Sự phân biệt về phương diện xã hội dành cho giới nam và giới
nữ trong văn hóa Việt Nam truyền thống đã có ảnh hưởng lớn đến các biểu tượng về
người nam và người nữ trong văn học Việt Nam từ văn học dân gian, qua văn học
trung đại đến văn học đầu thế kỷ XX. Vấn đề này là đề tài cho một công trình
nghiên cứu công phu, còn ở đây tôi chỉ xin phác thảo một số ý tưởng.
Trong văn hóa ứng xử giới truyền thống, có dấu vết ảnh hưởng
khá đậm của lễ giáo phong kiến Nho giáo. Theo Dịch Trung Thiên, nhà nghiên cứu
người Trung Quốc, “lễ giáo phong kiến gồm hai phương diện, áp bức giai cấp và
áp bức giới tính” [1]. Như vậy, nếu người đàn ông chỉ chịu áp bức giai cấp thì
người phụ nữ phải gánh chịu hai tầng áp bức: áp bức giai cấp lẫn áp bức giới
tính từ người đàn ông.
Qua một quá trình diễn biến phức tạp, triết học cổ đại phương
Đông lấy hai cực âm-dương để lý luận hóa sự khác biệt giữa người nữ và người
nam trong xã hội nam quyền. Trong nhiều sự khác biệt đó, người xưa qui định âm
bị động, dương chủ động hay nói khác đi, phụ nữ bị động, nam giới chủ động. Triết
học âm dương là cơ sở của sự luân lý hóa tính bị động ở phụ nữ và tính chủ động
ở nam giới. Từ đó, dẫn đến các nguyên tắc nghệ thuật miêu tả của văn
học truyền thống đối với tình yêu người nữ và người nam. Các nguyên tắc này đều
hướng đến khẳng định sự bị động của phụ nữ trong tình yêu và dành phần chủ động
cho phía nam giới, một trong những biểu hiện của nam quyền.
Chúng ta nhớ lại, Nguyễn Du tả cách ứng xử của Kim Trọng-Thúy
Kiều trong lần gặp đầu tiên như thế nào. Chàng trai Kim Trọng chủ động tiến lại
làm quen Thúy Kiều: Nẻo xa mới tỏ mặt người/ Khách đà xuống ngựa tới nơi tự
tình. Còn Thúy Kiều (và Thúy Vân) thì làm vẻ thẹn thùng, giấu mặt, chỉ riêng em
trai tiếp chuyện: Chàng Vương quen mặt ra chào/ Hai kiều e lệ nép vào dưới hoa.
Đêm ấy, vì là trai tài gái sắc, hai bên đều tương tư (nghĩ về nhau), nhưng Nguyễn
Du chỉ cho Thúy Kiều nghĩ về Kim Trọng trong hai câu thơ: Người đâu gặp gỡ làm
chi/ Trăm năm biết có duyên gì hay không ? Còn nỗi nhớ của chàng Kim Trọng về
Thúy Kiều được dành cho hơn hai mươi câu: Cho hay là thói hữu tình/ Đố ai dứt mối
tơ mành cho xong/ Chàng Kim từ lại thư song/ Nỗi nàng canh cánh bên lòng biếng
khuây/ Sầu đong càng lắc càng đầy/ Ba thu dồn lại một ngày dài ghê…Tính chủ động
đều thuộc về người con trai-chàng Kim.
Đến lần gặp chính thức đầu tiên giữa hai người bên vườn đào,
Nguyễn Du vẫn tuân thủ nguyên tắc nam chủ động, nữ bị động: Sượng sùng giữ ý rụt
rè/Kẻ nhìn rõ mặt, người e cúi đầu. Khi chàng Kim ngỏ lời: Tiện đây xin một hai
điều/ Đài gương soi đến dấu bèo cho chăng? thì câu trả lời của nàng Kiều vẫn thể
hiện sự bị động đó: Ngần ngừ nàng mới thưa rằng/ Thói nhà băng tuyết chất hằng
phỉ phong/ Dù khi lá thắm chỉ hồng/ Nên chăng thì cũng tại lòng mẹ cha.
Có lẽ Vũ Đình Trác, trong luận án tiến sĩ bảo vệ tại Tokyo
năm 1984, là người đầu tiên nêu nhận xét về hiện tượng này: “Trong cuộc đối thoại
lần đầu tiên tại vườn Thúy, nguyên tác (ý nói Kim Vân Kiều truyện-TNT) đã để
cho Thúy Kiều trở thành chủ động, nói năng huyên thuyên và tống tình Kim Trọng
một cách khiêu khích. Nguyễn Du trái lại, trả Thúy Kiều về với bản
tính thanh cao của giai nhân tài trí, để cho Kim Trọng trở thành chủ động, theo
quan niệm Dương chinh phục Âm” [2]. Nói khác đi, theo Nguyễn Du, ứng xử của một
cô gái có giáo dục trong tình yêu, khi hai bên chưa quen biết nhau thì phải như
thế. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng nhân vật Thúy Kiều không phải chỉ biết có lễ
giáo, cô còn có trái tim biết rung động trước tình yêu: Nặng lòng xót liễu vì
hoa/ Trẻ thơ đã biết đâu mà dám thưa.
Ứng xử của Thúy Kiều khá tương đồng với cô gái trong ca dao,
dân ca, cô gái đã đáp lời hai chàng trai mời “ăn trầu”: Thưa rằng bác mẹ tôi
răn/Làm thân con gái chớ ăn trầu người.
Đối lập lại với mẫu phụ nữ được tả theo chuẩn mực về tính bị
động như một yêu cầu của đạo đức là mẫu phụ nữ chủ động, táo bạo trong tình yêu
nam nữ được tả như ma quỷ, một ẩn dụ đạo đức mang tính phê phán.
Trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ (thế kỷ XVI), có một số câu
chuyện như vậy. Chuyện kỳ ngộ ở Trại Tây kể về hai cô gái chủ động “tấn công”
chàng trai trẻ Hà Nhân bằng nụ cười, lời nói, lại lấy cả hoa, quả ném cho chàng
để buộc chàng phải dính líu tình ái với họ. Hai cô gái cũng là những người tỏ
ra mạnh dạn trong quan hệ dục tính. Nhưng cuối cùng, hóa ra hai cô chỉ là tinh
của hai cây Đào, Liễu trong trang trại bỏ hoang nhiều năm. Ẩn dụ ở đây là những
hạng con gái chủ động trong tình yêu nam nữ chỉ là loại ma quỷ chứ không phải
là người trần. Chuyện cây gạo của Truyền kỳ mạn lục cũng có một chủ đề
tương tự. Một buổi nọ, cô Nhị Khanh đi dạo chơi bên cây cầu, liếc thấy chàng
trai Trình Trung Ngộ để ý đến mình, đã nói to cho người hầu gái rằng đêm nay ta
lại ra đây dạo chơi, tức nàng chủ động cho chàng trai nghe thấy thời gian và địa
điểm cô sẽ có mặt, chủ động đưa chàng trai vào một cuộc tình ân ái mãnh liệt.
Nhưng hóa ra Nhị Khanh chỉ là hồn ma của cô gái đã chết từ nửa năm trước. Những
truyện kể về ma quỷ như thế phản ánh thái độ tiêu cực của người xưa về mẫu phụ
nữ chủ động trong tình yêu.
Điều quan trọng là ý thức giới hóa của xã hội nam quyền đã
chuyển hóa thành các biểu tượng nghệ thuật như thế nào, và đến khi nào các biểu
tượng thông báo cho chúng ta biết sự thay đổi của ý thức này?
Quá trình hình thành một biểu tượng có thể hình dung về đại
thể như sau: trước hết, con người phải có một mục đích tìm kiếm một hình ảnh, một
sự vật để diễn đạt một ý niệm nào đó. Tiếp theo, quá trình quan sát, nhận thức
hiện thực đời sống xã hội và tự nhiên, con người nhận ra mối liên hệ ngữ nghĩa
giữa sự vật, hiện tượng và ý niệm cần diễn đạt. Trong ca dao, có nhiều biểu tượng
diễn tả ý niệm về tính bị động, phụ thuộc của người con gái trong tình yêu, hôn
nhân: Thân em như tấm lụa đào/ Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai? Tấm lụa đưa
ra chợ bán tất nhiên không thể tự quyết định việc ai sẽ mua nó. Thân em như hạt
mưa rào/ Hạt rơi xuống giếng hạt vào vườn hoa/ Thân em như hạt mưa sa/Hạt vào
đài các hạt ra ruộng lầy. Cũng vậy, hạt mưa không có quyền quyết định nó rơi xuống
đâu.
Văn hóa dân gian có khi dùng biểu tượng bến và thuyền để nói
về tình yêu nam nữ. Bến là người con gái đứng đợi thụ động, còn thuyền di chuyển
đó đây, có quyền chọn bến đỗ. Thuyền ơi có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng
khăng đợi thuyền.
Nói về tình yêu nam nữ, người xưa còn dùng biểu tượng hoa để
diễn tả thân phận bị động, phụ thuộc của người con gái, trong đối sánh với bướm/ong
chỉ nam giới chủ động. Nói lời phải giữ lấy lời/ Đừng như con bướm đậu rồi lại
bay. Bông hoa thì đẹp nhưng nó mọc trên cành, nó không thể và không có quyền chủ
động chọn tìm bướm, ong; còn con bướm, con ong khi đậu bông hoa này, khi đậu
bông khác, không hoa nào có quyền níu giữ. Thúy Kiều nói với Thúc Sinh: Thiếp
như hoa đã lìa cành/ Chàng như con bướm lượn vành mà chơi. Còn màn
Kim Trọng tái hồi Thúy Kiều được Nguyễn Du tả: Tình nhân lại gặp tình nhân/ Hoa
xưa ong cũ mấy phân chung tình.
Văn học là một dòng chảy liên tục. Nhiều biểu tượng của thời
trung đại vẫn tiếp tục tồn tại trong văn học thế kỷ XX. Biểu tượng “tấm lụa” vẫn
sống trong thơ Nguyễn Bính: Em là con gái trong khung cửi/ Dệt lụa quanh năm với
mẹ già/ Lòng trẻ còn như cây lụa trắng/ Mẹ già chưa bán chợ làng xa (Mưa xuân).
Và không chỉ có tấm lụa; Nguyễn Bính còn sử dụng các biểu tượng văn học dân
gian truyền thống khác như bến-đò, hoa-bướm: Bao giờ bến mới gặp đò/ Hoa khuê
các, bướm giang hồ gặp nhau. Điều đó chứng tỏ từ trong tiềm thức của người Việt
Nam ở nửa đầu thế kỷ XX, cảm nghĩ về sự phụ thuộc, bị động của người con gái, sự
chủ động của người con trai trong tình yêu vẫn có sức ám ảnh. Thực tế xã hội vẫn
còn đất cho sự tồn tại của nam quyền.
Nhưng đâu phải các biểu tượng về người nam chủ động và người
nữ bị động chỉ có ở nửa đầu thế kỷ XX? Trong Truyện Kiều chú giải (bản in
1953), nhà nghiên cứu Lê Văn Hòe bình luận lời của Thúy Kiều Vì hoa nên phải
đánh đường tìm hoa đã hạ một câu phê bình “Nói thế mà không biết thẹn! Thật
là trâu không tìm cọc mà cọc đi tìm trâu”. Theo Tục ngữ, cổ ngữ, gia ngôn (bản
in 1897) do Huỳnh Tịnh Của biên soạn, “Trâu tìm cột, cột chẳng tìm trâu” được
giải thích như sau “Cột là chỗ trâu ở: ngọn phải cứ gốc; đày tớ phải tìm chủ
nhà; con cái phải tìm cha mẹ” (tr. 79). Còn bản soạn Đại Nam quốc túy (1908) của
Ngô Giáp Đậu ghi “Trâu tìm cọc, cọc chẳng tìm trâu”. Thúy Kiều được Lê Văn Hòe
so sánh với cọc thì cũng diễn tả ý bị động mà người con gái phải chấp nhận.
Nhà thơ nam giới Xuân Diệu trong bài thơ Biển sáng
tác năm 1962 vẫn thích với cách quan niệm đó. Mặc dù biểu tượng sóng biển và bờ
biển là rất mới so với truyền thống văn hóa Việt Nam, chắc được tiếp thu từ văn
học phương Tây, nhưng chúng vẫn đắc lực chuyển tải tư tưởng xưa cũ: người con
gái là bờ-một ý niệm bị động, con trai là sóng biển-gợi ý niệm chủ động: “Anh không
xứng là biển xanh/ Nhưng anh muốn em là bờ cát trắng…Anh xin làm sóng biếc/ Hôn
mãi cát vàng em…”. Anh vẫn phải là chủ động, mạnh mẽ, còn em là bị động, bị chiếm
hữu.
Năm năm sau khi xuất hiện Biển của Xuân Diệu, chúng
ta chứng kiến một cuộc đảo chính ngoạn mục về biểu tượng nghệ thuật trong phạm
vi thơ tình: nữ thi sĩ Xuân Quỳnh có thể đã là một trong những thi
nhân Việt Nam đầu tiên sử dụng biểu tượng sóng biển để biểu đạt tình yêu của
“em” và ở đây, anh là bờ! Sóng bắt đầu từ gió/ Gió bắt đầu từ đâu? Em cũng
không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau…Con sóng dưới lòng sâu/ Con sóng
trên mặt nước/ Ôi con sóng nhớ bờ/ Ngày đêm không ngủ được/ Lòng em nhớ đến
anh/ Cả trong mơ còn thức.
Biểu tượng sóng chủ động, mãnh liệt, bền bỉ hướng vào bờ dành
cho người con gái khi yêu là một đóng góp quan trọng khó diễn tả hết của nữ sĩ
Xuân Quỳnh. Nó chính thức nêu vấn đề: Tại sao người con gái lại cứ
phải phụ thuộc, phải bị động trong tình yêu? Tại sao có tình yêu mà người con
gái lại phải chờ đợi từ người con trai mà không mạnh mẽ thể hiện, chiếm lĩnh,
chở che trong tình yêu? Một quan niệm đạo đức và thẩm mỹ mới mang tinh thần thời
đại nữ quyền đã xuất hiện, đánh dấu cho một trang mới trong lịch sử biểu tượng
nam nữ trong thơ tình Việt Nam nhiều thế kỷ.
[1] Dịch Trung Thiên, Chuyện đàn ông, đàn bà Trung Quốc, Sơn
Lê dịch, NXB Phụ nữ, 2014, tr. 53.
[2] Vũ Đình Trác, Triết lý nhân bản Nguyễn Du. Cơ sở
xuất bản hội hữu, Orange, California, 1993, tr. 271. Có thể đối chiếu nguyên
văn tiếng Anh trong luận án Vietnamese humanism according to Nguyen Du, University of Sophia, Tokyo, 1984, tr. 274.
Trần Nho Thìn






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét