Bà Bovary 1
Lời giới thiệu
Gustave Flaubert là nhà văn bắc cầu giữa chủ nghĩa hiện thực
phê phán cổ điển Pháp nửa đầu thế kỷ XIX với Xtăngđan, Banzăc, và chủ nghĩa hiện
thực phê phán hiện đại Pháp kể từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX với Anatôn
Frăngxơ, Rômanh Rôlăng, Rôgiê Mactanh Đuy Ga...
Ông sinh năm 1821 tại Ruăng, là con một thầy thuốc khoa mổ xẻ
có danh vọng của thành phố. Thuở bé sống trong khung cảnh của một nhà thương,
theo học trung học ở tỉnh nhà, đến năm 1840 thì ông lên Paris theo học luật và
sống ở đó đến năm 1846. Ông sớm có xu hướng về văn học cho nên ở Paris ông kết
giao nhiều với giới văn học. Sau khi cha ông mất và tiếp theo là một cô em gái
chết, bản thân ông lại bị bệnh thần kinh, cho nên, theo yêu cầu của mẹ, ông về ở
ấp riêng Croaxê gần Ruăng. Gần suốt đời ông sống ở đó, theo đuổi sự nghiệp văn
chương, gặp gỡ các nhà văn nổi tiếng đương thời như Emin Zôla, Gôngcua,
Thêôphin Gôchiê, Guy đờ Môpaxăng,... và cả nhà văn Nga nổi tiếng Tuốcghênhiep.
Chỉ thỉnh thoảng ông mới vắng Croaxê, hoặc đi Paris, hoặc đi du lịch, như hai lần
sang Angiê (Bắc Phi) để lấy tài liệu viết tiểu thuyết. Năm 1880, ông mất tại
Croaxê.
Cả sự nghiệp sáng tác của Flôbe, cũng như thế giới quan của
ông, mang dấu ấn sâu sắc của một thời kì lịch sử đặc biệt ở Pháp và ở châu Âu
nói chung: ở Pháp là thời kì nền Quân chủ tháng Bảy với Lui Philip, ông vua của
bọn con buôn, và nhất là, sau cuộc Cách mạng 1848, là bóng sương mù của nền Đế
chính thứ hai tối phản động; ở châu Âu nói chung là thời kì sau Cách mạng 1848
mà Lênin đã xác định trong bài báo nổi tiếng Để kỉ niệm Héczen (1912),
thời kỳ mà "tinh thần cách mạng của phái dân chủ tư sản đã suy vong, trong
khi đó tinh thần cách mạng của giai cấp vô sản xã hội chủ nghĩa chưa tới lúc
già dặn". Cuộc Cách mạng 1848 thất bại làm chín muồi sự khủng hoảng của xã
hội tư sản, đó là sự kiện quan trọng nhất nó quyết định những nét đặc trưng
trong thế giới quan của Flôbe được phản ánh đầy đủ vào sự nghiệp sáng tác của
ông.
° ° °
Flôbe bắt đầu công việc từ những năm 30, 40, lúc ông còn chịu
ảnh hưởng của chủ nghĩa lãng mạn. Nhưng thời kì trưởng thành và phong phú của
ông bắt đầu từ những năm 50 trở đi. Nhất là những năm 50 và 60, là lúc thắng thế
của nền đệ nhị Đế chính với tay hoàng đế phiêu lưu Napôlêông III, mà tất cả
tính chất đê hèn của nó đã bị Flôbe bóc trần trong những tác phẩm xuất sắc nhất
của ông.
Năm 1849, Flôbe đọc bản thảo đầu của tác phẩm tượng
trưng Sự cám dỗ của Thánh Ăngtoan (La tentation de Saint - Antoine)
cho các bạn nghe, họ không che giấu sự thất vọng của họ và khuyên ông từ bỏ những
đề tài cao siêu để hướng về cuộc sống hiện tại. Một người bạn mách với ông một
đề tài rút ra từ một chuyện thời sự là vụ ngoại tình và tự tử của vợ một viên
thầy thuốc, Flôbe nghe lời và viết cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Bà Bôvary (Madame
Bovary), xuất bản năm 1856. Cuốn tiểu thuyết nói lên sự phản kháng của cá nhân
chống lại những qui tắc xã hội và đạo đức của thế giới tư sản chật hẹp và giả dối,
đồng thời vạch ra sự tan vỡ của những ảo tưởng, thơ mộng lãng mạn mà cá nhân
khao khát hạnh phúc đặt vào cái thực tại tư sản tầm thường và hèn kém.
Sau tiểu thuyết Bà Bôvary, Flôbe chuyển sang một đề tài
lịch sử với cuốn tiểu thuyết Xalămbô (Salambo - 1862). Giá trị của cuốn
tiểu thuyết lịch sử này không phải chỉ ở những chi tiết lịch sử phong phú của
nó mà chủ yếu là ở chỗ tác giả đã ý thức được trong lòng xã hội cổ đại Cactagiơ
mâu thuẫn và cuộc đấu tranh giữa những lực lượng xã hội khác nhau. Tác phẩm
cũng đồng thời vạch ra tấn bi kịch của tình yêu chân thật, như một giấc mộng đẹp,
bị chà đạp bởi những lực lượng tàn bạo, dã man.
Sau Xalămbô, Flôbe lại quay trở lại một đề tài hiện đại
với cuốn tiểu thuyết Giáo dục tình cảm (L’Education sentimentale
-1869). Kế tục truyền thống tiểu thuyết của Xtăngđan, tác phẩm kể lại tiểu
sử bi đát của một thanh niên trong xã hội tư sản, mà kì thực đó là số phận
chung của cả một thế hệ thanh niên thời kì 1840 -1870 mà bao nhiêu chí khí đều
tiêu tan đến trở thành vô nghệ và vô dụng trong cuộc sống tư sản mốc meo, hèn
kém; đồng thời, cũng như tiểu thuyết Bà Bôvary, nó nói lên rằng tình yêu đẹp
đẽ, chân thật chỉ có trong ước mơ, không thể có được trong cái thực tại xã hội
tầm thường, mầu xám đỏ.
Ngoài ba cuốn tiểu thuyết lớn trên đây còn đáng chú ý tác phẩm Sự
cám dỗ của Thánh Ăngtoan mà Flôbe viết lại và xuất bản năm 1874, một thi
phẩm triết lý bằng văn xuôi sặc mùi hoài nghi chủ nghĩa và bi quan chủ nghĩa; tập Ba
truyện ngắn (Trois contes - 1877) trong đó truyện Một tấm lòng chất
phác (U coesur simple) viết theo phong cách của Bà Bôvary và hai
truyện kia viết theo phong cách của Xalămbô; cuối cùng là tiểu thuyết bỏ dở Buva
và Pêquysê (Bouvard et Pécuchet) xuất bản năm 1881, nói lên sự bế tắc của
nền văn minh và khoa học tư sản... Sau hết, cũng phải kể đến tập thư từ đồ sộ
trong đó tất cả quan điểm nghệ thuật của Flôbe được bộc lộ rõ ràng.
° ° °
Rõ ràng là Gustave Flaubert đã tiếp tục truyền thống tố cáo
không thương xót xã hội tư sản của các nhà hiện thực phê phán nửa đầu thế kỉ
XIX như Xtăngđan, Banzăc. Nhưng đồng thời, ở ông cũng có những đặc điểm khác với
các nhà văn trên do thời đại lịch sử quyết định, đó là đặc điểm của chủ nghĩa
hiện thực phê phán cổ điển bắt đầu đi vào bước suy thoái của nó.
Trước hết, do chỗ giai cấp tư sản, sau cuộc Cách mạng 1848 và
trong thời kỳ Đế chính thứ hai, đã mất hết khả năng cách mạng của nó để trở
thành một giai cấp hoàn toàn phản động, Gustave Flaubert đã đạt tới mức tố cáo
xã hội tư sản triệt để hơn, cao hơn cả những nhà văn hiện thực trước ông. Trong
tác phẩm của ông, vắng bóng hoàn toàn bất cứ một ảo tưởng nào đối với đời sống
thực tại. Chủ đề chủ yếu trong các tác phẩm của Flôbe là sự tan vỡ đau đớn của
những mộng đẹp, như của Emma (Bà Bôvary), hay của Frêđêric Môrô (Giáo dục tình
cảm), thậm chí cả trong tiểu thuyết lịch sử như mối tình giữa Xalămbô và Matô (Xalămbô).
Nhưng, khác với tiểu thuyết lãng mạn, và cũng chống lại chủ nghĩa lãng mạn,
Flôbe vạch trần cái tầm thường ngay trong bản thân những ước mơ, những mộng đẹp
lãng mạn. Thái độ của Flôbe hoàn toàn không khoan nhượng đối với bất cứ mưu
toan nào định phủ một tấm màn lãng mạn lên trên cái thực tế nghiêm khắc của hiện
thực xã hội. Ở tiểu thuyết của Flôbe không còn những nhân vật anh hùng mang những
dục vọng mãnh liệt kiểu Raxtinhăc (Tấn trò đời) hay Juyrliêng Xôren (Đỏ và đen),
mà là những con người bình thường, hay nói đúng hơn, tầm thường, kiểu bà Bôvary
hay như Frêđêric Môrô, sống luẩn quẩn, vô dụng, đớn hèn trong ánh ngày mờ xám của
xã hội tư sản. Và Flôbe đi tới phủ nhận cả nền văn minh tư sản, ông chỉ ra cái
nghèo nàn, bế tắc và sự xuống dốc của mọi lực lượng trí tuệ, sự sa đọa về nhân
cách trong các giới trí thức tư sản mà điển hình là tay dược sĩ Hôme (Bà Bôvary).
Thậm chí, Frêđêric Môrô và bạn là Đêlôriê (Giáo dục tình cảm), sau cả cuộc đời
dài, khi cùng nhau nhìn lại quá khứ, đã kết luận rằng, chung qui chỉ có cái buổi
nào, lúc là học trò trung học, họ rủ nhau vào nhà chứa, là tốt đẹp hơn cả trong
cuộc đời của họ!
Nhưng, cũng chính ở điều trên đây mà nổi bật lên một đặc điểm
khác trong sáng tác của Flôbe, đó là chủ nghĩa bi quan và chủ nghĩa hoài nghi của
ông. Khác với Xtăngđan và Banzăc còn chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa duy lý thế kỷ
XVIII, Flôbe không còn tin tưởng ở lý trí con người nữa: lý trí, theo ông, hoàn
toàn bất lực. Trong tiểu thuyết Buva và Pêquysê ông đi tới kết luận rằng
mọi ý nguyện của con người để đạt đến nhận thức là nực cười và vô hiệu; và
trong thi phẩm bằng văn xuôi Sự cám dỗ của Thánh Ăngtoan, ông muốn hòa
mình với thế giới vật chất, thế giới động vật cấp dưới. Ông khước từ lý trí vì
lý trí làm cho con người đau khổ, bắt họ nghi ngờ hết thảy. Flôbe tuyên bố thế
giới sẽ sụp đổ, và chẳng có gì ngăn trở nó được! Như vậy cái âm vang bi thảm
trong tiểu thuyết của Flôbe không phải chỉ do chỗ nó mô tả thực tại đen tối trước
mắt mà còn ở chỗ nó thiếu hẳn một viễn ảnh về xã hội tương lai. Flôbe vạch trần
cái tầm thường của những mơ mộng lãng mạn tư sản nhưng ông không tìm thấy trong
thực tại một cái gì khả dĩ đối lập với những mơ mộng đó, ông không tìm ra ở đâu
một yếu tố tích cực nào để bù đắp vào lỗ hổng, và cũng ở điểm này ông khác với
Xtăngđan và Banzăc, tuy ở hai nhà văn này viễn ảnh về tương lai không hoàn toàn
là đúng đắn. Sở dĩ như vậy, một mặt là vì Flôbe đã nâng cái thối nát của thực tại
tư sản lên thành cái tuyệt đối, ông không xem nó theo một quan điểm lịch sử mà
lại coi nó như một hiện tượng vĩnh viễn và phổ biến cho cả loài người. Ông kêu
lên một cách thất vọng: “Ở đâu tìm thấy cái kiêu hãnh cho con người, lòng tin ở
sự sáng tạo của họ, sự khâm phục trước cái đẹp? Phải chăng tất cả đều tan vỡ,
phải chăng ở tất cả mọi lồng ngực đầy sự bẩn thỉu phổ biến, ở đó người ta bơi
ngập đến tận cổ?” và ông kết luận “Cái bóng khổng lồ của gã tư sản đã che lấp cả
thế giới”. Mặt khác, khi cự tuyệt giai cấp tư sản, Flôbe cự tuyệt cả nhân dân,
ông coi sự phản ứng với xã hội tư sản chỉ là sự phản ứng bên trong, đóng khung
trong lòng người mà khả năng còn nhiều. Ông không biết đến đấu tranh của quần
chúng, ông miệt thị phong trào cách mạng của giai cấp vô sản, như khi ông mô tả
cuộc Cách mạng 1848 trong tiểu thuyết Giáo dục tình cảm.
Tư tưởng bi quan của Gustave Flaubert ảnh hưởng sâu sắc tới
quan điểm mỹ học của ông. Vì quan sát thế giới tư sản và đi tới kết luận chẳng
có cái gì đẹp trong đời sống thực tại, Flôbe vô hình chung đi tới một thứ quan
niệm "nghệ thuật thuần túy", nghệ thuật phi xã hội gần với quan điểm
của phái Thi sơn (Parnasse) đương thời. Theo ông, chỉ còn một địa hạt duy nhất
trong cái đẹp, tuy chỉ cục bộ, có thể thực hiện được, đó là nghệ thuật, vì
"trong tất cả mọi ảo tưởng, nó ít ảo tưởng nhất". Nhưng cái đẹp tách
khỏi cuộc sống thực tại chỉ có thể là cái gì trừu tượng, đứng lên trên cuộc sống.
Từ đó, Flôbe đi tới khẩu hiệu "tháp ngà" của nghệ sĩ. Ông kêu gọi nghệ
sĩ rút vào đó: “Chúng ta hãy đóng cửa lại, hãy leo lên càng cao càng hay, tới
tháp ngà của chúng ta, đến bậc cuối cùng, gần với trời; ở đó đôi khi lạnh,
nhưng chẳng phải là sự đau khổ, trái lại anh trông thấy ánh rực rỡ của sao và
chẳng nghe thấy tiếng những kẻ ngu xuẩn”.
Song, mặc dầu thế, sẽ sai lầm nếu chúng ta xếp Gustave
Flaubert vào hàng ngũ của phái Thi sơn hay của các trường phái suy đồi bắt đầu
xuất hiện ở thời kì này. Mặc dầu thế, Flôbe vẫn thuộc cái dòng hiện thực chủ
nghĩa chân chính nửa đầu thế kỷ XIX với những yếu tố mới như trên đã nói. Không
thể quên rằng chủ nghĩa bi quan thất vọng của Flôbe là tất yếu khi mà bản thân
giai cấp tư sản đã hết vai trò cách mạng và trở thành lực lượng cản trở, kìm
hãm sự phát triển của xã hội, mà bản thân Flôbe lại không tin vào khả năng cách
mạng của quần chúng, của giai cấp vô sản. Và cũng không nên quên rằng những
quan điểm nghệ thuật của Flôbe, hay, nói đúng hơn, những lời tuyên bố về nghệ
thuật của ông trước hết là xuất phát từ sự phản kháng, lòng căm thù sâu sắc của
ông với cái xã hội tư sản đê hèn và trắng trợn. Lòng căm thù đó là một chất men
gây sự sống ở ông. “Nếu ở tôi mất sự căm thù đó” - ông viết, - “thì
tôi trở thành con rối mà người ta giật dây”. Mà cũng chính sự căm thù đó đã khiến
những sáng tác của Flôbe trở thành những mẫu mực xuất sắc của một nền nghệ thuật
chân thực. Và, trên thực tế sáng tác, con người chủ trương leo lên “tháp ngà” ấy
vẫn bị cuộc sống thực tại kéo xuống. Flôbe vẫn đứng vững trên mảnh đất của thực
tại mà ông quan sát tỉ mỉ hơn ai hết, và ông không nghĩ rằng khi ông đả kích
vào những mộng đẹp tư sản, khi ông vạch trần thực tại tư sản xấu xa, thì chính
là ông đã mở đường cho con người vươn tới cái đẹp chân chính tham gia vào việc
hằng khao khát, ước mơ.
Chính vì không nhận ra một nhân tố tích cực nào nảy sinh ngay
trong lòng thực tại xã hội tư sản, cho nên Flôbe rất quan tâm đến hình thức, và
ông có yêu cầu rất cao về hình thức. Ông nói: “Tôi yêu hình thức trên hết, chỉ duy
có hình thức là đẹp và chẳng có gì lớn hơn”. Và Macxim Goócki đã liệt Gustave
Flaubert vào "hàng những bậc thầy vĩ đại về hình thức". Thật vậy,
không có một trang bản thảo nào của mình mà Flôbe không sửa chữa ít ra vài ba lần,
thậm chí có những trang được ông sửa đi sửa lại đến mươi, mười hai lần. Cho nên
tiểu thuyết của Flôbe là những mẫu mực về hình thức như những viên ngọc được gọt
giũa, trau chuốt tỉ mỉ, ở đó nghệ sĩ tìm sự gọn ghẽ và súc tích, tính trong
sáng và lôgic, ở đó ông tìm cái sắc nét kết hợp với cái âm điệu để đi tới một
cái hòa âm bên trong. Tiêu biểu là hai truyện ngắn Hêrôđiax (Hérodias)
và Thánh Juyliêng Lôxpitaliê (Saint-Julien l’Hospitalier) trong tập Ba
truyện ngắn, mà nhà văn Tuốcghênhiep đã dịch sang tiếng Nga ngay sau khi các
truyện đó được xuất bản...
Một mặt khác, Flôbe, do chỗ ông quan tâm đến giá trị nội tại
của nghệ thuật và đặt nghệ thuật lên cao hơn cái chủ quan cá nhân của nghệ sĩ,
và cũng do ông chịu ảnh hưởng của những tiến bộ về phương pháp khoa học đương
thời trong đó có y học là nghề của cha ông, cho nên Flôbe yêu cầu phải hoàn
toàn khách quan trong nghệ thuật. Khách quan trước hết có nghĩa là phải dựa vào
tài liệu thực tế, vào sự kiện khách quan, cho nên Flôbe rất khe khắt về việc
sưu tầm tài liệu, hoặc những chi tiết thực tế quan sát trong đời sống hoặc những
tư liệu khác nghiên cứu và tích lũy đầy đủ để viết về những vấn đề chạm đến
chuyên môn trong tác phẩm của ông. Chẳng hạn, để viết tiểu thuyết Xalămbô,
Flôbe đã đích thân đến tham quan hai lần những tàn tích của thành Cactagiơ cổ đại
ở Bắc Phi. Ông muốn áp dụng phương pháp khoa học vào công việc sáng tác văn học.
Và ông cũng hiểu khách quan còn có nghĩa là gạt bỏ cá nhân nghệ sĩ ra ngoài tác
phẩm văn học. Flôbe thường nhắc đi nhắc lại nhiều lần: “Chẳng có gì kém cỏi hơn
là đưa vào nghệ thuật tình cảm cá nhân”. Theo ông, nhà nghệ sĩ lý tưởng là biết
làm cho những người sau nghĩ rằng ông ta không tồn tại, và ông lấy những nhà
văn lớn của thế giới ra làm ví dụ: “Có ai biết” - ông nói – “Sếchxpia như thế
nào không? Ông ta buồn hay vui? Cũng chẳng ai biết được Mikenlăngiơ như thế
nào? Không bao giờ họ đặt cá nhân mình vào tác phẩm của họ”. Macxim Goócki đã gọi
Flôbe là “nhà pháp sư của ngôn ngữ, cũng khách quan như mặt trời gay gắt rọi
sáng cả vào đám bùn nhơ ngoài phố lẫn mớ đăng ten sang trọng”.
Song, vấn đề chẳng nên tuyệt đối hóa, và nhất là chẳng nên
xem nghệ thuật Flôbe hoàn toàn giống như cái nghệ thuật khách quan lạnh lùng
trong hình thức của phái Thi sơn. Phải xem thấy trong hình thức mẫu mực của tiểu
thuyết Flôbe có chứa đựng cả mối thâm thù sâu sắc, niềm phẫn nộ tày trời của
nhà văn đối với trật tự tư sản, và rõ ràng là bản thân Flôbe với những tư tưởng
và tình cảm của ông đã được phản ánh đầy đủ vào tác phẩm của ông dù nó lẩn đi
khéo léo thế nào. Cho nên, lại chính Flôbe đã từng nói: "Bôvary, chính là
tôi!" cũng như không ai lạ rằng cuộc đời của Flôbe cùng với mối tình của
ông đối với bà Schlésinger đã được phản ánh một phần không nhỏ trong tiểu thuyết Giáo
dục tình cảm kể tiểu sử của chàng thanh niên Frêđêric Môrô với mối tình của
anh ta với bà Arnoux.
Có thể nói tư tưởng nghệ thuật của Gustave Flaubert đã được
thể hiện tập trung trong tiểu thuyết Bà Bôvary của ông. Và rõ ràng là
trong sự nghiệp sáng tác của Flôbe, tiểu thuyết Bà Bôvary chiếm một vị
trí đặc biệt quan trọng: một mặt nó là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đầu tiên mà
cũng là tác phẩm xuất sắc nhất trong toàn bộ tác phẩm của ông; mặt khác, Bà
Bôvary là một trong những đỉnh cao của nền tiểu thuyết Pháp mà cũng là của
cả nền tiểu thuyết thế giới.
Thế nhưng, để bước tới vị trí đó, tiểu thuyết Bà Bôvary cũng
như tác giả của nó đã phải trải qua một cơn sóng gió ngay từ lúc nó mới ra đời.
Truyện kể nàng Emma Bôvary, con một nông dân khá giả, lúc đi học chịu ảnh hưởng
của tiểu thuyết lãng mạn nên ước mơ một cuộc sống phóng khoáng, phong lưu.
Nhưng rồi Emma lấy phải một anh chồng đần độn, ngốc nghếch, và nàng bị giam hãm
vào cuộc sống tư sản chật hẹp, buồn tẻ, tầm thường nơi tỉnh nhỏ. Để đạt ước mơ,
Emma không tránh khỏi đi vào con đường ngoại tình, rồi cuối cùng, vừa bị lừa gạt
vừa mang công mắc nợ, nàng phải tự tử. Gustave Flaubert bắt đầu viết Bà
Bôvary vào năm 1851, đến năm 1856 ông hoàn thành và cho đăng dần lên Tạp
chí Paris trước khi cho in thành sách năm 1857. Nhưng, ngay khi một số chương của
cuốn tiểu thuyết được đăng trên báo, Flôbe đã bị tòa án tư sản truy tố. Trước
tòa án trừng trị Paris, ủy viên công tố đã tố cáo tiểu thuyết Bà Bôvary là
mang "màu sắc dâm dật" và xúc phạm tới luân lý công cộng và tôn giáo.
Ông ta nói nhân vật Emma Bôvary của tiểu thuyết đã “ca bài tụng ca ngoại tình”,
“nàng thủ thỉ nói với tình nhân”. Có điều đáng chú ý là chính ông ta cũng công
nhận rằng tác phẩm đó là “một bức tranh tuyệt vời về mặt tài nghệ”, nhưng nó là
“một bức tranh đáng phỉ nhổ về mặt luân lý...”, nhất là vì ở đó chẳng có lấy một
mảnh khăn che mà là “tự nhiên trần truồng và sống sượng”, hơn nữa, “trong cuốn
sách không có lấy một nhân vật nào có thể kết án được nàng... mà chỉ duy có một
người có lý, ngự trị, chế ngự: người đó là Emma Bôvary”. “Trả lời ủy viên công
tố và để bênh vực tác phẩm và tác giả, luật sư bào chữa, trong nhiều ý kiến, đã
nhấn mạnh một điều là tác phẩm “cổ vũ đạo đức” bằng cách gây mối “kinh sợ vì
thói hư”, và ở đây, ngoại tình chỉ là một chuỗi những đau khổ, ăn năn, hối hận,
rồi đi tới một hình phạt cuối cùng kinh khủng... Hình phạt thật bất ngờ, và
chính là ở chỗ đó mà cuốn sách rất mực đạo đức và bổ ích...”
Rút cục, vụ án có một không hai đó đã gây nên một tiếng vang
lớn trong dư luận đương thời, và, mặc dầu tòa án vẫn kết luận tác phẩm "có
hại cho luân lý xã hội", bản thân tác giả lại được tuyên bố vô cao...
Tại sao lại như vậy?
Là vì, xét cho cùng, trong vụ án này, cả tòa án và ủy viên
công tố lẫn luật sư bào chữa, tuy trong lời lẽ của họ đều có những chỗ đúng về
mặt này mặt khác nhưng cả hai bên, họ đều - cố ý hay vô tình? - không đi vào thực
tế của vấn đề.
Thực chất của vấn đề là gì? Nếu không phải là cái điều căn bản
mà tòa án tư sản không thể nói ra mà không kết án ngay bản thân cái trật tự tư
sản, và cũng lại chính vì thế mà nó rất đỗi căm thù kẻ nào dám nói ra điều đó,
nghĩa là nó căm thù Gustave Flaubert. Cái điều căn bản đó là bộ mặt thối nát và
hèn hạ của xã hội tư sản, chính nó đã đẻ ra Emma Bôvary, chính nó là nguồn gốc
của mọi tội lỗi của nàng, và nàng chỉ là một nạn nhân đáng thương của nó. Mà
cũng chẳng phải chỉ là chuyện cá nhân Emma Bôvary, nàng chỉ là điển hình nổi bật
của cả một lớp phụ nữ trong cái xã hội tư sản Pháp đương thời, mà chính con mắt
hiện thực của Flôbe đã nhận ra khi ông thốt lên: - "Nàng Bôvary tội nghiệp
của tôi, trong giờ phút này đang đau khổ và khóc lóc ở hai mươi làng của nước
Pháp!". Thậm chí cái tên riêng Bôvary đã đi vào ngôn ngữ Pháp, đẻ ra danh
từ chung bovarisme (chủ nghĩa Bôvary)!
° ° °
Chủ nghĩa Bôvary là cái gì? Emma Bôvary là người như thế nào?
Và thái độ của Flôbe với nàng thật sự ra sao?
Sự thật, Emma Bôvary là nhân vật hai mặt, một mặt đáng thương
và một mặt đáng chê trách, và thái độ của Flôbe đối với nàng cũng vì thế mà có
hai mặt khác nhau.
Trước hết, Emma Bôvary là con người đáng thương, ở chỗ khi mà
chung quanh nàng, trong cái xã hội tỉnh lẻ mốc meo và nhờ nhờ một màu xám, hầu
hết mọi người đều tự dối mình và dối người khác, cam tâm sống một cuộc đời thấp
hèn, nghèo nàn, ngột ngạt thì chỉ duy có nàng là thành thực đã dám cưỡng lại
nó, chống lại nó, phản kháng nó, - tất nhiên theo cách của nàng! - Để
vươn tới một cuộc sống rộng rãi, phong phú, đẹp đẽ hơn. Song, sống giữa cái xã
hội tư sản giả dối sớm chịu sự giáo dục của nhà tu và chuyên môn đọc những tiểu
thuyết lãng mạn, thử hỏi Emma Bôvary có thể ước mơ được cái gì và ước mơ đó có
thể thực hiện được hay không? Có lẽ cuộc đời chỉ cười với Emma Bôvary có một lần,
đó là cái lần nàng đi theo chồng được mời đến lâu đài của một hầu tước, ở đó
nàng đã say sưa với cuộc khiêu vũ điên cuồng để rồi sau đó, trở về với cuộc sống
thực tại, nàng còn giữ mãi dư âm như qua một cơn choáng váng sẽ không bao giờ
còn trở lại nữa. Giấc mơ quá ngắn ngủi, mà mộng đẹp cũng quá tầm thường! Nhưng,
chỉ thế cũng đã làm Emma Bôvary ngây ngất, hơn nữa, chỉ thế mà Emma Bôvary cũng
sẽ không bao giờ đạt tới. Thành ra cả cuộc đời nàng cũng chỉ là một cuộc đuổi
theo, như một chiếc bóng, giấc mơ khoảnh khắc, hão huyền. Song, nàng càng muốn
trốn khỏi cái tầm thường của cuộc đời, nàng càng muốn vươn lên bùn nhơ của cuộc
sống thì cái tầm thường càng siết chặt lấy nàng, nàng càng bị ngập sâu xuống
bùn nhơ. Đó là tất cả tấn bi kịch của cuộc đời Emma Bôvary!
Có người, như luật sư bào chữa của Flôbe trước tòa, đã nói rằng,
trong tiểu thuyết của ông, “Flôbe đã muốn mô tả người đàn bà không tìm cách thỏa
hiệp, trong điều kiện mà họ nhận được, với hoàn cảnh của mình, với gia thế của
mình, không tìm cách thích nghi với cuộc sống thuộc về mình, mà lại bận tâm với
hàng nghìn khát vọng xa lạ rút ra từ một nền giáo dục quá cao đối với mình”.
Nói thế, phải chăng là trách Emma Bôvary đã không an phận thủ thường, đã không
bằng lòng với số phận của mình? Nói thế thì quả thật xa với ý nghĩa của Flôbe.
Bởi chính là Flôbe rất cảm thông với mọi nỗi cựa quậy, giãy giụa của Emma
Bôvary để thoát ra khỏi cuộc sống nghẹt thở nó bao vây nàng, cuộc sống mà chính
Flôbe nguyền rủa và vạch trần. Song, như vậy không có nghĩa là Flôbe không có
chỗ trách cứ Emma Bôvary, không nghiêm khắc với nàng. Như trong cái nghĩa vợ chồng,
dù Flôbe có chế giễu anh chàng Sáclơ Bôvary tầm thường và ngốc nghếch là kẻ đầu
tiên làm vỡ mộng Emma, rút cục, về lâu về dài, Flôbe không phải không có chỗ
xúc động, trước tình thương yêu dù vụng về, nhưng ân cần, chân thành, bền bỉ,
cho đến sự tha thứ cuối cùng của anh ta đối với vợ, và, ở chỗ này, quả thật anh
ta còn hơn nhiều kẻ khác xung quanh, và phải đâu Flôbe không có chỗ trách Emma
mù quáng đến vô tình trước tình thương yêu đó để chạy theo những chuyện yêu
đương phóng túng thậm chí rơi vào cạm bẫy của một tên đê hèn đểu cáng như
Rôđônphơ Bulăngiê! Hoặc như về cái tình mẹ con, phải đâu Flôbe không nghiêm
trách Emma khi nàng chỉ biết quan tâm tìm đặt cho con gái một cái tên thơ mộng,
mà rồi bỏ con sống vất vưởng để chạy theo dục vọng cá nhân của mình, thiếu hẳn
tinh thần trách nhiệm đối với con! Đặc biệt, khi mô tả từng bước con người ưa
lý tưởng hóa cuộc đời ấy càng ngày càng dấn mình sâu vào con đường hư hỏng đến
trở thành dối trá đớn hèn, hay khi vẽ lên bức tranh chi tiết, tỉ mỉ cuộc tự tử
bằng nhân ngôn đưa đến cái chết cực kỳ thê thảm, kinh khủng của Emma, chẳng nên
thơ chút nào như những cái chết trong tiểu thuyết lãng mạn nàng đã từng đọc,
thì phải đâu Flôbe không ngụ một lời răn nghiêm khắc hay chí ít là một nỗi mỉa
mai cay đắng đối với nhân vật thân thiết của mình!
° ° °
Emma Bôvary hai mặt là như thế đấy. Song, với tất cả những
sai lầm hư hỏng của nàng, nhân vật Emma Bôvary vẫn vượt lên trên tất cả những
nhân vật chủ yếu khác sống chung quanh nàng. Và chính đó là một sự thật mà kẻ đại
diện cho trật tự tư sản trước tòa án nhận rõ hơn ai hết khi ông ta khẳng định rằng
“trong cuốn sách không có lấy một nhân vật nào có thể kết án được nàng” và chỉ
có nàng là người duy nhất "có lý, ngự trị, chế ngự”.
Những nhân vật chủ yếu sống chung quanh Emma Bôvary đó là ai?
Lẽ tất nhiên, trước hết là Saclơ Bôvary, chồng nàng, anh chàng tầm thường và
ngu ngốc đến thảm hại, mở đầu cho những thất vọng dẫn tới sự tan vỡ trong cuộc
đời của Emma, cái anh chàng mà Flôbe vui đùa giễu cợt ngay từ những trang đầu
cuốn sách nhưng đến khi kết thúc truyện, ông không khỏi có phần ngậm ngùi trước
cái chết buồn thảm của anh ta.
Vợ chồng Bôvary chết đi, đứa con gái của họ phải đi làm thợ để
kiếm sống, một gia đình tan vỡ, thế nhưng cái xã hội tư sản kia vẫn nhởn nhơ, -
mà kìa tay dược sĩ Hôme được tặng thưởng huân chương Bắc đẩu bội tinh. Cuốn tiểu
thuyết của Flôbe kết thúc như thế đấy. Một sự mỉa mai sâu cay đến não ruột!
Dược sĩ Hôme là ai?
Sự thật, anh ta chẳng phải là kẻ trực tiếp làm hại cuộc đời của
Emma Bôvary, có lỗi chăng là anh ta đã sơ suất để cho Emma lấy trộm được nhân
ngôn của anh ta mà tự tử. Thế mà anh ta lại có sáng kiến xây một đài tưởng nhớ
ra trò trên phần mộ Emma cơ đấy. Sự thật, cái bộ ba trực tiếp làm nên tội đối với
Emma, trước hết là hai gã tình nhân của cô ta tính tình trái ngược, viên luật
sư tập sự Lêông Đuypuy thì rụt rè, ủy mị, hèn như Thúc Sinh, gã địa chủ
Rôđônphơ Bulăngiê thì ngổ ngáo, trắng trợn, đểu như Sở Khanh, sau đến người thứ
ba, Lơrơ, thì là một con buôn và cho vay lãi xảo quyệt và chỉ biết có đồng tiền,
chính hắn ta lừa gạt Emma đưa cô ta đến chỗ tự sát, thế mà, nghe tin cô ta chết,
hắn vẫn thốt lên: “- Tội nghiệp cái bà ấy!”. Cả ba con người nghề nghiệp khác
nhau, tính tình khác nhau, nhưng cũng ngập mình trong cái ánh ngày nhờ xám của
xã hội tư sản thảm hại. Song, điển hình cao nhất và trọn vẹn nhất của xã hội tư
sản ấy lại là tay dược sĩ Hôme, nhân vật bất hủ thể hiện đầy đủ cái tầm thường
tự mãn đến lộn mửa, cái giả dối đê hèn đến vô sỉ. Hắn là một thứ nửa tri thức dốt
nát mà lại tưởng mình uyên bác, sính nói khoa học, hắn là đảng viên phái tự do
huênh hoang cho mình là kẻ kế tục của Vônte và Rútxô, nhưng hắn bóc lột và hành
hạ đứa cháu xa, nuôi anh ta nửa để cho học nghề nửa để làm đầy tớ, hắn hạ mình
viết báo để trả thù một kẻ hành khất tàn tật, và hắn sẵn sàng bợ đỡ chính quyền
để cầu cạnh một tấm huân chương, cho nên chính hắn là chỗ tựa vững chắc cho một
chính quyền phản động như nền Đế chính thứ hai. Và, chẳng phải ngẫu nhiên mà
Flôbe kết thúc cuốn tiểu thuyết của ông bằng hai cảnh trái ngược: gia đình Emma
Bôvary thì lụn bại, tan vỡ mà Hôme thì phát tài và được thưởng huân chương.
Tính điển hình của nhân vật Hôme đạt đến mức mà Flôbe viết trong một bức thư:
“Tất cả những dược sĩ vùng Hạ Xen đều thấy mình ở trong Hôme họ đều muốn tìm tới
để bạt tai tôi”.
° ° °
Thế giới quan của Flôbe, tư tưởng bi quan và hoài nghi của
ông, đã không làm cho ông nhìn ra được khả năng và triển vọng giải quyết những
mâu thuẫn trong xã hội tư sản. Cuộc đời mơ mộng của Emma cuối cùng cũng chỉ có
thể kết thúc bằng cái chết bi thảm, coi đó như một lối thoát khỏi "sự lừa
bịp đê tiện và mọi dục vọng". Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết Bà Bôvary vẫn
là một sức mạnh vạch trần một cách không khoan nhượng cái thực tế xấu xa của
giai cấp tư sản và là một trong những kiểu mẫu về nghệ thuật tiểu thuyết.
Thực vậy, như tòa án tư sản đã tố cáo cuốn tiểu thuyết của
Flôbe vạch ra thật "trần truồng" và "sống sượng", có nghĩa
là Flôbe không chịu che đậy cái sự thật đó bằng tấm màn che "lãng mạn"
nào. Và chính chủ nghĩa hiện thực nghiêm ngặt của Flôbe là cái mà tòa án tư sản
gờm và kết án.
Flôbe căm ghét cái chủ nghĩa lãng mạn muốn tô son điểm phấn
cho thực tại tư sản. Trong cuốn tiểu thuyết của ông, có một cảnh có thể xem như
then chốt của tư tưởng và nghệ thuật Flôbe, đó là cảnh "triển lãm nông
nghiệp". Một thủ pháp độc đáo của nhà văn đã cài xen kẽ bài diễn thuyết của
viên hội đồng tỉnh với những lời ngỏ tình của Rôđônphơ với Emma. Thế là, bên
này ca ngợi chính quyền nhà vua sáng suốt, bên kia thì phàn nàn dư luận xã hội
khắt khe, bên này thì nói toàn chuyện lợn, bò, cừu, ngựa, chọn giống, bón
phân... bên kia thì ước mơ hạnh phúc, tình cảm cao đẹp, trời xanh, sông nước...
Mới nghe tưởng đâu như một cuộc hòa tấu lỡ điệu, hai bên họ nhại lẫn nhau,
nhưng xét cho cùng lại hóa ra họ rất thống nhất trong một bản hòa âm nội tại: một
đằng là chính quyền giả dối, một đằng là tình yêu bịp bợm. Cho nên, chấm dứt của
chuyện là cảnh một bà già đi ở được "bọn tư sản phớn phở" tặng thưởng
“mề đay” vì “nửa thế kỷ làm tôi đòi”, và cảnh chàng với nàng ngây ngất chia tay
để chàng ở lại chờ dự tiệc. Rõ ràng là Flôbe vừa chế nhạo tình yêu lãng mạn vừa
bóc trần xã hội tư sản bằng một thứ bút pháp tuyệt vời. Một đặc điểm của bút
pháp tuyệt vời đó là cái tính khách quan của nó: Flôbê biết lẩn mình sau câu
chuyện, không bao giờ để xen vào đó ý nghĩ, tình cảm chủ quan của mình một cách
lộ liễu, mà hoàn toàn để cho những sự kiện khách quan, để cho bản thân các nhân
vật tự nói lên. Chính cái đó làm tăng thêm tính thuyết phục rất cao của tiểu
thuyết Flôbe.
Trong một bức thư gửi nhà tiểu thuyết Minna Kautsky
(1885), F.Ănghen đã viết: “...Theo ý tôi, một cuốn tiểu thuyết khuynh hướng xã
hội chủ nghĩa làm đầy đủ sứ mệnh của nó khi mà, bằng một bức tranh trung thành
về quan hệ thực tế, nó tiêu diệt những ảo tưởng ước lệ về bản chất của những
quan hệ đó, nó lay chuyển chủ nghĩa lạc quan của thế giới tư sản, bắt buộc phải
nghi ngờ tính vĩnh tồn của trật tự hiện hành, ngay cả khi tác giả không trực tiếp
chỉ ra giải pháp, ngay cả khi lâm thời tác giả không tỏ rõ lập trường của
mình”. Và Ănghen cũng đã nói: “...Tôi cho rằng khuynh hướng phải bộc lộ ra từ bản
thân hoàn cảnh và hành động, mà không cần phải nói ra rõ ràng, và nhà thơ không
bắt buộc phải sẵn sàng đem lại cho người đọc cái giải pháp lịch sử tương lai của
những xung đột xã hội mà ông mô tả”.
Thiết tưởng tiểu thuyết của Flôbe, với chủ nghĩa hiện thực
nghiêm ngặt và nghệ thuật khách quan của nó, đã đáp ứng yêu cầu của Ănghen đối
với tiểu thuyết ở thời đại bấy giờ. Thêm vào đó, với hình thức nghệ thuật được
trau chuốt tinh vi đến mức khó lòng bỏ đi một chi tiết nào mà không làm hại tới
nội dung của tác phẩm, Gustave Flaubert quả thật đã trở thành một bậc thầy của
tiểu thuyết. Đến mức Macxim Goocki đã phải gọi ông là “nhà truyền giáo của cái
đẹp, Henlen của thế kỷ XIX, người đã từng dạy nhà văn các nước tôn trọng sức mạnh
của ngòi bút, hiểu cái đẹp của nó.”.
Tháng 12-1976
TRỌNG ĐỨC
Phần Thứ Nhất
Chương 1
Chúng tôi đang học thì ông hiệu trưởng vào. Theo sau ông là một người
học trò mới ăn mặc quần áo tầm thường và một người lao công vác một chiếc
bàn viết to. Những bạn đang ngủ bừng tỉnh, cậu nào cậu nấy đều đứng phắt dậy dường
như đã bị bắt quả tang giữa giờ học.
Ông hiệu trưởng ra hiệu cho chúng tôi ngồi xuống; rồi ông
quay về phía thầy giám thị, khẽ nói:
- Ông Rôgiê, đây là người học trò mà tôi giao phó cho ông.
Bây giờ em vào lớp năm. Nếu em học hành tốt và có hạnh kiểm xứng đáng, thì em sẽ
được chuyển lên lớp các em lớn cho hợp với lứa tuổi.
Người học trò mới cứ đứng ở góc tường, sau cánh cửa ra
vào, thành ra chúng tôi chẳng nhìn thấy rõ hắn mấy. Hắn là một gã nhà quê, chừng
mười lăm tuổi, có một tầm vóc cao hơn bất kỳ đứa nào trong đám chúng tôi. Hắn hớt
tóc lối để bằng trên trán như dân hát lễ ở nhà thờ làng, hắn có vẻ biết điều và
hết sức lúng túng. Tuy vai hắn không rộng, chiếc áo dạ xanh đơm khuy màu đen mà
hắn mặc ngoài cùng xem chừng cũng chật ních, và qua kẽ hở của cửa tay áo, lộ ra
hai cổ tay đỏ vốn quen bỏ trần. Chân hắn đi tất màu lơ thò ra ngoài chiếc quần
vàng nhạt được kéo lên bằng dải đeo. Đôi giày hắn vững chắc, đánh xi lem nhem,
có đóng đinh.
Giờ học bắt đầu. Hắn hết sức chú ý lắng tai nghe giảng bài
như nghe giảng đạo, hắn không dám bắt chéo chân, tỳ khuỷu tay, và, đến hai giờ,
khi chuông báo hiệu, thầy giám thị buộc phải bảo hắn ra xếp hàng cùng với chúng
tôi.
Khi vào lớp, chúng tôi có cái thói quen là ném mũ cát két xuống
đất để tay được rảnh hơn. Ngay từ lúc qua ngưỡng cửa, chúng tôi đã phải quẳng
mũ xuống dưới gầm ghế sao cho mũ vừa đập vào tường vừa làm bụi mù lên, có như
thế mới đúng kiểu cách.
Nhưng hoặc hắn không nhận thấy cái trò chơi ấy, hoặc hắn chẳng
dám làm theo cho nên bài kinh đã xong mà người học trò mới vẫn giữ
cái mũ cát két trên đầu gối, một trong những loại kiểu hỗn hợp mà ở đó người ta
nhận thấy cả những thành phần mũ trùm đầu có tuyết lẫn mũ kỵ binh Ba Lan và mũ
tròn, mũ cát két bằng lông da rái cá, mũ trùm bằng vải bông, tóm lại, nó là một
vật tồi mà cái vẻ xấu xí trầm lặng biểu hiện một cách sâu sắc tựa hồ bộ mặt của
một kẻ đần độn. Cái mũ ấy hình quả trứng, được căng phồng bằng những chiếc gọng,
mở đầu bằng ba khoanh tròn như ba khúc dồi lợn, rồi đến những hình trám bằng
nhung và lông thỏ xen kẽ nhau qua đường băng đỏ; tiếp nữa là một thứ túi độn
bìa cứng hình đa giác có đường viền thêu rắc rối kiểu mũ võ quan và từ đó quả
tua mũ nhỏ xíu hình thập tự bằng kim tuyến treo ở đầu một sợi dây quá mảnh. Cái
mũ mới tinh, lưỡi trai bóng lộn.
- Đứng dậy, thầy giáo nói.
Hắn đứng lên: Cái mũ rơi xuống. Cả lớp cười ồ.
Hắn cúi xuống nhặt mũ. Một bạn ngồi cạnh hích khuỷu tay làm
cái mũ lại rơi xuống, một lần nữa hắn lại cúi xuống nhặt mũ. Thầy giáo, vốn là
một người tinh ý, liền bảo:
- Thì em cứ bỏ cái mũ của em ra nào.
Cả lớp cười rộ lên cười làm cho anh chàng tội nghiệp mất tinh
thần đến nỗi hắn chẳng biết nên cầm mũ ở tay, nên bỏ xuống đất hay nên đội lên
đầu. Hắn lại ngồi xuống và đặt mũ lên đầu gối.
Thầy giáo nói tiếp:
- Hãy đứng dậy và cho thầy biết tên em.
Người học trò mới lắp bắp một cái tên khó hiểu.
- Nhắc lại!
Cái giọng lắp bắp từng vần của hắn bị tiếng la ó của cả lớp
che lấp đi.
Thầy giáo quát:
- Nói to nữa lên! To nữa lên!
Người học trò mới, lấy hết quyết tâm, há toác miệng thét
thật to: Sácbôvari, như để gọi ai.
Một tình trạng huyên náo liền nổi lên, càng ngày càng
tăng, với những tiếng la the thé (chúng tôi gào thét, chúng tôi nói càn,
chúng tôi dậm chân, chúng tôi nhắc đi nhắc lại: Sácbôvari!
Sácbôvari!), rồi kéo dài thành những âm thanh lẻ tẻ, lắng xuống một cách
khó khăn, đôi lúc lại đột khởi ở một hàng ghế vài tiếng cười cố nhịn và vẫn cứ
vọt ra như những chiếc pháo tắt dở.
Tuy nhiên, qua những bài phạt chép tới tấp như mưa, trật tự mới
dần dần trở lại trong lớp, và thầy giáo sau khi bắt hắn đọc như đọc chính tả,
đánh vần từng chữ rồi đọc lại, mới nắm được cái tên Sáclơ Bôvary, thầy lập tức
ra lệnh cho con người đáng thương đó đến ngồi vào cái ghế học trò lười, ngay
chân bàn thầy. Hắn đứng dậy, nhưng trước khi đi, hắn ngập ngừng.
Thầy giáo hỏi:
- Em tìm gì?
- Cái m... ũ... ạ, người học trò mới rụt rè đáp lại;
đưa cặp mắt lo lắng nhìn xung quanh.
- Cả lớp chép phạt năm trăm câu thơ! Tiếng quát giận dữ của
thầy giáo như một lời nạt nộ chặn đứng trận cười mới. - Ngồi im! Thầy
giáo phẫn nộ nói tiếp. Rồi thầy vừa rút khăn tay để trong chiếc mũ vải ra lau
trán, vừa bảo: Còn em học sinh mới, em chép cho tôi hai mươi lần động
từ Ridicuhis sum . 1
Rồi dịu giọng lại, thầy nói:
- Này! Cái mũ cát két của em, rồi em sẽ tìm thấy; không ai lấy
mất đâu!
Lớp học trở lại hoàn toàn im lặng. Mọi người đều cặm cụi vào
sách vở, còn người học trò mới vẫn ngồi lại hai giờ liền trong một tư
thế thật nghiêm chỉnh, tuy rằng thỉnh thoảng lại có một viên giấy từ đầu một
ngòi bút nào đó được phóng ra làm vấy bẩn mặt hắn. Nhưng hắn chỉ lấy tay chùi,
rồi lại ngồi yên không nhúc nhích, cúi gằm xuống.
Buổi tối, đến giờ tự học, hắn rút chiếc tay áo giả từ ngăn
bàn viết ra, xếp đặt gọn gàng mọi đồ dùng, kẻ giấy cẩn thận. Chúng tôi thấy hắn
học tập cần cù, chữ nào cũng tra tự điển ra chiều vất vả lắm. Chắc là nhờ có
cái quyết tâm học tập như thế, hắn mới không đến nỗi phải tụt xuống lớp dưới,
vì tuy hắn có tạm thuộc các quy tắc đấy, câu văn của hắn vẫn chẳng được gọn
gàng thanh nhã. Chẳng là ông mục sư ở làng đã vỡ lòng cho hắn về môn Latinh;
cha mẹ hắn ngại tốn kém cứ lần lữa mãi mới cho hắn đến trường trung học.
Cha hắn, ông Sáclơ Đơmi Báctôlêmê Bôvary, nguyên phụ tá phẫu
thuật quân y khoảng năm 1812 có liên can vào những vụ trưng binh, đã buộc phải
thôi việc. Ông ta đã lợi dụng mẽ người của mình để chộp ngay trên đường công
tác một món hồi môn là sáu vạn quan do cô con gái một nhà buôn mũ, mê cái vẻ đẹp
bên ngoài ấy, đem lại. Điển trai, khoác lác, hay khoe tài khoe giỏi, ông ta để
râu má nối liền ria mép, luôn luôn đeo nhẫn; ăn mặc lòe loẹt, có vẻ một
"người hùng", với cái hoạt bát dễ dàng của một kẻ chào hàng. Lấy vợ rồi,
ông ta sống ỷ lại hai ba năm vào lưng vốn của vợ, ăn ngon, dậy muộn, hút thuốc
bằng những chiếc tẩu sứ to tướng, đêm đêm xem hát khuya mới về, và thường hay lui
tới các tiệm cà phê. Bố vợ mất, chẳng để lại được là bao; ông ta tức giận, nhảy
xổ vào việc kinh doanh, lỗ vốn một món, rồi rút lui về quê định sinh
lợi. Nhưng vì ông ta chẳng thạo nghề canh tác hơn nghề làm vải hoa, ông
ta, đáng lẽ dùng ngựa để cày lại đem ngựa đi cưỡi, đáng lẽ đưa rượu tần để bán
lại uống hàng chai, ông ta chén những con gà, con vịt béo nhất, lấy mỡ lợn đánh
giày đi săn, nên ông ta sớm nhận ra rằng thà vứt bỏ đấy mọi hoạt động kiếm lời
còn hơn.
Ông ta tìm thuê được một nơi ở giá hai trăm quan một năm, vừa
có dáng dấp trại ấp, vừa có dáng dấp nhà riêng, tại một làng giáp với xứ Cô và
xứ Picacđi; rồi ông ta cố thủ ở đó ngay từ năm bốn mươi lăm tuổi lòng buồn bực
hối tiếc, giận trời, ghen thiên hạ, ghét người đời, như ông nói, và nhất quyết
sống yên thân.
Vợ ông ta xưa kia mê say ông quá đỗi, yêu ông ta bằng lối phục
tùng, khúm núm, khiến ông ta lại càng xa cách bà ta hơn. Xưa kia bà ta vui vẻ,
cởi mở, đằm thắm bao nhiêu, thì nay, càng trở về già (chẳng khác rượu vang hả
hơi ngả thành dấm), bà ta càng sinh khó tính, lắm điều, nóng nảy bấy nhiêu. Thoạt
tiên thấy ông ta bám riết bọn gái quê để tán tỉnh, rồi đêm đêm thấy ông ta từ
trăm nơi bậy bạ trở về nhà, chán chường và sặc mùi rượu, bà ta vô cùng đau khổ
mà không ta thán. Nhưng rồi sau lòng tự tôn nổi dậy. Bà ta chẳng nói chẳng rằng,
nuốt thầm uất hận với một sự kiên nhẫn, trầm lặng cho đến khi chết. Lúc nào bà
ta cũng tất bật, hết chạy đến phòng bọn luật sư, đến nhà viên chánh án, lại lao
vào việc thương lượng, khất khứa; khi nhớ tới kỳ hạn các phiếu nợ, và, khi ở
nhà, nào khâu, nào giặt, nào là quần áo, trông coi thợ thuyền, thanh toán công
xá, còn ông ta thì chẳng lo tới việc gì, suốt ngày mỏi mệt, bực bội trong giấc
ngủ gà ngủ vịt, động mở mắt ra là tiếng bấc tiếng chì, ngồi hút thuốc bên đống
lửa, khạc nhổ vào đống tro.
Khi sinh ra một đứa con là bà ta phải gửi nó cho vú nuôi. Đến
khi trở về với cha mẹ, chú bé được chiều chuộng như ông hoàng. Mẹ cứ nhét cho
con hết thứ mứt này đến thứ mứt khác; bố thì mặc cho con tự do chạy chân không,
rồi làm ra vẻ một nhà hiền triết, ông ta còn bảo rằng thằng bé cứ trần truồng,
mà sống như giống vật sơ sinh cũng được. Ngược lại khuynh hướng của bà mẹ, ông
bố giữ trong đầu óc một thứ lý tưởng hùng tráng về tuổi thơ, ông ta ra sức giáo
dục con trai theo cái lý tưởng ấy, ông ta muốn nuôi dạy nó một cách khắc khổ
theo kiểu người Xpáctơ thời xưa, để nó được khỏe mạnh vạm vỡ. Ông ta cho nó đi
ngủ mà chẳng đốt lò sưởi, tập cho nó uống từng ngụm lớn rượu rum và dạy
nó miệt thị các đám rước. Nhưng chú bé, vốn tính ôn hòa, chẳng đáp ứng được
công sức của ông bố. Bà mẹ đi đâu cũng kéo con đi theo; bà ta cắt đồ giấy cho
con chơi, kể chuyện cho con nghe, nựng con không dứt bằng những lời độc thoại
chan chứa niềm vui cay đắng và bằng những lời vỗ về lảm nhảm. Qua đời sống cô
quạnh của mình, bà ta trút lên đầu chú bé tất cả những mộng ảo tản mạn tan vỡ của
mình. Bà ta mơ ước cho con những địa vị cao sang, bà ta tưởng tượng thấy con đã
thành đạt; đẹp trai, linh lợi, có vai vế trong ngành cầu đường hoặc trong ngành
tư pháp. Bà ta cho con tập đọc và, nhân có chiếc đàn pianô đã cũ, bà ta còn dạy
cả nó hát vài bài tình ca nho nhỏ. Nhưng ông Bôvary có quan tâm đến văn nghệ
đâu, ông ta bảo rằng chẳng phải vạ! Có bao giờ mình đủ tiền cho con theo học
các trường của Chính phủ, đủ tiền kiếm cho nó một chức vị hoặc cấp cho nó một vốn
buôn? Vả lại, do liều lĩnh, con người thường thành đạt ở đời. Bà
Bôvary đành cắn môi chịu đựng, thế là chú bé lại được sống lêu lổng ở trong
làng.
Hắn đi theo những người cày ruộng, lấy đất ném cho quạ bay
đi. Hắn ăn những quả dâu ở dọc các hào; hắn cầm sào dài chăn đàn gà tây, hắn đi
mót lúa ở cánh đồng, hắn chạy vào rừng chơi. Những ngày mưa, hắn nhảy lò cò trước
cổng nhà thờ, còn những ngày lễ lớn, hắn nằn nì ông gác chuông cho hắn đánh
chuông để hắn được bám cả người vào cái dây chuông to lớn và cảm thấy mình cuốn
đưa theo.
Cho nên hắn lớn như thổi, mạnh chân khỏe tay, đỏ da thắm thịt.
Khi hắn mười hai tuổi, mẹ hắn đã xin được cho hắn học vỡ
lòng. Người ta cậy cha xứ làm việc đó. Nhưng các buổi học quá ngắn ngủi và quá
loạc choạc thành chẳng bổ ích gì mấy. Học vào những lúc rỗi rãi, học trong
phòng mặc áo lễ, phải đứng mà học, học vội học vàng giữa khoảng một cái lễ rửa
tội và một đám tang, hoặc sau ba buổi cầu kinh hàng ngày khi cha xứ chẳng phải
đi đâu. Thầy cho gọi trò đến, rồi cả hai lên phòng riêng ngồi học tử tế: ruồi
muỗi và thiêu thân quay cuồng xung quanh cây nến. Trời thì nóng bức, chú bé ngủ
thiếp đi, còn ông già, tay đặt lên bụng, cũng lim dim đôi mắt và, chẳng bao
lâu, ngáy khò khò, miệng há hốc. Cũng có những lần, cha xứ đi ban thánh thể cho
kẻ ốm yếu quanh vùng, khi trở về, chợt thấy Sáclơ đang lêu lổng ngoài đồng, ông
ta bèn gọi hắn lại khuyên răn một hồi rồi, luôn thể, bắt chú chia động từ ngay
dưới một gốc cây. Bài học bị đứt quãng khi trời đổ mưa hoặc có người quen thuộc
đi qua. Tuy nhiên, thầy cũng luôn đắc ý về trò, thậm chí thầy còn nói chàng
tuổi trẻ có nhiều trí nhớ.
Nhưng Sáclơ không thể như thế mãi được. Bà mẹ cuống quýt can
thiệp. Còn ông bố thì sượng sùng, hoặc chán nản thì đúng hơn, ông ta nhượng bộ,
ông ta không phản kháng nữa. Và họ còn chờ một năm để chú bé làm lễ rửa tội.
Sáu tháng nữa trôi qua; rồi năm sau, Sáclơ được gửi đến trường
trung học Ruăng. Vào khoảng cuối tháng mười, hồi có phiên chợ Xanh-Rômanh, ông
bố thân hành dẫn con đi.
Bây giờ thì không một ai trong chúng tôi nhớ được điều gì về
hắn cả. Thực là một người học trò tính khí ôn hòa, giờ chơi thì chơi, giờ học
thì học, hắn ta chăm chú nghe giảng bài ở lớp, ngủ kỹ ở phòng ngủ, ăn khoẻ ở phòng
ăn. Đứng bảo lãnh cho hắn là một ông buôn bán đồ đồng, đồ sắt ở phố Găngtơri; cứ
tháng tháng, vào ngày chủ nhật, sau khi đã đóng cửa hàng rồi, ông ta lại cho hắn
ra trường một lần, đưa hắn đến tận cảng chơi, xem tàu bè, rồi lại dẫn về trường
đúng mười chín giờ, trước bữa cơm tối. Mỗi chiều thứ năm, hắn lại viết cho mẹ hắn
một bức thư dài bằng mực đỏ, dán phong bì bằng ba miếng hồ rồi ôn lại các bài sử
hoặc đọc cuốn Anasácxix 2 đã cũ, bỏ lay lắt trong phòng học. Trong
những buổi đi chơi, hắn thường trò chuyện với người đày tớ cũng xuất thân từ
nông thôn như hắn.
Nhờ học tập cần cù, hắn luôn luôn giữ được hạng trung bình
trong lớp, thậm chí có một lần, hắn còn giật được cả giải đầu khuyến khích về
môn sinh vật. Nhưng cuối năm đệ tam, bố mẹ hắn cho hắn thôi trường trung học để
bước vào ngành y, tin rằng hắn có thể tự học thi tú tài được.
Mẹ hắn tìm thuê cho hắn một căn buồng trên gác tư, khu Ô đờ
Rôbếch, tại nhà một ông thợ nhuộm quen thuộc. Bà điều đình việc trọ học, đi mua
đồ đạc, một bàn hai ghế, cho chuyển từ nhà lên một cái giường cũ bằng gỗ anh
đào, rồi lại mua thêm một cái lò sưởi nhỏ bằng gang với ít củi dự trữ để đứa
con tội nghiệp được sưởi ấm. Mãi đến cuối tuần bà ta mới ra về, sau khi đã dặn
đi dặn lại hắn cần cư xử tốt với mọi người vì từ nay hắn phải sống một mình.
Hắn xem bản niêm yết, thấy chương trình học mà bàng hoàng:
nào giải phẫu học, bệnh lý học, sinh lý học, dược học, hóa học, nào thực vật học,
y học thực hành; liệu pháp học, chưa kể khoa vệ sinh và môn dược phẩm, toàn là
những danh từ hắn mù tịt, chẳng biết nguồn gốc ở đâu, chẳng khác nào cơ man cửa
thánh đường đầy những bóng tối uy nghiêm.
Hắn chẳng hiểu gì cả, hắn nghe giảng hoài mà vẫn chẳng nắm được.
Tuy nhiên hắn làm việc cật lực, vở nào vở nấy đóng cẩn thận. Hắn theo đủ các
giáo trình, không bỏ qua một cuộc đi khám bệnh nào. Ngày ngày, hắn thực hiện đầy
đủ nhiệm vụ của mình, như con ngựa mới tập, mắt bịt kín, cứ đi vòng quanh một
chỗ, chẳng biết gì về cái công việc mình đang làm chật vật.
Muốn cho con đỡ tốn, hàng tuần bà mẹ nhờ người mang đến cho
con một miếng thịt bê quay mà hắn dùng trong bữa sáng khi ở bệnh viện về, hắn vừa
ăn vừa nện đế giày vào tường. Sau đó, hắn phải chạy đi nghe giảng bài, đến giảng
đường tới viện cứu tế, rồi qua các phố trở về nhà. Tối đến, sau bữa cơm đạm bạc
của chủ nhà, hắn lên buồng riêng, lại học tập. Quần áo ẩm ướt trên người hắn bốc
hơi trước lò sưởi đỏ lửa.
Những buổi chiều hè đẹp trời, vào cái giờ phố xá oi bức còn vắng
vẻ, lúc các chị hầu gái thường chơi cầu ở thềm nhà, hắn mở cửa sổ ra, tỳ khuỷu
tay vào thành cửa. Trước mắt hắn, dòng sông con chảy bên dưới, ngay chỗ hắn ngồi,
vàng, tím hoặc xanh lơ giữa những chiếc cầu và các hàng rào sắt, làm cho cái
khu phố này của Ruăng giống như một thành phố Vơnidơ nhỏ bé và nhớp nhúa. Những
bác thợ, ngồi xổm trên bờ, vục cánh tay xuống nước rửa. Trên những chiếc sào
dài từ những từng gác nóc nhà thò ra, những cuộn sợi bông đang phơi trước gió. Ở
bên kia các mái nhà, bầu trời trong vắt đang tỏa rộng, mặt trời đỏ lặn dần. Nơi
ấy thú vị biết bao! Dưới rặng cây dẻ hẳn là mát mẻ! Hắn cố hít những hương thơm
từ cánh đồng xa chẳng đưa đến tới chỗ hắn được.
Hắn gầy đi, người dài ra, nét mặt như mang một cái gì sầu thảm
trông cũng hay hay.
Cố nhiên, bởi thiếu nhiệt tình, hắn đi tới chỗ rời bỏ những
điều mình quyết định trước kia. Có một lần hắn không đi thăm bệnh, hắn bỏ buổi
nghe giảng vào hôm sau, rồi dần dà hắn chẳng đến lớp học nữa, khi hắn đã thưởng
thức một cách khoái trá cái lười.
Hắn làm quen với tiệm rượu, say sưa đánh bài cẩu. Đối với hắn,
tối tối giam mình vào một phòng công cộng bẩn thỉu để đập chan chát trên bàn đá
hoa những quân bài bằng xương cừu nhỏ điểm chấm đen là một hành vi tự do, quý
báu, làm tăng giá trị của mình. Cái đó tựa hồ bài học vỡ lòng về cuộc đời, bước
đầu đi vào những thú vui bị ngăn cấm, và, mỗi lần bước vào, hắn đặt tay lên núm
cửa, với một niềm vui hầu như thuộc về nhục dục. Thế là, bao nhiêu điều dồn ép
trong lòng được giãn nở; hắn học thuộc lòng những khúc ca để hát trong những dịp
thù tạc, nức lòng tán thưởng Bêrăngiê 3 , biết pha chế rượu tiệc và cuối cùng biết
yêu đương.
Vì chuẩn bị như thế, hắn thất bại hoàn toàn ở kỳ thi y sĩ.
Ngay tối hôm ấy, cả nhà hắn mong chờ hắn để mừng kết quả.
Hắn đi bộ về nhưng dừng chân ở cổng làng, hắn nhờ người gọi mẹ
ra, kể cho mẹ đầu đuôi mọi sự. Mẹ hắn tha thứ cho hắn, đổ việc hắn thi hỏng là
tại ban giám khảo bất công. Bà ta trấn tĩnh hắn đôi chút và nhận dàn xếp mọi việc.
Mãi năm năm sau ông Bôvary bố mới rõ sự thật thì chuyện ấy đã
cũ rồi, ông ta đành chịu, vả lại ông ta chẳng thể nghĩ rằng đứa con dứt ruột của
mình lại là một thằng ngu ngốc được.
Sáclơ lại cặm cụi học và không ngừng chuẩn bị những môn phải
thi bằng cách học thuộc lòng trước mọi vấn đề. Hắn thi đậu với một số điểm khá
cao. Thật là một ngày tốt đẹp xiết bao dành cho bà mẹ! Gia đình hắn mở một bữa
tiệc linh đình.
Hắn sẽ đi đâu hành nghề? Ở vùng Tôxtơ. Ở đó chỉ có một y sĩ
già. Từ lâu, bà Bôvary mẹ chờ đợi lão ta chết, nhưng lão chưa kịp cuốn gói về với
tổ tiên thì Sáclơ đã đến dựng phòng khám bệnh trước cửa nhà lão như người kế
nghiệp sẵn sàng.
Nhưng nuôi con khôn lớn, cho nó học nghề thuốc rồi tìm vùng
Tôxtơ để nó lập nghiệp chưa phải là đã hết; còn phải cưới vợ cho nó nữa. Bà ta
liền kiếm cho con một người: một người đàn bà góa mà người chồng chết đi là một
viên mõ tòa ở Điép, mụ đã bốn mươi lăm tuổi, có lợi tức hàng năm tới một ngàn
hai trăm đồng.
Tuy mụ xấu xí, thân hình khô cằn như bó củi và đầy mụn mọc
như búp mùa xuân, nhưng quả thật mụ không thiếu gì đám nhòm ngó. Để đạt được mục
đích, bà Bôvary mẹ buộc phải hất cẳng mọi đám, bà ta lại còn rất khôn khéo phá
vỡ âm mưu của tay hàng thịt được bọn cha cố ủng hộ.
Sáclơ hy vọng lấy vợ là mở đầu một cuộc sống tươi đẹp hơn,
tin tưởng mình sẽ được tự do hơn, sẽ làm chủ vợ mình và tiền tài của vợ mình.
Nhưng chính vợ hắn mới là chủ; trước thiên hạ, hắn cần phải nói điều này, không
được nói điều kia, phải ăn chay vào ngày thứ sáu, phải ăn mặc như ý vợ hắn muốn,
phải thúc bách những con bệnh chưa trả tiền theo lệnh của vợ hắn. Mụ bóc thư
riêng của chồng, theo dõi từng hoạt động của chồng và nghe trộm qua vách khi chồng
khám bệnh cho đàn bà.
Sáng nào, mụ cũng phải có sôcôla điểm tâm, bắt chồng phải đặc
biệt nâng niu chiều chuộng mình. Mụ luôn miệng than thở về gân cốt, tim phổi,
khí huyết của mình. Tiếng chân người đi lại làm mụ khó chịu; người ta bỏ đi, mụ
kêu mụ bị trơ trọi một cách thảm hại; người ta trở lại, mụ bảo chắc hẳn là để
xem mụ chết đi. Đêm hôm, lúc Sáclơ về nhà, mụ thò hai cánh tay khẳng khiu ra khỏi
chăn, bá lấy cổ chồng, bắt chồng ngồi xuống thành giường, mụ kể lể mọi nỗi niềm
buồn tủi của mình: nào hắn quên mụ, nào hắn đã yêu người khác! Người ta đã nói
rõ ràng là mụ sẽ khổ; rồi mụ kết thúc bằng việc đòi hắn rót cho mụ một thứ thuốc
ngọt nào đó để người mụ được khỏe mạnh và tăng thêm chút dục tình.
--------------------------------
|
Ridiculus sum (tiếng Latinh) (tôi) gây trò cười. |
|
|
Anasácxix (Anacharsis ou les gymnases) là một cuốn
sách, xuất bản năm nào không rõ, tường thuật cuộc đàm thoại về lợi ích của thể
dục. |
|
|
Bêrăngiê (Béranger): Nhà văn Pháp (1780-1875) sáng tác
nhiều bài ca yêu nước nổi tiếng |
Chương 2
Một đêm, vào khoảng 11 giờ, cả nhà thức giấc bởi tiếng chân
ngựa dừng đúng ngay trước cửa. Chị hầu gái mở cửa gác thượng ngó xuống, rồi
trao đổi một lúc với người đàn ông đứng dưới phố. Người này đến mời ông thầy
thuốc, có mang theo một phong thư. Naxtazi, run lên cầm cập bước xuống cầu
thang rồi mở khóa, kéo then. Người lạ để ngựa đấy, theo chị, đột ngột vào buồng
Sáclơ. Anh ta lấy từ trong cái mũ len có chòm lông xám ra một bức thư cuốn
trong miếng vải, và lễ phép đưa cho Sáclơ, Sáclơ tỳ khuỷu tay xuống gối để đọc.
Naxtazi đứng cạnh giường, cầm đèn. Bà chủ, vì ngượng ngùng, nằm quay mặt về
phía tường, còn để lộ tấm lưng. Bức thư có gắn dấu nhỏ bằng xi màu lơ, cầu mong
ông Bôvary đến ngay trang trại Béctô để cứu một người bị gãy chân. Mà từ Tôxtơ
đến Béctô, phải đi sáu dặm đường tắt, qua Lôngvin và Xanh Vichto. Đêm tối như
bưng, bà Bôvary còn lo chồng gặp tai nạn. Thế là người ta quyết định anh bồi ngựa
cứ đi về trước; ba giờ sau, khi trăng lên, Sáclơ sẽ lên đường. Phải cho một em
bé đi đón để chỉ đường vào trang trại để mở cổng hàng rào.
Chừng bốn giờ sáng, Sáclơ, choàng kín người bằng chiếc
măngtô, lên đường đi Béctô. Còn ngái ngủ vì giấc nồng, hắn để mình ru theo nước
kiệu êm êm của con ngựa. Mãi đến lúc con ngựa đứng sững trước mấy cái hố đầy
gai đào bên những luống cày, Sáclơ mới chợt tỉnh, hắn nhớ ngay đến cái chân gãy
của người bị nạn và cố ôn lại trong trí nhớ tất cả những trường hợp gãy xương
mà hắn đã học. Mưa đã tạnh; trời hửng sáng; trên cành những cây táo trụi lá,
chim chóc còn im lìm đậu, lông cánh xù lên trước gió lạnh ban mai. Đồng quê bằng
phẳng trải ra mênh mông, và những bụi cây mọc quanh các trang trại, từng quãng
xa, điểm những vết tím than trên cái diện tích rộng lớn ấy mất hút trong chân
trời màu ảm đạm. Sáclơ thỉnh thoảng mở mắt ra; rồi do đầu óc mệt mỏi, giấc ngủ
tự nó trở lại, và hắn chẳng bao lâu, lại rơi vào tình trạng nửa tỉnh nửa mê
trong đó, cảm giác mới hòa lẫn với ký ức xưa, hắn thấy mình một hóa hai, vừa là
sinh viên đi qua một phòng bệnh nhân mổ như trước kia, vừa là trai có vợ nằm ngủ
trên giường như lúc nãy. Trong đầu óc hắn, hơi ấm của thuốc chườm quyện lẫn với
hơi lạnh của sương đêm; hắn nghe thấy tiếng những vòng sắt mắc màn lướt trên
gióng giường và tiếng ngáy của vợ mình đang ngủ... Vừa lúc hắn qua Vátxôngvin,
hắn thấy ở bờ rào một thằng bé ngồi trên cỏ.
- Ông là y sĩ phải không? Thằng bé hỏi.
Nghe Sáclơ đáp lại, nó liền cầm guốc lên tay rồi chạy về phía
trước.
Trên đường đi, qua câu chuyện của thằng bé dẫn đường, chàng y
sĩ hiểu ông Ruôn thuộc tầng lớp nhà nông phong lưu nhất. Đêm trước, khi đánh
bài ở nhà một người láng giềng về, ông ta ngã gãy chân. Vợ ông ta đã mất từ hai
năm nay. Ông ta chỉ còn sống với cô con gái, cô ta giúp bố trông coi việc nhà.
Bánh xe hằn vết xuống đường sâu hơn. Đã gần tới Béctô. Thằng
bé chui vào một lỗ rào, đi khuất rồi trở lại đầu sân, mở cổng. Ngựa nhẹ bước
trên cỏ ướt, Sáclơ cúi đầu xuống để qua dưới các cành cây. Nhưng con chó giữ
nhà vừa kéo xích vừa sủa ở trong cũi. Con ngựa sợ, bước trệch khỏi đường vào.
Bề ngoài trang trại có vẻ tươm tất. Nhìn vào các chuồng ngựa,
qua các cửa mở rộng, người ta thấy những con ngựa cày to béo đang bình thản ăn
trong những máng mới tinh. Dọc các căn nhà, có rải một đống phân lớn, hơi đang
bốc lên; giữa đám gà mái và gà tây, năm sáu con công đang mổ mồi, công là giống
sang trọng ở các sân nuôi gà vịt xứ Cô. Chuồng cừu thì dài, kho lúa thì cao, tường
nhẵn thín. Trong một gian trống, có hai cái xe bò to và bốn cái cày, với roi quất,
đai cổ, phụ tùng đầy đủ, những đệm len xanh hoen bụi từ các vựa thóc rơi xuống.
Cái sân dốc ngược lên, có cây trồng cách quãng nhau một cách cân đối. Tiếng đàn
ngỗng đang bơi vui vẻ gần ao.
Một người đàn bà trẻ, mặc áo dài len xanh có ba đường viền,
bước ra thềm đón Bôvary rồi đưa hắn vào nhà bếp, ở đó lửa đang rực cháy. Xung
quanh là thức ăn sáng của gia nhân đang sôi sục trong những chiếc nồi to nhỏ
khác nhau. Quần áo ẩm hong bên lò sưởi. Xẻng, kẹp chở lửa, ống thổi, tất cả đều
to tướng, lóng lánh như thép bóng. Dọc tường lò, xếp một bộ đồ làm bếp phong
phú, trên đó ánh lửa cùng ánh sáng đầu tiên của mặt trời rọi qua các ô cửa
kính. Phản ánh không đồng đều.
Sáclơ lên gác thăm bệnh nhân. Hắn thấy ông ta đắp chăn nằm
trên giường, mình mẩy đổ mồ hôi, mũ vải trùm đầu bị quẳng ra xa. Đó là một con
người béo lùn, tuổi năm mươi, da trắng mắt xanh, trán hói, tai đeo khuyên. Cạnh
ông ta, trên một chiếc ghế mây, có một chiếc bình lớn đựng rượu mạnh mà thỉnh
thoảng ông ta lại rót ra uống để lấy dũng khí. Nhưng chợt nhìn thấy người thầy
thuốc, ông ta mất hết phấn khởi, chẳng còn chửi rủa như suốt mười hai giờ qua,
ông ta xoay ra rên rỉ một cách yếu đuối.
Chỗ xương gãy đơn giản, không có biến chứng gì. Sáclơ chẳng
dám mong gặp trường hợp dễ chịu hơn thế. Bấy giờ, nhớ lại những dáng dấp của
các thầy học dạy mình ngay bên giường kẻ bị thương, hắn lấy lời lẽ ôn tồn khuyến
khích bệnh nhân. Cái mơn trớn của nhà mổ xẻ khác nào chất dầu nhờn bôi vào những
con dao mổ. Để có những mảnh gỗ bó gãy xương, người ta phải xuống kho xe bò kiếm
một bó. Sáclơ chọn lấy một thanh, chẻ ra làm nhiều mảnh lấy miếng kính vỡ cạo
cho nhẵn, trong khi đó người hầu gái xé vải lót giường ra làm băng, còn Emma gắng
khâu những miếng nệm nhỏ cho chỗ bó. Vì cô tìm mãi mới thấy bao kim, cha nàng nổi
nóng; nàng không cãi một lời, nhưng khi khâu, nàng phải đưa ngón tay lên miệng
mút vì kim đâm chảy máu.
Sáclơ ngạc nhiên thấy móng tay nàng trắng lạ thường, sáng
bóng, thon thon, cọ sạch hơn đồ ngà Điép và cắt theo hình hạnh nhân. Tuy nhiên,
bàn tay nàng không được đẹp, chẳng nõn nà lắm, có lẽ thế, các đốt có chiều hơi
khô; bàn tay nàng lại quá dài nữa, thiếu những đường cong nét uốn dịu dàng. Cái
đẹp ở nàng là đôi mắt: tuy nâu sẫm lại dường như đen láy dưới làn mi. Nàng nhìn
thẳng vào người ta bằng một vẻ táo bạo ngây thơ.
Băng bó xong, ông Ruôn thân mời y sĩ ăn tí chút rồi hãy về.
Sáclơ xuống căn phòng tầng dưới. Hai bộ đồ ăn cùng với chén bạc
đã được đặt trên chiếc bàn nhỏ, dưới chân một cái giường lớn có màn treo phủ diềm
hoa in hình những người Thổ Nhĩ Kỳ. Hương thơm của hoa Irix 1 cùng
với mùi đệm ẩm bốc ra từ chiếc tủ áo lớn bằng gỗ sồi kê đối diện với cửa sổ. Dưới
đất, ở các góc tường, là những bao lúa mì xếp đứng vì kho thóc gần nhà có ba bực
đá bước lên kia đã đầy ứ. Để trang hoàng căn phòng, giữa bức tường sơn màu xanh
ve đã tróc từng mảng vì chất diêm tiêu treo một bức tranh đầu nữ thần
Minécvơ 2 bằng
chì đen, lồng khung vàng, dưới có hàng chữ ngả: "Tặng cha thân yêu".
Thoạt tiên, chủ khách trao đổi về bệnh tật, rồi đến thời tiết,
chuyện cữ đại hàn, chuyện chó sói chạy rông ngoài đồng ban đêm. Nàng Ruôn chẳng
được thoải mái ở thôn quê, nhất là bây giờ mình nàng hầu như phải cáng đáng mọi
việc trong trang trại. Vì căn phòng hơi lạnh, nàng vừa ăn vừa run làm hé cặp
môi dày mà nàng hay cắn nhấm lúc trầm lặng.
Nàng mặc một chiếc áo cổ cồn trắng bẻ gập. Hai mái tóc nàng
đen mượt ngăn giữa bằng một đường ngôi nhỏ dịu dàng uốn theo vòng sọ não phủ gần
khuất cả tai, lượn như làn sóng trên hai thái dương, rồi chùm lại phía sau đầu
thành một cái búi to tướng mà lần đầu tiên trong đời mình, người thầy lang thôn
quê nhận thấy. Gò má nàng hồng. Nàng giắt chiếc kính gọng đồi mồi, giữa hai cái
khuy trước ngực như một người đàn ông.
Sáclơ, sau khi lên gác từ biệt ông Ruôn, trở lại căn phòng đó
trước lúc ra về, hắn thấy nàng đứng áp trán vào cửa sổ, nhìn ra khu vườn, chỗ
những cọc cắm cho đậu đỗ leo đã bị lật đổ vì trận gió. Nàng quay mặt lại hỏi hắn:
- Ông tìm gì chăng?
Hắn đáp:
- Thưa cô, tôi tìm cái roi ngựa.
Rồi hắn lục lọi trên giường, sau cửa, dưới ghế; cái roi rơi
dưới đất, giữa những bao lúa mì và bức tường. Emma chợt thấy, bèn cúi xuống nhặt,
Sáclơ, vì nhã ý, vội xô lại, cũng dang tay ra để với như nàng, hắn cảm thấy ngực
mình đụng nhẹ vào lưng cô gái khom người trước hắn. Nàng đứng thẳng lên, mặt đỏ
ửng, vừa ngước nhìn hắn qua vai, vừa đưa cho hắn cái roi gân bò.
Đáng lẽ ba ngày nữa, hắn mới trở lại Béctô như hắn hẹn, nhưng
ngay ngày hôm sau hắn đã đến, rồi cứ đều đều mỗi tuần hai lần, không kể những
cuộc thăm viếng bất ngờ mà thỉnh thoảng hắn rẽ vào như vô tình.
Vả chăng, mọi sự đều yên đẹp; vết thương khỏi dần đúng phép;
và bốn mươi sáu ngày sau, khi thấy ông Ruôn tập đi một mình trong căn phòng của
mình, người ta bắt đầu coi ông Bôvary như một bậc tài cao. Ông Ruôn nói rằng những
tay y sĩ giỏi nhất ở Yvơtô, hay cả ở Ruăng nữa, cũng chẳng chữa được cho ông ta
tốt hơn.
Còn Sáclơ, hắn chẳng hơi đâu tự hỏi vì sao hắn thích đến
trang trại Béctô. Nếu hắn có nghĩ đến chăng nữa thì hắn sẽ đổ là hắn sốt sắng
vì trường hợp bệnh nặng, hoặc có lẽ là hắn hy vọng được lợi. Nhưng có phải vì
thế mà những cuộc viếng thăm trang trại kia lại thành một cái gì khác thường mà
thú vị, giữa những công việc khô khan của đời hắn? Những buổi ấy hắn dậy sớm,
thúc ngựa phi nước đại, rồi xuống chùi chân vào cỏ, lồng tất tay đen trước khi
vào. Hắn thích thú thấy mình bước vào sân khi thấy vai mình đụng chiếc rào chắn
đang quay, thấy con gà trống đứng gáy trên tường, thấy người hầu kẻ hạ ra đón.
Hắn thích thú cái kho lúa và những chuồng ngựa, thích thú ông Ruôn vừa đập nhẹ
vào tay hắn vừa gọi hắn là cứu tinh, thích thú tiếng giày guốc nhỏ nhắn của
Emma trên nền gạch nhà bếp rửa sạch; đôi gót giày cao làm nàng to lớn lên một
chút; và, khi nàng đi trước hắn, đế gỗ, nâng nhanh, miết vào da giày thành tiếng
kêu ken két.
Bao giờ nàng cũng tiễn chân hắn ra đến tận bực đầu thềm. Khi
người ta chưa kịp dẫn ngựa lại thì nàng còn đứng đấy. Hai người từ biệt nhau,
không ai nói gì nữa. Không khí lồng lộng bao quanh nàng, lật tung những sợi tóc
tơ ở gáy, hoặc lay động những dải buộc tạp dề như những dải cờ. Một lần vào lúc
trời tan giá, vỏ cây rỉ nước ngoài sân, tuyết trên mái nhà chảy xuống. Nàng đứng
ở thềm; nàng đi tìm cái dù, nàng mở ra. Cái dù bằng lụa xanh biếc, lóng lánh
như cổ chim câu khi ánh nắng xuyên qua, đã tỏa ánh sáng muôn màu vào da mặt trắng
trẻo của nàng. Nàng mỉm cười dưới dù, đón chào tiết trời ấm áp; và người ta
nghe thấy tiếng nước nhỏ giọt trên nền lụa vẫn được căng thẳng.
Thời gian đầu, lúc Sáclơ lui tới Béctô, vợ hắn không quên hỏi
tin tức về người bị nạn; hơn nữa, trong cuốn sổ kế toán kép mà mụ giữ, mụ còn
dành riêng cho ông Ruôn một trang giấy trắng toát. Nhưng đến khi mụ biết lão có
một cô con gái, thì mụ liền đi thăm dò. Mụ được tin cô con gái ông Ruôn khôn lớn
ở nhà tu Uyấcxuylin, đã được dạy dỗ tử tế, theo tin đồn, đến nỗi biết cả khiêu
vũ, lẫn địa lý, hội họa, dệt thảm và chơi đàn pianô. Thực là tuyệt đỉnh! Mụ tự
nhủ:
- Ra vì thế mà hắn mặt mày hớn hở khi đến thăm nó, là lại diện
gilê mới, chẳng sợ mưa làm hư hại? - À! Con đàn bà ấy! Con đàn bà ấy!
Thế rồi mụ tự nhiên ghét nàng. Thoạt tiên, mụ còn nói bóng
gió cho đỡ bực. Sáclơ không hiểu; sau mụ có những phản ứng bất thần khiến hắn
phải làm lơ để khỏi sinh to chuyện; cuối cùng, mụ đột nhiên chất vấn hắn làm
cho hắn chẳng biết đáp lại ra sao:
- Sao ông Ruôn đã khỏi rồi mà anh còn đến trang trại Béctô?
Sao bọn họ chưa trả tiền? À! Là vì ở đó có một tiểu thư, một con người
biết chuyện trò, biết thêu thùa, một con người có học thức. Anh chỉ ham cái đó
thôi, anh cần những cô gái thành thị cơ.
Rồi mụ nói tiếp:
- Con cái lão Ruôn mà là một cô gái thành thị à! Thôi đi! Ông
nó làm nghề chăn cừu, một thằng anh họ nó tí nữa phải ra tòa đại hình vì dùng
đòn hiểm trong một cuộc đánh nhau. Làm gì mà nó phải nổi trống khua chiêng như
thế, nó phải vận áo lụa đi lễ nhà thờ ngày chủ nhật như thể một bà bá tước! Mà
tội nghiệp lão già, nếu chẳng vớ được món cây cải đầu năm ngoái, thì cũng chẳng
còn biết xoay xở vào đâu để trả nợ!
Vợ Sáclơ khóc lóc nức nở, bồng bột bộc lộ tình yêu, bắt hắn
tay cầm kinh, miệng thề thốt không đến Béctô nữa. Hắn đành tuân theo; song ở hắn
lòng ham muốn mạnh mẽ phản kháng lại hành vi phục tòng. Rồi, bằng một ý nghĩ
quay quắt tự nhiên, hắn tưởng rằng việc cấm đoán hắn đến thăm người ấy là hắn
có quyền được yêu người ấy, vả chăng mụ góa lại gầy còm, răng nhe cả ra, tứ thời
trùm khăn san đen, đuôi khăn rủ xuống tận giữa bả vai, thân hình cứng nhắc bó
chặt trong chiếc áo dài như gươm lồng trong vỏ, áo ngắn cũn cỡn để lộ cả mắt cá
chân với đôi dây giày rộng bản bắt chéo trên đôi bít tất xám.
Bà mẹ Sáclơ thỉnh thoảng cũng lên chơi, nhưng chỉ sau vài
ngày, con dâu đã kéo mẹ chồng vào hùa, và khi ấy hai người cứ nói ra nói vào,
đay nghiến hắn như hai con dao rạch vào thân hắn. Hắn có cái tội ăn quá nhiều!
Tại sao bạ ai đến nhà, hắn cũng mời rượu? Hắn có cái thói ương lạ đời là không
chịu mặc hàng nỉ.
Sang đầu xuân, một chuyện xảy ra là một viên quản lý văn khế ở
Anhguvin, giữ vốn cho mụ góa Đuybuých, đáp tàu biển cuốn gói, mang theo tất cả
tiền bạc trong văn phòng của y. Hêlôizơ thật ra, ngoài món cổ phần dành cho việc
chạy tàu thủy tính đến sáu ngàn quan vẫn còn có một tòa nhà ờ phố Xanh Făngxoa;
thế nhưng trong nhà, chẳng thấy chút tăm hơi nào về cái tài sản mà người ta làm
rùm beng, trừ một tí đồ đạc và vài bộ quần áo cũ. Phải tính lại cho đích xác mới
được. Cái nhà ở Điép thì đã bị thế nợ vào đấy nhiều phen như mọt đục đến tận cột
sàn; còn tiền bạc gửi ở phòng quản lý văn khế thì có trời mà biết; cổ phần vào
cái tàu biển không quá nghìn êquy. Vậy ra mụ góa này dối trá! Điên tiết lên,
ông Bôvary bố đập gãy tan một chiếc ghế xuống nền gạch, đổ tội cho vợ đã làm khổ
con trai bằng cách buộc nó vào một con ngựa già ốm yếu mà yên cương lại không
đáng bộ da. Hai ông bà kéo nhau đến Tôxtơ. Người ta đôi co. Thế là những cơn thịnh
nộ nổ ra. Vợ Sáclơ khóc sướt mướt, chạy lại nép vào cánh tay chồng, van chồng
che chở, kẻo bị cha mẹ chồng làm nhục. Sáclơ ra ý bênh vợ. Hai ông bà giận dữ,
bỏ về quê.
Nhưng đòn đánh đã trúng. Tám ngày sau, vợ Sáclơ đang phơi quần
áo ở sân bỗng khạc ra máu, rồi hôm sau, đương lúc chồng đứng quay lưng kéo tấm
màn che cửa sổ. Mụ thốt lên: "Ôi trời ơi!" thở dài một cái và ngất
đi. Mụ ta đã chết! Thực là lạ lùng!
Chôn cất xong xuôi, Sáclơ trở về nhà. Buồng dưới không một
bóng người! Chàng lên gác, vào phòng ngủ, thấy áo vợ còn treo ở chân giường; thế
là tự mình vào bàn giấy, hắn ngồi đến tận tối, lòng chìm đắm trong niềm đau đớn
bâng khuâng. Dù sao, vợ hắn cũng đã yêu hắn.
--------------------------------
|
Irix (Iris): Một thứ cây cảnh có hoa màu xanh, màu tím
hoặc màu trắng rất thơm, thường dùng làm hương phấn. |
|
|
Minécvơ (Minervơ): Nữ thần khoa học, nghệ thuật trong
thần thoại La Mã. |
Chương 3
Một buổi sáng, lão Ruôn mang đến trả Sáclơ tiền chữa khỏi
chân: bảy mươi lăm quan toàn bằng đồng bốn hào, và một con gà mái tây. Lão biết
tin buồn của hắn và hết sức an ủi hắn:
- Tôi biết mà! Lão vừa nói vừa vỗ vai hắn, tôi cũng thế, tôi
đã từng như ông! Khi nhà tôi tội nghiệp mất đi, tôi ra ngoài đồng để được sống
một thân một mình, tôi vật mình dưới một gốc cây, tôi khóc lóc, tôi kêu gọi
Chúa Trời, tôi nói bậy với Chúa, tôi muốn như những con chuột chũi mà tôi trông
thấy chết trên cành cây, bụng nhung nhúc giòi bọ. Khi tôi nghĩ tới những kẻ
khác, cùng lúc ấy, đang sống với người vợ ngoan bé bỏng mà họ ôm ấp trong tay,
thì tôi đập gậy thình thịch xuống đất; tôi gần hóa điên, chẳng thiết gì ăn uống
nữa! Ông không thể ngờ được là ngay chỉ nghĩ đến chuyện đến tiệm cà phê thôi
cũng đủ phát chán, vậy mà, cứ dần dà, ngày này qua ngày khác, xuân đến đông đi,
rồi hè qua thu tới, việc đó lặng lẽ trôi, tôi muốn nói là việc đó tan biến, việc
đó mất đi, việc đó lắng xuống, vì thể nào chẳng còn một cái gì vướng vít ở đáy
lòng, như... một quả tạ ấy mà, một quả tạ ở ngực đây này! Nhưng số phận con người
là thế, rầu rĩ héo hon cũng chẳng hơn gì, người khác chết đi, mình cũng muốn chết
theo à... Ông Bôvary ơi, ông cứ hoạt động lên; rồi mọi điều sẽ qua thôi! Ông lại
chơi đằng nhà tôi nhé; cháu nó thỉnh thoảng có nhắc ông đấy, ông có biết không,
nó bảo như là ông đã quên nó rồi. Mùa xuân sắp tới, chúng tôi sẽ mời ông đi bắn
thỏ rừng cho khuây khỏa một chút.
Sáclơ nghe theo lời khuyên. Hắn trở lại trang trại Béctô. Hắn
lại thấy mọi vật như trước, nghĩa là như cách đây năm tháng, lê đã ra hoa, còn
lão Ruôn, bây giờ đã đứng dậy được, đi đi lại lại làm cho trang trại thêm vui.
Lão tưởng mình có nhiệm vụ phải đối xử hết sức niềm nở với
người thầy thuốc khi hắn đang ở trong cảnh đau buồn nên lão yêu cầu đừng bỏ mũ
ra, lão khẽ nói với hắn coi như hắn ốm yếu; lão lại còn làm ra vẻ giận dữ khi
thấy người nhà không chuẩn bị thết đãi hắn những món ăn gì nhè nhẹ hơn những
món khác một chút, như kem trong bình nhỏ hoặc lê nấu chín. Lão kể chuyện,
Sáclơ bất giác cười; nhưng đột nhiên tưởng nhớ đến vợ, hắn lại sa sầm nét mặt.
Người nhà mang cà phê ra; hắn lại quên đi.
Càng quen sống một mình, hắn càng ít nghĩ tới. Chẳng bao lâu,
cái thú mới mẻ là được tự chủ đã làm cho cảnh cô đơn của hắn dễ chịu hơn. Bây
giờ, hắn có thể thay đổi giờ ăn, đi về chẳng phải nói lý do, và khi mỏi mệt, có
thể nằm dài, duỗi chân duỗi tay thênh thang khắp giường. Thế rồi, hắn tự nâng
niu hắn, vỗ về hắn, và nghe theo những lời người ta an ủi hắn. Mặt khác, vợ hắn
mất đi không tai hại gì đến nghề nghiệp của hắn, vì suốt một tháng ròng, người
ta cứ nhắc đi nhắc lại: "Tội nghiệp! Chàng thanh niên ấy thực là khổ!".
Tên hắn đồn đại đi và khách khám bệnh tăng lên; rồi hắn tha hồ đến Béctô. Hắn
có một mối hy vọng khong mục đích, một niềm vui sướng mơ hồ, hắn thấy diện mạo
hắn dễ coi hơn khi hắn chải bộ râu quai nón trước gương.
Một hôm, hắn đến trang trại vào lúc ba giờ; mọi người đều ở
ngoài đồng, hắn vào thẳng nhà bếp, nhưng thoạt tiên hắn chẳng thấy Emma đâu; liếp
cửa buồng kín. Qua khe ván, mặt trời rọi xuống nền gạch những tia nắng dài và mảnh,
gãy gập ở cạnh góc đồ đạc và rung rinh trên trần nhà.
Trên bàn, ruồi bò lên thành cốc đã dùng rồi và đập cánh vo vo
khi sa xuống cặn rượu táo còn đọng ở đáy cốc. Ánh sáng từ ống lò sưởi chiếu xuống
làm cho lớp bồ hóng có vẻ mịn màng và đống tro tàn thêm xanh. Giữa khoang cửa sổ
và bếp lò, Emma đang khâu; nàng không quàng khăn, vai trần lấm tấm mồ hôi.
Theo tập quán nông thôn, nàng mời hắn uống một thứ gì đó. Hắn
chối từ, nàng cố nài, rồi vừa cười vừa mời hắn dùng với nàng một cốc rượu mùi.
Nàng ra tủ lấy chai rượu cam bì, với tay kiếm hai chiếc cốc
nhỏ, rót một cốc rất đầy, một cốc rất vơi, rồi sau khi chạm cốc, nàng đưa lên
miệng. Vì cốc của nàng hầu như là cốc không, nàng phải ngả người để uống: đầu
ngửa về phía sau, môi chìa ra phía trước, cổ vươn lên, nàng cười vì chẳng thấy
mùi mẽ gì, nàng đưa đầu lưỡi qua đôi hàm răng xinh xắn liếm nhẹ đáy cốc.
Nàng lại ngồi xuống, cầm lấy đồ khâu, tiếp tục mạng một chiếc
tất sợi trắng, nàng cúi mặt xuống để làm, nàng không nói một lời. Sáclơ cũng thế.
Gió lùa qua khe cửa khiến bụi bay vào nền gạch; hắn trông theo vệt bụi và hắn
chỉ nghe thấy tiếng mạch đập trong đầu cùng tiếng gà mái đẻ cục tác xa xa. Để
cho mát, Emma chốc chốc lấy lòng bàn tay áp vào má sau khi nàng đã làm nguội đi
bằng cách nắm vào cái núm sắt của những chiếc giá lớn để củi trong lò sưởi.
Nàng phàn nàn, từ đầu mùa đến giờ, người cứ bị choáng váng;
nàng hỏi đi tắm bể có lợi cho sức khỏe của nàng không; nàng kể chuyện nhà tu.
Sáclơ nói về trường trung học, lời lẽ cứ thế mà nảy nở. Cả hai lên buồng Emma.
Nàng đưa hắn xem những vở nhạc cũ của nàng, những cuốn sách nhỏ nàng được thưởng
và những vòng lá gồi vinh dự, bỏ lâu ngày ở đáy tủ. Nàng còn nói đến mẹ, đến
nghĩa địa, và chỉ cả cho hắn biết cái mảnh đất trong vườn mà nàng vẫn tới hái
hoa, vào ngày thứ sáu đầu tháng, để mang hoa đặt trên mộ mẹ. Nhưng bác làm vườn
trong trang trại chẳng hiểu gì cả; bác ta hầu hạ hai bố con tồi quá; nàng mong
muốn lên tỉnh ở, dù chỉ ở mỗi mùa đông, vì suốt mùa hè, những ngày đẹp trời kéo
dài có thể làm cho thôn quê càng buồn tẻ hơn nữa - tùy theo câu chuyện đổi
thay, giọng nàng khi trong trẻo, khi the thé, hoặc, đột nhiên đượm vẻ sầu muộn,
lên xuống uyển chuyển, và cuối cùng, gần như thì thầm, lúc nàng lại tự nói với
nàng, - khi nàng sung sướng, nàng mở rộng cặp mắt thơ ngây; khi nàng đau buồn,
nàng khép hàng mi lại nửa chừng, nàng mặc cho đầu óc phiêu diêu.
Buổi chiều, khi trở về, Sáclơ lần lượt nhắc lại những lời
nàng đã nói, hắn cố nhớ lại, hắn cố bổ sung, để nắm được cái khoảng đời nàng đã
sống trong thời gian hắn chưa quen biết nàng. Nhưng không bao giờ hắn hình dung
được nàng khác hình ảnh hắn gặp gỡ buổi đầu tiên, hoặc giống hình ảnh hắn vừa từ
biệt. Rồi hắn tự hỏi nàng sẽ ra sao nếu nàng đi lấy chồng, mà lấy ai? Ôi! Lão
Ruôn giàu lắm, còn nàng... đẹp xiết bao! Hình ảnh Emma cứ hiện ra trước mắt hắn,
và có tiếng gì đơn điệu như tiếng vo ve của con quay văng vẳng bên tai hắn:
"Hay là anh lấy vợ đi! Hay là anh lấy vợ đi!". Ban đêm hắn không ngủ
được, cổ nghẹt lại, hắn thấy khát, hắn vùng dậy uống nước ở bình, rồi hắn ra mở
cửa sổ; bầu trời đầy sao, một làn gió nóng thổi qua; xa xa chó sủa. Hắn quay mặt
về phía Béctô.
Nghĩ rằng dù sao cũng chẳng mất gì, Sáclơ tự hẹn với mình là
sẽ hỏi khi nào gặp dịp; nhưng, mỗi lần gặp dịp, hắn lại ngậm miệng vì sợ nói
năng sơ suất.
Lão Ruôn chẳng phải không hài lòng nếu có người rước con gái
lão đi, nó giúp lão được mấy tí việc nhà. Thâm tâm lão cũng chẳng trách gì nó,
lão biết con gái mình thông minh, do đó nó chẳng hợp với nghề nông, một nghề
không được trời phú vì chẳng thấy ai làm nghề này mà thành triệu phú cả. Chính
lão, lão cũng chẳng làm giàu gì được, hàng năm lão còn thua thiệt nữa, vì tuy
lão rất giỏi buôn bán, thích thú có nhiều mánh khóe trong nghề, thế mà bản thân
việc cày cấy thuần túy và việc quản lý trang trại chẳng hợp với lão chút nào.
Lão chẳng vui lòng rút tay khỏi túi để làm và cũng không chịu tằn tiện ăn tiêu
cho tất cả cái gì cần thiết đến cuộc sống của hắn như ăn ngon, sưởi ấm, ngủ
yên. Lão thích rượu táo nặng, đùi cừu tươi, cà phê ngọt pha rượu đánh thật kỹ.
Lão dùng cơm ở nhà bếp, một mình, trước ngọn lửa, món ăn dọn sẵn trên chiếc bàn
con mang đến tận nơi như ở rạp hát.
Vì vậy, khi lão nhận thấy Sáclơ đỏ mặt lúc gần con gái lão,
như thế có nghĩa là một ngày nào đó hắn sẽ xin cưới con gái lão, lão nghiền ngẫm
trước mọi sự việc. Lão thấy hắn quả có phần yếu đuối, và đó không phải là một
chàng rể như lão hằng mong ước; nhưng người ta khen hắn đứng đắn, cần kiệm,
uyên bác, và chắc chắn, hắn sẽ chẳng cò kè lắm về của hồi môn. Vả lại lão Ruôn
buộc sắp phải bán đi hai mươi hai mẫu đất thuộc tài sản của lão. Lão nợ rất nhiều,
nào thợ nề, nào thợ đóng yên ngựa, đồng thời lão lại phải chữa trục máy ép nho.
Lão bèn tự nhủ.
- Nếu anh chàng hỏi con bé thì ta gả.
Vào dịp lễ thánh Misen, Sáclơ đến chơi ba hôm ở trang trại
Béctô. Ngày cuối cùng trôi qua như các ngày trước đó, từng khắc, từng khắc lùi
dần. Lão Ruôn tiễn chân hắn; hai người bước trên con đường trũng, sắp từ biệt
nhau; đây là lúc phải nói. Sáclơ tự hẹn mình đến góc bờ rào, và, cuối cùng, khi
đã qua chỗ đó, hắn lẩm bẩm:
- Ông Ruôn ạ, tôi muốn thưa với ông một điều.
Hai người đứng lại. Sáclơ im bặt.
- Thì ông cứ nói! Dễ thường tôi không biết cả rồi ư! - Lão
Ruôn vừa nói, vừa cười hiền hậu.
Sáclơ ấp úng:
- Bố Ruôn..., Bố Ruôn.
Lão chủ trang trại nói tiếp:
- Tôi, tôi không muốn gì hơn. Con bé hẳn đồng ý với tôi, tuy
thế vẫn phải hỏi ý kiến nó. Anh cứ đi đi; còn tôi về qua nhà. Nếu nó thuận, anh
nghe chưa, anh chẳng cần phải trở lại vì đông người, hơn nữa, chuyện đó làm nó
quá cảm dộng. Nhưng, để anh khỏi sốt ruột, tôi sẽ làm hiệu, đẩy liếp cho cửa sổ
giáp vào tường; anh có thể đứng sau nhà, nghiêng mình qua hàng rào mà nhìn thấy
được.
Thế là lão rời bước.
Sáclơ buộc ngựa vào một cái cây. Hắn chạy vào đứng ở một ngõ
hẻm, chờ đợi. Nửa giờ trôi qua; hắn theo dõi đồng hồ đến mười chín phút. Bỗng
có tiếng đập vào tường, liếp che cửa đã đẩy sập, cái chốt còn rung động.
Hôm sau, mới chín giờ sáng, hắn đã ở trang trại. Lúc hắn bước
vào, Emma thẹn đỏ mặt, cố cười một tí để giữ vẻ. Lão Ruôn ôm hôn con rể tương
lai. Chuyện lợi tức bàn tính sau; vả lại, còn khối thời gian trước mắt vì Sáclơ
có đoạn tang, thì lễ cưới mới tiến hành được, tức là khoảng mùa xuân năm tới.
Mùa đông trôi qua sự chờ đợi ấy. Cô Ruôn chăm lo bộ đồ cưới.
Một phần được đặt mua ở Ruăng, một phần do nàng may lấy, áo sơmi và mũ trùm đầu,
theo những kiểu vẽ thời trang mà nàng mượn được. Mỗi lần Sáclơ đến thăm trang
trại là mỗi lần người ta bàn chuyện sửa soạn lễ cưới, người ta hỏi tiệc cưới
nên đặt ở phòng nào, người ta liên tưởng đến bữa tiệc cần có bao nhiêu món và
những món nào là những món đầu tiên.
Emma, trái lại, ước muốn được cưới vào nửa đêm, dưới ánh đèn
cầy; nhưng lão Ruôn chẳng hiểu tí gì về ý đó. Rút cục, sẽ có một tiệc cưới gồm
bốn mươi ba người tham dự suốt mười sáu tiếng đồng hồ, tiệc cưới còn tiếp tục
vào hôm sau và phần nào vào những ngày sau nữa.
Chương 4
Khách mời đi xe đến từ sớm, xe độc mã mới có mui, xe hai bánh
có ghế dài, xe độc mã cũ không mui, xe hàng chở khách có diềm da, còn thanh niên
các làng lân cận đứng thành hàng trên xe bò, tay bíu vào thành cho khỏi ngã,
người bị xóc mạnh khi xe đi mau. Khách từ Gôđécvin, từ Nócmăngvin, và từ Cani đến.
Họ đều ở cách trang trại mười dặm. Người ta mời bà con hai họ; người ta làm
lành cả với những bạn thân đã giận nhau; người ta cũng gửi thư đến những nơi
quen biết từ lâu không gặp mặt.
Thỉnh thoảng lại có tiếng roi ngựa quất sau hàng rào; tức khắc
cửa trang trại mở một chiếc xe ngựa tiến vào. Phi đến bậc thềm đầu, nó đứng phắt
lại. Và khách trên xe đổ xuống mọi phía, vừa xoa gối vừa vươn vai. Các bà đội
mũ trùm, vận áo dài kiểu thành thị, đeo dây đồng hồ vàng, giắt chéo hai đầu chiếc
áo choàng ngắn vào thắt lưng hoặc ghim tấm khăn màu nhỏ bé vào phía sau lưng
ngay dưới cái cổ để hở. Các chú bé, ăn mặc giống bố, có vẻ lúng túng trong bộ
quần áo mới tinh (thậm chí lắm chú hôm ấy mới dùng đôi bốt đầu tiên trong đời),
và bên cạnh các chú, người ta thấy một cô gái đã lớn, khoảng mười bốn hay mười
sáu tuổi, chắc là chị họ hay chị ruột của các chú, cứ im thin thít trong chiếc
áo dài trắng may từ buổi đầu làm lễ thánh thể, nhân dịp này, được xuống gấu. Cô
ta mặt đỏ bừng, ngơ ngác, tóc bóng nhẫy sáp hoa hồng, chỉ sợ bẩn tất tay. Vì
không có đủ người hầu ngựa để tháo hết các xe, khách xắn tay áo làm lấy. Tùy
theo địa vị khác nhau, họ vận áo lễ dài, áo rơđanhgốt, áo vét, áo lễ ngắn, áo lễ
dài tươm tất, được các gia đình trọng vọng và chỉ được rời khỏi tủ vào những dịp
trọng thể; áo rơđanhgốt đuôi lòe xòe trước gió, cổ ống, túi rộng như cái bao;
áo vét bằng da thô, thường đi với chiếc mũ cát két có vành đồng ở lưỡi trai; áo
lễ lai áo vét rất ngắn, trên lưng có hai chiếc khuy đính gần nhau như hai con mắt,
các vạt áo dường như bị một nhát rìu thợ mộc chém phải. Còn vài người (chắc chắn
là sẽ phải ngồi ăn ở cuối bàn) mặc những chiếc áo thụng dùng trong lễ tiết, tức
là một loại áo cổ bẻ xuống vai, lưng xếp thành nếp nhỏ, thân bó lại bằng một
chiếc nẹp khâu tay.
Và những chiếc sơmi phồng đằng trước ngực như những chiếc áo
giáp! Mọi người đều mới cắt tóc, vành tai cách xa đầu, mặt cạo nhẵn. Thậm chí,
vài ông dậy từ sớm tinh mơ để cạo râu, do đó đã gây ra những rạch chéo dưới mũi
hay làm xước đi từng mảng da to bằng đồng ba quan dọc theo quai hàm, và những vết
thương đó đã tấy đỏ lên khi đi đường gặp gió khiến những bộ mặt to trắng hớn hở
ấy điểm ít vẩn hồng.
Tòa thị chính cách trang trại nửa dặm. Người ta đi bộ tới và
đi bộ về sau khi đã đi làm lễ ở nhà thờ. Đoàn người, thoạt tiên hợp nhất như một
dải lụa màu lượn khúc trên cánh đồng dọc theo con đường nhỏ hẹp ngoằn ngoèo giữa
lúa mì xanh, chẳng mấy chốc vươn dài ra, phân thành những toán nhỏ khác nhau mà
trò chuyện kề cà. Đi đầu là người kéo đàn rong với chiếc viôlông quấn băng, tết
hoa; sau đó đến cô dâu chú rể rồi họ hàng và bè bạn; cuối cùng là trẻ con,
chúng nghịch ngắt những bông hoa lúa mạch hoặc nô giỡn với nhau mà chẳng ai thấy.
Chiếc áo phủ ngoài của Emma, quá dài, thành hơi quét đất; chốc
chốc nàng phải ngừng bước để kéo lên và, ngay lúc ấy, bằng những ngón tay đeo
găng, nàng nhẹ nhàng nhặt những sợi cỏ may đầy gai nhỏ, còn Sáclơ thì tay không
đứng chờ nàng nhặt cho xong. Lão Ruôn, đầu đội một chiếc mũ hoa mới tinh, đôi
tay được trùm kín bằng những đồ trang sức trên chiếc áo lễ đen, khoác tay bà
Bôvary mẹ. Còn ông Bôvary bố, trong thâm tâm đã coi khinh cả đám người này, nên
đến dự lễ mà chỉ mặc một chiếc áo rơđanhgốt có hàng cúc kiểu nhà binh; ông tán
tỉnh một cô thôn nữ tóc vàng hoe với lời lẽ trai lơ nơi quán rượu làm cho cô
này thẹn đỏ cả mặt, cất tiếng chào nhưng chẳng biết đáp lại thế nào. Những người
khách khác thì nói chuyện làm ăn hoặc nghịch ngợm phía sau lưng nhau, chọc tức
nhau trước cho vui. Lắng tai nghe, người ta vẫn thấy tiếng ò ử của chiếc
viôlông do người chơi đàn rong tiếp tục kéo trên quãng đồng. Khi thấy đoàn người
còn cách sau mình xa, anh ta dừng chân lại thở, lấy nhựa thông vuốt kỹ vĩ đàn để
cho dây đàn kêu hơn, rồi anh ta lại tiếp bước, nâng lên hạ xuống cần đàn để tự
mình bắt nhịp cho tốt. Tiếng đàn khiến những con chim nhỏ từ xa bay đi.
Trong gian nhà chứa xe, tiệc đã bày. Trên bàn có bốn khoanh
thịt lưng bò, sáu đĩa thịt gà trộn, thịt bê áp chảo, ba chiếc đùi cừu. Chính giữa
bàn bày một con lợn sữa quay trông thật là đẹp mắt, kèm bốn khúc dồi lợn độn
rau chua. Ở các góc bàn, rượu mạnh được đựng trong những chiếc bình. Rượu táo
loại nhẹ đóng trong chai, đùn bọt quánh lên quanh nút, và các cốc cũng đầy ắp
rượu vang rót sẵn. Người ta đã trình bày trên mặt kem vàng đựng trong những đĩa
lớn, thứ kem dễ nổi lên khi bàn ăn hơi bị lay động. Hai chữ đầu của tên đôi vợ
chồng mới xoắn vào nhau theo kiểu chữ in xếp hình hoa lá. Người ta đã thuê hẳn
một tay thợ làm bánh ở Yvơtô để làm bánh bao có nhân và kẹo hạnh nhân. Vì
mới đến làm ăn lần đầu trong vùng này, người thợ làm bánh đã chăm lo công việc
một cách chu đáo; anh ta tự tay bưng lên, vào lúc ăn tráng miệng, một món bánh
ngọt do mình dụng công trình bày khiến nhiều tiếng trầm trồ khen ngợi vang lên.
Thoạt tiên, tầng dưới là một hình vuông bằng giấy bồi màu lam tượng trưng một
ngôi đền có hành lang, hàng cột tượng nhỏ bằng hồ giả cẩm thạch được lắp khắp
xung quanh, trong những khám thờ lóng lánh các vì sao cắt bằng giấy trang kim;
rồi tầng thứ hai là một vọng lâu bằng bánh ngọt vùng Xavoa có thành lũy nhỏ bằng
bạch chỉ, hạnh nhân, nho khô và cam múi, sau cùng nóc mái bằng là một đồng cỏ
xanh có núi đá, hồ ao bằng mứt và những con thuyền bằng vỏ hạt dẻ cứng, một thần
Ái Tình nho nhỏ đang vắt vẻo trên cây đu sôcôla mà hai cột gài trên hai nụ hồng
thật như hai quả cầu nhỏ.
Người ta ăn đến tận chiều tối. Khi nào ngồi lâu quá đâm mỏi mệt,
người ta ra sân chơi hoặc đi ném nút chai ở nhà kho, rồi lại trở về bàn tiệc.
Có vài người, cuối cùng, ngủ ngay trên bàn, ngáy khò khò. Nhưng đến lúc uống cà
phê, tất cả lại tỉnh táo; thế là, người ta bắt đầu ca hát, người ta thi nhau trổ
sức khỏe, cử tạ, đọ sức qua ngón tay cái, thử đội xe bò lên vai, người ta bông
đùa hơi thô bạo, người ta ôm hôn các bà. Đến khuya, ngựa, nặng bụng vì lúa mạch,
không chịu cho thắng vào xe để chở khách về nhà; chúng đá hậu, lồng lộn làm cho
yên cương gẫy đứt, chủ xe phát bẳn hoặc cười rộ; rồi suốt đêm, dưới ánh trăng,
trên khắp các nẻo đường vùng này, đã có những chiếc xe cuốn theo nước đại, đâm
chồm vào các rãnh, nhảy qua những đống sỏi gạch, mắc vào các bờ dốc, với những
người đàn bà hốt hoảng thò đầu ra cửa xe để nắm lấy dây cương.
Còn ai ở lại Béctô thì uống rượu ở trong bếp đến tận sáng. Trẻ
con ngủ vật dưới gầm ghế.
Cô dâu đã xin bố đề nghị khách tha cho nàng những trò đùa thường
lệ. Thế mà vẫn có một người trong họ làm nghề buôn cá biển tươi (chính anh ta
đã mang một đôi cá thờn bơn đến mừng đám cưới) bắt đầu ngậm nước, phun vào lỗ
khóa. Lão Ruôn kịp thời đi tới ngăn anh ta và giải thích cho anh ta rằng địa vị
quan trọng của con rể lão không cho phép có những trò chơi bất lịch sự ấy. Anh
ta nhượng bộ trước những lý lẽ ấy nhưng lòng hậm hực. Trong thâm tâm, anh ta
cho lão Ruôn là kênh kiệu. Anh ta liền đến nhập bọn với bốn, năm người khách mời
ăn ở góc nhà; vì chẳng may vớ phải mấy lần toàn những miếng xương xẩu, họ cũng
cho là mình bị tiếp đãi tồi, họ đang xì xào về cách đối xử của chủ nhân và bóng
gió cầu mong chủ nhân khuynh gia bại sản.
Bà Bôvary mẹ suốt ngày không hề hé răng. Người ta chẳng hỏi
gì bà về cách ăn mặc của nàng dâu cũng như về cách xếp đặt tiệc cưới; bà rút
lui sớm. Chồng bà, đáng lẽ theo bà đi nghỉ, lại sai người đi mua xì gà ở Xanh
Vichto rồi ngồi đến sáng, vừa hút vừa uống nước chanh pha rượu anh đào, một thứ
rượu pha mà đám khách chưa từng biết bao giờ và dường như nó đã làm người ta
càng tôn kính ông ta hơn.
Sáclơ bản chất không phải là người quen bông đùa, nên bị lu mờ
trong bữa tiệc. Hắn đối đáp không lấy gì làm đặc sắc trước những lời châm chọc,
bỡn cợt, bóng gió, những lời tán tụng và cợt nhả mà người ta coi như là một nhiệm
vụ phải nhắm vào hắn ngay từ lúc món canh bưng ra.
Hôm sau, ngược lại, hắn dường như là một con người khác. Người
ta coi chính hắn là cô gái đồng trinh hôm trước. Trong khi đó thì cô dâu không
để lộ mảy may cho người ta có thể đoán ra được một điều gì. Những tay ranh mãnh
nhất cũng chẳng biết đằng nào mà lần, và họ đã nhìn kỹ nàng, khi nàng đi qua, bằng
những cái nhìn chăm chú quá mức. Nhưng Sáclơ chẳng giấu giếm gì cả. Hắn gọi
nàng là nhà tôi, mình mình tôi tôi với nàng, gặp ai cũng hỏi xem nàng đâu, đi
tìm nàng khắp nơi, và thường kéo nàng ra sân mà ở đó, từ xa, qua các khe cây,
người ta thấy hắn ôm ngang lưng nàng, vừa đi vừa nghiêng nửa thân mình về phía
nàng, đầu của hắn làm nhầu cả chiếc cổ áo chẽn của nàng.
Cưới được hai ngày, đôi vợ chồng đưa nhau đi. Sáclơ, vì có bệnh
nhân phải chữa, không thể vắng mặt lâu hơn. Lão Ruôn cho xe ngựa đưa các con về
và thân hành tiễn các con đến tận Vátxôngvin. Tới đó, lão hôn con gái lần cuối
rồi xuống xe. Đi được chừng trăm bước, lão đứng lại và thở dài vì lão thấy những
chiếc bánh xe quay trong đám bụi mù xa dần. Rồi lão hồi tưởng đến ngày cưới của
lão, thời xa xưa, lúc vợ lão có thai lần đầu; chính lão, lão cũng đã vui sướng
trong cái buổi lão đưa vợ lão từ nhà bố vợ về nhà mình, khi lão đặt vợ ngồi sau
mình trên lưng con ngựa chạy nước kiệu trên tuyết và đồng quê trắng xóa vì bấy
giờ vào khoảng lễ Nôen; vợ lão một tay nắm lấy lão, một tay đeo chiếc giỏ; giỏ
làm những tua ren ở chiếc mũ xứ Cô của bà ấy, đôi khi, đập ngay cả vào mồm lão,
và khi lão quay đầu lại, lão thấy bên mình, kề ngay vai lão, cái khuôn mặt nho
nhỏ hồng hồng của vợ cứ lặng lẽ tươi cười dưới chiếc lắc vàng cài trên mũ trùm
đầu. Thỉnh thoảng bà ta lại lồng ngón tay vào ngực lão để sưởi ấm. Ôi, những
chuyện ấy đã cũ kỹ quá rồi! Thế mà lão quay nhìn lại phía sau lưng, lão chẳng
thấy gì trên đường cái cả. Lão cảm thấy buồn như một ngôi nhà trống; và trong đầu
óc còn ám hơi men tiệc cưới những kỷ niệm đằm thắm xen lẫn với những tư tưởng
đen tối, lão chợt có ý muốn dạo quanh phía nhà thờ. Song lão lại sợ nhìn thấy
nhà thờ, lão lại càng buồn hơn nữa, lão bèn đi thẳng về nhà.
Vợ chồng Sáclơ tới Tôxtơ vào khoảng sáu giờ. Hàng xóm láng giềng
đều đổ xô ra cửa sổ để xem mặt bà vợ mới của người thầy thuốc của họ.
Chị hầu gái ra mắt, chào hỏi bà chủ, xin lỗi về việc cơm nước
chưa xong và, mời bà chủ trong lúc chờ đợi, hãy đi xem cho biết nhà biết cửa.
Chương 5
Mặt trước nhà bằng gạch tiếp giáp ngay với mép đường phố, hay
với đường cái thì đúng hơn. Sau cánh cửa ra vào, có mắc một cái áo khoác cổ nhỏ,
một chiếc cương ngựa, một cái mũ cát két bằng dạ đen và trong một góc, dưới đất,
có một đôi ghệt còn lấm bùn khô. Phía bên phải là phòng, nghĩa là gian nhà mà ở
đấy người ta ăn uống và người ta họp mặt. Nổi lên ở phía trên vì một tràng hoa
màu nhạt toàn bộ một thứ giấy vàng nhợt rung rinh trên nền vải căng không phẳng;
những diềm che bằng vải chúc bâu trắng, viền nẹp đỏ, bắt chéo nhau dọc cửa sổ,
và trên khung lò sưởi nhỏ hẹp, chói lọi một chiếc đồng hồ quả lắc, mang đầu
danh y Hippôcrát, giữa hai cây đèn nến mạ bạc dưới những quả bóng hình bầu dục.
Bên kia hành lang là phòng khám bệnh của Sáclơ, một căn buồng nhỏ chừng sáu bước
chiều rộng có một chiếc bàn, ba chiếc ghế dựa và một chiếc ghế bành đứng trong
các bàn giấy. Những cuốn Từ điển y học chưa rọc, nhưng đã bị xộc xệch
qua nhiều lần bán đi bán lại, choán gần hết sáu ngăn tủ sách bằng gốc tùng. Mùi
bột trộn bơ để chưng thành nước sốt lọt qua tường vào phòng trong những giờ
khám bệnh cũng như tiếng bệnh nhân ho và kể bệnh trong phòng lọt qua tường xuống
tận nhà bếp. Tiếp đến là một gian nhà rộng đã hư hỏng trông thẳng ra sân mà ở
đó có một cái chuồng ngựa. Trong gian nhà có cả bếp lò. Người ta đã sử dụng
gian nhà này làm nơi chất củi trữ rượu, kho chứa hàng đầy đồ sắt cũ, thùng
không, nông cụ bỏ đi, cùng với lắm thứ khác bụi bặm chẳng biết dùng để làm gì.
Cái vườn, dài hơn là rộng, chạy giữa hai bức vách được rặng
mơ phủ kín tới hàng rào gai ngăn nó với đồng ruộng. Giữa vườn, có một cái nhật
quỹ bằng đá đen đặt trên một cái bệ gạch; bốn luống tường vi xơ xác, trồng một
cách cân đối, bao quanh khu đất vuông hữu ích hơn, vì có cây cối và thảo mộc ăn
được. Tận cuối vườn, dưới những cây tùng nhỏ, người ta thấy ngôi tượng một linh
mục bằng thạch cao đang đọc cuốn kinh nhật tụng.
Emma lên các buồng. Buồng đầu chẳng có đồ đạc gì. Buồng sau
là buồng cưới trong đó có một cái giường bằng gỗ đào tâm quây trướng đỏ. Một
chiếc hộp bằng vỏ sò được dùng làm đồ trang trí cho tủ ngăn; và, trên bàn viết,
gần cửa sổ, trong một chiếc bình, có một bó hoa cam tết bằng sa tanh trắng. Đó
là bó hoa cưới, bó hoa của người vợ trước! Nàng nhìn bó hoa. Sáclơ biết ý cầm bó
hoa bỏ vào buồng kho. Emma ngồi xuống một chiếc ghế bành (người ta để tất cả đồ
mừng nàng xuống quanh nàng), nàng nghĩ tới bó hoa cưới của mình bọc trong một tờ
bìa cứng và nàng bâng khuâng tự hỏi người ta sẽ đem nó làm gì, nếu tình cờ nàng
chết đi.
Trong những ngày đầu, nàng suy nghĩ về cách sửa sang lại nhà
cửa. Nàng bỏ những bóng đèn tròn đi, cho dán giấy hoa mới, thuê sơn lại thang
gác, đóng ghế dài trong vườn quanh cái nhật quỹ; nàng còn hỏi xem có cách nào
kiếm được một cái bể có tia nước phun để thả cá. Sau đó chồng nàng, biết nàng
thích dạo bằng xe đã đưa cho nàng một chiếc xe ngựa cũ, chẳng khác xe độc mã mấy
tí, nếu được gắn đèn lồng mới và chắn bùn bằng da sần.
Thế là hắn sung sướng, chẳng quan tâm đến gì ở đời. Một bữa
cơm tay đôi, một cuộc đi chơi buổi tối trên đường cái quan, một bàn tay nàng đặt
lên mái tóc, một chiếc mũ rơm của nàng mắc vào then cửa sổ, và còn lắm cái khác
nữa, mà Sáclơ trước kia chưa bao giờ ngờ thấy thích thú, thì nay nhất nhất tạo
nên cho hắn một hạnh phúc triền miên. Buổi sáng, trong giường, vai kề vai trên
gối, hắn nhìn tia nắng mặt trời chiếu vào những sợi lông tơ trên cặp má ửng hồng
mà dải băng mũ trùm che khuất nửa. Nhìn gần, hắn thấy mắt nàng như to ra, nhất
là khi nàng thoạt tỉnh giấc, chớp đôi hàng mi; mắt nàng trong tối thì đen, ra
sáng thì xanh sẫm, dường như liên tiếp có những làn nước màu, càng sâu càng đậm,
càng nông càng trong sáng. Mắt hắn bị hút vào khoảng sâu thẳm ấy, ở đó hắn thấy
hình ảnh mình thu nhỏ đến vai với chiếc khăn quàng trùm đầu và chiếc cổ sơmi hé
mở. Hắn đi làm. Nàng, chạy ra cửa sổ nhìn theo, khuỷu tay tỳ trên thành cửa, giữa
khoảng hai chậu phong lữ thảo, mình bọc trong chiếc áo choàng lùng thùng. Ngoài
đường, Sáclơ gài đinh thúc ngựa trên trụ đá; còn nàng thì vừa từ trên cao nói
xuống, vừa lấy miệng bứt một mảnh hoa hay một mẩu lá rồi thổi về phía hắn, mảnh
hoa và mẩu lá bay phất phơ, lơ lửng, lượn cánh cung trên không như một con
chim, rồi trước khi rơi xuống đất, đã bám vào bộ lông cổ rối bù của con ngựa
cái trắng già đứng sững ở cửa. Sáclơ, trên mình ngựa, gửi nàng một cái hôn;
nàng làm hiệu đáp lại và khép cửa sổ vào, còn hắn ra đi. Thế là trên con đường
cái quan thăm thẳm rải bụi, qua những chỗ trũng có cây cối hai bên ngả xuống
thành vòm, trong những đường ruộng lúa mì vươn cao tới đầu gối, hắn tiếp bước,
vai đầy ánh nắng, mũi thở không khí ban mai, lòng tràn ngập những vui thú đêm
qua, trí não thanh thản nhục dục thỏa mãn. Hắn vừa đi vừa nghiền ngẫm cái hạnh
phúc của mình như những người sau bữa tiệc còn nhá cái dư vị của món nấm đang tiêu.
Cho tới nay, hắn đã được cái tốt đẹp trong cuộc đời? Phải
chăng là cái thời ở trường trung học, hắn bị giam cầm giữa khoảng mấy bức tường
cao, trơ trọi giữa đám bạn bè giàu có hơn mình hoặc học giỏi hơn mình, chúng cười
hắn về giọng nói, chúng nhạo hắn về áo quần, và mẹ chúng đến thăm chúng thì
bánh kẹo đầy bao tay? Phải chăng là cái thời gian sau, hồi hắn học trường thuốc,
túi bao giờ cũng lép kẹp, chẳng đủ tiền để trả một cuộc đối vũ với một cô thợ
nào đó đã trở thành tình nhân của mình? Rồi hắn đã phải chung sống mười bốn
tháng với mụ góa mà chân cẳng trong giường cứ lạnh toát như nước đá. Nhưng nay,
hắn đã có đến suốt đời một người vợ đẹp mà hắn yêu quý. Cả thế giới, đối với hắn,
không vượt khỏi cái vòng váy trong dịu mượt của nàng; thế là hắn tự trách mình
chưa yêu nàng, hắn muốn lại được thấy nàng; hắn vội quay về, lên thang gác,
lòng hồi hộp. Emma, trong buồng, đang điểm trang; hắn khẽ bước vào, hôn lưng vợ,
nàng thốt kêu lên.
Hắn không thể kiềm chế được mình, hắn luôn luôn sờ mó chiếc
lược, chiếc nhẫn và khăn choàng của nàng; đôi khi hắn còn hôn chùn chụt lên má
nàng, hoặc hôn nhè nhẹ suốt cánh tay để trần của nàng từ đầu ngón cho đến vai;
vừa cười mỉm vừa bực mình nàng đẩy hắn ra, như người ta đẩy một đứa trẻ bám vào
mình.
Trước ngày cưới, nàng tưởng nàng đã có tình yêu; nhưng niềm hạnh
phúc, đáng lẽ nảy sinh từ tình yêu đó, chẳng đến thì, theo như nàng nghĩ, chắc
chắn là nàng đã nhầm. Rồi Emma tìm cho biết ở đời người ta thực sự hiểu những
tiếng diễm phúc, ái tình và say đắm như thế nào, những tiếng
mà trong các sách nàng thấy đẹp đẽ xiết bao.
Chương 6
Nàng đã đọc truyện Pôn và Viếcgini. Nàng đã mơ ước
túp lều tre, anh mọi Đômingô, con chó Fiđen, nhất là cái tình bạn dịu dàng của
người em hiền hậu nào đó đi kiếm cho anh những quả chín đỏ ở những cây to cao
hơn cả tháp chuông, hoặc chạy chân không trên bãi cát mang lại cho anh một
tổ chim.
Khi nàng mười ba tuổi, cha nàng thân hành đưa nàng ra tỉnh, học
tại tu viện. Hai cha con tạt vào một hàng cơm trong khu phố Xanh Giecve để ăn tối,
ở đó hai cha con đã được dùng những chiếc đĩa hoa trình bày sự tích Công nương
Đờ La Valie. Những lời chú giải trên đĩa, sây sát từng chỗ bởi những vết dao
ăn, đều ca ngợi tôn giáo, cái tế nhị của trái tim và những cảnh tráng lệ ở cung
đình.
Trong tu viện, hồi đầu, nàng chẳng những không cảm thấy buồn
chán lại còn thích gần gụi các bà xơ hiền từ; họ dẫn nàng đến giáo đường cho
nàng khuây khỏa, từ nhà ăn đến đó phải qua một hàng hiên dài. Suốt giờ chơi,
nàng nô đùa, nàng hiểu kỹ giáo lý đại cương, và, gặp những câu hỏi khó, chính
nàng bao giờ cũng trả lời được ông trợ tá. Cứ sống mãi không rời cái không khí ấm
áp của các buổi học, giữa những phụ nữ trắng trẻo đeo tràng hạt có thánh giá bằng
đồng, nàng thấy lòng nàng khuây dịu trong cái ủy mị thần bí toát ra từ hương thờ,
từ bình nước thánh mát rượi và từ ánh sáng của những ngọn bạch lạp. Đáng lẽ
theo dõi buổi lễ, nàng lại ngắm những ảnh nhỏ viền màu lam trong sách kinh, và
nàng thấy yêu con chiên ốm, yêu trái tim thần thánh bị những mũi tên nhọn xuyên
qua, yêu chúa Jêsu tội nghiệp ngã xuống khi bước lên cây thánh giá. Tập khổ hạnh,
nàng thử nhịn ăn một ngày ròng, nàng moi đầu óc tìm lấy một ước nguyện để thực
hiện.
Khi nàng đi xưng tội, nàng bịa ra những tội nhỏ, để ở lại đó
lâu hơn. Nàng quỳ gối chắp tay trong bóng tối, mặt úp vào chấn song cửa nghe
cha cố thì thầm. Những sự so sánh về vị hôn phu, về người chồng và người yêu
trên thượng giới, về cuộc hôn nhân vĩnh cửu được lắp đi lắp lại trong lời thuyết
pháp khiến nàng thấy tự đáy lòng dâng lên những dịu cảm đột ngột.
Buổi tối, trước lúc cầu kinh, người ta đọc sách đạo trong
phòng học. Sách đọc để giải trí trong tuần là ít trang tóm tắt thánh sử hoặc những bài
giảng của cha Phrâyxinu, và ngày chủ nhật là những đoạn trong cuốn Tinh
thần Thiên chúa giáo. Dường như nàng, lần đầu, lắng nghe tiếng ai oán vang
dội của những mối sầu tư lãng mạn lắp đi lắp lại trong những âm hưởng của nơi
trái đất và của chốn vĩnh hằng! Nếu như tuổi thơ của nàng đã trôi đi trong thời
gian sau cửa hàng của một khu phố buôn bán thì có lẽ lòng nàng đã rộng mở để
đón những cảm xúc trữ tình tràn ngập thiên nhiên, những cảm xúc thường chỉ đến
với ta qua cách diễn đạt của nhà văn. Nhưng nàng lại quá biết rõ nông thôn, biết
rõ tiếng cừu be be, biết rõ việc vắt sữa, cách cày bừa. Nàng vốn quen cảnh yên
tĩnh, thế nhưng nàng cũng hướng tới cảnh sóng gió. Nàng chỉ thích biển cả qua
những cơn giông tố, chỉ thích cỏ cây khi rải rác giữa cảnh vật hoang tàn. Điều
cần thiết là nàng có thể rút ra được ở mọi vật một thứ hưởng thụ riêng tây; và
nàng coi như vô bổ tất cả những gì không đóng góp vào sự hưởng thụ trực tiếp của
tâm hồn nàng vì nàng vốn có tính đa sầu đa cảm hơn là có tính nghệ sĩ, nàng cốt
tìm cảm xúc chứ không phải tìm phong cảnh.
Trong tu viện có một gái lỡ thì tháng tháng đến làm việc tám
ngày ở nơi may vá quần áo. Được tòa tổng Giám mục che chở, vì cô ta thuộc dòng
dõi quý tộc phá sản dưới thời cách mạng, cô ta được ngồi ăn cùng bàn với
các bà phước, và sau bữa, cô ta còn kề cà trò chuyện một lúc rồi mới đi lên chỗ
làm việc. Thường các nữ sinh ký túc cũng trốn khỏi buồng học để đến thăm cô ta.
Cô ta thuộc lòng lắm bài tình ca của thế kỷ trước, cô ta vừa khe khẽ hát vừa đẩy
mũi kim. Cô ta kể chuyện, thông báo tin tức cho mọi người, làm giúp người này
người khác những việc vặt trên tỉnh, vụng trộm cho các nữ sinh lớn mượn một cuốn
tiểu thuyết nào đó mà bao giờ cô ta cũng có sẵn trong túi tạp dề, và bản thân
cô ta, cũng nghiến ngấu từng chương dài, những lúc nghỉ tay. Toàn là chuyện
tình ái, nào chàng, nào nàng, các bà bị ngược đãi chết ngất trong những tòa lầu
biệt tịch, xà ích bị giết ở các trạm xe ngựa bị đâm thủng bụng trên mỗi trang
sách, rừng sâu thẳm, lòng rối bời, lời thề nguyền, tiếng nức nở, những giọt lệ
với những cái hôn, con thuyền dưới ánh trăng, chim họa mi trong khóm cây; những
trang nam nhi dũng cảm như sư tử, hiền dịu như con chiên, đức hạnh hơn ai hết,
bao giờ cũng quần áo chỉnh tề và khóc như mưa như gió. Năm mười lăm tuổi, suốt
sáu tháng trời, Emma đã vấy tay trong bụi bám của những phòng đọc sách cổ lỗ
đó. Với Uôntơ Xcôt 1 sau
này, nàng ham mê những chuyện lịch sử, mơ màng rương sập, phòng cảnh vệ và những
người hát rong. Nàng ước ao được sống trong một trang viện cổ kính nào đó như
các nữ chúa lâu đài, tấm thân cao mảnh, cứ suốt tháng ngày, dưới hình tam điệp
của vòm cửa nhọn, tỳ khuỷu tay trên phiến đá, tựa cằm vào lòng bàn tay, đăm đăm
mong chờ một chàng kỵ sĩ áo lông trắng, cưỡi ngựa đen, phi từ cánh đồng xa thẳm
tới. Hồi ấy nàng sùng ái Mari Xtuya và nhiệt liệt tôn kính những phụ nữ nổi
danh hoặc bạc mệnh.
Jan Đa, Hêlôizơ, Anhex Xôren, nàng Feronnie và Clêmăng Izôrơ
xinh đẹp, đối với nàng, nổi bật lên như những ngôi sao chổi trên bầu trời mênh
mông đen tối của lịch sử, ở đó còn lác đác nổi lên một số nhân vật khác nhưng
lu mờ hơn và chẳng có liên can gì với nhau cả, như thánh Lui với cây sồi, anh
hùng Baya đang tắt thở, vài hành động tàn bạo của vua Lui XI, một ít hành động
khác của Xanh Bactêlêmy, cái mũ lông của Hăngri người xứ Bêar, và bao giờ nàng
cũng nhớ tới mấy cái đĩa hoa vẽ ảnh ca ngợi vua Lui XIV
Trong giờ học nhạc, những bài tình ca nàng hát chỉ toàn là
chuyện thiên thần nhỏ có cánh vàng, chuyện thánh mẫu, chuyện đầm hồ, chuyện người
chèo đò, những tác phẩm êm dịu mà qua phong cách chất phác và qua âm điệu vụng
về của nó, nàng thoáng thấy những ảo ảnh hấp dẫn của những tình cảm thực tế.
Vài cô bạn đã mang vào tu viện những cuốn sách lưu niệm ủy mị. Phải giấu chúng
đi, đó là một việc hệ trọng; chỉ xem chúng ở phòng ngủ thôi. Nâng niu những bìa
sách đẹp bọc sa tanh, Emma, hoa mắt, chăm chăm nhìn tên các tác giả chưa từng
quen biết, hầu tước hoặc tử tước, thường hay ký ngay bên dưới.
Nàng hồi hộp; hơi thở của nàng làm lật tung mảnh giấy lụa phủ
các tranh ảnh, mảnh giấy gập lại nửa chừng rồi nhẹ nhàng rơi xuống trong sách.
Đó là ảnh một chàng mặc áo choàng ngắn, đứng sau lan can một hiên gác, đang ôm
chặt một cô gái vận áo dài trắng, đeo một túi tiền làm phúc ở dây lưng; hoặc đó
là những chân dung vô danh của mấy phu nhân nước Anh, tóc xoắn vàng hoe dưới
cái mũ rơm tròn, cứ nhìn người bằng cặp mắt to sáng. Người ta còn thấy có những
bà ngồi trưng trong những xe lướt giữa công viên, một con chó săn chạy trước cỗ
ngựa, hai xà ích thấp bé vận quần lửng trắng hướng ngựa đi nước kiệu. Lại có những
bà khác, vừa mơ màng trên ghế bành dài bên một bức thư đã bóc niêm, vừa ngắm
trăng qua cửa sổ hé mở có diềm che một nửa. Những cô gái ngây thơ, lệ nhỏ trên
má, đang bón hạt cho một con chim gáy qua nan gỗ của một chiếc lồng cổ kính, hoặc
miệng cười nụ, đầu ngả trên vai, các cô ngắt cánh hoa cúc bằng những ngón tay
búp măng uốn cong như những chiếc hài mũi nhọn. Và các ngài nữa, các ngài cũng
có mặt ở đây, các ngài Hoàng đế Thổ Nhĩ Kỳ ngậm tẩu thuốc dài, đắm say dưới
giàn cây trong tay các cô vũ nữ, giữa đám gươm Thổ, mũ Hy Lạp, và nhất là các
phong cảnh nhợt nhạt của những miền kỳ ảo, thường phô bày trước ta một loạt cây
gồi, cây tùng, những con hùm bên phải, một con sư tử bên trái, những tháp chùa
Hồi giáo ở chân trời, những thành quách La Mã hủy hoại ở cận cảnh, rồi những
con lạc đà phủ phục - tất cả đóng khung trong một cánh rừng hoang sạch như chùi
với một tia nắng lớn thẳng đứng rung rinh dưới nước, ở đó nổi bật lên những con
thiên nga đang bơi riêng rẽ thành những vệt sây sát trắng xóa trên nền thép
xám.
Và cái chao đèn dầu treo ở bức tường trên đầu Emma đã chiếu
sáng tất cả những bức tranh thế gian đó lần lượt diễu qua trước mắt nàng trong
cái yên tĩnh của phòng ngủ cùng tiếng động xa xa của chiếc xe ngựa nào chậm trễ
còn lăn bánh trên đại lộ.
Những ngày đầu khi mẹ mất, nàng khóc nhiều, nàng thuê làm một
bức trướng với món tóc của người quá cố, và, trong một bức thư nàng gửi về
Béctô đầy những ý nghĩ buồn thảm về cuộc sống, nàng yêu cầu sau này người ta
chôn nàng vào cùng một huyệt với mẹ nàng. Ông bố tưởng con ốm, bèn lên thăm.
Emma, thầm đắc ý, thấy ngay từ bước đầu nàng đã đạt tới cái lý tưởng hãn hữu ấy
của những con người yểu mệnh mà chẳng bao giờ những tâm hồn phàm tục có thể
vươn tới được. Thế là nàng bước tuột vào con đường khúc khuỷu của nhà thơ
Lamáctin, lắng nghe tiếng đàn hát trên mặt hồ, tiếng thiên nga hấp hối, tiếng lá
rụng từng hồi, tiếng trinh nữ thanh tao bay lên trời, và tiếng đấng Vĩnh Hằng
phán truyền trong thung lũng. Nàng thấy chán, không muốn thừa nhận điều đó, cứ
tiếp tục làm thế vì thói quen, sau vì sĩ diện, cuối cùng nàng cũng chẳng ngạc
nhiên thấy mình đã bình tâm lại, lòng chẳng buồn nữa mà trán cũng chẳng răn
thêm.
Các bà Phước, trước quá tin ở thiên hướng của nàng, nay rất
ngạc nhiên mà nhận thấy rằng cô Ruôn dường như thoát vòng chăm sóc của các bà.
Mà thực, các bà đã ban cho nàng bao ân huệ, bao thời gian nghỉ ngơi, bao cửu nhật
lễ tuần, bao lời thuyết giáo; các bà đã dạy cô rất kỹ lòng tôn kính các đấng
thánh thần, và các bậc tử vì đạo, đã khuyên răn cô quá nhiều về đức tính giản dị
của phần xác và hạnh phúc vĩnh viễn của phần hồn đến nỗi nàng như con ngựa bị
kéo ghì bởi dây cương phải đứng sững lại và nhả hàm thiếc ra. Đầu óc ấy, thực tế
giữa những cảm hứng của nàng, đã yêu nhà thơ là vì hoa, đã yêu âm nhạc là vì những
lời tình ca, và đã yêu văn chương là vì những kích thích tình dục, nổi loạn trước
những bí ẩn của tín ngưỡng, cũng như nàng càng bất bình hơn đối với kỷ luật, nó
là cái trái ngược với thể chất của nàng. Khi cha nàng xin cho nàng ra khỏi tu
viện, người ta không lấy làm phiền về việc nàng đi. Thậm chí Bà Nhất lại còn thấy
thời gian gần đó, nàng đã tỏ ra kém phần tôn kính giáo hội.
Emma về nhà, thoạt tiên, còn thích cai quản kẻ hầu người hạ,
sau đó phát chán thôn quê và đâm ra nhớ tiếc tu viện. Khi Sáclơ đến ấp Béctô lần
đầu, nàng tự coi như mình đã tỉnh mộng lắm rồi, nàng chả còn gì để học hỏi nữa,
chả còn gì để cảm xúc nữa.
Nhưng mối băn khoăn về trạng thái mới, hoặc có lẽ nỗi xao xuyến
sinh ra bởi sự có mặt của người đàn ông ấy, đủ khiến nàng tin rằng nàng rút cục
đã có trong mình ngọn lửa lòng kỳ ảo đó mà tới nay nó vẫn cứ đứng xa như một con
chim lớn cánh hồng liệng bay trên bầu trời thơ mộng rực sáng; và bây giờ nàng
không thể tưởng tượng được rằng cái bình thản mà nàng đang sống đây lại là niềm
hạnh phúc mà nàng đã hằng mơ ước.
--------------------------------
|
Uôntơ Xcốt (Walter Scott): Nhà văn xứ Ecốtxơ (Anh) có ảnh
hưởng sâu xa đến các nhà văn lãng mạn. |
Chương 7
Cũng có lúc nàng nghĩ rằng đây lại chính là những ngày đẹp nhất
trong đời nàng, đây là thời kỳ trăng mật như người ta nói. Để được hưởng cái
thú êm đềm của thời kỳ này, chắc chắn là phải đi tới những miền mang cái tên thật
kêu, ở đó những ngày sau lễ cưới có những thú an nhàn êm dịu hơn! Trong xe trạm,
sau bức rèm tơ lam, vợ chồng thủng thỉnh đi lên những con đường dốc, tai nghe
người xà ích hát, tiếng hát vọng trong núi cùng với tiếng chuông của đàn dê và
tiếng thác đổ ào ào. Khi mặt trời tà, hai người hít thở hương vị hoa chanh trên
bờ vịnh; rồi tối đến, trên sân gác biệt thự, chỉ có đôi lứa ngồi, tay nắm tay,
vừa ngắm sao trên trời vừa bàn tính chuyện mai sau. Đối với nàng, dường như có
một số nơi nào trên trái đất sản sinh ra hạnh phúc, chẳng khác gì một thứ cây
quen mọc ở chốn này, hễ đem trồng ở chốn khác, thì cằn cỗi đi. Sao nàng lại chẳng
thể tì tay trên bao lơn một biệt thự ở Thụy Sĩ hoặc giấu nỗi buồn trong một
trang trại ở xứ Ecốtxơ, cùng với một người chồng mặc áo nhung đen vạt dài, đi ủng
mềm, đội mũ nhọn và đeo tay áo giả!
Có lẽ nàng cũng mong được tâm sự với ai về những điều này.
Nhưng làm thế nào nói lên được một nỗi phiền khó hiểu đổi dạng như những đám
mây dày, xoay chiều như cơn gió thổi? Vậy là nàng không nói lên lời, không có
cơ hội, không dám bạo gan.
Tuy nhiên, nếu Sáclơ đã muốn như vậy, nếu Sáclơ nghi ngờ điều
đó, nếu cặp mắt của Sáclơ, chỉ một lần thôi, nhìn thấu được tư tưởng của nàng
thì nàng tưởng chừng sẽ phải thổ lộ hết nỗi lòng của nàng như những trái chín từ
giàn cây rụng xuống khi người ta đưa tay hái. Nhưng cuộc sống ngày càng gắn bó
hai người với nhau, thì sự chia lìa ngấm ngầm trong đôi lứa ngày càng phát sinh
khiến nàng kém ràng buộc với hắn hơn.
Chuyện trò với Sáclơ thì tẻ nhạt như vỉa hè ngoài phố, và
toàn những ý kiến của thiên hạ cứ diễu qua đấy, trong bộ áo quần thông thường của
họ, chẳng gợi được cảm xúc nào, vui cười hay mơ mộng. Hắn bảo, khi hắn ở Ruăng,
hắn chẳng bao giờ tò mò đến rạp hát để xem các diễn viên, từ Pari về. Hắn chẳng
biết bơi, chẳng biết múa kiếm, chẳng biết bắn súng. Có một hôm, hắn không cắt
nghĩa nổi cho nàng một thuật ngữ về khoa cưỡi ngựa mà nàng đã đọc thấy trong một
cuốn tiểu thuyết.
Phải chăng một người đàn ông, trái lại, cái gì cũng phải biết,
bất kỳ hoạt động nào cũng phải thạo, phải chăng hắn phải biết vỡ lòng cho hắn về
cuồng nhiệt của tình yêu, về tế nhị của cuộc sống, về mọi cái bí mật ở đời?
Nhưng hắn, hắn chẳng dạy gì cả, chẳng biết gì cả, chẳng mong ước gì cả. Hắn tưởng
nàng sung sướng nhưng nàng lại giận hắn về cái lối bằng chân như vại ấy, về sự
đần độn bình thản ấy, về chính ngay niềm hạnh phúc mà nàng đem lại cho hắn nữa.
Thỉnh thoảng nàng vẽ; thế là Sáclơ lấy làm thích thú được đứng
thẳng ngay tại chỗ để nhìn nàng cặm cụi trên tấm bìa, nheo mắt nhìn kỹ bức vẽ,
hoặc vê tròn những viên ruột bánh mì trên ngón tay cái. Còn khi đánh đàn pianô,
nàng càng đưa nhanh ngón tay bao nhiêu, hắn càng thán phục bấy nhiêu. Nàng gõ
phím đàn một cách vững vàng; đôi bàn tay nàng không ngừng lướt trên toàn bộ mặt
đàn. Chiếc pianô cũ kỹ mà dây đàn đã săn lại, được nàng đụng tới, vang dội những
âm thanh đến tận đầu làng nếu cửa sổ để ngỏ. Thường thường người thư ký của
viên mõ tòa, đầu không mũ, chân đi giày vải, khi có việc đi qua đường cái, đều
đứng lại nghe.
Mặt khác, Emma điều khiển việc nhà. Nàng gửi cho bệnh nhân bản
kê tiền thăm bệnh bằng những bức thư viết khéo, không ra vẻ hóa đơn tính tiền.
Chủ nhật, khi vợ chồng có khách hàng xóm sang ăn cơm, nàng kiếm cách thết một
món ăn hấp dẫn, khéo bầy mận thành hình tháp trên lá nho, đặt lộn ngược những
bình mứt trên mặt đĩa, và thậm chí còn nói đến chuyện mua nước thơm để súc miệng
sau bữa cơm chính. Do tất cả những cái đó, Emma Bôvary càng được trọng vọng.
Sáclơ rốt cuộc phải tự trọng hơn vì có một người vợ như thế.
Hắn kiêu hãnh chỉ cho người ta xem ở trong phòng hắn hai bức phác họa nhỏ do
nàng vẽ bằng bút chì mà hắn lồng trong hai chiếc khung rất to treo bằng những sợi
dây dài màu xanh ve trên bức tường phủ giấy. Ở nhà thờ ra, người ta thấy hắn đứng
ở cửa lớn, chân đi giày vải thêu rất đẹp.
Hắn thường về nhà muộn, vào lúc mười giờ, đôi khi mười hai giờ
đêm. Thế là hắn đòi ăn, nhưng vì người hầu gái đã đi ngủ rồi thành chính bản
thân Emma phải phục vụ hắn. Hắn cởi chiếc rơđanhgôt để ngồi ăn cho thoải mái. Hắn
lần lượt kể lại hắn đã gặp những ai, đã qua những làng nào, đã kê những đơn thuốc
gì, rồi vui lòng đắc ý, hắn ăn nốt món thịt bò hầm với hành, gọt bỏ phần ngoài
miếng phó mát, gậm quả táo, uống cạn bình nước, rồi vào giường nằm ngửa và ngáy
o o.
Vì xưa nay hắn vốn quen dùng mũ trùm bằng sợi để ngủ, chiếc
khăn quàng không giữ được mái đầu, nên sáng dậy, tóc hắn xòa lung tung xuống mặt,
và, vì dải buộc gối ban đêm tuột mất, bông gối đã bám trắng cả tóc hắn. Hắn
toàn đi loại bốt cứng có hai nếp dây từ cổ chân kéo xuống mắt cá, còn mũi thì cứ
thẳng đuỗn ra như có bàn chân gỗ lồng bên trong. Hắn bảo ở quê mà đi giày loại
đó thì khá là tiện lợi.
Mẹ hắn tán đồng cái tính tằn tiện này; vì bà ta lại đến thăm
hắn như xưa mỗi khi ở nhà bà ta có chuyện xô xát mạnh; song bà Bôvary mẹ xem chừng
có thành kiến với con dâu. Bà ta nhận thấy nàng thuộc lớp người sống quá
cao đối với hoàn cảnh gia đình mình; củi, đường và nến được sử dụng quá nhanh
như ở một nhà quan, và số lượng than hồng cháy trong bếp đủ để nấu hai
mươi lăm món ăn! Bà ta sắp xếp quần áo lót của con dâu vào tủ và dạy con dâu
cách kiểm soát người hàng thịt khi họ mang thịt đến. Emma tiếp thu những bài học
ấy; bà Bôvary mẹ càng dạy không tiếc lời; thế rồi những tiếng con ơi và mẹ
ạ được trao đi đổi lại suốt ngày, sau đó những cặp môi rung chuyển, người
nào người nấy thốt ra những lời ngọt sớt bằng một giọng run lên vì tức giận.
Vào cái thuở mụ góa Đuybuých (nàng dâu cũ), bà già còn thấy
mình được ưa chuộng, nhưng nay bà coi tình yêu của Sáclơ đối với Emma như một sự
rời bỏ tình yêu của người con đối với mẹ, như một sự xâm phạm vào cái gì thuộc
quyền sở hữu của bà; và bà buồn rầu, bà lặng lẽ quan sát cái hạnh phúc của con
trai như một người bị phá sản ngắm nhìn qua khung cửa kính những kẻ đang ngồi
ăn trong ngôi nhà cũ của mình. Bà nhắc con trai nhớ lại, những kỷ niệm xa xưa,
những nỗi khổ cực và những hy sinh của bà, rồi bà đem so sánh nỗi niềm ấy với
bao sơ suất của Emma, bà kết luận Sáclơ thực chẳng biết điều chút nào khi hắn
yêu quý Emma một cách quá đáng như thế.
Sáclơ chẳng biết đáp lại ra sao; hắn kính trọng mẹ và hắn
cũng yêu vợ vô cùng; hắn coi nhận xét của mẹ là tuyệt đối đúng, song hắn cũng thấy
vợ hắn không có gì có thể chê trách được. Khi bà Bôvary mẹ đi rồi, hắn mới e dè
thử đưa ra, đúng nguyên lời mẹ, một hai điều nhận xét nhẹ nhàng nhất mà hắn đã
nghe mẹ nói ra; Emma, chỉ bằng một lời nói, đã chứng minh cho hắn biết là hắn
nhầm và bảo hắn nên trở lại công việc của hắn.
Tuy nhiên, theo những cái lý thuyết mà nàng tin là hay, nàng
muốn tự tạo cho mình tình yêu. Dưới ánh trăng trong vườn, nàng đọc tất cả những
vần thơ tình tứ thuộc lòng, nàng vừa thở dài vừa ca hát cho hắn nghe những điệu
nhạc chậm và buồn; rút cục, nàng vẫn thấy mình bình thản như trước, còn Sáclơ vẫn
chẳng say mê gì hơn, xúc động gì hơn.
Vả lại, khi nàng đã chút ít đánh đá lửa vào trái tim mình như
thế mà nàng chẳng làm bật ra được một tia nóng, nàng không thể hiểu được cái gì
mà nàng không cảm thấy, cũng như nàng không thể tin được vào những cái gì chẳng
biểu hiện ra bằng những hình thức ước lệ, nàng dễ dàng xác nhận tình yêu của
Sáclơ chẳng có gì lạ thường. Những cuộc thổ lộ tâm tình của hắn đã hóa ra đều đặn;
hắn hôn nàng vào giờ nhất định. Đó là một thói quen giữa những thói quen thôi,
nó tựa như món ăn tráng miệng đã tính trước sau bữa cơm tẻ nhạt.
Một tay cảnh vệ đất săn bắn, được người thầy thuốc chữa cho
khỏi bệnh sưng phổi, đã đem đến biếu bà vợ ông ta một con chó săn cái giống Ý;
nàng dắt chó đi chơi vì đôi khi nàng cũng ra ngoài để được sống biệt tịch trong
chốc lát và để khỏi thấy mãi trước mắt mình cái vườn muôn thuở với con đường lầm
bụi.
Nàng đi đến tận khu trồng dẻ gai ở Bannơvin, gần cái nhà chòi
bỏ hoang làm thành góc tường về phía đồng ruộng. Trong hố chông giữa đám cỏ, có
những cây lau dài, lá sắc.
Thoạt tiên, nàng nhìn khắp xung quanh để xem có gì thay đổi từ
lần cuối cùng nàng đến đây. Nàng thấy y nguyên ở những chỗ cũ những cây hoa lồng
đèn và những cây đinh hương, những khóm gai vây quanh những hàng sỏi lớn và những
mảnh rêu chạy dài trên ba cửa sổ luôn đóng kín, cánh mọt ruỗng dần trên những
thanh sắt gỉ. Tư tưởng của nàng ban đầu chưa có đích, cứ lông bông vơ vẩn, khác
nào con chó săn của nàng, nó cứ chạy vòng quanh trên cánh đồng, kêu ăng ẳng sau
những con bướm vàng, vừa đuổi bắt những con chuột chũi, vừa cắn nhấm những bông
hoa mào gà mọc trên bờ ruộng lúa mì. Rồi ý nghĩ của nàng dần dần định hướng,
và, ngồi trên bãi cỏ xanh, lấy đầu chiếc dù khe khẽ bới cỏ, Emma tự hỏi đi hỏi
lại:
- Trời ơi, tại sao ta lại đi lấy chồng?
Nàng tự hỏi không biết có cách nào, do những sự sắp đặt tình
cờ khác, để nàng lại có thể gặp được một người đàn ông khác; rồi nàng thử tưởng
tượng xem những sự việc không xảy ra đó có thể là những sự việc nào, cuộc sống
khác đó và người chồng mà nàng không biết đó ra sao. Mà ai chăng nữa quả thật
cũng chẳng giống cái gì kia. Hắn có thể đẹp trai, tài trí, tao nhã, hấp dẫn, chắc
chắn giống như những anh chàng mà các cô bạn học cũ của nàng ở nhà tu đã lấy
làm chồng. Các bạn ấy bây giờ đang làm gì? Ở thành thị với cảnh phố xá nhộn nhịp,
rạp hát huyên náo và các nơi khiêu vũ rực sáng, các bạn ấy sống cuộc đời trong
đó trái tim như mở hội, giác quan khoan khoái, còn nàng, nàng sống cuộc đời lạnh
lẽo như một căn gác xép mà cửa trổ trên mái nhà hướng về phương bắc, và nỗi buồn,
một nỗi buồn lặng lẽ, cứ âm thầm tỏa ra khắp các ngõ ngách của lòng nàng. Nàng
nhớ lại những ngày phát phần thưởng, nàng trèo lên bục để lĩnh giải nhỏ của
mình. Với mái tóc tết bím, tấm áo dài trắng và đôi giày hở cổ, nàng có một
phong thái dễ thương, thành ra, khi nàng trở về chỗ, các ông lớn đã nghiêng
mình khen ngợi; sân trường đầy xe ngựa bốn bánh, người ta thò đầu ra cửa xe để
từ biệt nàng, thầy dạy nhạc cầm hộp đàn đi qua cũng chào nàng. Đã xa lắm rồi tất
cả những cái đó! Đã xa lắm rồi!
Nàng gọi con chó Jali, đặt nó giữa hai đầu gối, lấy tay vuốt
cái đầu dài nhỏ nhắn của nó và bảo nó:
- Nào, hôn bà chủ mày đi, mày chẳng có nỗi buồn gì.
Rồi, ngắm bộ mặt rầu rĩ của con vật cao thon đang uể oải ngáp
dài, nàng cảm động, nàng so sánh con vật với bản thân mình, nàng nói thật to với
nó như nói với một kẻ nào đó đang đau khổ mà người ta an ủi.
Thỉnh thoảng có những luồng gió từ biển thổi vào, lan tràn
trên khắp cao nguyên xứ Cô, đưa xa tới tận đồng ruộng một khí mát mằn mặn. Những
cây cối rạp xuống mặt đất rít lên và những tầu lá dẻ gai xào xạc trong một cơn
rùng mình mau lẹ, còn các ngọn cây cao luôn luôn nghiêng ngả tiếp tục rì rầm,
Emma xiết chặt chiếc khăn quàng vào vai rồi đứng dậy.
Trên đại lộ, một ánh sáng xanh xanh, từ lá cây tỏa xuống, chiếu
vào đám rong rêu khẽ lay động dưới bước chân đi. Mặt trời đang lặn; bầu trời đỏ
giữa khoảng cách của cành cây, và những thân cây giống nhau, trồng thẳng hàng,
tưởng như một dãy cột dài màu nâu sẫm nổi bật trên một nền vàng óng. Nàng thấy
rờn rợn, nàng gọi con chó Jali và rảo bước trở về Tôxtơ bằng con đường lớn,
nàng ngồi phịch xuống chiếc ghế bành, và suốt buổi tối chẳng nói nửa lời.
Nhưng, vào cuối tháng chín, một chuyện bất thường xen vào cuộc
đời nàng; nàng được mời đến nhà hầu tước Angđevilêi tại hạt Vôbyétxa.
Làm quốc vụ khanh dưới thời Trùng Hưng, hầu tước giờ đây đang
tìm cách trở lại đời sống chính trị, ông ta đã chuẩn bị từ lâu việc ứng cử vào
Hạ nghị viện. Mùa đông, ông ta đã nhiều lần phát chẩn củi bó, và, tại Hội đồng
hàng tỉnh, ông ta bao giờ cũng hăng hái yêu sách việc xây dựng đường sá cho hạt
ông. Hồi thời tiết oi bức, ông ta bị một cái nhọt ở miệng, được Sáclơ chích kịp
thời, nên ông đã khỏi bệnh một cách may mắn lạ kỳ. Người quản lý, được phái đến
Tôxtơ để trả tiền chữa bệnh buổi tối về, đã kể chuyện anh ta trông thấy trong mảnh
vườn con nhà người thầy thuốc những trái anh đào kỳ diệu. Và ở Vôbyétxa, anh
đào khó mọc. Ông Hầu Tước bèn xin Bôvary vài cành để giâm, ông ta tự thấy mình
có nhiệm vụ đích thân đến cám ơn Bôvary. Gặp Emma, ông ta thấy nàng có một thân
hình xinh đẹp và cách chào hỏi không ra vẻ quê mùa đến nỗi ở lâu đài hầu tước
người ta không nghĩ rằng mời cặp vợ chồng trẻ kia đến nhà là một sự quá hạ cố nữa
và, mặt khác cũng chẳng phải là một điều khờ dại.
Thế là một ngày thứ tư, vào lúc ba giờ chiều, ông bà Bôvary
lên chiếc xe ngựa của mình đi đến Vôbyétxa với một cái hòm to tướng buộc chằng
sau xe và một hộp đựng mũ đặt trước mình. Sáclơ, hơn nữa, còn có một hộp bằng
giấy bìa đặt giữa hai bắp chân.
Hai vợ chồng đến nơi vào lúc trời sẩm tối, khi người ta bắt đầu
thắp đèn lồng trong vườn để lấy ánh sáng cho các xe đi vào.
Chương 8
Lâu đài, kiến trúc hiện đại, theo kiểu Ý, với hai chái nhô ra
và ba hàng tam cấp, đứng sừng sững ở cuối một bãi cỏ bao la và vài con bò cái
đang gặm cỏ giữa những rặng cây lớn trồng thưa, còn những cây cảnh, sơn lựu,
mai hoa và tuyết cầu xòe ra thành những vòm lá to nhỏ không đều trên con đường
vòng của lối đi rải cát. Một con sông nhỏ chảy dưới một cái cầu. Qua làn sương
mù, người ta nhận ra những ngôi nhà mái tranh dựng rải rác trên đồng cỏ, bên
rìa thoai thoải hai sườn đồi cây cối um tùm, và, lui về phía sau, dưới những
lùm cây, có song song hai dãy nhà xe và chuồng ngựa, di tích của một tòa nhà
thành quách cũ đã bị phá hủy.
Chiếc xe ngựa của Sáclơ đỗ lại trước tam cấp giữa;
mấy người hầu chạy ra, ông hầu tước tiến đến, giơ cánh tay đỡ vợ người thầy thuốc
và dẫn nàng vào tiền sảnh.
Lâu đài, lát đá hoa, rất cao; tiếng chân đi và tiếng nói chuyện
vang lên ở đây như trong một nhà thờ. Trước mắt là một cầu thang chạy thẳng,
bên trái là một hành lang nhìn ra vườn và dẫn đến phòng chơi bi a, mà ngay từ
ngưỡng cửa, người ta đã nghe thấy tiếng bi ngà va chạm nhau. Khi qua phòng này
để tới phòng khách, Emma thấy quanh bàn bi a những ông có vẻ mặt nghiêm trang,
cằm đặt trên chiếc ca vát thắt cao. Ai nấy đều đeo huân chương. Họ vừa lặng lẽ
mỉm cười vừa chọc gậy đánh bi a. Trên nền gỗ lát tường màu sẫm, những khung lớn
mạ vàng mang chữ đen ghi tên người ở phía vành khung dưới. Emma đọc thấy:
"Jăng Ăngtoan Đăngđeviliê Đivebôngvin, bá tước hạt Vôbyétxa và nam tước hạt
Frexnay tử trận ở Cutrax ngày 20 tháng 10 năm 1587". Và trên một cái khung
khác, có mấy chữ "Jăng - Ăngtoan Hăngri-Guy Đăngđeviliê ở hạt Vôbyétxa, thủy
sư đô đốc hải quân Pháp, được tặng thưởng huân chương Xanh Misen, bị thương
trong trận Hugơ Xanh Vaxtơ ngày 29 tháng 5 năm 1692, mất tại Vôbyétxa ngày 23
tháng 1 năm 1693". Nhưng người ta khó mà nhận rõ được các khung sau vì ánh
sáng đèn được người ta lùa tấm thảm xanh của bàn bi a chỉ để lại trong phòng một
bóng tối mờ. Ánh đèn ấy làm cho các bức họa treo ngang tường thêm mầu sẫm và
gãy gập trên đó thành những đường cạnh mỏng manh tùy theo vết rạn nứt của nước
sơn trên chụp đèn; và từ trên những khung vuông lớn màu đen viền vàng vàng ấy,
nổi lên đây đó vài khoảng màu tươi sáng của bức họa, một vầng trán nhợt nhạt,
đôi con mắt nhìn mình, những bộ tóc giả xòa trên vai những chiếc áo đỏ lấm tấm
bụi phấn, hoặc cái khóa nịt bít tất phía trên một bắp chân mập mạp.
Hầu tước mở cửa phòng khách; một trong các bà đứng lên (chính
là bà hầu tước) ra đón tiếp Emma và mời nàng ngồi cạnh bà, trên một cái ghế trường
kỷ, rồi thân mật nói chuyện với nàng, dường như bà đã quen biết nàng từ lâu. Đó
là một bà chừng bốn mươi tuổi, vai đẹp, mũi cong, giọng nói kéo dài; tối hôm ấy,
bà choàng trên mớ tóc hung đỏ một chiếc khăn ren giản dị xõa tóc xuống phía sau
đầu thành hình tam giác. Một cô gái tóc vàng hoe ngồi bên cạnh, trong một chiếc
ghế có nệm dựa lưng dài; và mấy bông hoa tai nhỏ cài trên khuyết áo, đang nói
chuyện với các bà xung quanh lò sưởi.
Đến bây giờ, người ta dọn tiệc. Các ông, đông hơn, ngồi bàn đầu
trong phòng trước, còn các bà ngồi bàn sau, trong phòng ăn, cùng với ông bà hầu
tước.
Emma, khi bước vào, cảm thấy một không khí ấm áp bao quanh, hỗn
hợp của hương hoa với mùi quần áo lịch sự, hơi thịt ngon với mùi nấm nấu. Những
cây nến trên những giá đèn bạch lạp lết dài ngọn lửa vào những chiếc chuông bạc;
những bình thủy tinh nhiều mặt, phủ một làn hơi nước mờ đục, phản chiếu vào
nhau những ánh sáng xanh xanh; những bó hoa cắm thẳng hàng suốt chiều dọc mặt
bàn, và trong những đĩa rộng thành, mỗi khăn ăn, tết theo kiểu mũ tế giám mục để
lộ ra một chiếc bánh mì nhỏ hình bầu dục giữa khoảng hai nếp vải gấp. Những
càng tôm hùm đỏ thò ra ngoài mặt đĩa; những trái cây lớn xếp tầng trên nền rong
trong chiếc giỏ thưa; chim cun cút còn nguyên lông cánh bốc khói; còn người đầu
bếp đi tất lụa, mặc quần cộc, thắt ca vát trắng, đeo yếm sơmi, vẻ nghiêm trang
như một quan tòa, chuyển qua vai khách những đĩa răng cưa đựng thức ăn, cầm lấy
thìa ra cho khách đúng miếng khách chọn. Trên cái lò sưởi lớn bằng sứ viền đồng,
một bức tượng phụ nữ, choàng áo đến cằm, điềm tĩnh nhìn gian phòng đầy khách.
Bà Bôvary nhận thấy nhiều bà chưa đụng đến cốc của họ.
Trong khi ấy, ở đầu bàn trên, có nguyên một ông già ngồi giữa
đám phụ nữ; cụ đang ăn, mặt cúi gằm xuống đĩa thức ăn, chiếc khăn buộc ra phía
sau lưng như một đứa trẻ, miệng nhỏ giọt nước sốt, mắt vằn tia đỏ, mớ tóc bỏ
xõa sau đầu được quấn lại, bằng một dải băng đen. Đó là nhạc phụ ông hầu tước,
lão quận công Đờ Lavécđie, người thân cận xưa của bá tước Áctoa, vào hồi có những
cuộc săn bắn ở Vôđờrơi trên đất đai của hầu tước Đờ Côngflăng, và theo như người
ta kể, cụ là tình nhân của hoàng hậu Mari-Ăngtoanét, trước ông Đờ Coanhi và sau
ông Đờ Lôzoong. Cụ ta đã sống một cuộc đời chơi bời ầm ỹ, đầy những chuyện đấu
kiếm, đánh cuộc, bắt cóc phụ nữ, ngốn hết cả gia sản và làm cả gia đình khiếp sợ.
Một người hầu, đứng sau ghế cụ ta, xướng to vào tai cụ tên các món ăn mà cụ ta
vừa chỉ trỏ vừa lắp bắp. Emma luôn luôn hướng cặp mắt mình về phía lão già môi
xệ ấy, như về một cái gì phi thường và uy nghiêm. Lão già ấy đã từng sống trong
triều và đã từng nằm vào giường của các bà Hoàng hậu!
Người ta rót rượu sâm banh ướp đá. Emma rùng cả mình, khi cảm
thấy lạnh miệng. Nàng chưa bao giờ trông thấy trái lựu và cũng chưa bao giờ được
ăn quả dứa. Đối với nàng đường bột ở đây hình như cũng trắng hơn, mịn hơn ở nơi
khác.
Sau đó, các bà lên buồng riêng để sửa soạn khiêu vũ.
Emma điểm trang với sự chăm chú tỉ mỉ của một nữ diễn viên ra
mắt buổi đầu. Nàng sửa tóc theo lời dặn của người thợ húi, và nàng mặc chiếc áo
dài bằng len mỏng để sẵn trên giường. Cái quần của Sáclơ thắt chặt bụng.
- Đế giày tôi thế này sẽ làm tôi vướng khi nhảy, hắn nói.
- Nhảy à? Emma đáp.
- Ừ!
- Thế thì anh điên rồi! Họ cười cho đấy, anh cứ ngồi yên tại
chỗ. Như thế mới hợp với một người thầy thuốc hơn, nàng nói tiếp.
Sáclơ lặng thinh. Hắn đi đi lại lại, chờ Emma mặc áo.
Đứng sau, hắn nhìn thấy nàng trong gương, giữa hai ngọn nến.
Cặp mắt đen của nàng dường như đen láy hơn. Mái tóc nàng hơi bồng lên và phía
tai anh ánh biếc; một chiếc hoa hồng gài búi tóc rung rinh trên cuống cùng với
mấy giọt nước giả tạo trên đầu lá. Nàng vận một chiếc áo dài vàng nhạt nổi lên
nhờ ba cụm hoa hồng nhỏ xen lẫn lá xanh.
Sáclơ đi tới hôn nàng vào vai.
- Yên nào! Nàng nói, anh làm nát cả mọi thứ bây giờ.
Người ta bỗng nghe tiếng nhạc dạo của đàn viôlông và làn âm
thanh của kèn co. Nàng xuống thang, cố ghìm mình khỏi chạy.
Điệu nhạc nhảy đã nổi lên. Khách kéo đến. Người ta xô chen
nhau. Nàng ngồi gần cửa ra vào, trên một cái ghế dài.
Khi cuộc đối vũ đã dứt, sàn nhà bỏ trống cho nhóm các ông đứng
nói chuyện và các người hầu y phục chỉnh tề qua lại mang khay. Ở dẫy các bà ngồi,
những chiếc quạt sơn phe phẩy, những bó hoa che khuất nửa chừng nụ cười trên mặt,
và những lọ nhỏ nút vàng xoay tròn trong các bàn tay hé mở mà những chiếc găng
trắng làm nổi hình các móng tay và xiết chặt lấy cổ tay. Đồ trang sức bằng đăng
ten, trâm cài tóc bằng kim cương, xuyến có khung ảnh nhỏ xíu hình trái tim treo
ở đầu khóa rung rinh trước áo lót, óng ánh trên ngực, xào xạc trên cánh tay trần.
Những mái tóc được chải dán chặt xuống trán hoặc được búi ra sau gáy đều cài
hoa lưu ly, hoa nhài, hoa lựu, hoa tuệ trang, hoặc hoa mua kết thành vòng thành
chùm hay thành nhánh. Các bà mẹ vấn khăn đỏ, mặt nhăn nhó, ngồi yên tại chỗ.
Lòng Emma hơi hồi hộp lúc người bạn nhảy đàn ông cầm đầu ngón
tay nàng, đưa nàng ra sàn nhảy, đợi tiếng nhạc để nhảy. Nhưng chẳng mấy chốc,
cơn xúc động qua đi; rồi, đu mình theo điệu nhạc, nàng lướt người về phía trước,
cổ nhẹ nhàng lay động. Một nụ cười hiện lên môi nàng khi chiếc đàn viôlông thỉnh
thoảng độc tấu những âm thanh kỳ diệu vào lúc các nhạc cụ khác im bặt; người ta
nghe thấy tiếng đồng tiền vàng trong trẻo dội lên ở bên cạnh, trên tấm thảm phủ
bàn; rồi tất cả nhạc cụ lại cùng nổi lên một loạt, chiếc kèn coócnê oang oang
như lệnh vỡ. Bước chân lại uyển chuyển theo nhịp đàn, những chiếc váy căng phồng
nhẹ chạm nhau, những bàn tay khi nắm khi rời; vẫn những cặp mắt ấy hạ xuống trước
mặt nhau rồi lại đăm đăm nhìn nhau.
Một số ông (chừng độ mười lăm người), tuổi từ hai mươi lăm đến
bốn mươi, rải rác giữa những người nhảy hoặc đứng nói chuyện ở lối cửa ra vào,
mang một vẻ dòng dõi khác biệt với đám đông, mặc dầu họ khác nhau về tuổi đời,
về trang phục hay về nét mặt.
Quần áo họ, cắt khéo hơn, dường như bằng một thứ dạ mềm hơn,
và tóc họ, uốn vòng xuống phía thái dương, được xức bóng bằng một thứ sáp mịn
màng hơn. Họ có cái nước da của sự giàu có, cái nước da trắng trẻo được tôn lên
bằng ánh sáng lờ mờ, của đồ sứ, bằng vân sa tanh, bằng nước dầu sơn bàn ghế đẹp
và cái nước da được nuôi dưỡng bằng một chế độ ăn uống cao lương mỹ vị một cách
thận trọng, cổ họ cử động thoải mái trên những chiếc cavát thấp; râu quai nón họ
dài rủ xuống cổ áo bẻ, họ lau miệng bằng mùi soa thơm phức thêu mấy chữ đầu tên
của họ. Những người đứng tuổi có vẻ trẻ trung, thế mà những người trẻ lại để một
cái gì chín chắn hiện trên nét mặt. Trong con mắt hờ hững của họ, phảng phất trạng
thái bình tĩnh của những cơn dục vọng hằng ngày đã được thỏa mãn và, qua những
cử chỉ dịu dàng của họ, bộc lộ cái tàn bạo riêng biệt của họ, thứ tàn bạo của
những con người vốn quen biết khống chế những chuyện nửa khó nửa dễ mà trong đó
họ đã sử dụng sức mạnh của họ, lấy tính tự phụ của họ làm trò đùa, như chuyện
điều khiển ngựa nòi và chuyện ăn chơi với những người đàn bà hư hỏng.
Cách Emma ba bước, một khách nhảy đàn ông vận áo màu xanh lơ
nói chuyện nước Ý với một thiếu phụ xanh xao đeo chuỗi ngọc. Họ ca tụng những cột
trụ to lớn của nhà thờ Xanh Pie Tivôli, ngọn Vêduyvơ, Caxtenmala và Cátxin, hoa
hồng ở Giên, Côlidê dưới ánh trăng. Bên tai kia, Emma lắng nghe một câu chuyện
đầy những tiếng mà nàng không hiểu. Người ta vây quanh một chàng tuổi trẻ, tuần
trước, đã thắng các tuấn mã Araben và Romuyluyx đã giật giải
hai nghìn đồng tiền vàng khi thi nhảy qua một đường hào bên nước Anh. Có người
phàn nàn về con ngựa đua của mình cứ béo phì ra; có người bực bội về những lỗi
in đã làm sai hẳn tên con ngựa của họ.
Không khí nơi khiêu vũ đã nặng nề; ánh đèn mờ đi. Người ta dồn
sang phòng bi a. Một người hầu trèo lên một chiếc ghế đánh vỡ hai tấm kính.
Nghe thấy kính vỡ, bà Bôvary quay đầu lại và trông thấy ở ngoài vườn có những
người nông dân áp mặt vào cửa kính nhìn vào. Thế là nàng nhớ đến Béctô. Nàng thấy
lại trang trại, đầm nước đục bùn, cha mẹ mặc áo choàng đi dưới những cây táo,
và nàng thấy cả chính nàng, như xưa kia, đang lấy tay gạn kem trong những chiếc
chậu sành đầy sữa ở nhà làm sữa. Nhưng trước cảnh xán lạn của giờ phút hiện tại,
cuộc đời quá khứ của nàng, cho tới lúc ấy rõ nét là thế, bỗng tan biến đi cả,
và nàng hầu như chẳng còn tin nàng đã sống cuộc đời ấy. Nàng đang ở đây kia mà;
rồi, xung quanh cuộc khiêu vũ, chỉ là bóng tối trùm lên mọi vật. Nàng liền ăn
loại kem pha rượu anh đào, đựng trong một chiếc cốc hình vỏ chai mạ vàng mà
nàng cầm trên tay trái và nàng lim dim đôi mắt lại đưa thìa qua hai hàm răng.
Một bà ngồi cạnh nàng, đánh rơi chiếc quạt. Một ông khách nhảy
đi qua. Bà ta nói:
- Ông làm ơn nhặt dùm tôi chiếc quạt ở đằng sau ghế trường kỷ
này.
Ông ta cúi xuống, và trong lúc ông ta với tay ra lấy quạt,
Emma thấy tay người thiếu phụ ném vào mũ ông ta một cái gì trăng trắng hình tam
giác. Ông ta nhặt chiếc quạt rồi kính cẩn đưa quạt cho bà ta; bà gật đầu tỏ ý
cám ơn và quay ra ngửi bó hoa của mình.
Bữa ăn tối có nhiều rượu vang Tây Ban Nha và rượu vang hạt
Ranh, tôm nấu với sữa hạnh nhân, nho trộn trứng kiểu Trafanga và mọi thứ thịt
nguội bọc nước đông xung quanh rung rinh trên đĩa. Đoàn xe ngựa, hết cái nọ đến
cái kia, bắt đầu ra về sau bữa ăn. Vén góc rèm the che cửa, người ta thấy ánh
đèn lồng của các xe lướt trong bóng tối. Trên dãy ghế dài, khách đã thưa dần;
vài tay đánh bài ở lại; các nhạc công lấy lưỡi liếm đầu ngón tay cho dịu. Sáclơ
ngủ chập chờn, lưng dựa vào một cánh cửa.
Đến ba giờ sáng, cuộc khiêu vũ lại bắt đầu. Emma không biết
nhảy vanxơ. Mọi người đều nhảy vanxơ, cô tiểu thư Đăngđécviliê và bà hầu tước.
Khách nghỉ lại lâu đài chỉ còn khoảng mười hai người.
Bấy giờ, một bạn nhảy trai, mà người ta gọi thân là Tử
tước vận chiếc gilê cổ mở rất rộng như bó sát ngực, lại một lần nữa đến mời
bà Bôvary, y đảm bảo là y mà hướng dẫn nàng thì chắc chắn thế nào nàng cũng nhảy
được.
Thoạt đầu họ đi từ từ, rồi bước nhanh hơn. Họ quay; mọi vật đều
quay quanh họ, nào bàn ghế, nào gỗ lát tường và sàn nhà, như một chiếc đĩa quay
trên trục. Lúc nhảy gần tới cửa ra vào, áo Emma, ở phía dưới, mắc vào quần
chàng kia: cặp giò của họ lồng vào nhau; chàng đưa mắt xuống nhìn nàng, nàng
ngước mắt lên nhìn chàng; một trạng thái tê mê xâm chiếm lòng nàng, nàng ngừng
bước. Họ lại nhảy, và, bằng động tác nhanh hơn, tay tử tước cuốn nàng đi, hai
người biến ra tận đầu hành lang, ở đó nàng thở hổn hển, suýt ngã, và, trong
giây lát, gục đầu vào ngực y. Rồi hai người vẫn quay, nhưng thong thả hơn, y dẫn
nàng trở về chỗ; nàng ngã người vào tường và lấy tay bịt mắt.
Khi nàng mở mắt, nàng thấy giữa phòng khách một bà, ngồi trên
chiếc ghế đẩu, có đến ba bạn trai quỳ mời trước mặt. Bà ta kén tay tử tước, thế
là tiếng đàn viôlông lại nổi lên.
Người ta nhìn đôi này. Họ lượn qua lượn lại, thân hình người
đàn bà bất động, cằm hạ xuống, còn y thì vẫn ở một tư thế, mình cong, tay khuỳnh,
miệng đưa về phía trước. Bà này biết quay vanxơ mà! Họ nhảy mãi và nhảy rất lâu
khiến mọi người khác thấm mệt.
Người ta trò chuyện thêm vài phút, và, sau khi từ biệt, hay
nói cho đúng hơn sau khi chào nhau buổi sáng; khách bèn đi ngủ.
Sáclơ lê bước lên thang gác, đầu gối chùn lại. Hắn đã đứng
năm giờ liền trước các bàn, xem đánh bài câm mà chẳng hiểu gì cả. Cho nên hắn
khoan khoái thở phào sau khi đã tháo bốt ra.
Emma choàng chiếc khăn san lên vai, mở cửa sổ và tì khuỷu tay
xuống.
Đêm tối mịt mù. Vài giọt mưa rơi. Nàng hít hơi gió lạnh làm
cho mi mắt nàng dịu mát. Nhạc khiêu vũ vẫn còn văng vẳng bên tai, và nàng cố giữ
cho mình tỉnh táo để kéo dài cái ảo tưởng về cuộc sống xa hoa mà nàng vừa phải
rời bỏ.
Trời hơi rạng. Nàng nhìn các cửa sổ lâu đài, nhìn lâu, cố
đoán xem đâu là phòng ngủ của những người mà nàng để ý đêm trước. Nàng ước muốn
biết rõ cuộc sống của họ, muốn nhập vào đó hòa mình vào đó.
Nhưng nàng rét run lên. Nàng cởi áo ra rồi chúi mình trong
chăn nằm sát vào Sáclơ đang ngủ.
Bữa điểm tâm chẳng có mấy người chỉ mất mười phút. Người ta
không dọn một thứ rượu mùi nào; điều đó, khiến người thầy thuốc ngạc nhiên. Tiếp
đó cô Đăngđécviliê nhặt những mẩu bánh sữa vào một cái giỏ nhỏ rồi đem cho đàn
thiên nga trên bể nước, còn mọi người đi dạo trong nhà kính trồng cây ở đấy có
những cây cảnh dị kỳ, lông tua tủa xếp thành hình chóp dưới những chậu treo tựa
hồ các ổ rắn quá đầy để rơi qua thành chậu những dây xanh dài xoắn tít vào
nhau. Vườn cam ở phía cuối, có lối đi râm mát đến tận dẫy nhà ngang của biệt thự.
Ông hầu tước, muốn mua vui cho người đàn bà trẻ, dẫn nàng đi xem các chuồng ngựa.
Trên những máng ăn hình giỏ, có những biển bằng sứ ghi tên ngựa bằng chữ đen.
Khi có người đến gần, mỗi con vật lại tắc lưỡi, lồng lộn trong khoang. Sàn nhà
chứa yên cương trông bóng loáng như sàn phòng khách. Những bộ đồ đóng xe ngựa bầy
giữa, trên hai cái cột quay, còn hàm thiếc, roi quất, bàn đạp, dây buộc thì xếp
thành hàng dọc theo bức tường.
Sáclơ trong lúc ấy, nhờ một người hầu đóng ngựa vào chiếc xe
của hắn. Người ta đưa xe ra chiếc thềm và khi hành lý đã được bỏ vào đó, vợ chồng
Bôvary từ tạ ông bà hầu tước và trở về Tôxtơ.
Emma lặng lẽ, nhìn các bánh xe quay. Sáclơ, ngồi tận phía kia
đầu ghế, dang hai cánh tay đánh xe đi, và con ngựa nhỏ chạy nước kiệu giữa hai
càng xe quá rộng đối với nó. Dây cương mềm đập vào mông ngựa đẫm mồ hôi. Cái
hòm buộc sau xe va vào thùng xe thành những tiếng bồm bộp đều đều.
Đôi vợ chồng đang đi trên dốc Tibuốcvin thì bỗng có mấy người
cưỡi ngựa cười cười nói nói vượt qua trước mặt, xì gà ngậm miệng. Emma chừng nhận
ra tay tử tước. Nàng ngoảnh mặt đi, nàng chỉ còn thấy ở chân trời mấy cái đầu
nhấp nhô theo nhịp ngựa không đều khi chạy nước kiệu, lúc phóng
nước đại.
Đi được phần tư dặm đường, xe phải ngừng vì dây thắng ngựa đã
đứt, cần phải được nối lại bằng thừng.
Sáclơ, trong lúc đưa mắt kiểm soát yên cương lần cuối, chợt
thấy một vật gì trên mặt đất, giữa khoảng chân ngựa, và hắn nhặt được lên một
túi đựng xì gà, viền xung quanh toàn bằng lụa xanh có hình huy chương ở giữa
như ở cánh cửa một cỗ xe song mã.
- Có cả hai điếu xì gà ở trong, hắn nói; thôi để tối nay ăn
cơm xong hút.
- Anh cũng hút à? Nàng hỏi.
- Thỉnh thoảng, khi có dịp.
Hắn bỏ cái của bắt được ấy vào túi rồi quất ngựa cho xe chạy.
Khi vợ chồng về đến nhà thì cơm chiều chưa dọn. Bà chủ nổi
nóng. Naxtazi hỗn hào cãi lại.
- Cút! Emma nói. Mày không coi ai ra gì cả, tao tống cổ mày
đi.
Bữa cơm có món xúp hành với một miếng thịt bê trộn rau chua.
Sáclơ, ngồi trước Emma, vừa xoa tay vừa nói với một vẻ mặt khoan khoái:
- Đi đâu thì đi mà về đến nhà mình là một điều thú vị!
Hắn nghe thấy tiếng Naxtazi khóc. Hắn có phần nào mến cô gái
tội nghiệp ấy. Trước kia, cô ta từng làm bạn với hắn biết bao nhiêu buổi tối
lúc hắn sống cô đơn trong cảnh góa bụa. Cô ta là người khách đầu tiên của hắn,
người quen biết lâu nhất của hắn ở vùng này.
- Thế em đuổi cô ta đi thật đấy à? Cuối cùng, hắn hỏi.
- Thật chứ. Ai cấm tôi nào? Nàng đáp.
Rồi vợ chồng kéo nhau vào bếp sưởi, chờ người hầu dọn buồng
ngủ. Sáclơ đem xì gà ra hút. Hắn trề môi ra để hút, chốc chốc lại khạc nhổ và
xo cả người lại mỗi lần nhả khói.
- Anh sắp làm tình làm tội anh đấy, nàng khinh khỉnh nói.
Hắn bỏ điếu xì gà xuống, chạy ra nốc một cốc nước ở vòi nước.
Emma cầm luôn cái túi đựng xì gà quăng vào đáy tủ áo.
Hôm sau, ngày thực là dài. Nàng lững thững dạo bước trong vườn,
đi đi lại lại trên những lối ấy, ngừng bước trước những mảnh đất trồng hoa, trước
giàn cây ăn quả sát tường, trước tượng viên linh mục bằng thạch cao, ngỡ ngàng
quan sát tất cả những vật xưa kia nàng hằng biết rõ. Cuộc khiêu vũ đối với nàng
như đã cách xa lắm rồi! Thế thì ai ngăn cách xa nhau đến thế cái buổi sáng hôm
kia với cái buổi chiều hôm nay? Cuộc đi thăm Vôbyétxa đã để lại một chỗ trống
trong đời nàng, như thể những đường nứt lớn mà giông tố, chỉ trong một đêm, xoi
núi. Song nàng đành chịu đựng: nàng thành kính cất vào tủ bộ trang phục đẹp đẽ
của nàng, cất đến cả đôi giày sa tanh mà đế đã vàng đi vì xi trơn trên sàn nhảy.
Song nàng đã như chúng: Đụng chạm với cảnh giàu sang, nó đã để lại trong đó một
cái gì không phai mờ.
Cho nên, đối với Emma, việc hồi tưởng lại cuộc khiêu vũ là một
mối bận tâm. Cứ mỗi lần ngày thứ tư trở lại, nàng đã tự nhủ thầm khi thức giấc:
(Ôi! Cách đây tám ngày... Cách đây mười lăm ngày... cách đây ba tuần, mình có mặt
ở đó!). Rồi dần dần, những nét mặt lộn xộn trong trí nhớ của nàng; nàng quên mất
điệu nhảy đôi; nàng không cần thấy rõ những bộ chế phục và những căn phòng; vài
chi tiết đã mất hẳn đi, song nỗi luyến tiếc vẫn còn đọng lại.
Chương 9
Thường thường, mỗi khi Sáclơ đi vắng, nàng ra tủ lấy, giữa đống
quần áo gấp nếp, cái túi đựng xì gà bằng lụa xanh mà nàng đã cất vào đó.
Nàng nhìn cái túi, mở túi ra, thậm chí còn hít cả mùi vải lót
xen lẫn mùi mã tiền và mùi thuốc lá. Chiếc túi này của ai?... của tay tử tước.
Có lẽ đó là một tặng phẩm của tình nhân y. Cô ta đã thêu áo trên một khung gỗ tử
đàn, một dụng cụ nhỏ xinh mà cô ta giấu mọi người và, trên đó, những làn tóc uốn
mềm mại của cô gái cần cù tư lự đã từng cúi xuống cặm cụi hàng giờ. Một hơi thở
yêu đương đã lùa vào từng ô vải thêu; mỗi mũi kim đã dính vào đó một niềm hy vọng
hay một kỷ niệm, và tất cả những sợi tơ kết lại với nhau kia chỉ là sự tiếp diễn
của cùng một mối tình thầm lặng. Thế rồi một buổi sáng, tay tử tước mang túi
thuốc theo mình. Họ đã nói gì với nhau, khi cái túi còn nằm trên mặt lò sưởi rộng
khung, giữa khoảng những hình hoa và những đồng hồ quả lắc kiểu Pôngpađua? Nàng
ở Tôxtơ. Còn y, giờ đây y ở Pari! Chốn Pari ấy thế nào? Cái tên đó mới khác thường
làm sao! Nàng khẽ nhắc cho mình cái tên đó để tự mua vui; cái tên đó cứ vang
vang bên tai nàng như tiếng chuông nhà thờ lớn! Cái tên đó sáng rực trước mặt
nàng, sáng rực đến tận cả trên cái nhãn hiệu những lọ dầu xức tóc của nàng.
Ban đêm, khi những người buôn cá bể ngồi trong xe bò, vừa đi
qua dưới cửa sổ buồng nàng vừa hát bài Mácjôlen, nàng thức giấc. Và,
lắng nghe tiếng bánh sắt ra khỏi vực này mau chóng dịu bớt trên con đường đất,
nàng tự nhủ:
- Mai họ đã tới nơi đó!
Thế là nàng theo dõi họ trong trí não, thấy họ leo dốc xuống
dốc, họ đi qua các làng, họ rong ruổi trên đường cái dưới ánh sao. Hết một khoảng
cách vô định, bao giờ cũng tới một chốn mơ hồ, ở đó mộng tưởng của nàng tiêu
tan.
Nàng mua cho mình một tấm bản đồ Pari, rồi trên đó lần theo dấu
ngón tay nàng rong ruổi trong đô thành. Nàng đi ngược các đại lộ, ngừng bước ở
mỗi góc phố, mỗi ngả đường, trước những ô vuông trắng hình dung các nhà cửa. Cuối
cùng mỏi mắt, nàng khép hàng mi lại, và nàng thấy trong bóng tối những ngọn lửa
đèn khí vặn vẹo trước gió, những bậc lên xuống của những chiếc xe ngựa bốn bánh
chuyển ầm ầm trước hàng cột trụ ở cửa các rạp hát.
Nàng mua dài hạn tờ báo Cái lẳng của phụ nữ và tờ
báo Thiên tinh của những phòng khách. Nàng ngấu nghiến, đọc không sót
tí gì, tất cả các bài tường thuật về những buổi diễn xuất đầu tiên, về những cuộc
đua ngựa và những cuộc dạ hội, nàng chú ý đến bước đầu của một nữ ca sĩ, đến việc
khai trương một hãng buôn. Nàng biết các thời trang mới, địa chỉ của những thợ
may khéo, những ngày đi chơi rừng hay những ngày ca kịch. Nàng đọc kỹ, trong
Ơgien Xuy, những đoạn miêu tả các cách bài trí; nàng đọc Banzắc và Gioócgiơ
Xăng, tìm kiếm trong đó những thỏa mãn tưởng tượng cho những khao khát riêng
tây. Ngay cả bữa ăn, nàng cũng mang sách đến, nàng lật các trang, trong khi
Sáclơ vừa ăn vừa nói chuyện. Hình ảnh tay Tử tước luôn luôn trở lại giữa những
trang sách nàng đọc. Nàng thường liên hệ con người ấy với những nhân vật hư cấu.
Nhưng cái phạm vi mà y là trung tâm dần dần mở rộng quanh y, và ánh hào quang của
y rời khỏi mặt y, lan tỏa ra xa hơn, để soi sáng những ước mơ khác.
Pari, rộng hơn đại dương, lấp lánh trước mắt nàng qua cảnh
vàng son. Những cuộc sống đông đảo đang nhộn nhịp trong cái không khí ồn ào đó
lại phân chia ra làm nhiều mảng, sắp xếp thành lắm cảnh khác biệt. Emma chỉ thấy
hai ba cảnh, cảnh này che lấp cảnh khác và riêng chúng cũng đủ hình dung toàn
thể nhân loại. Giới ngoại giao thì bước trên những sàn nhà bóng loáng, trong những
phòng khách có tường lát gương, quanh những chiếc bàn hình bầu dục phủ nhung viền
vàng. Ở đó, có những chiếc áo dài có đuôi và những điều bí mật hệ trọng, những
nỗi lo lắng ẩn dưới những nụ cười. Rồi đến xã hội những người đàn bà đài các;
phụ nữ ở đó xanh xao, họ dậy vào lúc bốn giờ chiều; những nàng tiên đáng
thương! Họ mang váy ngắn viền đăng ten của nước Anh. Và những người đàn ông, những
anh tài chưa được người đời biết đến dưới cái vẻ ngoài phù phiếm làm chết ngựa
mình trong những cuộc vui chơi, đi nghỉ mát suốt mùa hè ở Bađơ và, mãi đến khoảng
tứ tuần, mới kết hôn với những cô gái có di sản lớn. Trong những căn phòng của
hàng quán mà tận quá nửa đêm người ta mới đến bữa ăn tối, cái đám đông ô hợp gồm
văn nghệ sĩ và nữ diễn viên vui cười dưới ánh nến. Lớp người này, họ hoang phí
như các ông hoàng, họ đầy những tham vọng lý tưởng và những sự say mê kỳ quái.
Đó là cuộc sống có cái gì gọi là cao siêu đứng trên các cuộc sống khác, giữa bầu
trời và trái đất, trong những cơn giông tố. Thế giới còn lại thì lu mờ, không có
một chỗ đứng chính xác, coi như chẳng tồn tại, vả lại, cảnh vật càng gần nàng,
tư tưởng của nàng càng xa lánh nó. Tất cả những gì trực tiếp bao quanh nàng,
nông thôn buồn tẻ, dân phố ngốc nghếch, cuộc sống tầm thường, đối với nàng, dường
như là ngoại lệ ở đời. Trừ một điều không may đặc biệt mà nàng gặp phải, nàng
thấy xa kia là xứ sở bao la của hạnh phúc và tình yêu. Trong ước vọng của nàng,
nàng lẫn lộn những khoái lạc của xác thịt trong trạng thái giàu sang với những
niềm vui của tâm hồn, cái thanh lịch của nếp sống và những tế nhị của tình cảm.
Phải chăng đối với ái tình, cũng như đối với những cây cối ở Ấn Độ, cần phải có
những mảnh đất dọn sẵn, một thời tiết riêng biệt. Cho nên những tiếng thở dài
dưới ánh trăng, những cái ôm ấp đắm đuối, những giọt lệ rỏ xuống bàn tay khi
người ta buông nhau ra, tất cả những rạo rực của xác thịt và những thẫn thờ của
tình yêu không tách rời hàng lan can của những tòa lâu đài to lớn nhàn nhã, cái
phòng khuê quây rèm lụa rủ với tấm thảm thật dài, những bồn hoa đầy ắp, chiếc
giường kê cao trên bục, cũng như màu sắc lóng lánh của châu ngọc và của những
dây tua trên bộ chế phục.
Người hầu trạm, sáng nào cũng đến chải cho ngựa, lê đôi giày
guốc to tướng qua hành lang; áo choàng của gã ta thủng nhiều lỗ; chân gã ta,
không đi tất, lồng trong đôi giày vải. Đấy là chú tiểu đồng mặc quần cộc ở nhà
sang trọng mà người ta đành phải dùng tạm! Chải xong, chú về thẳng, suốt ngày
không trở lại nữa vì Sáclơ, đi đâu về, cũng tự mình dắt ngựa vào chuồng, tháo
yên ra và buộc dây, còn người hầu gái thì mang từng bó rơm ném vào tầu cỏ tùy
theo sức lực của mình.
Để thay Naxtazi (chị này rút cục đã phải rời Tôxtơ, nước mắt
như mưa), Emma mướn một con bé mười bốn tuổi, mồ côi cha mẹ, vẻ mặt dịu dàng.
Nàng cấm nó đội mũ sợi, dạy nó cách thưa gửi có lễ độ, cách đặt cốc nước vào
đĩa mà bưng tới, cách gõ cửa trước khi vào, và cách là áo, hồ áo, mặc áo cho bà
chủ, nàng muốn biến nó thành một người hầu phòng của mình. Cô hầu gái mới lẳng
lặng phục tòng để khỏi bị đuổi, và Fêlixitê, cứ tối đến, lại lấy vụng một dúm
đường, chờ lúc một mình nằm giường, sau khi đã cầu kinh, mới ăn vì bà chủ thường
để lại chìa khóa ở tủ ăn. Đôi khi, buổi chiều, Fêlixitê còn ra trước cửa trò
chuyện với những người xà ích vào thời gian bà chủ ở trên gác, trong phòng
riêng của mình.
Emma vận một chiếc áo dài mặc trong nhà mở phanh ngực để lộ,
giữa khoảng hai ve áo lót mình, một chiếc sơ mi cụt tay chiết li đính ba khuy
vàng. Chiếc thắt lưng của nàng là một chiếc dây tơ có quả tua lớn và đôi hài nhỏ
của nàng mầu hoa lựu có một túm băng rộng xòa trên cổ chân. Emma đã sắm cho
mình một bàn thẩm, một hộp đựng giấy, một quản bút và một ít phong bì, tuy rằng
nàng chẳng có ai để mà viết thư; nàng phủi bụi cái giá sách, ngắm mình trong
gương, lấy một cuốn sách, rồi giữa chừng, nàng mơ màng để rơi sách xuống đầu gối.
Nàng thèm muốn được đi du lịch hoặc trở lại sống trong tu viện. Nàng vừa mong
chết đi, vừa mong lên ở Pari.
Còn Sáclơ dãi tuyết dầm mưa, quần ngựa trên những đường ngang
lối tắt. Hắn ăn trứng tráng tại các thôn trang, thò tay vào những chiếc giường ẩm
thấp hứng những tia máu nóng chích từ bệnh nhân vọt vào mặt, lắng nghe những
hơi thở khò khè, xem xét những chậu uế vật, tay vén áo quần bẩn thỉu, nhưng, tối
đến, hắn lại thấy lửa lò cháy rực, cơm dọn sẵn sàng, đồ đạc tiện dùng, một người
vợ trang phục toàn quần áo mỏng, có một thân hình xinh đẹp ngát hương, thứ
hương thơm mát mà hắn chẳng biết từ đâu tỏa ra, từ da dẻ nàng hay từ chiếc áo
lót của nàng.
Nàng mê hoặc hắn lắm cách tinh vi; khi là một kiểu cắt giấy mới
làm đài hứng nến chảy, lúc là một đường viền bằng đăng ten tô điểm thêm chiếc
áo dài, hoặc cái tên kỳ lạ đặt cho một món ăn rất đơn giản mà người hầu gái nấu
hỏng, nhưng Sáclơ lại khoái chí ngốn đến cùng. Nàng thấy ở Ruăng có những bà
đeo vào dây đồng hồ một mớ trang sức tầm thường, nàng bèn mua những thứ ấy.
Nàng muốn bầy trên mặt lò sưởi hai chiếc bình lớn bằng thủy tinh màu xanh lơ,
và ít lâu sau nữa, một cái hộp bằng ngà với một cái nhẫn khâu bằng bạc. Càng hiểu
những thứ lịch sử ấy ít, Sáclơ càng bị chúng quyến rũ nhiều. Những thứ ấy đã
tăng thêm một cái gì vào khoái cảm của hắn và vào hoàn cảnh êm đềm của gia đình
hắn. Đó dường như một thứ bụi hoàng kim rắc suốt trên con đường đời nhỏ bé của
hắn.
Hắn khỏe mạnh, hồng hào: Hắn đã tạo cho hắn được một tiếng
tăm hoàn toàn ổn định. Dân quê quý mến hắn vì hắn không kiêu kỳ. Hắn vuốt ve trẻ
em, hắn không bao giờ vào quán rượu và hơn nữa, hắn gây được tín nhiệm qua phẩm
hạnh của hắn. Hắn đặc biệt mát tay trong những bệnh viêm mũi và bệnh viêm phổi.
Rất sợ làm thiệt mạng con bệnh. Sáclơ quả tình chỉ kê vào đơn thuốc những liều
thuốc giảm đau, họa hoằn hắn mới cho uống thuốc nôn mửa, cho ngâm chân hoặc cho
đỉa hút máu. Chẳng phải hắn sợ mổ xẻ đâu; hắn chích máu người ta nhiều như
chích máu ngựa, và hắn có bàn tay quỷ sứ trong khoa nhổ răng.
Sau cùng, để theo sát cái mới, hắn mua dài hạn tờ Tổ ong
Y học, một tờ báo mới mà hắn đã nhận được giấy cổ động. Cơm tối xong, hắn
mới xem một chút nhưng vì căn phòng ấm áp, cộng thêm cái bụng no cần phải tiêu
hóa, hắn chỉ năm phút sau đã ngủ rồi; thế là hắn ngồi đó, cằm tì vào hai bàn
tay, tóc xõa ra như cái bờm ngựa xuống tận chân đèn. Emma nhún vai nhìn hắn. Chẳng
thà chồng nàng ít ra cũng là một trong những người đàn ông đầy nhiệt tình lặng
lẽ, đêm đêm cặm cụi giữa đống sách vở, rồi cuối cùng, đến tuổi sáu mươi, cái tuổi
tê thấp, được đeo tấm huân chương trên trước áo đen cắt vụng. Nàng những muốn
cái tên Bôvary là tên nàng đây phải được vẻ vang, được trưng bày trong các hiệu
sách, được nhắc đi nhắc lại trong báo chí, được cả nước Pháp biết đến. Thế mà ở
Sáclơ chẳng có chút tham vọng nào! Một thầy thuốc ở Yvơtô, mà gần đây hắn cùng
hội chẩn, đã làm nhục hắn phần nào, ngay bên giường bệnh nhân, trước mặt đông đủ
họ hàng người đó. Vào một buổi tối, khi Sáclơ kể lại cho nàng câu chuyện ấy,
Emma đùng đùng nổi giận đối với gã đồng nghiệp của hắn. Sáclơ cảm động. Hắn hôn
nàng vào trán với một giọt lệ. Nhưng nàng điên người vì xấu hổ, nàng muốn đánh
đập hắn, nàng ra hiên mở cửa sổ, hít lấy khí trời mát mẻ để nguôi đi.
- Người đâu mà hèn đến thế! Người đâu mà hèn đến thế! Nàng cắn
môi tự nhủ thầm.
Vả lại, nàng cảm thấy rất bực mình với hắn. Theo tuổi tác
tăng lên, hắn đã có những cử chỉ thô lỗ: lúc ăn tráng miệng, hắn tẩn mẩn ngồi cắt
nút những chai không: khi ăn xong, hắn đưa lưỡi liếm răng. Hắn húp xúp xùm xụp,
và, vì người hắn bắt đầu phát phì, đôi mắt hắn, vốn đã nhỏ, cứ như hướng ngược
lên phía thái dương bởi gò má phị.
Đôi khi, Emma phải nhét cái nẹp đỏ của áo nịt vào trong áo
gilê, phải sửa lại cavát của hắn cho ngay ngắn, hoặc phải vứt bỏ những đôi găng
tay đã bạc mầu mà hắn toan lồng vào. Nàng làm như thế chẳng phải là vì hắn, như
hắn tưởng, mà chính là vì nàng, vì lòng vị kỷ lan tràn, vì cảm giác khó chịu
kích thích. Thỉnh thoảng, nàng cũng kể với hắn về những cái nàng đã đọc, như về
một đoạn tiểu thuyết, một vở kịch mới hay một mẩu chuyện thuộc giới thượng lưu
mà người ta thuật lại trong mục tiểu phẩm báo chí hàng ngày vì, dù sao, Sáclơ
cũng là con người, một cái tai luôn luôn mở rộng, một lời tán thưởng sẵn sàng.
Nàng thường tâm sự với con chó săn cái của nàng còn được nữa là! Nàng thường
tâm sự cả với những thanh củi trong lò sưởi và với chiếc quả lắc đồng hồ.
Tuy nhiên, trong thâm tâm, nàng chờ đợi biến cố. Cũng như những
thủy thủ lâm nguy, nàng đưa cặp mắt tuyệt vọng nhìn quanh cuộc đời cô đơn của
mình, tìm kiếm ở phương xa một cánh buồm trắng nào đó tận chân trời mù mịt.
Nàng chẳng biết, may rủi ra sao, cơn gió nào sẽ đẩy cánh buồm tới nàng, nó dẫn
nàng đến bến nào nếu có là con tầu nhỏ hay chiếc tầu lớn ba boong, chất đầy lo
âu hay chứa chan hạnh phúc đến tận cửa sổ mạn tầu. Nhưng mỗi buổi sáng, khi thức
giấc, nàng hy vọng cái may rủi tới ngay ngày hôm đó và nàng lắng tai nghe mọi
tiếng động, nàng giật mình chồm dậy, ngạc nhiên là nó chẳng tới; rồi, lúc hoàng
hôn, nàng thấy buồn hơn, nàng mong đến ngày mai.
Tiết xuân trở lại. Gặp nắng mới, khi hoa lê nở, nàng thấy tức
thở.
Vừa vào tháng bảy, nàng đã đếm trên đầu ngón tay xem còn bao
nhiêu tuần nữa thì đến tháng mười, với ý nghĩ có lẽ hầu tước Đăngđécviliê sẽ mở
cuộc vũ hội tại Vôbyétxa. Nhưng cả tháng chín trôi qua mà thư từ cũng như khách
khứa
chẳng có.
Sau nỗi chán nản vì thất vọng ấy, lòng nàng lại trở nên trống
rỗng và, từ đó, chuỗi ngày vô vị lại bắt đầu.
Những ngày ấy, giờ đây, cứ nối đuôi nhau trôi qua, hôm nào
cũng vậy, nhiều vô kể, và chẳng đem lại cái gì cả! Những cuộc sống khác, dù tẻ
nhạt đến đâu, ít ra cũng còn có cơ hội cho một biến cố. Một chuyện bất kỳ xảy tới
có khi dẫu không biết bao nhiêu diễn biến, và cảnh trí đổi thay. Nhưng đối với
nàng chẳng có gì xảy tới cả, trời đã muốn vậy! Tương lai là một hành lang đen
ngòm mà cuối cùng là chiếc cửa bưng kín.
Nàng bỏ âm nhạc. Đàn địch làm gì? Ai nghe? Vì chưa bao giờ,
trong một cuộc hòa nhạc, nàng được vận áo dài nhung tay ngắn, lấy ngón tay nhẹ
nhàng gõ các phím ngà trên chiếc đàn pianô kiểu Êra, chưa bao giờ nàng được
nghe những tiếng rì rầm khoan khoái nổi lên quanh nàng tựa làn gió thoảng, như
thế thì tội gì nàng phải khổ công học tập. Nàng vất vào tủ tất cả các tấm bìa vẽ
và các bức thảm thêu. Để làm gì? Để làm gì? Việc vá may làm cho nàng sinh bực.
- Sách nào mình cũng đọc cả rồi, nàng tự nhủ.
Thế là nàng ngồi nung đỏ chiếc kẹp chở than hoặc nhìn hạt mưa
rơi.
Ngày chủ nhật nàng buồn biết mấy khi giờ kinh chiều gióng giở!
Nàng trở thành ngây dại, nàng lắng tai nghe chăm chú tiếng chuông rè vang dội.
Mèo nhà ai đi đủng đỉnh trên mái nhà, uốn cong lưng dưới tia nắng nhạt. Gió thổi
thành từng đợt bụi dài trên đường cái quan. Xa xa, đôi lúc có tiếng chó sủa. Và
tiếng chuông, đều đặn, tiếp tục ngân nga buồn tẻ và mất hút trên đường ruộng.
Bấy giờ người ta ở nhà thờ ra. Những bà phụ nữ đi guốc sơn
bóng, những người nông dân vận áo bludơ mới tinh, lũ trẻ con đầu trần nhảy nhót
trước họ, ai nấy trở về nhà. Và đến tận tối, năm sáu người đàn ông, vẫn những
người ấy thôi, còn ở lại chơi ném nút chai trước cửa lớn quán cơm.
Mùa đông buốt lạnh. Các cửa kính, sáng nào, cũng đầy sương
giá và ánh sáng trắng nhợt lọt qua, như những tấm kính mờ, đôi khi cả ngày
không thay đổi. Mới bốn giờ chiều, đã phải thắp đèn.
Những ngày đẹp trời, nàng xuống vườn chơi. Sương đêm đọng
trên bắp cải thành những dải đăng ten bạc với những sợi dài trong suốt dăng từ
bắp này sang bắp khác. Người ta không nghe thấy tiếng chim kêu, tất cả đều như
yên ngủ, từ giàn cây ăn quả phủ rơm bên tường đến dây nho như con rắn to ốm khặc
khừ dưới mái tường, ở đó, nhìn gần, người ta thấy những con mọt đất nhiều chân
đang chầm chậm bò. Giữa khóm tùng, gần bờ giậu, tượng vị linh mục, đội mũ ba
múi đọc kinh, đã gẫy mất chân phải, và thậm chí thạch cao đã bị sương muối tróc
từng mảng gây nên những nốt trắng trên mặt ngài.
Rồi nàng lại lên gác, đóng cửa, cời than, và thẫn thờ trước
hơi nóng của bếp lò, nàng cảm thấy nỗi buồn càng nặng trĩu đè xuống thân mình.
Nàng cũng muốn trò chuyện với người hầu gái nhưng nàng mắc cỡ nên lại thôi.
Ngày nào cũng vậy, cứ đúng giờ này, ông giáo đội mũ lụa thâm
mở liếp cửa nhà ông, và gã tuần phiên đi qua, gươm đeo áp áo ngoài. Sáng và chiều,
ngựa trạm, ba con một, chạy xuyên qua đường phố để ra đầm uống nước. Thỉnh thoảng,
ở cánh cửa quán rượu lại vang lên tiếng chuông gọi, và khi có gió thổi, người
ta nghe thấy cả mấy chiếc chậu thau nhỏ của bác thợ cạo dùng làm biển hàng kêu
ken két trên hai thanh sắt. Trang trí cửa hiệu là một bức ảnh cũ về các kiểu
may mặc dán vào mặt kính và, một bức tượng bán thân phụ nữ tóc vàng bằng sáp.
Ngay bác thợ cạo cũng than phiền về chí hướng của bác không đạt, tương lai bác
mù mịt. Bác vừa mơ ước một cửa hiệu nào đó tại một thành phố lớn như ở Ruăng chẳng
hạn, bên bến cảng, gần rạp hát, vừa suốt ngày đi rong phố để kiếm khách, từ thị
sảnh đến nhà thờ, với một vẻ mặt rầu rầu. Khi ngước mắt lên, bà Bôvary bao giờ
cũng thấy bác ta ở đó, như một người lính gác đang phiên, với chiếc mũ trùm đầu
kiểu Hy Lạp trên tai và chiếc áo vét bằng vải
len bóng.
Buổi chiều, đôi khi có một người đàn ông thò đầu sau tấm kính
căn phòng, mặt rám nắng, râu quai nón đen, khoan thai cười nụ, một nụ cười rộng
rãi hiền lành, để lộ hàm răng trắng. Liền ngay sau đó, một điệu vanxơ bắt đầu,
và trên chiếc đàn oóc trong một phòng khách nhỏ hiện ra những hình người nhảy
cao bằng ngón tay, đàn bà vấn khăn hồng, dân miền Tyrôn mặc áo dài đến đầu gối,
khi vận áo choàng đen, những ông mặc quần đùi, tất cả đều quay, quay giữa khoảng
những chiếc ghế bành, chiếc ghế trường kỷ, chiếc bàn chân quỳ. Hình ảnh họ lặp
lại trong những mảnh gương và các góc chắp nối với nhau bằng một mảnh giấy
trang kim. Người đó vừa quay cái tay quay, vừa nhìn sang phải, sang trái hướng
về phía các cửa sổ. Thỉnh thoảng anh ta lại nhổ một tia dài nước bọt nâu vào
cái cột trên đường, đồng thời anh ta lấy đầu gối xốc đàn lên vì quai đeo cứng
làm anh ta mỏi vai; và âm thanh từ trong chiếc hòm, khi ảo não lê thê, lúc vui
vẻ đổ hồi, vo vo thoát ra qua một lượt vải mỏng màu hồng, dưới một hàng chấn
song đồng trang trí bằng những chữ, những đường nét, những hoa lá lồng vào nhau
theo kiểu Ả Rập. Đấy là những điệu nhạc được người ta hòa ở nơi khác, trên các
sân khấu, người ta ca hát trong các phòng khách, người ta nhảy đêm đêm dưới
nhũng ngọn đèn treo thắp sáng. Đấy là những tiếng vọng của cái xã hội thượng
lưu vọng tới Emma. Những cuộc khiêu vũ dài vô tận diễn ra trong đầu óc nàng, và
như một vũ nữ trên tấm thảm hoa, ý nghĩ của nàng nhảy theo các cung đàn, đu đưa
từ mộng này sang mộng khác, từ buồng nọ đến buồng kia. Khi đã nhận được tiền bố
thí vào cái mũ lưỡi trai của mình, người chơi đàn oóc bèn gấp chiếc chăn len
xanh cũ lại vác đàn lên lưng, rồi nặng nề cất chân bước. Nàng nhìn anh ta đi.
Nhưng nhất là vào những giờ ăn, người nàng mệt lử trong cái
buồng nhỏ ở tầng dưới nhà, với cái lò sưởi bốc khói, cái cửa kèn kẹt, những bức
tường rỉ nước, những viên đá lát nền ẩm ướt. Nàng tưởng bao nỗi cay đắng của một
kiếp người là được phơi bầy trên đĩa ăn của nàng qua làn khói thịt hầm, những
làn khói vô vị khác dường như bốc lên từ đáy tâm hồn nàng. Sáclơ ăn uống rất chậm;
nàng nhấm một vài hạt dẻ hoặc, tì khuỷu tay xuống bàn, nàng tinh nghịch lấy mũi
dao rạch tấm vải sơn.
Bây giờ, nàng bỏ mặc việc cửa việc nhà. Bà Bôvary mẹ, khi
sang Tôxtơ chơi ít bữa trong tuần chay, rất đỗi ngạc nhiên về sự thay đổi ấy.
Mà thực vậy, trước kia nàng chu đáo và tế nhị đến thế, thì hiện nay cả ngày
nàng chẳng buồn sửa sang quần áo, nàng đi tất sợi màu xám, suốt đêm chong nến
thay đèn. Nàng luôn miệng nói phải tằn tiện vì vợ chồng nàng chẳng giàu có gì,
nàng rất thỏa mãn, rất sung sướng, rất thích vùng Tôxtơ và nàng tung ra nhiều
điều lạ tai khác nhằm bịt miệng mẹ chồng lại. Vả chăng, Emma ra chiều không muốn
nghe theo những lời khuyên giải của bà ta nữa; thậm chí một lần bà Bôvary mẹ cả
gan đòi hỏi hai vị chủ nhà phải chú ý đến tín ngưỡng của kẻ hầu người hạ mới được,
thì nàng đã đáp lại bà ta bằng con mắt giận giữ và nụ cười lạnh nhạt đến nỗi bà
già cạch không dám động đến việc đó nữa.
Emma sinh khó tính, bất thường. Nàng bảo làm những món ăn
riêng cho mình mà chẳng đụng gì đến cả, có ngày chỉ uống sữa suông, và hôm sau,
lại uống liền trên chục chén trà. Thường thường, nàng khăng khăng một mực chẳng
chịu đi đâu và nàng cảm thấy ngột ngạt, nàng mở cửa sổ, nàng mặc áo dài mỏng
manh. Nàng gắt gỏng người hầu gái chán rồi nàng lại cho nó quà hoặc cho nó sang
nhà hàng xóm chơi, cũng như khi nàng ném cho người nghèo khó tất cả những đồng
hào trắng trong túi tuy nàng chẳng có chút tình thương người, chẳng dễ dàng hiểu
được tình cảm của người khác, nàng giống như đa số trẻ gốc gác thôn quê giữ mãi
trong tâm hồn chút gì chai cứng của bàn tay cha mẹ.
Khoảng cuối tháng hai, lão Ruôn, nhớ tới chân mình đã được chữa
khỏi, tự tay mang đến cho con rể một con gà mái tây tuyệt đẹp, và lão ở lại
Tôxtơ ba ngày; Sáclơ đi chữa bệnh vắng, Emma tiếp bố. Lão hút thuốc trong buồng,
khạc nhổ lên giá để củi ở lò sưởi, nói chuyện trồng trọt, chuyện bê, bò, gà, vịt
và hội đồng hàng xã đến nỗi khi lão vừa đi khỏi là nàng đóng chặt cửa lại với một
cảm giác thoải mái mà chính nàng cũng phải ngạc nhiên. Vả lại, nàng cũng chẳng
che giấu lòng khinh rẻ của nàng đối với bất cứ cái gì, đối với bất cứ ai; đôi
khi nàng phát biểu lắm ý kiến lạ lùng, chê bai cái người ta tán thành, và tán
thành những chuyện đồi bại vô luân, làm cho chồng nàng vô cùng sửng sốt.
Phải chăng nỗi khốn khổ này còn kéo dài mãi? Phải chăng nàng
không thoát ra khỏi được cảnh ấy? Mà nàng có kém gì tất cả những người phụ nữ
đang sống sung sướng! Nàng đã từng thấy ở Vôbyétxa những bà công tước thân hình
nặng nề hơn và cung cách tầm thường hơn, thế là nàng cảm thấy ông trời bất
công; nàng gục đầu vào tường khóc; nàng thèm muốn những cuộc sống sôi nổi, những
đêm khiêu vũ hóa trang, những lạc thú thô bạo với mọi cuồng loạn phải có mà
nàng không biết.
Người nàng trở nên xanh xao và tim nàng đập mạnh. Sáclơ cho
nàng uống biệt thảo và tắm bằng dầu long não. Tất cả những thứ dùng để cố chữa
cho nàng thì hình như càng làm cho nàng khó chịu hơn. Có những ngày, nàng lảm
nhảm nhiều quá đến sốt ruột, rồi tiếp theo đó nàng sống trong tình trạng thẫn
thờ, ngơ ngẩn, chẳng nói chẳng rằng, chẳng buồn cử động. Lúc bấy giờ, muốn cho
nàng tỉnh lại, phải vẩy chan hòa một lọ nước hoa vào cánh tay nàng.
