Thứ Bảy, 19 tháng 6, 2021

Về ánh sáng của tưởng tượng và những bông hoa của thực tại trong văn chương

Về ánh sáng của tưởng tượng và 
những bông hoa của thực tại trong văn chương

1. Trong quyển Mùi Thơm Của Ổi (The Fragrance of Guava) (1) nói chuyện với Plinio Apuleyo Mendoza về kinh nghiệm viết lách của mình cũng như về những đề tài khác, Gabriel García Marquez đã phân biệt giữa huyễn tưởng (fantasy) và sự tưởng tượng, hư cấu dựa trên sự thật của đời sống. Đại khái, ông cho rằng khi một nhà văn tự để cho mình đi lạc quá xa vào vùng huyễn địa của hư cấu mà không bám vào sợi dây thực tại của đời, ông ta sẽ chạm mặt với sự hiểm nguy trong việc trở thành một kẻ nói dối. Và sự nói dối, trong văn chương, có một hậu quả còn quan trọng hơn là trong đời sống thật sự nữa. Marquez cho rằng ngay trong những sáng tạo có vẻ như đầy nét hư cấu nhất thì chính sự hư cấu ấy cũng có những luật tắc của nó. Ông cho rằng sự tưởng tượng chỉ là một phương cách giúp cho nhà văn trình bày cái thực tại mà mình cảm nhận. Và, nói cho rốt ráo, nguồn gốc của sáng tạo luôn luôn là thực tại của đời sống.
Marquez cho rằng bất cứ quyển tiểu thuyết hay nào cũng là một sự hoán chuyển thơ mộng của thực tại vào văn chương. Tiểu thuyết, theo ông, là thực tại được trình bày qua những ẩn ngữ, với một cái mã bí mật, một thứ công án hay một thứ thai đố về đời sống. Thực tại trong tiểu thuyết khác với thực tại của đời thường, mặc dù nó được bắt rễ từ đấy. Điều này cũng giống như là những giấc mơ của con người. Chúng có gốc rễ từ trong đời sống, nhưng không phải là đời sống. Bị vặn hỏi là cách ông trình bày hiện thực, thực tại của mình trong những tác phẩm của ông - chẳng hạn như trong Trăm Năm Cô Đơn (Cien Años de Soledad)) và trong Mùa Thu của Vị Trưởng Lão (El Otoño del Patriarca), đã đưa đến một dòng văn chương được gọi tên là “hiện thực huyền ảo” (magical realism) - có thể khiến cho người đọc dễ dàng nhìn thấy được cái “huyền ảo” mà khó hoặc không thấy được cái “hiện thực”, Marquez trả lời rằng sở dĩ điều đó xảy ra là vì chủ nghĩa duy lý của Tây phương đã ngăn cản người ta nhìn ra những thực tại trong các tác phẩm của ông. Theo ông, thực tại không phải chỉ giới hạn trong giá cả của cà chua và trứng gà. Đời sống mỗi ngày tại Châu Mỹ La-tinh đã chứng tỏ rằng thực tại chứa đựng đầy những điều kỳ ảo, lạ lùng và bí nhiệm nhất. Ở đây, tôi sẽ để cho chính Marquez trình bày cách nắm bắt và trình bày thực tại của mình qua một vài lời đối thoại giữa ông với P.A. Mendoza:
Marquez: (…) Để làm rõ điều này [rằng thực tại chứa đựng đầy những điều huyền bí, kỳ ảo], tôi thường kể câu chuyện của một nhà thám hiểm Hoa Kỳ tên là F.W. Up de Graff. Nhà thám hiểm này đã thực hiện một cuộc hành trình không thể nào tin được xuyên qua núi rừng Amazon vào cuối thế kỷ trước. Trong những cảnh và người mà ông nhìn thấy, người ta có thể kể đến hình ảnh một dòng sông sôi nước nóng bỏng và một địa điểm mà âm thanh của tiếng nói con người có thể làm cho mưa đổ xuống như thác. Tại Comodoro Rivadavia, nơi miền cực nam của Argentina, những ngọn gió từ Bắc cực đã thổi bay nguyên cả một đoàn xiếc, và ngày hôm sau, những người ngư phủ trong khi kéo lưới của họ lên đã vớt được xác chết của những con sư tử và hưu cao cổ của đoàn xiệc này. Trong truyện Đám Tang của Mẹ Cả (Big Mama’s Funeral), tôi đã kể về một chuyến đi không thể xảy ra và không thể tưởng tượng nổi của Đức Giáo Hoàng khi cho Ngài thăm viếng một ngôi làng của xứ Columbia. Tôi nhớ tôi đã mô tả vị Tổng thống ra chào đón Ngài là một người hói đầu và cục mịch, để tránh làm cho ông ta trông giống vị tổng thống đương thời lúc bấy giờ là một người cao và gầy. Mười một năm sau khi truyện ấy được viết ra, Đức Giáo Hoàng đã thật sự đến thăm Columbia và vị Tổng thống đón tiếp Ngài thật sự là hói đầu và cục mịch, trông y hệt như nhân vật đã được mô tả trong truyện. Sau khi tôi viết Trăm Năm Cô Đơn, người ta nói rằng một em bé trai ở Barranquilla thật sự có đuôi heo. Bạn chỉ cần mở báo hằng ngày ra để thấy rằng là những chuyện huyền bí, kỳ ảo xảy ra với chúng tôi mỗi ngày. Tôi biết có những người dân bình thường nhất ở đây đã đọc Trăm Năm Cô Đơn một cách cẩn thận và với nhiều thích thú, nhưng không ngạc nhiên chút nào cả, bởi lẽ, tất cả những chuyện được tôi nói tới, thật sự, đều đã xảy ra. Tôi không nói điều gì mà họ đã không từng cảm nghiệm trong chính cuộc sống của họ.
Mendoza: Vậy thì mọi chuyện ở trong sách của ông đều là dựa trên đời thực hay sao?
Marquez: Không có một dòng nào trong những tác phẩm của tôi mà không dựa trên thực tại.
Mendoza: Ông có chắc không? Có nhiều chuyện rất là kỳ quái đã xảy ra trong Trăm Năm Cô Đơn. Chẳng hạn như chuyện cô Remedios Người Đẹp bay lên trời. Chuyện những con bướm vàng cứ chấp chới bay quanh anh chàng Mauricio Babilonia…
Marquez: Tất cả những chuyện ấy đều dựa trên sự thật…
Mendoza: Chẳng hạn…
Marquez: Chẳng hạn, hãy nói về anh chàng Mauricio Babilonia. Khi tôi được khoảng năm tuổi, một ngày nọ có một người thợ điện đến nhà tôi ở Aracataca để đọc đồng hồ điện mà gia đình tôi đã dùng. Tôi nhớ như in chuyện ấy, giống như là nó mới xảy ra ngày hôm qua, bởi vì tôi rất thích thú chú ý đến cái dây lưng da mà anh thợ điện dùng để giữ cho mình treo lơ lửng trên những cột điện. Anh ta đến nhà tôi nhiều lần. Có một lần kia tôi thấy bà của tôi tìm cách đuổi một con bướm với cái phất trần. Vừa xua con bướm đi, bà vừa nói, “Cứ mỗi lần cái anh chàng này đến nhà là cái con bướm vàng này lại theo đuổi anh ta.” Đây chính là cái nguồn gốc về câu chuyện Mauricio Babilonia và đàn bướm vàng.
Mendoza: Thế còn chuyện Remedios Người Đẹp? Điều gì đã làm cho ông nảy sinh cái ý tưởng cho cô ta bay lên trời như thế?
Marquez: Thật ra thì đầu tiên tôi định cho cô ta biến mất trong khi đang ngồi ở trong nhà thêu áo với Rebecca và Amaranta. Nhưng cái cách này có vẻ cinéma quá, không được. Tôi lại phải tiếp tục cho cô ta lẩn quẩn ở trong truyện. Thế rồi tôi nghĩ là sẽ cho cô ta bay lên trời, cả hồn lẫn xác. Thực tại ở đằng sau chuyện này à? Có một người đàn bà trong xóm tôi có đứa cháu gái bỏ nhà trốn đi vào lúc tinh mơ, bà ta tìm cách giấu sự thực đáng buồn này nên tung tin ra là cô ta đã bay lên trời.
Mendoza: Ông đã giải thích trong một bài viết là ông đã gặp khó khăn trong việc làm cho Remedios Người Đẹp bay lên, phải không?
Marquez: Phải, tôi không thể để cho cô ta tự bay lên được. Tôi bối rối, lo sợ vì không có cách nào làm cho cô ta bay lên. Một ngày kia, trong khi tôi đang nát óc vì vấn đề này, tôi đi ra ngoài vườn. Lúc ấy gió mạnh lắm. Một phụ nữ người da đen đẹp đẽ và cao lớn vừa giặt quần áo xong và đang cố gắng căng phơi chúng trên dây thép. Nhưng bà ta không thể làm được điều ấy; gió cứ tiếp tục thổi mạnh, làm cho những cái áo cái chăn cứ bay giạt đi. Tự nhiên óc tôi lóe sáng. “Đúng rồi,” tôi nghĩ. Remedios Người Đẹp cần phải bám vào những chăn màn để bay lên trời. Trong trường hợp này, chăn màn là những yếu tố của thực tại. Khi tôi trở lại ngồi trước máy đánh chữ, Remedios Người Đẹp cứ thế mà bay lên, bay lên mãi mà chẳng gặp khó khăn gì nữa. Ngay cả Thượng Đế cũng không thể giữ cô ta lại được.
2. Câu chuyện về García Marquez cũng như những ý kiến trên của ông, về vai trò và nguồn gốc của tưởng tượng trong sáng tạo của nhà văn, làm cho chúng ta nhớ lại những lần ta có dịp đọc những ý kiến của nhiều người khác nhau, trên các trang báo văn học, về vấn đề tưởng tượng và vai trò của nó trong sáng tạo văn chương. Có những người đã đòi hỏi rằng văn chương phải dựa trên sự thật. Rằng văn chương không thể mô tả những gì sai lạc so với sự thật, cho dù người viết được quyền hư cấu câu chuyện của mình. Những đòi hỏi ấy, thoạt nghe, rất chính đáng, vì chúng có gì khác với những điều mà Marquez đã trình bày đâu. Nhưng điều mà chúng ta muốn nói cho rõ ở đây là, khi đặt vấn đề như thế, chúng ta nên nhớ rằng sự thật cũng như thực tại của văn chương không nhất thiết phải là thực tại của đời thường. Hay, đúng hơn, thực tại của văn chương là một thực tại có một đặc chất riêng. Xét về mặt bản thể học, chúng có một đời sống riêng. Thế giới của tiểu thuyết chỉ bắt đầu có một thực tại khi nhà văn hòa nhập cuộc sống tinh thần của mình với nó. Và chính nhà văn là người sáng tạo ra những thực tại trong tiểu thuyết của ông ta. Thực tại văn chương không phải là cái sự thật được bày ra dưới mắt quần chúng, dưới mắt người đời (the whatness), nhưng là sự cảm nhận của nhà văn về cái xảy ra trong ông, cái sống và hiện diện trong ông (the is-ness). F.R. Leavis, một nhà phê bình nổi tiếng của Anh, cho rằng văn chương có đời sống riêng của nó, và cái đời sống ấy “chỉ hiện diện trong phút giây hiện tại nóng hổi và sống động, trong sự đáp trả đầy tính sáng tạo của những con người cầm bút” (2). Chính là trong sự đáp ứng đầy tính sáng tạo và mang nhiều màu sắc của tưởng tượng này mà con người cảm nhận được cái “là” của sự vật, cái thực tại của cuộc đời. Điểm cốt thiết mà Leavis muốn nhấn mạnh ở đây là khoa học, khởi đầu với một thế giới mà chúng ta đang sống trong đó và quan sát nó, khác biệt với nghệ thuật, khởi đầu với một thế giới mà chúng ta xây dựng, chúng ta tưởng tượng ra. Và để lập lại lần nữa, cái thế giới này chỉ bắt đầu nở hoa thực tại khi chúng ta hòa nhập vào làm một với nó, khi chúng ta sáng tạo ra nó.
Chính là với René Descartes, người đã đưa lý trí lên địa vị độc tôn qua câu “Cogito, ergo sum” (Tôi suy nghĩ, bởi vậy tôi hiện hữu) mà con người đã bị đẩy vào một thế giới bị “giải thiêng”. Thế giới, qua đó, bị đối vật hóa, và con người, nó bị tách rời ra khỏi cái thế giới khách quan bao quanh mình. Khi thế giới đã bị đối vật hóa, sự liên kết đầy tính huyền thoại giữa con người và thế giới bao quanh nó, cũng như sức mạnh của tưởng tượng trong việc tạo nên huyền thoại, không còn đất sống. Vì ngôn ngữ của huyền thoại, giống như ngôn ngữ của biểu tượng, biến khuôn mặt của trừu tượng thành một khuôn mặt cụ thể, mang đầy tính con người, mà vẫn không làm mất tính trừu tượng của nó đi, và bởi lẽ sự biến đổi này được thành hình qua sức mạnh của tưởng tượng, sự phân cắt của Descartes đã tách rời tinh thần con người ra khỏi vật chất, hay đúng hơn là đã định nghĩa lại, cho rằng tinh thần chỉ là vật chất, chịu sự chi phối của những quy luật đầy tính luận lý của khoa học. Trong dòng suy nghĩ ấy, và nhấn mạnh sự quan trọng của lý trí trên tưởng tượng, Samuel Johnson, qua nhân vật Imlac trong tác phẩm Rasselas, đã có những lời hết sức tiêu cực về sự nguy hiểm của tưởng tượng. Nói về “những biến thái của tri thức”, Imlac cho rằng “khi sức mạnh của tưởng tượng được để trên bệ cao hơn sức mạnh của lý trí, con người ta bắt đầu bước vào một mức độ nào đó của sự điên loạn.” Samuel Johnson cảnh giác con người là không nên để cho sức mạnh của tưởng tượng lôi cuốn và không nên để cho tưởng tượng như những con chim “chắp cánh bay xa”. Đối với Johnson, lý trí phải chế ngự tưởng tượng.
Những suy nghĩ thuần lý của con người phản ánh một thế giới thuần lý của thiên nhiên. Khác với thế giới kỳ bí và đầy nét huyền ảo của tưởng tượng, lý luận mang lại cho con người trật tự và một hệ thống để quan sát, cho con người những giải đáp cho những câu hỏi “cái gì” và “tại sao”. Tuy nhiên, thế giới của khoa học, của những sự kiện, của luận lý chỉ là một mặt của nhị nguyên tính trong bản chất muôn đời của vũ trụ, của con người. Mặt bên kia là thế giới của tưởng tượng. Thế giới này không đưa ra những giải đáp cho những câu hỏi “cái gì” và “tại sao”, nhưng nó diễn tả “cái là”, cái “chân như” của thực tại. Thực tại như nó thị hiện trong cảm nhận của con người sáng tạo. Thực tại này không gắn bó với những sự kiện mà lại quấn quít với những hình ảnh hư cấu. Và những hình ảnh hư cấu này mô tả hay, đúng hơn, tái hiện lại, sáng tạo trở lại những gì mà nhà văn đã cảm nhận. Đối với một nhà văn, hư cấu chính là ngôn ngữ của ông ta. Nó là tấm gương soi để nhà văn nhìn thấy trở lại cái nhìn, cái sống, cái thấy, cái cảm của mình. Như thế, ngôn ngữ trở thành hóa thân của tưởng tượng. Tất cả những hình tượng ẩn dụ, hoán dụ, so sánh, biểu tượng, huyền thoại… là những ngôn ngữ của sự tưởng tượng mang đầy nét thơ mộng, và tất cả bi kịch, hài kịch, thi ca… của con người chỉ là những dạng khác nhau của cái ngôn ngữ đó. Tưởng tượng, như thế, mở ra cái cánh cửa của một thế giới khác, trong đó sự thực hay thực tại không thể được kiểm chứng bằng luận lý, nhưng là qua sự cảm nhận. Cũng trong cái nhìn này, ngay từ những ngày xưa, Aristotle đã cho rằng tưởng tượng chính là phương cách giúp cho con người khám phá ra sự thật phổ quát, sự thật chung nhất. Aristotle cho rằng chính thi sĩ, chứ không phải là sử gia, đã thấu đạt được sự thật này vì anh ta là một người làm nên huyền thoại. Sự thật phổ quát và chung nhất, theo Aristotle, là loại sự thật không thể bị cầm nhốt trong những mạch lý luận hay trong những hệ thống mang màu sắc duy lý, và con người cũng không thể trao truyền nó cho nhau bằng sự lý luận. Nó là loại sự thật mà chỉ có tưởng tượng mới khám phá ra được và chỉ có ngôn ngữ của thi ca (một thứ ngôn ngữ thơ mộng) mới có thể diễn tả. Và, trong dòng suy tưởng ấy, tôi muốn nói rằng, chỉ bằng tưởng tượng như một chất ánh sáng, và với một thứ ngôn ngữ thơ như một chất nước mát để vun tưới, bông hoa sự thật ấy mới có thể bừng nở trong tim và trước mắt người.
3. Bàn về vai trò của tưởng tượng làm tôi nhớ đến bài nói chuyện về quyển sách “Ngàn Lẻ Một Đêm” trong tập Bảy Đêm (Seven Nights) của Jorge Luis Borges (3). Tập sách này gồm bảy bài thuyết trình của Borges, được trình bày tại Teatro Coliseo ở Á-căn-đình từ tháng Sáu đến tháng Tám, 1977. Trong bài nói chuyện về quyển Ngàn Lẻ Một Đêm, Borges nói về tính chất đông phương và về định nghĩa của từ này. Ông cũng nói về lý do tại sao lại “lẻ một” mà không chẵn “một ngàn” (Ông cho độc giả biết thêm rằng trong tiếng Anh có một thành ngữ đặc biệt: thay vì nói forever (mãi mãi), người ta thỉnh thoảng nói “forever and a day”. Ông cũng nhắc lại một câu thơ của Heine, viết cho một người nữ: “I will love you eternally and even after.”)
Theo sự tìm hiểu của Borges, những truyện Ngàn Lẻ Một Đêm này đầu tiên được kể tại Ấn Độ; sau đó, chúng bay sang Ba Tư, rồi sang Tiểu Á; cuối cùng, chúng được viết lại bằng tiếng Ả Rập, để rồi được thu thập vào thế kỷ thứ XV, tại Cairo, Ai Cập, và được hình thành dần để trở thành văn bản mà chúng ta hiện có ngày nay. Tài liệu cho biết rằng có những người chuyên môn đi kể chuyện dạo vào ban đêm tại Ba-Tư ngày xưa, được gọi là các confabulatores nocturni. Và chính các người kể chuyện dạo ấy đã là những tác giả đầu tiên của bộ sách Ngàn Lẻ Một Đêm sau này. Borges cho rằng việc bộ Ngàn Lẻ Một Đêm được dịch sang các ngôn ngữ Âu châu đã là một biến cố lớn của văn học Âu châu, văn học Tây phương. Bộ sách được dịch lần đầu tiên vào năm 1704, ở Pháp. Đó là nước Pháp của giai đoạn Đại Thế Kỷ (Grand Siècle). Đó là thời mà văn học Pháp được định giá bởi Boileau, người mất vào năm 1711 và không bao giờ tưởng tượng được rằng tất cả những lý thuyết và luận giải về văn học của mình lại sẽ bị nguy ngập bởi sự tấn công của một Đông phương huyền hoặc.
Boileau, với những lý thuyết và luận giải cũng như với những cảnh báo và ngăn cấm của mình, như một quan thái sư về văn học, đã cổ vũ sự tôn sùng luận lý. Ông muốn đặt một nền tảng luận lý cho thi ca. Khi bộ sách Ngàn Lẻ Một Đêm lần đầu tiên được dịch ra một ngôn ngữ Tây phương, là tiếng Pháp, bởi nhà Đông phương học Antoine Galland, vào năm 1704, nó đã gây nên một chấn động lớn, như một thứ “xcăng-đan”; nhưng nó cũng làm say mê một nước Pháp đầy duy lý của vua Louis XIV. Borges cho rằng khi chúng ta nghĩ đến trào lưu Lãng Mạn, chúng ta thường nghĩ đến những niên lịch muộn hơn sau này. Nhưng, theo ông, người ta có thể nói rằng trào lưu Lãng Mạn được bắt đầu vào một lúc nào đó khi một người nào đó, ở Normandy hay là ở Paris, đọc bộ Ngàn Lẻ Một Đêm. Ngay lúc ấy anh ta rời bỏ một thế giới được Boileau cai trị và bước vào một thế giới của tự do theo lối Lãng Mạn. Với trào lưu Lãng Mạn, Đông phương đã bước vào ý thức của Âu châu một cách huy hoàng và đường bệ. Byron và Hugo đã là những tên tuổi đi vào ký ức của văn học lãng mạn Âu châu. Và vào khoảng năm 1890, Kipling đã có thể nói rằng: “Một khi bạn đã nghe thấy tiếng gọi của Đông phương, bạn sẽ chẳng còn nghe thấy bất cứ một tiếng gọi nào khác nữa.”
Ngàn Lẻ Một Đêm là những chuyện như thế nào thì chắc chúng ta ai cũng biết. Chúng là những chuyện được tưởng tượng ra để mua vui. Nhưng tưởng tượng như thế nào? Những người kể chuyện dạo trong đêm kia đã tìm ra chúng ở đâu? Chuyện bắt đầu với một ông vua cay đắng vì sự phản bội của hoàng hậu, ông chém đầu vợ, và trong ý muốn không để cho mình bị lừa dối một lần nữa, nhà vua quyết định mỗi đêm lấy một người vợ và chém đầu người vợ ấy ngay sáng tinh mơ hôm sau. Cho đến khi nàng Scheherazade, tự hứa là phải cứu lấy những người đàn bà vô tội, xin được tiến vào cung để làm hoàng hậu một đêm. Và nàng đã sống sót bằng cách mỗi đêm lại kể cho nhà vua nghe một câu chuyện mà kết thúc của chúng không bao giờ chấm dứt vào đêm hôm được kể. Chuyện này nối tiếp chuyện kia, chuyện kia lồng vào chuyện khác, và những câu chuyện cứ theo nhau mà kéo dài mãi. Kết quả là nhà vua say đắm, lấy nàng và từ bỏ lệnh truyền độc ác của mình đi.
Một người đàn ông, hay một người đàn bà, đau khổ vì sự không chung thủy của người mình yêu. Đó là một thực tại hết sức bình thường trong cuộc sống. Nhưng từ cội rễ đó, bao nhiêu chuyện huyền hoặc và kỳ bí đã được kể ra. Những câu chuyện này, có lẽ trước hết cũng đã là những chuyện ngụ ngôn cũng như những câu chuyện của Aesop. Nhưng cái làm cho say mê bao nhiêu con người khi nghe hay đọc những câu chuyện ấy - dù là của Aesop hay của những người kể chuyện dạo ban đêm ở kinh đô xứ Ba Tư - không nằm nơi tính chất luân lý của những câu chuyện ngụ ngôn đó. Cái làm cho Aesop hay những confabulatores nocturni ấy trở nên những người có sức lôi cuốn đặc biệt là, trong những câu chuyện mà họ tưởng tượng ra, các con vật cũng để lộ ra cái đời sống đầy những bi và hài kịch như những con người bé nhỏ và tầm thường trong cuộc đời này. Chúng cũng nói chuyện, con sói nói chuyện với con cừu, con trâu với con lừa, con sư tử với con chim sơn ca…, và trong những câu chuyện ấy, chúng ta thấy thấp thoáng hình bóng của những con người. Chúng ta thấy đi lại, nói cười, khóc lóc, đau khổ, hạnh phúc trong những câu chuyện trong Ngàn Lẻ Một Đêm ấy, trước hết, là những con người mang tính cách nguyên mẫu, tính cách bản gốc, nhưng chúng ta cũng thấy được những con người mang đầy nét cá nhân, đặc thù và sáng tạo. Hẳn là những người kể chuyện ấy đã lần mò, chắp nối được những sợi chỉ muôn màu của thực tại vào trong cái guồng quay tơ của tưởng tượng mình để đêm đêm nó cứ quay đều quay đều mãi. Và thực tại hiện ra trong những câu chuyện mà họ kể đã trở nên một thứ thực tại mới mà con người chỉ có thể nắm bắt và trao gửi cho nhau bằng một thứ ngôn ngữ thơ mộng của sự tưởng tượng. Thật sự, những câu chuyện ấy cũng bắt nguồn từ thực tại của đời sống. Nhưng bây giờ, cái thực tại ấy có một bản chất khác. Nó không còn là một thực tại khách quan, nhưng đã trở thành một thực tại hòa chung với những cảm nhận, những ước mơ của con người. Để nói lại một lần nữa, thực tại trong văn chương cũng giống như một giấc mơ. Nó bắt nguồn từ đời sống, nhưng người ta không thể lắp ráp nó cho trùng khít với cuộc đời. Và cũng chính là ở đặc điểm này mà nó cuốn hút chúng ta. Nó là một thực tại mà con người vừa có thể mơ ước tới, lại vừa có thể cảm nhận trong cuộc sống giữa đời khi chúng ta giáp mặt và tiếp cận nó với tấm khăn voan mỏng của tưởng tượng.
Chúng ta đã nói rằng thực tại trong văn chương cũng giống như một giấc mơ. Và những giấc mơ cũng là một đề tài lý thú và hay được sử dụng trong những câu chuyện Ngàn Lẻ Một Đêm. Chẳng hạn, câu chuyện về hai người nằm mơ. Một người ở Cairo mơ thấy được một vị thần chỉ cho ông ta đi về Isfahan ở Ba Tư, nơi đó một kho tàng đang nằm chờ đợi ông. Ông bèn lên đường; và sau một cuộc hành trình dài đầy khó khăn gian khổ, ông đến được Isfahan. Lả người ra, ông nằm vật người dưới mái hiên của một ngôi đền để nghỉ ngơi. Ông không ngờ rằng ông đã nằm giữa đám trộm cướp. Và rồi cả nhóm đều bị bắt. Sau khi biết rõ là ông không thuộc vào tập thể những kẻ cướp kia, quan đầu tỉnh hỏi ông đến thành phố Isfahan để làm gì. Người đàn ông bèn kể lại giấc mơ của mình. Quan đầu tỉnh phá lên cười và nói với ông ta rằng: “Anh thật là một con người khờ dại và cả tin. Đã ba lần ta nằm mơ thấy một ngôi nhà ở Cairo, trong đó có một ngôi vườn, và trong ngôi vườn có một cái đồng hồ mặt trời, kế đó là một giếng nước và một cây vả, và dưới cái giếng nước ấy có một kho tàng. Thế nhưng chẳng bao giờ ta để ý một chút đến giấc mơ lếu láo ấy. Thôi, anh đừng bao giờ trở lại đây nữa. Hãy trở về quê quán của anh và làm ăn chăm chỉ.” Người đàn ông nghe lời, trở về Cairo. Đến nhà, ông nhận ra là ngôi nhà của mình đúng là ngôi nhà mà vị quan đầu tỉnh ở Isfahan đã mô tả. Ông đào, tìm ở dưới lòng giếng. Và thấy được kho tàng.
Câu chuyện này làm cho tôi nhớ lại truyện “Tiêu Lộc” trong Xung Hư Chân Kinh của Liệt Tử. Nguyễn Du, trong Nam Trung Tạp Ngâm, bài “Tặng Nhân”, cũng có nhắc đến giấc mơ “lấy lá chuối bọc hươu này”. Chuyện kể một người nước Trịnh ra đồng kiếm củi, thấy một con hươu lạc, đón đánh chết được. Sau đó, anh sợ người ngoài trông thấy nên giấu xác hươu vào một cái hào cạn, lấy lá chuối phủ lên. Thế rồi, bất chợt, anh ta quên bẵng ngay chỗ giấu con hươu, bèn cho là mình nằm mơ. Gánh củi về, trên đường đi, anh ta thở than một mình và cứ lẩm bẩm mãi về câu chuyện ấy. Có người đi cạnh nghe được, cứ thế mà truy tìm ra chỗ giấu hươu. Anh ta mang hươu về khoe vợ, và nói: “Lúc nãy có anh kiếm củi mộng bắt được hươu mà không nhớ giấu ở chỗ nào. Giờ ta tìm được thì anh kia đúng là mộng thực.” Người vợ nói: “Hay là chính anh đã mộng thấy người kiếm củi bắt được hươu, chứ làm gì có người kiếm củi thật. Bây giờ anh bắt được hươu thì có lẽ là anh mộng gặp người kiếm củi thật chăng.” Người chồng nói: “Đây ta cứ biết được hươu là được hươu. Cần gì phải biết rằng ta mộng hay hắn mộng nữa.”
Anh kiếm củi về nhà cứ vẫn tấm tức. Đêm ấy nằm mộng thấy chỗ giấu hươu và cả người đến lấy hươu. Sáng ra, anh cứ theo mộng mà tìm lại được người lấy hươu, và đem kiện lên quan sĩ sư. Quan xử: “Anh bắt được hươu, lại hoảng lên cho là mộng; sau, mộng tìm thấy hươu, lại hoảng lên cho là thực. Còn anh kia thì vợ nó lại tưởng là mộng được hươu của người chứ không có ai bắt được hươu thật. Bây giờ có con hươu đây, thì mỗi bên lấy một nửa.”
Cái án ấy được tâu lên vua nước Trịnh. Vua nói: “Ta ngờ rằng quan sĩ sư cũng thấy mình nằm mê mà cắt con hươu ra làm hai.” Rồi cho đòi quan tướng quốc đến. Quan tướng quốc nói: “Mộng với lại chẳng mộng, tôi không làm sao mà phân biện được. Muốn phân biện mộng hay thực thì chỉ có ông Hoàng Đế hay ông Khổng Tử mà thôi. Bây giờ hai vị ấy đã mất cả rồi thì còn ai mà phân biện được. Thôi, ta cứ làm theo lời ông sĩ sư là xong.”
Hai câu chuyện vừa kể, đều phát xuất từ Đông phương huyền hoặc, chưa cần xét đến tính cách ngụ ngôn hay triết lý sâu xa của chúng, ta cũng thấy ngay được những sợi dây nối kết chúng với thực tại. Trên một khía cạnh nào đó, chúng được nối kết với thực tại theo kiểu câu chuyện “Tái ông thất mã”. Một cách đơn sơ nhất, những kinh nghiệm trong đời thường có thể được đan quyện và biến hóa với một chút tưởng tượng để trở thành những thực tại mới. Những thực tại mới này, ở những dạng thô sơ nhất, có thể còn gần gũi với những thực tại trong đời. Ta còn dễ dàng lần ra sợi dây nối kết chúng với hiện thực. Nhưng văn chương, như một ống kính vạn hoa, luôn luôn biến hóa để cống hiến cho con người những thực tại kỳ diệu, những hiện thực huyền ảo nhất. Chúng được hình thành từ những giấc mơ sâu thẳm nhất của con người, và, như là những đóa hoa, chúng có thể mọc lên từ những nơi chốn tối khuất nhất của tâm hồn mỗi một chúng ta. Miễn là ở những nơi chốn đó, ánh sáng của tưởng tượng - chứ không phải của luận lý - vẫn có thể chiếu rọi tới. Và, nói như Fénelon, “Về những sự vận hành, hoạt động của tâm hồn, lý trí là yếu tố ít có mặt nhất.”
4. Ở một mức độ nào đó, tất cả những mảnh vải, mảnh lụa mà con người đan dệt nên bằng những chữ viết của mình, ít nhiều tùy theo bản chất của chúng, đều có pha trộn ngay trong bản thân chúng những sợi tơ của tưởng tượng. Viết, trên và trước, là một hoạt động cần đến trí tưởng tượng. Viết là rút ra từ trong ký ức của mình những hình ảnh, những câu chuyện, những biểu tượng… và sắp xếp chúng lại với nhau theo một trật tự nào đó. Công việc này không chỉ giản dị như việc các em bé cầm lấy những món đồ chơi trong hộp hay trong bị và bày biện chúng ra trước mặt. Cho dù, trong một cách nói nào đó đầy nét biểu tượng và so sánh, người ta có thể ví von công việc sáng tạo đầy tính thiên tài của một vài nhà văn nổi tiếng như thế. Thật sự, hành động viết đòi hỏi con người nỗ lực hơn thế nhiều lần.
Chúng ta đã từng nghe nhiều nhà văn nổi tiếng phát biểu về nỗi sợ hãi của mình trước trang giấy trắng như thế nào. Làm sao để có thể bắt đầu được dòng chữ đầu tiên. Làm sao để bắt được đầu mối của một câu chuyện. Nhiều người trong chúng ta đã từng có kinh nghiệm phải xé biết bao nhiêu trang giấy trước khi có thể viết được một câu đầu tiên mà chúng ta cảm thấy đúng cho một bài viết của mình. Chuyện gì đã xảy ra trong khoảng thời gian từ lúc chúng ta bắt đầu ngồi xuống trước trang giấy trắng - hay là còn trước thời điểm đó nhiều nữa - và lúc chúng ta bắt đầu viết được một câu vừa ý để khởi đầu cho một bài viết? Chúng ta phải suy nghĩ, nhiều khi phải đi vào trong những ngõ ngách cũ kỹ và tối tăm của tâm hồn mình để tìm kiếm lại những hình ảnh, những cảm xúc xa xưa; chúng ta phải sống trở lại những ngày nắng và những chiều mưa trong quá khứ, phải sống lại những mộng tưởng và những thiết tha, những hạnh phúc và những đau đớn cũ… Tất cả những điều ấy nhiều khi đã được vùi lấp trong những vùng đặc kín sương mù của biết bao tháng năm chồng chất.
Công việc đi ngược thời gian và đi vào trong chính mình như thế cũng có thể là đối tượng tìm hiểu của tâm lý miền sâu (depth psychology), của những hoạt động tiềm thức, vô thức. Biên giới của nó với sự tưởng tượng, có những lúc, không thể phân biệt được. Ngày xưa, đã có thời người ta cho nhà thơ, nhà văn, kẻ sáng tạo, là những người điên, hay những con người bị quỷ ám. Vì những điều họ nói hay viết ra, phần lớn, là những điều mà con người sống trong đời thường không thể kiểm chứng được. Chúng không thể chồng khít với thực tại. Vì chúng, như Aristotle đã nói, là “những lời nói dối”. “Những lời nói dối” tuyệt diệu, phải nói như thế cho đúng tinh thần câu nói của Aristotle. Vì chính Aristotle đã đánh giá rất cao vai trò của nhà thơ, người sáng tạo, kẻ, theo ông, “có một nghệ thuật nói dối tuyệt diệu và tài tình” (Thi Học/ Poetics, XXIV). Ông đặt vị trí của nhà thơ cao hơn vị trí của sử gia vì, theo Aristotle, sử gia chỉ là những người đi tìm sự thật qua những biến cố cá biệt và ngẫu nhiên; trong khi nhà thơ là những con người phát hiện ra được những sự thật phổ quát và có giá trị sâu sắc. Sự thật này nằm trong cái khả thể chứ không nằm trong cái hiện diện trước mặt hoặc đã xảy ra. Không như Plato đòi đuổi nhà thơ, con người sáng tạo, ra khỏi vương quốc của mình sau khi đã lịch sự “choàng vào cổ họ một vòng hoa”, vì ông cho rằng nhà thơ chỉ là kẻ phản ánh sai chân lý, vỗ về dục vọng và làm cho con người trở nên yếu đuối, Aristotle ca ngợi họ và cho rằng thơ ca, sáng vật của nhà thơ, kẻ sáng tạo, có thể thanh tẩy cảm xúc của con người và làm cho con người trở nên tốt hơn.
Trở lại với hành động viết. Nó hầu như luôn đòi hỏi sự tưởng tượng, cho dù chúng ta viết bất cứ điều gì. Nguyễn Hiến Lê trong phần “Lời Nói Đầu” cho bộ Hồi Ký của mình, cũng, trong một cung cách nào đó, ngầm công nhận điều ấy. Ông xin lỗi độc giả vì biết rằng trong bộ hồi ký của mình, có những chỗ, vì lý do này hay lý do kia, ông không thể hoàn toàn chính xác được. Ông cho rằng những tập hồi ký nổi tiếng nhất và được coi là gần với sự thật nhất, như tập Confessions của J.J.Rousseau hay tập Autobiography của Bertrand Russel thì cũng như vậy mà thôi… Ông viết, “Tôi đã ghi tình cảm, suy tư của tôi lúc này về một số sự việc xảy ra trong đời tôi mà tôi đã được nghe hoặc thấy. Có nhiều chỗ tôi đã vô tình chép sai sự thật, hoặc bỏ sót, điều đó không sao tránh được. Lỗi ở ký tính con người: nó bị tình cảm sai khiến; lại thêm ở tuổi bảy mươi như tôi, nó suy giảm nhiều rồi.” Thể loại hồi ký mà cũng phải chịu sự chi phối của tình cảm như vậy thì chúng ta nghĩ sao về những thể loại khác? Nói thế không có nghĩa là cho rằng Nguyễn Hiến Lê, và những người như J.J.Rousseau hay Bertrand Russel, đã không viết thật trong hồi ký của mình. Tôi trình bày điều đó ở đây chỉ để muốn nói rằng, Nguyễn Hiến Lê, trong cảm nghiệm về cuộc sống của chính mình, đã rất chân thật và đã cho chúng ta thấy ông đã hiểu rất rõ vai trò của ký tính là như thế nào. Nó chỉ là một bộ nhớ, và khi ký ức dẫn chúng ta đi quá sâu vào những vùng mà các dữ kiện đã bị mất dấu hoặc bị xóa bỏ, con người ta sẽ bắt gặp những lỗ hổng trên con đường trở về của mình. Nhưng tình cảm của chính con người sẽ làm công việc lấp bằng những lỗ hổng đó. Cái tình cảm ấy có thể được pha trộn với một số tưởng tượng có điều kiện, có nghĩa là những tưởng tượng này có gốc rễ từ những hoàn cảnh, biến cố nào đó trong cuộc sống của mỗi một con người, mà nếu không phải là một nhà phân tâm học, hay ngay cả khi chính mình là một nhà phân tâm, con người cũng chưa chắc biết được những điều kiện tạo nên những hình ảnh không thật kia đã xuất phát từ đâu. Tưởng tượng, như thế, có thể là một cơ chế tự nhiên giúp cho con người nối kết những mảnh rời, những khoảng cách thiếu cầu nối trong ký ức họ. Nó là một cơ chế đã được “gài” sẵn trong sự sống của con người.
Trong quyển Bay Đêm (Vol de Nuit) và, nhất là, sau đó với quyển Cõi Người Ta (Terre des Hommes ), Saint-Exupéry đã viết về kinh nghiệm sống trong vai trò là một phi công đưa thư thời thập niên 20, lúc phi cơ vẫn còn là một “khí cụ” khá xa lạ với con người.
Giữa lòng một vài đêm thâu lục nhạt, tôi đã nhìn những tia lửa băng trời thành một đường rẽ vút như một làn gió dài dàn rộng giữa muôn sao (…)
Trước nhãn quan mình, tôi luôn luôn nhìn thấy lại chuyến bay đêm lần đầu tại Argentine, một đêm tăm tối, nhìn xuống bình nguyên, chỉ thấy một vài ánh sáng cô đơn lấp lánh thưa thớt như những vì sao.
Trong bóng tối bao la mờ mịt, mỗi ánh đèn báo biểu mỗi hiện diện huyền diệu của mỗi tâm linh. Chốn này, người ta đang xem sách, người ta đang suy tưởng, người ta đang thổ lộ tâm tư. Nơi kia có lẽ người ta đang dọ dẫm không gian, người ta đang mỏi mòn trước những con số, tính toán mãi về tinh vân Andromede. Chốn nọ, người ta đang yêu đương. Đó đây, lác đác trên cánh đồng, những ánh lửa đang đòi hỏi được nuôi dưỡng, giữ gìn. Cho đến cả những ánh đèn kín đáo nhất, của nhà thơ, của nhà giáo, của người thợ mộc… Nhưng giữa đám sao rào rạt sống động kia, còn biết bao cánh cửa kín bưng, biết bao tinh cầu tắt lịm, biết bao con người ngủ say.
Phải gắng làm sao tiếp ứng nhau.
Phải gắng thử tương giao với một vài đốm lửa đang thưa thớt cháy trong cánh đồng bình lặng dưới kia. (…) (4)
Quyển Vol de Nuit của Saint-Ex. được giải Prix Fémina năm 1931. Quyển Terre des Hommes, sau đó, càng nổi tiếng hơn nữa. Nó được khắp thế giới biết tiếng và được yêu mến bởi bao nhiêu triệu độc giả. Saint-Exupéry trong cuốn sách này, cũng như trước đó trong Vol de Nuit, đã tả về kinh nghiệm thực trong nghề nghiệp của mình. Những chuyến bay đưa thư trong những cơn dông bão trên biển cả. Những lần lạc mất trong không gian tối thẳm của đêm, chỉ nhìn thấy xa xăm vời vợi trong vũng tối bao la của không gian trước mặt một ánh tinh cầu le lói. Những lần rớt máy bay trong sa mạc hoang vu… Tất cả đã là những kinh nghiệm thật. Nhưng cách viết của Saint-Ex., cách kể lại những kinh nghiệm thật chen lẫn với những mẩu chuyện đời, những suy tư đầy tính triết học về cõi con người, đã làm cho tác phẩm của ông trở nên đặc biệt. Theo lời giới thiệu của Ban chủ biên tủ sách Time-Life Books, trong bản dịch tác phẩm này sang tiếng Anh của Lewis Galantière dưới nhan đề Gió, Cát và Sao Đêm (Wind, Sand and Stars, theo tựa đề cũ tiếng Pháp cho tác phẩm này của chính Saint-Ex. là Du Vent, Des Sables, et Des Étoiles), tác phẩm này đã làm bối rối cho ngay cả những nhà chuyên môn. Họ yêu thích nó, nhưng không biết phải xếp nó vào thể loại nào. Ba tháng sau khi được xuất bản, nó được Hàn Lâm Viện Pháp trao giải Grand Prix du Roman (Giải Thưởng Lớn cho Tiểu Thuyết). Họ cho đó là tiểu thuyết hay nhất của năm 1939. Những nhà xuất bản Mỹ, về phần họ, đã chọn Wind, Sand and Stars là “the best non-fiction book of the year” (tác phẩm phi hư cấu hay nhất trong năm).
Fiction, theo tự điển Oxford, và cũng là theo cách chúng ta vẫn thường hiểu, là “những gì được sáng tạo ra hay được tưởng tượng ra, trái với sự thật. Xét về mặt văn chương, nó liên hệ đến những thể loại như truyện ngắn, tiểu thuyết, những tác phẩm tình cảm lãng mạn…” Kinh nghiệm thật sau khi viết ra được coi là tưởng tượng, sáng tạo! Đó là kinh nghiệm của một nhà văn nổi tiếng của nước Pháp và là một nhà văn được cả thế giới yêu mến. Như thế, Hàn Lâm Viện Pháp, một cách mặc nhiên, đã xác nhận vai trò của tưởng tượng trong một tác phẩm văn chương, cho dù là nó đã được viết ra gần như trong dạng tự thuật, hồi ký.
Susan Sontag, trong quyển Tôi, v.v… và v.v… (I, etcetera) (5), đã trình bày con người mình trong những góc cạnh khác nhau, bằng những chất giọng khác nhau, khi thì nghịch ngợm, lúc lại trầm ngâm, khi thì thương cảm, lúc lại khôi hài, có lúc lại đầy chất trữ tình tha thiết. Qua tất cả những góc độ nhìn ngắm và bằng tất cả những chất giọng pha trộn ấy, qua tám truyện ngắn của tập truyện ngắn đầu tay này, bà đã cho chúng ta thấy được một con người tác giả đầy màu sắc trong nhiều chiều kích khác nhau. Con người tác giả này với Susan Sontag ở ngoài đời có thể chập vào nhau được không, có thể lắp ráp trùng khít vào nhau hay không, chuyện đó là thuộc về nhiệm vụ của người đọc - nếu họ muốn trả lời những câu hỏi trên. Trong nhận xét của tôi, Tôi, v.v… và v.v… của Susan Sontag chứa đầy sự thật mà cũng đựng đầy hư cấu. Thì tôi vẫn là tôi đấy, nhưng tôi cũng lại còn là một người khác nữa. Chính vì thế mà Borges đã viết Borges và Tôi (Borges and I), một tiểu luận thật ngắn và thật độc đáo mà tôi sẽ thử dịch ở đây. Tiểu luận này lại càng làm cho Borges nổi tiếng, và biến ông trở thành một huyền thoại:
Tất cả mọi chuyện là đã xảy đến cho một kẻ khác kia, cho Borges, chứ không phải là xảy đến cho tôi. Về phần tôi, tôi bước đi thong dong trên đường phố Buenos Aires, và, có những lúc, tôi ngừng lại, gần như một cách máy móc, để ngắm nhìn cái mái vòm cong khum khum của lối vào một ngôi nhà thờ kiểu cổ. Tin tức về Borges đến với tôi qua các thư từ mà tôi nhận được, và tôi có thấy tên hắn ta trong một danh sách ngắn của ban giáo sư đại học hay trong một quyển tự điển các tác giả. Tôi thì tôi mê các đồng hồ cát, những tấm bản đồ đủ loại, những kiểu in ấn thuở xưa thời thế kỷ thứ mười tám, tìm hiểu từ nguyên của các từ, thưởng thức mùi vị cà phê, và văn xuôi của Stevenson; kẻ kia hắn cũng chia sẻ những sở thích của tôi, nhưng với một cung cách khá phô trương và có vẻ đầy kịch tính. Dù sao, cũng là một sự quá đáng nếu gọi liên hệ của chúng tôi mang tính thù nghịch. Tôi sống, tôi chấp nhận tiếp tục sống để Borges có thể chải chuốt, thêu dệt văn chương của hắn ta; và cái văn chương này lại xác định, biện minh cho chính con người tôi, cho chính sự hiện hữu tôi. Tôi cũng không thấy phiền hà hay ngại ngùng gì để thú nhận rằng kẻ kia, Borges, hắn cũng có cố gắng để viết được dăm ba trang xứng đáng, ra hồn, nhưng những trang sách này cũng chẳng cứu vớt được tôi, có lẽ vì những áng văn hay thì chẳng thuộc về một ai cả, ngay cả thuộc về kẻ kia, có lẽ chúng thuộc về chính ngôn ngữ, thuộc về truyền thống. Ngoài việc đó ra, định mệnh tôi đã được ghi dấu; tôi đã được định trước là sẽ phải đi vào lãng quên, lụi tàn dần, và, cuối cùng, cái tôi còn lại có chăng chẳng có gì hơn là một vài tia lửa hiện sinh nơi tôi bật cháy lấp lóe trong tác phẩm của kẻ kia. Từng chút, từng chút một, tôi trao gửi, giao nạp tất cả cho hắn, cho dù là tôi thừa biết cái thói xấu hay xuyên tạc lấm lem và hay cường điệu quá quắt của hắn. Spinoza đã hiểu rằng tất cả mọi sự đều muốn được tiếp tục mãi mãi trong chính bản thể của nó: Một hòn đá muốn là một hòn đá, muôn đời như thế, và một con hổ muốn là một con hổ, mãi mãi. Và tôi, tôi phải tiếp tục sống trong Borges, chứ chẳng phải trong tôi (nếu tôi có là một người nào đó đi chăng nữa). Nhưng tôi rất ít khi nhận ra mặt mày chân tướng mình, bản lai diện mục mình, trong những quyển sách hắn viết hơn là trong những quyển sách của những tác giả khác, hoặc là không bằng trong cái cách khảy đàn rất vụng của tôi. Nhiều năm trước đây tôi đã thử tìm cách cắt rời tôi ra khỏi hắn trong việc đào bới những huyền thoại về đời sống trong các khu nhà nghèo khó ở vùng ngoại ô, cũng như là trong việc đâm đầu vào những trò chơi với thời gian và vĩnh cửu; nhưng những trò chơi này bây giờ là của Borges, hắn cũng khoái chúng, và tôi sẽ phải tìm ra một trò khác. Và thế là đời tôi cứ chảy mòn, cạn kiệt dần, và tôi mất tất cả mọi sự, và tất cả đi vào quên lãng, hay tất cả là để phó mặc cho kẻ khác kia.
Tôi không thể nói được rằng ai trong chúng tôi đã viết ra những dòng chữ này. (6)
5. Nhưng tất cả những điều được xem là tưởng tượng, hư cấu kia, có những khi, lại dẫn người ta trở về tìm lại những thực tại được phơi bày hoặc chôn giấu trong đời thường. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của văn chương thế giới làm tôi vô cùng yêu thích là quyển Cầu Trên Sông Drina (Na Drini Cuprija), giải Nobel văn chương năm 1961. Nguyễn Hiến Lê đã dịch quyển sách này rất hay (7). Tác giả Ivo Andric gọi tác phẩm này là một biên niên sử. Thật vậy, cuốn sách kể lại lịch sử trên dưới ba trăm năm chục năm của Nam Tư (Yugoslavia). Bao nhiêu là thế hệ đã trôi qua. Chiến tranh, lửa khói, lụt lội, tai ương, tang tóc cũng như bao nhiêu niềm vui, nỗi buồn, nụ cười và nước mắt của biết bao con người trong cuộc sống giữa đời đã trôi xuôi theo dòng nước dưới gầm cầu. Màu thời gian lững lờ in bóng trên mấy trăm trang sách. Đây là một cuốn biên niên sử, nhưng đây cũng là một cuốn tiểu thuyết tuyệt vời. Sân khấu của nó quá rộng, những diễn viên, nhân vật quá nhiều, và thời gian của cuốn sách cứ cuồn cuộn trôi qua như những cuộc đời cứ nối tiếp nhau không bao giờ cùng tận. Từ những ngày đọc xong quyển sách này ở Sài Gòn vào năm đầu đại học, tôi đã bồi hồi sống với cuộc đời của những con người tưởng là xa lạ nhưng lại hết sức gần gũi ấy. Những con người bằng xương bằng thịt, sống và thở và khổ đau và hạnh phúc và cười khóc giữa đời. Tôi nhìn ra cái dòng thời gian lững lờ trôi chảy trên mấy trăm trang sách, và tôi đã thật buồn khi đọc đến những dòng cuối. Tôi không muốn câu chuyện của hơn ba trăm năm lịch sử đó chấm dứt vì, đối với tôi, nó không chỉ kể lại câu chuyện của lịch sử Nam Tư. Nó kể lại câu chuyện của đất nước và con người. Ở mọi thời và mọi nơi.
Ivo Andric là một nhà văn có tài. Ông cũng là một sử gia sâu sắc. Trước khi là một nhà ngoại giao, ông đã trình ở đại học Gratz một luận án tiến sĩ về đời sống tinh thần của người dân ở Bosnia-Herzégovina dưới thời bị Thổ Nhĩ Kỳ thống trị. Là một nhà văn, đồng thời cũng là một nghệ sĩ lớn, một nhà tâm lý với một cái nhìn thật sắc cạnh, trong tác phẩm này, Ivo Andric đã trình bày chi li những khuất khúc của tâm hồn những người dân ở đây, ở Visegrad: những người Thổ và Slave theo Hồi giáo, người Serbian theo Chính thống giáo, người Croatian theo Công giáo, những thày dòng thuộc tu hội thánh François d’Assise , những người Do thái, những sĩ quan Áo, những bọn hảo hán lục lâm… cùng những tục lệ cổ và những huyền thoại, những truyền thuyết gắn bó lấy cuộc đời họ, những trận chiến, những nguyện ước, và những mối căm thù tàn bạo, những đam mê kinh khủng của họ. Tất cả đều quấn quyện lấy nhau và có những liên hệ mật thiết với chiếc cầu đá mười một nhịp, với chiếc vòm khum khum mở rộng. Từ chiếc cầu đó, cả một thung lũng gợn sóng tỏa ra thành hình quạt với những xóm làng cheo leo trên sườn đồi, những thung lũng mơn mởn ruộng nương, đồng cỏ, vườn mận, và lác đác đó đây là những khu rừng nhỏ cùng những bụi cây bách… Đời sống người dân và lịch sử thu gọn của dân tộc Nam Tư nổi trôi theo dòng nước mà tháng năm cuốn đi dưới lòng cầu. Tờ The Daily Telegraph đã cho rằng “Cầu Trên Sông Drina là một tác phẩm lịch sử tiểu thuyết đứng đầu trong thể loại này, là một kết hợp tuyệt vời và lôi cuốn giữa thực tại và truyền thuyết… phóng chiếu và phản ánh cả một giai đoạn lịch sử với một kỹ thuật kể chuyện tuyệt luân”. J.B.Priestley thì lại cho rằng đây là “một tác phẩm đầy sức sống và sự tưởng tượng chi li, đòi hỏi một sự theo dõi cẩn trọng và một cung cách đọc thảnh thơi, thư giãn, hạnh phúc… Điều mà chúng ta có được ở đây khó có thể nói cho chắc là một tiểu thuyết, nhưng nó thuộc về một thể loại kịch trường ca dân tộc đầy nét bi tráng, được thể hiện bằng văn xuôi”.
Ivo Andric đã kết hợp nhuần nhuyễn khả năng nắm bắt hiện thực lịch sử của ông, như một sử gia, với trí tưởng tượng phong phú, linh động và sắc nét của một nhà văn, để vẽ lại bức tranh lịch sử hoành tráng này. Cuốn sách là một tiểu thuyết lịch sử, có nghĩa là lịch sử đã được tiểu thuyết hóa. Và nó đã làm cho tôi cứ bị băn khoăn, ám ảnh mãi. Tôi cứ muốn tìm biết thêm về khung cảnh làng mạc, đất nước Nam Tư nói chung và Bosnia-Herzégovina nói riêng. Tôi muốn tìm biết thêm về cuộc sống tinh thần cũng như vật lý của những người dân ở đấy. Bởi thế, chính vì không muốn chấm dứt quyển Cầu Trên Sông Drina, khi sang đến Mỹ, có dịp tìm tòi trong các tiệm sách cũ và các thư viện, tôi đã tìm được quyển Chuyện Cũ Bosnia (8) cũng của Ivo Andric. Nằm trong bộ trilogy (ba quyển, trong đó có cả quyển Cầu Trên Sông Drina) viết về quê hương Bosnia của Ivo Andric, về lịch sử, đất nước và con người Nam Tư, tác phẩm này còn dài hơn là quyển Cầu Trên Sông Drina nữa. Nó là tác phẩm dài hơi và vĩ đại nhất của nhà văn nổi tiếng người Nam Tư này. Cũng được đặt trong khung cảnh của xứ Bosnia, cuốn sách trình bày cuộc sống của cư dân ở một làng quê tỉnh Travnik, nơi Ivo Andric được sinh ra, trong khoảng thời gian từ năm 1807 đến năm 1814, khi Napoleon đã bị thảm bại và sự tái lập nền Dân Chủ Pháp đã khiến cho tòa lãnh sự Pháp ở Bosnia phải đóng cửa. Ivo Andric, trong quyển sách này, đã vực dậy đời sống của bao nhiêu tầng lớp người trong cái cộng đồng dân quê của một xứ sở còn rất nghèo nàn và lạc hậu gần như man rợ ấy, kể cả đời sống của một vị lãnh sự Pháp, hai vị lãnh sự Áo, và ba vị tể tướng Thổ. Ông đưa ra trước mắt người đọc một tài liệu thật sống thực và lôi cuốn về những sinh hoạt hằng ngày cũng như đời sống tinh thần của bao nhiêu con người, trong những vị trí và hoàn cảnh cá nhân của họ, mà vẫn không bị lạc mất cái bối cảnh lớn là những âm mưu chính trị và những sức mạnh vô hình vẫn đang âm thầm hoạt động và chi phối cuộc sống của tất cả những con người đang nằm trong cơn lốc của chúng. Tác giả cũng cho ta thấy rõ cuộc sống cô đơn trong cảnh bị cô lập của những người ngoại quốc khi sống giữa một nền văn hóa xa lạ, trong một bầu không khí nặng nề u uất, qua đó, cho người đọc nhận chân được những phẩm chất cao quý của con người nói chung. Những phẩm chất này được thể hiện rõ khi con người bị đẩy vào thế phải đối mặt với nỗi buồn sầu tưởng là không thể nào chịu đựng nổi của cuộc sống và sự kiên trì đầy tính cao cả của nó trong việc chấp nhận để tiếp tục giữ mình trong cuộc.
Cuốn sách làm sống dậy trong tôi cái khung cảnh xa lạ mà lại rất quen thuộc thân thương của con người và lịch sử Nam Tư. Nó làm tôi có cảm tưởng là mình đang sống với những con người nghèo nàn cùng khổ của chính quê hương mình. Nó làm tôi chia sẻ những bồi hồi lo lắng hoang mang sợ sệt nhưng cũng có những lúc hạnh phúc sung sướng của những người dân Bosnia kia, những con người cũng đã chịu những nỗi dày vò đau đớn của bao thảm cảnh loạn lạc ly tán giống như những người dân nghèo khổ của đất nước tôi. Rồi tôi thấy mình càng ngày càng tìm sâu vào đời sống vật lý cũng như tinh thần của người dân Nam Tư qua đủ loại sách báo. Có lần tôi mua được một quyển sách xuất bản năm 1934 của Louis Adamic, mang tựa đề Cuộc Trở Về Của Đứa Con Hoang (The Native’s Return/ An American Immigrant Visits Yugoslavia and Discovers His Own Country) (9). Cuốn sách với bản khắc gỗ ngoài bìa và những phụ bản là nhiều bức hình chụp đen trắng cũ kỹ của sáu, bảy chục năm về trước, cho thấy khung cảnh đất nước, làng mạc, thành phố, chợ búa, và con người Nam Tư trong quần áo hằng ngày cũng như trong những trang phục mà họ mặc trong các dịp lễ hội, làm cho tôi thật thích. Tác giả là một người gốc Nam Tư, được cha mẹ đưa sang Mỹ di cư từ nhỏ nên đã sống và suy nghĩ như một người Mỹ. Lớn lên, trở thành một ký giả danh tiếng, tình cờ trở về quê hương, ông đã được người quê hương nhận biết và chào đón hằng ngày - trong ba bốn hôm liên tiếp trước khi ông đặt chân trở lại đất quê nhà -trên báo chí địa phương khi chiếc thuyền chở ông về nơi chôn nhau cắt rốn còn đang lênh đênh trên biển cả. Ông đã trở về và, với cặp mắt của một người ngoại quốc nhưng với một trái tim của một con người quê hương, ông đã học hỏi lại những phong tục tập quán của đồng bào mình cũng như đã tìm hiểu để thích thú khi thấy được ý nghĩa của các truyền thuyết cùng những huyền thoại đã nuôi lớn con người và đất nước ông. Cuốn sách được viết như một tự sự hồi ký nhưng lại có giá trị của một nghiên cứu nhân chủng, xã hội, tâm lý sâu sắc đầy sức lôi cuốn. Nó làm tôi say mê.
Tám năm trước, vào một mùa hè, từ một cuốn sách của Ivo Andric mà tôi đã được xem thời bắt đầu bước chân vào ngưỡng cửa đại học - một cuốn sách như một bông hoa kỳ bí nở ra trong một khung cảnh loạn lạc, máu lửa chen lẫn hạnh phúc thiết tha của những người dân thuộc thành phố Visegrad, Nam Tư; một cuốn sách như một bông hoa kỳ bí, lạ lùng nở ra trong sự nghiên cứu về lịch sử quê hương mình quấn quyện với trí tưởng tượng độc đáo của một nhà văn - tôi đã lên đường sang thăm Nam Tư. Tôi đã đi thăm chiếc cầu trên sông Drina. Được xây đi xây lại mấy lần vì chiến tranh bom đạn tàn phá, giữa cảnh núi non hùng vĩ, chiếc cầu vẫn còn đứng đấy nhìn dòng thời gian lờ lững trôi xuôi. Màu thời gian tím ngát. Nó làm tôi bùi ngùi, cảm động. Tôi cũng đi thăm Dubrovnik, mà lịch sử hình thành được tính ngược trở lại từ thế kỷ thứ năm. Đây là một thành phố cổ với bức tường thành có số tuổi hơn một ngàn năm bao quanh. Rồi tôi đi Sarajevo thăm những con đường với những vọng tháp còn vương vất hơi thở của thời kỳ lịch sử Ottoman. Tôi cũng đi Mostar thăm ngôi làng cổ cùng chiếc cầu đá một nhịp nổi tiếng khắp thế giới - được xây vào thế kỷ XVI - ở đây. Khung cảnh đầy chất Thổ Nhĩ Kỳ với những con đường làng nhỏ ngoằn ngoèo, những ngôi nhà cổ với ống khói thở những hơi thở nặng nề, mệt nhọc lên trời xanh, những tiệm chạp phô bày cả ra ngoài lề đường với những ông già mặc áo kiểu Thổ, râu rậm dài xuống ngực và những cô gái mười tám hai mươi mắt đầy trời xanh ngồi bán những món đặc sản địa phương và những tấm thảm dệt đầy những đường nét kỷ hà vân vi nhiều màu sắc. Mostar là một làng nhỏ nhưng cũng mang trong nó cái hơi thở lịch sử như Visegrad và Sarajevo. Khoảng hơn một năm sau khi tôi đến thăm Nam Tư, vào tháng Chín 1991, Croatia đã đòi độc lập để tách khỏi liên bang chung mang tên gọi cũ là Yugoslavia (Nam Tư). Chiến tranh lại bắt đầu, và cuộc chiến ấy lại đẩy người dân Nam Tư vào một cơn ly loạn mới, chưa biết bao giờ mới thoát ra được. Sarajevo, Dubrovnik, và cả Mostar đã bị tàn phá nặng nề. Chiếc cầu đá một nhịp nổi tiếng của Mostar - ngày nào được đưa lên trang bìa của tờ báo TIME - giờ đã bị bắn sụp. Nghe những tin này, tôi thấy lòng quặn đau như khi nghe tin Huế bị tàn phá đổ nát trong cuộc chiến. Huế cũng như những thành phố ấy không phải chỉ là sự kết hợp của những cột đá, những đền đài, nhà cửa, đường phố, cây cối… Chúng có một linh hồn, và chúng có một quá khứ. Cây cầu ở Mostar đang được xây cất lại. Nhưng vết thương của chiến tranh ly loạn đã hằn sâu trong nó. Tôi thấy thương tiếc và đau lòng vì những cái đẹp đã bị tàn phá, bị bóp chết một cách hung bạo.
Sự tưởng tượng của một nhà văn có tài là Ivo Andric đã dẫn nhiều người, trong đó có tôi, tìm biết về lịch sử và con người Nam Tư. Cũng như chính là vì Kawabata, giải Nobel văn chương năm 1968, với những cuốn sách nổi tiếng của ông - đặc biệt là hai cuốn Xứ Tuyết (Yukiguni/ Snow Country) và Tiếng Rền Của Núi (Yama no Oto/ The Sound of the Mountain) - mà tôi đã để ý tìm hiểu thêm về đất nước, con người và văn hóa Nhật (10). Để thấy rằng dân tộc và con người ở đâu cũng mang trong mình những phẩm tính cao quý chung của loài người. Lịch sử của dân tộc nào cũng chia sẻ những khốn cùng, đau thương và những vết rạn nứt chung của trái tim nhân loại. Sự tưởng tượng, như thế, lại thúc đẩy con người tìm về với thực tại và những giá trị đích thực của chúng.
Về vấn đề này, ở đây, tôi muốn nói chút ít về một câu chuyện mà, bây giờ, đọc lại tôi vẫn còn cảm thấy lôi cuốn. Câu chuyện này cũng chứng minh cho điều mà tôi vừa nói: sự tưởng tượng có thể lại thúc đẩy con người tìm về với thực tại và những giá trị đích thực của chúng. Ngay từ khi lên bảy tuổi, Heinrich Schliemann đã được đọc và nghe kể lại về câu chuyện thành Troy, một câu chuyện mà ai cũng tin là chỉ mang tính chất huyền thoại, được viết vào khoảng thế kỷ thứ tám trước Tây lịch. Nhưng Schliemann, từ tác phẩm thơ Iliad (và Odyssey) mang đầy nét huyền hoặc kia của Homer - về nàng Helena, về Ulysses, và về những nhân vật mang đầy nét thần thoại khác -, lại muốn tìm bắt thực tại. Ông tin rằng Troy là một thành phố có thật, và ông nhất quyết tìm ra nó. Vào thời ông, những năm bảy mươi và tám mươi của thế kỷ XIX, ngành khảo cổ học còn trong giai đoạn sơ sinh. Thiếu hẳn những kiến thức và kỹ thuật của ngành khảo cổ hiện đại, và, chỉ được trang bị với một cuốn Iliad quăn queo luôn luôn có trong túi áo, Schliemann, người kém khoa học nhất trong tất cả các nhà khảo cổ mà nhân loại được biết, đã tìm lại được thành Troy cùng với những chứng tích lịch sử đầy huy hoàng và lôi cuốn của nó. Schliemann trở nên cha đẻ của khoa học về khảo cổ thời hiện đại. Tưởng tượng đã cho thấy rằng nó có sức lôi cuốn và dẫn dắt con người tìm về thực tại để khám phá trở lại những giá trị đã được mã hóa trong tác phẩm. Tưởng tượng, như thế, không cắt rời con người ra khỏi thực tại; trái lại, nó hoạt động như một chiếc cầu bắc ngang qua những biên giới vô hình để nối kết những bờ thực và bờ mộng của đời sống. James Joyce đã nói về kinh nghiệm có tính thiêng liêng này của mình như sau: “Ô! Trong cung lòng trinh trắng của tưởng tượng, lời [chữ nghĩa] đã trở thành xương thịt”. Joyce cho rằng nghệ sĩ là một “linh mục” đã biến tấm bánh mì hằng ngày của kinh nghiệm thành ra mình máu đẹp tươi, sáng láng của sự sống vĩnh hằng (11). Northrop Frye, trong The Educated Imagination, cho rằng thế giới của chúng ta có thể có bất cứ một chiều kích lớn lao nào mà sự tưởng tượng của chúng ta cho phép. Ông cho rằng không có gì ở ngoài sự tưởng tượng, vì trong lãnh thổ của sự hiện hữu con người, tưởng tượng đã tiếp máu cho tất cả những gì thuộc về sự sống. Frye còn cho rằng tưởng tượng sẽ không chịu ngừng nghỉ cho đến khi nào nó “nuốt trọn” tất cả mọi sự, kể cả thời gian và không gian, vào trong nó (12).
Và, chính là tôi, hay một kẻ nào khác, hay sự tưởng tượng của mình đã viết ra những dòng này trong một bài thơ năm xưa: (…)
Rồi tôi thấy tôi lang thang ở vùng biển Địa Trung Hải
Saint-Paul-de-Vence, gần Nice, Côte d’Azur
Những con đường nhỏ lát gạch cũ kỹ ngoằn ngoèo dẫn mãi lên cao
Những kiến trúc để lại từ thời Trung Cổ
Những bức tranh của Picasso, Klee, Dufy, Utrillo, Derain
treo đầy những bức tường ở Colombe d’Or
trả giá cho những bữa ăn thời các họa sĩ còn đang lang thang đói rét
Và mộ Marc Chagall nằm trên đồi cao gió thổi
Giữa những um tùm cây cối và những tiếng đùa vọng của chim
Ánh sáng ở đây như được lọc qua những tấm kính màu
Ở Chapelle du Rosaire do Matisse làm ra
Ánh sáng thơm và mát
Chagall đã ra đi từ 1985
Tôi gõ tay vào ngôi mộ xi măng giản dị của ông, một ngôi mộ với nét vẽ nguệch ngoạc hình thiên thần hai cánh tung bay tay cầm một chân nến Hanukkah (Ngôi mộ giản dị hơn bất cứ một ngôi mộ nào ở cái nghĩa địa gió này)
Ông cụ mở cửa hỏi tôi cần gì
Tôi bảo tại sao con người lại bay đi như chim
Tại sao con người là một nốt nhạc
Ông cụ bảo rồi anh cũng sẽ bay đi
Anh cũng là một nốt nhạc
Con người ai cũng có khả năng bay
Còn khi rung động thì họ là một nốt nhạc
Con người sẽ bay lên và họ sẽ trở thành những nốt nhạc
Nhất là khi họ yêu thương và muốn với lên những vì sao
Tôi cám ơn ông cụ và đi lang thang về những con đường,
những thành phố khác
Ở Czechoslovakia,
mùa Xuân vẫn còn đang rộ nở tại Praha
Kafka và những giấc mơ
Những con đường ngoằn ngoèo nguệch ngoạc
vẫn chạy mãi vào những trang lịch sử
Cầu Charles trên dòng Vltava
và nhà thờ Saint George ở Xóm Cũ
Tại Budapest, lịch sử Hung Gia Lợi vẫn trôi
trên dòng Danube
Con người vẫn sống vẫn thở vẫn yêu thương trên hai bờ Buda và Pest
Ở Yugoslavia,
tôi nằm nghe gió thổi miên man trên cái kapia
Cầu trên sông Drina
Ivo Andric
Những cuộc đời lại quày quả trở về
xôn xao trong tim trong mộng
Và chiếc cầu đá cổ ở Mostar
trên dòng Neretva
Bao thế kỷ rồi vẫn nhìn đời sống lướt trôi lướt trôi về vô tận
Tôi đứng trên cầu nhìn những xóm nhà heo hút
dần dần khuất bóng vào sương núi lam chiều
Ở Sarajevo, ở Dubrovnik, và ở biển Adriatic cô liêu
Những con người vẫn bay đi bay về trên dòng thời gian quạnh quẽ
Đó là một dòng chảy xanh lơ
Bây giờ máu đang chảy ra ở những nơi chốn đó
Những mộng mơ tôi nơi ấy chắc cũng hoảng hốt đập cánh tung bay
Tôi lại nhớ đến quê nhà
Những con đường và những bóng cây
Những làn khói xanh lơ và những dòng sông thuở nhỏ…
Tôi vẫn đi trên những con đường của cuộc đời
Gió mưa nắng quái và những sáng bạch chiều rơi
Những ánh sáng và những hương hoa tôi thầm ôm ấp
Có khi là những con chim dịu dàng mềm mại
Chúng thổi tiếng vi vu của cuộc đời vào lòng tôi sâu thẳm
Có khi, ừ có khi, chúng biến thành những vệt gai đâm
Hay có khi chúng thành những mảnh kính sắc
Đâm cắt vào lòng rạch nát vào tim
Tại sao những mảnh kính tại sao những mẩu gai?
Tại sao tiếng cười tại sao dòng lệ?
Thế nhưng tôi vẫn yêu mãi cuộc đời
Tôi vẫn chẳng thôi yêu thương những con chim, những dấu gai, và những mảnh kính sắc kia
Chúng dạy cho tôi biết thế nào là cuộc sống
Thế nào là dòng máu thế nào là trái tim
Thế nào là khổ đau thế nào là hạnh phúc
Và bảo rằng tôi vẫn ở giữa muôn thuở con người
Và thế nào là một niềm tin.
Cậu bé nhỏ vẫn còn nghe mãi những tiếng mưa rơi
Những tiếng mưa rơi mịt mù trong khu xóm vắng
Tiếng mưa chạy đuổi nhau với những vì sao
rớt về từ triệu năm ánh sáng
Tôi vẫn đứng trong khu rừng kia
Người con gái mắt mềm như lá múc tay xuống dòng sông ấy
(Dòng sông lổ đổ tiếng cười của những vì sao)
Cầm lên đưa tôi một con suối nhỏ
Con suối giờ vẫn còn xao động trong tim
và những vì sao trong đó vẫn còn thức giấc
Tôi vẫn ngồi trên một mái nhà
Những con chim con mèo con chó vẫn còn lang thang dạo chơi trên ấy
Và người con gái kia
với đôi mắt vương màu tím than của một ngôi sao chấp chới
Đêm vút lên thành một nốt nhạc
Rồi lặng yên bao phủ cuộc đời…
Tôi vẫn đi trên những con đường
Ánh sáng và bóng tối
những sớm nắng và những chiều sương
Có khi tôi hát ca có khi tôi ngồi quạnh quẽ
Một nửa ánh trăng che mái hiên đời
Những mảnh sắc, những gai đâm, những con chim, những đóa hoa, những cây lá…
Xếp lại dần thành vóc hình tôi
Rồi một buổi nào thì tôi cũng sẽ bay đi
Một ông cụ già đã bảo cho tôi biết trước
Tôi sẽ bước ra ngoài thời gian
Như trèo ra ngoài cửa sổ trổ ra song sóng những mái nhà
Trổ ra một bầu trời xanh xa sâu thẳm
Có những ngôi sao thơm mùi ngọc lan
Và tôi sẽ bước đi
ở một chiều biên giới khác.
(Saint Paul de Vence, VII, 1993) (13)
6. Tưởng tượng, ánh sáng và bà mẹ của những bông hoa thực tại, ta muốn hỏi nhỏ: Trong dòng chảy lững lờ và miên man của cái ta mỗi ngày kia, đâu là ánh sáng của người và đâu là thực tại đời ta?
Chú thích:
(1) Plinio Apuleyo Mendoza - Gabriel García Marquez, The Fragrance of Guava. London: Verso, 1983.
(2) F.R. Leavis, “The Significance of C.P. Snow”, Spectator (tháng Chín, 1962).
(3) Jorge Luis Borges, Seven Nights. Eliot Weinberger dịch, Alastair Reid giới thiệu. New York: New Directions Books, 1984.
(4) Antoine de Saint-Exupéry, Terre des Hommes. Bản dịch Việt ngữ Cõi Người Ta của Bùi Giáng. Sài Gòn: Quế Sơn Võ Tánh, 1960.
(5) Susan Sontag, I, etcetera. New York: Farrar, Strauss and Giroux, 1978.
(6) Xem Who’s Writing This?/ Notations on the Authorial I with Self-Portraits, New Jersey: The Ecco Press (1995) do Daniel Halpern chủ biên. Đây là một cuốn sách tập hợp 57 tiểu luận ngắn của 57 tác giả. Dựa trên tiểu luận nổi tiếng “Borges and I” của Borges, những tác giả này - trong đó có những người nổi tiếng như John Fowles, John Updike, Margaret Atwood, James A. Michener, Susan Sontag, Darryl Pinckney, Alice Hoffman, Roy Blount Jr., Joyce Carol Oates, Czeslaw Milosz, Arthur Miller, Robert Olen Butler, Paul Theroux, Cynthia Ozick, Scott Turow, Peter Mayle… - đã trình bày trước mắt người đọc con người văn chương của mình. Một phần dựa trên cung cách của Borges, phần khác được diễn tả trong cung cách đặc thù của mỗi người, tất cả các tác giả này đều để lộ cho người đọc thấy cái chân diện mục của cái “kẻ khác” kia - tên bạn thiết, kẻ bắt chước, kẻ giả mạo, gã thế thân, nhà ẩn sĩ, kẻ tự yêu mình - trong chính con người mình ra sao. Mỗi tiểu luận đều được bắt đầu bằng một thứ “chân dung tự họa” do chính tác giả vẽ.
(7) Bản dịch của Nguyễn Hiến Lê dựa theo bản Pháp ngữ, Il est un pont sur la Drina, của Georges Luciani (không rõ năm và nhà xuất bản). Bản Việt ngữ của NHL do Trí Đăng xuất bản tại Sàigòn năm 1971. Văn Nghệ tái bản tại California, Hoa Kỳ, 1989. Cũng có thể so sánh thêm với bản dịch Anh ngữ của Lovett F. Edwards, The Bridge on the Drina, Chicago: The U. of Chicago P., 1977, hay một ấn bản khác của cùng dịch giả, New York: A Signet Book, 1960. Ngoài ra, để công bằng, cũng nên so sánh bản dịch (với một số đoạn bị dịch giả lược bỏ) của Nguyễn Hiến Lê với bản dịch đầy đủ của Vương Đăng (Nhịp Cầu Trên Sông Drina, Saigon: Nguồn Sáng, 1972)
(8) Ivo Andric, Bosnian Chronicle. Bản dịch của Joseph Hitrec. New York: Alfred A. Knopf, 1963. Hoặc bản dịch Bosnian Story của Kenneth Johnstone. London: Lincolns-Prager Publishers Ltd., 1961.
(9) Louis Adamic, The Native’s Return/ An American Immigrant Visits Yugoslavia and Discovers His Own Country. New York & London: Harper - Brothers, 1934.
(10) Thật ra, quyển sách mà tôi thích nhất của Kawabata là quyển Cố Đô (bản tiếng Anh lấy theo tên trong nguyên tác là Kyoto). Cuốn sách này, cùng với hai quyển Xứ Tuyết và Tiếng Rền Của Núi, đã cho thấy rõ những ẩn dụ đầy nét duy cảm chủ nghĩa pha với những ấn tượng trực giác thật đẹp của nhà văn để nói về những nỗi đau đời và nét cao cả trong tâm hồn con người. Đặc biệt, nó cũng cho thấy rõ cái khuynh hướng quay về với những di sản cổ điển của dân tộc Nhật Bản nơi ông.
(11) James Joyce, The Portrait of the Artist as a Young Man. New York: Viking, 1956.
(12) Northrop Frye, The Educated Imagination. Bloomington, Ind.: Indiana University Press, 1964.
(13) Bùi Vĩnh Phúc, trích đoạn trong Rồi Một Buổi Nào Thì Tôi Cũng Sẽ Bay Đi (Hợp Lưu số 13, tháng 10 - 11, 1993). 
30/9/2014
Bùi Vĩnh Phúc
Theo http://vanviet.info/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Chùm thơ của Lưu Lãng Khách

Chùm thơ của Lưu Lãng Khách Ngoài kia xuân đang qua rồi sao!/ Thềm hoa hanh hao - trên trời cao/ Chim non ca vang như ngày nào/ Bên em anh...