Những lời ca cất lên từ đỉnh núi
Người H’Mông giữa bản mới Tây Nguyên
“Đầu trời có sao chiều sao sớm.
Đầu núi kia có ớ… ơ… hai người.
Dù đi cùng trời, dù đi khắp núi. Trời chỉ có, chỉ có sao sớm
sao chiều. Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau…”. Giai điệu Bài ca trên
núi của nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết cho phim Vợ chồng A Phủ do Mai Lộc đạo
diễn dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Tô Hoài da diết hồn tôi mỗi lần
đến với những bản người H’Mông từ miền núi đá phía bắc di trú đến đại ngàn Tây
Nguyên…
1. Tôi dạo bước bản H’Mông bên suối Đạ Kông của miền núi rừng Rô Men - Đam Rông khi mùa xuân Tây Nguyên cũng đã chớm về. Cô gái H’Mông theo cha mẹ vào với đất ba-dan này qua mấy mùa rừng thay lá mới cũng vừa mang khăn áo ra phơi bên vách núi sau nhà. Cô đang hát, một bài dân ca H’Mông nói về tình yêu: “Kẻ ở người đi. Lòng em buồn như gió thổi qua ngàn”. Lời hát nhuốm phong vị nhớ nhung mà sắc thổ cẩm H’Mông thì rực rỡ không lẫn vào đâu được. Những họa tiết hoa văn mang gam màu nóng như muốn bộc lộ tính cách mạnh mẽ của người H’Mông, sự tự tin, tự trọng và khao khát tự do. Mã A Lềnh, thi sĩ của miền núi đá cao từng viết về cá tính của tộc người mình: “Sống một cuộc đời không cần biết phía trước hay đằng sau, không cần dưới hay trên”.
1. Tôi dạo bước bản H’Mông bên suối Đạ Kông của miền núi rừng Rô Men - Đam Rông khi mùa xuân Tây Nguyên cũng đã chớm về. Cô gái H’Mông theo cha mẹ vào với đất ba-dan này qua mấy mùa rừng thay lá mới cũng vừa mang khăn áo ra phơi bên vách núi sau nhà. Cô đang hát, một bài dân ca H’Mông nói về tình yêu: “Kẻ ở người đi. Lòng em buồn như gió thổi qua ngàn”. Lời hát nhuốm phong vị nhớ nhung mà sắc thổ cẩm H’Mông thì rực rỡ không lẫn vào đâu được. Những họa tiết hoa văn mang gam màu nóng như muốn bộc lộ tính cách mạnh mẽ của người H’Mông, sự tự tin, tự trọng và khao khát tự do. Mã A Lềnh, thi sĩ của miền núi đá cao từng viết về cá tính của tộc người mình: “Sống một cuộc đời không cần biết phía trước hay đằng sau, không cần dưới hay trên”.
Ngắm cảnh sắc bản H’Mông trên miền quê mới Lâm Đồng, chợt nhớ
đến ký ức bản xưa Hồng Ngài trong những trang văn Tô Hoài. Nhà văn của núi rừng
Tây Bắc đã miêu tả thân phận người phụ nữ H’Mông thời ấy trên đỉnh núi đá mây
gió giá băng đã tạo nên nỗi ám ảnh khôn nguôi. Cô Mỵ suốt bao năm tháng xuân
thì làm dâu nhà thống lý Pá Tra là những ngày dài đêm thâu gục mặt xó bếp ở gần
chuồng ngựa. Lời hát nỉ non đớn đau của Mỵ cũng như bao người con gái H’Mông
nơi góc rừng xa lạ nhà người như một lời thở than: “Năm nay em đi làm dâu.
Thân khác gì thân trâu mang đeo ách”. Cho đến một ngày A Phủ kéo tay Mỵ ra khỏi nơi tăm tối, cùng nhau trốn đến Phiềng Sa như tìm về một phương trời tự do. Tình yêu của đôi trai gái H’Mông cũng là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết nên giai điệu hòa quyện với ca từ tuyệt đẹp của nhà văn Tô Hoài: “Hỏi rừng chiều có tiếng khèn ai đó. Khèn hát lên những lời mong chờ. Đường đi về rừng, đường đi xuống núi. Chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều. Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau…”.
Thân khác gì thân trâu mang đeo ách”. Cho đến một ngày A Phủ kéo tay Mỵ ra khỏi nơi tăm tối, cùng nhau trốn đến Phiềng Sa như tìm về một phương trời tự do. Tình yêu của đôi trai gái H’Mông cũng là nguồn cảm hứng để nhạc sĩ Nguyễn Văn Thương viết nên giai điệu hòa quyện với ca từ tuyệt đẹp của nhà văn Tô Hoài: “Hỏi rừng chiều có tiếng khèn ai đó. Khèn hát lên những lời mong chờ. Đường đi về rừng, đường đi xuống núi. Chỉ có, chỉ có sao sớm sao chiều. Núi chỉ có hai người, hai người yêu nhau…”.