Thấy nàng luôn luôn phàn nàn về Tôxtơ, Sáclơ tưởng nàng ốm
đau chắc là do một ảnh hưởng nào đó của địa phương, hắn bám vào ý nghĩ ấy, hắn
thực sự tính đến việc sinh cơ lập nghiệp ở nơi khác.
Từ đó, nàng uống dấm thanh cho gầy người đi, nàng bị ho khan
và ăn uống chẳng còn ngon miệng.
Phải rời bỏ Tôxtơ là nỗi khổ tâm của Sáclơ, sau bốn năm trời
hắn sống yên ổn tại chốn này và vào lúc hắn bắt đầu có vai vế ở đây. Song, nếu
cần thì cũng phải đi! Hắn đưa nàng lên Ruăng tìm ông thầy cũ. Thì ra bệnh nàng
là bệnh thần kinh; phải cho nàng thay đổi khí hậu.
Sau khi đã chạy ngược chạy xuôi, Sáclơ biết rằng, trong quận
Nớpsaten, có một thị trấn lớn tên là Yôngvin Labay, ở đấy có một người thầy thuốc
Ba Lan lánh nạn vừa mới tháo lui tuần trước. Hắn bèn viết thư cho một dược sĩ địa
phương để biết dân số nơi này là bao nhiêu, chỗ ở của bạn đồng nghiệp cách đấy
bao xa, hàng năm người thầy thuốc cũ kiếm được chừng nào,...; rồi nhận được tin
trả lời đúng ý nguyện, hắn quyết định sẽ dọn nhà vào mùa xuân, nếu sức khỏe của
Emma không khá lên.
Vào một bữa chuẩn bị ngày đi, nàng dọn dẹp ngăn kéo, nàng đã
bị một vật gì đâm vào ngón tay. Đó là sợi dây thép ở bó hoa cưới của nàng. Những
nụ hoa cam đã vàng ố vì bụi, và các dải sa tanh viền bạc đã xơ xác đường viền.
Nàng quẳng bó hoa vào đống lửa. Hoa bốc cháy nhanh hơn rơm khô. Rồi nó như một
búi lửa đỏ tàn dần trên đống tro. Nàng nhìn nó cháy. Những quả nhỏ bằng bìa vỡ
tung ra, những sợi đồng chuốt quăn queo lại, cái dải vàng tiêu tan đi; và những
cánh hoa giấy, khô xác lại, đu đưa trên tấm sắt nhỏ, như những con bướm đen, rồi
cuối cùng bay trong lò sưởi.
Tháng ba, khi hai vợ chồng từ Tôxtơ ra đi, bà Bôvary có mang.
Phần Thứ Hai
Chương 1
Yôngvin - Labay (tên đặt thế vì ở đó có một tu viện cũ dòng
Capuyxanh mà ngày nay di tích cũng chẳng còn nữa) là một thị trấn nhỏ cách tỉnh
Ruăng tám dặm, giữa con đường đi Abơvin và Bôve, nằm dưới đáy một thung lũng có
sông Riơn chảy qua, một con sông nhỏ chảy vào sông Ăngđen sau khi làm quay ba
chiếc cối xay phía cửa sông có ít cá hương mà, ngày chủ nhật, bọn trai thường đến
câu chơi.
Tới Boaxie, người ta rời con đường cái lớn rồi đi tiếp tục
theo đường bằng đến tận đình dốc Lơ. Từ đấy, cảnh thung lũng mới lộ ra. Con
sông chảy qua chia nó ra thành hai vùng có hai bộ mặt khác biệt: tất cả vùng
bên trái là vùng cỏ, tất cả vùng bên phải là đất cày. Đồng cỏ chạy dài dưới một
vành đồi thấp, giao tiếp về phía sau với đồng cỏ của xứ Bray, còn đất cày vươn
lên nhè nhẹ, mở rộng dần dần rồi trải ra bát ngát những thửa ruộng lúa mì vàng
hoe. Nước chảy lên bờ cỏ thành một đường vạch trắng ngăn màu đồng cỏ với màu luống
cày do đó đồng quê giống như một chiếc áo choàng lớn mở rộng có cổ nhung xanh
lá cây viền vải bạc.
Khi người ta đi tới cuối chân trời thì thấy trước mặt là những
cây sồi thuộc vùng Ácgơi với những bờ dốc dựng đứng của đèo Xanh Jăng có những
vệt cỏ dài, to nhỏ không đều, rạch đường từ cao xuống thấp; đó là những vệt nước
mưa để lại và những đường lát màu gạch nổi bật lên trên màu xám của núi do những
nguồn nước có chất sắt chảy qua đó ra vùng xung quanh.
Đây là chỗ giáp giới của xứ Noócmăngđi, xứ Picácdi và xứ Ilơ
đơ Frăngxơ, một vùng pha tạp mà ở đó ngôn ngữ không có trọng âm cũng như cảnh vật
không có đặc tính. Chính ở đó người ta sản xuất thứ phó mát Nớpsaten tồi nhất của
toàn quận và trồng trọt rất phí tổn vì phải mất nhiều phân để bón những đất xốp
đầy cát sỏi.
Mãi đến năm 1835, vẫn chẳng có đường cái khả dĩ đi được tới
Yôngvin; nhưng vào thời đó người ta đã đắp con đường liên xã nối con đường đi
Abơvin với con đường đi Amiêng, đôi khi phục vụ xe cộ chở hàng từ Ruăng tới
Flăngđrơ. Tuy nhiên, thị trấn Yôngvin-Labay vẫn không thịnh vượng lên được mặc
dầu có thêm những con đường mới tiêu thụ hàng hóa. Đáng lẽ phải cải tiến trồng
trọt, dân cư lại cứ khư khư bám vào đồng cỏ dù đồng cỏ đã mất giá, và cái thị
trấn lười biếng ấy cứ xa rời đồng ruộng, tự phát mở rộng về phía con sông con.
Từ xa, người ta đã thấy nó nằm dọc theo bờ sông như người chăn bò đánh giấc ngủ
trưa bên dòng nước.
Dưới chân dốc, sau cái cầu là bắt đầu một con đường cao trồng
liễu hoàn diệp non dẫn khách thẳng tới những ngôi nhà đầu tiên của địa phương.
Những ngôi nhà này có rào vây quanh, ở giữa sân là những căn nhà phụ, xưởng ép
nho, chỗ để xe bò, nơi nấu rượu mạnh, rải rác dưới những lùm cây um tùm với
thang, sào, liềm treo trên cành. Những mái tranh, như những mũ trùm bằng lông
thú chụp xuống tận mắt, chúc xuống gần một phần ba các cửa sổ thấp lắp kính to
lồi có mắt ở giữa theo kiểu trôn chai. Trên bức tường thạch cao mà những chiếc
rèm đan chéo nhau, một cây lê nào đó, đôi khi, còn bám vào, và, ở cửa ra vào từng
dưới nhà, có một cái rào nhỏ quây để ngăn gà con đến tận thềm mổ những vụn bánh
mì hẩm tẩm rượu táo. Nhưng rồi các sân hẹp dần, nhà ở xích lại gần nhau, hàng
rào biến mất; một bó lá đuôi chồn đu đưa ở đầu cán chổi dưới một cửa sổ, lò rèn
của thợ đóng móng ngựa, tiếp đến cửa hàng của thợ đóng xe bò với hai ba chiếc mới
để ngoài cửa, lấn ra đường cái. Rồi, qua một rào song, hiện ra một ngôi nhà trắng
phía sau một bãi cỏ xanh tròn trang trí bằng một tượng thần Ái Tình, ngón tay đặt
lên miệng; hai chiếc bình gang đặt ở hai đầu bậc tam cấp; những tấm biển lóng
lánh ở cổng. Đó là nhà viên quản lý văn khế, một ngôi nhà đẹp nhất vùng.
Nhà thờ ở phía bên kia phố, cách đó hai mươi bước, ngay lối
vào bãi. Cái nghĩa địa nhỏ vây quanh nhà thờ, có tường kín cao vừa tầm người chứa
quá nhiều mộ đến nỗi những tảng đá cũ sát mặt đất đã trở thành một nền lát liên
tục ở đó cỏ mọc ra tự vẽ thành những hình vuông xanh đều đặn. Nhà thờ được xây
lại mới tinh vào khoảng những năm cuối triều đại Sáclơ X. Nay vòm cửa bằng gỗ
đã bắt đầu mục ở phía trên, và từ chỗ này qua chỗ khác, đã có những vết lõm đen
giữa màu xanh lơ. Khoảng trên cửa ra vào đáng lẽ là nơi để đàn oóc thì lại dựng
một giảng đài cho nam giới với một cầu thang xoáy vang động dưới những đôi giày
guốc.
Ánh sáng ban ngày, lọt qua các tấm kính màu rất bằng phẳng,
chiếu chếch xuống những chiếc ghế dài xếp ngang bức tường dày chỗ có nệm rơm
đóng đinh dưới ghế bằng chữ to: "Ghế của ông Mỗ". Xa hơn nữa, chỗ
gian nhà thờ thu hẹp lại, là phòng xưng tội tiếp liền với một bức tượng nhỏ Đức
Mẹ vận áo sa tanh dài, trùm trên đầu chiếc khăn tuyn điểm sao bạc, có đôi gò má
đỏ ửng như một tượng thần ở đảo Xanuých; sau đến một bản sao bức tranh Thánh
tộc, do ông Bộ trưởng Bộ nội vụ tặng đặt cao trên bàn thờ giữa bốn cây đèn
nến, kết thúc phần cuối viễn cảnh. Những chiếc ghế gỗ tùng của đội đồng ca đặt ở
nơi hát kinh vẫn để mộc.
Chợ, tức là một mái ngói được chống bằng hai chục chiếc cột,
chiếm riêng khoảng nửa quảng trường Yôngvin. Tòa thị chính, xây dựng theo mẫu vẽ
của một kiến trúc sư ở Pari, là một kiểu đền Hy Lạp đứng thẳng góc với ngôi nhà
của tay dược sĩ ở bên cạnh. Tầng dưới có ba cột kiểu xứ Iôni xa xưa, tầng trên
có nhà cầu hình bán nguyệt, giữa nóc có một con gà trống Gôloa, một chân đặt
trên bản hiến pháp, một chân giữ cán cân công lý.
Nhưng cái đập vào mắt người ta hơn cả là hiệu bào chế của ông
Hôme ở phía trước mặt quán cơm Sư Tử Vàng! Nhất là buổi tối, khi
đèn trong hiệu được thắp lên và những bình thủy tinh xanh đỏ trang trí trước cửa
rọi xa trên mặt đất hai luồng ánh sáng mầu, qua đó như qua làn pháo hoa, bóng
người dược sĩ chống khuỷu tay lên bàn giấy liền thấp thoáng. Nhà y, từ trên xuống
dưới, la liệt các bản yết thị bằng chữ ngả, chữ rông, chữ in: "nước suối
Visy, Xen và Baregiơ, nước trái cây lọc huyết, thuốc Raxpay, bột ăn Ả Rập, kẹo
thơm Đácxê, thuốc mỡ Rơnôn băng cuốn, thuốc xông, Sôcôla bổ lực...". Và tấm
biển hàng, chiếm hết chiều ngang cửa hiệu mang tên: Hôme, dược sĩ bằng
chữ vàng. Rồi, phía trong cùng cửa hàng, đằng sau những chiếc cân lớn gắn chặt
trên quầy, hàng chữ Phòng thí nghiệm phô bày bên trên một cửa kính ra
vào và, ở nửa chừng chiều cao cửa đó, còn lắp lại một lần nữa cái tên Hôme bằng
chữ vàng trên nền đen.
Chẳng còn gì mà xem tiếp ở Yôngvin. Phố xá (chỉ có một thôi),
dài vừa tầm đạn súng trường và có vài cửa hàng ở hai bên, đứng sững lại ở chỗ
ngoặt. Nếu rời nó về phía tay phải theo chân dốc Xanh Jăng, người ta chẳng mấy
chốc đi tới nghĩa địa.
Hồi có dịch tả, để mở rộng nghĩa địa, người ta đã hạ một bức
tường và mua non ba mẫu đất ở bên cạnh, nhưng cả khu đất này hầu như vẫn bỏ
hoang vì các ngôi mộ, như xưa, cứ tiếp tục chen chúc ở ngay phía cửa ra vào.
Người canh nghĩa địa, vừa là phu đào huyệt vừa là bõ nhà thờ (anh ta do đó đã
rút mối lợi đôi bề từ các thây ma của giáo khu), đã lợi dụng khoảng đất trống để
trồng khoai tây. Nhưng hết năm này đến năm khác, mảnh ruộng của anh ta cứ thu hẹp
lại, và khi xảy ra một bệnh dịch, anh ta chẳng biết nên mừng vì cảnh tử vong
hay nên phiền vì những phần mộ. Cuối cùng, ông linh mục, một hôm, hỏi anh ta:
- Anh nuôi mình bằng người chết đấy, Lêtibuđoa!
Lời nói bi thảm ấy làm cho anh ta nghĩ ngợi; nó làm cho anh
ta ngừng hoạt động một thời gian; nhưng, hiện giờ, anh ta vẫn tiếp tục trồng
khoai và lại còn nói thẳng thừng là những củ khoai đó tự nhiên nó mọc lên.
Từ khi xảy ra những biến cố kể dưới đây, thực ra chẳng có gì
thay đổi ở Yôngvin. Lá cờ tam tài bằng sắt tây vẫn quay trên đỉnh gác chuông
nhà thờ; hai dải vải hoa của cửa hàng bán đồ trang phục phụ nữ vẫn phấp phới
trước gió; những cái bào thai cửa hiệu bào chế, giống như mấy bó bùi nhùi trắng,
càng ngày càng rữa ra trong rượu ngâm vẩn đục, và, phía trên cửa lớn quán ăn,
con sư tử vàng cũ kỹ, đã phai màu vì những trận mưa, cứ phô ra mãi trước khách
qua đường bộ lông xù của nó.
Cái buổi tối, hôm vợ chồng Bôvary phải tới Yôngvin, mụ góa
Lơfrăngxoa, chủ quán ăn, bận túi bụi, đến nỗi mồ hôi trên người mụ nhỏ giọt khi
mụ nấu ăn. Hôm sau là ngày phiên chợ của thị trấn. Phải chặt thịt, mổ gà, nấu
xúp, pha cà phê trước. Hơn nữa, mụ còn phải làm cơm cho khách trọ, cho vợ chồng
người thầy thuốc và cô hầu gái; nơi đánh bi a vang tiếng cười ba tay chủ máy
xay bột, trong phòng nhỏ, gọi lấy rượu mạnh; củi rực cháy, than hồng nổ, và,
trên chiếc bàn dài nhà bếp, trong những đống thịt cừu sống, những chồng đĩa
rung lên theo sự chuyển động của cái thớt khi người ta băm rau balăng. Ngoài
sân, người ta nghe thấy tiếng gà vịt kêu vì đang bị cô đầy tớ gái đuổi bắt để cắt
tiết.
Một người đàn ông, mặt lấm tấm rỗ, đi đôi dép da xanh mềm và
đội một chiếc mũ trùm bằng nhung đính quả tua vàng, đang sưởi lưng trước lò sưởi.
Mặt chẳng biểu thị gì khác ngoài niềm vui của mình cũng có vẻ bình thản trong
cuộc sống như con chim vàng anh trong lồng mây treo trên đầu y: đó là tay dược
sĩ.
- Áctêmijơ! Mụ chủ quán thét to, mày hãy chở lấy ít củi vụn,
đổ nước vào các bình, mang rượu mạnh ra, nhanh tay lên! Ít ra, giá tôi biết được
nên dọn món ăn tráng miệng gì cho nhóm khách mà ông đang đợi! Trời! Mấy tướng dọn
nhà lại bắt đầu làm ầm ĩ trong phòng bi a! Xe bò của họ sao lại cứ để dưới cổng?
Chiếc xe Con én mà đến là nó đâm vỡ mất thôi! Mày gọi thằng Pôlyt bảo
nó đẩy xe bò vào nhà xe!... Từ sáng đến giờ, ông Hôme ạ, dễ họ đánh đến mười
lăm ván và uống đến tám bình rượu táo!... Họ sắp làm rách cái thảm của tôi ra mất
thôi - mụ vừa đứng xa nhìn họ vừa nói tiếp, tay mụ vẫn cầm cái môi hớt váng.
Ông Hôme đáp:
- Chẳng hại gì lắm đâu, bà sẽ mua cái khác.
Người đàn bà góa la lên:
- Mua bàn bi a khác à!
- Vì bàn này không hợp nữa bà Lơfrăngxoa ạ, tôi xin nhắc lại
để bà biết là bà tự làm thiệt mình! Bà tự làm thiệt mình to đấy! Mà những tay
chơi bi a, hiện nay, lại muốn bàn lỗ hẹp và gậy đánh bi a nặng cơ. Người ta
không bắn bi nữa; mọi sự đã thay đổi rồi! Phải theo thời đại mình chứ! Bà cứ
nhìn lão Teliê, thà...
Mụ chủ quán đỏ mặt lên vì tức giận. Tay dược sĩ nói tiếp:
- Dù bà nói thế nào đi chăng nữa, bàn bi a của lão vẫn xinh
hơn bàn bi a của bà; và lão lại có ý, chẳng hạn, trưng lên một con gà yêu nước
để ủng hộ nước Balan hay ủng hộ những người bị nạn lụt ở Lyông...
Mụ chủ quán nhún đôi vai to béo đẫy đà ngắt lời tay
dược sĩ:
- Chẳng phải những kẻ bịp bợm như lão làm chúng tôi sợ! Thôi,
thôi! Ông Hôme, quán Sư Tử Vàng còn sống thì khách còn đến. Chúng tôi
khác họ, chúng tôi có trường vốn! Còn họ, vào một buổi sáng nào đó, ông sẽ thấy,
quán Cà phê Pháp của họ đóng cửa, với một tờ áp phích đẹp để dưới mái
hiên!...
Bà nói tiếp nhưng tự nói với mình:
- Thay cái bàn bi a của tôi, cái bàn tiện cho tôi biết mấy
trong việc xếp quần áo giặt, và khi đến mùa săn bắn, tôi còn có thể dọn nó
thành chỗ cho sáu khách qua đường nằm!... Mà cái thằng Ive lề mề ấy chẳng thấy
đến!
Tay dược sĩ hỏi:
- Bà đợi nó để dọn cơm cho các ông khách của bà à?
- Đợi nó ư? Thế còn ông Binê thì sao? Cứ sáu giờ đúng là ông
đã thấy ông ta vào quán hàng, trên đời này không có ai đúng giờ như ông ta. Bao
giờ cũng phải có chỗ riêng cho ông ta trong cái phòng nhỏ! Thà là giết ông ta
hơn là bắt ông ta dùng cơm ở nơi khác! Và con người mới khó tính! Ông ta kén rượu
táo khiếp lắm! Chẳng như ông Lêông; ông này thì đôi khi bảy giờ bảy giờ rưỡi mới
đến; ăn gì cũng chẳng quan tâm. Thực là một chàng trai tốt bụng! Chưa bao giờ
to tiếng hơn ông kia.
- Bà thấy không, giữa một người có giáo dục với một tay cựu
chiến binh bây giờ làm nhân viên thu thuế, có sự khác nhau xa.
Sáu giờ vừa điểm. Binê bước vào. Ông ta mặc một chiếc áo
rơđanhgôt mầu xanh lơ rủ thẳng đứng quanh cái thân gầy còm của ông ta và chiếc
mũ cát két của ông bằng da, mà hai tay buộc lại với nhau bằng dây trên đỉnh đầu,
để lộ dưới vành lưỡi trai vểnh một cái trán hói bị lõm vì thường đội mũ cát.
Ông ta vận gilê dạ đen, quần xám, và tứ thời, đôi bốt đánh bóng có hai đường
phình song song vì ngón chân nhô lên. Không một sợi râu nào vượt ra khỏi đường
vạch bộ râu quai nón màu hung lượn quanh cằm như một luống đất mép vườn hoa
đóng khung cái khuôn mặt dài sạm có đôi mắt ti hí và một cái mũi cong cong.
Thành thạo mọi môn bài lá, lành nghề săn bắn và viết chữ đẹp, ông ta có một máy
tiện mà ông tinh nghịch tiện chơi những vòng quấn khăn ăn rồi ông vứt bừa bãi
ra đó với tính ham mê của một nghệ sĩ và thói vị kỷ của một gã tư sản.
Ông ta đi về phía phòng nhỏ; nhưng trước hết phải bảo tống ba
tay chủ máy xay bột ra đã, và, trong suốt thời gian người ta sắp đặt bàn ăn cho
ông ta, ông Binê đứng im lặng tại chỗ, bên cạnh lò sưởi, rồi ông đóng cửa lại
và bỏ mũ cát két ra như thường lệ.
Khi chỉ còn lại một mình với mụ chủ quán, tay dược sĩ liền
nói:
- Chẳng phải những lời nói xã giao làm mòn lưỡi ông ta đâu!
Mụ chủ quán đáp:
- Không bao giờ ông ta trò chuyện gì hơn nữa; tuần trước, có
hai tay chào hàng nỉ đến đây, hai chàng trai sắc sảo này, tối đến, kể một lô
chuyện khôi hài làm tôi cười đến hết cả nước mắt, thế mà ông ta cứ ngồi im, câm
như hến.
Tay dược sĩ phát biểu:
- Đúng, không trí tưởng tượng, không điều lý thú, chẳng có mẽ
gì của con người lịch thiệp!
- Mụ chủ quán biện bạch:
- Nhưng người ta bảo ông ta có nhiều tài năng.
Tay dược sĩ đáp lại:
- Nhiều tài năng! Ông ấy mà có nhiều tài năng à?
Bằng một giọng bình tĩnh hơn, tay dược sĩ nói thêm:
- Trong nghề nghiệp của ông ấy, thì có thể.
Rồi hắn phát biểu tiếp:
- Ờ! Nếu là một nhà buôn lớn giao dịch rộng, nếu là một luật
gia, một y, bác sĩ, một dược sĩ quá mải mê công việc đến nỗi trở thành kỳ quặc,
thậm chí cau có nữa, tôi còn hiểu được. Người ta thường kể những chuyện đặc sắc
này trong lịch sử! Nhưng, ít ra, đó là vì họ suy tưởng đến một điều gì. Như tôi
chẳng hạn, biết bao lần tôi tìm bút trên bàn giấy để viết một nhãn hiệu, thế mà
cuối cùng, tôi lại thấy mình đã cài nó trên tai!
Trong lúc ấy, mụ Lơfrăngxoa ra ngưỡng cửa xem chiếc xe Con
én đã tới chưa, mụ giật mình. Một người đàn ông vận đồ đen đột ngột đi vào
nhà bếp. Trong ánh chiều tà, người ta nhận ra mặt mũi y đỏ gay và thân hình y vạm
vỡ.
- Thưa ông linh mục, ông cần gì ạ? Ông muốn dùng thứ gì? Một
ly rượu hắc phúc bồn hay một cốc rượu vang?
Mụ chủ quán vừa hỏi thế vừa với tay lên lò sưởi lấy một trong
những cây đèn đồng cắm nến xếp thành dãy trên đó.
Người thầy tu khước từ một cách rất có lễ độ. Ông ta tìm cái
ô mà hôm nọ ông ta bỏ quên ở tu viện Ecnơmông, và, sau khi nhờ mụ Lơfrăngxoa, đến
tối, cho người đem lại nhà xứ hộ, ông ta liền bước ra và đi đến nhà thờ vì ở đó
giờ đọc kinh chiều đang điểm.
Khi tay dược sĩ không còn nghe thấy tiếng giầy của người thầy
tu trên quảng trường nữa, hắn nhận thấy thái độ của ông ta vừa rồi là rất khiếm
nhã. Việc khước từ giải khát như thế được y xem như một sự giả dối bỉ ổi nhất,
tất cả các linh mục đều chè chén vô độ mà người ta không trông thấy, và họ đang
tìm cách kéo trở lại cái thời dân phải nộp thuế thập phân cho giáo hội.
Mụ chủ quán bênh vực người thầy tu:
- Ông ta có thể đánh quỵ bốn người như ông trên đầu gối của
ông ta đấy. Năm ngoái, ông ta giúp bà con đem rơm ở đồng về; ông ta khỏe biết mấy,
một mình mang đến sáu bó rơm một lúc.
Tay dược sĩ nói:
- Khá lắm! Vậy các bà cứ cho con gái đến xưng tội với những
chàng trai khỏe mạnh có thể lực như thế! Còn tôi, nếu tôi là Chính phủ, tôi sẽ
cho người ta chích máu các tu sĩ mỗi tháng một lần. Thật đấy, bà Lơfrăngxoa ạ,
tháng nào cũng vậy, mở rộng tĩnh mạch để lấy máu vì trật tự an ninh và thuần
phong mỹ tục!
- Ông Hôme, xin ông im đi! Ông là người vô đạo, ông không có
tôn giáo!
Tay dược sĩ đáp:
- Tôi có một tôn giáo chứ, tôn giáo của tôi, và tôi lại có
tôn giáo hơn tất cả bọn họ kể cả trò đĩ bợm và cách lừa phỉnh của họ! Trái lại,
tôi tôn kính Chúa! Tôi tin ở Thượng Đế; ở Đấng sáng tạo, dù vị ấy thế nào tôi
cũng chẳng quan tâm, khi vị ấy đã đặt chúng ta trên thế gian này để chúng ta
làm tròn bổn phận người công dân và bổn phận người chủ gia đình! Nhưng tôi chẳng
cần đến nhà thờ để hôn những đĩa bạc và để bỏ tiền túi ra nuôi béo một lũ trò hề
ăn sung mặc sướng hơn chúng ta! Vì người ta vẫn có thể tôn thờ Chúa ngay trong một
khu rừng, trên một cánh đồng, hay cả khi chiêm ngưỡng bầu trời như người xưa,
Chúa của tôi, Chúa của riêng tôi, là Chúa của Xôcrat, của Phrăngklanh, của
Vônte và của Bêranggiê! Tôi tán thành bản Tuyên ngôn tín ngưỡng của tu sĩ
xứ Xavoa và những nguyên tắc bất hủ của năm 89! Cho nên tôi không thừa nhận
một con người của Chúa Trời phúc đức cầm gậy rong chơi trong khu vườn của mình,
cho bạn hữu vào trong bụng cá voi ở, thét lên một tiếng để chết, rồi sau ba
ngày lại hồi sinh; những chuyện này, tự nó đã phi lý và hoàn toàn trái với mọi
quy luật vật lý; điều đó, chỉ cần nói sơ qua, cũng đã chứng minh cho chúng ta
rõ là các cha cố xưa nay vẫn đắm mình trong một cái ngu dốt và họ cố dìm dân
chúng vào đấy với họ.
Tay dược sĩ nín lặng, đưa mắt tìm một công chúng quanh mình,
vì một lúc trong cơn sôi nổi, y tưởng mình đứng giữa hội đồng thị xã. Nhưng mụ
chủ quán không nghe y nói nữa: mụ lắng tai nghe tiếng xe lăn ở xa. Mụ nhận rõ
tiếng xe chạy lẫn tiếng móng ngựa đóng không chặt giáng xuống đất, rồi chiếc
xe Con én đỗ trước cửa.
Đó là một chiếc hòm màu vàng đặt hai bánh xe lớn, cao tới tấm
vải bạt đậy trên trốc xe, khiến khách trên xe không nhìn được ra đường và làm bẩn
vai họ. Những ô kính nhỏ của những cánh cửa sổ hẹp rung rinh trong khung khi xe
đóng kín và lốm đốm những vết bùn giữa lớp bụi lâu ngày, mà ngay cả những trận
mưa dông cũng chẳng rửa sạch được. Xe đóng ba ngựa; con thứ nhất đứng nhô lên
thành hình cánh nỏ, xe xóc lên khi xuống dốc vì đáy chạm đất.
Vài người dân Yôngvin đến tận chỗ xe đỗ; họ cùng lên tiếng một
lúc hỏi tin tức, đòi trình bày lý do và đòi những sọt đựng tôm cá và chim
muông. Ive chẳng biết trả lời ai. Chính anh ta làm mãi biện của địa phương ở
ngoài tỉnh. Anh ta giao thiệp với các cửa hàng, mang về những cuộn da thuộc cho
thợ giầy, sắt cũ cho thợ đóng móng ngựa, thùng cá mòi cho mụ chủ quán, mua mũ
trùm tại những nhà chuyên bán đồ trang phục phụ nữ, lấy những mớ tóc ở những hiệu
cắt tóc; rồi, trên dọc đường về, đứng trên ghế xe, gọi to từng nhà; anh ta phân
phối các gói hàng bằng cách ném qua rào ngăn sân, trong khi mấy con ngựa của
anh ta cứ tự động đi.
Một chuyện ngẫu nhiên đã làm xe về chậm: con chó săn cái của
bà Bôvary trốn qua đồng. Người ta đã huýt sáo gọi nó suốt mười lăm phút. Ngay cả
Ive cũng quay trở lại nửa dặm đường, mỗi lúc tưởng chừng thấy nó, nhưng sau
cũng đành phải tiếp tục đường về. Emma khóc lóc và nổi cáu. Nàng đổ tội cho
Sáclơ về tai biến này. Ông Lơrơ, người buôn vải cùng ngồi trong xe với nàng, cố
an ủi nàng bằng bao nhiêu chuyện chó lạc sau nhiều năm trời vẫn nhận ra chủ.
Người ta kể một con chó - ông ta nói thế - đã từ Côngxtăngtinốp trở về Pari. Một
con khác đã đi thẳng năm mươi dặm đường và bơi qua bốn con sông. Và chính bản
thân bố ông ta đã có một con chó xù, sau mười hai năm mất tích, bỗng nhảy lên
lưng ông cụ vào một buổi tối ngay giữa phố khi ông cụ đang trên đường đi ăn cơm
khách.
Chương 2
Emma xuống xe trước tiên, rồi đến Fêlixitê, ông Lơrơ và một
người vú em. Người ta phải đánh thức Sáclơ ngủ say trong một góc xe ngay từ lúc
tối trời.
Hôme tự giới thiệu, y tỏ lòng tôn kính bà, tỏ tình giao hảo với
ông, y nói y rất sung sướng được giúp hai người chút việc và, bằng một vẻ thân
mật, y nói tiếp rằng y đã dám tự tiện đến cùng dự bữa ăn vì vợ y đi vắng.
Bà Bôvary khi vào tới bếp, thì bước lại gần lò sưởi. Bằng hai
đầu ngón tay, nàng nhón chiếc áo dài từ ngang tầm đầu gối, và sau khi chiếc áo
đó đã được kéo lên tới mắt cá chân, nàng hơ trước ngọn lửa, ngay bên trên cái
đùi cừu đang quay trong lò, đôi chân nàng đi giầy có cổ màu đen... Ánh lửa soi
sáng vào toàn thân nàng; rọi qua lần vai áo và lỗ chân lông đều đặn trên làn da
trắng của nàng và thậm chí vào cả đôi mí mắt của nàng chốc chốc lại nhấp nháy.
Một màu đỏ rực rỡ chạy trên người nàng theo luồng gió thổi lọt vào từ ngoài
cánh cửa hé mở.
Từ phía bên kia lò sưởi, một chàng trai trẻ tóc vàng hoe nhìn
nàng, lặng lẽ.
Vì ngại sống ở Yôngvin, ông Lêông Đuypuy, luật sư tập sự tại
văn phòng của ngài Guyômanh, ông Lêông Đuypuy (chính ông ta là người khách quen
thứ hai của quán Sư Tử Vàng), thường lui giờ ăn lại, mong gặp khách
trọ nào tới quán này để cùng mình chuyện trò buổi tối. Vào những ngày giải quyết
xong hết công việc, vì chẳng còn biết làm gì nữa, anh ta đành phải đến ăn đúng
giờ và đành phải chịu đựng một cuộc mặt đối mặt với Binê suốt từ món xúp đến
món phó mát. Cho nên anh ta vui mừng nhận lời đề nghị của mụ chủ quán là ngồi
ăn cùng với những vị khách mới tới, thế là người ta chuyển sang phòng lớn trong
đó mụ Lơfrăngxoa, để ra vẻ long trọng, đã bảo bày bốn bộ đồ ăn.
Hôme xin phép được đội nguyên chiếc mũ trùm Hy Lạp trên đầu
vì sợ sổ mũi.
Rồi, quay sang phía bà khách ngồi bên, y nói:
- Thưa bà, chắc hẳn bà hơi mệt? Ngồi xe Con én của
chúng tôi thì bị xóc dữ lắm!
Emma đáp:
- Đúng đấy; nhưng tôi thường vẫn thích thú sự xáo trộn, tôi
ưa thay đổi chỗ.
Viên luật sư tập sự thở dài:
- Sống đóng đinh mãi ở một nơi là một điều đáng buồn biết mấy!
Sáclơ nói:
- Nếu ông như tôi buộc phải luôn luôn cưỡi ngựa thì...
Lêông tiếp lời, mặt quay về phía bà Bôvary:
- Nhưng đối với tôi, dường như chẳng còn gì thú vị hơn.
Anh ta nói thêm:
- Khi người ta có thể đi ngựa như vậy.
Tay dược sĩ phát biểu:
- Vả lại, làm nghề thầy thuốc ở địa phương chúng tôi chẳng vất
vả lắm vì tình trạng đường sá cho phép dùng xe độc mã có mui, và, nói chung,
người ta thù lao khá hậu, nông dân sống phong lưu. Ở đây, về phương diện y học,
ngoài những trường hợp thông thường như sưng ruột, viêm phổi, đau mật,..., thỉnh
thoảng vài cơn sốt cách nhật vào mùa gặt hái, song, nhìn toàn bộ, ít bệnh trầm
trọng, chẳng có gì đặc biệt phải ghi, nếu không kể nhiều trường hợp mắc bệnh
tràng nhạc do điều kiện vệ sinh nhà ở tồi tệ của nông dân. Ôi! Ông sẽ gặp lắm
thành kiến phải đả phá, ông Bôvary ạ, lắm thói hủ lậu ương gàn mà hàng ngày những
cố gắng về khoa học của ông sẽ vấp phải vì người ta còn cầu cứu đến lễ cửu nhật,
đến lộc thánh, đến cha cố, hơn là tự nhiên đến nhà thầy thuốc hay nhà dược sĩ.
Tuy nhiên, khí hậu ở đây, thực ra, không phải là xấu, và chúng ta thậm chí còn
tính ra ở trong xã có đến vài cụ già chín mươi tuổi. Hàn thử biểu (tôi đã quan
sát) về mùa đông xuống tới bốn độ và, trong mùa oi bức, lên tới hai mươi lăm,
ba mươi độ bách phân là cùng, như thế thành tối đa hai mươi bốn độ nhiệt kế
Rêômuya hay, nói khác đi, năm mươi tư độ Pharenhét (cách đo lường Anh), không
hơn - và, quả vậy, một mặt, chúng ta được rừng Ácgơi che gió bắc, mặt khác được
dốc Xanh Jăng che gió tây, nhưng cái hơi nóng do hơi nước bốc từ sông và do có
nhiều súc vật trong đồng cỏ, chúng thải ra, như ông biết đấy, nhiều chất
amôniác, tức là chất nitơ, chất hyđrô và chất ôxy (không, nitơ và hyđrô thôi)
và do hút hết vào mình chất mùn của đất, hỗn hợp tất cả các thứ hơi bốc ra khác
nhau đó, tập hợp chúng thành một làn hơi, nói như vậy cũng được, rồi tự nó kết
hợp với làn sóng điện truyền trong khí quyển khi có điện, như ở những xứ nhiệt
đới, dần dà có thể phát sinh ra những chướng khí hại đến sức khỏe - cái hơi
nóng đó, theo tôi, được điều hòa chính từ phía nó tới, hay đúng hơn, từ phía có
thể tới, tức là từ phía nam, gió đông nam, những cơn gió này, khi qua sông Xen,
lại tự nó mát đi, đôi khi thổi tới chúng tôi cùng một lúc, như những làn gió nhẹ
ở nước Nga!
- Ít ra ông cũng đi dạo vài chỗ quanh vùng chứ? Bà Bôvary tiếp
lời chàng trai.
- Chà! Ít lắm, anh ta đáp. Có một nơi người ta gọi là đồng cỏ,
trên đỉnh dốc, ở ven rừng. Đôi khi, ngày chủ nhật, tôi đến đấy, rồi tôi ở lại đấy
với quyển sách mang theo mà ngắm cảnh chiều tà.
- Tôi chẳng thấy gì tuyệt như những cảnh chiều tà, bà Bôvary
nói, nhưng nhất là ở bờ biển.
- Ôi! Tôi yêu quý biển cả. Lêông lên tiếng.
- Phải chăng đối với ông, bà Bôvary tiếp lời, ông tưởng rằng
trí tuệ vùng vẫy tự do hơn trên cái khoảng vô tận đó mà sự thưởng ngoạn nâng
cao tâm hồn ông lên và làm nảy sinh những quan niệm về vô biên, về lý tưởng?
