàn lau tam đảo
Anh hứng tai thu về
Ướp vào tình thương nhớ…
TÂM SỰ VỚI HOA VĂN
Tôi nghĩ
Những họa tiết hoa văn
Có cánh có hồn và ý thức
Khi tổ tiên gõ lên mặt trống đồng
Hoa văn vẫy vùng bay theo tiếng trống
Biến thành muôn tiếng ngân xa
Tiếng ngân lặn vào lòng đất
Đất giữ lấy nghìn năm vẫn trong
Lặn vào màu xanh
Cây giữ lại muôn đời vẫn sắc
Lặn vào trong bà Âu Cơ
Truyền con nối chắt…
Từ miền đất Cổ
Tôi đi
Đi khắp miềm phương bắc
Qua làng Việt làng Mường
Thấy hoa văn bám vào ngang vách
Ở bản Thái, bản Dao
Hoa văn thẹn thò nấp ngay trên ngực
Ai đánh trống đồng trong ngực tôi
Hoa văn biến thành cô gái
Tung sợi chỉ hồng làm lưới
Vặn tiếng đàn môi làm dây
Vây tròn tôi lại
Tôi yêu em rồi ư
Hay là em thương tôi chẳng nói?
Tình yêu bắt đầu là câu hỏi
Không đâu
Hẹn em ngày về
Tôi vẫn phải đi
Đi khắp trời phương Nam
Rừng Trường Sơn gió táp mưa ngàn
Hoa văn đậu vào lưng núi
Kêu lên thành tiếng chiêng đồng
Con chim Lạc chở tiếng chiêng đi
“Túc chinh ri,túc chinh ri…”
Cô gái Ê Đê hỏi chim kêu gì
- Chim kêu làm tiếng đàn của suối
Hoa văn vẫn nét cong dáng núi
Xoay tròn Thành cổ Loa
Vòng xoay của thành bao la bao la
Nâng cánh nỏ thần về phương giặc
Giặc hết
Hoa văn nở xòe bông hoa
Trên những ngôi nhà
Buôn làng của người đã khuất
Ông cha
Vai gùi chân đất
Địu núi non về cho con thêu hoa
Mẹ dạy con thêu
Chuyên ông trời bà đất
Để ra một nữ thần
Chàng Đam San vượt ngàn lên bắt
Mũi kim đầu tiên em đặt
Vào ve áo tôi
Tình yêu cũng bắt đầu từ đấy
Dẫn tôi đi
Đến miền Cửu Long có chin con rồng
Lặn lụi muôn đời hút nước
Từ đỉnh núi Lạc Long
Phun vào bụng biển
Hoa Văn Từ đấy có hình con sông
Có ngọn tầm vông và khẩu sung
Mẹ bồng con hóa đá chơ chồng
… và TÔI GẶP
Hoa văn đậm nét màu của đất.
EM LÀ TIẾNG HÁT
Ơi rừng xanh
Nếu cứ ăn tiếng hát
Sẽ Không bao giờ già
Ta đã vứt bỏ tháng năm
Đi cùng trời cuối đất
Tìm em
Em là tiếng hát
Tiếng hát ở đâu ở đâu
Anh đi tìm đầu nguồn cuối biển
Nơi anh đến là em vừa đi
Để lại một vùng đồi tươi trẻ
Ở đáy có lời ru của mẹ
Anh tìm trong lời ru
Gặp lại tuổi thơ
Giấc ngủ bồng bềnh trên võng
Tỉnh dậy vươn vai
Tay hóa thành đôi cánh
Bay đi
Bay đi tìm tiếng hát
Mẹ bảo
- Gió gào mang tiếng hát đi
Anh làm mười cột mây dựng
Dựng  đằng Đông đằng Tây
Gió xô đẩy cánh đồng
Ang bưng cánh đồng
Sàng tròn ngọn gió
Cho tiếng hát rơi vào ngọn gió
Lúa mở choàng đồng xanh
Rơi vào bông ngô
Hạt ngô xếp hàng phồng bbaauf sữa
Rơi vào ngọn cỏ
Tỉnh bừng mắt con trâu
Rơi vào quả bầu
Tiếng đàn lượn dài con suối
Suối ơi
Hãy ăn đi
Ă cho no tiếng hát
Chảy tràn lưng nương
Tắm mát cây lúa đồng
Đồng rập rờn tiếng hát
RỪNG LỒ Ô
Rùng lồ ô cây thẳng tắp
Lá xòe bàn tay
Đón gió chảy về lung lay
Lúc nào cũng ầm ì tiếng động
Tiếng trăn trở quặn đau từ lòng đất
Mẹ sắp sinh con
Mang thai chín tháng tày năm
Rừng lồ ô hôm nay trở dạ
Những đứa con giống cha
Ra đời từ lòng thương của mẹ
Những lá vàng bao giờ cũng thế
Rớt xuống rồi là sữa mớm cho con
Dù ở đâu, ở đâu.
Rừng bằng hay ngọn đồi chon von
Lồ ô không bao giờ mọc rễ
Gió quật ngã về một phía
Rồi lồ ô lại đứng nguyên.
Ơ… Cô gái Mnông
Hái măng chớ hái nhiều em nhé
Lồ ô đang vào mùa sinh đẻ
Giúp những việc gần, việc xa
Cây lồ ô chin nắng mười mưa
Cũng au đen như lưng cha lưng mẹ
Cũng cần cù nuôi con từ thuở bé
Ngày ngày mong con lớn lên
Thành ngọn chông con là người du kích
Giữ buôn làng giữ rừng lồ ô
Thành ngọn đuốc con là người đi trước
Soi đường cho bộ đội dân công
Vào mùa chiến dịch.
Ngày hội mừng buôn làng giải phóng
Con là tiếng khèn lượn vòng nóc nhà rông
Cùng cô gái Mnông
Hát…
Cho người già uốn cong cần ché rượu
Người trẻ vòng đường gươm
Vuốt tiếng đàn T’rưng
Róc rách thành con suối
Lượn vòng một dòng sông…
Lời sâu xa là lời của ông
Lời đầy tình thương là lời của mẹ
Lời của cha bao giờ cũng thế
(Thương con cha để trong lòng).
Rừng lồ ô trên dông…
QUÊ CỌ
Ngần ấy năm rồi dù xa quê hương
Anh vẫn thấy cọ xòe trong nón lá
Cai màu cọ non em ơi khó tả
Sao nó nõn nà như đôi tay ai
Mùa hoa cọ trời đầy hương bay
Con chim én liệng về ủ tổ
Ngàn vạn răng cưa cắt ngang chiều gió
Nắng chảy tràn về phủ kín đồi sim
Ơi nhớ những chiều cắt cỏ chăn trâu
Hai đứa chúng mình tìm rình bắt bướm
Cơn mưa ập về ướt đôi mái đầu
Ríu rít chung che tàu cọ nhỏ
Tháng sáu mẹ đi bừa về cua đầy móm cọ
Em chạy sang anh hái mầm rau ngổ
Bát canh riêu váng đỏ dáng mùa
À ơi… đất đồi chưa nắng đã khô
Ai sang quê cọ nhớ mua quạt gồi…
Tiếng ru của mẹ lượn vòng quanh nôi
Lượn ra mái đồi  xòe tay che nắng
Lượn ra đồng vắng nhuộm trắng cánh cò
Câu thơ quê mình hay là giọng hát
Phường xoan quê ghẹo năm xưa
Gieo lên đồi chè non xanh bát ngát
Gieo vào lòng đất thúc hạt nảy mầm…                              
ĐIỀU CÓ THẬT TỪ CÂU DÂN CA
Tặng những người công nhân đập đá
Yêu em anh bổ hòn đá tảng
Lấy nước nguồn thơm mát nuôi em
Thương em anh hái vầng trăng bán
Lấy lửa mặt trời nướng chin nuoi em…
(Dân ca Cao Lan)
Anh sinh ra trong chòi rãy
Mẹ nuôi băng sữa cây ngô
Em lọt lòng vắng mẹ
Cha cày ruộng
Chắt hạt gạo vàng qua cây lúa
Tháng ngày gói giữ lời du
Nuôi anh nuôi em lớn dậy
Trời xui anh thương em
Đất bảo em yêu anh
Câu dân ca là vỏ
Bao quanh hạt giống tình
Mẹ đem gieo xuống đất
Mọc lên cây yêu thương
Ta chăm chút sinh ra quả nhớ
Nhớ lời du tuổi thơ
Thấy con cò lặn lội
Thui thủi một mình bước vào dân ca
Nay em và anh
Dắt tay nhau bước ra đời thực…
Ta lên núi đục hòn đá tảng
Đặt mìn nổ tung khối nặng bao đời
Đưa lên xà - lan xuôi dòng về xuôi
Phần qua lửa hóa thành trong trắng
Quét lên tường nhà nắng lóa tầng cao
Hóa thành bà mối dắt cau yêu trầu
Xui ta yêu nhau đập hòn đá tảng
Xếp chặn đầu nguồn nước tràn lên mương
Cho ruộng không hờn mà thương cây lúa
Lúa dành cho anh cái vầng trăng xưa
Rắc kín hạt vừng thơm ngày trạm ngõ…
Ở NƠI ẤY CÓ MỘT NGƯỜI
Tặng vợ
Ở nơi ấy có một người
Nuôi con tần tảo suốt đời thay tôi
Nửa đêm con ngủ say rồi
Nàng dành nửa gối mong tôi trở về
Ở nơi ấy có một người
Nụ cười tủm tỉm thay lời chào tôi
Mỗi lần về đến nhà ơi
Bếp nhen lửa ấm nước sôi pha trà
Vỗ về những đứa con hoa
Mắt cười liếc giấu chồng xa mới về.
TRĂM PHẦN TÔI ĐOÁN
Ở nơi ấy có một nàng
Trăm phần tôi đoán rằng nàng yêu tôi
Tình trong đôi mắt kia thôi
Đừng vờ giả nữa làm tôi ngỡ ngàng
Ở nơi ấy có một nàng
Như bông hoa trắng mơ màng hương đưa
Hương ơi hãy thả hồn mơ
Cho tôi tròn một tứ thơ tâm tình
Ở nơi ấy có một người
Chiều sông có nghĩ đến tôi chút nào
Đôi bờ sóng nước lao xao
Hỏi sông vì cớ làm sao vắng thuyền?
Ở nơi ấy có một người
Tôi mong tím cả bầu trời ấy thôi
Chờ sông chảy mãi không vơi
Để cho thuyền hóa đơn côi đợi chờ.
Ở nơi ấy có một người
Hội đền hẹn chín hẹn mười chờ nhau
Hội rồi nào có thấy đâu
Người đông như lá tìm đâu thấy tình.
XUỐNG NÚI
Ở trên núi nhìn toàn thấy cây
Xuống đồng bằng nhìn toàn thấy người
Người và cây đều là tình đất
Nuôi nấng tôi khôn lớn thành người
Ở trên núi bao nhiêu là suối
Xuống đồng bằng thấy nhiều dòng sông
Sông suối dìm hồn tôi trong nước
Chảy dần về biển Đông mênh mông
Ở trên núi nhìn toàn thấy váy
Xuống đồng bằng nhìn toàn thấy quần
Quần và váy đều là hai thứ
Làm cho tôi mê mẩn suốt đời
Người ở núi yêu nhau bằng mắt
Người đồng bằng yêu nhau bằng môi
Môi và mắt đều là hai thứ
Làm cho tôi say đến ngất người…
NGƯỜI TẠC ĐÁ QUÊ TÔI
Kính tặng quê hương Lập Thạch
Thuở đất còn vồng vềnh chưa cứng
Quê hương tôi có đá đứng đá ngồi
Đá đứng rũ mình hóa thành chàng trai
Đá ngồi vuối mái tóc thả lưng trời hóa ra cô gái
Đá…
Tạo nên cái rìu
Bổ toác gốc cây đa làm ổ
Lớp lớn con người sinh ra từ ấy
Tạo nên mũi lao
Hội săn về dấu lao còn trên đá
Những con dao và thanh gươm
Mài đá quê tôi sáng lóa
Những con ngựa khải hoàn sau chinh chiến
Rũ bụi đời để hóa đá ngựa ơi
Những con nghê nhở nhơ
Người thợ quê tôi bắt về hóa đá
Trước sân đình cười với thời gian
Cô gái hội mùa không bao giờ già nữa
Múa hay quá mà… tạc vào đá đi thôi
… À ơi, con cò trưa nắng bắt cua
Tối ngủ gò Chùa cò hỡi có ai…”
Tiếng ru nở hoa riêu cua óng ả
Kết nụ từ cối đá làng tôi
Ai nâng niu hạt gạo làng trong trắng
Là sinh ra từ cối giã đau lòng
Những con người tọp lưng khơi miếng sắn
Tạc đá xây lên Tháp Bình Sơn
Bao đời rồi vết tay người thợ
Rêu phong không nhòa nổi lên nét hoa văn.
Cảm ơn rùa suốt đời mang bia đá.
Nâng hồn thơ Nguyễn Trái bay lên
Nơi Ba Đình đá dựng quanh lăng
Hồn sông núi tụ về bên Bác
Người thợ quê tôi không thể tạc
Bởi lẽ tên Người đi suốt thời gian
Hiểu ý người tạc hình Đất nước hồi sinh
Con lũ sông Đà vồ lên bệ đá
Vỡ đầu rồi mới hiểu sức Sơn Tinh
Đàn voi trận ngỡ ngàng khi trở lại
Đất cội nguồn thiêng sừng sững những công trình.
Đá…
Người thợ quê tôi không tự tạc được mình.
19/1/2018
Xuân Mai
Nguyễn Ngọc Tung
Nguyễn Nhuận Hồng Phương
Theo http://vhnt.ttcntt.com/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...