Ở bản mới người H’Mông, tôi hỏi chàng trai trẻ Hoàng Xuân
Tháy có biết bài hát ấy không. “Em hát bài ấy cũng được đấy và em còn biết tên
thật của cô Mỵ là bà Mùa A Thi, ông Mùa Chờ La là nguyên mẫu của thống lý Pá
Tra trong truyện”, Tháy nói. À thì ra người trẻ H’Mông cũng quan tâm chuyện cũ
của dân tộc mình. Mà cũng phải, ngay như cô ca sĩ trẻ Hoàng Thùy Linh người
Kinh cũng đang làm mưa làm gió với MV chuyển tải câu chuyện âm nhạc ngẫu hứng từ
cuộc đời cô Mỵ đấy thôi: “Để Mỵ nói cho mà nghe.
Tết năm nay Mỵ vẫn còn trẻ.
Xuân đương tới rồi. Nên Mỵ cũng muốn đi chơi”.
Đã đi chơi rồi thì Mỵ sẽ tìm được người đàn ông của mình,
không ở bản dưới thì ở núi trên, không thì Mỵ ra giữa chợ tình, chàng A Phủ nào
đó của Mỵ đang đợi. Giữa đại ngàn Tây Nguyên mà tưởng tượng về cảnh ấy, tôi như
đã gặp hình ảnh những chàng trai H’Mông ôm cây khèn làm bằng sáu ống trúc leo
lên triền đá cao và thổi bản nhạc đợi người tình. Tiếng trúc cất lên, những âm
thanh khát khao và giãi bày. Gió thổi bạt mái tóc, bóng người và khèn in vào trời
xanh, tạc vào đá núi…
2. Ở đâu đó tôi đã nghe những lời hát cổ: “Loài cá bơi dưới
nước. Loài chim bay trên trời. Người H’Mông sống ở núi”. Luôn chọn cư trú ở những
triền núi cao, H’Mông là tộc người chủ nhân của những đỉnh đá hùng vĩ, nóc nhà
của toàn vùng cao rộng lớn. Những đỉnh núi như là định mệnh. Người H’Mông gắn với
những cao nguyên Mèo Vạc, Đồng Văn. Ở nơi cố xứ, cổng bản của họ là những “cổng
trời” mang tên Quản Bạ, Cán Tỷ.
Nhà ở trên núi cao, nhìn xuống phía dưới mây trôi la đà theo vực sâu hun hút. Cuộc sống của họ, mở cửa bước ra là chạm mây, chạm gió, chạm nắng lửa, mưa rừng. Không gian ấy chất chứa vào hồn người biết bao cảm xúc bồng bềnh nhưng cũng là nguyên nhân của muôn nỗi nhọc nhằn. Hoàn cảnh khắc nghiệt cũng đã tạo nên những cá tính H’Mông mạnh mẽ, tự do, giàu trí tưởng tượng, mộng mơ và phóng túng.
Nhà ở trên núi cao, nhìn xuống phía dưới mây trôi la đà theo vực sâu hun hút. Cuộc sống của họ, mở cửa bước ra là chạm mây, chạm gió, chạm nắng lửa, mưa rừng. Không gian ấy chất chứa vào hồn người biết bao cảm xúc bồng bềnh nhưng cũng là nguyên nhân của muôn nỗi nhọc nhằn. Hoàn cảnh khắc nghiệt cũng đã tạo nên những cá tính H’Mông mạnh mẽ, tự do, giàu trí tưởng tượng, mộng mơ và phóng túng.
Thời xa xưa, người H’Mông di trú từng cất lên câu hát não nề:
“Như ta lạc loài bước chân tới chốn quê người. Lòng ta buồn tẻ quạnh hiu như
bãi đồi hoang”. Di dân và ở đỉnh núi đã tạo nên tâm thức người H’Mông. Căn tính
tộc người không dễ gì biến mất, nó liên tục tái cấu trúc chất liệu trong những
hoàn cảnh mới. Lịch sử từ mấy trăm năm trước họ xuôi từ phương bắc xuống miền
núi phía bắc, và thời hiện đại này một bộ phận người H’Mông lại tìm đường đến với
phương nam. Họ ra đi, bỏ lại sau lưng những triền đá tai mèo sắc nhọn và những
thửa ruộng bậc thang chông chênh lưng chừng núi. Xuôi theo con đường thiên lý
cùng với những chiếc túi thổ cẩm nhẹ tênh trên vai, họ như những cánh chim
thiên di về miền đất mới. Ở những nơi sâu xa nhất Tây Nguyên, tôi đã gặp họ. Mỗi
cá thể trong đoàn người di trú ấy như đều mang theo trong tâm hồn mình ký ức về
những tháng năm đã trải và cả giấc mơ về một cuộc đổi đời. Những lão ông trầm
tư. Những lão bà nở nụ cười móm mém hồn nhiên. Những chàng trai với ánh mắt
tinh anh rực lên niềm khát khao chinh phục.
Những phụ nữ lầm lũi chúi mặt xuống đất nặng nề cất bước trên
con đường mòn. Những đứa trẻ ánh mắt trong veo với bàn chân nhanh nhẹn thoăn
thoắt leo lên những vách núi dựng đứng một cách dễ dàng. Họ chọn nơi rừng sâu,
len lỏi với đại ngàn, hòa ca với tiếng thác chảy, vượn hú. Tôi đã đến với nơi họ
sống, những bản có tên và không tên. Ở đâu đó trên đường điền dã, tôi đã nghe một
điệu khèn lá réo rắt khi con thuyền độc mộc xuôi theo dòng K’Rông Anô vào rừng
Đạ Mrông. Dưới chân núi Chúa ở huyện Bảo Lâm, tôi đã gặp những chàng trai
H’Mông ghép cây làm cầu, dựng cột, lợp nhà ngày đầu lập bản. Thế mà chỉ mấy năm
quay lại, bản mới đã thành bản cũ, nhà cửa khang trang, vườn nương xanh mát. Lại
khèn lá, khèn bầu réo rắt, lại rộn rã ném pao trong lễ hội Gầu Tào…
Thế mới hay, tộc người mang tâm thức di trú ấy luôn biết cách
thích nghi hoàn cảnh dù trên bước đường lưu dân gặp muôn trùng gian khó. Ở nơi
nào và trong khó khăn nào thì những chàng trai, những cô gái H’Mông cũng có thể
cất lên tiếng hát của tình yêu, tiếng hát thẳm sâu từ bản năng tự do. Khi người
con gái nói lời trái tim: “Đôi ta không biết hát thì thôi. Biết hát, ta hát như
cây tre cây bương thi nhau mọc”; người con trai đáp lại bằng cả tấm chân tình:
“Đêm đã qua, sao lượn vòng đổi chỗ. Ngày đã rạng đường đi sáng tỏ. Ta quay gót
về nhà. Mà hồn như còn ngủ trong tà áo em”. Họ yêu nhau như yêu cuộc sống bản
làng, như yêu chính con đường dài di trú, phiêu lãng, tha hương…
3. Ông Giàng Seo Long ở bản mới Đạ Kông ví von với tôi rằng:
“Không có ngọn núi nào cao bằng đầu gối người H’Mông”. Tôi hiểu điều người đàn
ông này muốn nói. Với đôi chân quấn xà cạp, với cây dao phạt lối trong tay, người
Mông gắn đời mình với rừng và tung hoành tạo nên những lối mòn, chinh phục những
vùng hoang vu nhất. Mặt đất dưới chân họ nghiêng nghiêng. Để cày lên thớ đất,
người và trâu chênh vênh chân duỗi, chân quỳ trên những triền núi đá nhọn hoắt
in hình giữa lưng chừng trời…
Từ những bản từng đến, những con người từng gặp, những câu
chuyện từng nghe, tôi như hiểu thêm đôi điều về một tộc người ngấm sâu trong hồn
dòng máu phiêu lãng. Cũng phải thôi, quê hương của họ là những dòng sông nơi
thâm sơn cùng cốc. Những con đường hiểm trở như thách thức hiểm nguy. Những
nương ngô xả lá rì rào. Những thửa lúa lượn lờ như sóng theo tầng tầng lớp lớp
ruộng bậc thang hùng vĩ. Những nếp nhà nhỏ xinh xinh với tường rào bằng đá neo
đậu như tổ chim ở bên sườn núi. Những đỉnh cao quanh năm ảo ảnh sương mù. Những
váy áo sặc sỡ. Người và núi, và sông suối, và cỏ cây như hòa lẫn vào nhau. Bức
tranh thiên nhiên trên cao không mang nhiều yếu tố cô độc mà toát lên niềm kiêu
hãnh. Người H’Mông sống trong bồng bềnh. Từ nỗi cô đơn của núi non, những bài
hát ra đời, tiếng đàn môi ra đời, chiếc khèn trúc ra đời. Người H’Mông yêu sự tự
do, không trói buộc, chỉ biết rằng dưới có núi đá trên có trời xanh. Làm ve rừng
sâu, làm chim ngụ trong hốc đá hoang, suốt một đời ca hát. Những bài ca cất lên
từ bản năng.
Trong đám cưới cô con gái yêu nhà Thào Hùng Khải bạn tôi, tôi
đã được nghe một thiếu nữ hát rất hay bài dân ca của dân tộc mình: “Chú rể xỏ
đôi giày cỏ hăm hở vượt đèo. Cô dâu váy áo đung đưa thướt tha theo sau”. Đó là
lời hát sẻ chia niềm hạnh phúc với người bạn cùng bản nhưng cũng là tâm trạng
khao khát của những người con trai, con gái H’Mông mong một ngày mùa xuân hoa
ban nở trắng núi đồi, chàng trai đến bản xa “cướp” cô gái mình thương về làm vợ.
Và cũng hiểu, những cô Mỵ trẻ bây giờ không giống với bà Mỵ năm xưa giữa xó bếp
tối tăm nhà thống lý Pá Tra. Nghĩ đến đó, bật lại giai điệu “Để Mỵ nói cho mà
nghe” của Hoàng Thùy Linh, tâm trạng vui vui…
17/1/2020
Uông Thái Biểu





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét