HÀ NAM THỜI KỲ CẬN ĐẠI
Thời kỳ lịch sử từ 1858 đến 1945, là thời kỳ nước ta bị thực dân Pháp xâm
lược và thống trị. Đây là một thời kỳ đấu tranh bất khuất của dân tộc Việt Nam
chống ách áp bức và bóc lột của kẻ thù trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nhân
dân Hà Nam trực tiếp cầm súng đánh quân xâm lược khi chúng tấn công Lý Nhân từ
ngày 26/11/1873. Trong cuộc chiến đấu bi hùng quyết liệt đó, kể từ năm 1930, đã
xuất hiện sự kiện cực kỳ mới mẻ quyết định vận mệnh đất nước. Đó là sự ra đời
của Đảng Cộng sản Đông Dương (tức Đảng Cộng sản Việt Nam ngày nay). Sự ra đời
của Đảng đánh dấu hai giai đoạn phát triển khác nhau về tính chất của lịch sử
cận đại Việt Nam. Trên phương diện lịch sử mỗi địa phương, sự ra đời của Đảng ở
Trung ương và ở các địa phương là một mốc có ý nghĩa như vậy. Do đó, lịch sử
cận đại Hà Nam có thể được chia làm 2 giai đoạn với mốc chuyển biến vào khoảng
năm 1929 - 1930. Từ khi Pháp thống trị, đất nước nói chung, Hà Nam nói riêng
bắt đầu có nhiều biến đổi mới mẻ về nhiều phương diện so với xã hội truyền
thống. Những gì chính quyền thuộc địa đã làm về cơ bản và chủ yếu là để phục vụ
lợi ích thực dân. Còn nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến đấu kiên trì vì độc
lập, tự do, vừa biết bảo toàn những giá trị truyền thống, lại biết tiếp thu học
hỏi những giá trị tinh hoa của nhân loại kể cả của nhân dân Pháp mà thực dân
Pháp đã đem theo trong thời kỳ cai trị nước ta.
I. HÀ NAM THỜI KỲ TRƯỚC KHI CÓ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM (1858 1929)
1. Tổ chức hành chính và cư dân Hà Nam
Hà Nam là một tỉnh nhỏ song mật độ dân cư lại thuộc loại cao nhất.
Như đã trình bày trong phần Địa lý, năm 1831, khi tỉnh Hà Nội được thành
lập gồm 4 phủ, trong đó có phủ Lý Nhân. Đất Hà Nam ngày nay là toàn bộ phủ Lý
Nhân hồi đó được mở rộng thêm về phía tỉnh Nam Định và về phía Hà Nội (do vậy
có người đã coi đây là cơ sở của tên gọi Hà Nam).
Hà Nam nằm trong tỉnh Hà Nội, được đặt dưới quyền cai quản của hệ thống
quan lại Hà Nội từ tỉnh đến xã theo hệ thống sơ đồ dưới đây:
Như vậy, trước năm 1890, với tư cách một phủ bao gồm 5 huyện, Lý Nhân đã có
các chức tri phủ, tri huyện với bộ máy quan lại cấp từ phủ, huyện xuống tổng và
xã. Mỗi cấp phủ, huyện, tổng đều có các thuộc lại dưới quyền về các mặt quân
sự, thuế má và luật pháp. Nhưng thường các viên tri phủ, tri huyện nắm quyền
cai trị chung và đặc trách các việc tố tụng xử án. Dưới quyền có các chức đề
lại, thông lại, huấn đạo, lễ sinh, suất đội... Ở cấp cuối cùng, tức làng hay
xã, thì hình thức chính quyền phổ biến tại vùng đồng bằng Bắc Kỳ là một bộ máy
quản lý gồm 2 bộ phận: Hội đồng kỳ mục và chức dịch hay lý dịch. Đây là một
loại hình chính quyền đặc biệt mang dấu ấn lịch sử của làng xã Việt
Nam (1). Bộ phận thứ nhất gồm tiên chỉ, thứ chỉ và các kỳ mục. Bộ phận này
nắm quyền phán quyết mọi việc trong làng xã. Bộ phận thứ hai gồm lý trưởng, phó
lý và các dịch mục, có nhiệm vụ thực hiện các quyết định và ứng xử với chính
quyền cấp trên. Lý trưởng và phó lý do Hội đồng kỳ mục cắt cử ra. Như vậy,
chính quyền cơ sở cấp làng xã là một hình thức chính quyền kết hợp Nhà nước và
làng xã, vừa đại diện cho làng xã, vừa đại diện cho Nhà nước trung ương.
(1): Xem: Vũ Huy Phúc - “Tổ chức quản lý xã thôn (chức năng và tính chất)”.
Nông thôn Việt Nam trong lịch sử, tập II. NXB. Khoa học xã hội. Hà Nội - 1978.
Nói cách khác là một hình thức chính quyền lưỡng tính, trong đó tính làng
xã nhiều khi chiếm vị thế ưu thắng, làm cho làng xã mang tính độc lập trong một
chừng mực nào đó so với Nhà nước. Ở phủ Lý Nhân, hình thức chính quyền từ phủ
xuống xã đều giống như tình hình đã trình bày trên và cũng tương tự như tất cả
các địa phương khác ở vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Từ sau năm 1890, khi phủ Lý Nhân được tách ra, mang danh một tỉnh dù là
tỉnh vào loại bé nhất thì hình thức chính quyền có sự thay đổi theo một chính
quyền bảo hộ, hay thực chất là một chính quyền thuộc địa Pháp (Xem sơ đồ
sau):
Trên đây là sơ đồ chung ở các tỉnh Bắc Kỳ. Riêng ở Hà Nam, có tài liệu cho
biết Hà Nam có một viên Công sứ Pháp, về phía chính phủ Nam triều thì có một
viên Tuần phủ (1), giúp việc Tuần phủ có viên Bố chính hoặc Án sát và Đốc
học. Công sứ Pháp kiểm soát các việc quan lại trong tỉnh, có quyền đề nghị Nam
triều thuyên chuyển quan lại và triều đình Huế không được từ chối. Công sứ còn
kiểm soát việc thu và chi dùng thuế với sự giúp đỡ của viên Bố chính. Giúp việc
Công sứ là một khối các cơ quan gọi chung là Tòa sứ, coi sóc các cơ quan chuyên
trách như kho bạc, thương chính, bưu điện, giao thông công chính (hay lục lộ)
trước bạ, đạc điền, thú y, giáo dục, bệnh viện... Về tư pháp, Công sứ xét xử
các vụ liên quan giữa người Âu với người Âu, người Âu với người Việt hoặc với
người châu Á. Nếu có kháng án thì phải kháng nghị ở Tòa án Sài Gòn. Ngoài Tòa
án Tây chuyên xử các vụ chính trị, đàn áp hoạt động chống Pháp còn có Tòa án
Nam phụ trách những vụ hình sự thông thường.
(1): Công sứ Pháp đầu tiên năm 1890 là Phera. Lúc ấy triều Huế chưa bổ Tuần
phủ Hà Nam mà mọi việc do viên Bố chính đảm nhiệm. Mãi đến năm 1904, Hà Nam mới
có Tuần phủ của Nam triều là Nguyễn Hữu Đắc. Năm 1923, sau khi Hà Nam từ cấp
Đại Lý trở lại là tỉnh thì Công sứ Pháp được Thống sứ Bắc Kỳ bổ nhiệm là
Phoócxăng Pie. (Theo cuốn Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tập I (1927 - 1975) do
Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam xuất bản năm 2000, tr.31 - 32).
Dưới cấp tỉnh là các tri phủ và tri huyện kiêm trách mọi việc hành chính tư
pháp. Cấp tổng với chánh và phó tổng là cấp trung gian giữa phủ, huyện với xã.
Một quan chức người Pháp đã nhận xét như sau về chính quyền ở cấp làng xã
Hà Nam kể từ năm 1890: “Cai trị làng xã là lý trưởng bên cạnh hội đồng kỳ mục.
Lý trưởng được công sứ bổ nhiệm trên cơ sở giới thiệu của các kỳ mục và của
những địa chủ thường giàu có nhất, những người trực tiếp liên quan tới việc
quản lý tốt các công việc làng xã... Lý trưởng không phải là viên kỳ mục quan
trọng nhất, Tiên chỉ mới thường là có ảnh hưởng lớn nhất... Thực ra lý trưởng
chỉ là người ủy quyền của làng xã, có nhiệm vụ đứng ra làm bậc đệm cho dân
làng. Dân làng thực tế trao nguyện vọng cho lý trưởng và đẩy lý trưởng thành kẻ
thí sai chịu tội trước chính quyền cấp trên. Cạnh lý trưởng có các phó lý, một
hay nhiều tùy theo làng xã to hay nhỏ. Đối với Nhà nước, có thể nói cái đơn bào
xã hội này không phải là cá thể mà là làng xã, tự bản thân nó lập sổ dân đinh
và ruộng đất, phân bổ thuế cho các người phải nộp, tiến hành thu gom thuế, nộp
thuế vào kho bạc, trở thành một kiểu nào đó của một nước cộng hòa thực sự tự vệ
chống lại sự can thiệp của Nhà nước... Kỳ mục có nhiều hạng:
1. Các kỳ mục hạng trên, trước kia giữ những chức vụ hành chính.
2. Các kỳ mục hạng dưới, gọi là lý dịch.
Tất cả đều do xã dân cử ra, nhưng chỉ những hạng trên trong thực tế mới có
quyền hành trong làng xã và quyết định mọi vấn đề theo ý mình. Những kỳ mục
hạng dưới thường chỉ có nhiệm vụ chấp thuận và vào sổ các quyết định của kỳ
mục, chỉ làm những nhiệm vụ thứ yếu trong làng như đi thu thuế, trông coi đồng
áng, tuần phòng v.v...
3. Cuối cùng là các “Nhiêu”, những người mua chức danh để được có chỗ trong
các cuộc tế lễ chung... (1).
(1) Xem: Lorin - “Notice sur la province de Ha Nam” trong Tạp chí Revue
Indochinoise, số 12 năm 1905, tr 890 - 891.
Kể từ đầu thế kỷ XX, chính quyền thuộc địa chuyển dần từ ý định duy trì
hiện trạng chính quyền xã sang chính sách cải cách hương chính, nhằm can thiệp
ngày một nhiều hơn vào việc cai trị các xã (các năm cải cách là 1921, 1927 và
1941). Tuy vậy tình hình thực tế các xã vẫn luôn cho thấy đó là những mảnh trời
riêng của các giai cấp và đẳng cấp trên trong từng xã.
Về mặt quân sự, thời kỳ trước 1890, phủ lỵ của Hà Nội từng là một địa điểm
chiến lược sát kinh đô. Khi Pháp đánh xuống Phủ Lý lần đầu tiên vào ngày
26/11/1873, thì ở đây đã có thành. Thành đắp bằng đất, chu vi 327 trượng (1
trượng = khoảng 4 mét) cao 7 thước 2 tấc, hào rộng 5 trượng, mở 3 cửa, đặt tại
xã Châu Cầu (huyện Kim Bảng), sau là huyện lỵ hai huyện Thanh Liêm và Duy
Tiên (2). Ngoài ra các huyện Nam Xang, Bình Lục đều có thành nhỏ hơn chút
ít. Các tài liệu không cho biết quân số, chỉ biết khi Pháp đánh phủ Lý Nhân và
quân Việt phải rút lui thì trong thành còn 30 khẩu thần công, 60 súng tay,
nhiều lương thực (khoảng 50 tấn thóc và gạo).
Như vậy, Phủ Lý là một địa điểm quân sự có tầm quan trọng ở phía Nam Hà
Nội. Tài liệu Pháp cho biết: “Vị trí của Phủ Lý, nơi hợp lưu sông Đáy với kênh
Phủ Lý trên đường từ Nam Định lên Hà Nội cách nhau 50km, đương nhiên phải xem
trung tâm bản địa này như một điểm chiến lược quan trọng. Quân đội chúng ta đã
xây dựng ở Phủ Lý một đồn binh trong đó hiện nay đã hình thành Tòa công sứ Hà
Nam. Các quân sĩ ta ở Phủ Lý năm 1886, đã phải chịu một trận dịch tả khủng
khiếp tràn lan toàn Bắc Kỳ, tới nay người ta còn thấy chỉ chừng 100m cách tòa
sứ một nghĩa địa quân đội cũ với các nấm mộ trùng điệp các binh lính nạn nhân chết
dịch” (3). Sau 1890, phủ lỵ Phủ Lý trở thành tỉnh lỵ Hà Nam và tại đây đã
có 2 trại lính: 1 trại lính khố xanh do 1 giám binh Pháp chỉ huy và 1 trại lính
cơ. Trại giám binh có 130 lính, ngoài ra còn có một số đồn lẻ rải rác trong
tỉnh; mỗi đồn có từ 15 đến 25 lính. Bên cạnh đồn lính là trại giam. Phủ Lý có 1
trại giam và ở các huyện đều có nhà giam nhỏ.
(3) Xem: Lorin. Sđd
Khi Hà Nam là một Đại lý (Délégation) trong 10 năm từ 1913 đến 1923 thì Hà
Nam trực thuộc tỉnh Nam Định. Công sứ Nam Định chỉ đạo cả Đại lý Hà Nam. Đại lý
là một cấp hành chính, không bằng tỉnh, nhưng lớn hơn phủ và huyện. Đại lý
giống như một trung tâm hành chính nhưng dưới quyền cai trị của một viên sĩ
quan Pháp toàn quyền mọi mặt. Hẳn là trong giai đoạn 1913-1923, Hà Nam trở thành
Đại lý vì những lý do về tình hình quân sự, chính trị đáng lo ngại cho chính
quyền thuộc địa. Cũng có thể chỉ để tiện cho sự khai thác kinh tế hoặc đơn giản
hóa bộ máy chính quyền.
a. Dân cư Hà Nam
Hà Nam là một tỉnh nhỏ, nhưng có mật độ dân cư cao, Hà Nam là một vùng đông
dân ở giữa đồng bằng Bắc Bộ. Thời gian trước 1890, chưa có số liệu dân số phủ
Lý Nhân. Sau 1890, khoảng năm 1904, tài liệu của Pháp cho biết, dân số Hà Nam
khoảng 300.000 dân, đa phần là người Kinh, khoảng 60 người châu Âu, 40 người
Hoa kiều. Hà Nam còn có một số ít đồng bào dân tộc thiểu số ở làng Phù Lưu
(huyện Kim Bảng). Kể từ 1908, Hà Nam có thêm châu Lạc Thủy, là địa bàn cư dân
của đồng bào Mường với số lượng chừng 1.700 người (số liệu năm 1928). Theo tài
liệu chính thức của Pháp năm 1928 thì dân số, diện tích và mật độ cư dân ở Hà
Nam như sau (1):
Hà Nam
|
Dân số
|
Diện tích
|
Mật độ người/km2
|
Huyện Lý Nhân (huyện Nam Xang)
|
115.107
|
168km2
|
685
|
Huyện Bình Lục
|
102.851
|
160km2
|
643
|
Huyện Duy Tiên
|
83.756
|
158km2
|
530
|
Huyện Kim Bảng
|
54.753
|
200km2
|
274
|
Huyện Thanh Liêm
|
64.983
|
185km2
|
351
|
Châu Lạc Thủy
|
1.312
|
269km2
|
5
|
Cộng và trung bình:
|
422.762
|
1.140km2
|
371
|
(1) Documents de Démographie et Riziculture en Indochine. Yver Henry
va Maurice de Visme. BEI, Hanoi - 1928.
Để tiện so sánh với các tỉnh khác ở Bắc Kỳ có thể xem bảng kê dưới đây:
Tỉnh
|
Dân số
|
Diện tích
|
Mật độ người/km2
|
Hà Nam
|
422.762
|
1.140km2
|
371
|
Bắc Ninh
|
394.658
|
1.098km2
|
360
|
Hải Dương
|
659.987
|
2.249km2
|
294
|
Hà Đông
|
789.451
|
1.637km2
|
483
|
Hưng Yên
|
392.396
|
881km2
|
446
|
Nam Định
|
887.236
|
1.494km2
|
594
|
Phúc Yên
|
149.630
|
692km2
|
217
|
Thái Nguyên
|
72.000
|
3.425km2
|
21
|
Như vậy, Hà Nam là một tỉnh không lớn về diện tích, nhưng đông dân. Toàn
Bắc Kỳ có số dân 6.924.893 người. Tỉnh đông dân nhất hồi đó là tỉnh Nam Định
(887.236 người), Thái Bình ít dân hơn (855.825 người), tỉnh ít dân nhất là Sơn
La (35.209 người) và Bắc Kạn (36.524 người), về mặt dân số, Hà Nam xếp thứ 5
trong số 26 tỉnh Bắc Kỳ lúc ấy (23 tỉnh và 3 Đạo quan binh):
1. Nam Định: 887.236
dân 2. Thái Bình: 855.825 dân
3. Hà Đông: 789.451
dân 4. Hải Dương: 659.987 dân
5. Hà Nam: 422.762
dân 6. Bắc Ninh: 394.658 dân
7. Hưng Yên: 392.396
dân 8. Kiến An: 335.482
dân
9. Ninh Bình: 299.704
dân 10. Phú Thọ: 253.953 dân
11. Bắc Giang: 253.882 dân 12. Sơn
Tây: 250.614 dân
13. Vĩnh Yên: 178.885
dân 14. Phúc
Yên: 149.630 dân
15. Lạng Sơn: 134.815 dân 16. ĐQB 2 Hòa An: 132.232 dân
17. Thái Nguyên: 72.000
dân 18. ĐQB2 BắcQuang:
70.743 dân
19. ĐQB 1 Móng Cáy: 66.912
dân 20. Quảng Yên: 65.000 dân
21. Yên Bái: 63.040
dân 22. Hòa
Bình: 2.949 dân
23. Lào Cai: 42.104 dân 24. Tuyên Quang: 38.000 dân
25. Bắc Kạn: 36.524
dân 26. Sơn
La: 35.209 dân
Bảng thống kê trên cho thấy Hà Nam là 1 trong 5 tỉnh đông dân nhất ở Bắc
Kỳ. Nhân dân Hà Nam đa phần là nông dân theo đạo Phật, có một bộ phận không nhỏ
theo đạo Thiên Chúa. Theo tài liệu của người Pháp, số lượng giáo dân vào khoảng
70.000 người. Đây là một đặc điểm lịch sử của Hà Nam. Đạo Thiên Chúa được
truyền vào Hà Nam từ khá sớm, nhưng từ năm 1879 (sau khi triều Nguyễn ký Hiệp
ước 1874), thì tại Kẻ Sở (cách Phủ Lý 7km), Giám mục Puginier mới cho xây dựng
nhà thờ và Tòa Giám mục giáo khu Tây Bắc Kỳ. Nhà thờ theo kiểu vòm cung có 2
tháp cao, được hoàn thành năm 1884. Quanh nhà thờ có một chủng viện lớn, một
nhà in sách đạo, các trường học do 10 giáo sĩ Pháp trông nom. Đứng đầu các cơ
sở đó là Cha tổng quản Schlicklin, một Tiến sĩ y khoa. Lãnh đạo Tòa giám mục
giáo khu này là Giám mục Gendreau (năm 1928). Nói về Thiên Chúa giáo Hà Nam,
tài liệu của Pháp cho biết:
“Không có gì phải bàn cãi về ảnh hưởng của các giáo sĩ đối với dân chúng Hà
Nam. Ảnh hưởng đó không chỉ nhận thấy trong số các tín đồ bản xứ của đạo Thiên
Chúa vào khoảng 70 ngàn giáo dân, mà cả trong số 200 ngàn dân tín đồ đạo Phật.
Về cơ bản người dân An Nam rất khoan dung, thậm chí lãnh đạm về vấn đề tôn
giáo. Họ mong sự giúp đỡ và lời khuyên một cách tự nhiên, vô tư. Cho nên họ
không hề chống đối việc chấp nhận một tôn giáo mới. Một số tục lệ của họ không
hề trái ngược lại với các giáo điều Thiên chúa giáo và chính Sắc lệnh 1742 của
giáo hoàng Benoist XIV đã làm ngăn trở sự tăng tiến của đạo Thiên Chúa ở Bắc
Kỳ. Bởi vì sắc lệnh đó coi những lễ nghi thờ phụng tổ tiên của người An Nam là
điều sùng bái cực đoan, sắc lệnh đó do sự gợi ý của các giáo phẩm dòng
Dominicains và Hội Truyền giáo nước ngoài, bất chấp ý kiến chống lại của dòng
Tên. sắc lệnh đó chắc chắn đã cản trở nhiều trường hợp theo đạo. Điều đó càng
là như vậy vì việc thờ cúng tổ tiên trong số các tín đồ Phật giáo là cơ sở cho
một thiết chế khác có tính thế tục, đó là các tài sản gọi là của Hương hỏa...
Nhìn chung, các giáo sĩ đã và đang tiếp tục tuyển lựa các tín đồ chính
trong các dân nghèo, ở xứ này, nơi mà trong một thời kỳ quá lâu người ta coi
thường quyền cá nhân, thì những người nghèo nhất thiết phải tìm những người che
chở. Các giáo đoàn trong chừng mực nào đó đã đóng vai trò ở Bắc Kỳ giống như
Giáo hội ở châu Âu thời trung cổ khi Nhà thờ được dùng làm nơi ẩn náu cho những
người bị áp bức... Nhà thờ Kẻ Sở không phải là nhà thờ duy nhất ở Hà Nam. Còn
nhiều nhà thờ ở nhiều nơi, tất cả đều được xây cất theo thị hiếu và duy bằng
nhân lực của dân sở tại, được trang trí và gìn giữ rất cẩn thận. Trong số các
nhà thờ đáng kể nhất có thể kể nhà thờ Bích Trì, An Mông, Ngô Khê
v.v... (1).
Còn về đạo Phật thì người Pháp nhận xét:
“Có khoảng 3/4 dân số Hà Nam theo đạo Phật và họ đều có nhiều chùa do bỏ
tiền của công đức xây dựng. Mỗi làng Việt Nam đều có:
1. Chùa của làng thờ Phật.
2. Các đền nhỏ hơn thờ thần, thờ các bà chúa.
3. Các miếu xây gạch thờ Khổng tử.
4. Đình làng rất lớn thờ Thành hoàng coi như ngôi nhà
chung, nơi hội họp của các kỳ lão và hương lý bàn việc làng.
... Nền văn minh Hy-La của chúng ta hầu như không có gì mới mẻ với họ về
vấn đề này, bởi lẽ người Việt Nam đã có ý thức về Tổ quốc thông qua các nhân
vật lớn từ những thời kỳ xa xưa nhất... Ở Hà Nam, chùa thờ Phật danh tiếng nhất
hay đúng hơn, cụm tổng thể nhiều chùa nổi tiếng được xây cất trên đồi Đọi Sơn,
có tu viện nổi tiếng toàn Bắc Kỳ, đào tạo các nhà tu hành bác học Phật giáo cho
tất cả các chùa. Bên cạnh chùa thiêng Đọi Sơn là Điệp Sơn. Chùa này không chỉ
là một chùa nổi tiếng, mà còn là một tu viện cho các sư nữ... Ngoài ra còn
nhiều chùa nổi tiếng nữa như chùa Lý Nhân, Vũ Điện, Yên Trạch, Ninh Đồng, Bảo
Thôn... (2).
(1), (2) Xem: Lorin. Sđd
2. Tình hình kinh tế, xã hội và văn hóa
a. Tình hình kinh tế
Hà Nam là một tỉnh nằm ở đồng bằng Bắc Bộ. Nền nông nghiệp trồng lúa ở đây
giống như nhiều tỉnh đồng bằng khác, có một truyền thống sản xuất tốt đẹp từ xa
xưa. Những ghi chép trong chính sử về cây lúa 9 bông ở Đọi Sơn, về các ruộng
“kim ngân” ở Hà Nam đều phản ánh địa vị hàng đầu của sản xuất nông nghiệp miền
này. Theo những số liệu chính thức năm 1928, thì tổng số ruộng đất các loại của
một số tỉnh Bắc Kỳ trong đó có Hà Nam như sau:
Tỉnh Châu Huyện
|
Dân số
|
Ruộng các loại (đơn vị tính ha)
|
|||
Tổng số
|
Chiêm
|
Mùa
|
2 vụ
|
||
Phủ Lý Nhân
|
115.107
|
16.360
|
6.630
|
9.930
|
|
Huyện Bình Lục
|
102.851
|
15.930
|
12.330
|
3.600
|
|
Huyện Duy Tiên
|
83.750
|
15.870
|
13.170
|
2.700
|
|
Huyện Kim Bảng
|
54.753
|
12.120
|
7.500
|
4.620
|
|
Huyện Thanh Liêm
|
64.983
|
12.270
|
9.510
|
2.760
|
|
Châu Lạc Thủy
|
1.312
|
||||
Hà Nam
|
422.762
|
72.750
|
49.140
|
23.610
|
|
Mức độ phát triển ruộng đất canh tác ở Hà Nam so với các tỉnh lân cận đồng
bằng sông Hồng:
Tỉnh
|
Tổng diện tích
|
Tổng số ruộng lúa
|
Tỷ lệ %
|
Hà Nam
|
114.000
|
72.750
|
63,8
|
Bắc Ninh
|
109.800
|
99.900
|
90,0
|
Nam ĐỊnh
|
149.400
|
138.990
|
93,0
|
Hà Đông
|
163.700
|
123.540
|
75,2
|
Hưng Yên
|
88.100
|
78.080
|
88,6
|
Các số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ ruộng đất không cao ở Hà Nam, nhưng Hà
Nam là một trong những tỉnh bị thực dân Pháp chiếm đất đầu tiên để lập các đồn
điền trồng cà phê và bãi chăn nuôi gia súc. Đó là những vùng đất đỏ và thung
lũng phì nhiêu ở các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng và châu Lạc Thủy. Ngay từ năm
1883, các tay thực dân như anh em nhà Ghiôm, Bôren đã vào vùng Kẻ Sở, Quyển Sơn
khai thác đá, thăm dò lập đồn điền.
Năm 1896, anh em nhà Ghiôm chiếm 200ha đất ở vùng Đồng Tâm. Ngày 13/6/1898, thực dân Pháp lại cấp cho chúng một nhượng địa 1.000ha. Năm 1907, Bôren được cấp 100ha ở Đầm Đa, tổng cộng Hà Nam đã có 5 đồn điền Pháp. Năm 1930, số đồn điền là 6, năm 1931 là 8 và năm 1945 là 9 với diện tích rất rộng lớn như sau: đồn điền Bôren chiếm 7.311 ha, đồn điền Lơ Công: 1.252ha, đồn điền Đờ Salanh: 1.162ha, đồn điền Lơvi: 200ha, đồn điền Blai: 200ha (tổng số cả thảy là 10.125ha). Cây trồng ở các đồn điền này chủ yếu cà phê và các cây lương thực, và cây công nghiệp như trẩu... Cà phê được trồng rất sớm từ năm 1888 ở Kẻ Sở, ban đầu có 300 gốc. Năm cà phê mất mùa thì diện tích cà phê ở Hà Nam là 675 ha thu hoạch 77 tấn. Các gia súc chăn nuôi tại các đồn điền ở Hà Nam gồm trâu, bò, dê, cừu lấy phân bón cây và lấy sữa làm bơ, pho mát, dăm bông... Năm 1932, đàn gia súc ở đây gồm hơn 2.000 bò sữa và bò thịt, gần 1.000 con trâu và 1.370 dê, cừu. Sản phẩm từ sữa được đưa đi bán ở Hải Phòng, Hà Nội và nhiều nơi khác (1). Trong các đồn điền Pháp, nguồn lao động trực tiếp sản xuất luôn luôn là nông dân Hà Nam và các tỉnh lân cận.
Năm 1896, anh em nhà Ghiôm chiếm 200ha đất ở vùng Đồng Tâm. Ngày 13/6/1898, thực dân Pháp lại cấp cho chúng một nhượng địa 1.000ha. Năm 1907, Bôren được cấp 100ha ở Đầm Đa, tổng cộng Hà Nam đã có 5 đồn điền Pháp. Năm 1930, số đồn điền là 6, năm 1931 là 8 và năm 1945 là 9 với diện tích rất rộng lớn như sau: đồn điền Bôren chiếm 7.311 ha, đồn điền Lơ Công: 1.252ha, đồn điền Đờ Salanh: 1.162ha, đồn điền Lơvi: 200ha, đồn điền Blai: 200ha (tổng số cả thảy là 10.125ha). Cây trồng ở các đồn điền này chủ yếu cà phê và các cây lương thực, và cây công nghiệp như trẩu... Cà phê được trồng rất sớm từ năm 1888 ở Kẻ Sở, ban đầu có 300 gốc. Năm cà phê mất mùa thì diện tích cà phê ở Hà Nam là 675 ha thu hoạch 77 tấn. Các gia súc chăn nuôi tại các đồn điền ở Hà Nam gồm trâu, bò, dê, cừu lấy phân bón cây và lấy sữa làm bơ, pho mát, dăm bông... Năm 1932, đàn gia súc ở đây gồm hơn 2.000 bò sữa và bò thịt, gần 1.000 con trâu và 1.370 dê, cừu. Sản phẩm từ sữa được đưa đi bán ở Hải Phòng, Hà Nội và nhiều nơi khác (1). Trong các đồn điền Pháp, nguồn lao động trực tiếp sản xuất luôn luôn là nông dân Hà Nam và các tỉnh lân cận.
(1) Theo cuốn: Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tập I (1927 - 1975). Ban Chấp
hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam xuất bản năm 2000, tr. 34 - 35. Cũng theo tài liệu
này, diện tích đồn điền Pháp ở Hà Nam năm 1945 là 11.937ha, tr. 41.
Trên đồng ruộng của mình, nhân dân Hà Nam đã ra sức khắc phục khó khăn,
vượt qua sự khắc nghiệt và hạn chế của thiên nhiên để đạt được những kết quả
nông nghiệp vào loại cao ở vùng châu thổ sông Hồng. Theo thống kê năm 1932,
năng suất nông nghiệp ở Hà Nam vào loại cao ở đồng bằng Bắc Bộ (2).
(2): Y. Henry: “Economie agricole de l’Indochine”, 1932, p.247
Bảng Tr 313
Tỉnh
|
Thu hoạch ruộng 1 vụ trung bình 1ha
|
Thu hoạch ruộng 2 vụ trung bình 1ha
|
Hà Nam
|
13 tạ
|
19,5 tạ
|
Bắc Ninh
|
11 tạ
|
16,5 tạ
|
Nam Định
|
13 tạ
|
20,5 tạ
|
Hà Đông
|
13 tạ
|
22,5 tạ
|
Một người từng giữ chức vụ chính quyền ở Hà Nam thời đó đã viết về nông
nghiệp Hà Nam như sau:
“Đất Hà Nam phần nhiều là đất phù sa, cây lúa tốt lắm, nhưng phải mấy nơi
như huyện Duy Tiên và một phần phủ Lý Nhân và huyện Kim Bảng thường phải lụt,
nên dân chỉ cấy được vụ chiêm thôi. Đất ruộng kể gần được nửa diện tích toàn
tỉnh, nhưng thấp và ngập nhiều cho nên từ tháng 5 đến tháng 8 dân sự phần nhiều
chỉ đi chài lưới... về miền núi có nhiều đồn điền của người Pháp giồng cà phê
và nuôi súc vật thịnh vượng lắm, không kể ngô, đậu, khoai, ở Hà Nam lại có thầu
dầu, thuốc lá và chè, nhất là ở những đồi thuộc huyện Thanh Liêm và Kim Bảng.
Các giống rau ở Pháp đem giồng ở đất Hà Nam cũng tốt lắm. Ở trong miền núi Hà
Nam có củ nâu, củ mài... bán được tiền lắm” (3).
(3) Đỗ Đình Nghiêm, Ngô Vi Liễn... Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ. Nhà in Lê Văn
Tân, Hà Nội – 1927, tr 43.
Riêng về huyện Bình Lục, nông nghiệp đã được mô tả như sau: “Việc canh nông
ở hạt Bình Lục chỉ trông về vụ chiêm nên không được thịnh lợi bằng các hạt
khác. Về vụ tháng 10 thì nhiều ruộng bị úng thủy, năm nào mưa ít nước nhỏ thì
cấy chia ba được ngót một phần lúa mùa. Từ ngày lấp sông Châu Giang ở Vĩnh Trụ
và Phương Trà (về phủ Lý Nhân) không cho nước chảy ra sông Cái tức sông Hồng
Hà, nước mưa đầy đồng không tiêu thoát được nên nhiều ruộng để đồng trắng nước
trong. Bao giờ Nhà nước làm xong cống sông Đáy, khơi được sông Ninh Giang nối
với sông Đáy thì nước mới lưu thoát ra sông Đáy được, nhiều ruộng mới cấy được
hai mùa. Tổng cộng ruộng cấy chiêm được 32.640 mẫu ta (khoảng 90,6ha), cấy mùa
được 9.000 mẫu và giồng màu được 2.000 mẫu. Hiện năm 1934 mưa nhiều, nước trong
đồng to nên mất 7.000 mẫu mùa...” (1). Ngoài các thổ sản như thóc lúa,
ngô, khoai, đỗ, đậu... các thứ hoa quả: vải, nhãn, cam, quýt, hồng, chuối... ở
xã An Lão có ít ruộng cấy được một thứ gạo thật trắng và thật thơm gọi là gạo
Câu Cánh - là một vị cống phẩm ngày xưa (2).
Cùng phát triển với nông nghiệp là những ngành nghề tiểu thủ công nghiệp
như dệt, gốm sứ, nung gạch ngói, nề... xây dựng đền chùa miếu mạo... Những
ngành nghề này đều giống như các tỉnh đồng bằng khác ở Bắc Bộ. Tuy nhiên, Hà
Nam có những ngành nghề đặc sắc riêng biệt và nổi bật như sau:
Nghề khai thác và sản xuất các loại đá hoa và đá xanh, phát triển từ xưa ở
Hà Nam dọc sông Đáy, ở Kẻ Sở (cách Phủ Lý 7km) vùng Lạt Sơn (huyện Kim Bảng).
Thực dân Pháp khi mới tới đã chú ý ngay đến nghề này. Có tài liệu cho biết ở Hà
Nam có đến 18 số mỏ đá. Năm 1918, sản lượng là 50.000m3/năm; năm 1920 - 1929,
được nâng lên 126.740m3 rồi 145.730m3. Cùng với khai thác đá có xưởng cưa
đá hoa rất có tiếng trong cả nước, đá được đem bán ở nhiều nơi, nhất là ở Hà
Nội. Việc khai thác mỏ than ở Đồi Hoa gần Chi Nê từ năm 1912 đến 1929 thì
ngừng, không rõ sản lượng.
Nghề làm thuốc lá xì gà ở Kẻ Sở, thời đó sản phẩm này thường được gọi là xì
gà Sở Kiện, khá danh tiếng.
Nghề ấp vịt ở xã Đồng Du (huyện Bình Lục).
Nghề làm đồ sừng ở xã Thứ Nhất (huyện Bình Lục), được truyền từ Hà Đông
sang.
Nghề làm quạt giấy ở xã Vũ Bản (huyện Bình Lục).
Tình hình thương mại trong tỉnh khá sôi nổi, nhất là việc buôn bán lúa gạo
vào các mùa vụ. Các thương nhân Hoa kiều đi vào khắp ngõ xóm làng mạc thu mua
thóc gạo đem đi các tỉnh khác, ở thị xã Phủ Lý, việc buôn bán cũng đã phát
triển. Nhiều cửa hàng cửa hiệu mọc lên, kinh doanh các mặt hàng địa phương và
từ các nơi khác chuyển đến. Những hiệu cầm đồ, đại lý ty rượu cũng; xuất hiện
cùng các loại chợ thường ngày. Hà Nam có rất nhiều chợ ở khắp các xã thôn, nổi
tiếng là chợ Thịnh Đại, chợ Sông, chợ Bầu... khá đông đúc. Riêng một huyện Bình
Lục đã có tới 23 chợ họp theo phiên ấn định và các ngày âm lịch. Mỗi một tháng
chợ họp ít nhất 6 phiên, nhiều nhất là 12 phiên (ví dụ: chợ Họ, chợ Giải, chợ
Giằm, chợ Lão, chợ Sông...). Thực dân Pháp cũng cho phép các hãng buôn lớn của
Pháp ở Hà Nội như Đờniphơre, Đềcua Cabô... lập các đại lý ở Hà Nam để buôn bán
hàng Pháp và hàng nội địa. Sự phồn thịnh của thương mại một phần nhờ Hà Nam có
nhiều đường giao thông thủy, bộ chạy qua. Đó là các con sông Hồng, sông Đáy,
sông Châu. Các đường bộ cũng ngày càng mở mang. Tài liệu về giao thông Hà Nam
năm 1927, cho biết:
“1. Đường thuộc địa số 1 đi từ Hà Nội vào Ninh Bình, qua tỉnh Hà Nam từ Bắc
đến Nam;
2. Đường Phủ Lý đi Hưng Yên qua sông Hồng, ở bến Nga Khê;
3. Đường Phủ Lý đi Nam Định dài 30km qua địa hạt Thanh Liêm và Bình Lục;
4. Đường Đồng Văn đi Hưng Yên (dài 14km);
5. Đường Phủ Lý vào Chi Nê;
6. Đường xe hỏa đi qua tỉnh, 35 km (đường Hà Nội vào Vinh).
“Đường Hà Nội xuống Nam Định qua Hà Nam. Đường xe hoả Hà Nội về Vinh đi
khỏi ga Cầu Guột, qua hai cái cầu sắt thì vào tỉnh Hà Nam. Đến km45 là ga Đồng
Văn (thuộc huyện Duy Tiên). Ở đường xe lửa mà trông về phía Tây Nam thì thấy
một dãy núi ngọn cao lổm chổm, đấy là dãy “Chín mươi chín ngọn”. Xe hỏa đi qua
cầu sông Châu là đến tỉnh lỵ Phủ Lý (cách Hà Nội 56 km). Cách Phủ Lý độ bốn năm
trăm thước tây có làng Mễ Tràng là huyện lỵ huyện Thanh Liêm, ở Phủ Lý có đường
đi:
1. Ninh Bình (33km);
2. Kẻ Sở (7km);
3. Chi Nê (28km);
4. Vào Chùa Hương thì đi đò đến Bến Đục (độ 8 giờ), đi
tầu thủy độ 2 giờ, rồi đi bộ độ 1 giờ vào đò suối, đi độ 2 giờ đò suối thì vào
đến chùa ngoài.
Đường từ Phủ Lý vào Ninh Bình, đi bộ thì mất 33km, đi thủy theo sông Đáy
thì mất 42km. Cách ga Phủ Lý 5 km cách đường cái về phía Đông độ 1.000 thước
tây thì qua làng Ứng Liêm, có đền thờ vua Đinh Tiên Hoàng, về phía Đông cách
đấy độ 2km ở làng Ninh Thái, có đền thờ đức Thủy tổ nhà Tiền Lê. Đến km72 thì
có núi Thiên Kiện Sơn, cũng có người gọi là Địa Càn. Về đời Trần đã có một ông
vua lập một cái điện lên ở đấy. Năm 1384, khi nước ta bị quân Chiêm Thành đánh
thua, vua đã bắt đem cả kho tàng châu báu giấu vào núi ấy để cho giặc khỏi lấy
mất. Đến km 17 ở làng Bình Cách và Thọ Cách có vết thành Cổ Động, năm 1408
tướng Mộc Thạnh nước Tàu bị thua đóng tàn quân ở đó. Đến km20 qua sông Đáy thì vào
tỉnh Ninh Bình” (1).
Giao thông vận tải không chỉ phục vụ sự phát triển hoạt động kinh tế, mà
còn thúc đẩy mọi mặt đời sống nhân dân, kể cả văn hóa - giáo dục.
b. Tình hình xã hội và văn hóa
Các loại ruộng công điền công thổ còn chiếm một vị trí quan trọng trong
làng xã ở Hà Nam. Tỷ lệ ruộng đất công so với ruộng đất tư ở Hà Nam vào loại
cao nhất đồng bằng Bắc Kỳ (2), chỉ xếp sau Nam Định.
Tỉnh
|
Công điền
(tính ra mẫu)
|
Diện tích canh tác (tính ra mẫu)
|
Tỷ lệ công điền (tính ra %)
|
1. Nam Định
|
135.165
|
346.944
|
39,0
|
2. Hà Nam
|
58.615
|
155.556
|
37,7
|
3. Quảng Yên
|
3.983
|
11.111
|
35,8
|
4. Thái Bình
|
106.881
|
328.055
|
32,5
|
5. Ninh Bình
|
48.998
|
175.855
|
27,8
|
6. Hà Đông
|
59.395
|
231.944
|
25,6
|
7. Thái Nguyên
|
11.705
|
49.723
|
23,5
|
8. Hưng Yên
|
42.912
|
195.000
|
22,0
|
9. Kiến An
|
28.714
|
163.612
|
17,5
|
10. Bắc Ninh
|
35.302
|
226.944
|
15,5
|
11. Yên Bái
|
2.608
|
17.500
|
14,8
|
12. Hải Dương
|
54.849
|
375.555
|
14,6
|
13. Phúc Yên
|
13.505
|
119.445
|
11,2
|
14. Sơn Tây
|
12.149
|
118.889
|
10,1
|
15. Vĩnh Yên
|
11.339
|
116.944
|
9,6
|
16. Phú Thọ
|
9.851
|
106.667
|
9,1
|
17. Bắc Giang
|
13.004
|
296.111
|
4,3
|
18. Tuyên Quang
|
320
|
48.333
|
0,7
|
Cộng:
|
649.292
|
3.084.188
|
21
|
(1) Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ. Sđd, tr. 44-45.
Nếu tính đến đơn vị huyện thì tỷ lệ này còn cao hơn nữa. Trong tỉnh Hà Nam,
phủ Lý Nhân có tỷ lệ công điền là 46%, huyện Kim Bảng là 54% ([1]).
Tài liệu Pháp cho biết: “Về nguyên tắc, công điền được chia 3 năm 1 lần công
bằng cho tất cả dân đinh có tên trong sổ thuế thân và chịu các đảm phụ làng xã.
Nhưng trong thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Các hào mục, các người có
ảnh hưởng thường tự nhận lấy phần rộng lớn bất chấp dân thường có thể tố cáo
việc hà lạm đó. Ở người An Nam cũng như ở khắp nơi và hơn ở đâu hết, những cá
lớn ăn thịt cá bé...
Về việc chi tiêu quan trọng thì người ta kêu gọi mọi dân cư đóng góp, các
công điền được đem ra cầm cố nhưng phải có phép của Công sứ và trong một thời
hạn không quá 3 năm, các chức Nhiêu được đem bán cho những ai muốn mua...”(2).
Mặc dù có công điền nhưng nông dân nghèo không thể trở thành chủ ruộng nhỏ
mà vẫn phải đi làm tá điền cho địa chủ, bởi họ không thể đủ lưng vốn để chi phí
các khoản giống má, thuế lệ (thuế ruộng và thuế thân). Thuế ruộng có 3 loại
đẳng hạng và 2 ngạch công điền tư điền, nhưng đều quy lại như nhau: 2 đồng
40/mẫu (thời kỳ 1930 giá 1 tạ thóc là 3 đồng Đông Dương). Thuế thân là 2 đồng
50 chưa kể các loại phụ thu khác (phụ thu là tuỳ thuộc hương lý từng làng). Vì
vậy kể cả các khoản này thì thuế thân có nơi là 3 đồng 1 người, có nơi lên tới
4 đồng 50. Thuế đất ở cũng chia ra nhiều loại nhưng đồng loạt là 0 đồng 30/1m2.
Người nông dân nào chẳng có đất từ bao đời để lại. Thuế đất cũng là một khoản
khá nặng nề cho nông dân nghèo, có thể tính lên tới hàng trăm đồng. Quả là một
nỗi thống khổ nặng nề của nông dân Việt Nam thời thuộc địa. Theo sự tính toán
của Pháp thì thu nhập và chi tiêu của 1 hộ nông dân (5 người) vùng Nam Định, Hà
Nam năm 1932 như sau:
- Tiền công của người bố trong 5 tháng (5, 6, 9, 10, 11) mỗi tháng 20 ngày làm mướn:
100 ngày x 0,30 đồng/ngày = 30 đồng
Tiền công người mẹ đi cấy: 5 đồng
Cộng: 35 đồng
|
- Lương thực: 1.300 kg thóc, thêm một ít ngũ cốc.
- Chi tiêu các khoản 24 đồng cả năm.
- Thuế ruộng và
các thuế khác: 29 đồng
|
(1) Xem: Vũ Huy Phúc - Chế độ công điền công thổ Bắc Kỳ dưới thời Pháp
thống trị. Sđd.
(2) Xem Lorin. Sđd.
Nếu sự tính toán trên đây là đúng thì người nông dân đồng bằng Bắc Bộ suốt
đời đói khổ, đó là chưa kể những chi tiêu bắt buộc khác. Ví dụ việc mua rượu
cồn bắt buộc. Khi thực dân Pháp kinh doanh độc quyền nấu rượu thì chính quyền
thuộc địa buộc nhân dân phải mua rượu cất của Pháp. Độc quyền này sau tuy bị
bãi bỏ, nhưng chính quyền cấp dưới vẫn bắt ép các xã dân phải mua rượu cồn.
“Chỉ một thôn nhỏ như thôn nội ở Đồng Du (Bình Lục) có tới 3 tiểu bài bán rượu,
làng Lũng Xuyên (Duy Tiên) có 2 tiểu bài. Riêng 1 tiểu bài ở làng Đại Vượng
(Thanh Liêm) một tháng bán 300 lít rượu. Năm 1937, tri huyện Lý hiểu dụ dân
chúng rằng: Theo lệnh của quan phụ mẫu mỗi suất đinh phải mua lít rượu trong 1
tháng vì chính phủ làm ra được nhiều rượu. Quan lớn truyền cho là phải mua nếu
không phải chịu pháp luật”(1).
(1) Ngô Vi Liễn: Địa dư huyện Bình Lục. Nhà in Lê Văn Tân. Hà Nội
- 1935, tr. 9 - 10.
Nói đến các tệ nạn xã hội ở Hà Nam thời thuộc địa, ngoài rượu cồn, còn phải
kể đến thuốc phiện, là mặt hàng kinh doanh của chính phủ thuộc địa giống như
rượu. Nhiều tiệm hút đã mọc lên trên đất Hà Nam. Tỉnh lỵ Phủ Lý trước 1930 chưa
đầy 1km2 mà có tới 300 bàn đèn thuốc phiện. Cả dãy phố bờ hồ có độ 50 nhà
thì hầu hết đều mở tiệm hút, hay sòng bạc, cô đầu. Chánh Kỳ, Tuần Thành là chủ
sòng bạc lớn. Ở nông thôn cũng mọc lên nhiều bàn đèn thuốc phiện. Có làng như
Thanh Châu (huyện Thanh Liêm) có đến 15 bàn đèn; làng Đôn Lương (nay là thôn
Đôn Lương, xã Yên Bắc, huyện Duy Tiên) có 32 bàn đèn. Cùng với những tệ nạn xã
hội đó còn có những hủ tục xa phí, khao vọng, mua danh bán tước, mê tín dị
đoan... làm kiệt quệ người dân lành.
So với cuộc sống truyền thống, Hà Nam có những thay đổi về mặt y tế. Cả
tỉnh đã có 1 bệnh viện nhỏ chừng 20 - 30 giường với 4 dãy nhà chia thành các
khu vực: khu khám bệnh, khu điều trị bệnh nhân nam, khu điều trị bệnh nhân nữ,
phòng mổ, phòng băng bó và khu hộ sinh. Bệnh viện có 1 bác sĩ người Pháp và một
số nhân viên y tế. Từ năm 1930 trở đi, mỗi huyện có thêm 1 trạm xá có 1 y tá, 1
nữ hộ sinh. Năm 1932, Hà Nam có 32 bà đỡ phân phối về các làng đông dân. Riêng
huyện Bình Lục, năm 1935 có 8 trạm hộ sinh ở 8 xã, mỗi trạm phụ trách công việc
đỡ đẻ cho nhiều xã lân cận được đặt ở 8 xã: An Đổ, Mỹ Thọ, Tái Kênh, Cát Lại,
Văn Ấp, Tiêu Động, Vũ Bản, Ngọc Lũ (1).
Về mặt giáo dục, thời kỳ trước 1923 mỗi tổng có 1 trường Tổng sư (có 3 lớp
Đồng ấu, Dự bị, Sơ đẳng). Từ sau 1928, các xã được phép mở trường học. Cả Hà
Nam có 6 phủ huyện châu (45 tổng gồm 388 xã). Năm 1930, các huyện của Hà Nam
đều có trường học gọi là trường Kiêm bị, tức là trường Tiểu học Pháp - Việt
toàn cấp có 6 bậc học: Lớp Nhất, Lớp Nhì năm thứ hai, Lớp Nhì năm thứ nhất, Lớp
Ba (sơ đẳng), Lớp Tư (dự bị), Lớp Năm (đồng ấu). Riêng huyện Bình Lục có 2
trường Kiêm bị (1 ở huyện lỵ và 1 ở xã Ngô Khê), 7 trường Tổng sư (huyện Bình
Lục có 8 tổng) và 24 trường Hương sư (Bình Lục có 70 xã). Tổng số học sinh
trong tất cả các trường đó là 1.561 trò, tức 1,3% dân số trong huyện (112.675
người). Có tài liệu cho biết tính toàn tỉnh Hà Nam, tỷ lệ này khoảng 2%(2).
(1) Ngô Vi Liễn: Địa dư huyện Bình Lục. Nhà in Lê Văn Tân. Hà Nội
- 1935, tr. 9 - 10.
Có thể nói tuyệt đại đa số nông dân Hà Nam đều mù chữ, cũng như toàn vùng
đồng bằng sông Hồng. Đây là chữ Quốc ngữ, còn chữ Hán Việt hay Hán Nôm cũng
không phải không còn người biết và chắc tỷ lệ cũng rất ít. Việc thi cử bằng chữ
Hán (lần cuối cùng trước khi bị bãi bỏ hẳn) ở các trường thi truyền thống trên
toàn quốc lần lượt được tổ chức vào các năm 1915, 1918, 1919. Trường thi Nam
Định (gần với Hà Nam) tổ chức kỳ thi Hương cuối cùng vào tháng 11 - 12 năm
1915. Mặc dầu vậy, nếp sống tinh thần và văn hóa truyền thống không bao giờ
thui chột mà còn tiếp thu thêm những nét mới, làm phong phú hơn những giá trị
vững chắc từ ngàn xưa.
Người dân Hà Nam sống trọn đời trên một mảnh đất lưu giữ đậm nét dấu ấn của
hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước. Những trống đồng Ngọc Lũ, hành
cung Lỵ Nhân, tịch điền Đọi Sơn... luôn nhắc nhở và tạo nên sự thôi thúc lối
sống văn hiến của nhân dân nơi đây. Những đền chùa miếu mạo ở khắp nơi trong
tỉnh luôn nuôi dưỡng; một nhân sinh quan nhân văn cao quý. Những văn bia, bằng
sắc, những bút tích văn chương Hán tự vẫn luôn luôn gắn bó với lớp trí thức và
với bao người dân xã thôn Hà Nam. Đời sống tôn giáo, đời sống xã thôn theo lệ
làng và các thuần phong mỹ tục là bầu không khí nuôi dưỡng tâm hồn và văn hóa
truyền thống. Lớp trí thức công giáo vừa có Hán học lại có cả Tây học. Văn hóa
Thiên chúa giáo do những giáo dân yêu nước đóng góp khiến cho di sản của cha
ông có thêm những mảng màu sắc đẹp đẽ, mới mẻ.
3. Phong trào đấu tranh chống Pháp xâm lược
Khi liên quân xâm lược Pháp - Tây Ban Nha tấn công Đà Nẵng, rồi đánh chiếm
cả miền Nam từ năm 1858 đến 1867, lăm le tiến ra Bắc từ 1867 đến 1873, thì nhân
dân cả nước trong đó có nhân dân Hà Nam đã biểu thị một ý chí chiến đấu bảo vệ
Tổ quốc kiên cường. Thái độ của triều Nguyễn thì ngược lại, từ chỗ mang quân
chống trả kịch liệt, đến hèn nhát cầu hòa xin chuộc đất, chịu hết thất bại này
đến thất bại khác. Kẻ địch thì lấn tới và mở cuộc tiến công ra Bắc Kỳ. Ngày
20/11/1873, thực dân Pháp đánh chiếm thành Hà Nội. Ngày 23, chúng chiếm đóng
Hưng Yên. Ngày 26, địch kéo sang Phủ Lý. Đây là đội quân chỉ hơn 30 tên tưới sự
chỉ huy của Baniđavricua và Ácmăng trên chiếc pháo hạm Étspanhgôn.
Ở Phủ Lý “cuộc chiến đấu diễn ra chưa đầy 15 phút, thành bị địch chiếm, mất
toàn bộ số tài sản lương thực, vũ khí hiện có gồm 54.000 đồng tiền kẽm, 30 khẩu
thần công, 60 súng tay, 15 tạ muối, 48.000 tạ thóc, 9.000 tạ gạo và 20 thuyền
chở đầy gạo” (1). Sau đó, với sự giúp rập của Giám mục Puydinhiê ở Kẻ Sở
quân Pháp thiết lập ngay một bộ máy ngụy quyền tại đây. Việc để mất thành là
trách nhiệm của quan quân triều đình. Lúc này Phủ Lý thuộc Hà Nội mà Hà Nội đã
thất thủ từ trước đó. Nhưng nhân dân Hà Nam với truyền thống chống giặc từ ngàn
xưa đã chuẩn bị tinh thần chống Pháp ngay từ sau ngày 26/11/1873. Địch chưa
đứng chân được bao lâu thì triều đình đã ký tắt Hiệp ước Nhâm Tuất 1874, cho
nên trong khoảng từ 10 đến 16 tháng 1/1874, toàn bộ quân Pháp đã rút khỏi Phủ
Lý và Hà Nội, giao thành cho triều đình Huế.
Trong khoảng thời gian non 2 tháng đó, nhân dân Hà Nam cùng nhân dân các
tỉnh lân cận đều đua nhau hưởng ứng lời hô hào chiến đấu của các sĩ phu địa
phương. Những căn cứ kháng chiến được thiết lập ở các huyện Thanh Liêm, Bình
Lục, Lý Nhân... hình thành thế bao vây địch từ bốn phía.
Ngay từ những ngày đầu đánh Pháp này đã nổi lên tên tuổi Đinh Công Tráng ở
Hà Nam. Đinh Công Tráng đã phối hợp với dân binh của Phạm Văn Nghị ở Nam Định
xây dựng nên căn cứ Nham Tràng, quấy rối địch trên đường quan lộ dọc huyện
Thanh Liêm từ Phủ Lý vào Ninh Bình. Cùng chiến đấu với Đinh Công Tráng còn có
Hoàng Văn Tuấn đánh giặc trên sông Châu (phần thuộc huyện Lý Nhân) và có lần đã
đột kích vào thành Phủ Lý (2). Đinh Công Tráng bằng biện pháp gửi thư kêu
gọi khắp nơi, nên nghĩa quân tụ tập đông đảo tới 400 - 500 người, chia làm 4
đạo đóng ở quanh làng Tràng. Một bài vè địa phương đã mô tả:
Văn thân đâu đấy xa gần
Chia làm bốn đạo là quân quan Hoàng (*)
Đạo tây đóng ở làng Tràng
Đạo đông làng Bưởi quân quan cũng nhiều
Đạo dưới đóng ở Lác Chiều
Tập hợp xong đội ngũ nghĩa quân, Đinh Công Tráng tổ chức đánh giặc ngay:
“Ngày 14/12/1873, ông Tráng hạ lệnh tấn công Trại Cần (xã Thanh Tân, huyện
Thanh Liêm ngày nay) là một chỗ dự trữ lương thực do bọn gián điệp đội lốt giáo
sĩ đã chuẩn bị từ trước cho giặc. Tất cả của cải lấy được đều chia cho nhân dân
ăn tết. Nghĩa quân thừa thắng tiến lên bao vây uy hiếp Kẻ Sở. Giặc thấy thế
nguy vội chở quân đổ bộ lên làng Tràng đánh giải vây. Cuộc chiến đấu kéo dài
trong 3 ngày, sau nghĩa quân yếu thế phải lui về vùng Nam Định là trung tâm
kháng chiến của Bắc Kỳ lúc đó, phối hợp với các đạo nghĩa quân của Phạm Văn
Nghị đánh thắng nhiều trận ở Tâng Bùng, Mai Độ (huyện Ý Yên), Phủ Bo, Phủ Lý,
đuổi tên lãnh binh ngụy Lê Văn Ba chỉ huy bọn mã tà của Pháp chạy về Nam
Định” (1).
Đinh Công Tráng từ chối nhận chức Hiệp quản của triều Nguyễn đồng thời liên
hệ với các tướng lĩnh Cờ Đen để tiếp tục chiến đấu. Đúng lúc này triều đình Huế
chủ trương cầu hòa và đã chuẩn bị ký kết Hiệp ước Nhâm Tuất; chịu nhượng bộ để
ngưng cuộc chiến. Nhưng nhân dân Hà Nam và các tỉnh khác không nguôi ý chí
chiến đấu. Năm 1882, thực dân Pháp lại đem quân tấn công Bắc Kỳ lần thứ hai và
lần này nhân dân Hà Nam đã cùng nhân dân toàn Bắc Kỳ cầm vũ khí chiến đấu lâu
dài hơn, kiên trì hơn vì vận mệnh của Tổ quốc khi triều Nguyễn đã đầu hàng, trở
thành công cụ của bọn thực dân. Sau khi Hà Nội bị chiếm, Hoàng Diệu tử tiết
(25/4/1882). Quân Pháp biết quân Thanh chắc chắn sẽ vào Bắc Kỳ nên nghĩ ngay
tới việc đánh chiếm trước khu vực mỏ than ở Hòn Gai - Quảng Yên (12/3/1883).
Sau đó địch mở rộng đánh chiếm xuống phía Nam Hà Nội, đánh chiếm Ninh Bình
(25/3/1883), Nam Định (27/3/1883). Hà Nam chắc đã lọt vào tay quân Pháp trong
thời gian nửa cuối tháng 3 này, và lẽ tự nhiên nhân dân Hà Nam lại đứng dậy cầm
vũ khí đánh Pháp. Tài liệu của Pháp viết: “Năm 1882, việc (quân Pháp) chiếm
thành Nam Định đã đẩy những người bị hãm phải lui lên các vùng núi sông Đáy làm
nơi ẩn náu. Họ đã nhiều lần toan tấn công vào giáo đoàn Kẻ Sở là nơi nếu chiếm
được sẽ có nhiều quân nhu cho họ. Một trong số các thủ lĩnh là Đinh Công Tráng,
thường được gọi là Cai Tràng vì là tên làng quê của ông, làng Nham Tràng, trên
tả ngạn sông Đáy, phía Nam huyện Thanh Liêm. Cai Tràng đã chống trả quân đội ta
cho mãi tới năm 1885. Cùng với đa phần đồng đảng của mình, Cai Tràng bị chiếc
pháo hạm “Suyếcpơrisơ” tấn công tại làng quê ông ta và đã trốn thoát, nhưng sau
lại bị các giáo dân truy đuổi đến chân núi và bị thương ở cánh tay. Ông ta ẩn
náu ở làng Thông và nhờ sự thông báo của các giáo sĩ nên Đại tá Briôngvan tới
nơi bao vây đánh bắt cả toán. Nhưng lại một lần nữa Cai Tràng thoát, còn các
đồng đảng thì người chết, người chạy tán phát, ông ta mất uy thế, chạy vào miền
núi Nghệ An rồi sau đó bị quân ta giết chết” (1).
Nhưng địch đã lầm to, Đinh Công Tráng đã từng dự tính trước việc quân xâm
lược sẽ đánh Bắc Kỳ lần thứ hai, nên ông tổ chức nghĩa quân quy củ hơn và liên
kết rộng rãi hơn. Ông chiêu tập nhiều tướng lĩnh tài giỏi từ các huyện Nam
Sang, Bình Lục, Ý Yên, Gia Viễn... “Về vũ khí, thì ngoài những súng cướp được
của giặc để tự trang bị, ông còn tổ chức bí mật đi mua súng ống thuốc đạn trong
thành Hà Nội, trong doanh trại giặc. Ông tập trung nhiều thợ rèn giỏi vào rừng
để rèn vũ khí, đúc súng thần công. Các tướng lĩnh đều chọn trong hàng ngũ những
người dũng cảm, có thành tích chiến đấu. Ngoài ra, có những người chuyên huấn
luyện và bổ sung quân như sư So, Hiệp Thiềng, Hiệp Bảo, Đội Ôn (người Nam Hà).
Quân số lúc này lên đến 5, 6 ngàn người. Ông đã phối hợp với quân Cờ Đen và
quân của Hoàng Tá Viêm, trong các trận đánh xung quanh Hà Nội và tích cực chống
càn ở vùng Nam Sang, Bình Lục, Vụ Bản. Suốt từ năm 1882 cho tới cuối
1885, Đinh Công Tráng đã đánh hàng trăm trận lớn nhỏ, đáng kể nhất là những
trận Kẻ Non (nay là xã Thanh Lưu) đồn Tâng, đồn Tràng, Kẻ Bưởi, làng Thong,
Đinh Công Tráng bị thương nặng phải về cổ Đam (Nam Hà) điều trị. Một tháng sau
lành vết thương ông lại tiếp tục chỉ huy nghĩa quân đánh chiếm vùng Gia Khánh,
Gia Viễn, Nho Quan, Yên Khánh (Ninh Bình). Sau khi Tôn Thất Thuyết ra Thanh
Hóa, nghe tiếng Đinh Công Tráng vào bàn kế hoạch chống Pháp với các lãnh đạo
nghĩa quân ở đây, và tại Hội nghị Bồng Trung, Đinh Công Tráng đã được giao
trách nhiệm cùng với Phạm Bành xây dựng cứ điểm Ba Đình” (2).
(1) Lorin. “Notice sur la province de Ha Nam”. T. C. Revue Indochinoise, số
12 năm 1905, tr 882 - 893.
(2) Phan Trọng Báu. Sđd. tr. 19.
Ba Đình là một cuộc khởi nghĩa kiệt hiệt của nhân dân Việt Nam dưới ngọn cờ
Cần Vương mà linh hồn của cuộc chiến đấu này là Đinh Công Tráng và Phạm Bành.
Nhân dân Hà Nam tự hào có người con ưu tú trở thành người anh hùng của căn cứ
địa Ba Đình lừng danh toàn quốc" (1).
Trong lúc Đinh Công Tráng chiến đấu ở Ba Đình thì tại Hà Nam quê ông, nhiều
cuộc chiến đấu chống Pháp vẫn diễn ra quyết liệt. Đó là các cuộc nổi dậy do các
thủ lĩnh nổi tiếng như Lê Hữu Cầu, Ông Hàm, Hoàng Văn Tuấn... lãnh đạo suốt từ
1885 đến cuối thế kỷ XIX, trong đó cuộc chiến đấu của Đề Yêm là nổi bật hơn cả.
Đề Yêm tên chính là Đinh Quang Lý, người làng Đồng Lạc (nay thuộc xã Đồng
Hóa, huyện Kim Bảng), một hào mục triều Nguyễn. Ông đã tham gia cuộc khởi nghĩa
của Nguyễn Thiện Thuật, được phong làm Đề đốc. Năm 1889, khi cuộc khởi nghĩa
Bãi Sậy thất bại, Đề Yêm cùng Tắc Vi đem quân vượt sông Hồng về Đồng Văn (huyện
Duy Tiên), chợ Đại (huyện Kim Bảng), xây dựng phòng tuyến chống Pháp, sau đó mở
rộng địa bàn sang chợ Dâu, Tuyết Sơn (huyện Mỹ Đức, Hà Đông), lấy Tuyết Sơn làm
căn cứ. Nghĩa quân đã đánh những trận lớn ở Quang Thừa, Mã Não (huyện Kim
Bảng). Nhiều cuộc chiến đấu quyết liệt diễn ra ở các huyện Thanh Liêm, Nam Xang
và vùng núi Hà Đông, trong trận làng Đùng (huyện Thanh Liêm) cả làng bị giặc
giết sạch. Nghĩa quân chiến đấu anh dũng, sau phải rút lui vì tương quan lực
lượng giữa địch và ta quá chênh lệch” (2).
Thực dân Pháp phải đối phó cực kỳ khốn khó với các cuộc chiến này. Theo tài
liệu của Pháp (1) thì ở vùng núi Khả Phong nghĩa quân hoạt động tỏa
đi khắp nơi liên tục và vào khoảng tháng 10, tháng 11 năm 1890, địch phải dùng
cả một binh đoàn có pháo hạm Avalăngxơ từ sông Đáy yểm hộ để tiến hành càn đi
quét lại mới làm giảm được sức mạnh của nghĩa quân. Cũng theo tài liệu của Pháp
thì năm 1894, một thủ lĩnh nghĩa quân tên là Hàm chỉ huy một đội quân hơn 200
người trang bị súng và rất nhiều đạn khiến quân Pháp phải ngạc nhiên. Nghĩa
quân ông Hàm từ Mỹ Đức kéo sang tấn công bốt Quang Thừa, gây cho địch tổn thất
nhưng nghĩa quân cũng không chiếm được đồn. Phong trào vũ trang chống Pháp ở Hà
Nam tiếp tục kéo dài từ 1885 đến 1894 thì tạm lắng.
Sau thất bại của phong trào Cần Vương dưới sự lãnh đạo của các sĩ phu yêu
nước và các vị vua có tinh thần quật khởi, các nhà ái quốc Việt Nam tìm con
đường cứu nước mới. Đó là các phong trào đấu tranh quần chúng như phong trào
Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục, phong trào chống thuế ở Trung Kỳ... Cùng với
nhân dân trong cả nước, nhân dân Hà Nam đã hăng hái tham gia, hưởng ứng tích
cực các phong trào đó và bước vào một thời kỳ đấu tranh dưới những hình thức
mới.
II. SỰ HÌNH THÀNH ĐẢNG BỘ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TỈNH HÀ NAM VÀ PHONG
TRÀO CÁCH MẠNG DƯỚI SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG (1929 - 1945)
1. Tình hình chính trị, xã hội và sự phân hóa giai
cấp ở Hà Nam
a. Những biến đổi chính trị - xã hội Hà Nam
Cho đến trước năm 1890, Hà Nam vẫn là một phủ thuộc tỉnh Hà Nội. Binh đoàn
Misô Larivie vẫn cùng pháo hạm Avalăngxơ kiểm soát vùng này. Công sứ Pháp đầu
tiên khi tỉnh Hà Nam được thành lập, như đã đề cập đến, là Phera, còn bộ máy
Nam triều trong tỉnh do một Bố chánh nắm giữ. Từ sau 1904, Hà Nam có tuần phủ
Nguyễn Hữu Đắc. Sau 10 năm là Đại lý thuộc Nam Định (1913-1923), năm 1923 Hà
Nam lại trở thành tỉnh và Công sứ Pháp từ đây là Phoócxăng Pie. Bộ máy Nam
triều lúc này có tuần phủ, dưới là Bố chính và Án sát. Dưới cấp tỉnh là phủ,
huyện có các tri phủ, tri huyện (giúp việc là các lục sự, thừa phái và 1, 2
tiểu đội lính cơ). Mỗi tổng có chánh tổng, phó tổng, tổng đoàn. Xã có lý
trưởng, phó lý, trưởng bạ, thư ký, trương tuần và Hội đồng hương chính do chánh
hội, phó hội trông coi. Riêng châu Lạc Thủy (sáp nhập vào Hà Nam ngày
24/10/1908) vẫn theo chế độ lang đạo; với cách dùng người địa phương nắm giữ
các cấp bậc từ châu xuống tổng, xã. Bên cạnh hệ thống chính quyền là tổ chức tư
pháp. Ở cấp tỉnh có tòa án đệ nhị cấp do Công sứ Pháp làm Chánh án, có phó sứ
và tuần phủ tham dự các phiên tòa. Phủ Lý Nhân và huyện Thanh Liêm cũng được
đặt tòa án đệ nhị cấp nhưng người phụ trách là một người của ngành tư pháp. Các
huyện Bình Lục, Kim Bảng, Duy Tiên và châu Lạc Thủy thì các viên tri huyện, tri
châu kiêm luôn việc tư pháp.
Về mặt quân sự, cùng với sự kiểm soát của các đơn vị đồn trú, quân Pháp có
tàu chiến yểm hộ, ở Hà Nam còn có một lực lượng lính khố xanh. Trại lính Hà Nam
năm 1900 có khoảng 100 người, năm 1931 là 130 người do một giám binh Pháp cai
quản. Trại giám binh này có mối liên hệ hỗ trợ thường xuyên với các đồn binh
trong tỉnh như: Như Trác (huyện Lý Nhân); Thành Thị, Vũ Xá (huyện Bình Lục);
Quang Thừa, Khả Phong (huyện Kim Bảng); Chi Nê (châu Lạc Thủy). Ở cấp các phủ,
huyện luôn có một tốp lính cơ túc trực thường xuyên chịu sự chỉ huy của các tri
huyện, tri phủ, tri châu. Năm 1931, số lượng lính cơ rải rác ở các phủ, huyện,
châu tại Hà Nam là 68 người. Ở cấp tỉnh, Hà Nam còn có một lực lượng cảnh sát
khoảng 25 - 30 người, tập trung ở Sở cẩm, chuyên trách việc trật tự an ninh
trong tỉnh. Tất cả các lực lượng quân sự và cảnh sát kể trên đều nhằm đối phó
với sự chống đối của các lực lượng kháng chiến và các phong trào yêu nước của
nhân dân.
Để tiến hành khai thác bóc lột thuộc địa, cũng là để thực hiện công việc
đàn áp, khống chế mọi cuộc phản kháng của nhân dân, thực dân Pháp đã chú trọng
việc xây dựng các cơ sở vật chất như điện, nước và các đường sá giao thông liên
lạc, bưu điện, điện tín... Mạng lưới giao thông từ sau 1930 được hoàn thiện
khắp nơi, kể cả ở Hà Nam (1). Đường xe lửa từ Hà Nội vào Vinh chạy qua
tỉnh Hà Nam trên một đoạn đường dài 34km, có các ga chính là Đồng Văn, Phủ Lý
và Bình Lục. Đoạn đường sắt này do Sở Hỏa xa quản lý. Hằng năm chuyên chở một
khối lượng lớn đá và hàng hóa đi các vùng. Đường bộ không được mở rộng lắm, có
khoảng 155km đường rải đá và 215km đường đất. Những đường chính là đường Quốc
lộ 1 được xây dựng năm 1885, chạy qua tỉnh từ Bắc xuống Nam dài 42km; đường 21
được xây dựng năm 1904 - 1905, từ cầu Họ (huyện Bình Lục) đến Nhượng Lạo (châu
Lạc Thủy) chạy qua Phủ Lý và Chi Nê, dài 73km. Một số đường liên tỉnh như đường
60, 61, 62, 63B, 22, 21B... đều được rải đá. Những con đường này tạo thành một
mạng lưới giao thông nối Hà Nam với các vùng lân cận.
Tuyến đường thủy cũng được chú trọng sử dụng vì chi phí vận chuyển rẻ tiền.
Tàu thủy ở Hải Phòng và ở Nam Định đi Hà Nội chạy trên sông Hồng đoạn qua Hà
Nam dài 39km với các bến Phương Trà, Như Trác, Vũ Điện, Nga Khê (huyện Lý
Nhân); Từ Đài, Yên Lạc, Hoàn Dương (huyện Duy Tiên). Sông Đáy chảy vào Hà Nam ở
địa điểm xã Tân Sơn (huyện Kim Bảng) qua thị xã Phủ Lý, huyện Thanh Liêm,
thường chỉ có thuyền đi từ trung du xuôi xuống, mang lâm sản hoặc chở đá vôi
khai thác ở Kẻ Sở, Vũ Xá. Sông Đào (Phủ Lý) có tác dụng như cầu nối giữa sông
Đáy với sông Hồng. Thị xã Phủ Lý là đầu mối của tuyến tàu thủy từ Ninh Bình đi
Hà Nội qua sông Đào làm cho thị xã thêm phần sầm uất.
b. Sự phân hóa xã hội ở Hà Nam
Lĩnh vực phản ánh tập trung những biến đổi kinh tế, xã hội, chính trị là
bức tranh phân hóa xã hội hay phân hóa giai cấp, trước hết là giai cấp nông
dân. Như trên đã trình bày, tuy Hà Nam là nơi còn nhiều công điền làng xã,
nhưng trong thực tế người nông dân suất đinh vẫn không có ruộng và vẫn phải làm
tá điền cho các địa chủ. Chế độ công điền trong thực tế không còn tác dụng tích
cực mà chỉ làm người dân nghèo khốn khổ thêm. Giống như các tỉnh khác, nông dân
tá điền ở Hà Nam chiếm tới 90% tổng dân số của tỉnh và sống một cuộc đời lam lũ
vất vả đói khổ (1).
Dân nhiều ruộng ít, bình quân nhân khẩu của lớp trung nông chỉ được 3 sào,
bần nông 1,6 sào, cố nông 0,8 sào, đa số là ruộng xấu và là ruộng chiêm. Hàng
năm, dân nghèo chỉ trông vào một vụ chiêm mà lại luôn thất bát. Vì vậy nhiều
gia đình nông dân Hà Nam triền miên sống bằng khoai, sắn, bữa cháo, bữa rau.
Đồng bào theo đạo Thiên chúa còn phải đóng góp cho địa chủ Nhà Chung. Nhiều
nông dân miền núi phải vào làm thuê tại đồn điền. Nhiều nông dân hoạn nạn phải
bỏ làng đi kiếm việc làm ở các tỉnh khác, làm phu đồn điền cao su tại Nam Kỳ,
Cao Miên, Tân Đảo. Những làng như Dũng Kim, Mạc Thượng, Bàng Ba, Vạn Thọ (huyện
Lý Nhân), Đồng Du (huyện Bình Lục), Văn Bút (xã Trác Văn, huyện Duy Tiên) có
tới 80% nam giới bỏ quê hương ra đi không về. Có làng dân phải bỏ đi hết và bị
xóa tên như làng Gạo (huyện Bình Lục).
Địa chủ Hà Nam không nhiều. Tính đến 1944-1945, tổng số địa chủ toàn tỉnh
là 3.458 người, tức là chỉ khoảng 0,8% dân số, nhưng chiếm hữu tới 16.812ha,
tức là khoảng 31% diện tích canh tác. Nhà Chung (Sở Kiện - Kiện Khê) có ruộng
riêng với diện tích 468ha. Địa chủ loại lớn cũng không nhiều, khoảng 30 hộ. Địa
chủ Bang Diệu ở thôn Tâng (huyện Thanh Liêm) cùng con cháu 3 đời chiếm hữu hàng
ngàn mẫu ruộng ở vùng này, tạo thành một dòng họ địa chủ lớn. Trong số 26 địa
chủ ở Thanh Hương có 17 địa chủ là con cháu của Bang Diệu. Bang Diệu từng là
tay sai cho thực dân Pháp đàn áp phong trào yêu nước do Đinh Công Tráng lãnh
đạo và chỉ đường cho chúng đánh chiếm các tỉnh Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,
được Toàn quyền Đông Dương cấp giấy “Di hậu ban” nên con cháu được nhiều đặc
quyền đặc lợi, dựa thế thực dân chiếm đoạt và bóc lột dân thường. Phương thức
bóc lột của địa chủ là phát canh thu tô và cho vay nặng lãi. Tô chính là 50%
hoa lợi cộng thêm một khoản tô phụ. Tức cũng rất nặng. Tá điền muốn được nhận
ruộng còn phải lễ tết hằng năm. Người vay tiền phải trả trước 10%, nếu vay thóc
từ tháng 5 đến tháng 10 phải trả 150%. Địa chủ khi cho vay đều buộc con nợ phải
viết văn tự thế chấp ruộng đất. Đây là nguyên nhân làm cho nông dân nghèo mất
hết ruộng đất, còn địa chủ thì sở hữu nhiều ruộng đất trong tay. Một số địa chủ
Hà Nam không chỉ bóc lột tô tức mà còn tham gia hoạt động thương mại và tiểu
công nghệ. Ví dụ Phạm Quang Vọng (huyện Thanh Liêm) có tiệm cầm đồ ở thị xã Phủ
Lý, Phạm Quang Doãn có nhà cho thuê cả ở Phủ Lý và Hà Nội. Hàn Tư ở thôn Tâng
(huyện Thanh Liêm) mở xưởng làm pháo Yên Phú, sau thua lỗ lại mở xưởng chè Yên
Phú, cạnh tranh với các loại chè khác. Bát Giằng mở cửa hiệu buôn bán cùng các
thương nhân Hoa kiều ở thị xã. Giai cấp địa chủ Hà Nam có khuynh hướng tư sản
hóa. Địa chủ kiêm tư sản, đó là một đặc điểm phân hóa xã hội của Hà Nam.
Giai cấp tư sản Hà Nam xuất hiện sớm gồm nhiều lớp. Lớp tư sản đầu tiên
chính là bọn chủ thực dân khai thác mỏ đá và kinh doanh đồn điền. Từ 1883 anh
em nhà Ghiôm đã tiến hành khai thác mỏ đá Kẻ Sở trên dãy núi triền sông Đáy từ
Kiện Khê đến Đoan Vĩ. Năm 1884, Lui Bôren tiếp tục khai thác thêm đá ở Quyển
Sơn (huyện Kim Bảng). Sau đó, một số tư sản Việt Nam như Chu Văn Luận cũng kinh
doanh ngành khai thác đá. Giai cấp công nhân ở Hà Nam đã xuất hiện cùng với
giai cấp tư sản, những công nhân đầu tiên của Hà Nam là công nhân khai thác đá
theo cách thủ công hoặc dùng mìn. Đá được chế biến lúc đầu chủ yếu bằng tay với
các công cụ thô sơ như búa, xà beng... Công nhân rất vất vả và thu nhập theo
khối lượng sản phẩm. Bình quân tiền công mỗi người 1 ngày được 0đ18. Những công
nhân đầu tiên ở Hà Nam này cũng là những người đầu tiên của giai cấp công nhân
Bắc Kỳ.
Lớp công nhân Hà Nam ra đời sau đó một vài năm là công nhân các đồn điền
Pháp. Kể từ 1896 trên đất Hà Nam đã có những đồn điền rộng lớn do thực dân Pháp
kinh doanh. “Các chủ đồn điền tổ chức sản xuất và quản lý nhân công khá chặt
chẽ như một xí nghiệp. Dưới chủ là đốc công thường là người Pháp rồi đến ký lục
và cai. Mỗi đồn điền chia ra nhiều sở theo đơn vị thôn xóm. Mỗi sở tùy theo
việc sản xuất chăn nuôi và số phu mà định ra số cai. Một cai thường điều khiển
từ 30 đến 60 phu” (1). Phu đồn điền là những người địa phương và người các
tỉnh lân cận như Ninh Bình, Hòa Bình, Hưng Yên. Họ chia làm hai khối: một số
sống trong các lán ngay tại đồn điền, một số sáng đi tối về (chắc hẳn số này là
người ở địa phương Hà Nam). Những phu đồn điền kể trên là một bộ phận của giai
cấp công nhân Việt Nam. Bởi lẽ, họ tuy còn nhiều mối liên hệ với nông thôn và
nông dân cũng như với ruộng đất, nhưng lại bị bóc lột theo kiểu tư bản chủ
nghĩa, tức là bóc lột giá trị thặng dư với hình thức làm công ăn lương. Họ là
một trong các bộ phận công nhân hình thành sớm nhất ở Hà Nam và có thể ở toàn
Bắc Kỳ, nếu tính từ 1896 khi xuất hiện đồn điền ở Hà Nam.
Khi các tư sản thực dân kinh doanh trên đất Hà Nam cũng là thời điểm xuất
hiện các tư sản người Việt. Họ đều từ nền sản xuất thủ công truyền thống tiến
lên nền sản xuất tiểu công nghệ. Chẳng hạn như xưởng nung gạch ngói của Chu Văn
Luận ớ thôn Trung Thứ (xã Thanh Thủy, huyện Thanh Liêm) lúc đầu quy mô nhỏ.
Khoảng năm 1930 xưởng này được mở rộng sản xuất, mua thêm 12 máy dập khuôn gạch
ngói xây lò bát, thuê thêm thợ từ Bát Tràng về làm việc, mở thêm 20 lò nung
vôi, lập ra công ty Chu Văn Luận. Có nhận xét cho rằng giai cấp tư sản Hà Nam
đa số đều từ nơi khác đến, kinh doanh không thuận lợi. Công nhân trong lĩnh vực
này (trong các xưởng gạch ngói các lò bát, lò vôi, xưởng giấy...) cũng không
nhiều nhưng tăng trưởng dần từ đầu thế kỷ XX.
Nhìn chung, giai cấp công nhân Hà Nam trong tất cả các ngành kinh doanh kể
trên không lớn. Theo thống kê năm 1930, số lượng công nhân khoảng 1.400 người.
Thời kỳ cao điểm vào những dịp thu hoạch ở đồn điền, số lượng công nhân có thể
lên vài nghìn, chủ yếu ở vùng đồn điền tại châu Lạc Thủy, các huyện Thanh Liêm,
Kim Bảng, công trường đá Kiện Khê, ga Phủ Lý... Có lẽ công nhân đồn điền sống
khổ cực nhất là năm 1931, lương công nhật ở đồn điền là 0đ13 cho đàn ông, 0đ12
cho đàn bà và 0đ08 cho trẻ em. Tại đồn điền Lơcông, mỗi gia đình công nhân hàng
tháng chỉ được ăn cơm 3 - 4 bữa. Ở Cốc Nội, Thung Cầu, Ba Non có gia đình công
nhân cả nhà chết vì đói rét tật bệnh. Đó là chưa kể đến những trận đánh đập đòn
roi, chửi mắng, cúp phạt... của bọn cai ký.
Một khi đã có tư sản và công nhân thì cũng có tầng lớp tiểu tư sản. Ở Hà
Nam, tầng lớp tiểu tư sản bao gồm nhiều thành phần như thợ thủ công, tiểu
thương, công chức nhỏ, hương sư, giáo viên, nhân viên các công sở và tư sở, học
sinh các trường trung học hay dạy nghề... Tầng lớp này ra đời và phát triển
phần nhiều ở thị xã Phủ Lý và các thị trấn tập trung về người và các cơ quan
hành chính địa phương. Đời sống của lớp tiểu tư sản nhìn chung dễ chịu hơn nông
dân và công nhân, nhưng cũng đầy khó khăn và rất bấp bênh, luôn bị chính quyền
Pháp chèn ép, đánh thuế cao. Một số nghể thủ công cổ truyền bị mai một như nghề
dệt La Xá, nghề làm đồi mồi ở Bình Lục. Các thành phần khác trong số tiểu tư
sản đều chịu những áp bức vật chất và tinh thần, đời sống khó khăn. Nhưng chính
lớp người này do được học hành, có tri thức, có nhận thức tiến bộ, nhận thấy
được vai trò dân tộc và bản chất chế độ thuộc địa, nên họ có khả năng đi theo
cách mạng, cùng với các giai cấp nông dân và công nhân.
2. Hoàn cảnh lịch sử và sự ra đời của các tổ chức Đảng Cộng sản ở Hà Nam
Trên phạm vi cả nước, sau khi phong trào đấu tranh vũ trang dưới cờ Cần
Vương thất bại, nhân dân Việt Nam tìm con đường cứu nước bằng các hình thức đấu
tranh khác. Đó là phong trào chống thuế, phong trào Đông Du, phong trào Đông
Kinh nghĩa thục, phong trào ủng hộ Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu... Giống như
nhân dân các tỉnh khác, nhân dân Hà Nam tham gia các phong trào như vậy trong
những điều kiện hoàn cảnh riêng. Trong những năm 1925 – 1926, nhiều thanh niên
yêu nước Hà Nam đã tích cực hưởng ứng phong trào đấu tranh đòi thả Phan Bội
Châu và tổ chức truy điệu Phan Chu Trinh bùng lên sôi nổi khắp các thành phố
lớn và nhiều vùng khác nhau. Nguyễn Hữu Tiến người làng Lũng Xuyên (huyện Duy
Tiên) dạy học ở làng đã hăng hái tuyên truyền cổ vũ lòng yêu nước trong nhân
dân và thanh thiếu niên. Nguyễn Hữu Tiến thường viết những vần thơ cổ vũ lòng
yêu nước như:
Nghĩ câu máu chảy ruột mềm,
Thương nòi, thương nước anh em một lòng.
Đinh ninh ghi tạc chữ đồng,
Nước non này nước non chung đó mà!
Hòa cùng khí thế cả nước, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Văn Chưởng (người cùng
quê Lũng Xuyên) kéo theo một số bạn bè tham dự các đoàn người đấu tranh đòi thả
Phan Bội Châu ở các tỉnh lân cận, tổ chức làm đơn lấy chữ ký gửi Toàn quyền
Đông Dương yêu cầu thả Phan Bội Châu. Cuộc vận động này được nhân dân Hà Nam
hưởng ứng mạnh mẽ, hòa cùng phong trào trên toàn quốc gây áp lực khiến thực dân
Pháp chỉ dám quyết định đưa cụ Phan Bội Châu về an trí tại Huế. Đó là một thắng
lợi của quần chúng đấu tranh. Ngày 24-3-1926, nhà chí sĩ yêu nước Phan Chu
Trinh đột ngột qua đời tại Sài Gòn, gây một nỗi xúc động sâu sắc trong toàn
dân. Ngày 4-4-1926, đám tang cụ được tổ chức tại Sài Gòn có tới 14 vạn người
tham dự. Từ đây các hình thức đưa tang, truy điệu Phan Chu Trinh trở thành
những cuộc đấu tranh chính trị diễn ra khắp nơi trên toàn quốc, bất chấp những
hành động đe dọa ngăn chặn của bọn thực dân, làm cho chúng thất đảm kinh hồn.
Tại Nam Định, lễ truy điệu Phan Chu Trinh được tổ chức tại Nghĩa trang Bắc
Tế ngoại thành (Mỹ Trọng, Mỹ Xá), thu hút các tầng lớp nhân dân thanh niên Nam
Định, Hà Nam và mấy tỉnh lân cận. Đám thanh niên Hà Nam sang Nam Định gồm nhiều
người như Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Bá Trạc, Nguyễn Văn Phác, Bùi Xuân Lan... đều
ở Lũng Xuyên. Họ mang tới một bức trướng đề dòng chữ “Tinh thần bất tử” bày tỏ
sự noi gương yêu nước đối với cụ Phan. Trong lúc đó, tại Hà Nam, một số học
sinh và thầy giáo cũng tổ chức lễ truy điệu Phan Chu Trinh ở sân chùa Bầu (Phủ
Lý). Sư chùa Bầu cho học sinh mượn hương án bày trên thềm nhà khách. Tan học
chiều, học sinh tụ tập về sân chùa. “Một băng vải đỏ đề chữ Phan Tây Hồ
tiên sinh bằng chữ Quốc ngữ màu vàng được treo trang trọng trên hương án
có đủ đèn, nến, lư hương, dưới đất trải hai hàng chiếu. Có khoảng 200 người cả
thanh niên và học sinh. Sau khi nghe thầy giáo Nhạ đọc điếu văn và kêu gọi học
tập tinh thần yêu nước của Phan Chu Trinh, mọi người đã mặc niệm trước hương
án. Buổi lễ được bí mật chuẩn bị và bất ngờ tổ chức nên bọn địch không hay
biết. Sau đó chúng tổ chức điều tra, bắt một số học sinh, họ đã dũng cảm trả
lời: “Chúng tôi truy điệu Phan Chu Trinh như người Pháp kỷ niệm Gianđa mà
thôi”.
Bọn Pháp không biết đối phó ra sao trước tinh thần khảng khái đó, đành phải
thả. Nhân dân ở thị xã Phủ Lý rất có cảm tình với những học sinh yêu nước, họ
rất xúc động gọi các anh là những người chống Pháp (1).
Trong phong trào này còn phải kể đến một thanh niên Hà Nam khác là Phạm Tất
Đắc, người quê ở Dũng Kim (huyện Lý Nhân), học trường Bưởi (Hà Nội) năm 1923.
Năm 1926, anh tham gia lễ truy điệu Phan Chu Trinh và hô hào bãi khóa nên bị
đuổi học. Ngay cuối năm đó, anh viết cuốn Chiêu hồn nước tràn đầy
lòng ái quốc thiết tha, tác động mạnh đến giới thanh niên, thúc giục mọi người
tranh đấu giành độc lập. Thấy quá nguy hiểm cho chính quyền thuộc địa, thực dân
Pháp bắt giam anh (2). Lớp thanh niên như anh trong cả nước cũng như ở Hà
Nam đang nung nấu quyết tâm chiến đấu. Đó là hoàn cảnh lịch sử thuận lợi cho sự
tuyên truyền giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin mà lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đang đẩy
mạnh từ bên ngoài vào sâu trong đất nước ta.
Trước khi đề cập tới quá trình người Hà Nam gặp gỡ chủ nghĩa Mác - Lênin,
cần phải nói tới vấn đề Việt Nam Quốc dân Đảng của Nguyễn Thái Học. Trên phạm
vi toàn quốc, Việt Nam Quốc dân Đảng là một tổ chức cách mạng nhằm lật đổ chế
độ thuộc địa Pháp, khôi phục độc lập cho Tổ quốc. Việt Nam Quốc dân Đảng hình
thành từ Nam Đồng Thư xã và chính thức thành lập tháng 11-1927, theo chủ thuyết
tư tưởng của Tôn Trung Sơn và Quốc dân Đảng Trung Hoa. Việt Nam Quốc dân Đảng
đã hoạt động tích cực, chống trả quyết liệt sự đàn áp của thực dân, tập hợp tới
hơn 1.500 đảng viên. Theo tài liệu của mật thám Pháp, năm 1929 ở Bắc Kỳ đã có
tới hơn 120 chi bộ. Việt Nam Quốc dân Đảng tổ chức cuộc khởi nghĩa toàn quốc
tháng 2-1930 được gọi chung là khởi nghĩa Yên Bái, gây tiếng vang rất lớn trong
lịch sử dân tộc Việt Nam.
Các yếu nhân của Việt Nam Quốc dân Đảng như Nguyễn Thái Học, Nguyễn Khắc
Nhu, Phó Đức Chính, Đoàn Trần Nghiệp... đều bị bắt, bị hành hình nhưng họ đã
nêu cao tấm gương khí tiết của một dân tộc anh hùng bất khuất. Theo tài liệu
của mật thám Pháp, Việt Nam Quốc dân Đảng có cả một kế hoạch hoạt động khắp các
tỉnh thành. Riêng với Hà Nam, tài liệu địch không đề cập một sự kiện nào của
Việt Nam Quốc dân Đảng những năm 1927-1930. Sau khi khởi nghĩa thất bại, các
đảng viên của Việt Nam Quốc dân Đảng đã quyết tâm cứu vãn tình thế và nhiều
đảng viên đã buộc phải tổ chức lấy tiền của các địa chủ giàu có để làm kinh phí
cho Đảng khôi phục phong trào. “Ngày 20-8-1930, một nhóm đảng viên Hà Nội do
một người tên là Hoàng Đình Gi điều hành đã vào cướp một địa chủ giàu có ở làng
Bích Trì (tỉnh Hà Nam). Bị đuổi, họ chạy trốn, dùng súng ngắn bắn lại làm 1
người bị tử thương. Vụ cướp chỉ được 16 đồng bạc và 4 lượng vàng trị giá 240
đồng. Ngày 6-9-1930, cũng nhóm trên đến huyện Vụ Bản (Nam Định) giả làm người
của mật thám đến hỏi tội một địa chủ giàu có nhưng không kết quả” (1). Sau
đó Hoàng Đình Gi bị thương trong một vụ chống trả mật thám rồi bị bắt và hy
sinh.
Việt Nam Quốc dân Đảng ở trong nước thời kỳ 1927-1930 là một đảng yêu nước,
nổi lên trong không khí bừng bừng đấu tranh của mọi tầng lớp nhân dân Việt Nam.
Tất cả những phong trào đấu tranh được trình bày trên đây đã góp phần tạo
cơ sở nền tảng cho con đường cứu nước theo tư tưởng Mác - Lênin do lãnh tụ
Nguyễn Ái Quốc lãnh đạo.
b. Quá trình tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và sự thành lập Đảng bộ
Đảng Cộng sản Đông Dương ở Hà Nam
Trong khoảng thời gian từ sau Cách mạng Tân Hợi (1911) ở Trung Quốc đến
1927-1929, nhiều sách báo từ nước ngoài được mang vào Việt Nam hoặc in ấn trong
nước, đã có tác động thức tỉnh và động viên thanh niên ta. Các cuốn
như Huyết lệ tân thư của Phan Bội Châu; sách của Nam Đồng Thư xã
(Việt Nam Quốc dân Đảng), của Quan Hải Tùng thư; Cường học thư xã, Chiêu
hồn nước của Phạm Tất Đắc... Các sách báo từ Trung Quốc, từ Pháp như báo Việt
Nam hồn (1), Người cùng khổ (Le Paria), cuốn Bản án chế độ
thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc được những người yêu nước bí mật mang về
Việt Nam và phân phát trên toàn quốc. Nguyễn Ái Quốc là người Việt Nam đầu tiên
giác ngộ chủ nghĩa Mác - Lênin, gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và du nhập tư tưởng
cộng sản chủ nghĩa vào Việt Nam thông qua những hoạt động tổ chức cách mạng
thực tiễn.
Năm 1925, lãnh tụ Ncuyễn Ái Quốc thành lập Hội Việt Nam Cách mệnh Thanh
niên tại Quảng Châu (Trung Quốc) trên cơ sở nhóm Tâm Tâm xã, tập hợp, đào tạo
huấn luyện lý luận và hoạt động cách mạng cho các thanh niên ưu tú Việt Nam có
mặt ở Trung Quốc hoặc từ trong nước sang. Người còn lập báo Thanh Niên, tổ
chức nhóm Thanh niên Cộng sản đoàn làm nòng cốt và viết cuốn Đường Cách
mệnh làm tài liệu giảng dạy và truyền về nước. Những hoạt động đó ở ngay
bên kia biên giới Việt - Trung lập tức tác động đến nhân dân trong nước. Năm
1926, tại Hà Nam, Nguyễn Hữu Tiến, một thanh niên yêu nước ở Lũng Xuyên (Duy
Tiên) được Trần Tử Yến - sinh viên Cao đẳng Thương mại Đông Dương (Hà Nội) là
hội viên Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (VNCMTN) giác ngộ và đưa tài liệu
cho đọc để tuyên truyền trong nhân dân. Sau đó Nguyễn Hữu Tiến được kết nạp vào
VNCMTN và tổ chức được nhiều cơ sở ở địa phương. Năm 1927, Trần Tử Yến tham gia
bãi khóa, bị đuổi học, bèn về làng Lũng Xuyên dạy học (thầy giáo Việt).
Từ đây Trần Tử Yến cùng Nguyễn Hữu Tiến và Vũ Hưng (Uyển), người làng Thận
Tu (huyện Duy Tiên) thành lập chi hội VNCMTN tại đình làng Lũng Xuyên vào năm
1927. Cũng thời gian này ở Nam Định đã thành lập tỉnh bộ VNCMTN và được kỳ bộ
Bắc Kỳ giao nhiệm vụ phát triển Hội sang các tỉnh lân cận kể cả Hà Nam. Vũ Khế
Bật, tức Cả Tất, hiệu là Đông Sơn, người Nam Định đã tuyên truyền tổ chức được
nhiều cơ sở hội trong hầu hết các huyện trong tỉnh Hà Nam. Một hội viên nữa ở
Nam Định là Đào Gia Lưu cũng về Bình Lục tổ chức các hội viên Nguyễn Hữu Hựu,
Nguyễn Văn Dương, lên thị xã gặp gỡ Lương Văn Thái - Thư ký Bưu điện ở Phủ Lý,
rồi lại về Duy Tiên gặp thầy giáo Nguyễn Doãn Chấp ở Tường Thụy. Tổ chức Hội
VNCMTN từ đó ngày một phát triển rộng khắp cho đến cuối năm 1928 đã ra đời tỉnh
bộ lâm thời VNCMTN Hà Nam (Đào Gia Lựu, Vũ Đức Thọ, Lương Văn Thái). Những năm
1928-1929 là thời kỳ tuyên truyền giác ngộ nhân dân, học tập các tác phẩm cách
mạng của Hội và tổ chức cơ sở. Nhưng do tinh thần hăng hái nên ở một số nơi Hội
đã sớm tổ chức các hoạt động đấu tranh.
Ở thị xã Phủ Lý, các phu kéo xe, công nhân ga xe lửa, học sinh thị xã đã
được vận động ném gạch đá vào trụ sở mộ phu, giật cờ đuổi đánh các cai mộ phu.
Ở huyện Duy Tiên, các hội viên có sáng kiến tổ chức sưu tầm bằng chứng tham
nhũng của hào lý để Nguyễn Hữu Tiến viết bài đăng báo tố cáo tội ác của chính
quyền làng xã, động viên nhân dân chống lại các việc làm tệ hại của bọn lý dịch
kỳ hào. Hội viên VNCMTN phát triển khá nhanh ở Hà Nam. Tính đến tháng 9-1929, ở
hầu hết các huyện của Hà Nam đều có các cơ sở Hội. Bình Lục là huyện có số hội
viên đông nhất. Cả tỉnh Hà Nam lúc này có tới 77 hội viên, đa số là thanh niên
giáo viên, hương sư, học sinh, nông dân... rải rác từ thị xã Phủ Lý xuống đến
các huyện và làng xã. Những chi hội VNCMTN là cơ sở cho sự hình thành Đảng bộ
Đảng Cộng sản Đông Dương sau này.
Đầu năm 1929, Kỳ bộ VNCMTN Bắc Kỳ đề xuất với Tổng bộ ý kiến thành lập Đảng
Cộng sản để đáp ứng yêu cầu của quần chúng cách mạng. Sau Hội nghị trù bị của
Tổng bộ hồi tháng 1-1928 và Đại hội tại Hương Cảng (19-5-1929), Đoàn đại biểu
Bắc Kỳ bỏ Đại hội ra về và thống nhất ý kiến thành lập Đảng Cộng sản. Vì vậy,
ngày 17-6-1929 xuất hiện Đông Dương Cộng sản Đảng tại Hà Nội. Dưới sự chỉ đạo
của Trung ương Lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng, tháng 10-1929, đồng chí Lê
Công Thanh được cử về Hà Nam xây dựng các chi bộ Đảng, bắt liên lạc với các cơ
sở VNCMTN, lựa chọn những thành viên ưu tú kết nạp đảng viên. Những nơi đầu
tiên đồng chí Lê Công Thanh đến là Bỉnh Trung, Ngọc Lũ, Hưng Công, cổ Viễn. Sau
một thời gian học tập mục đích, điều lệ, chính cương của Đông Dương Cộng sản
Đảng, các hội viên VNCMTN được lựa chọn và chuyển thành đảng viên Đông Dương
Cộng sản Đảng. Các chi bộ ghép đầu tiên được thành lập: Bỉnh Trung - Ngọc Lũ (5
đảng viên), Hưng Công - cổ Viễn - Sơ Lâm (3 đảng viên), Và - Vối (3 đảng viên).
Tháng 11-1929, Chi bộ Đảng Đông Dương Cộng sản được thành lập ở Trường học Duy
Tiên (6 đảng viên, đồng chí Nguyễn Hữu Tiến làm Bí thư). Tháng 1-1930, Chi bộ
Đảng được thành lập ở thị xã Phủ Lý (3 đảng viên, 2 là nữ). Chi bộ đường phố
thứ hai được thành lập vào tháng 3-1930 (3 đảng viên). Cũng do hoạt động của
đồng chí Lê Công Thanh, các chi bộ sau đây được thành lập: Chi bộ phố huyện Kim
Bảng (3-1930) với 3 đảng viên; Chi bộ Đại Vượng - Thanh Liêm (5-1930) với 3
đảng viên; Chi bộ Thọ ích - Lý Nhân (9-1930) với 3 đảng viên. Tính đến 9-1930,
Hà Nam đã có 9 chi bộ với trên 30 đảng viên. Thế là trong vòng non 1 năm (10-1929
đến 9-1930), các chi bộ Đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Hà Nam đã ra
đời và cũng trong tháng 9-1930, Tỉnh ủy lâm thời Đảng Cộng sản Việt Nam của Hà
Nam được thành lập tại Hội nghị đại biểu Đảng bộ Hà Nam họp tại Lũng Xuyên gồm
3 đồng chí: Lê Công Thanh, Nguyễn Hữu Tiến và Nguyễn Duy Huân. Bí thư là đồng
chí Lê Công Thanh. Dưới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy lâm thời, phong trào cách mạng
của nhân dân Hà Nam chuyển sang giai đoạn mới.
3. Phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Hà Nam trong giai đoạn
1930 - 1939 dưới sự lãnh đạo của Đảng (1)
Sau khi có sự lãnh đạo của Đảng, phong trào đấu tranh cách mạng của nhân
dân Hà Nam mang một sắc thái mới mẻ và sôi nổi hẳn lên. Đó là các hoạt động rải
truyền đơn, treo cờ Đảng, chống cường hào ác bá v.v...
- Ngày 21-1-1930, lần đầu tiên lá cờ đỏ búa liềm của Đảng được treo
trên dây điện thoại ngang sông Đáy ở thị xã Phủ Lý nhân dịp kỷ niệm ngày sinh
Lênin, Các Lípnếch, Rôsa Luýchxembua theo chủ trương của Đảng Cộng sản Đông
Dương. Lá cờ còn ghi rõ dòng chữ “Đảng Cộng sản Đông Dương”. Ngay đêm đó truyền
đơn kỷ niệm 3 vị và giới thiệu đường lối của Đảng được rải khắp thị xã.
- Trong dịp 1-5-1930 có nhiều cờ và truyền đơn được treo và rải ở rất nhiều
nơi từ thị xã xuống đến các huyện lỵ, các làng xã, kêu gọi nhân dân tranh đấu,
khích lệ tinh thần nhân dân trong toàn tỉnh.
- Ngày 22-8-1930, hơn 300 nông dân Hưng Công (huyện Bình Lục) kéo lên
huyện đường vạch tội bọn kỳ hào, hương chính đòi phế bỏ tổ chức Hội đồng Hương
chính, bỏ sổ chi thu tiền đắp đê. Tri huyện Lan bị buộc phải chấp thuận giải
quyết.
- Sáng ngày 25-8-1930, 500 nông dân Ngọc Lũ (huyện Bình Lục) kéo lên
huyện đấu tranh, có cả phụ nữ tham gia. Tri huyện đòi phải làm đơn. Chi bộ Đảng
Ngọc Lũ lãnh đạo quần chúng viết bản yêu sách và cả 500 người cùng ký tên hoặc
điểm chỉ. Tri huyện đành phải nhận yêu sách, hứa giải quyết.
- Tháng 9-1930, khi tin tức về phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh lan truyền khắp
nơi thì tại đền Lảnh thôn Lảnh Trì (xã Mộc Hoàn Nam, huyện Duy Tiên) nhân ngày
hội đền, đã diễn ra cuộc mít tinh và tuần hành của 200 người, nghe diễn thuyết,
biểu thị ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh, ủng hộ Đảng Cộng sản Đông Dương. Đoàn người
từ Ba Hàng tiến ra dốc Chợ Lệnh theo đê Đại Hà kéo vào đền, vừa đi vừa hô các
khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc và phong kiến”, “Chống sưu cao thuế nặng”...
- Tháng 9-1930, ở Lý Nhân cuộc rước đuốc Tết Trung thu của trẻ em làng Mạc
Thượng đã biến thành một cuộc biểu tình tuần hành đả đảo tên phó lý Canh, một
cường hào gian ác ở xã này, thu hút sự tham gia rất đông đảo của nhân dân trong
làng.
- Tháng 9-1930, tại thị xã Phủ Lý, các tiểu thương trong chợ làm đơn đòi bỏ
phạt, giảm thuế, sửa sang chợ, kéo vào Tòa sứ buộc Chánh sứ phải nhận đơn và bỏ
thuế chỗ ngồi.
Trong các hoạt động kể trên có phần sơ hở nên địch dò la phát hiện được một
số cán bộ Đảng và cơ sở cách mạng ở Phủ Lý, chúng liền mở cuộc khủng bố lớn vào
cuối tháng 9-1930. Lực lượng cách mạng bị thiệt hại, nhưng cơ quan lãnh đạo của
Tỉnh ủy vẫn được bảo toàn. Vượt qua khủng bố, Tỉnh ủy lâm thời họp và quyết
định một cuộc đấu tranh mới để hưởng ứng phong trào nông dân Thái Bình và Xô
viết Nghệ Tĩnh.
- Ngày 20-10-1930, cả phiên chợ Bỉnh Trung (chợ Bồ Đề) thuộc huyện Bình Lục
đã biến thành cuộc mít tinh và tuần hành của vài trăm nông dân trong vùng. Sau
lời diễn thuyết của đại diện Tỉnh ủy Ngô Gia Bảy, cờ đỏ búa liềm được trương
lên và pháo nổ giòn giã, đoàn người hô vang khẩu hiệu “Đả đảo đế quốc Pháp và
Nam triều”, “ủng hộ Xô viết Nghệ Tĩnh và nông dân Tiền Hải, “Ủng hộ Liên bang
Xô viết”, “Đảng Cộng sản Đông Dương vạn tuế”... Đoàn người vừa đi về hướng An
Ninh vừa hô khẩu hiệu, đốt pháo reo hò, đòi bãi sổ chi thu, đòi giảm thuế. Đến
chợ Vọc vào giữa trưa thì đoàn biểu tình giải tán. Cuộc biểu tình thu hút tới
1.000 lượt người tham dự trong 7 giờ đồng hồ một cách sôi nổi quyết liệt, gây
tiếng vang lớn trong nhân dân. Trong thư gửi Quốc tế Nông dân ngày 5-11-1930,
lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã thông báo: Hà Nam là một trong những tỉnh có phong
trào nông dân" (1). Hội nghị cán bộ Đảng Trung Kỳ thì nhận định:
“Nông dân ở Thái Bình và Phủ Lý đã tổ chức những cuộc bãi công và biểu tình
chống tư bản và địa chủ”, “Thái Bình và Phủ Lý có nông hội” (2). Địch rất
lo sợ trước cuộc đấu tranh này, điều động binh lính từ thị xã Phủ Lý và từ Nam
Định tới tổ chức càn quét, bắt bớ, kiểm soát chặt chẽ. Lực lượng cách mạng ở
quanh vùng Bỉnh Trung bị thiệt hại, một số người bị địch bắt. Địch đồng thời tổ
chức đánh phá cơ sở cách mạng ở các huyện khác. Nhân dân Hà Nam kiên cường bảo
vệ, giúp đỡ các đảng viên, do đó sự thiệt hại của lực lượng cách mạng trong toàn
tỉnh là không đáng kể.
Lúc này, Hội nghị lần thứ Nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp tại Hương
Cảng (10-1930) thông qua Luận cương Chính trị và đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam
thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 22-1-1931, Hội nghị đại biểu Đảng bộ Hà Nam
được triệu tập để truyền đạt Nghị quyết Trung ương và hoạch định chiến lược đấu
tranh trong tỉnh. Hội nghị bầu Ban Tỉnh ủy chính thức. Từ sau sự kiện này phong
trào cách mạng Hà Nam chuyển theo hướng đấu tranh sâu sắc hơn.
Duy Tiên là nơi đấu tranh mạnh từ trước, nay bước vào đấu tranh giành những
quyền lợi thiết yếu cụ thể như bài trừ các hủ tục hương thôn mà các hào lý muốn
lợi dụng, như bỏ lệ tế quan ôn (Lũng Xuyên), bỏ lệ cỗ ăn cỗ dựa (cỗ mang phần
về của mâm trên - Hòa Mạc). Tháng 4-1931, nhân dân thôn Vân Chu (xã Phù Vân,
huyện Kim Bảng) chống chủ thầu lấy ruộng lúa của dân để làm đê và đòi bồi
thường. Tháng 6-1931, nhân dân Yên Lạc (xã Đồng Hóa, huyện Kim Bảng) phản đối
địa chủ xâm chiếm khu đất cấm của làng. Tri huyện đem lính về đe dọa, nhưng
không làm được gì hơn.
Để chống lại phong trào cách mạng, địch không chỉ sử dụng những công cụ bạo
lực có trong tay mà còn tuyên truyền và lưu hành những cuốn sách, bài báo xuyên
tạc, bôi nhọ chủ nghĩa cộng sản và những người cộng sản. Thủ đoạn này rất nham
hiểm và được thực hiện từ các tỉnh thành xuống đến tận các làng xã. Vì vậy Đảng
bộ Hà Nam và nhân dân trong tỉnh đã đồng thời tiến hành cuộc đấu tranh trên mặt
trận văn hóa tư tưởng. Nhiều ấn phẩm sách báo do Đảng bộ chủ trương đã được
phát hành nhằm đánh bại các luận điệu phản tuyên truyền của địch. Đồng thời
nhiều lớp huấn luyện chính trị, văn hóa được tổ chức bí mật ở nhiều nơi cho
đảng viên và quần chúng cách mạng. Đây chính là điểm khởi đầu dẫn dắt đến sự ra
đời các tổ chức cách mạng. Lần lượt các tổ chức như Nông hội đỏ, Cứu tế đỏ, Phụ
nữ liên hiệp hội... được thành lập và phát triển. Số lượng các hội viên tăng
lên nhanh chóng. Chỉ trong vòng hai năm 1930-1931, số hội viên Nông hội Hà Nam
lên tới 300. Riêng huyện Bình Lục có tới 168, một xã Ngọc Lũ có 37; xã Đại
Vượng (huyện Thanh Liêm) có 20, huyện Lý Nhân có 68. Ngoài các tổ chức bí mật,
còn có các tổ chức bán công khai như Hội Hoa đăng, Hội Tập thiện ở Đoan Vĩ
(huyện Thanh Liêm); Hội may áo Thư Lâu, Hội Đàn Thiện ở Dũng Kim (huyện Lý
Nhân)... đã hình thành ở những nơi phong trào mạnh như ở các huyện Bình Lục,
Duy Tiên. Các Tổ xích vệ được thành lập để bảo vệ Đảng, bảo vệ cán bộ đi công
tác...
Phong trào cách mạng phát triển mạnh thì kẻ thù cũng tăng cường khủng bố.
Ngày 4-5-1931, cơ quan Tỉnh ủy tại thị xã Phủ Lý bị mật thám lục soát bắt đi
một số cán bộ. Địch dùng kế nội gián phá hoại Xứ ủy, Tỉnh ủy. Các cơ sở cách
mạng ở nhiều nơi trong tỉnh bị phá vỡ, một số nơi mất trắng cả lãnh đạo và tổ
chức. Đấy là một thời gian đầy khó khăn thử thách đối với Đảng và phong trào
cách mạng cả nước và của tỉnh Hà Nam. Nhưng cũng chính qua thử thách này, nhân
dân cả nước thấy rõ khí tiết và bản lĩnh người cộng sản trước tòa án đế quốc,
trong tù đày và chịu muôn trùng khủng bố của kẻ thù. Nhân dân Hà Nam tự hào vì
những người con ưu tú của mình từng có mặt trong số những tấm gương ưu tú đó:
- Đó là các đồng chí Nguyễn Hữu Tiến, Trần Thị Phúc, Nguyễn Duy Huân, Phạm
Văn Tô tại Tòa án Hà Nam, Hà Nội và trong nhà tù Hỏa Lò, Côn Đảo. Tại phiên tòa
ngày 10-2-1932, ở Phủ Lý, đồng chí Trần Thị Phúc phụ trách cơ quan giao thông
Tỉnh ủy đã hiên ngang vạch mặt bọn cướp nước và bán nước. Theo báo cáo của Giám
đốc Mật thám Hà Nội, chị Phúc “đã nhiều lần chửi chính phủ thực dân và ca ngợi
chủ nghĩa cộng sản” (1).
- Đồng chí Lương Khánh Thiện, người làng Mễ Tràng, xã Liêm Chính (huyện
Thanh Liêm), năm 1927 gia nhập Hội Thanh niên Cách mạng Việt Nam. Năm 1929 đồng
chí gia nhập Đông Dương Cộng sản Đảng. Năm 1930 đồng chí bị bắt và bị đày đi
Côn Đảo. Năm 1936 đồng chí ra tù. Trước phiên tòa đế quốc ở Kiến An, đã biến
phiên tòa thành diễn đàn, phất cao cờ Đảng và hô vang các khẩu hiệu cách mạng.
Sau khi thoát khỏi nhà tù Côn Đảo, đồng chí về Hà Nội hoạt động. Năm 1937
là xứ ủy Bắc Kỳ, trực tiếp làm Bí thư Thành ủy Hà Nội. Năm 1939 - 1940 là Bí
thư Thành ủy Hải Phòng. Tháng 11-1940, đồng chí bị bắt, ngày 1-7-1941 bị xử tại
Kiến An, bị kết án tử hình.
- Các đồng chí Trần Đình Quỳ, Ngô Gia Bảy, Trần Xuân Đán hiên ngang tranh
đấu cho lý tưởng bất chấp khủng bố.
Từ năm 1932, phong trào cách mạng của nhân dân Hà Nam vì bị khủng bố nên
tạm thời lắng xuống. Cũng từ đây, Đảng bộ Hà Nam bước vào giai đoạn khôi phục
và củng cố sau những tổn thất lớn. Nhờ sự lãnh đạo chặt chẽ của Xứ ủy, nhờ hoạt
động tích cực của các đảng viên địa phương hoặc từ các tỉnh lân cận trở về, nhờ
sự đùm bọc của nhân dân, hoạt động cách mạng lại dần dần hồi phục. Năm 1935,
toàn Hà Nam lại đã có 30 đảng viên và 4 chi bộ lập thêm ở thị xã Phủ Lý, các
huyện Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm. Các Hội Tập thiện, Hội Phật học, Hội Hoa
đăng, Hội Hiếu lại triển khai hoạt động. Đặc biệt là trên lĩnh vực văn học -
nghệ thuật, đấu tranh cho “nghệ thuật vị nhân sinh” lúc ấy đang sôi nổi trên
văn đàn. Kể từ năm 1933, đồng chí Nguyễn Thượng Cát (bút danh Hồ Xanh) đã viết
bài tham gia tranh luận, nêu cao quan điểm của Đảng về nghệ thuật. Điều này vừa
chứng tỏ Đảng bộ Hà Nam quan tâm tới trí thức văn nghệ sĩ, vừa cho thấy tác
động mở đường của sự kiện đó cho văn nghệ sĩ Hà Nam đi theo cách mạng ngày một
hăng hái.
Từ năm 1934, các cuộc đấu tranh đòi quyền lợi hàng ngày lại bắt đầu diễn ra
và phát triển. Nhiều vụ đấu tranh chống cường hào lý dịch phù thu lạm bổ thu
được thắng lợi. Nông dân các thôn Trung Hiếu, Bồng Lạng, Đoan Vĩ, Đại Vượng
(huyện Thanh Liêm) làm đơn gửi lên Tòa sứ tỉnh khất thuế. Dân làng ở huyện Lý
Nhân, được đảng viên lãnh đạo, chỉ nhận nộp thuế chính. Lý trưởng không nhận
thì dân mang lên huyện nộp. Tri huyện gọi lý trưởng lên nhận. Thế là phong trào
đấu tranh thắng lợi, lan sang các thôn Phú Cốc, Đồng Thủy, Thanh Nga, Do Đạo và
đều giành thắng lợi. Hình thức đấu tranh này đã từng diễn ra ở thời kỳ cao trào
30-31, nhưng vào thời kỳ này tỏ ra thích hợp và có hiệu quả, nó chuẩn bị cho
các cuộc đấu tranh công khai, bán công khai trong thời gian sau.
Tháng 3-1935, Đại hội lần thứ Nhất của Đảng Cộng sản Đông Dương họp tại Ma
Cao đánh dấu sự phục hồi của toàn Đảng. Tháng 4-1936, Mặt trận Bình dân Pháp
lên nắm chính quyền ở nước Pháp. Chính phủ Pháp thực hiện một số chính sách nới
rộng tại các thuộc địa, như ân xá tù chính trị, nới rộng quyền tự do dân chủ,
cải thiện dân sinh... Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương liền họp hội nghị
nhận định tình hình và nêu cao mục tiêu đấu tranh “đòi tự do dân chủ, cơm áo và
hòa bình” (Nghị quyết Trung ương 7-1936). Những biến đổi chính trị hết sức quan
trọng đó đã mở ra một giai đoạn mới của Cách mạng Việt Nam. Đó là cao trào
1936-1939. Hầu như tất cả các tầng lớp nhân dân ở nông thôn, đô thị đều đứng
lên tham gia tranh đấu qua các cuộc mít tinh biểu tình tuần hành, bãi công, bãi
thị nhằm vào các mục tiêu cụ thể tùy từng địa phương, mà đòi tự do, dân chủ,
cơm áo và hòa bình. Điều đặc biệt là nhiều tờ báo của Đảng xuất bản công khai
đã tuyên truyền rộng rãi về các chủ trương đường lối của Đảng, nhiều cuốn sách,
tạp chí cách mạng và tiến bộ được in ấn phát hành công khai... Các hình thức
đấu tranh kết hợp công khai, bán công khai phát triển như những ngày hội quần
chúng.
Ở Hà Nam, đầu tiên là việc đọc các sách, báo cách mạng trở thành phong trào
tại thị xã Phủ Lý. Tất cả các tầng lớp nhân dân đều đọc sách, báo của Đảng.
Nhiều cuộc nói chuyện về chủ nghĩa cộng sản diễn ra liên tiếp. Đặc biệt, lớp
công chức giáo viên, học sinh tiểu tư sản cũng tham gia phong trào này một cách
đông đảo. Trường tư thục Minh Tiến ở thị xã Phủ Lý là nơi đọc sách, báo, tiến
bộ, trở thành nơi hội họp quần chúng công khai. Phong trào này lan rộng xuống
các vùng nông thôn các vùng Khả Phong, Thụy Sơn, Nhật Tân (huyện Kim Bảng);
Lũng Xuyên, Đọi Sơn, Điệp Sơn (huyện Duy Tiên); Bằng Khê, Mễ Tràng, Bích Trì
(huyện Thanh Liêm). Các loại sách, báo phổ biến như: Nhành lúa, Bạn dân,
Thời thế, Đời nay, Tin tức, Le Travail, Tư bản luận... được bày bán ở các cửa
hiệu Việt Dân, Vĩnh Long (thị xã Phủ Lý), Nam Kim (huyện Kim Bảng). Các cửa
hiệu này đều là cơ sở của Đảng, công khai phát hành các loại sách, báo tiến bộ.
Vì mục đích tuyên truyền là chính cho nên các sách, báo này thường được bán giá
hạ, có cuốn như cho không. Người phát hành được hưởng 1/3 hoa hồng. Các đại lý
còn vận động cả độc giả mua báo tháng, trả tiền trước (1).
Tỉnh ủy Hà Nam còn trực tiếp đóng góp vào việc biên dịch, biên soạn và in
ấn các tác phẩm cách mạng. Đồng chí Nguyễn Thượng Cát lược dịch cuốn Tư
bản luận, in thành 3 tập khoảng 4.000 bản, viết nhiều bài cho báo Hồn
trẻ. Đồng chí vận động chủ hiệu tạp hóa Việt Dân là một quần chúng cách
mạng biến cửa hiệu đồng thời làm một Nhà xuất bản (in ấn ở Nhà in Mới - Hà Nội,
58 Hàng Đậu). Cuốn Tư bản luận được bán rất chạy không chỉ trong tỉnh
mà còn ở cả Hà Nội, Hải Phòng, Huế, Đà Lạt, Sài Gòn. Đồng chí Nguyễn Đức Quỳ
(còn có những tên khác là Đào Thành Kim, Đào Bình Luống), khi mới 24 tuổi (năm
1938) là Bí thư Tỉnh uỷ đầu tiên của Hà Nam trong thời kỳ 1938-1939, đã tham
gia tích cực vào công tác tuyên truyền chủ nghĩa cộng sản. Với bút danh An
Dương, đồng chí Nguyễn Đức Quỳ trực tiếp dịch một bài trong cuốn Trường Sơ
học của Đảng Cộng sản Pháp, biên soạn cuốn Tổ chức vô sản lên án chế độ tư
bản, đưa ra chương trình hành động của Đảng Cộng sản. Tác giả kêu gọi công
nông, tiểu tư sản, binh lính, làm cách mạng lật đổ chế độ đương thời (theo tài
liệu Mật thám Pháp). Đồng chí Đỗ Đình Phát, bút danh Đỗ Thị Bích Liên
viết Tự do và bình đẳng, Gót sắt, Thơ mới... Kẻ địch rất bực tức
nhưng cũng chỉ đe dọa khám xét Nhà xuất bản Việt Dân mà không dám làm gì hơn.
Sau đó địch ra lệnh cấm xuất bản.
Trong lúc đó ở nông thôn, các hình thức đấu tranh của các hội Hiếu, Tương
tế, Tập thiện, Giáp mới... phát triển rầm rộ hơn trước trong hầu khắp các làng
xã. Tại huyện Kim Bảng còn có Hội Bóng đá để tập hợp thanh niên, ở Khả Phong
(huyện Kim Bảng) có Hội Sư tử tập luyện võ nghệ. Tại thị xã Phủ Lý có Hội Chấn
hưng công nghệ của các tư sản và chi bộ thị xã đã cử người vào hoạt động. Các
lớp truyền bá Quốc ngữ theo chủ trương của Đảng được mở ở Đọi Sơn (huyện Duy
Tiên), Phù Đê (huyện Kim Bảng) và thị xã Phủ Lý. Hà Nam còn có Hội Ái hữu Hương
sư thu hút hầu hết các hương sư, tổng sư trong tỉnh. Hội đã đấu tranh đòi cải
tiến chế độ lương bổng. Kết quả là thực dân Pháp phải bỏ chế độ cấp lương bằng
ruộng, thay bằng tiền. Các hương lý từ nay phải nộp tiền về tỉnh để phát cho
hương sư, tổng sư hàng tháng.
Nhân dân nông thôn còn đẩy mạnh phong trào chống phụ thu lạm bổ, chống
cường hào, hào lý tham nhũng bắt nạt dân lành. Nhân dân Lũng Xuyên (huyện Duy
Tiên) đấu tranh đòi bỏ một số tục lệ do lấy ra 7 mẫu ruộng tư văn, sau đó kiện
Chánh tổng Yểng lấy lại 8 mẫu ruộng hắn bắt phải nộp lên tổng. Nhân dân xã Khả
Phong (huyện Kim Bảng) buộc chính quyền thuộc địa phải xử tù lý trưởng vì tội
thu thuế nặng và có hình phạt dã man người thiếu thuế. Nhân dân huyện Kim Bảng
viết bài tố cáo tội tham nhũng, biển thủ, bao che tội lỗi cấp dưới... của tri
huyện Nguyễn Ước Lễ trên báo Bạn dân rồi kiện hắn lên phủ. Thống sứ
Saten phải về xem xét tại chỗ và chuyển viên tri huyện này đi nơi khác. Hình
thức đấu tranh này còn được thực hiện mãi sang tháng 3-1939 ở tổng Đồng Thủy và
Cao Đà khi viên tri huyện thông đồng với chủ thầu đắp đê Phương Trà bớt xén và
chậm thanh toán tiền công. Nhân dân ở đây được sự lãnh đạo đứng lên đấu tranh
thắng lợi.
Tháng 1-1937, đặc sứ Gôđa của Chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp sang Đông
Dương. Quần chúng cách mạng xem đây là một dịp đấu tranh đòi tự do dân chủ, cơm
áo và hòa bình. Cuộc đón tiếp Gôđa do Đảng tổ chức đã diễn ra cực kỳ sôi nổi,
tỏ rõ thế lực của Đảng và cách mạng vô cùng mạnh mẽ trên tất cả mọi miền đất
nước. Hà Nam là một tỉnh mà Gôđa không tới, nhưng Gôđa có tới Nam Định sát gần
Hà Nam. “Đảng bộ Hà Nam đã hướng dẫn các cơ sở Đảng lãnh đạo quần chúng làm
những bản Dân nguyện; công khai vạch trần sự áp bức bóc lột của quan lại cường
hào, yêu cầu cải thiện các chế độ đóng góp, sưu thuế, giải quyết công ăn việc
làm hoặc chống việc bắt dân uống rượu Phôngten. Phong trào phát triển tương đối
rộng khắp các vùng Phù Đê, Đức Mộ, Cao Mật, An Đông, Cát Nguyên, Khả Phong, Lưu
Xá, Gốm, Thụy Sơn (Kim Bảng); Phú Cốc, Đông Tây Trữ, Duyên Hà, Thanh Nga, Đồng
Thủy (Lý Nhân). Ở Bình Lục, một số đảng viên bị địch quản thúc đã làm đơn gửi
Gôđa yêu cầu Chính phủ Pháp can thiệp trả lại công quyền cho những người bị
quản thúc. Kết quả chính quyền tay sai của địch đã phải công bố hủy bỏ chế độ
quản thúc và trả lại tự do cho các đồng chí đó. Ở Lý Nhân, đồng chí Trần Doãn
Sách đã vận động được hơn 200 người ký vào bản Dân nguyện và trực tiếp mang lên
Hà Nội để trao cho Gôđa, nhưng bị nhà cầm quyền cản trở không cho gặp và bắt
giam một thời gian sau phải trả tự do” (1).
Trong năm 1938, ở Hà Nam có tới 10 cuộc đấu tranh dưới hình thức mít tinh
biểu tình đã được tổ chức ở các địa điểm như chợ Bầu (thị xã Phủ Lý); núi Bảo
Thái (huyện Thanh Liêm); núi Bàn Cờ, Đồng Sóc (huyện Kim Bảng); chợ Nội, đống
Voi Phục (huyện Bình Lục); cuộc mít tinh ở chùa Đọi (huyện Duy Tiên) đông tới
200 người. Điều đáng lưu ý là khi ở Hà Nội, Đảng tổ chức cuộc mít tinh công
khai lớn ở nhà Đấu xảo ngày 1-5-1938 thì Hà Nam cùng hưởng ứng với một đoàn
quần chúng tới 500 người đã kéo lên Hà Nội tham dự. Số đông trong đó là nhân
dân các huyện Kim Bảng, Lý Nhân, Duy Tiên. Cũng năm đó, chính quyền thuộc địa
bày ra việc bầu cử đại biểu vào Viện Dân biểu (tháng 1-1937, cuộc bầu cử đại
biểu Dân biểu Bắc Kỳ đã được tổ chức và đại biểu của Đảng đã thắng lớn). Nay
lại diễn ra bầu cử cấp tỉnh. Hà Nam cũng chuẩn bị cho sự kiện này. Đảng bộ Hà
Nam quyết định đưa đồng chí Nguyễn Bá Ương (tức Thận thuộc Chi bộ Hưng Công,
huyện Bình Lục) ra tranh cử. Nhân dịp này, Tỉnh ủy chủ trương vận động; tranh
cử rầm rộ đồng thời tuyên truyền nêu cao uy tín của Đảng trong nhân dân. Rất
nhiều sáng kiến được thực hiện (đặt trụ sở ứng cử viên tại tiệm đồng hồ Vĩnh
Long của đồng chí Đắc ở thị xã Phủ Lý, lập Ban vận động bầu cử, rải truyền đơn,
dán khẩu hiệu, áp phích, viết báo, tổ chức từng đoàn đi xe đạp về các vùng nông
thôn, mở các cuộc tiếp xúc ứng cử viên và cử tri...). Các khẩu hiệu tranh cử
hợp với lòng dân về tự do dân chủ, chống sưu cao thuế nặng, chống cường hào,
chống Nhật toan chiếm Đông Dương, bênh vực người lao động v.v... Sau cuộc bầu
cử, tuy không trúng cử trước các đối thủ như Phạm Quang Vọng, Phan Trần Trúc,
Nguyễn Giang là các nhà tư sản kiêm địa chủ tung tiền mua cử tri và dồn phiếu
cho nhau, nhưng đại biểu của ta được 200 trong tổng số 500 phiếu. Điều quan
trọng hơn là uy tín ảnh hưởng của Đảng và cách mạng tăng lên rất lớn.
4. Phong trào cách mạng 1939-1945 và Cách mạng tháng Tám 1945 ở Hà Nam
Cuối năm 1938, chính phủ Mặt trận Bình dân Pháp đổ, chính phủ phản động của
Thủ tướng Đalađiê lên thay thế. Tháng 11-1939, Đalađiê ra sắc luật hủy bỏ mọi
thành quả của Mặt trận Bình dân Pháp và quay trở lại các chính sách phản động
đàn áp thuộc địa. Trên thế giới, sau nhiều năm chuẩn bị chiến tranh của phe
trục phát xít, ngày 1-9-1939 phát xít Đức tấn công Ba Lan mở đầu cuộc Đại chiến
Thế giới II. Hai tháng sau, ngày 6 đến 08-11-1939 Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương họp Hội nghị lần thứ 6 tại Hóc Môn Bà Điểm (Gia Định), quyết định sự
chuyển hướng chỉ đạo chiến lược cho cách mạng trong tình hình mới. Một giai
đoạn lịch sử mới của dân tộc đã sang trang.
Tại Hà Nam, bước vào năm 1939, bọn thực dân lập tức triển khai các hành
động khủng bố bắt bớ cán bộ, vây ráp càn quét, khám xét các cơ sở của cách mạng
ở thị xã và khắp các làng xã trong tỉnh. Nhiều cán bộ Đảng hoặc bị bắt hoặc
phải tạm lánh đi nơi khác. Địch lại thực hiện các chính sách bóc lột vơ vét, bắt
lính... để chuẩn bị cho chiến tranh, chúng xóa bỏ các tổ chức hợp pháp của nhân
dân, cấm lưu hành và đọc các sách báo thời Mặt trận Bình dân v.v... Nhưng nhân
dân Hà Nam vẫn một lòng trung kiên che chở, báo vệ cán bộ Đảng của địa phương
và của Xứ ủy. Lúc này đồng chí Trần Tử Bình, người xã Tiêu Động Thượng (huyện
Bình Lục) được trao nhiệm vụ phụ trách Hà Nam.
Trước tình hình mới ở địa phương và trên phương diện toàn quốc, Tỉnh ủy Hà
Nam triệu tập Hội nghị mở rộng vào cuối năm 1939 nhằm triển khai các nghị quyết
của Hội nghị Trung ương 6 vừa được thông qua. Tại Hội nghị này đồng chí Trần Tử
Bình được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy mới. Chỉ ít tháng sau trong Đại chiến thứ II,
Pháp đầu hàng phát xít Đức (22-6-1940), tướng Đờcu được cử sang Đông Dương, rồi
quân Nhật tiến vào Đông Dương (28-6-1940). Khởi nghĩa Bắc Sơn nổ ra
(17-9-1940), lực lượng vũ trang Cứu quốc quân ra đời. Tình hình cho thấy con
đường đấu tranh vũ trang đã bắt đầu. Tháng 10-1940, Hội nghị Tỉnh ủy Hà Nam lại
được triệu tập tại Cổ Viễn (huyện Bình Lục) dưới sự chủ trì của đồng chí Trần
Tử Bình. Hội nghị đã quyết định chuẩn bị điều kiện tiến tới khởi nghĩa vũ trang
giành chính quyền(1).
Ngay sau đó, ngày 6-11-1940, Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ 7 tại
Đình Bảng (Bắc Ninh) khẳng định các nghị quyết chiến lược của Hội nghị 6 và chủ
trương vũ trang bạo động giành chính quyền, xác định kẻ thù trực tiếp là đế
quốc Pháp và phát xít Nhật, thành lập Mặt trận Dân tộc Thống nhất phản đế Đông
Dương.
Từ sau Hội nghị Tỉnh ủy ở Cổ Viễn, phong trào cách mạng ở Hà Nam lại bắt
đầu phát triển. Tại huyện Bình Lục, nhiều hoạt động rải truyền đơn, treo cờ,
khẩu hiệu, áp phích... diễn ra liên tiếp tố cáo tội ác của Pháp - Nhật, kêu gọi
đánh đổ Pháp - Nhật. Nhân dân nhiều nơi nổi dậy đấu tranh chống sưu cao thuế
nặng, chống chủ trương nhổ lúa trồng đay và thầu dầu của Nhật như ở các xã Ngọc
Lũ, Bồ Đề, Hưng Công, Vũ Bản, An Ninh, Mỹ Tho, Đồng Du... (huyện Bình Lục).
Cùng với đấu tranh chính trị, nhiều nơi tổ chức quyên góp sắt rèn vũ khí và tập
luyện quân sự tổ chức tự vệ chuẩn bị cho khởi nghĩa. Xét thấy chưa phải đến lúc
khởi nghĩa ngay, lại thấy các cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, Nam Kỳ không thành công,
Tỉnh ủy Hà Nam ra chỉ thị hoãn các kế hoạch khởi nghĩa và vẫn duy trì các hình
thức đấu tranh hiện có. Đúng lúc này địch tổ chức các cuộc càn quét lớn vào các
xã Cổ Viễn, Hưng Công, Ngọc Lũ, Đồng Du, Bồ Đề, Vụ Bản để tiêu diệt lực lượng
cách mạng với mục tiêu “chặt đầu, phá tổ, nhổ rễ”. Trong đợt này gần 200 người
đã bị địch bắt, Ban Tỉnh ủy chỉ còn lại đồng chí Trần Tử Bình, ở huyện Kim
Bảng, nhiều cán bộ và đảng viên rút vào bí mật nên bảo toàn được lực lượng khi
địch càn quét lùng sục. Do biết rút vào bí mật và tìm các biện pháp thích hợp
đối phó với kẻ thù, do được nhân dân hết lòng giúp đỡ che chở bảo vệ nên ở
nhiều nơi như các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên... lực lượng cách mạng
vẫn tồn tại và phát triển. Ngay tại Cổ Viễn, cơ quan in báo Cờ Giải
phóng của Xứ ủy cũng vẫn hoạt động bình thường. Tóm lại, dù đã ra sức
triệt phá lực lượng cách mạng một cách quyết liệt, địch vẫn không thể tiêu diệt
hoàn toàn được phong trào đấu tranh của nhân dân và bộ máy lãnh đạo là Đảng
Cộng sản Đông Dương.
Đúng vào lúc tình hình trong nước và quốc tế có những biến chuyển quan hệ
tới vận mệnh dân tộc thì lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về nước ngày 8-2-1941. Hội
nghị Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương lần thứ 8 được triệu tập tại Pắc Bó
(Cao Bằng) dưới sự chủ tọa của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Hội nghị khẳng định
chiến lược Cách mạng Việt Nam là giải phóng dân tộc khỏi ách Pháp - Nhật, thành
lập Mặt trận Việt Minh rộng rãi đoàn kết dân tộc. Sự thay đổi chiến lược này
hết sức quan trọng và đúng đắn, vì vậy đã dấy lên cao trào chưa từng có trong
lịch sử, dẫn tới khởi nghĩa toàn quốc giành chính quyền về tay nhân dân thắng
lợi vào tháng 8-1945.
Trên địa bàn Hà Nam, trong nửa cuối 1941 các hoạt động cách mạng và tranh
đấu lại bắt đầu được nhen nhóm khi tiếp xúc với chủ trương đường lối Việt Minh
nhờ các cán bộ của Đảng (như đồng chí Trần Quyết, Lương Văn Đài...). Các hội
Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc... được thành lập; truyền đơn, biểu ngữ
giới thiệu Mặt trận Việt Minh được trương lên, cờ đỏ sao vàng được treo từ ga
Đồng Văn đến cống Nhật Tựu (huyện Kim Bảng), trên cây đa làng Chuông (huyện Duy
Tiên), tại Văn Quán (huyện Thanh Liêm), huyện lỵ Kim Bảng và nhiều nơi khác.
Các tổ chức quần chúng đã có trước đây nay được chấn chỉnh và chuyển thành các
đoàn thể Cứu quốc trong Mặt trận Việt Minh.
Cơ sở Việt Minh đã phát triển đến các thôn Lưu Xá, Cao Mật, Thụy Sơn, Khả
Phong, Phương Đình (huyện Kim Bảng); Cổ Viễn, Hưng Công, Bối Kênh (huyện Bình
Lục); Đoan Vĩ, Văn Quán (huyện Thanh Liêm); Ngọc Động (huyện Duy Tiên); Mạc
Thượng (huyện Lý Nhân) và thị xã Phủ Lý. Tham gia vào Việt Minh, ngoài các tầng
lớp nhân dân lao động còn có cả một số phú nông, tiểu chủ, con cái các địa chủ.
Các tổ chức Đảng cũng được kiện toàn và phát triển thêm (như chi bộ ghép Duy
Tiên - Kim Bảng đầu năm 1942), công tác huấn luyện chính trị được tăng cường
v.v... Đêm 9-3-1942, chi bộ ghép đã phối hợp với Việt Minh huyện Mỹ Đức (Hà Đông)
cắm cờ đỏ sao vàng và rải truyền đơn ở Bến Đục và các chùa nhân Hội chùa Hương.
Những hình thức như vậy cũng được thực hiện ở làng Chuông, ga Đồng Văn (huyện
Duy Tiên), dọc đường 21 (huyện Bình Lục) và nhiều nơi khác. Việt Minh huyện Kim
Bảng còn tổ chức quyên góp được nhiều quần áo, tiền, thuốc ủng hộ các chiến sĩ
Bắc Sơn.
Phong trào cách mạng đang lên thì địch lại tiến hành khủng bố kể từ tháng
5-1942. Các cơ quan đầu não của Đảng bị đánh phá, một số cán bộ, đảng viên bị
địch bắt. Trong vòng 3 năm 1942 - 1944, có lúc Hà Nam không còn cán bộ lãnh
đạo, Bí thư liên Tỉnh ủy C tức đồng chí Trần Tử Bình phải kiêm lãnh đạo Hà Nam.
Có lần Xứ ủy họp ở Cổ Viễn (huyện Bình Lục) vì có nội gián nên phải chuyển địa
điểm và bị bao vây, địch bắt được đồng chí Phan Trọng Tuệ (5-1943). Cuối năm
1943, An toàn khu của Xứ ủy ở huyện Kim Bảng bị phá vỡ, đồng chí Trần Tử Bình
cũng bị bắt (tháng 12-1943) v.v... Nhưng cũng như các lần trước, dù không có cơ
quan lãnh đạo cấp tỉnh nhưng các cơ sở cách mạng còn lại vẫn vững vàng và duy
trì hoạt động thích hợp, bí mật phát triển các cơ sở Việt Minh. Đó là những nền
tảng vững chắc để cán bộ đảng ở cấp trên về khôi phục phong trào.
Vì vậy cuối năm 1944, nhờ sự hoạt động tích cực và có hiệu quả của cán bộ
Xứ ủy mới được cử về là đồng chí Lê Quang Tuấn, các cơ sở cách mạng lại được
liên kết lại, các đoàn thể Việt Minh lại được xây dựng ở khá nhiều nơi, các
hoạt động treo cờ rải truyền đơn cổ vũ Việt Minh hô hào tham gia cứu quốc lại
liên tiếp diễn ra ở tỉnh lỵ và ở khắp các huyện, xã. Mặt trận Việt Minh còn tổ
chức phá cuộc mít tinh của bọn Đại Việt thân Nhật, vạch mặt chúng làm tay sai
phát xít. Phong trào Việt Minh hoạt động mạnh mẽ và có mục tiêu đúng đắn đoàn
kết nhân dân, nên có sức lôi cuốn cao ngay cả với các tầng lớp trên; các lớp
hào lý, tổng lý cũng hăng hái tham gia cách mạng. Nhiều nơi trong tỉnh lại xuất
hiện các đội Tự vệ cứu quốc, tổ chức huấn luyện quân sự để tiến tới khởi nghĩa.
Phong trào cách mạng dâng cao, bất chấp đợt khủng bố lớn của địch hồi tháng
7-1944 ở huyện Thanh Liêm làm thiệt hại về cán bộ và tổn hại khí thế quần
chúng. Cho đến đầu năm 1945, các cơ sở cách mạng trong tỉnh vẫn trụ lại vững
vàng, chờ thời cơ mới.
Năm 1945 là năm cực kỳ khó khăn về đời sống cho nhân dân lao động, nhất là
nông dân nghèo. Do chính sách vơ vét của Pháp - Nhật, do chủ trương nhổ lúa
trồng đay và thầu dầu để phục vụ chiến tranh của phát xít Nhật, nên tình hình
nông nghiệp tiêu điều xơ xác. Đó là nguyên nhân chính gây nên nạn đói khắp các
tỉnh đồng bằng Bắc Bộ từ cuối 1944 trở đi và ngày một trầm trọng hơn vào đầu
1945. Ở Hà Nam nạn đói thê thảm đã cướp đi 50.398 sinh mệnh. Hầu hết các huyện,
xã đều có người chết đói, thôn An Thặng (xã Tiên Hiệp, huyện Duy Tiên) chỉ có
số dân 370 người mà có tới 94 người chết đói, xã Xuân Khê (huyện Lý Nhân) chết
mất 520 người; ở huyện Bình Lục người chết đói nằm ngổn ngang khắp các đường
làng, xó chợ, bến xe. Nhiều gia đình chết hết không còn một ai"’.
Đúng lúc này (3-1945), Hồng quân Liên Xô giải phóng hoàn toàn Ba Lan tiến
vào nước Đức phát xít và chỉ cách Béclin 60km. Trung ương Đảng Cộng sản Đông
Dương nhìn thấy trước cơ hội giải phóng và biết trước phát xít Nhật sẽ làm đảo
chính hất cẳng Pháp ra khỏi Đông Dương. Quả nhiên cuộc đảo chính đó đã xảy ra
trên toàn Đông Dương vào đêm 9-3-1945. Cũng đêm đó, Trung ương Đảng họp và ra
Chỉ thị nổi tiếng “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”, phát động
cao trào kháng Nhật cứu nước trên toàn cõi Đông Dương. Sau ngày đảo chính, phát
xít Nhật vội vã thực hiện nhiều chính sách bóc lột nặng nề hơn, với những thủ
đoạn lừa bịp hơn. Về chính trị, chúng lập chính phủ Trần Trọng Kim với chiêu
bài độc lập và theo thuyết Đại Đông Á, da vàng đồng chủng. Về kinh tế, chúng
thu thuế mạnh hơn, triệt để nhổ lúa trồng đay và thầu dầu, ráo riết vơ vét thóc
gạo nấu cồn thay xăng v.v... Từ 1940, Pháp và Nhật lập các kho thóc gạo làm nảy
sinh nạn đầu cơ thóc gạo và lạm phát tràn lan v.v... Về mặt quân sự, chúng thay
thế quân Pháp ở các vị trí cũ nhưng; còn đóng thêm ở nhiều vị trí quan trọng
khác. Ở Hà Nam có thêm đồn Phù Đê (huyện Kim Bảng), Nga Khê (huyện Lý Nhân).
Chúng lập Bảo an binh và ở Hà Nam lực lượng này gồm một tiểu đoàn, có mặt ở
khắp các thôn xóm, chúng cũng tổ chức mật thám dưới quyền hiến binh Nhật, luôn
đi lùng sục dò la bắt bớ triệt phá các cơ sở cách mạng. Chúng còn bắt lính, bắt
phu xây dựng đường sá và công sự ở vùng núi rừng huyện Thanh Liêm và dọc đường
21 đi huyện Kim Bảng và châu Lạc Thủy.
Kẻ thù đã lộ rõ bản chất xâm lược và tàn ác đến cùng cực. Nhân dân lâm vào
một tình thế không thể chịu đựng nổi, chỉ có thể vùng lên giải phóng. Tình thế
cách mạng tiến lên khởi nghĩa đã tới. Trong một tình hình như vậy, phong trào
Việt Minh cuốn hút được cả các phần tử nhẹ dạ theo địch, các phần tử lừng
chừng, các tầng lớp trên trong xã hội. Còn bọn tay sai Nhật vô cùng hoang mang
sợ sệt, Chánh Phung, Nghị Mẫn ở Đôn Thư, một số ở Cổ Viễn, Hưng Công, Đồng Du,
cha con Bá Doãn ở Trà Châu (huyện Thanh Liêm) khi được thuyết phục đều ngả theo
cách mạng. Các hương lý ở Thụy Xuyên, Phù Đê, cũng theo cách mạng khi thấy các
tổ chức Việt Minh phát triển sôi nổi với các đoàn thể Cứu quốc trong Việt Minh.
Lực lượng cứu quốc ở Khả Phong (huyện Kim Bảng) còn làm công tác địch vận thu
được vũ khí và quân trang quân dụng của tàn quân Pháp.
Cuối tháng 3-1945, các cán bộ Đảng bị tù đã vượt ra ngoài trở về địa
phương, liên lạc với các cán bộ lãnh đạo Hà Nam và tại thôn Ngọc Động (xã Hoàng
Đạo Đông, huyện Duy Tiên), tháng 4-1945 đã thành lập Ban cán sự lâm thời của
tỉnh để chỉ đạo phong trào sau 4 năm thiếu vắng (Ban cán sự gồm 5 người là: Lê Thành
- Trưởng ban, Lê Quang Tuấn, Trần Quyết, Lê Hồ và Phạm Sĩ Phú). Cùng lúc Xứ ủy
cử đồng chí Hà Kế Tấn về phụ trách hai tỉnh Nam Định và Hà Nam. Sau đó, Hội
nghị Ban cán sự mở rộng do đồng chí Hà Kế Tấn chủ trì đã họp tại thôn Cao Mật
(huyện Kim Bảng) vào đầu tháng 5-1945, quyết định phát động phong trào đấu
tranh theo các hoạt động cụ thể như sau:
“1. Tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình, treo cờ đỏ sao vàng, rải truyền
đơn, dán biểu ngữ với nội dung đánh đuổi phát xít Nhật, thành lập chính quyền
cách mạng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền giới thiệu Mặt trận Việt Minh.
2. Tổ chức phá kho thóc của Nhật để giải quyết nạn đói, thu triện của Lý
trưởng, vận động quần chúng không nộp thuế, đồng thời răn đe Lý trưởng không
được thu thóc thuế.
3. Ra tờ báo Quyết chiến để tuyên truyền, hướng dẫn và cổ vũ
phong trào.
4. Phát triển và củng cố Tự vệ cứu quốc, tổ chức lớp huấn luyện quân sự,
thu thập vũ khí để trang bị cho lực lượng tự vệ”(1).
Cùng với phong trào Việt Minh dâng cao trong cả
nước, phong trào Việt Minh ở Hà Nam từ đây phát triển sôi nổi, thu hút được cả
Thanh niên xã hội, Bảo an đoàn, các tư sản, tiểu chủ, tiểu thương cùng con cái
họ ở thị xã Phủ Lý. Một số tầng lớp trên trong đạo Thiên chúa, như các Linh
mục, Chánh, Trương Trùm, Trưởng cũng ủng hộ Việt Minh hoặc bí mật hoặc công
khai. Phong trào cách mạng từ đây dưới ngọn cờ Việt Minh cũng là phong trào
tiền khởi nghĩa của Cách mạng Tháng Tám. Đó là một phong trào tổng hợp của bạo
lực cách mạng thể hiện qua các sự kiện sau:
- Chuẩn bị căn cứ địa và lực lượng vũ trang
Từ cuối tháng 1-1945, Ban cán sự Việt Minh huyện Bình Lục đã quyết định xây
dựng căn cứ cách mạng ở xã Đồng Du. Tại đây đã có một trung đội võ trang tuyên
truyền giải phóng quân 38 người do đồng chí Nguyễn Việt Tiến (tức Đắc) chỉ huy.
Đội đã luyện tập quân sự, rèn sắm vũ khí, canh gác bảo vệ, xung kích dẫn dắt
biểu tình phá kho thóc, trấn áp bọn tay sai địch. Tự vệ cứu quốc được tổ chức ở
nhiều nơi, ngay cả ở những khu vực gần thị xã Phủ Lý. Tháng 6-1945, Ban cán sự
tỉnh mở lớp huấn luyện quân sự ở Phù Cốc (huyện Lý Nhân) do đồng chí Lê Quang
Tuấn phụ trách. Ban cán sự huyện Kim Bảng sau khi được thành lập đã cử cán bộ
đi học trường quân chính kháng Nhật ở chiến khu Quỳnh Lưu (tỉnh Ninh Bình), học
lớp quân sự Phú Cốc, lớp dài ngày ở Hòa Bình do Xứ ủy mở. Những nơi Tự vệ cứu
quốc mạnh là Phú Cốc (huyện Lý Nhân), Cổ Viễn (huyện Bình Lục), Lũng Xuyên
(huyện Duy Tiên). Ban cán sự Đảng còn phát động phong trào “Sắm vũ khí đuổi thù
chung” để các đội viên tự vệ tự trang bị mỗi người một loại vũ khí thô sơ hoặc
súng trường, súng ngắn. Có quần chúng bỏ tiền mua một khẩu tiểu liên ủng hộ
cách mạng (như ở huyện Thanh Liêm). Tháng 6-1945, quần chúng ở Khả Phong (huyện
Kim Bảng) phát hiện ra kho vũ khí Pháp cất giấu từ trước ngày Nhật đảo chính,
Ban cán sự đã phân công Tự vệ cứu quốc Khả Phong, Thụy Xuyên, Phương Khê, ấp
Thọ Cầu mưu trí dũng cảm luồn rừng đem được 2 khẩu tiểu liên, 5 khẩu súng
trường, nhiều đạn dược về căn cứ cho lực lượng tự vệ. Một số lính khố đỏ quê
huyện Lý Nhân cũng tìm cách đưa vũ khí về cho tự vệ.
- Huy động quần chúng đấu tranh dưới nhiều hình thức
Tháng 6-1945, Ban cán sự Đảng tỉnh tổ chức cuộc mít tinh ở Đền Lảnh xã Mộc
Nam (huyện Duy Tiên), cổ vũ cho phong trào Việt Minh, treo cờ đỏ sao vàng và
đốt pháo, biểu dương lực lượng. Tổ chức Việt Minh phát triển mạnh ở các huyện
trong tỉnh kể cả ở thị xã. Có nơi thanh niên tự rủ nhau đi tìm cán bộ Việt Minh
yêu cầu tổ chức kết nạp hoặc xin tự tổ chức. Nhiều thôn xã hầu như toàn bộ nhân
dân tham gia Việt Minh. Có nhiều giáo dân gia nhập tổ chức cứu quốc (như ở các
huyện Thanh Liêm, Bình Lục). Ngoài các hình thức mít tinh tuyên truyền và biểu
tình, các đoàn thể Việt Minh còn vận động cứu đói, kêu gọi lạc quyên tương trợ,
vận động nhà giàu cho vay, thuyết phục các tổng lý không thu thóc, thu thuế
hoặc dân không nộp thuế (như ở các huyện Thanh Liêm, Duy Tiên, Lý Nhân), cảnh
cáo tổng lý, tịch thu tiền thuế trả lại dân, chặn xe nộp thóc cho Nhật... Ngày
18-6-1945, Ban cán sự tổ chức mít tinh tại chợ Dầu (xã Phù Đê, huyện Kim Bảng)
cổ vũ Việt Minh, hô hào chống thóc tạ, chống sưu cao thuế nặng, vạch mặt chính
phủ Trần Trọng Kim v.v... Từ 15 đến 30-7-1945, nhân dân các xã ở huyện Bình Lục
nổi dậy phá các kho thóc của địa chủ và của Nhật (ở Vũ Bị, Ngô Khê, An Thư, ga
Bình Lục) chia cho dân nghèo.
Tất cả các hoạt động trên đây làm tê liệt chính quyền địch từ tỉnh xuống
xã. Tỉnh trưởng và Phó tỉnh trưởng lo sợ không dám chống phá cách mạng, Bảo an
binh tan rã ý chí, chính quyền địch rệu rã, có nơi tan rã hẳn. Mặt trận Việt
Minh hoạt động công khai trong khi đó quân đội Nhật nằm im.
Ngày 13-8-1945, tại Vãng Sơn, ấp Thọ Cầu (huyện Kim Bảng), Ban cán sự Đảng
tỉnh Hà Nam tập hợp theo dõi tình hình và biết tin Nhật đã có ý định đầu hàng
Đồng minh. Các đồng chí nghĩ ngay tới Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành
động của chúng ta” quyết định triệu tập Hội nghị Ban cán sự mở rộng cũng là Hội
nghị đại biểu Việt Minh tỉnh hoạch định kế hoạch tổng khởi nghĩa giành chính
quyền trong toàn tỉnh. Hội nghị họp trong hai ngày 15 và 16-8-1945 tại thôn Lũng
Xuyên (huyện Yên Bắc - Duy Tiên) - cái nôi của phong trào cách mạng tỉnh Hà
Nam. Mỗi huyện có từ 3 đến 5 đại biểu. Sáng ngày 16, Hội nghị nhận được Chỉ thị
Tổng khởi nghĩa (Quân lệnh số 1 của ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc đã phát đi ngày
13-8-1945). Hội nghị quyết định:
“1. Giành chính quyền ở các huyện trước, sau đó tập trung lực lượng giành
chính quyền ở tỉnh và huyện Thanh Liêm (địa bàn sát với tỉnh lỵ).
2. Kết hợp chính trị với quân sự, dụ hàng địch trước khi đánh; triệt để cô
lộp quân Nhật, sẵn sàng đối phó khi chúng ngoan cố chống lại.
3.Thành lập Ủy ban Quân sự Cách mạng tỉnh gồm 5 đồng chí, mỗi đồng chí trực
tiếp chỉ đạo khởi nghĩa ở một huyện. Dự kiến thành phần của Ủy ban Nhân dân
Cách mạng tỉnh và đề ra phương hướng thành lập Ủy ban Quân sự Cách mạng, Ủy ban
Nhân dân Cách mạng lâm thời các huyện”(1).
1. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Hà Nam, tập I, tr135
Hội nghị cử ra Ủy ban Quân sự Cách mạng tỉnh gồm:
- Đồng chí Lê Thành, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh làm Chủ tịch.
- Đồng chí Lê Quang Tuấn, Phó Chủ tịch.
- Đồng chí Trần Quyết: phụ trách quân sự, an ninh.
- Đồng chí Minh Phú: Ủy viên.
- Đồng chí Lưu Quang Bích: Ủy viên.
Huyện Kim Bảng: đồng chí Lê Thành.
Huyện Lý Nhân: đồng chí Lê Quang Tuấn.
Tỉnh, huyện Thanh Liêm và Ý Yên: đồng chí Trần Quyết.
Huyện Bình Lục: đồng chí Minh Phú.
Huyện Duy Tiên: đồng chí Lưu Quang Bích.
Ngày 17-8, đồng chí Lê Thành giao cho mỗi huyện một ít súng đạn và đồ quân
dụng.
Ngày 19-8, tin tức Hà Nội khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi lan nhanh
ra cả nước. Lúc này ở Hà Nam lệnh khởi nghĩa cũng đang truyền khắp tỉnh. Bọn
Bảo an binh nhận được thư của Uỷ ban Quân sự Cách mạnh Hà Nam dao động mất hết
tinh thần. Còn nhân dân Hà Nam và quần chúng cách mạng tưng bừng chuẩn bị cờ,
khẩu hiệu và vũ khí để nhất tề vùng lên. Sáng ngày 20- 8, cả 3 huyện Duy Tiên,
Lý Nhân, Kim Bảng đều nổ ra khởi nghĩa cùng lúc.
Sáng 22-8, khởi nghĩa nổ ra thắng lợi ở huyện Bình Lục và châu Lạc Thủy; và
sau đó sáng 24-8 ở huyện Thanh Liêm và thị xã Phủ Lý. Trước khi đi sâu trình
bày về khởi nghĩa ở thị xã Phủ Lý, cần lướt nhanh qua tình hình khởi nghĩa đã
nổ ra trước đó ở các huyện.
- Khởi nghĩa ở huyện Duy Tiên
Sáng 17-8, tại thôn Lũng Xuyên, Hội nghị cán bộ toàn huyện được triệu tập
quyết định khởi nghĩa vào ngày 20-8 và cử ra ủy ban Quân sự Cách mạng lâm thời
huyện do đồng chí Lưu Quang Bích làm Chủ tịch, đồng chí Nguyễn Huân - Phó Chủ
tịch và 5 Uỷ viên. Mọi công tác chuẩn bị được nhanh chóng hoàn thành. Đêm 19-8,
lực lượng chính tập trung ở đình Lũng Xuyên, còn ở các cơ sở cũng tập trung
theo từng khu vực. Sáng sớm 20-8, hàng ngàn người từ các ngả đường cùng nhân
dân đi chợ Điệp kéo đến địa điểm tập kết. Được tin viên huyện trưởng đã dẫn
lính cơ lên hộ đê sông Hồng, Uỷ ban Quân sự Cách mạng lập tức phát lệnh khởi
nghĩa.
Đúng 10 giờ, một hồi kèn vang lên, dưới lá cờ đỏ sao vàng, đội quân khởi
nghĩa tiến vào huyện đường tại Điệp Sơn. Đến cổng chính người chỉ huy cho nổ
băng tiểu liên làm hiệu lệnh, lực lượng quần chúng từ các ngả tràn vào huyện
đường. Viên đội và tốp lính cơ toan chống cự nhưng thấy lực lượng cách mạng áp
đảo bèn nộp vũ khí. Toàn bộ nhân viên huyện đường đầu hàng, giao nộp sổ sách
bằng triện cho cách mạng. Trong lúc đó một lực lượng ở khu Mộc Hoàn lên đê Lãnh
Trì (Mộc Hoàn Nam) bắt viên huyện trưởng và 8 lính cơ, thu 6 súng trường, 1
súng lục. Cuộc mít tinh lớn được tổ chức ngay trên đê, thu hút nhân dân các
làng ven đê và dân đi đắp đê. Chiều 20-8, tại huyện lỵ Điệp Sơn, uỷ ban Quân sự
huyện tổ chức mít tinh lớn đông tới hơn 2.000 người nghe đại diện Việt Minh
tuyên bố 10 chính sách của Việt Minh và giới thiệu uỷ ban Quân sự Cách mạng lâm
thời huyện ra mắt nhân dân.
- Khởi nghĩa ở huyện Lý Nhân
Huyện lỵ Lý Nhân đóng tại Nga Khê sát đê sông Hồng, nước đang lên rất to.
Tại đây có quân Nhật đóng cùng với các kho thóc của chúng ở các đình, chùa xung
quanh. Tối 19-8, Hội nghị đại biểu toàn huyện được triệu tập, quyết định khởi
nghĩa, nghe, kế hoạch bắt viên huyện trưởng và chiếm huyện lỵ. Hội nghị dự tính
khởi nghĩa sáng 20, lực lượng tập trung ở chợ Nẻ trước cổng huyện rồi bất ngờ
đột nhập bắt viên huyện trưởng, tước vũ khí lính cơ. Một bộ phận khác lo đối
phó với quân Nhật. Họp xong thì trời sáng và có tin báo là viên huyện trưởng đã
ở điếm Vũ Điện trên sông Hồng. Kế hoạch mới được thực hiện tức thời, phái một
mũi lực lượng cách mạng đi bắt tên huyện trưởng. Đoàn quân ra đê, mọi người hô
to “Việt Minh”, “Hoan hô Việt Minh”. Cán bộ Việt Minh đứng lên kêu cọi khởi
nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, kêu gọi nhân dân giữ đê, kêu gọi các
lý dịch giữ đê nhưng không được đánh đập nhân dân. Đoàn người áp giải huyện
trưởng về huyện đường, trên đường về nhân dân tự động tham gia rất đông với đủ
loại vũ khí thô sơ. Về đến cổng huyện, lính Nhật chĩa súng vào đoàn người. Theo
lệnh chỉ huy, đoàn người dừng lại yêu cầu chỉ huy Nhật và phiên dịch ra cổng
huyện nói chuyện. Đồng chí chí huy nói: “Việt Minh đã khởi nghĩa giành chính
quyền thắng lợi, quân Nhật đã đầu hàng Đồng minh, yêu cầu không can thiệp vào
việc khởi nghĩa của Việt Nam”. Viên sĩ quan Nhật chấp thuận mời chỉ huy Việt
Minh vào huyện và cùng niêm phong các kho thóc có chữ ký của hai bên, rồi quân
Nhật lên xe về tỉnh lỵ.
Đoàn người kéo vào huyện lỵ, treo cờ đỏ sao vàng báo hiệu chính quyền đã về
tay nhân dân. Đồng chí Lê Quang Tuấn báo sang Duy Tiên đề phòng quân Nhật trở
lại Lý Nhân thì cản đường chúng và chuẩn bị đối phó. 2 giờ chiều, biết tin quân
Nhật quay lại qua đường Đồng Văn, Ban lãnh đạo huyện Lý Nhân liền triển khai
chiến đấu 2 mũi chống cự 2 mũi của địch. Một trận giáp chiến đã xảy ra và quân
Nhật bị thương vong nhiều tên. Quân Nhật sau đó tỏ ý thương lượng, ta đồng ý
gặp gỡ ở đình Trúc Bắc. Đại biểu Việt Minh huyện đã vừa kiên quyết vừa khéo léo
thuyết phục quân Nhật. Viên chỉ huy Nhật cuối cùng chấp thuận cho cả 6 xe chở
đầy lính Nhật rút lui, trong niềm hân hoan của mọi người dân phố huyện. Ngay
đêm đó Uỷ ban Quân sự Cách mạng huyện Lý Nhân đã họp, quyết định lãnh đạo nhân
dân và các lực lượng cách mạng phòng lụt, hộ đê để bảo vệ nhân dân và xây dựng
chính quyền cách mạng.
- Khởi nghĩa ở huyện Kim Bảng
Ngày 18-8, Ban cán sự huyện triệu tập Hội nghị đại biểu Việt Minh toàn
huyện tại ấp Thọ Cầu, quyết định khởi nghĩa vào ngày 20-8, cử ra uỷ ban Quân sự
Cách mạng và Uỷ ban Nhân dân lâm thời do đồng chí Đỗ Đình Phát (người xã Thụy
Lôi) làm Chủ tịch. Lực lượng tự vệ chiến đấu có 2 trung đội. 17 giờ ngày 20-8,
sau phát súng lệnh nổ vang, các mũi tiến công áp sát khống chế bộ máy chính
quyền huyện và binh lính, chúng hoảng sợ không dám chống cự. Huyện trưởng cúi
đầu nộp triện dấu, hạ vũ khí đầu hàng. Lực lượng cách mạng thu 5 súng trường, 1
súng bắn chim, 1 súng lục. Chính quyền lâm thời tổ chức mít tinh mừng thắng
lợi, cờ đỏ sao vàng tung bay trước đông đảo quần chúng. Uỷ ban Nhân dân lâm
thời tuyên thệ trước nhân dân, tuyên bố xóa bỏ chính quyền cũ, ban bố 10 chính
sách của Việt Minh.
- Khởi nghĩa ở huyện Bình Lục
Ban cán sự huyện đang chuẩn bị khởi nghĩa thì ngày 19-8, một số thanh niên
trong tổ chức Thanh Niên xã hội ở huyện Bình Lục lôi kéo một số thanh niên ở
khu vực Đầm Giải giả danh Việt Minh vác cờ đỏ sao vàng, tước vũ khí của huyện
trưởng huyện Bình Lục, thu 7 khẩu súng trường. Ban cán sự đang họp ở thôn An
Thư (xã An Thư), nghe tin ấy liền bố trí lực lượng đi thu lại số vũ khí đó.
Sáng 21-8, Ban cán sự Việt Minh huyện thành lập uỷ ban Khởi nghĩa do đồng chí
Phạm Sĩ Phú làm Chủ tịch và quyết định khởi nghĩa. 7 giờ sáng ngày 22-8, hàng
ngàn người cầm cờ đỏ sao vàng và vũ khí thô sơ cùng Đội tự vệ vũ trang kéo tới
bao vây huyện đường. Huyện trưởng huyện Bình Lục vội vã nộp ấn triện, sổ sách,
vũ khí, đầu hàng uỷ ban Khởi nghĩa.
- Khởi nghĩa ở châu Lạc Thủy
Ngày 22-8, quần chúng cách mạng ở đây tự động nổi dậy phá chính quyền địch
rồi cử cán bộ gặp Ban cán sự xin ý kiến về thành lập chính quyền nhân dân.
- Khởi nghĩa ở huyện Thanh Liêm
Ngày 20-8, uỷ ban Quân sự Cách mạng huyện tổ chức 1 trung đội tự vệ từ cơ
sở Trà Châu (nay thuộc xã Thanh Tâm) do đồng chí Trần Quyết chỉ huy tiến sang
giành chính quyền ở huyện Ý Yên. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ đã bàn giao chính
quyền cho lực lượng cách mạng huyện Ý Yên rồi rút về Trà Châu chuẩn bị giành
chính quyền huyện Thanh Liêm và tỉnh lỵ. Ban cán sự Việt Minh họp tại thôn
Thượng Tổ quyết định khởi nghĩa vào ngày 24-8 ở huyện và ở tỉnh lỵ. 5 giờ sáng
ngày 24-8, hơn 1.000 tự vệ cùng đông đảo quần chúng cách mạng tiến về tập kết ở
Thượng Tổ rồi kéo tới bao vây chính quyền địch ở thị xã Phủ Lý. Khiếp đảm trước
khí thế cách mạng, chính quyền địch ở huyện Thanh Liêm lập tức đầu hàng.
- Khởi nghĩa ở thị xã Phủ Lý
Sau khi lãnh đạo khởi nghĩa thắng lợi ở các huyện trong tỉnh, Ban cán sự
Đảng và Ủy ban Quân sự Cách mạng tỉnh đã khẩn trương tập trung chuẩn bị giành
chính quyền ở thị xã Phủ Lý. Đêm 20-8, cơ sở Phủ Lý báo tin bọn Đại Việt do
cảnh sát trưởng cầm đầu định mạo danh Việt Minh tổ chức quần chúng biểu tình
vào tước vũ khí trại Bảo an binh. Ủy ban Quân sự Cách mạng tỉnh cấp tốc gửi thư
cho giám binh Bảo an nói rõ âm mưu bọn Đại Việt và yêu cầu không được giao vũ
khí cho bọn Đại Việt mà phải chờ để giao cho Việt Minh. Trước khí thế của cách
mạng, bọn Bảo an đã phải chấp nhận mệnh lệnh của cách mạng. Chiều 21-8, bọn Đại
Việt và Thanh niên xã hội tổ chức một cuộc biểu tình khoảng 100 người vác cờ đỏ
sao vàng diễu qua các đường phố rồi kéo đến dinh Tỉnh trưởng và trại Bảo an
binh đòi tước vũ khí. Những cơ sở cách mạng trong trại Bảo an kiên quyết
không giao. Hai bên giằng co hồi lâu rồi mọi người nhận ra sự lừa gạt của Đại
Việt nên bỏ về hết, bọn Đại Việt đành tháo lui. Nhưng cũng vì việc này, chỉ huy
Bảo an binh yêu cầu phải có lệnh của Bắc Bộ Phủ thì chúng mới giao súng. Tối
21-8, Ban cán sự về Duy Tiên họp quyết định tập trung lực lượng quần chúng ở 5
huyện, lấy lực lượng vũ trang làm xung kích biểu tình vũ trang bao vây thị xã,
buộc địch phải đầu hàng, phân hóa bọn chỉ huy Bảo an để tránh xung đột bất lợi
cho ta. Sáng 22-8, các đồng chí Lê Thành, Trần Quyết, Lê Quang Tuấn lên cơ quan
Xứ ủy (Vạn Phúc, Hà Đông) xin chủ trương và đề nghị Xứ ủy yêu cầu Bắc Bộ Phủ ra
lệnh cho bọn đầu sỏ chính quyền Bảo an Hà Nam phải trao chính quyền và vũ khí
cho chính quyền cách mạng.
Ngày 23-8, Uỷ ban Quân sự Cách mạng tỉnh trực tiếp ra lệnh cho chính quyền
và binh lính địch ở Hà Nam phải bàn giao chính quyền cho Việt Minh. Cũng hôm đó
bọn địch ở Hà Nam nhận được lệnh cấp trên là nên cam đoan thực hiện yêu cầu của
cách mạng. Sáng sớm ngày 24-8, quần chúng cách mạng trong Mặt trận Việt Minh
của 5 huyện đông tới hàng chục vạn người với hàng ngàn tự vệ vũ trang (trang bị
1 trung liên, 3 tiểu liên, 80 súng trường và đủ loại vũ khí thô sơ), cả một
rừng cờ đỏ sao vàng, biểu ngữ trùng điệp rầm rập tiến vào thị xã Phủ Lý. Cả
đoàn chia làm 4 bộ phận: 1 bố trí mai phục đề phòng quân Nhật, 1 bao vây trại
Bảo an, 1 chiếm kho súng, còn đại bộ phận quần chúng bao vây cơ quan đầu não
chính quyền địch. Tại trại Bảo An, bọn chỉ huy theo lệnh uỷ ban Quân sự Cách
mạng phải cho mượn 50 khẩu súng (trang bị cho 50 nữ tự vệ), ở dinh Tỉnh trưởng,
Đàm Duy Huyến sợ hãi giao nộp ấn triện, sổ sách cho đồng chí Lê Quang Tuấn đại
diện uỷ ban Quân sự Cách mạng Hà Nam. Còn tiểu đoàn Nhật ở thị xã nằm im trong
doanh trại. Thế là chính quyền địch ở Hà Nam đã bị đập tan.
Khoảng 10 giờ sáng 24-8, cuộc mít tinh khoảng 5 vạn người đã diễn ra tại
sân vận động Phủ Lý chào mừng Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời được thành lập
do đồng chí Lê Thành làm Chủ tịch. Ủy ban Nhân dân Cách mạng lâm thời công bố
10 chính sách của Việt Minh. Cuộc mít tinh biến thành cuộc tuần hành của quần
chúng cách mạng từ thị xã tỏa về các ngả đường huyện, xã trong tỉnh. Cũng ngay
sau cuộc mít tinh, uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Hà Nam họp phiên đầu
tiên bàn kế hoạch thực hiện ngay những nhiệm vụ trước mắt của một chính quyền
cách mạng.
Như vậy, chỉ trong vòng 5 ngày (từ 20 đến 24-8-1945), Cuộc tổng khởi nghĩa
Cách mạng Tháng Tám đã lần lượt nổ ra thắng lợi giòn giã từ khắp các huyện, xã
lên đến tỉnh lỵ Hà Nam. Đó là do đường lối, chủ trương đúng đắn, nắm bắt đúng
thời cơ chuẩn xác của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, do sự vận dụng linh
hoạt sáng tạo của Đảng bộ, Việt Minh tỉnh và các huyện, xã của Hà Nam. Đó còn
là do tinh thần hy sinh kiên trì của quần chúng nhân dân, của nhiều cán bộ,
đảng viên trung kiên tận tụy. Thắng lợi của khởi nghĩa Tháng Tám mang lại nhiều
bài học cách mạng về chiến lược chiến thuật, về bạo lực cách mạng và về các
hình thức khởi nghĩa đóng góp cho lịch sử hào hùng của dân tộc.
Nhìn lại lịch sử cận đại Hà Nam trong vòng gần 1 thế kỷ, có thể thấy rằng
từ khi thực dân Pháp xâm lược nước ta theo một quá trình từ Nam ra Bắc, lúc đầu
triều đình phong kiến đã kháng cự nhưng rồi thoái chí và chịu ký hết hàng ước
này đến hàng ước khác và cuối cùng trở thành kẻ phục vụ cho chế độ thuộc địa
của Pháp. Nhưng nhân dân Việt Nam và các lực lượng yêu nước thuộc mọi tầng lớp
không kể sang hèn đã đứng lên chiến đấu tới cùng. Trải bao hy sinh xương máu
gian khổ, nhân dân ta đã linh hoạt sử dụng các phương thức đấu tranh, tiến lên
hình thức đấu tranh phù hợp nhất. Sự ra đời của giai cấp công nhân và Đảng Cộng
sản Việt Nam mở ra con đường đấu tranh đoàn kết dân tộc có ý nghĩa quốc gia và
quốc tế. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự nghiệp giải phóng dân tộc đã thành công
hoàn toàn, làm rạng rỡ cho lịch sử dân tộc. Điều đó không chỉ là bài học lịch
sử chung mà còn là bài học rút ra từ lịch sử của nhân dân Hà Nam dưới sự lãnh
đạo của Đảng bộ Hà Nam.
Chương XII
HÀ NAM TRONG THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG THỰC DÂN PHÁP (1945 - 1954)
I. ĐẤU TRANH BẢO VỆ VÀ CỦNG CỐ CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG (9-1945 ĐẾN 12-1946)
Thắng lợi của cuộc Cách mạng Tháng Tám đã mở ra một thời kỳ mới - thời kỳ độc lập tự do cho nhân dân Việt Nam. Ngay sau khi chính quyền cách mạng ở tỉnh và các huyện được thành lập (cuối tháng 8-1945), Uỷ ban Nhân dân Cách mạng lâm thời tỉnh Hà Nam đã tuyên bố xoá bỏ bộ máy chính quyền thực dân phong kiến ở cơ sở, cử các cán bộ Việt Minh về các thôn, xã cùng với lực lượng nòng cốt ở địa phương giải tán chính quyền tay sai, thành lập chính quyền cách mạng.
Trong khi đó tình hình trong nước vô cùng phức tạp và khó khăn. Nạn đói năm 1945 vẫn còn để lại hậu quả nặng nề, không những vậy, nạn lụt lại liên tiếp xảy ra. Tại Hà Nam, đê bắc sông Châu bị vỡ cùng với nước lụt ở Hà Đông tràn xuống làm ngập nhiều vùng ở hai huyện Duy Tiên và Kim Bảng, nhiều đoạn đê bị đe dọa. Nạn lụt vừa qua, nắng hạn lại diễn ra làm nhiều ruộng đất bị bỏ hoang. Các ngành sản xuất thủ công trong tỉnh cũng bị sa sút.
Trong lúc nạn đói đang đe dọa, thì quân Tưởng tiến vào miền Bắc và theo đó, các thế lực phản động các huyện thân Tưởng nổi dậy chống phá cách mạng. Các lực lượng Đại Việt gây rối ở các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Thanh Liêm, định lật đổ chính quyền cách mạng ở châu Lạc Thuỷ. Quân Nhật vẫn chiếm đóng thị xã Phủ Lý và Chi Nê. Ngày 30-9-1945, hơn 500 quân Tưởng cùng lực lượng Quốc dân đảng kéo vào chiếm đóng rải rác ở thị xã Phủ Lý và Chi Nê. Bọn Việt quốc ngang nhiên đặt trụ sở, kéo cờ tại phố Châu Cầu (thị xã Phủ Lý), tiến hành các hoạt động chống phá cách mạng, cướp bóc nhân dân.
Trước tình hình đó, thực hiện chủ trương của Đảng và Chính phủ, Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh đã xây dựng kế hoạch đối phó với quân Tưởng và lực lượng phản cách mạng; xây dựng, củng cố chính quyền; đẩy mạnh tăng gia sản xuất, ổn định đời sống của nhân dân.
Đối với lực lượng phản cách mạng, một mặt Chính quyền Cách mạng tỉnh tổ chức nhiều cuộc mít tinh, tuần hành, biểu dương lực lượng với các khẩu hiệu “Hoa - Việt thân thiện”, “Nước Việt Nam của người Việt Nam”, “Ủng hộ Chính phủ Hồ Chí Minh”... Mặt khác bao vây các sào huyệt của chúng, ngăn chặn các hành động gây rối, phá hoại; bắt giữ những tên có hành động chống phá cách mạng. Đối với quân Tưởng, Ủy ban Nhân dân Cách mạng tỉnh chủ trương tránh xung đột, vận động nhân dân tẩy chay, bất hợp tác với chúng.
Đồng thời với nhiệm vụ trấn áp bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền, các tổ chức Đảng và chính quyền Cách mạng chăm lo phát triển kinh tế, xây dựng cuộc sống mới.
Từ cuối tháng 8 năm 1945, chính quyền địa phương đã lãnh đạo nhân dân, lực lượng vũ trang tích cực chống lụt và khắc phục hậu quả do lũ lụt gây ra. Hàng ngàn thanh niên ở huyện Kim Bảng đã tham gia sửa chữa những quãng đê sạt lở, đắp con trạch trên đường 22, khoanh vùng cứu lúa. Nhân dân ven sông Châu (đoạn thuộc huyện Bình Lục) đã góp hàng ngàn cây tre và hàng ngàn công lao động hỗ trợ đồng bào Duy Tiên sửa chữa nhà cửa hư hỏng do bị vỡ đê. Nhân dân tổ chức đắp đập Môi (Mai Động) để bảo vệ sản xuất ở vùng chiêm trũng. Sau những ngày đêm lao động dũng cảm, khẩn trương, nhân dân trong tỉnh đã căn bản giữ vững các hệ thống đê điều (trừ đê sông Châu đã bị vỡ) bảo vệ hoa màu và cuộc sống.
Tiếp đó, hưởng ứng chiến dịch tăng gia sản xuất do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ phát động ngày 03 tháng 9 năm 1945, Chính quyền Cách mạng đã lãnh đạo nhân dân trong tỉnh thực hiện sôi nổi khẩu hiệu “Tấc đất, tấc vàng”, “Tăng gia sản xuất! Tăng gia sản xuất ngay! Tăng gia sản xuất nữa!” và coi đó là biện pháp tốt nhất để vượt qua nạn đói, ổn định đời sống nhân dân. Thực hiện chủ trương trên của Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Hà Nam tích cực khai phá ruộng hoang hoá để cấy cầy và trồng mầu. Một phong trào quần chúng làm theo lời Bác: “Cứ 10 ngày nhịn một bữa, mỗi tháng nhịn ăn 3 bữa, đem gạo đó để cứu dân nghèo” được phát động rộng khắp trong tỉnh. Khắp các địa phương, nhà nhà đều có “hũ gạo cứu đói”. Mặt trận Việt Minh từ tỉnh xuống huyện, xã đều tổ chức các đoàn quyên góp lương thực cứu đói dân nghèo. Chính quyền ra lệnh cấm nấu rượu bằng gạo, cấm đầu cơ tích trữ lương thực. Nhờ đó, chỉ trong thời gian ngắn, nạn đói ở Hà Nam được đẩy lùi. Đây là một trong những thành tích to lớn đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà, thể hiện tính ưu việt của chế độ mới; đồng thời thể hiện rõ truyền thống “Lá lành đùm lá rách” của nhân dân ta.
Trong điều kiện còn hết sức khó khăn, Chính quyền Cách mạng tỉnh Hà Nam đã thực hiện nhiều biện pháp cải cách dân chủ, nhằm từng bước cải thiện đời sống nhân dân. Chính quyền cách mạng đã xoá bỏ thuế thân, một thứ thuế hết sức vô lý đánh vào đàn ông từ 18 tuổi trở lên, phát động phong trào xây dựng đời sống mới theo tinh thần “Cần, kiệm, liêm, chính”. Thực hiện giảm tô 25% cho nông dân nhằm từng bước thực hiện nhiệm vụ phản phong ở địa phương, tịch thu 6 đồn điền lớn của thực dân Pháp rộng hơn 10 nghìn ha với 2.000 con trâu, bò, gần một nghìn con dê, cừu giao cho Ban kinh tế dân sinh tỉnh quản lý; miễn thuế hoàn toàn cho các vùng bị ngập lụt, tịch thu ruộng đất của bọn việt gian bỏ chạy chia cho dân nghèo, tiến hành chia lại công điền, lãnh đạo quần chúng đấu tranh với địa chủ để thực hiện giảm tô 25%.
Đi đôi với diệt giặc đói, ngày 8 tháng 8 năm 1945, Nha bình dân học vụ được thành lập và cũng ngay trong ngày đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh “Bắt buộc học chữ quốc ngữ không mất tiền” đối với toàn dân. Để thực hiện quyết tâm xoá nạn mù chữ trong vòng một năm của Chính phủ, Chính quyền Cách mạng ở Hà Nam đã phát động và thực hiện phong trào “diệt giặc dốt” rất sôi nổi và rộng khắp cả ở nông thôn và thị xã. Hàng ngàn lớp bình dân học vụ được tổ chức, hàng ngàn người biết chữ được huy động và tự nguyện làm giáo viên không hưởng lương, vừa dạy học vừa vận động đồng bào đi học. Chính vì vậy, chỉ trong thời gian ngắn (từ cuối năm 1945 đến cuối năm 1946), toàn tỉnh đã có 145.443 người đã biết đọc, biết viết. Đây là thành tựu to lớn và có ý nghĩa sâu sắc cả về văn hoá và chính trị của nhân dân Hà Nam sau Cách mạng Tháng Tám.
Để góp phần cùng Nhà nước giải quyết khó khăn về tài chính, nhân dân trong tỉnh tuy còn nghèo, nhưng đã nhiệt liệt hưởng ứng phong trào ủng hộ “Quỹ độc lập”, “Tuần lễ vàng” do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ phát động từ ngày 17 đến ngày 24 tháng 9 năm 1945. Ban tổ chức tuần lễ vàng của tỉnh nhận được nhiều nhẫn vàng, vòng vàng, dây chuyền vàng... của nhân dân đóng góp cho cách mạng.
Đi đôi với việc đấu tranh chống lại âm mưu, hành động phá hoại của các lực lượng đế quốc và bọn phản động trong nước, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, xoá nạn mù chữ, việc xây dựng, củng cố chính quyền cách mạng các cấp là nhiệm vụ vô cùng quan trọng.
Sau ngày tổng khởi nghĩa giành chính quyền đến cuối năm 1945, Uỷ ban Nhân dân cách mạng lâm thời các cấp đã từng bước được củng cố kiện toàn. Tại uỷ ban Nhân dân các xã, những phần tử xấu và cơ hội đã bị loại bỏ ra khỏi chính quyền, một số trí thức, nhân sĩ tiến bộ đã được mời tham gia, đồng thời lựa chọn những người có năng lực và uy tín vào giữ các vị trí chủ chốt trong chính quyền.
Ngày 8-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra sắc lệnh tổ chức Tổng tuyển cử bầu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Ngày 6-1-1946, cuộc bầu cử Quốc hội được tiến hành trong phạm vi cả nước. Nhân dân Hà Nam phấn khởi hân hoan đón mừng ngày hội lớn của dân tộc. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, mỗi người dân đã tự mình lựa chọn những người có đủ tài, đức vào cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước. Gần 100% cử tri trong toàn tỉnh đã tham gia bầu cử. Trong số 45 người ứng cử và đề cử ở đơn vị bầu cử tỉnh Hà Nam, cử tri đã chọn được 7 đại biểu Quốc hội là các ông: Nguyễn Trọng Đạt (Lê Thành), Đào Thành Kim (Nguyễn Đức Quỳ), Dương Thế Châu, Phạm Ngọc Điển, Lê Tư Lành, Đinh Gia Trinh và linh mục Phạm Bá Trực.