- Về phong cảnh núi non cũng thế, Lêông đáp. Tôi có một người
anh em họ đi du lịch ở Thụy Sĩ năm ngoái nói với tôi rằng người ta không thể
hình dung được cái nên thơ của đầm hồ, cái vẻ đẹp của thác nước, cái sức gây cảm
xúc phi thường của tảng băng. Người ta thấy những cây thông to lớn không ngờ chắn
ngang qua dòng nước lũ, những túp lều cheo leo trên vực thẳm, và, toàn bộ thung
lũng dưới chân anh hàng nghìn mét, khi làn mây hé mở. Những cảnh tượng ấy làm
cho con người hứng khởi, dẫn con người đến chỗ cầu nguyện, đến chỗ mê mẩn! Cho
nên tôi chẳng ngạc nhiên nữa về nhạc sĩ danh tiếng kia, để kích thích hơn trí
tưởng tượng của mình, đã có thói quen đánh đàn pianô trước một phong cảnh trang
nghiêm nào đó.
- Ông chơi nhạc à? Nàng hỏi.
- Không ạ, nhưng tôi thích nhạc lắm, chàng đáp.
Hôme vừa ngắt lời vừa cúi xuống đĩa ăn:
- Ồ! Bà đừng nghe ông ấy, bà Bôvary ạ, ông ấy hoàn toàn khiêm
tốn đấy thôi. Thế nào, ông bạn thân mến! Hôm nọ, trong phòng ông, ông chả hát
hay đến tuyệt diệu bài Thiên thần hộ mệnh là gì. Tôi từ phòng thí
nghiệm nghe ông hát; ông làm bài hát nổi lên như một diễn viên.
Thực thế, Lêông ở nhà tay dược sĩ trong một căn buồng nhỏ
trên tầng gác hai. Chàng đỏ mặt lên vì lời khen của ông chủ nhà lúc đó đã quay
về phía người thầy thuốc, đang lần lượt kể cho người thầy thuốc biết những người
dân quan trọng ở Yôngvin. Y kể những chuyện vặt, chỉ dẫn mọi điều. Người ta chẳng
biết tài sản của viên quản lý văn khế đúng là bao, và gia đình
Tuyvasơ rất làm bộ làm tịch.
Emma lại lên tiếng:
- Thế ông thích loại nhạc nào hơn cả?
- Ô! Nhạc Đức, thứ nhạc làm cho người ta mơ mộng.
- Ông có biết nhạc Ý không?
- Chưa ạ! Nhưng năm tới tôi sẽ gặp nhạc sĩ Ý khi tôi lên ở
Pari để hoàn thành việc học luật của tôi.
Tay dược sĩ nói:
- Đúng như tôi đã được hân hạnh bầy tỏ với ông nhà về chuyện
anh Yanôđa tội nghiệp ấy trốn đi; nhờ những cái điên dại của anh ta, ông bà bỗng
được hưởng một trong những ngôi nhà đầy đủ tiện nghi nhất ở Yôngvin, cái điều
thuận tiện chủ yếu của nó đối với một thầy thuốc là một cái cổng mở ra trên con
đường hai bên có trồng cây khiến khách ra vào được kín đáo. Vả lại, nhà lại có
đủ thứ dễ chịu cho một gia đình: chỗ giặt quần áo, nhà bếp có ngăn dọn đồ ăn,
phòng khách gia đình, nơi chứa hoa quả, v.v... Quả là một gã phóng túng! Gã đã
thuê dựng cho gã, ở đầu vườn, bên bờ nước, một vòm cây chủ ý để mùa hè ngồi dưới
đó uống bia, và nếu bà nhà thích làm vườn, thì bà sẽ có thể...
Sáclơ ngắt lời:
- Nhà tôi không làm vườn đâu; bà ấy thích ngồi ở trong buồng
đọc sách hơn mặc dầu người ta vẫn khuyên bà ấy làm.
- Thì cũng như tôi, Lêông đáp; mà thực ra, còn gì tốt hơn là
buổi tối, được ngồi bên lò lửa với cuốn sách, trong khi gió đập vào ô kính cửa
và ngọn đèn cháy sáng?...
- Có phải thế không? Nàng vừa nói vừa giương cặp mắt đen to
nhìn chòng chọc anh chàng.
- Người ta chẳng nghĩ đến điều gì cả, anh ta nói tiếp, thời
giờ trôi qua. Ngồi im một chỗ, người ta lãng du trong những xứ sở tưởng như thấy
trước mắt, và tư tưởng người ta xoắn xuýt với hư cấu, nô giỡn trong những chi
tiết hoặc chạy theo hình thái của những việc tình cờ xảy ra, nó hòa hợp với các
nhân vật; dường như chính người ta đang hồi hộp dưới trang phục của họ.
- Thực thế! Thực thế! Nàng nói.
Lêông lại tiếp:
- Có khi nào bà thỉnh thoảng bắt gặp trong một cuốn sách một
ý tưởng mơ hồ mà người ta đã có, một hình ảnh phai mờ nào đó từ xa xôi trở lại,
và nó như giãi bày đầy đủ tình cảm tinh tế nhất của bà không?
- Tôi đã từng thấy thế, nàng đáp.
- Cho nên, anh ta nói, tôi thích các thi sĩ hơn cả. Tôi thấy
thơ êm dịu hơn văn xuôi, và nó dễ làm người ta khóc nhiều hơn.
Emma đáp lại:
- Nhưng thơ đọc mãi cũng nản; và bây giờ, trái lại, tôi mê những
truyện tiếp diễn thẳng một mạch mà đọc tên là thấy hãi hùng. Tôi ghét những
nhân vật tầm thường và những tình cảm ôn hòa như thường có trong đời sống.
Viên luật sư tập sự nhận xét:
- Quả vậy, những tác phẩm ấy không làm xúc động lòng người,
tôi tưởng nó xa rời cái mục đích thật sự của nghệ thuật. Giữa những mối thất vọng
của đời sống, khoan khoái xiết bao khi có thể bằng tư duy nhớ tới những tính
cách cao thượng, những tình cảm trong trắng và những bức tranh hạnh phúc. Còn
tôi, sống ở đây, xa cái xã hội thượng lưu thì đó là cách tiêu khiển độc nhất của
tôi; nhưng Yôngvin có ít phương tiện quá!
- Chắc cũng như ở Tôxtơ đấy, Emma tiếp lời, cho nên tôi luôn
luôn vẫn phải thuê sách dài hạn ở một phòng đọc sách.
Vừa nghe thấy mấy tiếng cuối, tay dược sĩ liền nói:
- Nếu tôi được cái hân hạnh đưa sách đến hầu bà, thì chính
tôi có một tủ sách gồm các tác giả hay nhất: Vônte, Rútxô, Đơlin, Oantơ Xcốt, tập Tiếng
vang của mục tiểu phẩm, v.v..., và ngoài sách ra, tôi còn nhận được nhiều
tạp chí khác nhau, trong đó, hàng ngày, có tờ Ngọn đèn Ruăng, vì tôi
may mắn được làm thông tin viên cho báo ấy ở các địa hạt Buysy, Foócgiơ, Nớpsaten,
Yôngvin và các miền lân cận.
Khách vẫn ngồi ăn từ hai tiếng rưỡi đồng hồ vì cô đầy tớ
Áctêmizơ, uể oải kéo lê trên nền gạch đôi giầy vải cũ gập gót mang liên tiếp hết
đĩa này đến đĩa khác, quên mọi thứ, chẳng hiểu gì cả và luôn luôn để hé mở cửa
phòng bi a làm cho đầu then dập vào tường.
Trong khi nói chuyện, Lêông đã đặt chân lên trên một gióng
ngang của chiếc ghế bà Bôvary ngồi mà không biết. Nàng đeo một chiếc cavát nhỏ
bằng lụa màu xanh lơ, nó giữ ngay ngắn cái cổ áo bằng vải lanh mịn là cuốn như
cổ áo xếp và, tùy theo cái đầu nghiêng ngả, phần dưới khuôn mặt nàng khuất vào
hoặc lộ ra ngoài cổ áo đó một cách dịu dàng. Cứ như thế, họ ngồi bên nhau,
trong khi Sáclơ và tay dược sĩ trò chuyện, đi vào một cuộc đàm thoại mơ hồ mà
những câu nói ngẫu nhiên thường đưa đến cái trung tâm cố định của mối cảm tình
chung. Nào buổi kịch ở Pari, nào nhan đề tiểu thuyết, nào nhạc điệu khiêu vũ mới,
và cái xã hội mà họ không biết, Tôxtơ là nơi nàng đã sống, Yôngvin là chốn họ
đang ở, họ nhận xét mọi thứ, họ nói đến mọi thứ cho tới lúc bữa ăn kết thúc.
Khi cà phê đã pha xong, Fêlixitê đi dọn buồng ngủ nơi nhà mới,
và chẳng bao lâu khách ăn đứng dậy ra về. Mụ Lơfrăngxoa ngủ bên đống tro, còn
gã coi chuồng ngựa, đèn lồng tay cầm đợi ông bà Bôvary để dẫn họ về nhà. Bộ tóc
gã đỏ có vướng những cuộng rơm và chân gã đi khập khiễng về phía trái. Khi gã
giơ tay cầm lấy cái ô của ông linh mục thì mọi người bước ra đi.
Thị trấn đã ngủ. Những cột chống mái chợ tỏa xuống thành những
bóng to dài. Mặt đất xám xịt như trong một đêm hè.
Nhưng nhà người thầy thuốc ở cách quán cơm có năm mươi bước,
cho nên chẳng mấy lúc mọi người đã phải chào nhau ngay, và đoàn người phân tán.
Emma, ngay từ lúc vào phòng đã cảm thấy hơi lạnh của thạch
cao thấm vào vai như một miếng vải ẩm. Tường nhà mới nguyên, và những bậc thang
gỗ kêu răng rắc. Trong buồng ngủ, ở tầng gác thứ nhất, một làn ánh sáng nhạt trắng
lọt qua các cửa sổ không rèm che. Người ta thoáng thấy những ngọn cây và xa hơn
nữa, cánh đồng cỏ, nửa chìm trong sương mù đang bốc hơi, dưới ánh trăng, theo
dòng sông. Giữa căn buồng, bừa bãi những ngăn kéo tủ những chai, những gióng sắt
để treo màn, những cọc thép vàng với những nệm để trên ghế và những chậu để
trên sàn, hai người khuân đồ đạc đến đã quăng bừa vào đó.
Đây là lần thứ tư mà nàng ngủ ở một nơi xa lạ: Lần thứ nhất
là ngày nàng vào nhà tu, lần thứ hai là khi nàng đến Tôxtơ, lần thứ ba là lúc
nàng tới Vôbyétxa, lần thứ tư là lần này; và mỗi lần đó tồn tại trong cuộc đời
nàng như một ngày lễ khánh thành một giai đoạn mới. Nàng không tin rằng mọi sự
việc lại có thể diễn ra y như cũ ở những chốn khác nhau, nên phần đời sống qua
rồi đã xấu thì hẳn phần đời sống còn lại sẽ phải khá hơn.
Chương 3
Hôm sau, ngủ dậy, nàng thoáng thấy viên luật sư tập sự ở dưới
đường phố. Nàng còn mặc áo choàng. Anh ta ngước mắt lên chào nàng. Nàng vội gật
đầu và khép của sổ lại.
Lêông suốt ngày đợi sáu giờ chiều tới cho nhanh. Nhưng, vào
quán cơm, chàng chỉ thấy có ông Binê ngồi bàn.
Bữa cơm tối hôm trước đối với chàng là một sự kiện quan trọng;
cho tới lúc ấy, chưa bao giờ anh ta được nói chuyện hai giờ liền với một bà. Làm
thế nào anh ta giãi bày được với bà ta, bằng một ngôn ngữ như vậy, bao nhiêu
chuyện mà trước đó có lẽ anh ta chẳng nói hay đến thế? Anh ta vốn nhút nhát và
giữ thái độ dè dặt phần do cả thẹn, phần do kín đáo? Ở Yôngvin, người ta thấy
anh ta có một thái độ đúng đắn. Anh ta lắng tai nghe những người đứng
tuổi bàn luận và không tỏ ra nóng nẩy trong vấn đề chính trị, điều đáng chú ý đối
với một thanh niên. Mà anh ta lại có nhiều tài năng biết vẽ tranh bằng thuốc mầu,
biết đọc thông nốt nhạc ở khóa son, và thích quan tâm đến văn nghệ sau bữa cơm
chiều khi không đánh bài. Ông Hôme nể anh ta vì anh ta có học thức; bà Hôme mến
anh ta vì anh ta niềm nở, anh ta thường theo lũ trẻ nhà Hôme ra vườn chơi, lũ
trẻ này luôn luôn nhem nhuốc rất khó bảo và tính tình có phần lạnh nhạt như mẹ
chúng. Để chăm sóc chúng, ngoài người vú, còn có Juyxtanh, học sinh ngành dược,
là anh em họ xa của ông Hôme, được nuôi làm phúc trong nhà và đồng thời được
dùng làm người hầu.
Tay dược sĩ tỏ ra là người hàng xóm tốt nhất. Y mách bảo bà
Bôvary biết tình hình về các người cung cấp hàng quen, cố ý cho gọi người bán
rượu táo đến, tự mình nếm thử rượu và trông coi trong hầm sao cho thùng rượu được
đặt cẩn thận; y còn chỉ dẫn cả cách làm thế nào để kiếm được bơ dự trữ rẻ tiền,
và điều đình xong xuôi với Lêtibuđoa, người giữ đồ thánh, ngoài công việc nhà
thờ và tang lễ, còn chăm sóc các khu vườn chính ở Yôngvin tính theo giờ hoặc
tính theo năm tùy sở thích của từng người.
Không phải chỉ nguyên nhu cầu chăm lo đến người khác đã thúc
đẩy tay dược sĩ đi tới chỗ ân cần quá tử tế đến thế, mà dưới đó, còn có cả một
kế hoạch.
Y đã vi phạm luật ngày 19 tháng sáu năm XI, (theo lịch cộng
hòa), điều một, cấm mọi kẻ thiếu bằng cấp làm nghề chữa bệnh, cho nên, do những
sự tố giác nặc danh, Hôme đã bị đòi đến phòng riêng của ông chưởng lý hoàng gia
ở Ruăng. Viên quan tòa vận áo thụng, đeo tấm da chồn trên vai và đội mũ quan
tòa trên đầu, đứng tiếp y. Lúc ấy là buổi sáng, trước phiên tòa, người ta nghe
thấy ngoài hành lang tiếng bốt cứng của sen đầm đi qua đi lại, và như có tiếng
động xa xa của những ổ khóa lớn đang đóng lại. Đôi tai của tay dược sĩ ù lên tưởng
chừng y sắp gục xuống vì trúng phong; y thoáng thấy đáy ngục tối dưới đất, vợ
con y đang khóc, hiệu thuốc bị bán đi, các bình đựng thuốc tiêu tán; và y buộc
phải vào một quán cà phê uống một cốc rượu với nước suối Xen để lấy lại tinh thần.
Dần dần, vụ cảnh cáo đó phai mờ đi trong ký ức của y, và y lại
tiếp tục như xưa, chẩn bệnh một cách vô hại trong gian nhà sau cửa hàng. Nhưng
viên thị trưởng có ác cảm với y, những bạn đồng nghiệp của y ghen ghét y, cho
nên y phải e mọi sự. Gắn bó với ông Bôvary bằng những cử chỉ lịch sự là để chiếm
được lòng biết ơn của ông ấy và bịt miệng ông ấy khi ông ấy nhận thấy điều gì.
Do đó, sáng nào cũng vậy, Hôme mang nhật báo đến cho ông Bôvary, và lắm
khi, vào buổi chiều, y lại rời hiệu thuốc của y một lát để sang nhà người thầy
thuốc nói chuyện.
Sáclơ buồn: khách chữa bệnh chẳng đến. Hắn ngồi hàng giờ đằng
đẵng không nói, vào ngủ trong phòng làm việc hoặc xem vợ khâu. Để giải trí, hắn
tự làm công việc trong nhà như một lao công, và thậm chí hắn lại còn thử sơn buồng
kho bằng ít thuốc mầu mà thợ sơn đã để lại. Nhưng chuyện tiền nong khiến hắn bận
tâm. Hắn đã tiêu pha rất nhiều trong việc sửa nhà ở Tôxtơ, trong việc may sắm cho
bà vợ và trong việc dọn nhà, đến nỗi cả món hồi môn, hơn ba nghìn equy, đã hết
nhẵn trong hai năm. Rồi, bao tài sản bị hư hại hoặc mất mát trong việc chuyên
chở từ Tôxtơ đến Yôngvin, chưa kể bức tượng linh mục bằng thạch cao, do xe bò bị
xóc quá mạnh, đã rơi xuống đất vỡ tan thành muôn nghìn mảnh trên đường phố ở
Canhcămpoa!
Một mối lo âu tốt lành hơn làm cho hắn khuây khỏa, đó là việc
vợ hắn có mang. Càng gần tới kỳ sinh đẻ, hắn càng quý mến nàng hơn. Đó là một sự
ràng buộc khác về máu thịt đang được thiết lập, và nó như cái ý thức liên tục của
một sự kết hợp phức tạp hơn. Khi từ xa, hắn nhìn thấy dáng đi uể oải của nàng
và thân hình nàng không có áo nịt xoay chuyển ẻo lả trên hông; khi ngồi đối diện
nhau, hắn ngắm nàng thỏa thích và nàng, trong chiếc ghế bành, ra chiều mệt nhọc,
bấy giờ hắn không cầm nổi được niềm vui sướng nữa. Hắn đứng dậy ôm hôn nàng, lấy
tay xoa mặt nàng, gọi nàng là bà mẹ trẻ muốn nàng nhảy múa và, nửa cười nửa
khóc, hắn thốt ra đủ lời bông đùa mơn trớn nảy ra trong óc hắn. Cái ý niệm sinh
con đẻ cái làm cho hắn khoái chí. Hiện nay, hắn chẳng còn thiếu gì. Hắn hiểu trọn
vẹn cuộc sống con người và hắn tham gia vào đó một cách vững vàng và thanh thản.
Emma, thoạt tiên, cảm thấy rất ngạc nhiên rồi sau đó nàng muốn
đẻ cho xong để biết thế nào là làm người mẹ. Nhưng vì không thể tiêu pha được
như ý muốn, không thể có được một chiếc nôi treo với diềm lụa hồng và mũ trùm
thêu, nàng tủi cực, bỏ cả chuyện sắm sẵn tã lót cho con và nàng đặt thẳng một lần
cho một cô thợ trong làng làm những thứ đó chẳng cần lựa chọn, chẳng cần bàn
tính gì cả. Do đó, nàng không thấy vui với những cuộc sửa soạn, trong đó tình
thắm thiết của những người mẹ đang được khêu dậy, và tình nàng thương con, ngay
lúc ban đầu, có lẽ đã giảm bớt đi phần nào.
Tuy nhiên, vì Sáclơ bữa ăn nào cũng nói tới đứa trẻ, nên chẳng
bao lâu nàng nghĩ tới nó một cách liên tục hơn.
Nàng mong ước một đứa con trai; nó khỏe mạnh, nó có bộ tóc
nâu và tên nó sẽ là Goócgiơ; cái ý muốn đẻ con thì phải là con trai dường như
là mối hy vọng được đền bù về mọi nỗi bất lực của nàng xưa kia. Người đàn ông,
ít ra, còn được tự do; anh ta có thể trải qua mọi dục vọng và đi khắp mọi xứ sở,
vượt khỏi mọi trở ngại, nếm đủ mọi niềm vui xa xôi nhất. Nhưng người đàn bà thì
luôn luôn bị ngăn trở. Vừa thụ động vừa nhu nhược, chị ta phải đồng thời đối
phó lại cái mềm yếu của xác thịt và cái lệ thuộc vào luật pháp. Ý chí của chị
ta, như tấm mạng buộc vào mũ bằng sợi dây nhỏ vật vờ trước gió, luôn luôn có một
thèm muốn nào đó lôi cuốn, một điều lễ nghi nào đó giữ lại.
Nàng đẻ vào một ngày chủ nhật, khoảng sáu giờ, lúc mặt trời mọc.
- Con gái! Sáclơ nói.
Nàng quay đầu đi và chết ngất.
Vừa lúc đó, bà Hôme chạy tới ôm nàng, cả mụ Lơfrăngxoa ở
quán Sư Tử Vàng. Tay dược sĩ, ra vẻ con người kín đáo chỉ ngỏ với
nàng vài lời tạm chúc, qua cánh cửa hé mở. Y muốn xem đứa bé và y thấy hình thù
nó cân xứng.
Trong thời kỳ an dưỡng, nàng để tâm nhiều đến việc đặt tên
cho con gái. Thoạt tiên, nàng soát lại tất cả các tên đều có vần cuối theo tiếng
Ý như Clara, Luida, Amanđa, Atala; nàng khá ưa cái tên Ganxuinđơ, hơn nữa là
Ydơn hay Lêôcađi. Sáclơ thì muốn lấy tên mẹ đặt cho con; Emma không nghe. Họ
xem lịch từ đầu đến cuối và hỏi cả ý kiến người ngoài.
Tay dược sĩ nói.
- Ông Lêông, người mà hôm nọ tôi có hỏi chuyện này, ngạc
nhiên rằng ông bà lại không chọn cái tên Mađơlen, một cái tên bấy giờ rất thịnh
hành.
Nhưng bà Bôvary mẹ phản đối cái tên người đàn bà phạm tội đối
với tôn giáo ấy. Còn Hôme, ông thích nhất những tên nhắc nhở đến một vĩ nhân, một
sự kiện vẻ vang hoặc một quan niệm cao cả, và chính ông đã đặt tên cho bốn con
ông theo cách ấy. Như Napôlêông tiêu biểu cho vinh quang và Frăngklin tiêu biểu
cho tự do; Iếcma, có lẽ, là một sự nhượng bộ cho chủ nghĩa lãng mạn; nhưng
Atali là một sự tôn sùng kiệt tác bất hủ nhất của nền sân khấu Pháp. Vì rằng niềm
tin của y về triết học không ngăn cản lòng ngưỡng mộ của y về nghệ thuật, tư tưởng
trong y chẳng bóp nghẹt con người nhạy cảm; ông biết xác định những chỗ khác
nhau, phần nào là tưởng tượng và phần nào là cuồng tín. Ở vở bi kịch ấy, chẳng
hạn, y chê trách ý tứ nhưng y hâm mộ văn phong; y không ưa khái niệm nhưng y
tán thành chi tiết, và y phẫn nộ với các nhân vật nhưng y phấn khởi về ngôn ngữ
của họ. Khi y đọc những đoạn văn hay y hoan hỉ; nhưng, khi y nghĩ rằng bọn giáo
sĩ lợi dụng những đoạn văn này cho cái cửa hàng của chúng, y đâm buồn nản, và
trong tình trạng lúng túng về những tình cảm lộn xộn này, y những muốn đồng thời
được tán thưởng Raxin bằng cả hai tay và được tranh luận với tác giả khoảng mười
lăm phút.
Cuối cùng, Emma nhớ lại lúc ở trong lâu đài Vôbyétxa nàng có
nghe thấy bà hầu tước gọi một thiếu phụ là Béctơ; thế là cái tên đó được kén từ
đấy, và, vì ông lão Ruôn không đến được, hai vợ chồng nàng mời Hôme làm cha đỡ
đầu. Y đã đưa sang mọi sản phẩm trong cửa hàng của mình làm tặng phẩm, như sáu
hộp táo, cả một bình bột ăn Ả Rập, bao ống cao thục quy thảo và, hơn nữa, sáu
thoi đường phèn mà y đã tìm thấy trong một ngăn tủ đục vào tường. Buổi tối hôm
làm lễ, có một bữa tiệc; ông linh mục có mặt; mọi người phấn khởi và hoạt bát.
Hôme, lúc uống rượu mùi, ngâm bài Chúa của dân lành, Lêông hát một
câu hát đò đưa và bà Bôvary mẹ, mẹ đỡ đầu của đứa bé, hát một bài tình ca thời
Đế chế, sau đấy, ông Bôvary bố đòi đem đứa trẻ xuống rồi dội một cốc rượu sâm
banh từ trên cao xuống đầu nó để rửa tội cho nó. Cái trò nhạo báng lễ thánh đầu
tiên ấy làm cho linh mục Buôcnidiêng túc giận; lão Bôvary trích dẫn một lời
trong cuốn Chiến tranh giữa các thánh để đáp lại, ông linh mục muốn bỏ
ra về, các bà van xin; Hôme đứng giữa hòa giải, thế là người ta giữ được tu sĩ
ngồi lại bình tĩnh nhắp nốt chén cà phê của ông uống dở đặt trong đĩa.
Ông Bôvary bố còn ở lại Yôngvin một tháng, làm choáng mắt dân
thị trấn bằng cái mũ trùm của cảnh sát, có lon bạc oai vệ mà buổi sáng lão đội
để ra nơi công cộng hút thuốc tẩu. Vốn quen uống rượu mạnh, lão thường sai người
hầu gái đến quán Sư Tử Vàng, mua cho lão một chai ghi vào sổ của con
trai mình và lão đã dùng tất cả nước hoa dự trữ của con dâu để xức thơm khăn
quàng cổ của mình.
Con dâu sống bên lão không cảm thấy chán. Lão đã đi đây đi đó
nhiều: Lão nói về Béclanh, về Viên, về Xtraxbua, về thời lão làm sĩ quan, về
các tình nhân của lão, về những bữa tiệc mà lão đã dự, rồi lão tỏ ra niềm nở,
và đôi khi, hoặc ở cầu thang gác hoặc ở ngoài vườn, lão thậm chí còn vừa túm lấy
thân hình nàng vừa kêu lên:
- Sáclơ, hãy coi chừng mày đấy!
Thế là bà Bôvary mẹ đâm sợ hãi cho hạnh phúc của con trai, và
e rằng chồng bà, lâu ngày, có ảnh hưởng trái đạo đức đến tư tưởng của người đàn
bà trẻ, bà vội thúc chồng về. Có lẽ bà còn có những mối lo lắng nghiêm trọng nữa.
Ông Bôvary bố là người chẳng kiêng nể gì cả.
Một hôm, Emma bỗng thấy cần phải đi thăm con gái nhỏ gửi nuôi
vú tại nhà vợ người thợ mộc, và, chẳng tra lịch xem sáu tuần của Thánh Mẫu còn thế
nào, nàng đã đi đến nhà Rôlê ở đầu làng, ngay chân dốc, giữa khoảng đường cái lớn
và đồng cỏ.
Bấy giờ là giữa trưa. Các nhà đều đóng kín cửa và các mái đá
đen, loang loáng dưới ánh sáng chói chang của nền trời xanh lam, dường như làm
lóe lên những tia lửa ở đầu hồi. Một làn gió oi bức thổi. Emma cảm thấy mình yếu
ớt trong bước đi; sỏi trên hè làm nàng đau chân; nàng lưỡng lự nên quay về hay
ghé vào chỗ nào ngồi.
Vừa lúc ấy, Lêông từ một cửa nhà gần đấy bước ra, tay ôm một
tập hồ sơ. Anh ta đến chào nàng và đứng vào chỗ bóng râm trước cửa hàng của
Lơrơ, dưới cái lều vải xámnnhô ra.
Bà Bôvary nói bà đi thăm con, nhưng bà ta đã bắt đầu mệt.
- Nếu..., Lêông đáp, nhưng chẳng dám tiếp lời.
- Ông có mắc việc gì ở đâu không? Nàng hỏi.
Và, theo lời đáp của viên luật sư tập sự, nàng bèn yêu cầu
anh ta cùng đi với nàng. Ngay từ tối hôm ấy, cả Yôngvin biết chuyện này, và bà
Tuyvatsơ, vợ viên thị trưởng, nói rõ trước người đầy tớ gái của bà rằng Bà
Bôvary đã tự làm tổn hại đến danh dự của mình.
Muốn đến nhà vú em, đi hết dãy phố là phải rẽ sang bên trái,
hướng về phía nghĩa địa, rồi men theo con đường hẹp có thủy lạp trồng bên, giữa
khoảng những ngôi nhà nhỏ và những mảnh sân trước. Những cây này đang ra hoa, kể
cả những cây huyền sâm, dã tường vi, tầm ma và mâm xôi nhẹ nhàng vươn lên từ những
bụi rậm. Qua lỗ hàng rào người ta thoáng thấy, trong những túp lều, một con lợn
nào đó trên đống phân, hoặc những con bò cái buộc cổ đang cọ sừng vào thân cây.
Cả hai người đi thong thả bên nhau, nàng dựa vào Lêông, và anh ta kìm bước lựa
theo độ chân của nàng; trước mặt họ một đàn ruồi vừa bay chấp cha chấp chới vừa
kêu vo vo trong không khí nóng.
Họ nhận ra nhà người vú có cây bồ đào già rợp bóng. Ngôi nhà
thấp và lợp ngói nâu có một bó hành treo ngoài, dưới cửa sổ giáp mái kho thóc.
Những bó củi nhỏ, dựng đứng vào hàng rào gai, vây quanh một luống rau diếp, vài
gốc cải hương và những cây đậu Hòa Lan có hoa leo trên những cành cắm. Nước bẩn
chảy loang trên cỏ và chung quanh. Nhiều bộ quần áo cũ khó phân biệt tốt xấu,
những đôi bít tất dài bằng sợi đan, một chiếc áo cộc vải hoa đỏ và một chiếc
chăn vải to dầy căng dài trên hàng rào. Nghe tiếng cửa rào đóng, người vú ra, một
tay bế đứa trẻ đang bú, một tay dắt một thằng bé ốm yếu đáng thương mặt đầy mụn
nhọt; thằng bé này là con trai một người làm mũ ở Ruăng; bố mẹ nó, quá bận vì
buôn bán, phải để nó lại ở nông thôn. Người vú nói:
- Mời bà vào, con gái bà đang ngủ ở kia.
Gian buồng ở tầng dưới, gian duy nhất của ngôi nhà, có một
chiếc giường rộng không màn, kê tít trong cùng, ngay giáp tường, còn thùng nhồi
bột làm bánh đặt bên cửa sổ, có một ô cửa kính và bằng mảnh giấy màu lơ cắt
hình mặt trời. Trong góc, đằng sau cửa ra vào, những đôi giày ống có đinh sáng
loáng được xếp dưới tấm đá giặt quần áo, gần một chai đầy dầu có một chiếc lông
chim ở cổ; một quyển kinh Mathiơ Lăngxbe nằm kềnh trên lò sưởi bụi
bám, giữa những viên đá lửa, những mẩu nến và những miếng bùi nhùi. Sau hết,
cái thứ vô dụng cuối cùng trong gian phòng này là bức tranh thần Danh Vọng đang
thổi kèn chắc là cắt ra từ một tờ quảng cáo nào đó của một hãng buôn nước hoa
nào đó, được đóng vào tường bằng sáu chiếc đinh đóng guốc.
Con của Emma ngủ ở đó, đặt trong một cái nôi bằng mây. Nàng ẵm
cả nó lẫn chiếc chăn quấn nó, và nàng vừa rung rinh vừa ru nhẹ.
Lêông đi đi lại lại ở trong buồng; anh ta xem như là lạ khi
thấy người phụ nữ kiều diễm vận chiếc áo dài Nam Kinh ấy ở ngay giữa cảnh nghèo
khổ này. Bà Bôvary đỏ mặt lên; anh ta bèn quay đi, tưởng rằng đôi mắt mình có lẽ
đã có vẻ gì khiếm nhã. Rồi bà Bôvary lại đặt con nằm xuống vì nó vừa chớ ra cổ
áo. Người vú vội đến chùi đi và quả quyết rằng không còn vết gì cả.
Mụ ta nói:
- Cháu chớ ra tôi nhiều lần như thế đấy, tôi cứ phải cọ rửa
cho cháu luôn tay! Vậy giá được bà vui lòng bảo bác hàng xén Camuy để cho tôi
ít xà phòng khi tôi cần đến nhỉ? Như thế tiện cho bà hơn, và tôi khỏi phải làm
phiền bà.
Emma nói:
- Được, được! Thôi, chào bà Rôlê.
Và nàng vừa bước ra vừa chùi chân trên ngưỡng cửa. Người vú
theo nàng ra đến tận đầu sân, kể lể về nỗi khổ đêm hôm phải dậy:
- Vì thế mà có đôi khi tôi mệt lả đến nỗi ngồi trên ghế mà ngủ
mất; do đó, ít ra bà cũng nên cho tôi hằng tháng ít cà phê xay nhỏ để sáng sáng
tôi uống với sữa.
Sau khi đã phải nghe những lời cám ơn của mụ, bà Bôvary ra về,
nhưng nàng vừa đi theo con đường nhỏ được một quãng thì bỗng tiếng guốc làm
nàng quay đầu lại; đó là người vú.
- Gì thế?
Mụ nông dân liền kéo riêng nàng ra sau một cây du thụ rồi nói
với nàng về chuyện chồng mụ, với nghề nghiệp của y và sáu quan một năm, mà ông
đại úy...
- Bà hãy nói hết ý mình thật nhanh lên, Emma bảo.
- Thế này bà ạ! Người vú nói tiếp, cứ mỗi lời là mỗi tiếng thở
dài. Tôi sợ nhà tôi sinh buồn phiền khi thấy tôi uống cà phê một mình, bà biết
đấy, đàn ông họ...
Emma nhắc lại:
- Thì bà sẽ có cà phê mà, tôi sẽ đãi bà!... Bà làm tôi khó chịu!
- Rõ khổ! Thưa bà quý mến, tôi đã làm phiền bà, chả là nhà
tôi, do bị thương, cứ thấy co rút dữ dội ở ngực. Nhà tôi còn nói rượu táo làm
cho anh ta yếu đi.
- Thì bà nói nhanh hơn, bà Rôlê!
Người vú vừa cúi chào vừa nói tiếp:
- Vậy thì, nếu xin bà nhiều quá mà vẫn không phải là ngoài mức
độ... (Mụ lại vái chào một lần nữa) bao giờ bà cho cũng được (mắt mụ tỏ ý van
xin), một bình rượu mạnh (cuối cùng mụ nói) để tôi bóp chân cho con gái bà vì
chân cháu cứ mềm như bún ấy.
Thoát khỏi người vú, Emma lại khoác tay Lêông. Nàng bước
nhanh trong giây phút, rồi nàng đi chậm lại và nàng nhìn về phía trước, bắt gặp
cái vai người thanh niên khoác chiếc áo rơđanhgôt cổ bằng nhung đen. Tóc anh ta
màu đỏ hung, xõa xuống áo, bằng phẳng và chải mượt. Nàng nhận thấy móng tay anh
ta để dài hơn những người để móng tay dài ở Yôngvin. Giữ gìn móng tay là một
trong những công việc lớn của viên luật sư tập sự; và để làm chuyện ấy, anh ta
giữ một con dao nhíp riêng biệt trong hộp bút của mình.
Hai người men theo bờ sông để trở về Yôngvin. Vào mùa hè, bờ
sông mở rộng hơn làm lộ cả chân tường vườn tược có vài bậc thang đi xuống sông.
Trước mắt, dòng nước chảy lặng lẽ, nhanh và lạnh; những ngọn cỏ cao và mảnh
cùng ngã cong xuống, tùy theo chiều nước xô, rồi tỏa rộng ra trong làn nước
trong vắt như những mớ tóc xanh buông thả. Đôi khi, ở đầu ngọn cói, hay trên
tàu lá sen, một côn trùng, chân nhỏ li ti, đang bò hoặc đang đậu. Mặt trời, bằng
một tia nắng, xuyên xuống những tăm nước nhỏ xanh lơ kế tiếp nhau tan vỡ; những
cây liễu già, trụi cành, soi xuống nước của vỏ xám của chúng; phía bên kia, khắp
xung quanh, đồng cỏ dường như hoang vắng. Lúc đó đang là giờ ăn ở các trang trại
và người đàn bà trẻ cùng người bạn đường của mình chỉ nghe thấy nhịp bước chân
họ đi trên mặt đất của một con đường nhỏ hẹp, những lời nói họ nói với nhau và
tiếng lướt của chiếc áo dài của Emma sột soạt quanh nàng. Những bức tường được
giắt mảnh chai trên chỏm, bao bọc mảnh vườn nóng như vách kính của một nhà
gương. Trong khe gạch, những cây đinh hương đã mọc lên, và do cánh dù mở rộng,
bà Bôvary, khi đi qua, đã làm cho ít hoa tàn trút nhị vàng xuống hoặc là một
cành kim ngân, bút thảo lòng thòng ra ngoài, vướng vào tua dù, đã bị kéo lê thê
một quãng trên lụa dù.
Họ nói chuyện về một đoàn nhảy múa Tây Ban Nha mà người ta
đang đợi chẳng bao lâu nữa sẽ biểu diễn ở nhà hát Ruăng.
- Ông sẽ đi xem chứ? Nàng hỏi.
- Nếu tôi có thể đi được, anh ta đáp.


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét