Vài cảm nhận về sức sống của
Phong trào Thơ Mới làm nên cuộc cách mạng trong thơ ca, đưa
thơ ca vào thời kỳ hiện đại và góp phần đưa thơ ở những thời kỳ sau đó phát triển
mạnh mẽ. Nhiều giá trị của Thơ Mới đã trở lại trong công cuộc đổi mới thơ, nó
được các nhà thơ thời đổi mới phát huy với nhu cầu và khát vọng thẩm mỹ mới.
Nhiều vấn đề vốn được trào dậy mạnh mẽ từ thời Thơ Mới nay tiếp tục được nhìn
nhận và khám phá với chiều kích mới và cảm quan nghệ thuật mới. Những vấn đề mà
các nhà thơ ở thời đổi mới suy tư, trăn trở bao giờ cũng chứa đựng tinh thần
nhân văn. Đó cũng là tinh thần mà Thơ Mới đã hướng đến, nó phù hợp với quy luật
của đời sống, của nghệ thuật và là một điều vĩ đại.
1.
Sau tám mươi năm kể từ ngày Thơ Mới ra đời, người đọc càng ngày càng cảm nhận
sâu sắc hơn cái hay, cái đẹp của Thơ Mới và tiếp tục thẩm bình về những giá trị
cao quý mà nó đã mang lại cho thơ ca dân tộc. Sau Đại hội Đảng lần thứ VI
(1986), văn học bước vào thời kỳ đổi mới, trải qua những bước thăng trầm, Thơ Mới
lại có được vị trí vẻ vang trên thi đàn, được đông đảo người đọc nói chung, học
sinh, sinh viên nói riêng đón nhận với niềm say mê và ngưỡng mộ. Các nhà nghiên
cứu bàn nhiều hơn, kỹ hơn những thành quả mà Thơ Mới đã mang lại. Nhiều bài Thơ
Mới được bình, được đăng tải trên các báo. Tuyển tập Thi nhân Việt Nam của Hoài
Thanh và Hoài Chân được tái bản nhiều lần… Cũng từ đó, nhiều công trình nghiên cứu
quy mô về Thơ Mới được ấn hành, một số bài Thơ Mới tiêu biểu được đưa vào giảng
dạy trong chương trình phổ thông, còn trong chương trình Văn ở bậc Đại học, Thơ
Mới cũng được dành một thời lượng thích đáng. Những thay đổi này đã tác động mạnh
mẽ đến nhận thức, tình cảm của nhiều thế hệ người yêu thơ, người học và ở từng
mức độ đã làm cho tâm hồn họ đẹp hơn,… Trong số đó, nhiều người về sau trở
thành nhà thơ và có những đóng góp lớn cho sự phát triển của thơ ca dân tộc ở
thời đổi mới. Đúng như Lê Đình Kỵ nhìn nhận: “Thơ Mới đã đóng góp hàng trăm bài
thơ hay, trong đó không ít bài thơ có thể xếp vào loại hay nhất của nền thơ ca
dân tộc. Và khi đã là thơ hay, được quần chúng ưa thích thì cách này cách khác
tác động của nó không chỉ do chữ nghĩa, âm điệu đơn thuần, mà còn đi vào đời sống
tinh thần, mở rộng cảm xúc, làm cho cảm quan ta nhạy bén, tâm hồn tinh tế, hướng
tới cái hay cái đẹp”[ 2; tr76].
2. Cho đến nay, hầu hết những nhà Thơ Mới đã
làm nên cuộc cách mạng trong thơ không còn nữa nhưng ý thức thẩm mỹ và tinh thần
đổi mới thơ của họ được nhiều thế hệ nhà thơ tiếp nối trong những bối cảnh lịch
sử xã hội khác nhau, nhất là trong thời kỳ đổi mới văn học. Với ý nghĩa đó, Thơ
Mới không chỉ tạo nên bước ngoặt lịch sử cho thơ ca, đưa thơ ca vào thời kỳ hiện
đại, mà còn tiếp tục khơi gợi và góp phần đưa thơ ở những thời kỳ sau đó vươn tới
đỉnh cao của nghệ thuật thi ca. Với lẽ đó, khi bàn về Thơ Mới và sự đổi mới thi
pháp thơ trữ tình Việt Nam, Trần Đình Sử cho rằng, thơ ca sau thời Thơ Mới: “thực
chất đều là sự phát triển sâu hơn, nhiều vẻ hơn những khả năng nghệ thuật mới của
thi ca đã mở đầu và định hình từ phong trào Thơ Mới. Và đó thật là một điều vô
cùng vĩ đại” [3; tr164-165].