Trong khí thế vô cùng phấn khởi của ngày bầu Quốc hội thành công, chiều ngày 11-1-1946, nhân dân Hà Nam lại tưng bừng được đón chào Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm. Trước đông đảo nhân dân tập trung trước Phòng Thông tin để đón Người, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã căn dặn đồng bào, chiến sĩ và cán bộ phải nêu cao tinh thần đoàn kết, chống giặc ngoại xâm, trừ nạn đói, bảo vệ nền độc lập tự do.
Cuộc bầu cử Hội đồng Nhân dân các cấp đã diễn ra thuận lợi đạt kết quả tốt. Song ở một số nơi do công tác tổ chức lãnh đạo bầu cử còn yếu, bọn địa chủ cường hào, đảng phái phản động, nhất là bọn phản động đội lốt Thiên Chúa giáo đã tìm mọi cách phá hoại bầu cử, đặc biệt là ở cấp xã. Có nơi chúng công khai bỏ tiền ra mua chuộc cử tri, vận động bầu cho chân tay của chúng. Thậm chí bọn phản động còn có nhiều hành động gian lận trong bỏ phiếu, gây khó khăn trong kiểm phiếu như ở xã Xuân Khê (huyện Lý Nhân).
Thắng lợi của cuộc bầu cử đã làm cho quần chúng trong tỉnh thấy rõ được tính ưu việt của chế độ mới, làm tăng thêm niềm tin tưởng, phấn khởi, ý chí quyết tâm làm chủ đất nước của nhân dân.
Đồng thời với việc xây dựng Chính quyền Cách mạng, Đảng bộ Hà Nam đã tăng cường mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân, củng cố và phát triển Mặt trận Việt Minh, các tổ chức cứu quốc, củng cố quyền lãnh đạo của Đảng trong Mặt trận. Hầu hết các thôn xã trong toàn tỉnh đều xây dựng được tổ chức Thanh niên Cứu quốc, Phụ nữ Cứu quốc, Nông dân Cứu quốc, Nhi đồng Cứu vong. Đặc biệt, Công đoàn tỉnh Hà Nam được thành lập bao gồm Công đoàn Hoả xa, Công đoàn Đá Kiện Khê, Công đoàn Vôi Kiện Khê, Công đoàn Gốm Kim Bảng.
Trong thời kỳ này, nhằm tập hợp mọi tầng lớp nhân dân, mọi đảng phái, dân tộc, tôn giáo cùng chống thù trong, giặc ngoài, bảo vệ nền độc lập dân tộc, Đảng và Chính phủ chủ trương tổ chức các Đảng phái, Mặt trận nhằm tranh thủ, lôi kéo mọi tầng lớp nhân dân vào cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung, bảo vệ độc lập dân tộc. Đến thời điểm này, tổ chức Đảng Dân chủ ở Hà Nam cũng đã phát triển ở hầu hết các huyện, thu hút một số trí thức, nhất là trí thức tân học ở nông thôn và một số địa chủ, công thương gia tiến bộ.
Tháng 5-1946 tại Hà Nam, Hội liên hiệp Quốc dân Việt Nam, gọi tắt là Hội Liên Việt bao gồm Mặt trận Việt Minh, các tổ chức đoàn thể, đảng phái và cá nhân sĩ yêu nước đã được thành lập. Ở Hà Nam nhiều thân hào, nhân sĩ, kể cả một số vị khoa bảng đã nhiệt tình tham gia Hội Liên Việt.
Đi đôi với việc xây dựng Chính quyền Cách mạng, phát triển Mặt trận Việt Minh, công tác xây dựng Đảng được coi là nhiệm vụ quan trọng, có tính quyết định nhằm đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với các phong trào cách mạng trong tình hình mới. Tháng 2 năm 1946, Trung ương chỉ định 8 đồng chí trong Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh, trong đó đồng chí Đỗ Mười được cử làm Bí thư Tỉnh ủy lâm thời Hà Nam.
Sau bầu cử Quốc hội, Hội đồng Nhân dân tỉnh và các cấp huyện, xã từng bước được kiện toàn. Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ mới, Ban Cán sự Đảng tỉnh đã họp bàn phương án xây dựng và kiện toàn bộ máy hành chính cấp tỉnh. Trong điều kiện lịch sử lúc này, Ban Cán sự Đảng tỉnh quyết định mời cụ Đặng Quốc Kiều - một nhân sĩ nổi tiếng và có uy tín đối với nhân dân trong vùng đảm đương trọng trách Chủ tịch ủy ban Hành chính tỉnh. Quyết định này của Ban Cán sự Đảng tỉnh đã được Trung ương Đảng đồng ý và đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư mời cụ Đặng Quốc Kiều giữ trọng trách trên.
Để bảo vệ chính quyền và chuẩn bị kháng chiến toàn quốc, Đảng bộ và Chính quyền Cách mạng Hà Nam coi trọng và đẩy mạnh việc xây dựng lực lượng vũ trang, dân quân du kích. Để kiện toàn lực lượng vũ trang, Trung ương đã cử đồng chí Trần Quyết làm ủy viên quân sự tỉnh kiêm Chính trị viên, đồng chí Phạm Văn Trường, Chỉ huy trưởng quân sự. Các đại đội, trung đội, được biên chế lại. Lực lượng bảo an binh cũng được tổ chức lại cho phù hợp hơn.
Cuối năm 1945, Chi đội Giải phóng quân gồm 1.200 chiến sĩ được thành lập. Các chiến sĩ được tuyển từ số đội viên các đội tự vệ chiến đấu, đoàn viên Thanh niên cứu quốc cùng một số ít người tiến bộ được chọn lọc trong đơn vị bảo an binh. Ngoài ra, tỉnh còn tổ chức một số đội Cảm tử quân, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc.
Tại các huyện đều thành lập một phân đội 45 người làm nhiệm vụ bảo vệ những nơi quan trọng. Ở các xã, các đơn vị tự vệ chiến đấu, tự vệ cứu quốc phát triển nhanh chóng, cuốn hút được nhiều thanh niên nam nữ tham gia. Làng nào cũng có từ một tiểu đội đến một trung đội tự vệ chiến đấu được trang bị chủ yếu là đại đao, giáo mác và các loại vũ khí tự tạo.
Để vũ trang cho toàn dân, tỉnh đã phát động phong trào mua sắm và sản xuất vũ khí. Nhiều tổ lò rèn được tập trung rèn dao kiếm, giáo mác để trang bị cho tự vệ và thanh niên. Phong trào ủng hộ kháng chiến cũng được phát động sôi nổi. Riêng cuộc vận động quyên góp “Ngày Nam bộ” đã thu được 48.375 đồng, 250 kg thóc, 521 kg gạo, một số thuốc men và vũ khí. Hướng về Nam Bộ ruột thịt, với quyết tâm đánh thắng giặc Pháp xâm lược, từ cuối năm 1945 đến 1-9-1946 tiểu đoàn Vệ quốc quân cùng với 50 cán bộ, con em của tỉnh Hà Nam đã xung phong Nam tiến giết giặc. Thời gian này tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu và các lực lượng vũ trang địa phương phát triển mạnh. Với 37.000 chiến sĩ được luyện tập và trang bị vũ khí thô sơ cùng 1 tiểu đoàn trong trung đoàn chủ lực của Quân khu, lực lượng vũ trang Hà Nam sẵn sàng cùng nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, bảo vệ quê hương.
Sang năm 1946, tình hình trong nước diễn biến phức tạp, nguy cơ của một cuộc chiến tranh ngày càng đến gần. Cuối tháng 2-1946, Tưởng Giới Thạch đã ký với Pháp một Hiệp ước để quân Pháp vào thay thế quân đội Tưởng ở miền Bắc Việt Nam. Trước tình hình đó, ngày 6-3-1946, Chính phủ ta đã ký với đại diện Chính phủ Pháp Hiệp định Sơ bộ và sau đó là Tạm ước 14-9 nhằm đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, tranh thủ hòa hoãn để chuẩn bị kháng chiến.
Sau Hiệp định sơ bộ và Tạm ước 14-9, thực dân Pháp vẫn tiếp tục đánh chiếm nhiều nơi ở Bắc Bộ. Nhận rõ nguy cơ phải chống lại cuộc chiến tranh xâm lược mới ngày càng đến gần, tháng 10-1946, Tỉnh uỷ Hà Nam triệu tập Hội nghị cán bộ toàn tỉnh tại Phù Đê (xã Tượng Lĩnh, huyện Kim Bảng). Đây là cuộc họp lớn đầu tiên ở Hà Nam có đủ đại diện của các huyện về dự. Hội nghị nhất trí với chủ trương tranh thủ thời gian hoà hoãn, gấp rút xây dựng mọi lực lượng, đề phòng mọi bất trắc; nhấn mạnh công tác Mặt trận, công tác xây dựng lực lượng vũ trang, công tác chuẩn bị cho kháng chiến; hội nghị còn quyết định xây dựng khu căn cứ ở châu Lạc Thuỷ, cử cán bộ cấp uỷ về chăm lo công tác kinh tế ở vùng đồn điền Chi Nê (châu Lạc Thuỷ). Sau hội nghị Phù Đê, các cấp uỷ và chính quyền đã tuyên truyền giáo dục tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, chuẩn bị kế hoạch tản cư, cất giấu lương thực, tổ chức canh gác giữ gìn trật tự trị an, sẵn sàng chiến đấu.
Cuối năm 1946, tình hình chiến sự càng trở nên căng thẳng, ở Nam Bộ, thực dân Pháp mở cuộc tấn công vào các phòng tuyến của ta. Ở Bắc Bộ, ngày 20-11 chúng đánh chiếm Hải Phòng, Lạng Sơn. Ngày 17-12 chúng khiêu khích tại Hà Nội. Ngày 19-12, tướng Moóclia gửi tối hậu thư buộc Chính phủ ta hạ vũ khí đầu hàng, khả năng hoà hoãn không còn nữa. Trước tình thế nền độc lập và chủ quyền của dân tộc bị đe dọa nghiêm trọng, ngày 19-12-1946, Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng đã quyết định phát động cuộc kháng chiến toàn quốc.
Ngày 19/8/1945, tại Quảng trường Nhà hát Lớn,
hàng vạn người dân Thủ đô dự Lễ mít tinh chào mừng
Ủy ban Quân quản. Ảnh: Tư liệu TTXVN
II. XÂY DỰNG LÀNG CHIẾN ĐẤU, CỦNG CỐ HẬU PHƯƠNG, ĐẤU TRANH THU HẸP VÙNG ĐỊCH CHIẾM ĐÓNG (12-1946 - 5-1950)
Ngày 19-12-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi “toàn quốc kháng chiến”. Ngày 22-12-1946, Trung ương Đảng ra Chỉ thị “toàn dân kháng chiến”, nêu rõ mục đích của cuộc kháng chiến là giành độc lập và thống nhất Tổ quốc với phương châm kháng chiến “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh” với tinh thần “Mỗi phố phường là một trận địa", “Mỗi làng là một pháo đài”.
Thực hiện đường lối kháng chiến của Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ Hà Nam đã triệu tập Hội nghị cán bộ tại huyện Duy Tiên để triển khai các nhiệm vụ kháng chiến. Hội nghị quyết định phổ biến sâu rộng Chỉ thị “Toàn dân kháng chiến” của Đảng trong nhân dân và chuyển hướng mọi hoạt động thời bình sang thời chiến.
Trước ngày 19-12-1946, Uỷ ban Hành chính tỉnh Hà Nam đã động viên nhân dân thị xã Phủ Lý tản cư về nông thôn, thực hiện tiêu thổ kháng chiến. Đêm 19-12-1946, hoà cùng tiếng súng chống Pháp của quân dân Hà Nội và thành phố Nam Định, quân dân Hà Nam đã đánh sập cầu Phủ Lý, cầu Guột, cầu Sắt, cầu Họ, cắt đứt con đường huyết mạch số 1 và số 21 chặn bước tiến của quân thù.
Qua hai tháng thực hiện tiêu thổ kháng chiến (12/1946 - 2/1947), nhân dân tỉnh Hà Nam đã đóng góp hàng triệu ngày công, hàng triệu cây tre, gỗ, đào 40 km hào giao thông ven đê sông Hồng - đoạn từ Đức Thông (huyện Lý Nhân) đến Hoàn Dương (huyện Duy Tiên); đào 5 km hào nối liền các khu phố trong thị xã Phủ Lý. Nhân dân đã tự tay phá huỷ một số thị trấn, đánh sập nhiều ngôi nhà lớn, chặt cây, dỡ nhà để cắm kè trên sông như kè Đức Thông trên sông Hồng ở đoạn Lý Nhân, kè Đoan Vĩ trên sông Đáy ở đoạn Thanh Liêm. Nhân dân đã đào hàng chục vạn hố hoả mai trên các đường giao thông lớn (các đường số 1, 21, 60, 62, 64), đắp hàng trăm ụ đất trên đê sông Hồng.
Các cơ quan đầu não của tỉnh đã nhanh chóng chuyển về nông thôn. Tháng 2-1947, Ban tản cư - di cư của tỉnh, huyện được thành lập, tổ chức nhiều trạm đón tiếp đồng bào tản cư. Nhiều trại sản xuất được lập ở Bồng Lạng, Trà Châu (huyện Thanh Liêm); Cốc Thôn, Khuyến Công (huyện Kim Bảng); Ngọc Động (huyện Duy Tiên). Nhân dân ở các địa phương đã hết lòng giúp đỡ đồng bào tản cư về mọi mặt, nhờ đó đời sống của đồng bào tản cư ngày càng được ổn định.
Tiểu đoàn 129 của Hà Nam đã được điều xuống thành phố Nam Định, hợp sức chiến đấu với các lực lượng vũ trang tỉnh bạn. Các ban vận động ủng hộ tiền tuyến, ủng hộ binh sĩ của Hà Nam hoạt động rất tích cực. Nhân dân trong tỉnh đặc biệt là hai huyện Lý Nhân và Bình Lục, đã quyên góp lương thực, quà bánh, thuốc men tiếp tế cho mặt trận.
Để đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất các lực lượng vũ trang trong tỉnh, đầu tháng 3-1947 cơ quan Tỉnh đội Dân quân Hà Nam được thành lập. Các cơ quan huyện đội và xã đội dân quân cũng lần lượt ra đời. Tự vệ chiến đấu ở các xã được tổ chức lại và chuyển thành dân quân du kích, số lượng lúc này lên tới 3.840 đội viên, trong đó có 157 nữ du kích.
Ngày 12-3-1947, đại đội Lê Hồ, đại đội du kích tập trung đầu tiên của tỉnh Hà Nam được thành lập. Đến giữa năm 1947 tỉnh thành lập thêm đại đội 39 (Lương Khánh Thiện) và đại đội 25 (Trần Hưng Đạo). Tỉnh còn chỉ đạo mỗi xã thành lập một trung đội du kích tập trung.
Các trận chiến đấu của lực lượng vũ trang Hà Nam chống Pháp bắt đầu diễn ra từ tháng 3-1947 khi thực dân Pháp tập trung 1.500 quân, 120 xe cơ giới, 4 ca nô từ Hà Nội qua Hà Nam về giải vây cho quân lính của chúng ở Nam Định. Vừa đặt chân lên đất Hà Nam, địch đã vấp phải sức chiến đấu quyết liệt của các lực lượng vũ trang. Một tiểu đội cảm tử của huyện Lý Nhân đã phục kích đánh địch, cản bước tiến của chúng, đại bộ phận các chiến sĩ đã hy sinh rất anh dũng. Phải mất bốn ngày địch mới tới được Tảo Môn (xã Nhân Hoà, huyện Lý Nhân), đến ngày 11-3-1947 chúng mới giải vây được cho quân ở Nam Định.
Sau khi quân Pháp vào được thành phố Nam Định, ngày 21-3-1947 chúng tập trung 2 tiểu đoàn, 300 xe từ Hà Nội, Hưng Yên mở đợt tấn công vào Hà Nam. Chúng đổ quân lên Yên Lệnh và tấn công vào thị xã, đóng quân ở Phủ Lý hai ngày rồi chia hai mũi theo đường 22 về Hà Đông, một mũi theo đường 21 về Chi Nê (châu Lạc Thuỷ) rồi rút về Hà Đông. Các đơn vị tự vệ chiến đấu của tỉnh ở Trì Xá, Mộc Hoàn, Tường Thụy (huyện Duy Tiên); Bích Trì (huyện Thanh Liêm); Quyển Sơn (huyện Kim Bảng) đã đánh trả quyết liệt, gây thiệt hại cho địch. Trận đánh mưu trí của bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương tại Trì Xá (xã Chuyên Nội, huyện Duy Tiên) tiêu diệt gần một đại đội lính Âu - Phi; thu 6 trung liên, 8 tiểu liên, ở Kim Bảng một trung đội chủ lực của ta bị một tiểu đoàn địch vây tại Cốc Nội đã anh dũng chiến đấu, diệt nhiều địch và bắn rơi một máy bay.
Chiến sự ngày càng lan nhanh trên địa bàn Hà Nam. Sau khi chiếm thành phố Nam Định, địch mở nhiều cuộc càn quét uy hiếp các xã cuối tỉnh thuộc hai huyện Lý Nhân và Bình Lục. Chiếm được Bảo Long (xã Mỹ Lộc, thành phố Nam Định), tháng 10-1947 địch thành lập quận hành chính Bình - Lý và phân khu Bảo Long để chỉ đạo việc chuẩn bị chiếm đóng một số xã thuộc hai huyện Bình Lục và Lý Nhân. Tháng 11-1947, địch từ Bảo Long chia hai mũi tiến đánh xã Vũ Bản, lập bốt Đa Côn (Bình Lục), đánh vào Nhân Mỹ, lập bốt ở Vĩnh Đà (thuộc huyện Lý Nhân).
Thực hiện phương châm “kháng chiến, kiến quốc” của Trung ương Đảng, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam vừa tổ chức chiến đấu, vừa đẩy mạnh phát triển kinh tế. Về sản xuất nông nghiệp, năm 1947 diện tích cấy lúa của tỉnh đạt 63.000 ha, tổng sản lượng đạt 68.000 tấn, tăng hơn năm 1946; chăn nuôi trâu bò, gia cầm cũng tăng nhanh. Các ngành sản xuất than ở Đồi Hoa (châu Lạc Thuỷ), gạch ngói ở Trung Thứ, đá ở Kiện Khê và 19 ngành nghề thủ công được phục hồi và đi vào sản xuất, trong đó xã An Lão có phong trào trồng bông kéo sợi dệt vải; An Đổ, Ngọc Lũ (huyện Bình Lục) đẩy mạnh phong trào dệt vải bằng khung cửi tay. Nhân dân Bình Lục tích cực tăng gia sản xuất, cấy hết diện tích ven đường giao thông, chống bỏ ruộng hoang. Nhờ vậy, mà hai vụ lúa chiêm năm 1947 - 1948, năng suất thu hoạch khá cao, đạt bình quân từ 70 - 76kg một sào.
Công tác văn hoá - xã hội vẫn được duy trì, phát triển. Tháng 6-1947, Hội văn hoá kháng chiến tỉnh Hà Nam được thành lập. Hội đã xuất bản 2.000 cuốn Đời sống mới, 2.000 cuốn Việt Nam chiến đấu, Thơ ca chiến đấu. Ngoài ra, Hội còn tổ chức một cuộc triển lãm lưu động Một năm kháng chiến nhằm giới thiệu rộng rãi thành tích của các ngành, các giới trong tỉnh. Ngành Bình dân học vụ được đẩy mạnh, năm 1947 có thêm 10 vạn người thoát nạn mù chữ. Công tác y tế, vệ sinh phòng bệnh ngày càng phát triển. Ngày 14-9-1947, Hội Việt Nam Y dược của tỉnh được thành lập. Sau một thời gian hoạt động, Hội có hơn 1.000 hội viên ở khắp các cơ sở trong tỉnh và đã bào chế được 112 loại thuốc bán phục vụ nhân dân với giá phù hợp.
Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công cuộc kháng chiến, các cấp uỷ đảng từ tỉnh đến huyện không ngừng được củng cố và kiện toàn. Tính đến cuối năm 1947, toàn đảng bộ đã có 1.333 đảng viên. Chi bộ được xây dựng ở hầu hết các xã, làm cho sự lãnh đạo của Đảng ở cơ sở nông thôn thêm vững chắc.
Tháng 11-1947, Uỷ ban Kháng chiến và Uỷ ban Hành chính các cấp tỉnh, huyện, xã hợp nhất thành Uỷ ban Kháng chiến Hành chính để tập trung chỉ đạo công cuộc kháng chiến, kiến quốc trong toàn tỉnh.
Khối đại đoàn kết toàn dân càng được củng cố, mở rộng. Tháng 12-1947, Tỉnh đoàn Thanh niên cứu quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh được thành lập. Tổng số đoàn viên thanh niên toàn tỉnh là 37.612 người (trong đó có 23.942 Thanh niên cứu quốc). Hội Liên hiệp Phụ nữ vận động hội viên tham gia công tác xã hội, giúp đỡ bộ đội, ủng hộ phong trào Mùa đông binh sĩ, luyện tập quân sự, gia nhập dân quân du kích... Liên hiệp Công đoàn tỉnh có 3.819 công đoàn viên. Mặt trận Việt Minh có cơ sở vững chắc từ xã đến tỉnh, ở những xã giáp vùng địch tạm chiếm, cán bộ Việt Minh đã hướng dẫn nhân dân đấu tranh chống địch cướp bóc và khủng bố, lập kế hoạch canh gác bảo vệ trật tự trị an. Hội Liên Việt có 83.343 hội viên, Hội đã vận động nhân dân hưởng ứng Tuần lễ thương binh và Mùa đông kháng chiến, quyên góp được 470 nghìn đồng.
Bị thất bại nặng nề trong cuộc tiến công quy mô lớn lên Việt Bắc nhằm tiêu diệt quân chủ lực và cơ quan đầu não kháng chiến của ta, chiến lược đánh nhanh, thắng nhanh của thực dân Pháp bị phá sản. Từ cuối năm 1947, thực dân Pháp buộc phải thực hiện đánh lâu dài, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, mở nhiều cuộc hành quân quy mô nhỏ nhằm phá cơ sở kháng chiến, củng cố ngụy quyền, mở rộng sự chiếm đóng, thực hiện chiến thuật vết dầu loang.
Để đối phó với âm mưu của địch, ngay từ tháng 11-1947, sau Hội nghị vùng tiền tuyến, Ban chỉ đạo tiền phương của Hà Nam đã được thành lập, do Tỉnh uỷ trực tiếp lãnh đạo. Chủ trương của Tỉnh uỷ là cán bộ, đảng viên phải lãnh đạo nhân dân đấu tranh với địch, không lập tề, không đi phu đi lính, không nộp sưu tre. Đồng thời Tỉnh uỷ ra Chỉ thị thành lập các đội tuyên truyền vũ trang, đưa vào hoạt động trong vùng tạm chiếm, vừa đánh địch, vừa giúp cơ sở gây dựng lại phong trào. Nhờ đó phong trào dần dần được phục hồi. Chỉ trong 3 tháng đầu năm 1948, hầu hết vùng tạm chiếm đều có cơ sở đảng với 10 chi bộ chính thức, 4 chi bộ dự bị gồm 400 đảng viên. Ban chỉ đạo tiền phương đã hai lần chỉ đạo tổng phá tề, đến cuối năm 1948, ta đã phá và làm tan rã 70% hội tề, bắt gần 300 tên, trong đó có một số tề gian ác.
Để tăng cường sức mạnh của chính quyền cách mạng trong vùng tạm chiếm, Tỉnh uỷ chủ trương thành lập Ban đặc biệt gồm đại biểu Uỷ ban Kháng chiến Hành chính, đại biểu Tỉnh đội Dân quân, Ty Công an, cùng với đại biểu Uỷ ban Kháng chiến Hành chính hai huyện Lý Nhân và Bình Lục, có nhiệm vụ giúp đỡ các xã củng cố chính quyền, trấn áp bọn phản cách mạng, củng cố lực lượng dân quân du kích.
Đầu năm 1948, được sự giúp đỡ của Bộ Tư lệnh Liên khu III, tỉnh đã lãnh đạo nhân dân tổ chức chống càn, xây dựng thêm công binh xưởng để sản xuất vũ khí. Trong năm 1948, xưởng đã sản xuất được 18 súng phóng lựu đạn, 200 quả đạn phóng, 1.235 quả mìn muỗi, 200 súng bắn đạn ghém.
Đến cuối năm 1948, toàn tỉnh đã xây dựng được 14 làng chiến đấu ở Hưng Công, Bối Cầu, Yên Nội (huyện Bình Lục); Yên Từ, Tường Thụy, Trì Xá, Bút Đông (huyện Duy Tiên); Nhật Tựu, Lưu Xá, Đặng Xá (huyện Kim Bảng); Nhân Nghĩa, Chung Lý, Mạc Hạ, Mai Xá (huyện Lý Nhân).
Để đáp ứng yêu cầu ngày một cao của cuộc kháng chiến, tỉnh đã phát động cuộc vận động “Rèn luyện cán bộ, cải tiến công tác”. Tiếp đó, phong trào “Thử lửa” của du kích cũng được phát động, và cùng với phong trào “Thử lửa”, nhân dân và các đoàn thể cứu quốc các huyện, xã thành lập “Hội bảo trợ du kích”, ủng hộ kháng chiến. Đến tháng 12-1948, Hội đã vận động quyên góp được 270.000 đồng, 27 mẫu ruộng, 14 con trâu, 654 con gà, 15 ao thả cá, 4.000 cây ăn quả. Trong “Tuần lễ vũ khí” do Tỉnh uỷ phát động ngày 24-5-1949, nhân dân một mặt tự sắm sửa vũ khí để chiến đấu, mặt khác tích cực ủng hộ tiền bạc cho du kích mua sắm vũ khí. Phong trào mua “Công phiếu kháng chiến” cũng được đẩy mạnh. Tính đến cuối 1948, số tiền nhân dân Hà Nam mua công trái lên tới 1.050.600 đồng.
Nhờ sự chỉ đạo sát sao của tỉnh và sự ủng hộ tích cực của nhân dân, đến quý I năm 1949, số du kích trong toàn tỉnh đã lên tới 16.692 đội viên. Trong đợt tuyển quân tháng 8-1949, Hà Nam đã có 8.000 thanh niên lên đường tòng quân giết giặc. Bộ đội địa phương và du kích đã chiến đấu dũng cảm, đánh bại nhiều cuộc tấn công lấn chiếm của địch. Đầu tháng 12-1948, địch dùng 17 máy bay Đacota có 4 máy bay B26 yểm trợ, thả 400 quân dù xuống xã Bình Cách (huyện Ý Yên), Trà Châu, càn quét vùng Núi Đất (huyện Thanh Liêm), phối hợp với cánh quân đường thuỷ đổ bộ lên bến Khuốt và cánh quân từ Vân Đình (Hà Đông) tiến đánh cơ quan đầu não của tỉnh và các kho tàng của ta ở hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng. Lực lượng vũ trang của hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng đã chiến đấu dũng cảm, diệt 144 tên địch, làm bị thương 99 tên, đập tan cuộc hành quân càn quét của địch, bảo vệ cơ sở kháng chiến.
Đồng thời với việc xây dựng lực lượng vũ trang, chiến đấu chống địch lấn chiếm, phong trào đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân được phát động sâu rộng. Tháng 2-1949, tỉnh Hà Nam quyết định thành lập Ban vận động hợp tác xã trong tỉnh. Cuối năm 1949, toàn tỉnh có 54 hợp tác xã nông nghiệp, 3 hợp tác xã thủ công nghiệp, đến tháng 3 năm 1950 toàn tỉnh đã có 76 hợp tác xã.
Trên lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, tính đến năm 1950 toàn tỉnh có 150 xí nghiệp và xưởng sản xuất.
Trên mặt trận văn hoá - giáo dục và y tế, đến cuối năm 1949, toàn tỉnh đã thanh toán xong nạn mù chữ trong nhân dân và được Chính phủ tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. Toàn tỉnh có 277 trường tiểu học, 12 trường trung học và xây dựng được 15 nhà hộ sinh, mỗi huyện có 1 y tá.
Để tăng cường bồi dưỡng sức dân, đẩy mạnh sản xuất đáp ứng nhu cầu kháng chiến và kiến quốc, thực hiện chính sách của Đảng và Nhà nước, chính quyền tỉnh đã tạm cấp 983 mẫu ruộng của thực dân Pháp và Việt gian cho 1.063 gia đình. Đồng thời, ủy ban Kháng chiến Hành chính tỉnh đã có nhiều biện pháp kiên quyết, buộc địa chủ phải giảm tô cho tá điền. Tuy việc thực hiện chính sách giảm tô đã đạt được nhiều kết quả, nhưng có nơi thi hành chưa triệt để, nên toàn tỉnh mới thực hiện giảm tô được 20%.
Trong thời gian này, công tác trừ gian, diệt phản động, cũng được đẩy mạnh. Tháng 12-1949, Công an Hà Nam đã triệt phá tổ chức Mặt trận dân chúng liên hiệp, một tổ chức phản động đội lốt Thiên chúa giáo do Nguyễn Văn Thuyết ở Vũ Điện (huyện Lý Nhân), Đinh Thành Chung ở Dưỡng Thọ (Duy Tiên) cầm đầu. Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam đã kết án tử hình tên Bạch Văn Sam về tội phản quốc.
Thực hiện việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, tháng 2-1950, Tỉnh uỷ Hà Nam đã chỉ đạo tiến hành Đại hội thống nhất Mặt trận Việt Minh - Liên Việt. Đại hội đã đề ra phương hướng công tác, chú trọng công tác mặt trận trong các vùng tạm bị chiếm, vùng có đồng bào theo đạo Thiên chúa và vùng dân tộc thiểu số. Sau Đại hội, mặt trận đã kết nạp thêm 5.000 hội viên mới, mở 990 lớp huấn luyện cho 44.700 hội viên, tranh thủ mọi tầng lớp nhân dân như thanh niên, phụ nữ, trí thức, tôn giáo, nhân sĩ tiến bộ, động viên họ tích cực tham gia kháng chiến.
Giữa lúc tình hình trong nước và địa phương có nhiều chuyển biến, Đại hội Đại biểu đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ II khai mạc vào ngày 10-9-1949 tại thôn Văn Lâm (xã Liêm Tiết, huyện Thanh Liêm). Thay mặt cho 15.214 đảng viên trong toàn Đảng bộ, các đại biểu đã thảo luận và tham gia ý kiến vào các đề án của Trung ương Đảng, cử đại biểu đi dự Đại hội Đảng bộ Liên khu III và Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II. Đại hội đã bầu ra Ban chấp hành mới gồm 13 ủy viên do đồng chí Nguyễn Mạnh Hùng (tức Ngô Duy Đông) làm Bí thư.
Trước những thất bại nặng nề của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ ngày càng tăng cường can thiệp vào Đông Dương. Được Mỹ viện trợ, thực dân Pháp tăng quân từ Pháp sang, củng cố và khoá chặt biên giới Việt - Trung, đánh chiếm đồng bằng Bắc Bộ, củng cố ngụy quyền, xây dựng ngụy quân hòng dùng đội quân này làm nhiệm vụ bình định, chiếm đóng để có thể tập trung phần lớn quân viễn chinh thành lập những binh đoàn cơ động ứng chiến.
Thực hiện kế hoạch Rơve, ở Liên khu II, tháng 9-1949 thực dân Pháp đánh chiếm phía nam tỉnh Nam Định, Phát Diệm (tỉnh Ninh Bình). Tháng 2-1949, chúng đánh chiếm tỉnh Hưng Yên và hoạt động ráo riết chuẩn bị đánh chiếm tỉnh Hà Nam, nơi có vị trí giao thông chiến lược và là mục tiêu cuối cùng nằm trong kế hoạch bình định đồng bằng của chúng. Tháng 2-1950, khi đánh chiếm Thái Bình, thực dân Pháp cho một mũi tấn công vào Hà Nam, chiếm đóng hai vị trí Như Trác và Vũ Điện (huyện Lý Nhân), nhằm bảo vệ đường vận chuyển trên sông Hồng và làm bàn đạp đánh sâu vào nội địa của tỉnh sau này.
Nhận rõ âm mưu chiếm đóng đồng bằng của địch, Liên khu uỷ Khu III nhận định, rồi đây địch sẽ đánh chiếm Hà Nam và chỉ thị cho Tỉnh uỷ Hà Nam phải tích cực chuẩn bị chiến đấu. Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã họp đề ra nghị quyết về chuẩn bị chống địch đánh chiếm Hà Nam, nêu rõ phải tăng cường công tác phòng gian, tuyên truyền sắc lệnh tổng động viên, vận động nhân dân phá kế hoạch chiếm đóng đồng bằng của địch.
Như vậy là trong khoảng thời gian gần 5 tháng, kể từ ngày cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ (19-12-1946) đến tháng 5-1950, Đảng bộ, chính quyền cách mạng và nhân dân Hà Nam đã kịp thời chuyển hướng hoạt động từ thời bình sang thời chiến, xây dựng hậu phương trong điều kiện đầy khó khăn, gian khổ; vận dụng linh hoạt chủ trương, đường lối của Trung ương Đảng vào địa phương, xây dựng và phát triển kinh tế, chính trị, quân sự và văn hoá xã hội. Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã vững vàng, chủ động bước vào thời kỳ trực tiếp chiến đấu chống thực dân Pháp, bảo vệ và tiến tới giải phóng quê hương.
III. CHỐNG ĐỊCH MỞ RỘNG VÙNG CHIẾM ĐÓNG, ĐẨY MẠNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN LỰC LƯỢNG, TIẾN TỚI GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (5-1950 - 7-1954)
Thực hiện âm mưu chiến lược đánh chiếm đồng bằng, đế quốc Pháp đã mở cuộc tiến công Tia chớp với cuộc hành quân Đavít 3 đánh chiếm Hà Nam. Ngày 21-5-1950, thực dân Pháp đánh vào Hà Nam từ nhiều hướng.
Trước sức tiến công ồ ạt của địch ngày 22-5-1950, Tỉnh ủy đã họp bất thường đặt kế hoạch đối phó và đề ra nhiệm vụ chung là siết chặt hàng ngũ, giữ vững khối đoàn kết toàn dân, dốc mọi khả năng vào cuộc chiến đấu chống giặc, bảo vệ và giữ vững cơ sở, phá kế hoạch chiếm đóng Hà Nam của địch. Và ra lời kêu gọi cán bộ, đảng viên toàn tỉnh tích cực diệt địch, giữ vững cơ sở, đồng thời cho thành lập cấp tốc các đội tuyên truyền vũ trang.
Mặc dù tương quan lực lượng hết sức chênh lệch, song bộ đội và du kích đã chặn đánh quyết liệt các cánh quân địch từ Hà Đông tiến xuống, dùng bom, mìn diệt địch ở Tiên Nội (huyện Duy Tiên), Hồng Phú (huyện Thanh Liêm), Nhật Tựu (huyện Kim Bảng). Tại xã Tượng Lĩnh (huyện Kim Bảng), tiểu đoàn Lê Lợi đã phục kích diệt gọn 2 trung đội địch. Các mũi tiến công khác của địch đều bị quân dân ta chặn đánh. Đặc biệt, ở Lý Nhân, chớp thời cơ quân địch ở Vĩnh Đà (xã Nhân Mỹ) kéo đi càn quét, chi bộ xã đã kịp thời huy động dân quân, du kích và nhân dân ở đây đã phá tan bốt của giặc, để khi chúng quay về không còn chỗ đóng quân.
Trong cuộc đánh chiếm quy mô lớn, địch đã nhanh chóng chiếm đóng các vị trí then chốt ở thị xã Phủ Lý, dọc đường giao thông lớn ở ven sông Đáy. Với hệ thống đồn bốt và mạng lưới tề, địch đã kiểm soát được các đường giao thông quan trọng, một số cao điểm và tuyến sông Đáy. Toàn bộ châu Lạc Thuỷ, vùng bán sơn địa của hai huyện Thanh Liêm, Kim Bảng và nhiều nơi trong tỉnh còn là khu vực tự do.
Sau khi thiết lập được hệ thống cứ điểm ven sông Đáy vào cuối tháng 6-1950, địch thực hiện kế hoạch bình định Hà Nam. Tháng 7-1950 dựa vào lực lượng quân sự mạnh, địch mở nhiều cuộc càn quét theo kiểu vết dầu loang, đánh phá cơ sở, tìm diệt lực lượng của ta, lùng bắt, tàn sát cán bộ và những người tham gia hoặc có cảm tình với kháng chiến, cướp nguyên vật liệu, bắt phu về xây đồn bốt. Đồng thời chúng dùng chính sách mị dân, đề cao “độc lập” giả hiệu, đề cao bù nhìn Bảo Đại, vực dậy các đảng phái phản động, bọn đội lốt tôn giáo, địa chủ cường hào, để lập ra ngụy quyền, ngụy quân. Chỉ trong vòng 2 tháng, địch đã lập được một hệ thống ngụy quyền từ tỉnh đến xã và một lực lượng ngụy quân bao gồm 251 hội tề - với gần 1.000 tên trong đó có 75 thôn tề ác, 35 thôn tề vũ trang, được trang bị 429 súng trường, 8 tiểu liên, 1 trung liên.
Để phá âm mưu chiếm đóng và bình định của giặc, Liên khu uỷ Khu III đã phát động đợt hoạt động mạnh lấy tên là Lương giáo đoàn kết thi đua giết giặc trong toàn Liên khu. Hà Nam được tăng cường một tiểu đoàn chủ lực cho khu vực hai huyện Bình Lục và Lý Nhân để hỗ trợ cho cuộc phát động.
Thi hành Chỉ thị của Liên khu uỷ, Tỉnh uỷ và Ủy ban Kháng chiến Hành chính Hà Nam đã phát động Hai tháng lương giáo đoàn kết, thi đua giết giặc (từ 25-7 đến 25-9-1950), nhằm củng cố khối đoàn kết lương giáo; phá ngụy quân, ngụy quyền; đẩy mạnh xây dựng cơ sở. Vào lúc 11 giờ đêm ngày 25-7- 1950, các lực lượng của ta đồng loạt nổ súng, ném lựu đạn, quấy rối các vị trí, các thôn có tề vũ trang trong toàn tỉnh. Đồng thời nhiều thôn, xã khác đã nổi chiêng, trống, mõ, kẻng hỗ trợ. Có nơi dân quân du kích đốt đuốc tuần hành vũ trang, đột nhập vị trí địch treo cờ, rải truyền đơn, dán khẩu hiệu. Bị tấn công đồng loạt và bất ngờ, địch hoang mang lo sợ, cố thủ trong vị trí suốt 3 ngày đêm, không dám ra ngoài.
Bộ đội chủ lực đã cùng với bộ đội địa phương vũ trang tiến công diệt tề, hỗ trợ cho phong trào kháng chiến. Đêm 30-7-1950, tại Khắc Cần (huyện Thanh Liêm) ta đã tấn công diệt tề vũ trang, bắt sống một số vệ sỹ, thu toàn bộ vũ khí. Đêm 2-8-1950, ta diệt 3 vị trí Tâng, Khoái, Văn Quán (huyện Thanh Liêm), bắt sống 80 tên; đêm 6-8-1950, tiêu diệt vị trí Võ Giang (huyện Thanh Liêm), bắt 37 tên. Nhân đà thắng lợi, quân dân huyện Thanh Liêm tiến lên phá 84 ban tề, toàn huyện chỉ còn lại 16 thôn có tề vũ trang. Quân và dân ta mở rộng hoạt động sang hai huyện Lý Nhân và Bình Lục, tấn công đồng loạt 12 vị trí tề vũ trang, nhưng kết quả đạt không cao vì bọn chúng ra sức cố thủ trong các công sự.
Nhân dịp Quốc khánh 2-9-1950, đội Thiết Dũng của Ty Công an Hà Nam, làm nhiệm vụ diệt tề trừ gian, đã hoạt động mạnh mẽ, táo bạo, lập nhiều chiến công vang dội. Đội đã bí mật vào cắm cờ ở xung quanh nhà thờ Kiện Khê, phối hợp với bộ đội xoá tổ chức phản động Sui (huyện Thanh Liêm), chôn mìn ở gần vị trí Ngô Khê (huyện Bình Lục), diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch, đồng thời rải truyền đơn và giải thích chủ trương của Chính phủ.
Qua đợt hoạt động Lương giáo đoàn kết, thi đua giết giặc, ta đã phá được 168 trong số 251 ban tề trong tỉnh, diệt và bức rút 14 trong 36 ban tề vũ trang, diệt 110 tên địch, bắt sống 409 tên, thu nhiều vũ khí. Hơn 100 vệ sỹ, bảo an bỏ ngũ trở về gia đình.
Sau hai tháng chiến đấu liên tục, tình thế ở Hà Nam đã thay đổi. Từ chỗ bị địch tấn công, lấn chiếm, ta chủ động tiến công địch, phá vỡ từng mảng ngụy quân, ngụy quyền, phục hồi cơ sở, tạo nên một khí thế đấu tranh mới cho cán bộ, nhân dân. Bước đầu ta đã làm phá sản âm mưu chia rẽ lương giáo của địch, củng cố thêm một bước khối đoàn kết toàn dân.
Tháng 9-1950, Trung ương Đảng quyết định mở Chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt một phần quan trọng sinh lực địch, củng cố và mở rộng căn cứ địa Việt Bắc; nối liền nước ta với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa; giải phóng một phần đất đai, tiến tới giành quyền chủ động chiến lược trên chiến trường.
Để phối hợp với chiến dịch, Tỉnh uỷ và Ủy ban Kháng chiến Hành chính chủ trương đẩy mạnh hoạt động quân sự, tích cực phá tề, phục hồi cơ sở, xây dựng các khu du kích liên hoàn phía nam tỉnh. Một trung đoàn chủ lực được điều về mở đầu đợt hoạt động. Ngày 9-10-1950, sau 36 giờ tiến công vây hãm, chặn viện, bộ đội ta đã tiêu diệt căn cứ Hồi Trung (huyện Kim Bảng), diệt 30 tên địch, bắt 44 tên, thu 1 khẩu pháo 37 ly, 3 trung liên, 5 tiểu liên, nhiều súng trường và đạn dược. Thừa thắng, ta đánh liên tiếp nhiều vị trí tề vũ trang ở Bèo, Bài Lễ (Duy Tiên); Mã Não, Quế (huyện Kim Bảng); Trung Lương (huyện Bình Lục). Ở nhiều nơi, cơ sở đảng và cơ sở quần chúng được phục hồi, nhân dân nô nức đi dân công phục vụ chiến dịch, phá đường giao thông, tích cực đào hầm bí mật, rào làng kháng chiến. Ngụy quân, ngụy quyền hoang mang, lo sợ. Có nơi chúng ra đầu thú chính quyền cách mạng (huyện Kim Bảng), có nơi trả súng về nhà làm ăn (xã Bạch Thượng, huyện Duy Tiên).
Quân và dân Hà Nam còn tự hào là đã góp phần xứng đáng vào việc bảo vệ an toàn các cơ quan của Liên khu III, phục vụ đắc lực tuyến giao thông, vận tải từ Việt Bắc vào Khu IV, đặc biệt là giữa tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng. Trong nhiều chiến dịch, dân công Hà Nam đã không sợ gian khổ, không ngại hy sinh, giữ vai trò chủ yếu trong công tác hậu cần, đã bố trí nhân viên và phương tiện đưa đón các đoàn cán bộ, bộ đội bảo đảm an toàn vượt qua sông Hồng, sông Đáy và các đoạn đường địch hay phục kích.
Sau thất bại trong Chiến dịch Biên giới, được Mỹ tăng cường viện trợ, thực dân Pháp lại tiếp tục mở rộng chiến tranh. Tháng 12-1950, Pháp cử Đại tướng Đờ-lát Đờ Tát-xi-nhi sang Đông Dương nắm mọi quyền hành về quân sự và chính trị hòng xoay chuyển tình thế. Thực dân Pháp ra sức tăng viện binh từ Pháp sang, ra sức bắt thanh niên vùng tạm chiếm đi lính, tăng cường càn quét, bình định vùng chiếm đóng, xây dựng hệ thống boong ke, lập vành đai trắng bảo vệ đồng bằng Bắc bộ.
Thực hiện kế hoạch của ĐờTát-xi-nhi, ở Hà Nam, ngày 14-12-1950, quân Pháp tập trung lực lượng mở trận càn vào 5 xã thuộc khu bắc huyện Duy Tiên với chiến thuật bao vây lớn kết hợp với bao vây nhỏ, chia cắt các thôn xã, đánh úp lực lượng kháng chiến, tàn phá làng mạc, cướp của, bắt thanh niên đi lính.
Sau khi đánh chiếm xong khu bắc huyện Duy Tiên, địch lại điều 3.000 quân mở cuộc hành quân càn quét lớn mang tên là Quốc gia kéo dài từ ngày 7 đến ngày 20-4-1951, đánh chiếm vùng tự do còn lại thuộc ba huyện Lý Nhân, Bình Lục, Thanh Liêm nhằm chiếm toàn bộ năm huyện đồng bằng trong tỉnh, lập phòng tuyến sông Hồng, sông Đáy, cắt đứt giao thông giữa tả ngạn và hữu ngạn sông Hồng, giữa vùng tự do và vùng tạm chiếm Liên khu III. Tính đến thời gian này, ở Hà Nam có 37 vị trí quân Pháp đóng, 47 vị trí tề vũ trang, 332 ban tề, hình thành hệ thống ngụy quyền từ tỉnh xuống xã; kiểm soát 3/4 đất đai và 4/5 dân số. Khu tự do trong tỉnh chỉ còn Lạc Thủy, một số xã thuộc hữu ngạn sông Đáy như Khả Phong, Thanh Sơn, Thi Sơn, Ba Sao, Châu Sơn của huyện Kim Bảng và một số xã thuộc huyện Thanh Liêm.
Từ sau cuộc càn quét mang tên Quốc gia của địch, phong trào kháng chiến trong tỉnh gặp rất nhiều khó khăn, không khí bi quan bao trùm khắp các huyện, xã. Có thể nói đây là thời kỳ khó khăn nhất của cách mạng Hà Nam. Ngày 17- 5-1951, Tỉnh uỷ họp Hội nghị mở rộng nhằm đánh giá tình hình, phân tích những thuận lợi, khó khăn, đề ra nhiệm vụ trước mắt cho quân dân trong tỉnh. Hội nghị đã ra Nghị quyết về nhiệm vụ chuẩn bị chiến trường, vạch kế hoạch phối hợp với chủ lực, đẩy mạnh chiến tranh du kích, phát động nhân dân phá ách kìm kẹp của địch; phục hồi cơ sở, tổ chức tốt việc thu chiêm, làm mùa.
Sau hội nghị, mọi công tác đều được tiến hành khẩn trương, sôi động. Nhân dân các huyện đã huy động được gần 3.000 chiếc thuyền vừa và nhỏ chở gần 300 tấn thóc ra vùng tự do; góp gần 1 vạn cây tre, luồng làm cầu, lán trú quân; hơn 10 vạn ngày công tham gia khai thông đường vận chuyển, đào hầm hố, chuẩn bị lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh cho bộ đội. Cơ quan quân sự tỉnh cũng khẩn trương vạch kế hoạch tác chiến cho các lực lượng vũ trang bán vũ trang, sẵn sàng phối hợp chiến đấu.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, chiến dịch Quang Trung đã diễn ra từ 28-5 đến 20-6-1951, trên địa bàn ba tỉnh Hà Nam, Nam Định và Ninh Bình", nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực quan trọng của địch, làm tan rã ngụy quân, ngụy quyền, đẩy mạnh chiến tranh nhân dân.
Hà Nam nằm trong hướng phụ của chiến dịch, là địa bàn hoạt động của hai trung đoàn chủ lực. Do có nhiều điều kiện thuận lợi về địa hình châu Lạc Thuỷ - căn cứ địa của Hà Nam và Liên khu III, trở thành nơi tập trung nhiều kho tàng, trú quân và xuất kích của bộ đội tham gia chiến dịch. Nhân dân Hà Nam đã đóng góp một phần đáng kể trong công cuộc xây dựng kho tàng, vận chuyển vũ khí, làm lán trại, bắc cầu, sửa đường, nhiều người đã anh dũng hy sinh khi làm nhiệm vụ.
Hoà cùng chiến dịch Hà - Nam - Ninh, đêm 28-5-1951, một bộ phận của Đại đoàn 320 phối hợp với quân dân Hà Nam, nổ súng tiêu diệt các vị trí Quắn (huyện Bình Lục); Hương Cát, Thần Nữ (huyện Duy Tiên); Võ Giang, Kỷ Cầu (huyện Thanh Liêm), bức địch phải bỏ vị trí Đoan Vĩ, chọc thủng một mảng lớn tuyến phòng thủ sông Đáy, phía nam huyện Thanh Liêm. Cùng một lúc nhiều vị trí địch ven đường 21 như cầu Sắt, An Tập (huyện Bình Lục) cũng bị tiêu diệt. Ngày 29 và 30-5, quân ta giành thắng lợi lớn trong hai trận phục kích địch ở Mai Cầu, Trung Thứ (huyện Thanh Liêm).
Những hoạt động quân sự của ta đã làm cho hàng ngũ ngụy quân, ngụy quyền trong tỉnh hoang mang dao động. Tên đồn trưởng Lạc Tràng (thị xã Phủ Lý) vội vã cho vợ con di tản. Ngụy binh ở bốt Quế (huyện Kim Bảng) và thị xã Phủ Lý, tìm đường thoát thân hoặc đầu hàng. Bọn tề vũ trang ở Ngọc Thị (huyện Duy Tiên), tối đến kéo nhau lên bốt ngủ, sáng sớm mới dám về nhà. Ngụy quyền ở xã không dám hoạt động; nhiều ban tề võ trang bị ta phá. Đặc biệt toàn bộ hội tề ở các xã trong huyện Lý Nhân, 80% số ban tề ở huyện Bình Lục và một số ban tề huyện Thanh Liêm bị giải tán. Chớp thời cơ thuận lợi này, nhiều cán bộ, đảng viên bị bật đất trước đây, nay nhanh chóng trở về xây dựng, củng cố lại phong trào. Cơ sở Đảng, cơ sở kháng chiến phía nam huyện Thanh Liêm và hầu hết ở các huyện Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên được phục hồi.
Các đơn vị bộ đội địa phương tỉnh, huyện, cũng phân tán về các xã cùng với du kích đánh địa lôi chống càn, xây dựng khu du kích. Nhiều khu du kích rộng lớn đã được xây dựng ở ba huyện Duy Tiên, Lý Nhân, Bình Lục. Huyện uỷ Lý Nhân đã chỉ đạo xây dựng khu du kích Hoà - Hậu - Thắng, trở thành căn cứ vững nhất tỉnh. Chiến tranh du kích phát triển mạnh ở nhiều nơi như Xuân Khê (huyện Lý Nhân), Hưng Công (huyện Bình Lục), Mộc Bắc (huyện Duy Tiên), Liêm Trực (huyện Thanh Liêm), du kích đã có thể chủ động chống những cuộc càn quét nhỏ của địch, bảo vệ dân thu hoạch vụ chiêm thắng lợi.
Như vậy, sau thắng lợi của chiến dịch Quang Trung, phong trào cách mạng ở Hà Nam đã được khôi phục và tiếp tục phát triển. Đúng như nhận định của Tỉnh ủy trong cuộc họp ngày 18-7-1951: “Thắng lợi của chiến dịch Quang Trung đã làm cho phong trào tỉnh ta hết đà suy sụp, bắt đầu tiến lên và có triển vọng tiến bộ mạnh hơn nữa”(1).
Để giành lại quyền chủ động đã mất trên chiến trường Bắc Bộ, chặn đường vận chuyển tiếp tế của ta giữa Việt Bắc với Trung Bộ, tháng 11-1951, thực dân Pháp tập trung 20 tiểu đoàn bộ binh cơ động chiến lược, có đủ cơ giới, pháo binh, máy bay, mở chiến dịch đánh chiếm Hòa Bình.
Thực hiện chủ trương của Trung ương và Liên khu uỷ III, cơ quan quân sự tỉnh đã khẩn trương củng cố lực lượng vũ trang và bán vũ trang, đề ra phương án phối hợp tác chiến với bộ đội chủ lực. Hội đồng cung cấp của tỉnh cũng đã huy động nhân tài, vật lực, thực hiện đầy đủ kế hoạch được giao.
Đầu tháng 12-1951, Trung đoàn 4 thuộc Đại đoàn 320 được điều về hoạt động trên địa bàn Hà Nam. Sau khi khảo sát, nghiên cứu tình hình, Đảng uỷ mặt trận đã quyết định đánh vị trí Ngô Khê (huyện Bình Lục), mở màn cho các hoạt động quân sự, tiến lên mở rộng các khu du kích. Đây là một cứ điểm trọng yếu của địch ở Hà Nam, kề sát sông Châu, án ngữ các đường giao thông lớn nối liền ba huyện Lý Nhân, Bình Lục, Duy Tiên và nối tỉnh Hà Nam với các tỉnh tả ngạn sông Hồng. Đánh vị trí Ngô Khê sẽ có tác động mạnh đến hệ thống chiếm đóng của địch ở Hà Nam.
Được nhân dân huyện Bình Lục nuôi dưỡng, giúp đỡ, vào lúc 1 giờ 45 phút ngày 11-12-1951, hai tiểu đoàn Hưng Công và Đồng Mít thuộc Trung đoàn 64 đã phối hợp với các lực lượng vũ trang địa phương, bí mật bao vây quân địch và bất ngờ nổ súng tấn công vị trí Ngô Khê. Kết hợp với binh vận, sau 4 giờ chiến đấu, quân ta đã tiêu diệt vị trí, giết 50 tên địch, bắt 75 tên, thu nhiều súng đạn.
Chiến thắng Ngô Khê đã gây một tiếng vang lớn trong toàn tỉnh, làm rung chuyển hệ thống ngụy quân, ngụy quyền. Tỉnh trưởng Hà Nam hoảng sợ bỏ chạy về Hà Nội. Bọn chỉ huy ở Sái (huyện Bình Lục), Bích Trì (huyện Thanh Liêm) và quân lính ở vị trí Ba Đa chạy về thị xã Phủ Lý. Nhiều ban tề vũ trang phải lánh vào các bốt.
Phát huy thắng lợi, quân dân ta tiếp tục bao vây tiêu diệt vị trí tề vũ trang Bèo (huyện Duy Tiên). Bọn tề vũ trang ở Thượng Vĩ (huyện Lý Nhân) vốn nổi tiếng gian ác lúc này cũng phải rút chạy. Ở huyện Lý Nhân ta tiến đánh Mạc Thượng, uy hiếp một loạt vị trí Mạc Hạ, Phú Đa, Công Xá. Khu du kích bắc Lý Nhân được nối liền với du kích Duy Tiên.
Sang năm 1952, trên đà thắng lợi, quân và dân ta tiến công bao vây buộc địch ở nhiều vị trí như Thượng Vĩ (huyện Lý Nhân); Tiêu Động, cầu Sắt (huyện Bình Lục) phải đầu hàng. Đêm 14-2-1952, quân ta tiêu diệt vị trí Bối Kênh (huyện Bình Lục), mở rộng khu du kích Bình Lục nối liền với khu du kích Thanh Liêm.
Trong lúc địch hoang mang, quân ta tiếp tục tiến công cùng một lúc diệt các vị trí quan trọng của chúng ở Bàng Ba, Phú Cốc (nam Lý Nhân), sau đó chuyển sang dùng địch vận diệt gọn bốt Bảo Long, một ví trí lớn giáp ranh huyện Bình Lục và Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định). Như vậy khu du kích nam Lý Nhân đã được mở thông với vùng du kích C Bình Lục.
Ở huyện Thanh Liêm, lực lượng vũ trang tiêu diệt địch ở Lác Nội. Tại huyện Kim Bảng ta đánh địch ở Đức Mộ, Chợ Đại; phá vỡ tề vũ trang ở Lác Nhuế, Thịnh Đại, vây chặt địch ở vị trí Cát Nguyên. Các ban huyện uỷ Bình Lục, Lý Nhân, Thanh Liêm, Kim Bảng đã kịp thời lãnh đạo nhân dân nổi dậy phá hầu hết các ban tề, mở thông các vùng du kích.
Tiếp đó, ngày 7-2-1952, tại Lạc Tràng bằng một trận nội công, ngoại kích, các lực lượng vũ trang của ta diệt gọn đội biệt kích Rútscôni nổi tiếng tàn ác, là một trong những đội quân mạnh nhất, được địch tin cậy nhất ở Hà Nam. Tiếp đó, ta lại tấn công tiêu diệt vị trí Vũ Điện, mở rộng thêm khu du kích huyện Lý Nhân.
Như vậy, chỉ trong vòng hơn một tháng, lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh vừa tấn công, vừa nổi dậy, kết hợp với địch vận đã loại khỏi vòng chiến đấu hơn 1.000 tên địch, tiêu diệt, bức hàng, bức rút 45 trong số 50 vị trí tề võ trang; phá 342 trong tổng số 380 ban tề, xây dựng được 10 khu du kích ở hầu hết các huyện trong tỉnh, mở thông với khu du kích các tỉnh Hà Đông, Nam Định, hình thành thế liên hoàn giữa các vùng du kích ở Liên khu III.
Song song với các mũi tấn công quân sự, các cuộc nổi dậy và công tác binh vận cũng được đẩy mạnh. Công tác địch vận đã thực sự trở thành một mũi tiến công lợi hại. Trong số 45 ban tề võ trang đã bị ta tiêu diệt, có 41 ban tề do kết hợp giữa tấn công quân sự với công tác địch vận.
Ngày 23-2-1952, địch rút chạy khỏi tỉnh Hoà Bình, âm mưu giành lại quyền chủ động trên chiến trường Bắc Bộ của thực dân Pháp hoàn toàn thất bại. Ở mặt trận sau lưng địch, từng mảng lớn hệ thống đồn bốt bị phá vỡ. Để củng cố lại vùng chiếm đóng, thực dân Pháp đã điều các binh đoàn chủ lực về càn quét đồng bằng, tìm diệt chủ lực ta, khủng bố nhân dân, vơ vét tài sản, bắt thanh niên bổ sung quân, dựng lại ngụy quyền.
Thực hiện chủ trương chống càn của Liên khu uỷ, Tỉnh ủy Hà Nam đã ra chỉ thị Tích cực chống càn, giữ vững khu du kích. Chỉ thị nêu rõ: “Chống càn là nhiệm vụ của toàn dân, không phải chỉ riêng của bộ đội và dân quân du kích. Phải cương quyết chống càn, có kế hoạch cụ thể cho từng trường hợp”.
Ngày 9-3-1952, địch tập trung hơn 5.000 quân phần lớn là lính Âu Phi có xe tăng, xe lội nước, máy bay, pháo binh yểm trợ, mở cuộc càn mang tên Ămphibi, quây quét toàn bộ huyện Lý Nhân, phía nam huyện Bình Lục và một phần huyện Duy Tiên, nhằm đánh phá khu du kích, tiêu diệt chủ lực ta, củng cố tuyến sông Hồng, giải vây các vị trí, bắt thanh niên sung quân số và củng cố tinh thần binh lính đang bị sa sút nghiêm trọng.
Đây là một trận càn lớn nhất từ trước đến nay trên đất Hà Nam. Dựa vào sức mạnh cơ giới, địch mở nhiều mũi tiến công, chiếm các trục giao thông, tiến sâu vào nội địa, bao vây chà đi xát lại từng khu vực. Quân dân các địa phương đã chống trả rất anh dũng. Sáng ngày 9-3, tàu chiến của địch đổ hơn 1.000 quân lên Hữu Bị, vây khu Hòa - Hậu - Thắng (huyện Lý Nhân). Du kích ba xã này đã chặn đánh địch liên tục, loại khỏi vòng chiến đấu một số tên, kìm bước tiến của chúng trong hai ngày, tạo điều kiện cho nhân dân sơ tán, cất giấu tài sản.
Ở phía Nam của tỉnh, hơn 1.000 tên địch, phần lớn là lính Âu Phi hùng hổ kéo vào Ngọc Lũ (huyện Bình Lục) đã bị bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương chặn đánh, giết và làm bị thương gần 200 tên. Sáng ngày 12-3 một cánh quân của địch do đích thân tướng Bécsu chỉ huy tiến vào thôn Vạn Thọ (xã Nhân Bình, huyện Lý Nhân). Suốt từ sáng đến tối, quân ta đã anh dũng chiến đấu, đánh tan nhiều đợt phản công của địch buộc chúng phải rút chạy. Quân ta thắng lớn, loại khỏi vòng chiến đấu 160 tên địch, thu nhiều vũ khí.
Trong một số trận đánh, nhân dân đã dũng cảm tham gia chiến đấu cùng với bộ đội như đuổi địch, tước vũ khí, bắt tù binh. Nhiều tấm gương anh dũng chiến đấu, hy sinh còn sống mãi trong lòng nhân dân Hà Nam như tấm gương kiên cường, bất khuất của 30 cụ già và 2 thiếu niên thôn Đức Bản (xã Nhân Nghĩa, huyện Lý Nhân) trong cuộc chiến đấu ngày 18-3-1951.
Ngày 23-3-1952, cuộc càn Ămphibi kết thúc. Sau 15 ngày chống càn quyết liệt, quân và dân trong tỉnh đã làm thất bại mọi âm mưu của thực dân Pháp, tiêu diệt 500 tên địch. Các khu du kích không những được giữ vững mà còn mở rộng thêm. Địch không lập lại được ngụy quyền, không gỡ được thế bị bao vây uy hiếp, tinh thần binh lính của chúng càng sa sút nghiêm trọng.
Ngày 28-5-1952, địch lại mở tiếp cuộc càn lớn thứ hai, mang tên Ăngtilốp, vào hai tỉnh Hà Đông và Hà Nam. Ở Hà Nam, địch tập trung càn quét các huyện Duy Tiên, Lý Nhân với lực lượng 3.000 quân, ba tiểu đoàn pháo binh, có xe tăng và tàu chiến phối hợp, nhằm tiếp tục đánh phá khu du kích, tiêu diệt lực lượng ta, gỡ thế bị bao vây cô lập cho một số vị trí đóng quân.
Trong trận chống càn lần này, chỉ có các lực lượng vũ trang địa phương độc lập tác chiến. Suốt sáu ngày đêm, địch đi đến đâu cũng bị quân ta chặn đánh. Tại xã Nguyên Lý (huyện Lý Nhân), 160 tên đa số là lính Âu Phi bị loại khỏi vòng chiến đấu. Ngày 3-6, bộ đội và du kích thôn Đồng Phú (xã Nguyên Lý, huyện Lý Nhân) đã đánh địch liên tục từ 8 giờ sáng đến 1 giờ chiều, diệt 1 đại đội. Khi địch rút chạy, du kích xã Công Lý phục kích ở bến đò Cánh Diễm, diệt thêm 100 tên. Đồng thời, du kích các xã Công Lý, Chính Lý (huyện Lý Nhân); Tiên Nội, Mộc Bắc, Bạch Sam (huyện Duy Tiên), Liêm Trực (huyện Thanh Liêm); Hưng Công, Ngọc Lũ, An Lão (huyện Bình Lục) đã phát huy tinh thần độc lập tác chiến, bẻ gẫy nhiều mũi tiến công của địch.
Bảo vệ tính mạng và tài sản cho nhân dân, bảo vệ thanh niên không cho địch bắt lính, là nét nổi bật trong cuộc chống càn Ăngtilốp. Tại Phú Thứ (huyện Duy Tiên), ta đã đánh địch, giải thoát hơn 100 người dân. Ở khu Bắc Sơn (huyện Duy Tiên) ta phá vòng vây của địch, đưa hơn 400 thanh niên thoát ra ngoài, phá vỡ âm mưu vét lính tăng cường ngụy quân của địch đã bị thất bại.
Qua các cuộc chiến đấu trên, lực lượng vũ trang của tỉnh ngày càng được củng cố, tăng cường về trang bị cũng như quân số. Tỉnh thành lập thêm được một đại đội, mỗi huyện đều thành lập và kiện toàn ba trung đội mạnh. Đội ngũ dân quân du kích cũng được tăng cường về số lượng và vững vàng trong chiến đấu. Năm 1952, Hà Nam tuyển được 1.400 tân binh bổ sung cho bộ đội chủ lực.
Tháng 9-1952, phát huy thắng lợi của chiến dịch Hoà Bình, với phương châm đánh chỗ yếu, tránh chỗ mạnh, tìm nơi sơ hở của địch mà đánh, quân ta mở cuộc tấn công lên Tây Bắc nhằm tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giải phóng một phần đất đai. Đồng thời ta chủ trương để lại một bộ phận chủ lực đi sâu vào sau lưng địch ở đồng bằng, mở rộng các khu du kích và đẩy mạnh chiến tranh du kích.
Để đối phó với chủ trương của ta, địch vội vã điều hai binh đoàn cơ động về Hà Nam. Đồng thời với việc tăng cường phòng thủ, củng cố tuyến sông Đáy, chắn giữ các tuyến giao thông, chúng còn mở những cuộc nhằm tiêu diệt lực lượng của ta. Dựa vào sức mạnh cơ giới, địch liên tục mở các cuộc hành quân càn quét, cướp phá. Các lực lượng vũ trang của ta tập trung sử dụng lối đánh phục kích bằng địa lôi.
Đội đánh mìn Quang Trung do đồng chí Trần Văn Chuông phụ trách đã liên tiếp đánh địch trên đường số 1 từ Đồng Văn đi Phủ Lý, đường 21 từ Phủ Lý đi Bằng Khê và đường số 10 qua huyện Vụ Bản, làm cho địch thiệt hại nặng nề. (Trong 3 tháng đầu năm 1953, đội đã đánh 72 trận, phá huỷ 55 xe, diệt và làm bị thương hàng trăm tên địch. Đội còn dìu dắt nhiều đội du kích ở các xã ven đường giao thông lớn, đánh nhiều trận, lập được nhiều chiến công).
Để cứu nguy cho chiến trường Tây Bắc, địch lại vội vã điều hai binh đoàn cơ động đang đóng ở Hà Nam đi ứng cứu. Nắm được ý đồ của địch, một tiểu đoàn chủ lực của ta được lệnh đã cấp tốc về Hà Nam hoạt động, theo phương châm chặn đánh nhỏ, ăn chắc, có điều kiện thì đánh to, đánh liên tục, vây điểm, diệt viện. Sáng ngày 15-11-1952, Tiểu đoàn 738 chủ lực đã cùng với các lực lượng vũ trang địa phương tổ chức đánh một trận vận động chiến xuất sắc ở Mậu Chử (huyện Thanh Liêm), diệt hơn 200 tên địch, thu nhiều vũ khí. Từ đó tiểu đoàn được vinh dự mang tên Tiểu đoàn Mậu Chử.
Trận Mậu Chử làm cho quân địch đang chiếm đóng ở Hà Nam rất hoang mang. Tranh thủ thời cơ, quân ta đánh liên tiếp các vị trí Bằng Khê, Thạch Tổ (huyện Thanh Liêm), Hoàn Dương (huyện Duy Tiên), Ngô Khê (huyện Bình Lục), Vĩnh Trụ (huyện Lý Nhân) gây cho địch nhiều thiệt hại. Chỉ trong một đêm, bằng cách dùng nội ứng, ta đã diệt gọn hai vị trí Cà và Thanh Khê thuộc hệ thống phòng thủ tuyến sông Đáy của địch. Nổi bật nhất là trận nội công ngoại kích vị trí núi Bô, giáp ranh huyện Thanh Liêm và huyện Ý Yên, bắt sống 35 tên, diệt 4 sĩ quan Âu Phi ngoan cố, thu hàng trăm súng các loại.
Trước sự uy hiếp ngày càng tăng của ta, hơn 1.000 lính ngụy ở thị xã đòi giải ngũ. Lính Âu Phi ở Vũ Điện, Đồng Thủy (huyện Lý Nhân) cũng đòi hồi hương. Trước tình hình đó, tháng 12-1952 địch buộc phải rút một loạt vị trí lớn nằm giữa các khu du kích như Cát Nguyên, Phú Khê, An Bài, Điệp Sơn, Hòa Mạc, Đa Côn...
Để đảm bảo thuận lợi cho việc chỉ đạo kháng chiến của hai tỉnh Nam Định và Hà Nam, tháng 3-1953, Hội đồng Chính phủ đã quyết định cắt ba huyện Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc, nằm ở phía bắc sông Đào thuộc tỉnh Nam Định sáp nhập vào Hà Nam, làm tăng thêm nguồn nhân lực, vật lực cho tỉnh. Trên địa bàn tỉnh, chiến tranh du kích được phát triển lên một bước mới, dồn địch vào thế bị bao vây uy hiếp, buộc địch phải rút thêm ba vị trí quan trọng ở Cầu Không (1-1953), Chi Long (5-1953) và Ngô Khê (5-1953).
Cuối tháng 3-1953, hoà cùng chiến thắng của chiến dịch Thượng Lào, quân ta tiến công phòng tuyến sông Đáy của địch nằm trong khu vực Hà Đông - Bắc Hà Nam. Trong các trận đánh vào phòng tuyến sông Đáy của địch, trận Vân Chu (xã Phù Vân, huyện Kim Bảng) là trận đánh xuất sắc nhất. Vị trí Vân Chu nằm giáp thị xã Phủ Lý, có hoả lực mạnh, có hệ thống boongke kiên cố và 9 hàng rào thép gai bao bọc. Cuối tháng 3-1953, Tiểu đoàn Thanh Lũng (Trung đoàn 4) của ta đã nổ súng tấn công và tiêu diệt hoàn toàn vị trí này. Sau đó, lực lượng vũ trang của ta chặn đánh quyết liệt lực lượng ứng cứu diệt 2 đại đội Âu Phi, bắt sống 126 tên, thu 8 đại liên, 15 trung liên, gần 100 súng trường và nhiều quân trang quân dụng. Chiến thắng Vân Chu đã làm rung chuyển tuyến phòng thủ sông Đáy của địch trên đất Hà Nam.
Phát huy chiến thắng giòn giã trên phòng tuyến sông Đáy, ngày 30-3-1953 bộ đội chủ lực lại cùng với các lực lượng vũ trang địa phương tập kích tiểu đoàn 6e BNV trú quân ở An Nhân, Ngọc Động (xã Hoàng Đạo, huyện Duy Tiên) diệt 135 tên, bắt sống 118 tên, thu nhiều vũ khí, xoá sổ tiểu đoàn 6e BNV của địch trên đất Hà Nam.
Song song với những cuộc hành quân càn quét, cướp phá, địch đã dùng thủ đoạn vô cùng thâm độc là dụ dỗ, dồn làng tập trung để dễ bề kìm kẹp, kiểm soát. Đầu năm 1953, địch thành lập làng Đại Xá Đồng Văn(1) (huyện Duy Tiên), với luận điệu bịp bợm, tuyên truyền cho cuộc sống phồn vinh trong Đại Xá: Tính đến tháng 5-1953 đã có 6.000 người đã bị dồn vào Đại Xá Đồng Văn, đem theo 400 tấn thóc. Chúng còn bắt thành lập ở một số nơi các tổ chức Ngũ gia liên kết (tổ chức năm gia đình kiểm soát lẫn nhau), để ngăn không cho cán bộ đi sâu vào hoạt động trong nhân dân.
Nhận rõ tính chất nguy hại của Đại Xá Đồng Văn, Tỉnh uỷ Hà Nam đã thành lập một đoàn công tác do đồng chí Nguyễn Văn Ngọ, tỉnh uỷ viên phụ trách, để cùng với Huyện uỷ Duy Tiên tổ chức vận động nhân dân trở về quê cũ làm ăn. Đến cuối năm 1953, Đại Xá Đồng Văn hoàn toàn tan rã, âm mưu mang tính chiến lược của địch hoàn toàn bị phá sản.
Trước thất bại ngày càng nặng nề, từ giữa năm 1953, Pháp cử tướng Nava sang làm Tổng chỉ huy quân đội viễn chinh ở Đông Dương. Nava chủ trương tập trung xây dựng một lực lượng cơ động chiến lược thật mạnh, đủ sức tiêu diệt bộ đội chủ lực của ta. Đồng thời, phát triển ngụy quân với quy mô rộng lớn, dùng ngụy quân làm lực lượng chiếm đóng, rút các lực lượng Âu Phi để thành lập các binh đoàn cơ động, dự tính trong vòng 18 tháng sẽ giành thắng lợi quyết định.
Để đối phó với kế hoạch Nava, thực hiện chủ trương của Trung ương, Tỉnh uỷ Hà Nam đề ra hai nhiệm vụ trọng tâm trong Đông - Xuân năm 1953- 1954 là: phối hợp với chiến trường chính, phát triển chiến tranh du kích, đẩy mạnh tấn công tiêu hao, tiêu diệt sinh lực địch; đẩy mạnh việc thực hiện chính sách ruộng đất. Tỉnh ủy còn cho triển khai hai nhiệm vụ lớn trước mắt cho toàn quân, toàn dân trong tỉnh là chống địch bắt đi lính và tập trung lực lượng dân công phục vụ chiến trường.
Bước vào chiến cuộc Đông - Xuân năm 1953 - 1954, toàn tỉnh có 1.167 thôn thì chỉ còn 88 thôn và thị xã Phủ Lý là vùng tạm chiếm, chiến tranh du kích phát triển mạnh mẽ khắp nơi. Các lực lượng vũ trang của ta càng đánh càng mạnh, tiêu diệt nhiều sinh lực địch. Cuối năm 1953, quân ta tập kích binh đoàn số 5 của địch. Bộ đội huyện Duy Tiên đã tiêu diệt 110 tên, du kích các xã Hoàng Đông, Tiên Nội, Trác Văn (huyện Duy Tiên) đã chặn đánh cả một tiểu đoàn Âu Phi, diệt 35 tên, phá huỷ một xe tăng. Ở huyện Thanh Liêm, một binh đoàn địch bị du kích xã Liêm Túc tấn công ba ngày đêm liền, diệt 35 tên; hàng trăm xe địch đã bị bom mìn của du kích lật đổ. Nhiều đoạn đường giao thông quan trọng bị phá hủy nặng như đoạn Phủ Lý - Ngô Khê, đoạn đường 60 thuộc huyện Duy Tiên. Trên sông Hồng, tàu chiến và ca nô của địch cũng bị quân ta tấn công ở các đoạn sông thuộc Yên Lệnh (huyện Duy Tiên), Như Trác (huyện Lý Nhân). Du kích các xã ven sông Hồng đã làm chủ được nhiều đoạn sông, kiểm soát được tàu, thuyền qua lại.
Được chiến thắng của chiến cuộc Đông - Xuân năm 1953 - 1954 cổ vũ, bộ đội chủ lực và các lực lượng vũ trang địa phương Hà Nam liên tục bao vây, tấn công các vị trí trên phòng tuyến sông Đáy của địch. Ngày 6-2-1954, quân ta tiêu diệt vị trí Hoàng Đan, Kinh Thanh (huyện Ý Yên). Ngày 15-2, ta đón đánh binh đoàn số 4 của địch ở Phù Lão (huyện Kim Bảng), giết và làm bị thương 400 tên. Quân địch ở Thanh Khê, Mai Cầu (huyện Thanh Liêm) hoảng sợ rút chạy. Phòng tuyến sông Đáy dài 30km từ Phủ Lý đi Ninh Bình của địch bị phá vỡ.
Trên tuyến đường thủy sông Hồng, ngày 22-2-1954, đơn vị do đồng chí Trần Văn Chuông chỉ huy ở đoạn ven thôn Từ Đài (xã Chuyên Ngoại, huyện Duy Tiên) đã lập được chiến công xuất sắc, bắn cháy 1 tàu chiến và 4 ca nô địch (1).
Trên đà thắng lợi, kết hợp nội công ngoại kích, lực lượng vũ trang và du kích tiêu diệt vị trí Đồng Văn (huyện Duy Tiên); bao vây, bức rút vị trí Quế (huyện Kim Bảng); tiêu diệt vị trí Kiện Khê (huyện Thanh Liêm) bắt sống 216 tên. Thị xã Phủ Lý bị cô lập, địch phải điều hai binh đoàn về giữ đường giao thông Phủ Lý - Nam Định. Đêm 27-2, vị trí chùa Ông (huyện Kim Bảng) do lính Âu Phi chiếm giữ, là vị trí cuối cùng của phòng tuyến sông Đáy trên đất Hà Nam bị quân ta tấn công, tiêu diệt. Ta đã mở thông được con đường vận chuyển người và của cải từ đồng bằng Liên khu III lên Tây Bắc, phục vụ đắc lực cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Công tác địch vận chống bắt lính, phong trào đòi chồng con bỏ ngũ trong tỉnh được đẩy mạnh, góp phần làm cho tinh thần binh lính địch suy sụp nghiêm trọng. Đến năm 1954, đã có 6.437 lính ngụy trở về nhà làm ăn, 27 lính Âu Phi ra hàng. Hệ thống ngụy quyền suy sụp, tên tỉnh trưởng Hà Nam xin đổi đi nơi khác không dám ở lại Phủ Lý.
Sau chiến thắng của quân dân ta ở Điện Biên Phủ (7-5-1954), kế hoạch Nava hoàn toàn bị phá sản. Hệ thống chiếm đóng của địch ở phía nam đồng bằng Bắc Bộ bị uy hiếp nghiêm trọng. Nava vội vã cho rút toàn bộ lực lượng ra khỏi đồng bằng.
Ngày 21-6-1954, nhận được điện của Bộ Tư lệnh Liên khu III, cơ quan quân sự tỉnh đã vạch kế hoạch thu hồi các vùng được giải phóng. Trong một ngày du kích các huyện Ý Yên, Duy Tiên bắn tỉa, làm chết và bị thương hàng chục tên địch, du kích huyện Lý Nhân dựng vật cản làm tắc đường xe chạy trong 10 tiếng đồng hồ. Mìn của du kích huyện Mỹ Lộc đã phá hỏng 7 xe địch. Du kích ở đường 10 bắn cháy một máy bay, lật đổ 8 xe. Các lực lượng vũ trang huyện Ý Yên phá hủy 1 xe tăng, 1 pháo, gọi được 10 lính ra hàng. Du kích huyện Vụ Bản còn bao vây vị trí Gôi, gọi hàng được 42 tên địch.
Đình Lũng Xuyên, xã Yên Bắc (Duy Tiên)
Di tích lịch sử cấp quốc gia. Ảnh: ĐT
Ngày 2-7-1954, khi địch rút khỏi Phủ Lý đã bị các lực lượng vũ trang ba huyện Thanh Liêm, Duy Tiên, Kim Bảng cùng phối hợp chặn đánh. Hơn 1.000 lính ngụy nghe theo lời kêu gọi đã bỏ hàng ngũ địch quay về gia đình, mang nộp nhiều vũ khí cho cách mạng. Vào lúc 21 giờ ngày 3-7-1954, trên đất Hà Nam không còn bóng một tên xâm lược, Hà Nam đã được hoàn toàn giải phóng.
Tiến hành cuộc chiến tranh toàn dân, toàn diện trong gần 7 năm trời, quân và dân Hà Nam đã đánh 10.000 trận lớn nhỏ, diệt hơn 40.000 tên địch. Trong kháng chiến, nhân dân Hà Nam đã tích cực tăng gia sản xuất, xây dựng nền kinh tế tự cấp, tự túc để nuôi quân kháng chiến và đóng góp cho Nhà nước hàng ngàn tấn lương thực để bộ đội ăn no đánh thắng, góp hàng triệu ngày công phục vụ chiến trường, tiễn đưa hàng vạn con em lên đường nhập ngũ.
Ngô Vi Liễn và sách địa dư huyện Bình Lục
Ngô Vi Liễn sinh ngày 5 tháng 11 năm 1894, xuất thân từ một gia đình Nho học, quê ở xã Tả Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay là xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
Tốt nghiệp trung học ở Trường Bưởi (nay là Trường Chu Văn An) Hà Nội, rồi Trường thông ngôn, ông thi vào Trường Cao đẳng, ban Luật học. Ra trường ông làm tham tá ở Sở Thư viện và Lưu trữ Trung ương ở Hà Nội từ năm 1923 đến năm 1928.
Từ năm 1928 đến năm 1939, ông chuyển đi làm Tri huyện các huyện Cẩm Giàng (Hải Dương), Quỳnh Côi (Thái Bình), Bình Lục (Hà Nam), Võ Giàng (Bắc Ninh).
Ông được tiếng là vị quan thanh liêm, cương trực biết lo cho dân, quan tâm đến dân sinh, dân nguyện. Giữa năm 1939, trong một cuộc tranh luận với viên công sứ Bắc Ninh, ông xin từ chức tri huyện và chuyển về làm việc ở Cục lưu trữ phủ Thống sứ Bắc Kỳ. Năm 1941, ông bị xuất huyết não, liệt nửa người, vẫn luyện tập và tiếp tục biên soạn sách, dù phải viết bằng tay trái. Ông mất ngày 14 tháng 5 năm 1945.
Là người được đào tạo bài bản lại ham khảo cứu, Ngô Vi Liễn đã biên soạn 8 công trình, đồng tác giả 3 cuốn sách khác. Đặc biệt khi được bổ nhiệm làm tri huyện, ông rất có ý thức khảo cứu toàn diện địa hạt mình trị nhậm, để lại 3 cuốn sách địa chí huyện, rất có giá trị cho đời sau, mà Địa dư Bình Lục là một trong số đó. Ngô Vi Liễn đã thể hiện một quan niệm biên soạn địa chí theo tinh thần khách quan, khoa học. Địa dư huyện Bình Lục được nhà in Lê Văn Tân in thành sách ở Hà Nội, năm 1935.
Nội dung cuốn sách rất phong phú mà phạm vi một bài viết khó bao quát được hết. Có thể nói đó là một bức tranh toàn cảnh huyện Bình Lục được cô đọng cho đến thời điểm ấy. Mở đầu cuốn địa dư, tác giả Ngô Vi Liễn đã giới thiệu khái quát và chọn lọc những nét tiêu biểu của huyện Bình Lục theo một trình tự nội dung được sắp xếp hợp lý, đó là: Danh hiệu, hình thể, chính trị, kinh tế, phong thổ và danh nhân, danh lam thắng cảnh. Mỗi mục lớn lại gồm các mục nhỏ. Đặc biệt, trong phần phong thổ tác giả giới thiệu Bài ca Bình Lục phong thổ do ông Vũ Đăng Tiên ở xã Đồn Xá sáng tác vào năm 1900 dưới hình thức thơ lục bát. Bài thơ là sự khái quát cao về đặc điểm phong tục của tất cả 67 xã, mỗi xã chỉ gồm 4 câu thơ, kể cả phần mở đầu và kết luận bài thơ dài tới 280 câu.
Một góc phố Ngô Vi Liễn, phường
Lam Hạ (TP. Phủ Lý). Ảnh: Thế Tân
Sau phần giới thiệu chung về huyện Bình Lục, Ngô Vi Liễn lần lượt giới thiệu về địa dư của 67 xã thuộc 8 tổng An Đổ, Bồ Xá, Cổ Viễn, Mai Động, Ngọc Lũ, Ngô Xá, Văn Mỹ, Vụ Bản. Các nội dung về từng xã tùy thuộc xã to, xã nhỏ và tùy đặc điểm về kinh tế, địa lý… mà số mục có thể nhiều ít khác nhau (9 - 14 mục). Chẳng hạn xã được giới thiệu đầy đủ các mục như xã An Đổ, tổng An Đổ gồm 14 mục: Vị trí, diện tích, sông ngòi, dân số, thôn giáp, canh phòng, ngạch thuế, canh nông, thương mại, việc học, đê đường, cầu cống, danh nhân, đình chùa.
Đặc điểm nổi bật, đáng chú ý nhất của cuốn Địa dư huyện Bình Lục là tác giả đã dành nhiều tâm huyết cho phần khảo cứu giới thiệu về di tích, làng nghề và kho vốn văn hóa dân gian về dung lượng cũng chiếm số trang nhiều nhất. Vì vậy, có thể nói thực chất sách này là cuốn Địa chí văn hóa huyện Bình Lục.
Tác giả khảo sát kỹ di tích của từng thôn xã, nêu đầy đủ số lượng di tích ở từng thôn, xóm như đình, chùa, miếu, phủ, giáo đường... nêu rõ vị thần được thờ với duệ hiệu mĩ tự của thần, còn thần tích hay không. Những di tích còn lưu giữ được thần phả, Ngô Vi Liễn đã công bố nguyên văn văn bản này. Đồng thời ông cũng giới thiệu phần tư liệu Hán nôm khác (chủ yếu là câu đối) ở các di tích. Trải qua biến thiên của lịch sử, do nhiều nguyên nhân, nhiều địa phương ở huyện Bình Lục đã bị mất mát thần phả, không rõ gốc tích công trạng các vị thành hoàng làng mình. Nay với Địa dư huyện Bình Lục đã có tư liệu xác thực đáng tin cậy để tôn vinh người có công với dân với nước. Chưa kể những giá trị khác góp phần nghiên cứu địa danh học lịch sử, văn thơ dân gian, truyền thống đấu tranh chống ngoại xâm, mở đất lập làng... qua sưu tập thần phả của Ngô Vi Liễn trong sách này.
Trong Địa dư huyện Bình Lục có những tư liệu quí như chuyện Trạng Lợn ở xã Mạnh Chư (tổng An Đổ), nghề ấp vịt ở xã Đồng Du (tổng Ngô Xá), tục hý cầu ở thôn Cương, xã Ngô Khê (tổng Văn Mỹ). Chuyện Trạng Lợn chúng tôi sẽ giới thiệu vào một dịp khác, trong bài viết này xin dẫn phần khảo tả của Ngô Vi Liễn về nghề ấp vịt và tục hý cầu:
Nghề ấp vịt ở xã Đồng Du
"Mỗi năm hai mùa từ tháng Giêng đến cuối tháng 3 là vịt ăn lúa chiêm, từ tháng 7 đến tháng 8 là vịt ăn lúa mùa. Trong khi ấp vịt, mỗi tháng 6 phiên là ngày 3, 8, 13, 18, 23, 28 làm riêng một cái nhà đan khuôn bằng nứa, đan vợt bằng gai, bắt đầu vào mồng 3, bỏ mỗi vợt độ 50 quả trứng đặt vào khuôn, rang thóc ấm tay rải lên trên một lượt trứng một lượt thóc, một ngày phải một lượt giở. Ba ngày đem ra chiếu lần thứ nhất: quả nào có tia máu, thì sau nở được thành con, không có tia máu thì phải bỏ ra, 7 ngày nữa đem chiếu lần thứ nhì: quả trứng nào có hình con nhện thì bỏ ra. Chiếu lần thứ nhì xong, đem ra xếp thành đống, lấy chăn bông và chiếu đắp lên trên, nhưng cũng mỗi ngày phải một lượt giở lò rộng ra nhà, lúc nào cũng phải giữ ấm cho đều tay, không được để lúc nào nhạt hơi cả. Đến ngày mồng 3 sau thì nở thành con vịt. Một nghìn trứng nở được độ tám trăm con, đem bán buôn, bán ở chợ cầu Không, phủ Lý Nhân và chợ Đồng Bằng ở tỉnh Hà Đông. Trứng ấp mua ở Kim Sơn, tùy thời giá hai ba mươi đồng một nghìn quả trứng, khi bán cũng tùy thời giá bốn năm mươi đồng một nghìn con vịt. Lò này mỗi năm ấp được độ 40.000 quả trứng".
Tục hý cầu ở thôn Cương
“Tục truyền xưa ở làng Cương có hai người đi lính, đóng ở một tỉnh miền thượng du. Được ngày nghỉ Tết, vào ngày mồng 4, mồng 5 tháng Giêng, 2 người lính đến xem hý cầu ở một làng thuộc tỉnh ấy. Hai người cùng vào chơi cầu. Sang ngày mồng 5, một người cậy có sức mạnh, vồ lấy quả cầu thẳng đường chạy về làng Cương đem để vào trong đình. Người lính đem chuyện kể cho huynh thứ trong làng nghe. Tự bấy đến giờ trong làng cứ lấy ngày 4 và ngày mồng 5 tháng Giêng, bày ra cuộc hý cầu.
Trước sân đình đào 2 cái lò ở 2 đầu sân (đặt là lò trên, lò dưới), rồi chia trai làng làm 2 toán đều nhau, mình trần đóng khố, 4 người lò trên, giữ cửa lò dưới, 4 người lò dưới, giữ cửa lò trên. Làng cử một kỳ lão cao tuổi, có phẩm hạnh, lắm con nhiều cháu, ra bê quả cầu tung cho trai làng vồ, nếu trai bên lò nào giằng cầu ném vào lò được thời được thưởng tiền và pháo. Cuộc hý cầu năm nào cũng chỉ lò dưới đa phần thắng, vì hai người lính xưa, lấy được quả cầu là người giáp dưới. Quả cầu to bằng quả bưởi lớn, hai đầu dẹp có lỗ bấm để cầm cho vững tâm, nhưng rất rắn, dù người có sức khỏe cầm quả cầu ném vào tảng đá cũng không sẩy lõm".
Địa dư huyện Bình Lục cho đến nay vẫn là cuốn sách địa chí huyện duy nhất ở Hà Nam được xuất bản thành sách riêng gợi mở cho việc biên soạn sách địa chí huyện, xã.
Ngoài cuốn này, Ngô Vi Liễn còn là đồng tác giả cuốn sách “Địa dư các tỉnh Bắc Kỳ”. Cùng với bản đồ tỉnh Hà Nam được giới thiệu những nét cơ bản, tiêu biểu về vị trí, diện tích, địa thế, sông ngòi, khí hậu, dân cư, tỉnh lỵ và các phủ huyện, canh nông, thương mại, đường giao thông, cổ tích và thắng cảnh. Đây là tư liệu quí cho những nhà nghiên cứu. Ông cũng soạn danh mục làng xã Bắc Kỳ, trong đó có tỉnh Hà Nam, thống kê cụ thể tên các xã trong từng tổng, từng huyện.
Ngô Vi Liễn - quan chức, học giả đã để lại những ấn tượng tốt đẹp trong thời gian ông làm Tri huyện Bình Lục. Vinh danh ông, tỉnh Hà Nam vào tháng 7/2016 đã đặt tên phố Ngô Vi Liễn tại Khu đô thị sinh thái Lam Hạ, thành phố Phủ Lý.
Ngọc Hoa
Chương XIII
HÀ NAM THỜI KỲ XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ KHÁNG CHIẾN
CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
I. HÀ NAM THỜI KỲ CẢI TẠO VÀ BƯỚC ĐẦU XÂY DỰNG CƠ SỞ VẬT CHẤT CỦA CHỦ NGHĨA
XÃ HỘI (1954 - 1965)
1. Khôi phục và bước đầu phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội (1955-1957)
Ngày 3-7-1954, tỉnh Hà Nam được hoàn toàn giải phóng. Hơn 4 năm bị thực dân
Pháp chiếm đóng, tình hình kinh tế - xã hội Hà Nam lâm vào tình trạng khó khăn
và phức tạp. Hà Nam là tỉnh nông nghiệp, sản xuất phụ thuộc phần lớn vào thiên
nhiên. Sau chiến tranh, toàn tỉnh có tới 8.390 mẫu ruộng bị hoang hoá do địch
lập vành đai trắng dọc sông Đáy và ven trục đường giao thông. Những hậu quả
nặng nề của chiến tranh và thiên tai khiến cho nạn đói xảy ra từ những tháng
cuối năm 1954 đến tháng 3-1955. Tháng 9-1954, toàn tỉnh có 8.675 hộ gia đình bị
đói, đến tháng 3-1955, số người bị đói lên tới 170.000 người. Trên lĩnh vực
công nghiệp và thủ công nghiệp, hàng ngàn khung dệt vải, hàng chục lò gốm, lò
đúc gang, lò gạch cùng các nghề làm khuy trai, quản bút, gò, hàn bị đình đốn,
khiến hàng ngàn thợ thủ công rơi vào tình cảnh thất nghiệp, nghèo khổ. Thị xã
Phủ Lý bị tàn phá nặng nề, lúc tiêp quản chỉ còn 80 gia đình. Hàng ngàn người
phải tản cư khi trở về không còn tài sản, nhà ở. Cơ sở vật chất như đường sá,
cầu, cảng, phương tiện giao thông bị phá hoại. Chợ Bầu (chợ lớn nhất thị xã) và
các cửa hàng, cửa hiệu không hoạt động, hàng hoá trở nên khan hiếm, giá cả tăng
vọt. Trên thị trường, tiền Đông Dương và tiền Ngân hàng Việt Nam lưu hành cùng
lúc, tỷ giá hỗn loạn, anh hưởng đến lưu thông, mua bán và đời sống nhân dân.
Với một thị xã và 8 huyện (Kim Bảng, Duy Tiên, Thanh Liêm, Lý Nhân, Bình
Lục, Ý Yên, Vụ Bản, Mỹ Lộc), toàn tỉnh có trên 50 vạn người, trong đó hơn 7 vạn
là giáo dân, sống rải rác hầu hết các huyện, trong đó có nhiều thôn toàn tòng,
dân đạo gốc lâu đời. Hầu hết giáo dân kính chúa, yêu nước nhưng có một bộ phận
lợi dụng chính sách tự do tín ngưỡng, dựa vào giáo lý thần quyền phản lại lợi
ích quốc gia, dân tộc.
Khi rút đi thực dân Pháp để lại một số ngụy quân, ngụy quyền, mà đại bộ
phận là nông dân lao động bị ép buộc, còn lại là con em địa chủ và đảng phái
phản động. Sau khi tiếp quản, tại Hà Nam vẫn còn một số tổ chức đảng phái phản
động lén lút hoạt động như “Việt Nam quốc dân Đảng”, “Việt Nam
phục quốc” ở Châu Sơn, “Đại Việt duy tân” ở Đọi Sơn, “Đại Việt
quốc gia liên minh” ở Yên Nam (huyện Duy Tiên); “Hoàng thân Bảo Đại” ở Văn
Lý, “Hội đoàn Nam Thanh” ở Thượng Vỹ (huyện Lý Nhân); “Minh
thân nghĩa dũng” ở Đồng Du (huyện Bình Lục)... Chúng liên kết với bọn phản động
đội lốt Thiên chúa giáo tiến hành âm mưu dụ dỗ, cưỡng ép giáo dân di cư vào
Nam, xúi giục bọn xấu gây ra hàng loạt vụ trộm cắp, phá hoại sản xuất, gây mất
trật tự an ninh xã hội trên địa bàn tỉnh.
Nhằm thực hiện âm mưu tiếp tục chống phá cách mạng Việt Nam, đế quốc Mỹ và
chính quyền Ngô Đình Diệm tiến hành chiến dịch dụ dỗ, cưỡng ép nhân dân di cư
vào Nam. Ở Bàng Ba (huyện Lý Nhân), Đồng Văn (huyện Duy Tiên) chúng cưỡng ép
giáo dân tập trung vào nhà thờ hoặc tổ chức đi ào ạt trên 4.000 người như xứ
Bút Đông (huyện Duy Tiên). Lợi dụng nạn đói và lúc ta thực hiện chính sách giảm
tô, cải cách ruộng đất, bọn phản động tăng cường dùng thần quyền đe dọa, cưỡng
ép đồng bào di cư vào Nam. Tính đến tháng 5-1955, toàn tỉnh đã có tới 15.279
giáo dân và 3 linh mục bị cưỡng ép vào Nam.
Trong khi đó, sau ngày giải phóng, các tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể
từ tỉnh đến cơ sở lại chưa được kiện toàn, củng cố. Đội ngũ cán bộ thiếu và
yếu, chưa thể đáp ứng kịp thời yêu cầu mới của cách mạng. Tinh hình đó đặt ra
cho đảng bộ và chính quyền Hà Nam vừa phải giải quyết những vấn đề bức xúc, bộn
bề sau giải phóng, vừa tăng cường củng cố, xây dựng hệ thống chính trị vững
mạnh, đáp ứng yêu cầu của giai đoạn cách mạng mới.
Trong tháng 7-1954, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ họp và quyết định một số nhiệm vụ
trước mắt nhằm ổn định tinh thần nhân dân, trấn áp bọn phản động; thực hiện
chính sách cải huấn đối với tề dõng, ngụy quân, ngụy quyền; phục hồi sản xuất
và thi hành chính sách ruộng đất vùng mới giải phóng; đẩy mạnh xây dựng cơ sở
Đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng và lực lượng vũ trang.
Việc phục hồi và phát triển ngành nghề thủ công cũng được chú trọng. Tính
đến tháng 9-1954, toàn tỉnh đã phục hồi được 13 ngành nghề gốm các ngành sản
xuất nông cụ, vật liệu xây dựng, gốm, đồ sừng, dệt vải, làm ghế mây, thuộc da,
đường mật, đăng ten và khuy trai; giải quyết việc làm cho 4.355 người.
Nhiệm vụ khôi phục giao thông, vận tải được tiến hành khẩn trương. Trong 3
tháng 7, 8, 9 năm 1954, nhân dân Hà Nam đóng góp 29.169 ngày công đào đắp
165.000 m3 đất, sửa chữa phục hồi toàn bộ hệ thống đường bộ, cầu phà các
tuyến giao thông liên tỉnh, liên huyện như đường 60, 21, 22 và quốc lộ số 1.
Cùng với việc khôi phục 263km trên các tuyến đường bộ, 34km đường sắt và một số
nhà ga xe lửa trên địa bàn tỉnh cũng được phục hồi. Tháng 10-1955, hoàn thành
việc sửa chữa cầu Phủ Lý - chiếc cầu lớn nhất trong tỉnh.
Ngày 5-7-1954, Hà Nam tiến hành thu đổi tiền Đông Dương. Đến ngày 13-7,
toàn tỉnh đã thu đổi được 300 triệu đồng tiền Ngân hàng. Riêng thị xã Phủ Lý,
trong 2 ngày thu đổi được 100 nghìn đồng.
Công tác chống âm mưu địch dụ dỗ cưỡng ép đồng bào di cư là nhiệm vụ quan
trọng của đảng bộ và chính quyền Hà Nam trong thời kỳ này. Bên cạnh việc tổ
chức tuyên truyền giáo dục, học tập trong cán bộ, đảng viên và nhân dân, tỉnh
đã tổ chức Hội nghị Linh mục, có hơn 20 vị tham dự. Thực hiện chỉ đạo của tỉnh
uỷ, tháng 3-1955, tỉnh thành lập 2 đội công tác gồm 26 cán bộ cử về 2 xã Kim
Thái (Vụ Bản) và Mỹ Hà (Mỹ Lộc) để vận động nhân dân chống phá âm mưu địch dụ
dỗ cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam. Ngoài hai xã điểm Kim Thái và Mỹ Hà, thời
gian này tỉnh còn tổ chức 8 đội công tác chuyên trách gồm hàng trăm cán bộ các
xã trọng điểm khác. Tỉnh đội Hà Nam điều động 4 đại đội bộ đội huyện và tiểu
đoàn 73 bộ đội tỉnh đi làm nhiệm vụ vận động nhân dân chống phá âm mưu địch.
Bằng những biện pháp kiên quyết kịp thời, cuộc đấu tranh chống địch dụ dỗ
cưỡng ép đồng bào di cư vào Nam, từ tháng 8 đến tháng 12-1954, toàn tỉnh đã vận
động được 500 gia đình gồm 6.000 người trở về quê cũ. Tính đến tháng 7-1955, ta
đã tuyên truyền vận động hàng ngàn người tự nguyện rút đơn, trả lại giấy thông
hành trở lại quê hương, yên tâm xây dựng cuộc sống mới.
Sang năm 1955, thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung
ương Đảng (Khoá II) và Nghị quyết kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá I, ngày 7- 6-1955,
Tỉnh uỷ Hà Nam ra Nghị quyết về nhiệm vụ công tác năm 1955 là Tăng cường
lãnh dạo nông thôn, chủ yếu là hoàn thành phát động quần chúng giảm tô và tiến
hành cải cách ruộng đất, đồng thời vẫn không coi nhẹ công tác thị xã.
Ngày 4-2-1955, đội giảm tô đã về 6 huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm,
Bình Lục, Lý Nhân và Ý Yên để thực hiện nhiệm vụ phát động nông dân thực hiện
chính sách triệt để giảm tô, giảm tức của Đảng và Chính phủ. Cuối tháng 7-1955,
Đoàn uỷ cải cách ruộng đất Trung ương đã cử 98 đội cải cách ruộng đất về 98 xã
thuộc các huyện Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục và Lý Nhân tiến hành
tuyên truyền chủ trương đường lối, chính sách của Đảng và Chính phủ, thực hiện
cải cách ruộng đất. Sau đợt này, đội cải cách ruộng đất tiếp tục về các xã còn
lại trong tỉnh, phát động quần chúng đấu tranh đánh đổ giai cấp địa chủ, đem
lại ruộng đất cho nông dân.
Đến tháng 1-1956 cải cách ruộng đất ở Hà Nam căn bản hoàn thành. Kết quả,
quy 4.563 địa chủ ([1]); tịch thu, trưng thu, trưng
mua 29.786 mẫu ruộng, 2.472 con trâu, bò, 31.015 nông cụ, 6.326 gian nhà ở,
1.223 tấn thóc, gạo, 68 tấn ngô, khoai, 651 chỉ vàng và gần 14 triệu đồng chia
cho nông dân (2).
Tuy nhiên, cũng như nhiều địa phương khác, cải cách ruộng đất ở Hà Nam đã
phạm phải một số sai lầm nghiêm trọng. Các tổ chức Đảng, chính quyền và các
đoàn thể quần chúng từ tỉnh đến cơ sở hầu hết bị cô lập, nhiều hoạt động của
các đội cải cách ruộng đất trở nên quá tả, dẫn đến nghi kỵ, ngờ vực nội bộ.
Việc tổ chức đấu tố tràn lan đã đánh cả vào tổ chức Đảng và cán bộ đảng viên,
gây nhiều tổn thất cho Đảng bộ. Việc quy định thành phần tuy có điều tra nghiên
cứu nhưng do làm ẩu, dẫn đến quy oan, xử lý sai một số người, gây ra tình trạng
căng thẳng, oán thù không đáng có ở nông thôn. Vì vậy, kết quả của cải cách
ruộng đất bị hạn chế; vai trò, vị trí lãnh đạo và uy tín của Đảng bộ bị giảm
sút.
Khi phát hiện sai lầm đã phạm phải trong cải cách ruộng đất, từ tháng
4-1956 Đảng ta chủ trương kiên quyết sửa chữa. Dưới sự chỉ đạo của Trung ương
Đảng, ngày 10-11-1956, Hội nghị Tỉnh uỷ Hà Nam đề ra nhiệm vụ và 10 biện pháp
cụ thể để sửa sai.
Với phương châm sai đâu sửa đấy, có sai có sửa, đến tháng
10-1957, công tác sửa sai được hoàn thành trên phạm vi toàn tỉnh. Qua 3 bước
sửa sai, tỉnh đã trả tự do cho 1.407 trong số 1.838 người bị bắt trong giảm tô,
cải cách ruộng đất và chỉnh đốn tổ chức. Những người bị quy oan, xử lý sai được
hạ thành phần và trả lại tài sản. Đoàn kết nội bộ Đảng và trong nhân dân, giữa
cán bộ cũ và mới được củng cố, tăng cường.
Để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn cách mạng
mới, tháng 4-1956, các huyện Vụ Bản, Ý Yên, Mỹ Lộc, sau ba năm sáp nhập với Hà
Nam đã được quyết định nhập trở lại tỉnh Nam Định. Từ đấy, tỉnh Hà Nam còn lại
5 huyện là Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh Liêm và thị xã Phủ Lý.
Đi đôi với việc tiến hành cải cách ruộng đất, thực hiện Nghị quyết Hội nghị
lần thứ 8 của Ban Chấp hành TƯ Đảng về kế hoạch khôi phục kinh tế, ngày
1-4-1955, Tỉnh ủy Hà Nam ra chỉ thị, nêu rõ “Lấy tổ đổi công làm trung tâm vận
động sản xuất, làm cơ sở thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, phát triển văn
hoá”. Thực hiện chỉ thị của Tỉnh uỷ, đến hết tháng 6-1956, trong số 5.062 tổ
đổi công ở 94 xã có 926 tổ được củng cố và hoạt động tốt. Hai huyện Duy Tiên và
Thanh Liêm có phong trào tổ đổi công khá của tỉnh. Cuối tháng 12-1956 toàn tỉnh
đã củng cố và xây dựng được 2.700 tổ đổi công, góp phần giải quyết tốt những
vấn đề trong sản xuất, làm thuỷ lợi, chống hạn, úng lụt.
Bước vào thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp hai năm (1956-1957), thời
tiết thất thường gây ra hạn hán nặng nề. Chỉ riêng năm 1957, toàn tỉnh có
34.000 mẫu ruộng bị khô hạn và 8.949 mẫu ruộng bị úng ngập. Trước những khó
khăn do thiên tai, các cấp ủy Đảng và chính quyền trong tỉnh đã chú trọng chỉ
đạo làm công tác thuỷ lợi. Từ ngày 9-1 đến 16-4-1956, hàng triệu công lao động
được huy động đào 21 con ngòi dài 11.076 mét, đắp mới 21 con mương với tổng
chiều dài 12.721 mét; sửa, nạo vét 9 con mương khác dài 5.750 mét. Nhờ làm tốt
công tác thuỷ lợi, diện hạn úng từng bước được thu hẹp. Năm 1957, vụ chính toàn
tỉnh cấy được 20.284 ha, tăng 3.784 ha so với năm 1956 đưa diện tích cây trồng
trên từ 1 vụ lên 2 vụ và thêm 1 vụ mầu trong 1 năm. Diện tích cây công nghiệp
cũng tăng, trong đó mía trồng được 838 ha (102%), lạc 301 ha (119%) và thầu dầu
840 ha (115% kế hoạch). Các biện pháp kỹ thuật như chọn giống lúa, làm phân,
dùng cào cỏ, cày, bừa cải tiến được thực hiện, đưa năng suất vụ chiêm năm 1957
lên 1.843 kg/ha (vượt 143 kg), vụ mùa đạt 2.035 kg/ha (vượt 35 kg so với kế
hoạch). Sản lượng lúa tăng 23% so với năm 1956, 37% so với năm 1954 và 46% (gần
gấp đôi) so với năm 1939(1).
Trên mặt trận giáo dục, năm học 1955-1956, toàn tỉnh đã có 156 trường cấp I
gồm 997 lớp với 34.139 học sinh và 1.279 lớp vỡ lòng, gồm 27.081 học sinh; 15
trường cấp II và 1 trường cấp III gồm 61 lớp với 2.858 học sinh. Việc dạy và
học ở các trường dần dần đi vào nền nếp, chất lượng từng bước được nâng lên.
Phong trào bình dân học vụ và bổ túc văn hoá được chú trọng. Năm 1957, cả tỉnh
vận động được 12.000 người đi học, 2.500 người thoát nạn mù chữ(2).
Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, nhân dân Hà Nam đóng góp công sức
xây dựng nghĩa trang liệt sĩ, giúp đỡ anh chị em thương binh ổn định cuộc sống,
xây dựng trại thương binh của tỉnh. Vào dịp Ngày Thương binh, liệt sĩ (27-7-1957) trại thương binh Hà Nam rất phấn khởi và vinh dự được Chủ tịch Hồ
Chí Minh gửi thư thăm hỏi động viên. Trong thư, Người căn dặn và chúc cho Trại
thương binh Hà Nam sẽ là một trại gương mẫu.
Trong 3 năm (1955-1957), cùng với nhân dân cả nước, nhân dân Hà Nam đã khôi
phục được kinh tế địa phương, từng bước ổn định cuộc sống của nhân dân những
năm chiến tranh ác liệt.
Thanh niên xung phong N21 vận chuyển hàng hóa
trên đường Trường
Sơn. Ảnh: thanhnienxungphong.vn
2. Cải
tạo xã hội chủ nghĩa, từng bước phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội (1958 -
1960)
Qua hai năm tiến hành khôi phục kinh tế, đời sống kinh tế, chính trị, xã
hội ở miền Bắc đã có nhiều thay đổi. Nhưng vào thời kỳ này, các ngành kinh
tế ở miền Bắc còn có nhiều thành phần cá thể của nông dân, thợ thủ công và tiểu
thương, tiểu chủ. Hình thức bóc lột tư bản chủ nghĩa đối với công nhân trong
một số xí nghiệp tư nhân vẫn chưa được xóa bỏ.
Từ thực tế và yêu cầu của cách mạng, Hội nghị lần thứ 14 - Ban Chấp hành
Trung ương Đảng (11-1958) đã xác định: “Nhiệm vụ cơ bản của chúng ta ở miền Bắc
là đẩy mạnh cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa, trọng tâm trước mắt là đẩy nhanh
cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế cá thể của nhân dân,
thợ thủ công và cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với thành phần kinh tế tư bản
tư doanh; đồng thời phải ra sức phát triển kinh tế quốc doanh là lực lượng lãnh
đạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân”.
Trong lúc nhân dân Hà Nam đang sôi nổi bước vào thời kỳ cải tạo, phát triển
kinh tế, thì ngày 14-1-1958, tại Hội nghị bàn về công tác chống hạn của tỉnh
với gần 4.000 cán bộ tham dự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm và nói chuyện với
hội nghị. Trong lời phát biểu, Người đã khen cán bộ và nhân dân Hà Nam trong
kháng chiến vừa sản xuất vừa chiến đấu anh dũng, lại có nhiều thành tích chống
hạn. Nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao cờ Chống hạn khá
nhất cho huyện Bình Lục và 9 Huy hiệu của Người để làm phần thưởng cho
những cá nhân có thành tích xuất sắc nhất. Tiếp đó, Người đến thăm cán bộ và
nhân dân xã An Hoà (nay là xã An Mỹ, huyện Bình Lục) đang lao động đắp đập Cát
Tường để lấy nước cứu hàng ngàn mẫu lúa chiêm đang bị khô hạn.
Thực hiện lời dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, phong trào thi đua làm thuỷ lợi
chống hạn, úng lụt được đẩy mạnh. Toàn tỉnh đã góp 434.721 ngày công lao động,
đào 486 con ngòi và đắp 57 con đường với tổng chiều dài 414.982 mét, hoàn thành
những công trình lớn như: đập Cát Tường, mương Mạc Thượng, kênh Ben để lấy
nước. Nhờ vậy, diện tích cấy chiêm năm 1958 của tỉnh đạt 97,35% kế hoạch(1).
Quán triệt Nghị quyết 14 và Chi thị 57 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về
nhiệm vụ xây dựng tổ đổi công, năm 1958, tỉnh Hà Nam đề ra chủ trương củng cố
đi đôi với phát triển tổ đổi công, đồng thời xây dựng thí điểm hợp tác xã nông
nghiệp và mở rộng phong trào hợp tác hoá trong toàn tỉnh. Tính đến cuối năm
1958, Hà Nam xây dựng được 7.700 tổ đổi công, thu hút 76% số hộ nông dân tham
gia; trong đó có 1.511 tổ thực hiện bình công chấm điểm, về việc xây dựng hợp
tác xã, đến cuối năm 1958, Hà Nam đã xây dựng được 105 hợp tác xã nông nghiệp
gồm 3.911 hộ xã viên (đạt 3,81% số hộ nông dân), bình quân 37 hộ/hợp tác xã.
Ngày 6-10-1958, tỉnh tổ chức Hội nghị tổng kết vụ chiêm 1958 và phát động
sản xuất Đông - Xuân năm 1958 - 1959, với sự tham gia của 820 đại biểu, trong
đó có 699 đại biểu các xã. Đồng chí Phạm Hùng, Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ
tướng Chính phủ về thăm và dự hội nghị. Hội nghị khẳng định tuy bị hạn hán, sâu
bệnh nghiêm trọng nhưng Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh đã có nhiều biện pháp để
hạn chế thiệt hại tới mức thấp nhất, bảo đảm diện tích cấy đạt 97,75 và năng suất
đạt 84,15 kế hoạch.
Do có nhiều thành tích trong phong trào thi đua xây dựng tổ đổi công, hợp
tác xã và đẩy mạnh sản xuất vụ mùa 1958, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam được Nhà
nước tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhì.
Trên lĩnh vực cải tạo thương nghiệp, tính đến cuối năm 1957, tư thương ở Hà
Nam còn 7.158 người, đại bộ phận là buôn bán nhỏ, số đông đều có ruộng đất ở
nông thôn. Năm 1958, toàn tỉnh đã vận động 601 tư thương chuyển sang sản xuất;
1.591 người vào các tổ chức mua chung bán riêng; 331 người làm đại lý cho mậu
dịch quốc doanh và hợp tác xã mua bán. Năm 1958, hợp tác xã mua bán được củng
cố và phát triển rất nhanh, đầu năm mới có 26 cửa hàng (7 hỗn hợp và 19 chuyên
doanh), đến cuối năm đã có 63 cửa hàng (27 hỗn hợp, 36 chuyên doanh) và 20 tổ lưu
động. Hoạt động của thương nghiệp quốc doanh và tập thể đã chiếm 51,1% lượng
hàng hoá trên thị trường, đạt 93,57% kế hoạch, hàng hoá bán lẻ tăng 102,8%, bán
buôn tăng 18,58% và tổng doanh thu tăng 44,66% so với năm 1957.
Từ ngày 23 đến 27-1-1959, đảng bộ tỉnh Hà Nam tiến hành Đại hội toàn thể
lần thứ III. Đại hội bầu ban Chấp hành đảng bộ tỉnh gồm 25 đồng chí, trong đó
có 19 uỷ viên chính thức. Đồng chí Lê Quang Tuấn được bầu làm Bí thư Tỉnh uỷ.
Đây là Đại hội đầu tiên kể từ sau giải phóng, có ý nghĩa quan trọng trong việc
đề ra phương hướng, nhiệm vụ chính trị của đảng bộ trong giai đoạn mới của cách
mạng. Đại hội đã đề ra phương hướng cho tỉnh trong những năm tới là: Tiến hành
cải tạo, phát triển kinh tế trên cả 3 mặt: Nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương
nghiệp. Trên 3 mặt đó, lấy cải tạo và phát triển nông nghiệp là trọng tâm; giữa
cải tạo và phát triển, lấy cải tạo nông nghiệp là chính để đẩy mạnh phong trào
đổi công, hợp tác.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ III, phát huy thắng lợi
của phong trào hợp tác hoá nông nghiệp đến cuối năm 1960, Hà Nam căn bản hoàn
thành hợp tác hoá nông nghiệp với 1.145 hợp tác xã vừa và nhỏ, gồm 89.717 hộ xã
viên, đạt 90% tổng số hộ nông dân, bình quân 78 hộ/hợp tác xã. Trong tổng số
trên 1.000 hợp tác xã có 75,81% hợp tác xã quy mô thôn. Xã Mộc Bắc (huyện
Duy Tiên) là hợp tác xã quy mô xã đầu tiên của tỉnh với 1.187 hộ xã viên.
Bên cạnh việc tập trung cao độ cho phong trào hợp tác hóa, việc củng cố và
phát triển tổ đổi công vẫn được chú trọng. Đến cuối năm 1960, toàn tỉnh có
1.706 tổ đổi công ở 85/133 xã gồm 2.700 hộ, trong đó có 1.469 tổ vụ việc và 237
tổ thường xuyên. Các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Bình Lục có 1.275 tổ vụ việc
gồm 18.174 hộ và 184 tổ thường xuyên, thu hút 2.320 hộ. Tuy nhiên, trong thời
kỳ này hoạt động của tổ đổi công còn yếu (1).
Công tác cải tạo các thành phần kinh tế cá thể ở Hà Nam đến năm 1960 đã căn
bản hoàn thành. Quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xác lập dưới 2 hình thức
sở hữu Nhà nước và tập thể thay thế sở hữu tư nhân, xoá bỏ chế độ người bóc lột
người. Khối đoàn kết liên minh công nông được củng cố và tăng cường. Phong
trào "3 ngọn cờ hồng”i(2) ở nông thôn được hoàn thiện, làm cho
các hoạt động kinh tế trở nên phong phú đa dạng, sản xuất tiếp tục phát triển,
bộ mặt nông thôn và đời sống nhân dân từng bước được cải thiện.
Trong những năm 1958 - 1960, Hà Nam vừa cải tạo, vừa tổ chức sản xuất,
trong điều kiện nông nghiệp liên tiếp gặp khó khăn. Tuy vậy, sản xuất nông
nghiệp vẫn đạt kết quả khả quan. So với 3 năm 1955 - 1957, diện tích các loại
cây trồng đạt 247.052 ha, tăng 4,5%; giá trị tổng sản lượng nông nghiệp tăng
38,8%; bình quân lương thực năm 1959 đạt 324,81kg/người.
Về công nghiệp, năm 1959 tỉnh đã hoàn thành việc xây dựng nhà máy đường Vĩnh
Trụ, với công xuất 25 tấn mía/ngày. Trong 3 năm 1958 - 1960, Hà Nam đã xây dựng
được 13 xí nghiệp công nghiệp quốc doanh, giải quyết công ăn việc làm cho 1.377
công nhân, tăng 43,78% so với năm 1957, riêng công nhân công nghiệp có 762
người tăng hơn 42 lần; tổng sản lượng công nghiệp tăng 14,8% so với năm 1957.
Sự nghiệp văn hoá, giáo dục, y tế được đẩy mạnh. Đảng bộ và Chính quyền
tỉnh đã chỉ đạo các cấp, các ngành liên tiếp mở những đợt thi đua diệt dốt. Nhờ
vậy, đến ngày 5-11-1958, Hà Nam hoàn thành thanh toán nạn mù chữ cho toàn dân,
vượt thời hạn 55 ngày. Với thành tích trên, Hà Nam được Nhà nước tặng thưởng
Huân chương Lao động hạng Nhì. Trong 3 năm 1958 - 1960, hệ thống giáo dục phổ
thông Hà Nam phát triển nhanh, mạnh đáp ứng được yêu cầu của con em trong tỉnh.
Đến năm 1960, cả tỉnh có 172 trường, trong đó có 38 trường phổ thông cấp II và
1 trường phổ thông cấp III.
Mạng lưới y tế được củng cố và mở rộng. Bệnh viện tỉnh được hoàn thành gồm
200 giường bệnh. Trong 3 năm (1958 - 1960), toàn tỉnh xây dựng được 118 trạm y
tế dân lập, 3.434 tủ thuốc của hợp tác xã; xây dựng 10 cơ sở quỹ y tế dân lập.
Trải qua hơn 6 năm từ tháng 7-1954 đến tháng 1-1960, vừa khắc phục hậu quả
chiến tranh, nhanh chóng ổn định tình hình và phục hồi kinh tế, vừa thực hiện
một loạt nhiệm vụ như cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa, nhân dân Hà
Nam đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách và thu được những thành quả rất quan
trọng. Sau 3 năm khôi phục 1955 - 1957, tình hình sản xuất nông nghiệp, thủ
công nghiệp đã phục hồi nhanh chóng; văn hóa, giáo dục, y tế bước đầu phát
triển; đời sống kinh tế - văn hóa của nhân dân từng bước được cải thiện. Từ năm
1958 đến 1960, công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các thành phần kinh
tế, trong đó chủ yếu là hợp tác hoá nông nghiệp, đã thu được kết quả tốt đẹp,
liên minh công nông được củng cố vững chắc. Thắng lợi của 3 năm cải tạo xã hội
chủ nghĩa đã làm chuyển biến căn bản nền kinh tế của tỉnh, đời sống của nhân
dân được cải thiện, quốc phòng an ninh được củng cố và tăng cường, trật tự trị
an xã hội được giữ vững.
3. Thực
hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 - 1965)
Tháng 9-1960, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ III đã diễn ra tại Hà Nội. Đại
hội đề ra đường lối cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới với hai nhiệm vụ:
xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống
nhất Tổ quốc. Đại hội thông qua kế hoạch 5 năm lần thứ nhất về phát triển kinh
tế - văn hóa theo con đường của chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ III, miền Bắc nước ta chuyển sang
thời kỳ lấy nhiệm vụ xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội làm
trọng tâm, đồng thời tiếp tục cải tạo xã hội chủ nghĩa, củng cố và hoàn thiện
quan hệ sản xuất. Quá trình thực hiện cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc là
quá trình đồng thời tiến hành 3 cuộc cách mạng: cách mạng quan hệ sản xuất,
cách mạng khoa học kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng
khoa học kỹ thuật là then chốt.
Cụ thể hóa đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ III đề ra, từ ngày 20-2-1961, Đại hội đại biểu đảng bộ tỉnh Hà Nam lần
thứ IV vòng II được tổ chức. Tham dự Đại hội có 199 đại biểu chính thức và 28
đại biểu dự khuyết. Các đại biểu đã nghiên cứu Nghị quyết Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ III, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 về kế hoạch Nhà nước, kiểm
điểm tình hình mọi mặt trong hai năm 1959 - 1960 và đề ra phương hướng nhiệm vụ
năm 1961 - năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất.
Đại hội đã bầu Ban Chấp hành mới của Đảng bộ tỉnh gồm 25 uỷ viên chính thức
và 4 ủy viên dự khuyết. Đồng chí Trần Đoàn được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy.
Để tăng cường tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước và chỉ
đạo các hoạt động trong tỉnh, năm 1961 Tỉnh uỷ Hà Nam xuất bản các tờ báo như tờ Tin
Hà Nam, Thông tin nội bộ, Tin giáo dục Hà Nam, Tập san văn hóa... Tháng
7-1962, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quyết định xuất bản Báo Hà Biên, cơ
quan ngôn luận của Đảng bộ tỉnh Hà Nam.
Về sản xuất nông nghiệp, trong năm 1961, tỉnh đã mở chiến dịch “Đông
xuân Hà Nam - Biên Hoà quyết tiến quyết thắng”, chiến dịch “Mùa Đại
Phong”. Trong sản xuất nông nghiệp, Đoàn thanh niên và Hội phụ nữ giữ vai
trò xung kích. Hội liên hiệp Phụ nữ Hà Nam đã tổ chức cho chị em học tập, thảo
luận nội dung và đăng ký thi đua “5 tốt” (1). Đoàn thanh niên tỉnh đã phát động
phong trào “Những người xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần
thứ nhất”. Những tháng cuối năm 1961, toàn tỉnh dấy lên phong trào thi đua
trở thành “Trai gái Đại Phong", “Xã viên Đại Phong” và “Đội
sản xuất Đại Phong”. Các đợt thi đua tiếp theo liên tục được phát động như
tháng 10 thi đua “6 tốt”, tháng 11 thi đua "Sản xuất đông xuân
Đại Phong vượt mức kế hoạch”, tháng 12 thi đua “Đông xuân Hà Biên anh
dũng”. Trong chiến dịch “Đông xuân Hà Biên anh dũng” đã có hàng
trăm người đạt danh hiệu kiện tướng, cá nhân xuất sắc, danh
hiệu "Trai gái Đại Phong”.
Tính đến cuối năm 1961, toàn tỉnh xây dựng được 837 hợp tác xã với 95.011
hộ nông dân (chiếm 94,53% số hộ nông dân trong tỉnh). Có 145 hợp tác xã chuyển
lên bậc cao với 22.458 hộ, chiếm 22,34% tổng số hộ xã viên (năm 1960 có 89,22%
số nông hộ vào hợp tác xã trong đó có 5,6% số hộ trong hợp tác xã bậc cao).
Việc mở rộng quy mô hợp tác xã theo đơn vị thôn đã cơ bản hoàn thành. Đến năm
1961, toàn tỉnh có 527/666 thôn xây dựng hợp tác xã toàn thôn, chiếm 84%. Toàn
tỉnh đã xây dựng 53 hợp tác xã liên thôn với quy mô 2-3 thôn và 3 hợp tác xã
toàn xã. Tỉnh đã được Nhà nước tặng hai Huân chương Lao động hạng Ba về thành
tích sản xuất và thuỷ lợi.
Tại Đại hội liên hoan anh hùng chiến sỹ thi đua toàn quốc lần thứ III
(tháng 5-1962), các hợp tác xã Minh Tiến, hợp tác xã Đình Ngọ (huyện Duy Tiên)
và hợp tác xã Thôn Bùi (huyện Bình Lục) được tuyên dương và tặng cờ đơn vị tiên
tiến.
Đến cuối năm 1962, nhờ phát động liên tục các phong trào thi đua sản xuất
và củng cố hợp tác xã, phong trào hợp tác hoá nông nghiệp của Hà Nam đã có một
bước tiến mới. Toàn tỉnh đã có 95,75% số hộ nông dân tham gia vào 750 hợp tác
xã nông nghiệp. Tỷ lệ các hợp tác xã bậc cao tăng lên 33,1%. Quy mô hợp tác xã
đã được mở rộng, bình quân mỗi hợp tác xã có 128 hộ.
Trong phong trào thi đua với Đại Phong, xuất hiện nhiều hợp tác xã tiên
tiến. Hợp tác xã thôn Bùi được công nhận là một trong 250 “Hợp tác xã Đại
Phong” của toàn miền Bắc.
Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về phân bố hợp lý lao động và phát
triển kinh tế - xã hội miền núi, trong hai năm 1961-1962, Hà Nam chú ý lãnh đạo
công tác đưa người đi khai hoang trong và ngoài tỉnh.
Tháng 4-1961, Tỉnh uỷ thành lập Ban lãnh đạo khai hoang và nêu rõ phương
châm công tác khai hoang là “lấy ngắn nuôi dài”, “lấy rừng nuôi rẫy”, “kết hợp
chặt chẽ giữa trồng trọt và chăn nuôi”. Hướng khai hoang ngoài tỉnh là các tỉnh
Phú Thọ, Bắc Giang, trong tỉnh là các huyện Kim Bảng, Thanh Liêm.
Qua 2 năm triển khai công tác khai hoang, xây dựng vùng kinh tế mới, đến
tháng 11 năm 1962, Hà Nam đã khai hoang nội tỉnh được 1.411 ha, thu được 1.663
tấn lương thực quy ra thóc. Tỉnh cũng đã đưa 1.040 lao động đi xây dựng các cơ
sở độc lập và xen kẽ ở các huyện Thanh Sơn, Hạ Hoà, Thanh Thuỷ (tỉnh Phú Thọ),
Đa Phúc (tỉnh Vĩnh Phúc), Đại Từ (tỉnh Thái Nguyên) và tỉnh Lào Cai. Tính từ
năm 1961 đến hết năm 1964, toàn tỉnh có 12.984 nhân khẩu tham gia cuộc vận động
phát triển kinh tế, văn hoá miền núi ở 36 xã thuộc 4 tỉnh Phú Thọ, Lào Cai,
Thái Nguyên và Hà Bắc, đạt 76% kế hoạch 5 năm, 15.556 người đi các công, nông,
lâm trường, đạt 518% kế hoạch.
Tính đến cuối năm 1962, giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công
nghiệp Hà Nam đạt 13.810.646 đồng, bằng 100,21% kế hoạch. Riêng công nghiệp
quốc doanh có 39 cơ sở sản xuất với 2.000 công nhân (năm 1960 có 20 cơ sở và
1.041 công nhân). Ngành công nghiệp quốc doanh Hà Nam đã hoàn thành vượt mức kế
hoạch 20,9%.
Cùng với những tiến bộ về kinh tế, sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế cũng
đạt được những thành tựu đáng khích lệ, đáp ứng yêu cầu nâng cao đời sống tinh
thần, văn hoá của nhân dân.
Bắt đầu từ năm học 1960 - 1961, được Cấp ủy và Chính quyền địa phương quan
tâm chỉ đạo, trường phổ thông cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân) đã có nhiều cải tiến
trong dạy và học. Trường đã có những hoạt động tích cực, tổ chức những đội học
sinh “Học tốt, làm tốt”. Quá trình hoạt động của trường phổ thông cấp
II Bắc Lý là quá trình thầy và trò sáng tạo trong giảng dạy, học tập và lao
động theo nguyên lý và phương châm “Học đi đôi với hành”, “gắn nhà
trường với thực tiễn xã hội”.
Bằng những hoạt động tích cực với những kết quả xuất sắc trong giảng dạy,
học tập và lao động, tháng 9-1961, trường cấp II Bắc Lý được Bộ Giáo dục công
nhận là đơn vị lá cờ đầu của ngành Giáo dục Hà Nam và toàn miền Bắc. Phong trào
thi đua “Hai tốt" (giảng dạy tốt - học tập tốt), thi đua với
trường Bắc Lý được phát động trên toàn miền Bắc. Đó là phần thưởng xứng đáng và
cũng đồng thời đặt ra cho cán bộ giáo viên và học sinh Bắc Lý nói riêng và toàn
tỉnh Hà Nam trách nhiệm nặng nề hơn.
Bước vào năm học mới 1962 - 1963, toàn tỉnh có 85.812 học sinh phổ thông
các cấp, tăng 31,5%. Ngoài ra, toàn tỉnh còn có 738 lớp vỡ lòng, 196 lớp
mẫu giáo với 240.798 trẻ. Phong trào thi đua “Hai tốt” được phát triển
rộng rãi. Trường cấp II Kim Bảng, trường cấp II Đồng Lý (huyện Lý Nhân) và
trường cấp III Biên Hòa là những đơn vị có phong trào thi đua sôi nổi nhất
trong tỉnh.
Từ ngày 26-6 đến 2-7-1963, Hà Nam tiến hành Đại hội đại biểu Đảng bộ lần
thứ V, với sự tham dự của 207 đại biểu chính thức và 12 đại biểu dự khuyết.
Đại hội đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ trong 3 năm 1963 - 1965 là: Tập
trung đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp là trọng tâm, làm cơ sở thuận lợi để phát
triển công nghiệp, đồng thời ra sức đẩy mạnh phát triển sân xuất công nghiệp,
thủ công nghiệp và các ngành kinh tế, văn hoá, phấn đấu khắc phục dần sự mất
cân đối, đảm bảo các ngành kinh tế, văn hóa tiếp tục phát triển theo phương
châm tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, góp phần đấu
tranh thống nhất nước nhà. Đại hội đã bầu Ban chấp hành mới gồm 23 ủy viên,
Đồng chí Trần Đoàn đã được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy.
Thực hiện phương hướng phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng bộ tỉnh đã đề
ra, trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, tỉnh đã phát động các phong trào thi
đua “Đông xuân Đại Phong lập công dâng Đảng”, “thi đua vụ mùa
Đại Phong chống Mỹ - Diệm”, “Làm mùa thực hiện Nghị quyết Trung ương
8”, “Đông - Xuân vì miền Nam quyết thắng”, chiến dịch “Đồng Nai quật
khởi”, cuộc vận động “Năng suất cao, hoa màu nhiều, chăn nuôi giỏi”... với
những nội dung cụ thể về làm đất, gieo trồng, chăm sóc trâu bò, củng cố hợp tác
xã, đoàn kết ở nông thôn...
Trên mặt trận thuỷ lợi, ngày 25-9-1964, trạm bơm điện cố Đam (thuộc địa bàn
huyện Thanh Liêm) với công suất thiết kế 5 triệu m3/ngày được khởi công xây
dựng. Đây là công trình đại thuỷ nông, có vị trí rất quan trọng đối với sản
xuất nông nghiệp của hai tỉnh Hà Nam và Nam Định. Công trình sẽ đảm bảo tiêu
úng cho 18.000 ha lúa mùa, chống hạn cho 12.600 ha vụ chiêm, thuộc 3 huyện Bình
Lục, Thanh Liêm (Hà Nam) và Ý Yên (Nam Định).
Đến cuối năm 1964 toàn tỉnh có 132 xã và 99,5% số hợp tác xã đã xây dựng
xong quy hoạch thuỷ lợi, 97,5% số hợp tác xã đã tổ chức 729 đội thuỷ lợi chuyên
môn. Tỉnh cũng đã xây dựng được 11 trạm bơm điện với 89 máy bơm, 144 máy bơm
dầu và đã huy động hàng chục vạn nhân dân tham gia các đợt chống úng, chống
hạn, chủ động tưới tiêu 37.457 ha đất canh tác.
Trên lĩnh vực công nghiệp và thủ công nghiệp, trong 3 năm (1963 - 1965) sản
xuất công nghiệp, thủ công nghiệp có bước phát triển mạnh. Năm 1964, giá trị
tổng sản lượng công nghiệp, thủ công nghiệp vượt 4,8% so với kế hoạch. Công
nghiệp địa phương đã sản xuất một số sản phẩm mới như máy xay xát gạo, máy tuốt
lúa chạy động cơ điện, máy nghiền thức ăn gia súc và trang bị cơ khí nhỏ cho 27
hợp tác xã.
Trong hai năm 1963 - 1964, sự nghiệp giáo dục, văn hoá, y tế của Hà Nam
tiếp tục có những chuyển biến đáng kể. Đến cuối năm 1964, Hà Nam căn bản hoàn
thành phổ cập cấp I và vỡ lòng trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất. Trường Bắc Lý
vẫn phát huy tác dụng lá cờ đầu trong ngành giáo dục.
Ngày 5-8-1964, đế quốc Mỹ dựng lên “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ” và tiến hành cuộc
chiến tranh phá hoại miền Bắc. Từ đây nhiệm vụ xây dựng và củng cố quốc phòng
càng được đẩy mạnh hơn. Miền Bắc chuyển từ thời bình sang thời chiến, vừa sản
xuất, vừa sẵn sàng chiến đấu cao.
Đến cuối năm 1964, các phương án phòng thủ tác chiến, phòng không, chống
gián điệp, biệt kích và kế hoạch lập khu căn cứ của tỉnh đã được xây dựng, điều
chính cho phù hợp với tình hình mới. Lực lượng dân quân tự vệ phát triển thêm
6.870 người, đạt tỷ lệ 151% so với chỉ tiêu và chiếm 9% dân số, trong đó có
2.089 nữ dân quân, 1181 nữ tự vệ. Bộ máy chỉ huy quân sự các cấp được kiện
toàn. Công tác phòng không được triển khai rộng rãi. Những khẩu hiệu “Tay cày,
tay súng”, “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu” bắt đầu đi vào đời sống hàng ngày của
nhân dân toàn tỉnh.
Từ tháng 2-1965, đế quốc Mỹ chính thức mớ rộng quy mô chiến tranh phá hoại
ra miền Bắc. Nhờ có sự chuẩn bị từ nhiều năm trước đây, đến 30-4-1965, Hà Nam
đã nhanh chóng chuyển hướng chỉ đạo mọi mặt công tác từ thời bình sang thời
chiến.
Tỉnh ủy phân công 3 đồng chí ủy viên Thường vụ và 2 đồng chí Tỉnh ủy viên
chỉ đạo công tác phòng không chuẩn bị chiến đấu. Thị xã Phủ Lý nhanh chóng sơ
tán hơn 2.000 dân và 3.000 tấn hàng hoá về nông thôn. Hơn 1.500 chiến sỹ tự vệ
thị xã đã thay nhau trực chiến ngày đêm, sẵn sàng chiến đấu. Nhiều trận địa
phòng không được xây dựng, hệ thống hầm hố cá nhân, hào giao thông phát triển
mạnh mẽ khắp nơi. Cán bộ, đảng viên và nhân dân toàn tỉnh tích cực chuẩn bị,
bình tĩnh, kiên quyết, sẵn sàng bước vào cuộc chiến đấu mới. Thực hiện lệnh
động viên thời chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, hàng loạt cán bộ được điều động
sang quân đội, hàng ngàn thanh niên nhập ngũ, tái ngũ bổ sung cho các đơn vị
lực lượng vũ trang nhân dân, sẵn sàng đi B với tinh thần “Xẻ dọc Trường Sơn đi
cứu nước”.
Dưới sự lãnh đạo của các cấp bộ Đảng, chính quyền, một khí thế cách mạng
mạnh mẽ, sôi nổi với tinh thần “Vừa sản xuất, vừa chiến đấu” được phát động
trong cán bộ, đảng viên và nhân dân Hà Nam. Với những thành tựu đạt được trong
hơn 10 năm xây dựng (1954 - 1964), cán bộ và nhân dân Hà Nam sẵn sàng vững bước
vào thời kỳ mới đầy khó khăn và thử thách.
II. HÀ NAM CÙNG CẢ NƯỚC VỪA SẢN XUẤT VỪA CHIẾN ĐẤU CHỐNG CHIẾN TRANH PHÁ
HOẠI CỦA ĐẾ QUỐC MỸ, CHI VIỆN CHO SỰ NGHIỆP GIẢI PHÓNG MIỀN NAM
(1965 - 1975)
Vừa sản xuất vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ (1965
- 1972)
Ngày 21 tháng 4-1965, tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa III, Uỷ ban Thường vụ
Quốc hội ra Nghị quyết số 103-NQ-TVQH phê chuẩn việc lập tỉnh mới Nam Hà trên
cơ sở sáp nhập hai tỉnh Hà Nam và Nam Định.
Ngày 4-5-1965, Ban Chấp hành Đảng bộ hai tỉnh đã họp phiên đầu tiên bàn và
ra Nghị quyết về việc tiến hành kiện toàn, hợp nhất tổ chức bộ máy của hai
tỉnh:
- Về tổ chức đảng bộ: Căn cứ vào ý kiến của Trung ương Đảng, Hội nghị quyết định
Tỉnh ủy Nam Hà gồm toàn bộ các đồng chí ủy viên Ban Chấp hành do Đại hội Đảng
bộ tỉnh Hà Nam và Nam Định đã bầu ra, tổng số là 53 đồng chí. Ban Thường vụ
Tỉnh uỷ gồm có 13 đồng chí. Hội nghị Ban Chấp hành sẽ cử ra Bí thư và 2 Phó Bí
thư.
- Về tổ chức chính quyền tỉnh: Sau khi phân công xong, Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân
tỉnh sẽ họp để cử ra Ủy ban Hành chính tỉnh. Dựa trên cơ sở phân công Thường vụ
Tỉnh ủy và tỉnh ủy viên, cần kiện toàn Uỷ ban Hành chính tỉnh, trước hết là bộ
phận Thường trực uỷ ban gồm 5 đồng chí (1 Chủ tịch, 3 Phó Chủ tịch và 1 Uỷ viên
thư ký).
Thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị và Nghị quyết Hội nghị lần thứ nhất
của Tỉnh ủy Nam Hà, ngày 28 tháng 5-1965 Tỉnh ủy đã có Thông báo số 16/TB-TU
nêu rõ: Kể từ ngày 1-6-1965, Tỉnh ủy và Ủy ban Hành chính tỉnh Nam Hà sẽ chính
thức làm việc theo tỉnh mới.
Như vậy, từ tháng 6-1965, Hà Nam sáp nhập cùng Nam Định thành tỉnh Nam Hà.
Tỉnh Nam Hà lúc này gồm 14 huyện, 1 thành phố và 1 thị xã.
Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, khu vực Hà
Nam là một hướng chiến lược quan trọng với một hệ thống đường sắt, đường bộ và
đường thuỷ mà điểm nút là thị xã Hà Nam - yết hầu của trục giao thông chiến
lược và cửa ngõ phía nam của thủ đô Hà Nội. Ngay từ những trận đánh mở đầu cuối
tháng 5-1965, địch đã tập trung đánh phá hàng loạt địa điểm cầu đường trên địa
bàn Hà Nam, nhất là cầu Đoan Vĩ (thuộc địa phận huyện Thanh Liêm). Để giữ vững
mạch máu giao thông trong điều kiện bị địch đánh phá ác liệt, ngành giao thông
của tỉnh đã tập trung xây dựng thêm 10 bến phà mới, 500 mét cầu phao gỗ, 270
mét cầu phao thuyền tre. Ngày 9-7-1965, địch tiếp tục đánh cầu Đoan Vĩ, cầu
Gián Khẩu cùng nhiều cầu phà, các phương tiện vận tải trên sông, trên bộ. Ngày
15-7, địch tập trung máy bay thả nhiều bom cỡ lớn, bắn nhiều tên lửa để phá
bằng được cầu Đoan Vĩ. Ngành giao thông vận tải của tỉnh đã mạnh dạn nghiên cứu
và thiết kế cầu phao hoàn toàn bằng gỗ, đảm bảo lưu thông cho hàng ngàn chuyến
xe qua lại mỗi ngày.
Chiến tranh ngày càng trở nên ác liệt. Ngoài việc chủ động sơ tán nhân dân
về vùng nông thôn, chỉ đạo việc đào hầm hố phòng tránh, thị ủy Hà Nam cùng với
các cơ quan của tỉnh chỉ đạo việc di chuyển các cơ sở công nghiệp đóng trên địa
bàn như Nhà máy điện Phủ Lý, Xí nghiệp cơ khí nông cụ Hà Nam, Xưởng sửa chữa ca
nô - ô tô Hà Nam, Xí nghiệp đóng thuyền 1-5 Hà Nam, Xưởng gỗ Hà Nam... Các
huyện cũng có kế hoạch phân tán hoặc bảo vệ các cơ sở sản xuất của mình như hợp
tác xã ngói Bình Lục, hợp tác xã ngói Duy Tiên, Xí nghiệp đá Kiện Khê, Xí
nghiệp giấy Sông Châu, Xưởng gỗ Vĩnh Trụ, Xí nghiệp đường Vĩnh Trụ... Ngày
7-12-1965, Tỉnh uỷ ra chỉ thị giao hẳn các hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp ở
thành phố, thị xã sơ tán về nông thôn cho các huyện quản lý.
Trong quý III-1965, đế quốc Mỹ cho 1.662 tốp máy bay đánh phá miền Bắc,
trong đó có 16 lần đánh tuyến giao thông vận tải trên địa bàn Hà Nam. Nhân dân
hai huyện Kim Bảng, Duy Tiên đã tham gia sửa chữa, đắp mới được hàng chục ngàn
m3 đất và hàng chục km đường. Tháng 10-1965, địch cho 201 tốp máy bay và
tháng 11-1965 có 303 tốp đánh phá quốc lộ 1A, đường 10 và 21. Thị xã Hà Nam bị
địch oanh tạc 6 lần, có trận kéo dài trên 1 tiếng đồng hồ.
Sau 7 tháng (từ 25-5 đến 4-12-1965), đế quốc Mỹ tạm thời ngừng oanh kích
miền Bắc nhưng vẫn cho cho máy bay tiến hành trinh sát. Qua 78 ngày tạm yên,
đến 13-3-1966, đế quốc Mỹ tiếp tục đánh phá trở lại với mức độ ngày càng dày
đặc (số trận đánh tăng gấp 5,53 lần so với năm 1965), phạm vi ngày càng rộng
(từ 75 xã lên 182 xã, gấp 2,43 lần so với năm 1965) và tính chất ngày càng ác
liệt.
Mục tiêu đánh phá của không quân Mỹ tập trung ở khu tam giác: thị xã Hà
Nam, thành phố Nam Định, thị xã Ninh Bình, trong đó trọng điểm là thị xã Hà
Nam. Tháng 6-1966, máy bay Mỹ đánh vào thị xã liên tiếp 4 ngày đêm liền. Ngày
1-8-1966, địch đánh thị xã và 17 điểm phụ cận, riêng thị xã Hà Nam chúng dùng
30 lần chiếc, thả trên 1.000 quả bom. Có những tháng, địch đánh đến 144 trận
(10-1966), 153 trận (1-1967) nhắm vào đê điều, kho tàng, cơ sở sản xuất và khu
dân cư của tỉnh. Bước vào năm 1967, mức độ đánh phá của địch ngày càng ác liệt.
Chỉ tính riêng trong quý III-1967, địch đã huy động 856 lần chiếc máy bay đánh
261 trận, trong đó có 13 trận đánh vào ban đêm. Đến đầu xuân năm 1968, khi quân
dân miền Nam tấn công mạnh mẽ trên khắp chiến trường thì việc đánh phá của địch
mới giảm xuống.
Đảm bảo giao thông vận tải trong chiến tranh phá hoại là nhiệm vụ trung tâm
mang tính chiến lược của toàn Đảng, toàn dân trong giai đoạn này. Ở những trọng
điểm giao thông như Đoan Vĩ, Gián Khẩu, thị xã Hà Nam, các đội công binh nhân
dân, các đội Thanh niên xung phong đã phối hợp chặt chẽ với các đơn vị pháo cao
xạ chiến đấu bảo vệ mục tiêu, với các đội chuyên đảm bảo giao thông để khắc
phục hậu quả, giải phóng mặt đường. Khi các cầu Đoan Vĩ, Gián Khẩu trên tuyến
quốc lộ 1A bị đánh hỏng, hệ thống phà vượt sông không đáp ứng được lưu lượng xe
qua (1.000 - 1.500 chiếc/ngày), thì từ đầu năm 1965, hàng loạt cầu phao đã ra
đời trên tất cả các tuyến đường. Dọc quốc lộ 1A, nhân dân đã huy động dự trữ
được hàng triệu m3 đất đá. Mỗi khi cầu đường bị địch đánh phá, các xã và
khu phố đã trực tiếp huy động lực lượng, phương tiện của nhân dân san lấp mặt
đường, lấp hố bom, đảm bảo cho xe thông suốt.
Trong thời gian khó khăn nhất (1965 - 1966), lực lượng vũ trang địa phương
đã đảm nhiệm việc bảo đảm giao thông trong những chốt quan trọng như thị xã Hà
Nam, cầu Gián Khẩu. Nhờ kết hợp tốt việc sử dụng lực lượng tại chỗ và lực lượng
cơ động, thị xã Hà Nam đã khắc phục nhanh chóng mặt đường, bảo đảm được giao
thông thông suốt trong mọi tình huống. Cùng với việc san lấp đường, làm cầu bảo
đảm giao thông, các lực lượng vũ trang và dân quân tỉnh đã anh dũng chiến đấu,
bắn rơi 1 máy bay Mỹ, phối hợp với các đơn vị khác bắn rơi 4 chiếc khác. Đơn vị
bảo vệ cầu phà Đoan Vĩ đã không để xảy ra sự cố, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ,
được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Ba.
Với thành tích chiến đấu và phục vụ chiến đấu, tháng 9-1965, 6 đơn vị dân
quân của Hà Nam được tặng thưởng danh hiệu Đơn vị Quyết thắng, đó là dân quân
xã Liêm Trực, dân quân thôn Chanh Thượng xã Liên Minh (huyện Thanh Liêm); dân
quân xã Nguyễn Bình, trung đội nữ dân quân thôn Bùi xã Trịnh Xá (huyện Bình
Lục); dân quân xã Đọi Sơn (huyện Duy Tiên); trung đội Quyết Thắng xã Nhân Phúc
(huyện Lý Nhân) và trung đội tự vệ hợp tác xã cơ khí Quyết Tiến (thị xã Hà
Nam).
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp, những tháng đầu năm 1968, máy bay địch
vẫn đánh phá ác liệt, thêm vào đó vật tư cung cấp cho sản xuất lại không đủ,
thời tiết diễn biến vô cùng phức tạp, mưa lớn, làm ngập úng 71% diện tích lúa
màu. Riêng các huyện Bình Lục, Thanh Liêm, Lý Nhân bị úng nặng từ 70-80%,
12.559 ngôi nhà của dân bị đổ. Nhiều người chết, hàng trăm người bị thương,
hàng ngàn trâu bò bị nước cuốn trôi. Trước sự phá hoại ghê gớm của thiên tai,
nhờ tinh thần phấn đấu quyết thắng của nhân dân và sự lãnh đạo sát sao của các
cấp ủy Đảng và chính quyền nên đã hạn chế được tác hại, sản xuất vẫn được tiếp
tục phát triển. Có 6 xã đạt năng suất từ 5 - 6 tấn/ha/năm như Nguyên Lý, Nhân
Long, Nhân Tiến, Nhân Hậu (huyện Lý Nhân); Duy Hải, Trác Bút (huyện Duy Tiên).
Công nghiệp địa phương qua 3 năm đã có những chuyển hướng kịp thời và tiếp
tục phát triển, bước đầu có những đổi mới về cơ cấu, thiết bị và sản phẩm. Ngoài
việc tập trung khắc phục những khó khăn về vận chuyển, địa điểm, tiến hành phân
tán, sơ tán nhanh gọn, Tỉnh còn chỉ đạo bảo vệ và mở rộng cơ sở cũ, từng bước
tăng cường thiết bị và xây dựng một số xí nghiệp mới. Trong những năm này, hoạt
động trên địa bàn Hà Nam có các Xí nghiệp cơ khí Hà Nam, Xưởng gỗ Hà Nam, Xí
nghiệp cơ khí Kim Bảng, Xí nghiệp đá Kiện Khê, Xí nghiệp vôi Kiện Khê, Xí
nghiệp đá Núi Bùi, Xí nghiệp gỗ Hồng Phú, Xí nghiệp Xi măng 3 - 2, Xí nghiệp xi
măng Kim Bảng, Gạch Khả Phong, Giấy Sông Châu, Nước chấm Hà Nam, Đường Vĩnh
Trụ, Lò mổ Hà Nam, Than Yên Thuỷ và nhiều xí nghiệp, công tư hợp doanh khác.
Giá trị tổng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp của tỉnh trong năm 1967
tăng 13,6% so với năm 1965.
Giao thông vận tải được coi là công tác trung tâm đột xuất của toàn Đảng,
toàn dân. Hầu hết các đường liên tỉnh, liên huyện bị địch phá hoại đều đã được
củng cố và mở rộng. Hệ thống đường vòng, đường tránh, cầu, phà được xây dựng
thêm, hình thành tuyến hướng có nhiều đường. Nhờ vậy, mặc dù bị địch đánh phá
liên tục và hết sức ác liệt nhưng giao thông vẫn bảo đảm thông suốt; các kế
hoạch vận chuyên đều hoàn thành vượt mức và tăng nhanh qua các năm.
Tổng khối lượng hàng vận chuyển năm 1967 tăng 51,9% so với năm 1965, trong
đó khối lượng hàng tự vận chuyển từ ngoài tỉnh về ngày càng chiếm tỷ lệ cao
(75% tổng số). Đặc biệt các yêu cầu trung chuyển và vận chuyển phục vụ tiền
tuyến đều đảm bảo hoàn thành vượt mức, kể cả các yêu cầu đột xuất do Trung ương
giao.
Với tinh thần quyết chiến quyết thắng trên mặt trận giao thông, nhân dân
địa phương đã tranh thủ mọi thời cơ thuận lợi để bắc xong cầu mới Hòa Mạc và
cầu cáp Xuân Khê; tu sửa xong 3 cầu (cầu cáp, cầu phao Đoan Vĩ và cầu ngầm Phủ
Lý), xây dựng và sửa chữa bến phà, làm mới và rải đá 17km đường vòng tránh, làm
mới 55km đường liên huyện, 103km đường liên xã; rải đá nâng cấp mặt đường cho
125km; kết hợp với ngành thủy lợi làm mới 911 cống và tu sửa 807km đường từ xóm
ra đồng. Mạng lưới giao thông trong tỉnh đã hình thành suốt từ xã lên huyện,
nối liền và khép kín với các tuyến đường chính.
Mặc dù trong điều kiện có chiến tranh, các lĩnh vực giáo dục, văn hoá vẫn
tiếp tục được đẩy mạnh.
Ngành giáo dục đã hoàn thành tốt nhiệm vụ các năm học. Đến 1968, có 170
trường được công nhận là trường tiên tiến; 1.168 giáo viên dạy giỏi, 108 học
sinh tham gia cuộc thi học sinh giỏi toàn miền Bắc, và đoạt 23/46 giải.
Mạng lưới y tế không ngừng được củng cố. Đã có gần 100% trạm xá xã có y sĩ
phụ trách. Số bệnh viện, giường bệnh tăng nhanh. Đến 1968, bình quân cứ 10
nghìn dân có 4,8 y, bác sỹ và 28,7 giường bệnh.
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước chuyển sang giai đoạn mới, từ
ngày 3 đến ngày 8 tháng 6-1968, Đại hội Đảng bộ Nam Hà lần thứ nhất được triệu
tập. Trên cơ sở đánh giá lại chặng đường đã qua, Đại hội đã tập trung thảo
luận, ra Nghị quyết về phương hướng và nhiệm vụ chung của Đảng bộ trong 3 năm
(1968 - 1970) với “Quyết tâm xây dựng nền kinh tế địa phương lớn mạnh, có nông
nghiệp và công nghiệp phát triển, tăng cường công tác quân sự địa phương và giữ
vững trật tự an ninh, sẵn sàng đáp ứng tốt nhất mọi yêu cầu chi viện tiền
tuyến, chú trọng bồi dưỡng sức dân; ra sức xây dựng chính quyền, đoàn thể quần
chúng và xây dựng Đảng bộ vững mạnh; bảo đảm chiến đấu, chiến thắng địch họa,
thiên tai trong mọi tình huống và tích cực chuyển hướng kịp thời khi có điều
kiện thuận lợi(1).
Đại hội đã bầu Ban chấp hành Đảng bộ mới gồm 35 ủy viên do đồng chí Phan
Điền làm Bí thư, các đồng chí Trần Đoàn và Vũ Thiện làm Phó Bí thư.
Từ cuối 1968, do thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ
buộc phải tuyên bố chấm dứt cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc. Cùng với nhân
dân miền Bắc, nhân dân Hà Nam bắt tay vào việc hàn gắn vết thương chiến tranh,
khôi phục và phát triển kinh tế, thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội Đảng
bộ tỉnh Nam Hà lần thứ nhất đề ra.
Giữa lúc nhân dân Nam Hà cùng cả nước đang ra sức thi đua sản xuất, hàn gắn
vết thương chiến tranh thì ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần. Biến
đau thương thành hành động cách mạng, Tỉnh uỷ phát động đợt sinh hoạt chính trị
“Học tập và làm theo Di chúc của Hồ Chủ Tịch” cho toàn thể Đảng bộ và nhân dân
trong tỉnh.
Một trong những nhiệm vụ lớn của tỉnh Nam Hà trong 3 năm từ 1969-1971 là
phải động viên toàn bộ sức người, sức của vào công cuộc chống thiên tai bão
lụt. Đầu tháng 8-1969, một đợt lũ lớn và kéo dài chưa từng có kể từ 21 năm
trước đó. Tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh đã huy động 367.968 cán bộ, công nhân, bộ
đội, học sinh lên đê chống lũ. Nhân dân khắp nơi trong tỉnh đã đóng góp 126.670
cây tre, trên 7.000 cây xoan và 140 nghìn bó rào cùng 20 nghìn bao tải đất để
hộ đê; bảo vệ tốt các tuyến đê trên sông Hồng và sông Đáy.
Năm 1970, tỉnh đã chủ động tổ chức lực lượng hộ đê gồm 55.000 người chia
thành 2.171 đội - trong đó có 79 đội xung kích được trang bị đủ các loại phương
tiện, dụng cụ phòng chống lụt; bồi đắp được 1.062.144 m3 đất cho các quãng
đê xung yếu; hoàn thiện và sửa chữa 73 kè cống, bố trí 355 cán bộ làm công tác
hộ đê túc trực ở nơi quy định.
Vụ mùa năm 1971 thiên tai lớn lại xảy ra, diễn biến rất phức tạp và ác
liệt, vượt xa nhiều so với dự đoán. Có 3 cơn bão trực tiếp tràn vào tỉnh, uy
hiếp nặng đê điều và gây ra mưa lớn làm cho gần 30 nghìn ha của các huyện Duy
Tiên, Kim Bảng, Lý Nhân, Thanh Liêm và Bình Lục bị ngập sâu trong nước.
Lũ trong năm 1971 cũng xuất hiện sớm, đỉnh lũ lên rất cao và kéo dài trong
nhiều ngày. Đến tháng 8-1971, toàn bộ đê sông Hồng chảy qua hai huyện Lý Nhân,
Duy Tiên bị tràn 21 đoạn, sạt 18 đoạn; đê Hoàng Đông, Hoàng Tây trên sông Nhuệ
bị vỡ, nhiều đoạn đê của các sông khác bị nước tràn, bị sạt lở.
Đợt lũ năm 1971 gây tổn thất nặng làm ảnh hưởng đến đời sống nhân dân nhiều
huyện. Sán xuất nông nghiệp bị thiệt hại nặng, nhất là các xã có bối, xã hữu
ngạn sông Đáy và xã ven sông Nhuệ. Kim Bảng là huyện bị ngập nặng nhất, tới 78%
diện tích cấy, huyện Duy Tiên 22,9%. Nhà cửa trong vùng bị ngập khoảng 31.207
hộ, gồm 145.312 người, ở Trung Hạ (huyện Duy Tiên) có hàng chục ngôi nhà bị
trôi, hàng trăm tấn thóc và phân bón bị mất.
Sang năm 1972, đúng vào ngày kỷ niệm lần thứ 42 thành lập Đảng (3-2- 1972),
Đại hội Đảng bộ Nam Hà lần thứ II khai mạc. Đại hội đã tập trung đánh giá tình
hình, nhận rõ bước trưởng thành đi lên, phân tích khó khăn khách quan và khuyết
điểm chủ quan, khẳng định thành tựu, đồng thời đi sâu phân tích những vấn đề
mấu chốt nhất và đề ra những mục tiêu cần tập trung phấn đấu trong 2 năm 1972 -
1973 là: Tăng nhanh thu nhập quốc dân, nông sản hàng hoá và xuất khẩu; bảo đảm
tích luỹ và gia tăng đóng góp cho Nhà nước; phấn đấu đạt 3 mục tiêu (1,3 - 1,5
lao động, 5,4 tấn thóc và 2,5 con lợn/ha gieo trồng); phục vụ đầy đủ và kịp
thời nhu cầu của tiền tuyến, xây dựng kinh tế địa phương gắn với củng cố quốc
phòng; tích cực xây dựng, nâng cao chất lượng sức mạnh chiến đấu toàn lực lượng
vũ trang địa phương, đánh thắng địch trong mọi tình huống, bảo đảm an ninh xã
hội, thực hiện tốt chính sách hậu phương quân đội; phấn đấu bảo đảm nhu cầu
thiết yếu của đời sống nhân dân (ăn, mặc, học, ở và sức khoẻ. Đại hội Đảng bộ
Nam Hà lần thứ II đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 55 uỷ viên, đồng chí Phan Điền
được bầu lại làm Bí thư Tỉnh uỷ.
Để chủ động chống thiên tai và địch họa, thi hành Chỉ thị số 46 TTg
(23-2-1972) của Thủ tướng Chính phủ,
Tỉnh ủy đã cử 30 đồng chí tỉnh ủy viên tham gia công tác chỉ đạo đê, kè, cống ở
các huyện. Mỗi huyện dự trữ một lực lượng từ 250 - 300 người để ứng cứu, tiếp
viện khi đê điều bị đánh phá hoặc có báo động cấp 3. Lực lượng hộ đê của tỉnh
gồm trên 1.000 người biên chế thành 5 đại đội xung kích và 1 đội cơ giới bố trí
thường trực ở các khu vực xung yếu.
Nhờ có sự chỉ đạo kịp thời, đến trước mùa bão lũ toàn tỉnh đã hoàn thành
khối lượng đê, kè, cống gấp 3 lần năm 1971. Các huyện Kim Bảng, Thanh
Liêm, Duy Tiên, Lý Nhân thực hiện vượt thời gian. Riêng thị xã Hà Nam đắp được
6.300m3, đạt khối lượng lớn nhất so với các năm đã qua.
Đế chuẩn bị đối phó với âm mưu tiếp tục gây chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ và để tăng cường chi viện cho chiến trường miền Nam, từ tháng
3-1972, căn cứ vào nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ
trang mà Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ II đã đề ra, toàn tỉnh đã
thành lập xong 5 tiểu đoàn tăng cường và các đơn vị pháo cao xạ của dân quân,
kiện toàn các hệ thống thông tin liên lạc, đài quan sát; tổ chức lại các lực
lượng phục vụ chiến đấu, các tổ chức công binh, cứu hỏa, cứu thương; hoàn thành
phương án tác chiến và tổ chức diễn tập ở một số khu vực. Cuối tháng 3-1972
tỉnh còn tổ chức các đơn vị công binh trong lực lượng dân quân mang tên là
“công binh nhân dân”.
Cũng trong tháng 3-1972, có năm đơn vị bộ đội địa phương và một đơn vị pháo
của dân quân gồm 222 chiến sĩ đã lên đường vào Nam chiến đấu.
Bị thất bại liên tiếp trước các cuộc tiến công của quân dân miền Nam, đầu
xuân 1972, Tổng thống Mỹ Níchxơn liều lĩnh gây lại chiến tranh phá hoại miền
Bắc.
Ngày 17-4, sau khi nhận được điện của Ban Bí thư và Lời kêu gọi của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng và Chính phủ, Thường vụ Tỉnh uỷ và chính quyền tỉnh
đã mở đợt sinh hoạt chính trị nhằm nâng cao tinh thần cảnh giác, tư tưởng quyết
chiến quyết thắng trong các lực lượng vũ trang và nhân dân trong tỉnh.
Công tác phòng không nhân dân được tiến hành một cách khẩn trương. Công tác
giao thông vận tải sẵn sàng bảo đảm thông suốt trong mọi tình huống. Các cấp uỷ
đảng và chính quyền cùng với ngành giao thông kiểm tra, xem xét và lên kế hoạch
đảm bảo huyết mạch trên các quốc lộ chính; quản lý và nắm chắc lực lượng,
phương tiện vận tải, bốc dỡ trong ngành và các cơ quan để khi cần có thể huy
động lực lượng được nhanh chóng.
Thực hiện Chỉ thị 182 của Ban Bí thư về Tănq cường lãnh đạo những công
tác trọng yếu trong tình hình mới, trong hai ngày 10 và 11 tháng 5, Thường
vụ Tỉnh uỷ đã họp bàn về chống địch phá hoại đê điều và đảm bảo giao thông
trong mọi tình huống. Đối với địa bàn Hà Nam, Tỉnh uỷ nhận định trên quốc lộ 1A
địch sẽ tập trung đánh phá vào khu vực cầu Đoan Vĩ, đầu mối giao thông Phủ Lý
và Hồng Phú; còn trên đường 21 chúng sẽ tập trung vào khu vực cầu Sắt, cầu Họ
vì các tuyến đường này có ý nghĩa rất lớn đối với sự chi viện cho chiến trường.
Từ thực tiễn trên, Tỉnh ủy cũng đề ra nhiệm vụ của công tác đảm bảo giao
thông, vận tải trên địa bàn Hà Nam là:
- Giữ bằng được tuyến quốc lộ để đảm bảo cho việc chi viện đòi với tiền tuyến
(quốc lộ 1A, quốc lộ 21), quan trọng nhất là quốc lộ 1A và các bến vượt sông.
- Giữ kỳ được quốc lộ 21 để bảo vệ vùng bán sơn địa nhằm đảm bảo giao thông thông
suốt trên các tuyến đường khác, cố gắng cao nhất để phục vụ bộ đội cơ động
chiến đấu trên các địa bàn tỉnh.
- Đảm bảo thông suốt các luồng sông, các cửa sông để đảm bảo vận tải thuỷ dù địch
phong toả bằng bất kỳ loại vũ khí nào; phương châm thực hiện các nhiệm vụ trên
là: Bám tuyến chính, sẵn sàng chuẩn bị các tuyến tránh. Các huyện và
thị xã Hà Nam phải chuẩn bị sẵn các phương án để đảm bảo giao thông, dự kiến
các tình huống địch phá hoại, dựa vào lực lượng tại chỗ để khắc phục hậu quả.
Cuộc đánh phá bằng không quân của đế quốc Mỹ trên địa bàn Hà Nam ngày một
ác liệt hơn. Suốt trong 188 ngày đêm từ giữa tháng 4 đến tháng 10 năm 1972, đế
quốc Mỹ đã huy động 1.345 lần chiếc máy bay đánh vào 893 mục tiêu trên đất Nam
Hà trong đó có 633 trận đánh vào địa bàn Hà Nam. Riêng tháng 7-1972, địch đã
huy động 554 lần chiếc, tập trung đánh vào quốc lộ 1A nhất là các đoạn đường
Đồng Văn, Phủ Lý; 50 lần máy bay đánh vào đê điều, 350 lần đánh vào khu dân cư.
Đối với hệ thống giao thông, vận tải, tính đến 20 tháng 10-1972 địch đã đánh
202 trận vào 247 điểm với 2.084 quả bom phá, 712 quả bom nổ chậm và bom từ
trường, 106 quả bom xuyên và 19 tên lửa, làm thiệt hại 2.340 mét đường, phá
hỏng 13 cầu, 62 phương tiện (420 mã lực), 2.284 tấn sà lan và thuyền các loại.
Trong mọi tình huống, quân và dân Hà Nam đã kiên cường dũng cảm đánh trả
máy bay địch, giữ vững mạch máu giao thông và đê điều, bảo vệ tính mạng và tài
sản của nhân dân, bảo vệ sản xuất. Đến tháng 7-1972, toàn tỉnh đã xây dựng được
275 tổ trực chiến bắn máy bay tầm thấp và 19 đơn vị pháo cao xạ, trong đó có
loại 100mm của dân quân tự vệ. Nhiều đơn vị dân quân ở các xã Thanh Lưu, Liêm
Thuận, Liêm Cần (huyện Thanh Liêm); Phù Vân, Châu Sơn (huyện Kim Bảng) lập
nhiều đội trực chiến bắn máy bay, bắt giặc lái Mỹ; đồng thời triển khai diễn
tập theo phương án cụm chiến đấu và kiểm tra việc bảo vệ tốt vũ khí, sẵn sàng
chiến đấu.
Đơn vị nữ pháo thủ xã Phù Vân, xã liền kề thị xã Hà Nam, được thành lập từ
tháng 12-1965 gồm 8 chiến sỹ. Đến năm 1967, đơn vị phát triển thành một trung
đội với 49 chiến sỹ, được trang bị một khẩu 37mm và một khẩu 57mm. Đơn vị đã bố
trí lực lượng từ xa, phục kích ở núi Ba Sao bắn cháy một phản lực Mỹ. Ngày
2-6-1972, khẩu đội pháo 57mm của đơn vị do đồng chí Lê Thị Thoa làm khẩu đội
trưởng đã chiến đấu quyết liệt với một tốp phản lực đang đánh phá thị xã Hà
Nam; phối hợp cùng đơn vị bắn rơi một máy bay Mỹ ngay loạt đạn đầu. Từ khi
thành lập đến năm 1972, đơn vị đã đánh 91 trận, góp phần cùng lực lượng phòng
không thị xã Hà Nam bắn rơi, bắn cháy 18 máy bay Mỹ.
Phong trào thanh niên tòng quân của tỉnh tiếp tục được đẩy mạnh. Qua 3 đợt
tuyển quân, toàn tỉnh vượt 2,5% kế hoạch về số lượng, dẫn đầu là huyện Thanh
Liêm đạt 107,2% và thị xã Hà Nam đạt 124,7%.
Trong tháng 5-1972, tỉnh đã tuyển 2.000 thanh niên xung phong, tháng 6
tuyển 1.200 dân công hỏa tuyến phục vụ chiến trường.
Mặc dù trong điều kiện chiến tranh ác liệt, phong trào thi đua 2 tốt theo
gương các đơn vị tiên tiến, phát huy truyền thống về giáo dục của tỉnh, phất
cao lá cờ Bắc Lý tiếp tục được đẩy mạnh. Do có sự chuẩn bị tốt, cho nên nhiều
lần địch ném bom, bắn phá vào các thôn xóm và trường học nhưng ta vẫn đảm bảo
an toàn cho giáo viên và học sinh.
Trong năm 1972 trường phổ thông cấp II Bắc Lý được nhận cờ Đơn vị dẫn đầu
của ngành Giáo dục; tập thể và cá nhân của trường được tặng 5 Huân chương Lao
động các loại và nhiều Bằng khen của Chủ tịch nước và Thủ tướng Chính phủ. Công
tác bổ túc văn hoá có nhiều tiến bộ, số cán bộ chủ chốt của xã và hợp tác xã
tốt nghiệp cấp II tăng gấp 14 lần so với 3 năm trước cộng lại.
Năm 1972, trong điều kiện vừa chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế
quốc Mỹ vừa chống thiên tai, nhân dân Hà Nam vẫn hoàn thành nghĩa vụ đóng góp
lương thực với Nhà nước. Các huyện đều huy động vượt mức kế hoạch. Trong đó huyện
Duy Tiên vượt 848 tấn; huyện Kim Bảng huy động gấp đôi năm 1971.
Mặc dù so với yêu cầu và nhiệm vụ đặt ra, kết quả đạt được trong năm 1972
chưa cao, thắng lợi chưa vững chắc, việc phục vụ tiền tuyến chưa đồng đều,
nhưng những thắng lợi mà đảng bộ và nhân dân địa phương đã giành được là hết
sức to lớn và rất cơ bản. Thắng lợi này đánh dấu bước trưởng thành lớn lao của
đảng bộ và nhân dân trong việc kết hợp xây dựng kinh tế với tăng cường tiềm lực
quốc phòng, giữa sản xuất và chiến đấu góp phần cùng quân và dân miền Bắc đánh
bại cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ hai của đế quốc Mỹ, đưa sự nghiệp cách
mạng nước ta sang một giai đoạn mới.
Đẩy mạnh sản xuất, phát triển văn hóa - xã hội, chi viện cho cách mạng miền
Nam hoàn thành sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước (1973 - 1975)
Trước những thất bại nặng nề ở hai miền Nam - Bắc, đế quốc Mỹ buộc phải ký
kết Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh và lập lại hoà bình ở Việt Nam.
Hòa bình trở lại trên miền Bác, nhiệm vụ cấp thiết đối với đảng bộ và nhân
dân các địa phương là khôi phục, ổn định sản xuất và đời sống.
Đối với tỉnh Nam Hà, nhiệm vụ trước mắt là tập trung khôi phục toàn diện
trên các mặt sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, giao thông, vận tải, lưu thông
phân phối, văn hóa - xã hội, nội chính, mà trọng tâm là công nchiệp - thủ công
nghiệp và giao thông, vận tải. Trong việc khôi phục các vùng bị đánh phá, tỉnh
tập trung cho việc xây dựng lại thị xã Hà Nam.
Chỉ trong một thời gian ngắn, việc san lấp hố bom trên quốc lộ 1A và đường
21 đã cơ bản hoàn thành, góp phần đưa lưu lượng xe thông tuyến từ 300 lên 800
xe/ngày; các đội rà phá bom từ trường, thuỷ lôi trên sông Đáy ngày đêm tích cực
hoạt động làm cho đường thuỷ sớm được khai thông. Tốc độ xây dựng cơ bản được
đẩy mạnh, các huyện đã huy động tới 10.000 xã viên cùng nhiều nguyên vật liệu
tham gia xây dựng nhà tạm cho nhân dân thành phố, thị xã.
Ngoài số nhà tạm được xây dựng để giải quyết chỗ ở bước đầu cho nhân dân,
chính quyền các cấp còn ổn định được 338 lớp học phổ thông, bảo đảm nơi học cho
17.091 học sinh trong năm học 1972 - 1973. Ngành thương nghiệp tổ chức chu đáo
việc phân phối hàng tết bảo đảm đúng tiêu chuẩn và chính sách cho nhân dân; tổ
chức giúp đỡ gia đình liệt sĩ, thương binh, bộ đội được 182 tấn thóc. Đồng
thời, để triển khai tốt việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội, tỉnh uỷ
đã cho kiểm tra phát hiện và giải quyết 3.374 trường hợp thực hiện chính sách
chưa chu đáo, đưa 122 thương binh, bệnh binh đủ điều kiện vào học các trường
trung học, đại học; 203 đồng chí vào công tác ở các cơ quan thương nghiệp; 244
đồng chí về cơ sở công tác và làm những nghề thích hợp. Các bệnh viện đã khám
và chữa bệnh cho nhiều thương binh, bệnh binh, gia đình bộ đội. Các tổ chức
Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ cơ sở còn tiến hành làm thêm giờ để giúp các gia
đình neo đơn. Hội phụ lão mở cuộc vận động làm nhà cửa, đóng giường ủng hộ
thương binh, Uỷ ban Hành chính tỉnh chi 490 nghìn đồng trợ cấp các gia đình
liệt sĩ, thương binh gặp khó khăn.
Đi đôi với việc xây dựng và phát triển kinh tế tại địa phương, tỉnh tiếp
tục vận động, tổ chức nhân dân đi xây dựng, phát triển kinh tế - văn hoá miền
núi và khai thác kinh tế trong tỉnh. Đến năm 1972, tỉnh đã vận động được 95.731
người đi xây dựng kinh tế ở các tỉnh trung du, miền núi và 13.185 người đi khai
thác kinh tế vùng biển trong tỉnh theo 2 hình thức: tổ chức thành những xã, hợp
tác xã độc lập hoặc xen ghép vào các xã, hợp tác xã sẵn có ở địa phương. Năm
1974, được Trung ương cho phép, tỉnh Nam Hà đã kết nghĩa với 2 tỉnh Lào Cai và
Yên Bái. Theo sự thỏa thuận giữa huyện Lý Nhân với huyện kết nghĩa Bảo Thắng
(tỉnh Lào Cai), trong năm 1974 huyện Lý Nhân đưa lên Bảo Thắng khoảng 10 nghìn
nhân khẩu để xây dựng thí điểm vùng kinh tế mới. Các huyện khác trong tỉnh tuỳ
điều kiện cụ thể, tích cực chuẩn bị để năm 1975 và các năm sau vận động nhân
dân đi xây dựng kinh tế mới ở các tỉnh Lào Cai và Yên Bái.
Sang năm 1974, kế hoạch được thực hiện trong hoàn cảnh vụ mùa năm trước bị
sút kém, tình trạng thiếu lương thực xảy ra gay gắt trên phạm vi toàn tỉnh.
Thêm vào đó là sự khắc nghiệt của thời tiết: đầu vụ đông xuân rét sớm và kéo
dài, đầu vụ mùa tiếp tục bị hạn. Bằng quyết tâm vốn có, nhân dân trong tỉnh cố
gắng khắc phục khó khăn, giành thắng lợi trên mặt trận nông nghiệp. Năm 1974,
giá trị tổng sản lượng lương thực của tỉnh đạt tới 658.508 tấn, trong đó thóc
đạt 609.753 tấn, là năm có tốc độ tăng trưởng cao. Sản lượng một số sản phẩm
chủ yếu khác đều vượt kế hoạch.
Sản xuất công nghiệp tuy còn nhiều khó khăn do hậu quả nặng nề của chiến
tranh, nhưng nhờ chuẩn bị tích cực và sớm khôi phục nền nếp quản lý nên nhịp độ
tăng đều ở cả hai khu vực quốc doanh và hợp tác xã thủ công nghiệp. Giá trị
tổng sản lượng công nghiệp cả năm đạt 177 triệu đồng bằng 105% kế hoạch, tăng
16,8% so với năm 1973, trong đó quốc doanh tăng 24,9% và thủ công nghiệp tăng 12,1%.
Toàn tỉnh có 6/10 ngành đạt và vượt kế hoạch từ 3 - 10% và có 35 xí nghiệp xấp
xỉ hoàn thành các chỉ tiêu được giao.
Từ đầu năm 1975, cách mạng miền Nam bước sang một giai đoạn mới với thế
tiến công, áp đảo quân thù trên toàn bộ chiến trường. Tình thế cách mạng mới
đòi hỏi nhân dân miền Bắc đẩy mạnh sản xuất, tích cực chi viện cho cách mạng
miền Nam tiến tới giành thắng lợi hoàn toàn.
Trước những thắng lợi đã giành được qua 2 năm khôi phục và phát triển kinh
tế - xã hội cũng như yêu cầu ngày càng lớn của cách mạng miền Nam, Đảng bộ và
các cấp chính quyền trong tỉnh đã chỉ đạo và khẩn trương tổ chức đợt cung cấp
8.600 tấn lương thực, hàng ngàn tấn thực phẩm cho chiến trường miền Nam. Đồng
thời, để thực hiện kế hoạch đột xuất do Trung ương giao, trong tháng 1-1975,
Tỉnh ủy đã cử một đoàn cán bộ vào nghiên cứu khu vực bãi Cát Tiên - nơi giáp
giới 3 tỉnh Bình Phước, Lâm Đồng và Long Khánh. Tại địa điểm này, đoàn công tác
đã nhận được sự giúp đỡ tận tình của đảng bộ và nhân dân địa phương, Đoàn đã
vạch ra kế hoạch để chuẩn bị lực lượng đi xây dựng vùng kinh tế mới ngay từ khi
miền Nam chưa được hoàn toàn giải phóng. Đảng bộ coi đây là một trong những
nhiệm vụ quan trọng của năm 1975, hạ quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm vụ của
Trung ương giao, thể hiện ý chí và tình cảm sâu sắc của nhân dân trong tỉnh đối
với sự nghiệp cách mạng chung của cả nước.
Việc tổ chức và động viên một lực lượng lao động lớn đi chiến đấu và xây
dựng kinh tế là một nhiệm vụ quan trọng của tỉnh. Hội nghị Tỉnh ủy lần thứ 12
đã xác định vị trí quan trọng của công tác này: “coi là một trong bốn vấn đề
mấu chốt của nhiệm vụ chính trị năm 1975 và hạ quyết tâm hoàn thành tốt nhiệm
vụ của Trung ương giao”(1). Với quyết tâm đó, ngay trong quý 1-1975, đảng bộ và
nhân dân trong tỉnh đã tiễn hơn 4 vạn con em của mình bổ sung cho tiền tuyến.
Đến 15-4-1975, toàn tỉnh đã hoàn thành vượt chỉ tiêu tuyển quân cả năm, đạt
115,49% và tuyển lao động đi xây dựng kinh tế vùng mới giải phóng ở miền Nam,
vượt 0,44%.
Trong không khí sôi sục của cuộc tổng tấn công và nổi dậy khắp miền Nam,
ngày 16-4-1975, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ đã ra Chỉ thị phát động phong trào quần
chúng Thi đua với miền Nam, mỗi người làm việc bằng hai, động viên
mọi tầng lớp nhân dân hăng hái lao động, hoàn thành vượt mức chỉ tiêu kế hoạch
Nhà nước năm 1975 .
Hưởng ứng phong trào thi đua, nhiều cơ quan và đơn vị công tác đã có phong
trào Giờ làm việc giải phóng miền Nam, thanh niên có phong trào Tình
nguyện vượt mức kế hoạch. Các hợp tác xã nông nghiệp đã bán cho
Nhà nước hơn 400 tấn vịt, đưa hàng ngàn tấn thóc tiết kiệm chi viện cho vùng
mới giải phóng ở miền Nam. Trong công tác thủy lợi có phong trào Nhớ công
ơn Bác Hồ và Mừng miền Nam đại thắng.
Ngày 30-4-1975, chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng, miền Nam được hoàn toàn
giải phóng, kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta. Đất
nước ta chuyển sang một thời kỳ mới, thời kỳ cả nước thống nhất cùng tiến lên
chủ nghĩa xã hội.
Trong không khí phấn khởi mừng ngày thống nhất đất nước, từ ngày 23 đến 28
tháng 6 năm 1975, Đại hội đảng bộ Nam Hà lần thứ III đã được tiến hành tại
thành phố Nam Định với sự tham gia của 402 đại biểu. Đại hội đã nhất trí khẳng
định những thành tựu đã đạt được từ 1972 - 1975 và nhấn mạnh: Trong tình hình
cách mạng mới, đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống
đoàn kết chiến đấu, phấn đấu vươn lên, khắc phục mọi khó khăn giành nhiều thắng
lợi lớn hơn trong sản xuất, chiến đấu, cùng cả nước tiến lên Chủ nghĩa xã hội.
Đại hội Đảng bộ Nam Hà lần thứ III đã bầu ra Ban Chấp hành mới gồm 37 ủy viên.
Đồng chí Phan Điền được tái cử chức vụ Bí thư Tỉnh ủy.
Ngày 22-12-1975, Tỉnh ủy Nam Hà đã tiến hành tổng kết công tác thương binh,
liệt sĩ và chính sách hậu phương quân đội trong những năm chống Mỹ, cứu nước
(1965 - 1975). Riêng địa bàn Hà Nam, Tỉnh ủy đã biểu dương các xã có tỷ lệ nhập
ngũ cao như Phù Vân (huyện Kim Bảng): 85% gia đình có người đi bộ đội; Liêm Cần
(huyện Thanh Liêm): 83%; Nhân Thắng (huyện Lý Nhân): 73%; Chuyên Ngoại (huyện
Duy Tiên): 73%. Nhiều gia đình có đông con cháu nhập ngũ như gia đình ông Thành
(xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên) có 7 con nhập ngũ; gia đình cụ Đỗ Thị Nguyệt (xã
Nguyên Lý, huyện Lý Nhân) có 16 con cháu vào bộ đội. Nhiều gia đình có 5 con là
liệt sĩ như gia đình cụ Trần Thị Tớn (xã Thanh Bình, huyện Thanh Liêm), gia
đình cụ Tạ Văn Liêm (xã Hoà Lý, huyện Lý Nhân). Trong quá trình giáo dục, động
viên người thân lên đường đánh Mỹ, các huyện Thanh Liêm, Lý Nhân được đánh giá
là những nơi liên tục hoàn thành nhiệm vụ. Các xã Liêm Cần, Thanh Hà (huyện
Thanh Liêm); Nhân Đạo, Nhân Hậu, Nguyên Lý (huyện Lý Nhân); Trác Văn (huyện Duy
Tiên); Phù Vân, Khả Phong (huyện Kim Bảng) đã được tặng thưởng Huân chương Lao
động về thành tích chính sách hậu phương quân đội.
Như vậy, từ năm 1975, đất nước ta bước sang giai đoạn cách mạng mới: cả
nước thống nhất cùng xây dựng chủ nghĩa xã hội. Lịch sử Hà Nam cũng bước sang
một giai đoạn mới - giai đoạn hợp nhất trong tỉnh lớn Hà Nam Ninh.
CHƯƠNG XIV:
HÀ NAM TRONG THỜI KỲ XÂY DỰNG CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI
MỚI (1975 ĐẾN NAY)
I. VƯỢT QUA KHÓ KHĂN, THỬ THÁCH, ĐẨY MẠNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HOÁ - XÃ
HỘI (1975 - 1985)
1. Thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ hai, góp phần bảo vệ biên giới Tổ quốc
(1975 - 1980)
Thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975 mà đỉnh cao
là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu
nước vĩ đại của dân tộc ta. Từ đây, đất nước ta bước sang một kỷ nguyên mới, kỷ
nguyên độc lập, thống nhất và vững bước tiến lên theo con đường chủ nghĩa xã
hội.
Chuyển sang thời kỳ mới, cùng với việc sắp xếp lại tổ chức hành chính các
địa phương, ngày 20/9/1975, Bộ Chính trị ra Nghị quyết số 245-NQ/TW về việc hợp
nhất hai tỉnh Nam Hà và Ninh Bình thành tỉnh Hà Nam Ninh. Ngày 27/12/1975, tại
kỳ họp thứ 2 khoá V, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã ra Nghị quyết
hợp nhất tỉnh Nam Hà và tỉnh Ninh Bình thành một tỉnh mới lấy tên là tỉnh Hà Nam
Ninh.
Việc thành lập một tỉnh Hà Nam Ninh đất rộng, người đông, nhiều tiềm năng
là một trong những điều kiện thuận lợi cho việc tập trung phát triển kinh tế,
văn hoá và khả năng tăng cường an ninh quốc phòng ở địa phương. Nhưng cũng như
các địa phương khác, Hà Nam Ninh vẫn còn nhiều khó khăn, đó là cơ sở vật chất
nghèo nàn, trình độ khoa học kỹ thuật và quản lý kinh tế còn thấp, hậu quả
chiến tranh nặng nề, thiên tai liên tiếp xảy ra, đời sống nhân dân còn chưa
được cải thiện.
Xuất phát từ những đặc điểm đó, Nghị quyết của Hội nghị lần thứ nhất Ban
chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh chỉ rõ: Hoàn thành quan hệ sản xuất theo
hướng tổ chức lại sản xuất và cải tiến quản lý từ cơ sở, tổ chức và phân bổ sức
lao động. Tiến hành cơ giới hoá nông nghiệp, đưa sản xuất nông nghiệp và công
nghiệp địa phương phát triển mạnh mẽ theo hướng đi lên hiện đại hoá. Đẩy mạnh
sản xuất và xuất khẩu. Tăng cường khả năng đóng góp, từng bước cải thiện đời
sống nhân dân, giữ gìn trật tự trị an. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng,
tạo điều kiện thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ II.
Quán triệt Nghị quyết 24 của Trung ương và thực hiện nhiệm vụ trọng tâm mà
Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ Hà Nam Ninh đã đề ra, Hà Nam Ninh
tập trung sức mạnh phấn đấu giành thắng lợi cao nhất trong “Chiến dịch Hà Nam
Ninh” trên mọi lĩnh vực.
Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp với trọng tâm là giải quyết tốt vấn đề
lương thực, thực phẩm, Hà Nam Ninh phát động phong trào thi đua tiến kịp và
vượt Hợp tác xã Hải Quang (1). Phong trào “Học tập và làm theo Hợp tác xã Hải
Quang” được dấy lên mạnh mẽ trong các hợp tác xã nông nghiệp ở Hà Nam. Các hợp
tác xã nông nghiệp ở các huyện Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên, Kim Bảng, Thanh
Liêm và thị xã Phủ Lý... đã tập trung lực lượng hoàn chỉnh thuỷ nông, xây dựng
lại trạm trại, tổ chức lại các hợp tác xã, mở rộng diện tích trồng hoa màu,
phát triển chăn nuôi, ứng dụng khoa học kỹ thuật để sản xuất thâm canh, tăng
vụ.
Do cấu tạo của địa hình, đất trồng trọt của Hà Nam luôn bị ảnh hưởng nặng
nề của thời tiết. Vùng trũng mới mưa đã ngập, vùng bán sơn địa chưa nắng đã
hạn, vì vậy đã ảnh hưởng rất lớn đến sản xuất nông nghiệp. Để khắc phục tình
trạng trên, các huyện của Hà Nam đã xác định công tác thuỷ lợi là hàng đầu.
Trong đó việc tổ chức các đội thủy lợi (đội 201, 202) được kiện toàn và hoạt
động có hiệu quả cao. Năm 1977, huyện Lý Nhân đã đào đắp được 212.626m3 nạo vét
41.110m3, xây dựng 9 cầu, 10 cống..., tưới tiêu cho 6.384ha; huyện Kim Bảng sửa
chữa nạo vét 68 công trình tưới tiêu, đào đắp 20.233m3..; huyện Bình Lục hoàn
thành kế hoạch thuỷ lợi, thuỷ nông 3 năm và được công nhận là một trong những
huyện thực hiện tốt công tác thuỷ lợi - thuỷ nông của tỉnh. Huyện Duy Tiên đào
đắp được 43.000m3, tu sửa 180 máy bơm, đưa diện tích tưới tiêu lên 15.500 mẫu
(2). Các huyện đã kết hợp thuỷ lợi với giao thông nông thôn, hàng chục cầu mới
phục vụ cho sản xuất, đời sống được xây dựng, góp phần tạo nên bộ mặt nông thôn
mới.
Trong thời gian này, đồng thời với việc tổ chức sắp xếp lao động tại chỗ,
từ đầu năm 1977 đến năm 1979, các huyện trong tỉnh còn tích cực vận động trăm
nghìn vạn lao động đi xây dựng vùng kinh tế mới và tham gia các công trình xây
dựng của cả nước. Riêng năm 1977, huyện Lý Nhân đã có 199 hộ (447 lao động),
huyện Bình Lục có 850 khẩu đi xây dựng vùng kinh tế mới.
Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV thành công, đầu năm 1978, đồng chí Lê
Duẩn - Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khoá IV đã
về thăm tỉnh Hà Nam Ninh. Sự kiện này đã tạo thêm nguồn sinh lực mới để Đảng bộ
và nhân dân Hà Nam Ninh nói chung và Hà Nam nói riêng thực hiện thắng lợi các
nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I, II. Cùng với nhân dân toàn tỉnh,
đảng bộ, nhân dân các huyện Bình Lục, Lý Nhân, Kim Thanh, Duy Tiên và thị xã
Phủ Lý... đã tích cực lao động sản xuất, giành được nhiều thành tích đáng kể.
Trong sản xuất nông nghiệp, năng suất, diện tích và sản lượng đều tăng. Năm
1979, năng suất lúa của các huyện đều cao. Thấp nhất là huyện Kim Thanh đạt
21,5 tạ/ha, cao nhất là huyện Lý Nhân, Duy Tiên đạt trên 26 tạ/ha, sản lượng
đạt gần 170.000 tấn, vượt từ 25 - 35% so với cùng kỳ năm 1978. Hàng trăm hợp
tác xã đã đạt mục tiêu 5 tấn/ha. Các huyện đã cung cấp cho Nhà nước hàng chục
nghìn tấn lương thực.
Thực hiện Nghị quyết 19/CP và 134/CP của Hội đồng Chính phủ, các huyện
trong tỉnh đều đẩy mạnh công tác điều tra năng lực sản xuất, quản lý lao động,
vật tư, tài chính, bố trí nâng dây chuyền sản xuất... làm cho công nghiệp địa
phương không ngừng tăng sản lượng và chất lượng sản phẩm. Giá trị tổng sản
lượng tiểu thủ công nghiệp của các huyện hàng năm đều cao và vượt kế hoạch. Năm
1976, sản lượng tiếu thủ công nghiệp của huyện Bình Lục đạt giá trị 5,2 triệu
đồng, huyện Thanh Liêm đạt 4,4 triệu đồng; đến năm 1979 Duy Tiên đạt 5,5 triệu
đồng và ba huyện Lý Nhân, Bình Lục, Kim Thanh đạt giá trị sản lượng từ 10 đến
19 triệu đồng. Bên cạnh đó, nhiều hợp tác xã nông nghiệp phát triển tiểu thủ
công nghiệp, đạt giá trị kinh tế từ 1,5 - 3 triệu đồng. Các ngành nghề truyền
thống của nhân dân được phát huy, góp phần sản xuất nhiều hàng tiêu dùng và
xuất khẩu.
Sự nghiệp giáo dục luôn được các cấp ủy Đảng, chính quyền quan tâm chỉ đạo,
nhân dân nhiệt tình tham gia nên phát triển cả về số lượng và chất lượng. Đến
năm 1979, ngành giáo dục mầm non đã thu hút được trên 50% số cháu trong độ tuổi
vào nhà trẻ, 60% đến lớp mẫu giáo. Giáo dục phổ thông phát triển nhanh và đồng
đều. Các huyện đã phổ cập cấp I, có huyện phổ cập cấp II, thu hút hầu hết các
cháu lớp 4 vào lớp 5 và trên 30% lớp 7 vào lớp 8, trên 50% cán bộ chủ chốt xã,
đảng viên và thanh niên tốt nghiệp văn hoá cấp II. Truyền thống hiếu học và
phong trào thi đua “Dạy tốt - Học tốt” thường xuyên được duy trì và phát triển.
Trong lúc nhân dân ta đang hăng hái lao động sản xuất nhằm thực hiện thắng
lợi Nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, thì ngày 17/2/1979 chiến
tranh biên giới phía Bắc xảy ra, ảnh hưởng trực tiếp đến tình hình kinh tế - xã
hội của đất nước nói chung, của tỉnh Hà Nam nói riêng. Một lần nữa nhân dân các
huyện của Hà Nam lại hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng, dấy lên phong trào “Tòng
quân đánh giặc, bảo vệ Tổ quốc”.
Tại địa phương, để chủ động phòng, đánh địch, các lực lượng vũ trang của
các huyện nhất là khu vực trọng điểm giao thông đường sắt, đường bộ đã tiến
hành xây dựng các cứ điểm bố phòng. Thực hiện nếp sống quân sự hoá, các lực
lượng dân quân, tự vệ, thanh niên trong các trường học tăng cường luyện tập
quân sự, sẵn sàng tham gia sư đoàn quân dự nhiệm của tỉnh, tạo thành một thế
trận nhân dân vững chắc. Các đợt tuyển quân đều vượt mức kế hoạch, tăng gấp 2 lần
so với năm cao nhất thời kỳ chống Mỹ. Các lực lượng vũ trang địa phương được bổ
sung kế hoạch, phương án an ninh quốc phòng, phù hợp với tình hình mới, sẵn
sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu.
Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đẩy mạnh. Các huyện
tăng cường giáo dục ý thức cảnh giác cách mạng trong nhân dân và lực lượng an
ninh, sẵn sàng đập tan các âm mưu phá hoại của bọn phản động. Hàng nghìn tổ
chức an ninh nhân dân, hàng trăm tổ bảo vệ cơ quan xí nghiệp được xây dựng,
huấn luyện. Các lực lượng an ninh đã chủ động tiến công, kiềm chế nhiều hoạt
động của bọn phản động lợi dụng đạo thiên chúa, lợi dụng vấn đề người Hoa... để
gây rối. Tất cả đã tạo thành thế trận an ninh toàn dân, góp phần giữ gìn đoàn
kết nội bộ, bảo vệ trật tự an toàn xã hội, đẩy lùi những diễn biến tiêu cực
trong các lĩnh vực kinh tế, đời sống, tạo điều kiện thuận lợi đẩy mạnh phát
triển sản xuất, xây dựng quê hương.
Các huyện đã tổ chức tốt các đợt bầu cử Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân
dân các cấp. Thực hiện Nghị quyết 228 của Bộ Chính trị và Chỉ thị 159 của Thủ
tướng Chính phủ, tất cả các huyện đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, học tập về dự
thảo bản Hiến pháp mới, tăng cường ý thức chấp hành pháp luật trong nhân dân.
Hoạt động của các tổ chức, đoàn thể trong giai đoạn này khá sôi nổi, phát
huy được vai trò nòng cốt trong các phong trào thi đua lao động sản xuất, tiết
kiệm, văn hoá, đời sống, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Đoàn
Thanh niên chú trọng giáo dục lý tưởng cộng sản cho đoàn viên thanh niên với
nội dung “Tuổi trẻ đất nước”, dấy lên khí thế cách mạng trong lĩnh vực khoa học
kỹ thuật, phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể” đã nêu cao ý thức làm chủ
của những người đoàn viên thanh niên trên mặt trận sản xuất. Hội Phụ nữ các cấp
đã tích cực động viên chị em phát huy tinh thần “Ba đảm đang”, hăng hái thi đua
trong phong trào “Người phụ nữ mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Hội Nông dân
tuy mới được thành lập nhưng cũng đã nhanh chóng ổn định tổ chức, xác định nội
dung hoạt động của các cấp hội theo hướng tập trung động viên tinh thần lao
động sản xuất, cấy hết diện tích, chăm sóc lúa tốt và thu hoạch nhanh gọn, tích
cực trồng màu và chăn nuôi tăng thêm thu nhập cho mỗi gia đình.
Mặt trận Tổ quốc được củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động. Thực hiện
chủ trương, chính sách của Đảng về “Tôn trọng tự do tín ngưỡng và không tín
ngưỡng”, Mặt trận các cấp đã tích cực hoạt động, góp phần tăng cường sự đoàn
kết, xây dựng tình làng nghĩa xóm tốt đẹp trong vùng có đồng bào theo đạo Thiên
Chúa.
2. Từng bước tháo gỡ khó khăn, phát triển kinh tế, văn hoá - xã hội (1981 -
1985)
Những năm đầu thập niên 1980, các huyện của Hà Nam triển khai thực hiện kế
hoạch 5 năm lần thứ 3, trong tình hình kinh tế đất nước cũng như của Hà Nam
Ninh có nhiều biến động, diễn biến phức tạp. Đó là những thiếu thốn về vật tư,
nguyên liệu, thực phẩm; sự bất ổn định trong giá cả, lộn xộn trong quản lý hàng
hoá, tài chính, tiền tệ; kinh doanh bị rối loạn, lạm phát phi mã. Thêm vào đó
là những khó khăn do thiên tai liên tục gây ra. Chỉ tính riêng năm 1984 hàng
nghìn hecta lúa mùa của ba huyện Bình Lục, Kim Bảng, Duy Tiên đang chín bị ngập
úng. Cơ sở vật chất của các ngành kinh tế - xã hội như nghề muối, đê điều, giao
thông, thuỷ lợi... bị thiệt hại nặng nề.
Những hậu quả nghiêm trọng của thiên tai và những khó khăn gay gắt về điều
kiện vật chất kỹ thuật trong sản xuất, xây dựng cũng như đời sống nhân dân đặt
ra cho các cấp ủy Đảng và nhân dân các huyện những nhiệm vụ nặng nề. Nhưng với
truyền thống yêu nước, ý thức tự lập tự cường, đoàn kết nhất trí, đảng bộ và
nhân dân các huyện đã ra sức đẩy mạnh sản xuất, thực hành tiết kiệm, giải quyết
những khó khăn trước mắt, bảo đảm đời sống của nhân dân lao động.
Thực hiện Thông báo số 22 ngày 21/10/1980 của Ban Bí thư Trung ương Đảng,
đảng bộ và chính quyền các huyện đã chỉ đạo cơ sở làm thử khoán sản phẩm đối
với cây lúa. Nhiều hợp tác xã của các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân, Kim
Bảng, Thanh Liêm đã tiến hành tốt việc khoán sản phẩm. Đặc biệt, sau khi có Chỉ
thị 100 CT/TW ngày 13/1/1981 “Về cải tiến công tác khoán, mở rộng khoán sản
phẩm đến nhóm lao động và người lao động trong hợp tác xã”, đảng bộ và chính
quyền các huyện đã nhanh chóng tuyên truyền và tổ chức thực hiện. Xã viên các
hợp tác xã vô cùng phấn khởi, coi đây là một phương thức hữu hiệu để thúc đẩy
tính chủ động sáng tạo trong sản xuất và phân phối đưa nông nghiệp phát triển
lên một bước mới thoát khỏi sự trì trệ, yếu kém. Đến hết quý I năm 1981, tất cả
các hợp tác xã nông nghiệp trong tỉnh đã cơ bản thực hiện xong việc khoán sản
phẩm cây lúa đến người lao động. Đồng thời tiến tới khoán sản phẩm cây màu và
một số ngành nghề khác trong nông nghiệp. Từ đó, tinh thần làm chủ, khí thế lao
động sản xuất ứng dụng kỹ thuật canh tác và sự đầu tư vào sản xuất của các hộ
xã viên được tăng lên. Công tác quản lý được cải tiến một bước, các huyện và
các cơ sở đã chủ động vươn lên trong chỉ đạo sản xuất và kinh doanh.
Do thực hiện chính sách khoán sản phẩm từ năm 1981 đến 1985, diện tích cây
lương thực ngày càng tăng do hệ số sử dụng đất tăng từ 1,5 lên 1,76 lần. Sản
lượng lương thực quy thóc năm sau cao hơn năm trước. Riêng huyện Kim Bảng tổng
sản lượng lương thực trong những năm 1981-1985 tăng hơn thời kỳ 1975 - 1980 đến
50%. Nhiều huyện có năng suất bình quân trên 5 tấn/ha như các huyện Thanh Liêm,
Duy Tiên. Bình quân lương thực theo đầu người đạt hơn 300kg.
Tuy nhiên, bước sang giai đoạn này sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn. Vật tư, nguyên liệu, năng lượng... thiếu trầm
trọng, nguồn cung ứng từ Trung ương về ngày càng giảm. Để đảm bảo kế hoạch sản
xuất, nhiều xí nghiệp và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp đã thực hiện Quyết
định 25 và 26 của Hội đồng Chính phủ tiến hành chấn chỉnh bộ máy, cải tiến quản
lý, chủ động khai thác nguyên vật liệu, tận dụng phế liệu, chuyển đổi mặt hàng
sản xuất... Vì vậy, về cơ bản đảm bảo việc làm và thu nhập cho người lao động.
Để từng bước tháo gỡ, đưa nền kinh tế đi lên, các huyện rất chú trọng công
tác xuất nhập khẩu. Với các mặt hàng chủ lực là đay, lạc, tỏi, vừng, các huyện
Kim Bảng, Lý Nhân, Duy Tiên... luôn hoàn thành vượt kế hoạch được giao. Hàng
năm đem về giá trị xuất khẩu từ 10 đến 15 triệu đồng.
Mặc dù còn có nhiều khó khăn về đời sống vật chất, song với truyền thống
của tỉnh “biết lo cái lo chung của cả nước”, nhân dân các huyện luôn luôn làm
tròn các nghĩa vụ được Trung ương giao. Những năm 1980 - 1982, bình quân lương
thực nhà nước huy động của tỉnh tăng 36,1%; trọng lượng thịt lợn hơi tăng 3,5%
so với 3 năm trước. Trong những năm 1983 - 1985 giá trị vật tư, hàng hoá địa
phương điều về Trung ương tăng 16,2% so với 3 năm 1980 - 1982. Huyện Lý Nhân và
thị xã Hà Nam dẫn đầu cả tỉnh Hà Nam Ninh về thực hiện thu ngân sách. Trong 5
năm (1980 - 1985), tỉnh đã tổ chức cho hàng nghìn người đi xây dựng các vùng
kinh tế mới, vừa góp phần giải quyết vấn đề dân số trong tỉnh, vừa góp phần
khai thác tiềm năng của đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Sự nghiệp giáo dục được duy trì và có chuyển hướng tích cực theo mục tiêu
cải cách giáo dục cơ bản. Đến năm 1985, tỉnh Hà Nam đã hoàn thành phổ cập văn
hóa cấp II cho cán bộ chủ chốt xã. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, giáo
viên được quan tâm, việc nâng cao trình độ đại học bằng hình thức tại chức được
mở rộng. Đặc biệt, với những thành tích đã đạt được trong sự nghiệp giáo dục,
năm 1988 Trường cấp II Bắc Lý được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao
động lần thứ nhất. Đây không chỉ là niềm vinh dự và tự hào của riêng nhà trường
mà còn là niềm vinh dự của ngành giáo dục, của Đảng bộ và nhân dân Hà Nam.
Ngành y tế của tỉnh duy trì và đẩy mạnh, cuộc vận động thực hiện phong trào
“5 dứt điểm” về y tế. Hai huyện Bình Lục, Duy Tiên được Bộ Y tế công nhận là
địa phương hoàn thành “5 dứt điểm”. Toàn tỉnh đã thực hiện việc “Đông Tây y kết
hợp” có hiệu quả trong công tác khám và chữa bệnh. Huyện Lý Nhân đạt doanh thu
trên 6 triệu đồng về sản xuất chế biến dược liệu phục vụ khám chữa bệnh cho
nhân dân.
Các hoạt động văn hoá, thông tin, văn học nghệ thuật, phát thanh, truyền
thanh, sáng tác, xuất bản báo chí đã có bước tiến bộ trong việc hướng về cơ sở,
phục vụ cơ sở, nhạy bén với cái mới, đáp ứng nhiệm vụ chính trị ở địa phương.
Năm 1983, Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh tiến hành Đại hội đại biểu lần thứ III.
Đại hội vạch ra phương hướng nhiệm vụ chính trị nhằm thực hiện thắng lợi Nghị
quyết Đại hội V của Đảng, đồng thời kiện toàn tổ chức đảm bảo năng lực lãnh đạo
hoàn thành nhiệm vụ đặt ra. Chất lượng đội ngũ đảng viên được nâng cao. Số đảng
viên có trình độ văn hoá cấp 3 tăng từ 23,8% (1982) lên 29,5% (1985), trình độ
sơ cấp lý luận chính trị tăng từ 31,4% lên 37,7%; trung cao cấp chính trị chiếm
5,62%. Số đảng bộ, chi bộ cơ sở đạt tiêu chuẩn vững mạnh, trong sạch từ 23,51%
năm 1982 đã tăng lên 49,64% năm 1985. Đó là những nhân tố cơ bản đảm bảo sự
phát triển của địa phương trong giai đoạn mới.
Khu Di tích lịch sử, văn hóa Cát Tường,
xã An Mỹ (Bình Lục). Ảnh: ĐT
II. HÀ NAM TRONG 15 NĂM ĐẦU THỰC HIỆN CÔNG CUỘC ĐỔI MỚI VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT
NƯỚC (1986 - 2000)
1. Bước đầu thực hiện đường lối đổi mới (1986 - 1990)
Mười năm (1975 - 1985) là một chặng đường đầy thử thách đối với nhân dân cả
nước nói chung và với nhân dân Hà Nam nói riêng. Trong bối cảnh tình hình trong
nước và quốc tế diễn biến phức tạp, kinh tế xã hội gặp những khó khăn gay gắt,
sản xuất tăng chậm, hiệu quả sản xuất chưa cao, phân phối lưu thông còn nhiều
lúng túng, đời sống nhân dân còn nghèo, các hiện tượng tiêu cực xảy ra nhiều
nơi, nhưng nhân dân Hà Nam đã phát huy truyền thống cách mạng kiên cường, từng
bước khắc phục khó khăn, phát huy thế mạnh, đạt được nhiều thành tựu quan
trọng.
Tháng 10 năm 1986, Đại hội Đảng bộ tỉnh Hà Nam Ninh lần thứ IV đã tập trung
trí tuệ, thảo luận đánh giá đúng thực trạng của địa phương, đề ra phương hướng
và nhiệm vụ cơ bản của tỉnh trong giai đoạn 1986 - 1990 là:
“-Từng bước ổn định tình hình kinh tế - xã hội trên cơ sở ổn định và phát
triển sản xuất, nhất là sản xuất nông nghiệp, đồng thời chú trọng phát triển
sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Nâng cao năng suất, hiệu quả các
hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng nhanh xuất nhập khẩu, mở rộng liên kết, hợp
tác và triệt để thực hiện tiết kiệm. Hình thành cơ cấu kinh tế và xác định cơ
cấu đầu tư hợp lý từ tỉnh đến cơ sở.
- Tiếp tục hoàn chỉnh, xây dựng, tăng cường quản lý, khai thác và đưa vào
sử dụng có hiệu quả các cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho sản xuất và đời
sống, nhất là cho thâm canh nông nghiệp, nâng cao chất lượng sản phẩm trong
công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, hàng hoá xuất khẩu. Biện pháp quan trọng là
phải đưa nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất cùng với việc củng cố,
hoàn thiện quan hệ sản xuất mới xã hội chủ nghĩa cần hình thành và thực hiện cơ
chế quản lý mới. Tập trung cố gắng giải quyết công ăn việc làm cho người lao
động, ổn định đời sống nhân dân”(l).
Đường lối phát triển kinh tế - xã hội mà Đại hội lần thứ IV Đảng bộ Hà Nam
Ninh đề ra trong giai đoạn 1986 - 1990 được tăng thêm nguồn sức mạnh bởi sự
thành công của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội toàn quốc Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã
làm việc với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, nghiêm khắc chỉ ra những sai
lầm, khuyết điểm. Đại hội VI đã vạch ra đường lối đổi mới quyết tâm đưa đất
nước tiến lên.
Những nghị quyết của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Đại hội tỉnh Đảng
bộ Hà Nam Ninh lần thứ IV thực sự là kim chỉ nam, nguồn động lực to lớn để nhân
dân Hà Nam vượt qua nhiều thử thách gay go quyết liệt, từng bước đưa công cuộc
đổi mới vào cuộc sống.
Trong thực hiện kế hoạch 5 năm (1986 - 1990) trên lĩnh vực kinh tế, do xác
định “nông nghiệp là mặt trận hàng đầu”, nên tất cả các huyện thị của Hà Nam
đều chú trọng đầu tư mọi nguồn lực cho nông nghiệp nhằm tạo nên bước chuyển
biến mạnh mẽ về cơ chế quản lý và tổ chức lao động. Nền nông nghiệp nước ta
thực sự chuyển biến từ khi thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khoá VI (tháng 10-1988) “Về đổi mới quản lý kinh tế nông
nghiệp”. Năng lực sản xuất nông nghiệp từng bước được giải phóng, tạo ra những
động lực mới cho sản xuất. Cùng với kinh tế tập thể là trụ cột, kinh tế hộ xã
viên được khẳng định, đã góp phần thúc đẩy nông nghiệp phát triển và xây dựng
nông thôn mới. Với đường lối chủ trương phát triển nông nghiệp theo hướng thâm
canh, chuyên canh và toàn diện, tập trung vào thâm canh lúa - nhất là vụ lúa
chiêm xuân, các huyện, xã của Hà Nam tiếp tục củng cố, mở rộng vùng thâm canh.
Đặc biệt, các hợp tác xã đã chú trọng ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào
sản xuất, được khuyến khích nhất là đổi mới cơ cấu giống, cơ cấu mùa vụ, kết
hợp với việc áp dụng các biện pháp thâm canh, xen canh, đa dạng hoá các loại
cây trồng, vật nuôi.
Trong những năm 1986 - 1990, tuy thời tiết không thuận, thiên tai thường
xảy ra, sâu bệnh phát triển, nhưng nhờ có nhiều chủ trương, chính sách điều
chỉnh sát hợp với tình hình thực tế, nên đã tạo điều kiện cho các tầng lớp nhân
dân nâng cao năng suất, hiệu quả lao động và tính làm chủ của mình trên diện
tích được giao. Do vậy, sản xuất nông nghiệp của địa phương đã đạt được những
thành tựu rất đáng tự hào.
Trong sản xuất lương thực, cây lúa được coi là quan trọng nhất đối với các
huyện, thị. Diện tích gieo trồng ngày càng được mở rộng. Huyện Duy Tiên nếu
trong năm 1985, diện tích canh tác là 12.702 ha thì đến 1988 là 12.850 ha;
huyện Bình Lục năm 1985 là 24.298 ha đến 1990 là 24.930 ha. Năm 1988, thị xã Hà
Nam có 773 ha; huyện Kim Bảng 16.676 ha... Do việc mở rộng diện tích, sản lượng
lương thực tăng lên đáng kể. Đến cuối năm 1989, sản lượng lương thực của huyện
Bình Lục là 71.055 tấn, huyện Duy Tiên: 53.91 tấn, huyện Kim Bảng: 39.000 tấn,
huyện Lý Nhân: 43.600 tấn, thị xã Hà Nam: 1.800 tấn, huyện Thanh Liêm: 47.675
tấn. Năng suất trồng trọt ngày càng cao đã góp phần đưa sản lượng lương thực
của cả tỉnh Hà Nam Ninh vượt con số 1 triệu tấn trong năm 1989.
Bên cạnh cây lúa là chủ đạo, các cây lương thực khác như ngô, khoai cũng
không ngừng được coi trọng phát triển, tăng cả về diện tích, năng suất và sản
lượng. Huyện Kim Bảng có diện tích ngô là 1.300 ha, huyện Duy Tiên có 4.100 ha,
đạt sản lượng 8.660 tấn (ngô 3660 ha, sản lượng 1.400 tấn; khoai tây 800 ha,
sản lượng 2.600 tấn...). Vì vậy, mặc dù dân số tăng nhưng lương thực bình quân
đầu người huyện Bình Lục vẫn đạt mức cao là 403kg/người.
Đi đôi với việc trồng cây lương thực, các cây công nghiệp cũng được phát
triển, tạo ra những nét mới trong thay đổi cơ cấu cây trồng: huyện Duy Tiên có
diện tích 200 ha trổng mía, 600 ha đay, 113 ha lạc, 55 ha đậu tương. Huyện Lý
Nhân có 523 ha mía, thị xã Hà Nam có 80 ha lạc v.v... Năng suất và sản lượng cây
công nghiệp đều tăng, góp phần tăng thêm nguồn hàng xuất khẩu để từ đó tăng
nguồn thu ngân sách xây dựng địa phương và tăng thu nhập cho người lao động.
Trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, các cấp uỷ Đảng và
chính quyền các huyện đã chỉ đạo cơ sở không chỉ chuyển dịch cơ cấu cây trồng
mà còn khuyến khích phát triển vật nuôi, đưa chăn nuôi trở thành một ngành sản
xuất chính phù hợp với nền kinh tế hàng hoá. Năm 1988, huyện Duy Tiên có tổng
đàn lợn 32.000 con (trong đó lợn thịt là 26.640 con), đàn trâu có 3.500 con,
đàn bò có 2.600 con; huyện Bình Lục năm 1990 có tổng đàn lợn là 54.734 con,
4.150 con trâu, 4.924 con bò; huyện Kim Bảng năm 1989 có 29.000 con lợn, 2.500
con trâu, 2.500 con bò; thị xã Hà Nam có 3.802 con lợn, 301 con trâu, bò; huyện
Lý Nhân có 40.000 con lợn v.v...(1) Ngoài ra chăn nuôi gà, vịt... nuôi cá cũng
đạt nhiều hiệu quả. Năng suất, chất lượng các loài gia súc, gia cầm ngày càng
cao và ổn định, góp phần làm thay đổi cơ cấu vật nuôi trong chăn nuôi ở vùng
nông thôn.
Trong quá trình chuyển đổi cơ chế từ quan liêu bao cấp sang hạch toán kinh
doanh, sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp có nhiều bỡ ngỡ nhưng cũng
đã có được những chuyển biến tích cực. Từ năm 1988, các xí nghiệp quốc doanh,
hợp tác xã thủ công nghiệp đều tiến hành sắp xếp lại sản xuất, đổi mới quản lý,
công nghệ, hướng mục tiêu sản xuất vào phục vụ 4 chương trình kinh tế là lương
thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu. Một số mặt hàng mới như đay
xe, thịt đông lạnh, bia, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ... chiếm lĩnh dần dần
thị trường, từng bước làm thay đổi mặt hàng công nghiệp. Bên cạnh đó, các hình
thức liên doanh, hợp tác liên kết trong sản xuất giữa công nghiệp trung ương,
công nghiệp địa phương và hợp tác xã thủ công nghiệp đã có nhiều chuyển biến
tốt, giải quyết việc làm, góp phần làm tăng sản phẩm cho xã hội, ổn định đời
sống người lao động.
Kinh tế ngoài quốc doanh đã có bước phát triển ban đầu, thu hút được nhiều
lao động, sản xuất được nhiều mặt hàng phục vụ sản xuất và đời sống, góp phần
làm tăng sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp địa phương. Năm 1987, giá trị
tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp của các huyện đều đạt và vượt mức kế hoạch,
thấp nhất là huyện Kim Bảng cũng đạt 108,23%, cao nhất là huyện Duy Tiên đạt
138,44%. Năm 1988 giá trị tổng sản lượng tiểu thủ công nghiệp của các huyện,
thị đạt 376.983.000 đồng, đến 1989 đã lên tới 593.715.000 đồng. Có được thành
tựu đó là do các cơ sở đã áp dụng nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát huy
sáng kiến, tiết kiệm vật tư, nguyên liệu sản xuất, đa dạng hoá các mặt hàng
như: phương pháp cải tiến sàng rung rửa đá granito của Hợp tác xã Trường Thành,
cắt ống sợi khô của Hợp tác xã Hồng Thái..., các mặt hàng mới như xẻ gỗ ván
sàn, kẹo vừng xốp, rượu xuất khẩu, bia Phủ Lý... đã có chỗ đứng trên thị
trường. Trong thời gian này đã xuất hiện một mô hình liên kết sản xuất mới là
sự kết hợp chặt chẽ giữa nông nghiệp và tiểu thủ công nghiệp mà nòng cốt là các
hợp tác xã thủ công nghiệp song mây Thống Nhất, hợp tác xã Dệt thảm Đồng Tâm
(huyện Duy Tiên), hợp tác xã cơ khí dũa An Đổ (huyện Bình Lục). Do có trình độ
kỹ thuật cao, Hợp tác xã song mây Thống Nhất đã được tín nhiệm giao tái tạo,
phục chế toàn bộ trang trí nội thất bằng mây ở nhà sàn của Bác Hồ tại Phủ Chủ
tịch.
Chương trình hàng xuất khẩu trong điều kiện thị trường có nhiều biến động
phức tạp, nhất là thị trường truyền thống tại các nước xã hội chủ nghĩa bị thu
hẹp, nhưng hoạt động ngoại thương đã vượt qua những khó khăn, cố gắng tìm kiếm,
mở rộng thị trường để đẩy mạnh kinh doanh xuất nhập khẩu. Một số sản phẩm tăng
khá như áo dệt kim, hàng thêu, khăn tắm, khoai tây, lạc. Nhưng một số mặt hàng
truyền thống lại bị giảm như long nhãn, đay tơ. Hàng nhập khẩu đã góp phần quan
trọng vào việc cân đối một số vật tư, hàng hoá phục vụ sản xuất, đời sống của
nhân dân. Năm 1988, giá trị hàng xuất khẩu của huyện Bình Lục chẳng hạn, đạt
hơn 132 triệu đồng.
Từ năm 1988 trở về trước, thương nghiệp quốc doanh đã góp phần đáp ứng yêu
cầu hàng hoá của xã hội. Thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, từ năm 1987, Tỉnh uỷ
Hà Nam Ninh đã ra nghị quyết về chuyển hoạt động thương nghiệp quốc doanh sang
hạch toán kinh doanh theo cơ chế thị trường, gắn với việc sắp xếp lại tổ chức
thương nghiệp. Nhưng do chịu ảnh hưởng sâu nặng của thời kỳ bao cấp, thương
nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán vẫn chưa thích nghi được với cơ chế
kinh tế nhiều thành phần, nhiều đơn vị bị thua lỗ kéo dài, không còn đủ khả
năng hoạt động đã phải giải thể.
Trong khi đó, thương nghiệp tư nhân phát triển, chiếm lĩnh phần lớn khâu
bán lẻ và cả một phần khâu bán buôn, do vậy mà tỷ trọng thương nghiệp ngoài
quốc doanh trong tổng mức bán lẻ xã hội từ 52% năm 1985 đã tăng lên 68,3% năm
1991.
Hoạt động tài chính, ngân hàng bước đầu đã chuyển theo cơ chế mới, cố gắng
tạo thêm nguồn thu cho ngân sách và huy động các nguồn vốn, nhất là vốn tiết
kiệm trong dân cư, để đầu tư cho mục tiêu kinh tế - xã hội, đảm bảo các yêu cầu
chi thiết thực cần thiết, góp phần khống chế lạm phát chung.
Đầu tư xây dựng cơ bản được tập trung cho 4 chương trình kinh tế - xã hội,
trong đó chú trọng đầu tư cho những công trình phục vụ sản xuất nông nghiệp như
xây dựng các trạm bơm và tăng cường thiết bị cho hệ thống các trạm bơm lớn.
Đồng thời, tỉnh cũng tập trung đầu tư khai thác khu kinh tế mới, mở rộng mạng
lưới điện, xây dựng các xí nghiệp ươm tơ, se đay, may mặc... Đầu tư củng cố,
xây dựng kết cấu hạ tầng về giao thông và các công trình phúc lợi cũng được
tỉnh đặc biệt chú ý. Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong năm
1988, các huyện Thanh Liêm, Kim Bảng, Bình Lục, thị xã Hà Nam và một số xã của
các huyện Lý Nhân và Duy Tiên được ngành Giao thông Vận tải Hà Nam Ninh công
nhận và khen ngợi đã làm tốt giao thông nông thôn (1).
Công tác an ninh và quốc phòng được giữ vững, tạo ra sức mạnh tổng hợp để
giữ gìn an ninh và bảo vệ vững chắc Tổ quốc XHCN. Thực hiện Chỉ thị 135 của Hội
đồng Bộ trưởng, Hà Nam đã liên tục mở nhiều đợt phát động phong trào quần chúng
phòng ngừa, tấn công tội phạm, lấy lực lượng công an, bộ đội làm nòng cốt nên
trật tự an toàn xã hội có bước chuyển biến; xuất hiện nhiều điển hình tiên
tiến, nhiều gương chiến đấu dũng cảm trong lực lượng công an và nhân dân.
Về công tác quốc phòng, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng và của
Quân khu III, đảng bộ và chính quyền đã xây dựng và triển khai kế hoạch “Xây
dựng tỉnh Hà Nam Ninh thành khu vực phòng thủ vững chắc”. Các cuộc diễn tập
quân sự hàng năm của lực lượng vũ trang đều đạt kết quả tốt. Qua thực tế hoạt
động, đảng bộ có thêm nhiều kinh nghiệm trong xây dựng và chống phá chiến tranh
nhiều mặt của các thế lực thù địch. Nhờ đó, thế trận chiến tranh nhân dân ở địa
phương được củng cố và giữ vững.
Những thành tựu bước đầu trong quá trình thực hiện đường lối đổi mới của
Đảng đã đem lại sự khởi sắc mới trên các lĩnh vực kinh tế - xã hội ở địa
phương. Cơ chế tập trung quan liêu bao cấp từng bước bị xóa bỏ, tạo điều kiện
thuận lợi để phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Cơ cấu kinh tế và cơ cấu
đầu tư có sự chuyển biến theo hướng tập trung vào 4 chương trình kinh tế - xã
hội mà Đảng và Chính phủ đề ra. Các hoạt động khoa học kỹ thuật, văn hoá, xã
hội, y tế được đẩy mạnh. Đời sống nhân dân ổn định và từng bước được cải thiện.
Những thành tựu đạt được, tạo tiền đề hết sức quan trọng cho nhân dân trong
tỉnh tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã
hội trong giai đoạn tiếp theo.
2. Phát huy thắng lợi bước đầu, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - xã hội
(1991 - 1996)
Sau 5 năm (1986 - 1990), thực hiện đường lối đổi mới do Đại hội VI Đảng
Cộng sản Việt Nam đề ra, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam Ninh nói chung và Hà Nam
nói riêng đã giành được những thành tựu đáng tự hào và cũng rút ra nhiều bài
học kinh nghiệm quý báu trên con đường đưa sự nghiệp đổi mới vào cuộc sống.
Năm 1991 - năm mở đầu kế hoạch 5 năm (1991 - 1995), chào mừng Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ VII cũng là năm Quốc hội quyết định chia tách tỉnh Hà Nam
Ninh thành hai tỉnh: Nam Hà và Ninh Bình.
Ngày 26/12/1991, tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa
Việt Nam khóa VIII đã phê chuẩn Nghị quyết tách tỉnh Hà Nam Ninh thành hai tỉnh
Nam Hà và Ninh Bình. Sau 16 năm sap nhập, đến đây, ngày 1/4/1992, tỉnh Nam Hà
bao gồm Hà Nam và Nam Định lại trở về nguyên trạng như trước năm 1976.
Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà lần thứ VIII đã thông qua báo cáo chính trị và
những mục tiêu kinh tế - xã hội trong thời gian tới và đã định ra phương hướng,
nhiệm vụ như sau: “Tiếp tục thực hiện đổi mới toàn diện các hoạt động kinh tế -
xã hội theo tinh thần Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ VII nhằm phát huy cao
độ truyền thống cách mạng đoàn kết, phấn đấu, tập trung khai thác tiềm năng của
tỉnh, giải phóng triệt để mọi năng lực sản xuất, đẩy mạnh phát triển sản xuất
hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, lấy phát triển sản
xuất nông nghiệp toàn diện gắn với công nghiệp chê biến là nhiệm vụ hàng đầu
làm cơ sở cho phát triển công nghiệp và xuất khẩu” (1).
Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà lần thứ VIII, từ 1992
đến năm 1996, các cấp ủy Đảng, chính quyền và nhân dân Hà Nam đã vượt qua nhiều
khó khăn thử thách, vươn lên giành những thắng lợi mới trong thời kỳ mới.
Do nhận thức đầy đủ về vị trí, vai trò sản xuất nông nghiệp của địa phương
có gần 90% dân số là nông dân và quyết tâm đẩy mạnh công cuộc đổi mới của Đảng,
các cấp ủy Đảng, chính quyền đã tập trung lãnh đạo và tổ chức phát triển sản
xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, kiên quyết chỉ đạo đổi mới quản
lý nông nghiệp. Từ 1992, khi Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Nam Ninh ra Quyết định số
115/QĐ-UB thực hiện giao quyền sử dụng ruộng đất lâu dài cho nông dân đã tạo ra
một động lực mới trong sản xuất nông nghiệp. Do có chủ trương và biện pháp đúng
đắn, phù hợp với tâm tư nguyện vọng của người nông dân cho nên trên lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp, Hà Nam luôn đạt mức tăng trưởng khá và tương đối toàn
diện. Đặc biệt là sản xuất lương thực có tốc độ tăng nhanh cả về diện tích,
năng suất và sản lượng.
Năm 1991, toàn tỉnh Nam Hà có tổng diện tích lúa là 223.867 ha, năng suất
đạt 64 tạ/ha, sản lượng đạt 721.282 tấn, trong đó vùng Hà Nam có 38.065 ha
chiếm hơn 17% diện tích toàn tỉnh; năng suất đạt 46,16 tạ/ha, sản lượng đạt
172.702 tấn (chiếm hơn 23%).
Về chăn nuôi, chỉ tính riêng đàn lợn, tỉnh Nam Hà có 548.400 con, trong đó
vùng Hà Nam có 188.800 con, chiếm 34,4%(l).
Thành tích của các huyện, thị trên lĩnh vực nông nghiệp như bảng sau đây:
STT Huyện thị Diện tích trồng lúa Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) Chăn
nuôi lợn (con)
1 TX. Hà Nam 251 46,02 994 4.000
2 Bình Lục 10.974 47,84 52.676 50.900
3 Duy Tiên 6.559 53,56 34.865 28.800
4 Kim Bảng 6.180 41,30 25.678 33.000
5 Lý Nhân 6.910 41,48 28.791 29.400
6 Thanh Liêm 6.561 46,76 29.698 44.600
Trong năm 1992 là năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ
VII và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Hà lần thứ VIII, sản xuất lương thực
và chăn nuôi của Hà Nam đã có chuyển biến vượt bậc.
Toàn tỉnh đã gieo trồng 228.961 ha lúa, năng suất đạt 8,2 tấn/ha, sản lượng
đạt 943.950 tấn; trong đó vùng Hà Nam có sản lượng 248.648 tấn (chiếm gần
26,5%), năng suất đạt 6,389 tạ/ha. Vượt kế hoạch thấp nhất là thị xã Hà Nam
cũng đạt 136,6%, cao nhất là huyện Duy Tiên đạt 150%. Đàn lợn cả năm của Nam Hà
có 572.500 con, trong đó vùng Hà Nam có 198.600 con, chiếm 24,7%(1).
Cụ thể như sau:
STT Huyện thị Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn) Chăn nuôi lợn
(con)
1 TX. Hà Nam 63,36 1.378 4.300
2 Bình Lục 68,00 75.973 52.100
3 Duy Tiên 69,82 52.617 28.600
4 Kim Bảng 58,88 36.428 33.300
5 Lý Nhân 64,68 41.335 45.100
6 Thanh Liêm 58,60 40.917 35.200
Trong các năm tiếp theo, sản xuất nông nghiệp luôn có mức tăng trưởng cao:
huyện Lý Nhân năm 1994 tuy vụ mùa bị thiên tai, 100% diện tích lúa bị úng,
56,5% bị ngập trắng, nhưng sản lượng lúa cả năm vẫn đạt 45.202 tấn, đàn lợn có
50.300 con; huyện Thanh Liêm đạt sản lượng 36.960 tấn, đàn lợn có 36.000 con;
riêng huyện Bình Lục từ 1991 đến 1995 bình quân sản lượng hàng năm đều đạt
84.909 tấn (78.522 tấn lúa). Năm 1995, sản lượng lương thực huyện Bình Lục đạt
111.609 tấn, vượt 24% kế hoạch tỉnh giao; chăn nuôi lợn đạt 69.160 con; 657 con
trâu, bò. Sản lượng lương thực năm 1995 của thị xã Hà Nam là 2.285 tấn (1.794,5
tấn lúa) (2).
Đến cuối năm 1996, trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, Hà Nam đạt giá trị
tổng sản lượng là 960,84 tỷ đồng. Trong đó sản xuất lương thực đạt kết quả rất
đáng tự hào. Tổng diện tích gieo trồng là 70.908,5 ha, năng suất đạt 76 tạ/ha,
sản lượng quy ra thóc là 319.435 tấn. Bình quân lương thực đạt 402 kg/người.
Ngoài lúa là chủ đạo, các cây trồng khác như ngô, đậu, lạc... đều tăng trưởng:
Năm 1994, huyện Lý Nhân trồng được 1.200 ha ngô; khoai lang và khoai tây 800
ha; huyện Bình Lục trồng ngô đông được 850 ha, khoai lang 900 ha...(1). Diện
tích năng suất và chủng loại cây hoa màu, nhất là cây vụ đông của tất cả các
huyện thị đều năm sau cao hơn năm trước. Cùng với trồng trọt, chăn nuôi gia
súc, gia cầm cũng từng bước chuyển dịch sang sản xuất hàng hóa. Đàn lợn hàng
năm tăng từ 3 - 5%, đàn trâu bò được giữ vững. Các diện tích ao, hồ đều được
tận dụng tốt để nuôi trồng thủy sản.
Công tác thủy lợi, phòng chống lụt, bão được quan tâm. Hàng nghìn cây tre
được trồng bảo vệ các tuyến đê, các công trình thủy lợi. Hàng triệu mét khối
đất được đào đắp, nạo vét, hàng chục nghìn mét khối đá được dùng để kè kênh
mương, bờ đê,... Chỉ tính riêng huyện Lý Nhàn năm 1995 đã đào đắp, nạo vét được
16.900m3 đất, 19.284m3 đá kè kênh mương; huyện Thanh Liêm 187.000m3. Trong năm
1996, một công trình thủy lợi lớn của Hà Nam được đưa vào sử dụng là công trình
trạm bơm Đinh Xá phục vụ tưới tiêu cho vùng trọng điểm lúa Bình Lục(2).
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp từ 1991 đến
1996, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguyên liệu, vật tư..., nhưng một số sản
phẩm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp vẫn được giữ vững; một vài cơ sở có bước
phát triển tốt. Một số mặt hàng thủ công truyền thống nổi tiếng như thêu Thanh
Hà, đá Kiện Khê (huyện Thanh Liêm), dũa An Đổ (huyện Bình Lục), hàng tre đan
Ngọc Động, dệt sợi Đại Thành có sản phẩm nổi tiếng cả trong và ngoài tỉnh.
Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1996 đạt 286,75 tỷ đồng. Trong đó công
nghiệp trung ương đạt 19 tỷ 110 triệu, công nghiệp địa phương đạt 267,64 tỷ
đồng (Công nghiệp quốc doanh cả trung ương và địa phương đạt 71,6 tỷ đồng, công
nghiệp ngoài quốc doanh đạt 215,15 tỷ). Một số huyện, thị có giá trị công
nghiệp, tiểu công nghiệp như sau: huyện Bình Lục năm 1995 là 1.800 triệu, chiếm
20% tổng giá trị; huyện Thanh Liêm đạt 6.090 triệu; huyện Lý Nhân đạt 12.000
triệu đồng.
Trong thời gian này, xuất hiện các doanh nghiệp tư nhân (bao gồm 9 cơ sở
thu hút gần 400 lao động), trong đó có một số doanh nghiệp do đảng viên đứng ra
tổ chức sản xuất kinh doanh các ngành nghề thủ công, xây dựng cơ bản, vật
liệu...
Do vị trí quan trọng của giao thông trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng
hóa phát triển, trong những năm 1991-1996 ở Nam Hà đã dấy lên phong trào làm
đường giao thông nông thôn. Phong trào được sự đồng tình và ủng hộ của mọi tầng
lớp nhân dân, do vậy chỉ trong một thời gian ngắn, các trục đường liên thôn,
liên xã được cải tạo, mở rộng, nâng cấp. Năm 1995, Nam Hà được công nhận là đơn
vị điển hình của toàn quốc trên lĩnh vực này: 100% số xã có đường ôtô đến trung
tâm xã; 1,5% số hộ có điện thoại. Năm 1995 thị xã Hà Nam đã cải tạo, nâng cấp
nhựa hóa 6 đoạn đường chính trong nội thị, nâng cấp đường đá, ngõ nội phường,
nội xã với một diện tích lên đến 21.372 m2; huyện Thanh Liêm rải đá cấp phối
đường liên xã được 16.900m, đường thôn xóm được 39.700m... với tổng vốn đầu tư
(năm 1995) là 2,5 tỷ đồng; huyện Lý Nhân 9 tháng đầu năm 1994 đã rải đá được
27km đường giao thông; huyện Bình Lục có 258/315 thôn, xóm đã hoàn chỉnh đường
giao thông nông thôn. (Trong phong trào này, các tầng lớp nhân dân của huyện đã
tích cực đóng góp được 17.920 triệu đồng, chiếm 91,8% tổng kinh phí đầu tư làm
đường giao thông nông thôn của huyện) (1).
Các hoạt động thương mại, dịch vụ, xây dựng cơ bản, tài chính, ngân hàng
cũng có những tiến bộ đáng kể. Trong năm 1996 đã đầu tư 365 tỷ đồng xây dựng cơ
bản. Huy động vốn đạt 95 tỷ, đầu tư tín dụng đạt 388 tỷ. Do đó, các công trình
trọng điểm, kết cấu hạ tầng được xây dựng đã và đang phát huy tác dụng tạo đà
cho những bước phát triển tiếp theo.
Sự nghiệp giáo dục - đào tạo có bước phát triển mới cả về quy mô và chất
lượng. Hà Nam luôn giữ vững và phát huy được truyền thống hiếu học, “dạy tốt và
học tốt”. Năm 1994 - 1995, sự nghiệp giáo dục - đào tạo ở Hà Nam đã góp phần
đáng kể vào thành tích chung của tỉnh, đưa ngành giáo dục - đào tạo của Nam Hà
trở thành đơn vị dẫn đầu toàn quốc về các chỉ tiêu thi đua, là lá cờ đầu toàn
ngành, nhiều năm liền là đơn vị dẫn đầu ngành giáo dục toàn quốc. Số người đi
học bình quân mỗi năm tăng 4,6%, đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học. Việc
xây dựng cơ sở vật chất cho nhà trường và công tác xã hội hóa giáo dục được cấp
ủy, chính quyền và nhân dân quan tâm, đồng tình thực hiện, ở Hà Nam, huyện
Thanh Liêm có 60% số xã có trường cao tầng; xây dựng mới trường Phổ thông trung
học Lý Nhân; thị xã Phủ Lý đầu tư 300 triệu đồng xây dựng thêm 8 phòng học cao
tầng... (1).
Công tác quốc phòng, an ninh được các cấp ủy Đảng, chính quyền chú trọng.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3, công tác giáo dục, tuyên truyền nâng cao ý
thức cảnh giác cách mạng cho mọi tầng lớp nhân dân được đẩy mạnh. Các mô hình
tự quản được xây đựng như: phong trào tự quản ở các cơ quan, xí nghiệp; phong
trào “thôn xóm bình yên, gia đình hòa thuận” ở nông thôn, “xứ họ đạo và gia
đình giáo dân tiên tiến” (ở vùng công giáo) được xây dựng và phát triển. Với
tất cả những cố gắng trong lĩnh vực quốc phòng an ninh nên trong những năm qua,
mặc dù các thế lực thù địch và các phần tử xấu tăng cường hoạt động, cùng với
tác động mặt trái của cơ chế thị trường làm nảy sinh nhiều phức tạp, nhưng an
ninh chính trị vẫn được giữ vững, trật tự an toàn xã hội có chuyển biến tiến
bộ, góp phần vào việc phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.
Bốn năm liên tục xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội theo đường lối đổi
mới của Đảng đã tạo ra những thuận lợi cơ bản để Hà Nam tiếp tục tiến lên.
Nhưng trên con đường đó cũng bộc lộ nhiều khó khăn, bất cập... Tiềm năng của
tỉnh chưa được khơi dậy, thiếu sự năng động để thúc đẩy kinh tế phát triển,
tình hình kinh tế nhìn chung vẫn còn sức ỳ lớn, đặc biệt là chưa tạo được những
ngành công nghiệp mũi nhọn cho địa phương.
Cơ cấu kinh tế chuyển biến chậm, công nghiệp và xây dựng mới chiếm 19% GDP,
ngành nghề thủ công truyền thống đứng trước khó khăn gay gắt. Trong nông
nghiệp, tỷ trọng chăn nuôi mới đạt xấp xỉ 30% giá trị, tỷ suất hàng hóa thấp.
Thương mại quốc doanh trong sự cạnh tranh của cơ chế thị trường đã bộc lộ rõ sự
yếu kém, tốc độ tăng trưởng GDP chậm, chưa ổn định...
Tuy vậy, với tinh thần kiên trì, tự lực phấn đấu, quyết tâm đưa đường lối
của Đảng, chính sách của Nhà nước vào cuộc sống, Đảng bộ và nhân dân Hà Nam đã
tạo bước chuyển biến quan trọng về kinh tế - xã hội, đời sống nhân dân được cải
thiện, nâng cao. Cơ sở vật chất và kết cấu hạ tầng được đầu tư xây dựng, nông
thôn Hà Nam đang khởi sắc... Những thành tựu đạt được trong 4 năm qua đã tạo ra
thế và lực để quân và dân Hà Nam tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp cách mạng trong
những năm cuối của thế kỷ XX và đầu thế kỷ XXI
3. Tỉnh Hà Nam được tái lập và tiếp tục thực hiện đường lối đổi mới, phát
triển kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa (1997 - 2000)
Qua hơn 10 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng, cùng với cả nước, Hà
Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trên nhiều lĩnh vực. Nền
kinh tế của tỉnh đã thoát khỏi khủng hoảng, đi vào ổn định và có hướng phát
triển tốt. Quan hệ sản xuất được củng cố, lực lượng sản xuất phát triển. Đặc
biệt sản xuất nông nghiệp có bước tiến nhảy vọt về năng suất, tổng sản lượng...
Đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Những kết quả đó khẳng định đường lối
đổi mới đúng đắn của Đảng chính là sức mạnh để các cấp bộ Đảng, quân dân Hà Nam
vững bước vào thời kỳ cách mạng mới: Thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước mà Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII đã đề ra.
Để thực hiện thắng lợi công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành cải cách nền hành chính, phát huy dân chủ,
nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý của chính quyền địa phương. Tại kỳ họp
thứ 10 ngày 6/11/1996, Quốc hội khóa IX đã ra Nghị quyết phê chuẩn tách tỉnh
Nam Hà thành 2 tỉnh Nam Định và Hà Nam. Như vậy là sau 32 năm hợp nhất, ngày
1/1/1997, tỉnh Hà Nam được tái lập. Đây là một sự kiện quan trọng đối với Đảng
bộ và quân dân trong tỉnh, mở ra một thời kỳ phát triển mới với nhiều thuận lợi
và cũng không ít khó khăn.
Thuận lợi: Hà Nam nằm ở phía Nam thủ đô Hà Nội, có trục đường giao thông
Bắc - Nam chạy qua, mở rộng giao lưu, hợp tác với các vùng, các trung tâm kinh
tế lớn của đất nước, thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội. Đất đai của
tỉnh đa dạng, có đồng bằng, bãi bồi, đồi núi thuận tiện cho phát triển sản xuất
nông nghiệp với nhiều loại sản phẩm. Tài nguyên tương đối phong phú đặc biệt là
đá vôi và đất sét với trữ lượng hàng tỷ mét khối. Đây là điều kiện thuận lợi để
phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Trải qua ngót 20 năm thực
hiện công cuộc đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân
dân từng bước được nâng cao, tình hình an ninh chính trị được giữ vững. Đó là
động lực quan trọng để xây dựng Hà Nam thành một tỉnh giàu về kinh tế, mạnh về
quốc phòng, an ninh cùng cả nước thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
minh.
Khó khăn: Hà Nam là tỉnh thuần nông thuộc địa bàn vùng chiêm trũng, công
nghiệp địa phương còn nhỏ bé; thương mại, xuất khẩu, dịch vụ du lịch chưa phát
triển. Xuất phát điểm về kinh tế rất thấp. Kết cấu hạ tầng bị chiến tranh tàn
phá nhiều lần, chỉ mới được đầu tư xây dựng. Trong khi đó nguồn thu chủ lực
chưa có, nguồn thu ngân sách rất nhỏ bé. Khi tách tỉnh, lực lượng cán bộ từ
tỉnh Hà Nam chuyển về vừa thiếu về số lượng, vừa mất cân đối về cơ cấu, nhiều
cơ quan, ban, ngành, đoàn thể không có cán bộ chủ chốt; trong các ngành kinh tế
- kỹ thuật thiếu cán bộ khoa học, cán bộ quản lý có kinh nghiệm.
Trước những khó khăn và thuận lợi đó, kế thừa và phát huy thành quả 32 năm
hợp nhất với Nam Định, Ninh Bình, đảng bộ và nhân dân Hà Nam phát huy truyền
thống cách mạng, niềm tự hào quê hương đã nêu cao tinh thần làm chủ, tập trung
khai thác tiềm năng, thế mạnh, khắc phục khó khăn vươn lên hoàn thành xuất sắc
các nhiệm vụ kinh tế - xã hội.
Sau Hội nghị lần thứ nhất Ban Chấp hành lâm thời đảng bộ tỉnh, ngày
3/7/1998 Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Nam lần thứ XV được tổ chức tại thị
xã Phủ Lý. Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh gồm 39 đồng chí. Đồng chí
Phạm Quang Nghị, Ủy viên Trung ương Đảng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Đại hội đã
đề ra phương hướng, nhiệm vụ của tỉnh trong giai đoạn đến năm 2000 là: “Tiếp
tục tập trung đẩy mạnh và phát triển nông nghiệp toàn diện theo hướng thâm
canh, tăng vụ, tăng nhanh nông sản hàng hóa. Đảm bảo vững chắc về lương thực
cho người và các nhu cầu khác. Khai thác mọi tiềm năng, thế mạnh của tỉnh, đặc
biệt là nguồn tài nguyên đá vôi và đất sét được tập trung liên hoàn ở phía tây
của tỉnh.
Tăng cường đầu tư phát triển mạnh công nghiệp sản xuất và chế biến vật liệu
xây dựng, vì đây là ngành công nghiệp chủ lực, có tính chất mũi nhọn trước mắt
cũng như lâu dài. Đồng thời phát triển công nghiệp dệt, may, chế biến nông sản
xuất khẩu, công nghiệp cơ khí, tiểu thủ công nghiệp, mở rộng làng nghề. Tích
cực thu hút đầu tư từ các nguồn liên doanh, liên kết, hợp tác trong và ngoài
nước. Đẩy mạnh các hoạt động dịch vụ, thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu có
hiệu quả. Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế của tỉnh theo
hướng: Tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp
trong GDP. Phát triển lực lượng sản xuất, đi đôi với củng cố và tăng cường quan
hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị trường dưới sự lãnh đạo của
Đảng và quản lý Nhà nước. Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của nhân
dân, giữ gìn, phát huy truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc, của quê
hương. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Xây dựng nền quốc
phòng toàn dân, thế trận chiến tranh nhân dân và khu vực phòng thủ vững chắc.
Phấn đấu đưa Hà Nam thành một tỉnh giầu mạnh văn minh (1).
Đại hội đã xác định một số mục tiêu cơ bản cần phấn đấu đến năm 2000 như
sau:
- Tăng trưởng kinh tế GDP bình quân đạt 14%/năm.
- Thu nhập bình quân GDP đầu người năm 2000 đạt 3,3 triệu đồng.
- Giá trị sản lượng nông nghiệp tăng bình quân 4,5%/năm.
- Bình quân lương thực ổn định 450 kg/người.
- Giá trị sản lượng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tăng 29%/năm.
- Doanh số thương mại, dịch vụ tăng bình quân 15%/năm.
- Giá trị hàng xuất khẩu tăng 30%/năm... (1)
Trong lĩnh vực kinh
tế, nhất là sản xuất lương thực, Hà Nam luôn giành được những thành tựu đặc
biệt. Từ năm 1997 đến 2000, Hà Nam luôn được mùa lớn, năm sau cao hơn năm
trước. Năng suất năm cao nhất bình quân cả tỉnh đạt 10,2 tấn/ha; sản lượng
lương thực quy ra thóc đạt 424 ngàn tấn; bình quân lương thực đầu người đạt 530
kg/năm. Từ một tỉnh thiếu lương thực đến nay Hà Nam đã đủ lương thực tiêu dùng,
có dự trữ, đảm bảo an ninh lương thực, có sản phẩm hàng hóa và tham gia xuất
khẩu. Chương trình sản xuất giống lúa lai thay thế nhập ngoại đã góp phần
chuyển đổi mạnh cơ cấu giống và tăng năng suất.
Một số thành tựu trong nông nghiệp từ 1997 đến 2000:
Phân loại 1997 1998 1999 2000
Tổng diện tích gieo trồng (ha) 73.633,00 74.332,00 99.325,00 99.900,00
Sản lượng lương thực quy thóc (tấn) 371.436,00 399.743,00 424.300,100
413.000,00
Năng suất (tạ/ha) 93,32 97,84 102,00 102,31
Bình quân lương thực, kg/người/năm),
- Lợn (con)
- Bò (con) 451,00
246.850,00 480,80
251.628,00 505,00
268.000, 000
21.934,00 530,00
278.000,00
27.500,00
Trên lĩnh vực sản xuất lương thực, các huyện trong tỉnh thể hiện rõ vai trò
chủ động và sáng tạo của mình, tận dụng tối đa nguồn đất trồng trọt, huy động
và phát huy quyền làm chủ của người lao động trong sản xuất... Vì thế đã tạo
nên những buớc phát triển vững chắc và những thành quả quan trọng.
Từ năm 1996 đến 2000, tất cả các huyện đều hoàn thành vượt mức kế hoạch
được giao, trong đó 3 huyện Bình Lục, Lý Nhân, Duy Tiên là những huyện tiêu
biểu của Hà Nam trên lĩnh vực sản xuất lương thực (tính bình quân từ 1996 đến
2000) (1):
Phân loại Bình Lục Duy Tiên Lý Nhân
Sản lượng lương thực (tấn) 94.073 81.356 75.215
Năng suất (tạ/ha) 106,30 103,32 105,0
Bình quân (kg/người/năm) 670,00 592 405
Ngoài cây lúa là chủ đạo, các huyện đều đẩy mạnh trồng các loại hoa mầu khác
như ngô, khoai lang, đậu, lạc, đỗ tương, khoai tây... Các loại cây trồng này
không chỉ tăng thêm nguồn lương thực cho người, thức ăn cho gia súc mà còn là
một nguồn hàng hóa quan trọng để trao đổi và xuất khẩu, góp phần làm cho nông
nghiệp phát triển vững chắc và toàn diện. Năm 1998, huyện Bình Lục trồng được
2.350 ha cây vụ đông; huyện Kim Bảng thu hoạch được số màu quy ra thóc: 13.346
tấn, lạc vỏ: 819 tấn, đậu tương: 549 tấn...
Cùng với trồng trọt, chăn nuôi cũng có bước tăng trưởng khá. Ngoài đàn lợn
là chủ lực, chăn nuôi trâu, bò, nuôi cá... được các huyện xác định là một mũi
nhọn phát triển kinh tế. Đặc biệt là các giống mới cùng kỹ thuật chăn nuôi mới
đã xâm nhập và đứng vững trên lĩnh vực này, góp phần tạo nên năng suất, chất
lượng ngày càng cao. Năm 1998, đàn lợn của huyện Bình Lục có 61.141 con, đến
năm 2000 tăng thêm 35%; đàn bò 4.528 con - tăng 35%; gia cầm tăng 76,6%. Huyện
Kim Bảng có diện tích 632 ha nuôi cá, thu hoạch 850 tấn; trong 5 năm (1996 -
2000), huyện Lý Nhân có sản lượng 4.742 tấn lợn hơi, Duy Tiên: 5.994 tấn...
(1).
Phong trào trồng cây, công tác quản lý và bảo vệ rừng ngày càng tốt hơn.
Việc trồng cây không chỉ có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ môi trường
sinh thái mà còn là một mũi nhọn kinh tế. Huyện Kim Bảng năm 1998 trồng được
102.800 cây, trong đó có 70.000 cây ăn quả các loại. Hầu hết các vùng đất
trắng, đồi trọc của các huyện đều được phủ xanh. Toàn tỉnh đã trồng mới được
730 ha rừng, trên 3 triệu cây các loại trong đó 80% là cây ăn quả, có nhiều
vườn cây đặc sản có giá trị kinh tế cao như các vườn vải, nhãn thôn Thanh Bồng
(xã Thanh Nghị, huyện Thanh Liêm) (2).
Trên lĩnh vực sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, một số sản phẩm
công nghiệp truyền thống như khai thác đá, sản xuất xi măng, gạch, vôi... đều
tăng trưởng. Sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp được giữ vững. Một
vài cơ sở sản xuất và địa phương có bước phát triển tốt như Công ty xi măng Bút
Sơn và 4 nhà máy xi măng khác; Công ty dệt Hà Nam; Công ty bia, nước giải khát
Phủ Lý và các cơ sở sản xuất ở các huyện Kim Bảng, thị xã Phủ Lý, Bình Lục, Duy
Tiên (3).
Năm 1998, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của huyện Kim
Bảng đạt 71.500 triệu đồng - tăng 8,5% so với 1997. Trong đó quốc doanh đạt
7.540 triệu, ngoài quốc doanh đạt 63.960 triệu đồng. Huyện Lý Nhân bình quân
trong 5 năm đạt giá trị 80,409 tỷ, huyện Bình Lục đạt 18,640 tỷ. Đặc biệt,
huyện Duy Tiên là địa phương duy nhất trong cả nước được chọn để sản xuất hàng
nghìn chiếc trống cung cấp cho Lễ hội Thăng Long. Hợp tác xã dịch vụ nông
nghiệp xã Yên Bắc (huyện Duy Tiên) được Nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý
“Anh hùng Lao động” trong thời kỳ đổi mới"(1).
Trong 3 năm, từ 1998 đến 2000, giá trị sản xuất công nghiệp và tiểu thủ
công nghiệp của Hà Nam đã tăng 45,9%, chiếm 28,5% trong tổng sản phẩm xã hội
(GDP), trong đó giá trị của các ngành công nghiệp được phân bố như sau:
Năm
Tổng số (tỷ đồng) 1996 1997 1998 1999 2000
Giá trị sản xuất công nghiệp Công nghiệp Trung ương Công nghiệp địa phương
286,750 19,152
267,500 315.8
22.8
293,0 422,175
98,974
323,198 817.0
471.0
346.0 1057,897
687,679
370,200
Trên lĩnh vực xây dựng cơ bản, trong thời gian từ 1997 đến 2000, hàng loạt
công trình xây dựng được triển khai và hoàn thành. Đó là các công trình trọng
điểm như trạm bơm Đinh Xá, Triệu Xá, trạm bơm Yên Lệnh, nâng cấp Nhà máy nước
Phủ Lý, xi măng Kiện Khê... Đặc biệt, Hà Nam đã tiến hành quy hoạch tổng thể
thị xã Phủ Lý - Trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh và quy hoạch chi
tiết Khu công nghiệp Đồng Văn. Vốn đầu tư xây dựng cơ bản hàng năm đều tăng và
tổ chức thực hiện ngày càng có hiệu quả. Năm 1996, triển khai thực hiện 339,251
tỷ thì năm 1997 là 609 tỷ; từ năm 1998 đến 2000 bình quân mỗi năm là 860,3 tỷ
đồng. Các huyện cũng tập trung nguồn vốn vào xây dựng như Bình Lục đầu tư trong
5 năm là 300 tỷ đồng, huyện Lý Nhân bình quân một năm 20 tỷ, huyện Kim Bảng
26,7 tỷ... (2).
Trong xây dựng cơ bản, phong trào nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng
ở nông thôn tiếp tục được đẩy mạnh. Cả tỉnh đã huy động 163,2 tỷ đồng để sửa
chữa nâng cấp xây dựng 2.612km đường giao thông nông thôn, kiên cố hóa 150km
kênh mương. Trong đó huyện Lý Nhân làm được 782,2km (có 39 km đường nhựa,
200,3km đường bê tông), huyện Duy Tiên 80% đường liên xã, thôn xóm được rải nhựa,
bê tông, đá cấp phối, lát gạch; 100% đường huyện là đường rải nhựa; huyện Bình
Lục đầu tư gần 100 tỷ đồng làm 258km đường bê tông và lát gạch nghiêng, 94km
đường ra đồng được rải đá; Kim Bảng làm 79,5km... Trong đó, huyện Bình Lục đã
huy động nhân dân đóng góp tới 80% tổng số kinh phí (1).
Ngoài ra, các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, tài chính, ngân hàng,
điện lực... đều có tốc độ tăng trưởng khá, đáp ứng kịp thời các yêu cầu phát
triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Riêng xuất khẩu đã tăng lừ 7,39 triệu USD năm
1997 lên 20 triệu USD năm 2000. Mặt hàng chủ yếu là long nhãn, lạc nhân, hàng
thủ công mỹ nghệ, hàng dệt may mặc, trong đó một số mặt hàng mới là dưa chuột
của các huyện Duy Tiên, Bình Lục, Lý Nhân đã được thị trường yêu thích. Bưu
điện đã phát triển nhanh về số lượng, chất lượng. Chỉ tính riêng số máy điện
thoại trong địa bàn đến năm 2000 là 12.500 máy, bình quân 1,5 máy/100 dân.
Công tác giáo dục - đào tạo, xã hội hóa giáo dục, khuyến học được chú ý đẩy
mạnh, do đó hệ thống giáo dục - đào tạo của tỉnh phát triển cả về quy mô và chất
lượng. Đến năm 2000, Hà Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ
tuổi, 100% số xã, phường, thị trấn của tỉnh hoàn thành phổ cập trung học cơ sở.
Chất lượng giáo dục toàn diện được coi trọng. Số học sinh giỏi cấp tỉnh, cấp
quốc gia năm sau cao hơn năm trước. Phong trào thi đua “Hai tốt” tiếp tục được
phát huy. Trường Trung học cơ sở Bắc Lý, huyện Lý Nhân đã vinh dự được Nhà nước
phong tặng Anh hùng Lao động lần thứ hai.
Năm học 1999 - 2000, Hà Nam có 13 trường được Bộ Giáo dục và Đào tạo công
nhận là trường chuẩn quốc gia cấp tiểu học. Tỉnh đã thành lập mới được 3 trường
trung học phổ thông là các trường Phủ Lý B, Bình Lục C, Kim Bảng C. Số học sinh
thi học sinh giỏi cấp quốc gia lớp 12 tăng cả về số lượng và cơ cấu giải; số
học sinh giỏi cấp tỉnh cũng đạt kết quả cao hơn năm trước (1).
Sự nghiệp y tế của tỉnh trong 4 năm qua có nhiều tiến bộ. Hầu hết các bệnh
viện, trung tâm y tế cấp huyện đều được cải tạo, xây dựng mới, trang thiết bị y
tế ngày một đầy đủ hơn, có nhiều thiết bị hiện đại. Đội ngũ cán bộ y tế được
nâng cao trình độ văn hóa, nghiệp vụ chuyên môn. Đến năm 2000, toàn tỉnh đã có
63% số trạm y tế có bác sĩ. Công tác phòng, chống dịch bệnh đảm bảo tốt, hạn
chế không để xẩy ra có dịch bệnh lớn. Do đó chỉ số sức khỏe của nhân dân trong
tỉnh được nâng lên, tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng; giảm từ 36% năm
1995 xuống còn 32% năm 2000. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm từ 1,3% năm 1997
xuống còn 1,11% năm 2000 (1).
Các hoạt động văn hóa, thông tin, nghệ thuật mang truyền thống dân tộc, quê
hương được duy trì phát triển. Phong trào xây dựng làng văn hóa được đẩy mạnh.
Các huyện Lý Nhân, Duy Tiên, Bình Lục, Kim Bảng có 100% làng đăng ký xây dựng
làng văn hóa, trong đó đã có trên 74 làng được công nhận là làng văn hóa. Hệ
thống truyền thanh phủ kín 100% số xã, có 85% số hộ trong tỉnh được xem truyền
hình. Phong trào thể dục thể thao phát triển sâu rộng. Nhiều xã, phường có
phong trào tốt, tổ chức được nhiều giải thể thao quần chúng từ cơ sở đến tỉnh,
góp phần tăng cường rèn luyện, nâng cao sức khỏe cho nhân dân.
Quán triệt sâu sắc hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tỉnh
ủy và chính quyền Hà Nam thường xuyên tuyên truyền và đẩy mạnh xây dựng nền
quốc phòng toàn dân, xây dựng thế trận chiến tranh nhân dân, đảm bảo sẵn sàng
chiến đấu. Lực lượng thường trực, dân quân tự vệ, dự bị động viên được củng cố
về chất lượng, số lượng. Hàng năm, tỉnh đều hoàn thành xuất sắc các chỉ tiêu
gọi thanh niên nhập ngũ. Năm 2000, Hà Nam đã giao 1.270 thanh niên nhập ngũ đạt
100% kế hoạch, vượt thời gian quy định.
Công tác an ninh quốc gia trên địa bàn tỉnh có nhiều chuyển biến, tập trung
vào các địa bàn trọng điểm như các tuyến giao thông và vùng giáo dân. An ninh
nông thôn được tăng cường. Ở những nơi phức tạp, “điểm nóng”, tỉnh đã chỉ đạo
giải quyết từ cơ sở, kiềm chế và ổn định được tình hình. Phong trào bảo vệ an
ninh Tổ quốc và phong trào quần chúng phòng ngừa, tấn công tội phạm đạt kết quả
tốt. Các ngành Công an, Kiểm sát, Thanh tra, Tòa án, Tư pháp... đã phối hợp
hoạt động, từng bước nâng cao chất lượng công tác đấu tranh chống tiêu cực,
tham nhũng, phát hiện tội phạm, xét xử, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo.
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật trong nhân dân.
Trong điều kiện tình hình quốc tế, khu vực có nhiều biến động phức tạp, sự
nghiệp đổi mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa có nhiều vấn đề mới nảy
sinh, thì công tác xây dựng Đảng, chính quyền trong sạch, vững mạnh là một đòi
hỏi cấp thiết. Tỉnh ủy Hà Nam đã chú trọng tuyên truyền, giáo dục bồi dưỡng
nâng cao phẩm chất đạo đức cách mạng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân, thông
qua việc triển khai quán triệt các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt thực hiện cuộc
vận động xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6. Để
nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên, Tỉnh ủy đã mở 100
lớp sơ, trung cấp chính trị cho 6.500 học viên. Các hoạt động tuyên truyền
miệng, tổ chức thi báo cáo viên từ đảng bộ cơ sở đến tỉnh thường xuyên được tổ
chức. Công tác phát triển đảng viên mới đạt kết quả tốt, trong các năm 1998 -
2000 toàn tỉnh kết nạp 3.000 đảng viên, nâng tổng số đảng viên toàn đảng bộ lên
35.858 đồng chí. Chất lượng tổ chức cơ sở đảng được nâng cao. Qua phân loại
hàng năm, số tổ chức cơ sở đảng đạt danh hiệu trong sạch, vững mạnh chiếm 77 -
81%, cơ sở yếu kém chỉ có 3,0% trong tổng số cơ sở đảng toàn tỉnh (l).
Hoạt động của các cấp chính quyền từng bước được nâng cao. Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể nhân dân, các tổ chức xã hội các cấp đã có nhiều đổi mới về nội
dung và hình thức hoạt động. Các tổ chức hướng về cơ sở; coi trọng việc tổng
kết thực tiễn, bồi dưỡng huấn luyện cán bộ, phát triển đoàn viên, hội viên...
Một số hoạt động đã đi vào chiều sâu, thiết thực, tập hợp được đông đảo hội
viên, đoàn viên tham gia các phong trào của địa phương.
Bước sang thế kỷ thứ XXI, tỉnh Hà Nam đứng trước nhiệm vụ lịch sử là tiếp
tục sự nghiệp đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa góp phần cùng cả
nước thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn
mình.
Từ ngày 15 đến 17/12/2000, tại thị xã Phủ Lý, Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh
Hà Nam lần thứ XVI đã tiến hành. Đại hội đã bầu 41 đồng chí vào Ban Chấp hành
đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2001 - 2005. Đồng chí Phạm Quang Nghị, Ủy viên Trung ương
Đảng được bầu lại làm Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí Tăng Văn Phả, Đinh Văn Cương
làm Phó Bí thư Tỉnh ủy.
Căn cứ đặc điểm tình hình và yêu cầu, nhiệm vụ trong những năm tới, Đại hội
Đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đề ra mục tiêu tổng quát giai đoạn 2001 -
2005 như sau:
“Tiếp tục quán triệt tư tưởng chỉ đạo chiến lược và xuyên suốt của Đảng ta,
phát triển kinh tế là nhiệm vụ trọng tâm, xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt.
Ra sức phát huy nội lực, đi đôi với tranh thủ thu hút, khai thác tốt các nguồn
lực bên ngoài để đầu tư phát triển, chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Tiếp tục đẩy mạnh phát
triển sản xuất nông nghiệp toàn diện, vững chắc; phấn đấu tăng trưởng kinh tế
với tốc độ nhanh. Tận dụng mọi cơ hội khai thác thị trường Hà Nội và hòa nhập
vào quá trình phát triển của vùng đồng bằng sông Hồng; vùng kinh tế trọng điểm
Bắc Bộ của cả nước. Kết hợp hài hòa mục tiêu, yêu cầu phát triển kinh tế với
phát triển văn hóa - xã hội, cải thiện và nâng cao mức sống của nhân dân, thực
hiện công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái, bảo đảm quốc phòng, an
ninh. Tiếp tục mở rộng và phát huy dân chủ trong Đảng và trong dân; tăng cường
sự gắn bó mật thiết giữa Đảng với dân. Tiếp tục thực hiện thật tốt cuộc vận
động xây dựng, chỉnh đốn Đảng; xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh” (1).
Đại hội Đảng bộ Hà Nam lần thứ XVI đã xác định rõ phương hướng, mục tiêu,
các nhiệm vụ và giải pháp cụ thể để phát triển kinh tế - xã hội của Hà Nam
trong giai đoạn 2001 - 2005.
Phương hướng phát triển của tỉnh trong 5 năm 2001 - 2005 được xác định là:
đẩy mạnh sản xuất, tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao, phát triển nông nghiệp
toàn diện theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và đa dạng sản phẩm hàng
hóa; tranh thủ các điều kiện có thể khai thác được để đẩy nhanh hơn nữa tốc độ
phát triển công nghiệp, xây dựng, xuất khẩu, thúc đẩy hình thành cơ cấu kinh tế
hợp lý, hiệu quả; đẩy mạnh xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội; chủ động
từng bước áp dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất; chú trọng nâng cao
năng lực khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, đặc biệt coi trọng phát huy
nguồn lực con người, về các vấn đề xã hội, toàn tỉnh tích cực giải quyết các
vấn đề bức xúc về việc làm, xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống nhân dân,
xây dựng đời sống văn hóa, đảm bảo trật tự kỷ cương, đẩy lùi các tệ nạn xã hội;
đồng thời giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo quốc phòng, an ninh vững chắc.
Về mục tiêu, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI đã đề ra các chỉ tiêu chủ yếu
sau:
1. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân 9%/năm.
2. Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2005 đạt 4,5 - 5 triệu đồng/năm.
3. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2005 có tỷ trọng:
- Nông nghiệp: 32%
- Công nghiệp, xây dựng: 34%
- Dịch vụ: 34%
4. Giá trị sản xuất nông nghiệp (bao gồm cả nông, lâm nghiệp, thủy sản)
tăng bình quân 3,5%/năm.
5. Giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng bình quân 13
- 14%/năm.
6. Doanh số thương mại và dịch vụ tăng bình quân 12%/năm.
7. Giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân trên 10%/năm.
8. Tăng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh bình quân 8%/năm (tương ứng 6 - 7%
GDP).
9. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên đến năm 2005 đạt 1,1 - 1,2%.
10. Tỷ lệ hộ nghèo đến năm 2005 còn dưới 7%.
11. Trong 5 năm giải quyết 35 - 40 ngàn chỗ làm việc mới và tạo thêm việc
làm cho người lao động.
12. Tổ chức cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh hàng năm đạt 75 - 80%(l).
Phấn khởi tự hào trước thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI Đảng
bộ và nhân dân Hà Nam quyết tâm đưa các Nghị quyết của Đảng trở thành hiện thực
trong cuộc sống.
Nông nghiệp vẫn được xác định là mặt trận hàng đầu. Trong thời gian từ
2001-2003 Hà Nam đã đẩy nhanh tốc độ phát triển nông nghiệp toàn diện theo
hướng nâng cao chất lượng, tăng giá trị thu nhập trên đơn vị diện tích canh
tác, vừa đảm bảo an ninh lương thực, vừa mở rộng sản xuất hàng hóa, gắn sản
xuất nông nghiệp với công nghiệp chế biến và xuất khẩu. Tuy thời tiết có những
diễn biến không thuận lợi cho sản xuất nhưng sản xuất nông nghiệp cả năm vẫn
đạt kết quả khá toàn diện. Năm 2003, tuy sản lượng lương thực chỉ đạt 97% kế
hoạch nhưng năng suất và sản lượng lượng thực cả năm vẫn cao hơn các năm trước.
Nếu năm 2002 năng suất đạt 10,14 tấn/ha thì năm 2003 đạt 10,39 tấn/ha. Trong
năm 2003, Hà Nam đã sử dụng đất nông nghiệp theo hướng quy hoạch vùng sản xuất
vụ đông và vùng sản xuất hàng hóa, sản xuất giống lúa, trồng cây đặc sản có giá
trị kinh tế cao để xuất khẩu, chuyển một phần diện tích trồng lúa năng suất
thấp sang trồng cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản. Đồng thời mở rộng các hình
thức khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chủ động tiếp nhận, ứng dụng tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, quy trình công nghệ mới vào sản xuất. Do đó bước đầu đã có
hiệu quả kinh tế cao, giá trị sản xuất bình quân đạt 33,1 triệu đồng/ha. Trong
3 năm (2001 - 2003), Hà Nam đã chuyển đổi được 1.718 ha (riêng năm 2003 chuyển
đổi được 734 ha) vùng trũng sang sản xuất đa canh. Các ngành chăn nuôi, thuỷ
sản cũng có tốc độ tăng trưởng khá. Năm 2002, tổng giá trị của các ngành này
chiếm 28,7% trong tổng giá trị sản xuất nông nghiệp, năm 2003 chiếm 30,8%.
Công nghiệp được xác định là khâu đột phá để thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế. Hà Nam ưu tiên phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực công nghiệp có
nhiều lợi thế như sản xuất vật liệu xây dựng, các ngành nghề thu hút nhiều lao
động, làm vệ tinh cho thủ đô Hà Nội và các trung tâm công nghiệp, vùng kinh tế
trọng điểm Bắc Bộ. Đồng thời chú trọng phát triển tiểu thủ công nghiệp gắn với
chế biến nông sản, thực phẩm, củng cố và mở rộng các làng nghề truyền thống sản
xuất hàng xuất khẩu. Năm 2003, giá trị sản xuất công nghiệp - tiểu thủ công
nghiệp tăng 19,45% so với năm 2002. Trong đó công nghiệp trung ương tăng 16,6%,
công nghiệp địa phương tăng 24,8%. Công nghiệp ngoài quốc doanh vẫn giữ được
nhịp độ tăng trưởng cao hơn năm trước. Các sản phẩm chủ yếu đều tăng và được
tiêu thụ tốt.
Đặc biệt thực hiện Nghị quyết 08 của Tỉnh ủy và kế hoặch 373 của Ủy ban
nhân dân tỉnh, năm 2003 Hà Nam đã ban hành các cơ chế chính sách để thu hút đầu
tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và quy hoạch 5 Khu công nghiệp
tập trung, hoàn thiện thủ tục để phê duyệt dự án đầu tư hạ tầng hai khu công
nghiệp Đồng Văn, Châu Sơn. Đến hết năm 2003, Hà Nam đã hoàn thành về cơ bản
việc giải phóng mặt bằng, thu hồi 285 ha đất ở 3 khu công nghiệp Đồng Văn, Châu
Sơn, Hoàng Đông; đã giao trên 83 ha đất cho 33 doanh nghiệp thuê đất xây dựng
cơ sở sản xuất tại 2 khu công nghiệp Đồng Văn, Châu Sơn.
Về thương mại, dịch vụ, du lịch và kinh tế đối ngoại
Hà Nam chú ý phát huy lợi thế của tỉnh về giao thông đường bộ, đường sông,
đường sắt Bắc - Nam, vị trí gần thủ đô Hà Nội và vùng kinh tế trọng điểm Bắc
Bộ. Trong năm 2003 các hoạt động thương mại, dịch vụ, du lịch, mở rộng thị
trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và cung ứng vật tư,
hàng hóa cho sản xuất và tiêu dùng của Hà Nam đều phát triển. Tổng mức lưu
chuyển hàng hoá bán ra và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội cả năm đạt 1.900
tỷ đồng, tăng 10,1% so với năm 2002. Giá trị hàng hoá xuất khẩu đạt 30,5 triệu
USD, tăng 10%.
Về du lịch, tỉnh triển khai vận động thu hút đầu tư vào khu du lịch Tam
Chúc - Ba Sao và xây dựng hạ tầng các dự án du lịch Bến Thuỷ, Ngũ Động Sơn...
Ngành ngân hàng tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng
phục vụ. Năm 2003, tổng nguồn vốn huy động đạt 1.020 tỷ đồng, tăng 19,3%.
Các hoạt động vận tải, bưu chính viễn thông, cấp điện đều có bước chuyển
biến đáng kể so với năm 2002. Hà Nam đã chủ động mở rộng quy mô và đa dạng hóa
thành phần kinh tế vận tải, khai thác tiềm năng vận tải thủy, tăng khối lượng
vận tải hành khách, hàng hóa. Năm 2003, khối lượng hành khách và hàng hoá luân
chuyển tăng 15% về tấn/km, 20% về lượt người/km so với năm 2002.
Về đầu tư, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội
Năm 2003, tỉnh tiếp tục triển khai nhiều công trình trọng điểm. Giá trị
khối lượng xây dựng cơ bản cả năm đạt 380 tỷ đồng. Các công trình như trường
học, trụ sở làm việc của xã, trạm y tế, đường giao thông nông thôn...tiếp tục
được đầu tư và đưa vào sử dụng đạt hiệu quả tốt. Năm 2003, cả tỉnh đã huy động
trên 20 tỷ đồng, nâng cấp 166km đường giao thông các loại, đạt 110% kế hoạch.
Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 (Khóa VIII) về giáo dục - đào tạo nhằm
nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Hà Nam tiếp tục đa dạng
hóa các loại hình trường, lớp công lập, bán công, dân lập. Tỉnh đã thành lập
thêm một số trường trung học phổ thông để thu hút học sinh tốt nghiệp trung học
cơ sở vào học và đẩy mạnh việc dạy nghề cho học sinh. Ngành giáo dục và đào tạo
đẩy mạnh phong trào thi đua “Hai tốt”, khuyến học khuyến tài, nâng cao chất
lượng dạy học và học ở tất cả các cấp học ngành học. Trong năm 2003 cả tỉnh có
thêm 27 trường đạt trường chuẩn quốc gia. Trung tâm học tập cộng đồng xã,
phường - một mô hình hoạt động giáo dục mới bắt đầu phát huy tác dụng. 96/116
xã, phường hoạt động theo hình thức này đã có tác dụng thiết thực. Năm 2003, Hà
Nam đã đầu tư 31 tỷ đồng cho sự nghiệp giáo dục để xây dựng cơ sở vật chất, mua
sắm thiết bị dạy và học. Hiện nay số trường học kiên cố trong toàn tỉnh đã
chiếm 55% tổng số các trường học của tỉnh.
Trong lĩnh vực chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân, năm 2003 đã nâng cao
chất lượng khám, chữa bệnh, tăng cường công tác y tế dự phòng, quản lý bệnh xã
hội, thanh toán có hiệu quả một số bệnh xã hội và bệnh truyền nhiễm nguy hiểm,
nâng cao sức khỏe, thể lực và tuổi thọ trung bình của nhân dân. Toàn tỉnh không
có dịch bệnh lớn xảy ra. Năm 2003 có 73/116 xã, phường có bác sĩ, giảm tỷ lệ
sinh xuống còn 0,45%o, giảm tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng xuống còn 26%.
Về văn hóa, báo chí, thể dục - thể thao
Trong năm 2003, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”
tiếp tục phát huy tác dụng tích cực, góp phần quan trọng để phát triển kinh tế
- xã hội của Hà Nam. Do đó tỷ lệ gia đình, cơ quan, làng xóm đạt tiêu chuẩn văn
hóa, thực hiện nếp sống văn hóa trong việc cưới, tang và lễ hội đều tăng so với
năm trước. Đồng thời Hà Nam tăng cường đầu tư nghiên cứu, sáng tác văn học -
nghệ thuật; tiếp tục xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản
sắc dân tộc.
Các hoạt động thể dục, thể thao cũng được đổi mới tổ chức và phương thức
hoạt động, thu hút đông đảo các tầng lớp nhân dân tham gia luyện tập để nâng
cao sức khỏe.
Về giải quyết các vấn đề xã hội
Nhằm giảm tỷ lệ người lao động thiếu và không có việc làm, Hà Nam tích cực
huy động các nguồn lực phát triển kinh tế; có cơ chế hỗ trợ, khuyến khích mọi
thành phần kinh tế cùng phát triển và thực hiện di, giãn dân và đẩy mạnh xuất
khẩu lao động, thực hiện tốt chương trình xóa đói, giảm nghèo và các chính sách
bảo trợ xã hội, mở rộng các loại hình bảo hiểm, tranh thủ viện trợ của các tổ
chức nhân đạo quốc tế cho các chương trình xã hội. Năm 2003 đã có 111/116 xã
phường được công nhận là xã thực hiện tốt công tác thương binh liệt sĩ. Quỹ đền
ơn đáp nghĩa có gần 900 triệu đồng và triển khai xây dựng nhà bia ghi tên liệt
sĩ quê ở Hà Nam tại nghĩa trang Trường Sơn. Trong năm 2003, Hà Nam đã giải
quyết việc làm mới cho 13.105 người, vượt 9,2% kế hoạch; xuất khẩu lao động
được 1.930 người, vượt 37% kế hoạch. Tỷ lệ người nghèo giảm xuống còn 13%.
Trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, nội chính
Để đảm bảo giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội; tạo môi
trường và điều kiện thuận lợi thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội trong tình
hình mới, năm 2003 Hà Nam tiếp tục tiến hành xây dựng thế trận quốc phòng toàn
dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trên từng địa bàn, lĩnh vực. Các lực
lượng vũ trang trong tỉnh được tổ chức và xây dựng theo hướng chính quy, tinh
nhuệ, từng bước hiện đại, sẵn sàng chiến đấu cao, chủ động giải quyết các tình
huống xảy ra trên địa bàn.
Các lực lượng quân đội, công an và cơ quan bảo vệ pháp luật trong tỉnh tăng
cường phối hợp, thống nhất để làm tốt công tác bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh
tư tưởng văn hóa, an ninh kinh tế, an ninh tại các vùng nông thôn; thực hiện
tốt chương trình quốc gia phòng chống tội phạm, phòng chống ma túy; đấu tranh
chống tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, không để các tệ nạn xã hội lây
lan và phát triển; chú ý phát hiện, giải quyết kịp thời những mâu thuẫn, khiếu
kiện từ cơ sở. Trong năm 2003, có 2.784 lượt người đến khiếu nại tố cáo, giảm
7,5%; tiếp nhận 432 đơn, giảm 7,1%; giải quyết được 372 đơn đạt 86,1%. Đồng
thời tiếp tục phát triển phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc với những
nội dung, hình thức phong phú, thiết thực như phong trào toàn dân tham gia
phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội, kết hợp với phong trào xây dựng đời
sống văn hóa, xây dựng phường, xã, cơ quan, doanh nghiệp, trường học an toàn.
Về công tác xây dựng Đảng, chính quyền, đoàn thể nhân dân
Quán triệt sâu sắc quan điểm phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, xây
dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, năm 2003 Hà Nam tiếp tục thực hiện cuộc vận
động xây dựng, chỉnh đốn Đảng đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn.
Đảng bộ Hà Nam coi trọng công tác bồi dưỡng, nâng cao nhận thức cho cán bộ,
đảng viên về chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối đổi mới của
Đảng, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã
hội. Thực hiện nghiêm túc Quy định 54 của Bộ Chính trị (Khóa VIII) về chế độ
học tập lý luận chính trị trong Đảng, năm 2003 trường Chính trị tỉnh, các trung
tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện, thị xã đã mở 150 lớp đào tạo bồi dưỡng lý
luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ... cho gần 21 nghìn lượt cán bộ, đảng viên
và quần chúng ưu tú. Mở 1 lớp lý luận chính trị cao cấp hệ tại chức cho 101 học
viên là cán bộ chủ chốt đương chức và cán bộ dự nguồn trong quy hoạch. Trong
công tác tổ chức, cán bộ, năm 2003 toàn tỉnh có 365/365 đảng bộ, chi bộ cơ sở
đã tổ chức tốt đại hôị nhiệm kỳ 2003 - 2005. Toàn đảng bộ kết nạp được 1.065
đảng viên mới (trong đó đoàn viên thanh niên chiếm 63,2%). Thực hiện Nghị quyết
11 của Bộ Chính trị về quy hoạch, đào tạo và luân chuyển cán bộ, năm 2003 Hà
Nam đã luân chuyển và điều động 158 cán bộ.
Với định hướng xây dựng chính quyền Nhà nước trong sạch, vững mạnh, là Nhà
nước của dân, do dân và vì dân, trong năm 2003 các cấp ủy Đảng đã tăng cường sự
lãnh đạo đối với chính quyền và các cơ quan quản lý nhà nước, nâng cao chất
lượng hoạt động của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân các cấp. Để thực hiện
tốt chủ trương đó, các cấp chính quyền trong tỉnh đã kịp thời thể chế hóa, tổ
chức thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết, Chỉ thị, chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước; làm tốt công tác giám sát, kiểm tra những vấn đề bức xúc về
quản lý đất đai, tài chính, tài sản, điều tra, truy tố, xét xử, chống tham
nhũng, buôn lậu; ngăn ngừa lạm dụng chức, quyền, cố ý làm trái chính sách, pháp
luật, gây phiền hà, sách nhiễu nhân dân.
Năm 2003, Hà Nam tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, gắn với sắp xếp
tinh gọn bộ máy cơ quan chính quyền từ tỉnh đến cơ sở, đảm bảo hoạt động thống
nhất, đúng chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và phát huy hiệu lực, hiệu quả của
chính quyền các cấp.
Đảng bộ Hà Nam trong năm 2003 tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo của tổ chức
đảng và trách nhiệm của chính quyền các cấp đối với công tác dân vận, theo đúng
tinh thần chỉ đạo của Trung ương: “Mọi cán bộ, đảng viên phải làm công
tác dân vận theo chức trách của mình; mọi cấp bộ Đảng chăm lo công tác dân vận,
đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể
nhân dân, các hội quần chúng”. Do đó các cấp bộ Đảng, Chính quyền từ tỉnh đến
cơ sở thực hiện tốt quy chế, mối quan hệ làm việc giữa chính quyền, mặt trận và
các đoàn thể nhân dân; khắc phục bệnh hành chính, quan liêu; kiện toàn, nâng
cao chất lượng tổ chức bộ máy làm công tác dân vận từ tỉnh đến cơ sở; chú trọng
củng cố hệ thống khối dân vận ở xã, phường, thị trấn và ban công tác mặt trận,
chi đoàn, chi hội thôn, xóm; tăng cường bồi dưỡng, đào tạo nâng cao trình độ,
năng lực cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận.
Sau 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, "Năm
2003 tình hình kinh tế - xã hội của tỉnh tiếp tục có bước phát triển khá: Nhịp
độ tăng trưởng kinh tế được duy trì đạt mức kế hoạch đề ra; cơ câu kinh tế, cơ
cấu sản xuất trong nội bộ ngành nông nqhiệp trong bước chuyển dịch theo
hướng tích cực; những khởi động trong "Năm công nghiệp” có nhiều thuận
lợi, đạt được kết quả bước đầu, là cơ sở tạo đà cho ngành công nghiệp có
bước đột phá mới trong những năm sau; các lĩnh vực dịch vụ, văn hoá - xã hội
đều có chuyển biến tiến bộ; chính trị, trật tự an toàn xã hội ổn định; đời sống
nhân dân được cải thiện”(1). Đó là những tiền đề hết sức quan trọng để Hà Nam
thực hiện thắng lợi phương hướng nhiệm vụ, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội
năm 2004, đưa Nghị quyết Đại hội Đảng bộ lần thứ XVI trở thành hiện thực sinh
động trong cuộc sống trên mảnh đất Hà Nam, góp phần cùng cả nước thực hiện
thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX vì mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Là người đứng đầu Đảng và Nhà nước ta, dù bận trăm công nghìn việc, lúc
sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm đến mọi tầng lớp nhân dân và mọi
miền đất nước. Đảng bộ và nhân dân Hà Nam vinh dự nhận được sự quan tâm sâu sắc
từ rất sớm của Người.
Biểu dương phong trào nông dân, trong đó có nông dân Hà Nam, trong thư ký
tên Nguyễn Ái Quốc ngày 5/11/1930 gửi Quốc tế nông dân về phong trào nông dân
toàn quốc và phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh có đoạn: “Mặc dù bị đàn áp dã man,
phong trào vẫn tiếp tục phát triển, chứng cớ là nông dân ở Bắc Kỳ từ trước vẫn
im lặng nay cũng bắt đầu đấu tranh (tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Kiến An)”. Sau năm
đó, ngày 20/4/1931, trong bức thư gửi Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản
Đông Dương, Bác viết: “Lực lượng cách mạng và các tổ chức quần chúng của Đảng
bộ Nam Định, Phủ Lý - Hà Nam qua thực tế cách mạng từng bước phát triển về
nhiều mặt” và thống kê lực lượng đảng viên và các tổ chức quần chúng của nhân
dân Hà Nam.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, vận mệnh Tổ quốc đứng trước những thử
thách nặng nề. Sau nạn đói năm 1945, đoạn đê bắc sông Châu thuộc địa bàn huyện
Duy Tiên bị vỡ, gây mất mùa, làm cho cuộc sống nhân dân thêm khó khăn. Biết tin
này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết thư thăm hỏi, động viên đảng bộ và nhân dân
Hà Nam. Cuối tháng 10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh điều một bộ phận chiến sĩ bảo
vệ Bắc Bộ phủ do đồng chí Vi Dân chỉ huy về Chi Nê (châu Lạc Thủy, tỉnh Hà Nam)
để giấu lực lượng và xây dựng căn cứ địa dự phòng. Từ đầu năm 1946, theo đề
nghị của Ban cán sự Đảng tỉnh Hà Nam, đích thân Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết
thư mời cụ Đặng Quốc Kiều nhân sĩ nổi tiếng giữ trọng trách Chủ tịch Ủy ban
Hành chính tỉnh Hà Nam. Tiếp đó, sau bầu cử Quốc hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
xuống động viên, thăm hỏi nhân dân, kiểm tra công tác của chính quyền hai tỉnh
Hà Nam, Nam Định.
Chiều ngày 11/1/1946 từ thành phố Nam Định, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thị xã
Phủ Lý (tỉnh Hà Nam). Vừa xuống xe, Bác đi tắt vào nơi làm việc của Ủy ban Hành
chính tỉnh, nhà ăn tập thể và các công trình sinh hoạt công cộng, thăm nơi làm
việc của cán bộ công nhân viên. Lúc đó các đồng chí lãnh đạo tỉnh Hà Nam và thị
xã Phủ Lý cùng đông đảo nhân dân đã tập hợp trước phòng thông tin để đón Người.
Chủ tịch Hồ Chí Minh thân mật nói chuyện với đồng bào, chiến sĩ và cán bộ. Hàng
nghìn người chăm chú lắng nghe và đồng thanh hô vang “Hồ Chủ tịch muôn năm”.
Bác vui vẻ đáp lại “Đồng bào Hà Nam muôn năm”. Tại cuộc nói chuyện này, Chủ
tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh: “Giành được chính quyền đã khó nhưng giữ được chính
quyền còn khó hơn, do vậy nhiệm vụ cấp bách của địa phương lúc này là giữ vững
và củng cố chính quyền cách mạng và xây dựng cuộc sống mới. Đảng bộ đã lãnh đạo
nhân dân vừa đấu tranh chống giặc ngoại xâm, đối phó và trấn áp bọn phản động
địa phương vừa thúc đẩy tăng gia sản xuất, chống đói, chống nạn mù chữ, chăm lo
cải thiện đời sống nhân dân”.
Đất nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp, Chủ tịch
Hồ Chí Minh luôn quan tâm theo dõi tình hình Hà Nam. Ngày 21 tháng 2 năm 1947,
Người từ Thanh Hoá về Chi Nê (châu Lạc Thuỷ lúc này thuộc tỉnh Hà Nam) đã vào
thăm xưởng in giấy bạc của Bộ Tài chính và thăm đồng bào khu vực chợ Đầm Đa.
Bác khuyên các cháu thiếu niên phải ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành; biết một số
thanh niên chưa biết chữ, Bác căn dặn: “Ngày Bác trở lại, các cháu phải biết
chữ đấy”.
Những năm 1949 - 1950, giữa lúc cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược đi vào
giai đoạn gay go quyết liệt, thực dân Pháp chuẩn bị đánh chiếm Hà Nam, hưởng
ứng lời kêu gọi động viên của Chính phủ và Hồ Chủ tịch, chi họ Lại xã Phù Vân
(khi đó thuộc huyện Kim Bảng, nay thuộc thị xã Phủ Lý) có 19 người đi tòng
quân. Biết tin này, mùa xuân năm Canh Dần (1950), Bác Hồ đã gửi thư khen ngợi,
biểu dương “tinh thần yêu nước rất cao của chi họ Lại xã Phù Vân”. Trong thư
Bác viết: “Tôi mong rằng các họ trong cả nước Việt Nam, họ nào cũng như họ Lại
Phù Vân thì ta không cần đánh mà giặc Mỹ cũng phải lui”.
Sau khi được nghe chuyện về các cụ già thôn Đức Bản (xã Nhân Nghĩa, huyện
Lý Nhân) hiên ngang anh dũng trước kẻ thù, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết một bài
báo nhan đề: “Không biết” đăng trên báo Cứu quốc số ra ngày 2/7/1954. Nội dung
bài báo đó như sau:
“Nhân dân ta, mỗi người tùy theo năng lực của mình mà ai cũng tham gia
kháng chiến. Người thì cầm súng giết giặc. Người thì đi dân công. Người thì lo
tăng gia sản xuất để cung cấp cho bộ đội. Người thì làm việc cổ động tuyên
truyền, v.v... Việc làm khác nhau nhưng đều phụng sự Tổ quốc, phụng sự kháng
chiến.
Cũng có người chỉ nói hai tiếng “không biết” mà cũng có công như tham gia
đánh giặc, có công với nước, với dân.
Cuối năm ngoái, giặc càn quét ở Hà Nam. Khi chúng đến làng A, nhân dân đã
tản cư, bộ đội đã mai phục hết. Chỉ còn các cụ già ở lại.
Giặc bắt các cụ ra hỏi: “Việt Minh ở đâu?”. Cụ nào cũng lắc đầu “không
biết”.
Giặc tra tấn. Các cụ cũng cứ nói “không biết”.
Để khủng bố tinh thần, giặc chọc tiết một cụ rồi lại hỏi. Các cụ vẫn cứ nói
“không biết”. Giặc giết mấy cụ nữa. Những cụ kia vẫn bình tĩnh nói “không
biết”.
Giặc giết hết 25 cụ. Một cụ còn lại hét lên “Tao không biết”, rồi chửi vào
mặt chúng.
Tuy rất vắn tắt, hai tiếng “không biết” ấy đã tỏ rõ tấm lòng nồng nàn yêu
nước và gan vàng dạ sắt của các cụ. Nó lại đại biểu cho tinh thần quật cường
bất khuất của dân tộc Việt Nam.
Hai tiếng “không biết” ấy đã làm cho “trời phải kinh, quỷ thần phải khóc”.
Nó đã cứu sống nhiều chiến sĩ ta và đưa nhiều giặc đến chỗ chết.
Liền sau đó giặc bị đánh úp và thất bại to.
Hai tiếng “không biết” ấy còn nêu cao cái gương hy sinh anh dũng để giữ bí
mật cho cán bộ và bộ đội ta - Cái gương giữ bí mật mà mọi người Việt Nam yêu
mến phải noi theo” (1).
Để lưu truyền tinh thần bất khuất của các cụ già Đức Bản, sau này Chủ tịch
Hồ Chí Minh và Chính phủ đã truy tặng Huân chương kháng chiến và phong liệt sĩ
cho các cụ.
Ngày 3/7/1954, tỉnh Hà Nam được hoàn toàn giải phóng. Đảng bộ và nhân dân
Hà Nam ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, nhất
là công tác thủy lợi. Ngay từ đầu năm 1955, Tỉnh uỷ Hà Nam đã có kế hoạch chỉ
đạo công tác đắp đê, phòng chống bão lụt. Tỉnh đã thành lập 4 công trường trên
các tuyến đê sông Hồng, sông Đáy, sông Đào và sông Châu; tập trung tới 2 vạn
dân công, đào đắp 390 nghìn mét khối đất. Bên cạnh đó, các hệ thống nông giang
đều được sửa chữa, khơi vét, đảm bảo nước tưới tiêu cho 5.222 mẫu ruộng. Tất cả
các công trình đều xong trước mùa lũ. Vì thành tích đó nên trong hội nghị tổng
kết về phong trào phòng chống bão lụt của miền Bắc ngày 25/7/1955, Hà Nam vinh
dự được nhận Cờ thi đua luân chuyển của Chủ tịch Hồ Chí Minh về thành tích dẫn
đầu các địa phương trong công tác đắp đê, phòng chống bão lụt.
Cùng với đẩy mạnh sản xuất, tỉnh Hà Nam cũng rất quan tâm đến đối tượng
chính sách và sự cố gắng này được Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thêm sức mạnh.
Tháng 6/1957, Bác Hồ viết thư gửi thương, bệnh binh Trại an dưỡng Hà Nam:
“...Các chú là những chiến sĩ đã được Quân đội nhân dân ta rèn luyện về đạo đức
và kỷ luật cách mạng, là những người con đã hy sinh một phần xương máu để bảo
vệ nước nhà. Vậy các chú cần phải giữ vững truyền thống tốt đẹp và vẻ vang của
quân đội cách mạng là: giữ gìn kỷ luật, đoàn kết chặt chẽ, thật sự đoàn kết,
thương yêu giữa anh em thương, bệnh binh với nhau, giữa thương bệnh binh với
cán bộ và nhân viên giúp việc ở trại, giữa thương, bệnh binh trong trại với
đồng bào xung quanh. Mong các chú làm đúng những lời Bác dặn trên đây và hứa
với Bác: Trại thương binh Hà Nam sẽ là một trại gương mẫu...” (2).
Tỉnh Hà Nam nằm trong vùng úng trũng của đồng bằng sông Hồng nên công tác
thủy lợi đặc biệt quan trọng. Một sự kiện lớn đối với Đảng bộ và nhân dân Hà
Nam là mặt trận thủy lợi của tỉnh đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm sâu
sắc. Vụ đông xuân năm 1958 do thời tiết thất thường, Hà Nam cũng như mấy tỉnh
thuộc khu III cũ bị hạn nặng. Thiếu nước, nên mặc dù bà con nông dân đã hết sức
cố gắng khắc phục, nhưng tiến độ gieo cấy vẫn rất chậm. Nhiệm vụ chống hạn trở
nên cấp bách hơn bao giờ hết. Một phương án hết sức táo bạo trên quy mô lớn
nhằm giải quyết nước cấy cho Hà Nam và một số huyện của Hà Đông đã được vạch
ra. Đó là mở cống lấy nước sông Hồng vào hệ thống nông giang Liên Mạc để từ đó
tỏa đi các trọng điểm lúa trong vùng. Phương án này đòi hỏi cả tỉnh phải có sự
huy động lớn nhân lực tại hai công trường: Một là tại Lý Nhân - Duy Tiên, đào
mương dẫn nước từ đập Đọi Sơn về Vĩnh Trụ và hai là tại công trường đắp đập Cát
Tường (xã An Hòa, huyện Bình Lục) để nước dâng cao rồi bắt dòng nước chảy về
đồng ruộng của hai huyện Bình Lục, Thanh Liêm.
Những ngày này mặc dù bận nhiều công việc, Bác vẫn luôn theo dõi tình hình
sản xuất ở các địa phương. Thực tế nóng bỏng về hạn hán kéo dài ở khu vực đồng
bằng Bắc Bộ khiến Người không yên tâm. Sau khi nghe báo cáo của Bộ Thủy lợi và
Tỉnh ủy Hà Nam về tình hình và phương án khắc phục, Bác rất phấn khởi và đề
xuất kế hoạch xuống thực tế ở Hà Nam.
Ngày 14/01/1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Bộ trưởng Bộ Thủy lợi là kiến
trúc sư Trần Đăng Khoa đã vể dự Hội nghị sơ kết công tác chống hạn của tỉnh Hà
Nam. Ra đón Chủ tịch Hồ Chí Minh tại thị xã Phủ Lý có cụ Bùi Kỷ - Ủy viên Trung
ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, cụ Vũ Đình Tụng - Bộ trưởng Bộ Thương binh,
đồng chí Hoàng Phương - đại diện Bộ Tổng tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam
trong phái đoàn Chính phủ về vận động nhân dân chống hạn và các đồng chí cán bộ
khu, tỉnh. Phái đoàn đã báo cáo với Bác về phong trào đắp đập, đào giếng, vét
kênh của nhân dân Hà Nam và công tác của phái đoàn trong những ngày vừa qua.
Chủ tịch Hồ Chí Minh tỏ lời khen ngợi phái đoàn đã cố gắng đi khắp nơi cùng
nhân dân chống hạn, để kịp thời đưa nước về cấy chiêm.
Gần 4.000 cán bộ từ xã đến tỉnh rất phấn khởi được đón Bác và nghe Bác huấn
thị. Bác khen ngợi cán bộ, nhân dân Hà Nam trước kia vừa sản xuất vừa chiến đấu
anh dũng, mấy năm gần đây có nhiều thành tích chống hạn, sản xuất. Bác căn dặn
mọi người phải quyết tâm chống hạn. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lá cờ “Chống
hạn khá nhất” cho huyện Bình Lục. Cờ này sẽ làm giải thưởng luân chuyển cho
huyện nào có nhiều thành tích chống hạn nhất. Chủ tịch Hồ Chí Minh lại trao cho
các đơn vị khơi kênh Ben, đắp đập Cát Tường và vét mương Mạc Thượng, mỗi nơi 3
huy hiệu làm phần thưởng cho những cá nhân xuất sắc trong công tác chống hạn.
Đại biểu các huyện Bình Lục, Kim Bảng, Duy Tiên và Thanh niên tỉnh lên phát
biểu ý kiến hứa sẽ tích cực thực hiện tốt lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh,
quyết tâm vận động nhân dân chống hạn và cấy hết diện tích.
Sau đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh về thăm công trường đập Cát Tường tại xã An
Hòa (nay là xã An Mỹ, huyện Bình Lục) đang khởi công để lấy nước cứu hàng ngàn
mẫu lúa chiêm bị khô hạn. Bác đến thăm từng nơi làm việc của các nhóm cán bộ,
nhân dân. Trước đông đảo nhân dân, Bác khen ngợi tinh thần cố gắng, động viên
gắng sức hoàn thành con đập để kịp đưa nước về cấy hết diện tích. Bác nói:
- Tỉnh giao đắp đập trong 7 ngày, các cô các chú phải cố gắng rút ngắn thời
gian để sớm có nước cày cấy.
Mọi người cùng đồng thanh hứa với Bác và quyết tâm đắp đập thật nhanh, cày
hết diện tích. Thực hiện lời dạy của Bác, đồng bào đã hoàn thành việc đắp đập
Cát Tường trong thời gian chưa đến 5 ngày. Để kỷ niệm sự kiện đáng nhớ này,
nhân dân địa phương đã trồng một cây đa, nay tán đã xum xuê tỏa bóng để ghi nhớ
ngày Bác Hồ về thăm địa phương.
Sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh về dự Hội nghị chống hạn và thăm đập Cát Tường
là nguồn động viên cổ vũ rất lớn đối với đảng bộ, nhân dân Hà Nam. Phong trào
làm thủy lợi, chống hạn được dấy lên rất sôi nổi. Toàn tỉnh huy động được
434.721 ngày công, đào 486 con ngòi, đắp 57 con đường dài 414.982 mét, hoàn
thành những công trình lớn như đập Cát Tường, kênh Ben..., đảm bảo diện tích
cấy chiêm năm 1958 đạt 97,35% kế hoạch. Phát huy thành tích, phong trào làm
thủy lợi của tỉnh Hà Nam đạt nhiều kết quả to lớn, vì thế năm 1961, Hà Nam một
lần nữa vinh dự được nhận Cờ thưởng luân lưu “Làm thủy lợi khá nhất” của Hồ Chủ
tịch.
Năm 1959, tại Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chăm
chú quan sát tỷ mỷ từng nét hoa văn trên ảnh chụp mặt trống đồng Ngọc Lũ I đã
(được phát hiện trên địa bàn tỉnh Hà Nam). Trống đồng Ngọc Lũ I đã được giới
nghiên cứu khảo cổ học, sử học đánh giá là trống đồng cổ nhất và đẹp nhất, đỉnh
cao của nền văn hóa Đông Sơn. Phiên bản trống đồng Ngọc Lũ I đã được Chủ tịch
nước Lê Đức Anh trao tặng Liên Hợp Quốc, là niềm tự hào của nhân dân Việt Nam
nói chung và Hà Nam nói riêng.
Hà Nam là quê hương của phong trào thi đua “hai tốt” trong ngành giáo dục,
mở đầu và điển hình là Trường Phổ thông cấp II xã Bắc Lý (huyện Lý Nhân). Bắt
đầu từ năm học 1960 - 1961 nhà trường đã có nhiều cố gắng, đạt nhiều thành tích
xuất sắc trong việc dạy và học. Vì vậy, tháng 9/1961, Trường Phổ thông cấp II
Bắc Lý được Bộ Giáo dục công nhận là đơn vị lá cờ đầu của ngành giáo dục toàn
miền Bắc.
Điển hình Bắc Lý đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm. Ngày 7/7/1961, Bác
Hồ viết bài báo nhan đề “Một thành tích vẻ vang”, ký tên Trần Lực đăng trên báo
Nhân dân, biểu dương trường Bắc Lý và đề nghị phát động phong trào thi đua “hai
tốt”: dạy thật tốt, học thật tốt. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ, tháng 10 năm
1961, Hội nghị phát động thi đua “Hai tốt” được tổ chức ở thị xã Phủ Lý, tỉnh
Hà Nam.
Phong trào của trường Bắc Lý luôn được Chủ tịch Hồ Chí Minh quan tâm, động
viên. Trong bài nói chuyện tại Hội nghị tổng kết phong trào thi đua “Dạy tốt,
học tốt” của ngành giáo dục phổ thông và sư phạm hồi tháng 8/1963, Bác nhấn
mạnh: “Những kết quả đó là do có Đảng lãnh đạo, được đông đảo nhân dân nhiệt
tình ủng hộ và do tinh thần cố gắng rất nhiều của các chiến sĩ ngành giáo dục
mà tiêu biểu là trường Bắc Lý... cần phát triển kiểu dạy, kiểu học của trường
Bắc Lý và trường Thanh niên lao động xã hội chủ nghĩa Hòa Bình”.
Năm 1964, trong hai ngày 27 và 28 tháng 3, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì Hội
nghị Chính trị đặc biệt. Trong hội nghị này, Người đã triệu tập một số điển
hình tiên tiến của cả nước trong đó có trường cấp II Bắc Lý (huyện Lý Nhân) lên
báo cáo tình hình. Thành phần đoàn Hà Nam có ông Phan Hưng - Chủ tịch Ủy ban
Hành chính tỉnh Hà Nam, ông Nguyễn Gia Quý - Hiệu trưởng trường cấp II Bắc Lý,
thầy giáo Nguyễn Lê Hòa. Đồng chí Nguyễn Khai - Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành
Trung ương Đảng đã dẫn đoàn vào gặp Bác tại phòng khách của Hội trường Ba Đình.
Tại cuộc gặp mặt, Bác ân cần hỏi thăm tình hình học tập, lao động của thầy và
trò trường cấp II Bắc Lý, nhắc nhở, động viên nhà trường cần đẩy mạnh hơn nữa
phong trào thi đua “Hai tốt”. Đồng thời Bác căn dặn tỉnh Hà Nam cần phải phấn
đấu để Hà Nam và các nơi khác có nhiều trường tốt như trường Bắc Lý.
Phong trào thi đua “Dạy tốt, học tốt” phát triển rộng khắp, góp phần hoàn
thành nhiệm vụ giáo dục trên miền Bắc trong thời kỳ chống Mỹ, cứu nước. Chính
vì thế, trong thư gửi cho ngành giáo dục ngày 15/10/1968 Bác Hồ căn dặn: “Dù
khó khăn đến đâu cũng phải tiếp tục thi đua dạy tốt và học tốt”.
Không chỉ có thành tích trong công tác giáo dục, đảng bộ, quân và dân Hà
Nam còn cố gắng trên nhiều mặt khác. Sự cố gắng đó luôn được Bác Hồ theo dõi,
động viên, khen ngợi. Tại Hội nghị cán bộ phát động cuộc vận động “Cải tiến
quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp toàn
diện, mạnh mẽ và vững chắc” tổ chức ngày 7/3/1963, Bác Hồ đã dẫn chứng thực tế
ở Hà Nam và biểu dương tinh thần gương mẫu của cán bộ và nhân dân trong tỉnh:
“Vừa rồi ở huyện Duy Tiên (Hà Nam) có 10 xã chống hạn kém. Họ kêu thiếu nước,
thiếu trâu, thiếu người làm... Tất cả các đồng chí trong Ban thường vụ huyện uỷ
đã chia nhau về các xã đó. Đến xã nào, họ mời bí thư chi bộ và chủ tịch xã ấy
họp ngay tại ruộng bị hạn để bàn cách giải quyết. Nhờ cách chỉ đạo thiết thực
đó chỉ trong 3 ngày, 10 xã ấy đã có đủ nước cấy xong 2.200 mẫu bị hạn. Nhân dân
đã nhiệt liệt hoan nghênh các đồng chí huyện uỷ”.
Năm 1963, Hà Nam được nhận cờ thi đua luân lưu của Chủ tịch Hồ Chí Minh về
giao thông vận tải nông thôn. Năm đó toàn tỉnh đã đắp và tu sửa 1.610 km đường
nông thôn, đóng 2.229 xe thô sơ, trên 2.000 thuyền các loại. Nơi có phong trào
khá nhất là xã Khả Phong (huyện Kim Bảng), các xã Nhân Hậu, Nhân Lý (huyện Lý
Nhân).
Ngày 21/3/1962, Bác Hồ viết bài đăng Báo Nhân dân nhan đề “Chi bộ tốt thì
mọi việc đều tốt, biểu dương chi bộ Hợp tác xã Quyết Tiến thôn Bùi (xã Trịnh
Xá, huyện Bình Lục) trong việc xây dựng nhà gửi trẻ.
Ngày 26/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký lệnh số 65/LCT tặng Huân chương Lao
động hạng Ba cho nhân dân và cán bộ hai huyện Thanh Liêm, Lý Nhân đã có thành
tích xuất sắc trong 2 năm 1964 - 1965 thực hiện chính sách đối với thương binh,
bệnh binh và gia đình liệt sĩ.
Nhiều người con của Hà Nam đã vinh dự được gặp Bác, được Bác quan tâm, tin
tưởng và giao nhiệm vụ. Đó là đồng chí Trần Tử Bình - tiền bối cách mạng, Ủy
viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam đã được Chủ tịch Hồ Chí
Minh tặng Huân chương Độc lập hạng Nhất (Lệnh số 17-LCT ngày 11/2/1967) vì đã
phấn đấu suốt đời cho sự nghiệp cách mạng. Năm 1957 thầy giáo trẻ Phạm Viết Sơn
quê ở xã Phù Vân, huyện Kim Bảng (nay thuộc thị xã Phủ Lý) vinh dự được Chủ
tịch nước tặng Huân chương Lao động hạng Ba và được bầu là Chiến sĩ thi đua của
Ty Giáo dục Hà Nam đi dự Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua công nông binh lần
thứ hai. Tại Đại hội, thầy Sơn được gặp Bác Hồ và nghe Người căn dặn, được dự buổi
chiêu đãi của Bác. Hè năm 1963, cháu Nguyễn Mạnh Đam, học sinh trường cấp II
Bắc Lý (huyện Lý Nhân) được Tỉnh đoàn Thanh niên Lao động Hà Nam cử tham gia
đoàn học sinh, sinh viên đi dự trại hè Arơtếch do Liên đoàn thanh niên dân chủ
thế giới tổ chức bên bờ Hắc Hải nước Cộng hòa Ucraina (Liên Xô). Đoàn gồm 11
người do anh Phạm Gia Thống - Ủy viên Thường vụ Trung ương Đoàn thanh niên lao
động Việt Nam dẫn đầu. Trước khi lên đường, vào 7 giờ sáng ngày 2/5/1963, toàn
bộ thành viên trong đoàn được gặp Bác Hồ ở Phủ Chủ tịch. Bác ôm hôn thắm thiết
từng người và Bác ân cần giao nhiệm vụ cho đoàn trước khi đi”.
Sự quan tâm của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với Hà Nam thật toàn diện và to
lớn. Điều đó luôn được Đảng bộ, quân và dân Hà Nam ghi lòng tạc dạ, quyết tâm
phấn đấu để không phụ lòng tin tưởng và sự chỉ bảo của Người.











































Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét