Thứ Tư, 12 tháng 2, 2020

Địa chí Hà Nam 4

Địa chí Hà Nam 4
Chương XV
Đặc điểm và tiến trình phát trển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam
I. Tổng quan về phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam qua các thời kỳ lịch sử
1. Thời kỳ phong kiến
Trong suốt thời kỳ phong kiến, đất Hà Nam luôn là một vùng nông nghiệp quan trọng. Dưới các triều Đinh, Tiền Lê, Hà Nam là vùng đất phên dậu phía Bắc kinh đô Hoa Lư và sau đó, dưới các triều Lý, Trần, Hậu Lê là đất trực thuộc kinh đô Thăng Long. Hà Nam không những có ý nghĩa quan trọng về chiến lược phòng thủ, mà còn có ý nghĩa to lớn về kinh tế, là vùng đất luôn luôn đặt dưới sự kiểm soát chặt chẽ của triều đình trung ương kể từ khi hình thành quốc gia độc lập.
Trên đất Hà Nam, ngay từ thời Ngô, Đinh, Tiền Lê, bên cạnh ruộng đất công của làng xã, ruộng tự điền của các nhà chùa, còn có các loại ruộng đất phong cấp của vua cho quan lại trong triều, những người có công và những người trong hoàng thân, quốc thích. Do đó, cùng với sự tồn tại và phát triển của kinh tế tiểu nông gia gắn liền với ruộng đất công của làng xã, kinh tế nhà chùa và kinh tế trang ấp (dựa trên đất phong, thưởng) cũng bắt đầu phát triển mạnh. Tuy vậy, kinh tế tiểu nông gia vẫn là bộ phận kinh tế chủ đạo. Đây cũng là bộ phận kinh tế làm nền tảng cho các chế độ phong kiến tập quyền.
Vua Lê và sau này là các vua triều Lý đều chọn đất Hà Nam làm nơi phát động mùa vụ. Lê Hoàn sau khi lên làm vua và đánh bắc, dẹp nam đã chăm lo phát triển nông nghiệp. Theo Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên thì năm Đinh Hợi (987), “mùa xuân, vua lần đầu cày ruộng tịch điền ở núi Đọi được một hũ nhỏ vàng. Lại cày ở núi Bàn Hải, được một hũ nhỏ bạc, nhân đó đặt tên là ruộng Kim Ngân”(1). Lê Hoàn là vị vua Việt Nam đầu tiên làm nghi lễ cày ruộng tịch điền và vùng ruộng chân núi Đọi cũng là thửa ruộng tịch điền, ruộng nghi lễ đầu tiên trong lịch sử nước ta. Ruộng tịch điền đó ngày nay thuộc cánh đồng lớn ở phía Tây núi Đọi, hiện vẫn còn các địa danh Dinh trong, Dinh ngoài tương truyền là nơi ăn nghỉ của nhà vua khi về cày ruộng tịch điền (2).
Thời Lý, chế độ sở hữu nhà nước về ruộng đất chiếm ưu thế trong xã hội và là cơ sở quan trọng của chính quyền trung ương tập quyền. Tuy vậy, đại bộ phận ruộng đất trong nước, về hình thức là quốc hữu, nhưng thực chất vẫn là ruộng đất của công xã. Công xã vẫn là nền tảng bền vững của xã hội. Công xã được bảo lưu quyền tự trị rộng rãi về nhiều mặt. Ruộng của làng nào do làng ấy quản lý và phân phối cho các thành viên của mình cày cấy, nộp tô thuế cho nhà vua. Nông dân công xã cày cấy ruộng vua là thần dân của vua và phải nộp tô thuế, lao dịch và đi lính. Trong xã hội, họ là thành phần cơ bản và là lực lượng sản xuất chủ yếu. Dưới các triều Đinh, Tiền Lê, Lý, đất và dân Hà Nam ngày nay là đất và dân của vua, do làng quản lý theo tập quán của mỗi nơi; người dân, đặc biệt là dân tráng đinh (15-60 tuổi) được chia ruộng và nộp tô thuế chịu lực dịch với triều đình.
Nhà vua có thể lấy ruộng đất công của làng xã để phong cấp, thực cấp cho quý tộc, quan lại và những người trong hoàng thân để lập ra các trang ấp, thực ấp. Đất đai và dân cư trên đất được phong cấp đó thuộc quyền sử dụng của người được phong. Trong đất đó có phần cấp vĩnh viễn, cũng có phần chỉ cấp tạm thời và vua có thể thu hồi. Việc thừa kế đất phong do nhà vua quyết định. Bên trong các trang ấp, thực ấp, nền kinh tế tiểu nông gia và chế độ công xã vẫn tồn tại. Nông dân công xã trong trang ấp lệ thuộc vào chủ, phục dịch, đóng tô, thuế và làm gia binh cho chủ. Nhưng quan hệ giữa nông dân trong trang ấp thực ấp với chủ vẫn do nhà vua điều chỉnh, bao gồm mức tô, thuế, lao dịch. Các quyền lợi và nghĩa vụ của họ trong quan hệ với chủ trang ấp, thực ấp cũng theo quy định chung như đối với nông dân tự do. Vì vậy, họ không bị nô dịch hoá và không bị biến thành nông nô. Hết thời hạn hưởng lộc trang ấp hay thực ấp của chủ, họ lại trở thành thần dân trực tiếp của nhà vua.
Ngoài các loại ruộng trên, thời Lý còn có ruộng quốc khố là ruộng do nhà nước trực tiếp quản lý và cử người canh tác. Lực lượng sản xuất trên ruộng quốc khố thường là tù nhân, tội nhân, tù binh. Họ phải nộp mức tô thuế cao hơn nông dân tự do. Trên đất Hà Nam thời đó đã có đủ cả ba thành phần sở hữu ruộng đất: quốc khố, công xã và phong cấp. Ngoài ba thành phần chủ yếu trên, cũng có một ít ruộng tư nhân từ nguồn được phong cấp vĩnh viễn cũng như từ nguồn tự lực khai phá đất hoang.
Thời Lý - Trần, vùng đất Hà Nam vẫn là một vùng nông nghiệp trọng điểm của nhà nước. Nhà Lý cho lập hành cung ở một số nơi trên đất Hà Nam để đi tuần sát, đánh dẹp phương Nam(1) và để hàng năm về cày ruộng tịch điền, đốc sát việc hộ đê, gặt lúa. Triều Lý cho làm cung trên các núi Đọi Sơn và Điệp Sơn “để làm nơi tuần hành và triều hội” (2). Đọi Sơn là nơi các vua Lý cho xây dựng chùa, tháp và kho lẫm của triều đình (3). Đồng thời, từ Triều Lý cũng bắt đầu quan tâm đến việc đắp đê, sửa sang thủy lợi, đắp đường và thiết lập hệ thống trạm dịch giao thông. Đường thủy được lưu thông khắp trên mạng lưới sông ngòi của vùng châu thổ.
Triều Trần, một số nơi trên đất Hà Nam ngày nay được dùng làm thái ấp cho các vương gia, tôn thất và các quan lại triều đình được ban quốc tính. Ở đây có thái ấp của Nhân Huệ Vương Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hòa (nay thuộc xã Duy Hải, huyện Duy Tiên), thái ấp của Thái sư Trần Thủ Độ ở Quắc Hương (tên nôm là làng Vọc nay là làng Thành Thị, xã Vũ Bản, huyện Bình Lục). Thái ấp là đất được vua ban cấp, phong cấp. Người được phong đất có quyền hưởng tô thuế, hoa lợi từ ruộng đất được phong mà không phải đóng tô thuế cho nhà nước. Song nhà nước có thể lấy lại (trong trường hợp người được phong bị biếm, truất, phạm tội hoặc qua đời) để cấp cho người khác.
Quy mô của các thái ấp ở Hà Nam thường không lớn, có thể chỉ trong khoảng 1, 2 xã và ở đó vẫn tồn tại kinh tế tiểu nông gia trên cơ sở tự cung, tự cấp. Thái ấp của Trần Khánh Dư ở Dưỡng Hoà có phạm vi: “Thượng tựu quán trâu, hạ chí chợ Sàng, dài khoảng 10km, hai đầu có hai cột đá hạ mã”(4), diện tích ruộng đất có khoảng 1.250 mẫu, có hào lớn bao quanh làng khoảng 307 mẫu. Trong thái ấp, bên cạnh hoạt động nông nghiệp còn có cả các hoạt động thương mại và một số nghề tiểu thủ công để đáp ứng nhu cầu chung của dân cư, của gia binh và các phủ đệ của chủ thái ấp(1). Thái ấp của Thái sư Trần Thủ Độ ở Quắc Hương là vùng đất chiêm trũng. Trong thái ấp, bên cạnh nghề nông là chính còn có các nghề đánh cá, chạm khắc đá và nấu rượu. Trong thái ấp cũng có chợ (còn gọi là Quắc thị, tức chợ Vọc ngày nay), có sông (sông Cụt), có đình (Đình Cả), có chùa (Chùa Sông), trại lính và các khu dinh thự, phủ đệ(2). Trong các thái ấp kể trên luôn có một lực lượng đông đảo gia binh, gia nô, nô tỳ phục dịch, khi hoà bình thì lao động sản xuất, khi quốc gia hữu sự thì xung làm lính tráng.
Cùng với việc phong, cấp đất cho vương hầu tôn thất, nhà Trần cũng khuyến khích họ khai khẩn đất hoang lập điền trang nhằm hình thành một phòng tuyến chính trị - quân sự - kinh tế - xã hội dọc theo mạch đường sông nối liền kinh đô với quê hương Tức Mặc(3). Nhờ đó, các điền trang của vương thất nhà Trần đã được khai phát trên đất Hà Nam, biến vùng đất này, thêm một lần nữa, trở thành trọng điểm kinh tế - xã hội dưới triều Trần. Theo Sách Đại Việt sử kỷ toàn thư, thì vào năm Bính Dần (1266), “mùa đông, tháng 10, xuống chiếu cho vương hầu, công chúa, phò mã, cung tần chiêu tập dân phiêu tán không có sản nghiệp làm nô tì để khai phá ruộng bỏ hoang, lập thành điền trang. Vương hầu có trang thực bắt đầu từ đấy” (4). Trên đất Hà Nam cũng đã có một số điền trang được tạo lập, thuộc sở hữu của các vương tôn, quý tộc và được quyền cha truyền con nối.
Sự phát triển điền trang, thái ấp dưới triều Trần đã tác động mạnh mẽ tới tình hình ruộng đất và công xã truyền thống trên đất Hà Nam. Hơn nữa, việc khuyến khích các vương hầu tôn thất lập điền trang và việc khởi xướng, cho phép bán ruộng công cho nhà giàu làm ruộng tư đã làm cho chế độ tư hữu ngày càng mở rộng. Trên đất Hà Nam khi đó, ngoài một phần diện tích ruộng đất công xã được chuyển thành thái ấp (tức là đất phong, tặng) và một phần đất hoang hoá được khai khẩn trở thành điền trang thuộc sở hữu tư của các vương hầu, tôn thất, thì cũng đã xuất hiện sở hữu ruộng đất tư của địa chủ, nhà giầu, nhà chùa và sở hữu nhỏ của một bộ phận tiểu nông gia. Tuy nhiên, các thái ấp, điền trang hoặc là “nuốt chửng” nguyên vẹn một, đôi làng, hoặc là “tái sinh” cơ chế làng xã để tổ chức và quản lý dân cư vốn là dân “tứ chiếng” được chiêu tập. Bởi vậy, bên cạnh sự phát triển của bộ phận kinh tế quý tộc (thái ấp, điền trang), kinh tế tiểu nông gia làng xã vẫn giữ vai trò quan trọng trên đất Hà Nam.
Thời Hậu Lê, chế độ ruộng đất ở Hà Nam bao gồm ruộng nhà nước, ruộng công của làng xã và ruộng tư. Ruộng nhà nước là quan điền do nhà nước quản lý việc sản xuất và thu hoạch; hoa lợi nhập vào kho công. Ruộng này được kinh doanh dưới hình thức đồn điền. Đồn điền do các quan chánh, phó đồn điền sứ quản lý. Nhân lực canh tác ruộng đất đó thường là quân lính, tội nhân, quan nô, dân lưu tán được chiêu mộ. Trong các đồn điền đó, sản xuất lương thảo để dự trữ và cung cấp cho quan quân và dân địa phương. Ruộng đất đồn điền thuộc sở hữu nhà nước do triều đình trực tiếp quản lý, không ban cấp đất thuộc sở đồn điền cho quan lại. Năm Tân Sửu (1481), vua Lê Thánh Tông xuống chiếu cho lập 43 sở đồn điền trong cả nước. Trên đất Hà Nam thời đó, vua Lê Thánh Tông đã cho lập các đồn điền ở Thiên Kiện, Phượng Vĩ (huyện Thanh Liêm); La Sơn (huyện Bình Lục).
Ruộng công của làng xã được dùng để phân phối cho người sử dụng theo chế độ “quân điền”, theo đó định kỳ (6 năm một lần), ruộng đất lại được điều chỉnh, phân phối cho các đối tượng sử dụng đất gồm từ các quan tam phẩm đến thứ dân. Người dân sử dụng đất phải nộp tô cho nhà nước. Thực tế ruộng công là sở hữu nhà nước do làng xã quản lý và phân phối sử dụng tùy theo tình hình ruộng đất và nhân lực ở từng địa phương.
Lộc điền thời Hậu Lê thay cho thái ấp thời Trần. Lộc điền gồm có ruộng thế nghiệp (là phần ruộng được vua ban nhưng được phép thừa kế) và ruộng ân tứ (là phần ruộng được vua ban nhưng sẽ thu lại khi người được hưởng qua đời). Đối với cả hai loại ruộng này người được hưởng lộc vua chỉ có quyền thu hoa lợi, không có quyền đối với dân cư trên ruộng đất.
Đất Hà Nam thời Hậu Lê được Nguyễn Trãi nói đến trong Dư địa chí: “Ở vùng ấy đất thì đỏ, dính màu mỡ cùng sắc xanh đen; ruộng thì vào hạng thượng thặng. Cả có nhiều vải nhỏ. Thanh Oai có lụa là. Huyện Kim Bảng có the” (1). Dân cư Hà Nam thời Lê đã khá đông và phân bố trải rộng theo thế đất để trồng cấy. Nền kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thuỷ sản, thủ công nghiệp gia đình và buôn bán nhỏ trong phạm vi làng xã, qua mạng lưới các chợ phiên. Các ngành nghề thủ công nghiệp truyền thống trong phạm vi gia đình như dệt, đan lát, nuôi cá, chăn tằm, kéo tơ... khá phát triển. Thời Lê Mạt, nghề tơ lụa Từ Đài, Nha Xá (huyện Duy Tiên) đã từng phát đạt nhờ có vị thế đối xứng với Phố Hiến bên kia sông Hồng. Lụa Nha Xá được khách buôn đánh giá là không kém lụa Hàng Châu của Trung Quốc. Nhưng nghề tơ lụa vẫn chỉ là nghề phụ, chưa tách khỏi nông nghiệp.
Nhà Lê chú trọng khuyến khích khai hoang, xây dựng đê điều và các công trình thuỷ nông. Đê điều được tiếp tục củng cố và kiến thiết quy mô hơn để khai thác vùng đầm lầy phía Đông Nam đất Hà Nam ngày nay. Những con đê được xây dựng thêm dưới triều Lê góp phần làm cho vùng đất các huyện Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình Lục thực sự trở thành một khu vực bị quây kín, bị ngăn cách với nguồn sa bồi và biến thành đồng trũng, vùng rốn sâu của châu thổ Bắc Bộ.
Nhà Lê ban hành lệ lập chợ, quy định nguyên tắc họp chợ luân phiên. Các chợ làng, chợ quê đầu tiên trên đất Hà Nam, căn bản được hình thành bắt đầu từ thời Lý, Trần, được chính quyền nhà Lê tổ chức, sắp xếp theo trật tự và quy định chu kỳ họp phiên, dần dần được nhân rộng theo độ phát triển của dân cư để trở thành một mạng lưới hoạt động theo nhịp điệu trao đổi kinh tế giữa các làng xã và được duy trì thành nếp cho đến ngày nay.
Thời Lê bắt đầu hình thành đẳng cấp thứ dân gồm: sĩ, nông, công, thương. Nông dân là tầng lớp đông đảo nhất. Từ thời đó đã phân hoá thành địa chủ bình dân, nông dân tự canh, tá điền. Địa chủ bình dân và quan lại hợp thành giai cấp phong kiến. Thợ thủ công chủ yếu là một bộ phận nông dân chuyển sang chuyên làm các nghề phi nông nghiệp ngay tại làng xã và vẫn chịu các loại sưu dịch như nông dân làng xã.
Sự phát triển ngày càng mạnh mẽ của ruộng tư từ thời Trần, thời Lê đã gây ra những hệ quả xã hội cho các thế kỷ sau đó. Ruộng đất tập trung ngày càng nhiều vào tay địa chủ. Nông dân mất đất đai phải lưu tán khắp nơi, nghèo đói và phẫn uất. Dưới thời Lê Mạt - Trịnh - Nguyễn, chế độ phong kiến tập quyền khủng hoảng và suy đốn. Xu hướng tư hữu ruộng đất ngày càng mạnh và tràn lan, trở thành một hiểm họa đối với triều đình. Các chúa Trịnh cũng như các vua triều Nguyễn sau đó đã cố gắng một cách vô vọng nhằm khôi phục nền tảng cho nhà nước quân chủ tập quyền là chế độ quân điền tiểu nông. Nhưng những chính sách của họ như giới hạn ruộng tư, lập phép quân điền mới, xác lập địa bạ cho các làng xã... nhằm củng cố cơ sở kinh tế - xã hội cho chế độ quân chủ tập quyền đã đem lại hiệu quả ngược lại. Quan lại và hào lý được dịp thả sức lấn chiếm ruộng đất công, biến thành của tư. Nông dân mất đất, tha phương cầu thực. Chính sách cai trị của triều Nguyễn khiến cho toàn bộ nền kinh tế đất nước đình đốn. Hà Nam cùng với châu thổ Bắc Kỳ đã phải chịu muôn vàn tai họa do mất ruộng đất, đói kém, mất mùa, đê vỡ, ngập lụt, ngành nghề thủ công phá sản, thuế khóa, sưu dịch nặng nề.
Trong suốt thời kỳ từ cuối thế kỷ thứ X (triều đại nhà Đinh) đến đầu thế kỷ XX (cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp 1896 - 1918), kinh tế tiểu nông sản xuất lúa nước là nét đặc trưng căn bản và bao trùm toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội của Hà Nam cũng như của cả nước. Kinh tế tiểu nông này căn bản dựa trên sở hữu ruộng đất công, tự nó vốn đã mang nặng tính tự cấp tự túc và luôn có xu hướng tự cấp tự túc, lại liên tục được tái tạo bởi cơ chế định kỳ tái phân phối ruộng công của làng xã và được duy trì bởi chế độ bóc lột bằng tô, thuế và các hình thức bóc lột phi kinh tế khác. Nó là nền tảng của nhà nước phong kiến tập quyền. Đây cũng là đặc điểm chung của nền kinh tế nước ta dưới thời phong kiến.
Bên cạnh đó, ở Hà Nam dưới thời phong kiến còn có các hình thức sở hữu và kinh doanh nông nghiệp khác như: quốc khố điền (do binh lính, tội nhân, nô tỳ canh tác dưới hình thức đồn điền, hoa lợi nhập vào quốc khố tức là các đồn điền thời Trần, Hậu Lê như trên đã trình bày); tư điền (do hộ gia đình tự canh tác hoặc phát canh thu tô, nguồn gốc đất là do chủ ruộng tự khai phá hoặc mua của nhà nước thời Trần, là phần ruộng thế nghiệp trong lộc điền thời Lê); ruộng tế tự hay tự điền của nhà chùa,...
Như vậy, về mặt hình thức, các tổ chức kinh tế - xã hội trên đất Hà Nam thời phong kiến khá đa dạng: đồn điền, điền trang, thái ấp, hộ gia đình và kinh tế nhà chùa. Song về bản chất kinh tế, đó vẫn chỉ là kinh tế tiểu nông nặng tính chất tự cấp tự túc, vì lực lượng sản xuất chủ đạo trên phạm vi toàn xã hội vẫn là hộ nông dân với kỹ thuật và công cụ canh tác lạc hậu, kém năng suất. Sự phân hoá xã hội diễn ra chủ yếu trong lĩnh vực sở hữu ruộng đất. Ruộng đất công của nhà nước cũng như của các làng xã ngày càng thu hẹp trong khi ruộng đất tư hữu ngày càng lớn và tập trung vào tầng lớp quý tộc, quan lại, địa chủ, nhà giầu. Trước khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, trên đất Hà Nam đã có một số khá lớn nông dân mất ruộng, trở thành vô sản nông thôn hoặc phiêu bạt khắp nơi.
Trong bối cảnh xã hội tiểu nông, như ở mọi miền quê Việt Nam, “dĩ nông vi bản” vẫn là cái “lẽ nhi nhiên” của đời sống dân cư Hà Nam trong suốt hàng ngàn năm phong kiến. Từ thuở tràn xuống đồng bằng Kim Bảng - Thanh Liêm-Duy Tiên - Lý Nhân - Bình Lục cấy lúa, dân cư Hà Nam đã thấm nhuần lẽ sống đó. Trong không gian đất và nước của miền quê Hà Nam, lẽ sống đó đã trở thành một nguyên lý truyền đời cho các thế hệ nông dân vùng đồng trũng:
“Khai hoang địa, huấn nông tang, thiên niên sinh nghiệp Dưỡng tế ngư, giáo chức bạch, vạn thế điền gia”
(Tạm dịch: Vỡ đất hoang, dạy cày ruộng, chăn tằm, ngàn năm bền chắc cuộc mưu sinh. Nuôi cá bột, khuyến kéo tơ, dệt lụa, muôn đời vững chãi thế nhà nông) (1).
Đó có thể xem là sự thể hiện súc tích, cô đọng về cơ cấu kinh tế và nền nếp xã hội tiểu nông trên đất Hà Nam trong suốt thời kỳ phong kiến.
2. Kinh tế - xã hội Hà Nam thời kỳ Pháp thuộc
Đến thời kỳ Pháp thuộc, (từ năm 1883 và nhất là từ năm 1890 khi tỉnh Hà Nam được thành lập), tình hình kinh tế ở Hà Nam bắt đầu có những thay đổi gắn liền với chính sách khai thác thuộc địa của chủ nghĩa thực dân Pháp. Mục tiêu của chính sách đó là bòn rút tối đa lợi nhuận từ các ngành kinh tế truyền thống của dân ta bằng những thủ đoạn bóc lột nửa phong kiến, nửa tư bản dã man. Chính sách khai thác thuộc địa lần thứ nhất của thực dân Pháp (1896 - 1918) trên đất Hà Nam chú trọng đầu tư khai thác mỏ và đẩy mạnh nông nghiệp, đặc biệt là phát triển các đồn điền, đã gây nên nhiều biến đổi trong phát triển kinh tế - xã hội ở đây trong giai đoạn này.
Dưới thời thuộc Pháp, nông nghiệp vẫn là nền tảng kinh tế trên đất Hà Nam. Trong điều kiện đồng chiêm trũng lúa là cây lương thực hầu như độc canh nhưng phần nhiều chỉ có một vụ trong năm. Những năm 1930, khi nền kinh tế thuộc địa của Pháp ở Đông Dương được xem là thịnh vượng, thì trên đồng đất Hà Nam, năng suất lúa chiêm (vụ tháng 5/1934) ở Duy Tiên là 2.160 kg/ha, ở Kim Bảng là 1.000 kg/ha (1). Từ sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, sản lượng lương thực ở Hà Nam cũng như trong cả nước ngày càng giảm. Biểu 1 dưới đây cho thấy tình hình sản xuất và sản lượng lúa tính theo đầu người những năm đó.
Nguồn: Niên giám Thống kê Đông Dương năm 1931.
Dưới thời thuộc Pháp, giai cấp địa chủ cường hào ngày càng thắng thế, ruộng tư ngày càng lấn chiếm ruộng công của làng xã. Dân mất đất đi phiêu tán ngày càng nhiều. Vùng đồng bằng Sơn Nam Hạ dưới thời Nguyễn được xem là còn nhiều ruộng đất công nhất cả nước. (Đất công của làng xã gồm 2 loại: một là, ruộng đất chung của làng, định kỳ tái phân phối cho dân đinh canh tác và nộp tô cho nhà nước, và hai là, ruộng của làng nhưng không chia, do làng phát canh thu tô để dùng vào việc cúng tế và chi việc làng). Nhưng theo P. Gourou, một học giả người Pháp, thì những năm 1930, ruộng công ở phủ Lý Nhân chỉ còn chiếm 46%, ở huyện Kim Bảng chỉ còn chiếm 54% tổng diện tích canh tác ở mỗi nơi (2).
Người Pháp chỉ chú trọng khai thác nông nghiệp và bóc lột nông dân mà không quan tâm đến việc bảo vệ đê điều. Năm 1915, lụt lớn, đê vỡ 48 chỗ với tổng chiều dài trên 180 km trên các triền sông Đà, sông Thao, sông Hồng, sông Đuống, sông Trà Lý, sông Đào, sông Đáy, làm ngập lụt 221.000 ha lúa ở các tỉnh Sơn Tây, Hà Đông, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình, Thái Bình, Hưng Yên, Phúc Yên, Phú Thọ. Theo con số của chính quyền thuộc địa, thiệt hại lên tới 5,5 triệu đồng Đông Dương(1).
Chính sách thuế khóa của chính quyền thuộc địa rất nặng nề. Thuế cũ, thuế mới không biết bao nhiêu loại được chúng đặt ra làm cho đời sống của người dân ngày càng điêu đứng. Nặng nhất đối với người nông dân là thuế thân đánh vào dân đinh từ 18 - 60 tuổi. Mỗi suất đinh những năm 1930 phải đóng 2,50 đồng/ người, không kể các khoản phụ thu khác do hương lý, kỳ hào tùy tiện quy định. Nếu tính cả phụ thu thì nơi nhiều nộp tới 4,50 đồng/ người, nơi ít cũng 3,00 đồng/ người (2).
Thuế ruộng thời thuộc Pháp được chia làm ba hạng: nhất đẳng, nhị đẳng, tam đẳng. Nhưng khi đóng thuế thì mọi loại ruộng đều nộp theo mức thống nhất là 2,40 đồng/ mẫu. Thuế nhà, đất thổ cư cũng có nhiều loại, nhưng người dân cũng phải nộp theo mức đồng loại. Đó là thủ đoạn biển lận và bóc lột trắng trợn của bọn lý dịch. Chúng luôn chiếm ruộng tốt, nhà cao cửa rộng nhưng cũng chỉ đóng thuế như ruộng xấu, nhà nát của nông dân. Trên thực tế thì chúng không những không mất tiền đóng thuế mà còn hà lạm của dân. Nhiều thứ thuế khác như thuế môn bài, thuế chợ, thuế thân,... luôn đè nặng lên vai người dân, bòn rút cùng kiệt sức lực của họ. Cường độ gia tăng sự bóc lột của bọn thực dân, phong kiến đối với người dân Hà Nam, phần nào được phản ánh qua sự gia tăng ngân sách của bộ máy cai trị cấp tỉnh. Ngân sách tỉnh Hà Nam năm 1905 là 25.000 đồng Đông Dương, năm 1931 là 220.814 đồng (3).
Do chính sách khai thác thuộc địa, nhằm vào bòn rút nông nghiệp và các ngành nghề thủ công truyền thống, cơ cấu kinh tế Hà Nam thời kỳ này có nhiều biến đổi. Trước đây, các nông sản chất lượng cao ở một số vùng trong tỉnh không có điều kiện để mở rộng quy mô sản xuất dưới thời phong kiến do kinh tế tự cung tự cấp không tạo ra nhu cầu trên diện rộng. Thêm vào đó, một số nhu cầu trong tiêu dùng còn bị khống chế bởi sự phân biệt đẳng cấp phong kiến. Trong thời kỳ thực dân, bên cạnh nông nghiệp trồng lúa, màu, các ngành nghề thủ công truyền thống tiếp tục phát triển, có xu hướng mở rộng; một số nghề mới xuất hiện. Sự trao đổi sản vật, hàng hoá trong nội vùng cũng như với bên ngoài trở nên sôi động hơn, xuất hiện sự phân công lao động mang tính chất chuyên ngành trong sản xuất cũng như trong lưu thông trao đổi.
Đến những năm 1930, số người làm nghề thủ công và các nghề phi nông nghiệp khác ở Hà Nam chiếm một tỉ lệ đáng kể trong dân số. Theo P. Gourou (1936), tỷ lệ người làm nghề thủ công trong dân cư của một số tổng ở huyện Duy Tiên thời bấy giờ như sau: tổng Hoàng Đạo có 13% dân số trong tổng làm các nghề hàng xáo, dệt vải, đăng ten; tổng Yên Khê có 11% dân số làm các nghề hàng xáo, đan lát, thợ mộc; tổng Tiên Xá có 16% dân số làm các nghề thợ may, thợ mộc; tổng Trác Bút có 11% dân số làm nghề thợ mộc, thợ nề; tổng Mộc Hoàn có 27% dân số trong tổng làm các nghề dệt vải, hàng xáo, làm đậu phụ. Các tổng ở huyện Lý Nhân cũng gần giống như vậy: tổng Công Xá có 15% dân số làm các nghề thợ mộc, dệt vải, đan lát; tổng Vũ Điện có 13% dân số làm nghề hàng xáo, dệt vải, may mặc; tổng Ngu Nhuế có 25% dân số làm các nghề thợ mộc, đan lát, làm bánh; tổng Cao Đà có 30% dân số làm nghề thợ mộc(1). Các nghề thủ công của dân cư Hà Nam thời kỳ này gồm có cả các nghề truyền thống và các nghề mới (thêu ren, khai thác đá...) được phát triển trong điều kiện mới của thị trường thuộc địa. Có thể nêu sơ bộ như sau:
2.1. Các nghề chế biến nông sản
Cùng với phát triển nông nghiệp, từ xa xưa ở Hà Nam đã có các làng làm nghề chế biến nông sản nổi tiếng. Làng Do Lễ (tổng Khả Phong, huyện Kim Bảng) có giống chè và nghề chế biến chè nổi tiếng thơm ngon. Làng Vĩnh Trụ (tổng Công Xá, phủ Lý Nhân, nay thuộc thị trấn Vĩnh Trụ, huyện Lý Nhân) có những vườn mía rất rộng và nghề nấu mật phát triển. Làng có tới 13 lò nấu mật dùng nguyên liệu mía của các xã lân cận và từ các tỉnh ngoài như Hưng Yên, Thanh Hoá. Người Vĩnh Trụ có thể làm mật rồi chở bằng thuyền đi bán ở các nơi khác hoặc cho thuê lò, làm thuê trong các lò, buôn bán nguyên liệu mía lúc thời vụ làm mật. Làng Mão Cầu (tổng Ngu Nhuế phủ Lý Nhân) có nghề làm bánh. Làng Đầm (Đô Quan, tổng Mộc Hoàn huyện Duy Tiên) có nghề làm đậu phụ, làng Tái (Đinh Xá, tổng Văn Mỹ, huyện Bình Lục) có nghề làm bún đã đi vào ca dao: “Đậu Đầm, bún Tái, gái Ngô Khê”. Làng Ngãi Trì (tổng Mễ Tràng, huyện Thanh Liêm) có nghề ép dầu thực vật. Nghề buôn bán thuốc lào đặc biệt thu hút nhiều người: 35 làng ở Hà Nam có người đến Vĩnh Bảo, Hải Phòng mua thuốc lào đem bán khắp nơi. Làng Mễ Tràng (tổng Mễ Tràng, huyện Thanh Liêm) và làng Trần Thương (tổng Thổ Ốc, phủ Lý Nhân) là hai làng có người làm nghề này đông hơn cả.
Một nghề vốn có từ lâu đời nhưng trở nên phổ biến hơn trong thời kỳ này là nghề làm hàng xáo - chế biến thóc thành gạo. Những năm 1930, Hà Nam có 3.600 người trong tổng số 37.000 người làm nghề này của cả vùng châu thổ Bắc Bộ. Sáu làng ở Hà Nam có làm nghề hàng xáo là: làng Thọ Lão (tổng Hoàng Đạo), làng Lam Cầu (tổng Lam Cầu), làng Yên Tử (tổng Mộc Hoàn), làng Điệp Sơn (tổng Yên Khê) thuộc huyện Duy Tiên; làng Phương Thượng (tổng Phương Đàn, huyện Kim Bảng) và làng Thọ ích (tổng Vũ Điện, phủ Lý Nhân).
2.2. Các nghề đan lưới và chế biến thủy sản
Trong các nghề này ở Hà Nam, chủ yếu có nghề làm mắm và đan lưới đánh cá. Làng Tường Thụy (tổng Chuyên Nghiệp, huyện Duy Tiên) và làng Tế Cát (tổng Ngu Nhuế, huyện Lý Nhân) là những làng chuyên làm nghề đan lưới, đan vó đánh cá cung ứng cho các làng chài và dân đồng chiêm. Các làng Văn Xá, Vũ Xá (tổng Ngu Nhuế, huyện Lý Nhân), làng Qua Cát, Văn Lâm (huyện Thanh Liêm) là những làng đan riu, đan nơm, đan đó bán đi khắp các nơi. Làng Lộc Tùng, Văn Châu (tổng Phù Đạm) và làng Siêu Nghệ (tổng Nhật Tựu) thuộc huyện Kim Bảng là 3 trong 16 làng ở đồng bằng Bắc Bộ có nghề ướp muối cá và làm nước mắm nổi tiếng trong vùng. Đặc biệt là nghề làm nước mắm cá ở làng Siêu Nghệ được truyền từ vùng Nghệ An ra, nước mắm trong, thơm và ngon, được dân cư trong vùng rất ưa chuộng.
2.3. Nghề bông vải và dệt may
Nghể dệt vải bông ở Hà Nam chủ yếu ở các làng khu vực phía Đông của tỉnh với tổng số 2.850 thợ ngồi khung cửi (toàn là phụ nữ). Đó là các làng: Bồ Xá Mỹ Thọ (tổng Bồ Xá), làng Tiên Khoán (tổng Vũ Bản), thuộc huyện Bình Lục; làng Lưu Xá (tổng Nhật Tựu), huyện Kim Bảng; các làng Đại Hoàng, Mạc Thượng (tổng Cao Đà); các làng Trần Xá, Tri Long (tổng Trần Xá) thuộc huyện Lý Nhân. Dệt lụa, kéo tơ có các làng Thọ ích, (tổng Vũ Điện, phủ Lý Nhân); làng Nha Xá, (tổng Bạch Sam, huyện Duy Tiên) đã đi vào tri thức dân gian trong câu ngạn ngữ địa phương: “Lụa Nha Xá, đá Kiện Khê, nuôi dê Kim Bảng”. Số thợ dệt lụa ở Hà Nam là 650 trong tổng số 7.500 thợ chuyên dệt lụa của khu vực Bắc Bộ. Làng Thọ ích (tổng Vũ Điện, phủ Lý Nhân) có nghề thêu. Làng Dưỡng Hòa (tổng Hoàng Đạo, huyện Duy Tiên) tiếp thu nghề mới là nghề làm đăng-ten.
Nghề thợ may ở Hà Nam có 1.200 thợ trong 6.600 thợ của Bắc Kỳ. Các làng thợ may chủ yếu ở Hà Nam là làng Ngọc Lũ (tổng Ngọc Lũ, huyện Bình Lục); làng Tư Can, cổ Châu (tổng Bạch Sam), làng Ngô Xá, Lục Nộn, Tiên Xá, (tổng Tiên Xá) thuộc huyện Duy Tiên; làng Như Trác, Trần Thương (tổng Thổ Ốc, phủ Lý Nhân). Các tay thợ giỏi quê làng Tiên Xá (tổng Tiên Xá); làng Tư Can (tổng Bạch Sam) thuộc huyện Duy Tiên đi làm ăn khắp nơi trong và ngoài nước ở Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn (TP. Hồ Chí Minh ngày nay), Phnông-Pênh (Cămpuchia), Quảng Châu, Vân Nam (Trung Quốc)...
2.4. Nghề xây dựng và sản xuất vật liệu xây dựng
Mặc dù sự đầu tư của tư bản thực dân ở Hà Nam không nhiều, nhưng sự ra đời của các đồn điền, các công sở hành chính, các chương trình kiến tạo hạ tầng cơ sở... của chính quyền thực dân cũng đã tạo ra một nhu cầu lớn hơn hẳn so với thời kỳ phong kiến. Các nghề nung vôi, làm gạch, thợ nề, thợ mộc và các dịch vụ khác về xây dựng được mở rộng và thu hút nhiều lao động nông thôn. Làng Bồ Hưng (tổng Thổ Ốc, phủ Lý Nhân) chuyên làm gạch. Làng Nham Kênh (tổng Cẩm Khê); làng Kiện Khê (tổng Kỷ Cầu) thuộc huyện Thanh Liêm là những làng nung vôi và sản phẩm của họ là mặt hàng đặc trưng ở chợ Kiện:
Vôi chợ Kiện, củi chợ Lường
Nụ chè Bài Lễ măng bương Quèn Vồng (Ca dao)
Làng Phú Hoàn (tổng Lam Cầu), làng Trác Bút (tổng Trác Bút) thuộc huyện Duy Tiên; các làng Đà Xuyên (tổng Cao Đà), Hội Động (tổng Công Xá), làng Điện Bàn (tổng Thố Ốc) thuộc phủ Lý Nhân; làng Yên Cừ (tổng Động Xá) thuộc huyện Thanh Liêm... chuyên đi làm thợ nề khắp chốn cùng quê.
Đội ngũ thợ mộc, thợ xẻ quê Hà Nam đi làm ăn khắp nơi trong Nam ngoài Bắc chủ yếu là người ở các làng của xã Trịnh Xá (tổng Ngô Xá, huyện Bình Lục), làng Vũ Bản (tổng Vũ Bản), làng Bạch Sam (tổng Bạch Sam), làng Lam Cầu (tổng Lam Cầu), làng Tiên Xá (tổng Tiên Xá), làng Trác Bút (tổng Trác Bút), huyện Duy Tiên; làng Thọ ích (tổng Vũ Điện), làng Thượng Nông (tổng Yên Trạch), các làng Cao Đà, Đông Chụ, Trung Kỷ, Đà Xuyên (tổng Cao Đà), làng Thượng Vỹ, Mai Xá (tổng Công Xá), làng Lý Nhân (tổng Đồng Thuỷ), làng Ngu Nhuế (tổng Ngu Nhuế), làng Điện Bàn (tổng Thổ Ốc) thuộc phủ Lý Nhân. Những năm 1930, Hà Nam có khoảng 7.000 thợ trong tổng số 32.000 thợ mộc các loại của miền châu thổ Bắc Bộ. Huyện Lý Nhân có 3.900, huyện Duy Tiên có 1.400 thợ mộc chuyên nghiệp. Cùng nhóm với các nghề này phải kể đến các lái gỗ người làng Vũ Xá (tổng Ngu Nhuế, phủ Lý Nhân).
2.5. Nghề đan lát và các nghề thủ công khác
Đan lát và làm đồ tre: Làng Thử Hòa (huyện Thanh Liêm) làm điếu thuốc lào bằng ống tre; làng Hội Đông (phủ Lý Nhân) đan lờ bắt cá; làng Qua Cát (tổng Động Xá, huyện Thanh Liêm) đan thuyền thúng, đan rành; làng Vũ Xá (tổng Ngu Nhuế, phủ Lý Nhân) đan cót; các làng Hoà Trung (tổng Tiên Xá, huyện Duy Tiên), làng Thức Cốc (tổng Khả Phong, huyện Kim Bảng), làng Qua Cát, Văn Lâm (huyện Thanh Liêm) đan rành, rổ, rá. Làng Cao Cái (tổng Yên Đổ, huyện Bình Lục) nổi tiếng về bện thừng. Nói chung, các làng có nghề đan lát đồ dùng bằng tre đều nổi tiếng về một vài loại sản phẩm nhưng đều có nhiều loại sản phẩm đa dạng từ cây tre phục vụ sản xuất và sinh hoạt: từ cây điếu cày, chiếc rá vo gạo, thúng mủng, dần, sàng, lờ, đó... đến thuyền nan là thứ không thể thiếu đối với người dân vùng đồng nước. Hà Nam có khoảng 2.000 thợ trong tổng số 42.000 thợ đan lát chuyên nghiệp ở châu thổ Bắc Bộ.
“Thúng, làn thôn Đan; Đọi Tam bưng trống” là lời dân gian quảng cáo cho tay nghề của các làng này. Đọi Tam là một giáp của làng Đọi Sơn (huyện Duy Tiên) là một làng nổi tiếng về nghề làm trống da. Những năm 1930, làng có khoảng 100 người chuyên làm nghề này với đồ nghề trên vai đi phục vụ các làng khắp cả nước.
Các làng Tú An, Đức Bàn (tổng Yên Trạch), Văn An (tổng Ngu Nhuế) thuộc phủ Lý Nhân; làng Lam Cầu (tổng Lam Cầu) thuộc huyện Duy Tiên là các làng chuyên làm hương, vàng và đồ hàng mã: thoi vàng, thoi bạc, tiền giấy áo quần, voi ngựa, mũ mão, hia hài... và cả quạt giấy. Cùng nhóm với họ là các bác thợ nhuộm Phú Đa (làng Đa, tổng Công Xá, phủ Lý Nhân):
Quạt giấy, mũ hạc, hài đồng
Phú Đa thợ nhuộm trát hồng bôi xanh (Ca dao)
Thợ rèn: Hà Nam có khoảng 900 người thợ rèn giỏi nghề trong tổng số 2.700 thợ rèn vùng châu thổ Bác Bộ. Thợ rèn vùng đồng trũng Hà Nam có biệt tài rèn những lưỡi cày có hình dạng đặc biệt, phức tạp chuyên dùng cho việc cày loại ruộng ngập nước sâu. (Thông thường, các vùng khác chỉ dùng lưỡi cày bình thường, đúc bằng gang).
Một nhóm nghề thuộc số những dịch vụ mới ra đời do nhu cầu của thời kỳ thuộc địa gồm nghề kéo xe tay (chở khách), bồi bếp, cắt tóc. Các làng La Hào, Bồ Xá, Yên Dương, Mỹ Thọ (tổng Bồ Xá); Tiên Khoán (tổng Vũ Bản); Cao Cái (tổng Yên Đổ) thuộc huyện Bình Lục; Ứng Liêm (tổng Kỳ Cầu), Văn Lâm (tổng Mễ Tràng) thuộc huyện Thanh Liêm có nhiều người đi làm cu li kéo xe ở các thành phố. Các làng có nhiều người làm nghề bồi bếp là Tiên Khoán (tổng Vũ Bản, huyện Bình Lục); Nga Khê (tổng Trần Xá, phủ Lý Nhân). Các làng có nhiều người làm nghề cắt tóc (thợ cạo) là Tràng Duệ (tổng Văn Mỹ), Tái Kênh (tổng Ngô Xá) thuộc huyện Bình Lục.
Sự phát triển của các nghề tiểu thủ công cũng thúc đẩy các hoạt động thương nghiệp, buôn bán phát triển hơn nhiều so với trước. Hệ thống chợ nông thôn được mở rộng. Đến thời thuộc Pháp, nhất là sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất (1914-1918), các chợ ở Hà Nam đã trở nên sôi động hơn. Từ chỗ là một chợ làng nhỏ bé, chợ Bầu phát triển thành chợ hàng tỉnh với sáu phiên hàng tháng vào các ngày hai, ngày bảy, với cảnh mua bán sầm uất, hàng hoá từ khắp các miền trong tỉnh, ngoài tỉnh, trong và ngoài nước. Từ tôm, cá, hến tại chỗ (“Thợ nhuộm Bối Cầu, chợ Bầu tôm cá”, “Lươn chợ Bến, hến chợ Bầu, trầu chợ Sông”) đến cá biển từ Thái Bình, Nam Định đưa lên, nước mắm từ Nghệ An, chiếu cói từ Phát Diệm (Ninh Bình), lụa Hà Đông, vải Nam Định, đến mộc nhĩ, nấm hương, củi đuốc từ miền rừng núi Hoà Bình chuyển xuống...
Những năm 1930, trên địa bàn tỉnh Hà Nam đã có hàng trăm chợ lớn, nhỏ và các tụ điểm buôn bán, trao đổi hàng hoá. Mỗi huyện đều có tới hàng chục chợ. Chẳng hạn như ở huyện Bình Lục bấy giờ có 70 xã, dân số 112. 675 người, diện tích 40. 775 mẫu Bắc Bộ (146,8 km2), nhưng đã có tới 23 chợ; bình quân cứ 3 xã, 5.000 người, 1.772,8 mẫu (6,38 km2) đất thì có 1 chợ (1).
Một nhân tố mới trong kinh tế Hà Nam thời kỳ thuộc Pháp là sự xuất hiện của tư bản nông nghiệp dưới hình thức kinh doanh đồn điền. Đồn điền thực dân về cơ bản khác hẳn đồn điền phong kiến các thời kỳ trước, trước hết ở tính chất sản xuất hàng hoá của nó, và sau nữa, là ở mục đích kinh doanh vừa có tính bóc lột kiểu tư bản vừa có tính khai thác kiểu vơ vét tài nguyên của những chủ đồn điền thực dân để phục vụ cho lợi ích, nhu cầu của chính quốc. Ngay sau khi đánh chiếm Hà Nam, thực dân Pháp đã xúc tiến đầu tư khai thác nguồn tài nguyên và nhân lực dồi dào ở đây. Hà Nam là nơi được chúng chú trọng đầu tư phát triển các đồn điền cây công nghiệp và chăn nuôi thuộc loại sớm nhất ở Bắc Kỳ.
Ngay từ năm 1887, trước khi Toàn quyền Đông Dương ban hành Nghị định ngày 5/9/1888 quy định về việc cấp, nhượng đất nông nghiệp cho việc lập đồn điền ở Bắc Kỳ, ở Hà Nam đã có một đồn điền 25 ha của liên doanh các anh em hai nhà Ghiôm và Bôren với bước đột phá 3.000 gốc cà phê(1). Mười năm sau (năm 1896), ở Hà Nam đã có 6/106 đồn điền, chiếm diện tích 1.885 ha/ 91.460 ha tổng diện tích đồn điền ở Bắc Kỳ lúc đó (2).
Đến năm 1918, trên đất Hà Nam đã có 11 đồn điền (diện tích 2.798 ha) trong tổng số 295 đồn điền của các chủ người Pháp ở các tỉnh Bắc Kỳ (diện tích 417.650,8087 ha). Các đồn điền ở Hà Nam đều liên tục sinh lợi nhờ trồng cà phê nên tồn tại cho đến năm 1945. Biểu 2 dưới đây cho biết các đồn điền của người Pháp ở Hà Nam trong thời Pháp thuộc.
Trong số 11 đồn điền trên đây, có 9 đồn điền với tổng diện tích là 2.547 ha được đưa vào canh tác gồm 1 đồn điền chuyên chăn nuôi, 5 đồn điền kết hợp chăn nuôi với trồng cà phê, 3 đồn điền chỉ chuyên canh cà phê.
Cây cà phê đã theo các giáo sỹ người Pháp đến Hà Nam lần đầu tiên ở làng Lan Mật, giáo xứ Kẻ Sở từ những năm 1870. Hai mươi năm sau, nó được phát triển thành cây chuyên canh trên diện tích 750 ha, thuộc 8/11 đồn điền ở Hà Nam (1). Anh em nhà Ghiôm và Bôren là những chủ đồn điền người Pháp khởi xướng việc trồng cây cà phê ở Bắc Kỳ trên đất Hà Nam. Năm 1887, họ mua 3.000 cây cà phê giống Arabica của một bác sĩ thú y tên là Voanhiê ở Hà Nội đem về trồng ở đồn điền Kẻ Sở. Những năm sau, họ tự ươm và nhân giống rồi trồng đại trà. Năm năm sau (1891) họ đã có 40.000 cây cà phê và 15 năm sau (1903) họ đã có 323.000 cây (2). Giống “cây thuộc địa” này đã làm giàu cho các anh em nhà Ghiôm và Bôren, đưa họ vào danh sách những điền chủ giàu có nhất xứ Bắc Kỳ và nổi tiếng trong giới thực dân thuộc địa của nước Pháp.
Các đồn điền cà phê ở Hà Nam (chiếm gần 40% số gốc cà phê ở Bắc Kỳ) cùng với các đồn điền cà phê khác ở Ninh Bình (chiếm 40% số gốc cà phê ở Bắc Kỳ) hợp thành vùng trọng điểm cà phê của Bắc Kỳ những thập niên đầu thế kỷ XX. Các đồn điền chuyên canh cà phê kết hợp với chăn nuôi gia súc thực hiện kinh doanh theo phương thức: 1 ha cà phê cần có 10 -15 ha đất chăn thả hoặc 4 ha đồng cỏ cho khoảng 15 con đại gia súc(3). Trong tổng số 39 đồn điền cà phê của người Pháp ở Bắc Kỳ thì riêng ở Hà Nam đã có 8 đồn điền với diện tích 748,43 ha; trong đó có 3 đồn điền chỉ chuyên canh cà phê, 5 đồn điền kết hợp trồng cà phê với chăn nuôi gia súc (xem Biểu 3).
Các đồn điền cà phê ở Hà Nam nằm trong vùng rừng núi bán sơn địa thuộc hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng và châu Lạc Thủy không xa vùng chiêm trũng các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục nên có lợi thế cả về đất đai và nhân công. Vùng bán sơn địa là vùng các đồi thấp có đất đai phù hợp việc trồng cà phê. Người nông dân đồng chiêm chỉ cấy được một vụ nên thời gian nông nhàn của họ là điều kiện tốt để các chủ đồn điền luôn có sẵn nhân công ổn định và thuê với giá rẻ mạt. Cây cà phê sinh lợi rất lớn nên tất cả các đồn điền ở Hà Nam (kể cả các đồn điền đa canh) đều lấy cà phê làm cây trồng chính để khai thác lợi thế của vùng đất này. Theo báo cáo của Công sứ tỉnh Hà Nam, năm 1915, chỉ riêng Liên doanh Ghiôm và Bôren đã sản xuất 17 tấn cà phê hàng hóa (1) năm 1931, mặc dù là năm cà phê mất mùa, các đồn điền ở Hà Nam vẫn thu hoạch 77 tấn trên diện tích 675 ha trồng cà phê (2).
Ngoài cây cà phê, các đồn điền ở Hà Nam còn trồng lúa và trẩu, nhưng diện tích không đáng kể. Trong số 11 đồn điền của người Pháp ở Hà Nam có 1 đồn điền chuyên nuôi gia súc. Đó là đồn điền của Đơ Salan được thành lập năm 1901 với diện tích 25 ha, nuôi trâu, bò, dê, cừu và chế biến sản phẩm thịt, sữa. Năm đồn điền khác kết hợp trồng cà phê với chăn nuôi các loại gia súc như trâu, bò, dê, cừu, lấy phân bón cho cây, lấy sữa làm bơ và phó mát, dăm bông.
Ngay từ năm 1889, anh em hai nhà Ghiôm và Bôren đã nuôi 250 con dê và lập xưởng chế biến sữa ở Hà Nam. Đó là xưởng chế biến sữa đầu tiên ở Bắc Kỳ. Năm 1932, ước tính số gia súc của các đồn điền trên đất Hà Nam có khoảng trên 2.000 con bò sữa và bò thịt, gần 1.000 con trâu và 1.370 con dê, cừu. Pho mát và dăm bông là những mặt hàng của đồn điền Ghiôm được bán ở Hà Nội, Hải Phòng. Các đồn điền tổ chức sản xuất và quản lý nhân công chặt chẽ như những xí nghiệp. Dưới chủ là đốc công, thường là người Pháp, rồi đến ký lục và cai. Còn phu đồn điền ở Hà Nam thì có ba loại: Loại thứ nhất là người địa phương bị mất ruộng đất phải đi làm thuê. Loại thứ hai là người từ các nơi khác đến, chủ yếu là từ các tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Hưng Yên; họ sống tập trung ở những dãy lán sơ sài do chủ làm hoặc tự làm. Loại thứ ba là phu thời vụ, sáng đi tối về, đến làm việc cho các đồn điền vào lúc nông nhàn. Chủ đồn điền trả công cho phu rất rẻ mạt, chỉ đủ mua gạo ăn để sống cầm hơi. Đó là chưa kể nạn cúp phạt, nợ lãi, ăn chặn, đánh đập dã man. Bệnh tật, đói rét, chết chóc thường xuyên xảy ra trong các đồn điền siêu lợi nhuận này.
Chính quyền thuộc địa Pháp không quan tâm mở mang và phát triển công nghiệp ở Hà Nam. Chỉ có một vài tư nhân người Pháp lập công trường khai thác đá ở dãy núi đá vôi chạy gần mé nước dọc bờ sông Đáy từ Kiện Khê đến Đoan Vĩ. Trong số những người đầu tiên quan tâm đến việc này ở Hà Nam có anh em nhà Ghiôm khai trương mỏ đá ở Kẻ Sở năm 1883 và Bôren bắt đầu khai thác ở Quyển Sơn vào năm 1884. Sau đó, Chu Văn Luận và một số tư sản Việt Nam cũng tham gia. Đá khai thác ở các mỏ ở Hà Nam được chở bằng thuyền hoặc xe lửa đi các tỉnh để làm đường, kè đê, kè bến sông, xây nhà, nung vôi... Năm 1930 có 18 mỏ đá hoạt động rầm rộ ở ven sông Đáy trên địa bàn Hà Nam (1). Trước năm 1918, các công trường đá ở Hà Nam sản xuất trung bình 50.000m3/năm. Những năm 1920, sản lượng trung bình của ngành khai thác đá ở đây tăng lên tới 145.730 m3/ năm (2). Việc khai thác đá chủ yếu bằng các phương pháp thủ công: nổ mìn để phá đá, dùng búa, xà beng để đục, ghè, đập vỡ thành đá hộc, đá dăm... Công việc rất nặng nhọc và nguy hiểm.
Trong thời thuộc Pháp, kết cấu hạ tầng ở Hà Nam được mở mang và có phần cải thiện đáng kể, chủ yếu để phục vụ cho việc khai thác thuộc địa. Hệ thống giao thông thuỷ bộ bao gồm đường sắt, đường bộ, đường sông dần dần được hình thành, tạo thành một mạng lưới giao thông, vận tải liên hoàn làm thay đổi căn bản tình trạng giao thông kém phát triển thời kỳ phong kiến trước đó. Đoạn đường thiên lý Bắc - Nam chạy ngựa trạm trên địa bàn của tỉnh xưa kia được thay thế bằng đoạn Quốc lộ số 1 dài 42 km xây dựng năm 1885, trên cơ sở cải tạo, đào đắp, chỉnh nắn địa hình để trở thành con “đường cái” của tỉnh và của cả nước, bề thế, thuận tiện hơn nhiều so với tuyến đường cổ truyền.
Đường 21 được làm năm 1904-1905, dài 73km nối chiều Đông Nam - Tây Bắc chạy từ cầu Họ (huyện Bình Lục) qua thị xã Phủ Lý và Chi Nê đến Nhượng Lạo (châu Lạc Thủy, tỉnh Hoà Bình). Một số tuyến giao thông đường bộ cũng được mở mang. Một số tuyến đường bộ liên tỉnh như đường 21B, 22, 60, 61, 63B... cũng được rải đá. Những thập niên đầu thế kỷ XX, Hà Nam có khoảng 155km đường rải đá và 215km đường đất liên huyện. Những con đường này tạo thành một mạng lưới giao thông nối Hà Nam với các vùng lân cận và cả nước.
Năm 1905, tuyến đường xe lửa Lạng Sơn - Hà Nội - Vinh được hoàn thành. Đoạn đường sắt chạy qua địa phận tỉnh Hà Nam dài 34 km, có các ga chính là Đồng Văn, Phủ Lý và Bình Lục. Đây lại là một nhân tố hoàn toàn mới trong đời sống kinh tế - xã hội của Hà Nam.
Các tuyến đường thủy cũng được chú trọng khai thác, lúc đầu là người Pháp và sau này là các doanh nhân người Việt Nam. Tàu thủy các tuyến Hải Phòng - Nam Định - Hà Nội, Hà Nội - Nam Định - Hà Nội đều chạy qua đoạn sông Hồng thuộc tỉnh Hà Nam dài 39km với các bến Phương Trà, Như Trác, Vũ Điện, Nga Khê (huyện Lý Nhân), Từ Đài, Yên Lạc, Hoàn Dương (huyện Duy Tiên). Những thập niên đầu thế kỷ XX, trên các tuyến đường thuỷ này người ta thường thấy có các con tàu “Đồng Lợi” của hãng tàu thuỷ Nguyễn Hữu Thu, “Phi Phụng”, “Phi Long”, “Trưng Trắc”, “Minh Mạng” của hãng tàu thuỷ Bạch Thái Bưởi chở khách đi về. Trên tuyến sông Đáy thường có thuyền đi từ trung du xuôi xuống, mang lâm sản vào Hà Nam từ Tân Sơn (huyện Kim Bảng) qua Phủ Lý, Thanh Liêm, hoặc chuyên chở đá vôi được khai thác ở các mỏ Kẻ Sở, Vũ Xá. Sông Châu trở thành tuyến giao thông thuỷ quan trọng và hiệu quả nối liền sông Đáy với sông Hồng.
Về cơ sở hạ tầng xã hội, dưới thời Pháp thuộc, cả tỉnh Hà Nam chỉ có một bệnh viện 20 - 30 giường bệnh với một bác sĩ và một vài y tá trông nom bệnh nhân. Từ năm 1930, ở các huyện bắt đầu có trạm xá với một y tá và một nữ hộ sinh. Năm 1932, cả tỉnh có 32 nữ hộ sinh làm nhiệm vụ đỡ đẻ ở các làng đông dân. Bệnh viện, trạm xá và các dịch vụ y tế hiếm hoi chủ yếu phục vụ số người có quyền chức và giàu có. Tình trạng bệnh nhỏ phát triển thành dịch lớn thường xảy ra.
Đối với giáo dục, trước năm 1923, mỗi tổng có một trường “tổng sư” gồm 3 lớp: đồng ấu, dự bị và sơ đẳng. Năm 1930, các huyện bắt đầu có trường “kiêm bị” tức là trường tiểu học Pháp - Việt toàn cấp. Riêng huyện Bình Lục có 2 trường “kiêm bị” ở huyện lỵ và ở Ngô Khê. Mục đích của các trường học này là đào tạo ra những người phục vụ chính quyền thuộc địa. Năm 1931 chỉ có khoảng 2% dân số trong tỉnh được đi học.
Việc thực dân Pháp đẩy mạnh khai thác, chiếm đoạt, giành đặc quyền về các ngành kinh tế quan trọng, lợi nhuận lớn và câu kết với cường hào phong kiến bóc lột nhân dân, du nhập phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đã làm cho các tầng lớp dân cư Hà Nam phân hóa sâu sắc. Theo thống kê năm 1944 - 1945, toàn tỉnh Hà Nam có 3.458 địa chủ (4% dân số), chiếm hữu 16.812 ha ruộng (tức là 31% diện tích canh tác ở khu vực thôn quê). Số địa chủ lớn không nhiều, cả tỉnh có trên 30 hộ nhưng đều có quan hệ mật thiết với thực dân phong kiến. Địa chủ Bang Diệu ở thôn Tâng (Thanh Liêm) cùng con cháu ba đời chiếm hữu hàng ngàn mẫu ruộng ở vùng này.
Phương thức bóc lột chủ yếu của giới địa chủ mới là phát canh, thu tô và cho vay nặng lãi. Tô chính phải nộp 50% hoa lợi. Ngoài ra còn một khoản tô phụ cũng khá nặng. Tức cũng rất nặng, vay tiền lãi 10% trả trước, vay thóc từ tháng 5 đến tháng 10 trả gấp rưỡi. Nhưng thủ đoạn thâm độc hơn cả là bọn chúng bắt người vay phải viết văn tự thế chấp ruộng đất. Chính đó là nguyên nhân khiến cho nhiều nông dân bị mất ruộng đất rất nhanh và vô phương cứu vãn. Một số địa chủ ở Hà Nam tham gia hoạt động thương mại. Phạm Quang Vọng (huyện Thanh Liêm) có tiệm cầm đồ ở thị xã Phủ Lý. Phạm Quang Doãn có nhà cho thuê ở Phủ Lý, Hà Nội. Hàn Tư ở thôn Tâng (huyện Thanh Liêm) mở xưởng pháo, xưởng chè Yên Phú cạnh tranh với chè chính quốc Pháp. Đây là bước khởi đầu của quá trình chuyển hóa từ địa chủ sang tư sản của giai cấp địa chủ Hà Nam.
Giai cấp nông dân Hà Nam chiếm 90% dân số. Dân đông, đất trồng trọt ít, bình quân mỗi nhân khẩu trung nông chỉ được 3 sào, bần nông 1 sào 6 thước, cố nông chỉ có 0 sào 8 thước, đa số là ruộng xấu. Người dân vùng đồng chiêm trũng quanh năm chỉ trông vào một vụ chiêm, luôn bị thất bát, nhiều gia đình triền miên sống bằng khoai sắn, bữa cháo bữa rau. Ruộng đất xấu, chế độ canh tác lạc hậu, thiên tai đe dọa, mất mùa thường xuyên xảy ra càng làm cho đời sống người nông dân khốn cùng.
Giai cấp tư sản ở Hà Nam được hình thành rõ rệt từ sau Đại chiến thế giới lần thứ nhất, nhưng số lượng không nhiều, phần lớn là tư sản thương mại, trong đó đáng kể nhất là số tư sản Hoa kiều. Một số tư sản kiêm địa chủ vừa kinh doanh thương mại, vừa sở hữu hàng chục mẫu ruộng đất, phát canh thu tô. Đa số tư sản ở Hà Nam thời thuộc Pháp là người nơi khác đến kinh doanh. Điều kiện kinh doanh eo hẹp, môi trường kinh tế - xã hội không thuận lợi, nên ít người trụ lại. Sự yếu kém về kinh tế làm cho vị trí xã hội của tầng lớp tư sản ở Hà Nam cũng thấp kém.
Giai cấp công nhân Hà Nam hình thành từ tầng lớp phu mỏ, phu đồn điền từ những năm 1880, và chỉ trở thành một lực lượng đông đảo vào đầu thế kỷ XX, khi các xưởng gạch ngói, các lò bát, lò vôi, xưởng giấy được xây dựng. Theo thống kê năm 1930, ở Hà Nam có khoảng 1.400 công nhân làm việc thường xuyên trong các đồn điền, xưởng sản xuất thủ công, công trường, mỏ khai thác đá... Cuộc sống của họ hết sức cơ cực, bị trói chặt vào hợp đồng của chủ, lương thấp không đủ sống và thường bị đánh đập, chửi mắng, cúp phạt tiền lương một cách vô cớ.
Như vậy, trong thời kỳ thuộc Pháp trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945, kinh tế - xã hội Hà Nam đã có những biến đổi to lớn. Bên cạnh kinh tế tiểu nông và các quan hệ kinh tế phong kiến, đã xuất hiện các hình thức và quan hệ kinh tế tư bản chủ nghĩa với sự xuất hiện của những thành phần kinh tế mới, ngành nghề mới, các tầng lớp và giai cấp xã hội mới. Một số cơ sở công nghiệp khai thác, chế biến nguyên liệu, cơ sở thương mại, dịch vụ và đồn điền nông nghiệp kiểu tư bản chủ nghĩa được hình thành. Kết cấu hạ tầng thủy lợi, giao thông và lưu thông hàng hóa được phát triển bước đầu. Nền kinh tế nói chung bắt đầu xuất hiện những yếu tố của sản xuất hàng hoá và bị cuốn vào thị trường của một xã hội thuộc địa. Một số sản phẩm, hàng hoá ở Hà Nam đã được xuất ra thị trường thế giới.
Tuy nhiên, trong điều kiện của nền kinh tế - xã hội thuộc địa nửa phong kiến (và do bản chất của chế độ kinh tế - xã hội này), nên những biến đổi kinh tế - xã hội của Hà Nam (cũng như của cả nước thời bấy giờ) đã không mang lại lợi ích cho quảng đại nhân dân, cho các tầng lớp lao động; mà trái lại, càng làm cho kinh tế - xã hội Hà Nam bị phân hoá một cách sâu sắc hơn, đẩy các tầng lớp lao động và quảng đại nhân dân trong tỉnh vào tình trạng nghèo đói và bần cùng hơn. Nạn đói khủng khiếp tháng 3-1945 và những hậu quả tàn khốc của nó ở Hà Nam chính là hệ quả của chế độ kinh tế - xã hội thực dân phong kiến thời kỳ này. Đó thực sự là “đêm trường nô lệ”. Song đó cũng chính là “đêm trước của cách mạng” cả về kinh tế lẫn xã hội, trên đất Hà Nam.
3. Kinh tế - xã hội Hà Nam thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954)
Ngay sau Cách mạng Tháng 8 giành được thắng lợi, công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nam đã phải đương đầu với hàng loạt khó khăn và thách thức to lớn. Chế độ ruộng đất và chế độ kinh tế kiểu thực dân nửa phong kiến nói chung cùng với tàn dư và hậu quả của nó vẫn tồn tại nặng nề. Hậu quả của nạn đói khủng khiếp diễn ra vào đầu năm 1945 với hàng chục vạn người chết, hàng trăm ha đồng ruộng hoang hoá và nhiều làng mạc xơ xác, tiêu điều sau nạn đói chưa kịp khắc phục thì thiên tai, lụt lội, hạn hán lớn lại liên tiếp xảy ra ở nhiều nơi. Đặc biệt là lụt lớn ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Kim Bảng đã làm cho sản xuất và đời sống của nhân dân gặp rất nhiều trở ngại, khó khăn. Hầu hết các lĩnh vực kinh tế từ sản xuất, giao thông vận tải đến buôn bán, trao đổi hàng hoá đều bị giảm sút. Trong khi đó, quân Tưởng Giới Thạch đóng ở Phủ Lý cấu kết với bọn việt gian phản động ra sức chống phá cách mạng, trắng trợn cướp bóc tài sản, vơ vét lương thực, thực phẩm, làm rối loạn thị trường và cản trở các hoạt động kinh tế của nhân dân.
Do đó, cùng với việc củng cố hệ thống chính trị và chính quyền cách mạng, đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nam đã nhanh chóng bắt tay vào công cuộc tái thiết, mở mang nền kinh tế của tỉnh. Thực hiện sắc lệnh ruộng đất và các chỉ thị, chính sách mới của Đảng và Chính phủ, đảng bộ và chính quyền cách mạng các cấp ở Hà Nam đã tịch thu hàng nghìn ha đất đai, đồn điền của thực dân Pháp và bọn việt gian bán nước đem chia cho nhân dân; vận động các điền chủ, phú nông hiến đất đai để chính quyền cấp cho người nghèo và tiến hành chia lại công điền, công thổ ở nhiều địa phương. Đến năm 1949, chính quyền các cấp trong tỉnh đã tạm cấp 983 mẫu ruộng cho hơn 1.000 hộ dân nghèo không có ruộng hoặc thiếu ruộng sản xuất, vận động các điền chủ hiến hơn 3.500 mẫu ruộng và chia lại công điền cho hàng vạn hộ dân cư. Chỉ riêng ở huyện Duy Tiên, chính quyền đã tịch thu của bọn việt gian, địa chủ hơn 500 mẫu ruộng, nhiều xã có tới 2/3 ruộng đất công được chính quyền tổ chức chia lại (1).
Đồng thời với việc thi hành chính sách ruộng đất, Đảng bộ và chính quyền các cấp trong tỉnh đã thực hiện giảm thuế điền thổ 20%, miễn thuế điền thổ cho những nơi bị thiên tai, bão lụt; thực hiện sắc lệnh giảm tô của Chính phủ, vận động nhân dân đấu tranh buộc các điền chủ, địa chủ, phú nông phải giảm tô 25% cho nông dân. Tỉnh cũng đã thành lập Nông khố Ngân hàng để cho nông dân vay vốn đầu tư phát triển sản xuất (1).
Nhờ thực hiện các chủ trương, chính sách nói trên, phong trào tăng gia sản xuất đã được đẩy mạnh ở hầu khắp các địa phương. Hàng nghìn mẫu ruộng đã được khai hoang, phục hóa để sản xuất lúa, hoa màu, rau đậu phục vụ cho cứu đói và nhu cầu lương thực, thực phẩm của nhân dân lúc bấy giờ.
Cùng với việc đẩy mạnh khai hoang, phục hoá, nhân dân ở nhiều nơi trong tỉnh như Kim Bảng, Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, đã đóng góp hàng vạn ngày công tu bổ đê điều, đào đắp kênh mương để chống hạn, tiêu úng, khoanh vùng chống lũ phục vụ cho sản xuất. Chỉ riêng ở huyện Duy Tiên, nhân dân đã đóng góp hơn 22 vạn ngày công, đào đắp, nạo vét và tu bổ hơn 40 km kênh, mương thủy lợi với tổng khối lượng đào đắp trên 40 vạn m3 đất, đảm bảo tưới tiêu nước cho 13.900 mẫu ruộng (2). Các xã ở tả ngạn sông Đáy huyện Kim Bảng đến cuối năm 1948 cũng nạo vét, tu sửa hơn 30 km kênh mương phục vụ tưới tiêu nước cho 2.000 ha lúa (3).
Kết quả là, đến năm 1947, diện tích cấy lúa của toàn tỉnh đã đạt 63.000 ha, tổng sản lượng đạt 68.000 tấn, tăng hơn đáng kể so với năm 1946. Năng suất lúa chiêm ở một số nơi trong các năm 1947 - 1948 đã đạt tới 70 - 76 kg/sào (gấp đôi so với năng suất lúa bình quân chung của tỉnh lúc bấy giờ là 33 - 35 kg/ sào). Chăn nuôi lợn, trâu bò, gia cầm cũng tăng nhanh. Các nghề khai thác, đánh bắt thuỷ sản và nuôi thả cá phát triển mạnh ở các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục.
Nhiều ngành nghề tiểu thủ công nghiệp được phục hồi và phát triển như sản xuất gạch ngói ở Trung Thứ, Nhật Tựu, Kim Bình (huyện Kim Bảng), khai thác đá ở Kiện Khê (huyện Thanh Liêm), trồng bông, kéo sợi ở An Lão, dệt vải ở Nha Xá (huyện Duy Tiên), Ngọc Lũ (huyện Bình Lục), Nhân Hậu (huyện Lý Nhân). Nhật Tân, Hoàng Tây, làm đồ thủy tinh ở Khả Phong, sản xuất đồ gốm ở Ngọc Sơn thuộc Kim Bảng; đan lát ở Đạo Lý, làm đường mật ở Vĩnh Trụ,... Đến năm 1950, toàn tỉnh đã có 150 cơ sở, xí nghiệp tiểu thủ công nghiệp và hàng nghìn hộ tư nhân, cá thể hoạt động trong lĩnh vực này.
Hoạt động thương mại và giao lưu trao đổi hàng hóa cũng phát triển mạnh ở nhiều nơi trong tỉnh. Việc buôn bán, trao đổi ở các chợ như chợ Đại Thịnh, Ba Đa, chợ Đầm, chợ Đọ, chợ Quế, chợ Hòa Mạc... diễn ra khá nhộn nhịp, hàng hoá phong phú hơn nhiều so với trước. Chính quyền và nhân dân trong tỉnh cũng tích cực đấu tranh chống đầu cơ, buôn lậu, tăng giá làm rối loạn thị trường; đặc biệt là đối với các mặt hàng thiết yếu như lương thực (lúa, gạo), dầu thắp, vải, giấy, muối ăn, thuốc chữa bệnh...
Để tăng cường sức sản xuất và tạo lập các hình thức sản xuất mới, tháng 2-1949, tỉnh ủy Hà Nam đã quyết định thành lập Ban vận động hợp tác xã (HTX) trong tỉnh, vận động nhân dân góp cổ phần và hợp tác làm ăn tập thể. Cuối năm 1949, toàn tỉnh đã có 57 HTX, trong đó có 3 HTX thủ công nghiệp, còn lại hầu hết là HTX nông nghiệp, với tổng số xã viên là 6.400 người, tổng số vốn của các HTX có tới 1.660.633 đồng. Đến 3-1950, toàn tỉnh có 70 HTX nông nghiệp, 3 HTX thủ công nghiệp, 2 HTX thu chi và 1 HTX nghề cá (1). Một số HTX được thành lập sớm và tổ chức sản xuất khá tốt như Phù Đê (xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng), Trác Bút, Lảnh Trì (xã Mộc Hoàn Nam), Trung Gián Đông (xã Chuyên Nghiệp Nội) huyện Duy Tiên.
Việc thực hành tiết kiệm, hỗ trợ cứu đói cho nhân nhân và đóng góp các nguồn lực kinh tế cho công cuộc kháng chiến cũng được vận động rộng rãi với sự hưởng ứng, tham gia của đông đảo các tầng lớp nhân dân trong tỉnh. Với truyền thống “lá lành đùm lá rách”, nhân dân ở các huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân,... đã quyên góp hàng chục tấn lương thực, thực phẩm để ủng hộ cứu đói và quyên góp tiền, công cụ sản xuất, công lao động để giúp đỡ sản xuất cho hàng nghìn hộ nghèo. Chính quyền tỉnh và các địa phương cũng thường xuyên xuất gạo dự trữ cứu đói cho các hộ nghèo và nhân dân ở những nơi gặp thiên tai, mất mùa, nghiêm cấm đầu cơ tích trữ và tăng giá lương thực, làm rối loạn thị trường.
Tuy nhiên, sự phát triển kinh tế của Hà Nam giai đoạn này đã gặp phải không ít khó khăn. Một mặt, do phải chuẩn bị cho kháng chiến và đối phó với chiến tranh, nên nhiều cơ sở sản xuất phải sơ tán, nhiều tuyến giao thông đường bộ, đường sắt, cầu, phà, nhà xưởng, công trình kiến trúc và nhà ở của nhân dân phải phá dỡ để thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”. Mặt khác, việc tập trung sức người, sức của cho kháng chiến với tinh thần tự cấp, tự túc, tự lực cánh sinh đã ảnh hưởng nhất định đến việc huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế của tỉnh. Hơn nữa, từ năm 1947, thực dân Pháp bắt đầu tăng cường ném bom đánh phá và mở các cuộc hành quân càn quét, cướp bóc và tàn phá ở một số địa phương gây nhiều trở ngại và thiệt hại cho hoạt động kinh tế của nhân dân trong tỉnh. Sản xuất và đời sống của nhân dân ở một số nơi như thị xã Phủ Lý, các xã vùng tạm chiếm ở Bình Lục, Lý Nhân... luôn bị o ép, xáo trộn và mất ổn định.
Từ năm 1950, thực dân Pháp mở rộng lấn chiếm Hà Nam và các tỉnh đồng bằng Bắc bộ. Cuộc kháng chiến của quân và dân Hà Nam ngày càng trở nên ác liệt. Nền kinh tế của tỉnh cũng bước vào giai đoạn phát triển đầy cam go. Cùng với việc mở rộng chiếm đóng và tăng cường khủng bố nhân dân, thực dân Pháp còn mở hàng trăm cuộc càn quét, cướp bóc, phá hoại về kinh tế theo kiểu “đốt sạch, giết sạch, phá sạch” hết sức tàn bạo. Chúng ra sức cướp bóc lương thực và tài sản, đốt phá làng mạc, phá hoại mùa màng, bắn giết trâu bò cày kéo, lập vành đai trắng và hệ thống đồn bốt dày đặc để kiểm soát, ngăn cản hoạt động sản xuất và giao lưu kinh tế của nhân dân. Hàng ngàn mẫu ruộng ở vành đai trắng dọc sông Đáy và ven các trục giao thông phải bỏ hoang hoá. Ở một số nơi, địch càn đi quét lại nhiều lần, đồng thời kiểm soát các cống, đập tưới tiêu nước, không cho tiêu úng để phá hoại mùa màng.
Thực dân Pháp cũng dùng mọi thủ đoạn bắt thanh niên đi lính để mở rộng chiến tranh, gây nhiều trở ngại về nhân lực cho hoạt động sản xuất. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 1953, địch đã càn quét 44 xã trong tỉnh, cho xe lội nước phá hoại tới 1.922 mẫu lúa (khoảng 650 ha), 383 mẫu hoa màu, 33 mẫu mạ, đốt 750 tấn thóc, giết và bắt 82 con trâu, bò, đốt phá nhiều làng mạc, nhà ở và tài sản của nhân dân. Nhiều đoạn đê, bối và công trình thủy lợi xung yếu bị sạt lở nhưng không được tu bổ như đê sông Châu đoạn ở Hoành Uyển, bối đê sông Hồng đoạn ở Nhân Long, đoạn đê sông Sắt ở Bình Điền (1)...
Mặc dù vậy, công cuộc phát triển kinh tế của Hà Nam vẫn được đẩy mạnh, nhất là ở những vùng tự do và những vùng chiến tranh du kích phát triển mạnh. Trong thời gian này, tỉnh đã cung cấp hơn 600 con trâu, bò và nhiều công cụ, phương tiện để phục vụ cho sản xuất của nhân dân. Nhân dân các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên và nhiều địa phương khác vẫn tích cực khai hoang, phục hoá, tăng diện tích trồng trọt. Năm 1952, diện tích cấy lúa ở huyện Kim Bảng tăng thêm 1.200 mẫu (hơn 400 ha), ở huyện Thanh Liêm tăng 500 mẫu (khoảng 170 ha). Năm 1953, diện tích cấy lúa của toàn tỉnh tăng thêm 3.000 mẫu. Diện tích trồng màu cũng tăng lên đáng kể.
Ngay trong chiến tranh ác liệt, chính quyền các cấp cũng tiếp tục thực hiện chính sách ruộng đất và mở rộng giảm tô. Ở nhiều nơi chính quyền đã tiến hành chia lại công điền, tạm giao ruộng công thổ, ruộng vắng chủ cho các hộ nghèo, hộ thiếu ruộng để tăng gia sản xuất; điều chỉnh lại một số ruộng bán công, bán tư và ruộng hậu ở các làng xã. Đến cuối năm 1953, chính quyền và nhân dân trong tỉnh đã tịch thu 14.135 mẫu ruộng của thực dân Pháp và Việt gian phản động để tạm chia cho 15.140 hộ nông dân nghèo, tiến hành chia lại hơn 40.846 mẫu ruộng công cho nhân dân.
Các nghề tiểu thủ công nghiệp cũng phát triển ở nhiều nơi trong tỉnh. Song do chiến tranh ác liệt, nhiều ngành nghề và cơ sở sản xuất tiểu thủ công bị đình đốn, giảm sút. Trong những năm 1952 - 1953, toàn tỉnh có trên 1.000 khung dệt vải, hàng chục lò gốm, lò rèn, đúc gang, gò, hàn, cơ kim khí, làm gạch ngói, làm khuy trai,... phải ngừng sản xuất. Hoạt động thương mại cũng có những xáo trộn, sa sút ở nhiều địa phương. Mặc dù một số chợ và đầu mối giao lưu thương mại ở vùng tự do thuộc các huyện Kim Bảng, Lạc Thuỷ (nay thuộc tính Hoà Bình), công việc buôn bán, trao đổi hàng hoá vẫn diễn ra khá nhộn nhịp, song hoạt động thương mại, dịch vụ ở thị xã Phủ Lý và nhiều thị trấn, huyện lỵ khác đã bị giảm sút nặng nề.
Các hoạt động buôn bán, dịch vụ và hoạt động kinh tế nói chung ở thị xã Phủ Lý hầu như tê liệt. Cả thị xã lúc bấy giờ chỉ còn khoảng 80 hộ dân cư. Chợ Trấn là chợ lớn nhất thị xã cùng với nhiều cửa hàng, cửa hiệu không còn hoạt động, phố xá tiêu điều, hàng hoá khan hiếm, đắt đỏ.
Thêm vào đó, vào những năm 1952-1953, Hà Nam lại bị thiên tai (lũ lụt, hạn hán) tàn phá nặng nề. Sản xuất và đời sống của nhân dân ở nhiều nơi gặp rất nhiều khó khăn, nạn đói lại tái diễn trên diện rộng và trở nên trầm trọng. Thời gian này toàn tỉnh có tới gần 12.500 hộ thiếu đói nặng, hơn 21.400 hộ thiếu ăn. Cho đến cuối năm 1954, khi chiến tranh đã kết thúc, toàn tỉnh vẫn có tới 8.675 hộ đói, thiếu ăn. Nhân dân trong tỉnh đã giúp đỡ và cho nhau vay tới 93,3 tấn thóc, 1,8 tấn gạo, 4,2 triệu đồng và nhiều phương tiện sản xuất khác. Chính quyền và nhân dân trong tỉnh cũng đấu tranh, vận động địa chủ, phú nông không đầu cơ, tích trữ lúa gạo, cho chính quyền kháng chiến chưng vay hơn 200 tấn thóc để hỗ trợ cứu đói và chi viện cho kháng chiến, tiếp tục vận động nhân dân hỗ trợ lẫn nhau để vượt qua khó khăn, phát triển sản xuất, ổn định đời sống.
Có thể nói, thời kỳ 1946-1954 là thời kỳ khởi đầu phát triển nền kinh tế Hà Nam dưới chế độ mới, theo hướng tự chủ, tự cấp tự túc, phục vụ kháng chiến, kiến quốc và mở mang đời sống của nhân dân. Đây là thời kỳ đầy thử thách, cam go. Hà Nam vừa phải đối phó với chiến tranh và những hậu quả nặng nề của chiến tranh và của thiên tai, đồng thời phải đối phó với đói nghèo, lạc hậu và những hậu quả của chế độ kinh tế thực dân phong kiến để lại. Tuy gặp nhiều khó khăn, song những thành tựu mà đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nam đạt được trong thời kỳ này có ý nghĩa to lớn trên nhiều mặt đối với công cuộc tái thiết và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những giai đoạn tiếp sau.
4. Kinh tế - xã hội tỉnh Hà Nam thời kỳ 1955 - 1985
Với thắng lợi lịch sử của cuộc kháng chiến chống Pháp, ngày 3 tháng 7 năm 1954, tỉnh Hà Nam được hoàn toàn giải phóng. Nền kinh tế của tỉnh từng bước phục hồi và phát triển cùng với những cải cách sâu rộng cả về lực lượng sản xuất lẫn quan hệ sản xuất. Chế độ kinh tế và quan hệ bóc lột kiểu thực dân phong kiến bị xoá bỏ hoàn toàn. Từ cuối những năm 1950, Hà Nam tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế, từng bước xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất mới, phát triển lực lượng sản xuất, đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh phát triển theo quỹ đạo của chủ nghĩa xã hội, đồng thời cùng cả nước chi viện đắc lực cho cuộc kháng chiến chống Mỹ để giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.
4.1 Khôi phục sản xuất và ổn định kinh tế sau chiến tranh, cải cách dân chủ nền kinh tế, xóa bỏ các quan hệ bóc lột (1955 -1957)
Sau hoà bình lập lại, tình hình kinh tế - xã hội ở Hà Nam có nhiều khó khăn, phức tạp và không ít những xáo trộn. Nền kinh tế của tỉnh vốn nghèo nàn, lạc hậu, lại bị chiến tranh và thiên tai tàn phá nặng nề. Đường sá, cầu, phà giao thông và nhiều công trình thuỷ lợi, thuỷ nông bị hư hại. Hàng nghìn ha đất đai, ruộng, vườn bị hoang hoá do ngập úng, hạn hán, thiếu giống vốn và nhân lực sản xuất. Nhiều xí nghiệp, cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp và hàng nghìn hộ dân cư sơ tán trong thời kỳ chiến tranh trở về nơi cũ chưa ổn định được sản xuất và đời sống. Tình trạng đầu cơ, tích trữ hàng hoá, cho vay nặng lãi gây rối loạn thị trường chưa được kiểm soát trong khi nạn đói diễn ra ở nhiều địa phương.
Để phục hồi sản xuất, công việc cấp bách lúc bấy giờ là vận động nhân dân tu bổ lại đê điều, kênh mương thuỷ lợi, thuỷ nông, sửa chữa cầu, đường và các hệ thống, công trình giao thông trên địa bàn tỉnh. Công việc này đã được xúc tiến một cách mạnh mẽ và quyết liệt. Chỉ trong 3 tháng, từ tháng 7 đến tháng 9 năm 1954, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp hơn 252,5 nghìn ngày công lao động, đào đắp 46.488 m3 đất để tu bổ đê điều, kênh máng thuỷ lợi, thuỷ nông, đắp mới 7 bối đê với tổng chiều dài hơn 300 km. Nhiều tuyến đê xung yếu như Hữu Bị, Bắc sông Châu, tuyến từ Lạc Tràng - Cống Điệp đến Lý Nhân, Bình Lục về đến Phủ Lý đã được tu bổ, gia cố thêm. Một số cống lớn trên đê sông Đáy cũng đã được sửa chữa kịp thời để phục vụ cho tiêu úng, thoát lũ.
Những năm 1955 - 1956, tỉnh tiếp tục huy động hàng triệu ngày công lao động để đắp đê trên các tuyến sông Hồng, sông Đáy, sông Châu; xây dựng cống Liên Mạc trên đê sông Đáy và đê quai sông Hồng ở Hữu Bị; sửa chữa, nạo vét và đào đắp kênh mương nội đồng. Công tác thủy lợi, thuỷ nông được phát động rộng khắp ở hầu hết các địa phương, mạnh nhất là ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục và Lý nhân. Diện tích được tưới tiêu nước của tỉnh tăng thêm hàng chục nghìn ha. Riêng ở các huyện Duy Tiên và Kim Bảng, hệ thống thuỷ lợi, thủy nông đã có thể tưới nước cho 20.000 mẫu ruộng (hơn 7.000 ha) (1).
Việc sửa chữa, khôi phục giao thông vận tải cũng diễn ra hết sức khẩn trương, đặc biệt là trên tuyến quốc lộ 1A, các tuyến giao thông liên tỉnh, liên huyện như đường 21, đường 22, đường 60 và hệ thống cầu, đường sắt, nhà ga xe lửa trên địa bàn. Đến tháng 9-1954, nhân dân trong tỉnh đã đóng góp hơn 29.000 ngày công lao động, đào đắp 165.000 m3 đất đá và đóng góp nhiều nguyên vật liệu khác cho việc sữa chữa, tu bổ các công trình giao thông, sửa chữa hơn 263km đường bộ, 34km đường sắt, các ga Phủ Lý, Bình Lục, Đồng Văn và hàng chục cầu, phà, hàng trăm km đường giao thông nông thôn. Toàn bộ các tuyến đường, cầu, phà, bến bãi giao thông vận tải quan trọng đã có thể hoạt động bình thường trở lại. Cầu Phủ Lý trên quốc lộ 1A là cầu đường bộ lớn nhất ở Hà Nam lúc bấy giờ đã hoàn thành sữa chữa vào tháng 10-1955. Các tuyến giao thông đường thủy trên sông Hồng, sông Châu, sông Đáy cũng đã hoạt động bình thường, đảm bảo sự đi lại, vận chuyển, giao lưu hàng hoá và đi lại của nhân dân.
Các ngành sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại... cũng được phục hồi và có bước phát triển. Trong sản xuất nông nghiệp, chỉ 1 năm sau giải phóng, từ tháng 7-1954 đến tháng 7-1955, toàn tỉnh đã phục hóa được hơn 5.000 mẫu ruộng (chiếm trên 60% tổng diện tích hoang hóa sau chiến tranh). Diện tích và năng suất các loại cây trồng đều tăng lên đáng kể. Diện tích lúa cả năm của Hà Nam đã đạt gần 200.000 mẫu (khoảng 70.000 ha); năng suất lúa chiêm đạt 16 - 16,5 tạ/ha, lúa mùa đạt tới 19,5 - 20 tạ/ ha. Diện tích các loại cây hoa màu như ngô, khoai lang, đậu, đỗ tăng lên tới gần 5.000 ha.
Đến năm 1957, đã có hơn 20.284 ha diện tích lúa 1 vụ được canh tác 2 vụ và 1 vụ màu. Sản lượng lúa cả năm của tỉnh tăng 37% so với năm 1954 và tăng 46% so với năm 1939 (là năm được mùa nhất thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám). Chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi thả cá cũng phục hồi và phát triển mạnh. Năm 1955, nhà nước cho nông dân trong tỉnh vay tiền để mua thêm 6.149 con trâu, 600 con bò cày kéo phục vụ sản xuất. Nhiều hộ nông dân chung nhau góp tiền mua trâu, bò và nhiều hộ nghèo được chia cấp trâu, bò, tư liệu sản xuất trong cải cách ruộng đất. Nhiều xã ở các huyện Bình Lục, Duy Tiên đã có hơn 50% số hộ nuôi lợn, phần đông các hộ trong tỉnh có nuôi gà, vịt và gia cầm khác.
Các ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từng bước được phục hồi. Đến cuối năm 1954, nhiều ngành nghề thủ công đã phục hồi sản xuất, như làm gốm, khai thác đá, sản xuất gạch ngói, sản xuất nông cụ, gò hàn, dệt vải, sợi, đăng-ten, kéo đường mật, mây tre đan, làm khuy trai, đồ sừng và các nghề chế biến nông sản, thực phẩm... Nghề dệt vải lúc này đã có 16.000 khung dệt khổ hẹp và khoảng 80 khung dệt khổ rộng hoạt động, sản xuất được 196.616 mét vuông vải bán ra thị trường. Nghề gốm sản xuất hơn 82.980 sản phẩm các loại như bát đĩa, chum, vại, tách chén... Các cơ sở sản xuất nông cụ đã sản xuất được 40.000 lưỡi cày, diệp cày và nhiều công cụ thủ công khác phục vụ sản xuất. Đến năm 1957, cả tỉnh đã có trên 13,9 nghìn người làm các ngành nghề thủ công (chiếm gần 3% dân số của tỉnh lúc bấy giờ), trong đó có khoảng 9.000 người làm ngành nghề chuyên nghiệp, chủ yếu dưới hình thức cá thể, tiểu chủ, hộ gia đình.
Về thương mại, đến đầu năm 1955 hầu hết các chợ và cơ sở thương mại trong tỉnh đã hoạt động trở lại. Việc buôn bán, trao đổi hàng hoá ở các chợ lớn như Chợ Trấn (thị xã Phủ Lý), chợ Quế, chợ Đại (Kim Bảng), chợ Đầm (huyện Thanh Liêm), chợ Hoà Mạc (huyện Duy Tiên),... diễn ra khá sôi động. Đến năm 1957, toàn tỉnh có trên 7.000 tư thương hoạt động thường xuyên và hàng chục nghìn người buôn bán nhỏ, cá thể ở các vùng nông thôn. Chi sở Mậu dịch Hà Nam (được thành lập ngày 1-7-1951) cũng mở rộng mạng lưới hoạt động thương mại nhằm điều tiết hàng hoá, ổn định giá cả và thị trường trên địa bàn, đồng thời cung ứng nhiều mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh. Một số mặt hàng thiết yếu như lương thực, thịt lợn, vải, đường, dầu hoả, giấy, xà phòng, muối,... đã được thu mua, cung ứng khá tốt trên thị trường với giá cả tương đối ổn định.
Những chuyển biến nói trên đã góp phần ổn định và cải thiện một bước đời sống của nhân dân. Tuy vậy, trong những năm sau chiến tranh, đời sống của nhân dân trong tỉnh nói chung vẫn gặp rất nhiều khó khăn. Cuối năm 1954, số hộ đói ở Hà Nam có trên 8.670 hộ. Đầu năm 1955, nạn đói tái diễn trên diện rộng, số người đói lên tới 170.000 người, chiếm 1/3 dân số của tỉnh; năm 1956 số người đói vẫn còn khoảng 19.000 người, nhiều nhất là ở các huyện Bình Lục, Kim Bảng, Thanh Liêm. Do đó, để ổn định đời sống nhân dân, cuối năm 1954 tỉnh đã trợ cấp 20 tấn thóc, hơn 50 vạn đồng cho những nơi đói trầm trọng. Trong các năm 1955-1956, nhà nước đã trợ cấp 1.690 tấn gạo, 95 tấn thóc, 99.574 mét vải và hơn 1 triệu đồng để hỗ trợ cứu đói cho nhân dân trong tỉnh. Phong trào tương thân, tương ái, “lá lành đùm lá rách” được phát động sâu rộng trong nhân dân. Hàng chục nghìn hộ đã được hỗ trợ để vượt qua nạn đói, ổn định dần cuộc sống và tăng gia sản xuất.
Đồng thời với phục hồi và phát triển sản xuất, từ năm 1955 Hà Nam đã tiến hành cải cách dân chủ nền kinh tế, xóa bỏ chế độ bóc lột và các quan hệ kinh tế phong kiến, thực hiện chính sách giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất, chia cấp ruộng đất cho nông dân. Giảm tô và cải cách ruộng đất đã được tiến hành khẩn trương, rầm rộ và quyết liệt ở khắp các địa phương trong tỉnh. Chính quyền các cấp đã tịch thu, trưng thu, trưng mua hơn 10.000 ha ruộng (29.786 mẫu), 2.472 con trâu, bò, hơn 31.000 nông cụ, 6.326 gian nhà ở, 1.223 tấn thóc, gạo, 68 tấn ngô, khoai, 651 chỉ vàng và gần 14 triệu đồng của địa chủ, phú nông và các tầng lớp bóc lột phong kiến để chia cấp cho nông dân. Ruộng công điền, công thổ cũng được chia lại ở nhiều nơi. Việc chia, cấp ruộng đất được thực hiện một cách dân chủ, bình đẳng cho mọi công dân từ 18 tuổi trở lên, không phân biệt nam, nữ hay tôn giáo, tín ngưỡng.
Đầu năm 1956, công cuộc giảm tô và cải cách ruộng đất ở Hà Nam đã căn bản hoàn thành. Giai cấp địa chủ, phong kiến cùng với chế độ bóc lột và các quan hệ kinh tế làm nền tảng của nó đã bị xoá bỏ hoàn toàn. Hàng chục vạn hộ nông dân đã được chia cấp ruộng đất, trâu, bò và tư liệu sản xuất. Đây thực sự là bước ngoặt lớn lao trong đời sống kinh tế - xã hội ở Hà Nam, đặc biệt là ở các vùng nông thôn. Cải cách ruộng đất không chỉ tạo thêm niềm tin và động lực to lớn cho nhân dân hăng hái tăng gia sản xuất, ổn định đời sống mà còn xác lập địa vị làm chủ thực sự của họ trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong thời gian này Hà Nam tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động xây dựng tổ đổi công để cải tạo một bước về quan hệ sản xuất, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển. Đến năm 1956, toàn tỉnh đã có hơn 5.000 tổ đổi công trong sản xuất nông nghiệp, trong đó có 926 tổ hoạt động có kết quả. Tỉnh cũng vận động thành lập hàng chục hợp tác xã (HTX) tiểu thủ công nghiệp, HTX vận tải, HTX vay mượn (sau đổi tên thành HTX tín dụng),... Riêng các HTX vay mượn đã có gần 7.000 xã viên, hơn 8.800 cổ phần, nhiều nhất là ở các huyện Kim Bảng, Duy Tiên và Bình Lục.
Tuy nhiên, giống như ở các tỉnh miền Bắc lúc bấy giờ, quá trình thực hiện giảm tô, cái cách ruộng đất và cải cách dân chủ nền kinh tế ở Hà Nam cũng mắc phải một số sai lầm làm hạn chế những kết quả đạt được của nó. Một bộ phận nông dân được chia cấp ruộng đất nhưng thiếu giống vốn và kinh nghiệm nên sản xuất yếu kém, thậm chí để ruộng hoang hoặc đem cầm cố vay mượn. Nhiều hộ trung nông, phú nông, tiểu thương, tiểu chủ bị tịch thu một phần đất đai, tài sản tỏ ra hoang mang, không tích cực đầu tư cho sản xuất, kinh doanh. Nhiều HTX, tổ đổi công vừa mới hình thành đã tan vỡ hoặc hoạt động không có kết quả.
Để khắc phục những sai lầm và hạn chế nói trên, từ cuối năm 1956 đến cuối năm 1957, Hà Nam đã tiến hành sửa sai đã phạm phải trong giảm tô và cải cách ruộng đất, đồng thời với việc củng cố, kiện toàn hệ thống chính trị và bộ máy chính quyền các cấp, tạo cơ sở kinh tế, chính trị, xã hội cho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm tiếp theo.
4.2 Cải tạo xã hội chủ nghĩa nền kinh tế- Xây dựng quan hệ sản xuất mới và thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển (1958 -1960)
Kinh tế sau chiến tranh được phục hồi và những cải cách dân chủ nền kinh tế đã làm cho đời sống kinh tế xã hội của Hà Nam có những chuyển biến rõ rệt. Song cho đến cuối những năm 1950, nền kinh tế - xã hội của tỉnh vẫn căn bản là một nền kinh tế tiểu nông, sản xuất nhỏ, cá thể, lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất còn nhiều lạc hậu. Do đó, “trọng tâm trước mắt” của Hà Nam lúc này là cải tạo xã hội chủ nghĩa (XHCN) đối với các thành phần kinh tế tư nhân, cá thể, tư bản tư doanh, đồng thời xây dựng và phát triển kinh tế quốc doanh là “lực lượng lãnh đạo toàn bộ nền kinh tế”.
Trong nông nghiệp, nhiệm vụ trọng tâm của cải tạo xã hội chủ nghĩa là vận động nông dân từ bỏ phương thức làm ăn riêng lẻ, cá thể, phát triển các hình thức hợp tác, đổi công và xây dựng; HTX nông nghiệp để đưa nông dân vào làm ăn tập thể. Đến cuối năm 1958, trong toàn tỉnh đã xây dựng và củng cố hơn 7.700 tổ đổi công, thu hút 76% số hộ nông dân tham gia. Ở huyện Duy Tiên, số hộ nông dân tham gia tổ đổi công chiếm tới 87% số hộ trong toàn huyện. Tỷ lệ hộ này ở huyện Kim Bảng là 83%. Trong tỉnh cũng đã xây dựng được 105 HTX nông nghiệp với gần 4.000 hộ xã viên.
Những năm 1959 - 1960, phong trào chuyển từ tổ đổi công lên xây dựng HTX diễn ra sôi động ở hầu khắp các địa phương trong tỉnh. Đa số nông dân đều hăng hái, tự nguyện góp ruộng, trâu hò, cày bừa và công cụ sản xuất để gia nhập HTX. Đến cuối năm 1960, Hà Nam đã căn bản hoàn thành hợp tác hoá nông nghiệp với 1.145 HTX và hơn 89.700 hộ xã viên, chiếm 90% trong tổng số hộ nông dân của tỉnh. Trong đó, chủ yếu là HTX bậc thấp, quy mô thôn xóm (chiếm 75,8%), bình quân mỗi HTX mới gồm có 78 hộ xã viên. Song nhiều HTX ở các huyện Kim Bảng, Bình Lục, Duy Tiên đã tiến hành hợp nhất, mở rộng quy mô HTX, xây dựng HTX bậc cao. Xã Mộc Bắc (huyện Duy Tiên) là xã có HTX nông nghiệp quy mô toàn xã đầu tiên trong tỉnh với 1.187 hộ xã viên.
Việc xây dựng HTX, đưa nông dân vào làm ăn tập thể đã tạo ra khí thế và động lực mới cho phát triển sản xuất trong nông nghiệp. Phong trào thủy lợi, thủy nông, khai hoang, phục hóa, cải tạo đồng ruộng, cải tạo giao thông... được các HTX tổ chức, phát động với khí thế thi đua sôi nổi. Nhiều HTX nông nghiệp được Nhà nước hỗ trợ vốn hoặc huy động vốn đóng góp của xã viên để trang bị thêm công cụ sản xuất, mua trâu bò cày kéo và áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất như kỹ thuật cấy lúa mới, kỹ thuật bón phân và sử dụng phân bón hóa học... Do đó, trong những năm 1958 -1960, sản xuất nông nghiệp của Hà Nam đã có những bước tiến quan trọng. Diện tích các loại cây trồng của cả tỉnh đạt 247.052 ha, tăng 4,5% so với giai đoạn 1955 -1957; giá trị sản lượng nông nghiệp tăng 38,8%. Giá trị sản lượng chăn nuôi tăng 16%/năm, trong đó đàn lợn tăng 6%, đàn bò tăng 7,7%/năm. Diện tích nuôi thả cá tăng 2,6 lần và sản lượng cá năm 1960 tăng gấp 4 lần so với giai đoạn 1955 - 1957.
Công cuộc cải tạo XHCN trong các lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại và các ngành sản xuất, dịch vụ khác cũng được đẩy mạnh. Đến năm 1960, hơn 90% thợ thủ công chuyên nghiệp trong tỉnh đã tham gia các HTX tiểu thủ công nghiệp, có 3 cơ sở công nghiệp tư bản tư nhân (xí nghiệp in, ô tô, ca nô) chuyển sang công tư hợp doanh. Các cơ sở công nghiệp quốc doanh trên địa bàn tỉnh đã được tăng cường về tổ chức và tiến hành cải tiến một bước cơ chế quản lý. Trong thời gian này, ngành công nghiệp của tỉnh đã thành lập mới 13 xí nghiệp và cơ sở công nghiệp quốc doanh, như Xưởng nông cụ; Nhà máy đường Vĩnh Trụ (năm 1959); Xí nghiệp đá, vôi Kiện Khê (1959- 1960), Nhà máy nhiệt điện Phủ Lý (1960); Xí nghiệp Bưu điện, Xưởng chế biến gỗ; Xí nghiệp in,... Đến năm 1960, toàn tỉnh đã có 20 cơ sở công nghiệp quốc doanh với 1.377 công nhân (tăng 4,7% so với năm 1957).
Ngành thương nghiệp của tỉnh cũng đã vận động cải tạo hơn 5.140 tiểu thương, tư thương (chiếm 78,3% tổng số tiểu thương, tư thương của tỉnh), thành lập 381 tổ hợp tác mua bán. Bên cạnh đó, mạng lưới thương nghiệp quốc doanh và tập thể (HTX mua bán) tiếp tục được củng cố và mở rộng. Trên địa bàn tỉnh đã có 199 cơ sở thương nghiệp quốc doanh và cửa hàng HTX mua bán. Phần lớn các thị trấn, huyện lỵ, đầu mối giao lưu buôn bán ở các địa phương đều có các cơ sở thương nghiệp này. Thương nghiệp quốc doanh và HTX chủ yếu thu mua, cung ứng các mặt hàng thiết yếu phục vụ sản xuất và đời sống như lương thực, thực phẩm, muối, hàng nông sản thiết yếu, công cụ sản xuất, vật tư, xăng dầu, vải, giấy...
Để phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân, tỉnh cũng đã vận động thành lập hàng trăm HTX tín dụng ở cơ sở. Tại 117 xã, phường đã có HTX tín dụng với trên 37.000 xã viên tham gia. Nhiều xã có HTX tín dụng phát triển và hoạt động có kết quả tốt như Bạch Thượng, Thắng Lợi, Tiên Hải (huyện Duy Tiên), Công Lý, Văn Lý, Nhân Hậu (huyện Lý Nhân), Thanh Sơn, Bút Sơn, Nhật Tựu (huyện Kim Bảng), Thanh Phong, Thanh Hương (huyện Thanh Liêm),... Hàng chục nghìn lượt hộ nông dân, thợ thủ công... đã được vay vốn từ các HTX tín dụng.
Trong ngành giao thông vận tải, tỉnh đã thành lập được một số xí nghiệp vận tải quốc doanh và công tư hợp doanh vận tải đường bộ và đường thuỷ; thành lập các HTX và tổ hợp tác vận tải xe bò kéo, vận tải đường sông ở các huyện, thị. Nhiều hệ thống và công trình giao thông trong tỉnh tiếp tục được tu bổ, nâng cấp như quốc lộ 21, tỉnh lộ 60 và 63, cầu Phủ Lý, cống Đồng Văn, một số cầu và nhà ga đường sắt trên địa bàn. Phong trào xây dựng, mở mang giao thông nông thôn phát triển mạnh ở hầu hết các địa phương trong tỉnh.
Đến năm 1960, công cuộc cải tạo XHCN đối với các thành phần kinh tế của tỉnh đã căn bản được hoàn thành, với sự xác lập phổ biến của thành phần kinh tế tập thể (HTX) và kinh tế Nhà nước (quốc doanh). Quan hệ sản xuất XHCN bước đầu hình thành và tạo ra động lực mới cho phát triển sức sản xuất trong các ngành và lĩnh vực kinh tế, đồng thời, tạo ra “luồng gió mới” với khí thế đầy sôi động trong đời sống kinh tế - xã hội của Hà Nam, tác động mạnh mẽ, tích cực đến đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân trong tỉnh.
4.3. Tiếp tục củng cố quan hệ sản xuất, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật và đưa nền kinh tế - xã hội của tỉnh một bước đi lên chủ nghĩa xã hội (1961 - 1985)
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III (tháng 9-1960), cách mạng Việt Nam chuyển sang giai đoạn mới, với hai nhiệm vụ chiến lược: đẩy mạnh xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở miền Bắc nói chung, ở Hà Nam nói riêng cũng chuyển sang một thời kỳ phát triển mới, với các mục tiêu và nhiệm vụ cơ bản là: tiếp tục xây dựng và củng cố quan hệ sản xuất XHCN; phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH; phát triển văn hoá, xã hội và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, đồng thời tăng cường chi viện cho công cuộc kháng chiến cứu nước ở miền Nam để tiến tới thống nhất đất nước.
Do vậy, ngay từ đầu những năm 1960, trên cơ sở những thành tựu đã đạt được, đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nam đã tiếp tục đẩy mạnh củng cố và tăng cường hơn nữa quan hệ sản xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu trong tất cả các ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội của tỉnh.
Trong nông nghiệp, đến cuối năm 1961, toàn tỉnh đã xây dựng được 837 HTX với hơn 95.000 hộ xã viên (chiếm 94,5% tổng số hộ nông dân), trong đó có 145 HTX bậc cao. Phần lớn đất đai, tư liệu sản xuất chủ yếu ở nông thôn đã được tập thể hóa, đưa vào HTX. Quy mô HTX cũng ngày càng mở rộng. Toàn tỉnh đã có 527 HTX nông nghiệp quy mô toàn thôn (chiếm 62,9%); 53 HTX quy mô liên thôn và 3 HTX có quy mô toàn xã. Từ năm 1962, Hà Nam bắt đầu tiến hành vận động cải tiến quản lý trong các HTX nông nghiệp (lần 1), với nội dung, yêu cầu đặt ra là các HTX phải xác định được phương hướng và kế hoạch sản xuất; thực hiện được cơ chế “3 khoán” (khoán việc, khoán công lao động và khoán thù lao công điểm); xây dựng và thực hiện các nội quy, điều lệ đối với HTX và xã viên. Đến năm 1964, sau cải tiến quản lý, toàn tỉnh đã có 98,2% số HTX lập được kế hoạch sản xuất, 93,6% HTX thực hiện chế độ 3 khoán, 375 HTX chuyển lên HTX nông nghiệp bậc cao.
Trong các năm từ 1965 đến 1968 (sau khi sáp nhập 2 tỉnh Hà Nam và Nam Định thành tỉnh Nam Hà), các HTX nông nghiệp tiếp tục thực hiện cải tiến quản lý lần thứ II, với nội dung và yêu cầu là tiếp tục mở rộng quy mô và nâng cao trình độ quản lý của các HTX, gắn cải tiến quản lý với cải tiến kỹ thuật, nâng cao năng suất cây trồng, năng suất lao động và thu nhập của HTX và xã viên. Kết quả là, đến năm 1968, hầu hết các HTX nông nghiệp trên địa bàn Hà Nam đã chuyển lên bậc cao; 77,2% HTX có quy mô từ 100 ha trở lên, nhiều HTX có quy mô toàn xã.
Trong suốt những năm 1970 và đầu những năm 1980, việc củng cố và phát triển quan hệ sản xuất trong nông nghiệp trên cơ sở phát triển kinh tế tập thể của các HTX vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Cho đến cuối những năm 1970 thì hầu hết các HTX nông nghiệp trên địa bàn Hà Nam đã được sáp nhập lên quy mô toàn xã, tổ chức sản xuất và phân công lao động theo kiểu tập trung, chuyên môn hoá theo ngành nghề và đội sản xuất. Cơ chế quản lý trong HTX được cải tiến, chuyển từ cơ chế “3 khoán” sang cơ chế hạch toán lao động và giá thành sản phẩm (trên cơ sở xây dựng định mức công việc, chi phí sản xuất, định mức lao động và thù lao lao động cho xã viên). HTX quản lý toàn bộ đất đai, lao động, tư liệu sản xuất, sản phẩm tạo ra và phân phối kết quả sản xuất cho xã viên theo lao động mà họ đóng góp.
Vai trò của Nhà nước và quan hệ giữa Nhà nước với các HTX được tăng cường mạnh mẽ, và căn bản dựa trên cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, có tính hành chính mệnh lệnh. Hàng năm, Nhà nước xét duyệt kế hoạch sản xuất, giao chỉ tiêu nộp sản phẩm và xét duyệt phương án ăn chia phân phối của các HTX; cung cấp vật tư, phân bón, máy móc, thiết bị cho các HTX theo kế hoạch và theo giá cả do Nhà nước quy định. HTX có nghĩa vụ giao nộp sản phẩm và bán đối lưu hàng hoá cho Nhà nước cũng theo cơ chế như vậy.
Trong lĩnh vực tiểu thủ công nghiệp, đến năm 1961 đã có 91,5% thợ thủ công trong tỉnh tham gia các HTX tiêu thủ công nghiệp, trong đó có 22,4% tham gia HTX bậc cao. Quy mô HTX tiểu thủ công nghiệp được mở rộng, 53% số HTX có từ 30-100 xã viên, 7% số HTX có quy mô 100 đến trên 300 xã viên. Đến giữa những năm 1960 thì phần lớn các HTX tiểu thủ công nghiệp ở Hà Nam đã chuyển lên bậc cao, nhiều HTX có quy mô 300 đến trên 500 xã viên, sản xuất theo kế hoạch được giao và xã viên HTX được Nhà nước bán gạo, thực phẩm và một số hàng tiêu dùng theo tiêu chuẩn tem phiếu (giống như cán bộ, công nhân viên ở khu vực công nghiệp quốc doanh).
Mạng lưới HTX mua bán, HTX tín dụng thời kỳ này đã được xây dựng ở hầu hết các xã trong tỉnh, thu hút hàng trăm ngàn xã viên tham gia. Hoạt động của các HTX mua bán có mối liên kết chặt chẽ với thương nghiệp quốc doanh, và cùng với thương nghiệp quốc doanh hình thành hệ thống thị trường có tổ chức, hoạt động theo cơ chế kế hoạch. Giá cả của phần lớn các loại vật tư, hàng hóa do Nhà nước quy định. Các thành phần tiểu thương, tư thương và thị trường tự do ngày càng bị thu hẹp.
Đồng thời với phát triển kinh tế tập thể, Hà Nam cũng đặc biệt coi trọng phát triển khu vực kinh tế quốc doanh, coi đó là “hình mẫu” của quan hệ sản xuất XHCN và là “nòng cốt” của toàn bộ nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Do đó, bên cạnh việc củng cố, mở rộng các cơ sở quốc doanh hiện có, trong thời kỳ 1961-1985 hàng loạt cơ sở kinh tế quốc doanh đã được thành lập mới và đi vào hoạt động, cả của Trung ương lẫn của địa phương, cả trong công nghiệp, thương mại, vận tải, cung ứng vật tư cũng như trong nông nghiệp và phục vụ nông nghiệp.
Đến cuối năm 1962, trên địa bàn tỉnh đã có 39 cơ sở công nghiệp quốc doanh với hơn 2.000 công nhân (tăng thêm 19 cơ sở và hơn 700 công nhân so với năm 1960). Nhiều cơ sở mới được thành lập trong thời gian này như Xí nghiệp rượu, Xí nghiệp khai thác đá, Xí nghiệp bột miến, Xí nghiệp sản xuất phân bón vi sinh,... Mạng lưới công nghiệp quốc doanh địa phương phát triển mạnh cả ở các huyện, thị; nhất là các cơ sở khai thác đá, sản xuất gạch ngói, vật liệu xây dựng ở các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Lý Nhân... Một số cơ sở công nghiệp quốc doanh Trung ương có quy mô khá lớn cũng đã được xây dựng trên địa bàn (như Xí nghiệp xi măng X77 của Bộ Quốc phòng được xây dựng và đi vào hoạt động năm 1977; Xí nghiệp xi măng Nội thương xây dựng năm 1978, đi vào sản xuất năm 1980...).
Một trong những nhân tố mới của khu vực kinh tế quốc doanh trên địa bàn Hà Nam trong giai đoạn 1961-1985 là sự hình thành và phát triển mạnh các đơn vị, trạm trại phục vụ cho nông nghiệp như các trạm cơ khí, máy kéo, trại giống (lúa), trại ươm thả cá, các trạm thủy nông và bảo vệ thực vật... Các trại giống lúa cấp 1 của Trung ương và của tỉnh ở Đồng Văn (huyện Duy Tiên) và một số trạm cơ khí, máy kéo ở các huyện đã được thành lập từ cuối những năm 1960. Cho đến những năm 1970 thì ở hầu hết các huyện, thị đều có các trạm trại này. Mạng lưới thương nghiệp quốc doanh cũng mở rộng, ở phần lớn các thị trấn, huyện lỵ, đầu mối giao thông và trung tâm giao lưu trong tỉnh đều có các cơ sở thương nghiệp quốc doanh như cửa hàng bách hóa, cửa hàng ăn uống, cửa hàng lương thực, thực phẩm, hiệu thuốc (dược), hiệu sách báo, trạm vật tư, trạm ngoại thương, thu mua nông sản...
Giai đoạn 1961 - 1985 cũng là giai đoạn Hà Nam đẩy mạnh phát triển lực lượng sản xuất đi đôi với củng cố, phát triển quan hệ sản xuất, và trên cơ sở của quan hệ sản xuất mới. Tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng, bước đầu tạo lập cơ sở vật chất - kỹ thuật của CNXH trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh.
Phát triển thuỷ lợi, thuỷ nông vẫn được xác định là “mặt trận hàng đầu”. Trong suốt thời kỳ này, phong trào thủy lợi hóa luôn diễn ra sôi nổi, quyết liệt với tinh thần “Toàn dân làm thủy lợi”, “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”. Trong 3 năm, từ 1961- 1964, toàn tỉnh đã huy động hơn 12 triệu ngày công, đào đắp 23 triệu m3 đất thủy lợi, tu bổ, xây dựng trên 3.400 công trình thủy nông các loại; trong đó có 600 kênh mương với tổng chiều dài hơn 1.000 km. Nhiều hệ thống, công trình quan trọng đã được cải tạo, tu bổ và xây dựng mới trong giai đoạn này, như cống lớn Phủ Lý, các trạm bơm ở bờ hữu ngạn sông Đáy huyện Kim Bảng; máng Sông Ngân (huyện Bình Lục), trạm bơm Lạc Tràng, máng Giáp Ba, Duy Minh, (huyện Duy Tiên), máng Đồng Lư, Mạc Thượng, Phú Đa (huyện Lý Nhân)...
Trong những năm tiếp sau, mặc dù chiến tranh phá hoại ác liệt, song hệ thống thủy lợi, thủy nông trên địa bàn Hà Nam vẫn tiếp tục được mở rộng. Nhiều hệ thống, công trình có quy mô lớn được xây dựng, như trạm bơm Như Trác (huyện Lý Nhân) và hệ thống kênh máng Điện Biên, trạm bơm Nham Tràng (huyện Thanh Liêm), trạm bơm điện Phủ Lý, trạm bơm điện Quế (huyện Kim Bảng)... Các địa phương trong tỉnh cũng tập trung vào củng cố, nâng cấp và hoàn chỉnh các tuyến đê, bối để khoanh vùng chống lũ theo vùng, tiểu vùng. Đến năm 1976, trên địa bàn Hà Nam đã căn bản hoàn thành thủy lợi hóa, hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, thủy nông.
Việc phát triển và hoàn thiện thuỷ lợi, thuỷ nông đã tạo cơ sở vật chất - kỹ thuật hết sức quan trọng cho phát triển nông nghiệp trên địa bàn của tỉnh, tạo thuận lợi cho việc áp dụng mạnh mẽ tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, đẩy mạnh thâm canh tăng vụ, tăng năng suất cây trồng. Nhờ phát triển thủy lợi, thủy nông, nhiều HTX đã sử dụng rộng rãi các loại nông cụ cải tiến và mua sắm, trang bị công cụ cơ giới, bán cơ giới phục vụ sản xuất. Đến năm 1967, đã có 49,5% số HTX nông nghiệp trên địa bàn Hà Nam có trang bị cơ khí nhỏ, 6,4% diện tích canh tác được cày bừa bằng máy. Phần lớn các HTX nông nghiệp đã có cơ sở vật chất kỹ thuật như trụ sở HTX, nhà kho, sân phơi, trại chăn nuôi. Nhiều HTX có trại nuôi thả cá, trại ngâm ủ giống, xưởng cơ khí, chế biến thức ăn chăn nuôi, các xưởng sản xuất ngành nghề phụ (gạch, ngói, vôi, rèn, mộc,...). Đến những năm 1970, các địa phương trong tỉnh đã tập trung nhiều nỗ lực cho việc thúc đẩy cách mạng khoa học kỹ thuật, gắn với thủy lợi hóa, đồng thời gắn cách mạng kỹ thuật với tổ chức lại sản xuất và phân công lao động trong các HTX nông nghiệp.
Do vậy, sản xuất nông nghiệp ở Hà Nam trong giai đoạn này đã có những bước tiến vượt bậc cả về quy mô sản xuất lẫn năng suất và sản lượng của hầu hết các loại vật nuôi cây trồng. Đến những năm 1967 - 1968 đã có hàng chục HTX đạt năng suất lúa trên 5 tấn/1 ha cả năm, và từ giữa những năm 1970 đến đầu những năm 1980 thì hầu hết các huyện, thị trên địa bàn tỉnh đã đạt và vượt chỉ tiêu năng suất này. Nhiều HTX nông nghiệp đã đạt năng suất 6 - 7 tấn/1 ha cả năm, cao gấp 3 - 4 lần so với những năm sau hoà bình lập lại (1954-1955) và gấp 5-6 lần so với năng suất lúa thời trước cách mạng tháng 8 năm 1945. Ở huyện Kim Bảng, sản lượng lương thực bình quân các năm từ 1983 - 1985 đạt trên 28,8 nghìn tấn, tăng 3,7 lần so với năm 1961.
Ảnh: Khương Doanh
              Biểu 4. Năng suất lúa 2 vụ/ ha 
của các huyện những năm 1970 -1974
Đơn vị: tạ/ha
Năm
1970
1971
1972
1974
Huyện Duy Tiên
38,84
40,03
45,72
51,50
Huyện Kim Bảng
38,93
39,03
43,84
56,16
Huyện Thanh Liêm
41,40
40,18
41,71
46,76
Huyện Bình Lục
40,31
41,01
42,26
51,91
Huyện Lý Nhân
39,91
38,08
41,59
50,50
Nguồn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, 
Tập 1; Xuất bản năm 2000.
Các loại cây trồng khác như ngô, khoai tây, mía, đậu và chăn nuôi trâu, bò, lợn, gia cầm, nuôi thả cá... cũng phát triển mạnh. Đến cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, phần lớn các hộ nông thôn trong tỉnh đều có nuôi lợn và các loại gia cầm. Nhiều HTX nông nghiệp có trại nuôi lợn tập thể quy mô 300 - 500 con.
Việc tăng cường cơ sở vật chất - kỹ thuật và phát triển sản xuất trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cũng có những bước tiến quan trọng. Đến giữa những năm 1960, bên cạnh việc đẩy mạnh khai thác đá, sản xuất gạch, vôi và vật liệu xây dựng, công nghiệp địa phương của tỉnh đã sản xuất được hàng chục ngàn công cụ cải tiến và nhiều loại máy móc, công cụ cơ giới nhỏ (như máy xay xát gạo, máy nghiền thức ăn gia súc, máy tuốt lúa chạy động cơ điện,...) phục vụ cho nông nghiệp và các ngành kinh tế của tỉnh; sản xuất và cung cấp nhiều mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như đường, nước mắm, vải sợi, màn, hàng may mặc, đồ gia dụng... phục vụ đời sống của nhân dân.
Mặc dù trong những năm chiến tranh phá hoại của Mỹ (nhất là trong những năm từ 1965 - 1968 và 1971 - 1972), nhiều cơ sở, xí nghiệp công nghiệp đã phải sơ tán, phân tán sản xuất, hơn 30% cơ sở công nghiệp bị địch bắn phá việc cung ứng vật tư nguyên liệu khó khăn, song sản xuất công nghiệp, thủ công nghiệp trên địa bàn của tỉnh vẫn phát triển khá mạnh, năng lực sản xuất và trang thiết bị kỹ thuật của các cơ sở công nghiệp được tăng cường. Các ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp tư liệu sản xuất cho các ngành kinh tế và hàng tiêu dùng cho nhân dân.
Trong giai đoạn 1961 - 1985, giao thông vận tải là một trong những lĩnh vực được tỉnh đặc biệt quan tâm phát triển. Đến đầu những năm 1960, phần lớn các tuyến giao thông quốc lộ, tỉnh lộ, giao thông liên huyện và giao thông nông thôn đã được tu bổ, nâng cấp và mở rộng, nhiều công trình cầu, đường bộ, đường thuỷ được xây dựng mới. Tuy nhiên, trong thời gian chiến tranh phá hoại của Mỹ, hầu hết các đầu mối và công trình giao thông trọng điểm, huyết mạch trong tỉnh như thị xã Phủ Lý, thị trấn Đồng Văn, quốc lộ 1A, 21A, cầu Đoan Vĩ, bến phà Yên Lệnh, Câu Tử (huyện Duy Tiên), các ga xe lửa và nhiều cơ sở, công trình vận tải đường bộ, đường thuỷ khác đều bị đánh phá ác liệt và bị hư hại nặng nề. Mặc dù vậy, giao thông vận tải của tỉnh vẫn đảm bảo thông suốt trong mọi tình huống, phục vụ đắc lực, kịp thời cho sản xuất và chiến đấu của quân, dân trong tỉnh.
Từ năm 1973 trở đi, công cuộc khôi phục, phát triển giao thông của Hà Nam lại được xúc tiến khẩn trương. Phần lớn cầu, đường và công trình giao thông bị phá hoại đã được sửa chữa, khôi phục. Song, cũng như trong cả nước, việc phát triển giao thông vận tải ở Hà Nam trong những năm 1970 và đầu những năm 1980 gặp phải rất nhiều khó khăn. Do thiếu đầu tư và vật tư, nguyên liệu nên nhiều công trình cầu, đường, bến bãi chỉ được duy tu chắp vá, xuống cấp nhanh. Phương tiện và thiết bị vận tải cũ kỹ, lạc hậu lại thiếu hụt rất lớn cả về số lượng, chủng loại lẫn phụ tùng thay thế. Cho đến giữa những năm 1980, tình hình giao thông vận tải hàng hoá và giao lưu đi lại của nhân dân Hà Nam vẫn còn nhiều trở ngại.
Trong lĩnh vực thương nghiệp, cung ứng vật tư - kỹ thuật và lưu thông phân phối nói chung, cho đến những năm 1970 hoạt động của hệ thống thương nghiệp quốc doanh và HTX mua bán đã đảm nhận phần lớn các khâu lưu thông phân phối sản phẩm hàng hoá và dịch vụ thiết yếu trên địa bàn, chiếm lĩnh và chi phối các hoạt động trên thị trường xã hội. Phần lớn các mặt hàng vật tư nguyên liệu, nhiên liệu phục vụ sản xuất cũng như lương thực, thực phẩm, hàng hoá xuất nhập khẩu và hàng tiêu dùng thiết yếu đều được thu mua, trao đổi và lưu thông phân phối theo chỉ tiêu kế hoạch. Ngoài ra, hệ thống thương nghiệp quốc doanh và HTX còn tổ chức thu mua nông sản hàng hoá, hàng thủ công mỹ nghệ, vật tư, nguyên liệu ngoài kế hoạch để trao đổi đối lưu với nhà nước, với các địa phương khác và mua vật tư, hàng hóa từ bên ngoài về cung ứng, phân phối trên địa bàn, góp phần ổn định thị trường, giảm bớt những khó khăn trong sản xuất và đời sống của nhân dân trong tỉnh.
Những thành tựu trên đây là hết sức to lớn. Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của Hà Nam giai đoạn 1961 - 1985 đã thực sự tạo ra những biến đổi sâu sắc và những bước tiến lớn lao trong đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh; tạo nên diện mạo, vóc dáng mới của Hà Nam trên con đường xây dựng và phát triển quê hương, góp phần to lớn vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cũng như vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội của cả nước.
Tuy nhiên, từ cuối những năm 1970, nền kinh tế của Hà Nam cũng như trên cả nước đã có những biểu hiện của sự giảm sút, trì trệ. Một phần là do hậu quả của chiến tranh kéo dài, nhiều yếu tố, nguồn lực của sản xuất chưa kịp phục hồi hoặc chưa được khai thác đầy đủ cho phát triển sản xuất; máy móc thiết bị cũng như vật tư, nguyên liệu của nhiều ngành, nhiều lĩnh vực sản xuất bị thiếu hụt, không được cung ứng kịp thời. Trong khi đó, dân số những năm sau chiến tranh lại tăng nhanh, nhu cầu lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng, nhu cầu nhà ở, phương tiện đi lại và phương tiện sinh hoạt nói chung của dân cư ngày càng trở nên cấp bách. Mặt khác, do mô hình phát triển và cơ chế quản lý của nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp đến lúc này đã bộc lộ nhiều hạn chế, khiếm khuyết, nhiều mặt tỏ ra không còn phù hợp, gây cản trở và kìm hãm sản xuất phát triển, không kích thích được lợi ích và động lực của người lao động.
Thu nhập từ kinh tế tập thể của xã viên trong nhiều HTX nông nghiệp ở Hà Nam chỉ còn 10 - 12 kg thóc/ người/ tháng. Thu nhập thực tế của công nhân, thợ thủ công và người lao động ở khu vực kinh tế nhà nước cũng không kích thích được lợi ích và động lực sản xuất của họ. Hơn nữa, tình trạng khác biệt giữa thị trường có tổ chức và thị trường tự do (cùng với cơ chế 2 giá của 2 loại thị trường này) và tình trạng chia cắt thị trường theo kiểu “ngăn sông cấm chợ”, kiểm soát thị trường bằng các biện pháp hành chính... đã cản trở rất lớn đến lưu thông hàng hoá và làm phát sinh nhiều tiêu cực trong lĩnh vực lưu thông, phân phối, gây trở ngại cho phát triển sản xuất và đời sống của nhân dân.
Mặc dù từ đầu những năm 1980, cơ chế quản lý trong các ngành kinh tế của cả nước cũng như ở Hà Nam đã có những cải tiến có tính “đột phá” trên một số mặt làm kích thích lợi ích của người lao động và tác động tích cực đến sản xuất (như việc thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW của Trung ương Đảng năm 1981 về cải tiến quản lý trong các HTX nông nghiệp, Nghị định 216/CP, 217/CP của Chính phủ về cải tiến quản lý trong công nghiệp. Song về cơ bản, những cải tiến này vẫn nằm trong khuôn khổ của cơ chế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp. Do vậy, đến giữa những năm 1980, đời sống kinh tế - xã hội trên địa bàn Hà Nam vẫn còn nhiều mặt khó khăn.
II. KINH Tế - XÃ HỘI TỈNH HÀ NAM THỜI KỲ Đổi MỚI (TỪ 1986 ĐẾN NAY)
Khắc phục tình trạng trì trệ của sản xuất và cải thiện đời sống của nhân dân, từ năm 1986, Hà Nam (cũng như trên cả nước) bắt đầu công cuộc đổi mới và phát triển toàn diện nền kinh tế - xã hội, chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá tập trung, bao cấp sang phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, có sự quản lý của nhà nước; đồng thời đẩy mạnh công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH), phát triển nền kinh tế theo hướng mở cửa và hội nhập quốc tế, gắn phát triển kinh tế với phát triển các lĩnh vực xã hội và bảo vệ tài nguyên môi trường, đảm bảo an ninh quốc phòng, hướng tới mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Quá trình này diễn ra liên tục, mạnh mẽ trong tất cả các ngành, các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn của tỉnh.
Trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản, từ cuối những năm 1980, thực hiện Nghị quyết 10-BCT của Bộ Chính trị (tháng 4-1988), phần lớn các HTX, các đơn vị quốc doanh nông - lâm nghiệp trên địa bàn của tỉnh đã tiến hành chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất và cơ chế quản lý, từ mô hình kinh tế quốc doanh và tập thể trước đây sang các loại hình kinh tế nhiều thành phần, tổ chức sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường. Trong đó, lấy hộ gia đình làm đơn vị kinh tế cơ bản, đồng thời là đơn vị tổ chức sản xuất kinh doanh trực tiếp, tự chủ. Các HTX và đơn vị kinh tế quốc doanh tiến hành giao quyền sử dụng đất và hoá giá tư liệu sản xuất cho các hộ gia đình quản lý và tổ chức sản xuất để chuyển sang làm dịch vụ hỗ trợ cho sản xuất của các hộ nông dân (như dịch vụ thuỷ nông, cung ứng giống, vật tư phân bón, bảo vệ thực vật...).
Đến đầu những năm 1990, quá trình chuyển đổi mô hình và cơ chế quản lý nông nghiệp nói chung (bao gồm cả lâm nghiệp và thuỷ sản) ở Hà Nam đã hoàn thành về cơ bản. Phần lớn đất đai nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã được giao ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân (với thời hạn 20 năm theo quy định của Luật đất đai năm 1993) và họ được quyền tự chủ sử dụng đất, được quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất đã được giao. Đồng thời với việc giao đất và mở rộng quyền sử dụng đất cho các hộ nông dân, Nhà nước và chính quyền các cấp ở Hà Nam luôn khuyến khích, tạo điều kiện cho các hộ vay vốn đầu tư, mua sắm tư liệu sản xuất, hỗ trợ công tác khuyến nông và chuyển giao công nghệ kỹ thuật giúp họ phát triển sản xuất kinh doanh.
Đến năm 2001, theo số liệu điều tra của Cục Thống kê Hà Nam, toàn tỉnh có 160.448 hộ nông - lâm nghiệp và thuỷ sản (chiếm 81,6% tổng số hộ nông thôn). Sản xuất kinh doanh của hộ gia đình phát triển mạnh theo hướng sản xuất kinh doanh hàng hoá và ngày càng có hiệu quả cao hơn. Nhiều hộ nông dân hiện nay đã có doanh thu trên 30 triệu đồng/ ha canh tác, nhiều hộ đạt năng suất lúa trên 10 tấn/ ha. Cơ cấu sản xuất kinh doanh của các hộ cũng ngày càng đa dạng, năng động hơn, 43,4% số hộ nông - lâm nghiệp và thủy sản đã có các hoạt động ngành nghề, dịch vụ phi nông nghiệp khác.
Các HTX nông nghiệp sau chuyển đổi đã từng bước thích ứng với cơ chế mới, nhiều HTX bước đầu hoạt động dịch vụ có kết quả. Từ năm 1996, các HTX nông nghiệp ở Hà Nam tiếp tục chuyển đổi sang mô hình HTX dịch vụ nông nghiệp kiểu mới, theo Luật Hợp tác xã (được Nhà nước ban hành vào tháng 4-1996). Điểm khác biệt của Hà Nam trong quá trình chuyển đổi HTX nông nghiệp so với nhiều địa phương khác là ở chỗ, hầu hết các HTX trước đây đều không bị tan vỡ hoặc phải giải thể, mà được chuyển đổi trên cơ sở của các HTX cũ, với việc tự nguyện đăng ký tham gia của toàn thể xã viên và chuyển giao vốn, tài sản từ các HTX trước đó.
Theo điều tra của Cục Thống kê Hà Nam, năm 2001 cả tỉnh có 158 HTX dịch vụ nông nghiệp thì 100% đã hoàn thành chuyển đổi sang HTX dịch vụ nông nghiệp kiểu mới, với tổng số 181.328 xã viên. Bình quân mỗi HTX có 1.148 xã viên, hơn 987,9 triệu đồng vốn sản xuất kinh doanh (trong đó 62% là tài sản cố định và đầu tư dài hạn). Tổng giá trị sản phẩm dịch vụ bình quân mỗi HTX năm 2001 đạt 424,7 triệu đồng. Hoạt động của các HTX hiện nay chủ yếu là dịch vụ cho sản xuất, trong đó có 95,8% HTX đảm nhận được dịch vụ thuỷ nông, 78,9% làm dịch vụ bảo vệ thực vật, 37,3% dịch vụ giống cây trồng, 37,2% dịch vụ làm đất, 24,3% làm dịch vụ cung ứng vật tư, phân bón. Có đến 94,9% trong tổng số 158 HTX của tỉnh đã hoạt động dịch vụ kinh doanh có lãi. Nhiều HTX hoạt động có hiệu quả, như các HTX dịch vụ nông nghiệp Yên Bắc, Chuyên Ngoại, Châu Giang (huyện Duy Tiên), các HTX Văn Xá, Thanh Sơn (huyện Kim Bảng), Trung Lương, An Đổ (huyện Bình Lục), Tân Lý, Nhân Nghĩa (huyện Lý Nhân), Thanh Hà, Liêm Tiết (huyện Thanh Liêm)...
Hầu hết các đơn vị kinh tế quốc doanh trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thuỷ sản ở Hà Nam cũng đã chuyển sang hoạt động dịch vụ sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường. Nhiều đơn vị, doanh nghiệp tiếp tục hoạt động có kết quả như Công ty giống cây trồng Trung ương, Công ty giống cây trồng của tỉnh (ở thị trấn Đồng Văn), Trại cá giống và Trung tâm giống gia súc Tiên Hiệp (Duy Tiên), các công ty thủy nông, trạm bảo vệ thực vật...
Một trong những loại hình kinh tế mới trong nông nghiệp Hà Nam trong thời kỳ đổi mới là sự hình thành và phát triển của loại hình kinh tế trang trại. Đến năm 2001, toàn tỉnh đã có 39 trang trại nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; trong đó có 36% là trang trại nuôi trồng thuỷ sản; 33,3% trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp; 23,1% trồng cây hàng năm; 7,6% trang trại lâm nghiệp và trồng cây lâu năm. Kinh tế trang trại đã khai thác, sử dụng có hiệu quả hàng trăm ha đất đai nông, lâm nghiệp, ao hồ, mặt nước và tạo ra một khối lượng hàng hoá đáng kể cung cấp cho thị trường. Tỷ xuất hàng hoá của kinh tế trang trại năm 2001 đạt tới 92,8% và tổng giá trị hàng hóa đạt trên 3,32 tỷ đồng.
Những đổi mới trên đây đã mở ra thời kỳ phát triển mới trong lĩnh vực nông - lâm nghiệp và thủy sản của Hà Nam. Từ năm 1990 đến năm 2002, tổng sản phẩm (GDP) của toàn ngành tăng trưởng liên tục với tốc độ cao (4,5 - 6%/ năm). Diện tích các loại cây trồng tăng từ 88,67 nghìn ha (năm 1990) lên 103,04 nghìn ha (năm 2002). Sản lượng lương thực có hạt tăng gấp hơn 1,8 lần, từ 229,7 nghìn tấn lên 424,56 nghìn tấn, đưa mức lương thực có hạt bình quân đầu người từ 320 kg lên 522 kg trong cùng thời gian nói trên. Chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy sản và các ngành nghề, dịch vụ ở nông thôn đều phát triển mạnh.
Kết quả của đổi mới và phát triển trong lĩnh vực nông nghiệp nói chung đã đảm bảo cho Hà Nam giải quyết vững chắc an ninh lương thực trên địa bàn, làm tăng khối lượng và tỷ trọng hàng hoá ở khu vực này; góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế - xã hội của tỉnh. Kết cấu hạ tầng trong nông nghiệp, nông thôn tiếp tục được tăng cường; thu nhập và đời sống của dân cư nông thôn được cải thiện và nâng cao rõ rệt.
Trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng, từ cuối những năm 1980, khi thực hiện chuyển đổi sang kinh tế thị trường, không ít cơ sở công nghiệp và xây dựng trên địa bàn tỉnh đã gặp phải khó khăn, lúng túng do chưa thích ứng với cơ chế mới và do không còn được Nhà nước bao cấp về vốn, vật tư, nguyên liệu và tiêu thụ sản phẩm như trước đây. Một số xí nghiệp, cơ sở công nghiệp và xây dựng ở các huyện đã phải giải thể do làm ăn kém hiệu quả hoặc bị thua lỗ.
Song cùng với quá trình chuyển đổi cơ chế, nhiều cơ sở công nghiệp đã tổ chức lại sản xuất và lao động, mạnh dạn đổi mới công nghệ, kỹ thuật và năng động, chủ động hơn trong phát triển sản xuất kinh doanh. Cho đến đầu những năm 1990 phần lớn các cơ sở công nghiệp nhà nước trên địa bàn tỉnh đã căn bản chuyển sang sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường. Quy mô sản xuất của các doanh nghiệp nhà nước ngày càng mở rộng và tăng lên nhanh chóng. Năm 2002, giá trị sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước nói chung trên địa bàn (theo giá so sánh năm 1994) đã đạt trên 1.186,3 tỷ đồng, gấp 13 lần so với năm 1997 (90,5 tỷ đồng).
Trước đây có 20 cơ sở doanh nghiệp công nghiệp nhà nước do địa phương quản lý, đến năm 2000 giảm xuống còn 16 và năm 2002 còn 13 doanh nghiệp, với tổng số 2.956 lao động. Song giá trị sản xuất của các doanh nghiệp này (theo giá so sánh năm 1994) đã liên tục tăng nhanh, từ 13,0 tỷ đồng năm 1990 lên 64,8 tỷ đồng năm 1997 và đạt xấp xỉ 116,9 tỷ đồng vào năm 2002. Nhiều cơ sở công nghiệp Trung ương và địa phương trên địa bàn đã và đang tăng cường đầu tư đổi mới và hiện đại hoá công nghệ, kỹ thuật để nâng cao hiệu quả sản xuất và sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Kinh tế tập thể của các HTX tiểu thủ công nghiệp giảm sút mạnh, nhiều cơ sở phải giải thể do sản xuất kém hiệu quả. Trong khoảng thời gian từ năm 1990 đến năm 2000, số HTX tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn tỉnh đã giảm từ 46 HTX xuống còn 10 HTX. Số lao động ở khu vực này cũng giảm từ 17.661 người xuống còn 1.984 người.
Tuy nhiên, khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh nói chung vẫn phát triển mạnh và sôi động, với sự xuất hiện và phát triển đa dạng của các loại hình kinh tế tư nhân, cá thể, hộ gia đình và các loại hình kinh tế hỗn hợp khác. Từ năm 1990 đến năm 2002, số cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ngoài quốc doanh nói chung trên địa bàn đã tăng từ 12.186 cơ sở lên 20.175 cơ sở. Số lao động thường xuyên ở khu vực này tăng 2,2 lần, từ 15.784 người (năm 1990) lên hơn 34.960 người (năm 2002); giá trị sản xuất (tính theo giá cố định năm 1994) tăng 4,1 lần, từ 102,4 tỷ đồng năm 1990 lên 190,1 tỷ đồng năm 1995 và đạt tới 421,3 tỷ đồng năm 2002. Đến thời điểm 31-12-2002 trên địa bàn tỉnh đã có 315 doanh nghiệp ngoài quốc doanh được thành lập theo Luật Doanh nghiệp (ban hành năm 2000); trong đó có 242 công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), 26 công ty cổ phần và 47 doanh nghiệp tư nhân; với tổng số vốn đăng ký kinh doanh 379,22 tỷ đồng, tạo ra hàng nghìn chỗ làm việc cho người lao động trong tỉnh.
Nhiều ngành nghề, làng nghề cũng được phục hồi và phát triển mạnh mẽ, đặc biệt là các ngành nghề, làng nghề truyền thống ở khu vực nông thôn. Đến năm 2001, cả tỉnh đã có 25 làng nghề ở nông thôn (đạt tiêu chí quy định), trong đó có 22 làng nghề truyền thống (1).
Một động thái mới trong phát triển công nghiệp của Hà Nam những năm gần đây là sự hình thành và phát triển của các cụm, khu công nghiệp tập trung. Hiện tại, tỉnh đã và đang quy hoạch, đầu tư xây dựng 3 khu công nghiệp với tổng diện tích gần 500 ha, tổng vốn đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng khoảng 650 tỷ đồng. Trong đó, Khu công nghiệp Đồng Văn có tổng diện tích quy hoạch 154 ha; trong giai đoạn 1 đã hoàn thành 110 ha và giao mặt bằng sử dụng cho 23 doanh nghiệp. Khu công nghiệp Châu Sơn (thị xã Phủ Lý) có tổng diện tích quy hoạch 200 ha (giai đoạn 1 là 91 ha) và Khu công nghiệp Hoàng Đông (huyện Duy Tiên) tổng diện tích quy hoạch 137 ha, hiện đang thi công xây dựng giai đoạn 1 là 50 ha.
Quá trình đổi mới trong lĩnh vực vận tải, thương mại, lưu thông phân phối và dịch vụ cũng tạo ra những chuyển biến căn bản cả trong tổ chức quản lý, cơ chế hoạt động, cơ cấu các thành phần kinh tế lẫn kết quả sản xuất kinh doanh của các ngành này.
Trong ngành giao thông vận tải, đến năm 1995, khu vực tư nhân, cá thể và các loại hình kinh tế ngoài quốc doanh nói chung đã chiếm 95,6% hoạt động kinh doanh vận tải hàng hoá và trên 54,5% vận tải hành khách (ngoại trừ vận tải đường sắt); đến những năm 2001 - 2002, vận tải ngoài quốc doanh nói chung đã chiếm lĩnh toàn bộ các hoạt động kinh doanh vận tải trên địa bàn của tỉnh. Số phương tiện vận tải và năng lực vận tải ở khu vực này cũng tăng nhanh. Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2002, vận tải ngoài quốc doanh ở Hà Nam đã có 2.769 phương tiện vận tải hàng hóa đường bộ với tổng năng lực tải trọng 4.983 tấn; 429 phương tiện vận tải hành khách đường bộ (trong đó 152 phương tiện là ô tô); 136 phương tiện vận tải đường thuỷ, tổng năng lực tải trọng 4.533 tấn. Khối lượng hàng hoá luân chuyển năm 2002 đạt tới 59,01 triệu tấn/ km, gấp 2,2 lần so với năm 1995 và gấp 4,5 lần so với năm 1990; khối lượng hành khách luân chuyển đạt trên 64,3 triệu lượt người/ km, gấp 1,7 lần so với năm 1995 và gấp 3 lần so với năm 1990.
Cũng trong thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), cơ sở hạ tầng vật chất kỹ thuật của ngành giao thông vận tải trên địa bàn đã được đầu tư phát triển hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước. Hàng loạt công trình cầu, đường và công trình hạ tầng giao thông trên địa bàn đã được cải tạo, dựng mới và nâng cấp kỹ thuật như: quốc lộ 1A qua thị xã Phủ Lý được mở rộng, nâng cấp với 4 làn xe; quốc lộ 21A và 21B, tỉnh lộ 971 và 972, cầu Hồng Phú, bến xe khách tỉnh ở thị xã Phủ Lý... Trong 3 năm, từ 1999 đến 2002, tổng số vốn đầu tư cho phát triển giao thông nông thôn trong tỉnh lên tới 146,6 tỷ đồng, trong đó nhân dân đóng góp hơn 80,6 tỷ và tỉnh hỗ trợ 32 tỷ; nâng cấp 1.468 km giao thông nông thôn, trong đó có 726 km đường bê tông và gần 700 km đường cấp phối ở các thôn xã. Sự phát triển của ngành giao thông vận tải nói chung trên địa bàn đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu lưu thông hàng hóa và giao lưu đi lại của nhân dân. Chất lượng vận tải và dịch vụ vận tải cũng ngày càng tốt hơn.
Trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ, hệ thống các cơ sở, doanh nghiệp nhà nước đã được tổ chức xắp xếp lại và căn bản chuyển sang hoạt động theo cơ chế thị trường. Nhiều đơn vị thương nghiệp quốc doanh và HTX mua bán được thành lập trước đây đã phải giải thể hoặc được cổ phần hoá, chuyển đổi loại hình kinh doanh. Đến năm 2002, số doanh nghiệp kinh doanh thương mại du lịch, khách sạn, nhà hàng thuộc khu vực kinh tế nhà nước trên địa bàn tỉnh chỉ còn lại 9 doanh nghiệp, giảm 15 đơn vị so với năm 1995. Trong đó, số doanh nghiệp nhà nước do địa phương quản lý chỉ còn 7 đơn vị, giảm 16 đơn vị so với năm 1995. Còn thương nghiệp tư nhân, cá thể và các loại hình kinh doanh thương mại, dịch vụ ngoài quốc doanh nói chung đã “bung ra” mạnh mẽ và phát triển hết sức đa dạng. Năm 1997, thương mại, dịch vụ ngoài quốc doanh trên địa bàn tỉnh đã có 6.555 cơ sở, với hơn 7.400 người tham gia kinh doanh; đến năm 2002 đã có 15.404 cơ sở (gấp 2,3 lần) và số người kinh doanh đã có 21.793 người, gấp 2,9 lần so với năm 1997. Mạng lưới chợ và các đầu mối, tụ điểm buôn bán trao đổi hàng hóa phát triển mạnh cả ở khu vực thị xã Phủ Lý lẫn ở các huyện, xã nông thôn, hoạt động thương mại nhộn nhịp, hàng hoá phong phú, đa dạng.
Giá trị sản xuất của toàn ngành thương mại và kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh năm 2002 đạt trên 334,1 tỷ đồng (giá hiện hành), gấp 2 lần so với năm 1996 (khi chưa tái lập tỉnh). Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ năm 2002 (theo giá hiện hành) đạt trên 1.742,7 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với năm 1996; trong đó, riêng mức bán lẻ hàng hoá của ngành thương mại đạt 1.635,7 tỷ đồng, gấp 2,4 lần so với năm 1996. Tổng giá trị hàng hoá xuất - nhập khẩu trên địa bàn Hà Nam năm 2002 đạt trên 35,13 triệu USD, gấp 2,96 lần so với năm 1997. Trong đó, riêng giá trị hàng hoá xuất khẩu (năm 2002) đạt trên 27,754 triệu USD, gấp 3,75 lần năm 1997 và gấp 50 lần so với 10 năm trước (năm 1992 mới đạt 557 nghìn USD).
Các ngành tài chính, tín dụng, ngân hàng ở Hà Nam cũng có sự đổi mới thích ứng với cơ chế thị trường và đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hoạt động của ngành tài chính và kho bạc nhà nước đã tập trung vào nhiệm vụ chủ yếu là thiết lập và thực hiện kế hoạch huy động ngân sách, cân đối thu - chi ngân sách hàng năm của tỉnh, cấp vốn và kiểm tra tình hình sử dụng vốn ngân sách trên địa bàn. Kết quả hoạt động của ngành đã góp phần huy động và sử dụng có hiệu quả vốn ngân sách, đảm bảo tính công bằng giữa các cấp ngân sách (tỉnh, huyện, xã), góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội và an ninh quốc phòng trên địa bàn tỉnh.
Hệ thống tín dụng, ngân hàng ở Hà Nam đã mở rộng hoạt động đến tất cả các huyện, thị, xã, phường trong tỉnh. Cơ chế, thủ tục vay và cho vay ngày càng thông thoáng hơn. Số dư tiền gửi tiết kiệm trên địa bàn tỉnh năm 2002 đạt gần 638,3 tỷ đồng, gấp 5,9 lần so với năm 1997. Tổng thu tiền mặt qua hệ thống ngân hàng năm 2002 lên tới 2.268,1 tỷ đồng, gấp 3,8 lần năm 1997 và tổng chi tiền mặt trên 2.256,4 tỷ đồng, tăng 2,6 lần. Hàng chục dự án, chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, hàng trăm doanh nghiệp công nghiệp, thương mại, dịch vụ và hàng chục nghìn hộ nông dân, hộ sản xuất tiểu thủ công nghiệp đã được vay vốn qua hệ thống tín dụng, ngân hàng trên địa bàn.
Quá trình đổi mới và phát triển trong các ngành và lĩnh vực kinh tế trên đây đã tạo ra sự phát triển vượt bậc, toàn diện trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh, vượt xa so với các thời kỳ trước đó. Nền kinh tế - xã hội của Hà Nam không những thoát khỏi tình trạng khủng hoảng, trì trệ của thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, bao cấp, mà còn có sự tăng trưởng liên tục ở mức khá cao; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng CNH, HĐH; nền kinh tế của tỉnh bước đầu có tích luỹ từ nội bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội được tăng cường một bước quan trọng; thu nhập và đời sống của nhân dân trong tỉnh được cải thiện và nâng cao rõ rệt.
Trong hơn 10 năm, từ 1991 - 2002, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm (GDP) trên địa bàn Hà Nam tăng bình quân 8,4%/năm, cao hơn so với tốc độ tăng trưởng của cả nước và của một số tỉnh trong vùng. Trong đó, giá trị tăng thêm của ngành nông - lâm nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân 5,6%/năm (so với của cả nước là 4,8%); công nghiệp và xây dựng tăng 16,4%/năm và các ngành dịch vụ tăng gần 7,0%/năm. Đặc biệt là từ khi tái lập tỉnh (năm 1997) đến năm 2002, tốc độ tăng trưởng GDP trên địa bàn đạt 9,1%/năm, trong đó, tốc độ tăng trưởng của các ngành công nghiệp và xây dựng đạt tới 19,9%/ năm.
Biểu 5. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm 
(GDP) trên địa bàn Hà Nam 1991 - 2002
(Theo giá so sánh 1994; Đơn vị tính: %/năm)
Bình quân giai đoạn 1991 - 1996
Bình quân
giai đoạn
1997 - 2002
Bình quân
chung cả thời kỳ 1991 - 2002
Tổng GDP của cả tỉnh
7,7
9,1
8,4
- Nông, lâm nghiệp và thủy sản
6,2
5,1
5,6
- Công nghiệp, xây dựng
12,9
19,9
16,4
- Các ngành dịch vụ
7,6
6,4
7,0
Nguồn: - Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 1990 - 2000; 
Cục Thống kê Hà Nam 8/2001
Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002; 
Nxb Thống kê Hà Nội, 2003.
Đồng thời với tăng trưởng, cơ cấu kinh tế ngành của Hà Nam cũng có những chuyển biến tích cực theo hướng tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng, giảm dần tỷ trọng của các ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản. Tỷ trọng của các ngành công nghiệp và xây dựng đã tăng từ 11,36% năm 1991 lên 19,1% năm 1997 và chiếm 32,4% vào năm 2002. Các ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản mặc dù có tốc độ tăng trưởng khá cao (5,6%/năm), song tỷ trọng của nó trong cơ cấu GDP trên địa bàn tỉnh đã giảm đi đáng kể, từ 55,0% năm 1991 xuống 48,3% năm 1997 và đến năm 2002 giảm xuống còn 36,0%.
   Biểu 6. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế 
trên địa bàn tỉnh Hà Nam 1991- 2002
Năm
Tổng sản phẩm
(GDP)
Cơ cấu (%)
Nông,
lâm nghiệp
và thủy sản
Công nghiệp,
xây dựng
Các ngành
dịch vụ
1991
100,0
55,0
11,4
33,6
1993
100,0
53,9
13,7
32,4
1995
100,0
52,6
16,3
31,1
1996
100,0
49,6
18,8
31,6
1997
100,0
48,3
19,1
32,6
1998
100,0
48,0
20,1
31,9
1999
100,0
43,7
25,7
30,6
2000
100,0
39,3
28,9
31,8
2001
100,0
37,1
30,7
32,2
2002
100,0
36,0
32,4
31,6
Nguồn:
- Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 1990 - 2000; 
Cục Thống kê Hà Nam 8/2001.
- Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002; Nxb Thống kê Hà Nội, 2003
     Biểu 7. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh Hà Nam 1992 - 2000.
(Theo giá so sánh năm 1994; Đơn vị: %/năm)
Năm
Nhà nước
Tập thể
Tư nhân, cá thể
- Bình quân 1992 - 1996
11,20
13,82
12,23
1997
16,80
6,88
8,61
1998
20,98
4,51
9,25
1999
44,69
0,10
7,61
2000
21,23
3,48
2,82
- Bình quân 1997 - 2000
25,93
3,74
7,07
- Bình quân 1992 - 2000
17,72
9,34
9,93
Nguồn: Sđd - Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 1990 - 2000
Tăng trưởng và cơ cấu các thành phần kinh tế trên địa bàn tỉnh cũng có những chuyển biến quan trọng. Khu vực kinh tế nhà nước mặc dù giảm về số lượng các cơ sở, doanh nghiệp và trong giai đoạn đầu của thời kỳ đổi mới có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với kinh tế tập thể và tư nhân, cá thể; song từ năm 1997 đến nay đã liên tục đạt tốc độ tăng trưởng cao vượt trội so với các thành phần kinh tế khác.
Sự tăng trưởng liên tục ở mức cao của khu vực kinh tế nhà nước đã làm cho vị trí, vai trò của nó ngày càng tăng trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Tỷ trọng của khu vực kinh tế nhà nước giai đoạn 1991 - 1996 chỉ chiếm bình quân 17,5% trong cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, đến năm 2000 đã chiếm tới 30,5% và năm 2002 tăng lên 33,4%. (Biểu 8).
     Biểu 8. Cơ cấu các thành phần kinh tế 
trên địa bàn tỉnh Hà Nam 1991-2002
(Theo tổng sản phẩm, giá hiện hành; Đơn vị tính: %)
Năm
Tổng số
Nhà nước
Tập thể
Tư nhân, cá thể
1991 - 1996
100,0
17,5
51,6
30,9
1997
100,0
18,8
50,5
30,7
1998
100,0
20,9
48,2
30,9
1999
100,0
26,8
43,5
29,7
2000
100,0
30,5
39,8
29,7
2001
100,0
32,4
67,6
2002
100,0
33,4
66,6
Nguồn: Sđd: - Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 1990 - 2000
- Niên giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002,...
Các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh (khu vực kinh tế dân doanh) cũng ngày càng khẳng định được vị trí, vai trò quan trọng, lâu dài của nó trong phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nam. Những năm gần đây, khu vực kinh tế này đạt tốc độ tăng trưởng trên 7%/năm và đóng góp khoảng 67% trong GDP của tỉnh.
Cùng với quá trình đổi mới và phát triển nền kinh tế - xã hội của tỉnh, đời sống của nhân dân Hà Nam cũng ngày càng được cải thiện và nâng cao. Sự tăng trưởng và phát triển nhanh của các lĩnh vực kinh tế - xã hội trên địa bàn đã tạo ra việc làm mới cho hàng chục nghìn lao động ở cả khu vực thành thị và nông thôn. Từ năm 1997 đến 2002 các ngành kinh tế của tỉnh đã giải quyết việc làm và tạo ra việc làm mới cho trên 64.600 người, bình quân mỗi năm giải quyết việc làm cho hơn 10.760 người, đồng thời tạo ra việc làm thêm cho khoảng 72.000 người, chủ yếu ở khu vực nông thôn. Tỷ lệ thất nghiệp ở nhóm dân cư từ 15 tuổi trở lên ở khu vực thành thị của tỉnh giảm xuống dưới 7% và tỷ lệ thời gian sử dụng của nhóm dân cư này ở khu vực nông thôn tăng từ 68,46% năm 1998 lên 72,6% năm 2000 (tương đương với tỷ lệ bình quân chung của cả nước là 73,86%). Hàng năm, Quỹ hỗ trợ việc làm của tỉnh đầu tư hàng tỷ đồng hỗ trợ cho việc đào tạo nghề, tạo lập việc làm của các hộ dân cư.
Một trong những thành tựu nổi bật có ý nghĩa quan trọng của Hà Nam trong thời kỳ đổi mới là đã giải quyết một cách căn bản, vững chắc nhu cầu lương thực, thực phẩm cho nhân dân sau nhiều thập kỷ luôn trong tình trạng thiếu hụt triền miên. Sản lượng lương thực có hạt bình quân đầu người của tỉnh đã tăng từ 231kg năm 1991 lên 402kg năm 1996, đạt 506kg năm 2000 và lên tới 522 kg/người năm 2002.
Đến nay, Hà Nam đã cơ bản không còn hộ thiếu đói lương thực. Số hộ giàu, khá và tỷ lệ hộ này ngày càng tăng. Năm 2002, số hộ có kinh tế khá giả ở huyện Duy Tiên chiếm khoảng 26,6%, ở huyện Bình Lục khoảng 36% và ở huyện Kim Bảng đã có trên 50%. Số hộ nghèo và tỷ lệ hộ nghèo trong tỉnh ngày càng giảm. Năm 2001, tỷ lệ hộ nghèo của Hà Nam (theo chuẩn nghèo của cả nước năm 2001) là 16,7%, năm 2002 giảm còn 15,0%(1). Thu nhập bình quân đầu người một tháng ở khu vực nông thôn của tỉnh năm 2001 đã đạt 188 nghìn đồng/người, gấp 1,6 lần so với năm 1994; trên 99,2% số hộ ở nông thôn đã có điện sinh hoạt; 82,3% số hộ sử dụng nước sạch (tăng 27% so với năm 1994). Hơn 90% số hộ trong tỉnh có nhà ở kiên cố, bán kiên cố; nhiều hộ có nhà ở khang trang, có các loại đồ dùng gia đình có giá trị cao, lâu bền. Số hộ có nhà ở tạm ở một số huyện (như Kim Bảng, Bình Lục...) chỉ còn chiếm 1- 3%.
Đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân cũng được cải thiện, nâng cao. Đến năm 2001, sóng phát thanh, truyền hình đã phủ kín trên toàn địa bàn tỉnh, đến mọi xã, thôn trong tỉnh. Tuyệt đại đa số hộ dân cư trong tỉnh có các phương tiện nghe nhìn, hầu hết các hộ ở thành thị và hơn 59% hộ nông thôn có ti vi (tăng gấp 2,5 lần so với năm 1994). Hơn 98% số xã ở nông thôn có hệ thống loa truyền thanh đến thôn xóm; 91,3% số xã có điểm bưu điện văn hóa xã; 48% số xã có đường liên thôn được trải nhựa, bê tông từ 50% chiều dài trở lên.
Hệ thống giáo dục, đào tạo tiếp tục phát triển mạnh, góp phần nâng cao trình độ dân trí, văn hóa, khoa học kỹ thuật của nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn lực con người cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Từ năm 1991, Hà Nam đã được công nhận là tỉnh hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đến năm 2000 đã có 114/116 xã phường hoàn thành phổ cập giáo dục phổ thông cơ sở. Mạng lưới y tế, chăm sóc sức khỏe cho nhân dân cũng ngày càng mở rộng và nâng cao chất lượng phục vụ. Đến năm 2002, mạng lưới y tế của tỉnh đã có 146 cơ sở y tế công lập từ tuyến tỉnh đến các huyện, thị, phường, xã góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân trong tỉnh.
Trong thời kỳ đổi mới, đời sống văn hóa, xã hội, tinh thần của nhân dân Hà Nam còn được nâng lên và phong phú thêm bởi sự phục hồi và phát triển của các yếu tố văn hoá - xã hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá - xã hội - nhân văn của người Hà Nam. Nhiều di tích lịch sử, văn hóa được tôn tạo, mở mang thêm. Nhiều lễ hội và hoạt động văn hóa, nghệ thuật truyền thống được phục hồi và phát triển. Những năm gần đây, ngành Văn hóa - Thông tin của tỉnh đã đầu tư hàng tỷ đồng cho việc phục hồi và phát triển các hoạt động văn hoá, xã hội này. Các yếu tố tích cực trong quan hệ xã hội, cộng đồng truyền thống đã và đang được khơi dậy, phát huy ở nhiều địa phương, đặc biệt là trong việc xây dựng và thực hiện các quy ước, quy chế dân chủ trong cộng đồng về xây dựng làng, xã và gia đình văn hóa mới, theo hướng tiến bộ, văn minh.
Tuy nhiên, trong thời kỳ đổi mới chuyển sang kinh tế thị trường và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bên cạnh những thành tựu to lớn đã đạt được, nền kinh tế - xã hội Hà Nam cũng bộc lộ không ít những mặt hạn chế và trở ngại.
GDP và nhiều chỉ tiêu kinh tế tính theo bình quân đầu người của Hà Nam còn thấp hơn so với của cả nước và của một số tỉnh trong vùng đồng bằng Bắc Bộ. Cơ cấu kinh tế tuy có chuyển biến tích cực, song vẫn thể hiện tính chất của cơ cấu kinh tế truyền thống. Nông, lâm nghiệp và thủy sản đến năm 2002 vẫn chiếm tỷ trọng 36,0% trong GDP, cao hơn nhiều so với của cả nước (23,0%) và một số tỉnh trong vùng (1). Lao động trong các lĩnh vực này hiện vẫn chiếm 76% tổng số lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh. Tỷ trọng của công nghiệp và xây dựng nói chung trên địa bàn mới chiếm 32,4% trong GDP (của cả nước là 38,5%); trong đó, công nghiệp và xây dựng địa phương quản lý mới chiếm 15,2% trong GDP của tỉnh.
Khả năng huy động ngân sách trong GDP của tỉnh còn thấp. Đến năm 2002, thu ngân sách từ hoạt động kinh tế trên địa bàn mới chiếm 10,7% GDP (tỷ lệ này của cả nước năm 2001 là 19%) và mới chiếm 57,6% tổng thu ngân sách trên địa bàn, chưa đáp ứng được nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Khả năng thu hút đầu tư từ bên ngoài chưa tương xứng với tiềm năng và lợi thế của địa phương.
Sản xuất hàng hóa phát triển mạnh, song còn phân tán, quy mô sản xuất, trình độ công nghệ - kỹ thuật cũng như chất lượng sản phẩm hàng hóa chưa cao (nhất là ở khu vực nông nghiệp, nông thôn). Kim ngạch xuất khẩu tăng nhanh, nhưng hàng hóa xuất khẩu manh mún, chưa có những sản phẩm xuất khẩu có tính chủ lực, chiến lược và có khả năng cạnh tranh cao.
Tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm còn khá cao so với cả nước và một số tỉnh trong vùng. Đến năm 2000, tỷ lệ thất nghiệp trong dân số từ 15 tuổi trở lên hoạt động kinh tế ở khu vực thành thị trên địa bàn tỉnh là 6,98% và tỷ lệ thất nghiệp trong nhóm dân số trong tuổi lao động ở khu vực này là 7,11% (cao hơn so với tỷ lệ tương ứng của cả nước là 6,37% và 6,44%). Tỷ lệ lao động qua đào tạo từ sơ cấp, học nghề trở lên mới chiếm 15,5% trong tổng số lao động nói chung của tỉnh, thấp hơn so với tỷ lệ trung bình của cả nước (17,5%) và của các tỉnh đồng bằng sông Hồng (21,7%)(1). Tốc độ đô thị hóa và tỷ lệ đô thị hóa của tỉnh còn thấp. Tỷ lệ dân số thành thị của tỉnh năm 1990 là 7%, đến năm 2002 mới chiếm 9,2%, thấp hơn nhiều so với tỷ lệ của cả nước (là 25,1% năm 2002) (2) và của các tỉnh đồng bằng sông Hồng (20,2% năm 2000).
Đây là những hạn chế, gây trở ngại cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Song, với quyết tâm của đảng bộ, chính quyền các cấp và với trí tuệ sáng tạo, sự cần cù và năng động vốn có của người dân, thì “nguồn lực con người” và “nguồn vốn xã hội” của Hà Nam đã và đang được phát huy mạnh mẽ phục vụ công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội trên mảnh đất quê hương.
Chương XVI: NÔNG - LÂM NGHIỆP VÀ THỦY LỢI
Hà Nam cũng như các tỉnh ở đồng bằng sông Hồng là nơi các hoạt động nông nghiệp xuất hiện và phát triển lừ rất sớm. Đây cũng là lĩnh vực kinh tế truyền thống luôn có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống của dân cư cũng như trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đa số dân cư hoạt động và sinh sống trong lĩnh vực này, bằng các nghề trồng trọt, chăn nuôi, nuôi thả và đánh bắt thủy sản, khai thác lâm thổ sản và các sản vật tự nhiên.
Ngày nay, nông nghiệp nói chung (bao gồm cả lâm nghiệp và thủy sản) vẫn là lĩnh vực kinh tế có vị trí quan trọng hàng đầu trong nền kinh tế - xã hội của tỉnh. Theo số liệu thống kê năm 2002, các ngành nông - lâm nghiệp và thủy sản hiện vẫn chiếm 76% lao động đang làm việc trong các ngành kinh tế của tỉnh và đóng góp 36,0% trong cơ cấu GDP trên địa bàn, cao hơn so với tỷ trọng đóng góp của công nghiệp và xây dựng (32,4%) và dịch vụ (31,6%) (1). Hơn 90% dân số và hộ gia đình ở Hà Nam sinh sống ở nông thôn, trong đó 81,62% số hộ là hộ nông nghiệp; 74,9% số hộ có nguồn thu nhập chính từ các nghề nông - lâm nghiệp và thủy sản (2).
Trong hơn 10 năm, từ 1990 đến 2002, nông - lâm nghiệp và thủy sản của Hà Nam có sự phát triển mạnh và toàn diện trên các lĩnh vực. Giá trị sản xuất của toàn ngành (theo giá so sánh năm 1994) đã tăng gấp 1,85 lần, từ 744,5 tỷ đồng năm 1990 lên 1377,6 tỷ đồng năm 2002. Trong đó, giá trị sản xuất nông nghiệp (giá so sánh năm 1994) tăng 83,4% (từ 719,7 tỷ lên 13.20,3 tỷ đồng); giá trị sản xuất lâm nghiệp tăng từ 15,1 tỷ năm 1990 lên 17,3 tỷ năm 2000 và giá trị sản xuất của ngành thủy sản tăng gấp 4,5 lần, (từ 9,7 tỷ đồng năm 1990 lên 43,7 tỷ đồng năm 2002). Tuy nhiên, cơ cấu giữa các ngành biến đổi chậm do quy mô sản xuất và quy mô tăng trưởng của ngành lâm nghiệp và thủy sản còn quá nhỏ bé so với sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, cho tới nay nông nghiệp vẫn chiếm vị trí hàng đầu trong sản xuất của toàn ngành và năm 2002 vẫn còn chiếm tới 94,71% tổng giá trị sản xuất nông - lâm nghiệp và thủy sản nói chung của tỉnh (xem biểu 9).
      Biểu 9. Cơ cấu giá trị sản xuất 
nông - lâm nghiệp và thủy sản
(Giá hiện hành); Đơn vị % 
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Tổng số
100
100
100
100
100
100
100
100
1.Nông nghiệp
97,21
96,41
96,30
69,67
96,71
96,24
95,75
94,71
2. Lâm nghiệp
1,71
1,62
1,63
1,43
1,33
1,42
1,02
1,00
3. Thủy sản
1,62
1,97
2,67
1,90
1,96
2,34
3,23
4,29
- Niêm giám thống kê 1990-2000. Cục thống kê Hà Nam 8-2001.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002; NXB Thống kê, Hà Nội-2003.
I. NÔNG NGHIỆP
Theo số liệu thống kê năm 2002, Hà Nam có diện tích đất nông nghiệp là 52.026 ha, chiếm 61,1% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Trong đó, diện tích trồng cây hàng năm là 43.978 ha, chiếm 84,5%; diện tích đất mặt nước sử dụng vào mục đích nông nghiệp là 4.626 ha, chiếm 8,9%; đất trồng cây lâu năm và đất trồng cỏ chỉ có 140 ha; còn lại hơn 3.282 ha là đất vườn và đất nông nghiệp khác. Tuy nhiên, do dân số đông nên diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người của Hà Nam chỉ là 650 m2, thấp hơn nhiều so với bình quân của vùng đồng bằng sông Hồng (960 m2/người) và cả nước (1.100 m2/người).
Trong cơ cấu sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp, trồng trọt vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Năm 2002, giá trị sản xuất của ngành nông nghiệp đạt 1.511,8 tỷ đồng (theo giá hiện hành) thì ngành trồng trọt là 1.101,1 tỷ đồng, chiếm 72,8%, ngành chăn nuôi đạt 396,4 tỷ đồng, chiếm 26,2% và phần dịch vụ đạt 14,3 tỷ đồng, mới chiếm 1,0%. Trong giai đoạn 1996 - 2000, tốc độ tăng trưởng bình quân của giá trị sản xuất ngành trồng trọt cũng đạt được cao nhất, đạt 3,8%/năm, sau đó đến chăn nuôi 3,47%/năm và dịch vụ là 1,14%. Như vậy, trong nông nghiệp vẫn nặng về các hoạt động trồng trọt. Suốt hơn 10 năm, từ 1990 đến năm 2002, tỷ trọng của ngành chăn nuôi đạt cao nhất là vào năm 1992 (26,7%) và năm 2002 là 26,2%; trong khi đó trồng trọt hiện vẫn chiếm 72,8% đến 73,5% (xem biểu 10).
    Biểu 10. Cơ cấu giá trị 
sản xuất nông nghiệp (giá hiện hành)
Đơn vị tính: %
Năm
1995
1996
1997
1998
1999
2000
2001
2002
Tổng số
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
100,0
1. Trồng trọt
74,5
74,9
74,2
77,6
77,5
75,2
73,5
72,8
2. Chăn nuôi
24,5
24,1
24,8
21,5
21,6
23,8
25,5
26,2
3. Dịch vụ
1,0
1,0
1,0
0,9
0,9
1,0
1,0
1,0
- Niêm giám thống kê 1990-2000. Cục thống kê Hà Nam 8-2001.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002; 
NXB Thống kê, Hà Nội-2003
Ảnh: Mạnh Hùng
1. Ngành trồng trọt
Hoạt động trồng trọt thu hút phần lớn số hộ nông dân và lao động nông nghiệp và hiện vẫn chiếm 72,8% giá trị sản xuất nông nghiệp nói chung của tỉnh (Biểu 10). Trong ngành trồng trọt, do điều kiện đất đai, tập quán sản xuất và sinh sống của dân cư nên từ xưa đến nay sản xuất lúa và các loại cây lương thực vẫn là cốt yếu nhất. Đến năm 2002, diện tích gieo trồng cây lương thực có hạt vẫn chiếm tới 78,6% tổng diện tích cây trồng nông nghiệp của tỉnh và chiếm 71,9% giá trị sản xuất của ngành trồng trọt.
Tuy nhiên, trong khoảng một thập kỷ kể từ đầu những năm 1990 trở lại đây, mà nhất là trong giai đoạn từ 1997 đến 2003, hoạt động trồng trọt đã có những chuyển biến đáng kể và ngày càng có xu hướng đa dạng hoá, với sự phát triển mạnh của các loại cây rau mầu, cây công nghiệp có giá trị hàng hoá và đặc biệt là các loại cây ăn quả. Đến năm 2002, diện tích các loại cây công nghiệp hàng năm đã có trên 4387 ha, tăng 46,5% so với năm 1997; diện tích cây lâu năm có trên 5.588 ha, tăng gấp hơn 2 lần; trong đó diện tích cây ăn quả tăng gấp 2,45 lần so với năm 1997 (biểu 11). Cũng trong giai đoạn này, giá trị sản xuất cây công nghiệp nói chung (theo giá so sánh năm 1994) tăng từ 14,465 tỷ đồng năm 1997 lên 30,14 tỷ năm 2002 (gấp 2,1 lần); giá trị sản xuất các loại cây rau, đậu thực phẩm tăng 55,4% (từ 80,4 tỷ đồng lên 124,9 tỷ) và giá trị sản xuất các loại cây ăn quả tăng 7,8%.
    Biểu 11. Diện tích các loại cây trồng 
nông nghiệp tỉnh Hà Nam 1995 - 2002
Đơn vị (ha)

Năm

Tổng số
Trong đó
Cây lương thực có hạt
Cây công nghiệp
hàng năm
Cây lâu năm
Trong đó: cây ăn quả
1995
101.124
81.302
3.180
2.612
1.911
1997
96.382
79.642
2.995
2.699
1.990
1999
103.359
83.071
4.105
4.034
3.659
2000
104.874
83.304
4.175
4.987
4.657
2001
102.930
81.703
4.077
5.253
4.807
2002
103.044
81.010
4.387
5.588
4.885
Nguồn: - Niêm giám thống kê tỉnh 
Hà Nam 2002; NXB Thống kê, Hà Nội-2003.
Nguyên nhân của những chuyển biến này một phần là do đất đai và hệ sinh thái cây trồng của Hà Nam khá phong phú, đa dạng (như đã nói đến ở các phần trên), lại được đảm bảo ngày càng tốt hơn về mặt thuỷ lợi, thuỷ nông nên việc trồng cấy các loại cây trở nên thuận và chủ động hơn nhiều so với trước. Song mặt khác, do sản xuất lương thực đã phát triển, không chỉ đảm bảo được nhu cầu tiêu dùng của các hộ nông dân và dân cư trên địa bàn mà còn có dư thừa để trở thành hàng hoá. Điều này cho phép có thể giảm một phần diện tích và đầu tư cho sản xuất cây lương thực để chuyển sang các loại cây trồng khác. Và sau nữa, do tác động ngày càng mạnh của thị trường đối với các hoạt động trồng trọt của nông dân. Các loại cây ăn quả, rau đậu và cây trồng có giá trị hàng hoá, dễ tiêu thụ trên thị trường ngày càng được nông dân chú trọng nhiều hơn.
1.1 Sản xuất lương thực
Lương thực bao gồm lúa, ngô và các loại cây lương thực có hạt khác. Trong đó, lúa nước là cây lương thực truyền thống đã có từ rất lâu và là cây trồng đặc trưng của nông nghiệp Hà Nam (cũng như ở các tỉnh đồng bằng sông Hồng nói chung). Sản xuất lúa nước không chỉ quyết định đời sống vật chất mà còn chi phối cả đời sống văn hoá, tinh thần của dân cư. Trong những thập kỷ trước thời kỳ đổi mới, sản xuất lương thực nói chung và sản xuất lúa nước nói riêng đã được tập trung phát triển với nỗ lực cao của các địa phương cũng như của toàn thể nhân dân trong tỉnh. Nhờ vậy mà sản xuất cây lương thực ở Hà Nam đã không ngừng phát triển cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Tuy nhiên, cho đến đầu những năm 1990 trở lại đây thì Hà Nam mới căn bản giải quyết được tình trạng thiếu lương thực triền miên và bắt đầu có dư thừa lương thực hàng hoá, đặc biệt là đối với lúa gạo.
- Sản xuất lúa:
Tất cả các làng, xã, các huyện, thị trong tỉnh và ngay cả ở thị xã Phủ Lý đều cấy trồng lúa nước. Những cánh đồng lúa bát ngát bao quanh các làng xã, nối tiếp nhau từ làng nọ đến làng kia. Chúng chỉ bị che lấp phần nào bởi các dãy núi ở phía tây, ở một số xã miền núi thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Diện tích gieo trồng lúa đã được mở rộng và tăng lên qua nhiều thập kỷ. Diện tích lúa cả năm của toàn tỉnh có trên 68,8 nghìn ha năm 1991, đã tăng lên 73,6 nghìn ha năm 1997 và trên 75,1 nghìn ha vào năm 2002. Cao nhất là vào năm 2001, đạt trên 75,57 nghìn ha (biểu 12). Theo số liệu thống kê của tỉnh năm 2002, huyện có diện tích lúa cả năm nhiều nhất là huyện Bình Lục, có tới 18.533 ha; sau đến huyện Thanh Liêm, có tới 14.578 ha, hai huyện Duy Tiên và Lý Nhân có diện tích gần xấp xỉ nhau, tương ứng là 13.819 ha và 13.663 ha. Huyện Kim Bảng có diện tích thấp hơn, có 11.985 ha và ít nhất là thị xã Phủ Lý, chỉ có 2.509 ha.
Năng suất lúa bình quân của tỉnh cũng liên tục tăng nhanh. Năm 1991, đạt 23,0tạ/ha/vụ, đến năm 1997 đạt 46,6 tạ/ha và năm 2002 đạt mức kỷ lục 53,9 tạ/ha, cao gấp hơn 2,3 lần so với năm 1991 (biểu 12). Năng suất lúa bình quân hàng năm của Hà Nam thường thấp hơn so với năng suất bình quân của các tỉnh đồng bằng sông Hồng. Tuy vậy, năng suất của một số huyện trong tỉnh cũng đã đạt mức cao tương đương với nhiều huyện có năng suất cao nhất ở vùng đồng bằng. Huyện thường có năng suất lúa cao nhất của Hà Nam là huyện Duy Tiên, sau đó đến huyện Lý Nhân, là hai huyện nằm ven sông Hồng. Năm 2000, năng suất lúa một vụ của huyện Duy Tiên đạt 53,73 tạ/ha, huyện Kim Bảng đạt 51,44tạ/ha, huyện Lý Nhân đạt 50,51 tạ/ha, huyện Bình Lục đạt 50,40tạ/ha, huyện Thanh Liêm đạt 50,14 tạ/ha và thị xã Phủ Lý đạt 49,88 tạ/ha.
Về sản lượng, năm 1991 sản lượng lúa của cả tỉnh đạt 158,5 nghìn tấn, đến năm 1997 đã đạt trên 343,3 nghìn tấn và năm 2002 đạt tới 404,79 nghìn tấn, gấp 2,55 lần so với năm 1991 (biểu 12). Huyện Bình Lục thường có sản lượng lúa cao nhất, sau đó đến các huyện Duy Tiên và Thanh Liêm. Năm 2002, huyện Bình Lục đạt sản lượng trên 100.582 tấn, huyện Duy Tiên đạt 76.408 tấn, huyện Thanh Liêm đạt 78.156 tấn, huyện Lý Nhân đạt 72.433 tấn, huyện Kim Bảng là 64.122 tấn và thị xã Phủ Lý có 13.089 tấn.
     Biểu 12. Diện tích, năng suất, sản lượng 
lúa của Hà Nam từ 1991-2002
 Năm
 Đơn vị
 1991
 1995
 1997
 2000
 2001
 2002
 Diện tích
ha
 68.982
 72.415
 73.633
 75.407
 75.573
 75.107
 Năng suất
 tạ/ha
 23,00
 44,00
 46,6
 51,1
52,4
 53,9
 Sản lượng
 tấn
 158.505
 318.814
 343.336
 385.574
 396.038
404.790 
- Niêm giám thống kê 1990-2000.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002.
Sản xuất lúa được tiến hành hai vụ trong một năm: vụ lúa đông xuân và vụ lúa mùa. Diện tích cấy lúa mùa thường lớn hơn diện tích cấy lúa vụ đông xuân. Nhưng năng suất và sản lượng lúa mùa thường thấp hơn so với vụ đông xuân do vụ mùa thường có gió bão và nhiều vùng đất trũng thường bị úng ngập. Đến những năm gần đây, sự chênh lệch về diện tích lúa giữa 2 vụ là không nhiều, nhưng năng suất lúa vụ mùa vẫn thấp hơn đáng kể so với năng suất vụ đông xuân. Trong giai đoạn 1997 - 2002, diện tích lúa mùa bình quân hàng năm là 37.727 ha, nhiều hơn 607 ha so với diện tích bình quân lúa đông xuân (37.120 ha), trong khi năng suất lúa mùa bình quân hàng năm trong giai đoạn này là 47,7tạ/ha thấp hơn gần 7 tạ/ha so với năng suất bình quân của lúa đông xuân (53,96 tạ/ha).
Sự biến đổi có được trong sản xuất lúa nước ở Hà Nam, trước tiên phải kế đến vai trò của thủy lợi, thuỷ nông. Sự phát triển thuỷ lợi, thuỷ nông đã biến hàng nghìn ha đất một vụ lúa trở thành đất gieo cấy đựợc hai vụ làm cho diện tích trồng lúa tăng lên mạnh mẽ, đồng thời cũng tạo ra tiền đề cho việc đẩy mạnh thâm canh tăng năng suất lúa của cả 2 vụ ở các địa phương trong tỉnh. Song mặt khác, sự biến đổi lớn lao trong sản xuất lúa ở Hà Nam còn là do tác động của cách mạng khoa học - kỹ thuật đã được triển khai trong suốt nhiều thập kỷ, mà nhất là từ những năm 1960 trở lại đây. Các giống lúa mới ngắn ngày có năng suất, chất lượng cao, khả năng chống chịu sâu bệnh tốt đã được đưa vào sản xuất, thay thế cho các giống lúa cổ truyền năng suất thấp của địa phương.
Trước đây, các giống lúa cũ được trồng nhiều ở Hà Nam như lúa tép, lúa ỏn, lúa bầu đỏ, lúa hom, lúa tám... là những giống lúa tẻ, còn lúa nếp có nếp cái hoa vàng, nếp rằm, nếp con,... Lúa bầu đỏ là giống lúa cứng cây, chắc hạt, gạo màu đỏ như gạo lúa cẩm của người Mường ở Hoà Bình, được trồng ở hầu hết các nơi trong tỉnh. Giống lúa tép, lúa ỏn cây cao, hạt gạo màu trắng cũng được trồng ở nhiều nơi và thường được trồng trên các chân ruộng kém màu mỡ. Các loại lúa nếp, đặc biệt là lúa nếp cái hoa vàng rất thơm và dẻo, là giống lúa quý, rất có giá trị. Lúa hom cũng là giống lúa quý, có hạt gạo màu hung nâu, cơm dẻo, ngon thường được trồng ở các chân ruộng màu mỡ, có điều kiện canh tác tốt hơn. Đặc biệt hơn là ở xã An Lão (huyện Bình Lục) có giống lúa câu cánh, gạo rất trắng, thơm và dẻo, được coi là đặc sản dùng để tiến vua. Tuy nhiên, phần lớn các giống lúa cũ đều chỉ cho năng suất trên dưới 10 tạ/ha, ngay cả trong những năm thời tiết thuận lợi và được mùa nhất.
Do vậy, từ cuối những năm 1950 việc áp dụng các loại giống lúa mới và kỹ thuật canh tác mới đã bắt đầu được triển khai ở nhiều nơi trong tỉnh. Các giống lúa mới lúc bấy giờ như Nam Ninh, Bách Cốc,... đã cho năng suất khá hơn so với các giống lúa cũ. Đến những năm 1960 và 1970 lại có thêm các giống lúa mới như lúa mộc tuyền, mộc khâm, bao thai lùn, nông nghiệp 5, nông nghiệp 8,... Từ cuối những năm 1960, đầu những năm 1970, các giống lúa mới đã chiếm trên 50% đến 70% diện tích lúa ở một số địa phương và năng suất lúa cả năm ở nhiều xã trong tỉnh đã đạt trên 50 tạ/ha.
Cho đến nay, việc áp dụng các loại giống lúa mới và kỹ thuật sản xuất mới vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Hà Nam không chỉ duy trì các giống lúa thuần có năng suất cao mà còn đưa các giống lúa lai cao sán và nhập khẩu nhiều giống lúa mới của Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan để thay thế các giống lúa đã thoái hoá. Nhiều giống lúa cao sản đã đưa vào sản xuất đại trà. Năm 2000, đã có 82% diện tích gieo cấy các giống lúa mới như: khang dân, C70, CR203, tạp giao, ĐV108, Q5, giống lúa thuần Trung Quốc, giống 9308,... Đặc biệt, trại giống lúa Đồng Văn (huyện Duy Tiên) là nơi đầu tiên ở nước ta, được sự hỗ trợ của chuyên gia Trung Quốc, ngay từ vụ chiêm xuân năm 1995 đã lai tạo thành công giống lúa lai F1 với năng suất khá. Hà Nam là tỉnh đứng thứ hai sau tỉnh Nam Định có diện tích nhân hạt lúa lai F1 lớn nhất miền Bắc. Hiện nay, để phục vụ chương trình sản xuất lúa chất lượng cao cho xuất khẩu, tỉnh đã và đang triển khai trồng thực nghiệm giống lúa DT122, giống lúa Nhật Bản, Đài Loan, giống lúa Bắc Thơm số 7... đạt năng suất và hiệu quả cao hơn nhiều so với một số giống lúa khác.
Cùng với việc áp dụng các giống lúa mới và kỹ thuật sản xuất mới, chuyển dịch cơ cấu mùa vụ cũng là một yếu tố quan trọng tạo ra những biến đổi trong sản xuất lúa gạo ở Hà Nam, đặc biệt là từ sau khi tái lập tỉnh (1997). Vụ lúa đông xuân đã bỏ gieo cấy trà lúa sớm, giảm tối đa trà lúa xuân chính vụ để chuyển sang gieo cấy trà lúa xuân muộn với việc sử dụng các giống lúa mới ngắn ngày, năng suất cao, hạn chế được sâu bệnh và khắc phục được tình trạng lúa, mạ chết rét trong các đợt rét đậm, rét hại vẫn thường xảy ra. Vụ mùa cũng giảm diện tích gieo trồng trà lúa muộn, tăng trà lúa chính vụ và mở rộng gieo cấy trà lúa mùa sớm để chủ động sản xuất cây vụ đông. Đến nay diện tích gieo cấy trà lúa mùa sớm đã chiếm 30 - 35% diện tích lúa mùa hàng năm của tỉnh.
Một nhân tố quan trọng khác tạo ra bước “đột phá” trong sản xuất lúa gạo nói riêng cũng như trong nông nghiệp ở Hà Nam (và cả nước) nói chung chính là việc đổi mới căn bản và toàn diện mô hình tổ chức sản xuất và cơ chế quản lý đối với các lĩnh vực này kể từ cuối những năm 1980, đặc biệt là từ sau Nghị quyết 10-TW của Trung ương Đảng (tháng 4-1988). Việc giao quyền sử dụng ruộng đất ổn định, lâu dài cho các hộ nông dân, xác lập hộ làm đơn vị sản xuất kinh doanh tự chủ và việc tự do hoá thị trường lương thực, cung ứng vật tư, phân bón,... đã kích thích mạnh mẽ đối với nông dân trong phát triển sản xuất, tạo ra sự biến đổi lớn trong sản xuất lúa gạo.
- Sản xuất ngô
Cây ngô là cây lương thực có hạt đứng vị trí thứ hai sau cây lúa. Trước kia, ngô thường được trồng nhiều ở những vùng đất bãi ven sông Hồng, sông Đáy, sông Châu và cả ở những sườn đồi hay thung lũng vùng núi các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm. Nhân dân thường trồng các giống ngô nếp và ngô tẻ địa phương và có thể trồng xen với các cây hoa màu khác như đậu, lạc, đậu đũa, khoai,... Về sau, do phát triển thủy lợi, nhất là từ giữa những năm 1960, nên cây ngô còn được trồng nhiều cả trên đất ruộng. Đến đầu những năm 1970 thì cây ngô đông đã được trồng rộng rãi trên đất 2 vụ lúa và trở thành một trong, những cây trồng chính trong sản xuất vụ đông ở Hà Nam. Đây là một biến đổi quan trọng trong sản xuất ngô của nhân dân trong tỉnh.
Đến những năm 1990, sản xuất ngô tiếp tục được mở rộng. Vào những năm 1995,1996 diện tích trồng ngô lên tới gần 8.900 ha, gấp 1,58 lần so với năm 1991 và đạt mức diện tích cao nhất từ trước đến nay. Đặc biệt là trong giai đoạn này các giống ngô lai cho năng suất cao đã được đưa vào trồng khá phổ biến thay thế cho các giống ngô truyền thống. Năng suất ngô ở Hà Nam năm 2001 đã đạt 31,8 tạ/ha và năm 2002 đã đạt trên 33 tạ/ha, cao gấp đôi so với năm 1991. Sản lượng ngô năm cao nhất là vào năm 1999, đạt trên 25,7 nghìn tấn, gấp 2,8 lần so với năm 1991. Tuy nhiên, những năm gần đây do nhu cầu lương thực lúa gạo được đảm bảo, ngô dùng làm lương thực giảm mạnh, nên diện tích ngô đang có xu hướng giảm để nhường cho các cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Năm 2002, diện tích ngô của cả tỉnh giảm còn 5.903 ha; giảm 33,6% so với năm 1995 (biểu 13).
   Biểu 13. Diện tích, năng suất, 
sản lượng ngô giai đoạn 1991-2002

Đơn vị
1991
1995
1997
2000
2001
2002
Diện tích
Ha
5.631
8.887
6.009
7.897
6.130
5.903
Năng suất
Tạ/ha
16,4
25,8
26,3
29,5
31,8
33,5
Sản lượng
Tấn
9.236
22.908
15.811
23.279
19.482
19.772
- Niêm giám thống kê 1990-2000.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002.
Năm 2002 các huyện còn trồng nhiều ngô là Kim Bảng có 1.918 ha trồng ngô, Lý Nhân trồng 1.767 ha và Duy Tiên là 1.235 ha. Sản lượng ngô ở ba huyện này chiếm tới 85,6% sản lượng ngô của toàn tỉnh.
1.2. Cây chất bột có củ
- Khoai lang
Sản xuất khoai lang có phần giảm sút cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Diện tích trồng khoai lang năm 1991 là 3.901 ha, năm 2002 giảm xuống chỉ còn 2.646 ha. Sản lượng khoai lang năm 1991 là 29.011 tấn thì năm 2002 chỉ còn 22.613 tấn. Cây khoai lang ít được chú ý về giống cũng như về kỹ thuật sản xuất. Trước kia khoai lang được xếp vào loại cây lương thực và dùng để ăn do sự thiếu hụt về lương thực. Ngày nay nó không được coi là cây lương thực nữa. Sản phẩm của nó chủ yếu dùng cho chăn nuôi (biểu 14).
    Biểu 14. Diện tích, năng suất, sản lượng 
khoai lang và sắn 1991-2002

Đơn vị
1991
1995
1997
2000
2001
2002
Khoai lang
Diện tích
Ha
3.901
4.401
3.757
3.373
2.789
2.646
Sản lượng
Tấn
29.011
29.259
25.710
23.061
22.831
22.613
Sắn
Diện tích
Ha
446
920
918
1.099
926
952
Sản lượng
Tấn
3.474
7.952
9.560
15.510
13.043
13.458
- Niêm giám thống kê 1990-2000.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002.
- Sắn
Diện tích, năng suất và sản lượng sắn đã được tăng lên. Năm 1991 có 446 ha, năm 2000 diện tích trồng sắn đã lên tới 1.099 ha, gấp 2,46 lần. Năng suất sắn cũng tăng lên, từ 77,89 tạ/ha vào năm 1991 tăng lên 141,13 tạ/ha vào năm 2000, gấp 1,8 lần. Sản lượng sắn tăng từ 3.474 tấn năm 1991 lên 15.510 tấn vào năm 2000, gấp 4,46 lần (biểu 14). Về kỹ thuật sản xuất sắn nói chung không biến đổi nhưng đã có sự thay đổi về giống. Nhờ vậy, năng suất và sản lượng sắn đã tăng lên đáng kể. Cũng như khoai lang, sắn hiện nay không được coi là cây lương thực nữa. Nhân dân cũng không dùng; sắn để ăn thay gạo vì lượng gạo lương thực đã dư thừa. Do vậy, ngày nay sắn được dùng chủ yếu làm thức ăn cho chăn nuôi. Cây sắn được trồng nhiều ở hai huyện vùng đồi núi là Kim Bảng và Thanh Liêm, ở huyện Kim Bảng, diện tích sắn chiếm tới 68% diện tích sắn của hai huyện trên và sản lượng chiếm tới 80% là do năng suất sắn ở đây cao hơn.
1.3. Các loại cây rau đậu thực phẩm
Xưa kia Hà Nam là vùng đất trũng, thường bị úng ngập trong đại bộ phận thời gian trong năm nên việc trồng rau màu là rất khó khăn. Ngoài những vùng đất cao, đất bãi bồi ven sông Hồng, sông Đáy, sông Châu có thể trồng rau quả nhiều hơn, thì còn lại, rau quả thực phẩm chủ yếu được các hộ trồng cấy nhỏ lẻ ở vườn, ao quanh nhà, trồng theo mùa, mỗi thứ một ít. Các loại rau quả thường thấy như: rau muống, khoai sọ, rau đay, mồng tơi, bầu, bí xanh, mướp, đu đủ, cà tím, cà pháo, đậu đũa và các loại rau quả gia vị khác (hành, ớt,...), ở thôn Gốm (xã Thụy Lôi, huyện Kim Bảng) trước đây có giống cà gốm giòn và trắng, ăn ngon, được coi như thứ đặc sản khá nổi tiếng trong vùng. Việc trồng rau quả thực phẩm chủ yếu để dùng trong hộ gia đình, còn thừa mới mang ra chợ bán. Song, cùng với sự phát triển của sản xuất nông nghiệp và sự gia tăng về nhu cầu tiêu dùng của dân cư thì sản xuất rau quả thực phẩm ở Hà Nam cũng ngày càng phát triển. Việc mở rộng diện tích canh tác vụ đông từ đầu những năm 1970 đã tạo thuận lợi rất lớn cho phát triển đa dạng các loại cây trồng này. Nhiều loại rau quả thực phẩm vụ đông đã được phát triển mạnh như cà chua, dưa chuột, cải bắp, súp lơ, khoai tây,...
Ngày nay, việc trồng các loại cây rau đậu thực phẩm đã trở nên phổ biến và trở thành một lĩnh vực sản xuất có đóng góp đáng kể cho ngành trồng trọt ở Hà Nam. Những năm gần đây, giá trị sản xuất rau đậu thực phẩm liên tục tăng nhanh và đã vượt trội so với giá trị sản xuất các loại cây công nghiệp trên địa bàn. Năm 2002, giá trị sản xuất các loại cây này đạt tới 145,6 tỷ đồng (theo giá hiện hành), chiếm tới 13,2% giá trị sản xuất ngành trồng trọt của tỉnh, đứng thứ hai sau giá trị sản xuất lúa và cao gấp 3,1 lần giá trị sản xuất các loại cây công nghiệp.
      Biểu 15. Diện tích, sản lượng 
rau, đậu. (Diện tích: ha; sản lượng: tấn)
Năm
1991
1995
1997
1999
2000
2001
2002
Diện tích
7.709
7.265
5.384
6.314
7.003
7.285
7.560
Sản lượng
71.666
85.000
70.752
71.576
76.219
85.918
103.064
- Niêm giám thống kê 1990-2000.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002.
Một trong những thay đổi lớn trong sản xuất các loại cây rau quả thực phẩm ở Hà Nam hiện nay là sản xuất đã mang tính hàng hoá rõ rệt và ngày càng hướng mạnh vào thị trường, đáp ứng nhu cầu thị trường. Nhiều loại rau quả thực phẩm của Hà Nam được sản xuất với khối lượng lớn hơn, cung cấp cả cho thị trường trong tỉnh lẫn thị trường Hà Nội và các nơi khác. Việc chuyển sang sản xuất kinh doanh hàng hoá cũng thúc đẩy nông dân và các nhà sản xuất rau quả thực phẩm ở đây áp dụng rộng rãi và có hiệu quả hơn các loại giống mới và công nghệ - kỹ thuật mới vào sản xuất. Ở các huyện Kim Bảng, Lý Nhân, Duy Tiên nông dân đã đưa vào trồng cây dưa chuột lai để xuất khẩu, với giống dưa chuột lai Đài Loan, Nhật Bản, dưa chuột bao tử giống của Pháp, Hà Lan,... Năm 2001, diện tích gieo trồng dưa chuột xuất khẩu của tỉnh đã có 519 ha với năng suất khá cao, từ 32 tấn/ha đến trên 55 tấn/ha. Một số loại rau quả có giá trị kinh tế cao cũng đang được phát triển ở một số nơi trong tỉnh như mộc nhĩ, nấm mỡ, nấm sò, ngô bao tử, hành tây, tỏi, ớt xuất khẩu.
Vụ đông là vụ sản xuất quan trọng đối với các cây rau đậu thực phẩm của Hà Nam. Thời kỳ 1996 - 2000, diện tích rau đậu vụ đông bình quân hàng năm là 3.851,8 ha, chiếm 59,52% diện tích rau đậu cả năm. Năm 2000, diện tích cây rau đậu vụ đông là 4.430 ha, chiếm 33,58% tổng diện tích cây vụ đông và chiếm tới 63,25% diện tích cây rau đậu cả năm. Trong đó, khoai tây và các loại đậu thực phẩm tiếp tục tăng cả về diện tích, năng suất và sản lượng. Đến năm 2000, toàn tỉnh có 1.700 ha đậu các loại, năng suất đạt 12 tạ/ha và sản lượng đạt 2.040 tấn; diện tích khoai tây có 1.657 ha, chiếm tới 37,40% diện tích cây rau đậu vụ đông, với năng suất 119,52 tạ/ha và đạt sản lượng 19.804 tấn. Các huyện Lý Nhân, Bình Lục và Kim Bảng là những huyện sản xuất rau đậu thực phẩm nhiều nhất của tỉnh. Năm 2002, diện tích trồng các loại cây này ở huyện Lý Nhân là 2.541 ha, tiếp đến là huyện Bình Lục 1.613 ha, huyện Kim Bảng 1.195 ha. Rau đậu thực phẩm của 3 huyện này chiếm tới 70,7% diện tích và 74,8 sản lượng rau đậu thực phẩm của cả tỉnh. Ngoài ra, huyện Duy Tiên cũng là nơi sản xuất rau đậu thực phẩm với diện tích và sản lượng khá lớn. Năm 2002, diện tích các loại cây này ở huyện Duy Tiên là 1.125 ha, sản lượng đạt trên 13,1 nghìn tấn.
Hiện nay tỉnh đang có kế hoạch phấn đấu đến năm 2010 sẽ có khoảng 3.500ha khoai tây, với sản lượng 105.000 tấn khoai tây để cung cấp cho thị trường và chế biến, xuất khẩu. Diện tích dưa chuột sẽ có khoảng 1.000 ha; tiếp tục mở rộng sản xuất cà chua và phát triển công nghiệp chế biến; đẩy mạnh sản xuất các loại rau cải, bắp cải, cải cuốn; các loại cây gia vị như hành tây, tỏi, ớt xuất khẩu.
1.4a. Cây công nghiệp hàng năm
Các cây công nghiệp hàng năm ở Hà Nam trước đây có đay, gai, thầu dầu, mía, lạc, đỗ tương, dâu tằm, vừng... Những cây này đã được trồng từ lâu cả ở vùng đồi núi phía Tây lẫn ở các huyện đồng bằng phía Đông của tỉnh. Cây gai và cây thầu dầu là những cây trồng bản địa được trồng phổ biến ở các nơi. Cây đay, mía được trồng nhiều ở vùng bãi bồi ven sông Hồng, sông Đáy, sông Châu, nhất là ở huyện Lý Nhân. Năm 1957, diện tích thầu dầu có tới 840 ha, cao hơn cả diện tích trồng mía lúc bấy giờ. Hiện nay cây gai và thầu dầu hầu như không được trồng nữa.
Cây đay cũng đã giảm đi đáng kể từ đầu những năm 1990 và cây mía đang giảm mạnh trong những năm gần đây. Tuy nhiên, sản xuất các loại cây công nghiệp hàng năm của Hà Nam nói chung vẫn có xu hướng tăng lên cả về diện tích lẫn giá trị sản xuất. Đến năm 2002, diện tích các loại cây công nghiệp hàng năm của toàn tỉnh đã có trên 4.387 ha, tăng 28,8% so với năm 1991 (3.406 ha); giá trị sản xuất cây công nghiệp nói chung (theo giá so sánh năm 1994) đạt trên 30,1tỷ đồng, gấp gần 1,7 lần so với năm 1995.
Cây công nghiệp hàng năm được trồng nhiều nhất ở huyện Lý Nhân, sau đến huyện Duy Tiên và huyện Kim Bảng. Năm 2000, diện tích cây công nghiệp hàng năm ở 3 huyện này chiếm tới 79,39% tổng diện tích cây công nghiệp hàng năm của tỉnh. Trong đó, huyện Lý Nhân có 1.871 ha, huyện Duy Tiên có 873 ha và huyện Kim Bảng có 654 ha, còn lại là thị xã Phủ Lý, huyện Bình Lục và huyện Thanh Liêm với diện tích tương ứng là 333 ha, 326 ha và 223 ha.
Biểu 16. Diện tích, sản lượng một số cây 
công nghiệp hàng năm 1991-2002

1991
1995
1997
1999
2000
2001
2002
Diện tích (ha)
Đay
1.075
606
807
795
740
701
735
Mía
618
388
161
138
105
62
74
Lạc
647
600
754
1.042
1.048
989
902
Đỗ tương
1.026
1.514
1.212
2.098
2.270
2.308
2.669
Sản lượng (tấn)
Đay
2.160
1.345
2.339
2.423
2.367
2.347
2.422
Mía
26.594
23.901
6.952
5.488
4.792
3.357
4.114
Lạc
757
758
1.327
2.062
2.229
2.161
2.072
Đố tương
632
1.274
1.287
2.908
3.463
3.804
4.401
Nguồn: Sách đd: Niêm giám thống kê 1990-2000 và 2002.
- Cây đay
So với cả nước cũng như so với các tỉnh khác ở đồng bằng sông Hồng, Hà Nam là tỉnh sản xuất nhiều đay. Năm 2002, diện tích và sản lượng đay của Hà Nam lớn thứ ba trong cả nước, chỉ sau 2 tỉnh Long An và Hưng Yên, và cao hơn so với các tỉnh Thái Bình, Nam Định.
Cây đay ở Hà Nam được trồng chủ yếu ở vùng bãi ven sông Hồng của các huyện Lý Nhân, Duy Tiên và một số nơi ở huyện Bình Lục. Những năm 1990 -1991 diện tích trồng đay của tỉnh có trên dưới 1.100 ha thì riêng ở huyện Lý Nhân đã có trên 900 ha. Những năm gần đây, diện tích đay của tỉnh đã giảm dần và năm 2002 chỉ còn 735 ha; trong đó, ở Lý Nhân có 725 ha (chiếm 98,6%), huyện Duy Tiên chỉ còn 8 ha và Bình Lục còn lại 2 ha. Mặc dù năng suất đay đã được tăng lên (từ 20,86 tạ/ha năm 1990 lên tới 32 tạ/ha năm 2000) và đạt năng suất 32,9 tạ/ha vào năm 2002 (gấp 1,58 lần so với năm 1990), song do diện tích giảm nhiều nên sản lượng đay của tỉnh cũng giảm đi đáng kể. Giai đoạn từ 1990 đến năm 1993, sản lượng đay bình quân đạt trên 2,5 nghìn tấn/năm, nhưng từ năm 1994 -1996 chỉ đạt 1,56 nghìn tấn và từ năm 1997 - 2000 sản lượng đay được tăng lên, đạt 2,37 nghìn tấn. Năm 2002 sản lượng đay đạt 2.422 tấn, nhưng vẫn còn thấp hơn gần 200 tấn so với sản lượng đay của năm 1990 (2.618 tấn).
Sản xuất đay hiện nay đang gặp phải khó khăn do hiệu quả không cao so với một số cây trồng khác và cả những khó khăn về thị trường tiêu thụ. Nó cũng ít được nông dân quan tâm về mặt giống, kỹ thuật và xúc tiến thương mại. Sản lượng đay tơ của Hà Nam không nhiều và chủ yếu được cung ứng cho các nhà máy đay ở các tỉnh Nam Định, Thái Bình. Một phần sản phẩm đay được dùng làm thảm đay để xuất khẩu, nhưng khối lượng ít và cũng không ổn định. Năm 2000, lượng đay tơ xuất khẩu chỉ có 10,5 tấn và thảm đay xuất khẩu được 28 nghìn m2. Đến năm 2002, thảm đay xuất khẩu của tỉnh cũng giảm xuống, chì còn 18 nghìn m2.
- Sản xuất mía
Trước đây, Hà Nam là tỉnh trồng nhiều mía ở đồng bằng sông Hồng. Cho đến cuối những năm 1950, diện tích mía của Hà Nam đã có trên 800 ha, và hàng năm Hà Nam sản xuất được khoảng 4.000 tấn đường mật. Năm 1959, cùng với việc xây dựng và hoàn thành nhà máy đường Vĩnh Trụ với công suất 25 tấn mía/ngày, thì vùng nguyên liệu mía cũng được mở rộng, nhất là ở các huyện Lý Nhân, Duy Tiên và Bình Lục. Giống mía được trồng nhiều lúc bấy giờ là giống mía Java của Malaysia, thay thế dần cho các giống mía cũ của địa phương. Năm 1968, ngành mía đường của Hà Nam sản xuất được tới trên 1.630 tấn đường mật. Diện tích mía được ổn định trong nhiều năm. Riêng ở huyện Lý Nhân, thời kỳ này có diện tích mía ổn định là 850 ha. Mía của Hà Nam không chỉ cung cấp cho nhà máy đường Vĩnh Trụ mà còn cung cấp cho cả nhà máy đường Văn Điển và cho tiêu dùng của nhân dân.
Tuy nhiên, từ khi chuyển đổi sang kinh tế thị trường, nhất là từ đầu những năm 1990, sản xuất mía đường ở Hà Nam không những không phát triển lên được mà còn bị giảm sút nghiêm trọng. Diện tích trồng mía của tỉnh năm 1990 là 603 ha, đến năm 2002 chỉ còn lại 74 ha; năng suất mía năm 1990 là 610 tạ/ha, đến năm 2002 chỉ còn 555,9 tạ/ha; sản lượng mía năm 1990 là trên 36,7 nghìn tấn đến năm 2002 chỉ còn hơn 4,1 nghìn tấn. Ở huyện Lý Nhân năm 1990 có 350 ha trồng mía, đến năm 2002 chỉ còn 6 ha; huyện Duy Tiên năm 1990 có 140 ha, năm 2002 chỉ còn 3 ha; huyện Bình Lục từ 101 ha giảm còn 52 ha vào các năm tương ứng. Huyện Kim Bảng một số năm gần đây vẫn có diện tích trồng mía tới 80 ha (năm 1999), nhưng đến năm 2001 chỉ còn 16 ha và năm 2002 cũng chỉ còn 9 ha trồng mía.
Nguyên nhân của sự giảm sút này là do khi chuyển sang cơ chế thị trường, những hạn chế về mặt quản lý cùng với sự lạc hậu về thiết bị, công nghệ đã làm cho sản xuất của các nhà máy, cơ sở chế biến bị đình đốn và giảm sút nên kéo theo sự giảm sút của cả vùng nguyên liệu trồng mía. Thêm vào đó là sự cạnh tranh của ngành mía đường trong nước và sự cạnh tranh về diện tích của cây lương thực và các cây trồng khác khi đất đai đã được chuyển giao cho các hộ gia đình sử dụng. Nhà máy đường Vĩnh Trụ sau đó đã chuyển đổi thành xí nghiệp chế biến nông sản thực phẩm Vĩnh Hà và chuyển sang sản xuất bia hơi và thức ăn gia súc.
- Sản xuất lạc
Cây lạc chiếm vị trí quan trọng trong cây công nghiệp hàng năm của tỉnh Hà Nam. Trước kia, việc gieo trồng lạc đã được nông dân quan tâm song cũng chỉ ở những vùng đất bãi ven sông thuộc các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng. Lạc là nguồn thực phẩm cho bữa ăn ở những vùng này và nó cũng được đem bán ở chợ quê. Lạc được gieo trồng một năm hai vụ, vào vụ xuân và vụ thu. Vụ xuân là vụ chính, còn lạc vụ thu chủ yếu để làm giống cho vụ xuân năm sau.
Năm 1957, diện tích trồng lạc ở Hà Nam là 301 ha. Đến năm 1990, diện tích trồng lạc đạt là 713 ha. Giai đoạn 1991-1996, diện tích trồng lạc bình quân năm là 635,8 ha, giảm đi so với năm 1990. Song từ năm 1997, việc sản xuất lạc ở Hà Nam lại được phát triển mạnh, bình quân năm trong giai đoạn 1999 - 2002 diện tích trồng lạc là 995,2 ha, cao nhất là vào năm 2000 đạt mức trên 1.048 ha. Mặc dù có những biến động nhất định về mặt diện tích nhưng năng suất lạc ở Hà Nam vẫn liên tục tăng lên, đặc biệt là từ năm 1997 trở lại đây. Giai đoạn 1991-1995 năng suất lạc bình quân của tỉnh là 11,65 tạ/ha, đến giai đoạn 1996-2000 đã đạt 18,78 tạ/ha. Năm 2001 năng suất lạc đạt 21,85 tạ/ha và năm 2002 là 22,27 tạ/ha, gần gấp đôi so với năng suất bình quân giai đoạn 1991 - 1995. Do vậy, sản lượng lạc của tỉnh cũng đã tăng lên đáng kể. Năm 2002 sản lượng lạc toàn tỉnh đạt trên 2072 tấn, gấp 2,7 lần so vói năm 1991.
Sản xuất lạc tăng mạnh trong những năm gần đây là do nhu cầu thị trường tăng, khả năng tiêu thụ mặt hàng này tỏ ra có lợi. Mặt khác, do thay thế giống lạc cũ bằng các giống lạc mới cùng với kỹ thuật canh tác mới đã làm cho năng suất tăng nhanh. Sau nữa, do việc mở rộng diện tích trồng lạc ở vùng đồi núi và ở những vùng đất màu, đất bãi mà trong nhiều năm trước được sử dụng để trồng lúa. Cây lạc cũng là cây ngắn ngày làm màu mỡ thêm đất đai, có thể thực hiện luân canh, tăng vụ, lại là cây hàng hoá có khả năng làm tăng thu nhập bằng tiền cho các hộ nông dân, và sản phẩm có thể xuất khẩu được.
Cây lạc được trồng ở hầu hết các huyện, thị trong tỉnh. Nhưng nhiều nhất là ở các huyện Kim Bảng, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý. Các huyện Thanh Liêm và Lý Nhân, lạc được trồng ít hơn, còn ở huyện Bình Lục có diện tích trồng không đáng kể. Những huyện trồng nhiều cũng là nơi đạt năng suất và sản lượng cao hơn. Diện tích trồng lạc bình quân hàng năm giai đoạn 1999 - 2002 cao nhất là ở các huyện Duy Tiên 271,5 ha; Kim Bảng là 266,7 ha và ở thị xã Phủ Lý là 188,5 ha. Sản lượng lạc bình quân hàng năm trong giai đoạn này cao nhất là huyện Duy Tiên đạt 653,7 tấn/năm, sau đến Kim Bảng đạt 560 tấn/năm thị xã Phủ Lý đạt 420 tấn/năm, Thanh Liêm đạt 271,7 tấn/năm, Lý Nhân 217,7 tấn/năm. Năm 2002, các huyện Kim Bảng, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý chiếm 72,8% diện tích và 74,9% sản lượng lạc của cả tỉnh.
Trong những năm qua, tỉnh Hà Nam đã đưa nhiều giống lạc mới có năng suất cao vào sản xuất như giống lạc QĐ12, Trạm Xuyên, giống L02, BG78... Năm 2000, giống lạc MĐ7 được đưa vào Hà Nam và được gieo trồng trên diện tích 120 ha ở các huyện Bình Lục, Kim Bảng, Duy Tiên. Nhiều giống lạc mới nhập ngoại có khả năng thích ứng rộng với nhiều chân đất khác nhau, có khả năng chịu hạn khá, thích ứng với vùng đồi, núi và vùng bãi, vùng đất màu ven sông của Hà Nam. Tỉnh cũng đã chuyển giao kỹ thuật trồng lạc theo công nghệ mới bằng phương pháp che phủ ni lông ở các huyện Kim Bảng, Duy Tiên và thị xã Phủ Lý, năng suất cao hơn 30 - 40% so với kỹ thuật gieo trồng thông thường.
Cho đến nay, cây lạc đã khẳng định được vị trí quan trọng của nó trong cơ cấu cây trồng của tỉnh. Năm 2002, cây lạc chiếm 20,5% diện tích cây công nghiệp hàng năm ở tỉnh Hà Nam. Hàng năm, khối lượng lạc hàng hóa của tỉnh khoảng 800 - 1.000 tấn lạc vỏ, tương đương với khoảng 500 - 600 tấn lạc nhân. Tỉnh Hà Nam hiện đang có kế hoạch đến năm 2010 sẽ mở rộng diện tích trồng lạc lên 1.200 ha trong vụ xuân, 600 ha trong vụ thu đông và đưa năng suất lạc bình quân lên 30 - 35 tạ/ha.
- Sản xuất đỗ tương
Cây đỗ tương là cây có quy mô sản xuất lớn và phát triển ổn định hơn cả trong số các cây công nghiệp hàng năm ở Hà Nam. Diện tích đỗ tương của tỉnh năm 1991 là 1.026 ha, năm 1995 tăng lên 1.514 ha và năm 2002 đã có trên 2.669 ha. Năng suất đỗ tương cũng tăng lên nhanh chóng, từ 6,2 tạ/ha năm 1991 lên 8,4 tạ/ha năm 1995 và đạt tới 16,5 tạ/ha vào năm 2002, cao hơn 30% so với năng suất đỗ tương bình quân của cả nước (là 12,7 tạ/ha trong năm 2002). Sản lượng đỗ tương của Hà Nam năm 2002 đạt trên 4.401 tấn, gấp 3,4 lần sản lượng năm 1995 và gấp gần 7 lần so với năm 1991 (632 tấn).
Cũng giống như cây lạc, cây đỗ tương được trồng ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh. Nhiều nhất là ở các huyện Lý Nhân và Duy Tiên; tiếp đến là hai huyện Kim Bảng, Bình Lục, rồi đến thị xã Phủ Lý, còn huyện Thanh Liêm sản xuất được rất ít. Bình quân hàng năm ở thời kỳ 1991-1995, huyện Lý Nhân có diện tích cao nhất là 462,6 ha; tiếp đến là huyện Duy Tiên 396,0 ha; hai huyện Kim Bảng và Bình Lục có diện tích trồng đỗ tương xấp xỉ nhau, tương ứng là 195,2 ha và 244 ha; thị xã Phủ Lý là 27,6 ha và huyện Thanh Liêm chỉ có 50,6 ha. Sản lượng bình quân hàng năm ở thời kỳ này của huyện Lý Nhân là 273 tấn, huyện Duy Tiên là 399,6 tấn, huyện Bình Lục là 123,6 tấn, huyện Kim Bảng 197,8tấn, thị xã Phủ Lý 24,4 tấn và ở huyện Thanh Liêm là 25,8 tấn. Năng suất đỗ tương thường đạt cao ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục và thị xã Phủ Lý. Năm 2000, năng suất đỗ tương của huyện Duy Tiên là 16,4 tạ/ha, của huyện Bình Lục là 15,4 tạ/ha, ở huyện Lý Nhân là 15,3 tạ/ha, thị xã Phủ Lý là 14,1 tạ/ha, huyện Kim Bảng là 13,6 tạ/ha và ở huyện Thanh Liêm chỉ đạt 11,3 tạ/ha. Năm 2000, hai huyện Lý Nhân và Duy Tiên chiếm 62,28% về diện tích và chiếm 70,4% sản lượng đỗ tương của tỉnh.
Sản xuất đỗ tương cũng có những thay đổi đáng kể. Các giống đỗ tương mới có năng suất cao đã thay thế cho các loại giống cũ. Trước kia người ta chỉ trồng đỗ tương xuân, nhưng từ khi vụ đông trở thành vụ sản xuất chính thì cây đỗ tương cũng được gieo trồng cả ở vụ đông, và như vậy mà diện tích trồng đỗ tương đã tăng lên đáng kể. Năm 1995, diện tích trồng đỗ tương vụ đông của tỉnh là 369 ha, chiếm tỷ lệ 24,35% về diện tích và sản lượng đạt 295 tấn, chiếm 23,15% sản lượng đỗ tương cả năm của tỉnh. Năm 2000, một cách tương ứng có 717 ha và sản lượng đạt 871 tấn, chiếm tỷ lệ tương ứng 31,58% về diện tích và 25,15% về sản lượng đỗ tương cả năm của tỉnh. Năm 2001, diện tích đỗ tương đông là 1.170 ha, tăng 453 ha so với năm 2000.
Trước kia đỗ tương chỉ được trồng ở vùng đất màu, đất bãi thì từ khi vụ đông trở thành vụ sản xuất chính, cây đỗ tương đã được trồng cả ở chân ruộng hai vụ lúa. Nhờ gieo cấy lúa mùa sớm và lúa xuân muộn nên giãn thêm khoảng cách thời gian giữa hai vụ này, rút cạn nước, làm khô ruộng để làm vụ đông trong đó có đỗ tương. Xã An Lão (huyện Bình Lục) đã trồng 18 ha đỗ tương đông trên đất hai vụ lúa theo cách này. Các nơi khác cũng vậy. Đó cũng là cách làm để có đất trồng thêm vụ thứ ba vào mùa đông đối với những cây trồng khác (như ngô, khoai tây, rau...) giữa hai vụ lúa. Ở những vùng đất bãi, nhân dân đã kết hợp luân canh, tăng vụ, xen canh đỗ tương và các loại cây trồng khác mang lại hiệu quả cao.
- Cây dâu tằm
Trồng dâu nuôi tằm là tập quán sản xuất lâu đời của nông dân một số vùng ven sông, nơi có vùng đất bãi, đất màu, thường được bù đắp bởi phù sa màu mỡ, thuộc các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng, Bình Lục. Ở huyện Kim Bảng, ngoài việc trồng dâu ở vùng đất đồi màu mỡ, nhân dân còn trồng cả ở những dải đất ven thung lũng, quanh vườn đồi, vườn nhà và đất bãi ven sông. Tuy vậy, so với các loại cây trồng khác thì diện tích trồng dâu của tỉnh Hà Nam có quy mô không lớn. Năm có diện tích trồng dâu cao nhất là năm 1991, có 332 ha, chiếm 9,74% diện tích cây công nghiệp hàng năm của tỉnh. Đến năm 2000, diện tích dâu chỉ có 176,3 ha và chỉ còn chiếm 4,11%, ít hơn nhiều so với các cây công nghiệp khác như đỗ tương, lạc, đay,...
Nghề trồng dâu nuôi tằm là một nghề trôi nổi. Có khi rất phát đạt, và khi đó, người ta có thể tận dụng mọi loại đất để trồng dâu. Nhưng khi bị suy sụp thì người ta phải chặt dâu đi và thậm chí bỏ nghề. Ở thời kỳ bao cấp (những năm 1980), nông dân làm theo định mức, khoán kén, lại trồng giống dâu cũ thoái hoá, thị trường tơ kén chao đảo, nhiều người đã phải chuyển đổi nghề hoặc bỏ nghề. Việc trồng dâu, nuôi tằm vì thế kém phát triển. Khi chuyển sang kinh tế thị trường, nhu cầu tư kén nhiều, nghề trồng dâu nuôi tằm lại có xu hướng phục hồi và phát triển.
Thời kỳ 1990 - 1995 là thời kỳ cây dâu được trồng nhiều, diện tích trồng dâu bình quân hàng năm của tỉnh là 292,3 ha. Nhưng ở thời kỳ tiếp đó 1996 - 2000, diện tích trồng dâu bình quân hàng năm chi có 185,9 ha. Đến năm 2002, diện tích trồng dâu của tỉnh lại tăng lên 345,8 ha. Tình hình sản lượng cũng tương tự như vậy. Sản lượng dâu bình quân năm ở thời kỳ 1990 - 1995 là 4.536,5 tấn, thời kỳ 1996 - 2000 là 2.838,4 tấn và đến năm 2002 lại đạt tới trên 4.125 tấn. Về năng suất, bình quân năng suất dâu ở thời kỳ 1990 -1995 là 156 tạ/ha, thời kỳ 1996 - 2000 là 154,6 tạ/ha, tức đã giảm đi 1,4 tạ/ha so với thời kỳ trước đó.
Những năm từ 1990 đến 1995, tất cả các huyện trong tỉnh đều có trồng dâu (trừ thị xã Phủ Lý). Nhưng từ năm 1996 đến năm 2000 thì hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng không trồng dâu nữa. Đây là nguyên nhân chính làm cho diện tích và sản lượng dâu của Hà Nam suy giảm trong giai đoạn này. Những năm 2001, 2002 việc trồng dâu, nuôi tằm ở huyện Kim Bảng lại được phục hồi và phát triển trở lại. Năm 2002, huyện có diện tích và sản lượng trồng dâu cao nhất là Duy Tiên, có 111,8 ha, sản lượng đạt 1261 tấn; tiếp đến là huyện Lý Nhân có 105 ha; huyện Kim Bảng có 85 ha, sản lượng 1.090 tấn và Bình Lục có 43 ha, sản lượng đạt 530 tấn. Ngày nay nghề trồng dâu nuôi tằm đang phát triển mạnh ở huyện Lý Nhân, nhất là ở xã Văn Lý; còn ở huyện Duy Tiên thì có các xã Mộc Nam, Mộc Bắc, Chuyên Ngoại, Trác Văn, Tiên Phong, Châu Sơn, trong đó xã Tiên Phong có nghề trồng dâu nuôi tằm nổi tiếng hơn cả. Huyện Bình Lục cũng có những xã trồng dâu nuôi tằm lâu đời nay đang phục hồi trở lại như xã Bình Nghĩa, Hưng Công, Ngọc Lũ....
Về giống dâu, trước kia ở Hà Nam thường trồng giống dâu cơm, dâu bàu trắng, sau đến giống dâu Đa của tỉnh Thái Bình. Đến những năm 1967 - 1968 bắt đầu có một số giống mới được đưa vào trồng ở các nơi trong tỉnh. Hiện nay, nhiều hộ đã sản xuất thâm canh, dùng một số giống dâu mới có năng suất cao, chất lượng tốt, như các giống Tam bội thể, Đa Ngái, Bổ đa trắng, Bổ đa đỏ của Trung Quốc và giống VH13 của Việt Nam. Tỉnh Hà Nam hiện đang có kế hoạch khôi phục và mở rộng diện tích trồng dâu để mở rộng nuôi tằm, ươm tơ ở vùng bãi ven sông của các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục và cả ở Kim Bảng. Tỉnh đã xây dựng mô hình trồng dâu năng suất cao ở hai huyện Duy Tiên và Bình Lục với diện tích 20 ha, và đã tập huấn kỹ thuật trồng dâu nuôi tằm cho nông dân. Tuy nhiên, sự phát triển của nghề trồng dâu, nuôi tằm còn phụ thuộc nhiều vào tình hình thị trường, cả ở trong nước lẫn thị trường xuất khẩu.
- Cây vừng
Cây vừng được trồng trên một diện tích không đáng kể và sản lượng rất ít. Cây này thường chỉ được trồng ở những mảnh đất rất nhỏ lẻ ở các gò, bãi hoặc trồng xen với các loại cây khác. Năm 1991, cả tỉnh Hà Nam có 28 ha và năm 1997 - 2000 chỉ có 2 ha; năm 2002, diện tích vừng có 4 ha với năng suất 5 tạ/ha, sản lượng chỉ còn khoảng 2 tấn.
1.4b. Cây công nghiệp lâu năm
Trước đây, ở Hà Nam có các loại cây công nghiệp lâu năm đã được trồng với diện tích khá lớn như chè, cà phê; ở vùng rừng núi hai huyện Kim Bảng, Thanh Liêm còn có cây trẩu, sở, cây sơn ta,...là những cây công nghiệp có giá trị về kinh tế. Cây cà phê được người Pháp đưa vào trồng trong các đồn điền ở huyện Kim Bảng từ cuối thế kỷ XIX. Đến những năm 1890 các đồn điền này đã chiếm một diện tích có trên 750 ha cà phê, với trên 323 nghìn cây. Song từ sau năm 1945, và nhất là trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, các chủ đồn điền bỏ chạy, đồn điền bị tịch thu, cây cà phê và một số cây công nghiệp khác bị giảm sút mạnh. Năm 1954, sau hoà bình lập lại, kinh tế đồn điền và cây cà phê ở Hà Nam hầu như không còn được nhắc đến trong các tài liệu thống kê cũng như trong các hoạt động kinh tế của tỉnh.
- Cây chè
Xưa kia ở vùng đồi núi hai huyện Thanh Liêm và Kim Bảng đã có cây chè. Đó là các xã Đồng Diên (tổng Mỹ Xá), Trà Châu, Bồng Lạng (tổng Mai Cầu) thuộc Thanh Liêm và ở huyện Kim Bảng có thôn Do Lễ (tổng Khả Phong) có giống chè ngon nổi tiếng. Chợ Đá (ven sông Đáy) ở huyện Kim Bảng chuyên bán chè xanh, sau đó bán cả mơ. Đến cuối những năm 1950, đầu những năm 1960, nhà nước thành lập nông trường chè ở Ba Sao (thuộc huyện Kim Bảng) có quy mô trồng chè khá lớn, sau còn trồng cả dứa, cam, dâu tằm và các cây ăn quả khác.
Nhưng diện tích và sản lượng chè ở Hà Nam không nhiều so với các tỉnh miền núi và trong nhiều thập kỷ nó hầu như không được quan tâm phát triển. Ngay cả ở nông trường Ba Sao, diện tích chè cũng giảm dần, và đến những năm 1990 khi nông trường giao đất cho các hộ gia đình thì cây chè ở đây cũng còn lại rất ít. Năm 1992, toàn tỉnh có 97 ha đất trồng chè và đạt sản lượng 679 tấn.
Đến những năm 1995 - 1996 chỉ còn 3 ha với sản lượng 21 tấn/năm (do nhân dân nhiều nơi chặt chè để trồng mơ và cây trồng khác). Những năm gần đây cây chè lại đang được khôi phục và phát triển ở một số địa phương của huyện Kim Bảng. Từ 1997 đến 2002, diện tích trồng chè hàng năm có khoảng 86 ha và sản lượng bình quân đạt khoảng 540 tấn/năm. Xưa kia người ta trồng chè để lấy lá uống chè xanh. Ngày nay người ta trồng chè để lấy búp làm chè khô. Nhưng do sản xuất phân tán, chế biến thủ công, sản lượng ít và chất lượng không cao nên sản phẩm hàng hoá còn ít được biết đến, ngay cả ở thị trường các địa phương trong tỉnh.
1.5. Cây ăn quả
Cây ăn quả ở Hà Nam có nhiều loại phong phú và đa dạng; bao gồm các loại như cam, chanh, quýt, bưởi, hồng đỏ, hồng xiêm, nhãn, vải, chuối, mơ, mận, ổi, táo, dứa, xoài, na,...Trong đó, có những loại cây ăn quả quý, từ lâu đã được coi là đặc sản, thơm ngon nổi tiếng như hồng Nhân Hậu, chuối ngự Đại Hoàng, bưởi Hồng Lý, quýt Văn Lý (huyện Lý Nhân), cam, chanh, quýt giấy Tiên Phong (huyện Duy Tiên), mơ (huyện Kim Bảng),... Hồng Nhân Hậu được đánh giá là giống ưu việt nhất trong nước, ăn ngọt mát, không có hạt và rất sai quả; quýt Văn Lý là giống quýt quý, xưa kia dùng để tiến vua, quả có vỏ nhẵn, khi chín màu vàng tươi, ăn thơm và ngọt; chuối ngự Đại Hoàng xưa cũng dùng để tiến vua, có vị thơm ngon đặc biệt. Mơ Kim Bảng thuộc giống mơ Chùa Hương, quả nhỏ nhưng thơm ngon nhất trong các loại mơ, xưa kia có nhiều trên các vùng núi đá và cũng được nhân dân trồng cả ở vườn nhà, ở các thung lũng ven chân núi.
Những năm gần đây, do đời sống của nhân dân trong tỉnh được cải thiện, nhu cầu tiêu dùng hoa quả tăng nhanh, và mặt khác, là do điều kiện giao thông thuận lợi, thị trường được mở rộng, nên các loại cây ăn quả của Hà Nam phát triển mạnh cả về diện tích, chủng loại lẫn sản lượng sản phẩm.
Năm 2002, diện tích cây ăn quả của cả tỉnh đã có trên 4.885 ha, gấp 2,8 lần so với năm 1992 và gấp 2,45 lần so với năm 1997 - là năm mới tái lập tỉnh. Giá trị sản xuất các loại cây ăn quả năm 2002 (theo giá hiện hành) đạt trên 78,2 tỷ đồng, chiếm 7,1% giá trị sản xuất ngành trồng trọt, chỉ đứng sau sản xuất lúa và rau đậu thực phẩm.
           Biểu 17. Diện tích, sản lượng một số cây ăn quả
Sản lượng (tấn)
1992
1995
1997
2000
2001
2002
Tổng diện tích (ha)
1.704
1.911
1.990
4.657
4.807
4.885
Cam, quýt, bưởi
306
458
493
859
912
961
Nhãn, vải
465
536
573
2.107
5.153
2.161
Sản lượng (tấn)
Cam, quýt, bưởi
2.502
3.382
3.429
4.453
5.199
5.222
Nhãn, vải
3.073
2.775
3.325
9.070
1.454
8.460
- Niêm giám thống kê 1990-2000.
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002.
Cây ăn quả được trồng ở khắp các huyện, thị trong tỉnh, song phân bố khác nhau về diện tích cũng như về loại cây giữa các địa phương. Các huyện Kim Bảng và Lý Nhân luôn là những huyện có diện tích cây ăn quả nhiều nhất. Nhưng từ năm 2000 - 2002, thì diện tích cây ăn quả ở huyện Thanh Liêm cũng đã vượt lên tương đương với 2 huyện Kim Bảng và Lý Nhân. Năm 2002, huyện Kim Bảng có 1.067 ha diện tích cây ăn quả, huyện Lý Nhân có 1.104 ha, huyện Thanh Liêm 1.164 ha; tiếp đến là huyện Bình Lục 722 ha, huyện Duy Tiên 503 ha và thị xã Phủ Lý có 325 ha. Hai huyện có diện tích cây ăn quả tăng đột biến trong những năm gần đây là Thanh Liêm và Bình Lục. Diện tích cây ăn quả ở 2 huyện này năm 2002 đều đã tăng hơn 10 lần so với những năm từ 1999 trở về trước. Còn diện tích cây ăn quả ở huyện Lý Nhân tăng khoáng 2,7 lần trong cùng thời gian nói trên.
Trong tập đoàn cây ăn quả ở Hà Nam hiện nay, các loại cây nhãn, vải và cây ăn quả có múi (cam, chanh, quýt, bưởi...) là những cây có diện tích lớn nhất, được trồng phổ biến, có khối lượng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá khá lớn. Các loại cây khác tuy cũng trồng khá phổ biến nhưng thường phân tán, rải rác, diện tích và sản lượng ít hơn, khối lượng sản phẩm hàng hoá không nhiều.
- Các loại cây có múi gồm cam, chanh, quýt, bưởi... Các loại cây này đã có ở Hà Nam từ xa xưa và được trồng khá phổ biến trong các hộ dân cư ở các địa phương. Trong hơn 10 năm, từ năm 1992 đến năm 2002, diện tích các cây có múi đã tăng lên gấp 3 lần. Năm 1992 có 306 ha, đến năm 2002 có 961 ha, chiếm 19,7% diện tích cây ăn quả nói chung. Bình quân hàng năm thời kỳ 1992-1999 diện tích cây có múi là 432 ha, nhưng từ năm 2000 đến nay, các cây này tăng đột biến và có diện tích bình quân hàng năm trên 910 ha. Sản lượng cây có múi cũng tăng nhanh, từ 2.562 tấn năm 1992 lên 3.429 tấn năm 1997 và đến năm 2002 đã đạt trên 5.222 tấn (gấp hơn 2 lần so với năm 1992).
Ở các huyện cũng có những thay đổi lớn đối với những cây trồng này. Năm 2002, huyện Lý Nhân có diện tích trồng cây có múi lớn nhất tỉnh (242 ha) và đạt sản lượng 1076 tấn, chiếm 25,2% diện tích và 20,6% sản lượng cây có múi của tỉnh. Huyện Bình Lục đứng thứ hai về diện tích, có 207 ha, chiếm 21,5% diện tích cây có múi của tỉnh, song lại có sản lượng cao nhất: đạt 1.211 tấn, chiếm 23,2% sản lượng của tỉnh. Huyện Thanh Liêm đứng ở vị trí thứ ba về diện tích, có 168 ha và sản lượng đạt 1.028 tấn. Tiếp đến là huyện Duy Tiên, có 130 ha, sản lượng đạt 748 tấn; huyện Kim Bảng có 126 ha, sản lượng 700 tấn; và cuối cùng là thị xã Phủ Lý có 88 ha, sản lượng đạt 459 tấn. Các huyện Bình Lục và Thanh Liêm cũng là những huyện có diện tích và sản lượng cây có múi tăng cao nhất trong những năm gần đây.
- Cây nhãn, vải cũng là những cây ăn quả đã có từ lâu và được trồng ở nhiều nơi trong tỉnh, nhưng tập trung hơn ở những vùng ven sông Đáy thuộc huyện Kim Bảng và ven sông Hồng ở hai huyện Duy Tiên và Lý Nhân. Xưa kia, ở các xã Ngọc Sơn, Liên Sơn, Khả Phong và các xã khác ven sông Đáy thuộc huyện Kim Bảng có trồng nhiều giống vải tu hú. Giống vải này chín vào mùa chim tu hú (tháng 4 âm lịch) nên dân gọi tên giống vải theo tên loại chim này. Vải tu hú ở các nơi thường chua nhưng riêng ở vùng này lại có vị ngọt, và thường chín sớm hơn các giống vải khác nên bán rất được giá. Vải tu hú được trồng nhiều trong vườn nhà và thung lũng ven đồi. Nhiều nơi có những vườn vải khá rộng. Hiện nay vải tu hú ở những vùng này chỉ còn rất ít, khoảng trên 1.000 cây, có cây đến 100 năm tuổi. Cây nhãn xưa kia cũng được trồng nhiều ở các làng xã đồng bằng, nhất là ở huyện Lý Nhân và các xã ven sông Hồng ở huyện Duy Tiên.
Ngày nay, cây nhãn, vải được trồng ở khắp các huyện, thị, với diện tích và sản lượng ngày càng tăng. Năm 1992, diện tích trồng nhãn vải là 465 ha, chiếm 27,28% diện tích cây ăn quả nói chung của tỉnh. Đến những năm 1995 - 1997, diện tích nhãn, vải bình quân hàng năm là 547 ha, chiếm 28,25% diện tích cây ăn quả. Từ năm 2000 trở lại đây, diện tích nhãn, vải của toàn tỉnh đã có trên 2.100 ha. Năm 2002 có trên 2.161 ha (gấp 4,6 lần so với năm 1992) và chiếm tới 44,2% diện tích cây ăn quả nói chung của tỉnh. Sản lượng nhãn vải cũng tăng nhanh. Bình quân các năm từ 1999 - 2002 sản lượng nhãn vải của Hà Nam đạt xấp xỉ 7.300 tấn quả/năm, gấp 2,8 lần sản lượng bình quân những năm 1995 - 1997.
Bức tranh phân bố cây nhãn, vải cũng có những thay đổi lớn. Cho đến những năm 1995 - 1997, diện tích vải, nhãn ở các huyện Bình Lục và Thanh Liêm, mỗi huyện chỉ có khoảng 10-15 ha, chiếm chưa đến 3% diện tích nhãn, vải của cả tỉnh. Song những năm gần đây (từ năm 2000 đến 2002), diện tích nhãn vải bình quân hàng năm ở Thanh Liêm đã có khoảng 538 ha, chiếm 25% diện tích nhãn vải của tỉnh; sản lượng bình quân hàng năm đạt trên 1.537 tấn chiếm 24,3%. Diện tích nhãn, vải ở huyện Bình Lục cũng đã có khoảng 275 - 280 ha; sản lượng năm 2002 đạt 1.080 tấn, chiếm 12,7% sản lượng nhãn, vải của tỉnh. Như vậy, cho đến năm 2002, Kim Bảng vẫn là huyện trồng nhãn vải nhiều nhất tỉnh, với diện tích 565 ha, sản lượng đạt 2.350 tấn; tiếp đến là huyện Thanh Liêm 560 ha, sản lượng đạt 2.083 tấn; huyện Lý Nhân có 441 ha, sản lượng 1.660 tấn; huyện Bình Lục có 280 ha, đạt sản lượng 1.080 tấn. Huyện Duy Tiên có diện tích 200 ha, sản lượng 855 tấn; thị xã Phủ Lý có 115 ha, sản lượng 432 tấn.
Các giống nhãn, vải và kỹ thuật nhân giống, chăm sóc cũng có những thay đổi nhiều so với trước. Giống nhãn, vải phong phú hơn, với rất nhiều loại như nhãn lồng, nhãn cùi, nhãn thóc, nhãn nước, nhãn đường phèn, nhãn tiêu, nhãn da bò, nhãn hương chi, vải tu hú (giống vải cũ), vải nhờ, vải thiều,... Trong đó có nhiều loại nhãn, vải mới từ nơi khác đưa về có chất lượng và giá trị cao. Chẳng hạn như giống nhãn Hương Chi hay giống vải thiều ở Hưng Yên nay đang được trồng rộng rãi ở các huyện Lý Nhân, Duy Tiên. Đến những vùng ven sông Hồng ở hai huyện này người ta có cảm giác như đang ở vùng nhãn, vải trên đất Hưng Yên vậy. Việc nhân giống nhãn, vải hiện nay không phải theo kiểu chọn quả ươm hạt truyền thống, mà chủ yếu theo phương pháp ghép mắt hoặc chiết cành. Ưu điểm của phương pháp này là nhân giống nhanh, giữ được phẩm chất giống và nhanh thu hoạch. Hiện nay, nhiều hộ gia đình ở các huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Kim Bảng ươm trồng các loại cây giống nhãn, vải để bán.
Để bảo vệ cây quả trước khi thu hoạch, nhiều hộ đã dùng những tấm lưới rộng phủ lên toàn bộ cây và quét vôi dưới gốc để tránh dơi, chuột, bọ phá hoại.
Việc bảo quản, chế biến và tiêu thụ nhãn, vải cũng là vấn đề được các hộ nông dân hết sức quan tâm. Nhiều hộ bán quả cho tư thương ngay tại cây, hoặc hái bán quả tươi ra các chợ trong vùng. Song ở những nơi trồng nhiều, cũng đã xuất hiện các cơ sở tư nhân thu mua, phơi sấy, chế biến để bán đi các nơi hoặc bán cho các cơ sở xuất khẩu. Năm 1997, lượng long nhãn xuất khẩu của Hà Nam lên tới 377 tấn. Những năm gần đây thường cũng xuất được khoảng 210 - 260 tấn long nhãn mỗi năm. Hiện nay nhãn, vải đã trở thành cây trồng chủ lực trong các loại cây ăn quả của tỉnh. Việc trồng nhãn vải và các loại cây ăn quả khác đang có xu hướng tập trung hơn để tạo ra những vùng cây ăn quả hàng hoá. Những vườn nhãn xum xuê soi bóng xuống ao, đầm, kênh mương vẫn luôn là hình ảnh đẹp của nhiều làng quê ở Hà Nam.
- Cây chuối
Tỉnh Hà Nam có diện tích và sản lượng chuối không nhiều. Song nó được trồng khá phổ biến trong các hộ dân cư để tận dụng đất đai và có thêm nguồn hoa quả tiêu dùng. Trong những năm qua việc trồng chuối cũng được phát triển cả về diện tích lẫn sản lượng. Theo tài liệu của Tổng cục Thống kê(1), thì năm 1997 tỉnh Hà Nam có 630 ha chuối và sản lượng đạt 13.772 tấn quả; năm 1998 có 920 ha và đạt sản lượng 15.768 tấn. Theo tài liệu thống kê tập hợp từ các huyện thị(2), thì năm 2000 sản lượng chuối của tỉnh Hà Nam có trên 30.918 tấn. Huyện có sản lượng chuối lớn nhất tỉnh là huyện Thanh Liêm, có 12.550 tấn, chiếm tới 40,6% sản lượng chuối của tỉnh; tiếp đến là huyện Kim Bảng có 7.520 tấn, chiếm 24,3% và huyện Lý Nhân có 7.500 tấn, chiếm 24,2%. Các huyện khác có sản lượng chuối thấp hơn. Hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng chiếm tới 64,9% sản lượng chuối của tỉnh.
Trong các giống chuối ở Hà Nam, giống chuối ngự là quý nhất. Nó là một trong những cây ăn quả đặc sản quý của Hà Nam. Giống chuối này được trồng rải rác ở một số nơi trong tỉnh, nhưng chuối ngự trồng ở làng Đại Hoàng (xã Hoà Hậu, huyện Lý Nhân) vẫn là giống chuối thơm ngon nhất, bổ dưỡng và có giá trị kinh tế cao. Giống chuối này hiện nay vẫn được trồng ở nhiều hộ dân cư. Nhưng ngay cả ở xã Hoà Hậu hay các xã lân cận, các hộ thường cũng chỉ trồng dăm ba khóm, chưa có những vườn chuối trồng tập trung, chuyên canh theo kiểu sản xuất hàng hóa.
Một trong những lý do là giống chuối ngự thường có cây cao, dễ dập gẫy khi có mưa, bão và dễ bị sâu bệnh phá hoại. Do khối lượng chuối quả không nhiều, nên chuối ngự Đại Hoàng chưa cung cấp rộng rãi trên thị trường mà chủ yếu được tiêu thụ ở thành phố Nam Định, Hà Nội và cả ở sân bay Nội Bài. Còn các loại chuối khác được bán rộng rãi hơn, trong tỉnh và ngoài tỉnh. Một phần chuối tiêu xanh ở Hà Nam được tư thương thu gom bán sang thị trường Trung Quốc. Hiện nay, tỉnh đã có đề tài nghiên cứu bảo tồn và phát triển giống chuối ngự Đại Hoàng và đang có chủ trương khuyến khích phát triển mạnh trồng chuối này trên địa bàn.
Ngoài các cây ăn quả chính nói trên, các loại cây ăn quả khác được trồng rất phân tán, sản phẩm thu hoạch, tiêu thụ trong các hộ cũng như bán ra thị trường khá phong phú nhưng với khối lượng ít, mùa vụ rải rác. Hiện nay tỉnh đang có chương trình cải tạo hơn 3.000 ha vườn tạp, chủ yếu để phát triển các loại cây ăn quả và rau đậu thực phẩm hàng hóa. Trên địa bàn tỉnh cũng đã và đang phát triển các hình thức kinh tế trang trại sản xuất kinh doanh tổng hợp, trong đó có phát triển các loại cây ăn quả.
2. Chăn nuôi
Trong hoạt động nông nghiệp, bên cạnh các nghề trồng trọt kể trên, việc chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng là những hoạt động kinh tế truyền thống có từ lâu đời của dân cư Hà Nam. Các con vật thường được nuôi trong hộ gia đình nông dân như trâu, bò, lợn, dê, gia cầm, ong mật và nhiều loại vật nuôi khác. Các hoạt động này luôn gắn bó mật thiết với trồng trọt và các nghề thủ công, vừa bổ sung vừa tạo điều kiện cho trồng trọt và các nghề thủ công phát triển. Chăn nuôi trâu, bò lấy sức kéo từ lâu đã được coi là “đầu cơ nghiệp” của nghề nông.
Tuy vậy, dưới thời phong kiến cũng như thời Pháp thuộc, chăn nuôi của các hộ dân cư ở Hà Nam là chăn nuôi nhỏ, kinh nghiệm và kỹ thuật chăn nuôi lạc hậu, chủ yếu theo kiểu nuôi thả tự nhiên. Và không phải hộ gia đình nào cũng có chăn nuôi, nhất là nuôi lợn và trâu bò. Thường thì chỉ những hộ giầu mới có thể chăn nuôi trâu, bò và gia súc. Cho đến những thập kỷ đầu thế kỷ XX, chăn nuôi trâu, bò ở Hà Nam vẫn chỉ với mật độ rất thấp, có 10 con trâu trên 1 km2, còn bò thì ít hơn nữa(1). Việc nuôi trâu, bò thời bấy giờ là rất khó khăn, phần vì đồng trũng, ngập lụt nhiều nên không phải bao giờ cũng sẵn cỏ và thức ăn, ruộng chỉ cấy được một vụ, không đủ rơm và phụ phẩm cho chăn nuôi về mùa mưa lũ và mùa đông giá rét. Song phần khác còn vì phần lớn nông dân quá nghèo, không có tiền để mua trâu, bò và giống gia súc. Trâu, bò là tài sản quá lớn đối với họ. Sức kéo thiếu nghiêm trọng, nông dân ở nhiều nơi phải kéo cày, bừa thay trâu. Cả tỉnh Hà Nam xưa chỉ có hai chợ bán trâu, bò là chợ Đồng Văn (huyện Duy Tiên) và chợ Yên Đổ (huyện Bình Lục) nhưng đến đầu thế kỷ XX thì các chợ này cũng không còn bán trâu, bò nữa. Chăn nuôi lợn và gia cầm cũng gặp phải khó khăn do thiếu lương thực, thiếu thức ăn chăn nuôi và do bệnh dịch thường xuyên xảy ra.
Chăn nuôi ở Hà Nam chỉ phát triển mạnh kể từ sau ngày hoà bình lập lại (1954), nhất là từ những năm 1960 trở đi. Thời kỳ này phong trào chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển rộng khắp trong các hộ dân cư cũng như trong các HTX nông nghiệp. Trâu, bò được hoá giá trở thành tư liệu sản xuất của các HTX, do HTX điều phối sức kéo, nhưng giao cho các hộ xã viên chăn nuôi, chăm sóc. Ngoài việc phát triển nuôi lợn ở các hộ xã viên và hộ dân cư nói chung thì phần lớn các HTX nông nghiệp đều có chăn nuôi lợn tập thể. Nhiều HTX tổ chức chăn nuôi cả gà, vịt hoặc dê. Công tác thú y và phòng trừ dịch bệnh gia súc, gia cầm nói chung được HTX và chính quyền địa phương quan tâm nhiều hơn, thường xuyên hơn. Chuồng trại chăn nuôi ở các hộ gia đình cũng có những cải tiến nhất định.
Tuy vậy, trong suốt một thời gian dài cho đến trước thời kỳ đổi mới, chăn nuôi ở Hà Nam vẫn gặp nhiều trở ngại. Tình trạng thiếu hụt lương thực khá phổ biến trong dân cư cũng như trong các HTX đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển chăn nuôi nói chung. Hơn nữa, việc tổ chức thu mua lợn, gia cầm theo cơ chế kế hoạch, giá cả do Nhà nước quy định thời bấy giờ cũng chưa khuyến khích được chăn nuôi của các hộ dân cư.
Từ khi đổi mới nền kinh tế, nhất là từ đầu những năm 90 trở lại đây, tình hình chăn nuôi ở Hà Nam đã có những chuyển biến căn bản và có bước phát triển mạnh mẽ hơn. Trong hơn 10 năm, từ 1991 - 2002, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi của tỉnh (theo giá so sánh năm 1994) đã tăng gần 2,6 lần, từ 133,7 tỷ đồng (năm 1991) lên 344,9 tỷ (năm 2002), với tốc độ tăng trưởng bình quân 6,8%/ năm, cao hơn so với tăng trưởng giá trị sản xuất của ngành trồng trọt (4,66%/ năm). Ngoại trừ đàn trâu đã giảm mạnh kể từ năm 1995, còn lại hầu hết các loại gia súc, gia cầm đều tăng nhanh trong thời gian nói trên.
    Biểu 18. Số lượng và sản lượng gia súc gia cầm (1991-2002)
Đơn vị: 1000 con
Năm
Trâu
Lợn
Gia cầm
1991
12,8
18,9
...
177,8
1688,5
1995
10,9
22,9
...
225,9
1934,5
1997
8,8
23,9
10,1
245,9
1966,7
1999
6,5
24,9
10,4
268,2
2311,6
2000
5,2
27,5
10,4
278,4
2537,0
2001
4,1
26,5
5,8
308,2
3186,9
2002
3,6
27,2
8,4
327,2
3276,0
- Niêm giám thống kê 1990-2000. Cục thống kê Hà Nam 8-2001
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam 2002. Nxb Thống kê, Hà Nội-2003.
2.1. Chăn nuôi trâu
Trâu vốn là sức kéo chủ lực trong việc làm đất và phần nào cung cấp phân bón cho trồng trọt của các hộ nông dân. Ở vùng đất trũng, con trâu có ưu thế hơn con bò về mặt cày kéo, làm đất. Số lượng trâu có xu hướng giảm đi nhiều trong giai đoạn 1995 - 2002. Năm 1991 số lượng trâu của cả tỉnh là 12,8 nghìn con đến năm 1997 giảm còn 8,8 nghìn và năm 2002 chỉ còn hơn 3,6 nghìn con. Sự giảm sút của đàn trâu chủ yếu do sự tiến bộ của việc cơ giới hoá trong khâu làm đất và vận chuyển. Càng ngày người ta càng trang bị thêm nhiều máy kéo trong khâu làm đất và vận chuyển. Năm 2001 toàn tỉnh đã có 45 máy kéo lớn làm đất của các doanh nghiệp và 3.570 máy kéo nhỏ của các hộ ở nông thôn (gấp hơn 3 lần so với năm 1994); hơn 85,1% diện tích canh tác nông nghiệp đã được làm đất bằng máy. Vì vậy số lượng trâu đã giảm đi nhiều. Hơn nữa, quy mô canh tác của mỗi hộ quá nhỏ bé so với sức cày kéo của một con trâu, và nếu nuôi để lấy thịt bán thì nuôi trâu kém hiệu quả hơn nhiều so với nuôi bò và các loại vật nuôi khác. Hiện tại, trâu cung cấp một lượng thịt không nhiều, chỉ khoảng 300 tấn/ năm và người ta cũng chỉ thịt những con trâu bị thải không đủ sức cày kéo. Vai trò “đầu cơ nghiệp” của con trâu đã không còn như trước, và việc nuôi trâu có khả năng còn giảm đi nữa.
Đàn trâu hiện có chủ yếu ở các huyện Lý Nhân, Bình Lục và Thanh Liêm là những huyện còn nhiều ruộng trũng hơn cả. Số trâu ở 3 huyện này hiện chiếm 64,2% trong tổng đàn trâu của cả tỉnh; song đều có sự giảm mạnh so với năm 1995. Năm 2002, số trâu ở huyện Lý Nhân còn 805 con, giảm 64% so với năm 1995; huyện Bình Lục còn 779 con, giảm 63%; huyện Thanh Liêm còn 737 con, giảm 68%; huyện Duy Tiên còn 595 con, giảm 69,5%; huyện Kim Bảng còn 580 con, giảm tới 71,4% so với năm 1995. Thị xã Phủ Lý chỉ còn 116 con, giảm 63,7% trong thời gian nói trên.
2.2. Chăn nuôi bò
Khác với tình hình nuôi trâu, chăn nuôi bò đã phát triển rất nhanh kể từ đầu những năm 1990 trở lại đây. Tổng đàn bò của tỉnh năm 2002 đã có trên 27,2 nghìn con, gấp gần 1,4 lần so với năm 1991. Việc phát triển chăn nuôi bò một phần là để bổ sung sức kéo làm đất, tăng sức kéo vận chuyển ở các vùng nông thôn, song về cơ bản là để cung cấp thịt cho nhu cầu tăng nhanh của thị trường. Chăn nuôi bò đã chuyển từ chăn nuôi lấy sức kéo cho nông nghiệp là chủ yếu sang chăn nuôi bò sinh sản và chăn nuôi lấy thịt, chăn nuôi kiểu hàng hoá. Điều này làm thay đổi cả cách thức lẫn tính chất của chăn nuôi bò trong các hộ dân cư. Nhiều hộ đã có quy mô chăn nuôi hàng chục con bò. Người ta cũng chú ý nhiều hơn đến việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật vào chăn nuôi nhằm tăng trọng và tăng khả năng sinh sản của đàn bò. Chuồng trại chăn nuôi và việc chăm sóc, nuôi dưỡng cũng được đảm bảo tốt hơn, đặc biệt là về chăm sóc thú y, phòng ngừa dịch bệnh.
Chăn nuôi bò được phát triển ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh, nhưng phát triển mạnh hơn ở những vùng đất mầu, đất bãi ven sông và vùng đồi núi bán sơn địa. Các huyện Lý Nhân, Bình Lục, Kim Bảng, Duy Tiên là những huyện có số lượng bò nuôi nhiều và tăng nhanh trong những năm gần đây. Đến năm 2002, đàn bò ở huyện Lý Nhân đã có 6.713 con, chiếm 24,7% trong tổng đàn bò của tỉnh và tăng hơn 2.000 con so với năm 1991; đàn bò ở huyện Bình Lục là 5.150 con, chiếm 18,9% đàn bò của tỉnh, tăng hơn 1.000 con so với năm 1991; huyện Duy Tiên có 4.915 con bò, tăng hơn 2.900 con (gấp 2,4 lần) trong thời gian nói trên. Huyện Thanh Liêm cũng có số lượng bò 5.160 con, tương đương với ở huyện Bình Lục. Huyện Kim Bảng năm 2001 cũng có trên 5.000 con. Đàn bò nuôi ở thị xã Phủ Lý năm 2002 hiện nay có trên 1.600 con.
Chăn nuôi bò đang mang lại lợi ích và hiệu quả cho nhiều hộ nông dân trong tỉnh. Không ít hộ đã thoát nghèo hoặc vươn lên đạt mức kinh tế khá giả nhờ phát triển chăn nuôi loài gia súc này. Nhiều chương trình phát triển kinh tế của tỉnh cũng có sự phối hợp, lồng ghép để hỗ trợ phát triển nuôi bò của các hộ dân cư. Hiện tại, tỉnh đang thực hiện chương trình cải tạo đàn bò để khắc phục những nhược điểm của giống bò nội. Chương trình “sin hoá đàn bò” đã đạt tỷ lệ bò sin lai chiếm khoảng 14% tổng đàn, và dự kiến đến năm 2010 sẽ đưa tỉ lệ này lên 50%. Chương trình nuôi bò sữa được bắt đầu triển khai kể từ năm 2001, và dự kiến kế hoạch đến năm 2010, đàn bò sữa của tỉnh sẽ có trên 4.000 con. Triển vọng phát triển chăn nuôi bò của Hà Nam đang được mở rộng.
2.3. Chăn nuôi dê
Chăn nuôi dê chủ yếu phát triển ở hai huyện phía Tây của tỉnh là Kim Bảng và Thanh Liêm. Ở đây có địa hình đồi, núi đá và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi dê. Nhân dân ở những vùng này đã nuôi dê từ lâu, nhưng người ta ít quan tâm đến giá trị của nó, thậm chí còn lo ngại phát triển dê sẽ ảnh hưởng bất lợi đến việc trồng cấy các loại cây hoa màu, lương thực. Trong những năm gần đây, nuôi dê được phát triển mạnh nhờ tác động của thị trường. Năm 2000, tổng đàn dê của tỉnh có trên 10,4 ngàn con và lượng thịt cung cấp là trên 249 tấn. Trong hai huyện kể trên, huyện Kim Bảng nuôi nhiều hơn, tới trên 8,4 ngàn con và lượng thịt cung cấp trên 204 tấn còn huyện Thanh Liêm chỉ nuôi có 2.000 con với khối lượng thịt là 45 tấn. Hiện nay thịt dê ở Hà Nam được coi là đặc sản, có giá trị cao và thường được bán trong các nhà hàng ở thị xã, thị trấn và bán đi các nơi. Việc tiêu dùng thịt dê của dân cư chưa phổ biến như thịt lợn và gia cầm.
Cách thức nuôi dê của các hộ dân cư hiện nay phần nhiều vẫn theo kiểu truyền thống, với các giống dê nội (dê cỏ) ít được cải tạo. Tuy các giống dê này rất thích ứng với điều kiện tự nhiên, có khả năng sinh sản nhiều và phát triển nhanh, nhưng tầm vóc và trọng lượng nhỏ, chủ yếu là dê lấy thịt. Nuôi dê lấy sữa chưa phát triển. Nguồn thức ăn nuôi dê chủ yếu dựa vào lá cây, cỏ tự nhiên ở núi đá, đồi, rừng. Để khắc phục tình trạng này tỉnh đã thực hiện dự án cải tạo đàn dê cỏ bằng dê đực Bách Thảo - giống dê có nguồn gốc từ Ấn Độ. Dự án này được triển khai tại 3 xã của huyện Kim Bảng là Khả Phong, Liên Sơn, Ba Sao và đã cho kết quả khá tốt. Dự kiến năm 2010 đàn dê của tỉnh sẽ lên tới 15.000 con.      
2.4. Chăn nuôi lợn
Lợn là con vật nuôi truyền thống của các hộ gia đình nông dân, gắn bó chặt chẽ với hoạt động kinh tế của người nông dân ở Hà Nam cũng như ở châu thổ sông Hồng. Xét về mặt số lượng, lợn là con vật được nuôi nhiều, chỉ đứng sau gia cầm. Ngày nay, hầu như hộ nông dân nào cũng nuôi lợn. Chăn nuôi lợn cũng chiếm tỷ trọng lớn trong giá trị sản xuất của toàn ngành chăn nuôi của tỉnh, năm 1995 chiếm 65,86% và năm 2000 chiếm 65,04%. Chăn nuôi lợn là nguồn cung cấp thịt chủ yếu, đứng đầu trong số các con vật nuôi hiện nay ở Hà Nam. Sản lượng thịt lợn chiếm tới 85,9% tổng số thịt do ngành chăn nuôi cung cấp trên địa bàn. Chăn nuôi lợn cũng là nguồn cung cấp phân bón quan trọng cho trồng trọt.
Xưa kia, chăn nuôi lợn của dân cư là theo kiểu truyền thống, với các giống lợn ỷ có tầm vóc, trọng lượng nhỏ bé và thường rất chậm lớn. Thức ăn để nuôi lợn chủ yếu là những phụ phẩm của ngành trồng trọt. Do thường xuyên thiếu hụt lương thực nên chăn nuôi lợn cũng thường gặp phải khó khăn. Việc cải tạo giống và phòng ngừa dịch bệnh hầu như chưa được nông dân chú ý. Dịch bệnh thường làm đàn lợn chết hàng năm diễn ra phổ biến. Phần nhiều những hộ nghèo, ít ruộng hoặc không có ruộng đều ít có điều kiện để nuôi lợn. Cho đến đầu những năm 1960, số hộ ở nông thôn trong tỉnh chăn nuôi lợn mới chiếm khoảng trên dưới 60%.
Từ giữa những năm 1960, chăn nuôi lợn trong tỉnh phát triển mạnh. Năm 1964, đàn lợn của tỉnh đã có 156.287 con, số hộ nuôi lợn cũng tăng lên, chiếm 77% tổng số hộ ở nông thôn. Phong trào nuôi lợn tập thể của các HTX nông nghiệp cũng khá phát triển. Đến những năm 1970 - 1971, đã có một số HTX nuôi với quy mô tới 500 đến 1.000 đầu con. Điều đáng chú ý trong giai đoạn này là đã bắt đầu có sự cải tạo giống lợn, đưa các giống lợn ngoại nhập vào lai tạo và nhân rộng trong chăn nuôi, trước hết là ở chăn nuôi tập thể. Cũng từ đó, đàn lợn giống nội có tầm vóc nhỏ bé và chậm lớn đã được cải tạo dần và từng bước được thay thế bằng giống lợn lai ngoại. Tuy nhiên, tình trạng chăn nuôi lợn cũng chỉ được cải thiện chủ yếu ở khu vực kinh tế tập thể và cũng chỉ trong một giai đoạn nhất định. Cả một giai đoạn dài, khi kinh tế tập thể ngự trị thì kinh tế hộ gia đình, một khu vực rộng lớn lại chỉ được coi là khu vực kinh tế phụ và gần như bị lãng quên. Chăn nuôi lợn (và chăn nuôi nói chung) ở các hộ gia đình cũng trong tình trạng như vậy. Kinh tế gia đình và chăn nuôi gia đình chỉ giới hạn ở diện tích đất 5% nhỏ bé, sử dụng lao động phụ và lao động nhàn rỗi ngoài sự quản lý của các HTX.
Đến thời kỳ đổi mới, đặc biệt là từ đầu những năm 1990 thì chăn nuôi lợn ở Hà Nam mới thực sự có bước phát triển vượt bậc. Tổng số đàn lợn trên địa bàn tỉnh năm 1991 là 177,8 nghìn con, năm 1995 đã có 225,9 nghìn con và năm 2002 đã lên tới 327,2 nghìn con (gấp 1,84 lần so với đàn lợn năm 1991).
Chăn nuôi lợn được phát triển ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh. Nhưng hai huyện Bình Lục và Lý Nhân có số lượng lợn nhiều hơn cả. Năm 2002, đàn lợn ở huyện Bình Lục có 73,2 nghìn con, chiếm 22,4% trong tổng đàn lợn của tỉnh; huyện Lý Nhân có 71,1 nghìn con, chiếm 21,7%. Các huyện tiếp theo có số lượng và tỷ lệ tương ứng là Duy Tiên có 61,6 nghìn con, chiếm 18,8%; Kim Bảng có 53,7 nghìn con, chiếm 16,4%; Thanh Liêm có 48,2 nghìn con, chiếm 14,7% và thị xã Phủ Lý có 19,4 nghìn con, chỉ chiếm 6,1% tổng đàn lợn của tỉnh. So với năm 1991 thì đàn lợn năm 2002 ở huyện Bình Lục và ở thị xã Phủ Lý đã tăng lên gấp 1,9 lần; ở huyện Duy Tiên gấp gần 2,3 lần; ở huyện Kim Bảng gấp 1,8 lần; ở huyện Thanh Liêm gấp 1,7 lần và đàn lợn ở huyện Lý Nhân gấp 1,6 lần.
Số lượng đầu lợn nuôi và sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cũng tăng nhanh. Năm 1991 sản lượng thịt hơi xuất chuồng trên địa bàn tỉnh đạt trên 10,7 nghìn tấn, năm 1995 đạt hơn 15,4 nghìn tấn và năm 2002 đã lên tới gần 25,4 nghìn tấn. Năm 2002 sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng cao gấp 2,36 lần so với năm 1991, số lượng đầu lợn nuôi cao gấp 1,84 lần. Các huyện Lý Nhân, Duy Tiên và Bình Lục là những huyện có sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng nhiều nhất của tỉnh. Năm 2002, huyện Lý Nhân đã xuất chuồng 5.590 tấn thịt lợn hơi, huyện Duy Tiên xuất 5.525 tấn, huyện Bình Lục xuất 4.750 tấn. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng ở 3 huyện này chiếm tới 62,5% so với cả tỉnh.
Chăn nuôi lợn ở Hà Nam hiện nay đang chuyển mạnh theo hướng “chăn nuôi kiểu hàng hóa”, hướng vào thị trường trong nước và bước đầu cho thấy khả năng hướng tới xuất khẩu. Tuy vậy, sự phát triển chăn nuôi lợn hiện vẫn mang tính tự phát dưới tác động của thị trường, cùng với những bất lợi, rủi ro của nó. Chất lượng đàn lợn cho dù đã được cải tạo từng bước song vẫn ở mức thấp. Đàn lợn thịt chủ yếu vẫn là lợn lai kinh tế F1, đàn lợn hướng nạc có số lượng chưa nhiều, mới khoảng 35.000 con, chiếm tỷ lệ 12,12% so với tổng đàn. Ngoài trung tâm giống truyền tinh nhân tạo của tỉnh xới công suất 80.000 liều/năm, trung tâm giống gia súc Tiên Hiệp mới được khởi công xây dựng nên chưa đáp ứng được lợn hậu bị cho các cơ sở chăn nuôi. Việc tiêu thụ sản phẩm vẫn khó khăn vì thiếu các cơ sở chế biến công nghiệp, chất lượng sản phẩm và khả năng cạnh tranh trên thị trường chưa cao.
2.5. Chăn nuôi gia cầm
Chăn nuôi gia cầm ở Hà Nam bao gồm gà, vịt, ngan, ngỗng, chim cút, chim câu... Việc chăn nuôi gia cầm đã xuất hiện từ lâu và cũng là hoạt động truyền thống trong các gia đình nông dân Hà Nam. Hầu như gia đình nào cũng nuôi gia cầm với số lượng khác nhau để dùng trong gia đình và một phần để bán. Tuy nhiên, chăn nuôi gia cầm thường gặp phải khó khăn do chúng hay bị các loại bệnh dịch. Kỹ thuật chăn nuôi lạc hậu, thường được nuôi thả tự nhiên và hầu như không được cải tạo về giống, ở Hà Nam xưa, vì là vùng đất trũng có nhiều tôm, cá và các thuỷ sản khác, ruộng nước nhiều lại chỉ cấy được vụ chiêm nên việc chăn nuôi vịt đã trở thành phổ biến. Một số nơi thuộc các huyện Kim Bảng, Duy Tiên chăn nuôi nhiều vịt đẻ trứng và có nghề ấp trứng vịt khá nổi tiếng. Trong các loại gia cầm ở địa phương còn có loại gà móng được coi là quý, có tầm vóc to, lớn nhanh, thịt đậm và thom ngon. Giống gà này ở xã Tiên Phong (huyện Duy Tiên). Hiện nay, ở khu vực xã Tiên Phong có khoảng 10.000 con gà mái sinh sản, riêng xã Tiên Phong có 6.500 con. Đây là một nguồn gien quý hiếm cần được bảo tồn.
Biến đổi quan trọng nhất trong chăn nuôi gia cầm những năm gần đây là tỉnh đã nhập nội nhiều giống gia cầm mới để cải tạo đàn giống nội, thay đổi cơ cấu giống các loại; xuất hiện những mô hình chăn nuôi mới, trong đó đang hình thành các trang trại nhỏ đa canh ở các vùng, cải tạo tập quán chăn nuôi cũ, hướng vào sản xuất hàng hoá.
Đã nhập, nuôi khảo nghiệm và đưa vào các hộ nông dân các giống gà mới như sacsơ, kabir và các giống gà Tam Hoàng, Lương Phượng, ngan Pháp dòng R13, R51, giống vịt siêu trứng... Hàng chục con giống mới do công ty giống chăn nuôi, thuỷ sản Hà Nam sản xuất đã chuyển giao cho các hộ nông dân chăn nuôi. Trong những năm gần đây chăn nuôi gia cầm đã phát triển nhanh về số lượng và chất lượng. Nhiều mô hình sản xuất mới, cách thức chăn nuôi mới đã xuất hiện ở khắp các vùng trong tỉnh như mô hình nuôi theo kiểu công nghiệp, nuôi thả vườn, mô hình nuôi đa canh theo kiểu trang trại kết hợp nông, ngư nghiệp với chăn nuôi lợn, gia cầm... Một số trang trại đa canh có quy mô chăn nuôi gia cầm khá tập trung, mang tính hàng hoá rõ nét. Chương trình chuyển 2.000ha ruộng trũng 1 vụ lúa bấp bênh sang sản xuất đa canh sẽ tạo điều kiện cho cả nuôi trồng thuỷ sản lẫn chăn nuôi gia cầm phát triển.
Trong cơ cấu sản xuất của ngành chăn nuôi, năm 2002, chăn nuôi gia cầm đã đạt giá trị sản xuất (giá hiện hành) trên 111,8 tỷ đồng, chiếm 28,2% giá trị sản xuất của toàn ngành chăn nuôi. Tỷ trọng này đã tăng lên gần 2% so với năm 1995 (là 26,3%). Về số lượng, năm 1991 số lượng gia cầm của Hà Nam có 1.688,5 nghìn con, năm 1995 đã tăng lên 1.934,5 nghìn con và đến năm 2002 đã có trên 3.276 nghìn con (gần gấp đôi so với năm 1991). Tốc độ tăng số lượng gia cầm bình quân năm ở giai đoạn 1995 - 2002 là 9,2%/năm, cao nhất so với tốc độ tăng của các loại vật nuôi nói chung. Trong tổng số gia cầm chăn nuôi hàng năm ở Hà Nam thì gà là loại gia cầm có số lượng lớn nhất, thường chiếm tới 80 - 90%. Năm 1999, tổng đàn gia cầm của Hà Nam có trên 2,3 triệu con, thì trong đó có đến 1,8-2 triệu con gà. Số lượng còn lại là vịt, ngan, ngỗng... Vịt thường được nuôi nhiều hơn ngan và các loại gia cầm còn lại.
Về sản phẩm: Sản lượng thịt gia cầm năm 2000 đạt 2.527 tấn, chiếm 10,24% tổng sản lượng thịt của các loại vật nuôi nói chung. Năm 1996 sản lượng thịt gia cầm đạt 1.976 tấn, đến năm 2000, đã tăng gấp 1,27 lần so với năm 1996. Về sản lượng trứng, năm 2000 đạt 56 triệu quả, tăng 11,51% so với năm 1996. Hiện tại, Hà Nam đang có kế hoạch phát triển đàn gia cầm đến năm 2010 đạt 5 triệu con, sản lượng thịt đạt khoảng 5.000 tấn, trứng gia cầm xuất khẩu trên 11 triệu quả; đồng thời phát triển chăn nuôi gia cầm theo hướng trang trại, chăn nuôi kiểu công nghiệp, bán công nghiệp với các giống gia cầm có chất lượng cao.
2.6. Nuôi ong
Nuôi ong để lấy mật cũng đã có từ lâu trong một số hộ gia đình. Việc nuôi ong tập trung ở hai huyện miền núi Kim Bảng và Thanh Liêm là nơi có đồi rừng, có hoa rừng và cây ăn quả, ngoài ra nó còn có ở vùng bãi ven sông Hồng thuộc huyện Lý Nhân, nơi có nhiều vườn cây ăn quả. Ong được nuôi chủ yếu ở các hộ gia đình. Năm 1969, chăn nuôi ong được phát triển với tổng số 1.150 đàn, trong đó có 300 đàn ong của hợp tác xã. Đã co năm nuôi ong ở Hà Nam đạt sản lượng 2,6 tấn mật. Hiện nay, ong được nuôi nhiều ở các huyện Lý Nhân, Duy Tiên và Kim Bảng, mỗi huyện có chừng 1.000- 1.500 đàn. Sản lượng mật ong năm 2000 của tỉnh đạt 15 tấn. Ở huyện Kim Bảng có hội những người nuôi ong. Công ty ong của tỉnh cũng đóng trên địa bàn của huyện Kim Bảng. Triển vọng của nghề nuôi ong lấy mật sẽ được phát triển nhờ vào việc khôi phục và phát triển vốn rừng cùng với việc mở rộng các vườn cây ăn quả ở các địa phương.
II. LÂM NGHIỆP
Là một tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng nhưng Hà Nam lại có một phần lãnh thổ ở phía Tây thuộc hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm là vùng đồi núi. Từ vùng đồi núi này đổ về phía Tây là vùng đồi, núi, rừng rất rộng lớn chủ yếu thuộc tỉnh Hoà Bình. Dọc theo mạn phía Tây của hai huyện trên là những dãy núi đá vôi xen lẫn với đồi chạy dài từ phía Bắc (giáp với tỉnh Hà Tây) về phía Nam, tới Ninh Bình và đến tận tỉnh Thanh Hoá. Hà Nam lại là tỉnh nằm trong vùng phân lũ lớn của hệ thống sông Đáy. Bởi vậy rừng và đất rừng có vị trí quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn. Bảo vệ và phát triển vốn rừng là một trong những vấn đề chiến lược góp phần tích cực vào việc phát triển kinh tế - xã hội, an ninh quốc phòng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Theo số liệu thống kê năm 2002, đất lâm nghiệp và đất có khả năng lâm nghiệp của tỉnh Hà Nam hiện có khoảng 10.736 ha, chiếm hơn 12,6% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó, diện tích đất có rừng là 9.466 ha và đất đồi, núi chưa sử dụng có khả năng lâm nghiệp là 1.270 ha. Năm 1997, giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp (theo giá hiện hành) đạt trên 20,1 tỷ đồng, chiếm 1,63% trong tổng giá trị sản xuất của toàn ngành nông - lâm - thuỷ sản; nhưng đến năm 2002 giá trị sản xuất lâm nghiệp giảm chỉ còn 15,9 tỷ đồng và chiếm tỷ trọng 1,0%.
Tuyệt đại đa số diện tích rừng hiện có là ở hai huyện Kim Bảng và Thanh Liêm. Theo số liệu thống kê năm 2000, trong tổng diện tích đất lâm nghiệp của tỉnh có 9.436 ha thì ở Kim Bảng có 5.923 ha, chiếm 62,8%; còn lại là ở huyện Thanh Liêm, có 3.513 ha, chiếm 37,2%. Trong tổng số diện tích đất có rừng kể trên thì rừng tự nhiên có 7.752,7 ha và rừng trồng có 1.684,3 ha. Rừng tự nhiên có ở huyện Kim Bảng là 4.760,37 ha, còn lại 2.992,32 ha là ở huyện Thanh Liêm. Rừng trồng có 1.163,35 ha ở huyện Kim Bảng và có 520,90 ha ở huyện Thanh Liêm. Trong số diện tích tự nhiên thì rừng mọc trên núi đá khoảng 4.600 ha, với những thảm thực vật thưa thớt, chủ yếu là cây bụi. Những nơi tốc độ phong hoá đá mạnh có một số cây gỗ nhỏ phát triển nhưng mức độ không dày, chưa đủ độ tạo tán và trữ lượng gỗ để tạo thành rừng. Vì vậy rừng tự nhiên ở Hà Nam tuy lớn hơn rừng trồng nhưng chủ yếu là rừng nghèo, rừng non mới tái sinh và rừng trung bình, còn rừng giàu gần như không còn. Nó đã trải qua một thời kỳ dài bị tàn phá nghiêm trọng.
Rừng trồng ở Hà Nam phần lớn là rừng phòng hộ đầu nguồn, được trồng tập trung. Trong đó đáng chú ý là 52 ha thông nhựa được trồng ở huyện Thanh Liêm từ năm 1984 theo nguồn vốn ngân sách. Hiện rừng đã khép tán và đạt 2.500cây/ha. Số còn lại được trồng chủ yếu từ năm 1993 trở lại đây.
Rừng và đất rừng tập trung chủ yếu ở các xã của huyện Kim Bảng như Ba Sao, Liên Sơn, Thanh Sơn, Thi Sơn, Tân Sơn, Khả Phong, Tượng Lĩnh và các xã ở huyện Thanh Liêm như Thanh Nghị, Thanh Thuỷ, Thanh Tân, Thanh Hải, thị trấn Kiện Khê và xã Liêm Sơn. Số liệu ở biểu 19 cho thấy chi tiết hơn tình hình phân bố rừng và đất rừng ở một số xã này.
  Biểu 19. Phân bố diện tích đất 
lâm nghiệp năm 2000 ở một số xã
(Đơn vị: ha)
Huyện Kim Bảng
Huyện Thanh Liêm
Tổng số
5.923,7
Tổng số
3.513,2
Ba Sao
2.198,2
Thanh Nghị
1.044
Liên Sơn
1.563,6
Thanh Thủy
855,3
Thanh Sơn
1.444,3
Thanh Tân
822,7
Tân Sơn
332,9
Thanh Hải
249,9
Khả Phong
202,5
Thị trấn Kiện Khê
234,9
Tượng Lĩnh
158,8
Liêm Sơn
124,7
Thi Sơn
23,2
Thanh Tâm
84,7
- Niêm giám thống kê 1990-2000. Cục thống kê Hà Nam 8-2001
- Niêm giám thống kê năm 2000. Phòng thống kê huyện Kim Bảng, tháng 9-2000
- Niêm giám thống kê năm 2000. 
Phòng thống kê huyện Thanh Liêm, tháng 9-2000
Về tài nguyên lâm nghiệp, rừng Hà Nam hiện có khoảng 200 họ, 400 loài thực vật khác nhau. Thảm thực vật tự nhiên chủ yếu là các loại đồng cỏ, cây lùm bụi, xen kẽ một số cây lấy gỗ nhỏ rải rác trong các khe nước, thung lũng, các khe đá trên núi đá và đồi đất. Thảm thực vật tự nhiên nói chung có giá trị kinh tế thấp, chỉ có ý nghĩa về phòng hộ, bảo vệ đất, nguồn nước và làm bãi chăn thả gia súc. Thảm thực vật trồng gồm cây màu, cây công nghiệp, cây ăn quả và cây lâm nghiệp. Cây lâm nghiệp chủ yếu là bạch đàn, keo, bương, lát, trám, sấu... Một số loài gỗ quý như săng, đinh hương, lát hoa, thông. Hoa phong lan có nhiều ở trên núi Ngũ Động Sơn và trên núi thuộc xã Ba Sao (huyện Kim Bảng).
Nguồn dược thảo tự nhiên có 170 loài thuốc nam, có thể khai thác ở các vùng núi đất, núi đá vôi, dưới tán rừng. Đặc biệt, rừng Hà Nam có một số nguồn gien thực vật quý, hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, như loài thông khuyết lá (là loài thực vật rất cổ, một trong số hoá thạch hiếm hoi từ kỷ đệ tam còn sót lại của hệ thực vật Việt Nam); loài bách bộ đứng, thuộc họ bách bộ, lớp một lá mầm, ngành hạt kín. Cả hai loài này mới phát hiện được ở vùng rừng tự nhiên thuộc xã Thanh Sơn (huyện Kim Bảng) (1). Trong sáu loài bách bộ (3 loài leo cuốn, 3 loài thân đứng) có ở Việt Nam thì cả 6 loài bách bộ này đều có mặt ở vùng núi đá vôi các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm. Ngoài ra, ở Hà Nam còn có loài bách bộ thân đứng mới tìm thấy ở vùng núi đá vôi thuộc xã Thanh Tâm (huyện Thanh Liêm). Đây là loài bách bộ mới lần đầu tiên phát hiện được ở Việt Nam. Trong đó, bách bộ đứng là nguồn gien quý hiếm được xếp vào loại bị đe dọa tiệt chủng.
Các loài động vật trên địa bàn rừng núi tỉnh Hà Nam hiện chỉ còn khoảng 30 loài thú (cầy vằn, cáo, chồn, mèo rừng, mèo núi, gà lôi, hoẵng, sơn dương, voọc...); trên 100 loài chim (chào mào, gõ kiến, cú mèo khiếu, cắt, vạc, cò...); trên 40 loài lưỡng cư và nhiều loại bò sát (trăn, rắn, tắc kè...). Trong số các động vật kể trên, người ta mới phát hiện được ở xã Thanh Sơn (huyện Kim Bảng) có 2 loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam và thế giới, đó là loài voọc quần đùi trắng và loài sơn dương (2). Những loài thực vật và động vật quý hiếm có ở rừng Hà Nam cho thấy khả năng tiềm tàng của rừng núi nơi đây.
Để khôi phục và phát triển vốn rừng, bảo vệ các nguồn tài nguyên to lớn về lâm nghiệp và về sinh thái, trong những thập kỷ gần đây, mà nhất là từ đầu những năm 1990, tỉnh Hà Nam ngày càng quan tâm nhiều hơn đến việc sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng, hạn chế các hoạt động khai thác và tập trung nhiều nỗ lực cho việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng. Điều này thể hiện rõ ở sự khác biệt về tăng trưởng giá trị sản xuất giữa lĩnh vực khai thác với lĩnh vực trồng và bảo vệ rừng. Giai đoạn những năm 1991 - 1995, giá trị sản xuất ngành lâm nghiệp giảm bình quân 3,4%/năm. Trong đó, khai thác gỗ và lâm sản giảm 3,48%/năm; hoạt động lâm nghiệp khác giảm 2,5%/năm, trong khi giá trị sản xuất trồng và chăm sóc rừng tăng tới 7,1%/năm. Thời kỳ từ 1997 - 2002, trồng và chăm sóc rừng tiếp tục tăng 6,3%/năm, trong khi giá trị khai thác gỗ và lâm sản tiếp tục giảm 7,4%/năm.
Tuy nhiên, trong cơ cấu giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp nói chung của tỉnh thì giá trị sản xuất của lĩnh vực trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và các hoạt động lâm nghiệp khác đến những năm gần đây (1999 - 2002) mới chiếm tỷ trọng bình quân hàng năm 13,6%, trong khi giá trị sản xuất của hoạt động khai thác gỗ và lâm sản vẫn chiếm tỷ trọng bình quân tới 85,5% và giá trị hoạt động lâm nghiệp khác chiếm bình quân 0,9%. Năm 2001 tỷ trọng giá trị trồng và chăm sóc, bảo vệ rừng chiếm tỷ trọng cao nhất cũng mới đạt 18,0% trong cơ cấu giá trị sản xuất toàn ngành lâm nghiệp của tỉnh.
       Biểu 20: Giá trị sản xuất và cơ cấu 
giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp
(Giá hiện hành) Đơn vị: triệu đồng, %

Tổng số
Chia ra

%
Trồng và nuôi rừng
%
Khai thác gỗ và lâm sản
%
Lâm nghiệp khác
%
1990
6.483
100
661
10,2
5.731
88,4
91
1,4
1995
14.219
100
1.777
12,5
12.260
86,2
182
1,3
1997
20.121
100
1.653
8,2
18.317
91,0
151
0,8
1999
19.535
100
2.112
10,8
17.270
88,4
153
0,8
2000
20.492
100
2.502
12,2
17.836
87,0
154
0,8
2001
15.001
100
2.699
18,0
12.147
81,0
155
1,0
2002
15.941
100
2.175
13,6
13.613
85,4
153
1,0
- Niêm giám thống kê năm 2000. Phòng thống kê Hà Nam, tháng 8-2001
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2002.
Việc trồng rừng tập trung được đẩy mạnh kể từ năm 1993 và liên tục tăng lên qua các năm, cao nhất là vào năm 1997 đạt tới 350 ha. Những năm gần đây (từ 2000 - 2002), diện tích rừng trồng tập trung bình quân đạt khoảng 230ha/năm. Tinh hình này gắn liền với sự thay đổi trong chính sách đất đai, với việc thực hiện giao đất, giao rừng ổn định, lâu dài cho hộ nông dân, cho cá nhân và tập thể quản lý, sử dụng; và mặt khác là do có sự hỗ trợ của các dự án, chương trình phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, (như chương trình 327 đê phủ xanh đất trống đồi núi trọc, chương trình 772 về định canh định cư, kết hợp với chương trình 135 về xoá đói giảm nghèo...). Đặc biệt là từ năm 1999, Hà Nam bắt đầu tham gia thực hiện dự án trồng 5 triệu ha rừng.
Trồng cây phân tán trong nhân dân vẫn được duy trì hàng năm, phát triển mạnh trong những năm từ 1990 đến 1996, năm thấp nhất (1996) cũng được trên 1,3 triệu cây còn năm cao nhất (1994) được trên 2,8 triệu cây. Những năm gần đây việc trồng cây phân tán được ngành thống kê quy đổi theo đơn vị diện tích (hec-ta). Theo đó, diện tích trồng cây phân tán của toàn tỉnh bình quân hàng năm trong những năm 2000 - 2002 đạt trên 170 ha, riêng năm 2002 đạt 219 ha. Trong khi đó, khai thác gỗ tròn kể từ năm 1990 đến năm 1997 mỗi năm thường trên 17.000m3 nhưng kể từ năm 1998 bắt đầu có sự giảm mạnh và đến năm 2002 chỉ còn khai thác 9.617 m3. Lượng củi khai thác cũng giảm đi nhiều so với trước, năm 1995 là 24,4 nghìn ster đến năm 2002 chỉ còn hơn 17,5 nghìn ster.
        Biểu 21. Sản phẩm lâm nghiệp 
chủ yếu và tình hình rừng bị thiệt hại

Trồng rừng tập trung (ha)
Trồng cây phân tán (ha)
Gỗ tròn khai thác (m3)
Củi khai tác (1.000 ster)
Tre, luồng, nứa
(1.000 cây)
1995
161
1.614
17.313
24,4
852
1997
350
850
17.900
26,0
920
1999
80
405
11.040
21,5
1.322
2000
225
140
11.365
21,4
1.327
2001
268
155
9.324
16,9
736
2002
200
219
9.617
17,5
707
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2002.
Cùng với việc trồng rừng, tỉnh chú trọng đầu tư cho khoanh nuôi, tái sinh, chăm sóc, bảo vệ, trồng bổ sung rừng. Khả năng tái sinh của rừng tự nhiên ở Hà Nam rất tốt và số lượng cây còn lại hiện nay đủ tự phát tán, tái sinh để phục hồi lại rừng.
Nhìn chung ở Hà Nam, đất rừng và đất lâm nghiệp còn phong phú. Ngoài diện tích đất có rừng trên 9,46 nghìn ha, còn có gần 1,3 nghìn ha đất có khả năng lâm nghiệp chưa sử dụng và hàng trăm ha đất khác có khả năng kết hợp phát triển nông nghiệp với lâm nghiệp. Hiện nay, ngoài các dự án, chương trình hỗ trợ trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng, Hà Nam cũng đang đẩy mạnh quá trình xã hội hoá lâm nghiệp, khuyến khích nhân dân đầu tư phát triển nghề rừng. Nhiều hộ gia đình đã được giao khoán trồng rừng hoặc nhận rừng để khoanh nuôi bảo vệ. Trên địa bàn tỉnh cũng đã hình thành 2 trang trại lâm nghiệp, 13 trang trại kinh doanh tổng hợp, với những mô hình nông lâm kết hợp, vừa phát triển rừng vừa phát triển cây ăn quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm cho hiệu quả kinh tế khá cao. Đồng thời, các ngành chức năng cũng tăng cường công tác tuyên truyền về pháp luật bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái; tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát việc khai thác, buôn bán lâm sản trên địa bàn. Những động thái này đã và đang tác động tích cực đến phát triển lâm nghiệp nói chung của tỉnh.
Tuy nhiên, việc phát triển lâm nghiệp nói chung, phát triển và bảo vệ tài nguyên rừng nói riêng ở Hà Nam hiện nay cũng đang đặt ra những vấn đề cần quan tâm. Công tác giao đất giao rừng đến từng hộ dân mới được thực hiện ở khía cạnh giao để người dân khoanh nuôi bảo vệ. Sẽ có hiệu quả hơn, nếu việc giao đất khoán rừng cho hộ gia đình, cộng đồng dân cư và tổ chức xã hội vào mục đích phát triển lâm nghiệp, với thời gian lâu dài, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.
Kinh phí đầu tư cho phát triển rừng và phát triển lâm nghiệp nói chung còn thấp chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra. Việc huy động các nguồn lực từ các hộ gia đình thông qua giao đất giao rừng có thể giảm bớt được một nguồn tài chính đáng kể cho Nhà nước; và thông qua người dân, kinh phí đầu tư của Nhà nước hỗ trợ cho việc phát triển rừng sẽ được sử dụng có hiệu quả hơn. Mặt khác, để đảm bảo chất lượng rừng và để rừng phát triển nhanh, cần lựa chọn được tập đoàn cây lâm nghiệp, cây ăn quả phù hợp với điều kiện đất đai, khí hậu, hệ sinh thái địa phương.
III. THỦY SẢN
Cùng với trồng trọt và chăn nuôi, từ xa xưa việc khai thác, đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản đã là những hoạt động kinh tế vốn có của dân cư Hà Nam. Xưa kia, Hà Nam là vùng đất chiêm trũng, thuỷ lợi còn rất thô sơ, đồng ruộng nhiều nơi chỉ cấy được một vụ và thường ngập nước quanh năm. Hệ thống sông ngòi, đầm, vực và dòng chảy tự nhiên cũng tạo ra một diện tích mặt nước rộng lớn và là nơi chứa đựng nhiều nguồn lợi thuỷ sản phong phú. Hàng năm mưa lũ từ thượng nguồn đổ về và những trận lụt lớn thường xuyên xảy ra ở đồng bằng châu thổ cũng mang lại nhiều nguồn lợi thuỷ sản cho cư dân nơi đây. Hơn nữa, ở vùng đất trũng, dân cư thường phải đào ao để vượt đất làm nhà ở, làm vườn và trồng rau. Vì thế, trong các làng ở Hà Nam thường có nhiều ao, đầm và diện tích mặt nước. Từ vùng trũng của các huyện Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, thậm chí đến cả các vùng đồi rừng của các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, gần như nhà nào cũng có ao thả cá. Những điều kiện ấy đã tạo ra các nguồn lợi thuỷ sản rất đa dạng: cá, tôm, cua, ốc, ếch, ba ba, lươn, trạch, cà cuống... Chúng sinh sôi nảy nở trong môi trường sinh thái tự nhiên và được nền nông nghiệp quảng canh nuôi dưỡng. Chính vì thế mà nghề đánh bắt và nuôi trồng thuỷ sản được phát triển và luôn gắn bó với đời sống của người dân nơi đây từ thế hệ này qua thế hệ khác.
Việc khai thác các nguồn lợi thuỷ sản tự nhiên của dân cư ở Hà Nam xưa gồm có nhiều nghề, phổ biến nhất là các nghề chài, lưới, đánh bắt cá, tôm, cua, tép trên sông, ngòi, hồ, đầm, đồng ruộng. Nhiều làng dân cư sinh sống chủ yếu bằng các nghề này. Theo học giả người Pháp P. Gourou, cho đến đầu thế kỷ XX, toàn vùng đồng bằng Bắc Bộ có khoảng 54 làng có nhiều người làm nghề đánh bắt cá, thì riêng ở Hà Nam đã có khoảng 12 làng. Trong đó có các làng đánh cá ở huyện Duy Tiên như làng Lỗ Hà, Yên Mỹ, Yên Lệnh (tổng Chuyên Nghiệp), Đô Quan, Khả Duy, Lãnh Trì, Hàm Dương (tổng Mộc Hoàn),... Ngoài ra, ở Hà Nam còn có hàng chục xóm chài, vạn chài sinh sống bằng nghề đánh bắt cá, tôm và khai thác thủy sản trên sông, như làng Mang Sơn, An Mộng (huyện Duy Tiên), Châu Xá, Tân Lang (huyện Kim Bảng); Quy Châu, Thọ Ích, Nghệ Văn (huyện Lý Nhân),... Đó là những làng hoặc xóm nổi chuyên sống trên sông nước, trên những thuyền hoặc bè và sinh sống bằng nghề đánh bắt cá và chuyên chở trên sông.
Ở Hà Nam xưa cũng có những người đánh cá chuyên nghiệp. Những người đánh cá ở sông Nhuệ (tổng Nhật Tựu, huyện Kim Bảng), Văn Xá (tổng Ngu Nhuế, huyện Lý Nhân) chủ yếu đánh bắt tôm. Nhiều người ở Tế Xuyên còn đi bắt tôm theo mùa vụ ở Tiên Du (Bắc Ninh) và Hiệp Hoà (Bắc Giang). Số đông đánh cá ở các khu vực bị ngập nước quanh năm hoặc từng mùa rất rộng lớn trong tỉnh. Đó là dân cư của các làng Quy Ngoại (tổng Tiên Xá, huyện Duy Tiên), Tân Lang (tổng Phù Lưu, huyện Kim Bảng), Tê Cát (tổng Ngu Nhuế, phủ Lý Nhân). Những người đánh cá chuyên nghiệp bán cá tươi hoặc cá khô, cá ướp muối, thậm chí còn làm nước mắm từ cá mà họ kiếm được như làng Lộc Tùng (tổng Phù Đạm, huyện Kim Bảng), Văn Châu (Kim Bảng)... Một số người ở các làng như Quy Ngoại (tổng Tiên Xá, huyện Duy Tiên), Tân Lang (tổng Phù Lưu, huyện Kim Bảng), Tê Cát (tổng Ngu Nhuế, phủ Lý Nhân) còn chuyên đi bắt cà cuống để bán ở chợ làng và bán đi các nơi(1).
Việc nuôi trồng thuỷ sản, nhất là nuôi thả cá, cũng phát triển từ rất sớm và là một nguồn thu nhập đáng kể cho nhiều hộ gia đình. Người dân Hà Nam cũng như ở nhiều nơi đồng bằng Bắc Bộ từ xưa đã coi nghề canh trì (nuôi thả cá) là nghề dễ làm giầu chẳng kém gì các nghề thủ công hay buôn bán. Nuôi trổng thuỷ sản cũng tạo ra cho họ nguồn thực phẩm thường xuyên trong sinh hoạt. Nhiều loại thuỷ sản được coi là đặc sản có tiếng ở Hà Nam được nhiều người biết đến như cá quả, cá chép, cá rô đầm ở các huyện Bình Lục, Lý Nhân; ốc nhồi, lươn, ếch ở các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Bình Lục; trai, hến trên sông Nhuệ, sông Châu...
Những giống cá để nuôi thả ao của các hộ dân cư phần nhiều là do những người chuyên nghiệp vớt cá bột và uơm cá giống ở các làng ven sông Hồng cung cấp. Ở huyện Duy Tiên xưa có những làng nhiều người làm nghề vớt cá bột và ươm bán cá giống như các làng Lỗ Hà, Yên Mỹ, Yên Lệnh, (tổng Chuyên Nghiệp), các làng Hoàn Dương, Khả Duy, Yên Từ, Đô Quan, Lanh Từ, Yên Hòa, Yên Lạc (tổng Mộc Hoàn), Nha Xá (tổng Bạch Sam),... Làng Phượng Vỹ (tổng Mỹ Xá) ở huyện Thanh Liêm cũng có nhiều người làm nghề ươm thả cá giống. Hàng năm vào mùa mưa nước sông Hồng dâng cao, đem theo trứng cá và cá con từ thượng nguồn chảy về, chảy vào cả các lạch. Họ vớt cá bột trên sông, lạch đem ươm ở các ao nhỏ trong làng, chăm cho lớn để đem bán cho các làng trong vùng. Đôi khi họ đem bán rất xa, thậm chí tới cả tận tỉnh Thanh Hóa (2).
Ngày nay, các nguồn lợi thủy sản tự nhiên đã giảm đi rất nhiều, một phần do việc khai thác, đánh bắt quá mức diễn ra liên tục trong nhiều thập kỷ, phần khác là do môi trường sinh thái và điều kiện tự nhiên cho việc sinh sản và phát triển của thủy sản đã có những thay đổi nhất định. Việc sử dụng rộng rãi các loại phân bón hoá học, thuốc trừ sâu, cỏ,... trên đồng ruộng và sự ô nhiễm nước trên các dòng sông đã tác động đến sự suy giảm các nguồn lợi thủy sản tự nhiên trên địa bàn. Các hoạt động khai thác, đánh bắt thủy sản tự nhiên vì vậy đã giảm đi rất mạnh. Các xã có nghề đánh bắt thủy sản nhiều trước đây như Trác Văn, Châu Sơn (huyện Duy Tiên) nay mỗi xã chỉ còn khoảng 50 hộ hoạt động và sinh sống bằng nghề vạn chài, ở Tiên Phong, Tiên Hải và các xã ven sông Hồng của huyện Duy Tiên cũng chỉ còn rải rác một số hộ. Song việc nuôi thả, nuôi trồng thủy sản lại được phát triển mạnh ở hầu hết các nơi trong tỉnh và ngày càng được nhân dân coi trọng, với việc sử dụng rộng rãi các loại giống nuôi và kỹ thuật nuôi trồng mới cho năng suất và hiệu quả hơn.
Theo số liệu thống kê năm 2002, diện tích mặt nước sử dụng vào nông nghiệp nói chung của tỉnh có 4.626 ha, tăng thêm hơn 305 ha so với năm 1997. Trong đó, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản là 4.337 ha, tăng thêm hơn 160 ha. Giá trị sản xuất của ngành thủy sản nói chung năm 2002 đạt trên 68,5 tỷ đồng (theo giá hiện hành), gấp gần 2,7 lần so với năm 1997. Trong cơ cấu giá trị sản xuất thủy sản, tỷ trọng giá trị nuôi trồng chiếm tới 88,1%, còn tỷ trọng giá trị khai thác thủy sản chỉ chiếm 7,0%. Tuy vậy giá trị sản xuất thủy sản còn rất thấp so với trồng trọt, chăn nuôi và mới chiếm 4,34% trong cơ cấu giá trị sản xuất nông - lâm - thủy sản nói chung của tỉnh.
Về sản lượng, đến năm 2002 tổng sản lượng thủy sản của tỉnh đã đạt trên 8.284 tấn, gấp 2,6 lần so với năm 1997 (3.169 tấn). Trong đó sản lượng thủy sản nuôi trồng đạt 7.639 tấn, gấp 2,55 lần so với năm 1997 và chiếm tới 92,2% trong tổng sản lượng thủy sản nói chung; sản lượng thủy sản khai thác (năm 2002) đạt 645 tấn, gấp 2,6 lần so với năm 1997, song chỉ chiếm 7,8% trong tổng sản lượng thủy sản nói chung. Điều này cho thấy hoạt động thủy sản ở Hà Nam đã căn bản chuyển từ hoạt động khai thác, đánh bắt truyền thống trước đây sang nuôi trồng là chủ yếu, và sự phát triển của ngành thủy sản hiện nay căn bản phụ thuộc vào phát triển nuôi trồng.
Biểu 22. Tình hình phát triển thủy sản 1997-2002

Đơn vị
1997
1999
2000
2001
2002
1. Diện tích mặt nước nuôi trồng
Ha
4.198
3.756
3.930
3.653
4.337
2. Tổng giá trị sản xuất
Tỉ đồng
25,6
28,9
33,7
48,1
68,5
3. Tổng sản lượng thủy sản
Tấn
3.169
4.118
4.910
6.212
8.284
a. Sản lượng khai thác
Tấn
247
475
579
422
645
b. Sản lượng nuôi trồng
Tấn
2.922
3.643
4.331
5.790
7.639
- Sản lượng cá nuôi
Tấn
2.860
3.590
4.056
5.553
7.422
- Sản lượng tôm nuôi
tấn
30
-
35
48
50,3
- Niêm giám thống kê tỉnh Hà Nam năm 2002.
Sản lượng thủy sản nuôi trồng trong những năm 1997 - 2002 cũng tăng một cách ổn định hơn so với sản lượng khai thác. Năng suất nuôi trồng thủy sản bình quân của cả tỉnh đã tăng lên khá nhanh, năm 1997 đạt 0,7 tấn/ha, năm 2000 tăng lên 1,1 tấn/ha và đến năm 2002 đã đạt trên 1,76 tấn/ha. Song năng suất nuôi trồng thuỷ sản bình quân hiện tại vẫn còn thấp hơn nhiều so với năng suất của những hộ nuôi trồng thuỷ sản thâm canh, có tính sản xuất hàng hóa. Điều này cho thấy việc nuôi trồng thuỷ sản phần nhiều vẫn đang trong tình trạng quảng canh.
Về phân bố sản xuất, mặc dù hoạt động thuỷ sản phát triển rộng khắp ở tất cả các huyện, thị trong tỉnh, nhưng điều kiện ở hai huyện ven sông Hồng là Lý Nhân và Duy Tiên có nhiều thuận lợi hơn, việc nuôi trồng, đánh bắt thủy sản ở đây cũng phát triển hơn so với các địa phương khác. Huyện Lý Nhân có diện tích mặt nước và diện tích nuôi trồng thuỷ sản lớn nhất tỉnh, đồng thời cũng là một trong những huyện có sản lượng thủy sản cao nhất tỉnh. Năm 2002, diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản ở Lý Nhân có 1.342 ha, chiếm 8% diện tích tự nhiên của huyện và chiếm tới 30,9% diện tích nuôi trồng thủy sản của cả tỉnh; sản lượng thủy sản đạt trên 2.076,9 tấn, chiếm 25% sản lượng của tỉnh; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt hơn 2.031 tấn, chiếm 26,6% sản lượng thủy sản nuôi trồng của cả tỉnh. Huyện Duy Tiên có diện tích nuôi trồng thủy sản là 876 ha, đứng thứ hai sau huyện Lý Nhân. Song sản lượng thủy sản của huyện
Duy Tiên năm 2002 đã đạt trên 2.571 tấn, cao nhất tỉnh, chiếm tới 31% sản lượng thủy sản của cả tỉnh; trong đó, sản lượng nuôi trồng đạt 2.329 tấn, chiếm 30,1% sản lượng thủy sản nuôi trồng của tỉnh. Huyện Kim Bảng có diện tích 705 ha, huyện Bình Lục có 765 ha. Sản lượng thủy sản của huyện Kim Bảng là 1.408 tấn, của huyện Binh Lục là 945 tấn; trong đó, sản lượng thủy sản nuôi trồng tương ứng của 2 huyện này là 1.222 tấn và 913 tấn. Diện tích nuôi trồng thủy sản của huyện Thanh Liêm có 499 ha, sản lượng thủy sản đạt 830 tấn, trong đó có 784 tấn sản phẩm nuôi trồng. Thị xã Phủ Lý có 150 ha và sản lượng đạt 452 tấn, trong đó có 360 tấn sản phẩm nuôi trồng.
Nông dân vẫn nuôi cá và các loại thủy sản ở những ao nhỏ cạnh nhà. Những hồ, đầm lớn do chính quyền quản lý và đấu thầu cho một số người thuê đê nuôi trồng thủy sản, với thời gian cho thuê thường chỉ vài năm. Năm 2001 đã có 14 trang trại nuôi trồng thủy sản, chiếm tỷ lệ 35,9% tổng số trang trại của tỉnh. Diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của trang trại là 154 ha, chỉ chiếm 3,9% diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản của tỉnh. Số lao động đang làm việc trong lĩnh vực thủy sản nói chung của tỉnh năm 2002 đã lên tới con số hơn 2.000 người, tăng hơn 660 người (47%) so với năm 1997. Một số người ở huyện Lý Nhân đã đến tận Hà Nội và cả những nơi khác để nhận thầu nuôi cá ở những đầm hồ lớn. Những xóm chài chuyên về khai thác thủy sản trên sông nay không còn nữa.
Trong những năm gần đây, phong trào nuôi cá ao, cá ruộng, nuôi ba ba, cá lồng, cá bè đang phát triển mạnh ở các địa phương trong tỉnh. Nhiều mô hình sản xuất đa canh xuất hiện ở các vùng, ở những vùng trũng, nông dân đã tiến hành sản xuất đa canh: lúa - cá - vịt - cây ăn quả hoặc cá - lúa - cây ăn quả - chăn nuôi gia súc, gia cầm,... Còn ở vùng bán sơn địa, nơi có những thung lũng liền kề với ruộng chỉ cấy được lúa vụ chiêm cho năng suất thấp, vụ mùa thường bị lũ, nông dân đã áp dụng công thức đa canh: lúa xuân - cá - cây ăn quả, cây lâm nghiệp - chăn nuôi dê ... hoặc trồng lúa xuân - nuôi vịt - thả cá - trồng cây lâm nghiệp.
Từ năm 2001 đến 2002 toàn tỉnh đã chuyển đổi 961 ha vùng đất trũng sang sản xuất đa canh và thử nghiệm xây dựng mô hình sản xuất mới để triển khai ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm biến đổi bộ mặt kinh tế của vùng đất trũng. Mô hình lúa - cá - tôm càng xanh đã được thử nghiệm trên diện tích 13 ha tại hai xã Khả Phong (huyện Kim Bảng) và Bồng Lạng (huyện Thanh Liêm). Hai nơi này vốn chỉ cấy được một vụ chiêm, vụ mùa bấp bênh, thường hay bị ngập nước. Kết quả, hiệu quả cao gấp nhiều lần so với việc cấy lúa hai vụ. Năm 2000 ở hai trại cá Tiên Hiệp (huyện Duy Tiên) và Hồng Phú (thị xã Phủ Lý) cũng đã nuôi thử nghiệm giống cá chim trắng bố mẹ và cá thịt, nuôi ghép với những loài cá khác, kết quả cho thấy cá chim trắng có thể nuôi và phát triển cho hiệu quả.
Hiện nay, tỉnh đang có chương trình phát triển thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá, quy hoạch các khu vực nuôi trồng thuỷ sản có quy mô tập trung hơn, chuyển khoảng 2.000 ha diện tích đất trồng lúa 2 vụ ở những vùng trũng mà sản xuất vụ mùa hiệu quả chưa cao sang mô hình đa canh kết hợp một vụ lúa xuân với nuôi thả cá, nuôi vịt và cây trồng khác. Mở rộng nuôi trồng thuỷ sản có giá trị cao, như cá quả, cá rô phi đơn tính, cá chép ba màu, đặc biệt là nuôi cá chim trắng và nuôi tôm càng xanh.
IV. PHÁT TRIỂN THỦY LỢI, THỦY NÔNG
Do đặc điểm và điều kiện địa lý tự nhiên của tỉnh, nên từ xa xưa, công cuộc trị thủy và phát triển thuỷ lợi, thủy nông ở Hà Nam luôn là công việc quan trọng, được các cộng đồng dân cư nơi đây tiến hành thường xuyên, bền bỉ trong suốt chiều dài lịch sử.
Cho đến thời phong kiến, công cuộc trị thủy ở Hà Nam cũng như ở đồng bằng sông Hồng nói chung đã có những tiến bộ nhất định và đã được đặt ra trên phương diện nhà nước. Từ thời Lý - Trần đến thời Lê - Nguyễn đều đặt ra các chức quan chuyên lo việc đê điều, thuỷ lợi. Tuy vậy việc tổ chức trị thủy và mở mang thủy lợi, thủy nông vẫn chủ yếu dựa vào cộng đồng các làng xã. Do đó, phần lớn các công trình thủy lợi, thủy nông mang tính cục bộ, khả năng chống lụt lội, thoát úng và phòng chống thiên tai thấp. Nạn vỡ đê, ngập lụt thường xuyên xảy ra ở nhiều địa phương trong tỉnh. Từ năm Tự Đức thứ 7 đến thứ 11 (1854 - 1858) các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục đều bị nước lụt ngập sâu hơn 10 thước, có chỗ 14 thước, 333 người chết đuối, 6.671 nóc nhà trôi và đổ nát. Năm Minh Mạng thứ 13 (1832), đê xã Bạch Sam, Hoà Khê (huyện Duy Tiên) bị vỡ. Mùa thu năm ấy quãng đê thuộc huyện Duy Tiên từ Dưỡng Hoà đến Lương Cổ dài hơn 10.000 trượng lại vỡ 4 đoạn, còn lại đều sụt lở. Năm Minh Mạng thứ 21(1840) đê sông Con huyện Thanh Liêm vỡ ở địa phận những xã Kiện Khê, Ninh Phú, An Xá dài hơn 17 trượng. Đồng đất Hà Nam hầu hết chỉ cấy được vụ chiêm, còn vụ mùa vẫn thường bị ngập lụt, mênh mông nước.
Đến thời Pháp thuộc, tuy bộ máy quản lý đê điều thuỷ lợi được xác lập và chính quyền thuộc địa đã cho xây dựng một số công trình thuỷ lợi quy mô khá lớn thời bấy giờ như cống Phủ Lý, cống Nhật Tựu, cống Ba Đa (trên sông Nhuệ), đập Phúc trên sông Châu (ở huyện Duy Tiên),... song hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông ở Hà Nam vẫn còn rất yếu kém. Hạn hán, lụt lội vẫn là nỗi lo đè nặng lên cuộc sống của người dân. Phần lớn diện tích lúa vẫn chỉ cấy được một vụ trong năm. Chẳng hạn như ở huyện Bình Lục, việc canh nông “chỉ trông về vụ chiêm”, “vụ tháng mười thì nhiều ruộng bị úng thuỷ, năm nào mưa ít, úng nhỏ thì cấy chia ba được ngót một phần lúa mùa”; năm nào mưa nhiều, nước lớn thì “nước ngập đầy đồng, không tiêu thoát được nên nhiều ruộng để đồng trắng, nước trong”. Năm 1934, cả huyện Bình Lục chỉ cấy được 9.000 mẫu lúa mùa (bằng 27,6% diện tích lúa vụ chiêm), nhưng do mưa nhiều, úng lụt lớn nên bị mất tới 7.000 mẫu(1).
Đến năm 1945, nạn vỡ đê và lụt lội ở Hà Nam vẫn hoành hành dữ dội. Đê Bắc sông Châu bị vỡ ở Lạc Tràng và Quang Âm (huyện Duy Tiên). Các bối Vũ Điện, Thanh Nga, Phương Trì đều bị vỡ. Nước lụt từ tràn về làm cho nhiều nơi trở thành những vùng nước mênh mông. Do vậy, ngay sau Cách mạng tháng Tám, đảng bộ, chính quyền và nhân dân Hà Nam đã bắt tay ngay vào việc cải tạo thuỷ lợi, tu bổ đê điều, đào đắp kênh mương phục vụ cho phát triển sản xuất. Những năm từ 1946 - 1954, mặc dù cuộc kháng chiến chống Pháp diễn ra ác liệt, nhưng công tác này vẫn được tiến hành một cách ráo riết, thường xuyên. Nhân dân đấu tranh đòi địch phải cho lấp nhiều hố công sự ở mặt đê và chân đê, đắp lại đoạn đê Hữu Bị, sửa các cống ở Lạc Tràng, Thanh Khê và Thanh Nghị(2).
Sau khi Hà Nam được hoàn toàn giải phóng (tháng 7/1954), toàn tỉnh có 6 tuyến đê với tổng chiều dài 272 km theo chiều sông Hồng, sông Đáy, sông Đào, sông Châu và sông Sắt cùng 40 km đê bối. Các đoạn đê Hữu Bị (sông Hồng) Hoành Uyển (sông Châu), Cốc Thành (sông Đào), Bình Điền (sông Sắt) là những đoạn rất xung yếu. Cống 12 cửa ở thị xã Phủ Lý bị Pháp phá hoại ngay trước khi chúng rút chạy. Trước tình hình đó, từ tháng 7 đến tháng 9/1954, tỉnh và các địa phương trong tỉnh đã tập trung huy động 252.514 ngày công lao động, đào đắp 46.488m3 đất, sử dụng 606 m3 đá hộc, 8.186 cây tre, luồng và nhiều loại vật liệu khác để củng cố đê điều; đắp mới 7 con bối với chiều dài 3km. Các cống lớn và nhiều đoạn đê bối xung yếu đã được tu bổ, như đoạn đê từ Lạc Tràng đến cống Điệp, từ cống Điệp đến Lý Nhân, Bình Lục về Phủ Lý,... Ban chỉ huy phòng chống lụt bão được thành lập từ tỉnh đến các xã. Lực lượng xung kích bảo vệ đê điều được tổ chức thành từng đội để thường trực ứng cứu kịp thời trong mùa mưa bão.
Năm 1955 tỉnh đã thành lập 4 công trường thủy lợi lớn trên các tuyến đê sông Hồng, sông Đáy, sông Đào và sông Châu, với lực lượng huy động 20.000 dân công, đào đắp 390.000 m3 đất. Riêng công trường đê quai Hữu Bị đã có 8.000 dân công, 1.000 bộ đội tham gia. Công trình này hoàn thành vào ngày 25/7/1955. Các hệ thống nông giang trong tỉnh cũng được sửa chữa nạo vét. Chỉ trong 6 tháng đầu năm 1955, toàn tỉnh sửa chữa, đào đắp 128 mương, ngòi; hoàn thành cống Liên Mạc trên sông Đáy bảo đảm dẫn nước tưới tiêu cho 5.222 mẫu ruộng. Năm 1955, Hà Nam là tỉnh dẫn đầu công tác thủy lợi ở miền Bắc, được Chính phủ khen thưởng và được vinh dự nhận cờ thi đua của Hồ Chủ tịch.
Trong những năm 1956 - 1957, công tác thủy lợi, thủy nông ở Hà Nam tiếp tục được đẩy mạnh. Thời gian này, tỉnh đã xây dựng đập Cát Tường (huyện Bình Lục), đập Mạc Thượng (huyện Lý Nhân), đào sông Bược và sông Giáp (huyện Duy Tiên), sông Hoàng Tây (huyện Kim Bảng), tu sửa 167 máng cũ, 544 con mương, với tổng chiều dài gần 323 km. Diện tích được tưới tiêu trong tỉnh tăng thêm 5.825 mẫu. Ngày 14-1-1958, Hà Nam được vinh dự đón Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Người khen ngợi cán bộ và nhân dân Hà Nam có nhiều thành tích trong sản xuất và phòng chống hạn, trao cờ thi đua chống hạn khá nhất cho huyện Bình Lục và tặng 9 huy hiệu của Người cho những cá nhân có thành tích xuất sắc trên mặt trận thuỷ lợi. Người đã thăm cán bộ và nhân dân xã Yên Mỹ (Bình Lục) đang lao động đắp đập Cát Tường để lấy nước cho đồng ruộng.
Những năm tiếp sau, từ 1958 - 1960, toàn tỉnh đã đào mới và nạo vét 750 km mương máng, đắp 2.800 km đường vệ nông, nâng cấp 60 km đê bối và xây mới hàng trăm cầu cống với khối lượng 20 triệu m3 đất đá (gấp 3 lần thời kỳ 1955 - 1957). Huyện Lý Nhân là huyện điển hình về phát triển thuỷ lợi của tỉnh, xã Xuân Khê (của huyện Lý Nhân) trở thành lá cờ đầu toàn miền Bắc về phong trào làm thủy lợi, được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba.
Thời kỳ từ 1960 -1964 tỉnh đã thực hiện quy hoạch hệ thống thuỷ lợi, hoàn thành xây dựng cống lớn Phủ Lý và 26 công trình điều tiết thuỷ nông khác, xây dựng 2 trạm bơm ở hữu ngạn sông Đáy (huyện Kim Bảng). Năm 1962, toàn tỉnh đã huy động hom 430 nghìn ngày công, 90 máy bơm các loại, 2.628 guồng nước và 50.264 gầu để phục vụ chống hạn. Huyện Bình Lục huy động 6.000 ngày công nạo vét sông Ngân. Huyện Duy Tiên nạo vét máng Giáp Ba, đắp máng Duy Minh, Bạch Thượng. Huyện Lý Nhân huy động 5.000 ngày công nạo vét máng Mạc Thượng, Đồng Lư, đào đắp máng Hội Đồng, Phú Đa... Năm 1963, tỉnh tiếp tục huy động hơn 700 nghìn ngày công, đào đắp nạo vét 172.650 m3 thủy lợi. Ngày 2/1/1963 khởi công xây dựng cống Vĩnh Trị trên sông Sắt (lấy tên là cống Mỹ Tho). Đây là một công trình trong hệ thống thủy lợi bắc Nam Định, phục vụ tưới tiêu cho 3.700 ha ruộng của 3 huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên của Nam Định và 3 huyện phía nam của Hà Nam. Huyện Lý Nhân vẫn là huyện có phong trào phát triển thủy lợi, thủy nông mạnh nhất trong toàn tỉnh.
Tính chung trong 3 năm, từ 1961 đến 1964, vốn đầu tư cho thủy lợi của tỉnh là 4 triệu đồng, chiếm 70% vốn cho nông nghiệp và gấp 4 lần số vốn cho thuỷ lợi từ năm 1958 -1960. Toàn tỉnh đã củng cố, xây dựng trên 3.400 công trình thủy nông các loại, trong đó 600 kênh mương dài 1.010km, hơn 2.000 bờ vùng dài 1.980km, trên 1.000 cầu cống, huy động hơn 12 triệu ngày công, đào đắp trên 23 triệu m3 đất (gấp 2 lần thời kỳ 1958 - 1960 và gấp 5 lần thời kỳ 1955-1957). Kết quả của những nỗ lực này là đã có hơn 1.500 ha ruộng chỉ cấy được một vụ trước đây nay đã canh tác được 2 - 3 vụ.
Năm 1964, Nhà nước đầu tư và xây dựng một đường điện cao thế 35 KV từ Văn Điển đi Hà Nam - Nam Định và 7 trạm bơm điện với 175 máy nhằm tiêu úng cho 7.536 ha và chống hạn cho 11.880 ha đất canh tác (trạm bơm cầu Sắt 48 máy, cầu Ghéo 38 máy, Tiên Tân 5 máy, Kim Bình 12 máy, Bược 24 máy và Bích Trì 24 máy). Đến cuối năm 1964 đã có 132 xã và 99,5% HTX nông nghiệp xây dựng xong quy hoạch thủy lợi, có 97,5% số HTX đã tổ chức được đội thuỷ lợi chuyên môn. Tổng khối lượng đào đắp thủy lợi của cả tỉnh lên đến 11,6triệu m3 đất với gần 7 triệu ngày công (bình quân đầu người đào đắp 26,77m3 gấp 2 lần năm 1962); xây dựng 11 trạm bơm điện (với 89 máy bơm) và trang bị, lắp đặt 144 máy bơm dầu ở các trạm bơm nhỏ. Trên 37.457 ha đất canh tác được tưới tiêu chủ động.
Từ năm 1965, sau khi sáp nhập tỉnh với Nam Định, việc phát triển thuỷ lợi, thuỷ nông trên địa bàn Hà Nam vẫn tiếp tục được đẩy mạnh. Tháng 11-1965, khởi công xây dựng trạm bơm Hữu Bị với 4 máy, công suất 25.000m3/h/máy. Công trình gồm trạm biến thế, cống, đập, âu thuyền, hệ thống bối và trạm đặt máy bơm. Khối lượng đào đắp và xây dựng là 180.000m3 đất; 5.643 m3 bê tông. Công trình này đã góp phần quan trọng vào việc cải tạo đồng ruộng của các huyện phía Nam của Hà Nam, tạo thuận lợi cho việc thâm canh, tăng vụ và đưa giống mới vào sản xuất đại trà.
Cũng trong thời gian này, các địa phương trên địa bàn của tỉnh đã tập trung cải tạo đồng ruộng, hình thành các vùng tưới tiêu chủ động liên hoàn. Hoàn thành nạo vét, đào đắp mương máng cấp I, cấp II và một phần máng cấp II của hệ thống Liên Mạc và Mộc Nam, hoàn thành hệ thống tiêu úng và các trạm bơm điện nhỏ, hoàn thành lắp đặt máy móc, thiết bị cho trạm bơm Hữu Bị và Vĩnh Trị, khởi công xây dựng hai công trình đầu mối là Như Trác và Nham Tràng. Tiếp tục tu bổ, củng cố vững chắc đập Đồng Sơn, cống Hang Luồn, hoàn thành quy hoạch tưới tiêu các trạm bơm Thi Sơn, Châu Sơn, La Mát. Chuyển các trạm bơm dầu Thi Sơn, Khả Phong, Phù Vân thành trạm bơm điện, đồng thời xúc tiến nghiên cứu xây dựng đập chứa nước Đồng Thượng, hệ thống tiêu cho khu vực La Phúc... Năm 1970, tỉnh đã tổ chức được lực lượng phòng chống bão lụt lên đến gần 55.000 người, chia thành 2.171 đội, trong đó có 790 đội xung kích được trang bị đầy đủ phương tiện, canh trực thường xuyên để sẵn sàng đối phó với bão lụt. Nhờ những nỗ lực to lớn này mà Hà Nam đã tránh được trận lũ lớn ở đồng bằng sông Hồng năm 1970.
Tuy vậy, những trận bão lụt lớn liên tiếp trong những năm 1970 - 1971 đã làm cho hệ thống thuỷ lợi, thuỷ nông trên địa bàn của tỉnh bị đe dọa nghiêm trọng. Năm 1971, 3 trận bão lớn liên tiếp đổ bộ vào Hà Nam làm ngập lụt tới gần 3 vạn ha ruộng tại các huyện Kim Bảng, Duy Tiên, Lý Nhân, Thanh Liêm và Bình Lục. Ngày 22-8-1971 đê sông Hồng ở Lý Nhân, Duy Tiên bị tràn 21 đoạn với chiều dài 16,9km; 18 đoạn bị sụt với chiều dài 3,9km, có 6 đoạn bị mạch sủi, lỗ rò rỉ, có chỗ đường kính tới 15 cm. Đê sông Đáy đoạn ở huyện Kim Bảng bị sạt 3 đoạn dài 120m, nứt mặt ở Kim Thượng. Đê sông Nhuệ, sông Châu nước dâng cao gây tràn bờ. Đê sông Nhuệ ở Hoàng Đông, Hoàng Tây cũng bị vỡ. Đê Hoành Uyển phải cơi nới, có 5 đoạn sạt lở nên phải đắp thành 2 tuyến phòng ngự. Đê Bắc sông Châu phải khơi con trạch chống tràn, nhiều đoạn ở Lạc Tràng bị sạt. Cống Hữu Bị bị tràn cánh. Các cống Gốm (huyện Kim
Bảng), cầu Gừng, Tri Ngôn, Trung Thứ (huyện Thanh Liêm) đều bị rò rỉ. Các địa phương trong tỉnh lúc bấy giờ đã phải huy động đào đắp mỗi ngày từ 70 - 80 nghìn m3 đất, 73.000 cây tre/120.000 bao tải, hơn 1.000 m3 đá hộc và hàng nghìn phương tiện vận tải cho đợt phòng chống lụt bão này.
Để nâng cao hơn nữa khả năng phòng chống thiên tai, đảm bảo tốt hơn cho sản xuất và đời sống của nhân dân, từ năm 1972, các địa phương trong tỉnh đã tiến hành quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển đồng bộ hệ thống thủy lợi, thủy nông trên địa bàn; đồng thời thành lập các đội thủy lợi chuyên trách (gọi tắt là Đội 202) để thường trực đảm nhiệm công việc thuỷ lợi, thuỷ nông. Các đoạn đê chính phải đào đắp thời gian này là đoạn đê Hữu Bị dài 300 m, đoạn đê Như Trác dài 1.000 m, cống Phủ Lý dài 600 m, cầu Đoạn Vĩ dài 400 m. Cũng để hạn chế thiên tai, tỉnh tập trung củng cố khép kín các tuyến đê, khoanh vùng ở tuyến 1 từ đường 38 Hữu Bị theo đê Ất Hợi, Nam sông Châu đến An Bài theo tả ngạn sông Sắt về Vĩnh Trụ; tuyến từ cầu Giẽ đến Hoành Uyển đi theo bờ Bắc sông Châu về Phủ Lý; tuyến từ trạm bơm Như Trác về Đinh Xá... Các trạm bơm Vĩnh Trụ, Lạc Tràng, Như Trác và các cống như cống Quế, cống Mộc Nam, Vũ Xá, Phủ Lý... tiếp tục được gia cố, bảo vệ. Mỗi huyện tổ chức một lực lượng từ 250 - 300 người để ứng cứu đê khi có báo động cấp III hoặc khi đê bị máy bay địch đánh phá. Lực lượng hộ đê của tỉnh có hơn 1.000 người biên chế thành 5 đội xung kích và 1 đội cơ giới thường trực ở khu vực Như Trác.
Đến giữa những năm 1970, phần lớn diện tích canh tác ở Hà Nam đã được tưới tiêu nước chủ động. Huyện Bình Lục có diện tích được tưới nước thủy lợi là 9.984 ha chiếm 76% diện tích canh tác; diện tích được tiêu nước bằng thuỷ lợi là 10.444 ha đạt 79,6%. Huyện Kim Bảng có diện tích được tưới là 5.638 ha, đạt 69,5%; diện tích được tiêu là 5.968 ha, chiếm 73,6%. Diện tích được tưới bằng thủy lợi ở huyện Lý Nhân là 6.289 ha (67%) và tiêu là 6.263 (66%); ở huyện Duy Tiên là 6.570 ha (79,8%) và 6.699 ha (81,3%); ở huyện Thanh Liêm là 5.405 ha (62,9%) và 5.532 ha (đạt 64,4%). Thị xã Phủ Lý có diện tích được tưới bằng thủy lợi là 123 ha và tiêu bằng thủy lợi là 183 ha. Đến năm 1976, hầu hết các địa phương trên địa bàn Hà Nam đã căn bản hoàn chỉnh hệ thống thủy lợi, thủy nông.
Từ sau khi tái lập tỉnh (1997), hệ thống thuỷ lợi, thủy nông của Hà Nam tiếp tục được hoàn thiện và nâng cấp theo hướng kiên cố hóa. Năm 2001, Hà Nam làm mới cống Vũ Điện, cống Phương Trà, sửa chữa cống chợ Xưa, Lý Nhân và Mộc Nanh, đưa vào sử dụng các trạm bơm Yên Lệnh, Võ Giang Hữu Bị II, An Đổ và nhiều trạm bơm nhỏ ở các xã. Sửa chữa 217 cống, sửa chữa và nâng cấp 73 trạm bơm quy mô từ 1.000m3/ha. Hệ thống thủy nông đã đảm bảo tưới tiêu cho 38.063 ha lúa đạt 103% kế hoạch, 11.191 ha cây vụ đông đạt 86,1% kế hoạch, góp phần đưa năng suất cả năm đạt 105 tạ/ha.
Đến năm 2002, Hà Nam đã có 303,3 km kênh các loại được kiên cố hoá với kinh phí 141,4 tỷ đồng. Cũng trong năm 2002, toàn tỉnh đã đào đắp 198.480m3 đất tu bổ cho hệ thống đê điều, trong đó đê sông lớn là 67.703m3 đê sông con là 34.777m3. Nạo vét, tu sửa kênh mương các loại với khối lượng đào đắp được trên 1,3 triệu m3 đất; sửa chữa 177 công trình cống đập, xi phông, cầu máng với kinh phí 2.644 tỷ đồng. Trung tiểu tu 745 máy bơm và 56 nhà trạm.
Đến nay, hệ thống đê điêu và thuỷ lợi, thủy nông của Nam Hà gồm có các hệ thống, công trình chủ yếu:
- Đê, bối sông gồm có: Đê cấp I (sông Hồng) dài 38,973 km; đê cấp II (sông Đáy) dài 49.516 km. Đê cấp IV, cấp V gồm đê Sông Nhuệ dài 22,9 km; sông Châu dài 29 km (không kể sông Châu là trục tiêu của trạm bơm Hữu Bị I và Hữu Bị II) và đê sông Hoành Uyển (huyện Duy Tiên) 16,7 km. Bối sông Hồng dài 23,3 km; bối sông Đáy dài 22,4 km, bối sông Châu là 25,1 km.
- Mỏ đá kè đê sông Hồng có 34 mỏ. Kè lát mái hệ bờ dài 3.571m trong đó sông Hồng là 1.381m và sông Đáy là 2.190m. Tường kè sông Đáy 4.295m, trong đó tường kè bê tông là 3.450 và tường đá là 845m.
- Hệ thống cống dưới đê gồm: 10 cống đê sông Hồng, 22 cống đê tả sông Đáy và 158 cống trên đê các sông con.
- Hệ thống các công trình thủy nông chính gồm: Kênh tưới dài 3.065 km, trong đó kênh tưới cấp I là 143 km; kênh tưới cấp II là 334 km. Kênh tiêu là 1.458 km, trong đó kênh tiêu cấp I là 235 km, cấp II có 580 km và kênh tiêu cấp III là 389,5km. Toàn tỉnh hiện có 331 trạm bơm với 995 máy các loại công suất từ 540 m3 đến 32.000 m3/h/máy.
Hệ thống tổ chức quản lý, khai thác và phát triển thủy lợi, thủy nông ở Hà Nam hiện nay gồm có: Công ty Khai thác công trình thủy lợi Nam Hà Nam, Công ty Khai thác công trình thuý lợi Kim Bảng và Công ty Khai thác công trình thủy lợi Duy Tiên; với tổng số cán bộ, công nhân viên là 329 người, trong đó có 38 người có trình độ đại học. Trong đó, Công ty Khai thác công trình thuỷ lợi Nam Hà Nam trực thuộc điều hành của Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hà, với hệ thống công trình đầu mối gồm 9 trạm bơm, 8 trục sông tiêu chính với tổng chiều dài 115 km, 1 kênh tưới chính Hữu Bị dài 8,7 km, 8 đập điều tiết phân lưu, có nhiệm vụ tưới tiêu cho 17.617 ha của 3 huyện Lý Nhân, Thanh Liêm và Bình Lục. Ngoài ra, Công ty Khai thác công trình thủy lợi Bắc Nam Hà còn đảm nhận tưới tiêu nước cho 3 huyện của tỉnh Nam Định là Ý Yên, Vụ Bản và Mỹ Lộc với diện tích tưới tiêu là 22.597,2 ha.
Việc phát triển thủy lợi, thủy nông đã góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp, nông thôn, xóa đi hình ảnh của những vùng đất Hà Nam xưa “quanh năm chiêm khê, mùa úng”. Đó là biểu hiện của lòng kiên trì, sức sáng tạo và tinh thần lao động bền bỉ của các thế hệ người Hà Nam trong quá trình xây dựng và phát triển quê hương.
• Các công trình thủy lợi, thủy nông quan trọng ở Hà Nam
• Đê sông Hồng và sông Đáy: Đê sông Hồng trên địa bàn Hà Nam dài 38,973 km, từ xã Mộc Bắc (huyện Duy Tiên) đến Hòa Hậu (huyện Lý Nhân). Đoạn đê này còn có 23,3 km đê bối, 10 cống dưới đê và các trạm bơm tưới, tiêu quan trọng như Yên Lệnh, Như Trác... Đê sông Đáy, dài 49.516 km, từ xã Tân Sơn (huyện Kim Bảng) đến xã Thanh Hải (huyện Thanh Liêm). Đoạn đê này có 22 cống dưới đê và nhiều công trình, trạm bơm thuỷ lợi khác.
• Trạm bơm Như Trác và hệ thống kênh máng Điện Biên: Trạm bơm nằm trên địa bàn xã Nhân Thịnh (huyện Lý Nhân) được xây dựng từ năm 1964 - 1967. Trạm có 6 máy, công suất 11.000 m3/h/máy, có nhiệm vụ tưới và tiêu cho 6.800 ha với lưu lượng 13,03m3/s. Hệ thống kênh máng dài hơn 30 km, tưới nước cho các xã ở huyện Bình Lục.
• Trạm bơm Hữu Bị: Xây dựng đầu tháng 11/1965 nằm trên địa bàn xã Mỹ Trung (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định) trạm có 4 máy, công suất mỗi máy 32.000 m3/h, lưu lượng thiết kế: tiêu 35,56 m3/s, tưới 17,78 m3/s. Trạm phục vụ tưới cho 2.900ha và tiêu cho 8.400 ha của Hà Nam.
• Trạm Bấy Cửa thuộc địa bàn xã Trác Văn (huyện Duy Tiên), công suất 37.000 m3/h.
• Trạm bơm Bược I, Bược II: Tổng công suất 45.000 m3/h và trạm bơm Lạc Tràng công suất 29.000 m3/h thuộc địa bàn xã Lam Hạ (thị xã Phủ Lý).
• Trạm bơm Nham Tràng thuộc xã Thanh Tân (Thanh Liêm), được xây dựng từ những năm 70 của thế kỷ XX. Trạm có 6 máy, công suất 11.000 m3/máy. Trạm có nhiệm vụ tưới tiêu cho 6.037 ha với lưu lượng thiết kế tưới 6,53m3/s và tiêu 23, 7 m3/s.
• ác công trình mới được xây dựng, cải tạo, nâng cấp từ 1990 đến nay
• Trạm bơm Quế (huyện Kim Bảng) với 9 máy, mỗi máy 8.000 m3/h và trạm bơm Lạc Tràng (huyện Duy Tiên) với 10 máy, mỗi máy 8.000m3/h, xây dựng từ 1990-1993.
• Trạm bơm Đinh Xá (huyện Bình Lục) với 12 máy, mỗi máy 4.000m3/h, bổ sung trạm bơm Triệu Xá (huyện Thanh Liêm) với 5 máy mỗi máy công suất 4000 m3/h; xây dựng từ 1995 - 1997.
• Trạm bơm Võ Giang (huyện Thanh Liêm) có 5 máy, công suất mỗi máy 8.000 m3/h, xây dựng từ 1998 - 2000.
Trạm bơm Yên Lệnh: Nằm trên địa bàn xã Chuyên Ngoại huyện Duy Tiên được khởi công tháng 3/1997 với công suất thiết kế 81.000 m3/h, tổng kinh phí đầu tư 36,5 tỷ đồng. Tháng 1/2001 công trình được đưa vào sử dụng, công trình gồm: bể hút, bể xả, kênh dẫn, cống xá qua đê... Trạm bơm đưa vào sử dụng đáp ứng nhu cầu tưới tiêu cho hơn 8.000 ha đất canh tác của 2 huyện Duy Tiên (Hà Nam) và Phú Xuyên (Hà Tây) đồng thời giúp các địa phương có thể chủ động lấy nước phù sa sông Hồng để cải tạo đất.
14/8/2019
Theo https://baohanam.com.vn/

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét

Thơ viết cho ai

Thơ viết cho ai? Trước tiên, nhà thơ viết cho chính anh ta. Theo kiểu nói của Đức Phật, tôi là bằng hữu của chính tôi. Trong con người của...