Sự thức tỉnh ý thức cá nhân trong Thơ Mới đòi hỏi
thơ phải thể hiện chính mình, thể hiện cái tôi với tất cả nỗi niềm và khát vọng
trước cuộc đời. Trở về với cái tôi cá nhân là biểu hiện tư tưởng tất yếu trong
Thơ Mới khi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi. Đó là con người cá
nhân, con người cá tính, con người bản năng… Lê Đình Kỵ khẳng định: “Thơ Mới là
thơ của cá nhân tự tìm lại mình (…), là thơ của cái tôi (…), cái tôi được cởi mở
”[1; tr 70]. Cái tôi ấy không tĩnh tại mà biến đổi theo quy luật đời sống xã hội
ở từng thời kỳ lịch sử. Sự tiến bộ xã hội mà Thơ Mới gián tiếp đem lại đã đánh
thức ý thức cá nhân và quyền sống của con người; vì thế cái tôi đã ý thức về
mình, tự khẳng định sự tồn tại của mình giữa cuộc đời. Tư tưởng đó có sức lan tỏa
ngày càng rộng lớn trong đời sống xã hội, in đậm dấu ấn trong thi ca của thời
kỳ đó và cả thi ca hiện nay. Hoài Thanh nhận xét khát vọng của cái tôi lúc này
là khát vọng thành thật, ông viết: “Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng
phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là khát vọng nói rõ những
điều kín nhiệm, u uất, cái khát vọng được thành thật. Một khát vọng khẩn thiết
đến đau đớn” [4; tr12]. Cái tôi đã giãi bày một cách thành thật nỗi buồn, tình cảnh
cô đơn côi cút, cái sầu thảm, nhớ nhung và cả cái e ấp, rạo rực, băn khoăn trước
đối tượng trữ tình. Qua những giãi bày đó, sự trói buộc về tinh thần đối với
con người cá nhân được cởi bỏ, được giải phóng, cái tôi lúc này bộc lộ một cách
thành thật những điều mình nghĩ, được sống với nỗi niềm, khát vọng của chính
mình và trong không gian riêng do mình lựa chọn.
3. Tìm hiểu thơ trong thời đổi
mới (thơ sau 1986), chúng tôi nhận thấy nhiều giá trị của Thơ Mới đã trở lại
trong công cuộc đổi mới thơ và in dấu trên nhiều phương diện. Thơ thời đổi mới
với những đổi thay và sáng tạo không ngừng, tiếp tục là “Cây đàn muôn điệu” (Thế
Lữ) cất lên những âm sắc mới cho thơ ca dân tộc. Điều dễ nhận ra đó là thơ trở
về với cái tôi cá nhân và khám phá sâu sắc con người bản thể ở phần tâm linh,
vô thức. Thật ra, đây là sự tiếp tục những thành tựu mà phong trào Thơ Mới đã
mang lại ở nhiều phương diện khác của con người cá nhân trong bối cảnh lịch sử
- xã hội thời mở cửa và hội nhập. Ý thức cá nhân sau một thời gian dài lắng xuống
bởi sự cần thiết của ý thức công đồng khi đất nước có chiến tranh, giờ đây tiếp
tục được thức tỉnh, được trỗi dậy mãnh liệt. Nó gắn liền với cảm hứng khám phá,
nghiền ngẫm hiện thực và nhu cầu bày tỏ tư tưởng riêng từ việc đổi mới tư duy của
nhà thơ trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Vì lẽ đó, trong thơ xuất hiện nhiều
đề tài, chủ đề mới với sự nhìn nhận, khám phá con người ở nhiều vị thế, nhiều
bình diện và tầng bậc khác nhau trên nền tảng của tư tưởng nhân bản.
Tinh thần
đổi mới của Thơ Mới một lần nữa được các nhà thơ thời đổi mới khơi dậy từ những
nhu cầu và khát vọng thẩm mỹ mới. Tinh thần đó từng được khơi dậy ở các nhà thơ
trước 1945 như: Chế Lan Viên, Tố Hữu; ở những nhà thơ trước 1975 như: Xuân Quỳnh,
Nguyễn Khoa Điềm, Nguyễn Duy, Thanh Thảo, Hoàng Hưng,… Trong thơ của họ, người
đọc vừa bắt gặp cái âm hưởng trầm hùng ở thời lửa đạn như là tiếng vọng của cảm
hứng lãng mạn và khuynh hướng sử thi, vừa thấy được xu hướng đưa thơ trở về với
cuộc sống riêng tư theo xu thế vận động chung của thơ thế giới hiện đại. Thơ đổi
mới theo hướng phi sử thi hóa và thế sự hóa để trở về với cuộc sống đời thường,
trở lại với chức năng vốn có của nó. Các nhà thơ bày tỏ những trăn trở, suy ngẫm
về nhiều vấn đề phong phú nhưng không kém phần phức tạp của đời sống đang diễn
ra và cả tâm hồn đầy bí ẩn của con người cá nhân trước cuộc sống đó với tinh thần
tôn trọng sự thật, hướng đến giá trị nhân văn.
Nếu trước đây thơ Chế Lan Viên tràn ngập nỗi đau trong Điêu tàn, thì giờ
đây ở nhiều bài thơ viết vào khoảng thời gian 1987 - 1988 trong các tập Di cảo
thơ (I, II, III), người đọc cảm nhận được niềm trăn trở xót xa của ông trước cảnh
đời, tình đời. Bao nhiêu năm nhà thơ hát “giọng cao”, giờ đây “hát giọng trầm”.
Sự nghiền ngẫm về bản thân đã giúp cho cái tôi không rơi vào “ảo tưởng” mà luôn
gắn với lòng nhân hậu, sự yêu đời giữa bao bộn bề của cuộc sống hiện tại. Nhu cầu
được giãi bày, tự vấn chân tình và tự tìm mình của Chế Lan Viên chắc chắn có một
phần được tiếp nối trên tinh thần của Thơ Mới.
Trong thơ Xuân Quỳnh, cái tôi Tự hát, tự nói về mình, giãi bày lòng mình
đã trở thành nhu cầu và khát vọng. Mạch tình yêu trong Thơ Mới được Xuân Quỳnh
tiếp nối với những hương sắc mới: mộc mạc chân tình, vừa sôi nổi thiết tha, vừa
đằm thắm dịu dàng. Xuân Quỳnh những mong được “trở về đúng nghĩa trái tim
em”.
Một cách điềm đạm và sâu lắng, thơ
Nguyễn Khoa Điềm đem đến cho người đọc một bức tranh đời thường với nhiều trăn
trở suy tư. Con người cá nhân trong tập thơ Cõi lặng vừa mang nỗi buồn nhân thế
vừa thấm đượm niềm tin yêu vào cuộc sống. Cái tôi được soi chiếu trong chiều
sâu của cõi riêng tư, với những giá trị nhân bản bằng sự chiêm nghiệm của nhà
thơ. Ông suy ngẫm về mình và lắng nghe nhịp đập của trái tim mình: “Cõi lặng.
Anh soi thấy mặt mình/ Với nỗi buồn trong sạch/ Cõi lặng. Không tiếng đập nào
khác/ Tiếng đập trái tim mình”.
Khát vọng mãnh liệt trở về với đời tư, với
chính mình còn được thể hiện qua thơ của nhiều tác giả khác ở thời kỳ này. Đó
là sự khẳng định: “Ta phải là cả phần xác lẫn phần hồn” (Phùng Khắc Bắc), “Có bước
đi riêng trong bóng tối” (Đỗ Trọng Khơi), hay đó là: Tôi vẽ mặt tôi (Lê Minh Quốc),
là sự tìm kiếm: Người đi tìm mặt (Hoàng Hưng), Tôi gọi tôi (Đinh Thị Thu
Vân),... Nó thực sự là một khát vọng khẩn thiết trong thơ thời đổi mới.
Trở lại
với thơ thời kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, người đọc nhận thấy, thơ chan chứa
niềm lạc quan yêu đời khi con người Việt Nam ra trận với tinh thần “Chiến trường
đi chẳng tiếc đời xanh” (Quang Dũng), “Chúng tôi đi không tiếc cuộc đời mình” (Hữu
Thỉnh), “Đường ra trận mùa này đẹp lắm” (Phạm Tiến Duật) và “Cuộc đời vẫn đẹp
sao/ Tình yêu vẫn đẹp sao/ Dù đạn bom man rợ thét gào...” (Dương Hương Ly)...
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, cái buồn của con người cá nhân được thể hiện trong
thơ trở nên mờ nhạt. Nhưng sau 1975, con người trở về với đời thường, phải đối
mặt với biết bao gian truân, thử thách trước cái phong phú, đa dạng và cả cái bộn
bề, phức tạp của cuộc sống... Từ bối cảnh đó, ý thức về cá nhân có điều kiện trỗi
dậy mạnh mẽ và tất yếu bên cạnh niềm vui, hạnh phúc, đời sống con người cũng có
biết bao điều phải thao thức, trăn trở, buồn lo,... Cái buồn đó cũng thành thật
như cái buồn trong Thơ Mới nhưng giàu sắc thái hơn.
Cái buồn trong Thơ Mới là cái buồn: “Buồn ơi
xa vắng mênh mông là buồn”, buồn vì cái “tầm thường, giả dối”, vì “thời oanh liệt
nay còn đâu” (Thế Lữ), buồn “say ngắm chân trời xa”, khi “vận trời đã tận/ Sức
lay thành nhổ núi mà làm chi?” (Huy Thông), vì “Với tôi tất cả đều vô nghĩa/ Tất
cả không ngoài nghĩa khổ đau” (Chế Lan Viên), hay “buồn điệp điệp” trước cảnh
“sông dài trời rộng bến cô liêu”, buồn đến nỗi “nghe nặng trái sầu rụng
rơi” (Huy Cận) và “không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”, nhất là khi cảm nhận
sâu sắc về sự hữu hạn của đời người “còn trời đất nhưng chẳng còn tôi mãi”
(Xuân Diệu),... Đó là những nỗi buồn chất chứa bao niềm tâm sự, nặng tình đời,
tình người và cũng là một trong những động lực để sau này nhiều nhà Thơ Mới đến
được với cách mạng và kháng chiến.
Còn
đến với thơ thời đổi mới, chúng tôi nhận thấy, nỗi buồn trong tư tưởng, tình cảm
của con người cá nhân vốn được trào dậy mạnh mẽ từ thời Thơ Mới, cái hiện thực
tâm hồn đó nay tiếp tục được nhìn nhận và khám phá đa dạng từ nhiều phương diện
ở đời tư với những chiều kích mới, cảm quan nghệ thuật mới trước thực tại mới.
Cái mạch buồn trong thơ được thể hiện ở những mức độ khác nhau. Buồn vì hoàn cảnh
cuộc sống còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, vì mất mát trong chiến tranh. Buồn vì
công danh, sự nghiệp; buồn vì thế thái nhân tình trong cuộc sống khi “Đời thường
sớm nắng chiều mưa vậy/ Khuấy động lòng ta biết mấy buồn” (Tố Hữu). Buồn vì cuộc
sống bao điều đang dang dở để rồi “chết cũng không đành lòng nhắm mắt” (Phùng Khắc
Bắc). Buồn trong tình cảm gia đình, tình yêu lứa đôi khi tan vỡ, trống vắng đến
vô vọng và tiếc nuối đến se lòng: “Ai đưa đò tình/ Buộc vào bến lở/ Còn lại
mình anh/ Gom từng mảnh vỡ” (Hữu Thỉnh), hay là “Chỉ một phút này thôi/ Rồi chẳng
bao giờ nữa/ Gương mặt người anh yêu/ Chỉ còn trong nỗi nhớ”(Anh Ngọc). Buồn
xót xa khi nghe Lời ru con của người yêu cũ (Phạm Ngà). Buồn đến mức “xói lở những
dòng sông” (Lưu Quang Vũ), để rồi “em đã thả đi bao nỗi buồn”, và “nhặt xác nỗi
buồn còn tươi nguyên” (Vi Thùy Linh) và có khi “chết trong nỗi buồn” (Lâm Thị Mỹ Dạ); ... Những giãi bày chân tình đó của cái tôi được xuất phát từ sự nhận thức
về chính mình, về lẽ đời, tình đời trước thực tại của cuộc sống và cũng là một
nhu cầu tất yếu mang ý nghĩa nhân bản.
Như vậy, trước thực tại mới, cái buồn trong thơ thời đổi mới tuy có nét khác với
cái buồn của Thơ Mới nhưng suy cho cùng nó đã tiếp tục thể hiện khát vọng thành
thật và khẩn thiết như Hoài Thanh đã đánh giá về cái tôi trong Thơ Mới. Bởi thế
chúng tôi cho rằng, ở phương diện tinh thần, đó cũng là một biểu hiện về sức sống
của Thơ Mới trong thơ thời đổi mới.
Sức
sống tươi mới và sâu bền của Thơ Mới trong thơ thời đổi mới còn được thể hiện ở
cảm xúc về tâm linh, khám phá thế giới tâm linh. Trước đây, thơ của Hàn Mặc Tử,
Chế Lan Viên..., đã đi vào được cõi hư ảo tâm linh của con người. Chính ở thế
giới tâm linh đó con người được khám phá, thể hiện với tất cả những điều sâu xa
và thầm kín nhất ở bề sâu tâm hồn. Những giấc mộng, linh hồn... hiện hình thành
thế giới khách thể.
Trên cơ sở đó, cảm xúc về tâm linh con người được khám phá với chiều sâu mới. Ý thức về thời gian và sự hữu hạn của đời người đã trở thành dòng chảy trong đời sống con người và là nguồn thi hứng của nhiều nhà thơ. Không ít bài thơ hay được ra đời từ cảm hứng này, tiêu biểu là Thời gian đi qua của Dương Kỳ Anh, Bài thơ thời gian của Lê Quốc Hán, Bên thềm tuổi tác của Trần Thị Mỹ Hạnh, Với thời gian của Phan Xuân Hạt, Thời gian của Lữ Huy Nguyên, Tiếng gọi thời gian của Phạm Đông Hưng, Thăm mộ chiều cuối năm của Nguyễn Thái Sơn, Tìm con ở nghĩa trang Trường Sơn của Phùng Ngọc Hùng, Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình của Dương Kỳ Anh, Từ thế chi ca của Chế Lan Viên,... Nhận thức, trăn trở về thời gian và sự hữu hạn đời người cũng là sự biểu hiện cái đẹp sâu thẳm trong tâm hồn con người. Tiếc nuối thời gian đã đi qua của Một thời để sống hết mình với thời gian còn lại, và để sống sâu nặng, thiết tha với đời. Cũng vì thế, thơ thời đổi mới có sự đa dạng về giọng điệu. Người đọc có thể cảm nhận được nhiều giọng điệu thơ khá phổ biến của thời kỳ này, đó là giọng trầm tư triết lý về các vấn đề của cuộc sống quá khứ và hiện tại; đó là giọng buồn thương, tiếc nuối về cái mất mát trong đời tư; đó là giọng đối thoại, tự vấn chân tình trước những gì đã qua; đó là giọng mỉa mai, hài hước trước lối sống chạy theo tiền tài, danh vọng, quyền lực; đó còn là giọng trăn trở, xót xa, cay đắng trước nỗi đau của “đời thường sớm nắng chiều mưa vậy” (Tố Hữu).
Trên cơ sở đó, cảm xúc về tâm linh con người được khám phá với chiều sâu mới. Ý thức về thời gian và sự hữu hạn của đời người đã trở thành dòng chảy trong đời sống con người và là nguồn thi hứng của nhiều nhà thơ. Không ít bài thơ hay được ra đời từ cảm hứng này, tiêu biểu là Thời gian đi qua của Dương Kỳ Anh, Bài thơ thời gian của Lê Quốc Hán, Bên thềm tuổi tác của Trần Thị Mỹ Hạnh, Với thời gian của Phan Xuân Hạt, Thời gian của Lữ Huy Nguyên, Tiếng gọi thời gian của Phạm Đông Hưng, Thăm mộ chiều cuối năm của Nguyễn Thái Sơn, Tìm con ở nghĩa trang Trường Sơn của Phùng Ngọc Hùng, Bài thơ người đi tìm phần mộ em trai mình của Dương Kỳ Anh, Từ thế chi ca của Chế Lan Viên,... Nhận thức, trăn trở về thời gian và sự hữu hạn đời người cũng là sự biểu hiện cái đẹp sâu thẳm trong tâm hồn con người. Tiếc nuối thời gian đã đi qua của Một thời để sống hết mình với thời gian còn lại, và để sống sâu nặng, thiết tha với đời. Cũng vì thế, thơ thời đổi mới có sự đa dạng về giọng điệu. Người đọc có thể cảm nhận được nhiều giọng điệu thơ khá phổ biến của thời kỳ này, đó là giọng trầm tư triết lý về các vấn đề của cuộc sống quá khứ và hiện tại; đó là giọng buồn thương, tiếc nuối về cái mất mát trong đời tư; đó là giọng đối thoại, tự vấn chân tình trước những gì đã qua; đó là giọng mỉa mai, hài hước trước lối sống chạy theo tiền tài, danh vọng, quyền lực; đó còn là giọng trăn trở, xót xa, cay đắng trước nỗi đau của “đời thường sớm nắng chiều mưa vậy” (Tố Hữu).
Những vấn đề các nhà thơ ở
thời đổi mới trăn trở, suy nghiệm về lẽ đời, tình đời nói trên tuy có khi buồn
đau, thậm chí còn chua xót nhưng bao giờ thơ của họ cũng chứa đựng tinh thần
nhân văn bởi vì nó hướng đến con người, vì sự tiến bộ của con người. Đó cũng là
tinh thần mà Thơ Mới đã hướng đến.
4. Trên đây, mới chỉ là những cảm nhận bước
đầu của chúng tôi ở một vài biểu hiện nổi bật về sức sống của Thơ Mới trong thơ
thời đổi mới từ phương diện nội dung. Các nhà Thơ Mới không chỉ đưa thơ Việt
Nam bước vào quỹ đạo của thơ ca thế giới, mà còn biết cách giữ gìn và phát huy
những điều tốt đẹp trong thơ ca truyền thống theo cách riêng của mình. Nhờ vậy
mà sức sống và dấu ấn của Thơ Mới trong mạch thơ dân tộc thêm phần sâu bền. Đó
là điều phù hợp với quy luật của đời sống, của nghệ thuật và là một điều vô
cùng vĩ đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Lê Đình Kỵ, Thơ Mới những bước thăng trầm, NXB Thành phố Hồ
Chí Minh, 1989.
2. Lê Đình Kỵ, “Thơ Mới
là cả một cuộc cách mạng trong thơ ca”, in trong Nhìn lại một cuộc cách mạng
trong thi ca, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1993.
3. Trần Đình Sử, “Thơ Mới và sự
đổi mới thi pháp thơ trữ tình Việt Nam”, in trong Nhìn lại một cuộc cách mạng
trong thi ca, NXB Giáo dục, 1993.
4.
Hoài Thanh - Hoài Chân, Thi nhân Việt Nam, NXB Hoa Tiên, Sài Gòn, 1968.
Nguyễn Lâm Điền







Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét